Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ - Bói tình yêu - Xem Tử Vi
Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, tu vi Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, tu vi Bói tình yêu
Biểu hiện của 12 con giáp khi thay lòng đổi dạ, tình yêu cũng có lúc ngọt ngào và chẳng ít cay đắng, nhất là 1 trong 2 người đã không còn tình cảm với người còn lại. Hãy cùng xem biểu hiện khi 12 con giáp thay lòng đổi dạ hết yêu là gì, để mỗi người tự tìm lấy lối ra cho riêng mình.Tuổi Tý: Tuyệt tìnhTử vi người tuổi Tý khi không còn yêu nữa thì sẽ trở nên rất tuyệt tình. Không kể đối phương khóc lóc buồn rầu hay khổ sở tự ngược đãi bản thân mình họ cũng nhất quyết phải ra đi. Không còn quan tâm săn sóc hay lo lắng chở che nữa, cách cắt đứt mọi quan hệ này khiến họ trở thành người dễ nhận biết nhất khi thay lòng đổi dạ.Tuổi Sửu: Lặng imXem tử vi người tuổi Sửu khá thành thực, trong tình yêu nếu thấy bản thân không còn tình cảm lưu luyến gì nữa, họ chỉ có một thái độ duy nhất là “lặng im”. Cảm thấy bản thân đã gây nên tội lỗi, phải có trách nhiệm nên không biết phải làm sao mới tốt, phải đối xử với người kia thế nào, cứ im lặng trầm mặc che giấu sự bối rối của mình. Những lúc thế này nếu người kia chủ động ra tay giải quyết có lẽ sẽ tránh được dây dưa làm nhau thêm đau khổ.Tuổi Dần: Thờ ơXem bói người tuổi Dần khi tình yêu đã cạn thường đưa ra tuyệt chiêu là thờ ơ. Tự nhủ để bản thân dần quên đi những ký ức tốt đẹp, ngày sinh nhật của nửa kia, những ngày kỷ niệm của cả hai. Những người nhạy cảm có thể nhận thấy ngay sự thay đổi thái độ này rồi căn cứ vào đó mà lựa chọn kết cục cho mối quan hệ của cả hai.Tuổi Mão: Mất tíchNgười tuổi Mão khi tình yêu đi đến hồi kết sẽ không để lại một cơ hội thay đổi nào cho cả hai, trực tiếp chơi trò chơi “mất tích”. Họ làm vậy mà chẳng hề quan tâm đối phương tan nát và đau đớn thế nào, hoang mang trong tâm trạng không hiểu chuyện gì xảy ra, bản thân người tuổi Mão cứ thế quay lưng bước đi chẳng hề suy nghĩ.Tuổi Thìn: Bận rộnNgười tuổi Thìn thường cũng khá bận rộn với công việc nhưng chưa đến nỗi không dành được chút thời gian cho người yêu. Thế nhưng khi đã không còn tình cảm gì nữa họ không ngại dùng đủ mọi lý do và bao biện cho hành động không muốn gặp gỡ và giữ liên lạc của mình. Người tuổi Thìn vướng phải căn bệnh do dự khi chọn lựa điển hình, họ muốn chia tay nhưng lại nuối tiếc nên muốn dần dần tách khỏi, xem không có nhau thì cuộc sống hai người sẽ ra sao?Tuổi Tỵ: Nói chuyện dứt khoát
Những người tuổi Tỵ thường khó đoán và mắc bệnh hoàn hảo tuyệt đối hóa mọi thứ. Họ thay lòng đổi dạ cũng ứng xử rất lí trí, nếu đã không còn yêu nữa thì việc gì phải ở bên nhau thêm tốn thời gian? Cứ dứt khoát nói lời chia tay để nhẹ lòng, hai người vẫn còn có thể nhìn nhau chào hỏi khách sáo.Tuổi Ngọ: Tức giậnNgười tuổi Ngọ có cá tính khá kiêu ngạo, khi đã không còn tình cảm với “nửa kia” thì họ chẳng hề ngần ngại che giấu, đương nhiên sẽ bộc lộ thái độ khó chịu nóng nảy. Cho dù khi đó bạn thấy tủi thân hay đau lòng, tất cả đã không còn liên quan đến người tuổi Ngọ kia. Khi còn bên nhau thì vui cười hạnh phúc, khi không còn tình cảm họ cũng chẳng còn nhẫn nại và bao dung nữa.Tuổi Mùi: Giả ngốcNgười tuổi Mùi hay mềm lòng giống như một đứa trẻ, tình cảm của họ từ đầu đến cuối đều thủy chung khó thay đổi. Nên chẳng may nếu có thay lòng, họ vẫn cứ giả ngây ngô lừa gạt chính mình rằng, bản thân vẫn còn đắm say yêu người kia lắm, chỉ là một chút xao lãng thiếu quan tâm thôi. Cứ dai dẳng day dứt nhau như vậy, đến lúc không thể tiếp nối nữa thì đã muộn.Tuổi Thân: Lừa gạtNgười tuổi Khỉ thường có mới nới cũ, họ luôn thích thủ theo đuổi những gì mới mẻ. Đến khi đã thay lòng đổi dạ họ nhất định sẽ gian dối đến tận cùng để đỡ mất thể diện. Không thể chống lại sự hấp dẫn của người mới, lại chẳng muốn mang tiếng là kẻ hai lòng, tuổi Thân đành phải nói dối để che đậy tất cả vậy.Tuổi Dậu: Ích kỷNgười trước nay chẳng bao giờ chỉ nghĩ cho bản thân như tuổi Gà khi thấy mình chẳng còn cảm giác gì với đối phương nữa sẽ trở nên rất ích kỷ. Họ làm gì cũng chỉ nghĩ đến mình, không còn những quan tâm lo lắng của ngày xưa nữa, từ suy nghĩ đến hành động dường như chẳng còn liên quan gì đến người kia nữa.Tuổi Tuất: Thẳng thắnXem bói tình yêu người tuổi Tuất, họ luôn là người ngay thật thẳng thắn, những người cầm tinh Tuất không bao giờ che giấu tình cảm của mình. Khi còn yêu đã vậy, chẳng còn tình cảm gì họ cũng thẳn thắn nói ra, cả hai hoặc là cùng tìm cách cứu vãn hoặc là ai đi đường nấy, không có thái độ sai trái đáng chê trách nào khác.Tuổi Hợi: Xa cáchNgười tuổi Hợi vốn lãng mạn dịu dàng nhưng cũng sẽ có ngày họ chán ngán. Khi đã thay lòng đổi dạ, mệt mỏi đến nỗi chẳng còn muốn làm gì nữa khoảng cách giữa cả hai sẽ dần dần xuất hiện, nhưng phần lớn có thể thấy nguyên nhân là do người tuổi Hợi. Những lúc thế này thường càng yêu thì càng chịu nhiều thương tổn, khi đã không còn tình cảm họ cố gắng giữ khoảng cách hy vọng bớt đi sầu đau khổ sở. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
Trong cuộc sống hiện đại, có nhiều tên hay, tên đẹp để chọn cho con, nhưng có hẳn đã hợp với con. Chính vì việc đổi tên cũng gây nhiều phiền hà, mất thời gian nên việc đặt tên cho con bạn nên được tư vấn, lựa chọn thật kỹ càng, để con vừa có tên đẹp, nhưng cũng đúng ngũ hành, hợp mệnh. Điều đó thực sự quan trọng. Bố mẹ có thể tham khảo một số chia sẻ về việc đổi tên cho con.
Nói chung, mình thấy những người phụ nữ lấy chồng sinh con với những hoàn cảnh sướng khổ khác nhau. Nhưng có một điều từ thực tế quan sát mình thấy, có nhiều người cùng tên có hoàn cảnh và tính cách na ná giống nhau. Vì thế mình nghĩ rằng, các cha mẹ khi có hơi kỳ công một chút trong việc đặt tên cho con cũng là điều dễ hiểu.
Thậm chí mình cũng rất đồng tình khi đặt tên cho con không nên thích tên nào thì đặt mà nên tìm hiểu ý nghĩa của những tên cha mẹ trẻ sẽ chọn cho con. Theo mình, khi đặt tên cho con các phụ huynh nên lưu ý mấy điểm sau. Thứ nhất, nên đặt cho con những cái tên có ý nghĩa và hứa hẹn cuộc sống nhẹ nhàng. Bởi vì cái tên con đơn giản nhưng nó lại ám vào chính cuộc đời con người.
Do đó, nếu cha mẹ trẻ sinh con gái nên tránh đặt tên con theo kiểu: Liễu, Đào, Hạnh, Lan… Với những mối quan hệ mà mình biết thì thấy bạn gái tên này không khổ vì tình cũng khổ vì đa đoan và đức hạnh. Tóm lại cuộc sống không nhàn nhã tí nào.
Thứ hai, theo mình không nên đặt tên con với ký tự quá dài. Con trai chỉ nên đặt tên 2 chữ ngắn gọn thôi. Còn con gái có thể đặt tên 3 chữ nhưng nên bỏ chữ “thị” truyền thống đi.
Như tên mình hiện nay cũng đang khá dài. Tất cả tận 17 ký tự. Cộng thêm với 2 dấu cách nữa là 19 ký tự liền. Thực ra với các tên bố mẹ đặt cho này, nó không gây phiền phức cho mình từ khi đi học cho đến khi đi làm hiện nay.
Nhưng mình ghét nhất mỗi khi nhận được giấy khen, bằng khen. Bởi vì với tấm bằng nào, giấy khen nào thì dù được viết nét chữ gầy gò thế nào tên của mình vẫn bì lấn ra bên ngoài khung đường viền. Nói chung sở hữu cái tên quá dài khiến mình thấy chán. Vì thế, nếu giờ đây thấy ai có tên 4 chữ, 5 chữ là mình phát hoảng và choáng váng lắm.
Thứ 3, cho con 100 cái tên đẹp không bằng cách giáo dục con biết vượt qua khó khăn. Đặc biệt cha mẹ nên dạy con tự tin và làm chủ bản thân mình.
Luôn chủ động và không bao giờ phụ thuộc hay dựa dẫm vào người khác. Đây chính là kỹ năng sống trong xã hội nào, thời đại nào cũng cần.
Chú ý 3 lưu ý nhỏ trên khi đặt tên cho con, các phụ huynh sẽ chọn được một cái tên hay nhất và ý nghĩa nhất cho con mình. Nếu còn lấn cấn trong chuyện đặt tên cho con thì hãy suy nghĩ thật kỹ để tránh tình trạng phải đi đổi lại tên con.
Bởi vì việc đổi tên cho con là bất đắc dĩ. Chưa biết sau này con thế nào nhưng trước mắt là không hay cho con rồi. Con mới bé tí chỉ vì cái tên mà đã trắc trở ngay khi mới sinh ra. Vì thế, mình rất mong các chị em và các ông bố trẻ cứ trao đổi thẳng thắn và tham khảo nhiều tài liệu, tìm tư vấn để tìm cho con một cái tên ưng ý nhất nhé.
Lương thực chính của người phương Đông là gạo, đặc biệt là người phía Nam, với họ bữa ăn không thể thiếu gạo để thổi cơm, vì vậy nhà nào cũng có hũ gạo để đựng gạo, hũ gạo là đồ dùng không thể thiếu trong nhà bếp của mỗi gia đình.
Là vật dụng quan trọng như vậy, cuối cùng nó sẽ được đặt chỗ nào trong bếp? Đặt hũ đựng gạo ở phương vị “thổ” đương vượng là có lý, vì rằng:
(1) Gạo của thóc lúa là thứ được cấy trồng từ đất.
(2) Người xưa cất giữ lúa gạo trong hang động dưới đất,
Nói tóm lại hũ gạo nên đặt ở hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc của bếp và để sát mặt đất (tất nhiên phải chú ý đến chống ẩm) không phù hợp đặt hướng Đông và để cao.
Ngoài ra theo tập quán truyền thống của phương Đông là cất giữ thóc gạo ở chỗ kín vì vậy hũ gạo nên đặt chỗ kín đáo, nên đặt nó ở trong chum chôn dưới đất.
Tủ lạnh
Tủ lạnh cũng như hũ gạo là những công cụ không thể thiếu được trong nhà bếp mỗi gia đình, nay xin nói về những điều cấm kỵ khi đặt tủ lạnh.
Tủ lạnh dùng để cất giữ đồ ăn thức uống hàng ngày cho mỗi gia đình, ngày nay ở thành phố tủ lạnh rất phổ biến vì vậy mọi người đều muốn biết tủ lạnh nên để vị trí nào trong nhà bếp là thích hợp?
Về vấn đề này có rất nhiều quan niệm khác nhau, đến nay vẫn chưa có ý kiến chung. Có 1 số người cho rằng tủ lạnh nên đặt tại hướng dữ, vì rằng tủ lạnh đã lạnh lại còn nặng, đặt nó ở hướng dữ là để chấn áp các sao dữ. Tuy nhiên, có 1 số người lại có ý kiến ngược lại, rằng tủ lạnh nên đặt ở hướng lành!
Ý kiến thứ 2 được xem là hợp lý:
(1) Tủ lạnh là chỗ bảo quản thức ăn đồ uống cho cả nhà nếu đặt nó ở hướng dữ là không thích hợp.
(2) Tủ lạnh là may móc nó vận hành liên tục cả 24h trong ngày, nếu như đặt ở hướng dữ sẽ làm chấn động đến các sao dữ, kích động nó đi gây rối vì thế đặt tủ lạnh ở hướng dữ không thích hợp. trong phong thủy học có nói rằng: “Phương vị dữ phù hợp với yên tĩnh chứ không phù hợp với chấn động” cũng chính là nguyên nhân giải thích ở trên.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi.
Lâu lắm chúng tôi không có cơ hội về giảng cũng như nhắc nhở sự tu hành cho toàn thể chư Tăng Ni ở khu Đại Tòng Lâm. Hôm nay được ban tổ chức trường hạ Đại Tòng Lâm mời về thăm và nói chuyện với tất cả Tăng Ni và Phật tử nơi đây, tôi liền hoan hỉ chấp nhận.
Vì trước kia Hòa thượng Giám đốc và Phó giám đốc ở Ấn Quang, khi thành lập được khu Đại Tòng Lâm thì chúng tôi có mặt bên cạnh, vâng lời dạy của các ngài phụ giúp phần nào đối với cơ sở này. Giờ đây hai Hòa thượng đã theo Phật, chúng tôi những người còn sót lại tự nhiên cảm thấy bổn phận phải làm sao duy trì gìn giữ ngôi Đại Tòng Lâm này đúng như sở nguyện của hai Hòa thượng.
Tất cả những vị ở Đại Tòng Lâm, hoặc là trường Trung cấp, hoặc là trường Cao cấp, hoặc các Thiền viện do chúng tôi thành lập trong khu vực này đều là Tăng Ni chung của Đại Tòng Lâm, mà cũng là của Phật giáo Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng biệt được. Vì vậy khi cần, chúng tôi sẵn sàng đến để nhắc nhở Tăng Ni, Phật tử hiểu biết tu hành cho đúng với chánh pháp.
Mùa an cư này chư Tăng chư Ni về đây an cư là cơ hội tốt để Đại Tòng Lâm càng ngày càng phồn thịnh hơn, sự tu hành càng tinh tiến hơn, đó là điều hết sức quí báu. Vì vậy tôi nghĩ không thể nào chỉ nói suông, tán thán một cách tổng quát như vậy mà cần phải đi sâu vào vấn đề đạo lý, để cho Tăng Ni và tất cả quí vị nghe hiểu có kinh nghiệm thêm trên đường tu hành. Đó mới là điều quí giá. Vấn đề tôi nói hôm nay là hai vấn đề tối hệ trọng của những người tu Phật, đó là trí tuệ và từ bi.
Như chúng ta đã biết đạo Phật là đạo giác ngộ. Đức Phật ngồi thiền định dưới cội bồ-đề mà được giác ngộ. Ngài đi giáo hóa khắp nơi để truyền đạo giác ngộ này. Nhưng sao chúng ta không gọi là đạo giác ngộ mà gọi là đạo Phật. Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud là giác, dha là người. Người giác ngộ đi truyền bá đạo giác ngộ. Nhưng nếu giải nghĩa chữ Phật là giác ngộ thì sợ người ta hiểu lầm. Bởi có những người làm ăn bất chánh không lương thiện, khi có ai nhắc nhở dạy bảo, họ bỏ điều bất chánh trở thành người lương thiện thì người ta sẽ nói anh ấy đã giác ngộ rồi. Giác ngộ đó chỉ có nghĩa là bỏ cái xấu, cái dở để trở thành người tốt thôi. Nếu hiểu đạo Phật theo nghĩa giác ngộ như vậy thì đánh giá quá thấp đạo Phật, làm mất giá trị siêu thoát của đạo Phật. Bởi vậy trong nhà Phật để nguyên từ Phật.
Nói Phật chắc quí vị sẽ có nghi. Tại sao bây giờ chúng ta nói đức Phật mà hồi xưa ông bà tổ tiên chúng ta lại nói là Bụt. Như vậy nói Bụt trúng hay nói Phật trúng? Từ Bụt cho chúng ta thấy đạo Phật được trực tiếp truyền vào Việt Nam từ những vị Sư Ấn Độ. Ngày xưa ở miền Bắc vùng Luy Lâu rất phồn thịnh, các sư người Ấn theo tàu buôn đến đó truyền bá. Các ngài trực tiếp dạy người dân biết đạo Phật, và đức Phật được gọi là Bụt. Bụt nguyên là Bud, đọc trại đi một tí thành Bụt. Đọc Bụt nghe gần hơn, còn đọc Phật nghe xa quá. Vậy đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam gốc từ người Ấn truyền sang, chớ không phải từ Trung Hoa truyền sang buổi đầu.
Tại sao bây giờ chúng ta đọc là Phật? Ở Trung Hoa từ đời Tống đến đời Minh có in những Tạng kinh dịch từ chữ Phạn, chữ Pali ra chữ Hán rồi tặng cho Việt Nam. Đời Trần được tặng một Tạng kinh và sau này chúng ta cũng có thỉnh thêm những Tạng kinh từ Trung Hoa. Chữ Buddha người Trung Hoa dịch gồm một bên chữ nhân đứng, một bên chữ phất. Như vậy Phật là phát sanh từ chữ Hán mà ta đọc theo âm Việt Nam là Phật hay Phật-đà.
Nói đến đạo Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn tuyệt cùng, chớ không phải sự giác ngộ thông thường của thế gian, vì e người ta hiểu lầm nên để nguyên âm là Phật, chớ không nói là giác ngộ. Giờ đây chúng ta học Phật phải dùng những từ gần thời hiện tại như giác ngộ, trí tuệ để dễ thâm nhập hơn.
Vì vậy chúng ta phải hiểu tường tận gốc của đạo Phật là giác ngộ viên mãn. Nên người tu Phật lúc nào cũng phải thuộc lòng Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nói đến Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn, tức giác ngộ tròn đầy không thiếu khuyết một góc cạnh nào.
Chúng ta học Phật, tu Phật là tu theo đạo giác ngộ. Mà đạo giác ngộ dĩ nhiên trí tuệ là căn bản không thể nào thiếu được. Người tu theo Phật dù xuất gia hay tại gia cũng phải mở sáng con mắt trí tuệ.
Chúng ta hãy xét lại xem từ ngày phát tâm tu theo Phật đến giờ đã mở sáng trí tuệ được nhiều hay ít? Có người khi nghe đến trí tuệ dường như sợ nên thường xưng Ngu tăng hay Phàm tăng như để nói lên sự khiêm nhường, họ ít nói đến sự giác ngộ.
Mà chưa giác ngộ thì chưa phải tu theo đạo Phật. Ở đây, tôi không nói đến giác ngộ mà chỉ nói trí tuệ. Bởi vì trí tuệ mở màn cho giác ngộ cứu kính.
Chúng ta nhớ lời Phật dạy, người tu phải tự giác và giác tha. Tự giác là mở sáng trí tuệ của mình.
Giác tha là đem trí tuệ đó đánh thức, cảnh tỉnh mọi người cùng giác ngộ. Tự giác là việc của mình. Giác tha là giúp cho người. Giúp cho người là lòng từ bi. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi. Chưa giác ngộ mà nói đến từ bi, chỉ là từ bi gượng thôi.
Nếu một vị Tăng đã thấy bổn phận mình phải truyền bá chánh pháp, phải thực hành hạnh từ bi mà không chịu tu, không thức tỉnh, không chịu giác ngộ thì chẳng biết vị ấy sẽ thực hành hạnh từ bi bằng cách nào? Chẳng lẽ chúng ta đi đắp đất, cuốc đường hay hốt rác cho thiên hạ. Từ bi như vậy người phàm tục cũng làm được mà. Vậy từ bi trong đạo Phật là thế nào? Tôi sẽ nói rõ hơn vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ trở lại phần trí tuệ. Trí tuệ mà Phật dạy cho Tăng Ni là ba môn tuệ học: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Văn tuệ là như thế nào? Chúng ta đến với đạo, tự mình làm sao giác được. Nên phải nhờ những người đi trước như bậc thầy, các hàng Tôn túc đã tu, đã học, đã mở được đôi phần trí tuệ hướng dẫn, chỉ dạy cho chúng ta từ từ mở con mắt trí tuệ. Nhờ lắng nghe những lời chỉ dẫn, giảng dạy ấy mà chúng ta mở được con mắt trí tuệ của mình là Văn tuệ. Người tu cất thất ở riêng, không học hành gì hết chắc chắn sẽ không có Văn tuệ. Không có Văn tuệ mà tu thì chỉ là tu mù. Những người tu này khi chỉ dạy cho kẻ khác thì cũng chỉ dạy một cách mù quáng mà thôi. Trong kinh Phật nói: “Một người mù dẫn một đám mù, người mù đi trước sụp hầm, những kẻ mù theo sau cũng té xuống hầm luôn.” Người học Phật mà thiếu Văn tuệ không thể được.
Trong kinh A-hàm Phật dạy: Người cư sĩ đến chùa đầu tiên phải gặp Tăng Ni. Gặp Tăng Ni để thưa hỏi Phật pháp chớ không phải để cúng cầu an cầu siêu, như vậy là Văn tuệ. Sau khi nghe chư Tăng Ni dạy Phật pháp rồi phải suy gẫm lời thầy dạy có đúng với kinh Phật không, có đúng với lẽ thật chân lý không? Nếu đúng mới tin, còn dạy sai dạy lầm thì không tin. Cho nên Tư tuệ hết sức thiết yếu. Sau khi suy tư nghiệm thấy đúng kinh Phật, đúng chân lý rồi mới tu. Phật dạy cư sĩ còn như vậy huống là tu sĩ xuất gia mà lại thiếu Văn, Tư, Tu. Thế mà có nhiều tu sĩ cứ tự tu không cần học với ai cả thì thật sự hết sức sai lầm.
Tư tuệ là như thế nào? Phật dạy chúng ta nghe rồi phải suy gẫm, suy gẫm đó chính là tư duy, phải là chánh tư duy. Nếu nghe dạy chúng ta tin mà không hiểu, thì tin đó chưa phải là chánh. Cần phải suy gẫm cho đúng, hiểu cho đúng mới gọi là chánh.
Hồi xưa lúc còn làm Tăng sinh, tôi cũng học như quí vị. Những gì tôi không hiểu thì tôi hay nghi, nghi thì phải tra tìm. Những năm Sơ đẳng, tôi học lý nhân quả luân hồi kỹ lắm, nhưng khi học cổ sử Ấn Độ tôi thấy lý nghiệp báo luân hồi không phải mới có từ thời đức Phật, mà đã có từ thời Áo nghĩa thư của Ấn Độ, tức trước Phật cả mấy trăm năm. Biết được vậy tôi rất buồn, tôi nghĩ Phật đã giác ngộ rồi sao không lựa điều gì mới, mà lại lấy cái cũ của người ta đem ra dạy mình.
Có lần tôi đọc cuốn sách của một số học giả phê bình rằng: “Đạo Phật ăn cắp lý nghiệp báo của Áo nghĩa thư làm của mình.” Đọc đến đó tôi thấy xót quá, khó chịu quá. Đức Phật của mình sao lôi thôi vậy, của người ăn cắp đem làm của mình thì thật là buồn. Lâu nay chúng ta tin rằng đức Phật giác ngộ viên mãn thì những gì Phật dạy đều từ trí tuệ giác ngộ của Ngài lưu xuất. Thế sao lại ăn cắp của người ta đem làm của mình, tôi không bằng lòng như vậy.
Khi lên Trung đẳng, rồi Cao đẳng tôi đã tra hết các bộ kinh A-hàm trong Hán tạng. Đọc một lần chưa thấm, đọc hai lần rồi ba lần, tôi có nguồn an ủi. Trong một bài kinh đức Phật dạy: “Khi Ngài chứng được Thiên nhãn minh rồi, nhìn lại thấy chúng sanh bị nghiệp dẫn luân hồi sanh tử giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi đường này, người đi đường kia một cách rõ ràng không nghi.” Như vậy sở dĩ Phật nói luân hồi nhân quả hay nghiệp dẫn luân hồi là Ngài thấy rõ ràng, chớ không phải ăn cắp như người ta nói xấu.
Rồi lần lần tôi lại thấy ra, trong Áo nghĩa thư có nói về nghiệp báo luân hồi nhưng chưa phân tích rõ ràng. Nên khi đạo Bà-la-môn kế thừa tinh thần của Áo nghĩa thư, mới đặt ra bốn giai cấp. Trong đó Bà-la-môn được sanh ra từ đầu của Phạm Thiên nên được kính trọng nhất, còn các giai cấp khác được sanh từ ngực, từ bụng, từ bàn chân nên không được kính trọng bằng. Sự phân chia giai cấp này khiến người dân càng khổ, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, dù họ nói nghiệp báo luân hồi nhưng phải nhờ các vị Bà-la-môn cầu cúng thì mới hết nghiệp hết tội. Hoặc phải mở những hội tế đàn nào là trâu, dê cúng cho nhiều thì mới hết tội. Cả hai điều này đều bị Phật bác hết. Về mặt giai cấp, Phật bảo không có giai cấp khi mọi người máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau, nên mọi người đều bình đẳng.
Kinh kể hôm nọ Phật ở trong rừng với đệ tử, một số thầy Bà-la-môn đến hỏi Phật:
– Thưa ngài Cù-đàm, đệ tử Ngài chết Ngài cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Phật không trả lời mà chỉ hỏi lại:
– Đệ tử các ông chết các ông cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Các vị Bà-la-môn đáp:
– Được.
Lúc đó Phật nói thí dụ:
– Như nơi một giếng sâu, có người ôm cục đá bỏ xuống giếng rồi nhờ các ngài cầu cho nó nổi, đừng chìm được không?
Các vị Bà-la-môn đều lắc đầu, Phật hỏi tiếp:
– Có người cầm chai dầu đổ xuống giếng, rồi nhờ các ngài cầu cho dầu chìm xuống đáy giếng được không?
Các vị Bà-la-môn cũng lắc đầu, Phật nói:
– Cũng vậy, người làm nghiệp lành sẽ sanh cõi lành giống như dầu nhẹ nổi lên, dầu các vị có ác ý cầu cho xuống địa ngục họ cũng không xuống. Ngược lại người làm dữ phải đi xuống giống như đá, dầu các vị có thiện cảm chấp tay cầu nguyện cũng không nổi lên được.
Vậy đức Phật chấp nhận cầu nguyện hay chấp nhận nghiệp? Nghiệp lành, nghiệp dữ đưa mình lên hoặc lôi mình xuống, chớ không phải cầu nguyện mà được lên hoặc xuống. Đức Phật thấy rõ về nghiệp, cho nên Ngài biết manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi lành, manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi dữ.
Trong nhà Phật dạy chúng ta có Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa là sanh trở lại làm người, Phật dạy tu giữ năm giới. Năm giới nếu giữ toàn vẹn bảo đảm người đó đời này làm người, đời sau chết trở lại làm người. Tu Thập thiện, sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời. Mỗi một nhân đưa tới một quả, Phật thấy tường tận rõ ràng như thế. Còn Áo nghĩa thư của Bà-la-môn giáo nói nghiệp báo không phân biệt rành rõ, chưa biết cái gì nhân cái gì quả nên chưa thấu đáo. Do đó nên biết Phật nói nghiệp, nói luân hồi là vì Ngài thấy tường tận, chớ không phải ăn cắp của người làm của mình. Khi thấy rõ như vậy, tôi không còn nghi, không còn mặc cảm nữa.
Đức Phật rất khoa học, từ thời Áo nghĩa thư đã có thuyết nghiệp, luân hồi. Sau Ngài tu thấy điều đó đúng nên cũng thừa nhận. Nhưng khác hơn là Ngài vạch rõ từng phần chi tiết, thế nào là nhân, thế nào là quả, Ngài phân tích rành cho chúng ta. Đó là tinh thần khoa học chớ không phải học lóm. Từ đó về sau tôi mới hài lòng, đức Phật không phải dở như người ta nói.
Nói về lý nghiệp báo luân hồi, sau khi suy tư kỹ càng, tôi thấy đó là một chân lý không chối cãi được. Ai có nói gì cũng không lay chuyển được tôi, vì đó là một sự thật. Tại sao tôi tin như vậy? Bởi kinh nghiệm từ những việc bên ngoài, cho tới bản thân mình tôi thấy rõ như vậy.
Luân hồi là gì? Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn. Bánh xe xoay tròn lên xuống, lên xuống cứ đảo đi lộn lại hoài. Đối với ngoại vật, chúng ta đặt câu hỏi trái đất có xoay tròn không? Trái đất cứ xoay tròn, xoay tròn, vậy nên trái đất luân hồi. Đến con người, chúng ta thấy máu từ tim chạy ra các mạch, rồi từ các mạch trở về tim, cứ như vậy đảo đi lộn lại hoài, đó là luân hồi. Rõ ràng con người đang luân hồi, quả đất đang luân hồi, vậy chết có luân hồi không? Tôi nói hai phần:
1- Vật chất: Thân chúng ta gồm tứ đại tức bốn chất đất, nước, gió, lửa hợp thành. Những gì là đất? Tóc, lông, gân, móng, da, thịt, răng, xương… những thứ cứng là đất. Những gì là nước? Mồ hôi, máu mủ tức chất ướt là nước. Những gì là gió? Hơi thở vào ra, vào ra là gió. Những gì là lửa? Hơi ấm trong người là lửa, cầm hai tay chà một hồi ấm lên, đó là phát ra lửa.
Đất nước gió lửa sẵn trong con người chúng ta, khi chết bốn thứ đó đi đâu? Nhẹ nhất là hơi thở, lúc sống hít vô trả ra, khi trả ra mà không hít lại là chết. Vậy chúng ta trả ra chớ không phải hết, không phải mất. Thứ hai là hơi ấm trong người, chúng ta chết rồi nó cũng tan vào hư không, theo luồng hơi ấm trong nắng trong lửa, trở về với lửa. Đến đất, nước khi chết thân này nứt nẻ nước tuôn ra, rồi tới đất rã. Nước theo mạch chảy đi khắp nơi cũng không mất, đất cũng trả về đất không mất. Như vậy tứ đại mất đi chỉ mất cái giả tướng duyên hợp, chớ bản chất nó đâu có mất.
2- Tinh thần: Tứ đại không mất thì tinh thần có mất được không? Tinh thần đi theo nghiệp duyên của nó. Ví dụ nước từ thể lỏng đổ vào trong nồi nấu, nước sôi bốc hơi rồi cạn. Nước cạn người ta nói hết nước, nhưng thật ra nước bốc thành hơi bay lên, gặp lạnh đọng lại thành nước rơi trở xuống. Hoặc lấy một ly nước để trong tủ lạnh thì nó sẽ đặc thành thể cứng. Như vậy nước không mất mà có thể chuyển biến từ thể lỏng thành hơi hoặc thể rắn. Nước để ở nhiệt độ vừa chừng, không nóng quá, không lạnh quá thì nước còn hoài.
Cũng vậy người tu có duyên lành nhiều, nghiệp lành nhiều khi nhắm mắt sẽ đưa tới cõi lành, tức lên. Ngược lại nghiệp dữ nhiều sẽ đưa tới chỗ dữ, tức xuống. Nếu tư cách con người tốt, vị lai trở lại làm người, như nước giữ quân bình không lạnh nóng thì ở thể lỏng hoài. Phật dạy Nhân thừa là do giữ đúng năm giới nên đời này làm người đời sau cũng được làm người. Như nước y nguyên nhiệt độ đừng cao đừng thấp thì bao nhiêu nước còn nguyên bấy nhiêu. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ gì.
Chúng ta khi ra đời còn trẻ, đáng lẽ ham danh lợi tài sắc ở thế gian, nhưng tại sao lại ham tu? Như vậy do trong nghiệp từ quá khứ của chúng ta còn lưu lại. Như tôi khi chưa đi tu, mỗi lần qua chùa nghe tiếng chuông, thấy xôn xao trong lòng quá. Cái gì làm cho mình bất an, nếu không phải là chủng tử trước kia?
Mỗi khi chúng ta ra đời, nghiệp từ quá khứ còn lưu lại trong con người hiện tại chớ không phải mất. Nếu chúng ta nhìn vào một lớp học thì biết rõ sự sai biệt, người giỏi về văn, người giỏi về toán v.v… Thầy cô dạy như nhau nhưng điểm riêng biệt của mỗi học trò lại khác. Điểm đó ở đâu ra? Chẳng qua chủng tử từ quá khứ còn lưu lại nơi mỗi người, nên không ai giống ai. Nếu nói do thầy cô dạy mới biết, thì tại sao không biết như nhau mà lại có sự sai lệch. Rõ ràng do chủng tử từ quá khứ chớ không phải ngẫu nhiên. Như những vị thần đồng chưa học mà đã biết, đâu do ai dạy. Đó là chủng tử quá khứ còn nguyên vẹn chưa mất nên ra đời nhớ lại liền. Vậy luân hồi là một lẽ thật, không phải là một nghi vấn nữa.
Khi học Phật, chúng ta cần phải suy tư, chớ không chỉ nghe bao nhiêu biết bao nhiêu thôi. Phải tìm, phải gẫm cho tới nơi tới chốn, như vậy chúng ta mới đủ lòng tin Phật. Do đó Tư tuệ là một điều hết sức thiết yếu.
Tu tuệ là như thế nào? Tư chí lý rồi đến tu rất dễ, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhờ nghe hiểu, suy gẫm và biết cách ứng dụng những pháp mình đã học được vào đời sống tu hành, thấy có lợi ích. Đây chính là Tu tuệ. Ba vấn đề Văn, Tư, Tu đều là trí tuệ. Trí tuệ từ thầy ban cho, trí tuệ do mình suy gẫm, trí tuệ do mình cố gắng thực hành, cho nên ba Tuệ học ấy không thể thiếu được.
Nhà Phật nói trí tuệ có hai phần: Một là Hữu sư trí, tức trí học nơi thầy như Văn Tư Tu. Hai là Vô sư trí, tức trí sẵn có của mình, không do học. Đó là Tam vô lậu học, tức ba môn học giải thoát Giới, Định, Tuệ. Giới là đức hạnh, Định là thiền định, Tuệ là trí tuệ. Nhờ giữ được giới nên thiền định không bị xao xuyến. Vì vậy giới trước rồi định sau. Nhờ thiền định nên Trí vô sư phát sanh là tuệ.
Tại sao thiền định được Trí vô sư? Khi thiền không nghĩ gì cả nên được định, được định nên trí sáng giác ngộ, đó là trí không thầy. Trong kinh có kể lại: Đức Phật sau khi thành Phật rồi, Ngài tuyên bố ta học đạo không thầy. Bởi vì bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề Ngài không học với ai cả, mà nhờ định nên được giác ngộ. Vì vậy nói Ngài học đạo không có thầy.
Phật giác ngộ viên mãn Trí vô sư, ngày nay chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử cũng phải đi tới Trí vô sư đó, nên nói Giới, Định, Tuệ là ba pháp môn tu được giải thoát. Chữ Vô lậu là không còn rơi, không còn rớt lại Tam giới nên gọi là giải thoát sanh tử. Như vậy người học Phật phải đủ trí tuệ, từ Hữu sư trí rồi tiến tới Vô sư trí. Hữu sư trí là nhờ học, Vô sư trí là nhờ tu. Đó là hai phần hết sức rõ ràng.
Điều hệ trọng thứ hai là từ bi. Bởi vì chúng ta không có quyền nghĩ mình tu để hưởng an lạc một mình. Tại sao? Đức Phật ngày xưa chủ trương đi khất thực là vì sao? Khất thực tức là gieo duyên với chúng sanh. Tôi nói là lãnh nợ của chúng sanh. Nếu chúng ta tu mà đối với mọi người không có liên hệ, không trao qua đổi lại thì không có gì dính dáng. Mà không có dính dáng thì giáo hóa họ không được, nên Phật dạy tu sĩ phải nhận của đàn-na thí chủ cúng dường. Có những thí chủ rất nghèo cúng dường nhưng chúng ta cũng phải nhận. Nhận để chi? Để người đó gởi mình, mình nhận nợ.
Nên từ gieo duyên là nói cho đẹp, thật ra chúng ta nhận nợ. Có nợ thì mới gặp lại để đền trả.
Trả nợ có hai cách:
Nếu chúng ta không tu không đủ phước đức thì phải mang lông đội sừng để trả nợ. Nếu chúng ta tu hành có đủ phước đức thì trả bằng cách làm thầy. Bây giờ tôi cũng đang trả nợ đó. Bởi vì chúng ta đều có duyên có nợ với nhau nên mới gặp nhau, còn không duyên không nợ thì không gặp. Gặp để chúng ta giáo hóa, chúng ta chỉ dạy người có duyên với mình. Vì vậy người tu đều phải phát tâm từ bi nhận tất cả những gì của Phật tử gởi gấm. Không phải nhận vì ích kỷ, mà nhận để có duyên hay có chút nợ nần với nhau, hầu giáo hóa giúp đỡ trên đường đạo.
Người xuất gia do Phật tử ủng hộ, nếu hiểu đạo rồi lo tu cho giải thoát, về Cực lạc, bỏ mọi người ở lại ra sao thì ra, như vậy có hơi nhẫn tâm không? Mình tu giải thoát nhập Niết-bàn không bao giờ trở lại nữa, những người cúng cho mình thấy chúng ta nhập Niết-bàn, bỏ họ bơ vơ buồn khổ, thật tội nghiệp cho họ. Vì vậy với tinh thần Phật giáo Đại thừa, người tu không nỡ nhập Niết-bàn liền, mà phải đi đi lại lại trong cõi thế gian này để giáo hóa, để trả nợ. Đến chừng nào thí chủ của chúng ta hiểu được tu tập được, mình mới yên.
Thí dụ như trong Tứ quả Thanh văn, chúng ta được quả thứ ba là A-na-hàm, thì ít ra đệ tử của mình cũng được quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Nếu mình tới Bồ-tát Thập trụ, thì đệ tử cũng tới Thập tín mới được. Khi tu thiên hạ nuôi, đến thành tựu chúng ta lại hưởng một mình, như vậy có buồn không? Giả sử tôi là quí Phật tử, tôi cũng không chấp nhận điều đó nữa. Quí thầy ăn gian quá đâu được. Vậy mà có người tha thiết tu một đời này để về Cực lạc cho rồi, ở đây khổ quá. Về bên đó vui có một mình, bỏ người ta ở đây khổ, ai mà đành lòng. Thôi thì cùng ở với nhau nhưng ở trong sự tỉnh giác chớ không phải trong cái mê mờ, nhớ như vậy.
Tinh thần từ bi của đạo Phật dạy chúng ta phải làm sao đem lại cho mọi người ánh sáng đạo lý, để cho họ biết được lẽ chân thật, không tạo những điều đau khổ, luôn luôn tiến tới chỗ an vui. Lòng từ bi chúng ta không thể nói suông mà phải được thể hiện cụ thể. Muốn thể hiện lòng từ bi chúng ta phải thực hành hạnh bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy. Phải đem của cải, hoặc đem chánh pháp mình hiểu hoặc đem sự tốt lành cao quí an ủi người đau khổ. Đó mới thể hiện lòng từ bi.
Bố thí tài phần lớn dành cho cư sĩ Phật tử vì họ làm ra tiền. Họ mới có điều kiện giúp đỡ người nghèo khổ. Còn các sư có làm ra xu con nào đâu? Nếu có chăng cũng ăn mày của đàn-na thí chủ chớ đâu phải tự mình có tiền lương mỗi tháng. Hàng Phật tử cũng có người làm ra tiền của, có người nghèo cháy da, vậy làm sao bố thí? Nên Phật dạy tài thí có hai phần ngoại tài và nội tài.
Người Phật tử muốn thể hiện lòng từ bi mà không có tiền bạc giúp cho người nghèo đói thì đem công sức của mình ra giúp. Người có tiền tới chùa cúng, người không tiền vào chùa làm công quả. Người có tiền cho tiền, người không tiền ra công đi ủy lạo, khuân vác cũng là bố thí. Nên hiểu có tiền mới bố thí được là lầm. Đem của bố thí là ngoại tài, đem công bố thí là nội tài, như vậy có ai không làm được hạnh bố thí đâu.
Bố thí pháp là phần của Tăng Ni. Tăng Ni tu thấy được cái hay, cái cao quí của Phật pháp, đem sự hiểu biết đó ban rải cho Phật tử cùng biết cùng hiểu như mình. Đem pháp mình đã tu học được, chỉ dạy cho người khác gọi là bố thí pháp.
Bố thí tài, bố thí pháp cái nào tốt hơn? Bố thí tài chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí pháp chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.
Ví dụ chú đạp xích lô có một vợ hai con, mỗi ngày chạy xe kiếm được hai ba chục ngàn nuôi vợ nuôi con. Nhưng nếu chiều vô quán nhậu hết thì vợ con đói khổ. Người hàng xóm thấy thương, đem ít lít gạo lại cho, đó là bố thí tài. Rồi mai chú đạp xe có tiền cũng nhậu hết như vậy thì sao, cho đến chừng nào mới đủ, chừng nào gia đình mới ấm no. Bây giờ có một thầy, một cô nào đó sáng suốt tới khuyên chú, nói với chú uống rượu có hại gì, bệnh hoạn ra sao, rồi vì uống rượu mà không đủ tiền nuôi vợ con, làm vợ con đói khổ. Chú nghe hiểu, thức tỉnh bỏ rượu. Như vậy chúng ta chỉ nói chuyện một giờ, nửa giờ mà chú thức tỉnh bỏ rượu. Từ đó làm được bao nhiêu tiền chú đem về nuôi vợ con. Như vậy bố thí pháp không có cạn hết. Chỉ dùng lời nói, lý lẽ chân thật khuyên chỉ người, khi người tỉnh ngộ rồi gia đình hết khổ. Còn nếu cho tiền cho cơm hằng ngày, thì họ chỉ hết khổ tạm rồi mai mốt sẽ khổ nữa. Như vậy cái nào hơn?
Có kẻ cho rằng người tu Phật tiêu cực quá, nhất là Tăng Ni không chịu làm phước, làm việc xã hội, cứ đi nói pháp hoài. Những người tích cực làm việc này, việc kia giúp cho đồng bào rất dễ thấy, còn người nói pháp xem như không có lợi ích gì. Nhưng thật tình việc này lợi rất lớn. Nên trong hai thứ bố thí: bố thí tài và bố thí pháp thì bố thí pháp là hơn.
Bố thí pháp là đem lòng từ bi của mình chỉ dạy nhắc nhở mọi người biết tu, chỉ dạy nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Giả sử tôi có mười ngàn đồng muốn đem bố thí, nếu tôi cho mỗi người một ngàn đồng, thì cho mười người là hết. Còn tôi bố thí pháp thì có một trăm người, tôi cũng bố thí trọn đủ hết. Vậy bố thí pháp là bất tận. Chúng ta học đạo phải học cái bất tận, còn những việc có chừng mực, có giới hạn chúng ta làm một phần nhỏ thôi, gốc là phải bố thí pháp. Muốn bố thí pháp, chúng ta phải có học có tu và có lòng từ bi. Vì vậy từ bi sau trí tuệ. Hai việc đó không tách rời nhau.
Bố thí vô úy là sao? Vô úy là không sợ. Chúng ta mang tới cho người niềm an ổn không sợ hãi. Không sợ này có nhiều thứ: Sợ ma, sợ rắn, sợ cọp… đủ thứ sợ.
Thí dụ đối với người sợ ma, chúng ta muốn cho họ khỏi sợ, phải giải thích cho họ hiểu ma không đáng sợ. Phật dạy trong lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời, thì ngạ quỉ là loại quỉ đói đứng thứ hai, người cao hơn ngạ quỉ hai cấp. Mình cao hơn nó mà lại sợ nó thì vô lý quá. Chẳng lẽ ông Tỉnh trưởng lại sợ người dân, người lại sợ ma thì thật ngu khờ. Giải thích cho người biết và hết sợ đó là bố thí vô úy.
Như có người sợ chết, chúng ta phải giảng giải cho họ hiểu chết là một lẽ đương nhiên thôi, ai rồi cũng phải chết. Phật chết, Bồ-tát chết, chư Thánh tăng chết, Phàm tăng, Phàm ni chết, cư sĩ chết. Đó là chuyện thường, phải chi có người không chết thì mình sợ, ai cũng chết hết thì có chi mà sợ. Giải thích có căn bản cho người ta hiểu, hiểu rồi thì không sợ. Đó là bố thí vô úy. Như vậy, bố thí pháp trùm cả bố thí chánh pháp và bố thí vô úy luôn.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi. Đó là điều không hợp lý. Nhập thất tu để sáng đạo thì được, nhưng cũng phải đi giáo hóa, chớ không được đóng cửa suốt đời.
Hồi xưa học luật, Phật dạy thầy Tỳ-kheo không nên đi dép da vì làm tổn thương lòng từ bi. Nhưng khi thấy Bồ-tát Văn-thù cỡi sư tử, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi… tôi sanh ra thắc mắc. Tại sao các Ngài không đứng trên cụm mây thôi được rồi. Lại cỡi sư tử cỡi voi, như vậy các Ngài có từ bi không? Sau khi tra cứu hiểu ra rồi tôi mới thấy có lý. Vì đức Phật Thích-ca là vị Giáo chủ cõi Ta-bà, mà dân cõi Ta-bà này thì cang cường nan điều nan phục. Muốn điều phục được phải có trí tuệ vượt bực, nên vị Bồ-tát phụ tá thứ nhất cho đức Phật là Văn-thù.
Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí. Ngài ngồi trên lưng sư tử để biểu trưng rằng chỉ có trí tuệ mới hàng phục được ma quân, chỉ có trí tuệ mới giáo hóa được chúng sanh cang cường này. Đó là ý nghĩa hết sức thâm trầm. Song vì chúng sanh cõi này cứng đầu quá, dùng trí tuệ dạy họ, rồi ít bữa cũng trở lại y cũ, thì làm sao đây. Vì vậy phải có đại nguyện đại hạnh, cho nên bên trái của đức Phật vị Bồ-tát phụ tá thứ hai là Phổ Hiền cỡi voi. Vì hạnh lớn mạnh nên tượng trưng cho voi. Voi sáu ngà nghĩa là đem pháp giáo hóa chúng sanh không biết mệt mỏi. Như vậy các hình tượng ấy mang ý nghĩa đức Phật vào cõi Ta-bà giáo hóa phải có đủ trí tuệ vượt bực, hạnh nguyện to lớn mới giáo hóa được. Nếu không sẽ dễ thoái chuyển, dễ chán lắm.
Đức Phật Di-đà thì bên phải có Bồ-tát Quan Thế Âm, bên trái có Bồ-tát Đại Thế Chí. Đức Phật Di-đà ở cõi Cực lạc là chỗ sạch vui. Muốn sang Ta-bà là chỗ uế trược độ chúng sanh, phải có lòng từ bi tràn trề, nên tượng trưng cho Bồ-tát Quan Thế Âm. Vì chúng sanh khó độ nên chúng ta thấy vẽ tượng đức Phật Di-đà ở trên mây duỗi tay xuống, còn chúng sanh đang trồi hụp dưới biển mà không chịu trồi đầu lên đưa tay cho Phật vớt, cứ hụp lặn ở dưới hoài. Vì vậy muốn không thối tâm phải có đại chí tức là chí cứng rắn vững vàng. Dù cho nó khó, nó mê, nó đắm say ngũ dục cũng ráng chờ vớt nó lên. Nếu không có chí lớn thì chán lắm.
Thí dụ trong hoàn cảnh xã hội của chúng ta, có người khá giả thấy những đứa trẻ bụi đời lang thang ở góc phố này góc chợ kia muốn gom lại nuôi dạy. Từ một người giàu có, bây giờ cất trại về ở với mấy thằng nhỏ khó dạy như vậy thì phải hi sinh sự ổn định của mình, chấp nhận cảnh khổ. Do đó phải có lòng từ bi trước, lòng từ bi thật rộng lớn mới làm được việc đó. Mấy đứa nhỏ đem về dạy có dễ đâu. Nhiều khi nó muốn thoi lại mình nữa. Nó là dân bụi đời, mình thương muốn dạy dỗ nó, nhưng nó lại không biết gì, không mang ơn mà còn cự cãi với mình. Nếu không có ý chí vững bền sắt đá thì không thể nào làm được.
Nên tôi nhắc Tăng Ni phải có tâm biết thương những người chờ đợi mình, trông ngóng mình. Học rồi đem sự hiểu biết chánh pháp đó giáo hóa được năm bảy người, thì phước đức cũng lớn lắm. Do đó quí vị thấy trách nhiệm chúng ta không phải đơn giản. Không phải lo cho mình có địa vị cao, có chức tước lớn là hay. Mà phải làm sao thực tế đời mình đem lợi ích thiết thực cho Phật tử, cho mọi người. Đó mới là giá trị thật đáng quí. Mong tất cả Tăng Ni ở đây hãy nhớ lấy điều này, mà đem hết tâm nguyện phụng sự chúng sanh để đền ân chư Phật.
Theo quan niệm“Nam ngoại nữ nội”, dưới nhãn quang tướng học Á đông, những tướng tốt đối với đàn ông không bắt buộc phải là tốt với đàn bà. Tướng tốt của nam giới, lại xấu của nữ giới Theo chiêm nghiệm của tôi, có mấy ví dụ có thể liệt kê như sau: - Đ
1. Thực tế, chính xác, tỉ mỉ, chòm sao Xử Nữ không bao giờ có mơ ước viển vông, không bao giờ hành động thiếu kiểm soát. 2. Thận trọng, có trách nhiệm, trình tự, hiệu quả cao, là chỗ dựa đáng tin cậy. 3. Khiêm tốn, có năng lực thực tiễn, nói ít làm nhiều, hăng hái cần cù, người cung Xử Nữ đã nhận làm gì thì làm cho kì được, đến nơi đến chốn, nhất định không bỏ dở. 4. Có tinh thần cống hiến với công việc chung, khả năng tổ chức tốt. 5. Ôn hòa, nhã nhặn, thiện lương, nhạy cảm, biết cảm thông, là chòm sao tốt bụng bậc nhất vòng tròn hoàng đạo. Xử Nữ thường xuyên làm việc thiện, giúp đỡ người khác mà không mong hòng báo đáp. Nhược điểm của Xử Nữ
1. Đam mê hoàn hảo, lo lắng thái quá, yêu cầu cao bất bình thường, hay xét nét. 2. Tầm nhìn hạn hẹp, tâm địa hẹp hòi, không có ý chí cao rộng, hay nhận xét phiến diện và thích thu lợi về mình. 3. Cổ hủ, máy móc, giáo điều, khó chấp nhận cái mới, cái tiến bộ khiến chòm sao Xử Nữ thường bị chỉ trích. 4. Nói nhiều, lải nhải không ngớt, chuyện bé xé ra to, hay rao giảng cho người khác. 5. Quan trọng hóa vấn đề, câu nệ tiểu tiết, kém hòa đồng, hoài nghi, quỵ lụy cũng là tính xấu khó bỏ của Xử Nữ.
► Xem thêm: Bí ẩn 12 cung hoàng đạo và Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất
Ngọc Bích (Theo Horoscopecompatibility) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
Chỉ ra 3 nốt ruồi trên mặt không lo thiếu tiền xài
Nốt ruồi tại mỗi vị trí khác nhau mang tới những điềm báo hung cát không giống nhau.Nhưng nếu sở hữu những nốt ruồi trên mặt này,bạn hoàn toàn yên tâm vui sống
– Nốt ruồi tại mỗi vị trí khác nhau mang tới những điềm báo hung cát không giống nhau. Nhưng nếu sở hữu những nốt ruồi dưới đây, bạn hoàn toàn yên tâm vui sống, đón nhận phúc lộc trời ban.
1. Nốt ruồi ở lông mày
Xem tướngnốt ruồi trên mặt, nếu bạn có nốt ruồi mọc ở vị trí giữa lông mày, đồng thời bị lông mày che phủ, xin chúc mừng, bạn đã sở hữu nốt ruồi phú quý. Cuộc sống của bạn không giàu cũng sang, sung sướng đủ bề, không bao giờ lo thiếu tiền xài.
Bên cạnh đó, bạn rất thông minh, trong gia đình xuất hiện những người tài năng kiệt xuất. Đi tới đâu bạn cũng được quý nhân phù trợ nên dễ dàng vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống.
Ngoài ra, nếu có nốt ruồi xuất hiện ở phía đầu lông mày và bị lông mày che khuất, chứng tỏ chủ nhân rất thông minh, nhạy bén, phong thái đĩnh đạc, có chí tiến thủ mạnh mẽ. Bạn có tài về nghệ thuật hoặc khoa học. Chỉ cần làm những ngành nghề liên quan tới hai lĩnh vực trên là có thể thành công rực rỡ.
Còn nếu có nốt ruồi ẩn sâu ở phần đuôi lông mày, là dấu hiệu cho thấy cuộc sống của bạn luôn vui vẻ, sung túc, tiền bạc lúc nào cũng rủng rỉnh trong túi.
2. Nốt ruồi ở dưới cằm
Cằm còn gọi là Địa Các, cũng là cung Điền Trạch (trong 12 cung tướng mặt). Khi xem tướng, nếu chính giữa cằm có nốt ruồi là điềm báo cho thấy phúc đức của chủ nhân rất lớn, gia vận tốt, công danh sự nghiệp phát triển.
Nếu nốt ruồi này xuất hiện đã lâu mà bạn vẫn chưa gặp được cơ hội phát tài phát lộc, đừng nóng vội hay tỏ ra lo lắng. Bởi đây là nốt ruồi báo hiệu sự giàu sang về hậu vận. Ngoài ra, nếu trên nốt ruồi mọc lông, chứng tỏ tài phúc sẽ nhanh chóng nằm gọn trong tay bạn. Có thể bạn quan tâm: Xem đời người phụ nữ qua tướng cằm.
3. Nốt ruồi ở chính giữa mu bàn chân
Không ít người chỉ thích nghiên cứu về tướng nốt ruồi ở lòng bàn chân mà quên đi tướng nốt ruồi ở mu bàn chân. Theo quan điểm nhân tướng học, người có nốt ruồi ở chính giữa mu bàn chân thường được hưởng cuộc sống phú quý.
Tuy nhiên, phúc lộc này đến khá chậm và phải “dựa hơi” người nào đó. Vì thế, bạn có thể lựa chọn đối tượng kết hôn có điều kiện kinh tế khá giả. Trong công việc, chọn những ông chủ, nhà lãnh đạo tài ba để chỉ bảo, dẫn dắt hoàn thiện bản thân.
Nốt ruồi tố cáo đàn ông có thói trăng hoaPhụ nữ có nốt ruồi ở lông mày, là phúc hay là họa?Nốt ruồi ở chân tiết lộ vận mệnh sang hènNgọc Điệp Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
– Một vài sự điều chỉnh về phong thủy rất có ích cho sức khỏe của bạn trong tiết Hạ Chí, khi mà nắng nóng lên đến cực điểm.
1. Phòng ốc sạch sẽ, thoáng mátDù là phòng khách, phòng ngủ hay ở nơi làm việc, bạn cũng cần giữ gọn gàng, sạch sẽ. Không những đảm bảo mĩ quan, giảm bớt cảm giác nóng nực ngày hè, mà còn tác động tích cực tới dòng chảy năng lượng, mang tới nguồn năng lượng tích cực lưu thông tốt, kích hoạt vận khí tăng, sức khỏe dồi dào mang tới nhiều may mắn. Đây là một trong những tuyệt chiêu khai vận phong thủy tiết Hạ Chí đơn giản lại có hiệu quả cao.
2. Tắm gội và thay quần áo thường xuyênNhững ngày Hạ Chí nắng nóng, thời gian ban ngày dài nhất trong năm, khó tránh việc cơ thể có mùi hôi do tiết quá nhiều mồ hôi. Vì thế, nên tắm gội và thay quần áo thường xuyên, vừa giữ cơ thể thoáng mát, giảm cảm giác bí bách, nóng nực, còn kích hoạt tinh thần phấn chấn, làm việc hay vui chơi đều thoải mái. Khi tinh thần thư thái, vận khí ắt tăng lên, mọi sự càng hanh thông.Đeo ngọc chỉ để ngắm hay còn chiêu nạp phúc khíHướng dẫn chọn biển số xe hợp phong thủy cho người tuổi Tuất18 cấm kị phong thủy về nữ giới không thể không tin 3. Đặt một bình nước trong phòngViệc sử dụng điều hòa thường xuyên và liên tục trong những ngày hè nắng nóng là điều thường thấy. Tuy được tận hưởng không khí mát lành, nhưng da dẻ lại dễ bị khô, gây bong tróc, nứt nẻ, khó chịu.Vì thế, bạn có thể đặt một bình hay bát nước trong phòng có sử dụng điều hòa để tăng Thủy khí. Cách làm này vừa hạn chế tình trạng khô da, lại giúp điều hòa nguồn năng lượng, tốt cho sức khỏe.
4. Mặc quần áo có tông màu sáng, mát mắtNhững bộ trang phục có gam màu sáng, nhẹ nhàng như trắng, xanh dương, be vàng, hồng phấn… sẽ tạo cảm giác mát mắt, điều hòa tâm trạng rất tốt. Dù là người mặc hay người nhìn vào đều thấy dễ chịu, hạn chế cơn nóng giận, giúp tính tình điềm tĩnh hơn, xử lý công việc tốt hơn.Muốn công ty phát tài, nhanh tay bố trí văn phòng tổng giám đốc đủ 6 tiêu chuẩnChìa khóa vàng bài trí phong thủy văn phòng thịnh phátChọn cây phong thủy để bàn trợ lực nghề nào phát nghề đó 5. Mang cây xanh vào bàn làm việcÁp lực công việc là một trong những nguyên nhân khiến tâm tính của con người biến đổi thất thường. Đó cũng chính là nguồn gốc gây ra hàng loạt mâu thuẫn trong quan hệ xã giao, từ đó làm giảm hiệu quả công việc cũng như sức khỏe.Đặt một vài chậu cây cảnh có màu xanh mát sẽ giúp tinh thần bạn dễ chịu hơn, từ đó làm giảm Hỏa khí trong người, xử lý tốt công việc cũng như điều hòa các mối quan hệ xã giao hữu hảo trong tiết Hạ Chí này.Nhưng lưu ý, tránh đặt những loại cây cảnh có gai như xương rồng trên bàn làm việc. Gai của nó như mũi dao nhọn chứa sát khí, gây hại cho sức khỏe và sự nghiệp của bạn.
► Mời các bạn tra cứu Lịch 2016 theo Lịch vạn sự chuẩn xác
Hoàng Lam
Đôi điều cần biết về tiết Hạ Chí Hàng năm, từ 21 hoặc 22 tháng 6 tới ngày 5 hoặc 6 tháng 7 là tiết Hạ Chí, một trong 24 tiết khí, đánh dấu những ngày nắng nóng cực điểm đã tới. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
Kỳ trước, chúng tôi đã nói về những chỗ tốt và xấu trong một căn nhà để xác định các vị trí. Nói đúng hơn, mỗi vị trí trong căn nhà thích hợp cho một mục đích sử dụng chứ không có vị trí nào thích hợp cho mọi việc cũng như không có vị trí nào hoàn toàn xấu.
Vì vậy, biết được ý nghĩa của từng vị trí, ta sẽ có thể bố trí các phòng phù hợp. Ví như gỗ sung là loại thớ to, mềm, giá trị thấp, không thể làm được giường, tủ, thậm chí làm củi cũng không đắt vì khó cháy, nhiều khói. Thế nhưng các cụ ngày trước dùng gỗ sung làm cánh cổng, phòng ngừa trộm cướp lại rất đắc dụng vì gỗ nhẹ nhưng quánh, dẻo, có dùng dìu, búa bổ vào cũng không thể phá vỡ được. Ngược lại vàng tâm là loại gỗ quý thường được sử dụng làm đồ nội thất rất tốt nhưng nếu đem làm cánh cổng thì chỉ một nhát dìu đã có thể phá vỡ toang vì vàng tâm thớ mịn, mềm…
Như đã nói, nếu chia mặt bằng căn nhà làm 9 ô thì 8 ô vòng ngoài kể như 8 phòng (8 vị trí) sẽ ứng với 8 hướng, 8 quẻ trong bát quái. Lấy một ô đặt vào hướng cửa nhà thì 7 ô còn lại sẽ có các tên sau: Lục sát, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh, Diên niên, Họa hại, Sinh khí, Thiên y (cách xác định các vị trí này theo hướng cửa nhà đã giới thiệu ở số trước). Các tên gọi này có ý nghĩa như sau:
- Diên niên là chỗ tốt trong căn nhà, có lợi cho sức khỏe, biểu trưng của sự trường thọ. Vì vậy, đây là nơi lý tưởng để ở, làm việc, nghỉ ngơi. Với ý nghĩa đó, phòng ngủ chính đặt ở ô này sẽ rất có lợi cho sức khỏe.
- Sinh khí cũng là vị trí tiểm ẩn của sức mạnh, sự phát triển cũng bắt nguồn từ đây. Vì vậy, cần tận dụng vị trí này để tăng cường, phát huy nguồn sinh khí đạt được hiệu quả tối đa. Nên bố trí phòng làm việc, học hành ở vào vị trí này.
- Thiên y có tính hóa giải ác khí, xua đi những điều xấu, đem lại sự bình an, sức mạnh. Vì vậy vị trí này dành cho những người cần hồi phục về thể lực, tâm thần và cả của cải thì tốt.
- Ngũ quỷ là tượng trưng cho linh hồn con người lìa khỏi thể xác đi vào cõi âm. Vì vậy không nên bố trí phòng ngủ ở vị trí này mà tốt nhất là để bàn thờ tổ tiên, thờ cúng.
- Họa hại là vị trí gây tai họa, có hại cho con người. Vì vậy người ta không làm nhà bếp, nhà tắm, hay phòng của trẻ em ở đây vì có thể dễ xảy ra tai họa. Vị trí này tốt nhất là dùng làm nhà kho, chứa đồ nhưng cho dù vậy, khi tiến hành công việc gì ở đây cũng nên cẩn thận.
- Lục sát là thất sát vì theo tử vi nó là ngôi sao tách ra từ chòm sao bảy ngôi. Vị trí này có sự biến động, không liên tục, hoàn chỉnh. Vì vậy không nên bố trí phòng làm việc, phòng học ở đây vì sự nghiệp, sự học hành dễ bị chi phối, ngắt quãng, không có lợi.
- Tuyệt mệnh là điểm tận cùng của số mệnh. Vì vậy chỉ nên dành làm nơi cho người bệnh nặng hoặc cũng có thể làm nhà kho chứa đồ. Chính vì ý nghĩa đó mà số ít người Trung Hoa cổ có khi xây nhà để thiếu một góc là dụng ý đặt góc thiếu vào cửa này.
Tuy nhiên, ý nghĩa của các vị trí nói trên là theo quan niệm của thuyết phong thủy và nó cũng chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Người xưa tin vào số mệnh, nhưng cũng chính người xưa lại cho rằng con người nhiều khi chiến thắng được số mệnh (“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” hay “Có trời mà cũng tại ta…” - Nguyễn Du)
Tuy vậy, chúng ta cũng nên lưu ý một điểm, việc xác định các vị trí nói trên trong một căn nhà không phải theo phương địa lý cố định mà tùy thuộc vào hướng cửa chính, các vị trí này hoàn toàn phụ thuộc vào hướng cửa. Mà cửa vào chính là hướng vận động của luồng khí. Chúng ta đều biết, lối đi, luồng gió vận chuyển trong căn nhà, tác động rất lớn đến hiệu quả làm việc, sức khỏe và sự yên tĩnh của giấc ngủ.
Thực tế dễ nhận thấy nếu bố trí phòng học, làm việc gần nơi nhiều người qua lại sẽ bị phân tán suy nghĩ, vì vậy hiệu quả làm việc, học tập không cao. Cũng như vậy, giường ngủ kê ở nơi có luồng gió thốc vào (dân gian gọi là “gió lùa”) rõ ràng là không có lợi cho sức khỏe, nhất là mùa đông dễ gây cảm lạnh, “trúng gió”… Vì vậy, việc xác định các vị trí trong căn nhà với ý nghĩa như trên biết đâu chẳng là kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn đời sống của người xưa?
Top 4 con giáp có số thành 'tỷ phú' bằng hai bàn tay trắng - 12 con giáp - Xem Tử Vi
Top 4 con giáp có số thành 'tỷ phú' bằng hai bàn tay trắng, 12 con giáp, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Top 4 con giáp có số thành 'tỷ phú' bằng hai bàn tay trắng, tu vi Top 4 con giáp có số thành 'tỷ phú' bằng hai bàn tay trắng, tu vi 12 con giáp
Top 4 con giáp có số thành 'tỷ phú' bằng hai bàn tay trắng
Đây là 4 con giáp được đánh gia là có ý chí và nghị lực hơn người. Và tất nhiên họ cũng có rất nhiều tính cách giúp họ thành đat, giàu có...
Quán quân: Tuổi Hợi
Người tuổi Hợi, đặc biệt là người sinh tháng 3 âm lịch, sẽ có thành công vang dội trong sự nghiệp bằng chính tài năng, khối óc và đôi tay của mình. Dù không sinh ra trong gia đình giàu có, không có nền tảng tài chính cơ bản nhưng người tuổi Hợi lại biết xây dựng sự nghiệp vào trí tuệ và sự nỗ lực của mình để vượt qua mọi gian nan, thử thách, giành vinh quang và làm giàu cho bản thân.
Thông thường, người tuổi Hợi có được đại nghiệp vững chắc và hưởng vinh hoa phú quý khi bước sang độ tuổi trung niên. Lúc đó, họ sẽ đền đáp xứng đáng những người đã giúp đỡ họ chân thành và nhiệt tình lúc khó khăn.
Á quân: Tuổi Dần
Người tuổi Dần sinh tháng 7 âm lịch thường có cuộc sống khó khăn khi trẻ, bởi không được thừa hưởng tài chính từ phía gia đình. Đổi lại, họ có ý chí kiên cường, tinh thần cầu tiến cao độ, khả năng xử lý tình huống khéo léo, nên đến trung vận họ sẽ gây dựng sự nghiệp đỉnh cao khiến ai ai cũng phải ngưỡng mộ.
No3: Tuổi Ngọ
Những ai sinh trong tháng 5 âm lịch thuộc con giáp này cũng sẽ lập nên đại nghiệp vinh quanh cho bản thân mình khi đến tuổi trung niên. Thời thơ ấu của những người tuổi Ngọ sinh trong tháng này thường không được thuận lợi và trải qua nhiều gian khổ. Chính lẽ đó, họ luôn nỗ lực không ngừng, dùng chính trí thông minh và sự chăm chỉ của mình để đạt được thành công như mong đợi.
No4: Tuổi Dậu
Thời niên thiếu của người tuổi Dậu cũng đầy khó khăn, vất vả và không được người thân trợ giúp về khoản tiền bạc. Nhưng bằng sự nỗ lực không ngừng, cộng thêm trí tuệ thông minh, nhạy bén và lối sống lạc quan, có hoài bão, họ đã tự tạo dựng cuộc sống giàu sang, phú quý cho bản thân từ đôi bàn tay trắng.
Đặc biệt, những người sinh vào tháng 8 âm lịch thường có số giàu sang, cuộc sống sung túc, được cả danh và lợi khi bước sang tuổi trung vận. Họ thường chủ động lập kế hoạch rõ ràng và cố gắng đến sức lực để đạt được mục tiêu đã đề ra.
5 chòm sao đa nghi dưới đây thường xuyên không tin tưởng vào lòng tốt của người khác nên khó có thể có bạn bè thân thiết. Hãy mở lòng và thoải mái hơn đi nào!
5 chòm sao đa nghi dưới đây thường xuyên không tin tưởng vào lòng tốt của người khác nên khó có thể có bạn bè thân thiết. Hãy mở lòng và thoải mái hơn đi nào!
Cự GiảiTâm lý phòng bị của Cự Giải quá mạnh, ai đối tốt với mình Giải Giải đều nghĩ là có mục đích. Bản thân nhạy cảm và thiếu cảm giác an toàn nên người ta càng nhiệt tình, chòm sao đa nghi này càng không tiếp nhận. Điều đó cũng xuất phát từ sự tự bảo vệ bản thân mà thôi, đừng trách họ.Song NgưChòm sao lương thiện Song Ngư lại hoàn toàn trái ngược. Họ không có tâm lý phòng bị người khác nên nếu bị tiểu nhân lợi dụng àm có người khuyên nhủ, thì lại cho rằng người đó có ý xấu. Đặc biệt, những vấn đề liên quan tới tình cảm thì năng lực phán đoán của Song Ngư lại càng kém. Tin tưởng kẻ xấu, phủ nhận người tốt là lỗi lầm Ngư nhi thường mắc.5 bộ phận càng BÉO thì càng có PHÚC Theo nhân tướng học, người có phúc khí là người có tướng mạo đẹp đẽ, không quá gầy yếu nhưng cũng không được quá béo phì. Thế nhưng, có 5 bộ Bọ CạpLòng dạ quá thâm sâu và nhiều tính toán nên Bọ Cạp không thể tin tưởng ai. Mọi chuyện đều bị Bọ Cạp nhìn dưới con mắt nghi ngờ, thủ đoạn và từ chối ý tốt. Thậm chí, dù đang trong tình huống hết sức khó khăn, chòm sao này cũng không muốn nhận sự giúp đỡ của người khác vì sợ bị hãm hại. Khuyết thiếu sự tin tưởng khiến Bọ Cạp hầu như không có bạn tốt.Ma KếtMa Kết là chòm sao tham vọng, coi trọng hiệu quả và lợi ích. Vì thế, đối với họ không có khái niệm bạn hay thù mà chỉ có người hữu ích và người vô dụng. Dù là kẻ xấu nhưng có lợi thì họ cũng chơi. Tốt bao nhiêu mà chỉ để “làm cảnh” cũng không thể chơi cùng Ma Kết.
Nhân MãChòm sao Nhân Mã không cố ý nghi ngờ hay phủ nhận lòng tốt của người khác nhưng họ lại khá vô tâm. Chính bản thân mã Mã còn chẳng nhớ nổi ai đã từng giúp đỡ mình hay ai đã từng làm hại mình, cứ thoải mái đối đãi như nhau. Cũng vì thế mà thường bỏ qua người bạn thực sự. Trần Hồng Xem Clip Làm thế nào để Đón may tránh rủi? Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Tướng rồng là tướng người có khả năng giải quyết công việc nhanh, quyết đoán, hợp đạo lý. Có thể nói, đây là tướng đế vương, nắm giữ quyền cao chức trọng. 1. Tướng rồng Là tướng người tốt nhất theo quan niệm của người xưa. Đặc điểm: thân hình cao lớ
Tướng rồng là tướng người có khả năng giải quyết công việc nhanh, quyết đoán, hợp đạo lý. Có thể nói, đây là tướng đế vương, nắm giữ quyền cao chức trọng.
1. Tướng rồng
Là tướng người tốt nhất theo quan niệm của người xưa. Đặc điểm: thân hình cao lớn, tướng đi vững chãi, thanh thoát, sắc mặt hồng hào, ánh mắt uy nghiêm mà thuần hậu, giọng nói lớn mà ôn hòa, lông mày dài và rậm. Người này có khả năng giải quyết công việc nhanh, quyết đoán và hợp đạo lý. Có thể nói, đây là tướng đế vương, nắm giữ quyền cao chức trọng.
2. Tướng phượng
Thân hình dong dỏng cao, khuôn mặt “mắt phượng mày ngài” với đôi mắt thon dài, chân mày nhỏ đẹp, thần sắc uy nghi, mạnh mẽ, giọng nói trong trẻo, rõ ràng. Đây là tướng quý, chủ nhân dễ đạt được thành công lớn trong đời.
3. Tướng chim ưng
Thân hình cao lớn, chân bước vững vàng, tiếng nói vang khỏe, lông mày rậm, ánh mắt rất sáng và sắc bén. Đây là tướng người phù hợp với binh nghiệp nhưng tính cách có phần hung dữ và tàn bạo, hậu vận không được tốt. 4. Tướng kỳ lân
Thân hình vừa phải, ngực rộng, rắn chắc và hơi ưỡn ra phía trước, trán cao mắt sáng, chân mày đen rậm. Nếu có thêm giọng nói to rõ, ôn hòa kết hợp với tướng đi vững chắc thì người này có thể làm nên sự nghiệp hiển hách.
5. Tướng cọp
Thân hình cao to, vai rộng nở ngang, lưng to, chân tay rắn chắc, mắt lớn, miệng rộng môi dày, tiếng nói ầm vang như trống, ánh mắt đầy uy lực. Người này tuy sức khỏe dồi dào nhưng thiếu lanh lợi.
6. Tướng beo
Khuôn mặt dài nhưng mũi ngắn, răng nhỏ và khít, đặc biệt là chóp mũi nhô cao. Người này tuy sức khỏe và uy lực không được như người có tướng cọp và sư tử nhưng lại có phần khéo léo và uyển chuyển hơn. Họ giỏi giao tiếp xã hội, đôi khi có phần thủ đoạn, tinh ranh và mưu mẹo. Do tính cách quá độc đoán nên đời sống gia đình người tướng heo thường không hạnh phúc.
7. Tướng sử tử
Hình dáng bề ngoài cũng có nét tương tự như người tướng cọp nhưng trán đặc biệt cao và gồ lên. Đây là người thông minh, mưu trí, văn võ song toàn.
8. Tướng voi
Thân hình to lớn nhưng nặng nề, bước đi chậm chạp, dáng ngồi nghiêm chỉnh, vững chắc, mũi thấp, môi dày. Người này tuy không thông minh, lanh lợi nhưng tính tình hiền hậu, suy nghĩ chín chắn, làm việc siêng năng nên cuộc sống no đủ, hậu vận giàu sang.
9. Tướng tê giác Thân hình to lớn, trán cao rộng, lông mày rậm, đầu tròn, mắt nhỏ và hơi lồi, 2 tai nhỏ nhưng dày. Đây là tướng người có sức khỏe tốt, sống thọ, đời sống khá sung túc.
10. Tướng gấu Thân hình to lớn, râu tóc rậm rạp, tay chân to, mũi to, hơi thở gấp gáp nặng nề. Người có tướng này đa phần tính tình nóng nảy, hung bạo. Họ có thể đạt được giàu sang, danh lợi nhưng không được sự yêu mến của mọi người.
11. Tướng khỉ Thân hình nhỏ hoặc vừa phải, trán nhô cao về phía trước, lưỡng quyền nổi cao, 2 mắt tròn đen. Đây là tướng đặc biệt lanh lợi, mưu trí nên cuộc sống khá sung túc nhưng có phần hơi háo sắc.
12. Tướng vượn Bề ngoài cũng giống như người có tướng khỉ nhưng tay chân dài hơn. Đây cũng là tướng người đặc biệt lanh lợi, giỏi tính toán nhưng không gian xảo hay mưu mô. Người này cũng có tâm háo sắc nhưng kín đáo vào biết kiềm chế hơn người tướng khỉ.
13. Tướng đười ươi Biểu hiện rõ ở thân hình cao to nhưng dáng hơi đổ về phía trước, mắt tròn, lông mày rậm, miệng rộng, môi vểnh, lưỡng quyền cao nhọn, lông tóc thô cứng. Đây là tướng người nóng nảy nhưng thẳng thắn, tâm tính tốt.
14. Tướng trâu Thân hình to lớn, đầu và cổ to, cách nói năng và đi đứng chậm chạp, sức khỏe tốt. Đa số họ có được cuộc sống đầy đủ nhờ vào đức tính chăm chỉ.
15. Tướng chó Biểu hiện qua hình dáng chân dài tay ngắn, đầu lớn, mặt thon tai nhọn, sức khỏe tốt. Người này tính tình thẳng thắn và có phần hơi nóng nảy.
16. Tướng chó sói Người này có trán rộng, mắt to, lưỡng quyền cao đầy, lỗ tai nhọn nhưng dày, miệng to răng khít nhưng khi cười để lộ 2 răng nanh có vẻ to hơn người bình thường, lông mày đều đặn cân xứng. Đây là tướng người thông minh, sắc sảo, có thể giành được địa vị cao trong xã hội. Tuy nhiên, do tâm tính có phần tàn nhẫn nên họ thường làm mọi người sợ nhiều hơn là kính phục.
17. Tướng lừa Mặt và tai dài, tướng đi chậm chạp. Người này khó làm nên nghiệp lớn mà chỉ có thể nhờ vào tính cần cù để tạo dựng cuộc sống.
18. Tướng chồn Thân hình vừa phải, sắc da hồng hào, tướng đi nhanh nhẹn, có năng khiếu về nghệ thuật. Đây là người ưa kiểu cách lễ nghi nhưng tâm địa gian xảo, háo sắc, lười biếng và thiếu tinh thần trách nhiệm. 19. Tướng thỏ Đầu nhỏ trán thấp, tai to tròn dài, mũi nhỏ hồng hào, chân ngắn hơn thân người. Đây là người khôn ngoan, lanh lợi nhưng trung hậu và khoan dung. Người này nếu không lập nên sự nghiệp cao quý thì cũng được mọi người yêu mến, kính trọng.
20. Tướng hoẵng Khuôn mặt dài và hẹp, mũi nhỏ nhọn, mắt tuy lớn nhưng bị lông mày rậm che khuất 1 phần, tai dài và vểnh ra 2 phía. Người này rất nhút nhát, ngại giao tiếp, lòng luôn nghi kỵ và lo sợ điều bất ổn nên không làm nên nghiệp lớn.
21. Tướng ngựa Biểu hiện rõ ở khuôn mặt rất dài và hẹp dần ở phía dưới, miệng rộng, răng to, lưng dài. Người có tướng này có tính cần cù, khoan dung, độ lượng, hậu vận tốt.
22. Tướng nai Khuôn mặt hơi dài và hẹp dần về phía dưới; ánh mắt hiền lành và có phần lơ đãng; miệng nhỏ, tướng đi nhanh nhẹn. Người có tướng này tâm tính hiền hậu, có phần nhút nhát, không thích tranh giành bon chen nhưng lại được hưởng phúc an nhàn, no đủ.
23. Tướng dê Đầu vuông, trán dài nhưng thấp, thân hình có vẻ hơi chúi về phía trước. Người này có tâm tính hiền lành, trung thực. Nếu là phụ nữ thì suy nghĩ thường nông cạn và có xu hướng thiên nhục dục.
24. Tướng mèo Thân hình thon nhỏ, lưng dài, bụng nhỏ, mắt tròn, to sáng, tai nhỏ và mỏng, nhọn. Người này tâm tính hiền lành, đôi lúc lại rất thông minh và khéo léo. Họ coi trọng bề ngoài, có nếp sống gọn gàng, sạch sẽ. 25. Tướng chuột Thân hình nhỏ nhắn, mắt nhỏ, hay liếc ngang liếc dọc, răng nhọn, miệng chu ra phía trước. Người này khá lanh lợi, giỏi ứng biến nhưng lại không có tầm nhìn xa trông rộng, chỉ chú ý đến lợi ích trước mắt. Hơn nữa, không ít người vì tâm tính có phần dối trá nên không được cấp trên trọng dụng, sự nghiệp khó phát triển bền vững.
26. Tướng heo Thân hình to lớn, cổ nhiều ngấn mỡ, chân tay ngắn. Người tướng này thường ham mê vật chất, thích ăn uống, thích nói chuyện ồn ào. Tuy có phúc lộc no đủ, nhàn nhã nhưng không có công danh sự nghiệp vì khả năng giao tiếp xã hội kém và có phần thô lỗ.
27. Tướng gà Thân hình nhỏ, mắt miệng và khuôn mặt nhỏ. Đây là người biết giữ chữ tín, có chí cầu tiến nên hậu vận rất tốt.
28. Tướng vịt Thân hình mập mạp, chân ngắn, bước đi chậm chạp. Người này thường kém thông minh, cuộc sống chỉ vừa đủ chứ không giàu sang, vinh hiển.
29. Tướng ngỗng Mắt nhỏ, ánh mắt không sắc sảo, miệng nhỏ, mũi ngắn, cổ cao, bước đi chậm và có phần đủng đỉnh. Người tướng này tuy không đạt được thành tựu lớn nhưng vẫn có cuộc sống an nhàn, no đủ.
30. Tướng hạc Thân hình thanh mảnh, khuôn mặt dài, cổ cao. Người tướng này tính trầm tĩnh, ghét sự ồn ào, bon chen. Họ thích sự thanh cao, đặc biệt yêu thích và có tài năng về văn chương nghệ thuật.
31. Tướng công Thân hình cao, khuôn mặt nhỏ, tính tình trầm tĩnh và có phần bảo thủ, ham danh vọng và rất chú trọng bề ngoài.
32. Tướng chim yến
Thân hình nhỏ nhắn, mắt tròn, ánh mắt sáng. Người tướng này có nhiều tài năng nhưng vận số thăng trầm, thành đạt muộn. 33. Tướng chim sẻ Thân hình nhỏ bé, mắt tròn, ánh mắt sắc sảo và thường liếc nhìn xung quanh. Người tướng này thường vất vả, sự nghiệp khó thành.
34. Tướng chim thước Thân hình vừa phải, khuôn mặt và đôi mắt nhỏ, dáng đi nhanh nhẹn. Đây là người có tính tình vui vẻ, làm việc siêng năng, sức khỏe tốt. Tuy không thể đạt đến mức giàu sang vinh hiển nhưng cuộc sống an nhàn, no đủ, được nhiều người yêu mến.
35. Tướng uyên ương Thân hình vừa phải, mắt tròn, đẹp, khuôn mặt ưa nhìn, giọng nói trong trẻo, ngọt ngào. Nếu là nữ thì thích hợp làm những công việc nghệ thuật như diễn viên hay nghệ sĩ múa. Người có tướng này đạt được chút công danh trong xã hội nhưng sự nghiệp lại không lâu bền và thiên về nhục dục.
36. Tướng cò Thân hình cao gầy, mũi dài và nhỏ. Tuy có năng khiếu đặc biệt về nghệ thuật nhưng tính tình thích cô độc, trầm lặng, thờ ơ và lạnh nhạt trong các mối quan hệ xã hội và không có chí cầu tiến nên không đạt được công danh sự nghiệp trong cuộc sống.
37. Tướng rắn Thân hình cao gầy, tướng đi uyển chuyển; đầu dài mặt ngắn, miệng và môi đều mỏng, mũi và lưỡi dài, hay liếm môi; lông mày, răng, mắt đều nhỏ, mắt thường mở to nhưng ánh mắt lạnh lùng.
Đây là tướng người nhỏ nhen, thù dai, mưu mô, xảo trá, khi tranh chấp quyền lợi thì có nhiều thủ đoạn tàn nhẫn nhưng trong giao tiếp làm ăn lại rất khéo léo và đạt được nhiều danh vọng.
38. Tướng rùa Thân hình thấp nhỏ, đầu thon nhỏ, chân ngắn, cổ ngắn, mắt tròn và sáng, lưng gù lên và hơi cong. Đây là tướng người phú quý và trường thọ.
39. Tướng cá Thân hình thon nhỏ, cặp mắt tròn nhỏ và hơi lồi, lông mày thưa, cổ ngắn, môi dày. Người này khi ngủ đôi mắt vẫn mở hé mà không khép kín được. Họ có tâm tính đa nghi, nhút nhát, đôi khi sống ảo tưởng và hậu vận không tốt.
1. Ngón tay đeo nhẫn càng dài thì bản lĩnh phòng the càng tốt Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, khả năng tình dục của đàn ông nằm ở lượng testosterone nhiều hay ít. Điều thú vị là nhìn chiều dài ngón áp út có thể đoán định được lượng testosteronecủa nam giới. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng chiều dài ngón áp út được xác định sớm ở tuần 14 của thai kỳ. Ngón áp út càng dài thì lượng testosterone càng cao. Ngón tay đeo nhẫn thế nào là dài? Duỗi thẳng các ngón tay rồi khép khít chúng lại, giơ bàn tay ra trước mặt, mở lòng bàn tay, giữ ở tư thế đối diện với mặt và quan sát. Chênh lệch về độ dài giữa ngón tay đeo nhẫn và ngón trỏ càng lớn thì hàm lượng testosterone của bạn càng nhiều. Ngược lại, người có ngón áp út ngắn hơn ngón trỏ sẽ có nhiều estrogene và ít testosterone hơn (tức là nữ tính hơn).
2. Ngón tay đeo nhẫn dài dễ thành tỉ phú Viện nghiên cứu của trường Đại học Concordia ở Canada cho rằng, đàn ông với ngón đeo nhẫn dài thường mạo hiểm và vì thế dễ giàu có hơn người khác. Các chuyên gia lý giải rằng, chính việc hormone testosterone cao giúp nam giới tăng khả năng tập trung cao, từ đó đưa ra quyết định nhanh và táo bạo hơn. Điều này có nghĩa là họ kiếm tiền nhiều gấp 11 lần so với những người có ngón áp út ngắn. 4. Ngón tay đeo nhẫn tiết lộ tính cách Theo một nghiên cứu của trường Đại học Canada, người đàn ông có ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ thường tốt bụng và quan tâm đến người xung quanh nhiều hơn. Sự khác nhau nói trên có nguyên nhân từ nồng độ hormone testosterone trong cơ thể khi chúng ta còn chưa được sinh ra. Trong bụng mẹ, đứa trẻ nào nhận được nhiều testosterone hơn sẽ có độ dài ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ. Theo đó, trong quá trình hình thành nhân cách, đứa trẻ ấy dễ hướng ngoại, cởi mở hay thành công trong kinh doanh. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng những chàng trai sở hữu ngón đeo nhẫn dài có xu hướng cười nhiều và thân thiện hơn. 5. Thói trăng hoa tỉ lệ thuận với chiều dài ngón tay đeo nhẫn Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi cục Tâm lý học thực nghiệm của trường Đại học Oxford và trường Đại học Northumbia, đàn ông với ngón đeo nhẫn dài bị cho là có tính lăng nhăng. Nghiên cứu này đưa ra một giả thuyết rằng, con người có thể được chia ra thành hai loại: một bên thích những mối quan hệ thoáng qua và số còn lại tìm kiếm sự cam kết lâu dài. Sau khi nghiên cứu suy nghĩ của 575 người về “tình thoáng qua” kết hợp với độ dài ngón tay, các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng những người ngón đeo nhẫn càng dài hơn ngón trỏ thì càng có xu hướng lăng nhăng nhiều hơn. Điều này được các chuyên gia lý giải là do lượng hormone testosterone trong cơ thể vốn dĩ ở mức cao khiến những nam giới này luôn thu hút người khác, nhưng đồng thời có sở thích “cắm sừng” người yêu. Theo Ngày nay Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Để biết người tốt hay xấu hãy chú ý đến tướng mạo cảu họ và cùng tìm hiểu những tướng người phổ biến sau đây: 1. Tướng rồng Là tướng tốt nhất theo quan niệm của người xưa. Đặc điểm: thân hình cao lớn, tướng đi vững chãi, thanh thoát, sắc mặt hồng hào
Coi tuổi mạng và năm sinh 1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng 2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn,
1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng
2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim(chân đèn bằng vàng), xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng.
3-(1939, 1999) Tuổi Kỹ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Ðầu Thổ ( đất trên thành), xương con thỏ, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
4-(1938, 1998) Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Ðầu Thổ (đất trên thành), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
5-(1937, 1997) Tuổi Ðinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thuỷ( nước mù sương), xương con trâu, tướng tinh con trùn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- Cô bần
6-(1936, 1996,2056) Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thuỷ(nước mù sương), xương con chuột, tướng tinh con rắn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Cô bần.
7-(1935, 1995) Tuổi Ất Hợi, cung Ðoài, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con heo, tướng tinh con hưu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
8-(1934, 1994) Tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con chó, tướng tinh con ngựa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
9-(1933, 1993) Tuổi Quí Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con gà, tướng tinh con đười ươi, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế- Phú quí.
10-(1932, 1992) Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, xương con khỉ, tướng tinh con dê, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
11-(1931, 1991) Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con dê, tướng tinh con gấu, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
12-(1930, 1990) Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ, xương con ngựa, tướng tinh con vượn, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
13-(1929, 1989) Tuổi Kỹ Tỵ, cung Cấn, mạng Ðại Lâm Mộc(cây lớn trong rừng), xương con rắn, tướng tinh con khỉ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế- Trường mạng.
14-(1928, 1988) Tuổi Mậu Thìn, cung Ðoài, mạng Ðại Lâm Mộc, xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế-Trường mạng.
15-(1927, 1987) Tuổi Ðinh Mẹo, cung Càn , mạng Lư Trung Hoả(lửa trong lư), xương con thỏ, tướng tinh con gà, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
16-(1926, 1986) Tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hoả, xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
17-(1925, 1985) Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim(vàng dưới biển), xương con trâu, tướng tinh con chó, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
18-(1924, 1984) Tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, xương con chuột, tướng tinh con chó sói, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
19-(1923, 1983) Tuổi Quí Hợi, cung Cấn, mạng Ðại Hải Thuỷ(nước biển lớn), xương con heo, tướng tinh con gà, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
20-(1922, 1982) Tuổi Nhâm Tuất, cung Ðoài, mạng Ðại Hải Thủy, xương con chó, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
21-(1921, 1981) Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con gà, tướng tinh con chó, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
22-(1920, 1980) Tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, xương con khỉ, tướng tinh con cho sói, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
23-(1919, 1979) Tuổi Kỹ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời), xương con dê, tướng tinh con rùa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
24-(1918, 1978) Tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hoả, xương con ngựa, tướng tinh con heo, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
25-(1917, 1977) Tuổi Ðinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con rắn, tướng tinh con cú, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
26-(1916, 1976) Tuổi Bính Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ, xương con rồng, tướng tinh con chuột, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
27-(1915, 1975) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Ðại Khê Thuỷ( nước khe lớn), xương con mèo, tướng tinh con dơi, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
28-(1914, 1974) Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Ðại Khê Thuỷ, xương con cọp, tướng tinh con trâu, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
29-(1913, 1973) Tuổi Quí Sửu, cung Tốn, mạng Tang Ðố Mộc (cây dâu), xương con trâu, tướng tinh con cua biển, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế- Quan lộc, tân khổ.
30-(1912, 1972) Tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Ðố Mộc, xương con chuột, tướng tinh con heo, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Quan lộc, tân khổ.
31-(1911, 1971) Tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con heo, tướng tinh con cọp, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
32-(1910, 1970) Tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Kim Xuyến, xương con chó, tướng tinh con cáo, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
33-(1909, 1969) Tuổi Kỹ Dậu, cung Ly, mạng Ðại Trạch Thổ (đất nền nhà), xương con gà, tướng tinh con thỏ, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
34-(1908, 1968) Tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Ðại Trạch Thổ, xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
35-(1907, 1967) Tuổi Ðinh Mùi, cung Ðoài, mạng Thiên Hà Thuỷ (nước sông Thiên Hà), xương con dê, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
36-(1906, 1966) Tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thuỷ, xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng,khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
37-(1905, 1965) Tuổi Ất Tỵ, cung Ðoài, mạng Phúc Ðăng Hoả ( lửa đèn nhỏ), xương con rắn, tướng tinh con trùn, khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
38-(1904, 1964) Tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Ðăng Hoả, xương con rồng, tướng tinh con rắn,khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
39-(1903, 1963) Tuổi Quí Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con thỏ, tướng tinh con hưu, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
40-(1902, 1962) Tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim, xương con cọp, tướng tinh con ngựa, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
41-(1901, 1961) Tuổi Tân Sửu, cung Ðoài, mạng Bích Thượng Thổ ( đất trên vách), xương con trâu, tướng tinh con đười ươi, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
42-(1900, 1960) Tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ, xương con chuột, tướng tinh con dê, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
43-(1899, 1959) Tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Ðịa Mộc(cây trên đất bằng), xương con heo, tướng tinh con gấu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
44-(1958, 2018) Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình địa mộc (cây trên đất bằng), xương con chó tướng tính con vượn, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
45-(1957, 2017) Tuổi Ðinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hoả (lửa dưới núi), xương con gà, tướng tinh con khỉ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
46-(1956, 2016) Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, xương con khỉ, tướng tinh con quạ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
47-(1955, 2015) TuổiẤt Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con dê, tướng tinh con gà, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
48-(1954, 2014) Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
49-(1953, 2013) Tuổi Quí Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thuỷ(nước chảy dài), xương con rắn, tướng tinh con chó, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
50-(1952, 2012) Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thuỷ, xương con rồng, tướng tinh con chó sói, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
51-(1951, 2011) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá mộc ( cây Tòng và cây Bá), xương con thỏ, tướng tinh con rái, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
52-(1950, 2010) Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá mộc, xương con cọp, tướng tinh con heo, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
53-(1949, 2009) Tuổi Kỹ Sửu, cung Ðoài, mạng Thích Lịch Hoả ( lửa sấm sét), xương con trâu, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
54-(1948, 2008) Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hoả, xương con chuột, tướng tinh con chó sói,khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
55-(1947, 2007) Tuổi Ðinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ ( đất ổ vò vỏ), xương con heo, tướng tinh con dơi, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế- Phú quí.
56-(1946, 2006) Tuổi Bính Tuất, cung Tốn,mạng Ốc Thượng Thổ, xương con chó, tướng tinh con trâu, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
57-(1945, 2005) Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thuỷ (nước trong giếng), xương con gà, tướng tinh con cua, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
58-(1944, 2004) Tuổi Giáp Thân, cung Khôn , mạng Tuyền Trung Thuỷ, xương con khỉ, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
59-(1943, 2003) Tuổi Quí Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu mộc ( cây dương liễu), xương con dê, tướng tinh con cọp, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
60-(1942, 2002) Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu mộc, xương con ngựa, tướng tinh con rắn, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
– Trong ngày lễ Tình nhân 14/2, ở Nhật con gái chủ động tặng quà, Valentine ở Anh có biểu tượng là chìa khóa chứ không phải là hoa hồng hay chocolate... Xung quanh ngày lễ này còn rất nhiều điều thú vị mà không phải ai cũng biết.
► Tham khảo thêm những quà tặng Valentine ý nghĩa, độc đáo dành tặng người bạn yêu thương
14/2 là một trong những ngày lễ Tình yêu lớn dành cho những cặp đôi trên toàn thế giới. Cùng là một ngày lễ Tình nhân nhưng mỗi nước lại có những điều khác biệt thú vị, tạo nên màu sắc lôi cuốn cho ngày Valentine ngọt ngào ở khắp nơi trên thế giới. Nếu như ở Nhật con gái chủ động tặng quà, Valentine ở Anh có biểu tượng là chìa khóa chứ không phải là hoa hồng hay chocolate... Xung quanh ngày lễ Tình nhân này còn rất nhiều điều thú vị mà không phải ai cũng biết.
Muôn màu thú vị về lễ Tình nhân trên khắp địa cầu
Lichngaytot.com
Lời chúc Valentine sốc – độc – lạ dành tặng người yêu Mỗi dịp Valentine tới, các cặp đôi lại rộn ràng chuẩn bị món quà ý nghĩa nhất cho người yêu. Ngoài hoa hồng đỏ, chocolate, những lời chúc sẽ thay lời bạn muốn Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Thuyết âm dương đề cập tới năm quy luật chính: Âm dương thuộc tính, âm dương đối lập, âm dương là gốc của nhau, âm dương biến hoá và âm dương vận hành. Năm nội dung cơ bản trở thành thuyết ân dương là cơ sở triết lý của nhiều môn, ngành. Nó soi rọi t
Thuyết âm dương đề cập tới năm quy luật chính: Âm dương thuộc tính, âm dương đối lập, âm dương là gốc của nhau, âm dương biến hoá và âm dương vận hành.
Năm nội dung cơ bản trở thành thuyết ân dương là cơ sở triết lý của nhiều môn, ngành. Nó soi rọi thêm phương hướng suy luận và phương pháp nghiên cứu mang tính khoa học.
Thuộc tính Âm và Dương
Tiêu chuẩn để phân biệt thuộc tính âm, dương trong sự vật và hiện tượng.
– Dương là sự biểu lộ của trời (cằn – thiên) là Nam, cha, vua chúa, bề trên, sang trọng (trời sang đất hèn) ban ngày, ánh sáng, sức nóng, năng lượng, sức mạnh mang tính dương, màu trắng, sự chuyển động mạnh mẽ, bằng phẳng, náo nhiệt, hưng phấn… Thuộc tính mạnh.
– Âm: Biểu lộ khôn – đất là nữ, mẹ, yếu bóng tối, đêm, mặt trăng, mềm mại, thụ động, lạnh, tính trầm, màu đen… thuộc tính yếu mềm.
Âm, dương là một hệ thống “nhị nguyên” mang những thuộc tính trái ngược nhau nhưng lại bổ trợ nhau trong đối lập.
Âm Dương đối lập
Bên trong vạn vật hiện tượng đều đồng thời tồn tại hai thuộc tính âm và dương đối lập nhau tạo nên sự cân bằng bổ trợ thúc đẩy sự hình thành, phát triển và cũng đồng thời tàng chứa sự mất cân bằng giúp sự đối lập phát triển để đi tới sự phân tách – quá trình phân huỷ.
Trong bát quái âm và dương được biểu hiện bằng hai màu đối nghịch: Trắng, đen để thể hiện âm và dương “nhị nguyên” và lại quấn vào nhau để nói lên sự hoà hợp, hỗ trợ đồng thời phát sinh như quy luật phát triển: Sinh và diệt. Vì vậy trong “chu dịch càn tại đô “viết rằng “càn, khôn là căn bản của âm dương, là tổ tông của vạn vật…” quy luật âm và dương đối lập và thống nhất xuyên suốt trong tất cả sự vật và biểu tượng. Không có sự vật biểu tượng nào mà không mang hai thuộc tính âm dương và tàng ẩn quy luật đối lập và thống nhất của nó.
Sự hợp nhất âm dương để sinh và huỷ. Trong sinh có huỷ, trong huỷ có sinh, cái nọ là gốc của cái kia, cái này là nguyên nhân của cái kia. Nó đồng thời tồn tại trong một thể đối lập – Thống nhất.
Âm Dương là gốc của nhau
Như đã thấy âm dương trong vạn vật vừa đốì lập lại vừa thông nhất, chúng dựa vào nhau để tồn tại, phát triển. Đó là sự tác động qua lại giữa âm và dương, không có âm thì không có dương và ngược lại.
Trong một hệ thống “nhị nguyên” có thể nói là không có sự thuần dương hay thuần âm, sự tách bạch âm dương khi đứng riêng lẻ khi đó là “hư không” là quá trình hủy. Tuy vậy không phải là một trạng thái biệt lập lâu dài mà tự nó đang sinh trưởng và thực hiện giai đoạn chuyển hoá. Ta đi đến một quy luật tiếp của thuyết.
Âm Dương biến hoá
Âm dương là hai thuộc tính khác biệt trong một thực thể. Nhưng cả âm và dương đều có quy luật biến hoá.
Dưới những điều kiện nhất định thì cái này sẽ chuyển hóa sang cái kia. Ở đây nói sự dịch chuyển mà không biến mất thuộc tính riêng biệt. Song chỉ khi nào âm và dương kết hợp thì mới thúc đẩy sinh thành và phát triển trong “Hệ từ” viết: Âm dương hợp đức thì cương nhu thành hình…”
Điều đó nói lên tuy âm và dương đối lập nhưng phải dựa vào nhau và hợp nhất bền vững cân bằng mới cùng tồn tại lâu dài được.
Sự tách biệt tương đối để rồi lại thiết lập sự thống nhất mới, cái gọi là tách biệt chỉ thuần tuý ý niệm để xét thuộc tính, còn thực ra luôn luôn trong cái gọi là âm vẫn đang tàng ẩn dương và cái gọi là dương vẫn có âm. Đó là sự chuyển hoá (thuần dương và thuần âm) chỉ là khái niệmẽ Trong cha (dương) vẫn tàng âm mới thành hình người nam. Và trong mẹ – âm vẫn tàng dương (cha, mẹ là thực thể), nếu không có hai thuộc tính đó thì không có thực thể. Không nên hiểu thô thiển, nhầm lẫn thuộc tính với thực thể, thuộc tính chỉ một, còn thực thể có cả hai, đã ở thể thống nhất. Chỉ khi nào sự mất cân bằng âm dương trong thực thể thì mới bộc lộ đơn tính có thuần tính rõ ràng, sự chuyển hoá không còn nữa.
– Hỏa vương là do thủy suy hay do thủy quá suy so với “mức cân bằng” mà hỏa trở nên vượng, như vậy trong trường hợp này phải hiểu hỏa vượng xẩy ra trong 2 trường hợp: Hỏa thực vượng do một lý do nào đó, điều kiện sung nạp nào đó làm hỏa tăng lên quá mức phá vỡ thế cân bằng đã có. Trường hợp thứ hai Âm suy – không còn giữ được “mức cân bằng” cần thiết bởi một lý do, bởi một điều kiện nào đó làm cho Hỏa được coi là vượng – Giả vượng. Song theo quy luật đối lập hợp nhất và quy luật chuyển hóa Âm dương “mức cân bằng tương đối” lại được thiết lập lại. Hai quy luật này không xảy ra trong một thực thể thì sẽ là tiền đề của quá trình “hủy” để thiết lập một sự cân bằng mới trong một thực thể mới.
Cần phải hiểu tính quy luật chỉ mang tính chất chi phối và tất yếu chứ nó không phải là một yếu tố chi phối thực sự.
– Âm và Dương là hai thuộc tính khác biệt nhau nhưng lại có thể chuyển hóa lẫn nhau. Âm cực sinh Dương, Dương cực sinh Âm, “luôn luôn sinh” là “biến” và “chuyển”. Sự chuyển hóa Âm Dương lẫn nhau là quy luật phát triển tất yếu của sự vật. Và như vậy nếu mọi thứ đều tuân thủ theo quy luật cân bằng phát triển thì luôn tạo ra sự phát triển hài hòa, giúp sự tồn tại lâu bền. Nếu có sự lệch lạc, mất cân đối sẽ tạo ra sự không bền vững.
Âm Dương vận hành
Âm Dương vận hành nghĩa là nó luôn ở thế động. Đó là một quy luật.
Âm Dương ở bất cứ một thực thể nào nó vẫn luôn vận động và như vậy sự cân bằng ở trong thực thể là cân bằng động. Có như vậy nó mới thúc đẩy sự phát triển và mới là quy luật của sự phát triển. Thế cân bằng cũ bị phá vỡ theo quy luật vận hành Âm Dương thì thế cân bằng mới được thiết lập ngay. Nó phù hợp quy luật biến hóa của Âm Dương. Nhờ sự không ngừng chuyển hóa tự nhiên mà vũ trụ và sự vật, hiện tượng luôn thay đổi, luôn vận động. Sự sinh và huỷ, thay thế nhanh là không ngừng. Đó là sự vận động của Âm Dương. Hết ngày lại đêm, hết sáng lại tối. Nóng đi lạnh đến… cứ thế không ngừng chuyển đổi. Âm mạnh lên thì Dương yếu và Dương yếu thì Âm mạnh. Nhưng Âm và Dương tương hợp cho nên đi đến một thế cân bằng mới nhờ quy luật vận hành mà Âm và Dương luôn tìm đến một cân bằng để hòa quyện giúp sinh trưởng và phát triển không ngừng.
– Nếu Âm Dương không có quy luật vận hành thì mọi thực thể sẽ giữ nguyên trạng thái ban đầu sẽ không có cái cũ và cái mới. Nhờ quy luật vận hành của Âm Dương mà cái mới sinh rất hay thế cái cũ. Sự phá vỡ cân bằng cũ nhanh hay chóng là tùy vào khả năng duy trì của thực thể. Tuyệt nhiên không theo ý muốn áp đặt. Từ quy luật luôn vận hành của Âm Dương ta thấy không có gì có thể vĩnh cửu. Trường tồn thì có, nhưng vĩnh cửu thì không.
Tất cả sự vật, hiện tượng đến con người, vũ trụ cũng không nằm ngoài quy luật này của thuyết Âm Dương.
Phong thủy âm trạch là một trong hai khía cạnh chính của phong thủy thủy học, dựa vào âm phần mà quyết định dương phần, lấy nơi chôn cất của người đã khuất để luận về người còn sống. Dưới đây là một số hiểu biết cơ bản về phong thủy âm trạch nên biết.
Phong thủy truyền thống chia thành hai phần chính là phong thủy dương trạch và phong thủy âm trạch. Phong thủy dương trạch đề cập tới phong thủy nhà ở, phong thủy âm trạch nghiên cứu phong thủy mộ phần.Người xưa cho rằng, người đã khuất núi nhưng linh khí vẫn còn, có thể ảnh hưởng tới gia đình, con cháu nên phong thủy âm trạch tác động lớn tới gia vận. Phong thủy âm trạch cơ bản chia thành phong thủy vùng núi và phong thủy đồng bằng. Phong thủy vùng núi theo đuổi nguyên tắc “Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Nhân cảm ứng”, tức là trời với người hòa vào làm một, tương thông với nhau. Phong thủy vùng núi yêu cầu sự phối hợp giữa các yếu tố tự nhiên tạo thành huyết mạch lưu thông: lấy huyệt làm trung tâm; lấy chủ sơn, thiếu tổ sơn, tổ sơn làm bối cảnh; lấy sông, suối, ao, hồ làm cận cảnh; lấy án sơn, triều sơn là viễn cảnh; lấy nước trên núi chảy xuống làm bình cảnh; lấy Thanh Long sơn, Bạch Hổ sơn làm hai cánh.
Dựa trên phương diện lý khí, lấy hướng của huyệt làm đích, lý luận ngũ hành sinh khắc phối hợp với mệnh quẻ của người đã mất và phương vị của dòng nước, cùng với 24 sơn bàn tọa hướng để chia kim khiến phúc trạch hậu thế, con cháu đầy đàn.
Phong thủy đồng bằng càng yêu cầu sự phối hợp của lý khí, tọa nơi thoáng đãng, hướng nơi sung túc. Phong thủy đồng bằng theo đuổi cục diện gió mạnh nước xiết thì gia vận lâu dài, con trai đầy đủ; tránh gió lánh mưa thì thật là tuyệt địa. Chú ý, hướng của tự thân mộ phần, phân kim cùng cửa sông phối hợp.Tóm lại, phong thủy âm trạch coi trọng các yếu tố: long mạch, sát sa (đụn cát), quan thủy (nước), điểm huyệt và phương vị.Phong thủy học coi trọng cát có nước bao quanh vì nước quanh mộ có thể làm cho sinh khí tụ họp mà cát bị tắc lại thì sinh khí không bị gió cuốn đi. Có hai điều kiện ấy, nhất định là huyệt cát. Bởi vậy, “Táng kinh” có viết: phương pháp phong thủy là có nước ở trên, kín gió thổi tới”.Muốn tìm nơi tốt để đặt mộ thì trước hết là tới nơi núi non uốn lượn tìm long mạch, thăm dò vùng có sinh khí rồi lấy núi ấy làm chính amchj, tới chỗ núi dừng thì sinh khí ngưng tụ, phụ cận có tình thế cát được nước bao quanh tức là cát huyệt. Nếu là cát bay nước chảy thì sinh khí không thể kết tụ, không phải nơi tốt để táng mộ. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
NAM: Cung Tốn, sao Mộc-Đức, hạn Hùynh-Tuyền: Bản tính ngay thẳng thật thà, nhạy bén nhưng hơi lãng mạn. Mẫu người mưu lược, tạo được quyền lực. Nếu là con út trong gia đình thì lớn lên có thể gần mẹ xa cha hay gần cha xa mẹ. Ở đời có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh, tài ba tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ học hành 4 năm đại học, có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này.
“Tuổi trẻ hôm nay ráng học hành
Ngày mai rạng rỡ bước công danh
Chuyên cần chăm chỉ lo đèn sách
Hiếu thảo đền ơn đấng sinh thành”.
Năm nay, đúng chương trình là chuyển lên lớp 11. Cố gắng thi SAT cao điểm để xin được học bổng và dễ được các đại học nổi tiếng tuyển mộ, không cần đợi cọng điểm GPA khi tốt nghiệp lớp 12. Hạp màu trắng. Hướng nhà cửa tốt nhất là Bắc, Nam và Đông Nam. Muốn đổi chỗ ở, chuyển trường đều thực hiện được.
NỮ: Cung Khôn sao Thủy-Diệu, hạn Tán-Tận: Mẫu người thích nghiên cứu, tìm tòi, có óc quan sát. Mưu cầu sự hoàn mỹ nên hơi mơ mộng. Nếu là con út trong gia đình thì lớn lên có thể gần cha xa mẹ hay gần mẹ xa cha. Ở đời có ba điều đáng trách: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh, tài ba tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ học hành 4 năm đại học, có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này.
“ Cơm cha áo mẹ công thầy
Tuổi xuân học tập tháng ngày chăm lo
Ngày mai vinh hiển ấm no
Yêu cuồng sống vội hẹn hò không nên”
Năm nay đúng chương trình là chuyển lên lớp 11. Cố gắng thi SAT cao điểm để dễ xin học bổng, dễ vào các đại học nổi tiếng, không cần đợi cọng điểm GPA khi tốt nghiệp lớp 12. Hạp màu trắng. Hướng mở tiệm, văn phòng thương mại là Tây và Tây Bắc. Chọn chồng hợp những tuổi sau: Qúy-Dậu ( 1993), Giáp-Tí ( 1984), At-Sửu ( 1985), Mậu-Thìn (1988), Canh-Ngọ (1990). Bất luận lấy chồng năm nào, nên chọn ngày giờ tốt trong tháng 6 hay 12 âm lịch.
GIÁP-TÍ 30 TUỔI: ( Sinh từ 2/2/1984 đến 20/1/1985)
Mệnh: Hải Trung Kim ( Vàng giữa biển)
NAM: Cung Đoài, sao Thủy-Diệu, hạn Ngũ-Mộ : Mẫu người hiếu học, thông minh, nhanh nhẹn, mưu lược, chịu khó, bộc trực, nóng nảy nhưng rất lương thiện. Sinh vào mùa Thu phú qúi, một đời vật chất sung túc, khá giả về tiền bạc. Tính tự lập với nhiều cá tánh mang nhiều tham vọng, tự tin và gánh vác trách nhiệm, một đời hiên ngang. Gieo nhân lành thì quả tốt. Thi cử dễ có bằng cấp cao; nhờ đó mà tương lai sáng lạn. Tiền vận khó khăn thăng trầm. Hậu vận rất thành công. Sinh mùa Xuân, Hạ, Đông, gian nan:
“Tự tin xây dựng cuộc đời
Tuổi xuân chăm chỉ, thảnh thơi về già
Một đời ngang dọc phong ba
Hiển vinh hậu vận thăng hoa sáng ngời”
Tình duyên lận đận: Vui chưa lâu thì nỗi buồn chợt đến. Hạp với tuổi Giáp-Tí (1984), Nhâm-Tuất (1982), và Qúy-Dậu (1993). Đại kỵ tuổi Bính-Dần (1986), Đinh-Mão (1987). Rất kỵ màu đỏ. Hạp màu vàng. Phương hướng nhà cửa và thương mại tốt nhất là hướng Tây và Tây Bắc. Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm Tam-Địa Sát, không thích hợp cho việc xây cất hay chỉnh trang nhà cửa. Tháng 4 tháng 8, trong gia đình có người bệnh hoạn, hay tang chế bà con xa.
NỮ: Cung Cấn, sao Mộc-Đức, hạn Ngũ-Mộ: Mẫu người rất thông minh, lanh lẹ, chịu khó, tử tế, tốt bụng, nên cuộc đời thành công. Với tài giao tế, đắc nhân tâm nên dễ thăng tiến trên thương trường. Khó nhờ vả anh chị em. Tình duyên lận đận nếu sinh vào mùa Xuân, Hạ, Đông. Nhiều cá tánh và thích gánh vác giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, ly hương lập nghiệp lại rất giàu có sau 40 tuổi.
“ Mệnh Hải Trung Kim số chẳng nghèo
Mẫu người năng nỗ vững tay chèo
Thông minh tốt bụng, đời sang cả
Đường tình lận đận lắm gieo neo”
Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm Tam Địa Sát, không tốt cho việc xây cất, chỉnh trang nhà cửa. Tuy nhiên, việc làm ăn rất phát đạt, thịnh vượng. Làm công chức sẽ được lên chức lên lương. Tốt nhất trong mùa Đông. Rất hạp màu vàng, kỵ màu đỏ. Dễ có tình cảm tốt với người bằng tuổi và Qúy-Hợi (1983), At-Mão (1975), Giáp-Dần (1974), Ất-Sửu (1985) và Mậu-Ngọ (1978). Bất luận năm nào, khi cưới hỏi phải chọn ngày giờ tốt trong các tháng 6, hay 12 âm lịch là tốt nhất. Làm ăn nên chọn hướng Tây Nam và chánh Tây. Nếu muốn sinh con, thì nên có thai sau tháng 6; để sinh con Giáp-Ngọ, có thể tốt cho cha mẹ đựợc 20 năm. ( Nếu là con út.)
NHÂM-TÍ 42 TUỔI: (Sinh từ 15/2/1972 đến 2/2/1973)
Mệnh: Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu).
NAM: Cung Khảm, sao Vân-Hớn hạn Thiên-La: Nam “ nhâm” là số phú qúi, nhờ thông minh năng nỗ tháo vác, giỏi ứng phó trước mọi hoàn cảnh. Luôn tự tin, không ỷ lại vào người khác. Đa mưu túc trí, tránh đụng chạm. Ly hương lập nghiệp dễ dàng phát đạt giàu sang. Rất có năng khiếu về quản trị kinh doanh. Tương lai sang giàu bền vững.
“Tang Đố Mộc số thành công
Tình tiền danh lợi một vòng vẻ vang
Suốt đời phát đạt giàu sang
Công danh sự nghiệp vững vàng ấm êm”
Tất cả mọi thay đổi như chỗ ơ, chỗ làm hay đi xa xuất ngoại trong năm nay đều thành công. Tài lộc phát đạt đem lại một năm thịnh vượng. Tuy nhiên cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ trong tháng Giêng và tháng 7. Bàn tay Kim Lâu nhằm “Lục Hoang Ốc” thành thử không nên xây cất nhà cửa. Người độc thân, rất hạp và có thể tiến tới hôn nhân với các tuổi Giáp-Dần (1974), Qúy-Sửu (1973), Canh-Thân (1980), Nhâm-Tuất (1982) và Qúi-Hợi (1983). Kỵ tuổi Bính-Thìn (1976). Về màu sắc nên chọn màu xanh nhạt. Phương hướng nhà cửa và làm ăn thương mãi tốt nhất là Đông Nam và chánh Bắc. Dự tính có con năm nay cũng tốt.
NỮ: Cung Cấn, sao La-Hầu, hạn Diêm-Vương: Mẫu người thông minh tháo vát năng động, với một đầu óc biết tính toán sáng suốt. Tánh tình chu đáo hiếu thảo, thủy chung biết nhìn xa và thật thà nhưng có ý chí, đầy nghị lực, tạo được sự quan hệ tốt với xã-hội. Con cái ngoan hiền. Khó nhờ vả anh chị em. Muốn tự kinh doanh, nên chọn hướng Tây và Tây Bắc, dễ phát đạt, thịnh vượng. Hạp màu xanh nhạt. Hôn nhân thường trở ngại lúc đầu, sau phải lấy chồng hợp tuổi mới hạnh phúc bền lâu.
“Thông minh chẳng có ai bằng
Nữ nhi hiếu đạo tâm hằng sáng soi
Góp công làm đẹp cho đời
Trăm năm bền vững rạng ngời an vui”
Hôn nhân hạp với những tuổi Giáp-Dần (1974), Ất-Tị (1965), Giáp-Thìn (1964), Canh-Tuất (1970), Quí-Sửu (1973), Quí-Mão (1963) và Nhâm-Dần ( 1962). Kỵ tuổi Kỷ-Dậu (1969). Bàn tay Kim-Lâu nhằm “Lục Hoang Ốc” không nên xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Tuy nhiên, mọi thay đổi chỗ ở, chỗ làm, đi xa xuất ngoại đều thành công như ý. Một năm rất phát đạt và thịnh vượng. Cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ trong tháng Giêng và tháng 7.
CANH-TÍ 54 TUỔI: (Sinh từ 28/1/1960 đến 14/2/1961)
Mệnh: Bích Thượng Thổ (Đất trên tường)
NAM: Cung Tốn, sao Mộc-Đức, hạn Hùynh-Tuyền: Mẫu người sáng trí thông minh nhanh nhẹn và chịu khó. Hành sự đơn độc, âm thầm lo toan mọi việc trong cô đơn nhưng có tinh thần kỹ luật, trọng nghĩa khí; đôi khi khoan dung và từ tâm bác ái. Nhiều khi nóng nảy hấp tấp, cho nên hôn nhân cách trở khó khăn. Đi xa lấy vợ, hay cưới vợ khác xứ khác quê càng tốt. Tiền vận trước 26 tuổi thường gặp gian nan. Hạp màu đỏ và vàng. Tạo mãi nhà cửa hay kinh doanh tốt nhất trên hướng Bắc, Nam, và Đông Nam. Bạn đời lý tưởng nhất là các tuổi Mậu-Ngọ (1978), Quý-Mão (1963), Canh-Tí (1960), Ất-Mão (1975), và Bính-Ngọ (1966). Kỵ tuổi Kỷ-Dậu (1969) và Đinh-Mùi (1967).
“ Mẫu người sáng trí thông minh
Siêng năng chịu khó, tự tin chính mình
Tha phương kỳ ngộ duyên tình
Gặp người tri kỷ trọn tình trăm năm”
Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Tam Địa Sát” không tốt cho việc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Tuy nhiên việc làm ăn có nhiều biến chuyển thuận lợi trong mùa Đông. Trong hãng xưởng dễ được thăng quan tiến chức. Kinh doanh thương mãi, tài lộc rất khả quan. Con cái thi cử đỗ đạt.
NỮ: Cung Khôn, sao Thủy-Diệu, hạn Tán-Tận: Mẫu người sáng trí, thông minh, ứng phó tài tình trước nghịch cảnh. Có tài năng và kiến thức sâu rộng, dễ thủ đắc tiền tài. Cho nên đôi khi quá tự tin và hành sự độc đoán gây đụng chạm. Một đôi khi tỏ ra hấp tấp vội vàng nhưng nhờ tâm tốt, hay làm việc thiện nên cũng dễ quên những nỗi khổ trong lòng.
“Tính người vì quá tự tin
Trước bao nghịch cảnh tại mình xem khinh
Trường đời khéo léo giữ gìn
Khiêm cung từ tốn gia đình mới yên”
Làm ăn nên chọn hướng Tây và Tây Bắc. Hạp màu đỏ và vàng. Người hợp tác cũng như bạn trăm năm rất hợp với các tuổi Ất-Tị (1965), Canh-Tí (1960), Ất-Mùi (1955), Giáp-Thìn (1964), Giáp-Ngọ (1954), Quý-Mão (1963), Mậu-Tuất (1958), Canh-Dần ( 1950) và Mậu-Tí (1948). Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Tam Địa Sát”, không tốt cho việc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Tháng 4, tháng 8 gia đình có người bệnh hoạn hay tang chế bà con. Lái xe cũng phải cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ trong 2 tháng nói trên.
MẬU-TÍ 66 TUỔI: (Sinh từ 10/2/1948 đến 28/1/1949)
Mệnh: Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét).
NAM: Cung Đoài, sao Thủy-Diệu, hạn Thiên-Tinh: Số ly hương xa xứ, thông minh lanh lẹ và mưu lược. Tự tay lập nghiệp mà thành, không nhờ vả người thân. Nếu là con út trong gia đình thì sớm bị mồ côi. Tính tình khí khái cương trực, dứt khoát, nhưng cũng thích triết và đạo lý, có tâm hồn hướng thượng, tin tưởng vào các sự kiện tâm linh. Cho nên một khi đã “tri thiên mệnh” thì lại tu hành bất chợt. Tình duyên lận đận, trắc trở nhiều phen. Hôn nhân không mấy khi hợp ý toại lòng. Nhưng nếu gặp những tuổi Mậu-Tuất (1958), Canh-Tí (1960) hay Bính-Thân (1956), tình duyên được vững bền.
“ Tự tay lập nghiệp mà thành
Nên tri thiên mệnh tu hành quán thông
Tâm hồn hướng thượng thong dong
Đạo đời hòa hợp, thoát vòng khổ đau “.
Đại kỵ màu đen, đi xe đen. Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất là Tây Nam, Đông Bắc và Chánh Tây. Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Lục Hoang Oc”, không tốt cho việc xây cất nhà cửa hay tạo lập cơ sở kinh doanh. Công việc làm ăn cứ giữ nguyên tình trạng cũ, không nên mở mang rộng lớn, sẽ lâm và tình trạng lớn thuyền lớn sóng, tiếng có miếng không. Lái xe phải cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ, nhất là trong tháng 4 và 8.
NỮ: Cung Cấn, sao Mộc-Đức hạn Tam-Kheo: Nữ nhân mà nam tính, thích tự lập với nhiều tự ái. Rất thông minh, tài giỏi, cương trực, thích ly hương dựng nghiệp. Chấp nhận hiện tại và có tinh thần trách nhiệm. Tình duyên trắc trở, lận đận nhiều phen và hôn nhân ít khi hợp ý toại lòng. Khi “ ngũ thập tri thiên mệnh”(50 tuổi biết được ý trời) thì gia tăng khuynh hướng thích triết, đạo lý và tu hành hướng thượng. Tuy nhiên, khi đã lập gia đình với những tuổi Canh-Dần (1950), Quý-Mùi (1943), Mậu-Tí (1948), Đinh-Hợi (1947) gia đạo lại an vui. Nếu quí bà là con út, thường sớm bị mồ côi.
“Nữ nhân nam tính sống ngang nhiên
Mệnh Trời hòa hợp mối thiên duyên
Triết lý đạo đời tâm hướng thựợng
Thiên di cẩn thận mới bình yên”
Tối kỵ màu đen, nhất là đi xe đen ! Hướng tốt để làm ăn là Tây Bắc, và Chánh Tây. Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Lục Hoang Oc”. Không nên xây cất nhà cửa hay văn phòng thương mãi. Mọi việc làm ăn cứ theo đường xưa lối cũ, tránh mở mang rộng lớn, để khỏi bị tình trạng lớn thuyền, lớn sóng, tiếng có miếng không. Hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại.
Nguồn Vietstar
Xin Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo, nếu Quý khách hàng muốn có bài luận giải tử vi đúng của chính mình, xin vui lòng đóng phí ở dịch vụ Xem tử vi trọn đời để được chuyên gia gửi bài luận giải qua địa chỉ email.
Những tượng Phật đứng vững giữa đống đổ nát sau thảm họa thiên tai
Động đất, sóng thần vốn đến không báo trước nhưng xuất hiện chuyện thần kỳ. Câu chuyện dưới đây cho thấy các bức tượng Phật vẫn đứng vững giữa đống đổ nát
Động đất, sóng thần vốn đến không báo trước, tuy nhiên trong những thảm họa lại xuất hiện những chuyện thần kỳ. Những câu chuyện dưới đây cho thấy các bức tượng Phật vẫn đứng vững giữa đống đổ nát của các tòa nhà bị phá hủy. Liệu có phải là ngẫu nhiên khi các bức tượng Phật không hề bị hư hại?
Vụ án đánh bom tại đền Erawan Thái Lan ngày 17/8/2015
Vụ án đánh bom tại đền Erawan ở trung tâm Bangkok, Thái Lan ngày 17/8/2015, làm hơn 20 người chết, và hơn 100 người bị thương, xe cộ tại hiện trường hoàn toàn biến dạng, nhưng chùa chiền xung quanh lại không bị tổn hại gì, Phật vàng bốn mặt chỉ bị sứt phía dưới cằm ở mặt chính, mọi người ai cũng thấy ngạc nhiên khó hiểu!
Động đất ở Nepal 2015
Ngày 25/4/2015, ở Nepal xảy ra trận động đất dữ dội, nhưng khu hành hương Lâm Tỳ Ni nơi Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra không bị tổn hại gì. Nhiều chùa chiền không thuộc chính giáo ở quảng trường Durbar, thủ đô của Nepal, đã bị sụp đổ trong cơn địa chấn.
âm Tỳ Ni, Quê hương của Đức Phật Thích Ca vẫn yên bình sau trận động đất ở Nepal
Bão Sandy ở Mỹ năm 2012
Bão Sandy quét ngang New York gây tàn phá nghiêm trọng. Trong nhiều bức ảnh do CNN chụp lại người ta thấy có một bức chụp pho tượng Đức mẹ Maria với khuôn mặt hiền từ còn nguyên vẹn, bên cạnh là bức tường đổ nát.
Đức Mẹ Maria
Trận đại địa chấn ở Nhật Bản năm 2011
Đại địa chấn ở Nhật năm 2011, trong khu vực bị nạn ở Miyagi người ta những bức tượng Phật vẫn ngay ngắn nguyên vẹn trong đống đổ nát.
Bức tượng ở Sendai, tỉnh Miyagi ngày 1/4/2011
Đại địa chấn ở Tứ Xuyên năm 2008
Trong trận đại địa chấn năm 2008 ở Tứ Xuyên, một người lính trong lúc làm công tác cứu nạn đã chụp lại được một cảnh tượng khiến người ta kinh ngạc: Trong một ngôi chùa mọi thứ đều bị tàn phá có một pho tượng Bồ Tát còn nguyên vẹn ngồi vững chãi.
tượng Bồ Tát còn nguyên vẹn ngồi vững chãi.
Trận sóng thần năm 2004
Sáng ngày 26/12/2004, vùng biển Ấn Độ Dương xảy ra trận sóng thần lớn khoảng 9,0 độ Richter, là trận sóng thần lớn nhất trong 40 năm qua, tác động của sóng thần lên đến hàng ngàn cây số bờ biển, gồm Sri Lanka, miền nam Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Maldives, Thái Lan, Myanmar và Somalia, làm gần 300 ngàn người thiệt mạng.
Sóng thần nhấn chìm người đi đường và hàng hóa, xe con và xe buýt bị va đập vào các tòa nhà. Sri Lanka có 30 ngàn người thiệt mạng trong trận sóng thần, các khách sạn, tòa nhà… đều biến thành đống hoang tàn.
Ở Phuket ở Thái Lan, sóng thần phá hủy gần như tất cả các khách sạn, cửa hàng, các cơ sở giải trí… bên bờ biển. Tuy nhiên, sau trận sóng thần người ta phát hiện những bức tượng Phật vẫn đứng vững nguyên vẹn trong đống đổ nát.
Một bức tượng Phật nguyên vẹn ngồi trên tầng lầu của một tòa nhà bị phá hủy tại Sri Lanka, vùng ngoại ô Hikkaduwa, bên ngoài Galle ngày 12/1/2005. Các ngôi chùa, giáo đường Hồi giáo và nhà thờ đã phải chống chọi lại những cơn sóng lớn.
“Người ta không nghĩ rằng đây chỉ là một thảm họa, mà là Thần đang nói với họ rằng họ cần cải thiện hành vi của bản thân”, một người dân địa phương Sri Lanka bình luận vào Tháng 1/2005, báo Đại Kỷ Nguyên đưa tin, “Người dân Sri Lanka đang trở thành những người tốt hơn sau sóng thần”.
Trên đây là những phát hiện đã được truyền thông đăng tải rộng rãi, được xem là những điều thần kỳ. Với những người vô thần, họ có thể sẽ đưa ra nhiều cách giải thích nhưng có những hiện tượng mặc dù nhìn không thấy, sờ không chạm nhưng lại thực sự tồn tại và có phản ảnh đến đời sống của chúng ta.
- Thủy tinh (Thủy sơn): dáng uốn, núi thấp, đầu hình sin. - Hỏa tinh (Hỏa sơn): dáng nhọn, núi cao, đầu nhọn. - Thổ tinh (Thổ sơn): dáng vuông, đầu bằng.
Bốc Tắc Ngụy trong sách “Tuyết Tâm Phú” nói: “Phải xét kỹ ngũ tinh biến hóa”. Sách chú giải thêm rằng: "Ngũ tinh tức Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vậy. Núi tròn gọi là Kim sơn, núi vuông gọi là Thổ sơn, đầu tròn thân dài gọi là Mộc sơn, nhọn hoắt gọi là Hỏa sơn". Ngũ hành tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Ngũ hành tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Táng nhờ vào sinh khí nghĩa là sinh khí vượng thì chủ kết huyệt đại phú quý. Trong sách “Địa lý nhân tử nên biết”, chương “Long Pháp” của Từ Thiện Kế nói: “Các thầy địa lý ngũ tinh tụ giảng, giống như ngũ tinh tương tụ trong thiên văn. Nếu long mạch có cách này (loại hình này), đó mới là đất kết huyệt đại quý”. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Chỉ cần một vài sự thay đổi cực nhỏ trong phong thủy phòng ngủ hay phòng khách, đường tình duyên của bạn nở rộ, sớm tìm được nửa kia của mình.
Có bao giờ bạn tự hỏi lòng mình rằng, dù đã cố gắng mở rộng trái tim đón nhận tình cảm mới, thậm chí tích cực mở rộng các mối quan hệ, không ngừng tìm kiếm đối tượng phù hợp… nhưng kết quả thu được vẫn là con số 0 đáng ghét hay chưa?
Đừng vội đổ lỗi cho bản thân hay người khác, hãy chủ động xem lại phong thủy nơi bạn đang ở. Bởi yếu tố phong thủynhà ở cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tình duyên của gia chủ. 1. Tăng dương khí cho toàn bộ ngôi nhà
Dù là phòng khách hay phòng ngủ trong ngôi nhà mình, bạn vẫn nên ưu tiên nguồn dương khí. Một căn phòng thiếu dương khí tức là không đạt chuẩn về ánh sáng, độ ẩm. Những căn phòng như vậy không những không tốt cho tình duyên, hôn nhân lại còn ảnh hưởng đến tài vận nói chung của gia chủ.
Xét theo yếu tố phong thủy, phụ nữ vốn đã mang âm khí, nếu như căn phòng âm khí quá nhiều sẽ dẫn đến tâm trạng không vui, khó hài lòng với những mối quan hệ hiện có, từ đó mở rộng trái tim đón nhận tình yêu mới. Theo đó, âm dương không hòa hợp, ảnh hưởng nghiêm trọng tới vận đào hoa của bạn.
Ngược lại, một căn phòng có dương khí thịnh sẽ mang tới nhiều tin vui vào nhà, bao gồm cả chuyện tình cảm.
Ảnh minh họa
2. Chú trọng tới hướng ngôi nhà hoặc căn phòng đang ở
Phong thủy căn phòng bạn đang ở là vô cùng quan trọng, vì đó là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh hoạt hằng ngày của bạn. Phong thủy ngôi nhà có liên hệ mật thiết với sức khỏe cũng như tình duyên của gia chủ. Căn nhà hợp phong thủy sẽ mang lại may mắn, giúp gia chủ được như ý nguyện.
Đặc biệt, căn phòng hay ngôi nhà quay hướng nào cũng cần phải xem xét kĩ lưỡng, hợp với gia chủ thì mọi điều an lành và ngược lại. Ví dụ gia chủ cung dương mệnh Hỏa, hợp hướng Tây Nam thì căn phòng tốt nhất nên quay về hướng Tây Nam.
3. Các mối quan hệ hài hòa nhờ phòng khách vuông vắn
Những mối quan hệ hài hòa, tốt đẹp cũng là nền tảng cơ bản của tình duyên thuận lợi. Tại phòng khách diễn ra sự tiếp xúc với những người bên ngoài của gia chủ. Nếu căn phòng này vuông vắn, cân đối sẽ mang đến nhiều vận may, đồng thời cũng tác động không nhỏ đến đường tình duyên của bạn. Nhưng chỉ cần nó có hình cung hay có chỗ thụt, thò, lồi, lõm thì đều phá hủy vận may cũng vận đào hoa của gia chủ.
► Cùng bói tình yêu theo cung hoàng đạo để biết hai bạn có hợp nhau không
Vào một buổi sáng lạnh mùa đông năm 2007, tại một ga metro ở Washington DC, một thanh niên với chiếc đàn vĩ cầm, đứng chơi những bài nhạc nổi tiếng của Bach, Schubert, Massenet…
Vào một buổi sáng lạnh mùa đông năm 2007, tại một ga metro ở Washington DC, một thanh niên với chiếc đàn vĩ cầm, đứng chơi những bài nhạc nổi tiếng của Bach, Schubert, Massenet… trong vòng 45 phút.
Trong khoảng thời gian ấy có khoảng chừng 2 ngàn người đi ngang qua, đa số đang trên đường đến sở làm của họ. Dường như không một ai có vẽ chú ý đến sự có mặt của anh.
Sau khoảng 3 phút, một người đàn ông đứng tuổi đi qua và nhận thấy có một nhạc sĩ đang đứng đó chơi vĩ cầm. Ông đi chầm chậm, dừng lại chừng vài giây, và rồi lại vội vã đi tiếp cho kịp giờ của mình.
4 phút sau: Người nhạc sĩ vĩ cầm ấy nhận được đồng đô la đầu tiên: một người đàn bà ném tiền vào thùng đàn của anh và không hề dừng lại, tiếp tục bước đi.
6 phút: Một người thanh niên trẻ đứng dựa vào tường lắng nghe anh, nhìn đồng hồ đeo tay của mình và rồi lại tiếp tục bước đi.
10 phút: Một đứa bé dừng lại nghe, nhưng mẹ của em vội vàng lôi em đi tiếp. Ðứa bé tiếp tục dừng lại nhìn anh nhạc sĩ vĩ cầm, nhưng mẹ của em đẩy mạnh, và em lại phải tiếp tục bước đi, nhưng em vẫn cứ ngoái đầu quay nhìn lại. Và điều này đã cũng xảy ra với nhiều những đứa bé khác. Và cha mẹ nào cũng đều lôi kéo các em, bắt các em phải đi nhanh lên.
45 phút: Người nhạc sĩ vĩ cầm ấy vẫn tiếp tục chơi nhạc không ngừng. Chỉ có 6 người dừng lại và lắng nghe trong vài ba phút rồi bỏ đi. Khoảng chừng 20 người cho anh tiền, trong khi vẫn tiếp tục bước đi bình thường, và không hề dừng lại. Chàng nhạc sĩ ấy thâu được tổng cộng là 32 đô la.
1 giờ sau: Anh ta ngừng chơi, không gian im lặng trở lại. Không ai chú ý đến anh. Không một tiếng vỗ tay, và cũng không một lời tán thưởng.
Không ai biết người ấy chính là Joshua Bell, một trong những nhạc sĩ vĩ cầm nổi danh nhất trên thế giới. Trong hơn 45 phút qua anh đã chơi những bài phức tạp nhất trong các bài nhạc trình tấu, và cây đàn vĩ cầm mà anh chơi trị giá khoảng 3.5 triệu đô la. Hai ngày trước đó, Joshua Bell đã trình diễn tại một nhà hát ở thành phố Boston, vé bán hết không còn chỗ ngồi, giá của mỗi vé là 100 đô la. Và ban tổ chức sẵn sàng trả 1000 đô la mỗi phút cho tài năng của anh!
Ðây là kết quả của một cuộc thử nghiệm do báo The Washington Post tổ chức. Trong cuộc thử nghiệm này, Joshua Bell phải ăn mặc thật bình thường, quần jean, áo thun, mũ kết, và chơi đàn trong giờ cao điểm, 7:45am. Họ chọn nơi biểu diễn là trạm ga L’Enfant Plaza, vì nơi đây những người khách metro đi ngang qua đa số là thuộc tầng lớp trung lưu, chuyên nghiệp, trí thức, phần lớn làm việc với chính phủ liên bang.
Trước khi tổ chức, các nhà thử nghiệm nghĩ rằng tại Washington DC, một trong những đô thị phát triển nhất nước Mỹ về classical music, nhạc giao hưởng, Joshua Bell có thể sẽ thu hút một số lượng lớn khán thính giả dừng lại nghe, và họ có lẽ sẽ phải nhờ cảnh sát đến để giữ trật tự.
Nhưng chỉ có một người duy nhất nhận ra Joshua Bell, vì trước đó ba tuần cô ta có đi xem anh trình diễn ở Library of Congress, nên nhận ra anh ngay. Cô ta đã bỏ vào hộp đàn của Joshua Bell 20 đô la và tự giới thiệu mình khi anh ngưng chơi đàn.
Tờ Washington Post viết, mục đích của cuộc thử nghiệm này để xem rằng: chúng ta có thể nhận diện, ý thức được những gì hay và đẹp đang có mặt giữa cuộc sống bận rộn của mình, và trong những hoàn cảnh bình thường hằng ngày không?
Và nếu như trong cuộc sống chúng ta không thể dừng lại trong giây lát để lắng nghe một nhạc sĩ lừng danh nhất trên thế giới, chơi những giai điệu hay nhất từng được sáng tác, với một nhạc cụ tốt đẹp nhất, và nếu như cuộc sống quá bận rộn đến nỗi chúng ta không còn có thời gian để dừng lại, khiến ta trở nên lãng quên trước những điều hay và đẹp, thì trên con đường ta đi mình còn vô tình bỏ qua và đánh mất bao nhiêu những điều đáng quý nào khác nữa chăng?
Trong thời đại ngày nay, dường như đa số chúng ta có khá đầy đủ, nhưng duy có một điều mà chắc chắn trong chúng ta ai cũng đều rất thiếu thốn là thời giờ của mình, phải thế không bạn?
Trên con đường chúng ta đi, có lẽ ta cũng sẽ có dịp nghe được tiếng đàn vĩ cầm của Joshua Bell, và bao nhiêu những điều hay đẹp khác chung quanh ta, nâng cao tâm hồn mình, giữa những bận rộn và ngay trong hoàn cảnh bình thường nhất, nếu chúng ta biết tập bước chậm lại một chút…
1. Tháng Giêng (Dần)- Óc quan sát và khả năng thực hành rất tốt, làm việc cẩn thận, tỉ mỉ. - Giỏi nắm bắt thời cơ, tài vận tốt đẹp. - Mưu sự cẩn trọng. Mọi sự nhắm trúng mới hành động, quyết không hành sự mù quáng. - Quan hệ gia đình xã hội nói chung hòa thuận, tốt đẹp, được cấp trên nâng đỡ cất nhắc, đề bạt. 2. Tháng Hai (Mão)- Có óc thẩm mỹ hoặc nghệ thuật. - Cá tính hiền, trầm lắng, cẩn trọng, lương thiện, bình tĩnh. - Suy nghĩ kỹ càng, tỉ mỉ, nhanh nhạy, quan hệ con người tốt, đầy sáng tạo. - Bề ngoài dễ bị đánh giá nhàn tản. - Giỏi kiếm tiền và quản lý tài chính. Về già an vui. - Thường phải ly hương mưu sinh lập nghiệp. Lục thân khiếm hòa, không đằm thắm. 3. Tháng Ba (Thìn)- Rất nhẫn nại trong bất cứ việc gì. - Bất luận nam, nữ đều khá sành điệu trong ẩm thực nhưng chưa hẳn đã mập. -Tâm hồn trong sáng, ham học hỏi, giỏi nhẫn nhịn. - Khi còn trẻ không có gì nổi trội. Ngoài 40 tuổi, đa số phát tài, phát lộc dần dần giàu có. Cuối đời dư dả, phú quý. 4. Tháng Tư (Tỵ)- Đặc điểm nổi bật nhất là con người của công việc, vùi đầu vào công việc, đâu vào đó. - Năng động, hiếu động, nóng nảy. Thường nóng - lạnh thất thường. - Luôn phấn chấn, ít ca thán. - Thích chơi với người ngoài hơn người thân. - Tự lực, tự cường, tự thân lập nghiệp, thành công ở tuổi trung niên. 5. Tháng Năm (Ngọ)- Chuyên tâm với nghề nghiệp, vững bước tiến lên. - Thiện ác phân minh. Thông minh, nho nhã. - Dám nhận thiếu sốt, sai lầm của mình. Biết sai là sửa. Đôn hậu, thiện tâm, hiếu thảo. - Công bằng, chính trực, được mọi người tin tưởng quý mến. Luôn được quý nhân hỗ trợ. - Hôn nhân thường không thuận, qua vài cầu vẫn không ổn. 6. Tháng Sáu (Mùi)- Thông minh, nhạy bén, ham hiểu biết, thích giao tiếp. - Cảm thụ về tình cảm rất nhanh nhạy. - Làm việc tích cực, chủ động, ít sợ khó khăn, trở ngại, quyết chí vươn lên. Tự thân lập nghiệp, đi trên đôi chân của mình. - Dễ trở nên bất mãn với hiện trạng. Khát khao làm nhà cách tân, đổi mới. - Suốt đời cơm áo đầy đủ, sung túc. 7. Tháng Bảy (Thân)- Thông minh, nhanh nhạy, nhân hậu, lương thiên, hành thiện tích đức. - Đầy tính sáng tạo, làm việc cẩn thận, tỉ mỉ. - Năng lực học tập tốt, là người chủ nghĩa hòa bình điển hình, không muốn gây gỗ với ai. - Làm việc nhanh chóng, không rề rà. - Suy nghĩ chu đáo. - Nếu được bồi dưỡng, đào tạo tốt sẽ có triển vọng là nhà hoạch định chiến lược có tài. - Cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ cho đến cuối đời. 8. Tháng Tám (Dậu)- Đầy cảm tính và khá tùy hứng. - Rất lãng mạn. - Theo đuổi cái hoàn thiện, hoàn mỹ. Là người điển hình của chủ nghĩa lý tưởng, cái gì cũng lý tưởng hóa có khi là ảo tưởng. - Mua sắm theo ý thích, theo cảm hứng, bất chấp giá cả và việc sử dụng, phá tiền. - Nhanh nhạy, biết nắm bắt thời cơ, năng động, có tài lẻ. Đa năng, đa tài, đa nghệ. - Không giỏi xử lý mối quan hệ gia đình, thường bất hòa, đôi khi gây cấn, căng thẳng. 9. Tháng Chín (Tuất)- Trung thành tuyệt đối. - Tích cực chủ động, hiếu động và rất đáng tin cậy. - Trong chuyện yêu đương lại vội vàng, hấp tấp, nóng vội, chưa hiểu rõ đối tượng đã tỏ tình ý. Yêu vội cưới gấp nên dễ đổ vỡ. - Quan vận và tài vận không mấy tốt đẹp. 10. Tháng Mười (Hợi)- Theo đuổi chủ nghĩa cầu toàn. Bao dung, độ lượng, tâm hồn rộng mở. - Ham và giỏi suy nghĩ, óc tưởng tượng phong phú nhưng năng lực thực hành lại yếu. Xử lý công việc có tình lý. - Quan hệ xã hội chan hòa nhưng vẫn giữ khoảng cách nào đó nhất định. - Thích ẩn mình thế giới riêng tư của mình, tránh xa cõi trần, cô liêu trong sự ồn ào. 11. Tháng Mười Một (Tí)- Tài trí, nhanh nhạy. Công danh khá thuận. - Khả năng diễn đạt tốt, có sức thuyết phục. - Tính nóng nảy, có vẻ đùa giỡn, chọc ghẹo với quyền lực nên dễ vướng thị phi chốn quan trường. - Nếu Tôi cường, cách cục đẹp sẽ có triển vọng là quân sư có tài. - Nếu Can Thổ nhiều thì cá tính nóng vội, dễ làm người khác phật ý. 12. Tháng Mười Hai (Sửu)- Đa số đều có tính cách tích cực tiến công, phấn đấu ít mệt mỏi. Có thiện tâm, vui vẻ, được mến mộ. - Thường thiếu tin tưởng vào người khác, cái gì cũng phải để mắt vào nên bận rộn, vất vả. - Hay gặp rắc rối hoặc bị liên lụy bởi người thân, bạn bè nên cuộc sống ít thanh thản. - Không đọng tài, tiền bạc hay bị hao tán. Dự đoán tương lai theo tháng sinh khá chính xác bởi tháng sinh là một trong Bát tự và một trong Tứ trụ, đặc biệt quan trọng trong vận mệnh của một người. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Bộ tam hợp của người tuổi Thìn Thân - Tý - Thìn bao gồm người sinh vào các năm Thân, năm Tý và năm Thìn. Xem độ hợp về các mặt khi phối hợp của các cặp này nhé.
Bộ tam hợp của người tuổi Thìn Thân - Tý - Thìn bao gồm người sinh vào các năm Thân, năm Tý và năm Thìn. Xem độ hợp về các mặt khi phối hợp của các cặp này.
► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh
- Năm Tý là các năm: 1936, 1948,1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020... - Năm Thân là các năm: 1920, 1932, 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016... - Năm Thìn là các năm: 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012...
Người tuổi Thìn và người tuổi Thân
Tam hợp của người tuổi Thìn: Khi tuổi Thân và tuổi Thìn có sự phối hợp thì những quyết tâm của họ không gì có thể phá vỡ. Kế hoạch lớn lao của Thìn tìm được sự nhiệt tình trợ giúp của Thân - vốn đầy tham vọng. Khi gặp khó khăn, Thân mưu trí sẽ tìm ra giải pháp để vượt qua. Thìn thán phục sự mưu trí của Thân, trong khi Thân ngưỡng mộ sức mạnh và lòng dũng cảm của Thìn. Đây là 1 cặp không thể xem thường, nhất là với sự tương đồng trong tính cách khiến họ phối hợp với nhau rất ăn ý.
Về phương diện kinh doanh, họ biết phát huy những mặt tốt nhất của nhau. Trong tình yêu, họ truyền cảm hứng cho nhau. Về khả năng, họ là 1 cặp khó có thể bị đánh bại.
Thìn thuộc hành Thổ, Thân thuộc hành Kim, Thổ sinh Kim. Trong mối quan hệ này, Thìn hỗ trợ cho Thân. Và để không bị tiêu hao, tam hợp của người tuổi Thìn cần được tăng cường năng lượng bằng hành Thổ hoặc sự hỗ trợ của hành Hỏa.
Người tuổi Thìn và người tuổi Tý
Năng lượng sung mãn của Thìn khi được kết hợp với tài khéo léo xoay sở của Tý sẽ khiến cặp đôi này tăng cường một cách hiệu quả sức mạnh và khả năng của nhau. Tý ngưỡng mộ và bị thu hút bởi tính năng động của Thìn. Ngược lại, Thìn cũng đầy hồ hởi và nhiệt tình khi được bảo vệ cho Tý. Cả 2 đều tôn trọng lẫn nhau.
Người tuổi Thìn thường để tâm đến những việc có tầm vóc lớn lao, trong khi người tuổi Tý thông minh, tài trí lại không hề bỏ qua những chi tiết dù là vụn vặt. Tý và Thìn hợp trở nên rất đẹp đôi và đầy ấn tượng.
Tý thuộc hành Thủy, Thìn thuộc hành Thổ. Thổ khắc Thủy, nhưng cả 2 đều tạo dưỡng chất cho cỏ cây sinh sôi, phát triển. Trong mối quan hệ này, Thìn và Tý đều vui với vai trò của mình và biết đưa lại lợi ích cho nhau.
Mũi còn gọi là cung Tài Bạch, 1 trong 12 cung trên mặt. Theo nhân tướng học, nếu chóp mũi (Chuẩn Đầu) càng đầy đặn thể hiện nguồn thu nhập của chủ nhân càng dồi dào; cánh mũi càng dày ám chỉ sự tích lũy của cải càng tăng. Tương tự, chóp mũi có nốt ruồi thể hiện tài vận rất tốt.
Nếu trên chóp mũi đột nhiên xuất hiện nốt ruồi là biểu hiện của sự phát tài. Nhưng nếu cánh mũi có nốt ruồi thì lại là biểu hiện của sự rò rỉ tài lộc (lậu tài), có tiền của nhưng không giữ được. Điều này thể hiện rõ nhất ở giai đoạn chủ nhân 44, 45 hoặc 49, 50 tuổi.
2. Nốt ruồi ở cằm
Theo nhân tướng học, nốt ruồi trên cằm chủ nhân về ruộng vườn, nhà cửa... là nốt ruồi tốt. Chủ nhân dễ trở nên giàu có.
3. Nốt ruồi ở gò má
Nốt ruồi này rất có lợi cho sự nghiệp, thể hiện chủ nhân dễ có được địa vị xã hội cao. Họ cũng là người có chí tiến thủ, có được nhiều cơ hội trong công việc và cuộc sống, có khả năng trở thành nhân vật lãnh đạo.
4. Nốt ruồi trên trán
Trán thể hiện cho sự phúc đức của con người. Theo hình trên, từ trái sang phải thứ tự các nốt ruồi bao gồm: nốt ruồi Điền Trạch, nốt ruồi Phú Quý, nốt ruồi Cát Tường, nốt ruồi Cát Tường, nốt ruồi Điền Trạch, nốt ruồi Quan Lộc, nốt ruồi Phú Quý.
Nếu như trên trán phía gần chân tóc xuất hiện nốt ruồi đen bóng đồng thời Thiên Đình đầy đặn thì rất tốt. Thực tế, nó cũng thể hiện chủ nhân xuất thân trong gia đình tương đối sung túc. Thế nhưng, nốt ruồi màu đen nâu thì lại không tốt.
5. Nốt ruồi phú quý
Đây là nốt ruồi thể hiện chủ nhân xuất thân từ gia đình giàu có hoặc dễ dàng có được chức vị nhất định. Điều đó làm cơ sở cho việc tiến thân hoặc gây dựng kinh tế.
6. Nốt ruồi kinh doanh
Nốt ruồi này xuất hiện ở phía mắt bên trái, gần đuôi mắt. Nó cho thấy chủ nhân là người thông minh, cẩn trọng, có tư tưởng táo bạo, giỏi đối nhân xử thế, biết nắm bắt cơ hội. Đây là điển hình của người tự lập mà trở nên giàu có.
Thách thức lớn nhất trong phòng khách thường là làm thế nào để sắp xếp đồ đạc hợp lý nhằm tăng cường luồng khí tốt Căn phòng dưới đây cần đủ yên tĩnh để thư giãn, nhưng không được yên tĩnh đến mức khiến bạn ngủ thiếp trên ghế đi-văng ngay sau bữa ăn.
Nên sắp đặt những đồ đạc chính sao cho khí lưu chuyển nhẹ nhàng qua các khu vực kê ghế ngồi, thay vì để khí không thể lưu chuyển hoặc hướng quá nhiều năng lượng vào một điểm, quá nhiều đồ đạc trong một không gian chật hẹp là nguyên nhân phố biến khiến khí bị tắc nghẽn.
Tất cả khu vực kê ghế ngồi trong phòng khách phải được bảo vệ khỏi mọi nguồn sát khí. Dưới đây là một số vị trí cần tránh nếu có thể và một số gợi ý cần phải làm nếu không thể tránh:
Vấn đề: Lưng ghế sô-fa quay ra cửa hay lối vào
Giải pháp: Kê một chiếc bàn phía sau ghế, trên bàn để đèn hoặc lọ hoa; treo một đồ pha lê có cạnh ở giữa cửa ra vào và ghế; trải một tấm thảm dệt mịn giữa cửa và ghế.
Vấn đề: Xà rầm lộ phía trên ghế sô-fa hoặc khu vực ngồi khác.
Giải pháp: Dịch chuyển ghế; sử dụng các phương pháp hóa giải theo phong thủy đối với các xà rầm lộ.
Vấn đề: Quạt trần phía trên ghế sô-fa hay chỗ ngồi khác
Giải pháp:Treo quả cầu pha lê có cạnh vào dây xích kéo
Vấn đề: Chỗ ngồi ở phía thấp của trần xiên
Giải pháp:Sử dụng vị trí này để kê tủ ly, bàn hay giá sách; dịch chuyển chỗ ngồi sang phía cao hơn.
Vấn đề: Mũi tên bí mật hướng vào chỗ ngồi
Giải pháp: Kê lại chỗ ngồi nếu có thể; dùng cây cối hay rèm để làm dịu các góc nhọn; treo quả bóng pha lê có cạnh giữa điểm bắt đầu của mũi tên bí mật và chỗ ngồi.
Kê ghế ngồi nổi bật nhất – thường là ghế sôfa – ở vị trí chỉ huy (cách xa cửa ra vào, có tầm nhìn không gian tốt và, nếu có thể, có một bức tường vững chắc phía sau để chống đỡ). Nếu ghế đơn ở vị trí chỉ huy luôn do một người sử dụng, người đó có thể chi phối mối quan hệ trong gia đình, ở nhiều ngôi nhà, tivi được đặt ở vị trí chỉ huy.
Nếu đã kê đồ đạc theo cách tốt nhất mà bạn có thể làm với thiết kế của phòng khách, nhiều năng lượng vẫn hỗn loạn, hay mọi người dường như không ổn định, thì một thay đổi dịch chuyển nhẹ ở cung Gia đình của phòng khách có thể đem lại tác dụng tích cực.
Nếu năng lượng quá yếu, hãy dùng chuông gió trong cung Gia đình để thay thế nhằm làm cho năng lượng trong phòng mạnh lên. Chọn những màu lạnh (xanh lá cây xám, xanh da trời và xanh nhạt hơi pha đỏ) để làm dịu không gian, các tông màu ấm (đỏ, da cam, vàng tươi) để kích thích mọi vật.
EXPLAIN not possible on query: INSERT INTO `tho_session`
(`session_id`,`guest`,`time`,`userid`,`username`,`client_id`) VALUES
(X'3736326432363365613165623361356234366233633937343466613965396635', 1, 1783785982, 0, '', 0)
EXPLAIN not possible on query: UPDATE `tho_extensions`
SET `params` = '{\"mediaversion\":\"f8f7f57f4b1782ac441c110bba042b3c\"}'
WHERE `type` = 'library' AND `element` = 'joomla'