Sao Hỏa được lấy hình tượng từ người con út của Lý Tính, tam thái tử Na Tra. Sao Hỏa trong Tử Vi Đẩu Số tượng trưng cho sức chiến đấu mạnh mẽ, nặng lượng dồi dào bất tận, vô cùng ổn định
Trong "Phong thần diễn nghĩa", Na Tra là nhân vật tượng trưng cho sao Hoả, một trong lục sát của Tử Vi Đẩu số. Theo như "Phong thần diễn" Na Tra là con trai út của Lý Tịnh, quan Tổng binh trấn giữ ải Trần Đường của vương triều Trụ. Khi Lý Tịnh còn học đạo, ông từng bái Độ Ách chân nhân núi Tây Côn Lôn làm thầy, nhưng vì đạo tiên khó học, nên ông xuống núi, nhận chức Tổng binh cho triều đình.
Phu nhân của ông là Ân thị đã sinh được hai con trai là Kim Tra và Mộc Tra. Vài năm sau, bà lại mang thai, nhưng hoài thai được ba năm sáu tháng vẫn chưa sinh. Lý Tịnh thấy quái dị, ngờ rằng là quái thai, còn Ân phu nhân cũng rất buồn phiền, không biết phải giải quyết ra sao.
Một đêm, Ân phu nhân mơ thấy có một đạo nhân đi vào trong phòng, thì ngạc nhiên nghĩ thầm: "Vị đạo nhân này sao lại tự tiện đi vào nhà của người ta?" Đạo nhân cầm một viên ngọc ném về phía phu nhân mà nói: "Phu nhân mau nhận con đi".
Ân phu nhân giật mình tỉnh dậy, thuật lại giấc mơ cho Lý Tịnh nghe. Lời chưa nói dứt, chợt thấy bụng đau dữ dội, Lý Tịnh bèn quay ra ngoài đợi. Một lát sau thị nữ hớt hải chạy ra báo: "Phu nhân sinh ra một quái thai". Lý Tịnh vào xem, chỉ thấy một khối sáng đỏ rực, khắp nhà sực nức hương thơm, thì ra Ân phu nhân sinh ra một cục thịt, đang lăn lông lốc khắp nhà. Lý Tịnh thấy cảnh tượng đó thì vô cùng kinh sợ, bèn rút kiếm chém vào cục thịt.
Bất ngờ từ trong cục thịt nhảy ra một đứa bé trai trắng trẻo xinh đẹp, đó chính là viên ngọc thiêng đầu thai chuyển thế. Tay phải đứa bé đeo một chiếc xuyến vàng, ngang bụng thắt một dải lụa đỏ. Chiếc xuyến vàng và dải lụa hồn thiên lăng chính là bảo vật trấn động của núi Càn Nguyên. Lý Tịnh thấy đứa bé vừa ra đời đã luôn chân chạy nhảy, thì vừa mừng vừa lo.
Hôm sau, có Thái Ất chân nhân tại động Kim Quang núi Càn Nguyên đến cầu kiến. Đạo nhân nói rằng: "Nghe nói tướng quân sinh được một vị công tử nên đặc biệt đến chúc mừng. Cho tôi nhìn quý công tử một chút được chăng?" Lý Tịnh cho người bế đứa bé ra cho Đạo nhân nhìn mặt. Đạo nhân bèn hỏi đã đặt tên chưa, Lý Tịnh đáp rằng chưa.
Đạo nhân bèn nói: "Để bần đạo đặt tên cho đứa bé và thu nhận làm đệ tử của bần đạo, có đưực chăng?" Và đặt tên cho đứa bé là Na Tra.
Theo "Phong thần diễn nghĩa", Na Tra từ thưở bé đã giương được cây cung càn khôn và mũi tên chấn thiên do hoàng đế Hiên Viên để lại, bắn trúng đứa bé hái thuốc của Thạch Cư nương nương, nên đã chuốc lấy tai hoạ lớn. Khi Na Tra bảy tuổi, đến nghịch nước tại cửa Đông Hải ải Trần Đường, làm kinh động đến long cung của Đông Hải Long vương. Tuần hải dạ xoa cùng Long vương tam thái tử Ngao Bính đến ngăn trở, đều bị Na Tra lấy đi tính mạng. Đông Hải Long vương nổi giận, tố cáo với Ngọc đế, buộc Lý Tịnh phải giao nộp Na Tra đền mạng. Na Tra khẳng khái dám làm dám chịu, cõng gông xin chịu tội, rồi tự mình lóc thịt trả mẹ, róc xương trả cha để đền đáp ơn dưỡng dục.
Sau đó, linh hồn Na Tra trôi dạt không nơi nương tựa, bay đến núi Càn Nguyên, được sư phụ là Thái Ât chân nhân triệu vào trong động. Rồi chân nhân sai Kim Hà đồng tử đến ao Ngũ Liên hái về hai đoá hoa sen và ba chiếc lá sen, sau đó ngắt cánh hoa sen xếp thành tam tài, bẻ lá sen xếp thành xương khớp, ba tấm lá sen chia ba phần trên, giữa, dưới hợp thành Thiên - Địa - Nhân, rồi đặt một viên kim đan vào chính giữa, dùng phép tiên thiên, vận khí chín lần, phân: Ly rồng, Đoài hổ, bắt lấy hồn phách của Na Tra, đẩy lên phía trên quát rằng: "Na Tra không biến thành người, còn đợi đến bao giờ!"
Bỗng nhiên một tiếng nổ vang rền, đám hoa, lá sen háa thành hình Na Tra nhảy vụt dậy, chỉ thấy thân cao một trượng, khuôn mặt hồng hào, môi đỏ như son, mắt toả thần quang. Na Tra lập tức sụp xuống bái lạy Thái Ât chân nhân.
Sau vì Lý Tịnh nổi lửa đốt miếu Na Tra, nên giữa hai cha con thành ra thù oán. Nhưng Lý Tịnh được Nhiên Đăng đạo nhân hoá giải, lại thêm hai con trai Kim Tra, Mộc Tra đều đầu quân về với Chu Vũ Vương, nên Lý Tịnh từ bỏ chức vị Tổng binh vào núi ở ẩn, đợi khi thời cơ chín muồi, bèn hợp lực cùng các con góp sức vào sự nghiệp thảo phạt Ân Trụ.
Trong thời gian Vũ Vương phạt Trụ, Na Tra được giao chức tướng tiên phong, cùng Dương Tiễn (sao Kình Dương), Hoàng Thiên Hoá (sao Đà La), Lôi Chân Tử (sao Linh) sánh vai tác chiến, lập rất nhiều kỳ công. Na Tra giỏi vận dụng các chiến lược linh hoạt, biến hoá khó lường, xuất kỳ bất ý, lâm trận dũng mãnh phi thường, thường gan dạ chọc thẳng vào sào huyệt địch, khiến kẻ địch kinh hồn bạt vía.
Sau khi Vũ Vương phạt Trụ thành công, muốn thưởng công ban tước cho Na Tra, nhưng Na Tra khước từ mà thảnh thơi trở về núi Càn Nguyên, theo Thái Ất chân nhân tiếp tục tu luyện. Lý Tịnh cùng Kim Tra, Mộc Tra cũng tương tự, không quyến luyến danh lợi thế tục, đều trở về nơi tu luyện của mình tiếp tục tu tiên.
Về sau, Na Tra được phong làm Hoả tinh, là một ngôi sao tượng trưng cho sức chiến đấu mạnh mẽ, với nguồn năng lượng dồi dào bất tận. Nếu nguồn năng lượng của sao Thái Dương do bị ảnh hưởng bởi lúc mặt trời mọc, lặn, nên không ổn định, lúc mạnh lúc yếu, thì năng lượng của sao Hoả là ổn định, liên tục, không hề tiêu giảm.
Một bài viết rất hay của bác Lê Hưng VKD chia sẻ về Âm Dương với sức khỏe. Bác Lê Hưng chính là GS Lê Trung Hưng viết bài trên tạp chí KHHB trước năm 1975.
Từ vựng ÂM & DƯƠNG là 2 thuật danh định tính khái quát 2 mặt vận hành của mọi vật chất (hữu hình hoặc vô hình) trong trời đất (xuất hiện vào thế kỷ thứ 3 truớc công nguyên, do nhà lý học Trâu Diễn đề xuớng thời Xuân thu - Chiến quốc nước Tàu loạn lạc); bộ sách đông y lâu đời nhất là HOÀNG ĐẾ NỘI KINH (thời Tiền Tần / Chiến quốc nước Tàu chưa thống nhất) cũng lấy nguyên lý "vận hành" của Kinh Dịch (cách nay khoảng 46 thế kỷ) để "thực tế hóa" 2 thuật danh Âm & Duơng trong phần nói về giáo khoa bệnh học luận trị, là:
(ảnh Internet)
ÂM TỤ - DUƠNG TÁN để các thầy thuốc căn cứ vào đây mà chữa bệnh!. Điều này có ý nghĩa toán học rất cụ thể:
ÂM là nhận vào (in-put, in-come), tập trung lại, gom góp - tích lũy thêm... (tính cộng, tính nhân, tính lũy thừa, hàm tích phân...).
DUƠNG là cho ra (out-put, out-come), xuất phát chia sẻ, bớt dần đi...(tính trừ, tính chia, tính căn thức, hàm vi phân...).
Nhìn vào thực tế cuộc sống con nguời, lại càng thấy rõ ràng hơn:
Ăn, uống... là hành vi của ÂM
Tiểu tiện, đại tiện... là hành vi của DƯƠNG
Ngay cả các sinh hoạt "phồn thực sinh lý" của mọi động vật (kể cả người):
Động vật "giống CÁI" luôn ở thế NHẬN VÀO (Âm).
Động vật "giống ĐỰC" luôn ở thế CHO RA (Duơng).
Như vậy "lưỡng nghi" của Kinh Dịch phuơng Đông cổ đại, có thể tạm hiểu (bước đầu) như triết luận mối tương quan hữu cơ của 2 hành vi đối đẳng nhau, nhưng nương tựa nhau (hàm ơn nhau!) để mọi vật chất tồn sinh - dù vô hình hay hữu hình trong tầm mắt hữu hạn của sinh vật nguời! Đó là ý nghĩa của thuyết Âm Duơng! Nền văn minh - khoa học đương đại, cũng là thành quả tốt đẹp xuất phát từ những công trình trí tuệ toán học: chọn lọc giải pháp CHO RA/Dương - NHẬN VÀO/Âm khả thi nhất (vận trù học) để thực hiện, mục đích làm cho SỰ SỐNG con nguời hạnh phúc hơn!
2/ SỨC KHỎE LÀ GÌ?
Có 2 nguồn định nghĩa về SỨC KHỎE con nguời, đó là:
2.1- Theo y học hiện đại (quen gọi là Tây y): tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã định nghĩa Sức Khỏe là một trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần,và phúc lợi xã hội.
2.2- Theo y học cổ truyền (quen gọi là Đông y): các tài liệu giáo khoa về YHCT đều quan niệm Sức Khỏe là lưỡng nghi Âm - Duơng trong cơ thể được thăng bằng! Ngược lại: bệnh tật chỉ là hậu quả của sự mất quân bình Âm Duơng...
Riêng nền y học cổ truyền Việt Nam, nhiều thầy thuốc danh tiếng trong y sử nuớc nhà (cụ Tuệ Tĩnh thế kỷ 14, cụ Nguyễn Đại Năng thế kỷ 15, cụ Lê Hữu Trác thế kỷ 18, cụ Nguyễn Đình Chiểu thế kỷ 19...) đều đã truyền thừa cho hậu thế quan niệm "sức khỏe toàn diện" từ vật chất đến tinh thần, theo như cụ đông y sĩ Đẩu Sơn - Lê Lã Sảng (chủ phòng thuốc Phúc Mãn Đuờng thời gian 1934-1963, khu phố Chợ 20 đuờng Général Lizé - Saigon, nay là đường Điện Biên Phủ, quận 10- TP. HCM) đã giải thích chi tiết SỨC KHỎE ĐÍCH THỰC (là cách gọi của gia tộc Lê Lã tỉnh Hưng Yên năm xưa) gồm 6 hợp phần (3 âm, 3 dương) như sau:
Khỏe mạnh về thể chất (là hạt nhân, Â1)
Khỏe mạnh về an sinh xã hội (qđ. Â3)
Khỏe mạnh về cảm xúc (qđ. D1)
Khỏe mạnh về ứng xử (qđ. D2)
Khỏe mạnh về tâm linh (qđ. D3)
Mô hình minh họa:
(Â1: thể chất; Â2: tinh thần; Â3: an sinh xã hội
D1: cảm xúc; D2: ứng xử; D3: tâm linh)
3/ Sức Khỏe TỶ LỆ NGHỊCH thời gian tích tuổi:
Sự SỐNG con nguời là quá trình tích tuổi, thể trạng sinh học của mọi nguời đến tuổi nghỉ hưu (từ trên 55 tuổi...) đều có sự suy thoái trong các hoạt động của tổ chức tạng - phủ... Điều này có ý nghĩa: sống càng lâu thì sức khỏe càng yếu dần đi! Lão khoa Đông y đã nghiệm lý được khả năng "tiên luợng tuơng lai" cho các hệ tuổi tác, như sau:
(sức khỏe "tỷ lệ nghịch" với tích tuổi)
Cũng từ bảng thống kê kinh nghiệm ở trên, các thầy thuốc xưa đã phát hiện ra được mối liên thông giữa khả năng "âm-duơng phồn thực" (tức sinh hoạt tình dục nam nữ) với tình hình sức khỏe "bình thuờng" của nguời đàn ông (tính bình quân với mức sai số 10% ) như sau:
(Hằng số 9 là "cửu khiếu Linh khu" gồm 2 mắt + 2 tai + 2 lỗ mũi + 1 miệng + 1 lỗ thông đại tiện + 1 lỗ thông tiểu tiện của bộ máy người kỳ diệu).
Thầy thuốc đông y ĐẨU SƠN (Lê Lã Sảng) giải thích: số 9 theo ma trận vuông Lạc Thư (mô hình tuợng số áp dụng trong hậu thiên bát quái - Dịch lý cổ truyền) thuộc hành Hỏa quẻ Ly trong Linh khu (tức bộ máy nguời kỳ diệu) là tạng Tâm (chủ về bộ phận tuần hoàn huyết), tuổi già mà máu huyết còn luân lưu tốt... ắt sức khỏe phồn thực âm - duơng cũng còn... lai rai chút đỉnh!
4/ Tạo nguồn SỨC KHỎE ĐÍCH THỰC cho tuổi nghỉ hưu:
4.1- Mười điều để sống khỏe:
Điều 1: Ăn ít thịt, mà nhiều rau xanh;
Điều 2: Ăn ít đường, mà nhiều trái cây tươi;
Điều 3: Giảm phiền muộn, cần ngủ nhiều (7 tiếng/ngày);
Điều 4: Nói ít, mà làm nhiều;
Điều 5: Mặc đủ ấm, tắm thường xuyên;
Điều 6: Ít ăn mặn đắng, nên ăn chua ngọt;
Điều 7: Không ăn quá no, nên nhai nhiều và kỹ rồi mới nuốt;
Điều 8: Bỏ qua giận dữ, nên cười nhiều làm lành;
Điều 9: Dẹp bỏ tham muốn, chỉ cần cống hiến là chính;
Điều 10: Ít ngồi xe, nên đi bộ nhiều (>30 phút/ngày).
4.2- Phòng bệnh bằng 5 KHÔNG:
Không vui quá (vui quá hại tâm);
Không buồn quá (buồn quá hại phế) ;
Không tức quá (tức quá hại can);
Không sợ quá (sợ quá hại thận);
Không suy nghĩ quá (suy nghĩ quá hại tỳ).
4.3- Ăn uống mỗi ngày cần:
Một củ hành, một nhánh xả, một lát gừng tươi để chống ung bướu;
Một quả cà chua, vài múi bưởi để chống cao huyết áp;
Một tép tỏi để chống viêm nhiễm;
Một củ khoai vài chén trà xanh để chống xơ vữa mạch máu;
Một quả chuối, vài miếng đu đủ chín để phấn chấn tinh thần, tránh táo bón;
Một quả trứng hay một ít thịt cá nạc để chống suy dinh dưỡng;
Uống một đến hai lít nước mỗi ngày.
4.4- Triết lý cho cuộc sống
4.4.1- Một Trung tâm:
Sức khoẻ thể chất ổn định;
4.4.2- Hai chút chút:
Một tí thoải mái làm phương tiện;
Một tí mơ mộng làm cứu cánh.
4.4.3- Ba quên:
Quên tuổi tác đang tích lũy;
Quên bệnh tật đang xảy ra;
Quên hận thù bấy lâu dằn vặt.
4.4.4- Bốn có:
Có nơi ở ổn định;
Có bạn đời chung thuỷ (hoặc có tri kỷ tri âm chia sẻ);
Có khoản tiết kiệm hoặc tiền dành dụm;
Có kiểm tra sức khỏe thể chất định kỳ (6 tháng/lần).
4.4.5- Năm phải:
Phải thể dục mỗi ngày > 30 phút;
Phải hoà nhã khi giao tiếp;
Phải bình tĩnh khi khó khăn;
Phải biết nói thêm chuyện hài hước;
Phải coi mình chỉ là người bình thường.
5/ TẠM KẾT:
Thuật danh ÂM DUƠNG nói chung là khái quát hành vi NHẬN & CHO (chứ không có ý nghĩa nào khác hơn!) của mọi vật chất trong tự nhiên giới cũng như trong cơ thể con nguời. Nguồn sức khỏe của mỗi chúng ta chỉ có thể bền bỉ dài lâu, khi cá thể chúng ta biết vận hành tích cực cả 6 hợp phần của sứ khỏe đích thực (holistic concept) trong thường ngày, theo "cơ chế 3 âm 3 dương" đã nêu ở trên:
5.1- cơ chế 3 âm (nhận vào):
Về thể chất, thì siêng năng tập thể dục, chơi thể thao vừa sức (tạo quĩ tích lũy sức khỏe hạt nhân).
Về tinh thần, cập nhật kiến thức liên tục, để có thêm nhiều hiểu biết...
Về an sinh xã hội, tiếp nhận nguồn phúc lợi xã hội (luơng hưu, trợ cấp, tiền dành dụm....) một cách thanh thản, không hoang phí đua đòi ảo tuởng..
5.2- cơ chế 3 dương (cho ra):
Về cảm xúc, luôn hồn nhiên, lạc quan... trong hoàn cảnh & điều kiện sống của mình!
Về ứng xử, thì thân thiện-cởi mở với mọi đối tác, tạo niềm vui vẻ với bạn bè...
Về tâm linh, luôn huớng tới việc ích thiện, hảo ý tự nguyện gíúp đỡ người cơ nhỡ khó khăn... trong khả năng của mình! (tạm gọi: tâm linh không nhang khói).
Lê Hưng VKD
(Bài nói chuyện sáng chủ nhật ngày 14.92014 với Hội Cựu giáo chức TP. TDM tại hội truờng trung học Chu Văn An, P. Hiệp Thành nhân ngày Người cao Tuổi Việt Nam 1/10 hàng năm)
Phong thủy âm trạch vốn sâu xa và có nhiều quan hệ tới hạnh phúc, bình an của những người trong nhà. Do đặc thù, tính chất, âm trạch có thể tạo ra những ảnh hưởng phong thủy mà con người không thể lường trước được. Người xưa có câu, “người chết là chuyện lớn, xuống mồ mới bình an” là vì như vậy.8 hướng có điểm hung và điểm cát riêng, cần lưu ý lựa cát tránh hung khi chọn đất đặt mộ. Vị trí mộ mà gần đường xoay về 8 hướng thì có những điểm đặc biệt sau.Mộ phần mà hướng Cấn có đường, khoảng 5m về hai phía trái phải thì con cháu xảy ra cường đạo, trở thành kẻ trộm, Đường lớn thì sinh ra thổ phỉ, đường nhỏ thì sinh ra trộm vặt, con gái yêu đương vụng trộm. Đất đặt mộ này trai thì làm cướp, gái thì phong trần.Mộ phần mà hướng Khảm có con đường nhỏ, nói trước sau thông nhau thì trong nhà liên tục gặp hung, nhà bị hao tổn, nuôi gia súc mau chết. Khảm cung chiếu thẳng ra đường thì có yêu vong, đường nhiều nhánh thì càng bi thương, có người thắt cổ, tự vẫn khi còn trẻ hoặc có người tha phương khất thực.Chọn huyệt cát, yên âm trạch Theo quan niệm của người phương Đông, âm trạch là yếu tố quan trọng tác động đến đời sống. Linh hồn người chết có yên ổn thì con cháu mới thịnh vượng, được Càn hướng có đường nhiều nhánh xiên vào đất đặt mộ phần thì nhà có người treo cổ. Nếu đường không nhiều nhánh thì trong nhà có người què hoặc gãy chân.Hướng Đoài có đường đâm thẳng vào mộ phần thì trong nhà liên tiếp xuất hiện con gái bị đột tử, nếu đường càng rộng thì nữ nhân trong nhà càng bị hao tổn, gọi là đoản kiếm lộ. Hướng khôn có đường bắn thẳng tới phần mộ thì đời sau có con gái bị đột tử. Nếu đường hình cong thì trong nhà đề phong người phụ nữ lớn tuổi, còn xuất hiện con gái không đứng đắn, tính dâm đãng, phá hoại gia phong.Phương Ly có đường xa thấp thoáng là phòng ngoài lộ, trong nhà xuất hiện con gái đào hôn, người nam lấy vợ phương xa. Nếu đường có nhiều ngã rẽ thì con trai trong nhà mỗi người một ngã làm ăn.Phương Tốn có đường, đối với trưởng nữ bất lợi, nếu là đường xấu, nhỏ thì không may mắn với con trai giữa. Sách xưa có viết, phương Tốn chính Đông có đường thì con trai lạnh lùng, không sớm qua đời cũng không lấy vợ, cả đời trăm sự vất vả, không thu được gì.Phương Chấn có đường, như đao kiếm hình thứ hướng phần mộ, trung nam bị hao tổn. Nếu đường hẹp thì tử vong nhiều hơn, xảy ra việc uống thuốc độc, thắt cổ tự sát. Chấn phương cung quẻ Thiên Lôi cầm chùy, nhiều hung hiểm, hại cho con trai giữa.
► Xem phong thủy theo ngũ hành để rước lành tránh dữ
Trần Hồng
Clip Hướng dẫn cách cầu nguyện được như ý Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Nữ mệnh hỏa: Ngũ hành tương sinh: Mộc sinh Hỏa: Mộc có thể dùng để đốt lửa. Hỏa sinh Thổ: Hỏa có thể thiêu đốt vạn vật thành đất. Ngũ hành tương khắc: Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa. Hỏa khắc Kim: Lửa làm tan chảy kim loại. Nếu bạn mệnh Hỏa thì nên
Mộc sinh Hỏa: Mộc có thể dùng để đốt lửa. Hỏa sinh Thổ: Hỏa có thể thiêu đốt vạn vật thành đất.
Ngũ hành tương khắc:
Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa. Hỏa khắc Kim: Lửa làm tan chảy kim loại.
Nếu bạn mệnh Hỏa thì nên xăm những tông màu đỏ, tím, da cam. Những người thuộc mệnh Hỏa thường yêu thích sự chủ động, hào hứng vì thế cuộc sống của họ cũng tích cực và sôi nổi. Màu sắc của bản mệnh này vốn là những tông màu thuộc hành Hỏa như đỏ, cam, hồng, mang đến nguồn năng lượng mới cho người thuộc Hoả. Sức mạnh của màu đỏ là sức mạnh của việc đánh thức những đam mê, giàu có. Màu đỏ là sự may mắn, hạnh phúc trong truyền thống của nhiều quốc gia, là biểu tượng của tình yêu lãng mạn trong đám cưới của người Ấn Độ, là can đảm và nhiệt huyết đối với người phương Tây.
Màu hợp nhất cho người mệnh Hỏa là các màu thuộc hành Mộc: xanh lá cây. Gỗ cháy sinh ngọn lửa, nghĩa là Mộc sinh Hỏa. Chính vì vậy, có màu xanh lá cây, xanh da trời là màu lý tưởng mà người mệnh Hỏa nên dùng.
Tuy nhiên màu sắc kỵ với người mệnh Hỏa là màu đen, xám, xanh biển sẫm, thuộc hành Thủy, khắc phá hành Hỏa của mệnh cung, xấu.
Những chủ đề hình xăm bạn nên chọn: ngựa, rắn, mặt trời, hoa mẫu đơn…
Dưới đây mời bạn tham khảo một số mẫu hình xăm hợp với nữ mệnh Hỏa:
Khuyết điểm của 12 chòm sao đôi khi trở thành vật cản giữa họ và những người xung quanh. Hãy thay đổi và dung hòa để đừng bỏ lỡ những cơ hội trong cuộc sống!
Khuyết điểm của 12 chòm sao đôi khi trở thành vật cản giữa họ và những người xung quanh. Hãy thay đổi và dung hòa để đừng bỏ lỡ cơ hội trong cuộc sống!
Bạch Dương
Gấp gáp, bởi vì nóng lòng muốn biết thành quả hoặc kết thúc, cho nên mới hay nếm phải mùi vị của sự thất bại. Tuỳ hứng, không thích tuân thủ quy tắc, nhiều lần gây ra sai phạm. Mình là trung tâm, mặc kệ cảm giác và phản ứng của người khác. Đó là những khuyết điểm chết người của Bạch Dương. Kim Ngưu
Ngoan cố, không nghe lời khuyên bảo, kiên trì chủ kiến, không thay đổi. Chậm chạp, bởi vì thế nên hay tuột mất cơ hội. Muốn nắm giữ, một ngày đã tới tay thì quyết không buông tha. Song Tử
Không bình tĩnh, chỉ cần có chút buồn chán là sẽ thay đổi thái độ. Thiếu cẩn trọng, việc nhỏ không hề thú vị cũng sẽ làm cho bạn cười vui vẻ, thu hút ánh nhìn người khác. Lải nhải, thích nói xấu, chỉ cần mở miệng là nói liên tục. Cự Giải
Tâm trạng thay đổi, chỉ cần tâm trạng không tốt là sẽ biểu hiện qua nét mặt, Lảm nhảm, không ngừng nhắc lại chuyện trước kia và so sánh với hiện tại. Để tâm vào những chuyện vụn vặt, có dũng khí đối mặt với khuyết điểm và sửa sai, đối với chuyện làm không đúng thường canh cánh trong lòng. Sư Tử
Độc tài, nếu như đối phương không làm theo ý của họ thì sẽ không vui. Tự đại, không thích nghe theo lệnh người khác. Tự phụ tự cho mình là đúng, thích ra lệnh cho người khác, đối với ai hoặc việc gì không hài lòng thì sẽ làm ầm lên. Chính những tính này khiến Sư Tử trở nên khó chịu trong mắt người khác. Xử Nữ
Dài dòng, một khi phát hiện ra người khác phạm sai lầm hoặc có khuyết điểm thì sẽ trách cứ liên tục. Thích càu nhàu, thích nói hết bất mãn của mình ra cho người khác nghe, mong người khác cũng có thể cùng chung nỗi bực như mình. Nhát gan, đối với việc nào không dám trực tiếp xin ý kiến, không có cách giải quyết thì sẽ sợ hãi rụt rè. Thiên Bình
Không quả quyết, không thể xác định rõ ý kiến của bản thân. Lãng phí, tìm kiếm không ngừng thứ gì đó để mua, cho dù vay tiền cũng phải mua, không hề tiếc gì cả. Không biết lựa khả năng bản thân mặc kệ công việc đó mình có làm được hay không vẫn nhận. Thiên Yết
Ghen tuông, bởi vì sợ mất đi tình yêu nên mới ghen nhiều. Tư tưởng kín đáo không cho người nào hiểu thế giới nội tâm của mình, nhưng lại rất muốn nghe tâm sự của người khác. Cố chấp đến một ngày bất đồng quan điểm với người khác thì sẽ có cái nhìn không giống trước kia nữa. Nhân Mã
Không tập trung, bình thường hay vô cớ vắng mặt, hay quên nhiều thứ. Thứ gì mà không hứng thú thì đừng hòng nhân mã động vào. Tính tình bất định, khi nóng cũng như khi lạnh, đều như nhau. Không nhạy bén có thể dùng lời khó nghe để xúc phạm người khác mà không hề cảnh giác. Ma Kết
Thái độ vô cùng nghiêm túc, với những người lười biếng thì tức giận, không muốn làm việc với những người qua loa. Quật cường, kiên định, thích làm với những gì trái với lẽ thường, nhưng thường khiến cho người khác cảm thấy mất hứng. Thuỷ Bình
Tính phản kháng nếu một ngày gặp phải trở ngại sẽ lập tức phản kháng, kiên trì chủ kiến của bản thân. Lạnh lùng, tuy rằng lý trí nhưng thái độ lại vô cùng lạnh lùng. Đầu voi đuôi chuột, khó có thể hoàn thành được chuyện gì, hay quyết định việc quan trọng. Những tật xấu của Thủy Bình này đôi khi làm người khác xa lánh. Song Ngư
Tuỳ hứng, khi làm nũng sẽ làm cho người ta có cảm giác không quen. Lấp lửng, cái nào cũng được, thiếu tự tin, dễ bị ảnh hưởng từ người khác mà mất phương hướng. Không kiên cường, không dám từ chối yêu cầu của người khác. Không có khả năng chống lại cám dỗ, lừa gạt. Khuyết điểm của Song Ngư khiến họ dễ tổn thương. ST
Cứ mỗi độ cuối năm, chúng ta lại cùng bạn bè, người thân gia đình tụ hội cùng ăn một bữa cơm sum họp đầm ấm. Tua vậy, còn khá nhiều điều chưa biết về những
Cứ mỗi độ cuối năm, chúng ta lại cùng bạn bè, người thân gia đình tụ hội cùng ăn một bữa cơm Giao Thừa sum họp đầm ấm. Tuy vậy, còn khá nhiều điều chưa biết về những điều cấm kỵ trong thời khắc quan trọng này: như làm ồn, lời nói không cát khí.
► Mời các bạn tra cứu Lịch 2016 theo Lịch vạn sự chuẩn xác
Kiếm Phong
Xem Clip Đi chùa đầu năm, khấn gì cho phải? Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Hành: HỏaLoại: Quý TinhĐặc Tính: Di chuyển, tăng tài tiến lộc, công danh hiển đạt, hiếu động, lanh lẹTên gọi tắt thường gặp: Mã
Vị Trí Ở Các Cung Sao Thiên Mã chỉ nằm 1 trong 4 cung: Dần, Thân, Tỵ, Hợi
Miếu, Vượng: Tỵ, Dần.
Đắc địa: Thân.
Hãm địa: Hợi.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Mệnh Tính Tình Người có tài năng, hoạt bát, mẫn tiệp, nhanh nhẹn, lanh lợi, chủ sự hoạt động, di chuyển nhiều. Công Danh Tài Lộc Thiên Mã chỉ người đa tài, có khả năng trong nhiều lãnh vực, lại tháo vác, bén chạy, may mắn. Nếu là học trò thì giỏi nhiều môn, nếu là công chức thì đa năng, đa hiệu, đa nhiệm, nếu là nội trợ thì tề gia quán xuyến một mình. Vì vậy, Thiên Mã là sao rất quý cho công danh, nghề nghiệp, bất luận ngành nào, nhất là khi đắc địa ở Mệnh, Thân, Quan, tại các cung Dần và Tỵ. Thiên Mã ở Thân thì kém, ở Hợi thì xấu, vì khắc với hành Hỏa. Phúc Thọ Tai Họa Thiên Mã là tứ chi, hai tay, hai chân, phương tiện di chuyển. Vì vậy, nếu Thiên Mã gặp sát tinh, tùy theo nặng nhẹ, chân tay sẽ bị tàn tật, từ trặc tay, trặc chân, phỏng tay chân cho đến mất tay chân, bất luận Thiên Mã ở cung nào. Thiên Mã chỉ xe cộ hay phương tiện di chuyển nói chung.
Thiên Mã, Không Kiếp, Binh: Bị mất xe.
Thiên Mã, Kình, Đà: Bị tai nạn xe cộ.
Thiên Mã, Thiên Cơ: xe có máy, xe bị trục trặc máy móc.
Về súc vật, Thiên Mã chỉ gia súc (gà, vịt, heo, bò, cừu ...). Nếu Mã gặp Tang Môn hay Lưu Hà thì súc vật bị dịch chết. Những Bộ Sao Tốt
Thiên Mã, Tử, Phủ đồng cung: Tài giỏi, giàu sang, phúc thọ song toàn, gặp thời vận, như tôi gặp chúa (đây là cách ngựa kéo xe cho vua chúa).
Thiên Mã, Nhật Nguyệt sáng sủa: Đây gọi là cách Thư hùng mã, chủ việc gặp vận hội tốt, công danh tiến đạt suông sẻ.
Thiên Mã, Lộc Tồn đồng cung hoặc Tồn hay Lộc chiếu: Gọi là chiết tiển (bẻ roi đánh ngựa) hay Lộc Mã giao trì, chủ sự hạnh thông về quan trường, tài lộc. Thường thì đây là cách thương gia đắc tài đắc lộc.
Thiên Mã, Hỏa Tinh hay Linh đồng cung: Đắc địa thì chủ về quân sự, binh quyền, hiển đạt (ý nghĩa Chiến mã, ngựa lâm trận). Nếu hãm địa thì bôn ba, chật vật, có thể bị thương tích.
Thiên Mã, Thiên Khốc, Điếu Khách: Gọi là Tuấn mã tức là ngựa hay gặp người cởi giỏi, ám chỉ sự thao lược, chinh chiến dũng mãnh, lập công lớn hay gặp thời vận may mắn.
Thiên Mã, Tướng: làm nên vinh hiển.
Thiên Mã và Lưu Thiên Mã: Thăng quan tiến chức, thêm tài lộc, huy chương. Có xuất ngoại, hay đổi chỗ ở, chỗ làm.
Những Bộ Sao Xấu
Thiên Mã, Thiên Hình đồng cung: Gọi là Phù Thi mã, ngựa mang xác chết, chỉ sự tai họa khủng khiếp, có thể chết thê thảm.
Thiên Mã, Tuyệt đồng cung hay hội chiếu : Gọi là Chiết Túc mã hay ngựa què, chỉ sự nguy bại, ngăn trở trong mọi công việc, gây tai họa.
Thiên Mã, Tuần Triệt: Gọi là Tử mã, ngựa chết, rất hung hãn, gây tai họa, bại hoại, chết chóc, thương tích tay chân.
Thiên Mã ở Hợi: Gọi là Mã cùng đồ, ngựa bí lối, có nghĩa như Mã Tuyệt.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Phụ Mẫu
Cha mẹ là người có tiếng, có tài.
Thiên Mã, Đà La thì cha mẹ bôn ba, vất vả, thường sống xa cách nhau hoặc xung đột, nếu không thì cha mẹ cũng hay bị vận hạn, bôn ba.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Phúc Đức
Được hưởng phúc, nhưng phải đi xa quê hương bản quán.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Điền Trạch
Tạo dựng nhà cửa dễ dàng, nhiều nơi chốn, càng xa quê hương càng tốt.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Quan Lộc
Thường xuất ngoại, hay đi du lịch, làm việc lưu động hoặc làm công vụ ở ngoại quốc.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Nô Bộc Thiên Mã ở Nô nếu gặp nhiều sao tốt thì bè bạn, người giúp việc đắc lực, gặp nhiều sao xấu như TUẦN, TRIỆT, Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, Linh Tinh, Hỏa Tinh, thì bè bạn, người giúp việc tốt xấu lẫn lộn. Tuy vậy, vẫn có người giúp cho mình, nhưng hay gặp điều hung họa, cũng có quý nhân giúp đỡ, nhưng mình phải làm việc cật lực, và chính mình cũng giúp đỡ người khác, đi đâu cũng có bạn bè. Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Thiên Di
Thường xuất ngoại, hay đi du lịch, làm việc lưu động.
Làm công vụ ở ngoại quốc.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Tật Ách Giải trừ được bệnh tật, có sức khỏe, nhưng nếu có thêm các sao TUẦN, TRIỆT, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Riêu, Linh Tinh, Hỏa Tinh phải coi chừng về tai nạn xe cộ, phi cơ, sông nước, đâm chém, mổ xẻ, hậu vận về già dễ có tai nạn khiến phải ngồi tại chỗ, tù tội, nhẹ nhất là chân tay có thương tật. Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Tài Bạch
Bôn ba mà tạo dựng được tiền bạc.
Có năng lực kiếm tiền.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Tử Tức
Con cái có năng lực, nhưng không được ở gần cha mẹ
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Phu Thê
Vợ chồng gặp nhau ở xa quê quán.
Có thể có vợ hay chồng ngoại quốc.
Thường cưới hỏi nhau rất nhanh.
Ý Nghĩa Thiên Mã Ở Cung Huynh Đệ
Anh chị em có người đi xa.
Anh chị em sống xa cách nhau, mỗi người một nơi.
Thiên Mã Khi Vào Các Hạn
Hạn có sao Thiên Mã, là hạn thành đạt.
Thiên Mã nếu gặp thêm sao TRIỆT, đề phòng có sự té ngã, là hạn thay đổi chỗ ở.
Hạn có Thiên Mã, Đà La, Thai, là hạn bôn ba, có nhiều sự thay đổi.
Mỗi tháng Dương lịch đều có từ 30 đến 31 ngày, nhưng tháng Hai chỉ có 28 hoặc 29 ngày nếu là năm nhuận, là do giữ nguyên cách tính lịch của người La Mã trước kia.
Lịch La Mã ban đầu ban hành bởi Romulus, vị hoàng đế đầu tiên của thành Rome. Lịch do ông ta ban hành dựa vào chu kỳ của mặt trăng, tức là tương tự như âm lịch của người phương Đông, tuy nhiên chỉ có 10 tháng. 10 tháng của lịch này bắt đầu từ tháng ba và kết thúc vào cuối tháng mười hai (lưu ý rằng cách đánh số tháng 1, 2, 3, ... là do cách dịch của người Việt Nam, còn trong nguyên bản của lịch La Mã cũng như cách dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới thì mỗi tháng có tên riêng).
Như vậy một năm chỉ có 10 tháng, tức là có một khoảng thời gian kéo dài hai chu kỳ Trăng không được đưa vào lịch, vì Romulus cho rằng đây là thời gian mùa đông không có ý nghĩa gì với việc làm nông nghiệp nên không cần có quy ước.
Khoảng thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, hoàng đế Numa Pompilius là người quyết định đưa thêm hai tháng nữa vào lịch cho đủ 12 chu kỳ Trăng. Mỗi tháng có 28 ngày, làm cho lịch kéo dài đủ 12 chu kỳ Trăng, tổng cộng là 354 ngày. Tuy vậy, Pompilius cho rằng số 28 là con số không may mắn nên sau đó quyết định cho tháng một thêm một ngày thành 29 ngày, còn tháng hai không hiểu vì lý do gì vẫn giữ nguyên chỉ có 28 ngày.
Lịch đặt theo chu kỳ của mặt trăng dần bộc lộ điểm yếu, nó không phản ánh đúng chu kỳ biến đổi thời tiết các mùa, vì chu kỳ này gắn liền với chuyển động của trái đất quanh mặt trời. Vì thế, người La Mã lại quyết định cứ hai năm thì đưa vào thêm một tháng nhuận kéo dài 27 ngày sau ngày 23 tháng hai (những năm đó tháng hai chỉ có 23 ngày).
Việc thay đổi như trên làm việc tính lịch trở nên rắc rối. Đến khoảng năm 45 trước Công nguyên, Julius Caesar quyết định thay đổi hệ thống tính lịch này. Ông giữ nguyên 12 tháng nhưng thêm ngày vào các tháng để 12 tháng đó trùng với chu kỳ của mặt trời (chu kỳ vị trí của mặt trời trên bầu trời, chứ không phải chu kỳ trái đất chuyển động quanh mặt trời vì thời đó người ta không biết trái đất có quỹ đạo quanh mặt trời).
Caesar cũng đặt quy định cứ 4 năm một lần thì tháng hai lại được cộng thêm một ngày cho phù hợp với chu kỳ của mặt trời được tính ra khi đó là 365,25 ngày, điều này về cơ bản khá gần với chu kỳ thật của trái đất quanh mặt trời, hiện nay chúng ta biết là 365,2425 ngày.
Có nguồn tài liệu ghi rằng ban đầu theo cách tính lịch của Caesar, tháng hai có 29 ngày và mỗi 4 năm nó được thêm một ngày thành 30 ngày, tức là không có chênh lệch lớn với các tháng khác. Tuy vậy sau này khi các tháng đặt tên lại, ngày thứ hai chín của tháng hai được chuyển sang tháng tám do tháng này đặt theo tên của Augustus (Hoàng đế sáng lập đế chế La Mã), để cho tháng đó có độ dài tương đương với tháng bảy (July)- tên của Julius Caesar.
Dương lịch mà con người sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã được hoàn thiện thêm. Cách chia các tháng vẫn giữ nguyên để tôn trọng lịch sử và đó là lí do tháng hai có ít ngày hơn các tháng khác. Về cơ bản đây chỉ là một qui ước, không gây ảnh hưởng gì tới việc sử dụng thời gian của loài người.
Trích từ: VNEXPRESS
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Mỹ Ngân (##)
Vận trình tử vi trọn đời Giáp Dần nam mang chi tiết
Giáp Dần nam mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao, cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, lựa chọn vợ chồng
Giáp Dần nam mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao. Cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, việc lựa chọn vợ chồng thế nào được trình bày chi tiết trong lá số tử vi trọn đời này.
Sanh năm: 1914 đến 1974 và 2034 Cung KHÔN. Trực KHAI Mạng ĐẠI KHÊ THÙY (nước khe lớn) Khắc SƠN HẠ HỎA Con nhà HẮC ĐẾ (phú quý) Xương CON CỌP. Tướng tinh CON TRÂU
Ông Quan Đế độ mạng
Đoán xem số mạng Giáp Dần, Đại Khê mạng Thủy nước sông chảy hoài. Số tuổi lúc nhỏ gian nan, Có lúc bệnh tật khóc hoài khó nuôi. Lớn lên làm có của kho, Có rồi lại hết sớm đầy tối vơi. Số này phải chọn phương xa, Lập nên cơ nghiệp vậy mà mới yên. Nhân duyên trắc trở buổi đầu, Về sau mới được an hòa gia môn. Trung vận phát đạt giàu sang, Cũng nhờ hồng phước, của Trời ban cho. Nhưng nhà chẳng đặng yên vui, Trở về vận cuối gia môn đắc thành.
CUỘC SỐNG
Tuổi Giáp Dần cuộc đời có nhiều may mắn sống trong sự thanh thản của cuộc sống hiện tại, tuy tuổi nhỏ cũng có lao đao nhưng rất ít. Tóm lại, tuổi Giáp Dần rất tốt, ít khi khổ cực về xác thể cũng như về tâm trí.
Tuổi Giáp Dần không có nhiều khổ cực lắm. Số hưởng thọ trung bình khoảng từ 52 đến 58 tuổi, nhưng nếu biết tu thân, làm phước đức thì được gia tăng niên kỷ.
TÌNH DUYÊN
T uổi Giáp Dần nếu sanh vào những tháng này thì sẽ có nhiều thay đổi nhiều lần về mối lương duyên, đó là sanh nhằm vào những tháng 8 và 12 Âm lịch. Sanh vào những tháng này tuổi Giáp Dần phải ba lần thay đổi lương duyên. Sanh vào những tháng: 2, 3, 4, 5, 9 và 10 Âm lịch, thì số phải 2 lần nối tiếp lương duyên. Sanh vào những tháng: 6, 7 và 11 Âm lịch thì cuộc sống đối với lương duyên được hạnh phúc và thủy chung.
GIA ĐẠO, CÔNG DANH
Gia đạo cũng không được hoàn toàn êm ấm, hay có những bất đồng ý kiến, và có thể yên vui bắt đầu từ 47 tuổi trở đi, con cháu yên hòa và có phần phát triển về cơ nghiêp. Công danh tuổi nhỏ có phần lên cao, nhưng sau phải trở xuống đến mức độ trung bình.
Sự nghiệp bắt đầu hoàn thành vào những năm 36 và 42 tuổi, tiền bạc vẫn ở trong một mức độ không cao lắm, có thể nói rằng dư dả mà không có sự thiếu hụt, nếu có chỉ là một vấn đề tạm thời mà thôi.
NHỮNG TUỔI HẠP LÀM ĂN
N hững tuổi mà Giáp Dần rất trùng hạp nhất cho sự làm ăn cũng như về duyên phận là những tuổi: Giáp Dần, Mậu Ngọ, Canh Thân, Quý Hợi. Những tuổi này bạn có thể hùn hạp làm ăn mau tấn phát.
LỰA CHỌN VỢ, CHỒNG
xem tuổi giáp dần nam mạng tuổi giáp dần nam mệnh gì tử vi giáp dần nam mạng 2016 tử vi giáp dần nam mạng tử vi 2016 đinh mão tử vi 2016 tân mùi tử vi 2016 quý hợi tử vi 2016 quý dậu tử vi 2016 mậu thìn tử vi 2016 kỷ tỵ tử vi 2016 giáp tý tử vi 2016 giáp tuất Tử vi 2016 cho tuổ Giáp Dần Nam Mạng tử vi 2016 canh ngọ tử vi 2016 giáp dần và đinh mão giáp dần và giáp tý giáp dần sinh năm bao nhiêu giáp dần nữ mạng năm 2016 giáp dần nam mạng năm 2016 giáp dần nam mạng 2016 giáp dần nam mạng giáp dần mệnh gì giáp dần là năm nào giáp dần hợp tuổi nào giáp dần hợp màu gì giáp dần hợp hướng nào giáp dần 2016 giáp dần
Tuổi Giáp Dần nếu kết duyên nhằm những tuổi này sẽ sống một cuộc đời cao sang quyền quý, đó là những tuổi: Giáp Dần, Mậu Ngọ, Canh Thân, Quý Hợi, Nhâm Tuất, Nhâm Tý, Tân Hợi. Kết duyên với những tuổi này có số hạp làm ăn đặng khá mau phát đạt.
Kết hôn với những tuổi này chỉ có cuộc sông trung bình mà thôi, đó là Giáp Dần kết hôn với các tuổi: Bính Tuất, Canh Tuất,Giáp Tý.
Kết bạn với những tuổi này thì nghèo khổ làm ăn khó khăn: Đó là các tuổi: Kỷ Mùi, Quý Sửu.
Những năm này tuổi Giáp Dần rất kỵ không nên cưới vợ vì sẽ sanh ra cảnh xa vắng phòng không, đó là những năm: 20. 24, 26, 32, 38 và 44 tuổi.
Sanh vào những tháng này tuổi Giáp Dần có rất nhiều vợ, đó là sinh vào những tháng 2, 3, 4, 8, 9 và 12 Âm lịch, có số lưu thê hay đau không về đ àn bà.
NHỮNG TUỔI ĐẠI KỴ
Những tuổi này rất đại kỵ trong việc hùn hạp làm ăn, hay kết duyên, đó là những tuổi: Ất Mão, Đinh Tỵ, Tân Dậu, Đinh Mão, Kỷ Tỵ, Kỷ Dậu.
Khi gặp tuổi kỵ, tuổi Giáp Dần phải xa lánh ngay, phải xem sao hạn của mình mà cúng cho đúng ngày, nhắm cho đúng hướng, phải đầy đủ hoa quả, van vái và khấn nguyện và không nên làm những điều có tánh cách ác đức, nhất là nhân tâm thì sẽ được giải hạn ngay.
NHỮNG NĂM KHÓ KHĂN NHẤT
Tuổi Giáp Dần có những năm khó khăn nhất, làm ăn không được phát đạt, bịnh hoạn hay nhiều thất bại, đó là những năm ở vào số tuổi 25, 28. 34, 38 và 42 tuổi.
NGÀY GIỜ XUẤT HÀNH HẠP NHẤT
Tuổi Giáp Dần chỉ có thể được may mắn, nếu xuất hành đúng vào những ngày giờ này, ngày lẻ, giờ lẻ và tháng lẻ, chẳng những không sợ thất bại mà còn có nhiều may mắn về phần tài lộc.
VẬN TRÌNH TỬ VI TỪNG NĂM
Từ 20 đến 25 tuổi: 20 tuổi có thành công đôi chút về tình duyên và sự nghiệp. 21 tuổi không được tốt, cẩn thận về sanh mạng, việc làm ăn bình thường, 22 và 23 tuổi, có số tốt vào tháng Giêng, những tháng khác đều xấu. 24 và 25 tuổi, hai năm này việc làm ăn trung bình.
Từ 26 đến 30 tuổi: 26 tuổi có nhiều tốt đẹp về nghề nghiệp công danh. 27 và 28 tuổi, hai năm này có phần tốt đẹp về gia đạo, xấu về công danh, những năm này không nên làm ăn và phát triển về nghề nghiệp. 29 và 30 tuổi, số không được tốt đẹp, trong hai năm này nên cẩn thận việc đi đứng và giao dịch về tiền bạc.
Từ 31 đến 35 tuổi: 31 tuổi thành công lớn về tài lộc và công danh. 32 tuổi có phần xui xẻo. 33 tuổi nên cẩn thận về tiền bạc. 34 tuổi, hay tốt nên cẩn thận về việc làm ăn và hay đẹp về vấn đề nghề nghiệp. 35 tuổi nhiều triển vọng tốt đẹp trong sự làm ăn.
Từ 36 đến 40 tuổi: 36 và 37 tuổi, hai năm này tiếng tăm nhưng về phần tài lộc thì bình thường, 38 và 39 tuổi, hai năm này toàn vẹn và có xui xẻo vào tháng 12 năm 38 tuổi và tháng giêng năm 39 tuổi.
Từ 41 đến 45 tuổi: 41 tuổi xấu, năm nay có hao tài tốn của. 42 và 43 tuổi, hai năm này thất bại về công danh sự nghiệp, việc làm ăn có phần tốt đẹp đôi chút tài lộc và tình cảm. 44 và 45 tuổi, hai năm này không nên đi xa, hay làm ăn lớn có thất bại, tài lộc yếu kém.
Từ 46 đến 50 tuổi: 40 và 47 tuổi, hai năm này làm ăn không được khá. 48 và 49 nên cẩn thận về bổn mạng, phần tài lộc bình thường, 50 tuổi hy vọng lấy sự nghiệp vững vàng.
Từ 51 đến 52 tuổi: Hai năm này việc tài lộc phát triển. Số có nhiều triển vọng về công danh, cũng như về sự nghiệp, đời sống về gia đình, con cái được sung túc. Cẩn thận đề phòng đau bịnh về mùa Đông.
Trong quyển Triết HọcTrung Quốc Đại Cương của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê. Lý thuyết Âm Dương NgũHành đã được trình bày cặn kẽ. Có thể tóm lược lýthuyết này qua những nét chánh yếu sau đây :
a) Lý thuyết này có từ trước đời nhà Tần. Tác giả nguyên thủy là Trân Diễn, sinh vào khoảng giữa thế kỷ 3 trước Tây Lịch. Ông sáng lập một triết phái mà các sử học gọi là Âm Dương giả.
b) Đến đời nhà Tần, các sách triết đều bị đốt và bị cấm lưu hành. Muốn học thì chỉ phải học đám quan lại, muốn đọc thì chỉ còn đọc những sách bói toán. Việc cấm đoán tự do ngôn luận khiến các học giả phải dựa vào các sách bói toán mà nghị luận. Sách bói toán bấy giờ là Kinh Dịch, những nghị luận trong sách đó là Dịch truyện. Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành được tập Dịch truyện này quảng diễn thêm.
c) Đến đời Hán, một triết gia nổi danh là Đổng Trọng Thư đã khai triển sâu rộng lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành vốn là sở trường của nền học của ông. Cái gì ông cũng ghép vào Âm Dương Ngũ Hành (như vua là dương, tôi là âm, cha là dương, con là âm, chồng là dương, vợ là âm… mùa xuân là mộc, hạ thuộc hỏa, thu thuộc kim, đông thuộc thủy, hướng Đông thuộc mộc, hướng Nam thuộc hỏa, hướng Bắc là thủy, trung ương là thổ). Luật biến hóa của Âm Dương Ngũ Hành được xem là luật biến hóa chung của vũ trụ và của cả con người, có thể áp dụng vào việc trị nước. Cho nên, đời Hán có các quan coi riêng về luật biến hóa này để khuyến cáo chính sách quốc gia, đề phòng tai trời ách nước. Việc khuyến cáo sai đưa đến sự huyền chức. Đó là tác dụng bói toán của lý thuyết này. Tác dụng đó đưa đến sự thành hình phái Tướng số, cũng do Đổng Trọng Thư dẫn đầu. Nhiều nho gia đã mượn thuyết Âm Dương Ngũ Hành này để chú thích Kinh Dịch thêm cho phong phú.
d) Phái học Tượng Số đó đến đời nhà Tống lại càng thịnh đạt và được phát huy mạnh mẽ để ứng dụng vào những môn học huyền bí. Công trình này do một đạo sĩ Trần Đoàn đã cụ thể hóa vào tướng số, trong đó khoa Tử – Vi là một ngành. Thành thử, tóm tắt có thể nói:
- Trân Diễn là nguyên tổ của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành.
- Đổng Trọng Thư là người khai triển và quảng bá lỗi lạc nhất.
- Trần Đoàn là tác giả khai sáng khoa Tượng số của họ Đổng và lập ra môn Tử – Vi
Đó là lược dẫn nguồn gốc của khoa Tử – Vi.
2) Nội dung lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành
Trở lại phần lý thuyết nguyên thủy của Âm Dương Ngũ Hành, triết sử ghi rằng: thuyết này nằm trong phần Vũ trụ luận, nhằm tìm hiểu nguyên gốc, đặc tính, qui luật biến hóa của vũ trụ, vạn vận sự thể hiện của vũ trụ, dứt điểm của vũ trụ. Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành bắt nguồn từ học thuyết Thái Cực và các nghị luận rút trong Kinh Dịch.
Học thuyết này cho rằng nguồn gốc sơ khởi nhất của vũ trụ vạn vật là Thái Cực. Thái Cực cùng với Âm Dương là những ý niệm cơ bản của Kinh Dịch. Âm Dương được thống nhất trong Thái Cực. Sự phát sinh của Âm Dương từ Thái Cực theo một đại lịch trình (gọi là Dịch, nói khác đi là quy luật chuyển động biến hóa – loi des mouvments hay dialectique). Đại lịch trình đó được diễn tả qua trích văn sau đây, lấy trong Hệ từ truyện:
“Dịch là Thái Cực, sinh ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh ra Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh ra Bát Quái”.
Khởi điểm của lịch trình là Thái Cực, từ đó mới sinh ra Lưỡng Nghi (tức là 2 khí Âm, Dương), kế đến mới sinh tiếp Tứ Tượng (là bốn mùa), từ Tứ Tượng mới tiếp sinh Bát Quái (tức tám hiện tượng lớn và cơ bản của vũ trụ). Đó là Càn (chỉ Trời), Khôn (chỉ Đất), Chấn (chỉ sấm sét), Tổn (chỉ gió), Khảm (chỉ nước), Ly (chỉ lửa), Cấn (chỉ núi), Đoài (chằm hay đồng cỏ thấp có nước).
Trong Thái Cực, tiềm phục 2 khí Âm Dương. Về tính chất, 2 khí này vẫn đối lập nhau khi còn ẩn trong Thái Cực. Vạn vật sinh thành là nhờ 2 khí Âm Dương và cũng nhờ 2 khí đó mà biến hóa. Một khi đơn độc thì không sinh phát được. Phải có sự giao hợp giữa 2 khí thì mới sinh được vạn vật: Đó là cái luật lớn của Trời Đất (gọi là Đức lớn). Đức này là Đức Sinh.
Cái đức đó chủ sự sinh trưởng, nó là cái đà sống, cái sức thúc đẩy cuộc sống. Luật sinh này theo một qui tắc nhất định gọi là Đạo: đó là quá trình diễn biến của sự vật từ lúc bắt đầu đến khi hình thành. Quá trình này phải qua bốn giai đoạn là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh, hay là 4 hiện tượng, 4 trạng thái diễn biến:
- Nguyên: là trạng thái tiên khởi của vật khí bắt đầu vào cuộc sống.
- Hanh: là hanh thông, thông đồng, sự tiếp xúc của nguyên vật với ngoại giới.
- Lợi: là nhuận lợi, tức là tình trạng của vật đã thích ứng được với hoàn cảnh khi tiếp xúc với ngoại giới của giai đoạn Hanh.
- Trinh: là sự thành tựu hẳn hòi của sự vật.
Nói khác đi, Nguyên Hanh Lợi Trinh là một quá trình cấu tạo do sự chuyển động nội tại của 2 khí Âm Dương để sinh ra sự vật (processus dialectique) qua các bước nói trên của Đạo.
Khi vật thành hình, vật cũng biến động theo một chu kỳ (cycle dialectique) gồm 4 bước: Thành, Thịnh, Suy, Hủy, đánh dấu mức độ phát triển và suy tàn dần dần của 2 khí Âm Dương giao tiếp:
- Thành: là giai đoạn của Thiếu Dương, giai đoạn Khí Dương vừa từ Thái Âm sinh ra.
- Thịnh: là giai đoạn của Thái Dương, giai đoạn của khí Dương phát triển cao độ.
- Suy: là giai đoạn Thiếu Âm, giai đoạn khí Âm vừa từ khí Dương sinh ra.
- Hủy: là giai đoạn của Thái Âm, giai đoạn khí Âm phát triển cực độ, lấn át hết khí Dương.
Cứ như vậy mà Âm Dương tiếp tục xoay vần, khi thịnh, khi suy, theo một tuần hoàn sinh hóa mà không bao giờ đứt đoạn của luật Đạo.
Cũng theo đạo biến hóa của Âm Dương và dưới sự thúc đẩy của đức sinh, 4 mùa và ngũ hành được cấu tạo. Đổng Trọng Thư viết:
“Khí của Trời Đất hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương tác ra làm 4 mùa, bày sắp thành ngũ hành”.
Ngũ hành được các triết gia xem là 5 nguyên tố căn bản của vũ trụ. Đó là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.
- Mộc: là gỗ hay nói chung tất cả những loại cây.
- Hỏa: là lửa (chất) hay hơi nóng (biểu tượng).
- Thổ: là đất (chất) hay nói chung tất cả khoáng vật (trừ kim khí).
- Kim: là vàng hay nói chung là tất cả các loại kim khí.
- Thủy: là nước hay nói chung là chất lỏng.
Đổng Trọng Thư đã xếp ngũ hành theo thứ tự đó: “Một là Mộc, hai là Hỏa, ba là Thổ, bốn là Kim, năm là Thủy. Mộc là hành đầu của ngũ hành, Thủy là hành chót, Thổ là hành giữa. Đó là thứ tự tự nhiên”.
Thứ tự này có nhiều tác giả không đồng ý (như Ban Có đời Hậu Hán). Nhưng, quy tắc sinh khắc giữa 5 hành thì tương đồng giữa các tác giả. Qui tắc này là:
Hai Hành kế tiếp nhau thì sinh nhau, mà đứng cách nhau một hành thì khắc nhau.
Như vậy thì Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, theo chiều ấn định.
Qui tắc tương khắc là: Kim khắc Mộc, Thủy khắc Hỏa, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy. (Có cách dùng chữ thắng thay cho chữ khắc, nhưng cùng đồng nghĩa với nhau).
Nếu Âm Dương có phương vị và đường lối lại riêng của Âm Dương thì ngũ hành cũng thế. Vậy, tất nhiên phải sinh mối quan hệ giữa Âm Dương và Ngũ Hành trong không gian và thời gian. Theo Đổng Tử thì gặp lúc khí dương đang thịnh mà hành Mộc thì hành Hỏa lại được khí Dương ấy giúp vào thì thành mùa xuân, mùa hạ và vạn vật sinh trưởng, gặp lúc khí Âm đang thịnh mà hành Kim, hành Thủy lại được khí Âm giúp vào thì thành mùa Thu, mùa Đông. Vì 2 cái khí Âm Dương đắp đổi thịnh suy và luôn luôn luân chuyển, cho nên ảnh hưởng của nó đối với ngũ hành không dứt và 4 mùa vì thế xoay vần bất tuyệt”.
Mỗi Hành làm chủ cái khí của một mùa.
“Mộc ở phương Đông là chủ khí Xuân, Hỏa ở phương Nam là chủ khí Hạ, Kim ở phương Tây làm chủ khí Thu, Thủy ở phương Bắc làm chủ khí Đông. Cho nên Mộc chủ sinh mà Kim chủ sát, Hỏa chủ nóng mà Thủy chủ lạnh. Thổ ở giữa gọi là Thiên nhuận. Thổ là chân tay của Trời, đức của Thổ tươi tốt, không thể dựa vào công việc riêng của một mùa mà mệnh danh cho Thổ được: cho nên có ngũ hành mà lại có tứ thời là vì Thổ kiêm cả Tứ thời.
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, tuy mỗi hành có một chức vụ, nhưng không nhờ nơi Thổ thì Kim, Mộc, Hỏa, Thủy không đứng vững.
Như vậy, Đổng Trọng Thư đã đặt cho Thổ một vai trò hết sức đặc biệt, vừa kiêm cả Tứ thời, vừa là chỗ dựa cho 4 hành còn lại. Điểm này được phản ảnh sau này trong khoa Tử – Vi.
Thuyết ngũ hành, nguyên được suy diễn từ pháp thuật ngũ hành của cổ nhân. Cổ nhân cho rằng có sự ảnh hưởng qua lại giữa con người và sự vật trong vũ trụ, cho nên quan sát các hiện tượng của vũ trụ có thể đoán phúc họa cho con người. Vì vậy, Phái Tượng Số mới ghép ngũ hành vào một trong 6 phép của thuật số. Sáu phép đó là: Thiên Văn, Lịch Phổ, Ngũ Hành, Thi Qui (bói có thi, bói rùa, Tạp Chiêm (đoán điềm), Hình Pháp (xem tướng). Thuyết ngũ hành được phổ cập rất nhiều ở thời chiến quốc, nhất là vào cuối thời này. Cái gì cũng được người ta ngũ hành hóa (bốn phương, bốn mùa). Trân Diễn còn đem ngũ hành vào triết học lịch sử, gán ngũ hành vào Ngũ đức. Nhưng cái dụng phổ biến nhất của thuyết ngũ hành là cái dụng bói toán của phái Tượng Số. Nhờ đó mà đạo sĩ Trần Đoàn mới khai sáng ra khoa Tử – Vi, dùng sao trên trời, được âm dương hóa và ngũ hành hóa, để xếp bày vận số của con người, để rồi từ đó, suy diễn trên qui luật biến hóa Âm Dương Ngũ Hành, những ý nghĩa trên con người.
Đến đây, tưởng cần xét về sự áp dụng qui luật biến hóa này vào khoa Tử Vi.
4 dạng nhà dưới đây sẽ ảnh hưởng xấu đến tài lộc của gia đình bạn, bạn nên thay đổi theo phong thủy để mang về tài lộc, thịnh vượng và sự giàu có cho mình.
Những ngôi nhà có phần bị mất hoặc trống dạng này sẽ hạn chế rất nhiều nguồn vượng khí, cơ hội thịnh vượng đến với gia chủ. Nhà thiếu góc còn gọi là nhà "dao" vì nó cắt đi cơ hội phát triển tài lộc và thịnh vượng của gia chủ. Việc khắc phục ngôi nhà kiểu này rất quan trọng. Gia chủ có thể bổ sung phần thiếu bằng các công trình như vườn, bể bơi… để lấp đầy khoảng trống một phía của ngôi nhà.
Ngoài ra, với những ngôi nhà có khoảng trống ở hướng đại cát với chủ nhà sẽ khiến cho ngôi nhà mang nguồn khí âm, có hại cho sức khỏe, làm tiêu hao tài sản. Hãy khắc phục điểm này bằng cách bài trí các công trình phù hợp với mệnh, tuổi như bình thủy sinh, bể cá cảnh, bức tượng phong thủy phù trợ.
2. Nhà có lối vào quá rộng
Bố trí bể bơi ở khoảng trống của nhà chữ L vừa hợp phong thủy vừa đem tới không gian thư giãn cho cả gia đình
Đôi khi vì muốn có chỗ đỗ ôtô trong nhà mà nhiều gia chủ đã cho xây cổng hoặc lối vào nhà quá lớn so với ngôi nhà. Điều này sẽ khiến các nguồn năng lượng sinh khí trước khi vào nhà bị không gian gara nuốt gọn. Khi đó, mọi tài lộc, thịnh vượng, cơ hội thăng tiến của gia chủ sẽ dễ dàng bị tiêu tán. Để khắc phục, bạn có thể xây dựng gara để xe dưới hầm hoặc bố trí nơi đỗ xe cách nhà một chút.
3. Ngôi nhà có dốc phía sau
Một ngôi nhà có dốc ở phía sau sẽ mang đi tất cả mọi thứ trong nhà như sự thịnh vượng, may mắn và giàu có. Giải pháp cho nhà loại này là trồng một cây có độ cao bằng ngôi nhà để kéo khí từ sườn dốc về phía nhà; lắp một bóng đèn cao áp chiếu sáng vào mái nhà nhằm điều chỉnh dòng khí đi lên phía mái nhà; đặt một tảng đá lớn phía sau nhà để tạo cảm giác ngôi nhà đang tựa lưng vào ngọn núi.
4. Ngôi nhà thường xuyên khóa cửa
Một ngôi nhà cửa luôn khóa kín mít (do gia chủ công tác dài ngày hoặc đi nghỉ mát dài hạn…) sẽ hạn chế nghiêm trọng khả năng tạo ra tài lộc, giàu có cho gia chủ. Ngoài ra, ngôi nhà kiểu này có thể khiến gia chủ khó có khả năng duy trì các mối quan hệ tốt đẹp lâu dài. Hãy cùng khắc phục những hạn chế của ngôi nhà khóa kín mít bằng cách thường xuyên lui tới hoặc nhờ người đến trông nhà trong thời gian đi vắng. Bạn cũng có thể đưa trẻ con đến chơi để ngôi nhà rộn vang tiếng cười đùa, vui vẻ.
(Theo Vnexpress Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Đại vận 10 năm trong lá số tử vi của bạn (P1 Thiên thời)
Đại vận hay đại hạn trong lá số tử vi là chỉ cát hung họa phúc trong 10 năm của mỗi người. Đại hạn mà khá thì cũng như có cái gốc khá kéo tiểu vận tốt lên.
Đại vận trong lá số tử vi là chỉ cát hung họa phúc trong 10 năm của mỗi người. Trong lá số tử vi đại vận được ghi rõ mang các con số ở góc phải trên cùng của mỗi cung.
Thí dụ: Đại vận ở cungThê số 22, là Đại vận trong thời gian từ 22 đến 31 tuổi.
Đại vận 10 năm, chủ vào 10 năm của cuộc đời.Đại vận mà khá thì cũng như có cài gốc khá,tiểu vận có kém cũng được khá theo và tiểu vận mà khá thi lại càng khá nhiều. Ngược lại, Đại vận mà kém thì tiểu vận có những sao tốt, cũng không thể tốt như ý muốn. Càng bởi thế, tÍnh vận hạn, ta không nên ngạc nhiên rằng năm Thân lần trước sao ta khá thế, mà năm Thân lần này, sao ta lại quá dở, đó là vì Tiểu vận phải tùy theo Đại vận.
Các yếu tố để tính Đại vận trong tử vi gồm có Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân Thời.
1. Thiên thời
Được Thiên Thời là được vận tốt, nói chung, và không kể đến chi tiết. Người được Thiên Thời tốt thì được ăn trên ngồi trước, người người quý mến, dù gặp trường hợp xấu vẫn hơn người đồng cảnh. (Thí dụ như gặp Thiên Thời mà phải ở tù thời cũng là tù cha, tù chú, anh em cung phụng, cai tù nể sợ) và mọi việc làm đều được hanh thông.
Muốn rõ Thiên Thời tốt xấu, phải đem hành của tam Đai vân so sánh với hành của tam hớp tuổi (hành của tam hợp tuổi tức là mình).
Thí du: Cung Đại vận ở Thân, thì tam hợp Đại vận là Thân Tý Thìn, thuộc 'Thủy. Tam hợp tuổi của người tuổi Mùi là Hợi Mão Mùi, thuộc Mộc. Tam hợp Đại vận sinh cho tam hợp tuổi, nên ta gọi là sinh nhập.
Sau đây là các trường hợp của Thiên Thời:
- Tốt 1: tam hợp Đại vận cùng hành với tam hợp tuổi (tức là trường hợp cung Đại vận nằm trong tam hợp Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ và có Tứ Linh: Long, Phượng, Hổ, Cái). Đây là Đại vận tốt bậc nhất trong đời.
- Tốt 2: tam hợp Đại vận bị tam hợp khắc (tức là mình khắc ra hay là khắc xuất) vì mình khắc ra được, cho nên minh thắng được hòan cảnh, bằng sự phấn đấu.
Thí du: Tuổi Thân, thuộc Thân, Tý, Thìn, hành Thủy. Gặp Đại vận ở Tuất, là tam hợp Dần Ngọ Tuất, thuộc Hỏa. Mình khắc được Đại vận, tức là mình đạt được những thành quả bằng sự phấn đấu.
- Xấu nhẹ: tam hợp Đại vận được sinh do tam hợp tuổi (tức là tam hợp tuổi bị sinh
xuất). Trường hợp này, đương số gặp những khó khăn, phải chịu mệt nhọc mới có thành quả, hoặc phải thất bại trước sau mới thành, hoặc thất bại luôn phải chờ dịp khác.
Nhưng người tuổi Hợi, tam hợp Hợi, Mão, Mùi, hành Mộc. Hành Mộc sinh cho Đại vận (sinh xuất) khi Đại vận đến một trong 3 cung Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa.
- Xấu vừa: tam hợp Đại vận sinh cho tam hợp tuổi, tức là tam hợp gốc được sinh nhập, ở thế này, có dễ có khó, có thành có bại, tốt xấú đều lãnh đủ: Càng ăn nên làm ra càng gặp xấu, suy tán đến độ mất nghiệp, mất việc làm, mất tàì sản (vì gặp Thiên Không).
Như tuổi Mùi, tam hợp Hợi Mão Mùi (Mộc) đến Đại vận ,Thân và được tam hợp Thân Tý Thìn thuộc Thủy sinh cho, làm ăn tốt nhưng rồi tan vỡ cả!
- Xấu nặng: tam hợp Đại vận khắc tam hợp tuổi, tức là trường hợp mình bị khắc nhập, ơ thế này, đương sế gặp nhiều khó khăn làm ăn không tiến, thua thiệt, thất bại, hay gặp nạn.
Như người tuổi Mùi, tam hợp Hợi Mão Mùi thuộc Mộc, bị tam hợp Đại vận ở Dậu khắc, vì tam hợp Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim. Phải gặp những cái tốt khác mới gỡ được thế kẹt.
Bạn có thể xem thêm phần 2 tại : xem đại vận, đại hạn 10 năm trong lá số tử vi P2
Xem Tướng chấm net chúc mọi người năm mới an khang thịnh vượng !
Theo phong thủy, vợ chồng không nên ngủ trên chiếc giường có 2 tấm đệm riêng biệt. Điều này sẽ tạo ra năng lượng chủ về sự chia li. Nên ngủ trên giường có 1 tấm đệm Theo phong thủy, vợ chồng không nên ngủ trên chiếc giường có
Theo phong thủy, vợ chồng không nên ngủ trên chiếc giường có 2 tấm đệm riêng biệt. Điều này sẽ tạo ra năng lượng chủ về sự chia li.
Nên ngủ trên giường có 1 tấm đệm
Theo phong thủy, vợ chồng không nên ngủ trên chiếc giường có 2 tấm đệm riêng biệt. Điều này sẽ tạo ra năng lượng chủ về sự chia li. Ngay cả khi bạn đã dùng ga trải giường đôi phủ lên trên cũng không tránh được ảnh hưởng xấu. Đường ngăn đôi 2 tấm đệm bị cho là nguyên nhân sâu xa tạo ra mối bất hòa nghiêm trọng giữa 2 vợ chồng. Mặc dù ban đầu điều này không thể hiện rõ, nhưng dần dần hố sâu ngăn cách giữa họ sẽ ngày càng lớn.
Dựa theo công thức tính Quái số, nếu hướng ngủ tốt của 2 người là khác nhau thì hãy sử dụng 2 giường đơn. Hãy kê giường theo hướng tốt của mỗi người – hướng Sinh Khí. Không kê 2 giường này sát nhau vì nó sẽ hình thành đường phân li giữa 2 vợ chồng. Đặc biệt, mỗi giường nên được kê sát 1 bức tường kiên cố, điều này vừa tốt về mặt phong thủy, vừa đảm bảo tính thẩm mĩ cho phòng ngủ.
Trong trường hợp vợ chồng lớn tuổi thì có thể ngủ ở 2 phòng khác nhau để tăng cường tối đa vượng khí cho cả 2. Nếu điều kiện năng lượng tốt, thì dù có ngủ riêng phòng, họ vẫn thấy gần nhau hơn và hạnh phúc hơn so với trường hợp chung phòng và 1 trong 2 người phải nằm ngủ ở hướng xấu.
Giường tân hôn sẽ mang lại nhiều lợi ích nếu như có tấm ván đầu giường hình tròn – biểu tượng của sự hỗ trợ và bảo vệ cho 2 vợ chồng. Vì vậy, khi chọn giường tân hôn bạn nên chú ý thêm đặc điểm quan trọng này.
Xem bói tháng 9/2016: Top 3 chòm sao nam có sự nghiệp tốt nhất
Cùng xem bói tháng 9/2016 sự nghiệp cung hoàng đạo: 3 chòm sao nam có sự nghiệp tốt trong tháng 9 dưới đây thì chẳng phải lo lắng gì vì họ vừa có tài lại v
Sự nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của tất cả đàn ông. Đã là nam nhi, nhất định phải có thành công riêng, nhận được sự công nhận của mọi người. Xem bói tháng 9/2016, 3 chòm sao nam có sự nghiệp tốt trong tháng 9 dưới đây thì chẳng phải lo lắng gì vì họ vừa có tài lại vừa gặp may, càng cuối năm càng thăng hoa.
Ma Kết
Xem bói tháng 9/2016, bản thân sự nghiệp vận của Ma Kết nổi danh khắp nơi là tốt đẹp, vững vàng. Không chỉ là chòm sao nam có tài, họ còn rất may mắn, thường xuyên gặp vận trình thuận lợi nên thành tựu càng tốt đẹp. Cuối năm 2016 mà cụ thể là ngay trong tháng 9 này, Ma Kết càng làm càng hăng say công việc, bất ngờ nhận được những đơn đặt hàng lớn, có cơ hội làm ăn lớn. Chỉ cần nắm lấy thời cơ, thuận thế mà hành động, không xuất hiện tình huống ngoài ý muốn thì Ma Kết không chỉ kiếm được nhiều tiền mà còn thăng chức, nâng cao vị thế nhanh chóng, vô cùng viên mãn.
Bạch Dương
Trời sinh nhiệt tình, Bạch Dương có sự nghiệp tháng 9/2016 rất tốt chính nhờ sự giúp đỡ của anh em bạn bè. Mạnh vì gạo, bạo vì tiền, Bạch Dương kiếm được, tiêu được, hành động phóng khoáng nên khách hàng cảm thấy dễ chịu, làm ăn cũng nhanh chóng và thuận lợi hơn nhiều. 3 tháng cuối năm Bạch Dương có quý nhân hỗ trợ, tăng thêm thu nhập, cải thiện chức vị. Hiện nay, quan hệ chính là chìa khóa, Bạch Dương hãy nắm thật chắc nhé, bạn có cơ hội để tiến xa hơn rất nhiều.
Sư Tử
Chòm sao Sư Tử trời sinh cao ngạo mà lại ưu tú, có khí chất của người lãnh đạo. Thói quen chỉ đạo người khác của Sư Tử rất mạnh mẽ, khao khát thành công mãnh liệt, không cam lòng chịu cuộc sống bình thường. Cũng chính vì như vậy nên chòm sao nam có tài này vô cùng nỗ lực, lúc nào cũng bận rộn, dồn nhiều tâm sức. Người có công ông trời chẳng phụ, họ là chòm sao nam thành công khi xem sự nghiệp tháng 9/2016, liên tiếp gặp nhũng tình huống may mắn, hạng mục có giá trị cao, càng làm càng thấy tương lai tươi sáng, rực rỡ. Sao nam nào dễ say nắng nhất?Top 3 chàng trai hoàng đạo là soái ca mà vẫn FAChỉ mặt 3 chòm sao nam vô tình, tình cũ chưa tan tình mới đã đếnThái Vân
Người mệnh Mộc nên sử dụng xe có màu xanh nước biển, đen, tím. Có thể sử dụng màu xanh lá cây, nâu, đỏ, hồng, da cam và cần tránh các màu kim như bạc, trắng, vàng ánh kim. Người mệnh Mộc sinh các năm 1942, 1943, 1950, 1951, 1958, 1959, 1972, 1973, 19
Nhìn chung, nên rất trận trọng khi sử dụng các màu tương khắc với mệnh của bạn để có thể an tâm khi sử dụng xe. Dù sao, quan trọng hơn vẫn là việc tập trung khi lái xe, không sử dụng rượu bia và lái xe đúng luật, còn nếu không thì dù có sử dụng xe có màu phù hợp đến mấy bạn cũng phải nhận những hậu quả đáng tiếc.
Điều kinh khủng nhất khi đông đến là phải đi chân trần trên nền sàn nhà đá hoa lạnh toát. Một chiếc thảm trải sàn mềm mại sẽ nâng niu bàn chân của bạn, cũng như là điểm nhất cho căn phòng. Thảm trải sàn chất liệu lông vũ, hoặc len sẽ làm căn phòng thêm ấm áp hơn.
2. Gối ngủ
Theo các nhà thiết kế nội thất, tùy thuộc vào kích thước phòng ngủ thì số lượng gối từ 2-6 là đủ. Bạn có thể lựa chọn những chiếc gối vuông, dài với màu sắc đa dạng để khiến phòng ngủ bớt trống trải. Gối tròn lại giúp căn phòng trông mềm mại và bớt góc cạnh hơn.
3. Ghế ngồi
Ngoài giường nằm, phòng ngủ vẫn cần có một chiếc ghế thoải mái để thả mình. Bạn có thể ngồi đọc sách, uống trà hay ngồi ve vuốt những chú chó, chú mèo. Tổng thể căn phòng qua đó cũng bớt đơn điệu hơn.
4. Không đồ công nghệ
Những món đồ công nghệ ngày nay như điện thoại thông minh, máy vi tính hay TV nên để ra ngoài khỏi phòng ngủ. Theo các chuyên gia thì bức xạ điện từ do chúng phát ra ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bạn và gia đình. Để đảm bảo giấc ngủ được trọn vẹn, bạn nên hạn chế tối đa việc sử dụng điện thoại hay xem TV trước khi đi ngủ. Nhà thiết kế Aurélien Gallet đã nói: “Thứ bạn tìm kiếm ở phòng ngủ chỉ là giấc ngủ, chứ không phải một chiếc di động”
5. Bộ sưu tập yêu thích
Bài trí một bộ sưu tập tí hon trong phòng ngủ, là một cách làm bạn yêu thích căn phòng này hơn, từ đó tạo tâm lý thoải mái, dễ chịu cho giấc ngủ. Bạn có thể dành một góc nhỏ trong phòng ngủ để trưng bày những thứ yêu thích, tuy nhiên không nên là quá nhiều.
6. Kệ đầu giường
Kệ đầu giường không nên để trống không nhàm chán. Một lọ hoa tưới, chiếc đèn ngủ hay vài quyển sách sẽ tăng thêm sức sống và sự tinh tế cho căn phòng.
7. Nệm
Quan trọng nhất trong phòng ngủ là chiếc nệm đem lại sự thoải mái nhất cho người sử dụng. Một chiếc nệm mềm mại vẫn là yếu tố quyết định tới chất lượng giấc ngủ của bạn. Ông Ron Rudzin, giám đốc công ty nệm nổi tiếng thế giới, khuyên các gia đình nên chọn một tấm nệm cao phụ thuộc vào khung giường của bạn. Để chọn một chiếc nệm hợp lý, bạn nên kiểm tra kĩ về chất liệu của nệm như bông, cuộn thép, lò xo, bọt biển…Một chiếc đệm bền có tuổi thọ từ 10-15 năm.
8. Tranh ảnh
Bạn có thể treo bất kì bức ảnh đẹp nào cũng được trong phòng ngủ chứ không nhất thiết phải là ảnh của gia đình. Theo nghiên cứu, treo ảnh gia đình trong phòng ngủ sẽ có tác động mạnh mẽ tới cảm xúc của bạn theo cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Thay vào đó, một bức tranh nghệ thuật sẽ làm căn phòng sáng sủa, thanh lịch hơn.
6 đặc điểm nhân tướng nổi trội của phụ nữ có số vượng phu ích tử
Chắc hẳn đấng mày râu nào cũng muốn tìm được người vợ có tướng vượng phu, ích tử đúng không nào, cùng khám phá những đặc điểm cơ thể này ở người phụ nữ nhé.
Theo quan niệm về nhân tướng học, người phụ nữ đầy đặn chính là người phụ nữ có phúc khí. Vì thế các đức ông chồng đừng phiền lòng khi vợ mình hơi “đẫy đà” nhé, các bạn đang sở hữu một phúc tướng trong nhà đấy.1. Người có khuôn mặt tròn đầy Những cô gái có khuôn mặt tròn, đôi má bầu bĩnh thường khá may mắn trong chuyện tình cảm và có tài vận tốt đẹp. Họ thường là những người hướng ngoại, hào phóng, cởi mở và rất nhiệt tình giúp đỡ mọi người xung quanh. Nhờ đó họ nhận được nhiều tình cảm tốt đẹp, được nhiều người yêu mến. Những cô gái này sẽ mang lại thật nhiều năng lượng tích cực cho gia đình nhỏ của mình, khiến công việc làm ăn của chồng ngày càng hanh thông và khiến con cái ngày càng thông minh, ngoan ngoãn. 2. Người có chiếc cằm đầy đặn Những người phụ nữ sở hữu chiếc cằm tròn, khá nhiều thịt thường khá thùy mị, dịu dàng. Bất kể là việc gì họ luôn rất tận tâm và chu đáo. Họ luôn coi gia đình là điều quan trọng số 1 vì thế khi cần thiết họ chấp nhận hy sinh sự nghiệp để chăm lo cho chồng con. Những người phụ nữ có đặc điểm nhân tướng này còn rất ham học hỏi, họ không ngừng trau dồi kiến thức để góp sức cho công việc của chồng cũng như dạy dỗ con cái những thứ tiên tiến nhất. 3. Người có đôi bờ vai dày và rộng Đặc điểm này tuy nhiều cô gái không mong muốn, tuy nhiên đây lại là điều mang lại nhiều may mắn cho người chồng và con cái của họ. Những cô gái có bờ vai dày, rộng thường khá bao dung, rộng lượng. Họ là những người rất có trách nhiệm, đáng tin cậy và chu đáo. Họ dễ dàng tạo dựng được sự nghiệp rực rỡ đồng thời cũng khiến sự nghiệp của đấng phu quân ngày càng thuận lợi. Ngoài những tài sản bản thân làm ra, họ còn được hưởng cuộc sống sung túc, an lành, yên vui khi về già cũng một phần được hưởng phúc từ con cháu nữa.4. Người có bờ hông rộng Người có đặc điểm nhân tướng này thường có khả năng kiếm tiền rất giỏi, bên cạnh đó họ cũng rất biết hoạch định trong việc chi tiêu và sử dụng đồng tiền sao cho có lợi nhất. Nhờ đó họ thường thành công trong công việc kinh doanh và các công việc liên quan đến tài chính. Họ cũng là những người dễ sinh con, chăm con tốt. Họ cũng luôn ủng hộ chồng phát triển sự nghiệp. Có thể nói lấy được người vợ như vậy là điều mơ ước của phái mạnh. 5. Người có đôi chân vững chãi Nhân tướng học cho rằng những người có đôi chân quá gầy, mảnh khảnh thường có cuộc sống khá bấp bênh, vất vả, khó ổn định. Ngược lại những cô gái sở hữu đôi chân vững chãi, tuy không phù hợp lắm với chuẩn mực vẻ đẹp người mẫu, tuy nhiên lại có cuộc đời gặp nhiều may mắn, vui vẻ, dễ thành công cả trong sự nghiệp và cuộc sống. Khi làm vợ, làm mẹ, những cô gái có đặc điểm nhân tướng này cũng dễ dàng tạo dựng được gia đình đầm ấm, hạnh phúc, ngày càng sung túc và ấm no. 6. Người có dáy tai to và dày Những cô gái có đôi tai mang đặc điểm này thường có cuộc đời may mắn, hạnh phúc ngay từ khi sinh ra. Họ thường gặp may cả về tài vận, tình duyên. Họ dễ dàng tìm được một nửa đích thực để gắn bó cả đời, khi lấy được người vợ như vậy, đấng phu quân của họ sẽ có sự nghiệp ngày càng suôn sẻ như “diều gặp gió”, bên cạnh đó cuộc sống gia đình cũng ngày càng đủ đầy, sung túc.
Đứng trước bất kỳ hiện tượng nào đó của thiên nhiên, thậm chí ngay cả những hiện tượng rất bình thường của cuộc sống, ví như tiếng chó sủa, lửa reo, hay sự hồi hộp, lo âu của con người thì tín ngưỡng dân gian đều cho rằng đó là điềm ứng báo
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Đứng trước bất kỳ hiện tượng nào đó của thiên nhiên, thậm chí ngay cả những hiện tượng rất bình thường của cuộc sống, ví như tiếng chó sủa, lửa reo, hay sự hồi hộp, lo âu của con người thì tín ngưỡng dân gian đều cho rằng đó là điềm ứng báo
Vậy điềm báo là gì? ý nghĩa của điềm báo cụ thể ra sao? Sự phi lý và nhảm nhí như thế nào?
Xin lược soạn để bạn đọc tham khảo như sau:
1. Các hiện tượng “bỗng dưng”:
- Vô tình mặc áo trái là điều may mắn, là điềm báo sắp nhận được tin vui hoặc vận may từ trên trời rơi xuống. Nếu vận đang xui xẻo, sẽ xoay chuyển được tình thế.
- Khi tai bị ngứa là điềm báo chủ nhân đang là tâm điểm của sự bàn luận. Nếu ngứa tai trái là đang được mọi người nói tốt, còn ngứa tai phải là đang bị mọi người nói xấu. Khi tai đang bị ngứa, cố đoán xem ai đang nói về mình và đọc lớn tên người đó lên, nếu đoán đúng, cơn ngứa sẽ không còn.
- Khi tay bị ngứa ran: Nếu ngứa tay trái, hoặc tay trái ngứa trước tay phải, tình hình tài chính sẽ rất khả quan. Ngược lại, nếu ngứa tay phải, hoặc tay phải ngứa trước, báo hiệu sắp tới sẽ bị hao tài. Nếu ngứa ở 4 ngón tay trái, đây là dấu hiệu vận may lớn về tiền bạc sắp đến.
- Vào nhà thấy người trong nhà đầu bù tóc rối, áo quần xốc xệch, vẻ mặt tối ám là điềm ưu sầu, suy sụp.
- Trong nhà có người ngủ ngày ngủ đêm liên miên là triệu trứng suy vong, hao tán, không phát đạt.
- Bức tranh trong nhà tự nhiên rơi xuống là điềm xấu. Nếu tranh đó là tranh vẽ hay ảnh chụp người trong nhà thì đó là dấu hiệu bất ổn đối với người đó.
- Trước mặt nhà rêu phong, cây cối rủ kín hoặc vách tường đổ nát là điềm báo gia đạo đến hồi suy vi sầu thảm.
- Cá dưới nước tự nhiên nhảy lên bờ nằm (trừ cá quả vì nó nhảy lên bờ bắt kiến) trước mặt mình là nghịch cảnh, điềm báo sẽ gặp chuyện bất thường.
- Chim đang khỏe mạnh, bất ngờ bị thương hoặc tai nạn gì đó rơi xuống trước mặt mình (theo câu thành ngữ "chim sa cá nhảy") là điềm gở, cảnh báo sắp có chuyện đau buồn, nghịch cảnh.
- Gà mái nhà nuôi mà tự nhiên cất tiếng gáy là điềm báo gia đạo sắp có xáo động.
- Chim sẻ nhẩy nhót kêu trên mái nhà là điềm báo sắp có tin vui, có người ở xa đến.
- Nếu chuột kéo nhau bỏ chạy ra khỏi nhà nào đó là điềm báo nhà đó sẽ có bất hạnh, tang tóc.
- Tự nhiên có chuột reo trong nhà là có tin vui.
- Chuột xuất hiện trong nhà vào ban trưa là điềm gia chủ bị hao tài.
- Tự nhiên có bầy chim bay đến cắn mổ nhau loạn xạ là điềm có tranh cãi trong nhà.
- Chim, quạ hoặc bồ câu kéo đến làm tổ trong nhà là điềm báo vận may đang đến, đem theo những thành công về sự nghiệp, tài chính như mong đợi.
- Chim bồ câu tới đầy sân và làm tổ trên mái nhà là điềm báo gia đình hưng thịnh giầu sang.
- Chó lạ đến nhà, nhất là ở lại nhà mình là điềm đại cát, báo hiệu gia đình bước vào giai đoạn hưng thịnh.
- Tự nhiên chó cái ở đâu đến đẻ trong nhà là điều may mắn về tài, lộc sẽ đến..
- Tự nhiên con chó trong nhà đứng giữa nhà mà tru lên từng hồi là điềm hung, rất xấu.
- Tự nhiên con chó rên rỉ dưới cửa là điềm báo sắp có sự không may.
- Tự nhiên con chó đến nằm dài trước cửa ra vào, mặt quay ra trước cửa là dấu hiệu có người trong nhà sẽ rời khỏi gia đình.
- Mèo lạ đến nhà, nhất là đuổi mà không chịu đi là điềm gở, báo hiệu cho sự buồn bực, sa sút. - Dơi làm tổ trong nhà là tốt, báo hiệu sự nghiệp, kinh tế của gia đình ngày càng khấm khá, thịnh vượng.
- Tự nhiên dơi bay đụng vào cửa hay bay vào trong nhà là điềm xấu.
- Tự nhiên mèo dùng chân chùi mặt và cào móng lên tai 3 lần, là dấu hiệu có khách quý đến nhà.
- Khi lái xe gặp phải con mèo đen chạy ngang qua đường hoặc mới bước ra cửa ngõ mà gặp mèo đen là điềm “xui xẻo”.
- Gặp rắn: Cho dù gặp rắn ở đâu, trong nhà hay ngoài đường, rắn luôn là điềm báo sẽ có một việc hoặc một người quan trọng sắp xuất hiện trong cuộc đời.
- Bướm bay vào nhà là điềm báo sắp đón vị khách quan trọng. Nếu bướm có màu sáng, người khách sẽ mang đến những tin tức tốt, liên quan đến chuyện tình cảm, hạnh phúc. Nếu bướm màu tối, nhất là màu đen, điềm báo sẽ nhận được những tin tức tốt lành liên quan đến công việc, sự nghiệp.
- Cào cào nhảy vào nhà là điềm báo sắp đón tiếp một vị khách cao quý.
- Bọ rùa vào nhà là dấu hiệu sắp có người đến thăm..
- Cóc vào nhà là điềm may mắn về tiền tài sắp đến.
2. Thịt giật
Người xưa cho rằng: Tự nhiên một vài nơi trong người, nhất là các bắp thịt giật nổi phồng lên, hoặc máy động. Đó là điềm ứng báo, được gọi là thịt giật hay còn gọi là thịt máy. Căn cứ vào thời gian sảy ra hiện tượng thịt giật mà luận đoán ý nghĩa của may, rủi.
Cổ nhân thường lấy can chi, âm dương ngũ hành làm cơ sở để lý giải mọi vấn đề. Cách tính giờ của văn hóa dân gian cũng không ngoài quy tắc: Căn cứ vào can chi - âm dương - ngũ hành làm chuẩn. Mỗi ngày được cổ nhân quy định gồm 12 giờ, mỗi giờ gồm 120 phút (theo giờ đồng hồ hiện hành), có tên gọi và thứ tự theo thập nhị chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Văn hóa dân gian quy định bắt đầu của một giờ từ khoảng thời gian nào, kết thúc vào thời gian nào cũng không đồng nhất và khá rối rắm, phức tạp, nhất là khi đem cách tính giờ của Tử vi so với cách tính giờ của Tử Bình, hoặc cách tính giờ phổ thông của dân gian. Như vậy, rất khó khăn cho những ai khi tiếp cận, muốn tìm hiểu về văn hóa dân gian, nhất là văn hóa tín ngưỡng, vì thế, theo thiển nghĩ của người viết, khoảng cách giữa giờ này với giờ kia tạm quy ước là 01 phút, theo cách tính giờ phổ thông của tín ngưỡng dân gian.
Ví dụ: Giờ Tý được tính thời gian bắt đầu từ 23 giờ đến 01 giờ kém 01 phút, giờ Sửu được tình từ 01 giờ đến 03 giờ kém 01 phút ... các giờ khác cũng tính như vậy.
Cụ thể, người xưa luận giải:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có tin chia gia tài hoặc bạn sắp được hưởng lộc bất ngờ.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Con cái từ xa mang lại vui vẻ cho gia đình của bạn.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Chuyện nhỏ hóa ra chuyện lớn. Nên nhường nhịn, ôn hòa để tránh chuyện kiện tụng có thể sảy ra cho bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người mang quà đến tặng để nhờ vả bạn một công việc gì đấy.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Đề phòng tai nạn xảy ra bất ngờ với con cái trong nhà. Tốt nhất không nên cho con cái ra ngoài đường và nên để mắt thường xuyên tới chúng.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Có khách lạ tìm đến nhà bạn để bàn bạc, trao đổi công việc, và công việc đó sẽ có lợi cho bạn.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người đang cố tình tìm cách dèm pha, nói xấu bạn. Tốt hơn hết, bạn nên đề phòng sự phản trắc của bạn bè, người quen ngay từ bây giờ.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Là điềm báo có của đến bất ngờ.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có tài lộc đến với bạn nhưng cũng có chuyện lôi thôi nhỏ kèm theo.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Bạn sắp có chuyện hao tài, và mang nhiều tai tiếng. - Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Con cái ở xa về, gia đình vui vẻ.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Công việc của bạn đã có những dấu hiệu chuyển biến tốt đẹp, tài lợi cũng sắp đến với bạn khá nhiều.
3. Hồi hộp
Tự nhiên người hồi hộp, như lo sợ một chuyện gì đó, hoặc tim đập mạnh, tâm trạng lâng lâng khó tả.... Người xưa cho rằng đó là điềm báo, căn cứ vào thời gian sảy ra để luận giải, cũng có điềm lành, điềm dữ.
Cụ thể, cổ nhân cho rằng:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có người đang chờ mong một cuộc ân tình với bạn.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Đây là điềm báo tai họa từ đâu sẽ bất ngờ ập đến với bạn. Vì thế bạn nên cẩn trọng đề phòng chuyện thị phi, đàm tiếu, bị vu oan, làm danh dự của bản thân bị tổn thương, bôi nhọ.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Điềm báo có lộc về ăn uống. Tuy nhiên, bạn cũng cẩn thận kẻo gặp lôi thôi từ chuyện ăn uống.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có khách sang trọng tìm đến, đem lại tài lộc dồi dào cho bạn.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Điềm báo có tin vui về tài lộc đến với bạn, tuy nhiên, bạn nên tu tâm tích đức để giữ được tài lộc.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Bạn đang có chuyện tâm tình, thầm kín và chuyện tình cảm đó dễ có cơ thành tựu.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có chuyện hồi hộp ngẫu nhiên, tiền của vào nhà thật bất ngờ. Bạn cần phải tích đức để tránh được tai họa có thể đến sau niềm vui may mắn được tài lộc.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Chuyện tình duyên bất ngờ đến với bạn. Chuyện tình đầy thơ mộng nhưng kết quả sẽ không như bạn mong đợi.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có tin vui từ xa về, bạn rất vui vẻ với tin vui đó.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Là điềm báo người thân của bạn sẽ đến thăm hỏi và cậy nhờ sự giúp đỡ của bạn vào ngày sắp tới.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có người rủ rê bạn hùn vốn làm ăn. Bạn đừng chối từ lời đề nghị của họ vì sự hợp tác đó sẽ đem lại nhiều tài lộc cho bạn.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Bạn nên cẩn thận đề phòng tai nạn có thể sảy ra.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
4. Ù tai
Tự dưng không động chạm tới tai, không để nước lọt vào tai mà có hiện tượng ù tai như khi ta tắm. Đó là điềm ù tai. Người xưa cũng căn cứ vào thời gian sảy ra để lý giải cho thời gian tới sẽ như thế nào. Tuy nhiên, ở điềm ù tai này, cổ nhân phân biệt giữa tai trái, tai phải có ý nghĩa khác nhau chứ không giống nhau.
Cụ thể, người xưa cho rằng:
Tai trái:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có người khác phái đang mong nhớ, tương tư tới bạn. Họ đang hy vọng sẽ xây dựng được mối ân tình sâu nặng với bạn.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có việc hao tài sắp đến với bạn nhưng sự hao tài đó không đáng kể.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Là điềm báo có kẻ gian đang rình rập quanh bạn. Nên cẩn trọng đề phòng chuyện mất cắp sẽ đến với bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có chuyện vui xen lẫn chuyện buồn. Bạn cần cẩn thận giữ mình là tốt nhất.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Bạn sắp có việc phải đi xa. Tốt nhất, bạn nên cẩn thận trong lời ăn tiếng nói.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Tai biến nặng nề, đề phòng cẩn thận khi đi đường.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có niềm vui của sự xum họp sắp đến gần bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có lộc về chuyện ăn uống, tuy nhiên, bạn nên đề phòng điều lôi thôi sẽ đến sau khi bạn được tận hưởng lộc ăn uống đó.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người rủ bạn đi du lịch. Bạn nên nhận lời vì chuyến du lịch này sẽ đem lại cho bạn nhiều niềm vui.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Đề phòng mất cắp đồ đạc, tài sản trong nhà.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Là điềm báo bạn có lộc về ăn uống.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Sẽ nhận được tin vui trong vài ngày tới và may mắn sẽ đến với bạn khá nhiều.
Tai phải:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm xấu, báo việc bạn sắp phải tốn tiền vì chuyện không đâu mà còn bị tai tiếng, cười chê.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có chuyện kiện tụng, lành ít dữ nhiều. Bạn nên cẩn thận.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Là điềm báo có chuyện cãi vã trong gia đình, họ hàng. Bạn nên nhường nhịn kẻo sẽ đổ vỡ hạnh phúc gia đình, hoặc mất đi tình cảm họ hàng, thân thuộc.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có khách quý sắp đến thăm nhà, đem lại cơ hội tốt cho bạn về công việc, tình cảm, hoặc chuyện đại hỷ của bạn đang đến gần.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Có người cầu cạnh, nhờ vả bạn giúp đỡ một việc quan trọng với họ mà bạn có khả năng, điều kiện để giúp đỡ.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Tài lộc đến với bạn thật bất ngờ, niềm vui đầy nhà.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người thân trong quyến tộc đến thăm bạn ngày một ngày hai.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Là điềm báo có tin vui từ xa đang đến.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Người thân của bạn đi xa từ lâu, nay bỗng trở về xum họp.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): CLà điềm báo cát tường, báo sẽ có người tìm đến bạn, mời bạn hợp tác làm ăn với họ. Bạn hãy nhận lời đề nghị của họ vì sự hợp tác này sẽ đem lại cho bạn nhiều tài lộc.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Bạn sẽ được lộc về tiền của bất ngờ.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Đây cũng là điềm lành. Bạn sắp có lộc về ăn uống.
5. Mặt nóng
Tự nhiên, không phải vì lý do bệnh tật, hoặc đứng bếp nấu nướng,.. mà mặt nóng bừng lên, cảm giác ngứa ngáy khó chịu. Hiện tượng đó được người xưa cho đấy là điềm báo. Lối báo ứng tự nhiên này cũng có điềm tốt, điềm xấu.
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm lành, báo hiệu công việc đang trù tính của bạn sắp được thành tựu, tài lộc sắp về với bạn.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có chuyện bực mình đến với bạn, nhất là chuyện gia đạo của bạn sẽ gặp trắc trỏ, không được thuận hòa.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có người sắp đến rủ rê bạn chuyện hợp tác làm ăn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người sắp mời bạn tham dự tiệc. - Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Có người từ xa mang đến tin vui cho bạn.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Người tình cũ của bạn đang tưởng nhớ tới bạn, mong sớm gặp mặt để nhờ sự giúp đỡ của bạn...
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có chuyện xích mích trong gia đình, nhất là anh em, họ hàng. Bạn nên nhường nhịn kẻo chuyện nhỏ mà hóa ra to chuyện.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Bạn phải đề phòng chuyện cãi vã, nên đề phòng để tránh từ chuyện nhỏ hóa thành chuyện to.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người giới thiệu khách quý đến kết hợp làm ăn với bạn, hoặc bạn được nhờ vả sự giúp đỡ của họ.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có người để ý, dòm ngó đến bạn. Nên cẩn thận vì sự để ý, dòm ngó này không có thiện ý với bạn. Tốt nhất, bạn nên đề phòng, tránh xa con người đó.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Đây là điềm báo tài lợi dồi dào sắp đến, và hơn nữa may mắn đó đến với bạn cũng không hề nhỏ.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Có kẻ đang vu cáo, dèm pha, tìm cách để hãm hại bạn. Bạn nên cẩn thận kẻo bị oan sai, dẫn đến chuyện kiện tụng chốn công đường.
6. Máy mắt
Tự dưng bị máy mắt, không thể nào khống chế được, thì đó là điềm máy mắt. Về ứng nghiệm này thì mỗi người có một cách luận giải, không tập trung một ý. Có người thì cho rằng máy mắt bên trái chỉ ứng nghiệm cho con trai, máy mắt bên phải chỉ ứng nghiệm cho con gái; có người lại cho rằng máy mắt bên trái là tin dữ, máy mắt bên phải là tin lành, nhưng lành dữ thế nào thì không thấy có lời giải thích.
Người viết căn cứ vào nội dung được trình bày trong nhiều cuốn sách được xuất bản từ trước năm 1975 và sưu tầm trong dân gian để tổng hợp.
Bất luận là nam hay nữ, khi có triệu chứng máy mắt, đều có nghĩa như sau:
Mắt trái:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Có bạn bè ở xa về. Bạn sẽ có nhiều niềm vui về tình cảm.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Bạn sẽ có chuyện buồn bực do người thân đem lại. Nên giữ thái độ ôn hoà để giữ được tình cảm.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có người sẽ mang đến tài lộc cho bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Đây là điềm báo có người đang âm thầm giúp đỡ bạn. Trong một vài ngày tới, bạn sẽ nhận được tin vui.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Bạn sắp có chuyện bực mình do kẻ khác đến quấy rầy.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Bạn vui vì sắp có lộc về ăn uống. Tuy nhiên, bạn cũng cần cẩn trọng kẻo sẽ gặp chuyện phiền phức không đáng có.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người sẽ đem tin vui đến cho bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có tin vui nho nhỏ sắp đến với bạn.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Bạn sắp gặp chuyện bất ngờ về tình cảm, tuy nhiên, niềm vui đó cũng không kéo dài.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có khách quý đến nhà, đem lại niềm vui lớn cho bạn.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Việc suy tính trong lòng bạn từ lâu sắp được thành tựu.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Đây là điềm báo sắp có khách quý chuẩn bị đến thăm và đem đến cho bạn những niềm vui về tài lộc.
Mắt phải:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Điềm báo bạn sắp có lộc về ăn uống.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có chuyện nhắc nhở từ người thân với bạn làm bạn bực mình, khó xử..
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Điềm báo sắp có tin tốt lành đến.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Điềm báo thời gian tới tài lộc sẽ bất ngờ đến.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Bạn phải thật cẩn thận lời ăn tiếng nói, đề phòng chuỵên cãi vã mà phải đưa nhau tới chốn công đường.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Có chuyện xô xát với bạn do có kẻ cố tình gây rối, chọc phá.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Đề phòng tai nạn hoặc mất cắp sảy ra với bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Bạn sắp bị hao tài nhưng sự thiệt hại đó không đáng kể.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người khác phái đang tơ tưởng tới bạn.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có người bà con ở xa đến thăm gia đình bạn.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có người rủ rê bạn đi du lịch. Bạn nên nhận lời đề nghị đó, vì chuyến du lịch đó sẽ đem lại nhiều niềm vui cho bạn.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Điềm báo bạn sắp có chuyện rắc rối do lời ăn tiếng nói gây ra. Nên cẩn thận, giữ gìn lời ăn tiếng nói ngay từ bây giờ, kẻo danh dự của bạn bị ảnh hưởng xấu.
7. Nhảy mũi
Không bị cảm sốt mà bỗng dưng bị nhảy mũi liên tiếp một hay nhiều cái, hoặc nhiều lượt thì đó gọi là điềm nhảy mũi. Thông thường thì nhảy mũi một hoặc hai cái đều được coi là điềm tốt, điềm lành. Tuy nhiên, nhảy mũi không phải lúc nào cũng một hoặc hai cái, mà có khi nhảy mũi liền vài ba bốn cái, do vậy, tín ngưỡng dân gian căn cứ vào thời gian sảy ra hiện tượng nhảy mũi để suy luận việc cát hung.
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Điềm báo bạn có lộc về ăn uống sắp đến.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có người khác phái rủ bạn làm một việc có lợi cho mình nhưng công việc đó lại gây thiệt hại cho người khác.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Điềm báo bạn sắp có chuyện hẹn hò.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người sắp mang quà đến tặng cho bạn.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Điềm báo bạn sắp có lộc về ăn uống
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Đây là điềm lành, báo bạn có quý nhân giúp đỡ, đáp ứng sự mong muốn trong lòng bạn từ lâu.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có thân nhân từ xa về, đem đến niềm vui về tài lợi cho bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có niềm vui nho nhỏ về tài lộc cho bạn.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Đây là điềm xấu, báo sẽ có tin bất lợi đến với bạn, nhưng bạn hãy bình tĩnh để tìm cách giải quyết, đừng hốt hoảng, lo sợ mà làm rối tung rối mù mọi chuyện.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có người khác phái tìm đến nhờ sự giúp đỡ của bạn. Tất nhiên, bạn sẽ được lợi cả tiền bạc lẫn tình cảm trong chuyện này.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có người khác phái đang tương tư bạn, người đó sẽ viết thư hoặc điện thoại cho bạn trong vài ngày tới.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Điềm báo có chuyện rắc rối về tiền bạc nhưng bạn bình tĩnh cân nhắc, sẽ giải quyết được.
8. Lửa cười
Lửa trong bếp lò không có gió, không cao ngọn mà tự dưng phì phì như có người thổi hoặc tiếng lách tách như tiếng reo. Đó là điềm lửa báo, được gọi là lửa cười. Tín ngưỡng dân gian cũng căn cứ vào thời gian sảy ra điềm lửa cười để luận giải về sự may, rủi trong thời gian tới sẽ như thế nào?
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm báo không tốt cho bạn. Vợ (nếu là nam giới) hoặc chồng (nếu là nữ giới) của bạn có chuyện ngoại tình.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Con cái trong nhà có thể bỏ nhà theo người yêu.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có người đang muốn đến để cầu thân với bạn.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Bạn sắp có lộc về tiền tài và tình cảm.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Điềm báo bạn có chuyện buồn phiền sắp đến. Nên cố gắng thu xếp sao cho ổn thỏa để được yên thân.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Điềm báo có người mời bạn đi dự tiệc.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có kiện tụng đến với bạn, nên ôn hòa để giải quyết mới mong tránh được những phiền nhiễu sau này.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Có người nâng đỡ, việc trù liệu của bạn bấy lâu sẽ có cơ hội thành tựu.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Đây là điềm báo gặp lộc về tiền của bất ngờ, tuy nhiên, bạn nên thật cẩn thận và chú ý khi đi ngoài đường.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có chuyện tai biến trong nhà bạn, đề phòng việc tang khó sắp sảy ra.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Đây là điềm báo người tình cũ sẽ tìm đến, tình yêu thơ mộng lại bắt đầu, đem lại niềm vui cho bạn.
Là hiện tượng chó nuôi tự nhiên chõ mõm vào người mà sủa, hoặc tru dài. Tín ngưỡng dân gian cho rằng: Chó tru hoặc sủa cũng có điềm xấu điềm tốt, nhưng nhìn chung, điềm tốt không nhiều nên điềm chó tru, hoặc chó sủa thường đem lại cho con người sự bực dọc, lo lắng.
Người xưa cũng căn cứ vào thời gian sảy ra điềm chó tru (hoặc chó sủa) để luận đoán về may, rủi trong thời gian tới sẽ như thế nào?
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Điềm báo vợ hoặc chồng có tư tình bên ngoài, hôn nhân của bạn đang có nguy cơ bị đổ vỡ..
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Nguy hiểm sắp đến với bạn, nên cẩn thận giữ mình kẻo bị hàm oan, tai bay vạ gió, phải chịu oan ức, tù đày.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Gặp lại người yêu cũ, tình xưa được nối lại. Bạn cần phải đề phòng chuyện ghen tuông sẽ dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Tiền bạc của bạn đã bị mất lâu ngày, nhưng khả năng bạn sẽ tìm lại được.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Có tin vui về tiền bạc do công việc làm ăn sắp đến với bạn.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Có người thân trong gia đình đến báo hung tin cho bạn.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Có người đến mời bạn đi ăn uống.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Tai nạn có thể sảy ra với vợ hoặc chồng của bạn, vì thế nên đề phòng, nhất là việc đi đứng.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Điềm báo sẽ có xích mích nhỏ với người hàng xóm hoặc đồng nghiệp lân cận, từ chuyện rất nhỏ mà thành ra to chuyện. Bạn nên giữ thái độ ôn hòa để tránh chuyện lôi thôi.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Đây là điềm báo sẽ có người nâng đỡ bạn vào một địa vị mới, tốt đẹp hơn cho công việc hiện tại rất nhiều.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Có kẻ rắp tâm hãm hại bạn, nên cẩn thận, đề phòng kẻo sẽ bị thân tàn danh bại.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Có chuyện kiện tụng đến với bạn, đã tốn tiền còn bị tai tiếng.
10. Quạ kêu
Quạ bay ngang qua nhà và kêu lên những tiếng dài không dứt, đó là chuyện bình thường. Vậy mà không ít người lấy đó làm căn cứ để phán đoán sự may rủi cho thời gian tới. Người ta cho rằng đó cũng là một điềm báo của thiên nhiên. Căn cứ vào thời gian sảy ra điềm quạ kêu, người xưa cũng đưa ra những lời luận đoán về sự may, rủi.
Cụ thể:
- Giờ Tý (Từ 23 giờ đến 01 giờ): Đây là điềm báo tốt lành về tình cảm, báo hiệu người thân của bạn ở xa sắp về xum họp cùng gia đình.
- Giờ Sửu (Từ 1 giờ đến 3 giờ): Có người sắp mang tin vui đến cho bạn.
- Giờ Dần (Từ 3 giờ đến 5 giờ): Có chuyện kiện tụng nhưng không nguy hại cho bạn. Dù sao, bạn vẫn nên cẩn thận, đề phòng những rắc rối không nên có.
- Giờ Mão (Từ 5 giờ đến 7 giờ): Có người đến mời bạn đi dự tiệc, và buổi tiệc ấy sẽ đem lại cho bạn khá nhiều tài lộc nếu bạn biết đón thời cơ.
- Giờ Thìn (Từ 7 giờ đến 9 giờ): Đây là điềm báo thời gian tới, tài lợi vào tới tấp. Bạn nên lo làm việc thiện để giữ được tài lộc dài lâu.
- Giờ Tỵ (Từ 9 giờ đến 11 giờ): Điềm báo có may mắn đến với bạn.
- Giờ Ngọ (Từ 11 giờ đến 13 giờ): Đề phòng chuyện sức khỏe, bệnh tật không tốt đến với bạn.
- Giờ Mùi (Từ 13 giờ đến 15 giờ): Bạn đề phòng chuyện mất trộm, hoặc thất thoát tài sản có thể sảy ra.
- Giờ Thân (Từ 15 giờ đến 17 giờ): Có người rủ bạn làm ăn. Bạn đừng thoái thác lời đề nghị của họ mà hãy nhận lời, vì chuyện hợp tác này sẽ đem lại lợi lộc khá lớn cho bạn sau này.
- Giờ Dậu (Từ 17 giờ đến 19 giờ): Có chuyện lo âu, phiền muộn đang đến với bạn.
- Giờ Tuất (Từ 19 giờ đến 21 giờ): Tài lợi dồi dào, may mắn không nhỏ đang đến với bạn.
- Giờ Hợi (Từ 21 giờ đến 23 giờ): Bạn sắp gặp phải chuyện khẩu thiệt ngoài đường. Tốt nhất, bạn nên cẩn thận, để tránh điều đó sảy ra.
>> Đã có VẬN HẠN 2016mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Ý nghĩa sao Thiên Đức - Là một thiện tinh chủ phúc hậu
Hành: Thổ
Loại: Thiện tinh
Đặc Tính: Phúc hậu, từ thiện, nhân đạo, có đức hạnh, giải trừ được bệnh tật, tai nạn nhỏ
Ý Nghĩa Thiên Đức Ở Cung Mệnh
Tính Tình: Ôn hòa, nhân hậu, đức hạnh, đẹp nết.
Từ bi, từ thiện hay giúp đỡ, làm phúc.
Phúc Thọ Tai Họa:
Sao Thiên Đức có thể giải trừ được những bệnh tật nhỏ và tai họa nhỏ, mang lại một số may mắn, hỷ sự. Do đó, sao này giống như các sao Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Quang Quý, Tả Hữu, Sinh, Vượng. Sự kết hợp càng nhiều giải tinh càng làm tăng hiệu lực cứu giải.
Ý Nghĩa Thiên Đức Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mẹ nhân hậu, từ thiện, có nghề khéo.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Phúc Đức:
Thiên Đức, Nguyệt Đức đồng cung thì họ hàng phúc hậu, mồ mã thuận vị.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Điền Trạch:
Đi đâu cũng có người giúp đỡ về nhà cửa, nơi ăn chốn ở.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Quan Lộc:
Công danh hay gặp may, có lương tâm nghề nghiệp.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Nô Bộc:
Bè bạn, người làm, người giúp việc, nhân hậu.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Thiên Di:
Ra ngoài khiêm tốn, hay gặp quý nhân.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Tật Ách:
Giải trừ được tai nạn, bệnh tật nhỏ.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Tài Bạch:
Kiếm tiền chính đáng, có lòng từ thiện.
Được giúp đỡ hoặc gặp may về tiền bạc.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Tử Tức:
Con cái hòa thuận, hiếu thảo.
Thiên Đồng, Nguyệt Đức: Vợ chồng có con sớm.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Phu Thê:
Người hôn phối có nhan sắc, đứng đắn.
Có Thiên Đức, Nguyệt Đức, Đào Hoa thì vợ chồng tốt đôi, tương đắc.
Ý Nghĩa sao Thiên Đức Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em hòa thuận.
Thiên Đức Khi Vào Các Hạn:
Thiên Đức, Đào, Hồng: Gặp giai nhân giúp đỡ nên tình duyên (có phụ nữ làm mai mối được vợ chồng).
Việc bắt gặp loài vịt trong giấc mơ mang rất nhiều tầng ý nghĩa, trong đó ý nghĩa phổ biến nhất là điềm báo rằng bạn sắp có công chuyện cần phải đi xa. Nếu bạn mơ thấy mình được thưởng thức món … thịt vịt trong giấc mơ, thì đó là một điềm may mắn, rằ
Cách hoá giải góc khuất và cột nhà trong phòng khách –
Do đặc điểm kiến trúc, hoặc thiết kế sẵn của nhà chung cư, phòng khách của nhiều hộ gia đình có tồn tại góc khuất hoặc cột trụ làm giảm mỹ quan, gây khó chịu cho người trong nhà, ảnh hưởng đến phong thuỷ và làm mất đi sự thông nhất của phòng khách. B
+ Dùng tủ gỗ hình khôi chữ nhật, tam giác có mặt phẳng hay mặt lồi với kích cỡ phù hợp để che phần góc khuất.
+ Để tăng cường không gian thiên nhiên trong chính phòng khách của mình, bạn có thể đặt một chậu cảnh hoặc xây bệ trồng cây cảnh vào phần góc khuất đó.
+ Đặt một bể cá vàng vừa với góc khuất, sẽ mang lại sự may mắn và phú quý tới cho chủ nhà.
+ Xây kín góc khuất rồi treo tranh chữ hay tranh sơn thủy để làm đẹp gian phòng.
+ Tận dụng không gian góc khuất, bạn có thể xây một giá kệ nhiều tầng với đèn trang trí xung quanh rồi bày những chai rượu quý, đồ gốm hoặc những đồ vật độc đáo do mình SƯU tập được, không những che được góc khuất mà còn gây được sự thích thú cho khách khi đến thăm nhà bạn.
– Hoá giải cột trụ:
+ Với những cột liền tường, bạn có thể dùng các loại tủ quần áo, tủ sách, tủ rượu, tủ bày biện trang trí để che lấp đi hoàn toàn, hòa lẫn tự nhiên với các phần khác trong không gian phòng khách.
+ Với phòng khách có hai cột thì bạn có thể tận dụng khoảng không gian theo chiều ngang giữa hai cột để đặt các loại tủ rượu và tủ sách…
+ Với phòng khách có một cột độc lập, bạn có thể đặt thêm một bức bình phong sát cạnh để biến cột làm giải phân cách trong phòng khách, tạo ra 2 không gian nhỏ trong phòng khách, một bên làm nơi tiếp khách, một bên là dùng làm phòng ăn, nghe nhạc…
Ngoài ra có thể thiết kế một bên cột độc lập tạo thành bậc, tức một bên nền cao, một bên nền thấp khiến người ta có cảm giác ngay thiết kế ban đầu đã là như vậy, về cảm quan sẽ thấy tự nhiên hơn.
+ Nếu không muốn dùng cột độc lập để ngăn phòng khách ra làm hai phòng nhỏ, bạn có thể đặt chậu hoa cảnh quanh chân cột hoặc căn cứ theo thế cột mà đặt giá trên thân cột để các chai rượu quý, đồ gốm, đồ lưu niệm của bạn bè làm vật trang trí cho phòng khách thêm sinh động.
+ Với những chiếc cột quá to, che khuât cả ánh sáng tự nhiên, bạn nên lắp đèn chiếu sáng trên thân cột để tăng ánh sáng cho gian phòng.
Ngoài ra, bạn có thể treo ở dưới xà nhà và cột các loại đèn trang trí, đạo cụ âm nhạc (sáo, tiêu, đàn tranh), hoặc một tấm gương thái cực.
Sống an nhiên tự tại theo lời Phật dạy sẽ giúp con người thư thái và lành mạnh hơn. Dưới đây là 12 cách tạo nghiệp lành để sống tốt theo quan niệm nhà Phật.
► Mời các bạn đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm
1. Lấy từ bi làm tôn giáo của mình
Tạo nghiệp tốt không nhất thiết phải theo tôn giáo, mà con người chỉ cần thể hiện thái độ tử tế ân cần với người khác như một lẽ tự nhiên để sống an nhiên tự tại. Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nhắc nhở: “Tôn giáo của tôi là lòng từ bi”. Không phải chỉ tử tế với người khác trong chốc lát mà phải luôn luôn, suốt cuộc đời của mình, trong mọi phương diện của đời sống, trong mọi mối liên hệ, trong mỗi công việc làm, trong tất cả những giao tiếp.
2. Trì chú
Trì chú là việc làm cơ bản và dễ nhất cho hành giả tu theo Mật tông để bắt đầu đi trên con đường mở ra những chân trời mới cho tâm trí. Đây là cách thức mạnh nhất để thanh lọc ác nghiệp mà chúng ta đã mang tới trong thế gian này với mình từ quá khứ. Luôn luôn trì chú với ý tưởng mang lợi ích đến cho người khác sẽ cảm thấy mình trở nên khoan dung hơn, bớt bối rối và bình tĩnh hơn.
3. Niệm Phật
Một cách thức mạnh mẽ để giải trừ những ác nghiệp là niệm danh hiệu Phật và lễ Phật sám hối. Trong khi niệm Phật con người phát khởi ý nghĩ sám hối về những nghiệp xấu đã tạo ra trong những kiếp trước và ngay trong kiếp sống này.
4. Thực hành thiền quán
Tham thiền là quá trình tập trung và thâm nhập, nhờ đó mà tâm được an tĩnh và nhất tâm bất loạn rồi đi đến giác ngộ. Khi quán tưởng như vậy, người ta nhẹ nhàng suy ngẫm về mọi sự trên đời, rũ bỏ tà niệm, hiểu thấu được sự quý giá của cuộc sống thì mới có thể sống an nhiên được.
5. Nhường đường khi lái xe
Chúng ta cũng có thể nhường đường cho người khác ngay cả khi mình có quyền ưu tiên. Khi không xem con đường là nơi tranh chấp giữa mình và những người lái xe khác, việc lưu thông sẽ thú vị hơn nhiều. Mỗi lần nhường đường cho người khác, tức là kiềm chế tính dễ nổi nóng và đây cũng là một cách để tạo nghiệp tốt.
6. Dành phần thắng cho người khác và chấp nhận thua thiệt
Khi nhường nhịn người khác, chúng ta nhiếp phục được sự tự ái của mình, và không thể để cho tự ngã của mình nghĩ đến những điều vị kỷ. Khi chấp nhận thua thiệt, sẽ là cơ hội cho ta diệt trừ tính kiêu ngạo. Đây là cách tạo nghiệp lành đặc biệt hữu dụng trong đối nhân xử thế. ST
“Mê tín” hay “ khoa học” đều là mộtsự bình phẩm. Trong ngôn ngữ hiện đại, từ đối lậpnhất với “mê tín là “ khoa học”. Cả hai từ trên một khía cạnh nào đó đều chỉchung một “sự thật”, còn trong đa số trường hợp đều cùng chỉ chung một “sựthật” , còn trong đa số trường hợp đều cùng thể hiện sự bình phẩm. Mà đã làbình phẩm thì luôn gắn với những hình thái quyền lực khác nhau.
Khi đánh giá vấn đề người ta thường sử dụng từ khoa học. Hiện nay người ta thường gắn văn hóa vật chất phương tây với khoa học và kỹ thuật (hình thái được vật chất phương tây với khoa học kỹ thuật, hình thái được vật chất hóa của khoa học) vào làm một. Do đó khoa học bèn trở thành bình phẩm có giá trị cao nhất. Khi người ta muốn đưa một sự việc hay sự vật lên giá trị cao, đáng được tôn trọng nhất thì người ta gắn cho nó cái “ mũ” khoa học, hoặc là đã được “khoa học chứng minh”.
Một số học giả gần đây, tuy ít thì muốn nêu cao tư tưởng tinh hoa của nho gia, nhưng ngược lại cho học thuyết âm dương, ngũ hành là cặn bã. Họ gọi âm dương, ngũ hành – một học thuyết đã từng thống trị trong các lĩnh vực thuật số như thiên văn, ngũ hành, hình pháp (phong thuỷ, tướng thuật), đoán mệnh, y thuật, vọng khí, v.v.. là “mê tín”. Đó rõ ràng là đứng trên quan điểm thể nghiệm thế giới theo văn hóa phương Tây để bình phẩm những hiện tượng của văn hoá Trung Quốc cổ.
Xem qua lịch sử Trung Quốc cận đại, đó là một bộ lịch sử hoặc là với thái độ dùng phương thức truyền thống của Trung Quốc để chống lại, bài xích văn hóa phương Tây, hoặc với thái độ lợi dụng văn hóa phương Tây một cách có chọn lọc, hoặc với thái độ cam tâm tình nguyện tiếp thu toàn bộ văn hóa phương Tây làm cho lịch sử triệt tiêu lẫn nhau. Từ sau khi văn hóa phương Tây dùng nước thánh, thuốc phiện, pháo hạm mở rộng cánh cửa vào Trung Quốc, người ta bắt đầu so sánh hai nền văn hóa dưới những góc độ khác nhau và cuối cùng rút ra kết luận phổ biến là: phương Tây “tiên tiến” còn Trung Quốc “lạc hậu”. Văn hóa của Trung Quốc chỉ có thể so sánh với một giai đoạn nào đó trong quá khứ của phương Tây. Sự biến đổi các hình thái và thứ lớp của văn hóa phương Tây bèn trở thành mô hình duy nhất, con đường duy nhất để phát triển văn hóa của nhân loại. Họ có những cái mà ta không có như chế đọ “dân chủ”, thể chế chính trị – kinh tế, phương pháp quản lý khoa học kỹ thuật, nền công nghiệp hiện đại, giáo dục, v..v.. đều là những cái mà chúng ta đang lạc hậu và là những điều kiện đủ để trở thành tiên tiến. Còn cái mà ta có, họ không có thì lại trở thành nguyên nhân lạc hậu của ta, thành nhân tố hạn chế, làm trở ngại có sự tiến lên, thành gánh nặng lịch sử. Từ đó mà vứt bỏ hết “ truyền thống”, dấy lên phong trào tìm kiếm “chân lý” trong văn hóa phương Tây. Người ta hy vọng từ trong “ công nghiệp cứu quốc”, “ khoa học kỹ thuật cứu quốc”, “giáo dục cứu quốc” để tìm được “thuận với trào lưu thế giới”, cho đó là “cứu quốc bảo trọng”. Trong quá trình phá bỏ trật tự cũ, âm dương, ngũ hành bèn trở thành đối tượng bị đả phá đầu tiên, cho dù trên một ý nghĩa nào đó, đấy chỉ là sự phá bỏ hình thái bề ngoài.
Một ví dụ đầy kịch tính nhất là sự thay đổi trong đánh giá về Trung y – một trong những thuật y học cổ đại của Trung Quốc. Trong phong trào văn hoá mới, trung y cũng giống như các phương thuật khác đã từng bị xem là mê tín. Âm dương, ngũ hành là đại bản doanh của mê tính. Kết luận là : “cái chết có liên quan đến sự sống chết của ông cha ta đều là sản phẩm của quan niệm âm dương ngũ hành này”. Với chi phối của cách đánh giá đó, trung y đã từng bị coi là một tai ách. Nhưng về sau, đặc biệt là mấy chục năm gần đây, tình hình này đã có sự thay đổi căn bản. “Mê tín” nhảy vọt thành “khoa học”. Trung y với tư cách là một sự thật, bản thân nó không hề thay đổi, mà thay đổi là sự đánh giá. Ở đây rõ ràng mê tính hay khoa học chẳng qua chỉ là sự đánh giá. Thuật số làm một trong những hình thái quan trọng của văn hóa Trung Quốc cổ đại. Sau nhà Đường và Ngũ đại, thuập số đoán mệnh được lưu hành hơn 1000 năm, cao nhất là vua cho chí thường dân đều thành tâm tin tưởng. Mấy chục năm lại đây ngược lại bị xem là mê tín. Sở dĩ nói đó chỉ là một sự bình phẩm vì Trung y và thuật đoán mệnh đều cùng một hệ thống, cùng có sắc thái như nhau, thế mà y học thì lại được xem là khoa học. Cho nên “mê tín” là một sự bình phẩm mang thiên kiến.
“Mê tín” và “khoa học” đều chỉ là một tín ngưỡng. Đối với mê tín thường được định nghĩa là: “sự tín ngưỡng thiếu bản chất lý tính, chỉ thuần tín ngưỡng hoặc tập tục”. Vì trước hết nó là một tính ngưỡng, sau nữa là “thiếu bản chất lý tính”. Song trong ngôn ngữ hiện đại, từ đối lập với mê tín là khoa học thì lại chính là được xây dựng trên cơ sở của sự tín ngưỡng. Đó là sự tín ngưỡng đối với “công lý” ( theo Bách khoa toàn thư).
Sistot cho rằng, công lý là nguyên lý thứ nhất không thể chứng minh được. Tất cả mọi khoa học có tính chứng minh đều bắt đầu từ nguyên lý thứ nhất này. Mỗi môn khoa học đều có nguyên lý thứ nhất của nó. Như hình học giải tích – môn biểu hiện rõ nhất “tinh thần lý tính” của Hy lạp là được xây dựng trên một số tiên đề – cái phải tự thừa nhận chứ không chứng minh được.
Cái phải tự thừa nhận mà không thể chứng minh được chính là dựa trên tín ngưỡng. Chỉ có thừa nhận những nguyên lý thứ nhất đó thì loài người mới có thể thu được tri thức. Do đó “ Kinh thánh” tuyên bố “ mầm mống và tinh hoa của tín ngưỡng đều là mở đầu của tri thức”. Bất luận là công lý hay mầm mống tinh hoa của tín ngưỡng đều là sự thể nghiệm, đều là chân lý tự hiểu, không chứng minh. Loại sự thực mà không thể dùng lý tính hoặc logic suy đoán để chứng minh thì đó là sự biểu hiện của tín ngưỡng. Loại tín ngưỡng này không có “bản chất lý tính”.
Khoa học ngày nay được xem là vạn năng, do đó nó cũng là một loại tín ngưỡng. Mọi người , boa gồm cả hàng vạn nhà khoa học đều sùng bái khoa học, thực chất đó là một hành vi tín ngưỡng. Khoa học hiện đại là biểu tượng của vũ trụ cơ học. Trong thế giới thể nghiệm về sự vận động cơ học thì giữa tôi và vật tách rời nhau. Ta là người đứng riêng ra để nghiên cứu, chỉ quan sát, mô phỏng ( ví dụ như thí nghiệm, lập mô hình toán học, v.v.) . Sự vận động của vật chất là một tồn tại khách quan. Dưới sự so sánh, tham chiếu các hiện tượng của vũ trụ cơ học thì thế giới “vạn vật có trong tôi”, khi đó “vạn vật với tôi làm một” tự nhiên bị xem là chủ nghĩa thần bí. Đó chính là hai sự tín ngưỡng khác biệt nhau, do một bên “ khoa học” xem vật tách khỏi tôi và một bên “ mê tín” cho tôi và vạn vật hòa làm một, do cái biểu tượng của hai thế giới thể nghiệm khác nhau tạo nên.
Khoa học hiện đại ngày nay chỉ là sự mô phỏng vũ trụ cơ học. Các môn khoa học hiện đại được các nhà khoa học tín ngưỡng thực chất là sự mô phỏng theo vật lý học, là sự mô phỏng theo các hiện tượng của vũ trụ cơ học. Theo lời sử gia khoa học người Anh - Tapi mà nói: “ Khoa học có thể gọi là những tri thức có đầu có đuôi về các hiện tượng tự nhiên, cũng có thể gọi là sự nghiên cứu lý tính giữa các loại quan niệm diễn đạt các hiện tượng tự nhiên”. Những nghiên cứu này , những kiến thức này đều tiến hành và thu được theo sự chi phối của quan niệm vũ trụ cơ học. Đặc trưng cơ bản nhất của vũ trụ cơ học là sự vận động cơ học về số lượng và khối lượng. Vật lý học bèn trở thành mô hình kinh điển của biểu tượng vũ trụ này, sử gia khoa học người Anh nói: “Những người tự xưng là “nhà khoa học” trong những lĩnh vực này luôn luôn thừa nhận rằng mình đã tuân theo phương pháp kinh nghiệm của vật lý, giam mình trong phòng thí nghiệm vật lý hiện đại, phân tích thế giới qua các con số . Họ không biết rằng phương pháp mà họ cố tuân theo không những không có hiệu quả mà cũng là phương pháp không làm cho vật lý học thành công.” (A.F. Charmosse: “Khoa học thực chất là gì”).
Vật chất và máy móc là các hình thái văn hóa bề mặt, là hình tượng của ý thức, là vật dụng. Bản thân khoa học kỹ thuật và đối tượng của nó đều là vật chất. Khi con người gọi chung chính trị, hệ thống quản lý là khoa học và dùng kỹ thuật để xử lý nó thì nền văn hóa phương Tây với danh nghĩa là chủ nghĩa nhân đạo, đề cao cái tôi lên hàng đầu, cũng đã đồng thời đem con người đặt ngang với vật chất. Đáng tiếc là loại vật chất này lại trở thành đối tượng cho con người sùng bái , trở thành mục tiêu tìm kiếm. Sự dốc tâm lực vào việc chế tác ra loại vật chất này lại trở thành đối tượng cho con người sùng bái, trở thành mục tiêu tìm kiếm. Sự dốc tâm lực vào việc chế tác ra loại vật chất này chứng tỏ xu hướng tìm đến kỹ thuật của nên văn hóa phương Tây. Khoa học ngày nay chẳng qua là một hệ thống trừu tượng của thế giới vật lý. Cho nên nếu cứ khăng khăng tìm kiếm kỹ thuật tức là chỉ lo tìm hình tượng mà không chú ý đến bản chất, như thế tất nhiên sẽ dẫn đến hậu quả bi kịch là chỉ nắm kỹ thuật, bỏ qua đạo lý. Những nhà sáng tạo thuộc thế hệ mới ở phương Tây đã nhạy cảm hơn chúng ta nhiều khi cảm thấy nền văn hóa của họ đang đứng trước những nguy cơ bao gồm cả những hiện tượng bề mặt như ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, nguy cơ khủng hỏang năng lượng, vấn đề dân số, v..v. kể cả nguy cơ tín ngưỡng.
Trong khi chúng ta, những người ở khu vực phi văn hóa phương Tây đang cố tìm kiếm kỹ thuật phương Tây thì một số nhà triết học phương Tây đã sớm bắt đầu tìm phương cứu thế từ bên ngoài văn hoá phương Tây. Điều đó chứng tỏ văn hóa phương Tây đang mất dần vị thế thống trị hơn 100 năm nay. Hình thái văn hóa phương Tây là lấy kỹ thuật làm biểu tượng dẫn đầu. Còn các nhân sĩ văn hóa phương Đông của chúng ta khi sử dụng kỹ thuật của phương Tây lại không hiểu được đạo lý của biểu tượng đó, tức là dùng kỹ thuật mà bỏ quên đạo lý. Như thì làm sao mà thoát khỏi được những bế tắc của đám bụi trần do lịch sử tích tụ lại.
Ý rõ, đạo sáng để thể hiện thế giới. Sự khác nhau giữa khoa học hiện đại với “ mê tín dạng Trung Quốc” chỉ là ở chỗ: cái trước thể nghiệm thế giới theo các: con người tách khỏi xung quanh, còn cái sau thể nghiệm thế giới theo cách: con người và xung quanh, còn cái sau thể nghiệm thế giới theo cách: con người và xung quanh hòa làm một. Am dương ngũ hành, cái bị gọi là đại bản doanh của mê tín chính là thế giới quan tự nhiên hay triết học tự nhiên của người Trung Quốc cổ đại chứ không phải người ngày nay khiên cưỡng , phụ họa ra. Vì trong sự thể nghiệm của người Trung Quốc cổ đại không có thiên nhiên đối lập với con người, trời đất đối lập với bản thân ta. Am dương, ngũ hành thống triệt trong tất cả mọi thứ nghiệm. Nó là biểu tượng toàn bộ thông tin giữa vũ trụ với cuộc sống con người. Thuật toán mà ngày nay bị xem là “mê tín” , ngày xưa vốn chiếm một vị trí rất cao. Giá trị vị trí của nó còn cao hơn cả khoa học ngày nay, vì không những nó là biểu tượng mà con là mô phongr thế giới thể nghiệm; là mô hình bầu trời ( hay đạo). Ý nghĩa của nó vô cùng to lớn. Am dương ngũ hành là biểu tượng, trong biểu tượng nó bao gồm cả ý nghĩa; thuật số là kỹ thuật , nhưng trong kỹ thuật đó đã có đạo. Rõ được điều đó tức là ý rõ , đạo sáng. Nền văn hóa chân chính là sự hòa quyện không chỉ giữa biểu tượng với vật thể mà còn là ở ý và đạo. Sự dung hợp nền văn hóa mới không chỉ lấy kỹ thuật làm trọng mà phải là một quá trình “đồng hóa” rộng rãi hơn, to lớn hơn, tinh hoa hơn, sâu sắc hơn trong đó lấy sự thể nghiệm thế giới làm cốt lõi. Hiểu rõ ràng và sâu sắc ý nghĩa tận cùng của văn hóa Trung Quốc chính là ở chỗ này.
Phòng vệ sinh ngoại trừ bồn cầu thì vật quan trọng nhất chính là gương. Muốn biết cấm kị khi bày gương trong nhà vệ sinh, xin mời theo dõi bài viết dưới đây.
Phòng vệ sinh ngoại trừ bồn cầu thì vật quan trọng nhất chính là gương. Bất kể là kích thước, hình dáng hay vị trí gương đều có những lưu ý quan trọng. Muốn biết cấm kị khi bày gương trong nhà vệ sinh, xin mời theo dõi bài viết dưới đây.
1. Cấm kị gương đối diện bồn cầu
Trong nhiều gia đình, tình huống gương đối diện bồn cầu khá phổ biến mà không hề biết rằng đây là lỗi phong thủy nhà vệ sinh vô cùng nghiêm trọng. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của người trong nhà vì bồn cầu là nơi bài tiết, nhiều xú uế mà lại đối diện gương khiến khí xấu phản chiếu, rất hung.Nhà vệ sinh không độc lập mà ở trong phòng ngủ thì càng nên chú ý tới điểm này, nếu phạm phải người ngủ trong phòng bị tác động rất nhiều. Bố trí gương sao cho không nên chiếu thẳng ra cửa, chiếu tới giường ngủ bằng không sức khỏe, tài vận đều yếu kém. Gương âm khí thịnh, nếu nhà vệ sinh ở trong phòng ngủ thì gương sẽ hút hết nguồn dương khí của người ngủ trong đó nên tinh thần lúc nào cũng mệt mỏi, thân thể kiệt quệ. Xem thêm bài viết Hướng dẫn hóa giải lỗi phong thủy gương đối giường
2. Cấm kị gương đối diện bồn tắm
Cấm kị khi bày gương trong nhà vệ sinh kết hợp nhà tắm là gương đối diện bồn tắm. Bồn tắm thuộc ngũ hành Thủy, gương cũng là ngũ hành Thủy, Thủy vượng thì sinh hàn khí mạnh khiến sức khỏe không tốt, tâm lý bất an. Hơn nữa khi tắm, cả cơ thể thả lỏng mà nhìn thấy gương sẽ dễ bị năng lượng xấu xâm nhập.
3. Cấm kị bày gương hình thoi
Hiện nay gương không chỉ có tác dụng để soi mà còn để trang trí, người ta bày ra nhiều loại gương với màu sắc, hình dáng khác nhau để làm đẹp không gian. Nên dùng gương hình vuông, đại diện cho sự cân bằng và thứ tự, nếu phối hợp với bồn rửa tay hình tròn thì lại càng hòa hợp, tạo ra phong thủy nhà vệ sinh rất tốt. Tiếp tới là gương hình tròn, hình bầu dục nhưng kị nhất là gương hình thoi, hình tam giác, gương có các cạnh sắc nhọn. Những loại gương này sẽ sản sinh sát khí nặng nề khiến người trong nhà không thể yên ổn. Xem thêm bài viết Treo gương đúng phong thủy: Nên và không nên
4. Cấm kị bày gương nhiều gương
Nhà vệ sinh bày cái gương hoàn chỉnh, nguyên khối lớn là tốt lành. Chạy theo mốt thời thượng hiện đại mà sử dụng nhiều gương nhỏ hợp thành gương lớn lại không hợp phong thủy. Lỗi phong thủy nhà vệ sinh này đối với sức khỏe, tinh thần đều không có lợi, thậm chí còn khiến chủ nhân bị lao đao, bệnh tật.Loại này thiết kế tuy rằng nhìn qua mỹ quan, nhưng hình ảnh soi ra lại vụn vặt, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn dễ dàng khiến người trong nhà trở nên do dự thiếu quyết đoán, vận thế giảm xuống, vì lẽ đó tốt nhất không nên bố trí như vậy.Gương không nên quá nhiều, tuy gương có thể khiến không gian thoáng đãng, đẹp đẽ hơn nhưng bày nhiều quá lại tạo ra âm khí, sát khí khiến vận trình kém đi rất nhiều. Hơn nữa, ban đêm đi vệ sinh thì dương khí không thịnh, lại thêm nhiều gương thì sản sinh âm ảnh làm bản thân kinh sợ, không thoải mái.
5. Cấm kị treo gương quá nhỏ
Lúc soi gương mà phía trên còn có một khoảng không gian lớn là đại biểu cho tiền đồ xán lạn, có khả năng phát triển rộng mở, được soi sáng rực rỡ, tương lai nhất định còn nhiều điểm tốt hơn hiện tại. Vì thế nhà vệ sinh cần treo gương rộng rãi nhưng kích thước không nên quá to vì tạo nhiều không gian âm khí, tích tụ nguồn năng lượng xấu. Xem thêm bài viết Những vị trí treo gương đại kị cho tài lộc và sức khỏe Tuyệt đối không nên chọn gương quá nhỏ, chỉ soi được gương mặt vì như vậy sẽ bất lợi với sự phát triển của sự nghiệp. Điều này đại diện cho việc công danh nhỏ hẹp, không có đường hướng phát triển, không thể thăng tiến như ý muốn. Gương và vật dụng không thể thiếu trong nhà, có rất nhiều tác động về mặt phong thủy. Nắm vững những cấm kị bày gương trong nhà vệ sinh có thể phần nào giúp chủ nhân vượng vận, thăng tiến tiền đồ và đặc biệt là thăng chức. Hãy quan tâm hơn tới bày gương hợp phong thủy trong nhà nói chung và trong nhà vệ sinh nói riêng, nếu bày đúng ắt tốt lành hơn. 18 vấn đề về phong thuỷ nhà vệ sinh không thể không xemVì sao phong thủy nhà ở cấm kị nhà bếp và nhà vệ sinh gần nhau?Cải thiện phong thủy nhà vệ sinh với những loại cây quen thuộcTrần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa
Có câu “thứ nhất tu tại gia, thứ hai tụ chợ, thứ ba tu chùa”, hiểu Phật pháp, hướng Phật, tôn trọng Phật giáo thì phải cặn kẽ tìm hiểu về các cấp bậc tu này.
► Cùng đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm
Thực chất, Phật giáo là một tôn giáo có lý luận và hệ thống tu tập khá bài bản, quy củ nhưng bên cạnh đó, với nguyên lý mở thì Phật giáo khuyến khích mọi hình thức tu tập, miễn sao là hướng tới Phật và dựa vào những nguyên tắc cơ bản, không xa rời đạo lý cơ bản.Giải thích câu nói “thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa” có nhiều người cho rằng đó là sự đề cao tu tại gia, tu tại gia là quan trọng nhất, vượt trên hai loại còn lại. Cách hiểu này chỉ đúng một phần nhưng còn chưa toàn diện, đầy đủ.Cách sắp xếp này là thứ tự, cấp bậc tu hành tăng dần theo thời gian mới chính xác. Trước tiên tu tại gia, tự tu để hướng lòng tới Phật, tự nghiệm ra những điều thiếu sót ở bản thân và ngộ đạo, thấu hiểu Phật giáo theo cách của mình, thấm nhuần tư tưởng Phật.Tiếp đến là “tu tại chợ”, tức là giao lưu, học hỏi, tiếp xúc xã hội để mở mang tầm hiểu biết, trao đổi đạo với những người khác và cọ sát thực tiễn. Đạo phải gắn với đời, vì đời mà hành thiện, vì nhân sinh mà tu tập, vì giải thoát chúng sinh mà cố gắng. Đó mới là cái đạo đích thực mà Phật giáo hướng tới. Ứng dụng những lý thuyết Phật dạy vào đời sống, tự đúc rút kinh nghiệm cho bản thân.
Cuối cùng là tu chùa, tìm đến nơi thanh tịnh, đến những vị chân tu học thuyết uyên bác để học hỏi. Bể học vô bờ, kinh sách nhà Phật như biển lớn, chỉ tự ngộ chắc chắn không thể hiểu hết, suy nghĩ nông cạn, cần có người chỉ điểm, hướng dẫn để ngày càng phát triển hơn.Cũng có ý kiến cho rằng “Phật tại tâm, tu đâu cũng được”. Điều này hoàn toàn đúng, vì Phật ở trong lòng, ngoài chính tâm mình thì tìm đâu cũng không thấy Phật. Tượng Phật, chùa miếu chỉ là nơi để đại diện cho Phật mà thôi chứ không phải Phật. Nhưng nói thì dễ, làm mới khó, tu tại gia đâu có đơn giản. Tư liệu đồ sộ, Phật pháp vô biên, tự mình mênh mông bể sở cần biết bao công dày, thế mới cần phải tu tại chợ, tại chùa mà học hỏi, trao đổi, nâng cấp hiểu biết.Câu nói trên thực chất chính là kết quả của những kinh nghiệm, của sự tiếp biến văn hóa của người Việt. Nó cũng phản ánh quá trình khổ luyện, trải qua nhiều giai đoạn và cần có sự phát triển khi tiến hành tu tập. Tu nghìn kiếp mới kết duyên phu thêMở rộng tâm hồn, điều hạnh phúc sẽ ghé thămMách bạn 4 tuyệt chiêu thoát khỏi khổ đau của nhà Phật Tâm Lan
Những câu nói hay về học tập của Khổng Tử. Là nhà tư tưởng, nhà triết học nổi tiếng lịch sử Trung Quốc, Khổng Tử đã để lại cho đời nhiều câu nói có giá trị
Những câu nói hay nhất của Khổng Tử. Là nhà tư tưởng, nhà triết học nổi tiếng lịch sử Trung Quốc, Khổng Tử đã để lại cho đời nhiều câu nói có giá trị (có thể coi là bất hủ) đến muôn đời sau.
Hãy tham khảo những câu nói sau đây của Khổng Tử để suy ngẫm về cuộc sống bạn nhé.
Những câu nói hay nhất của Khổng Tử
1- Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không tật bệnh, vì không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.
—-
2- Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khó khăn thì kiêu xa nổi dậy.
—-
3- Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.
—-
4- Sự nghiệp đừng mong không bị chông gai, vì không bị chông gai thì chí nguyện không kiên cường.
5- Làm việc đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng thị thường kiêu ngạo.
6- Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
7- Với người đừng mong thuận chiều ý mình, vì được thuận chiều ý mình thì tất sanh tự kiêu.
8- Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đáp trả là thi ân mà có mưu tính.
9- Thấy lợi đừng nhúng tay, nhúng tay thì hắc ám tâm trí.
10- Oan ức không cần bày tỏ, vì bày tỏ là hèn nhát mà trả thù thì oán đối kéo dài. Lấy bệnh khổ làm thuốc hay, lấy hoạn nạn làm thành công, lấy gai gốc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạo bạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy kẻ chống nghịch làm người giao du, lấy sự thi ân như đôi dép bỏ, lấy xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thủ. Thế nên, ở trong chướng ngại mà vượt qua tất cả. Nên chấp thuận trở ngại thì thông suốt, mà mong cầu thông suốt thì sẽ bị trở ngại. Ngày nay những người học đạo, trước hết không dấn mình vào mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánh Pháp chí thượng vì vậy mà mất cả, đáng tiếc đáng hận biết bạo.
11- Dùng thì đừng nghi, nghi thì đừng dùng.
12- Ngồi bàn tiệc đừng ra vẻ anh hùng vì rượu đã làm cho nhiều người gục ngã.
13- Mọi thứ đều từ hư vô mà ra.
14- Biết có lỗi mà không sửa thì đó chính là lỗi
15- Điều mình không thích thì đừng làm cho người khác. Đối với quê hương, gia đình nên tránh gây thù, chuốc oán.
16- Không nhìn điều sai trái, không nghe điều xằng bậy, không nói điều sai, không làm điều càn quấy.
17- Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi.
EXPLAIN not possible on query: INSERT INTO `tho_session`
(`session_id`,`guest`,`time`,`userid`,`username`,`client_id`) VALUES
(X'6530623163616232666631363264623032316139346339383639313665366232', 1, 1783772094, 0, '', 0)
EXPLAIN not possible on query: UPDATE `tho_extensions`
SET `params` = '{\"mediaversion\":\"3f9975d03a938ef2d45ad981060e267f\"}'
WHERE `type` = 'library' AND `element` = 'joomla'
Query Time: 0.70 ms After last query: 29.83 msQuery memory: 0.027 MB Memory before query: 8.413 MBRows returned: 28
SELECT `id`,`name`,`rules`,`parent_id`
FROM `tho_assets`
WHERE `name` IN ('root.1','com_admin','com_ajax','com_associations','com_cache','com_categories','com_checkin','com_config','com_content','com_cpanel','com_finder','com_installer','com_jce','com_joomlaupdate','com_languages','com_login','com_mailto','com_media','com_menus','com_messages','com_modules','com_plugins','com_postinstall','com_redirect','com_search','com_tags','com_templates','com_users','com_wrapper')
Query Time: 1259.63 ms After last query: 3.33 msQuery memory: 1.233 MB Memory before query: 9.346 MBRows returned: 39
SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating,
COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 12:14:54') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 12:14:54')
ORDERBY c.lft, RAND() , a.created LIMIT 14472, 39
Query Time: 1.30 ms After last query: 2.50 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.654 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14056 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.19 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.676 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 101 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.698 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6955 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.719 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 495 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.741 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8377 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.763 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15808 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 10.786 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15077 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.809 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5466 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.830 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16416 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.16 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.852 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3939 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.874 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9919 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.896 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15240 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.917 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1715 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.939 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10990 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.04 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.961 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6454 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.983 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 2365 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.004 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 2080 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.026 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4023 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.048 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14426 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.070 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3878 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.091 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16568 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.15 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.113 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 11995 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.141 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4958 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.02 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.164 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12447 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.186 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1907 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.03 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.208 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6783 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.229 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1767 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.251 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 375 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.273 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12347 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.03 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.295 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16541 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.03 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.316 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5446 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.338 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 2166 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.360 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 421 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.382 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5599 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.04 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.403 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8404 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.425 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6475 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.447 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6333 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.04 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.469 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15473 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.490 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1430 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 86.76 ms After last query: 1.27 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.581 MBRows returned: 1
SELECTCOUNT(*)
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 12:14:54') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 12:14:54')
Query Time: 1.23 ms After last query: 0.39 msQuery memory: 0.023 MB Memory before query: 11.585 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.category' AND `m`.`content_item_id` = 17 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
1 × SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating, COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECTCOUNT(*) FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECT c.id, c.asset_id, c.access, c.alias, c.checked_out, c.checked_out_time, c.created_time, c.created_user_id, c.description, c.extension, c.hits, c.language, c.level, c.lft, c.metadata, c.metadesc, c.metakey, c.modified_time, c.note, c.params, c.parent_id, c.path, c.published, c.rgt, c.title, c.modified_user_id, c.version, CASEWHENCHAR_LENGTH(c.alias) != 0 THENCONCAT_WS(':', c.id, c.alias) ELSE c.id END as slug FROM `tho_categories` AS `s` INNERJOIN `tho_categories` AS `c` ON (s.lft <= c.lft AND c.lft < s.rgt) OR (c.lft < s.lft AND s.rgt < c.rgt)