Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Tướng ngón chân nói lên điều gì ở bạn? –

Ở những bài trước chúng tôi có cập nhật các bài viết về xem tướng khuôn mặt, xem tướng cổ ... Hôm nay chúng tôi tiếp tục cập nhật bài viết về xem tướng ngón chân. Có nhiều bạn thắc mắc xem tướng chân có ý nghĩa gì?. Tướng chân nói lên điều gì ở bạn?
Tướng ngón chân nói lên điều gì ở bạn? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng ngón chân nói lên điều gì ở bạn? –

Tuổi Mùi hợp với tuổi gì –

Mơ mộng? Ðúng là tuổi con Dê ! - Sáng tạo, bí hiểm và tự suy tự đoán. Những giáo điều không chính thống và cả những tuồng tích của tân trường phái cũng dễ dàng được tuổi này chấp nhận. - Tuy vậy tuổi Mùi có nhiều năng khiếu và có dịp vẫn tiêu khiển ă
Tuổi Mùi hợp với tuổi gì –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Mùi hợp với tuổi gì –

Tích phúc: Con đường cải biến vận mệnh tốt nhất

Dù cuộc sống ra sao, vận mệnh thế nào thì đều phải biết tích phúc đức cho bản thân cũng như cho người thân, tích phúc là con đường cải vận mệnh tốt nhất
Tích phúc: Con đường cải biến vận mệnh tốt nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo lý thuyết nhân quả của nhà Phật, phúc khí của một người từ đâu mà đến? Thứ nhất: nó đến từ khi con người được sinh ra (mang theo từ tiền kiếp). Thứ hai là do đời này hành thiện tích đức, tích phúc mà có, xét cho cùng, có thể thực sự thay đổi vận mệnh con người nằm ở hai chữ “nhân quả”.

Bởi vì, bất luận số mệnh là do trời định hay do hậu thiên hành thiện tích phúc, tích đức mà có, đều là từ “thiện nhân” mà thu được “thiện quả”. Loại “thiện nhân” này chính là làm việc thiện.

Nhiều người hễ nhắc đến hành thiện thì cho rằng: “đấy là những việc của người giàu”. Đây quả là nhận thức sai lầm lớn, họ cho rằng “làm việc thiện” tương đương với việc chi tiền. “Cần chi tiền” mới có thể “làm việc thiện”. Thực chất, “làm việc thiện” bao gồm phạm vi khá lớn, nó bao hàm cả việc “chi tiền” và những việc thiện “không cần chi tiền”.

Ví dụ như: Từ bi cấm sát sinh đối với người cũng giống như ẩn ác dưỡng thiện, loại bỏ thị phi tranh đoạt, biết lượng thứ cho những lỗi lầm của người khác, tuyên dương thiện đức, kính trọng bề trên, yêu thương trẻ nhỏ, hiếu thuận người già, khoan dung bỏ qua sai sót, thương cảm với những người nghèo cô độc, phạm vi hành thiện quả thật quá rộng lớn, đâu đâu cũng là “phúc đến cửa nhà”!

Nhà Phật dạy rằng phát tâm từ bi không chỉ vì chính mình mà càng vì mọi người, vất vả làm việc, cố gắng chăm chỉ, tích ngày này qua tháng khác như vậy ắt sẽ có được thành quả to lớn.

Biết tha thứ cho người khác

Người xưa thường nói: “không trách lỗi lầm của người khác, không bới móc đời tư, không nhớ việc ác cũ của người”. Nếu bạn có thể làm được ba điều này thì có nghĩa là bạn có thể tiến thêm một bước lớn trên con đường tu dưỡng đức. Con người cần “khoan dung vị tha”, “dung nhẫn”.

tha thứ là một món quà
tha thứ là một món quà cho chính chúng ta

Khi người khác làm những việc có lỗi với bạn, chắc chắn họ có lý do riêng hoặc những nỗi khổ tâm của bản thân, vậy bạn hãy đặt mình vào vị trí của họ để hiểu, cố gắng nhìn vào mặt tốt của đối phương, không nhớ đến những điểm xấu của người khác, như vậy tự nhiên bạn sẽ có được một sự đồng cảm. Tâm cũng từ đó mà trở nên bình thản tĩnh tại. Quân tử độ lượng, tiểu nhân hẹp hòi.

Khi bị người khác chỉ trích phê bình điều đó không đồng nghĩa là họ đang nhục mạ bạn, chúng ta nên có thái độ khiêm nhường, tiếp nhận bình thản “có lỗi thì sửa, không có lỗi thì rút kinh nghiệm”, hãy xem những phê bình của họ như là một sự quan tâm đến bạn, đó cũng là động lực giúp chúng ta tiến bộ.

Thế nhưng, khi bị người khác nhục mạ một cách vô cớ, một mặt nó có thể giúp rèn luyện tâm thái và tính cách chúng ta, mặt khác chúng ta sẽ có cơ hội để tích thêm phúc, sau khi gặp phải những mắng chửi vô cớ, đức cũng từ đó tăng lên, phúc thuận theo đó mà đến. Đây chính là điểm mấu chốt giúp thay đổi vận mệnh của bản thân.

Luôn giữ tâm thái khiêm nhường và cảm ân

Một số người trong gia đình vốn giàu có đầy đủ, bản thân học hành sự nghiệp thành đạt, công việc vượt trội, liền tự cho mình là tài giỏi nhất từ đó sinh ra tâm thái kiêu căng, tự cho rằng chỉ cần dựa vào năng lực của bản thân là có thể hưởng thụ cuộc sống vinh hoa phú quý, thế nhưng, điều này lại trở thành một sự trở ngại lớn về sau này. Một khi thất bại, mới tỉnh ngộ ra rằng bản thân thật là bé nhỏ.

Cũng có những anh tài, vốn có năng lực hơn người, nhưng luôn giữ một tâm thái khiêm tốn, cảm ân, đối đãi với mọi người tốt như nhau, sẵn lòng đóng góp cho xã hội, như vậy họ sẽ có một gia đình hòa thuận, sự nghiệp phát đạt. Càng biết chia sẻ phúc lành với mọi người, thì phúc lành sẽ càng ngày càng nhiều, thậm chí bất tận. Đây là việc tích phúc bằng cách cho đi.

Cổ nhân thường nói, chỉ có khiêm tốn thì phúc mới tới. Thường xuyên khiêm tốn, giữ tâm thái cảm ân, từ đó vận mệnh cũng theo vậy mà được cải thiện.

Cuộc sống vốn không hoàn hảo, cuộc sống mỗi người đều có lúc thăng lúc trầm, thậm chí hoàng đế được hưởng đầy giàu sang phú quý nhưng vẫn luôn gặp những việc không như mong muốn, trong cuộc sống không nên tranh đấu, nếu như không phải là của bạn, giả như bạn giành được về, bạn cũng không có được phúc phận để hưởng thụ.

Ngược lại, chịu thiệt thòi một chút cũng là một cách tốt để thay đổi vận mệnh, nhường những lợi ích của mình cho người khác, không tranh đấu giành giật. Như vậy, cuộc sống của bạn có thể sẽ thiếu đi những thứ này nhưng ông trời sẽ bồi thường cho bạn những thứ khác.

Luôn lạc quan

Trong cuộc sống luôn giữ nụ cười trên môi, đem những điều tốt và thiện ý đến cho những người bên cạnh bạn, như vậy sẽ có thể kết thiện duyên với những người xung quanh bạn.

Dù là người quen hay người lạ đều có thể cảm nhận được sự thiện ý của bạn, cũng từ đó những xung đột mâu thuẫn trong cuộc sống của bạn cũng ít dần đi, trở nên càng ngày càng thuận lợi tốt đẹp. Đây chính là khởi đầu trong việc cải biến vận mệnh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tích phúc: Con đường cải biến vận mệnh tốt nhất

Trang trí sảnh hành lang theo phong thủy cát tường với các vật phong thủy –

Bố trí và trang trí nội thất là một việc làm thường tình. Nhưng trang trí các phòng như thế nào để được phong thủy cát tường lại là một việc làm không phải tuỳ tiện theo phép "lý khí bát trạch" (khí bát quái). Muốn đạt được điều may mắn, bình an, phú

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bố trí và trang trí nội thất là một việc làm thường tình. Nhưng trang trí các phòng như thế nào để được phong thủy cát tường lại là một việc làm không phải tuỳ tiện theo phép “lý khí bát trạch” (khí bát quái).

9880_1

Muốn đạt được điều may mắn, bình an, phúc lộc phải biết và tuân thủ các phép phong thuỷ một cách cẩn thận và tỉ mỉ.

  1. Sáo được treo với góc chênh 15° – 30° theo phương vận hành của phong thuỷ khí vào các nơi cần tăng cường khí lực.
  2. Đèn lồng được treo dọc hành lang hay trước sảnh lớn.
  3. Gương được treo vào vị trí cần phản hoặc ở các nơi không hợp lý hay để tăng dương khí cho các hành lang hay một khi sảnh bị thiếu ánh sáng.
  4. Đèn chiếu sáng ở những nơi nhiều Âm khí để tăng Dương khí.

Việc treo các vật phong thuỷ cần thận trọng để phù hợp cho việc tăng hay giảm khí âm và khí dương hoặc nhằm dẫn sinh khí vào nơi cần thiết hay nhằm chán cản các loại sát khí.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trang trí sảnh hành lang theo phong thủy cát tường với các vật phong thủy –

Niệm danh Phật Định Quang trong ngày vía 13/2

Ngày 13/2 – thánh đản Phật Định Quang, chúng sinh hướng Phật hành thiện, chăm chỉ tu dưỡng sửa mình để sống đời an nhiên. Niệm danh Phật Định Quang ngày 13/2
Niệm danh Phật Định Quang trong ngày vía 13/2

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày 6/1 âm lịch  – thánh đản Phật Định Quang Như Lai, chúng sinh hướng Phật hành thiện, chăm chỉ tu dưỡng sửa mình để sống đời an nhiên.


Niem danh Phat Dinh Quang cau binh an trong ngay via 61 am lich hinh anh
 
 

Sự tích Phật Định Quang


Định Quang Như Lai hay còn gọi là Phật Định Quang là đời quá khứ của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ý nghĩa Phật danh là sáng rỡ ánh Như Lai như đèn đuốc tự nhiên. Trong từ điển Phật học, Định Quang Như Lai có khá nhiều tên gọi, là Đĩnh Quang Như Lai, Nhiên Đăng Phật. “Đại Trí Độ Luận” ghi chép: lúc Định Quang Như Lai sinh ra tất cả đền đuốc đều tự dưng sáng rõ nên lấy tên này. 
  Định Quang Như Lai là tiền kiếp lúc Thích Ca Mâu Ni sơ phát tâm bồ đề, từ đây cho tới khi tu hành đức độ thành chính quả, trở thành đời hiện tại. Danh hiệu của Đức Phật Định Quang đầy đủ là: Nam Mô Định Quang Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Đều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn.
Niem danh Phat Dinh Quang cau binh an trong ngay via 61 am lich hinh anh
 
Hồng Danh của Đức Phật trích từ trong 2 bộ kinh khác nhau: Kinh Đại Bảo Tích Pháp Hội Ưu Ba Ly và Kinh Quán Dược Vương Dược Thượng Bồ Tát. Đức Phật Định Quang được nhắc đến nhiều bởi là tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni, trải qua tu hành vô lượng, vô biên bất khả thuyết kiếp mới được thọ ký, trở thành Đức Phật Thích Ca, dẫn dắt Phật giáo đi tới thịnh đạt.
Khắc ghi 12 đại nguyện nhớ ngày Quan Thế Âm Bồ Tát xuất gia 19/9 âm lịch

Ngày 6/1 âm lịch là ngày vía, tức ngày sinh của Định Quang Phật, chúng Phật tử nên đến chùa hoặc hành lễ tại gia, nhất tâm hướng thiện để cầu mong bình an, thái hòa và thông tuệ. Ánh đèn của đức Phật sẽ soi tỏ mọi tấm lòng, chiếu sáng mọi con đường, mở ra những điều tốt đẹp cho chúng sinh.
  Đến cửa Phật chỉ làm điều hay, dâng cỗ chay, cung dưỡng thứ tinh sạch và nghĩ về những điều tốt lành. Người tâm ác, lòng không tịnh, tham lam và mong cầu xin tài phú thì không nên tới, Phật không thể chứng độ. Phật Định Quang chỉ khai tâm, tâm rộng mở ắt đời hanh thông. Mong chúng sinh và quý Phật tử luôn hướng theo chiều hướng tích cực như vậy khi cung dưỡng Phật và học hỏi Phật pháp.
► ## gửi đến bạn đọc công cụ xem ngày tốt xấu theo Lịch âm dương để thuận lợi công việc

Ngày vía 8/2, hiểu đúng về cách thờ Phật Di Lặc
Ngày 8 tháng 2 hàng năm là ngày vía của Đức Phật Di Lặc, một trong những vị Phật quen thuộc và được chúng sinh tôn sùng. Với nét mặt rạng rỡ, thân hình đầy
Tâm Lan

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Niệm danh Phật Định Quang trong ngày vía 13/2

Những hình xăm về mẹ ý nghĩa và đẹp 2014 –

Bài hát tình mẹ bao la như biển Thái Bình. Biển Thái Bình là một trong bốn biển lớn diễn tả tình mẹ đối với con. Tình mẹ lớn như biển Thái Bình, hay lớn hơn nữa. Tôi nghĩ không có gì so sánh được với tình mẹ thương con, vì chính cái thân của ta có ng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ày hôm nay là một phần của cha mẹ, nhưng người mẹ là chính, chín tháng người mẹ cưu mang, chúng ta lớn lên trong thai mẹ. Chúng ta có cùng một nhịp thở, cùng một nhịp tim, cùng một nguồn dinh dưỡng với người mẹ. Nói rộng hơn, thân của chúng ta được nuôi từ người mẹ thì gồm có hai phần là vật chất và tinh thần. Phần vật chất không ai phủ nhận được là trong bào thai, từ hơi thở cho đến thức ăn của mẹ nuôi dưỡng chúng ta.

Một số mẫu hình xăm về mẹ ý nghĩa và đẹp nhất:

hinh-xam-ve-me-y-nghia-va-dep-nhat-2013-4

hinh-xam-ve-me-y-nghia-va-dep-nhat-2013-5

 

hinh-xam-ve-me-y-nghia-va-dep-nhat-2013-8

hinh-xam-ve-me5

hinh-xam-ve-me3


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những hình xăm về mẹ ý nghĩa và đẹp 2014 –

Tam cát và Ngũ cát trong Phong thủy Huyền Không

Tam cát là 3 sao Nhất Bạch (số 1), Lục Bạch (số 6) và Bát Bạch (số 8). Những sao này đều được coi là những sao tốt, vì vậy nên mới được gọi là “Tam cát” (tức 3 sao tốt). Lý do vì Huyền Không xuất phát từ Kỳ Môn - Độn Giáp, một phương pháp dùng Bát Môn (tức 8 “Cửa”) để đoán định cát, hung của mọi sự việc. Trong 8 “Cửa” đó, chỉ có 3 “Cửa” Hưu (trùng với phương KHẢM của số 1), Khai (trùng với phương CÀN của số 6), và Sinh (trùng với phương CẤN của số 8) là tốt nhất, sẽ đem lại nhiều thuận lợi, may mắn. Chính vì vậy nên 3 số 1, 6, 8 mới được xem là “Cát”.
Tam cát và Ngũ cát trong Phong thủy Huyền Không

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một điểm nữa là sao Nhất Bạch vừa là khởi đầu của 9 sao, lại là chủ của Thượng Nguyên, lấy Thủy nuôi dưỡng Tam Bích Mộc (vì Thượng Nguyên gồm có 3 vận 1, 2, 3) mà khắc chế Nhị Hắc Thổ. Vì Nhị Hắc là Bệnh Phù, chủ ôn dịch, tật bệnh, nếu không bị kềm chế thì độc khí của nó sẽ lan tràn mà hủy diệt hết sự sống. Chính vì vậy nên những cơn dịch bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử thế giới đều xuất hiện trong Thượng nguyên. Chẳng hạn như cơn dịch cúm “Influenza” (còn gọi là “Cúm Tây ban Nha” hay “Spanish Flu”) vào các năm 1918 - 1919 (tức trong Vận 3 Thượng Nguyên), làm cho từ 50 đến 100 triệu người chết. Hay như “Cơn dịch lớn” (Great Plague) trong các năm 1348 - 1353 (tức thuộc Vận 2 Thượng Nguyên) thời Trung cổ (Middle Ages) làm chết 75 triệu người từ Á sang Âu... Cho nên nhờ có Thủy của Nhất Bạch nuôi dưỡng Mộc khí của Tam Bích để kềm chế Nhị Hắc, nên độc khí của nó mới được ngăn chặn mà không hủy diệt hết sự sống trên trái đất. Nhờ vậy Thượng Nguyên mới có thể đảm nhiệm được vai trò khởi đầu, cũng như duy trì được sự tồn tại của chính nó, cũng như của Trung Nguyên và Hạ Nguyên sau này.

Đến Trung Nguyên gồm có các vận 4, 5, 6. Trong đó số 4 vừa là Mộc khô, vừa là gió lớn (vì số 4 thuộc quẻ Tốn = gió theo Tiên thiên Bát quái). Còn số 5 vừa là Ngũ Hoàng đại Sát Thổ, vừa là Liêm Trinh Hỏa, gặp Mộc khô, gió lớn của Tốn Tứ nên lửa càng mạnh mà sẽ thiêu rụi hoặc hủy diệt tất cả, chỉ còn lại tro bụi mà thôi. Chính vì vậy nên trong Trung Nguyên mới có nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, những chế độ tàn bạo như thời Đệ nhị Thế chiến với Hitler, Stalin, Mao trạch Đông... Hoặc thời kỳ quân Mông cổ bành trướng khắp Á - Âu, gieo rắc bao chết chóc, kinh hoàng cho cả Thế giới thời đó (từ năm 1206, lúc Thiết Mộc Chân xưng đế hiệu là Thành cát tư hãn, cho đến khi quân Mông cổ tràn qua tới Hungary vào năm 1241 đều thuộc các vận 4, 5 và 6 Trung Nguyên). Hay Tần thủy Hoàng từ lúc lên ngôi diệt chư hầu, cho đến lúc mất vào năm 210 B.C. là thời gian ở trong các vận 4 và 5 Trung nguyên). Cho nên sao Lục Bạch ở Trung Nguyên vừa là Thủy của Tiên thiên, vừa là Kim của Hậu thiên, có thể điều tiết được Hỏa nóng, Thổ khô, cứng của Ngũ Hoàng, vừa cai quản được gió (vì CÀN là Trời, mà Trời thì cai quản gió, mưa), cũng như tưới nhuận được Mộc khô của Tốn, hầu bảo đảm sự tồn tại và phát triển của Trung nguyên.

Bước vào Hạ Nguyên gồm có các vận 7, 8, 9. Trong đó các số 7 và 9 đều là Hỏa Tiên thiên hay Hậu thiên, lại cùng nằm trong 1 Nguyên nên Hỏa khí cực thịnh. Do đó, trong giai đoạn này cũng thường có những cuộc chiến tranh khá quy mô và rộng lớn như 2 cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và 2001 (tức vận 7). Hoặc cuộc chiến tranh của Napoleon ở Âu châu (từ năm 1800 đến 1815, tức từ cuối vận 6 sang giữa vận 7). Hay cuộc chiến tranh giữa Mông cổ với Việt Nam (1284 - 1288 tức trong vận 8). Ngoài ra, trong Hạ Nguyên thường có nhiều thiên tai, do Hỏa mạnh thì Thủy sẽ bùng dậy để tái lập lại thế quân bình, gây ra tình trạng gió bão, lụt lội... Mặt khác, vì Hỏa khí trong Hạ Nguyên nhiều và thịnh, nên nhiệt độ trên trái đất cũng sẽ tăng lên, dẫn đến tình trạng hạn hán, mất mùa ở nhiều nơi. Cho nên sao Bát Bạch ở Hạ Nguyên là Thổ ướt, vừa có thể điều tiết được Hỏa khí, vừa có thể giúp cho 2 số Thất Xích và Cửu Tử cùng đứng chung trong 1 Nguyên, đang từ thế xung khắc, hủy diệt lẫn nhau (vì Cửu Tử Hỏa khắc Thất Xích Kim) sẽ trở thành thế tương sinh (Hỏa sinh Thổ để Thổ sinh Kim) mà giúp cho Hạ Nguyên được tồn tại, duy trì và phát triển qua Thượng Nguyên, tức là vòng sinh thái được tái lập lại từ đầu và tiếp tục luân chuyển không ngừng vậy.

Chính vì chức năng điều hòa, cũng như khả năng duy trì sự tồn tại và phát triển của chúng trong các Nguyên Thượng, Trung, Hạ, cho nên các sao Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch mới được xem là tốt trong bất cứ Nguyên, vận nào, và mới được liệt kê thành “Tam cát”.


Nói về Ngũ cát

Ngoài 3 sao Nhất, Lục, Bát thì còn có những sao là vượng khí, sinh khí và (hay) tiến khí của vận đó, nên khi gộp lại sẽ có tối đa là 5 sao tốt (nên gọi là “Ngũ cát”).

- Thí dụ: vận 1 Thượng Nguyên thì Nhất Bạch là vượng khí, Nhị Hắc là sinh khí, Tam Bích là tiến khí. Cộng với Lục Bạch và Bát Bạch (còn Nhất Bạch vì đã là vượng khí nên không thêm vào nữa) sẽ thành Ngũ Cát (tức 5 sao tốt).

Tuy nhiên, không phải vận nào cũng có đủ Ngũ cát, mà đôi khi chỉ có 4 sao tốt (tức “Tứ cát”) mà thôi.

- Thí dụ: trong vận 6, Lục Bạch là vượng khí, Thất xích là sinh khí, cộng với Nhất Bạch và Bát Bạch nên chỉ có Tứ cát.

Cho nên, tùy theo từng thời vận mà có lúc 1 căn nhà chỉ được Tứ Cát, có những lúc lại hội đủ Ngũ Cát, tức là mức độ sao tốt tối đa có thể có được như sau:

* Vận 2 thì Nhị Hắc là vượng khí, Tam bích là sinh khí, cộng với 3 sao Nhất, Lục, Bát thành Ngũ Cát.

* Vận 3 thì Tam Bích là vượng khí, Tứ lục là sinh khí, cộng với Nhất, Lục, Bát thành Ngũ Cát.

* Vận 4 thì Tứ Lục là vượng khí, Ngũ Hoàng là sinh khí, Lục Bạch vừa là cát tinh, vừa là tiến khí, cộng với Nhất Bạch và Bát Bạch thành Ngũ Cát.

* Vận 5 thì Ngũ Hoàng là vượng khí, Lục bạch là sinh khí, cộng với Nhất, Bát thành Tứ Cát.

* Vận 7 thì Thất Xích là vượng khí, Bát Bạch là sinh khí, Cửu tử là tiến khí, cộng với Nhất, Lục mà thành Ngũ Cát.

* Vận 8 thì Bát Bạch là vượng khí, Cửu Tử là sinh khí, cộng thêm Nhất Bạch, Lục Bạch mà thành Tứ cát.

* Vận 9 thì Cửu Tử là vượng khí, Nhất Bạch là sinh khí, cộng với Lục và Bát Bạch mà thành Tứ Cát.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tam cát và Ngũ cát trong Phong thủy Huyền Không

Điểm danh 4 chòm sao nhỏ nhen, có thù tất báo

Nhưng nhiều người tâm địa không được rộng mở. không thể chịu thiệt. Chính xác là những chòm sao nhỏ nhen ấy là ai, điểm danh xem nào.
Điểm danh 4 chòm sao nhỏ nhen, có thù tất báo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Làm người phải rộng lượng, mọi việc phóng khoáng, không cần quá chấp nhặt những chuyện nhỏ, trong lòng cũng đừng tính toán chi li. Nhưng nhiều người tâm địa không được rộng mở như vậy, không thể chịu thiệt, chỉ cần đụng phải họ thì chắc chắn ghi nhớ trong lòng, thừa dịp có thù tất báo. Chính xác là những chòm sao nhỏ nhen ấy là ai, điểm danh xem nào.

Diem danh 4 chom sao nho nhen, co thu tat bao hinh anh
 

Bạch Dương

  Trước đây vẫn thấy Bạch Dương là chòm sao dịu dàng, phóng khoáng nhưng bây giờ mới biết, họ thực sự là chòm sao nhỏ nhen. Nhìn qua tưởng nhiệt tình, không câu nệ tiểu tiết nhưng lại táo bạo và có phần hung hãn, chỉ cần bị chọc phải thì nhất định sẽ không để yên.   Không bao giờ có chuyện cừu trắng bỏ qua cho người đã làm mình khó chịu. Kể cả chỉ là việc vô tình, không hề cố ý nhưng họ cũng ghi nhớ, một mực làm theo ý mình, bất chấp đối phương có thành ý tới mức nào. Như thế này là quá trẻ con, quá ngông cuồng rồi đấy, cẩn thận sẽ làm ra những việc không thể tha thứ được.
Xem thêm bài viết Tuổi Dần cung Bạch Dương: Tài năng và trung thực
 

Sư Tử

  Ai cũng biết Sư Tử là chòm sao rất coi trọng mặt mũi, thích thể hiện, lúc nào cũng muốn có sự xuất hiện hoàn hảo nhất. Nếu người khác làm họ mất mặt, mất sĩ diện thì quả thực là chuyện lớn rồi. Không nuông chiều, không dung túng, không nhân nhượng, tìm cách báo thù thật nhanh để hả lòng hả dạ.   Sư Tử thích được sùng bái, họ coi điều ấy cao cả hơn tất thảy mọi thứ nên có người dám xâm phạm thì cứ chờ mà đợi chòm sao này đi hỏi tội đi. Nhưng cũng có lúc mặt mũi không phải là cái quan trọng nhất đâu Sư Tử, có những người chỉ muốn tốt cho bạn mới góp ý chân thành, thẳng thắn thì bạn cũng ghi hận rồi làm ra những việc chẳng quân tử, đàng hoàng chút nào cả. Như vậy thì có xứng đáng không?
Xem thêm bài viết 10 điều nhất định phải nhớ khi yêu người cung Sư Tử
 

Bảo Bình


Diem danh 4 chom sao nho nhen, co thu tat bao hinh anh
 
Bảo Bảo là chòm sao giống như một làn gió mát, bình thường đối xử với người khác hết sức ôn hòa, nhã nhặn, hiểu ý nhưng tuyệt đối không nên cho rằng họ dễ bắt nạt, có thể xuề xòa bỏ qua mọi chuyện. Thực chất đây là chòm sao nhỏ nhen, không thù dai nhưng rất sòng phảng, luôn ghi nhớ thái độ của mọi người đối với mình.   Ai tốt với họ thì họ tốt lại, ai không tốt với Bảo Bình tuyệt đối không thể sống yên. Có chuyện liền nói, có thù tất báo, đố mới chính xác là phong cách của họ. Thế nên, không ít người bị vẻ bề ngoài dễ dãi, thoải mái của chòm sao này đánh lừa, qua loa với họ rồi phải nhận kết quả đau đớn, Chú ý nhé, ở nhà họ có treo biển “cấm chơi đểu đấy”.
Xem thêm bài viết Bảo Bình - lập dị và dẫn đầu
 

Ma Kết

  Chòm sao mang chủ nghĩa đại nam tử rất mạnh, có tính gia trưởng bất kể là nam hay nữ, nhất định không thể chịu đựng được chuyện người khác ở chốn đông người vạch trần khuyết điểm, điểm chưa tốt của mình. Họ coi trọng tình cảm, người biết điều thì Kết Kết rất quý, người không biết điều, tuyệt đối không dung tha.   Nói họ là chòm sao nhỏ nhen cũng được nhưng đó là nguyên tắc sống của Ma Kết, không thay đổi. thế nên chọc ai thì chọc chứ đừng chọc tới họ nhé. Có thể chỉ vì một câu nói không đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ mà họ sẽ ghi nhớ suốt đời, tuyệt giao quan hệ, làm ra những chuyện khiến người khác phải sợ đấy.   Sống trên đời, nếu có thể nghĩ thoáng được thì thoáng ra một chút nhé, không chỉ cho người khác đường sống mà cũng để bản thân thoải mái hơn. Cứ ghi thù ghi hằn mãi cũng đâu phải chuyện tốt lành gì đúng không nào. Người hiền đức sẽ được ông trời báo đáp, không hiền lành dễ bắt nạt nhưng cũng đừng quá khắt khe thì cuộc sống sẽ ấm áp hơn rất nhiều đấy Bạch Dương, Sư Tử, Bảo Bình, Ma Kết ạ. Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần Gợi ý điểm du lịch lý tưởng cho 12 cung hoàng đạo 5 chòm sao ngốc nghếch, yêu cũng chậm như rùa
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh 4 chòm sao nhỏ nhen, có thù tất báo

Thay đổi phòng khách cho mùa hè thú vị hơn

Thay đổi một vài thứ để tạo nên sự thú vị trong phòng khách mà vẫn giữ được nét đẹp cùng sở thích cá nhân. Thử tham khảo những gợi ý dưới đây bạn nhé.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Tạo không gian thích hợp cho các hoạt động mùa hè

Nếu bạn sắp có những bữa tiệc cocktail sang trọng hoặc những đêm tiệc nhẹ nhàng tại gia thì nên tạo ra không gian phòng khách phù hợp nơi mà bạn cảm thấy thoải mái và thích ứng với các hoạt động sẽ diễn ra ở đó. Như thêm vào trong không gian các màu sắc hot nhất của mùa hè, tạo sự vui vẻ, trẻ trung như màu xanh ngọc, màu cam, màu hồng tím trên nền các phụ kiện màu trung tính khác.

 

 

2. Thêm vào phòng khách những đặc trưng của mùa hè nhiệt đới

Một chậu cây khoai nước hay cây ráy cảnh đem đến cho không gian phòng khách trầm tĩnh này sự trẻ trung, vẻ căng tràn nhựa sống. Thêm các phụ kiện khác thể hiện sự giản dị, mộc mạc, các chất liệu ưa chuộng vào hè như sợi gai, bình gốm, các đồ mây tre đan… Điểm màu hot của hè là màu vàng da cam trên bàn nâu gụ tạo nên cái nhìn ấn tượng rất tương xứng với chậu cây mang âm hưởng hè nhiệt đới.

 

 

3. Thêm màu sắc tươi vui

Trong không gian với nền màu trầm tĩnh, xanh nhẹ nhàng, màu be và trắng chủ nhà tạo điểm nhấn với một bộ sưu tập lớn các bức tranh trên tường, mặc cho gối dựa lưng có màu nổi bật như màu hồng san hô. Trên bàn cắm hoa cẩm tú cầu màu hồng đỏ loại hoa đại vô cùng rực rỡ. Điểm trên khay màu xanh pastel là những vật trang trí mang hương vị biển xanh như vỏ ốc, vỏ sò, sao biển.

 

 

4. Chia màu sắc thành cặp tạo nên sự tương phản thú vị

Một mẹo nhỏ khiến phòng khách đẹp hơn là tạo nên giới hạn nhờ sự tương phản. Đặt các màu sắc khác nhau của các phụ kiện theo đôi với nhau. Ví dụ tấm rèm cửa sổ cùng tông màu với thảm nhà, bình hoa cùng tông màu với sofa, những chiếc gối dựa lưng có hoa văn và màu sắc y như nhau, ghế và bàn giống nhau. Trong đó có 2 cặp màu tương phản nhau rõ nét là màu be và màu xanh nước biển. Cả không gian mang sự tươi trẻ, trong trẻo và thoáng đãng khi hè về.

 

 

5. Sử dụng những gì bạn có

Để tiết kiệm tiền trong thời buổi kinh tế khó khăn này, bạn nên tận dụng những gì mình có để trang trí phòng khách đẹp hơn. Như tận dụng những chiếc đĩa cũ dành cho bữa sáng để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật trang trí trên tường. Gối cũ trong phòng ngủ được thay vải bọc mới làm gối dựa trong phòng khách. Bình hoa tận dụng từ những bình cũ với lớp sơn mới có màu sắc bắt mắt. Ngoài ra, bạn nên mua sắm ở các cửa hàng cũ, cửa hàng tiết kiệm, đổi đồ cũ. Để phòng khách tươi sáng hơn bạn nên sử dụng các tông màu rực rỡ như màu hồng đậm, màu vàng chanh, xanh ngọc với các hoạt tiết như kẻ ô bàn cờ, họa tiết floral.

 

 

6. Mua nội thất nên nghĩ tới việc sử dụng chúng ở hai không gian trở nên

Để tận dụng được những đồ nội thất khi đã cũ, lúc mua bạn cần xác định các mục có thể sử dụng được ở nhiều nơi trong nhà của mình. Bàn ăn thấp bằng và dài có thể sử dụng cho một bữa ăn cuối tuần ở phòng ăn song cũng có thể trở thành một chiếc bàn tiếp khách trong phòng khách nếu bạn có những bữa tiệc đông người. Về màu sắc khi chọn nội thất này, nên chọn các màu trung tính hoặc trầm thì sẽ phù hợp với mọi không gian.

 

 

7. Lặp lại phong cách của đồ nội thất

Cho dù bạn chọn phong cách không đối xứng hoặc đối xứng khi sắp xếp đồ đạc trong phòng thì vẫn phải nhắc lại màu sắc hoặc hoa văn ở một số đồ đạc tạo nên một không gian hòa hợp, giàu thẩm mĩ. Ví dụ như màu vàng của bạn được nhắc lại ở khay đựng hoa quả, bình hoa, vải bọc gối. Họa tiết sóng lượn màu đen pha trắng được nhắc lại ở các gối dựa. Màu xanh đen của sofa được nhắc lại ở màu hoa của gối dựa. Tất cả tạo nên một căn phòng khách, nơi tiếp khách và trò chuyện của bạn thật sự hoàn hảo với gu thẩm mĩ rõ nét.

 

 

8. Không khí vui vẻ là trên hết

Bước vào phòng khách, một không gian tạo cho người ta cảm giác thân mật, vui vẻ sẽ giúp cho cuộc trò chuyện của khách và chủ nhà trở nên thoải mái, đạt hiệu quả cao trong cuộc sống cũng như trong công việc. Vì thế, hãy vui chơi trên các thiết kế của bạn. Bắt đầu bằng những điều mà bạn thích, đừng quá bó buộc trong những nguyên tắc thiết kế bất di bất dịch, miễn là mọi thứ trong thật tươi vui và trong lành, cảm giác thích thú lan trong tâm khảm bạn khi bạn ngồi nhâm nhi tách trà và ngắm nhìn thành quả trang trí căn phòng.

 

(Theo Eva)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thay đổi phòng khách cho mùa hè thú vị hơn

Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Một bài viết trình bày bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi rất hay! Vương Đình Chi là một bậc thầy tử vi!
Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vương Đình Chi phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung Phúc đức), đạo "xu cát tị hung", và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực Hậu thiên, để đưa ra lời giải.

Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế Tiên thiên (Thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một con người, còn có "Địa vận" và "Nhân vận".

"Địa vận" có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được.

Nhưng, "Nhân vận" thì không phải là như vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng từ Cha Mẹ, Thầy, bạn bè,.v.v... lúc lâm sự, sẽ có những phản ứng khác nhau. Đạo "xu Cát tị Hung" (theo cát tránh hung) thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc Hậu thiên, thường có thể thay đổi vận thế Tiên thiên. Đây chính là Tinh hoa của Tử vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.

Cho nên, người nghiên cứu phải tìm hiểu rõ tính chất "hợp Cục nhập Cách" này của Tử Vi Đẩu Số, lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị vận thế Tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội (Địa vận) và chủ chương hành động của con người (Nhân vận) thuộc Hậu thiên.

Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc Hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán, thấy một người năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được, nếu anh ta không nghe lời khuyên, thì nhất định sẽ gặp họa lao ngục?

Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép "theo cát tránh hung" là sự thực như sau:

Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư ký ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1996 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên cô ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm, mới phát hiện có tế bào ung thư ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985, thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa đích thực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN THIÊN BÀN

1- Lấy bối cảnh văn hóa xã hội làm nên tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến "cách" luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi nói: "Nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của Lưu niên, nếu như cung Tử tức của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, mà các sao của Lưu niên lại không tốt, chủ về sinh đẻ có nguy cơ". Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình Chi bị hố, ông xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không? Lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: "Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi", Vương Đình Chi nhíu mày, người phụ nữ nói thêm: "Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con". Thực sự, Ông không biết có phương pháp gây tê toàn thân để sinh con. Chiếu theo lý, "gây tê toàn thân" cũng là có vấn đề rồi, nhưng lúc sinh con người phụ nữ không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng. Đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này, lúc mới sinh ra được các Bác sỹ dùng kỹ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về Tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là tai nạn, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một vận mệnh, Hậu thiên có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển vận thế Tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là "túc mệnh luận", tức chẳng thể luận đoán ra chuyện "không thể thay đổi được". Bởi vì khuynh hướng Tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm Hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán "sinh con khó dưỡng" không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: "Tham lang Liêm trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm", nếu cứ y như sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng nhắc. Vương Đình Chi kể: ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo có địa vị khá, cung mệnh là hai sao "Tham lang Liêm trinh" tọa thủ, nếu nói phóng đãng, tính chất cũng chính xác, bởi vì người này "có máu" nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu.

Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ "phóng đãng" để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ, những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm "lãng tử", lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. Nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, đo đó biến thành không phải là "phóng đãng".

Năm xưa, Vương Đình Chi học Đẩu Số với thầy là Huệ Lão, Huệ Lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay, ông nói: "Theo kinh nghiệp luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mỹ". Đương nhiên thời cổ đại không có giải phẫu thẩm mỹ, vì vậy Huệ Lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu, mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa, Huệ lão rất tán dương hai vị Đẩu Số gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại. Một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyền, với bộ Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu, tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi, có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyền. Như Thái âm ở cung Tai Ách, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản. Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao.

Do đó có thể thấy, phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy mới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

2- Quan sát toàn diện 12 cung

Kỹ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm "tam phương tứ chính", sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau, tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt với một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán "tam phương tứ chính" của cung mệnh, cung Thiên Di, cung Tài bạch, cung Quan lộc một cách thái quá, mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lý chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rời vào luận đoán vụn vặt. Vương Đình Chi cho bết kinh nghiệm rằng, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lý giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

3- Các bước luận đoán mệnh bàn

Học Tử Vi Đẩu Số, thực ra chỉ cần nắm vững 3 điều:

3.1- Phương pháp an sao
3.2- Tính chất cơ bản của tinh hệ
3.3- Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để đoán vận trình.

Tiết này sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích để tạo hứng thú cho người mới học luận đoán, bởi vì rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

3.1- Trước tiên xem cung Phụ Mẫu, rồi xem cung Điền trạch

Từ cung Phụ Mẫu và cung Điền Trạch, có thể luận đoán xuất thân của đương số, và mức độ được hưởng sự che trở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh, mới có thể quyết định đương số thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp "tay trắng làm nên", hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung Phụ Mẫu và cung Điền trạch đều tốt, nhưng khi trong vận bàn lại hiện rõ vận trình "tay trắng làm nên", điều này chứng minh gia đình của đương số rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại cung Phụ mẫu và cung Điền trạch đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán đương số có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

3.2- Đồng thời quan sát cung Mệnh và cung Phúc đức

Thông thường sao hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Còn sự hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thể luận nhất định đương số có một gia đình tốt. Trái lại, nếu cung Mệnh tốt, còn cung Phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý hôn nhân của đương số có thể không như ý, hay có khả năng đương số chỉ dựa vào may mắn mà giầu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của đương số chẳng cao thượng, hoặc cảnh ngộ của đương số tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

3.3- Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ đương số hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung Phu Thê, nghi ngờ đương số mắc bệnh mãn tính khó khỏi thì cần phải kiểm tra cung Tai Ách, nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung Mệnh và cung Phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Xin đưa ra một ví dụ thực tế:

- Nữ mệnh, cung mệnh Thiên cơ Thái âm, trong đó Thiên cơ hóa Khoa, Thái âm hóa Lộc tại cung Thân
- Hội Thiên đồng hóa Quyền ở cung Tài bạch tại Thìn, là "Hóa Lộc Hóa Khoa Hóa Quyền hội", trong Đẩu Số là một kết cấu tốt.
- Cung Phúc có Cự môn hóa Kị, hội hợp với Phu thê gặp Hồng Loan, Hàm trì, đối cung lại gặp Thiên diêu (tức cung Tài)
- Kết cấu tinh hệ này, biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp tinh hệ ở cung Phu Thê.
- Thái dương Lộc tồn tọa thủ cung Phu ở Ngọ, chồng chẳng nghèo, nhưng hội Cự môn hóa Kị ở cung Phúc tại Tuất, xấu nhất còn hội hợp Thiên lương, Thiên hình, thêm sao Hỏa tinh ở đối cung (tức cung Quan ở Tý), tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng
- Nhưng không có duyên vợ chồng có mấy loại tính chất. Ví dụ như Phu và Thê không cùng chí hướng, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, chồng có tình nhân bên ngoài, chồng mắc nhiều bệnh,.v.v... Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn, thì không có cách nào giải quyết được, mà càn phải xem Đại vận và Lưu niên.

3.4- Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của Đại hạn và Lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán, và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chỉ cần xem xét mỗi một Đại hạn của cung Phu Thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25 - 34 tuổi, cung Tuất biến thành cung Mệnh của Đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung Phu Thê của Đại hạn.

Sao Lộc tồn của Đại hạn bay vào cung Phu Thê (tức lưu Lộc, bởi vì Lộc tồn của Đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có lưu Kình và lưu Đà của Đại vận giáp cung (gọi tắt là vận Kình vận Đà).

Cung Phu thê của nguyên cục có hiện tượng giáp Kình giáp Đà, thấy khéo trùng hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy tất phải có lý lẽ của nó. Vả lại, cung Phu thê của Đại vận còn hội hợp Thiên đồng hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong Đại hạn này vợ chồng tất có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi 1983, cung Phu thê của Lưu niên có vấn đề lớn. Cung Phu thê của Lưu niên ở cung Dậu, "Tử vi Tham lang" tọa thủ, nhưng Tham lang hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có lưu Kình của Đại hạn đồng cung. Sát diệu hội hợp Đà la của cung Tị, lưu Kình của cung Sửu, cho tới các sao Vũ khúc, Phá quân, Liêm trinh, Thất sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này, có tính chất là "không có niềm vui gia đình", xấu nhất tức là "lưu Kình của Lưu niên" xung động "lưu Kình của Đại hạn", đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ "Tử vi Tham lang".

Do đó luận đoán sơ bộ là: sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn một tháng thì phát hiện người chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung Tai Ách của người chồng, thì thấy "Thiên cơ Thái âm" tọa thủ, có Linh tinh Đà la đồng cung, hội hợp Thiên lương và Xăn xương hóa Kị, đồng thời "tam phương tứ chính" lại có các sao Hàm trì, Hồng loan, Đại hao, còn có thêm Âm sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm từ Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kỳ trước hôn nhân, người chồng này đã rất trác táng. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị người chồng gặp một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí. Kết quả đầu năm Ất Sửu 1985, đôi vợ chồng nọ tìm đến Vương Đình Chi để cám ơn đã cữu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

3.5- Kỹ thuật quan sát tình hình Cát Hung của các cung

Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kỹ thuật.

Dưới đây, tôi xin trình bầy các kỹ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo

- Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.

Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tả phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp chiếu, đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân - Tý, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tý chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tý là cung Ngọ để "mượn sao an cung", mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành cách: "tứ sát kèm sát", tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên dù có oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là "tinh diệu hỗ hiệp".

Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:

Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tý 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tý có tinh hệ "Thiên phủ Vũ khúc", Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiện đang ở Đại vận Quý Mão.

Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tý, cung mệnh ở Tý có "Thiên Phủ Vũ khúc", hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách là "Lộc Văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Ở đây cần chú ý "cung Mệnh của lưu niên" (cung Tý), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra "cung Phúc đức của lưu niên" của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung Mệnh và cung Phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).

Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là "đào hoa" tụ về cung Phúc đức.

Trong tình hình này, Vương Đình Chi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yêu đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến Vương Đình Chi.

Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc Văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc: "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".

"Sao đôi" xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Khi luận đoán Đẩu Số, một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là "Kiến tinh tầm ngẫu". Đây là kỹ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu, mà Vương Đình Chi được truyền thừa.

Gọi là "Kiến tinh tầm ngẫu" (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều cặp "sao đôi", khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi, thì sức mạnh được tăng cường. Về điều này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút.

Ví dụ cổ nhân đưa ra nguyên tắc: "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên phủ thì phải xem Thiên tướng), "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Thiên tướng thì phải xem Thiên phủ), bởi vì Thiên Phủ và Thiên Tướng là cặp "sao đôi". Nhưng cổ nhân thích giữ "bí mật", cho nên thường thường chỉ nói sơ qua mà thôi.

Liệt kê một số cặp "sao đôi" để tham khảo:

+ Chính diệu:
- Thiên phủ và Thiên tướng
- Thái Dương và Thái Âm
- Thiên Đồng và Thiên Lương
- Liêm Trinh và Tham Lang

+ Phụ diệu:
- Tử Phụ và Hữu Bật
- Thiên Khôi và Thiên Việt

+ Tá diệu:
- Văn Xương và Văn Khúc
- Lộc Tôn và Thiên Mã

+ Tạp diệu:
- Hồng Loan và Thiên Hỷ
- Hàm trì và Đạo hao
- Long Trì và Phượng Các
- Ân Quang và Thiên Quý
- Tam Thai và Bát Tọa
- Cô Thần và Quả Tú
- Thiên Khốc và Thiên Hư
- Thiên Phúc và Thiên Thọ
- Đài Phụ và Phong Cáo.

Nhưng, như thế nào mới gọi là "sao đôi" xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc dưới đây để định.

- Loại tình huống có sức mạnh nhất là "sao đôi đồng cung". Ví dụ như tình huống "Thái dương Thái âm" đồng cung tại Sửu, cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

- Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là "sao đôi chiếu nhau", ví dụ ở hai cung Thìn và Tuất, thì Thái dương và Thái âm chiếu vào nhau, sự phát huy sức mạnh lẫn nhau của chúng cũng không thể xem thường.

- Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp "Song phi hồ điệp thức", tức là "sao đôi" chia ra ở hai bên "hợp cung", ví dụ lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc, đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp "sao đôi" Khốc Hư lấy tư cách "song phi hồ điệp" hội hợp với cung Ngọ (là bản cung), đối với cung Ngọ phải chịu sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên khốc và Thiên hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp "Song phi hồ điệp thức".

- Cuối cùng là hội hợp "Thiên tà thức" (kiểu đối lệch). Ví dụ lấy cung Tý làm "bản cung", tương hội với Văn khúc ở cung Thân, và Văn xương ở đối cung (cung Ngọ), đối với cung Tý là "bản cung" mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện "sao đôi" kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện "sao đôi" theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung => Đối nhau.=> Tam hợp hội chiếu => Một ở tam hợp một ở đối cung hội chiếu => Các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên khốc và Thiên hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là "bí truyền". Cho nên dựa theo sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

"Tá cung an sao", "Tinh diệu hỗ thiệp", "Kiến tinh tầm ngẫu", là Vương Đình Chi được sư phụ bí truyền, đây là ba kỹ thuật trọng yếu, dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng không chịu tiết lộ những bí truyền này.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN ĐỊA BÀN

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu. Về cách an, toàn bộ giống như Thiên bàn, trong đó thì phép an sao Tử Vi có khác.

Tử vi của "Thiên bàn" là lấy thiên can của Năm sinh và ngũ hành Dần thủ, để tìm Nạp âm của cung mệnh, rồi lấy Nạp âm ngũ hành để tra Cục số, thì xác định được cung vị của Tử Vi.

Tử Vi của "Địa bàn" cũng vậy, ta lấy thiên can của Năm sinh, và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm ngũ hành nạp âm của cung Mệnh, mà là tìm ngũ hành Nạp âm của cung Thân. Do đó "Địa bàn" lấy cung Thân làm chủ. Sau đó tra được nạp âm của cung Thân, chiếu theo phương pháp của "Thiên bàn", căn cứ ngũ hành Cục số, để tìm cung vị Tử vi.

Sau khi đã biết "Địa bàn", ta rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất Tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy, ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội, nhưng họ lại có những hành vi nhỏ mọn rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh tại "Địa bàn" rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở "Thiên bàn" tiên thiên lại không cao quý cho lắm.

Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn, hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao, và hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao ở cung mệnh ở "Thiên bàn" phần nhiều là sao xấu, nhưng ở "Địa bàn" lại có nhiều sao rất tốt cung hội chiếu.

Các sao của "Địa bàn" cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vương hay tử mộ, để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, người sinh giờ Tị, ngày 17 tháng 5, năm Quý Sửu, Vương Đình chi tôi chú giải như sau: (sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú )

Lục tiên sinh chủ trương dùng "Địa bàn" để tìm "căn nguyên tiên thiên". Đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời. Nhưng dùng "Địa bàn" để tính "giao thế thời" thì Lục tiên sinh hoàn toàn không có nhắc đến.

Theo Vương Đình Chi, thì mỗi giờ sinh của một người có thể chia thành "tam bàn" Thiên - Địa - Nhân. Điều này, cần phải căn cứ vào Tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong "giao thế thời".

Liên quan đến phương pháp an sao ở "Địa bàn" và "Nhân bàn", điều mà xưa nay vẫn được coi là "bí truyền", thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên, cứ theo phương pháp an sao của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là "Thiên bàn", rồi lấy cung Thân của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, dùng can chi của cung Thân để định Cục và Ngũ hành, an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một bàn khác, gọi là "Địa bàn".

Nếu không dùng cung Thân, thì lấy cung Phúc Đức của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, rồi dùng can chi của cung Phúc Đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là "Nhân bàn", nói một cách chính xác thì đây là "nhân bàn của địa bàn".

Nếu cung Mệnh và cung Thân đồng cung, thì "Thiên bàn" và "Địa bàn" hoàn toàn giống nhau. Nếu cung Thân và cung Phúc đức đồng cung, thì "địa bàn" và "nhân bàn của địa bàn" hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, "Thiên bàn" - "Địa bàn" - "Nhân bàn", chỉ có cung Mệnh là khác cung độ, trong đó 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN NHÂN BÀN

1- Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu

Nguyên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung "Thiên bàn", thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hương Tiên thiên). Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc Năm hạn nào cũng tốt ; người có cách cục xấu, chưa chắc Năm hạn nào cung xấu. Do đó cần phải mang tinh bàn "phi động" ra để nghiên cứu tỷ mỉ, xem vận thế của Mệnh tạo trong mỗi một Năm hạn. Đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. (Thuyết "phi động" người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi).

Đẩu số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một Đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung Mệnh đại hạn 10 năm. Rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của Đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ), bày lần lượt 11 cung còn lại, mà không cần chú ý đến tên gọi gốc của "Thiên bàn".

Giả thiết mệnh tạo là Dương nam, thuộc mộc tam cục, Mệnh lập tại Dần, xét Đại hạn Mậu Thìn 23 - 32 tuổi, cung mệnh của Đại hạn ở cung Mậu Thìn, tức là cung Phúc đức của Thiên bàn tại Thìn, thế là từ cung Mậu Thìn, bầy bố theo chiều nghịch

- Cung Đinh Mão là cung Huynh đệ của Đại hạn
- Cung Bính Dần là cung Phu thê của Đại hạn
- Cung Ất Sửu là cung Tử Tức của Đại hạn
...v.v...
- Cho đến cung Kỷ Tị là cung Phụ Mẫu của Đại hạn

Tới đây, có thể căn cứ vào tổ hợp sao của các cung, tham khảo những điều đã luận thuật ở chương trước để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn 23 - 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.

Tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là "Thiên bàn", hoặc Địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của Đại hạn, còn phải thêm vào các "Lưu diệu" thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu có mấy loại như dưới đây:

1)- Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Hóa Lộc, lưu Hóa Quyền, lưu Hóa Khoa, lưu Hóa Kị, lưu Lộc (lộc tồn), lưu Dương (kình dương), lưu Đà (đà la), lưu Khôi (thiên khôi), lưu Việt (thiên việt), lưu Xương (xăn xương), lưu Khúc (văn khúc)

2)- Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Mã (thiên mã)

Theo ví dụ trên:
- Cung mệnh của Đại hạn từ 23 - 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên can Mậu là can của cung mệnh Đại hạn
- Vì vậy trong Đại hạn này, căn cứ vào can Mậu, thì lưu hóa Lộc là Tham Lang, lưu hóa Quyền là Thái Âm, lưu hóa Khoa là Thái Dương (??? kiểm), lưu hóa Kị là Thiên Cơ, lưu Lộc ở cung Tị, lưu Dương ở cung Ngọ, lưu Đà ở cung Thìn.
- Lại vì Thìn là chi của cung mệnh Đại hạn, cho nên lưu Mã ở cung Dần.

Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất nên điền các "lưu diệu" vào một tinh bàn mới (Nhân bàn), còn đối với người đã thuộc phương pháp an sao, thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái thì biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán "Lưu niên", "Lưu nguyệt", "Lưu nhật", giả dụ như điền hết các Lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng đế sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng phương pháp an sao là rất quan trọng. Nếu không thì nên lập nhiều tinh bàn - tức là nhân bàn của từng thứ loại.

Khi luận đoán Lưu niên - Lưu nguyệt - Lưu nhật, thì có một nguyên tắc cần phải biết như sau:

1) Phàm có các Lưu diệu thì lấy Lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng (xin nhắc lại là nếu không xung thì không sinh ra tác dụng). Ví dụ như, tinh bàn gốc có Lộc tồn ở cung Tị, lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở phương vị tam phương tứ chính. Hay như Kinh dương gốc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Dậu, còn Đà là gốc ở cung Thìn, lưu Đà ở cung Mùi, cung không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình dương, Đà la, Lộc tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của Đại hạn, nhưng tác dụng không lớn. Trái lại, lưu Lộc, lưu Dương, lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

2)- Nếu các sao ở trong tin bàn gốc, xung hội với "Lưu diệu" ở tam phương tứ chính, thì sác mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Ví dụ như Lộc tồn nguyên cục ở tại cung Tị, lưu Lộc ở cung Hợi, nguyên cục "Lộc" và "Lưu Lộc" hai bên đối xứng. Hoặc như Kình dương ở cung Ngọ mà lưu Dương ở cung Tí, Đà la ở cung Thìn mà lưu Đà ở cung Tuất, như vậy nguyên cục và Lưu hai bên cũng đối xứng, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của Đại hạn, toàn bộ 6 sao trong đó 3 sao của nguyên cục và 3 sao "lưu" đều có tác dụng.

3)- Các sao xung động với "lưu diệu" thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất ; trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó ; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.

4)- Khi luận đoán Đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với "lưu diệu" của Đại hạn.

Lúc luận đoán Lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của Đại hạn với lưu diệu của lưu niên. Các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ trường hợp có hai "lưu diệu" đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Theo như ví dụ trên, lúc luận đoán Lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc ở cung Tị, không có Lộc Tồn của Đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của Lưu niên hội chiếu. Nên khi luận đoán Lưu niên, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Nhưng Kình dương, Đà là, Lộc tồn của đại hạn thì có Kình dương, Đà la, Lộc tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung đột, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán Lưu niên, chỉ cần xem xét Kình dương, Đà la, Lộc tồn của Đại hạn và Lưu niên.

Như tình huống ví dụ đã nói trên, Lộc tồn gốc tại cung Tị, Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, theo đó Lộc tồn gốc tuy không hội chiếu với Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, nhưng xung hội với Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc tồn của Đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc tồn gốc tại cung Tị, thì sao Lộc Tồn này, do đồng thời có lưu Lộc của Đại hạn ở Dậu và lưu Lộc của Lưu niên ở Hợi, tam phương hiệp trợ, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.

Lúc luận đoán Lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của Lưu nguyệt và lưu diệu của Lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của Đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh, các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (Thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Lúc luận đoán Lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường lưu diệu của Đại hạn, và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý gì thêm.

Các nguyên tắc kể trên rất quan trọng, khi luận đoán Đại hạn, Lưu niên, Lưu nguyệt, Lưu nhật, không được xem thường. Nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào luận đoán. Nhất là khi luận đoán Lưu nhật, trong tinh bàn đầy dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng Cát Hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ, thì sẽ không biết định tính chất Cát Hung của các sao hội hợp như thế nào.

2)- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên

Sau khi biết rõ các nguyên tắc thuật ở trên, và đã tìm hiểu về "tinh bàn phi động", cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất ta nên bắt đầu từ Đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.

Để tiện cho việc thuyết minh, tốt nhất tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế:

Mệnh bàn của một phụ nữ, âm nữ, kim tứ cục, mệnh chủ Văn khúc, Thân chủ Thiên đồng, mệnh lập tại cung Ất Mùi vô chính diệu gặp Tuần Không.

Điều đáng chú ý là cung Phu ở Tị có Thiên cơ, Hữu bật, Thiên mã đồng độ, hội tinh hệ Thiên đồng, Cự môn hóa Lộc ở cung Tân Sửu (Di), Thái âm ở cung Kỷ Hợi, cung Đinh Dậu vô chính diệu (Phúc), vì vậy mượn Thiên lương, và Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt, Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giầu sang.

Nhưng Thiên cơ ở cung Phu vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên mã đồng độ, tính chất hiếu động trôi nổi càng tăng. Cung Phu không ưa Tả phụ Hữu bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung Phu. Ngoài ra, Thái dương và Thiên lương, Thiên đồng và Cự môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung Phu, cho nên cung Phu trong mệnh bàn có thể nói là cát - hung lẫn lộn. Cát hay Hung thì ảnh hưởng của Đại vận là tất lớn.

Lúc vào Đại hạn Bính Thân từ 14 - 23 tuổi, cung Phu ở cung Giáp Ngọ, thấy Tử vi xung chiếu Tham lang ở Tý, gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn xương hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liêm trinh hóa Kị của Đại hạn ở đồng cung ; sao Văn xương là sao lễ nhạc, Liêm trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời ký tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình dương và Linh tinh ở cung Mậu Tuất lại xung khởi lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.

Đến đại hạn Đinh Dậu từ 24 - 33 tuổi, cung Phu của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên đồng và Cự môn ở đối cung để "nhập cung an sao" cho cung Mùi. Trong đại hạn Đinh Dậu thì Cự môn hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ "Kị xung Lộc", đồng thời có Thái âm hóa Lộc ở cung Kỷ Hợi, Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão hội chiếu. "Âm Dương Lộc Quyền" hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn, nhưng có lưu Dương của đại hạn ở cung Ất Mùi và Cự môn hóa Kị cùng thủ cung Phu của đại hạn, nên đã ngầm phục nguy cơ; thêm vào đó "Thái dương Thiên lương" có Thiên nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Kỷ Hợi lại có Địa kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.

Năm Mậu Ngọ 1978, cung Mệnh của lưu niên và cung Phu của lưu niên cùng hội hợp Tham lang hóa Lộc ở cung Canh Tý, lại thêm các sao "đào hoa" đồng độ, vì vậy chủ về "thành hôn mà không có nghi lễ chính thức". Tốt nhất ta xem tình huống cung Phu của lưu niên (cung Nhâm Thìn) có lưu Đà đồng độ, xung hội với Đà là của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.

Cho nên sau khi kết hôn năm Kỷ Mùi 1979, vào năm Quý Hợi 1983 cung Phu của lưu niên mượn tổ hợp "thái dương Thiên lương" và Thiên nguyệt ở cung Tân Mão, để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu, bị Kình dương của lưu niên ở cung Tân Sửu hội chiếu, dẫn động lưu Đà của đại hạn ở cung Quý Tị, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là do chồng sử dụng ma túy (bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh).

Lại xem cung Phúc (Kỷ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn hội chiếu, ở tinh bàn gốc lại có Địa không, Địa kiếp (Kỷ Hợi), thêm vào đó lại xung chiếu Thiên cơ, Thiên mã, Hữu bật từ cung Quý Tị, cho tới mượn phép "an sao nhập cung" của cung Tân Sửu là tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" cho cung Ất Mùi, và "Thái dương Thiên lương", đều là nhóm sao chủ về điều tiếng thị phi.

Còn trùng hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất bối rối khó xử.

Năm Giáp Tý 1984, "Vũ khúc Thiên tướng" ở cung Phúc (Canh Dần) bị Thái dương hóa Kị ở cung Tân Mão và Kình dương của lưu niên, cùng với Cự môn hóa Kị ở cung Tân Sửu và Đà la của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng "Hình Kị giáp ấn", "song Kị giáp", "Dương Đà giáp", mà còn là cách xấu "Linh Xương Đà Vũ". Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc tồn của đại hạn ở cung Giáp Ngọ, nên không chết.

Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhật định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.

Bây giờ ta xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Nữ mệnh, âm nữ, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa linh, mệnh nguyên cục ở cung Giáp Tý có Tham lang tọa thủ. Trong mệnh bàn, cung vị xấu nhất là cung Đinh Tị (tức cung Nô), cung vị này có Kình dương và Đà la giáp cung, trong cung có Thiên cơ hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách xấu "Kình Đà giáp Kị", mà Thiên cơ lại có Hỏa tinh đồng độ, cũng đồng dạng bị Kình Đà giáp cung, tính cứng rắn hình khắc, cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.

Có 3 cung vị bị cung Đinh Tị gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu, trong đó có cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh tinh của cung Ất Sửu, tức là bị 2 sao Hỏa tinh và Linh tinh cùng chiếu xạ theo kiểu "song phi hồ điệp"

Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 - 43 tuổi (Tử nữ). Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra "tam phương ức hiếp" mà nó bị ảnh hưởng, tức là vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.

Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần  tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Ta có thể lưu ý cung Bính Thìn (quan lộc), trong cung nguyên cục có Thất sát và Đà la tọa thủ ; lúc vào đại hạn Tân Dậu thì Đà là của nguyên cục tương xung với lưu Đà của đại hạn của cung Canh Thân (Tài bạch), do đó tính cứng rắn hình khắc được phát động, hơn nữa còn đối diện với lưu Dương của đại hạn ở cung Nhâm Tuất, tính cứng rắn hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung Tai Ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung Tai Ách hay không.

Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.

Đến đây, ta quay trở lại cung Đinh Tị (cung Nô) của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình đồng độ, lại có lưu Dương của đại hạn và lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình dương và Đà la của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ khúc hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất của đại hạn, tiếp theo là tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.

Rồi ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung Tai Ách, là năm bị Văn xương lưu Hóa Kị của cung Kỷ Mùi, và Thiên cơ hóa Kị của cung Đinh Tị hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung Tai Ách của lưu niên, có Tử vi và Kình dương đồng độ, Kình dương này bị Kình dương của đại hạn xung động, hội hợp với "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham lang hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa kiếp của cung Giáp Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao

Sau đây ta tiếp tục phân tích một tinh bàn của nam mệnh làm ví dụ. Dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa tinh.

Mệnh bàn nguyên cục:

- Cung mệnh lập tại cung Quý Hợi, có Thiên cơ (Hóa Kị) Hỏa tinh, Thiên tài, Thiên nguyệt, Lâm quan tọa thủ.
- Phụ mẫu lập tại cung Giáp Tý, có Tử vi ngộ Tiệt không, Vượng
- Phúc đức lập tại cung Ất Sửu, có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên không, Tiệt không, Suy
- Điền trạch lập tại cung Giáp Dần, có Phá quân, Thiên mã, Địa không, Cô thần, Nguyệt giải, Thiên vu, Âm sát, Bệnh
- Sự nghiệp lập tại cung Ất Mão, vô chính diệu, có Thiên quan, Thiên phúc, Hồng loan, Thiên hình, Tử.
- Giao hữu lập tại cung Bính Thìn, có Thiên phủ, Liêm trinh, Đà la, Hữu bật, Hoa cái, Mộ.
- Thiên di lập tại cung Đinh Tị, có Thái âm, Lộc tồn, Thiên thọ, Kiếp sát, Phá toái, Nguyệt đức, Tuyệt
- Tật Ách lập tại cung Mậu Ngọ, có sao Tham lang (Hóa Lộc) Kình dương, Bát tọa, Tuần không, Thiên khốc, Thiên hư, Thai
- Tài bạch lập tại cung Kỷ Mùi, có Thiên đồng, Cự môn, Linh tinh, Thiên việt, Tam thai, Long đức, Dưỡng
- Tử tức lập tại cung Canh Thân, có Vũ khúc, Thiên tướng, Địa kiếp, Tam thai, Phỉ liêm, Trường sinh
- Phu thê lập tại cung Tân Dậu, có Thái dương, (Khoa) Thiên lương, Thiên hỉ, Hàm trì, Thiên đức, Mộc dục.
- Huynh đệ lập tại cung Nhâm Tuất, có Thất sát, Tả phụ, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Quả tú, Giải thần, Quan đới.

Mệnh bàn này, điều khiến ta chú ý nhất là cung Mệnh có Thiên cơ hóa Kị đồng độ với Hỏa tinh, nhưng cung Di (Đinh Tị) lại là Thái âm hóa Quyền đồng độ với Lộc tồn, vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.

Nhưng Thái âm lạc hãm, hội Thái dương hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị tinh hệ "Thái dương Thiên lương" ở Dậu và Thiên cơ ở Hợi xung chiếu, cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn "Thiên đồng Cự môn", Linh tinh, Thiên việt của cung Mùi để "an sao nhập cung" cho cung Sửu. Vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa, tuy có thể phát tài, nhưng điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.

Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi vào đại hạn Giáp Dần, cung Di của đại hạn này là cung Canh Thân có Vũ khúc hóa Khoa, cung mệnh của đại hạn này là cung Giáp Dần có Thiên mã có lưu Lộc tồn của đại hạn, thành cách "Lộc Mã giao trì", lưu Lộc còn xung động Tham lang hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.

Nhưng cũng trong đại hạn này, cung Phụ mẫu của đại hạn (cung Ất Mão) vô chính diệu, phải mượn thái dương hóa Kị (vốn là hóa Khoa) và Thiên lương để theo phép "an sao nhập cung" cho cung Phụ mẫu, dẫn đến tình hình có lưu Dương và Thiên hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.

Năm Canh Thân 1980 cung mệnh của lưu niên này có Vũ khúc (đại hạn thì hóa Khoa, lưu niên thì hóa Quyền), có Thiên tướng và Lộc tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung Di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng "Lộc Mã giao trì", vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.

Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh lưu niên tới cung Tân Dậu có Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên lương, hội hợp Văn khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên đồng và Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái âm hóa Quyền và Lộc tồn của tinh bàn gốc. Ta nên chú ý cung Dậu, có lưu Dương lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên hình từ cung Mão và Kiếp sát từ cung Tị đến hội. Cho nên năm đó (1981), tuy có Lộc tồn của lưu niên xung khởi Lộc tồn của tinh bàn gốc, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.

Đến năm Ất Sửu, cung mệnh lưu niên là cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên đồng Cự môn" và Linh tinh, Thiên việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà la của đại hạn đồng độ, rồi lại hội hợp với Thái âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.

Tương lai đến năm Đinh Mão, cung mệnh lưu niên là cung Mão, vẫn là cung vô chính diệu, lại mượn Thái dương hóa Kị từ cung Dậu là đối cung, để "an sao nhập cung" cho cung Mão, lại hội hợp với Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên cơ hóa Kị, mà còn kèm theo Đà la của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa tinh, Linh tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên hình, Đại hao, Thiên nguyệt, nên cẩn thận, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.

Ghi chú về phép định Tiểu hạn

Tiểu hạn là chủ về Cát - Hung của một năm. Do phái Trung Châu không dùng Tiểu hạn, mà chỉ dùng Lưu niên để luận đoán, nên Tôi không trình bày phép định Tiểu hạn trong chương này.

3)- Cách luận đoán Lưu nguyệt

Dùng Đẩu Số để luận đoán Lộc Mệnh, không nên thường xuyên luận đoán cát - hung của lưu Nguyệt, bởi vì quá tỉ mỉ, bất kể cát hay hung cũng đều sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của mệnh tạo. Nhưng cũng có một số tình huống, thí dụ như năm đó dễ xảy ra tai nạn giao thông, thì tốt nhất là luận đoán lưu Nguyệt để trợ giúp thêm, xem vào tháng nào có hung hiểm để cố tránh đi xa bằng xe cộ. Bởi vì trên thực tế khó mà hoàn toàn không đi xa trong vòng một năm, cho nên luận đoán lưu Nguyệt để bổ trợ.

Đơn cử một ví dụ:
Mệnh tạo bị tai nạn giao thông, vì vậy mà gãy xương, Vương Đình Chi tôi căn cứ vào mệnh bàn để truy tìm điềm báo của sự cố: Âm nữ, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Cự môn, Thân chủ Thiên cơ. Mệnh lập tại cung Ngọ, có Cự môn (hóa Kị), Lộc tồn tọa thủ.

Vào tháng 5 năm Ất Mão 1975, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thân, có "Thiên đồng Thiên lương" đồng độ, có Địa không và Địa kiếp đối củng, hội hợp Thiên cơ, Hỏa tinh ở cung Nhâm Tý (vốn là hóa Khoa, đại vận thì hóa Kị), với Thái âm (hóa Lộc) Thiên hình đồng độ ở cung Giáp Thìn.

Cung Di của lưu niên ở Giáp Dần vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để "an sao nhập cung", biến thành Địa không và Địa kiếp đồng cung (cung Dần) hội hợp với Cự môn hóa Kị (còn gọi là "Kình Đà giáp Kị"), còn hội hợp với Thái dương lạc hãm ở cung Canh Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi 1971 và năm Quý Sửu 1973 đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (bạn đọc thử luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão 1975, cung mệnh của lưu niên ở cung Ất Mão, trùng hợp với tình hình Kình dương của lưu niên và Đà la của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải "giáp Kị", nhưng do Thiên phủ ở cung Mão không hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô tính diệu, nên mượn "Liêm trinh Tham lang" của cung Tị để an sao, hai sao lại bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn giáp cung. Ngoài ra, ở đối cung là cung Dậu có "Vũ khúc Thất sát", cung Mùi là Thiên tướng của "Hình Kị giáp ấn".

Điều xấu nhất là, cung Tai Ách của lưu Niên bay đến cung Tuất có Thái dương lạc hãm ở đây, tương chiếu Thái âm (vốn gốc hóa Lộc, lưu Niên thì hóa Kị), Đà la của đại hạn, Kình dương của lưu Niên và Thiên hình; hội hợp với "Thiên đồng Thiên lương", Đà la của lưu niên ở cung Dần, và hội hợp với Cự môn hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên cơ hóa Kị của đại hạn) và lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát - kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu Nguyệt.

Năm Mão, Đẩu Quân tại cung Hợi, tức tháng Giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng Năm thì cung mệnh của lưu Nguyệt đến cung Mão, tức là trùng với cung mệnh của lưu Niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng Giêng), tháng Năm thì can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung Di có Vũ khúc Hóa Kị (cung Dậu), cung mệnh của lưu Nguyệt lại có Kình Đà của lưu Niên giáp cung, hơn nữa Kình Đà của lưu Nguyệt còn xung khởi Đà la Kình dương của lưu Niên, xung khởi Đà la Kình dương của đại hạn, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung Tai Ách của lưu Nguyệt ở cung Tuất. Cung Tuất còn bị Đà la của lưu Nguyệt đối nhau với Thiên hình ở cung Thìn, còn bị Thái âm hóa Kị từ cung Thìn vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng 5 mà xuất hành sẽ có hung hiểm.

Vũ khúc hóa Kị và Thất sát đồng độ ở cung Di (Dậu) đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc Kim.

Từ ví dụ này có thể biết, muốn luận đoán lưu Nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu Niên, tiếp sau đó rồi tìm lưu Nguyệt, thì mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu Nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc "xu cát tị hung". Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Thêm một ví dụ về Cách luận đoán lưu nguyệt

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất 1982, dương nữ, Thổ ngũ cục, Mệnh chủ Lộc tồn, Thân chủ Văn xương.

- Mệnh lập tại cung Kỷ Dậu, có Vũ khúc (khóa Kị), Thất sát

- Năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng: có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sỹ chuyên khoa kiểm tra thật kỹ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may mà chưa ác hóa, có hy vọng trị khỏi.

- Cung Tai Ách mệnh bàn này là Thái âm tọa thủ tại cung Giáp Thìn, nhưng có tứ sát Linh tinh, Kình dương ở Điền trạch cư Tý tam phương ức hiếp, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung Tai Ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiện thị bệnh tật khi còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

- Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu Niên Nhâm Tuất Vũ khúc hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

- Hạn 2 tuổi của bé gái ở cung Tài bạch tại cung Ất Tị, là năm Quý Hợi, gặp Kình Đà của lưu Niên của tam phương hội chiếu tiểu hạn tại cung Ất Tị, trong cung Tị lại có Tham lang hóa thành sao Kị, còn hội hợp với tạp diệu Thiên hình ở Sửu, Kiếp sát, Đại hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

- Hạn 3 tuổi ở cung Tai ách tại Thìn, lưu Niên là năm Giáp Tý, trong hạn Thái âm tọa thủ mà có Thái dương hóa Kị tại Tuất vậy chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên lương và Hoa cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Đà của thiên bàn chưa bị Kình Đà của lưu Niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

- Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên thọ vây chiếu nên không có tai biến gì. Mệnh này rất khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến Tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền hành, nên đại hạn lúc 3 tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban

Phụ lục: phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con

Cách tính tuổi để khởi Đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho tới khi vào vận có một khoảng trống, phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ xung.

Tính hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi 3 cung. Các cung tính hạn từ khi sinh ra cho tới khi vào đại hạn như sau:

- Một tuổi ở cung Mệnh
- Hai tuổi ở cung Tài bạch
- Ba tuổi ở cung Tật ách
- Bốn tuổi ở cung Phu thê
- Năm tuổi ở cung Phúc đức
- Sáu tuổi ở cung Sự nghiệp (quan lộc)

Khi xem tính hạn cho trẻ con, chỉ xem "tam phương tứ chính" của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung Mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh xung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính hạn cho trẻ con.

4)- Cách luận đoán lưu nhật

Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán "tử kỳ" cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.

Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm "can chi" ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.

Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân,.v.v...

Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tý đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Ví dụ như lưu Nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can Tân để tra lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tý, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:

- Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.
- Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ
- Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ
- Phúc đức tại cung Canh Tý, có Tham lang, Văn khúc
- Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.
- Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì
- Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không
- Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư
- Tật ách tại cung Quý Tị, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan
- Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương
- Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp
- Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc
- Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt.

Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội.

Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tý và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của Tai ách là gì? Do Vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tai ách của lưu niên.

Cung Tai ách của lưu niên ở cung Quý Tị, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương Đà la đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với "Thái dương Thiên lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, tam phương ứng hiếp, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu Nguyệt.

Tháng Nhâm Dần thì Vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với lưu niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với lưu niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên, tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng [ví lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tý, cung mệnh của lưu Nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên Vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cung Tai ách của lưu nhật, là cung Sửu có "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.

5)- Cách luận đoán lưu thời

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.

Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tý ở cung Tý, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu,.v.v... đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ Thử độn như sau:

- Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý
- Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý
- Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý
- Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý
- Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tý

Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tý khởi giờ Canh Tý, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Đàn ông Nhân Mã - những quý ông hào hiệp

Nhân Mã là chòm sao thuộc nhóm Lửa, có tinh thần và không khí lễ hội trong mình.
Đàn ông Nhân Mã - những quý ông hào hiệp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhân Mã là chòm sao thuộc nhóm Lửa, có tinh thần và không khí lễ hội trong mình.

Dan ong Nhan Ma - nhung quy ong hao hiep hinh anh
 
Đàn ông Nhân Mã có định hướng toàn cầu, thích nhìn thế giới theo một cách tích cực, kiến thức uyên bác và tinh thần rộng mở. Nhân Mã thích bày tỏ ý kiến của mình về các chủ đề cuộc sống. Đó là người duy tâm, cởi mở, nhiệt tình, hào phóng, lạc quan và sở hữu những cảm giác hài hước, nhưng mặt khác, Nhân Mã có thể phô trương, lớn đầu, tán gẫu, phóng đại, bốc đồng, bất cẩn, kiêu ngạo, thiếu kỹ năng và không khéo léo. Thật ngạc nhiên là tất cả cùng tồn tại trong một con người.
 
Cách cư xử hào hoa của Nhân Mã không khiến cho anh ta hạn chế mình trong bất kỳ cách nào. Đó là lý do tại sao Mã Mã thường thiếu sự khiêm tốn và từ bỏ. Họ sẵn sàng làm mọi điều họ thích theo cách họ muốn, không sợ gièm pha, không ngại thất bại, đôi khi quá viển vông hay phô trương, nhưng thực sự rất thú vị.
 
Nhân Mã là một nhà thám hiểm và là người tìm chân lý. Mong muốn tự do khiến anh ta không chấp nhận bất kỳ hạn chế được đưa ra bởi thực tế. Anh sống trong một cuộc nổi dậy liên tục chống lại các luật lệ, sự bó buộc, sự nhàm chán. Quảng đại và liên tục bùng dẫn Nhân Mã đến những hành động lớn và dũng cảm. 

Chàng trai Nhân Mã là một quý ông hào phóng vì được đặc trưng bằng những cử chỉ từ thiện và cao quý. Họ thường xuyên ban phát lòng tốt một cách rộng rãi, chi tiêu phóng khoáng và giúp đỡ người khác bất kể lúc nào.
 
Một nơi nào đó bên trong Nhân Mã là người tôn sùng tôn giáo, người biết rằng có một ý nghĩa cao hơn trong tất cả mọi thứ đã được tạo ra. Nhiệm vụ của anh là tìm và chia sẻ nó nhiều hơn nữa. Một số người thuộc cung Nhân Mã là trí thức trong lĩnh vực triết lý hay hành hương tôn giáo, những người khác thì trở thành những nhà lữ hành với những chuyến đi dài tới những vùng đất xa xôi tìm kiếm kiến thức.

Đàn ông cung Nhân Mã luôn bị thu hút tới những chân trời mới, kết nối với không gian không hạn chế. Họ cảm thấy niềm vui trong những chuyến đi, kết nối và truyền cảm hứng với những người khác. Người sinh ra dưới dấu chỉ của Nhân Mã cảm nhận thế giới thông qua quá đó. 

► Cùng bói cung hoàng đạo để tìm những điều thú vị về bạn

Trần Hồng (Theo Zodioscope)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đàn ông Nhân Mã - những quý ông hào hiệp

Có nên trồng liễu trước cửa nhà?

Liễu là loại cây đẹp với bóng dáng mềm mại và màu xanh dịu mát. Nó thường được trồng nhiều ở ven hồ, trong các công viên tạo vẻ đẹp thơ mộng. Vậy cây liễu có thích hợp khi trồng trước cửa nhà?
Có nên trồng liễu trước cửa nhà?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xét về quan điểm hình thế, phần trước của ngôi nhà (minh đường) luôn cần sự quang đãng, sáng sủa, tránh bị che chắn làm giảm tầm nhìn, ngăn cản sự lưu thông của sinh khí vào đại môn (cửa chính).
Cây lá lòa xòa trước nhà, theo phong thủy như vậy tức là Mộc khắc Thổ. Nếu cây to sẽ có rễ lớn ăn vào đất ảnh hưởng đến nền nhà, đi lại dễ bị va vấp. Loại cây nhiều lá thì lá rụng đầy sân, bóng râm che khuất khiến nhà thiếu ánh sáng mặt trời. Như vậy, gia chủ gặp nhiều điều bất lợi.
Cây liễu được trồng nhiều bên bờ hồ nhưng khi trồng vào khuôn viên nhà với diện tích đất nhỏ, không đủ độ thoáng, thiếu mặt nước rộng tạo độ ẩm để cây phát triển tốt... thì từ liễu rủ nó sẽ dễ trở thành lòa xòa, rũ rượi không đẹp mắt.
Đa phần nhà ở truyền thống của cha ông ta đều quay về hướng Nam hoặc Đông Nam là hướng gió chủ đạo. Cây có nhiều lá trồng trước nhà sẽ cản trở gió lành. Vì thế trước nhà chỉ nên trồng cây kiểng hoặc cây mảnh, dáng cao, lá sáng (cau, dừa cảnh). Sau nhà là những cây lá dày rậm (như chuối, bàng…) để che bớt gió lạnh phương Bắc và Đông Bắc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có nên trồng liễu trước cửa nhà?

Chùa Lý Quốc Sư - Hà Nội

Chùa Lý Quốc Sư nằm ở số 50 phố Lý Quốc Sư, Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội. Chùa được trụ trì bởi Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm.
Chùa Lý Quốc Sư - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Lý Quốc Sư nằm ở số 50 phố Lý Quốc Sư, Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội. Chùa được trụ trì bởi Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm. Tư liệu lịch sử ghi chép, hiện nay thì chùa trước kia gọi là đền, thuộc thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, kinh thành Thăng Long. Chùa được lập vào năm 1131 và mang tên Lý Triều Quốc Sư là tên của Thiền sư Minh Không (1066 – 1141).

Vào đời Lý, ba Thiền sư có pháp thuật cao cường là Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không. Thiền sư Minh Không thuộc phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci). Năm 1138, Thiền sư đã chữa khỏi bệnh điên hóa hổ của vua Lý Thần Tông nên được phong là Quốc sư.

Chùa đã được trùng tu nhiều lần, đặc biệt là năm 1674 và 1855 mà di tích là những pho tượng thờ còn ở chùa. Năm 1946, chùa bị hư hỏng nặng. Đến năm 1954, Hòa thượng Thích Thanh Định về trụ trì đã tổ chức xây dựng lại ngôi chùa.

Từ năm 1992 đến nay, Thượng tọa trụ trì Thích Bảo Nghiêm đã nhiều lần tổ chức trùng tu ngôi chùa. Ngày 05-6-2000, Thượng tọa đã cho khởi công trùng tu ngôi đại hùng bảo điện thanh thoáng, trang nghiêm. Thượng tọa trụ trì đương nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương, Trưởng Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hà Nội.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. các tượng thờ được đặt ở hai gian nhà. Tượng đức Phật A Di Đà được tôn trí ở chính giữa gian trước. Hai bên đặt thờ tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí. Phía trước là các tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Quan Âm tọa sơn, Bồ tát đản sinh (tòa Cửu Long) và Nam Tào, Bắc Đẩu.

chùa lý quốc sư
Nét kiến trúc trạm trổ của chùa

Gian nhà sau, chính giữa là điện thờ Thiền sư Minh Không. Phía sau tôn trí tượng Tam Thế Phật. Đặc biệt ở đây có thờ các tượng Thiền sư Giác Hải, Thiền sư Từ Đạo Hạnh và tượng thân phụ, thân mẫu của Quốc sư Minh Không, được đắp nổi trên bia đá vào năm 1674; tượng gia đình quan huyện Thọ Xương được tạc bằng gỗ năm 1855.

Ở sân chùa có một cột trụ bằng đá cao 2,4m. Ở đỉnh trụ đặt thờ tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Thân cột đá có các trang trí hoa sen, hoa cúc … vòng quanh cột theo phong cách nghệ thuật Hậu Lê. Ở đền Lý Quốc Sư, các nhà sư trong đền thường xuống đường, mở rộng cổng đền phục vụ cơm chay. Người đến ăn “chay” có cả người Việt lẫn người nước ngoài, ngày càng đông. Phố Lý Quốc Sư ở Hà Nội là con phố độc đáo, nhất là ẩm thực.

Chùa Lý Triều Quốc Sư là ngôi chùa danh tiếng ở thủ đô xưa nay. Hàng năm, chùa đón hàng vạn Phật tử, du khách đến sinh hoạt, lễ bái.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Lý Quốc Sư - Hà Nội

Soi tướng của cô nàng hay lăng nhăng

Có thể kể đến ở đây một số đặc điểm như mặt nhọn, vành tai lật ngược, dái tai quá nhỏ...
Soi tướng của cô nàng hay lăng nhăng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mặt nhọn

Nữ giới có khuôn mặt thon nhọn, nhỏ nhắn thường tạo cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát và rất hiền hòa. Bề ngoài là vậy nhưng ẩn chứa bên trong họ là cá tính mạnh mẽ, thích phiêu lưu, cả thèm chóng chán. Cuộc sống sau hôn nhân nếu gặp trở ngại, họ sẽ nảy sinh tư tưởng ngoại tình.

2. Vành tai lật ngược

Nhìn từ phía trước thấy vành tai như lật ngược ra sau, cộng với trán hẹp chứng tỏ chủ nhân của tướng mặt này thuộc tuýp mạnh mẽ, nhiều tham vọng. Nếu tình yêu không suôn sẻ như ý, cô gái có đặc điểm này dễ tìm người mới để xoa tan cảm giác buồn, cô đơn.

soi-tuong-cua-co-nang-hay-lang-nhang

3. Khuôn mặt hình oval

Điều dễ nhận thấy của khuôn mặt hình oval là phần cằm khá nhọn, thanh thoát. Nữ giới có gương mặt hình oval thường sở hữu nét đẹp dịu dàng, làm mê đắm lòng người. Đi tới đâu sắc đẹp của họ cũng có sức hút mãnh liệt với con trai. Vậy nên, khả năng thay lòng đổi dạ của họ khá cao.

4. Dái tai quá nhỏ

Những cô nàng có dái tai quá nhỏ, hay để kiểu tóc mái bằng thường dễ thay đổi tình cảm. Ngoài ra, họ thường bị người khác tác động, thay đổi quyết định liên tục. Kết quả là, họ bị rơi vào cạm bẫy tình trường, không cưỡng được sự mê hoặc của những anh chàng đẹp trai, ga-lăng hay phong lưu đa tình…

5. Mũi thẳng tắp, đốt sống mũi nổi rõ

Nữ giới có mũi thẳng tắp, nhìn thấy rõ đốt sống mũi hoặc mũi quá gầy, lỗ mũi hẹp dễ nảy sinh tâm lý “thay người yêu như thay áo”.

6. Nhân trung vừa dài vừa sâu, xương gò má lộ

Đây là đặc điểm thường thấy của những ai có tuổi thọ cao và “nghiện yêu”. Dù là nam hay nữ đều khó tránh hiện tượng có tình cảm ngoài luồng.

7. Miệng nhỏ như hoa anh đào, cổ nhỏ và dài

Một cô nàng sở hữu đặc điểm dễ thương trên có sức hấp dẫn đầy mê lực đối với hội đầu keo. Nếu có thêm đặc điểm lông mày lá liễu, eo thon, sắc đẹp của người này gần như thập toàn thập mỹ. Khi càng có nhiều sự lựa chọn, họ càng dễ thay lòng đổi dạ.

Mr.Bull (Theo DYXZ)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Soi tướng của cô nàng hay lăng nhăng

Hạnh phúc nhiều lúc thật giản đơn

Nhiều khi người ta cứ mải miết đi tìm thứ gọi là hạnh phúc, nhưng lại không nhận ra rằng hạnh phúc thật sự rất giản đơn, không phải điều gì quá cao siêu huyền bí, chỉ là chưa có cơ hội để nhận ra thôi…

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều khi người ta cứ mải miết đi tìm thứ gọi là hạnh phúc, nhưng lại không nhận ra rằng hạnh phúc thật sự rất giản đơn, không phải điều gì quá cao siêu huyền bí, chỉ là chưa có cơ hội để nhận ra thôi…

Hạnh phúc nhiều lúc thật giản đơn, chỉ là chưa có cơ hội để nhận ra nó

Có một phú ông vô cùng giàu có. Hễ thứ gì có thể dùng tiền mua được là ông mua về để hưởng thụ. Tuy nhiên, bản thân ông lại cảm thấy không vui, không hề hạnh phúc. 

hanh phuc

Một hôm, ông ta nảy ra một ý tưởng kỳ quặc, đó là đem tất cả những đồ vật quý giá, vàng bạc, châu báu cho vào một cái bao lớn rồi đi chu du khắp nơi. Ông ta tuyên bố chỉ cần ai có thể nói cho ông làm thế nào để hạnh phúc thì ông sẽ tặng cả bao của cải cho người đó.

Ông ta đi đến đâu cũng tìm và hỏi, rồi đến một ngôi làng có một người nông dân nói với ông rằng nên đi gặp một vị Đại sư, nếu như Đại sư cũng không có cách nào thì dù có đi khắp chân trời góc bể cũng không ai có thể giúp ông được.

Cuối cùng cũng tìm gặp được vị Đại sư đang ngồi thiền, ông ta vui mừng khôn xiết nói với Đại sư: “Tôi chỉ có một mục đích, tài sản cả đời tôi đều ở trong cái bao này. Chỉ cần ngài nói cho tôi cách nào để được hạnh phúc thì cái bao này sẽ là của ngài“.

Lúc ấy trời đã tối, màn đêm sắp buông xuống, vị Đại sư nhân lúc ấy liền tóm lấy cái túi chạy đi. Phú ông sợ quá, vừa khóc vừa gọi đuổi theo: “Tôi bị lừa rồi, tâm huyết của cả đời tôi"

Sau đó vị Đại sư quay lại và trả cái bao lại cho phú ông. Phú ông vui mừng ôm nó vào lòng mà nói: “Tốt quá rồi!”. Vị Đại sư điềm tĩnh đứng trước mặt ông ta hỏi: “Ông cảm thấy thế nào? Có hạnh phúc không?”

“Hạnh phúc! Tôi cảm thấy mình quá hạnh phúc rồi!“.

Lúc này, vị Đại sư cười và nói: “Thực ra, đó không phải là phương pháp gì đặc biệt, chỉ là con người đối với tất cả những thứ mình có đều cho rằng sự tồn tại của nó là đương nhiên cho nên không cảm thấy hạnh phúc, cái mà ông thiếu chính là một cơ hội mất đi. Ông đã biết thứ mình đang có quan trọng thế nào chưa? Bây giờ ông có còn muốn đem tặng nó cho tôi nữa không?“.

Liệu bạn có phát hiện ra rằng, khi mất đi hoặc thiếu thứ gì đó bạn sẽ luôn nhớ về nó, nhưng khi có được rồi thì lại dễ dàng coi nhẹ, thậm chí vứt nó vào một xó? Vì vậy, hãy luôn trân trọng những gì mình có được để sau này không phải hối tiếc.

Tuệ Tâm, sưu tầm


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hạnh phúc nhiều lúc thật giản đơn

Tại sao có chuyện

Mười hai con vật được gọi là 12 địa chi chỉ có nghĩa đối với chu kỳ một năm, khi đem chúng kết hợp với 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Quý, ) sẽ tạo thành một chu kỳ lớn 60 năm gọi là một Hội.
Tại sao có chuyện

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong thuyết dịch, âm - dương là hai khí vô cùng không thể mô tả bằng lời mà phải mượn cái hữu hình để làm sáng lý - cái hữu hình đó được gọi là tượng. Dịch thuyết cương lĩnh nói rằng : "Hiểu lời thì nông, hiểu tượng thì sâu" để lưu ý người đọc dịch điều cốt yếu là hiểu được những ẩn ý hàm chứa trong tượng mới thấy cái hay của dịch, còn chỉ mới hiểu ở lời thì xem như chưa thông dịch dễ hướng theo cách suy nghĩ lầm lẫn. Phương pháp dùng tượng trong kinh dịch rất đa dạng và không dễ hiểu ngay cả đối với người Trung Hoa nên ở đây chỉ nói đến một dạng tượng tiêu biểu mà mọi người đều biết là các con vật được dùng như thế nào và ý nghĩa của chúng ra sao trong quy luật biến đổi của Âm- Dương khí.

Chu trình vận hành của Âm - Dương khí trong vũ trụ được dịch lý mô tả bằng một đường tròn khép kín biểu hiện sự biến đổi không ngừng của hai khí Âm- Dương qua trọn một năm gồm 12 tháng (tức 12 cung trên đường tròn ) được hiển thị bằng 64 quẻ dịch. Ðịnh luật biến đổi Âm - Dương khí tuân theo nguyên lý Âm - Dương Tiêu trưởng và luôn được bảo toàn nên có thể viết dưới dạng thức :

Âm + Dương = Hằng số (const)

Nghĩa là khi Dương khí lên (trưởng ) thêm một đơn vị thì Âm khí phải xuống (tiêu) đi một đơn vị tương ứng và ngược lại. Âm -Dương khí biến đổi theo phép biện chứng của tự nhiên "lượng đổi thì chất đổi " được kinh dịch diễn giải bằng 64 quẻ Dịch dưới hình thức ẩn dụ thông qua 12 quẻ dịch của 12 cung trên đường tròn Dịch lý nằm trong quy luật đó. Trên đường vẽ nửa cung bên trái (cung NES) biểu diễn quy luật Dương Trưởng Âm Tiêu qua 32 quẻ dịch (gồm 112 Hào Dương và 80 Hào Âm ) bắt đầu từ quẻ Phục với một Hào Dương (nhất Dương sinh ) và 5 Hào Âm biểu thị cho tháng một nên gọi là quẻ Nguyệt lệnh của tháng một. Sự biến đổi tiếp theo tăng thêm trọn một Hào Dương thành quẻ Lâm, biểu thị cho tháng Chạp và khí Dương cứ tiếp tục tăng lên như thế cho tới tháng Tư Nguyệt lệnh là quẻ kiền với cả 6 Hào Dương là khí Dương đã lên đến tột cùng (maximun); Nửa bên phải (cung SWN) biểu diễn quy luật Âm trưởng Dương Tiêu qua 32 quẻ dịch (gồm 112 Hào Âmvà 80 Hào Dương ) bắt đầu từ quẻ Cấn biểu thị cho tháng Năm (tháng Âm sinh) và cũng biến đổi theo quy luật nói tren cho tới tháng Mười Nguyệt lệnh là quẻ khôn với cả 6 Hào Âm là khí Âm đã lên đến tột cùng, kết thúc một chu trình vận hành của Âm Dương khí trong vũ trụ qua trọn một năm Âm lịch. Nửa bên trái xem như phần ban ngày bởi khí Dương mạnh, ngược lại nửa bên phải là phần Âm mạnh; suy ra độ Dương của các cung thuộc phần ngày sẽ lớn hơn ở các cung đối ứng thuộc phần đêm, còn độ Âm thì ngược lại - nhỏ hơn.

Mười hai quẻ dịch biểu thị cho 12 tháng của một năm theo quy luật tiêu trưởng của Âm- Dương, thuộc phần ngày đêm, cung Dương cung Âm đã rõ ràng rồi sẽ là cơ sở xem xét việc dùng loại tượng nào có thể diễn đạt được sáng tỏ cái lý của dịch ở 12 cung trên đường tròn dịch lý. Cuối cùng thì các con vật có "vinh dự" được chọn giao vào các cương vị "trọng trách" đó. Mười hai con vật được chọn làm tượng phải đạt được các "tiêu chuẩn" sau :

- Ðối nghịch nhau về tính cách nguyên lý đối nghịch nhau của Âm - Dương là : Ðộng - Tỉnh, Cương - Nhu, Nhanh - Chậm, Mạnh - Yếu, Dữ - Hiền ...để lấy 6 con có tính dương trội vào ngôi các cung Dương và 6 con có tính Âm đặt vào các vị trí cung Âm.

- Phải là những con vật được mọi người biết tính cách rõ nói trên và phải gần gũi với con người(vì thế các con vật nuôi được "ưu tiên" tuyển chọn) thoả mãn cả hai "tiêu chuẩn" này không dễ, nên cuối cùng chỉ có 11 "ứng cử viên" là các con vật có thực đắc cử, ngôi vị thứ 12 được đặc cách giành cho ..con Rồng là con vật hư cấu nhưng xét ra lại rất đạt "tiêu chuẩn" vì ai cũng biết các "thuộc tính" của Rồng, hơn nữa Rồng ở trên trời nên toạ lạc ở cung Dương thuộc ở phần ban ngày là hợp vị. Chú Ngựa "siêu sao" về tính năng động - ở ngôi sao cung Dương mạnh nhất là xứng đáng (trong kinh dịch thì chữ "Dịch" cũng tượng bằng hình bộ "Mã" ), còn như chú Heo "đại lân", tĩnh toạ nơi Âm cực tiêu biểu cho sự trì chậm như yếu thì cả chí lý. Sự tinh vi và chính xác trong việc dùng tượng tới mức khó có thể đổi chỗ các con vật cũng như thay thế bằng một con vật nào khác hợp lý hơn.

Mười hai con vật được gọi là 12 địa chi chỉ có nghĩa đối với chu kỳ một năm, khi đem chúng kết hợp với 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Quý, ) sẽ tạo thành một chu kỳ lớn 60 năm gọi là một Hội (tức vòng Lục Giáp hoa) thì chúng không có ý nghĩa nữa. Ðiều này cũng dễ hiểu cũng như hai chất A+B=C thì chất mới tạo thành phải có tên gọi khác, ở đây điều đó có ý nghĩa tìm chọn các con vật làm tượng cho 60 năm quả là không dễ nên phải có sự "châm chước" về tiêu chuẩn, mới có được đủ số cần thiết (vậy là phải lấy "vớt" cả những con vật mà nhiều người ít biết đến, thậm chí không biết khiến cho một số hình tượng dùng không "đắt" trở nên khó hiểu).

Một chu kỳ 60 năm mỗi con vật biến tướng 5 lần và mang diện mạo của những con vật khác, ví dụ :

Giáp - Thìn : Rắn Ất - Mão : Dơi

Bính - Thìn : Chuột Ðinh - Mão : Gà

Mậu - Thìn : Quạ Kỷ - Mão : Rồng, Chồn

Canh - Thìn : Lạc đà Tân - Mão : Rái cá

Nhâm - Thìn : Sói Quý - Mão : Hươu

Thật là ngộ khi Mèo "Kỷ " thoắt cái đã biến thành Rồng, Mèo "Tân" là anh Rái cá, rồng "canh" lạc xuống làm lạc đà, rồng "Mậu " hoá ra quạ. Vậy sự biến hoá vô thường này mang ý nghĩa gì và liên can như thế nào đến con người sinh ra nhằm vào năm mang tên chúng ? Tượng vốn dĩ khó hiểu bởi nó hàm chứa nhiều ẩn dụ và có thể suy lý cho nhiều việc, ví dụ có thể suy lý ẩn dụ về tính cách: sinh năm Thìn xem như được cốt con Rồng là mới "cầm tinh" là cái hình hài mà chưa có tính cách, khi giao kết với Mậu, mới tạo ra cái tính và "xuất tướng tính" thành Quạ với ẩn dụ là người hay nói, thích "ăn to nói lớn". Hoặc Rồng kết hợp với "Canh" thì tính năng động sẽ biến mất, trở thành người từ nói năng đến đi đứng đều chậm chạp đủng đỉnh như ...Lạc đà sa mạc "trưa không vội tối không cần", còn người Tân Mão thì khôn ngoan lanh lợi và tinh ranh như Rái cá v.v.Thường thì biết tính cách để cho vui nhưng khi cần xác định vào một công việc nào đó thì đôi khi lại rất có ý nghĩa, ví như chân Lạc đà làm sao so sánh bằng chân Ngựa về tính năng động (Na pô lê ông ) hiểu biết tính cách của từng người lính nên biết sử dụng "đúng người đúng việc", Khổng Minh biết rõ tính cách của Tư Mã Ý (ý nói dám dùng kế không thành).

Các con vật chỉ đắc dụng khi làm sáng cái lý của những kết hợp đơn giản như giữa Can - Chi của năm còn đối với những giao kết phức hợp (như giữa Can Chi của cả năm, tháng, ngày, giờ) chúng sẽ không còn đất dụng võ nữa mà phải dùng đến chính con người làm tựa cho con người, mới có thể làm sáng được cái lý âm địa của dịch (các Ðại tượng và Tiểu ở mỗi quẻ dịch trong Kinh dịch chứng tỏ điều đó.)

Các con vật với ý nghĩa và tác dụng hạn chế nói trên nếu đem chúng ra "đối tác" với nhau để suy lý xét đoán cho con người thì e rằng quá ư đơn giản. Ví như năm mới là năm con chuột thì sẽ "xung" với con mèo (trong bộ "tứ hành xung" là Tý-Ngọ-Mão-Dậu), nhưng chuột "Bính" đã biến thành rắn còn mèo thì cũng biến chất thành Dê, Gà, Rồng, Rái Cá, Hươu cả rồi.

Vậy thì sẽ lấy con nào "xung" với con nào đây ? Thật khó mà biết được "mèo nào cắn Mĩu nào" (và nếu có sự "cắn nhau" ấy thì làm sao biết được là "cắn đau" hay chỉ là "cắn yêu " thôi ).

    1. 1) Mười hai con giáp
    2. 2) Việc chọn mười hai con giáp ở các nước
    3. 3) Quan niệm về tính cách con người theo các tuổi:
      Bên Nhật
      Phương Tây
    4. 4) Tại sao có chuyện "Cầm tinh" 12 con vật ?
    5. 5) Vì sao người xưa đều cầm tinh các con vật ?
    6. 6) Chuyện lấy tên các con vật đặt tên cho năm

Lược trích từ sách "12 con giáp"


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao có chuyện

Loài hoa biểu trưng của 12 con giáp

Trong loài hoa biểu trưng cho 12 con giáp, tuổi Tý được ví như hoa sơn trà bởi sự đối lập giữa vẻ ngoài mỏng manh, nhưng sức sống mãnh liệt... Loài hoa của bạn
Loài hoa biểu trưng của 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Trong loài hoa biểu trưng cho 12 con giáp, tuổi Tý được ví như hoa sơn trà bởi sự đối lập giữa vẻ ngoài mỏng manh, nhưng sức sống bên trong vô cùng mãnh liệt...

► Lịch ngày tốt tổng hợp mọi thông tin về mười hai con giáp bạn nên xem

Tuổi Tý – Hoa sơn trà

 

Trong loài hoa biểu trưng của 12 con giáp, hoa sơn trà thường mọc ở vùng núi cao. Dù sở hữu vẻ ngoài mỏng manh, nhưng sức sống vô cùng mạnh mẽ, chịu được khí hậu khắc nghiệt nhất. Điều đó khá giống với tính cách của người tuổi Tý, bên ngoài khéo léo, hòa đồng, bên trong nhẫn nại, sắc sảo. 

 

Loai hoa bieu trung cua 12 con giap hinh anh
 

Tuổi Sửu – Hoa mai

  Hoa mai trông mỏng manh là thế,  nhưng lại có khí chất mạnh mẽ, quật cường. Đó chính là nét đặc trưng trong tâm hồn người tuổi Sửu. Trong công việc và cả chuyện tình cảm, tuổi Sửu luôn nhẫn nại theo đuổi mục tiêu, dù khó khăn thế nào đi nữa vẫn cố gắng tới cùng.    Dẫu vậy, cũng giống như hoa mai mong được người hiền thưởng thức, người tuổi này cũng cần ai đó ngợi ca và công nhận sức đóng góp của họ.  

Tuổi Dần – Hoa mẫu đơn

  Hổ là chúa tể sơn lâm, tương ứng với con giáp này nên là một loài hoa cũng xứng danh là “vua của các loài hoa”, hoa mẫu đơn. Loài hoa lộng lẫy được người người yêu mến, cũng giống như tính cách sôi động, nhiệt tình của tuổi Dần.    Con giáp này tính tình bộc trực, yêu ghét rõ ràng, cuộc sống ngập tràn nét tươi vui, lúc nào cũng rộn ràng phơi phới hệt như đóa hoa mẫu đơn đang tỏa sắc hương trong ánh nắng chan hòa. Mẫu đơn đẹp nhưng khó thích nghi với điều kiện sống khắc nghiệt, chẳng khác nào tuổi Dần có ý chí nhưng lại nóng vội nên dễ làm hỏng việc lớn.  
Loai hoa bieu trung cua 12 con giap hinh anh
 

Tuổi Mão – Hoa sen

  Hoa sen mang nét đẹp thanh tao, cảm giác dịu êm nên có điểm tương đồng với tính cách hài hòa, dịu dàng trong con người tuổi Mão.    Hoa sen lại “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, tuổi Mão dễ dàng thích nghi với điều kiện sống, nhưng nhất quyết chỉ hòa nhập mà không hòa tan, lúc nào cũng giữ được bản sắc riêng, không lẫn vào đâu được.  

Tuổi Thìn – Hoa phong lữ

  Tuổi Thìn hướng ngoại, năng nổ và chút chút kiêu ngạo, giống như hoa phong lữ chỉ có thể sinh trường trong điều kiện ánh sáng cao, hào quang rực rỡ.    Hơn thế, con giáp này luôn hành động sao cho mình trở thành tâm điểm mọi sự chú ý hay cá nhân xuất sắc trong tập thể, để như hoa kia không chỉ góp hương sắc cho đời mà còn mang tới công dụng trị bệnh hiệu quả.  
Cách tránh tà trong tháng ma quỷ dành cho 12 con giáp Khai vận ngày Lục tà xâm chiếm cho 12 con giáp Những cặp đôi con giáp hễ kết thân ắt thành tri kỉ

Tuổi Tỵ - Hoa cà độc dược

  Trong danh sách loài hoa biểu trưng của 12 con giáp, đây là loài hoa hiếm gặp, mang tới cảm giác bí ẩn hệt như tuổi Tỵ. Con giáp này đa tình, hành động bí ẩn, yêu điên cuồng, bất chấp cái giá phải trả.    Chính vì quá yêu mà sinh lòng đố kị, ghen tuông và khát khao khống chế nửa kia vô cùng mãnh liệt. Khi tình yêu đổ vỡ, trái tim và cả tâm trí họ bị bào mòn, tựa như độc dược của loài hoa này vậy.  

Tuổi Ngọ - Hoa diên vĩ

  Hoa diên vĩ mang biểu tượng về sự thẳng thắn và tự do, rất hợp với cá tính của người tuổi Ngọ. Họ thích tự do bay nhảy, chúa ghét những điều khô cứng, không gian bí bách.    Thêm nữa,  diên vĩ có khả năng sinh sống ở những nơi tối tăm ẩm ướt, sự vươn lên từ trong khó khăn của hoa diên vĩ như lời nhắc nhở cho người tuổi Ngọ rằng đừng bao giờ biến suy nghĩ của mình trở nên cực đoan khi phải đối mặt với khó khăn, thử thách.

 

Loai hoa bieu trung cua 12 con giap hinh anh
 

Tuổi Mùi – Hoa lan hồ điệp

  Lan hồ điệp tuy đẹp và cao quý, nhưng lại khó thích nghi với điều kiện sống. Tuổi Mũi cũng vậy, rất dễ chịu tác động từ môi trường sống xung quanh, tâm trạng lúc nào cũng nặng nề, suy tư quá nhiều vấn đề trong cuộc sống.   Vẻ đẹp tinh tế của lan hồ điệp còn gợi nhớ tới sự chỉn chu, tỉ mỉ của tuổi Mùi trong cách ăn mặc cũng như mọi hoạt động trong đời sống thường nhật.  

Tuổi Thân – Hoa lê

  Hoa lê trắng muốt, nở rộ mỗi khi xuân về, mang vẻ đẹp cuốn hút, thanh cao như sự thông tuệ, nhanh nhẹn và dễ mến của người tuổi Thân.    Tuổi Thân nhạy cảm với môi trường xung quanh, thông minh nhưng không hề ngạo mạn. Họ chọn cách âm thầm “tỏa hương” như hoa lê trắng, để ai nấy cũng dành lòng yêu mến thiết tha.  

Tuổi Dậu – Hoa lan quân tử

  Lan quân tử có màu sắc rực rỡ, hình dáng bắt mắt, giống như người tuổi Dậu thích “đỏm dáng” như thế. Phong cách thời trang của con giáp này chú trọng vào màu sắc và kiểu dáng, sao cho có thể tôn được nét đẹp tiềm ẩn trong con người họ, tạo hiệu quả thu hút ở mức cao nhất.   

Tuổi Tuất – Hoa xấu hổ

  Trong loài hoa đặc trưng của 12 con giáp, hoa xấu hổ có kích thước nhỏ bé, hay ẩn mình trong bụi cỏ để không bị chú ý nhiều. Tuổi Tuất lại khiêm tốn, biết chừng biết mực, không muốn bản thân quá nổi bật, nên có nhiều điểm tương đồng với loài hoa này.   Thêm nữa, bản năng tự bảo vệ bản thân của người tuổi Tuất khá cao, hơn ai hết, họ chỉ mong có được một cuộc sống yên bình, do đó làm mọi cách để không dính vào thị phi, ghen tị, phiền toái từ bên ngoài. Cẩn trọng và đúng mực, tuổi Tuất thật giống với tính cách loài hoa xấu hổ.  
Loai hoa bieu trung cua 12 con giap hinh anh
 

Tuổi Hợi – Hoa anh đào

  Không có vẻ ngoài nổi bật như hoa anh đào, loài hoa mang biểu tượng của sự cao thượng, nhưng tuổi Hợi lại có tâm lòng chân thành và cao thượng không thua kém bất cứ ai.    Hơn thế, con giáp này sống nguyên tắc, ít khi phá vỡ quy tắc sống mà bản thân đặt ra. Điều đó giống như loài hoa anh đào cao quý, tôn nghiêm, gợi nhắc về tính kỷ luật cao. Bởi thế cho nên, anh đào đã trở thành quốc hoa, biểu tượng của cả một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời Nhật Bản.
 
Hoàng Lam
Những con giáp có vận thế mạnh và yếu nhất tháng 8 năm 2016
Đứng đầu con giáp có vận thế mạnh nhất trong tháng 8 không ai khác chính là tuổi Tý, nhưng chia buồn với người tuổi Dần khi xếp ở vị trí “độn sổ”.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Loài hoa biểu trưng của 12 con giáp

Mơ thấy quỷ –

Nếu mơ biến thành quỷ, bạn đừng lo lắng, vì đây là dấu hiệu cho thấy tài vận sẽ rất sáng sủa. Mơ bị quỷ đuổi: Chứng tỏ con người bạn rất thuần khiết, nên dễ bị lừa gạt, dễ đi sai đường. Vì vậy, trước khi hành sự, bạn nên suy xét cẩn thận. Mơ biến thà
Mơ thấy quỷ –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy quỷ –

Tình yêu hôn nhân của người tuổi Sửu với các tuổi khác

Tình yêu hôn nhân của người tuổi Sửu như thế nào với các tuổi khác. Cuộc sống gia đình của người chồng tuổi Sưu hay người vợ tuổi Sưu ra sao sau khi kết hôn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tình yêu của người tuổi Sửu lúc nào cũng sâu đậm, kể cả trong cuộc sống hôn nhân sau này. Khi đã lập gia đình, người tuổi Sửu khá là hiền hòa và dịu dàng. Tuy nhiên, họ cũng không tránh khỏi có những lúc bị dao động trong tình cảm, nhờ vậy họ càng hiểu rõ tình cảm của bản thân và chính con người của mình hơn. Bởi "Sau cơn mưa trời lại sáng" nên tình yêu của họ sẽ càng thêm chân thành hơn.

Người tuổi Sửu rất hay lo lắng, quan tâm đến gia đình, yêu quý những người thân và thích trẻ con. Nếu họ cũng kết hôn với một người tuổi Sửu khác thì gia đình sẽ hòa thuận, ổn định và hạnh phúc dài lâu.

Tử vi tuổi sửu 2015 sơ lược Ất Sửu, Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Tân Sửu, Quý Sửu.

Vì không biết cách bày tỏ tình cảm trước mặt người lạ, nhất là với những người khác giới nên tốt nhất là người tuổi Sửu nên lựa chọn bạn đời trong số những người mà mình đã quen biết từ trước. Hơn nữa, quan niệm về tình yêu hôn nhân của họ thường rất thực tế, không tin tưởng vào những mối tính lãng mạn kiểu "yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên" mà cho rằng tình cảm chỉ có thê nảy sinh sau khi hai bên đã quen biết, có mối quan hệ tìm hiểu nhau được một thời gian dài. Sau khi đã có được tình cảm nhiệt thành từ phía đối phương, cuộc sống hôn nhân của họ sẽ ngập tràn trong hạnh phúc.

Vì là những người theo chủ nghĩa truyền thống nên việc cầu hôn của nam giới tuổi Sửu với một cô gái nào đó sẽ là cả một quá trình dài. Tình yêu của họ cũng phải trải qua một thời gian dài chìm ngập trong bóng tối rồi mới chính thức công khai với tất cả mọi người. Đến lúc đó, cả hai bên mới bày tỏ những tình cảm thật sự của mình. Tuy có tình cảm tương đối phong phú nhưng nam giới tuổi Sửu khi theo đuổi một cô gái xinh đẹp nào đó lại biến thành những kẻ vụng về, ngốc nghếch.

Nhưng nếu một cô gái nào đó yêu, kết hôn và tin tưởng hoàn toàn vào một người chồng tuổi Sửu thì chắc chắn họ sẽ không bao giờ phải cảm thấy thất vọng về chồng của mình. Người chồng ấy sẽ chung thủy với họ suốt đời và cũng không bao giờ để họ phải lo lắng về những khoản chi tiêu trong gia đình như tiền thuê nhà, tiền chi trả các hóa đơn hàng tháng,... Tuy không có "vàng bạc đầy nhà, nhung lụa đầy hòm" nhưng những người chồng tuổi Sửu sẽ luôn cố gắng hết sức để sao cho gia đình mình có một cuộc sống thoải mái nhất. Họ cũng rất ít khi cần đến sự trợ giúp của vợ cũng như những người phụ nữ khác về mặt kinh tế.

Trong gia đình, lời nói của họ cũng chính là mệnh lệnh. Họ biết cách ra lệnh để những người khác phải phục tùng theo như thế nào và cũng luôn hy vọng mọi người sẽ thực hiện theo mệnh lệnh đó một cách nghiêm túc. Họ có quan điểm duy vật trong cuộc sống. Dù rất thích và rất tự hào về gia đình của mình nhưng họ cũng có những yêu cầu rất cao với các thành viên khác trong nhà, thường lấy thành công và thành tích đạt được làm thước đo tình yêu của mỗi người đối với gia đình. Tuy không hay hành động theo cảm tính nhưng họ cũng là một người biết hy sinh cho hạnh phúc và niềm vui của cả gia đình. Họ cũng luôn kiên trì theo những nguyên tắc mà mình đã đặt ra khi giải quyết những vấn đề quan trọng, then chốt nào đó.

Nữ giói tuổi Sửu thường không giỏi giao tiếp, tuy bên trong rất kiên cường nhưng bên ngoài lại mềm mỏng, hiền thục, rất thích hợp để trở thành một người mẹ hiền, một người mẹ tốt.

Nam giới tuổi Sửu  thường rất cố chấp, khiến người khác khó hiểu và luôn có cảm giác khó gần. Nếu có thể mở rộng tấm lòng, phóng khoáng và cởi mở hơn với mọi người, nỗ lực thay đổi bản thân thì chắc chắn họ sẽ có được cuộc sống hạnh phúc trọn đời.

Nữ giới tuổi Sửu thường có mơ mộng, hoài bão rất nhiều về hôn nhân. Họ là những người luôn cố gắng hết mình trong công việc và cũng có thể làm tất cả mọi việc vì người mình yêu thương.

Sau khi kết hôn, tính cách tiểu thư đài các của các cô gái tuổi Sửu sẽ biến mất. Thay vào đó, họ trở thành người chủ gia đình luôn an phận, bình tĩnh trước mọi việc.

Họ cũng luôn biết cách trở thành bạn của chồng, là cầu nối mọi người trong gia đình và tạo ra không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

Đối tượng kết hôn của người tuổi Sửu

Người tuổi Sửu thường cố chấp nhưng khi đã yêu ai đó thật lòng thì họ sẽ sẵn sàng làm tất cả vì người mình yêu. Nhưng khi tình cảm còn chưa ổn định, họ không thích thể hiện tình yêu của mình cho mọi người cùng biết nên thường khiến cho bạn bè rất ngạc nhiên khi đột ngột tuyên bố đã yêu một người nào đó. Ngoài ra, khi còn trẻ, người tuổi Sửu cũng thường khá long đong, lận đận trên đường tình duyên. Bởi họ phải khám phá những cung bậc cảm xúc của bản thân để hiểu rõ chính mình hơn, cũng như cần thêm thời gian để học hỏi về tình yêu.

Đường tình yêu hôn nhân của nam giới tuổi Sửu với các tuổi khác

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Tý: Tình yêu tương đối thuận lợi, cả hai người sẽ có cuộc sống hôn nhân êm đềm, hòa thuận và hạnh phúc.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Sửu: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân hòa thuận và rất mỹ mãn. Tính cách của hai người có nhiều nét tương đồng, lại đều là những người theo chủ nghĩa vật chất và khá bảo thủ nên cuộc sống gia đình sẽ rất giàu có, sung túc.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Dần: Có rất nhiều khác biệt về tính cách của hai người. Có những vấn đề mà lập trường của mỗi người đứng ở vị trí đối lập nhau hoàn toàn. Điều tốt nhất mà họ nên có; đó là một điểm chung gắn kết hai người, chính là tình yêu thực sự dành cho nhau.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Mão: Tuy không phải là một mối lương duyên tốt đẹp nhất nhưng hai người vẫn có thể chung sống được với nhau. Người vợ tuổi Mão sẽ rất biết nhẫn nhịn mọi việc để cuộc sống gia đình được yên ấm, hạnh phúc hơn.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Thìn: Cuộc hôn nhân giữa hai người có nhiều nốt trầm bổng. Vượt qua được những thử thách của cuộc sống gia đình, tình cảm của hai người sẽ ngày càng bền chặt, gắn bó. Hơn hết là thấu hiểu và đồng cảm với nhau khi đã cùng trải qua những thăng trầm trước đây.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Tỵ: Hai người có thể chung sống bên nhau trọn đời. Tuy nhiên người chồng tuổi Sửu nên biết để ý nhiều hơn tới người vợ, kể cả những ý tứ tưởng như nhỏ nhặt. Ngược lại, người vợ tuổi Tỵ cũng nên chủ động chia sẻ tâm tư của mình hơn nữa.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Ngọ: Tình yêu và hôn nhân của họ khi bắt đầu thì lại không hài hòa, thường lệch pha nhau về quan điểm, cách sống, cách nghĩ. Ban đầu họ không thể thực sự hiểu rõ về người yêu, người chồng / người vợ của mình. Tuy nhiên, nếu cùng nhìn về tương lai, cặp đôi này sẽ vượt qua được những thử thách của cuộc sống hơn ai hết.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Mùi: Người chồng tuổi Sửu thường không ảo tưởng bởi có suy nghĩ về tình yêu và hôn nhân khá thực tế. Trong khi đó, người vợ tuổi Mùi lại nhìn nhận cuộc sống qua lăng kính màu hồng. Nếu hai người bổ sung những ưu khuyết điểm cho nhau thì chắc hẳn sẽ là một cặp đôi hoàn hảo.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Thân: Khi yêu sâu sắc người vợ tuổi Thân, người chồng có thể hy sinh mọi thứ và cũng sẽ nhượng bộ vợ trong mọi việc. Người vợ tuổi Thân nên trân trọng điều đó cũng như có sự chừng mực của người phụ nữ bởi tuy có nhường nhịn, người chồng tuổi Sửu vẫn có những đặc điểm của người đàn ông bản lĩnh.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Dậu: Họ sẽ là những người bạn đời mang lại hạnh phúc cho người tuổi Mùi. Người vợ tuổi Mùi có thể biểu hiện bản thân một cách hoàn toàn thoải mái trong tình yêu thương của người chồng tuổi Mùi và mang lại niềm vui, hạnh phúc cho cuộc sống lứa đôi.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Tuất: Tôn trọng sự khác biệt của nhau là cách thức tốt nhất để cặp đôi này chung sống dài lâu. Tình cảm gắn bó qua mức khiến họ quên đi chính bản thân mỗi người cũng cần có những khoảng không gian riêng.

- Nam giới tuổi Sửu với Nữ giới tuổi Hợi: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân hạnh phúc mỹ mãn. Người vợ có thể nhẫn nhịn, thông cảm được trước những khiếm khuyết của chồng mà vẫn cảm thấy vui vẻ, cả hai người cũng đều rất tôn trọng, yêu quý người bạn đòi của mình.

Đường tình yêu hôn nhân của nữ giới tuổi Sửu với các tuổi khác

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Tý: Họ quả là một cặp trời sinh, thái độ chung thủy, thành thực và sự thực tế của người phụ nữ tuổi Sửu sẽ khiến cho người chồng tuổi Tý luôn được vui vẻ, thoải mái.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Sửu: Cuộc hôn nhân của hai người sẽ khá êm đềm, hạnh phúc, vì tính cách của cả hai cũng gần như nhau và lại cùng là tín đồ của lợi ích vật chất nên gia đình sẽ tương đôi hòa thuận, bình yên.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Dần: Người chồng tuổi Dần phù hợp với một người vợ tuổi Sửu tinh tế, biết được những tâm tư suy nghĩ của người chồng qua những cử chỉ, nét mặt của anh ấy. 

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Mão: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân tương đối hòa thuận, người chồng vui vẻ phục tùng theo mọi mệnh lệnh của vợ nên gia đình sẽ rất ổn định, hạnh phúc.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Thìn: Cả hai đều nỗ lực xây dựng một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên bởi có những cách thức và quan niệm khác nhau, những mâu thuẫn dễ dàng nảy sinh. Nếu biết lắng nghe và trao đổi những điều đó với nhau, cặp đôi này sẽ có một tổ ấm khá lý tưởng cho mình.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giói tuổi Tỵ: Đây sẽ là một cặp đôi vô cùng hòa thuận. Người chồng tuổi Tỵ sẽ giao tất cả mọi việc cho vợ quyêt định và tự nguyện làm người thi hành những quyết định đó.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Ngọ: Người vợ tuổi Sửu sẽ nắm giữ hết mọi việc lớn trong nhà còn người chồng tuổi Ngọ lại rất tự do tự tại, rất dễ dẫn đến xung đột giữa hai bên. Vì vậy sự nhẫn nhịn và kiềm chế của cả hai người là rất cần thiết.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Mùi: Mong muốn về cuộc sống gia đình sung túc của người vợ tuổi Sửu nhiều khi vô tình gây ra những áp lực vô hình lên người chồng tuổi Mùi đầy trách nhiệm. Giống như cầm một cốc nước, dù cho nó có nhẹ thế nào đi nữa, nếu cầm lâu sẽ thấy mỏi tay. Cả hai người nên biết dành cho nhau những thời gian nghỉ ngơi và vui vẻ.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Thân: Cuộc sống hôn nhân sẽ rất hạnh phúc. Người vợ tuổi Sửu sẽ rất yêu chồng, còn người chồng thông minh sẽ luôn biết cách làm cho vợ mình được vui vẻ, thoải mái.

- Nữ giới tuổi Sửu với  Nam giới tuổi Dậu: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân hạnh phúc mỹ mãn. Nhưng người chồng tuổi Dậu cần phải biết tiết chế để không vì sự tự tôn quá đáng mà dẫn đến mẫu thuẫn, xung đột giữa hai bên.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Tuất: Biết cân bằng giữa việc xây dựng tổ ấm cũng như vun đắp tình cảm đôi lứa mới giúp cho cặp đôi này hạnh phúc và bền vững dài lâu.

- Nữ giới tuổi Sửu với Nam giới tuổi Hợi: Những mâu thuẫn nhỏ nhoi nếu không được giải quyết sẽ làm cho hai người cảm thấy gánh nặng và mệt mỏi. Nếu biết bỏ qua những điều không đáng phải bực dọc và rộng lượng với bản thân hơn thì cặp đôi này cũng đầy tiếng cười và hạnh phúc như mọi người.

Vận giúp chồng, giúp vợ của người tuổi Sửu

Nữ giới tuổi Sửu đứng thứ hai trong bảng xếp hạng về những người sẽ giúp đỡ được cho chồng của mình trong cuộc sống. Vận giúp vợ của những ông chồng tuổi Sửu cũng không hề kém một chút nào. Họ đều sẽ là những người vợ, người chồng tuyệt vời, có thể giúp người bạn đời của mình làm được nhiều việc lớn. Người tuổi Sửu mà sinh vào mùa đông thì lại càng giúp đõ cho người bạn đời của mình được nhiều việc hơn nữa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình yêu hôn nhân của người tuổi Sửu với các tuổi khác

Hướng bếp hợp người sinh năm 1969 Kỷ Dậu –

Hướng bếp hợp người sinh năm 1969: - Ngũ hành: Đại Trạch Thổ (Đất nền nhà) - Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niên); Đông Nam (Phục Vị); Nam (Thiên Y); - Hướng xấu: Tây Bắc (Hoạ Hại); Đông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng bếp hợp người sinh năm 1969:

???????????????????????????????????????????????????????????????????????

– Ngũ hành: Đại Trạch Thổ (Đất nền nhà)

– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch

– Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niên); Đông Nam (Phục Vị); Nam (Thiên Y);

– Hướng xấu: Tây Bắc (Hoạ Hại); Đông Bắc (Tuyệt Mệnh); Tây Nam (Ngũ Quỷ); Tây (Lục Sát);


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng bếp hợp người sinh năm 1969 Kỷ Dậu –

Khi phán đoán sự việc bằng cửu tinh cần chú ý những điểm gì? –

Khi dùng cửu tinh để đoán sự việc thì sẽ phát hiện thấy góc nào trong nhà cũng đều có hung hiểm. Nhưng bạn đừng lo, bởi vì những điều mà Phi Tinh đề cập đến chỉ là lý khí của phong thuỷ. Cho dù có Nhị Hắc, Ngũ Hoàng bay đến tận giường của bạn thì cũn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

g không nhất định là bạn sẽ gặp tai họa. Muốn xem cho chính xác hung hoạ thì phải kiểm tra trên loan đầu có xuất hiện Nhị Ngũ đồng cung giống nhau không. Cho dù trên Phi Tinh xuất hiện hung sát, nhưng nếu trên loan đầu không có tổ hợp con số giống nhau để thúc vượng sát khí thì sẽ chẳng xuất hiện vấn đề nào nguy hiểm cả. Loan đầu là một dạng sát khí, phải phối hợp lý khí với loan đầu thì mới ứng nghiệm ảnh hưởng mà tổ hợp Phi Tinh đem đến.

p17

Cho nên, khi chúng ta thấy tổ hợp Phi Tinh xấu xuất hiện thì cũng đừng lo lắng. Trước hết, hãy xem vị trí xuất hiện của tổ hợp Phi Tinh này có tương quan với loan đầu không. Nếu không có thì tổ hợp đó sẽ không ứng nghiệm. Nếu có thì chỉ cần lấy đi đồ vật tạo ra loại sơn đầu này thì không sao. Đây là điểm cần đặc biệt chú ý khi phán đoán sự việc bằng cửu tinh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khi phán đoán sự việc bằng cửu tinh cần chú ý những điểm gì? –

Chọn vợ phải chọn con gái tuổi Thân mới chuẩn

Con gái tuổi Thân ẩn chứa rất nhiều đức tính tốt đẹp, vô cùng phù hợp khi làm người yêu và làm người vợ hiền, dâu đảm.
Chọn vợ phải chọn con gái tuổi Thân mới chuẩn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Không phải con giáp nào cũng có những đức tính giống nhau, các cô gái tuổi Thân ẩn chứa rất nhiều đức tính tốt đẹp, vô cùng phù hợp khi làm người yêu và làm người vợ hiền, dâu đảm.

 

Xem bói tình yêu đôi lứa, những tuổi nam hợp nhất với con gái tuổi Thân:   + Nam sinh năm 1984, tuổi Giáp Tý nếu lấy vợ tuổi Thân thì gia đình hòa hợp, sung túc, con cái giỏi giang, hôn nhân bền vững
 
+ Nam sinh năm1 985, tuổi Ất Sửu nếu lấy vợ tuổi Thân thì được tương sinh, gia đình hòa thuận, đầm ấm.
 
+ Nam sinh năm 1987, tuổi Đinh Mão nếu lấy vợ tuổi Thân thì kết hôn gia đình hòa thuận, sung túc.
 
+ Nam sinh năm 1988, tuổi Mậu Thìn nếu lấy vợ tuổi Thân thì gia đình êm ấm, hạnh phúc.
 
+ Nam sinh năm 1992, tuổi Nhâm Thân, cùng mệnh Kiếm phong Kim. Hai người cùng mệnh nên mệnh bình hòa, hôn nhân tốt đẹp.
 
+ Nam sinh năm 1993, tuổi Quý Dậu, cùng mệnh Kiếm phong Kim nên bình hòa, hôn nhân bền vững, vợ chồng hòa hợp.   Hãy cùng ## khám phá xem những nét đẹp nào ở con gái tuổi Thân khiến các chàng muốn cưới con gái tuổi Thân làm vợ nhé!  
Chon vo phai chon con gai tuoi Than moi chuan hinh anh 2
Ảnh minh họa

1. Con gái tuổi Thân luôn hướng về gia đình

  Không phải bất cứ con giáp nào cũng có đức tính này. Nếu như quý cô tuổi Ngọ đi khám phá rất nhiều nơi, khi tìm gặp được người bạn đời thực sự mới toàn tâm chăm lo cho gia đình thì quý cô tuổi Thân lại khác. Ngay từ khi còn trẻ, quý cô tuổi Thân luôn nghĩ cho gia đình và coi trọng gia đình hơn nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống. Họ làm gì cũng nghĩ cho gia đình, còn trẻ nghĩ cho bố mẹ đẻ, anh chị em; đến lúc cưới chồng, con gái tuổi Thân lại chăm sóc gia đình bên chồng hết mực. Chính vì vậy, có thể nói con gái tuổi Thân là cô gái của gia đình.   Tính cách của cô gái tuổi Thân rất hòa thuận, quan tâm đến huyết thống. Kính trọng và có hiếu với cha mẹ đẻ và gia đình nhà chồng. Nếu bạn đang yêu một cô gái tuổi Thân thì bạn sẽ luôn luôn cảm thấy hạnh phúc vì cô ấy luôn lo lắng và chăm sóc cho bạn rất nhiều. Đặc biệt sự quan tâm và chăm sóc dành cho người mình thương của cô gái tuổi Thân xuất phát hoàn toàn từ chân tình của cô ấy. Một người vợ luôn để gia đình lên trên hết, nhất định khi cưới, cô ấy sẽ cho chồng cảm giác là chỗ dựa an toàn mỗi khi trở về nhà. Con gái tuổi Thân là cô gái của gia đình.  

2. Con gái tuổi Thân giàu tình cảm, tôn trọng tình yêu, hôn nhân

  Trong luận giải tử vi, người ta thường nói, con gái tuổi Thân vô cùng lận đận trong tình duyên, phải qua “hai lần đò” mới lấy được tấm chồng tốt. Tuy vậy, những lời bói toán mang tính ước lệ ấy không đáng mà xét nét về con gái tuổi Thân. Là một con giáp với đặc trưng giàu tình cảm, con gái tuổi Thân sẵn mang trong mình đức tính luôn coi trọng tình yêu và hôn nhân.
 
Tình yêu của cô gái tuổi Thân luôn khiến người ta phải ganh tỵ. Vì số đào hoa của người tuổi Thân rất cao, tình yêu không ngừng tìm đến với họ, khiến họ đôi khi không tiếp nhận được hết. Con gái tuổi Thân biết lúc nào họ cần phải ổn định, nếu họ chưa yêu thật lòng, chưa sẵn sàng yêu và chung sống thì họ rất khó nắm bắt. Tuy nhiên, khi đã tìm được người bạn đời lý tưởng thì họ sẽ giao phó cả cuộc đời mình cho người đó với tất cả chân thành và trái tim, giao phó cả cuộc đời mình cho người đó.   Khi đã tìm được người bạn đời lý tưởng thì cô gái tuổi Thân sẽ giao phó cả cuộc đời mình cho người đó với tất cả chân thành và trái tim.   Các cô gái tuổi Thân luôn khiến người khác ghen tỵ vì sở hữu một tình yêu lãng mạn, nhẹ nhàng. Cùng với đó, vì tính cách luôn vui vẻ hòa đồng, tôn trọng người khác nên cô gái tuổi Thân được nhiều người yêu quý, bạn bè giúp đỡ, ủng hộ những lúc cần thiết. Họ luôn tôn trọng tình cảm vợ chồng, tương thân tương ái, quyết tâm chung sống với nhau cho đến khi đầu bạc răng long.   Chính vì vậy, khi gặp được cô gái tuổi Thân phù hợp với bạn, bạn đừng ngại ngần mà trao đi tình cảm của mình. Bởi một người con gái luôn chân thành, giàu tình cảm và đặt hôn nhân – tình yêu lên đầu luôn khiến chồng cô ấy phải hạnh phúc và gửi gắm niềm tin.  

3. Con gái tuổi Thân – giỏi giao tiếp và xoay sở trong cuộc sống

  Vì trời sinh cho trí tuệ thông minh nên con gái tuổi Thân có đầu óc tính toán rất linh hoạt, rất giỏi giao tiếp và giải quyết các vấn đề phức tạp. Các cô gái tuổi Thân rất giỏi nhìn người và đoán lòng người nên giao tiếp xã hội tốt. Vì vậy, sự khéo léo trong giao tiếp tạo nên nét đẹp đặc trưng của quý cô tuổi Thân. Sự khéo léo trong giao tiếp không chỉ giúp cho các cô gái tuổi Thân đạt thành công trong sự nghiệp mà hạnh phúc gia đình cũng được nàng khéo léo giữ lửa.
 
Trong cuộc sống, quý cô tuổi Thân tài giỏi hơn người. Họ hoạt bát hiếu động, phản ứng nhanh, biết nắm bắt thời cơ, ý chí kiên định, niềm tin vững vàng, làm việc chín chắn. Chính vì vậy, con gái tuổi Thân luôn khiến chồng không chỉ thương yêu mà còn tự hào khi lấy được vợ tuổi Thân. Có nàng quán xuyến gia đình, nhà cửa con cái, chắc chắn các chàng sẽ yên tâm hơn mà tiến thủ trên con đường công danh. Trong cuộc sống, quý cô tuổi Thân tài giỏi hơn người.  
Chon vo phai chon con gai tuoi Than moi chuan hinh anh 2
Ảnh minh họa
 
 

4. Con gái tuổi Thân có sự tự tin, mạnh mẽ và lạc quan không ai có được

  Con gái tuổi Thân có sức hấp dẫn rất tự nhiên, dường như họ đi đến đâu là sự vui vẻ, hòa đồng cũng được mang theo đến đó. Chính vì vậy, việc bạn bị rung động trước sức sống tràn trề và vẻ đẹp thanh xuân của họ là không thể tránh được. Họ rất tự tin khi đối diện với người khác nên lúc nào, quý cô tuổi Thân cũng nổi bật trước đám đông. Ngoài ra, tính cách người tuổi Thân còn luôn vui vẻ ôn hòa, hòa đồng với mọi người. Trong gia đình, con gái tuổi Thân luôn là điểm gắn kết mọi người với nhau khiến gia đình thuận hòa, hạnh phúc.   Những khi gặp khó khăn, thách thức trong cuộc sống, chính sức mạnh bên trong của họ sẽ không ngừng khích lệ, cổ vũ để họ “tiếp tục tiến lên”. Cũng chính vì vậy, một người chồng khi lấy được con gái tuổi Thân sẽ luôn có một điểm tựa tinh thần vững chắc mỗi khi gặp khó khăn trong sự nghiệp. Ý chí mạnh mẽ, không chịu khuất phục và cảm quan tươi sáng của người con gái tuổi Thân sẽ truyền sang cho cả người chồng của họ, do vậy mà khó khăn chẳng mấy chốc bị đảo lùi. Một cô gái lạc quan và mạnh mẽ như vậy, rất ít nữ con giáp nào có được như cô gái tuổi Thân.
 

5. Cô gái tuổi Thân rất thông minh, thanh tú

  Nữ giới tuổi Thân tài sắc hơn người, thông minh, thanh tú. Sự thông minh là một nét đẹp vốn có mà trời vận cho con gái tuổi Thân. Từ trẻ, cô gái tuổi Thân đã rất thích đọc sách để thông thạo kiến thức. Sự thông minh nhanh nhẹn khiến cô gái tuổi Thân học giỏi từ nhỏ, không cam chịu sự lạc hậu, luôn cố gắng để đạt được những thành tích trong học tập và cuộc sống.   Con gái tuổi Thân có nét đẹp thanh tú toát ra từ gương mặt, dáng vóc, họ thích hướng đến vẻ đẹp tự nhiên nên không quan tâm đến bất cứ thứ gì phải khiên cưỡng mới có được. Chính vì vậy, vẻ đẹp tự nhiên của quý cô tuổi Thân là sức hấp dẫn tuyệt vời cho người đối diện.
 
Với tất cả 5 đức tính tốt đẹp này, chắc chắn quý cô tuổi Thân sẽ đạt được nhiều thành công trong cuộc sống và hưởng thụ một cuộc sống gia đình êm ấm hạnh phúc. Vì vậy, nhắn nhủ với các chàng trai đang yêu một cô gái tuổi Thân vui vẻ hòa đồng; hay đã cảm nắng nàng thì hãy tỏ tình với nàng ngay nhé! Bởi những đức tính tuyệt vời này không phải các cô gái tuổi khác cũng dễ dàng có được.  

Tham khảo thêm vận mệnh cuộc đời người tuổi Thân, mời quý độc giả và bạn đọc tham khảo bài viết: Tử vi trọn đời của 12 con giáp.

ST.
Rước dâu tuổi Thân, cả nhà chồng nhận vinh hoa Người tuổi Thân nên hợp tác làm ăn với tuổi nào? Lấy người tuổi Thân làm vợ lợi đủ đường Xem ngày sinh đại cát cho người tuổi Thân (P1) Xem ngày sinh đại cát cho người tuổi Thân (P2) Xem giờ sinh phú quý cho người tuổi Thân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn vợ phải chọn con gái tuổi Thân mới chuẩn

Tìm may mắn cho người tuổi Tân Mùi

Người tuổi Tân Mùi (mệnh Thổ, sinh năm 1931, 1991) thuở nhỏ gặp nhiều khó khăn, vất vả, tài lộc thất thường, lớn lên gặp may mắn về đường công danh, sự nghiệp,
Tìm may mắn cho người tuổi Tân Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuộc đời: trung niên phát đạt. Từ 35 tuổi trở đi sẽ có sự nghiệp vững vàng, gia đình hạnh phúc, an nhàn, sung sướng.

Tim may man cho nguoi tuoi Tan Mui  hinh anh
 

Theo luận giải tử vi, nam giới tuổi Tân Mùi có mệnh vinh hoa, phú quý, trường thọ, phúc lộc dồi dào, sự nghiệp thành công, gia đình hòa thuận, yên ổn.

Những tuổi đại kỵ với tuổi Tân Mùi là: Tân Mùi, Đinh Sửu, Canh Thìn, Quý Mùi, Kỷ Sửu, Mậu Thìn, Ất Sửu.

Các năm khó khăn nhất trong cuộc đời nữ giới tuổi Tân Mùi là tuổi: 25, 28, 32, 40; ở nam là: 25, 29, 33, 43.

Tính cách: Là người hiền hậu, thân thiện, biết quan tâm chia sẻ với mọi người. Người tuổi Tân Mùi thông minh, chí khí, ngại va chạm, đôi khi nhu nhược nên hay bị người khác lợi dụng.

Nữ giới tuổi Tân Mùi giỏi nội trợ, biết chiều chồng, cư xử đúng mực, thường được bạn bè yêu mến.

Tình duyên: Tuổi này phải trải qua đổ vỡ sau mới có hạnh phúc. Nếu sinh con trai vợ chồng sẽ hòa thuận.

Nữ Tân Mùi sinh vào các tháng: 4, 8, 9, 12 đường tình duyên lận đận, hậu vận mới được hạnh phúc.

Công danh sự nghiệp: Người tuổi Tân Mùi học hành đỗ đạt, dễ nổi tiếng.

Nữ tuổi này thông minh, sáng tạo, có khuynh hướng nghệ thuật. Nhưng nếu công danh thành đạt thì tiền bạc sẽ khó dồi dào, năm 32 tuổi sẽ có sự nghiệp phát triển vững chắc.

Các tuổi thuận cho việc làm ăn của người tuổi Tân Mùi là: Quý Dậu, Ất Hợi, Bính Tý, Kỷ Mão.

Tiền bạc: Tiền bạc vượng theo công danh, sự nghiệp. Tuy nhiên, tuổi này tiền bạc thu về nhiều, tiêu pha cũng lớn, từ 40 tuổi trở đi kinh tế mới ổn định, giàu có.

Mời bạn đọc tham khảo bài viết: Giải mã vận mệnh người tuổi Tân Mùi theo Lục Thập Hoa Giáp

(Theo 12 con giáp, tính cách con người qua năm sinh, tuổi Mùi)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm may mắn cho người tuổi Tân Mùi

Nâng cao vận trạch gia đình với vị trí lợi thủy

Nguồn thủy trong nhà có tác động nhiều tới vận trạch nên vị trí bồn chứa nước hợp phong thủy là điều mà gia đình nào cũng cần lưu ý.
Nâng cao vận trạch gia đình với vị trí lợi thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nguồn thủy trong nhà có tác động nhiều tới vận trạch nên vị trí bồn chứa nước hợp phong thủy là điều mà gia đình nào cũng cần lưu ý.


Nang cao van trach gia dinh voi vi tri loi thuy hinh anh
 
Bồn chứa nước trong gia đình là nơi tích tụ thủy, đại diện cho tài lộc và phúc khí của gia chủ và người trong nhà. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng lớn trong việc cân bằng khí trong nhà, nâng cao vận khí, thu hút tiền tài. 
 
Vị trí bồn chứa nước hợp phong thủy là phải hòa hợp với hướng nhà. Hướng nhà ở phương nào thì đặt bồn chứa nước ở phương tương ứng, thì thủy trong nhà sẽ tốt, nâng cao trạch vận rất nhiều.
 
Hướng nhà Vị trí đặt bồn nước
Nhâm Tuất
Tý  Mùi, Khôn
Quý Thân
Sửu Tỵ, Bính
Cấn Bính
Dần Hợi
Giáp Tuất, Càn
Mão Càn
Ất Mùi, Khôn, Thân
Tốn Tốn
Bính Nhâm, Tý
Ngọ, Đinh Càn, Hợi
Mùi Giáp, Mão
Khôn, Thân Cấn, Dần
Canh Tuất
Dậu Cấn, Sửu
Tân Cấn
Càn Tuất, Càn
   Nhà ở 4 hướng Thìn – Tuất - Tỵ - Hợi thì không cần chọn hướng đặt bồn nước hợp phong thủy.
 
Tuy nhiên, vị trí lợi thủy chỉ kéo dài từ 6 tháng tới 1 năm chứ không cố định. Sau thời gian đó nên dịch chuyển bồn chứa nước một chút theo chiều kim đồng hồ, hoặc thay mới.
 
Nếu nhà không có bồn chứa nước thì có thể dùng bể cá, bể bơi thay thế cũng có tác dụng tương tự.  
► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh

Theo Thiên Việt

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nâng cao vận trạch gia đình với vị trí lợi thủy

Xem bói ngày sinh để biết tài lộc và cách tiêu tiền

Xem bói ngày sinh cũng có thể biết được cuộc đời này bạn có bao nhiêu tiền trong tay. Công thức tính dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về điều đó.
Xem bói ngày sinh để biết tài lộc và cách tiêu tiền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Căn cứ vào ngày tháng năm sinh cũng có thể biết được cuộc đời này bạn có bao nhiêu tiền trong tay. Công thức tính dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về điều đó.


1. Công thức tính

  Bước 1: Viết ngày tháng năm sinh của bạn ra một tờ giấy.   Bước 2: Cộng tất cả những con số ở ngày, tháng, năm lại với nhau. Tiếp tục cộng cho tới khi kết quả là một chữ số. Đó chính là con số linh nghiệm của sinh mệnh.   Bước 3. Đối chiếu con số linh nghiệm của sinh mệnh với kết quả dưới đây.   Ví dụ: Bạn sinh vào 18/6/1980 = 1+8+6+1+9+8+0=33=3+3=6. Đối chiếu số 6 với kết quả dưới đây.  
Xem boi ngay sinh hinh anh
 

2. Đối chiếu kết quả

   

- Con số sinh mệnh là 1

  Xem bói ngày sinh, số 1 mang ý nghĩa về tính độc lập mạnh mẽ. Người có số sinh mệnh là 1 thường làm việc gì cũng muốn tự mình làm, không thích người khác giúp đỡ. Nếu mở công ty, cơ sở kinh doanh riêng, một mình bạn sẽ kiêm cả ông/bà chủ lẫn nhân viên, việc lớn nhỏ đều tỏ tường.    Khi điều kiện kinh tế cho phép, tiền nhiều, người này thường tiêu tiền hào phóng. Nhưng ngược lại, khi kinh tế eo hẹp, ngoài việc ăn mặc, mọi hoạt động giải trí khác đều được người này loại ra khỏi lịch trình hàng ngày, tiết kiệm chi tiêu, lâu dần cũng thoát khỏi cảnh nghèo khó.    

 - Con số sinh mệnh là 2

  Chủ nhân của con số sinh mệnh là 2 thường có tính cách thuộc hai kiểu điển hình như sau. Một là trong ngoài bất nhất, bên ngoài thì tỏ ra hài hòa, đáng yêu, nhưng bên trong lại hiểm độc, vì lợi ích cá  nhân, nói trở mặt là trở mặt được ngay.   Kiểu thứ hai là thù lâu nhớ dai. Một khi ai đó đã mượn tiền của họ mà không trả hoặc lâu rồi chưa trả được, họ sẽ khắc sâu trong tim, sống để bụng, chết mang theo.   
Xem boi ngay sinh hinh anh
 
 

- Con số sinh mệnh là 3

  Người có số sinh mệnh là 3 thường không giỏi biểu đạt cảm xúc, ý kiến cá nhân nhưng lại có năng khiếu và niềm đam mê nghệ thuật.    Tuýp người này không coi trọng tiền bạc, vật chất nhưng lại rất quan tâm tới giá trị tinh thần và cả vật chất của những tác phẩm nghệ thuật. Trong tay họ nắm giữ không ít tiền bạc, tác phẩm nghệ thuật có giá trị.     

- Con số sinh mệnh là 4

  Mang trong mình con số sinh mệnh là 4, bạn luôn thấy thiếu an toàn, tâm hồn mong manh dễ vỡ, có thể bị tổn thương bất cứ lúc nào. Bạn lo lắng, sợ hãi khi cô đơn một mình.    Chính vì thế, bạn luôn tìm kiếm cảm giác an toàn ở phương diện tiền bạc. Bạn lao vào kiếm tiền như điên, tiết kiệm tiền bằng mọi cách, chỉ khi nhìn thấy số tiền tươi rói trong tài khoản ở ngân hàng, bạn mới thực sự cảm thấy bình yên.
Nhìn thời điểm chuột rút nắm rõ điềm báo hung cát Dự đoán hung cát dựa vào cách bói lúc tai phát nóng Dạy cách xem bói thú vị bằng lược và bằng đũa

- Con số sinh mệnh là 5

  Có con số sinh mệnh là 5, chứng tỏ bạn thuộc tuýp cuồng tự do, thích bay nhảy, đi du lịch khám phá những điều mới mẻ. Để thực hiện được sở thích và cũng là những mục tiêu to lớn ấy, bạn hăng say kiếm tiền, làm thêm nhiều việc không quản vất vả.    Có những lúc bạn chi tiêu tiết kiệm tới mức, ăn không dám ăn, mặc chẳng dám mặc, còn luôn than nghèo kể khổ với bạn bè. Nhưng khi tiền đã về túi, bạn bỗng trở thành con người khác, hào sảng và phóng khoáng hơn gấp bội.
 

- Con số sinh mệnh là 6

  Có con số sinh mệnh này, bạn sở hữu trái tim nhân hậu, tấm lòng hướng thiện cao cả. Chỉ cần người thân, bạn bè gặp khó khăn, bạn sẵn sàng tìm cách tương trợ.    Dù kiếm được rất nhiều tiền, nhưng việc tích lũy cho bản thân người này lại không nhiều. Họ vẫn giữ thói quen sống giản dị, tiết kiệm, nhưng vì hào phóng giúp đỡ người khác nên đôi khi bản thân chịu không ít thiệt thòi.
Xem boi ngay sinh hinh anh
 
 

- Con số sinh mệnh là 7

  Nằm trong nhóm người có số sinh mệnh là 7, tài vận của bạn cực tốt. Thêm nữa, bạn cũng rất nhạy bén với các con số, giỏi phân tích, tính toán. Dù là khi kiếm được nhiều tiền hay ít, khi giàu sang hay nghèo khó, bạn vẫn tìm ra cho mình hướng đi phù hợp, tính toán đâu ra đó.   Nhìn chung, đời sống vật chất của người này phong phú vô cùng. Phần lớn đều có mức sống khá giả, giàu có.    

- Con số sinh mệnh là 8

  Đối chiếu kết quả thấy con số sinh mệnh của bạn là 8, chứng tỏ khả năng tiết kiệm, tích lũy tiền bạc của bạn rất lớn. Hơn ai hết, bạn tự lực cánh sinh, biết quý trọng giá trị đồng tiền, vì thế chi tiêu cũng có sự tính toán kỹ càng.   Với bạn, dù đột nhiên có được món tiền trúng số, lãi từ cổ phiếu… thì đó cũng chỉ là may mắn nhất thời, không quan trọng. Điều cốt lõi là ở giá trị tích lũy và thực lực cố gắng ở mỗi người.    

- Con số sinh mệnh là 9

  con số sinh mệnh là 9, bạn không giỏi trong việc quản lý tiền bạc. Thậm chí, lúc cơ hàn, tinh thần bạn bấn loạn, lo lắng không yên. Chính vì thế, càng khó tìm ra hướng đi đúng giúp bạn nhanh chóng thoát nghèo.   Dẫu vậy, khả năng tích lũy tiền bạc của người này rất tốt. Nhờ vào lối sống cần kiệm mà họ nắm trong tay khối tài sản khá, để rồi những lúc xảy ra sự cố bất ngờ họ có thể tự tin ứng phó kịp thời.  
► Mời các bạn: Xem tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh chuẩn xác

Ngọc Diệp Bói hắt xì hơi giải tỏa áp lực mỗi ngày
Hắt xì hơi là hành động cơ thể, tuy nhiên thông qua các bói đơn giản, chúng cũng đem lại ý nghĩa nhất định. Hãy cùng ## dựa theo giờ thần bói hắt
 Xem thêm Clip 3 con giáp sau 1 đêm trở thành TRIỆU PHÚ




Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói ngày sinh để biết tài lộc và cách tiêu tiền

Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân, tu vi Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân, tu vi Bói tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân

Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân, người tuổi Thân có một mối nhân duyên khiến cho rất nhiều người khác phải ngưỡng mộ. Họ thuộc tuýp người nhiệt tình, trầm tĩnh, ổn định nhưng cũng khá bảo thủ. Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân

Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân

Xem bói nữ giới tuổi Thân là những người rất ghét bị bó buộc trong cuộc sống. Vì vậy, sau khi kết hôn, họ vẫn yêu cầu người chồng cho mình có một cuộc sống tự do, không cam chịu chỉ là một người phụ nữ của gia đình và cũng không thể chịu đựng được việc cả ngày chỉ loanh quanh với công việc nhà, với chồng, với con. Họ thích tham gia vào các hoạt động, công việc trong xã hội để cuộc sống có nhiều ý nghĩa hơn.

Nữ giới tuổi Thân không giỏi trong việc sắp xếp kinh tế trong gia đình. Họ cũng không thể làm tốt được những công việc khác như dọn dẹp, lau chùi hoặc giặt quần áo. Thậm chí, đôi khi họ sẽ đẩy hết những công việc nhà đó cho chồng. Tuy nhiên, họ lại rất biết cách giáo dục con cái và luôn tự tin rằng mình có thể dạy dỗ chúng trở thành những đứa trẻ giỏi giang, thông minh, hoạt bát.

Trên phương diện tình yêu, người tuổi Thân có một mối nhân duyên khiến cho rất nhiều người khác phải ngưỡng mộ. Họ thuộc tuýp người nhiệt tình, trầm tĩnh, ổn định nhưng cũng khá bảo thủ. Cuộc sống vợ chồng không xảy ra những cơn bão lớn, tuy vẫn có những đợt sóng nhỏ nổi lên nhưng cuối cùng, mọi chuyện vẫn sẽ trở nên tốt đẹp.

Người tuổi Thân thường có cuộc sông gia đình ấm êm, hạnh phúc. Họ cũng luôn đối xử chân thành, hiền hòa với những người khác. Họ cũng luôn biết trân trọng những tình cảm đã có giữa hai vợ chồng, hai người tương thân tương ái và sẽ chung sống với nhau cho đến đầu bạc răng long. Tuy nhiên, họ vẫn luôn mong muốn người bạn đời của mình sẽ ủng hộ những ý kiến của mình trong mọi việc.

2.  Đối tượng kết hôn của người tuổi Thân

Trong xem tuổi vợ chồng, người tuổi Thân giống như những đứa trẻ ngây thơ mà cũng rất đỗi trưởng thành. Họ luôn chu đáo, tận tâm với những người khác, nhưng vì tình cảm không ổn định nên rất khó tìm được hạnh phúc đích thực cho mình. Quan hệ với những người bạn khác giới của họ cũng không mấy lý tưởng vì họ có quá nhiều bạn khác giới, lại luôn trong tư thế tấn công vội vàng.

Với nữ giới tuổi Thân thì cơ hội có tình yêu thường đến với họ từ khá sớm. Sau khi đã hiểu hết mọi điều về tình yêu, họ thường yêu đối phương một cách toàn tâm toàn ý chân thành và nồng nhiệt nhất. Họ có một linh tính khiến cho những người khác khó quên được. Trong cuộc sống hàng ngày, họ cũng luôn nở nụ cười và thường là nhân vật trung tâm thu hút sự chú ý của đám đông.

Đường tình yêu hôn nhân của nam giới tuổi Thân với các tuổi khác

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Tý: Đây quả là một cặp trời sinh. Hai người sẽ thương yêu và sống hạnh phúc bên nhau suốt đời.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Sửu: Tình yêu giữa hai người rất hòa hợp. Người vợ sẽ rất yêu chồng; người chồng thông minh thì luôn biết cách giải tỏa hết những mâu thuẫn trong gia đình để luôn cảm thấy vui vẻ, thoải mái và hạnh phúc.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Dần: Người chồng tuổi Thân nên chủ động chia sẻ những ý kiến của mình để tạo điều kiện cho người vợ tuổi Dần bộc bạch những suy tư ẩn dấu ở trong lòng. Nếu người vợ không thể thổ lộ những suy tư đó thì dễ rơi vào tình trạng chán nản, mệt mỏi trong cuộc sống.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Mão: Hai người có thể cùng nhau xây dựng nên một gia đình nhỏ hanh phúc. Cùng tìm ra mục đích để phấn đấu, để cùng nhau gây dựng thì sẽ có được thành quả lớn lao.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Thìn: Hai ngưòi có thể chung sống với nhau. Người đàn ông rất có sức thu hút đối với người phụ nữ. Và tuy đôi khi cảm thấy thất vọng nhưng họ cũng sẽ không để lộ cho người khác biết cảm giác đó của mình.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Tỵ: Hai người có thể cùng nhau xây dựng nên một gia đình hạnh phúc mỹ mãn, với điều kiện người đàn ông phải có tình cảm thực sự trước khi tiến tới hôn nhân với người phụ nữ tuổi Tỵ

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Ngọ: Hai người có suy nghĩ rất tốt về nhau. Tình cảm của người vợ thì trong sáng còn người chồng rất đỗi yêu thương và chăm lo cho gia đình.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Mùi: Hai người có thể sống bên nhau. Người vợ có thể khơi dậy những hứng thú của chồng, nhưng ngưòi chồng cũng cần phải cố gắng tạo lập sự nghiệp để giúp vợ thực hiện những ước muốn của mình.

 

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Thân: Hai người khá hợp nhau, cả hai có thể làm chung một công việc đó. Chính công việc này sẽ mang lại niềm vui và củng cố để cuộc hôn nhân giữa hai người ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Dậu: Người chồng cho dù thật sự yêu thương người vợ nhưng cần phải học hỏi để biết cách thể hiện tình yêu này ra bên ngoài. Tạo dựng niềm tin cho người vợ mình là một chỗ dựa vững chắc cho người phụ nữ tuổi Dậu.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Tuất: Cả hai cần khoan dung và nhẫn nhịn lẫn nhau thì mới mong có  kết quả tốt đẹp. Đôi lúc, người vợ sẽ không thể hiểu được những suy nghĩ của người chồng cho nên người tuổi Thân phải biết cách chia sẻ tâm tư của mình để tin tưởng và hiểu nhau hơn.

- Nam giới tuổi Thân với Nữ giới tuổi Hợi: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân hạnh phúc mỹ mãn. Cả hai luôn biết cách để đối phương cảm thấy vui vẻ, thoải mái. Tình yêu, hôn nhân của họ luôn tràn ngập những niềm vui và tiếng cười.

Đường tình yêu hôn nhân của nữ giới tuổi Thân với các tuổi khác

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Tý: Hai người có thể sống vui vẻ bên nhau. Rất có thể người chồng sẽ có đôi lúc làm cho vợ phải buồn lòng, nhưng anh ta cũng luôn nhận được sự tha thứ thông cảm từ vợ. Điều này khiến người chồng rất cảm động và làm cho cuộc sống vợ chồng càng thêm hạnh phúc.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Sửu: Hai ngưòi có thể chung sống với nhau. Người chồng sẽ yêu vợ tha thiết, sẵn sàng hy sinh, nhượng bộ tất cả vì vợ của mình.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Dần: Tuy việc chung sống của hai người là không hể dễ dàng, nhưng thực sự tình yêu của hai người là chân thành. Nếu bỏ qua cái tôi cá nhân hơn, biết tôn trọng và lắng nghe nhau nhiều hơn thì chắc chắn cuộc hôn nhân này ai cũng muốn có.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Mão: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc. Cả hai người luôn cảm thấy vui vẻ, thoải mái mỗi khi được ỏ bên nhau.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giói tuổi Thìn: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân hạnh phúc mỹ mãn. Người chồng biết cách bảo vệ cho vợ, còn người vợ thì luôn biết cách đưa ra những ý kiến và lời khuyên chân thành, hữu ích cho người chồng đầy tự tin của mình.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Tỵ: Cuộc sống hòa thận, ít tranh cãi hay mâu thuẫn lớn. Hai vợ chồng không có sự khác biệt nhau nhiều về sở thích và quan niệm sống do đó tương đối bình yên trong hôn nhân.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Ngọ: Thực tế cuộc sống có thể kéo hai người ở lại bên nhau cho dù có chuyện gì xảy ra. Rõ ràng có một sự gắn bó nào đó mà bản thân hai người phải tự mình tìm hiểu và cảm nhận về nhau.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Mùi: Không ít người mơ ước cuộc sống của cặp đôi này vì trong tình yêu họ nồng cháy nhưng trong hôn nhân họ rất êm đềm và trôi lắng.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Thân: Hai người có thể sông bên nhau và cùng nhau làm được nhiều việc rất có ý nghĩa.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Dậu: Người vợ có thể có được rất nhiều điều tốt đẹp do người chồng mang lại. Người chồng luôn biết rằng tình yêu của người vợ đối với mình là chân thành và tận tụy.

 

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Tuất: Có thể hai người sẽ rất hợp nhau vì cả hai đều không thích huyễn hoặc và luôn chú trọng đến thực tế.

- Nữ giới tuổi Thân với Nam giới tuổi Hợi: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân vô cùng hạnh phúc. Người vợ ngưỡng mộ tài năng của người chồng còn người chồng thì luôn cố gắng để đáp ứng được hết những yêu cầu của vợ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bói tình duyên vợ chồng người tuổi Thân - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Đền Hoàng Bà - Hưng Yên

Đền Hoàng Bà - Hưng Yên được tạo dựng từ đầu thế kỷ XVII, thờ bà Trần Mã Châu, một vị nữ tướng tài ba đã cùng Hai Bà Trưng đánh tan quân Tô Định,
Đền Hoàng Bà - Hưng Yên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xuất phát từ trung tâm thành phố Hưng Yên, xuôi theo đê sông Hồng về phía đông khoảng 3km, ta sẽ thấy một ngôi đền toạ lạc trên gò đất cao, quay về hướng đông nam. Bên phải là dòng sông Hồng cuộn chảy, bên trái là con đê bao quanh như một bức tường thành. Phía trước là cánh đồng, phía sau là xóm làng, thấp thoáng nhà mái ngói, mái bằng trong những vườn nhãn xum xuê xanh mướt. Đó là Đền Hoàng Bà, xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên.

Lịch sử đền Hoàng Bà

Đền Hoàng Bà được tạo dựng từ đầu thế kỷ XVII, thờ bà Trần Mã Châu, một vị nữ tướng tài ba đã có công lao to lớn, cùng Hai Bà Trưng đánh tan quân Tô Định, giành lại độc lập cho đất nước.

Tương truyền, sau Trưng Vương lên ngôi được 3 năm thì quân Nam Hán lại sang xâm lược nước ta. Trần Mã Châu được lệnh ra quân quyết chiến với giặc. Quân giặc bao vây tứ phía. Trên mình ngựa, tay cầm song kiếm, bà tả xung hữu đột, thấy giặc ngổn ngang. Được nửa ngày, gió thổi làm lộ thân hình, tướng giặc biết đó là nữ liền hô to: “Sĩ tốt khoả thân mà đánh” khiến bà lúng túng, bị thương, quay ngựa chạy về đến Bảo Châu thì hoá. Đó là ngày 3/3 năm Ất Mùi (năm 43 sau CN)

. Dân làng nơi đây đã lập đền thờ, tế lễ để ghi công đức của Hoàng Bà. Cảm phục và thương xót bậc lương thần đã quên mình vì nước, Trưng Vương truy phong cho Bà là “Thượng đẳng Phúc thần” và chuẩn phê cho làng Bảo Châu là nơi đền chính, phụng sự tế tự.

Tương truyền đền Hoàng Bà rất linh thiêng. Các triều đại nối tiếp về sau đứng lên dẹp giặc, gây dựng cơ đồ đều được Châu Nương linh thiêng hiển ứng, âm phù giúp nước, nên lại được phong: “Thượng đẳng tối linh anh linh hiển ứng” . Đến nay đền còn giữ được 7 sắc phong qua các triều đại. Triều Lê Thái Tổ phong cho Bà là: “Phương Dung trinh thục mĩ nga nhân Uyển Huệ Hoà công chúa.” Gần đây nhất là triều Khải Định năm thứ 4 (tháng 7 năm 1919), sắc phong cho Bà là: “Trinh tĩnh Trung đẳng thần”.

Kiến trúc đền Hoàng Bà

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đền Hoàng Bà đã nhiều lần phải trùng tu tôn tạo, song vẫn luôn giữ được nét xưa; uy nghi, giản dị, thanh tao. Hiện đền còn giữ được khá nhiều hiện vật quý giá, như: kiệu bát cống, kiệu võng, kiệu Bà, đại tự, hoành phi, câu đối, ca ngợi công đức Hoàng Bà với nhiều nội dung sâu sắc. Đặc biệt, đền còn giữ được bức tượng Hoàng Bà bằng gỗ quý rất đẹp từ thời Bà còn sống.

Hàng năm, đền mở hội từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch. Con em quê hương ở khắp mọi nơi cùng khách thập phương nô nức về dự hội, tưởng nhớ người nữ tướng anh hùng của dân tộc và ôn lại truyền thống chống ngoại xâm của ông cha ta.

Năm 1997, Đền Hoàng Bà đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Đây mãi sẽ là nơi tôn vinh, tri ân công đức của Hoàng Bà – vị nữ anh hùng dân tộc trong buổi đầu dựng nước, nơi bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc cho muôn đời con cháu mai sau.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đền Hoàng Bà - Hưng Yên
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries