Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Xem tuổi và mệnh –

Coi tuổi mạng và năm sinh 1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng 2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Coi tuổi mạng và năm sinh

hiep-hon-bang-1a

1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng

2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim(chân đèn bằng vàng), xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng.

3-(1939, 1999) Tuổi Kỹ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Ðầu Thổ ( đất trên thành), xương con thỏ, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

4-(1938, 1998) Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Ðầu Thổ (đất trên thành), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

5-(1937, 1997) Tuổi Ðinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thuỷ( nước mù sương), xương con trâu, tướng tinh con trùn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- Cô bần

6-(1936, 1996,2056) Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thuỷ(nước mù sương), xương con chuột, tướng tinh con rắn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Cô bần.

7-(1935, 1995) Tuổi Ất Hợi, cung Ðoài, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con heo, tướng tinh con hưu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

8-(1934, 1994) Tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con chó, tướng tinh con ngựa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

9-(1933, 1993) Tuổi Quí Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con gà, tướng tinh con đười ươi, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế- Phú quí.

10-(1932, 1992) Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, xương con khỉ, tướng tinh con dê, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

11-(1931, 1991) Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con dê, tướng tinh con gấu, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.

12-(1930, 1990) Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ, xương con ngựa, tướng tinh con vượn, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.

13-(1929, 1989) Tuổi Kỹ Tỵ, cung Cấn, mạng Ðại Lâm Mộc(cây lớn trong rừng), xương con rắn, tướng tinh con khỉ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế- Trường mạng.

14-(1928, 1988) Tuổi Mậu Thìn, cung Ðoài, mạng Ðại Lâm Mộc, xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế-Trường mạng.

15-(1927, 1987) Tuổi Ðinh Mẹo, cung Càn , mạng Lư Trung Hoả(lửa trong lư), xương con thỏ, tướng tinh con gà, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần

16-(1926, 1986) Tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hoả, xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần

17-(1925, 1985) Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim(vàng dưới biển), xương con trâu, tướng tinh con chó, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

18-(1924, 1984) Tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, xương con chuột, tướng tinh con chó sói, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

19-(1923, 1983) Tuổi Quí Hợi, cung Cấn, mạng Ðại Hải Thuỷ(nước biển lớn), xương con heo, tướng tinh con gà, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.

20-(1922, 1982) Tuổi Nhâm Tuất, cung Ðoài, mạng Ðại Hải Thủy, xương con chó, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.

21-(1921, 1981) Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con gà, tướng tinh con chó, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.

22-(1920, 1980) Tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, xương con khỉ, tướng tinh con cho sói, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.

23-(1919, 1979) Tuổi Kỹ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời), xương con dê, tướng tinh con rùa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

24-(1918, 1978) Tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hoả, xương con ngựa, tướng tinh con heo, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

25-(1917, 1977) Tuổi Ðinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con rắn, tướng tinh con cú, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

26-(1916, 1976) Tuổi Bính Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ, xương con rồng, tướng tinh con chuột, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

27-(1915, 1975) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Ðại Khê Thuỷ( nước khe lớn), xương con mèo, tướng tinh con dơi, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.

28-(1914, 1974) Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Ðại Khê Thuỷ, xương con cọp, tướng tinh con trâu, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.

29-(1913, 1973) Tuổi Quí Sửu, cung Tốn, mạng Tang Ðố Mộc (cây dâu), xương con trâu, tướng tinh con cua biển, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế- Quan lộc, tân khổ.

30-(1912, 1972) Tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Ðố Mộc, xương con chuột, tướng tinh con heo, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Quan lộc, tân khổ.

31-(1911, 1971) Tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con heo, tướng tinh con cọp, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

32-(1910, 1970) Tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Kim Xuyến, xương con chó, tướng tinh con cáo, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

33-(1909, 1969) Tuổi Kỹ Dậu, cung Ly, mạng Ðại Trạch Thổ (đất nền nhà), xương con gà, tướng tinh con thỏ, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.

34-(1908, 1968) Tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Ðại Trạch Thổ, xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.

35-(1907, 1967) Tuổi Ðinh Mùi, cung Ðoài, mạng Thiên Hà Thuỷ (nước sông Thiên Hà), xương con dê, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.

36-(1906, 1966) Tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thuỷ, xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng,khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.

37-(1905, 1965) Tuổi Ất Tỵ, cung Ðoài, mạng Phúc Ðăng Hoả ( lửa đèn nhỏ), xương con rắn, tướng tinh con trùn, khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.

38-(1904, 1964) Tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Ðăng Hoả, xương con rồng, tướng tinh con rắn,khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.

39-(1903, 1963) Tuổi Quí Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con thỏ, tướng tinh con hưu, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

40-(1902, 1962) Tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim, xương con cọp, tướng tinh con ngựa, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

41-(1901, 1961) Tuổi Tân Sửu, cung Ðoài, mạng Bích Thượng Thổ ( đất trên vách), xương con trâu, tướng tinh con đười ươi, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.

42-(1900, 1960) Tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ, xương con chuột, tướng tinh con dê, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.

43-(1899, 1959) Tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Ðịa Mộc(cây trên đất bằng), xương con heo, tướng tinh con gấu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.

44-(1958, 2018) Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình địa mộc (cây trên đất bằng), xương con chó tướng tính con vượn, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.

45-(1957, 2017) Tuổi Ðinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hoả (lửa dưới núi), xương con gà, tướng tinh con khỉ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần

46-(1956, 2016) Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, xương con khỉ, tướng tinh con quạ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần

47-(1955, 2015) TuổiẤt Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con dê, tướng tinh con gà, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí

48-(1954, 2014) Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí

49-(1953, 2013) Tuổi Quí Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thuỷ(nước chảy dài), xương con rắn, tướng tinh con chó, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng

50-(1952, 2012) Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thuỷ, xương con rồng, tướng tinh con chó sói, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng

51-(1951, 2011) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá mộc ( cây Tòng và cây Bá), xương con thỏ, tướng tinh con rái, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng

52-(1950, 2010) Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá mộc, xương con cọp, tướng tinh con heo, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng

53-(1949, 2009) Tuổi Kỹ Sửu, cung Ðoài, mạng Thích Lịch Hoả ( lửa sấm sét), xương con trâu, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.

54-(1948, 2008) Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hoả, xương con chuột, tướng tinh con chó sói,khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.

55-(1947, 2007) Tuổi Ðinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ ( đất ổ vò vỏ), xương con heo, tướng tinh con dơi, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế- Phú quí.

56-(1946, 2006) Tuổi Bính Tuất, cung Tốn,mạng Ốc Thượng Thổ, xương con chó, tướng tinh con trâu, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

57-(1945, 2005) Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thuỷ (nước trong giếng), xương con gà, tướng tinh con cua, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.

58-(1944, 2004) Tuổi Giáp Thân, cung Khôn , mạng Tuyền Trung Thuỷ, xương con khỉ, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.

59-(1943, 2003) Tuổi Quí Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu mộc ( cây dương liễu), xương con dê, tướng tinh con cọp, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.

60-(1942, 2002) Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu mộc, xương con ngựa, tướng tinh con rắn, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi và mệnh –

10 điều đáng lưu tâm khi chuyển đồ về nhà mới

Không phải là chỉ cần cúng bái thần linh, thổ địa xong là bạn có thể tùy ý chuyển đồ vào nhà mới, có những việc rất nhỏ nhưng cũng đáng để bạn lưu tâm.
10 điều đáng lưu tâm khi chuyển đồ về nhà mới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Không phải là chỉ cần cúng bái thần linh, thổ địa xong là bạn có thể tùy ý chuyển đồ vào nhà mới. Có những việc rất nhỏ nhưng cũng đáng để bạn lưu tâm nếu muốn “an cư” để “lạc nghiệp”.


10 dieu dang luu tam khi chuyen do ve nha moi hinh anh 2
Ảnh minh họa

 
  1. Không nên tay không tiến thẳng vào nhà, vào ngày chuyển nhà, lúc bạn bước vào nhà lần đầu tiên thì trên tay nên cầm một món đồ có giá trị, người lớn tuổi đi trước, người ít tuổi hơn đi sau, cứ thế tiến vào nhà.
 
2. Tốt nhất là nên đem những đồ dùng nấu bếp như bếp, chảo, nồi, bát đĩa… vào phòng bếp trước, sau đó mới tiến hành sắp xếp đồ đạc ở các phòng khác.
 
3. Nếu làm lễ nhập trạch vào lúc hoàng hôn thì nên lễ bái thổ địa để gia đình được bình an, tránh được tai họa, khi tế bái thì có thể làm ở cửa phòng bếp hoặc cửa sau của ngôi nhà, đặt đồ ăn, rượu 3 chén, nến đỏ một đôi, thắp 3 nén hương, vàng mã và cúng bái như bình thường.
 
4. Khi chuyển đồ thì nên chuyển giường và chăn gối, nệm, chiếu… vào trước, sau đó mới tới các đồ dùng khác như bàn trang điểm, đèn ngủ…
 
5. Nếu lo sợ khi chuyển nhà khí hậu không thuận thì có thể đem theo một ít bùn đất hoặc một mẩu gừng khi vào nhà mới. Nếu chuyển tới nhà mới ở tỉnh khác hoặc nước ngoài thì có thể mang theo một chút gạo và đất.
 
6. Khi tiến vào nhà mới có thể khởi động một vài thứ như mở cửa sổ, mửo vòi nước, đun nước sôi hoặc bật đèn…

10 dieu dang luu tam khi chuyen do ve nha moi hinh anh 2
Ảnh minh họa
7. Vào ngày chuyển nhà, nhất định phải bật bếp, không nên để bếp im lặng, lạnh lẽo quá. Tốt nhất là nên nấu một chút đồ ăn, trước là cúng thần Bếp, sau là cả nhà dùng bữa.
 
8. Ngày chuyển nhà, tinh thần phải thật tốt, không thể tùy tiện tức giận, càng không nên mắng chửi người khác, kỵ nói những điềm xấu.
 
9. Nếu trong nhà có người mang thai thì tốt nhất không nên chuyển nhà để tránh bị động thai. Phụ nữ có thai cũng không nên mang vác đồ đạc, trên người nên có tượng Phật Quan Âm nhỏ.
 
10. Trong nhà có trẻ  sơ sinh thì tạm thời không nên chuyển nhà. Nếu nhất định phải chuyển thì nên làm lễ cúng bái Thần Linh.

Phương Thùy

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 điều đáng lưu tâm khi chuyển đồ về nhà mới

Nằm mơ thấy rắn –

Một số học giả phương Tây cho rằng, nằm mơ thấy rắn là điềm không lành. Có rắn xuất hiện trong giấc mơ cũng như mơ thấy quỷ ác, biểu thị anh đang gặp bão táp, điềm báo không may, vận rủi ro. Nhưng trong thực tế, có một nhà khoa học phương Tây nằm mơ
Nằm mơ thấy rắn –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nằm mơ thấy rắn –

MÔN THẦN LÀ AI

Thần canh giữ cửa, bảo vệ sự yên bình cho tất cả mọi người trong tín ngưỡng là nhân vật nào? Có từ bao giờ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

MÔN THẦN LÀ AI

Tương truyền Vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân, sau khi cùng cha là Lý Uyên bình định thiên hạ xây dựng nên triều Đường 617 – 907, khi Lý Uyên lớn tuổi truyền ngôi lại cho Lý Thế Dân, tức là Thái Tông Hoàng đế.

Trong suốt thời kỳ xây dựng cơ nghiệp, đánh dẹp bốn phương bình định thiên hạ, dù là người nhân nghĩa nhưng ông cũng giết không ít người. Đêm ngủ ông thường bị ám ảnh bởi linh hồn của những người đã chết. Khi thì nằm mơ, khi thì bị quấy nhiễu, trêu ghẹo khiến ông hoảng sợ, lo âu và mất ngủ.

Trước tình hình đó hai đại tướng Tần Quỳnh và Uý  Trì  Cung xin tình nguyện canh gác, khi hai ông canh gác về đêm thì quả nhiên tướng tinh của hai ông có khả năng trấn áp bách linh, nên vua được yên giấc, không bị ám ảnh và các linh đó quấy rối, dọa nạt, phiền nhiều nữa.

Tuy là như thế, việc canh gác về đêm rất mệt mỏi. Mà hai tướng này là là người phàm, thân thể bằng da thịt, nên chẳng mấy bữa là hai tướng ấy lâm vào tình trạng thiếu ngủ, suy nhược, mệt mỏi. Là một vị minh quân, rất thương yêu tướng sỹ dưới quyền nên Đường Thái Tông nghĩ ra một cách để khắc phục tình trạng đó. Ông sai thợ mộc tạc hai pho tượng bằng gỗ cây đào. Loại cây này theo quan niệm của người Hoa được ví như vị quan tốt, có tài đức. Không chỉ có vậy nó còn có thể trấn quỷ, trừ tà. Từ khi tạc xong pho tượng, mặc áo giáp, cầm binh khí và đặt ở trước cửa y như hai người canh gác thật thì những điều kinh hãi quái dị của vua trong khi ngủ không còn nữa.

Từ đó người Hoa dùng tượng gỗ cây đào, hay mảnh gỗ đào dán bùa, có tên các ông được đặt ở trước cửa nhà. Việc làm này có tác dụng xua tà đuổi quỷ, bảo vệ  sự yên bình cho con người trước các thế lực vô hình mang ác tâm tà ý.

Tần Quỳnh và Úy Trì Cung lập được nhiều chiến công trong trận mạc và trong công cuộc xây dựng nền trị an của đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa nên được phong chức tước, bổng lộc. Tên tuổi hai ông lưu truyền trong sử sách, là đề tài để các nhà nghệ thuật xây dựng hình tượng, sáng tác trong các tác phẩm của mình. Với nhân dân, hai ông còn được xem là thần bảo vệ, che chở trước những thế lực vô hình hắc ám.

Chuyện xưa, nhưng có nhiều người chưa biết. Nay chép lại để tỏ lòng biết ơn và thành kính.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: MÔN THẦN LÀ AI

Thiền Viện Trúc Lâm Hàm Rồng - Thanh Hóa

Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng là một trong những thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thiền viện được xây dựng trên đồi C4 lịch sử
Thiền Viện Trúc Lâm Hàm Rồng - Thanh Hóa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng là một trong những thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Thiền viện được xây dựng trên đồi C4 lịch sử nhìn xuống dòng sông Mã, sát bên cầu Hàm Rồng, phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa – Đây là một di tích lịch sử quốc gia.

Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng là nơi khôi phục lại dòng thiền của dân tộc, do Phật hoàng Trần Nhân Tông khai sáng. Ngài là một vị vua anh minh đã lãnh đạo quân và dân 2 lần đánh thắng đế quốc Nguyên Mông, một đế quốc hùng mạnh nhất thời bấy giờ, nhân dân tán thán biết ơn, thế giới ca tụng Ngài.

Đến năm 35 tuổi là tuổi thanh niên, trai tráng sung sức, ham hưởng thụ ngũ dục, ham chức quyền, thì Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng (cố vấn), đến năm 41 tuổi, khi vua Trần Anh Tông thạo việc trị nước, Ngài vào núi Yên Tử. Sau khi ngộ đạo, Ngài đi khắp nơi trong nước dạy dân tu Thập thiện, dẹp bỏ những dâm từ. Ngài đi tu không phải vì yếm thế chán đời hay để cầu nhàn. Ngài đi tu là vì nước thương dân còn mê muội, là để xây dựng nền đức lý cho dân, dạy dân cách sống để được an lạc hạnh phúc ngay trong hiện đời, chứ không mong cầu ở kiếp sau, hay ở cõi nào xa xôi. Đối với người tu Thiền, Ngài dạy “phản quan tự kỷ” – soi rọi lại tâm mình, để buông bỏ mọi vọng tình đảo điên. Vì Phật khác với chúng sinh là ở cái tâm – Tâm chúng sinh thì tham sân si, phiền não, vui buồn thương ghét đảo điên suốt ngày, tâm Phật thì an lạc, thanh tịnh, thường biết rõ ràng.

Người tu là người thực hành làm Phật, suốt ngày thường nhận biết mọi vọng niệm khởi lên để buông bỏ, chuyển hóa, đưa nó trở về trạng thái thanh tịnh, an lạc. Giây phút nào tâm được thanh tịnh, an lạc, rõ biết, thì giây phút đó mình đang là Phật. Với Ngài khi tâm thanh tịnh, trong sạch, thường sáng soi rõ biết thì ngay đó mình là Phật rồi, đâu cần gì phải tìm về Tây phương Cực lạc ở nơi đâu. Ngài đã dạy đến chỗ tột cùng của lý Tịnh độ…Tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm đến nay vẫn xứng đáng là ngọn đuốc sáng, soi đường cho đất nước đi lên hòa nhập với năm châu…

Thiền viện không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn phát huy di sản văn hóa đạo đức của dân tộc, mà còn tôn vinh giá trị phi vật thể của Thiền phái Trúc Lâm, là niềm tự hào của dân tộc, đưa Phật giáo Việt Nam sánh ngang tầm Phật giáo thế giới. Vì thế giới chưa có một vị hoàng đế nào đang tại chức đi tu, ngộ đạo thành Phật, thành Tổ như Phật hoàng Trần Nhân Tông. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một dòng Thiền nhập thế, theo tinh thần “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Cư sĩ tại gia vẫn tu hành ngộ đạo như người xuất gia (vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ.). Lịch sử minh chứng Thiền phái Trúc Lâm đã làm cho đất nước trở nên hưng thịnh.

Tượng phật ở chính điện Thiền Viện
Tượng phật trên đồi Hàm Rồng

Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng được xây dựng tại một địa danh văn hóa, lịch sử của Thanh Hóa sẽ góp phần tôn tạo địa danh Hàm Rồng sớm trở thành một danh lam thắng tích, điểm tham quan du lịch thu hút đông đảo du khách, tạo điều kiện để địa phương phát triển du lịch văn hóa tâm linh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thiền Viện Trúc Lâm Hàm Rồng - Thanh Hóa

Tướng mông đàn ông cho biết tính cách chuẩn xác

Tướng mông đàn ông cong và đầy đặn thường hết mực yêu thương, cưng chiều nửa kia. Người này tuy vận đào hoa không tốt.
Tướng mông đàn ông cho biết tính cách chuẩn xác

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Lichgaytot.com) – Đàn ông mông cong và đầy đặn thường hết mực yêu thương, cưng chiều nửa kia. Người này tuy vận đào hoa không tốt, trong cuộc đời cũng ít cơ hội theo đuổi phụ nữ. Nhưng một khi đã gặp được tình yêu đích thực, họ lại hết mực cưng chiều, yêu thương đối phương. 


Xem tướng mông đàn ông để đoán tính cách:


1. Mông hóp hai bên

  Đàn ông có tướng mông gày, hóp hai bên thì hay nóng giận, bực bội, đối xử với nữ giới cũng thô bạo, không chút khiêm nhường.    Nếu có thêm đặc điểm lông mày thưa, loạn thì tính cách càng thô bạo, có khuynh hướng bạo lực. Nhưng nếu lông mày đậm thì lại rất nghe lời vợ, sợ vợ một phép.    Ngoài ra, người có kiểu mông này nên đặc biệt lưu ý tới chế độ dinh dưỡng. Ăn những đồ ăn nấu chín kĩ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh làm tổn thương tới thận.
Tuong mong dan ong cho biet tinh cach chuan xac hinh anh
 

2. Mông tròn, đầy đặn

  Theo thuật xem tướng người tốt xấu, thì mông tròn, đầy đặn là quý tướng. Đàn ông có nét tướng cách này thường khá thủy chung, biết chiều chuộng bạn gái. Bên cạnh đó, khi đã yêu, người này không dễ dàng từ bỏ, yêu thì dễ nhưng nói chia tay là khó như lên trời.  

3. Mông cong và đầy đặn

  Đây là tuýp người đàn ông hết mực yêu thương, cưng chiều nửa kia. Người này tuy vận đào hoa không tốt, trong cuộc đời cũng ít cơ hội theo đuổi phụ nữ. Nhưng một khi đã gặp được tình yêu đích thực, họ lại hết mực cưng chiều, yêu thương đối phương.   
Tuong mong dan ong cho biet tinh cach chuan xac hinh anh 2
 

4. Mông quá to so với toàn cơ thể

  Đàn ông mà có kiểu mông này thường có tinh thần trách nhiệm cao, biết chăm lo cho gia đình, thuộc tuýp người lãng mạn. Bên cạnh đó, nhu cầu “chuyện ấy” cũng khá cao. Nếu không điều chỉnh sinh hoạt vợ chồng hay tiết chế ham muốn, e rằng sau này sẽ gầy guộc, ốm yếu vì “mất sức”.  

5. Mông săn chắc

 
Tướng mông đàn ông săn chắc rất sĩ diện, yêu cầu cao với nửa kia. Cho nên, nếu là bạn gái của họ, bạn phải rất chú trọng tới vẻ bề ngoài, lúc nào xuất hiện trước mặt họ, bạn đều phải xinh đẹp và gọn gàng. 
  Ngược lại, nếu mông lỏng lẻo, không săn chắc thì người đàn ông này tính tình điềm đạm, không đặt ra yêu cầu quá cao với nửa kia, thậm chí chỉ cần nhìn thấy cô nàng xinh xắn, đáng yêu là không thể rời mắt khỏi.

Có thể bạn quan tâm: 6 nét tướng đại kỵ khiến đàn ông nghèo hèn muôn đời
  Hoàng Lam
“Nhận dạng” tướng đàn ông trăng hoa
Nếu đàn ông có mũi quá nhỏ và gãy là biểu hiện của người nóng vội, thiếu kiên nhẫn và khó chung thủy trong tình yêu.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng mông đàn ông cho biết tính cách chuẩn xác

Tìm may mắn cho người tuổi Canh Tuất

Tuổi Canh Tuất (mệnh Kim, sinh năm 1970) mệnh số thuận hòa, cuộc sống tốt đẹp, gặp hung hóa cát. Tuổi này thuở nhỏ ít may mắn, trung niên ổn định, về già sung
Tìm may mắn cho người tuổi Canh Tuất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuộc đời: túc, hưng vượng, số có con cháu thành đạt.

 
Những tuổi đại kỵ với tuổi Canh Tuất là: Giáp Tý, Ất Sửu, Canh Ngọ, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Ngọ.

Tính cách: Là người tốt bụng, giàu tình thương, cư xử đúng mực, biết chia sẻ, giúp đỡ với người khác. Tuổi Canh Tuất thông minh, đa tài, ham học hỏi, có chí tiến thủ nên có thể tạo dựng được sự nghiệp vững chắc.

Tình duyên: Tuổi này đường tình duyên may mắn, tốt đẹp, vợ chồng hạnh phúc, gia đình hòa thuận, vui vẻ, gắn bó.

Nam sinh vào tháng: 4, 9; nữ sinh tháng: 1, 2, 10, 11 tình duyên bất ổn, phải trải qua nhiều thay đổi mới có được hạnh phúc.

Để có hôn nhân như ý, cuộc sống sung túc, người tuổi Canh Tuất nên kết hôn với các tuổi: Tân Hợi, Nhâm Tý, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ.

Công danh sự nghiệp: Là người biết nắm bắt thời cơ nên tiền vận đã có công danh lẫy lừng, năm 36 tuổi sự nghiệp vững chắc.

Tuổi này nếu kết hợp làm ăn với  các tuổi Quý Mão, Ất Tỵ, Đinh Mùi sẽ thành công tốt đẹp.

Tiền bạc: Tuổi Canh Tuất trung vận tiền nhiều nhưng khó giữ, hậu vận tiền bạc dồi dào, giàu sang.

(Theo 12 con giáp, tính cách con người qua năm sinh)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm may mắn cho người tuổi Canh Tuất

Các lễ hội ngày 25 tháng 3 Âm Lịch - Hội Hậu Trung - Hậu Thượng

Vào ngày 25 tháng 3 âm lịch có diễn ra một số lễ hội tiêu biểu như sau: Hội Hậu Trung - Hậu Thượng và Hội Xuân Dương tại Bắc Kạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 25 tháng 3 Âm Lịch - Hội Hậu Trung - Hậu Thượng

Các lễ hội ngày 25 tháng 3 Âm Lịch - Hội Hậu Trung - Hậu Thượng

1. Hội Hậu Trung - Hậu Thượng

Thời gian: tổ chức vào ngày 25 tháng 3 âm lịch.

Địa điểm: xã Bạch Đằng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn và tưởng nhớ tới công lao của Lý Bí và Hoàng Hậu.

Mở đầu lễ hội là lể rước và tế Thần, tiếp đó là tổ chức thi đấu vật.

2. Hội Xuân Dương

Thời gian: tổ chức vào ngày 25 tháng 3 âm lịch.

Địa điểm: huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.

Nội dung: Hội Xuân Dương là lễ hội của người Tày, Nùng, Dao. Phần lễ hội có các sinh hoạt ca múa hát dân ca.

Năm tháng trôi qua, bên bếp lửa nhà sàn, các thế hệ đồng bào dân tộc vùng cao Na Rì đã tiếp truyền lại cho nhau câu chuyện tình nghĩa vợ chồng đầy cảm động. Và đó cũng là ngọn lửa âm ỉ cháy giúp lưu giữ đến muôn đời nét văn hóa truyền thống quý báu của đồng bào dân tộc vùng cao Na Rì.

Ngày nay, hoạt động giao thông đã thuận lợi, chợ tình Xuân Dương không chỉ đón đồng bào dân tộc nơi đây tìm đến với hội chợ để chia sẻ tâm tình mà hội chợ còn thu hút được sự quan tâm của du khách từ khắp các địa phương trong cả nước. Họ đến đây với mong muốn tìm hiểu truyền thống của lễ hội, chứng kiến các sinh hoạt trong ngày hội mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc nơi đây.

Đến với ngày hội chợ tình Xuân Dương, du khách được thưởng thức những món ăn đặc sắc của người vùng cao như cơm lam, thắng cố, mèn mén, thịt treo, bánh dày ngô, bánh trứng kiến, bánh khảo, bánh lá ngải…, được chiêm ngưỡng nét đẹp từ các bộ trang phục của đồng bào dân tộc: những chiếc áo chàm của người Tày, Nùng, những bộ váy áo thêu tay sặc sỡ sắc màu của người H’Mông nổi bật giữa núi rừng… Chợ còn nhộn nhịp với những sinh hoạt văn hóa đậm chất dân gian như: múa khèn, tung còn, hát sli, hát lượn, các trò chơi đẩy gậy, kéo co…

Chợ tình Xuân Dương là ngày hội văn hóa lớn của đồng bào dân tộc vùng cao Na Rì, Bắc Kạn. Năm 2009, chợ tình Xuân Dương đã vinh dự được UBND tỉnh, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thống nhất chọn là nơi diễn ra buổi Lễ công bố “Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam” nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc của các dân tộc trên địa bàn tỉnh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 25 tháng 3 Âm Lịch - Hội Hậu Trung - Hậu Thượng

Nhận biết người nói dối qua kiểu chớp mắt –

Người nói dối thường có kiểu chớp mắt khác với người bình thường. Số lần chớp mắt của họ giảm khi họ nói dối, sau đó tăng lên tới 8 lần. Các chuyên gia tâm lý thuộc Đại học Portsmouth (Anh) khẳng định rằng, người nói dối thường có kiểu chớp mắt khác
Nhận biết người nói dối qua kiểu chớp mắt –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhận biết người nói dối qua kiểu chớp mắt –

Đôi điều về huyệt nhũ

Huyệt nhũ là 1 trong 4 loại huyệt cơ bản. Các thế huyệt nhũ và chọn huyệt nhũ thế nào cho đẹp, cùng tham khảo bài viết sau.
Đôi điều về huyệt nhũ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Huyệt nhũ còn gọi là “huyệt huyền nhũ”, “huyệt vú”. Hai cánh tay huyệt vươn dài, ở giữa nhô ra như 2 cái vú. 
  Theo sách “Địa lý nhân tử nên biết”: “Huyệt nhũ có 2 cánh tay giữa lồi ra như cái vú là chính huyệt. Vùng núi và đồng bằng đều có. Huyệt nhũ phân thành 6 loại: 4 loại chính là huyệt vú dài, huyệt vú ngắn, huyệt vú to, huyệt vú nhỏ; 2 loại biến cách là huyệt song nhũ, huyệt tam nhũ”.
 
Huyệt nhũ là huyệt âm thụ nên chôn sâu. Hai tay huyệt giang rộng, không nên bị cụt gãy nếu không sẽ mất hết khí tụ. Huyệt nhũ sợ nhất gió thổi. Nếu gió thổi vào huyệt, người ở đây sẽ tuyệt diệt. Thế huyệt nên thấp để tránh gió nhưng cũng không được quá thấp. Nếu huyệt ở thế này thì không có nhân nhục (chỉ đất chiếu đệm), huyệt bất cát.
 
Hình của huyệt nhũ ngay ngắn, thanh tú thì chủ nhân hưng vượng. Nếu dốc, nghiêng, lệch, thô, ác đều là huyệt giả hình hùng. Nếu huyệt nhũ giả, lưng như kiếm, chân lệch, thế dốc nghiêng, thô, phì, gia chủ và con cháu gặp họa lâu dài.
 
Khi muốn đặt huyệt nhũ, cần xem xét thật kĩ thế đất, chất đất, quang cảnh xung quanh và tốt nhất là nên mời thầy phong thủy để xem mộ nhà mình có hợp thế huyệt ấy không.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đôi điều về huyệt nhũ

Xác định đối thủ của 12 chòm sao ở nơi công sở

Đối thủ của 12 chòm sao xuất đầu lộ diện chốn công sở sẽ khiến cho sự nghiệp của bạn có nhiều bước thăng trầm thú vị.
Xác định đối thủ của 12 chòm sao ở nơi công sở

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đối thủ của 12 chòm sao xuất đầu lộ diện chốn công sở sẽ khiến cho sự nghiệp của bạn có nhiều bước thăng trầm thú vị. Đôi khi, thiếu đi những người này sẽ khiến bạn cảm thấy buồn chán và thiếu động lực phấn đấu hơn đấy.


Xac dinh doi thu cua 12 chom sao o noi cong so hinh anh 2
 

Bạch Dương: Hổ Cáp

  Đối thủ của Bạch Dương ở cơ quan là chòm sao Hổ Cáp thâm sâu khó lường. Cả hai đều có tham vọng rất lớn và sự hiếu thắng đáng nể, sẽ là cuộc đấu cân tài cân sức và rất bất ngờ.  

Kim Ngưu: Bảo Bình

  Kim Ngưu thích chắc chăn, Bảo Bình thích sáng tạo, hai quan điểm đối lập nhau nên trở thành đối thủ cũng là điều dễ hiểu. Họ không phô trương nhưng ngấm ngầm kiềm chế và thúc đẩy lẫn nhau.  

Song Tử: Ma Kết

  Trong đối thủ của 12 chòm sao ở công sở, Song Tử và Ma Kết là cặp bài đáng xem nhất vì mỗi người đều có thế mạnh riêng và cũng có khuyết điểm riêng. Ma Kết kiên trì đối chọi với một Song Tử linh hoạt.  

Cự Giải: Thiên Bình

  Bề ngoài hiền lành nhưng là những người muốn tiến lên, vì bảo toàn lợi ích của mình nên không ngừng kèn cựa với nhau. Họ tuy dịu dàng, nhã nhặn nhưng các ngón đòn không hề đơn giản đâu nhé.  

Chòm sao Sư Tử: Cự Giải

  Sư Tử hung hãn có thể bắt nạt được Cự Giải hiền lành, nhầm to rồi nhé. Trong đối thủ của 12 chòm sao thì cặp đôi này cực kì oan gia. Cự Giải chẳng ngần ngại mà miệng mỉm cười nhưng tay đâm dao vào Sư Tử đâu.  

Xử Nữ: Bạch Dương

  Một bên chỉn chu nhã nhặn, một bên nóng nảy nhiệt tình, cứ gặp nhau là như Mặt Trăng với Mặt Trời, không thể cùng chung một chiến tuyến. Bạch Dương ngứa mắt sự kĩ tính của Xử Nữ, Xử Nữ chúa ghét thói lông bông của Bạch Dương.
 
Xac dinh doi thu cua 12 chom sao o noi cong so hinh anh 2
 

Thiên Bình: Kim Ngưu

  Thiên Bình thích tiện nghi, Kim Ngưu ghét chiếm dụng, hai người phong cách khác nhau quá nên dù chẳng có tranh chấp gì cũng cảm thấy không ưa nhau, ngấm ngầm cố gắng để trên cơ đối thủ.  

Hổ Cáp: Song Tử

  Hổ Cáp sợ và cũng ghét sự khéo léo của Song Tử, Song Tử ngại ngần với tính cách thâm trầm của Hổ Cáp. Nếu phải làm việc chung, nhất định họ sẽ rất dè chừng và đề phòng nhau.  

Nhân Mã: Song Ngư

  Song Ngư mơ mơ màn màng, đi làm cũng nghĩ mình là công chúa, thật không vừa mắt đối với nhân Mã phóng khoáng, tự do. Làm việc chung với Song Ngư, Nhân Mã cảm thấy rất không thoải mái.  

Ma Kết: Nhân Mã

  Tính cách vô tổ chức của Nhân Mã tất nhiên là khiến người nghiêm túc như Ma Kết cảm thấy ngứa mắt rồi. Làm việc tùy hứng lại không có trách nhiệm, Ma Kết luôn nghĩ về Nhân Mã như vậy.  

Bảo Bình: Xử Nữ 

  Bảo Bình có thiên hướng độc lập và không thích nghe sự chỉ dạy của người khác, nhất là những lời giảng đạo đều đều của Xử Nữ. Họ cứ làm việc cùng nhau là như chó với mèo.  

Song Ngư: Sư Tử

  Song Ngư yếu đuối, nhu nhược là cái gai trong mắt Sư Tử mạnh mẽ, táo bạo. Sư Tử lại hay có thái độ kẻ cả, sai bảo nên Song Ngưu rất không vừa ý, lại không dám ho he phản kháng.
12 chòm sao luyến tiếc điều gì nhất, bất đắc dĩ mới phải từ bỏ 12 chòm sao đưa ra quyết định chia tay trong bao lâu? Thái độ của phụ huynh 12 chòm sao khi phát hiện ra con mình đồng tính Thái Vân
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xác định đối thủ của 12 chòm sao ở nơi công sở

Vân Đài Loạn Ngữ

Một bài viết sưu tầm trên trang tuvilyso. Mời các bạn tham khảo.
Vân Đài Loạn Ngữ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

A. Tóm tắt

Lời tựa của Trần Danh Lâm, tự Khiêm Trai, người làng Bảo Triện (Bắc Ninh), tiến sĩ khoa Tân Hợi 1691.

Vân đài loại ngữ chia làm chín quyển, phân loại rành mạch, nghị luận rõ ràng: Trên từ thiên văn, dưới đến địa lý, giữa là nhân luân, cái học cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đều có đủ cả, có thể phát minh được nghĩa sâu xa của các bậc hiền thánh và bắc cầu chỉ bến cho kẻ hậu học. Sau Lục Kinh, và Luận Ngữ, Mạnh Tử, ông thật là người biết lập ngôn chăng?...

B. Nội dung

Lý Khí (54 điều)

1. Đạo Trời hư không, đạo Đất tĩnh mịch, người ta vừa hư vừa tĩnh mới hợp được với đạo Trời - Đất. Vì, hư thì tự minh, tĩnh thì tự định. Tâm có minh, tính có định, thì cái công hiệu tham tán trời đất mới là ở đó.

2. Đức của trời to lớn thay! Vạn vật nhờ ở trời mà bắt đầu, ấy là nói về Khí. Đức của đất mẫu mực thay! Vạn vật nhờ ở đó mà sinh nở ra, ấy là nói về Hình. Nói về trời đất, thì đều có hình có khí cả; nói về vạn vật, đều bẩm Khí ở trời mà thụ Hình ở đất.

3. Đầy rãy trong khoảng trời đất đều là Khí cả. Còn chữ "Lý" chỉ là để mà biện luận rằng đó là cái thực hữu chứ không phải hư vô. Lý không có hình tích, nhân Khí mà hiện ra, vậy Lý ở trong Khí. Âm Dương, cơ ngẫu, tri và hành, thể và dụng, thì có thể nói là đối nhau, còn như Lý và Khí thì không thể nói là đối nhau được.

4. Thái Cực là một, là một khí hỗn nguyên (lúc ban đầu hỗn độn). Từ Một sinh Hai, Hai sinh Bốn, thành ra vạn vật; thế thì Thái Cực vốn chỉ có Một.

Sách Đại Diễn dùng 50 cỏ thi để bói, mà chỗ Một thì bỏ trống không dùng để tượng trưng cho thái cực. Thế không phải là "thực", " hữu" thì là gì.

Khi mở ra khi đóng lại thì gọi là biến, qua lại khôn cùng gọi là thông; đóng lại là "không", mở ra là "có"; đi qua là "không", trở lại là "có"; cứ vậy "không" với "có" theo nhau, người và vật đều như vậy cả. Từ xưa đến nay Lý luôn luôn tồn tại, xem thế đủ biết trong chỗ hư không tĩnh lặng, nguyên vẫn có cái Lý ấy. Như thế mà Lão Tử lại bảo rằng "cái Hữu được sinh ra từ cái Vô" thì liệu có được chăng?

5. Phân tách ra mà nói thì Trời thuộc dương, Đất thuộc âm; dương chủ động, âm chủ tĩnh. Dụng của trời thường động nhưng Thể của trời vẫn tĩnh. Thể của đất vốn tĩnh nhưng Dụng của đất thường động.

Thể của Trời mà không tĩnh thì Tứ Duy (4 góc "tứ sinh", các cung Càn Khôn Cấn Tốn) sao được yên lặng vững bền, và Thất Chính (ngũ tinh & nhật, nguyệt) biết tựa vào đâu được. Dụng của Đất mà không động thì chỉ là một khối trùng trục mà sinh ý hầu như mất hết cả.

Trời thì Hình động và Khí tĩnh, đất thì Hình tĩnh và Khí động.

6. Liệt tử nói: Trời chỉ là Khí tích lại, không có định chỗ, không có hình tượng. Còn Nhật, Nguyệt và các tinh đẩu cũng chỉ là các Khí tích lại mà có ánh sáng đó thôi.

7. Kỷ Bá nói: Đất ở bên dưới người ta và ở giữa khoảng hư không, do có Khí lớn nâng lên. Như thế thì không những trời (khí dương) trong nhẹ mà nổi lên trên, mà đất (khí âm) cũng có thể nổi lên trên. Trời nổi thì bao bọc lấy cả nước và đất; còn đất nổi ở trên nước và ở giữa trời. Ấy là thuyết Hồn Thiên.

8. Sách Khôn dư đồ thuyết của người phương Tây nói: "Nếu không có Khí thì bầu trời là hư không, làm sao đất có thể lủng lẳng ở giữa hư không được?"

Sách ấy lại nói "Loài chim lấy cánh gạt gió mà bay, cũng như người lấy tay gạt nước để mà nổi lên". Cũng lại nói "người ta hướng vào chỗ không mà vỗ tay tất thấy tiếng vang, nếu ở trong đó không có Khí thì chắc chắn chẳng có gì để mà sinh âm thanh ấy được".

Sách ấy lại nói "Trong kho đang im lặng, không có tiếng, ta thấy trong luồng ánh sáng khe cửa có bụi bay lên bay xuống lung tung, chắn chắn là do Khí gây nên như thế".

Tôi kể ra vài việc ấy để chứng minh rằng Khí là có thực, thế mà một số người còn nghi ngờ cho là lạ!

Nay xét lại sách Thông Luận của Tiết Huyên đời Minh (1368-1643) có nói: "Phẩy cái quạt thấy có gió, thế đủ biết trong khoảng trời đất này không có chỗ nào là không có Khí". Sách ấy lại nói "Trong khoảng trời đất, bụi bay tơi bời không ngừng, không gián đoạn. Ấy đều do Khí sinh ra như thế. Xem ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ thì biết". Thuyết này cũng giống như đoạn trên (thuyết của người phương Tây). Sách Tố Vấn cũng nói "Khi lên khi xuống, khi ra khi vào, ta thấy đâu cũng đều có Khí cả".

9. Dưới vòm trời, trên mặt đất, đều là gió với Khí cả, chỗ gần người không thấy gió vì nhiều vật ngăn trở và sinh khí làm tan đi. Lên cao vừa thì gió to vừa, càng cao thì gió càng to mà làm cho mọi vật trở nên ráo và cứng. Vả lại, như chỗ đất sâu dưới chân núi, nếu đào sâu xuống khoảng hơn 1 trượng (2m) mà lấy đất lên, lúc đầu còn thấy nó mềm và ướt, đem lên khỏi mặt đất thì khô cứng như đá, đấy chẳng phải là do nó gặp gió thì cứng và ráo lại đó sao?

Đứa hài nhi ở trong bụng mẹ chỉ là khối huyết bào, khi đẻ ra thì rắn chắc, cũng là lẽ ấy. Khí trên trời sa xuống, khí dưới đất bốc lên, những khí ấy đều là sinh ý của trời đất. Gió với khí quanh quẩn trong khoảng ấy, chứ chẳng phải là lúc động thì mới có còn lúc tĩnh thì không có đâu.

10. Khí trời đất vận động không gì mạnh hơn gió và sấm. Bão táp (cụ) là âm còn sấm sét là dương. Khi bão mới bốc lên mà có sấm thì bão tan vì âm bị dương át đi. Khi bão sắp tạnh thì chắc chắn có sấm cũng là dương làm tan âm đi.

11. Ở miền núi của Trung Châu ít sấm, vì đất nước ở đấy vừa sâu vừa dày, dương khí bền vững. Cho nên mùa Đông mà có sấm thì người ta coi là điềm lạ. Ở miền biển của Lĩnh Nam có nhiều sấm vì đất nước ở đây vừa nông vừa mỏng, dương khí phát tiết, cho nên mùa Đông có sấm là chuyện thường.

12. Khí táo (khô, ráo) sinh ra gió, gió tan thì trời sáng tạnh; Khí thấp (ẩm, ướt) sinh ra mây, mây bốc lên rồi làm thành ra mưa; đó đều là hòa khí tuyên dương. Khí thấp – táo lẫn lộn thì sinh ra sương mù, mà mù nhiều thì sinh ra chướng khí bốc lên, đó là độc khí uất tắc.

13. Chữ “Cụ” nghĩa là bão, trong nó thì một bên có chữ “cụ” nghĩa là đủ, tức là ý nói đủ cả bốn thứ gió đông, tây, nam, bắc. Nếu bão bắt đầu vào buổi sáng thì sẽ kéo dài tới 3 ngày, bão bắt đầu vào buổi chiều thì sẽ kéo dài 7 ngày, bão bắt đầu vào buổi trưa thì chỉ kéo dài 1 ngày. Lúc bão mới nổi lên, nếu gió từ đông bắc lại thì tất sẽ đi từ bắc sang tây. Nếu gió thổi từ tây bắc lại thì tất sẽ đi từ bắc sang đông. Rồi đều quay sang hướng nam mà tắt, gọi là “lạc tây” và “hồi nam”. Nếu không “lạc tây” không “hồi nam” thì 1 tháng sau lại có bão. Bão rất đúng giờ, nếu nổi ban ngày thì sẽ tắt ban ngày, nếu nổi ban đêm thì tắt ban đêm. Cụ phong là gió bất chính, là khí không thuận, thế mà còn có thường độ (mức độ - quy luật) như vậy!

14. Trời cao cách đất không biết mấy vạn dặm; môn thiên văn học đo lường ngang dọc thuận nghịch, thêm bớt nhân chia, chẳng qua cũng chỉ cần bỏ vào 1 nắm con toán mà biết đường đi của Thất Chính (Nhật, Nguyệt và các sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và Nhị Thập Bát Tú. Như thế chẳng phải là cái Thể thì to lớn, cái Dụng thì rất nhiệm màu, mà đường đi thì có phép “thường” (tính quy luật) hay sao? Nếu không “thường” thì sao được yên, nếu không yên thì sao được lâu dài?

Xem như gió là do Khí trời tụ lại, tán ra mà phát ra tiếng. Đời xưa có truyền lại các phép xem khí hậu, ấy là nói xem ở lục địa; còn như ngoài biển cả mênh mông không biết đâu là đâu thế mà các lái thuyền, chân sào cũng biết được ngày giờ nào không có bão thì cho thuyền đi. Như thế chẳng qua cũng do kinh nghiệm đó thôi. Trang Tử nói “Gió khởi từ phương bắc rồi sang phương đông hay tây, lại có khi lơ lửng bay trên không. Ấy ai thở ra hít vào như vậy, ấy ai ăn ngồi vô sự mà phe phẩy như vậy?” Lời nói đó có sở kiến chăng?

15. Phương Bắc nhiều âm ít dương, phương Nam nhiều dương ít âm. Cho nên ở phương Bắc trời chưa rét lắm mà nước đã thành băng, đó là vì dương thì tránh âm mà âm thì kết ở dưới vậy. Mùa đông rét, mưa tuyết là vì âm bức dương mà dương bị thúc lại ở trên.

Ở phương Nam, phần lớn âm khí bị tan ở dưới, cho nên nước không thành giá được. Phần lớn dương phát tiết ở trên, cho nên mưa không thành tuyết được.

16. Đất lấy thổ làm thịt, lấy đá làm xương, cây cỏ làm lông, sông ngòi làm mạch. Cây cỏ tươi tốt thì đó là Khí thịnh, sông ngòi đầy dãy thì đó là khí thuần, còn đất như mỡ và đá như vóc là vì có sinh khí rót vào. (Nếu) Cây khô già mà thấy vẫn còn mọc rêu, đá bị đập bị đẽo mà ở chân hòn đá tảng còn ướt thì do Khí của chúng chưa hề mất vậy.

17. Người ta cùng với trời đất là một gốc, suốt ngày cộng tác, ăn uống, càng cùng với khí đất chung đụng. Cho nên sách Gia Ngữ nói “Người sinh ở đất rắn thì tính cương cường, sinh ở đất mềm thì nhút nhát, sinh ở đất rắn đen thì tính tỉ mỉ, sinh ở đất nở thì người đẹp, sinh ở đất sưa mỏng thì người xấu”.

Sách Nhĩ Nhã nói “Người sinh ở đất Thái Bình (TQ) thì nhân hậu, sinh ở đất Đan huyệt thì khôn ngoan, sinh ở đất Thái Mông thì chắc chắn, sinh ở đất Không Động thì vũ dũng”.

Sách Hoài Nam Tử (Lưu An – Hoài Nam Vương) nói “Khí núi sinh nhiều con trai, khí đầm sinh nhiều con gái, khí nước sinh nhiều người câm, khí gió sinh nhiều người điếc, khí rừng sinh nhiều người yếu ớt, khí cây sinh nhiều người còng, khí đá sinh nhiều người khỏe, khí ở dưới thấp sinh nhiều người phù thũng, khí âm sinh nhiều người rũ tay chân, khí hang hốc sinh nhiều người có chứng tê liệt, khí đồi bốc lên sinh nhiều người cuồng, khí thoáng sinh nhiều người nhân (hậu), khí ở gò to sinh nhiều người tham, khí nắng sinh nhiều người yểu, khí lạnh sinh nhiều người thọ. Sinh ở nơi đất nhẹ thì người nhanh, sinh ở nơi đất nặng thì người chậm chạp, sinh ở nơi nước đục thì tiếng cười thô, sinh nơi nước chảy xiết thì người nhẹ, sinh nơi nước chảy chậm thì người nặng. Đất trung châu sinh nhiều thánh hiền”.

Thái sử tập đời Tống nói “Dân vùng rừng rú thì da xanh mà gầy là vì hấp nhiều khí cây, dân vùng biển sông đầm thì da đen nhuần vì hấp nhiều khí nước, dân vùng nhiều gò đống thì người lẳn mà dài vì nhiều hỏa khí, dân vùng bờ sông và đất phẳng thì khôn mà bướng vì nhiều khí kim, dân vùng ẩm thấp thì to béo mà bệu vì nhiều thổ khí”. Ấy là đều nghiên cứu vật lý (cái lý của vạn vật) đến cùng, cứ thế suy diễn ra thì không chỗ nào sai cả.

18. Nắng to thì nước nổi bọt vẩn đục 1 đêm, hễ nổi cơn gió bấc thì nước lại trong suốt muôn khoảng một màu biếc, ấy là do khí sinh ra thế. Ở chỗ núi tạnh trời đã lâu, mây khói mờ mịt, bỗng có trận mưa to làm tan nhạt hết, trời lại sáng ra và muôn cảnh đều đổi mới cả, ấy cũng là do khí. Đương lúc tối tăm, ai trông thấy mà chẳng phẫn uất, đến khi cơ trời chuyển vận, một lát trời lại trong sáng ngay, ai chẳng vui sướng; mà nào có biết đâu là trong đó có chứa biết bao sựu nhiệm màu! Cơ trời bĩ rồi lại thái, loạn rồi lại trị, chính là như thế.

19. Sấm sét vang động, gió mưa thấm nhuần, Nhật Nguyệt vẫn hành, rét rồi lại nực, phấn phát sự sinh dưỡng của vạn vật, vận động mở đóng đều là có việc cả. Suy xét cho đến cùng mà nói, chẳng qua chỉ có giản dị (thuộc tính của Dịch) mà thôi. Tính tình của trời đất, sự nghiệp của thánh hiền, đều không ngoài hai chữ giản dị ấy. Trong hai chương Thượng Truyện, Hạ Truyện đấng thánh nhân đã hai ba lần chú ý đến vấn đề đó. Vậy, bọn Nho ta theo đuổi sự học tập và đem áp dụng vào chính trị, sao lại thích làm sự hiểm lạ, chuộng phiền toái làm gì?

20. Khí rất thần diệu, rất tinh vi: Khí mà thịnh tất nhiên thư thái, khí mà suy thì phải co rút, xem nơi cây cối tươi hay khô thì biết. Khí trong thì thông, khí đục thì tắc, xem ở lòng người sáng hay mờ thì biết. Khí đầy thì lớn lên, vơi thì tiêu mòn, xem thủy triều thì biết. Hòa thì hợp, trái thì lìa tan, xem thời cục trị hay loạn thì biết.

21. Nhật thực có thường độ; nhưng việc người biến đổi cùng với nhật thực thường có liên quan. Người ta sắp làm điều bất thiện, gặp lúc mặt trăng đi vào triền độ chỗ ăn nhau, bèn che lấp mặt trời; đó là Khí của người động đến trời. Lại như, trời sắp mưa dầm, thì ngưòi nào bị đánh hay ngã bị thương, tất thấy đau buốt; đó là khí trời động đến ngưòi. Điều đó có thể chứng nghiệm rõ trời với người cùng một lẽ.

22. Sách Tịch thượng đàm của Du Diễm nói; "Muôn biết thời giờ âm dương nên phân biệt bằng mũi": hơi trong lỗ mũi, dương thưòng ở bên tả, âm thường ỏ bên hữu. Cứ đến giữa giờ Hợi, giờ Tý thì hai lỗ mũi đều thông, vì người ta cũng là một bầu trời đất nhỏ (nhân thân nhất tiểu thiên địa).

23. Sách Thiên đạo luận của Nhân Loan đời Chu có dẫn sách Tê khổ kinh,nói rằng: "Tròi đất đến kiếp vận bị cháy thiêu đi hết thì người và vạn vật không còn gì nữa". Sách ấy lại nói: "Đến lúc mạt kiếp, trời đất thay đổi, mặt trời, mặt trăng cùng các vì sao cũng không còn". Thuyết ấy cùng giống với thuyết "Tuất hội, Hợi hội" của Khang Tiết. Nhưng, những điều nói trong sách của Đạo giáo hoang đưòng không có căn cứ, chỉ có thưvết của Khang Tiết lấy hai quẻ "Cấu" và "Phục” suy tính là đúng.

24. Sách Trường lịch của Từ Chỉnh nói: "Trời đất hỗn độn như quả trứng gà. Bàn Cổ sinh ở trong ấy, thọ một vạn tám nghìn năm. Lúc khai thiên lập địa, Khí dương trong là trời, Khí âm đục là đất. Bàn Cổ ỏ trong đó, mỗi ngày biến đổi chín lần, ở trên trời là thần, ỏ dưới đất là thánh; mỗi ngày trời cao thêm một trượng, đất dày thêm một trượng, Bàn Cổ cao thêm một trượng. Vì đó, biết Bàn cổ sóng một vạn tám nghìn năm, trời rất cao, đất rất sâu, Bàn Cổ rất lớn. Sau đó kế đến Ba đời Hoàng (Thiên hoàng, Địa hoàng và Nhân hoàng). Số bắt đầu từ 1,lập ở 3,thành ở 5, thịnh ở 7,cùng cực đến số 9. Cho nên nói tròi cách đất 9 vạn dặm". Đó là thuyết hoang đường không thể tin được.

Còn như thuyết Nguyên Hội Vận Thế của Thiệu Tử thì lấy mấy quẻ Cấu, Phục, Kiền, Khôn trong đồ Tiên thiên (của Thiệu tử,theo quái hoạch Phục Hi), căn cứ vào chỗ sinh, tiêu, tiền, hậu, suy ra mà biết được.

25. Sách Quyết nghi yếu chú của Ngu chí đời Tấn nói: "Đời Hán Vũ Đế đào hồ Côn Minh rất sâu, chỉ thấy tro đen mà không thấy đất, cả triều đình không ai hiểu ra sao, mới đem việc ấy hỏi Đông Phương Sóc. Sóc tâu: ”Kẻ hạ thần ngu không biết được,xin thử hỏi đạo sĩ ở nước Tây Vực". Vua Vũ đê cho rằng Đông Phương Sóc còn không biết thì hỏi người khác cũng khó lòng biết. Đến đời Hán Minh đế có đạo sĩ ngoại quốc đến Lạc Dương, có ngưòi nhớ lời Đông Phương Sóc, bèn đem việc đào hồ thấy tro đen ra hỏi thử, thì người đạo sĩ ấy đáp rằng: "Trong kinh Phật có nói lúc trời đất sắp tan rã, thì lửa cháy thiêu hết, cái tro đen ấy là tro thừa của "kiếp thiêu”.

Cứ theo thuyết ấy thì trước đây một nguyên, mười hai hội (theo Hoàng cực kinh thế của Thiệu Khang Tiết thì 1 nguyên = 12 hội = 129600 năm), sao lại không có một lần trời đất biến đổi hỗn hợp, rồi sau lại khai sáng ra?

Chu tử nóí: "Thường thấy ở trên núi cao có xác sò hến, hoặc sinh ra ỏ trong đá, Đá ấy là đất cũ từ đời xưa; sò hến là vật ở trong nước. Vật ở dưới thấp biến làm ở trên cao, vật mềm lại biến ra rắn". Do việc đó mà suy nghĩ kỹ, thì nó có thế chứng nghiệm được lời nói trên.

26. Sách Tố vấn có bàn về Ngũ vận, Lục Khí. Chử Trừng bác thuyết ấy là không phải, ông cho là: "Nam, Tháng, Ngày, Giờ, kể từ Giáp Tí, Ất Sửu lần lượt mà tính; trời đất ngũ hành, rét, nắng, gió, mưa, thoăn thoắt biến đổi; ngưòi ta cảm phải cái Khí ấy sinh ra tật bệnh; Khí trời thay đổi không biết trước được, cho nên tật bệnh cũng khó dự định; Khí không phải cái mà ngưòi làm ra được,cho nên tật bệnh người ta cũng khó lường được; suy nghiệm phần nhiều bị sai, nên cứu chữa dễ lầm". Chử Trừng nói thế chưa hẳn là phải.

Riêng tôi thì cho là Khí của trời đất chẳng qua chỉ là âm, dương, ngũ hành mà thôi, xung khắc hay hòa hợp không đều, làm chủ hay làm khách thay đổi, coi giữ ngày tháng lưu chuyển trong tiết hậu, biến hóa rất nhiều, người ta cảm phải, chưa chắc đã ứng hết; nhưng đại khái không sai mấy. Xem ngay như chứng ôn dịch, tùy từng năm rét hay nóng, mà hình thể khác nhau. Lại như, cũng là một bệnh mà khi táo, khi thấp sinh chứng khác nhau. Như thế thì sao có thể bảo thuyết Khí vận là không nghiệm?

27. Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ hưóng Mão (tháng hai) chính là tiết Xuân phân,cho đến tiết Lập hạ, giữa tháng Tị (tháng tư), là lúc Thiếu dương quân hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy sáng sủa, là đức của vua chúa.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Tị (tháng tư) chính là tiết Tiểu mãn, cho đến tiết Tiểu thử vào giữa tháng Mùi (tháng sáu) là lúc Thiếu âm tướng hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy nóng dữ, là lúc tướng hỏa làm việc.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Mùi (tháng sáu) chính là tiết Đại thử, cho đến tiết Bạch lộ vào giữa tháng tám, là Thái âm thấp thổ làm chủ khí, tiết tròi lúc ấy mây, mưa nhiều, Khí ẩm thấp bốc lên.

Từ khi chuôi sao Bấc đẩu chỉ vào hướng Dậu (tháng tám) chính là tiết Thu phân cho đến tiết Lập đông vào giữa tháng mười, là lúc Dương minh táo kim làm chủ khí, tiết trời đến lúc ấy thì vạn vật đều khô ráo.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Hợi (tháng mười) chính là tiết Tiểu tuyết cho đến tiết Đại tuyết (vào giữa tháng mưòi hai) là Thái dương hàn thủy làm chủ khí, lúc ấy tiết trời rét quá.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Sửu (tháng mười hai) chính là tiết Đại hàn cho đến tiết Kinh trập (vào giữa tháng hai) là lúc quyết âm phong mộc làm chủ khí, tiết trời lúc ấy gió nhiều. Ấy là, mỗi một Khí tiết ở trong khoảng hơn 60 ngày, quanh khắp vòng trời, hết rồi lại quay lại.

28. Sách Thái bình quảng ký chép rằng "sách Luận hành nói: Kính Dương Toại để lấy lửa, kính Phương Chư đê lấy nước. Hai thứ kính ấy được chế ra theo hình thể khác nhau. Đúc kính Dương Toại phải chọn giờ ngọ, ngày bính ngọ tháng năm, luyện đá ngũ sắc mà làm hình như cái kính tròn, chiếu vào mặt trời thì lấy được lửa. Đúc kính Phương Chư thì chọn giò tí、nửa đêm ngày nhâm tí tháng 11, luyện đá ngũ sắc làm hình như cái chén đất, chiếu vào mặt trăng thì lấy được nước".

Sách Hoài nam tử nói: Kính Dương Toại chiếu vào mặt trời thì cháy và bốc lửa; kính Phương Chư chiếu vào mặt trăng thì ướt mà chảy nước, Sách ấy có chua nghĩa "Hai thứ kính ấy đều là tinh của đá ngũ sắc". Giữa khoảng trời đất huyền vi hoảng hốt, lấy một thứ vật trong tay đem chiếu lên trên không mà lấy được nước, lấy được lửa, đó là do sự cảm ứng của âm dương vậy.

Rượu là chất do người ta cất ra, thế mà hơi rượu cũng cảm ứng với mặt trời, vì trong đó có lý do. Sách Thái bình quảng ký chép: khi rượu cất được rồi, nước trong ở trên hũ thường chuyển theo phía mặt trời; buổi sáng thì trong ở góc đông; buổi trưa thì trong ở góc nam; khi mặt trời xế về chiều thì trong ỏ góc tây; nửa đêm thì trong ở góc bắc. Còn nước rượu trong luôn cả ngày thì không theo hướng mặt trời.

29. Phùng Triệu Trương làm sách Cẩm nang bí lục, nói: "Nhà làm nghề đánh cá sinh con tất phần nhiều có gân xương cứng rắn, vì trong khi có mang, mẹ rét con cũng rét, mẹ nóng con cũng nóng, đứa hài nhi đã từng trải gió sương, nắng nóng từ lúc còn ỏ trong bào thai. Khi nó đã được sinh ra, da thịt dày dặn, gân xương cứng rắn, tà Khí không nhiễm vào được". Thuyết ấy rất phải, vì khí còn luyện mà bền được, huống chi là tính. Cổ nhân dạy con từ trong thai, cũng là nuôi con thành tính tốt đó.

30. Ngưòi ta lúc ngủ say, hễ gọi thì tỉnh ngay; đó là Khí gọi thần hồn về. Trong lúc chiêm bao, phàm những sự gặp gỡ, nói năng, làm lụng, mừng giận khi tỉnh dậy nhớ hết cả; đó là thần động đến khí. Thần và Khí của người ta thường như thế, thì đủ biết thần và Khí của trời đất từ xưa đến nay vẫn lưu thông, không chỗ nào là không thấy có; cho nên bậc hiền đời xưa có nói rằng: "Thiên tri, địa tri” (trời biết, đất biết) là thế đó.

Lòng ngưòi bao la rộng rãi,trên thông cảm được trời đất, giữa trắc lượng được quỉ thần, dưới xét được muôn vật. Sự huyền diệu của ”tướng” và ”sô'",tản ra Hình Khí, từ chỗ không ra chỗ có, từ chỗ có vào chỗ không, trong khoảng mờ mịt hay sáng tỏ đều là đạo cả. Lòng có ngay thẳng mớí biết được đạo, mới thấy biết được cơ vi; thấy biết được cơ vi mối làm được mọi việc; làm nên được mọi việc mới thông đạt quyền biến. Người ta tạo ra vận mệnh, chứ không phải vận mệnh tạo ra người. Cái lẽ trời với người hợp nhất, chẳng qua như thế.

31. Kinh Dịch nói: “Người nhân thấy Đạo thì gọi nó là nhân; người trí thấy Đạo thì gọi nó là trí. Đạo là những điều hàng ngày nhân dân thường dùng, mằ không biết”.

Âm phù kinh nói: “Của cải và tư cơ của nó, thiên hạ không ai biết, không ai thấy. Người quân tử nắm được nó thì chịu kiên trì trong cảnh cùng khổ; kẻ tiểu nhân nắm được nó thì xem nhẹ mạng trời”.

Ý nghĩa lời nói ấy cũng là một. Cái nghĩa lý sâu xa đối nhất của Lý và Khí đã tóm hết ở trong ấy. Cái hiệu dụng đóng hay mở, quyền cổ vũ tinh vi mà bậc thánh nhân được trời trao cho, bậc thánh nhân lấy đó mà thuận theo đạo trời, làm nên muôn vật (việc) hoàn thành muôn hóa, định muôn dân, khuất phục muôn nước.

32. Chu tử nói: “Co duỗi, đi lại, là khí: Khí của người với của trời đất là cùng liên tiếp với nhau, không đứt quãng. Người ta động lòng thì động đến khí, cùng cảm thông ngay với cái Khí ấy, mà Khí ấy do co duỗi đi lại ấy mà cảm thông. Xem như việc bốc phệ (bói toán) hễ trong lòng nghĩ đến việc gì là vẫn đã có nó, chỉ cần nói động đến cái mình muốn là nó ứng ngay”.

Chu tử lại nói: "Người ta bẩm thụ Khí ngũ hành của trời đất, thì Khí ấy phải qua khắp thân thể người. Nay lấy Can Chi ngũ hành để suy tính số mệnh người, cũng như nhà địa lý (phong thủy) suy chọn phường hưổng của rừng núi, hợp hay là trái, cũng cùng một lẽ”.

Riêng tôi cho rằng, hợp cả hai thuyết ấy mà xem thì Chư tử không những chỉ trọng bốc phệ mà cả đến số mệnh, hình tượng cũng không bỏ qua. Những kẻ hiếu biện thường bác bỏ hai thuyết ấy, nhưng xét ra cũng có quan thiết với Lý, Khí, không nên lơ là.

33. Theo thuyết của nhà địa lý học (phong thủy), những người biện sĩ phần nhiều họ không tin (thuyết Lý Khí), vì họ cho là những vật đã hủ nát biến hóa đi rồi thì không biết gì nũa. Nói cho đúng, người ta với trời đất cùng một nguồn, cùng một mạch với tổ tiên. Sinh Khí của trời đất thường được thông, thì tự nhiên có thể tư nhuận được xương khô; tinh thần của tổ khảo thường được tụ, thì tự nhiên có thể giáng phúc cho con cháu.

Thanh Ô Tử (một nhà phong thủy) nói: “Tinh thần (của tổ tiên) trở về nhà, hài cốt trở về đất", Thế nghĩa là: Khí lành cảm ứng, quỷ thần giáng phúc cho người. Lý ấy rất rõ. Người lại nói: “Có Khí ở trong, (vạn vật) mới phát sinh được, còn Khí ngoài thì làm cho thành hình; trong với ngoài giao hòa nhau thành ra phong thủy (địa lý)".

Xem mấy điều ấy, không còn ngờ gì nữa.

34. Hoành Cừ vốn không tin phong thủy, nhưng người lại nói: "Người phương nam tin dùng thuyết Thanh nang kinh (pho sách phong thủy) còn có thể tin được. Họ thử đất huyệt táng tốt hay xấu, họ dùng chỉ (lụa) ngũ sắc đem chôn xuống đất độ mấy năm, rồi đào lên xem. Hễ đất tốt thì sắc chỉ không phai, đất xấu thì sắc chỉ biến màu hết. Họ lại cũng lấy đồ đựng nước, đem thả cá con vào nuôi, rồi chôn xuông đất vài năm, hễ cá sống thì là đất tốt, cá chết thì là đất xấu".

Cho nên xem cây cỏ tươi hay héo cũng biết được đất tốt hay xấu.

35. Ngày giờ có ngày tốt, ngày xấu; nếu cứ mập mờ mà không kén chọn tất có khi gặp ngày giờ bất lợi; nhưng cũng không sao, vì mình vô tâm. Người đã vô tâm thì không liên quan với quỉ thần. Nếu đã có xem ngày thì phải chọn cho cẩn thận, ngày tốt thì dùng, ngày xấu thì tránh. Nếu đã biết là ngày xấu mà cô ý phạm thì quỉ thần sẽ phạt.

Kinh Dịch nói: Thần đạo không tác động gì, không nghĩ ngợi gì, im lặng không động, có cảm thì mới thông. Việc thiên hạ, nêu không cảm thì sao có ứng. Phép bói bằng cỏ thi hay phép bói bằng mai rùa cũng đều đợi sự vật (việc) có đến thì mới có ứng. Ví như cái gương, không soi thì không thấy gì.

Các phép bói khác cũng thế.

36. Đạo Dịch biến động luôn luôn, không ở một chỗ, đi khắp lục hư (4 phía và trên dưới, hoặc nghĩa khác là 6 hào của quẻ Dịch) lên xuống không thường (không quy luật), cho nên có thể cùng tận được sự mầu nhiệm của lý số. Lý ngụ ở khí, số do ở Lý, lý số ở tâm sinh ra mà tác động đến mọi việc, đó là sự xô đẩy của khí.

Có yên định rồi sau mới lo, lo rồi sau mới được, đó là sự tài thành (làm nên) của khí. Việc đến thì đón lấy để biết ngay từ trước; việc đã qua thì theo dõi để xét về mãi sau; chỉ có đạo Dịch mới thế được. Xưa nay, trị, loạn, thay đổi đều do ở người; những điều người làm đều là những điều trời làm. Khí hòa thì lành, lành thì có điềm hay; Khí trái (gở) thì ác, ác thì có điềm gở”. Hòa hay trái đều có thời đã định mà đến với ta: cho nên đạo Dịch không ngoài một chủ Thời.

Khí có “Cơ” (then máy), nhân ở “Cơ” thấy thời. Khí nào "Cơ” hòa báo trước thì các điều thiện hợp lại làm được các việc thiện, tâm thông, chí đồng, không khó nhọc mà bình trị được. Khi nào "Cơ” trái báo trước, thì mọi điều ác xúm cả lại, làm cho tâm chí chống chọi nhau, mọi việc tơi bời, không phải một người có thể cứu vớt được.

Cho nên, biết Dịch quí ở chỗ biết đạo đầy vơi, tiêu mòn hay nẩy nở, lành hay dữ, hối hay lận, tiến hay thoái, còn hay mất, mà cốt yếu ở chỗ không mất chính nghĩa.

37. Sách Dĩ ngược biên nói: "Về thuật xem sao để đoán số mệnh thì có sổ Tử Bình, số Ngũ tinh và số* Tử vi tiền định. Các sĩ phu thích xem số Tử Bình vì nó ám hợp với lý, nó đoán cho người ta biết số giàu sang, nghèo hèn, phần nhiều được đúng. Nghe như Từ Tử Bình là một ẩn giả, người đời Ngũ quí thường cùng với Ma y đạo giả là Trần Đồ Nam, và Lã Đồng Tân cùng ẩn ở núi Hoa Sơn. Thế thì Tử Bình cũng là một người khác thường vậy.

38. Sách Tử vi đẩu số theo bài tựa của La Luân nói, mới được của Tăng Liễu Nhiên ở núi Hoa Sơn truyền cho. La Luân lại tự xưng là cháu xa đời của Hi Di (Trần Đoàn tức Đồ Nam). Nhưng xét trong sách Hoạch mạn lục của Trương Thuấn Dân, đời Tống, thì Hi Dí chỉ có sách Nhân luân phong giám lưu hành ở đời bấy giờ, là sách mà hậu nhân góp nhặt những lời nói của người làm thành ra; không nói gì đến sách Tử vi đẩu số cả. Những lý số nói trong sách Tử vi đẩu số ấy cũng hẹp hòi, hẳn là hậu nho gán nó cho của Hi Di, không phải là bản thật. Nếu quả là sách Hi Di, thì sao từ Tống đến Nguyên, trong khoảng bốn, năm trăm năm, không truyền ra đời, mà mãi đến đời Minh mới thấy xuất hiện? Những người hiểu biết nên xét kỹ lại.

39. Sách Giáp ất thặng của một nho giả đời Minh nói rằng: “Ở Kinh đô có bản sao sách số Tiền định, bàng lối thơ thất ngôn lòi lẽ quê mùa, giống như kẻ nhắm mắt nói mò ở chỗ chợ búa đời nay. Trong sách đó nói đủ các việc về cha mẹ, vợ con, anh em, sang hèn, ai nghe cũng kinh hãi cho là thần dị, dù các bậc công khanh (quan to trong triều) cũng đều tin phục, cho là Thiệu Nghiêu phu phục sinh! Có biết đâu sách ấy là của một ông thầy bói ở Kinh đô soạn tập để lừa bịp người ta: hắn dò la ngày sinh tháng đẻ và lý lịch của người ta, rồi chép sẵn thành tập, khiến người ta tự tra tìm được sang hèn, thọ yểu, khiến người ta kinh hãi đó thôi!” Nói thế rất đúng, vì trời phú mệnh cho mồi người một khác, lẽ nào chỉ đem năm nào, giờ nào ra mà tham hợp phán đoán rồi lấy một vài câu ca, định dược lành dữ, họa phúc của thiên hạ. Không nói gì văn lý thô bỉ, mà đến cả cách đoán số mệnh cũng chưa thấy ai nói lỗ mỗ như thế bao giờ! Nhưng trong sách nói đến danh lợi được hay mất, tính Khí hoãn hay cấp đường đời hiểm hay bằng, phúc đức hậu hay bạc của người ta, đều là những câu nói đầu lưỡi, người đời không chịu suy xét, cho ngay là thực mà vội quá tin.

40. Sách Thạch lâm yến ngữ nói: 'Tống Thái Tổ khi còn hàn vi, thường vào miếu thờ Cao Tân, thấy trên hương án, có một bộ chén tre xem bói, nhân lấy xuống để bói xem danh vị của mình ngày sau thế nào”. Người đời thường cho là, khi gieo quẻ thấy một cái chén sấp, một cái chén ngửa (tức là xin âm dương), gọi là thanh hào.

Sách Tính lý gia lễ nói, ngày xem bói, phải đốt hương rồi hơ bộ chén ấy vào khói hương, khấn xong gieo quẻ xuống mâm, hễ thấy cái sấp cái ngửa là tốt.

Ngày nay gọi bói thế là xin âm dương cũng vậy.

41. Sách Tựu nhật lục nói, Đào Tiềm có nói: "Trước mặt người ngây (si) không nên nói chuyện mộng; trước mặt người trí thức (đạt lý) không nên nói chuyện mệnh; phàm người ta có bụng càn dở thì bị ngũ hành làm mê hoặc, có bụng thiên tư thì bị quỉ thần kiềm chế". Nhời nói ấy rất đúng. Khi mơ mộng, điều gì trông thấy đều ảo cảnh (hão huyền) chưa hẳn tin cả được; nhưng cũng có khi sự lành sự dữ được báo cho biết trước, linh nghiêm như tiếng vang, một lời chiêm đoán, quỉ thần đã ứng ngay, quan hệ không phải là nhỏ. Nếu đem chuyện mộng nói với người ngây, lỡ họ đoán càn, tất sinh ra việc không hay. Đến như mệnh số là sự huyền diệu, người bậc trung trở xuống vị tất đã hiểu thấu được.

Sách Luận ngữ có nói: Đạo hưng hay suy đều do ở mệnh. Nghiêm Quân Bình xem bói ở chợ đô thị chỉ bảo người ta lấy điều trung hiếu. Người thường không biết sửa mình, chỉ mơ màng vào sự ích lợi mà khổ tâm cầu cạnh, không được thì đổ cho tại số" mệnh mà không xét lại mình; đối với người hiểu biết mà nói, chỉ tổ cho người ta cười.

42. Việc ở trên trời, không tiếng không hơi, nhưng khi giáng lâm rất chói lọi, mệnh lệnh không thường, mà việc lớn việc nhỏ đều định trước cả. Cái thuyết tiền định, cổ nhân đã từng nói. Những điều mà ta thấy trong Kinh, Sử; thì trên từ Vương, Công, dưới đến làng nước (nhân dân), hoặc mộng, hoặc bói, cùng là câu hát của nhi đồng, lúc mới nghe có vẻ như huyền hoặc, nhưng sau đều thấy ứng nghiệm. Ấy là Số nhưng cũng là Lý.

Sách Tả truyện chép, khi vua Thành Vương nhà Chu đóng đô ở đất Giáp Nhục, bói xem nhà Chu sẽ tồn tại được bao lâu, thì bói thấy được 30 đời và 800 năm, thế mà Vương nghiệp nhà Chu được quá lịch số đã định trưóc.

Ý Thị nước Trần bói, được câu ”Hữu vỉ chi hậu, Tương dục vu khương, Ngũ thế kì xương, Tịnh vu chính khanh, Bát thế chi hậu, Mạc chi dữ kinh"; nghĩa là: "Con cháu họ Hữu Vỉ nước Trần sẽ sinh dục ở họ Khương (nước Tề), đến năm đời thì phồn thịnh, đều làm đến chính khanh. Sau tám đời thì không ai đọ được”. Quả nhiên về sau Trần Kinh Trọng chạy sang nước Tề, rồi con cháu thôn tính nước Tề.

Thúc Tôn Trang Thúc nước Lỗ bói xem con trai là Báo sau này ra sao, bói được mấy câu sau này: “Tương hành nhi qui chủ tự, dĩ sàm nhân nhập, kỳ danh viết Ngưu, tốt dĩ trấm tử. Nghĩa là: Sắp đi mà lại quay về chủ việc tế tự, nghe đứa xiểm nịnh, tên gọi là Ngưu, rồi đến chết vì kẻ nói gièm” về sau quả nhiên như thế.

Hoàn công nước Lỗ xem bói thấy đẻ con trai, tên là Hữu phò giúp công thất. Đến khi sinh, trong bàn tay đứa bé quả có chữ Hữu, lớn lên làm đến chính khanh, đời đời cầm vận mệnh nước.

Bà Ấp Khương nhà Chu mới có mang, Thái Thúc nằm mộng thấy Thượng đế bảo rằng: “Ta cho ngươi một đứa con, đặt tên là Ngu sẽ phong cho đất Đường, thuộc về phân dã sao Sâm, con cháu sẽ phồn thịnh”. Đến lúc đẻ ra, tay đứa bé quả có chữ Ngu, rồi vua Thành vương phong làm Đường hầu, đời đời làm minh chủ các nước hoa hạ (Trung Quốc); hoa hạ là các nước có văn hóa ỏ Trung Châu so với Man Di.

Khổng Văn Tử nước Vệ nằm mộng thấy Khang Thúc bảo mình nên lập con là Nguyên (Bấy giờ Nguyên chưa đẻ) rồi ta sẽ sai cháu của Cơ là Khổng Ngữ và Sử Cẩu giúp việc cho. Sử Triều cũng nằm mộng thấy Khang Thúc bảo mình: "Ta sẽ sai con nhà ngươi là cẩu và Khổng Ngữ giúp Nguyên”. Sau người thiếp yêu của Tương công đẻ con đặt tên là Nguyên, nối ngôi, Cẩu và Ngữ đều làm thượng khanh.

Nàng hầu Trịnh Văn công tên là Yến Cật, nằm mộng thấy sứ trời cho một cành lan và bảo rằng “Đó là ta cho mày làm con”Sau nàng ấy đẻ con đặt tên là Lan, tức là Trịnh Mục công, con cháu phồn thịnh.

Có người nước Tào nằm mộng thấy: Một bọn công tử đứng ở cung mới bàn mưu làm mất nước Tào; Tào Thúc, Chấn Đạc bàn xin đợi, Công Tôn Cương bằng lòng đã. Đến khi Tào Bá Dương lên ngôi, Công Tôn Cương là người nước Trịnh làm quan Tư thành cầm quyền chính, bội nước Tào mà thông với nước Tống, nước Tống bèn diệt nước Tào.

Đời Hiến công nước Tấn, trẻ con thường hát rằng: ”Bính chi thìn, long vĩ phục thìn, quân phục chân chân, thủ Quắc chi cân; thuần chi bôn bôn, thiên sách đôn đôn; hỏa cân thành quân, Quắc công kỳ bôn”. Nghĩa là: Sáng ngày Bính Thìn, mặt trời mặt trăng gặp nhau ở phân dã sao Vĩ, cho nên sao Vĩ không hiện; quân đội ăn mặc một màu, trông rất oai vệ, đi lấy cờ cân của nước Quắc. Sao Thuần nhấp nháy sao Thiên Sách tờ mờ, sao Hỏa cân thì nên quân, Quắc công phải bỏ nước chạy, về sau Tấn Hiến công đánh nước Quắc, ngày tháng đúng như lời đồng dao trên đây.

Đời Văn Công nước Lỗ, trẻ con hát rằng: “Cồ dục chi vũ, công tại ngoại dã, vãng quĩ chi mã; cổ dục thù thù, công tại Can hầu, trưng kiến dữ nhu; cồ dục lai sào, viễn tai dao dao, Trù phủ táng lao, Tống phủ dĩ kiêu”. Nghĩa là: “Cánh chim sáo tung bay, Chiêu công ở ngoài đồng, tặng công con ngựa. Chim sáo nhảy nhót, công ở Can hầu, đòi xiêm (quần) cùng áo cánh; chim sáo làm tổ, xa lắc xa lơ. Trù phủ (Chiêu công) nhọc nhằn, Tống phủ (Định công) kiêu căng”. Rồi sau, quả có giống chim sáo đến làm tổ ở nước Lỗ, Chiêu Công (Trù Phủ) bỏ nước chạy, Định Công lên nôi ngôi, đúng như lời trẻ hát.

Cuối đời Chu Định Vương, có người nước Tấn bị yêu giáng, nói: “Chu kỳ hữu tỳ vương, diệc khắc tu kỳ chức chư hầu phục hưởng, nhị tế cung chức vương thất, kỳ hữu gián vương vị, chư hầu bất đồ nhi thụ kỳ loạn tai". Nghĩa là: Nhà Chu có ông vua, sinh ra đã có râu, cũng làm trọn chức vụ, chư hầu đều phục theo hai đời cung chức nhà Chu; có kẻ dòm ngôi vua, chư hầu không nghĩ đến, mà chịu tai loạn. Về sau, quả nhiên vua Linh Vương sinh ra đã có râu, mà chư hầu đều kính mến; con là Cảnh Vương cũng được trọn đời (ứng vào câu nhị thế...). Đến khi Kinh Vương lên ngôi thì Vương Tử Triều quả nhiên tiếm vị (ứng vào câu gián Vương vị) bị đánh bại chạy sang nước Sở.

Sách Sử ký chép: “Mục công nước Tần bị bệnh quyết (bệnh chân tay lạnh buốt) ngủ suốt năm ngày, khi mới tỉnh dậy, nói rằng: Ồng nằm mộng thấy đấng Thượng đế sai ông bình loạn nước Tấn. Rồi sau, quả nhiên ba lần Mục công lập vua cho nước Tấn.

Cuối đời Tuyên Vương nhà Chu, trẻ con hát rằng: ”Yểm hồ, cơ phục, thực vong Chu quốc”. Nghĩa là: Cung làm bằng gỗ dâu trên núi, túi đựng tên làm bằng gỗ cơ, thực làm mất nước nhà Chu. Đến sau quả nhiên có hai người bán hai thứ cung và bao tên ấy, vua sai bắt, thì họ chạy sang đất Bao, nhận nuôi nàng Bao Tự, tiến cho U Vương gây nên cái họa ở Ly Sơn.

Căn cứ nhũng việc kể trên mà nhận định, thì không những số vận lớn của nhà nưóc, hưng hay suy, mà phận mệnh thường của sĩ phu, cùng hay đạt, cũng được dự định ở trong chỗ u minh. Đến cả như họ tên, tướng mạo, đi đứng, động tĩnh cũng đều có định trước, không phải người ta được tự do muốn sao được vậy.

Sách Trung dung nói: "Đạo chi thành có thể biết trước được". Nhà nước sắp thịnh, tất có điềm lành; nhà nước sấp mất, tất có điềm dữ (yêu nghiệt), hiện ra trên quẻ bói thi hay bói rùa (thi qui), động ở chân tay. Họa phúc sắp đến, điềm lành hay không lành tất nhiên biết trước, vì một điểm linh tâm của người, quỉ thần đã cảm thông mà báo cho biết trưóc.

Cuối đời Tây Hán, các thuật sĩ truyền lại các sách Sấm Vĩ, sách ấy đoán nhà Hán sẽ lại phục hưng chép rõ tên vua Quang Vũ. Lại nói: ''Vận mệnh họ Xích Lưu đến đời thứ 9 (từ Hán Cao tổ đến Quang Vũ là 9 đời) lại thụ mệnh ở núi Đại Tông” (Thái Sơn), sách Sấm Vi nói thế thực là rõ rệt. Những người thông thái biết trước xét sau làm ra sách vở để dạy đời sau, vẫn có nhiều điều nói đúng. Duy các vua chúa thì nên giữ gìn lòng thường, đức thường không nên nói những điềm lành và thuật sô để thêm sự ngu hoặc cho dân chúng. Cho nên Lý Nghiệp Hầu nói rằng: "Người thường còn có thể nói về số mệnh trời được; đến như vua chúa và tể tướng thì không nên nói đến”.

Đó chính là Lý.

43. Trong khoảng vũ trụ chỉ có một Lý mà thôi; cái gì người ta thường thấy thì tin, cái gì chưa thấy bao giờ thì ngờ.

Sách Trúc phả của Đái Khải Chi đòi Tấn nói: "Trời đất vô biên, thương sinh vô lượng. Ngưòi ta nghe-thấy cái gì, nhân theo nếp cũ mà làm rồi mới biết”. Nói thế không đúng. Nếu cái gì mà tai không nghe thấy, mắt không trông thấy đều cho là không phải, chẳng hóa ra là ngu xuẩn lắm ru!

Sách Gia huấn của Nhan Chi Thôi đời Tề nói: "Vua Vũ đế không tin có thứ keo có thể nối liền được dây cung; Ngụy Văn hầu không tin rằng lấy lửa giặt được vải, người rợ Hồ thấy gấm mà không tin có thứ sâu ăn lá cây nhả ra tơ, tơ ấy dệt thành gấm. Xưa kia ở đất Giang Nam, người ta không tin có thứ màn bằng chiên có thể để cho hàng nghìn ngưòi nầm vừa; đến khi tới Hà Bắc lại không tin có thứ thuyền chở được hai vạn thạch (hộc).

Đó là chứng cớ rõ ràng.

Lấy thuyết ấy mà suy, ta có thể biết rằng sự vật không thể biết hết được. Trên từ bầu trời, dưới đến bờ cõi, có hình có tượng, quái lạ muôn vẻ, lấy ý mà lường thì uổng phí tinh thần, lấy lời nói mà biện bạch thì thêm điều miệng lưỡi đến chỗ thực tế thì không ăn thua gì cả.

Cho nên cái học của người quân tử chỉ noi theo lẽ thưòng mà thôi.

44. Người đời xưa bảo: ở biển Nam, Bắc, Đông, Tây có thánh nhân ra đời, bụng ai cũng nghĩ như nhau, cũng lý luận như nhau. Quốc vương nước Hồi Hồi là Mặc Đức Na dựng nước vào đời Khai hoàng nhà Tùy, có làm ra một pho sách dạy làm lịch và xem thiên văn. Người các nước Âu La Ba (Europe) ở Tây dương như Lợi Mã Đậu (tên giáo sĩ Mateo Ricci) Nam Hoài Nhân (giáo sĩ Ferdinandus Verbiest) và Ngải Nho Lược (Guiles Aleni) có sang Trung Quốc vào đời Vạn Lịch nhà Minh. Họ đàm luận về trời đất một cách sâu sắc mới lạ vô cùng, lý luận chính trị và lịch pháp của họ cũng có nhiều điều mà tiền nho ta chưa tìm ra nói ra được. Tuy tiếng nói và chữ nghĩa của hai bên không thông hiểu nhau, nhưng nghĩa lý uẩn súc ở trong tâm thân, tài thức đầy đủ về học hỏi, thì không khác gì với Trung Quốc.

45. Học thuyết của tiên gia, chuyên nói về luyện Hình; học thuyết của Phật gia, chuyên nói về luyện Thần. Hình với Thần đều nhờ có Khí mới đứng vững được: Khí tụ thì đạo mới thành, Khí tán thì đạo không thành. Lấy mặt trời, mặt trăng làm thí dụ: Tiên gia thì như chất của nó, Phật gia thì như bóng của nó, chất đi ở trên không, hạn là có; bóng tan ở trong nước, hẳn là vẫn còn.

46. Trương Trạm đời Tấn, làm bài tựa sách Liệt tử có nói: “Đại lược sách ấy nói rõ mọi tồn tại (hữu) đều lấy chỗ rất hư không làm chủ; mọi phẩm vật đều lấy chỗ tiêu diệt hết làm thể nghiệm; thần tuệ thì lấy ngưng tịch mà thường toàn, tưởng niệm thì lấy chấp nê vào vật mà tự nhiên hỏng mất; còn những tri giác và hóa mộng thì ý nghĩa cùng tham bác với kinh Phật”.

Thật đúng như vậy. Xem trong Liệt tử có chép chuyện Lâm Loại đáp Tử Cống rằng: “Cái chết với cái sống một đàng đi một đàng về; chết ở nơi này, biết đâu chẳng sinh ra ở nơi kia”. Vậy thuyết luân hồi đã có từ trước đời Hán, chứ không phải mới thấy trong kinh Phật (Trúc điển). Thánh nhân (Khổng Tử) không nói đến việc thần quái, ngài lại nói: "Chưa biết sự sống, sao biết sự chết?”. Vậy những thuyết về loại sống, chết ấy hãy cứ để đó mà không bàn đến cũng được.

47. Kinh Phật có thuyết Luân hồi mà nhà Nho thường không tin; nhưng xưa nay những sự mà người ta tai nghe mắt thấy, ghi chép cũng nhiều, thì không kể hết được, thực ra không phải không có lý ấy. Khổng Tử nói: “Đức quỉ thần rất thịnh, trông không thấy, lắng cũng không nghe, mà rờn rợn như ở trên, như ở bên tả bên hữu". Thuyết âm ti địa giới tựa như hoang đường, nhưng tóm lại là do ở sự huyền bí của tạo hóa sự chia cách giữa âm dương làm cho người ta không trông thấy, không nghe thấy đó mà thôi. Lúc tế lễ, quỉ thần giáng lâm, thể phách tuy tán đi, nhưng thần thức vẫn còn tụ lại. Những chuyện bẩm thụ hình thể, đầu thai làm người, nói trong kinh Phật, cũng là thần thức đó thôi.

Tinh mặt trời, mặt trăng giáng xuống thành nước lửa, khí nước lửa bốc lên thành sấm gió, diệu dụng biến hóa của trời, đất, đi đi lại lại không lường được, huống chi là người ta.

48. Bộ sách Tả truyện chép nhiều việc thần quái, như là Cung Thái Tử nước Cung thác vào lời đồng bóng quở phạt Huệ công, tức là thuyết “Thiên Tào phán sự". Trung Hằng Yên nằm mộng thấy kiện nhau với Lệ Công tức là thuyết "Địa ngục câu đối”. Tề hầu nằm mộng thấy con lợn to, Tấn hầu nằm mộng thấy con là ác quỉ, cùng với việc Lương Tiêu và Hồn Lương Phu làm ma về quấy, tức là thuyết "Oan quỉ đến báo thù”. Tử Dư đem mộng ra nói để bảo tồn cho Hàn Quyết. Một ông lão nhờ Ngụy Khỏa gả chồng fho con gái mình mà kết cỏ đền ơn đó là Khí với mạch của hai ngưòi cùng cảm thông với nhau. Vệ hầu nằm mộng thấy Khang Thúc cho biết Đế Tướng cướp mất sự hưởng tự, Tấn hầu nằm mộng thấy ông Cổn nhà Hạ (Bố ông Hạ Vũ) hóa làm con gấu vàng vào cửa phòng ngủ. Thế thì những người tiên viễn (tiền bố rất xa xưa) cũng còn để lại có bóng cái vang. Những việc cũ đời Chu, nay còn khảo sát được cả.

Trong khoảng vũ trụ, âm dương, tối sáng, tuy khác đường, nhưng tình vẫn là một, lẽ ấy thực có.

49. Kinh Dịch nói: Tinh Khí là vạch, Du Hồn là biến, thế cho nên biết được tình trạng của quỉ thần. Nghĩa chữ “quỉ” là khuất (co lại), nghĩa chữ “thần” là thân (duỗi ra). Co mà hay duỗi, vì thế thiêng liêng mà làm thần. Cho nên Lão Tử nói: ''Lấy đạo mà trị thiên hạ, quỉ sẽ không thiêng là nói âm với dương, tối với sáng, đều có định vị, không xâm lấn nhau".

50. Thánh nhân biết rộng, không gì là không xét rõ. Xem như sách Khổng Tử gia ngữ chép những chuyện sau này:

Tiết chuyện xa là biết được bộ xương chở đầy xe (Chuyện này thuật trong chương Biện Vạt: Lúc Ngô Phù Sai đem quân đánh nước Việt, phá núi Cối Kê, gặp một bộ xương phải chở đầy một cỗ xe mới hết. Phù Sai lấy làm lạ bèn đem hỏi Khổng Tử thì được biết đó là xương của Phòng Phong. Nguyên do là khi vua Hạ Vũ hội quần thần ở Cối Kê, Phòng Phong đến muộn nên bị chém).

Đạo khổ thỉ là nói được điển tích cái tên làm bằng gỗ khổ (Chuyện về chim duẩn - một loài cắt, ưng – đến đậu ở sân nhà Trần hầu thì chết do mũi tên gỗ khổ cắm xuyên mình. Người nhà Trần hầu hỏi Khổng Tử thì được biết đó là loại tên của Túc Thận đem cống cho Vũ vương).

Biện Quì Võng Phần Dương là biết được cái tên quái vật là Quì Võng và Phần Dương (Chuyện là, Quý Tương đào giếng nhặt được vật lạ, đem hỏi Khổng Tử thì biết đó là giống quái Mộc Thạch gọi là Quỷ Võng và thổ quái gọi là Phần Dương).

Khổng Tử không phải là không nói những sự kỳ quái, nhưng ngày thường không muốn nói đến, là không muốn làm học giả mê hoặc. Thật ra có phải những chuyện ấy cho là không có đâu.

Đáng khen Quách Phác khi làm tựa sách Sơn hải kinh có nói; ''Giữa khoảng vũ trụ mênh mông, quần sinh đầy dẫy, âm dương hun bốc, vạn vật phân biệt, tinh khí hỗn độn phun xát lẫn nhau, du hồn, linh quái xúc động mà thành tượng, lưu hình ở núi sông, để dạng ở gỗ đá, không kể xiết được”. Bài tựa ấy lại nói: “Vật gì cũng vậy, tự nó không lạ, đợi người nói đến mới hóa ra lạ; vậy cái lạ là tự ta, chứ không tự vật; vì cái gì thấy luôn thì tin, còn cái gì ít khi nghe thấy, nói đến thì cho là lạ. Đó là cái mà thường tình thường bị che lấp”. Lời nói ấy là lời bàn xác đáng cho nghìn đời.

51. Trình tử nói: "Ngày xưa xem bói là để quyết sự nghi ngờ, đời sau thì không thế: họ xem bói chỉ cốt cho biết bệnh của mình sẽ cùng hay thông, thân của mình có đạt hay không mà thôi". Riêng tôi nghĩ rằng thánh nhân đặt ra bói toán, cốt để cho người ta quyết hiềm nghi, định do dự chứ không phải để dạy người ta cầu cạnh lợi đạt. Cho nên thánh nhân đặt ra kinh Dịch, không phải để cho kẻ tiểu nhân mưu lợi. Nhưng, cũng có khi, nghi ngờ điều gì muốn hỏi quỉ thần, như Tất Vạn bói việc làm quan ở nước Tấn. Trùng Nhĩ bói việc ở ngoài về nước, tuy vì mình, nhưng không hại gì chính nghĩa.

52. Làm nhà cửa kỵ phương hướng Thái Tuế. Tông Thái Tổ nói: “Phía tây cửa đông gia tức là phía đông cửa tây gia, thế thì sao Thái tuế ở chỗ nào?” Nói thế là không phải. Thần trong một năm là một Khí thiêng; Khí thì đi trên trời, chứ không phải ở dưới đất. Cứ theo thuyết của Tống Thái Tổ thì gọi phía tây có lẽ đến tận Tây Hải mới thôi. Thế thì ngoài Tây Hải lại còn có đất nước nữa, lại phải lấy đấy làm phía đông. Làng nước dân cư đều có giới hạn: có đông, tây, nam, bắc của cả thiên hạ, có đông, tây, nam, bắc của cả một nhà.

Việc tu tạo nhà cửa, vô tâm thì thôi; nếu đã xem phương hướng, mà thấy mình phạm thần sát, hay là ngưòi ta nói phạm hướng thần sát, mà cứ làm bừa đi thế là bất kính, sao gặp được sự hay?

53. Lưu Khang Công nói: “Nhân dân được Khí trung hòa của trời đất mà sinh ra, thế gọi là mệnh; cho nên có những phép tắc về động tác, uy nghi để an định mệnh trời”. Kinh Dịch nói: "Cùng lẽ hết tính rồi đến mệnh, chữ mệnh ấy tức là Giáng trung (trời phú cho sự lành), cũng gọi là bỉnh gi (giữ đạo thường) và là minh đức (đức sáng). Còn đời sau nói đến chữ Mệnh thì họ chỉ nghĩ đến sự cùng hay đạt, được hay mất, vinh hay nhục mà thôi.

Cổ nhân xem bói, không những chỉ dùng cỏ thi. Sách Ly tao (của Khuất Nguyên nước Sở) có câu rằng: ”Sách quỳnh mao dĩ đình chuyên hề mệnh Linh Phân vi dư chiêm”… Nghĩa là: Tìm cỏ quỳnh mao để xem bói cỏ tre, sai ngươi Linh Phân bói cho ta xem.,, Sách chua: “Linh Phân là tên một thầy bói hay thời bấy giờ. Đình là tre chẻ nhỏ. Ngưòi nưỏc Sở hay kết cỏ, chẻ tre, để xem bói; gọi là chuyện”.

Nghiệm sự đã qua, xét sự sắp tới, trong đó có thần linh thông giải; đừng tưởng một thứ cỏ nhỏ nhặt là không quan hệ gì!

Kinh Phòng lấy tiền gieo quẻ, chia ra âm dương, để lấy "thế, ứng" đời sau bắt chước. Còn ỏ những nơi phương xa, tục lạ lại có cách bói ngói (gõ vào đồ gốm, sành để nghe tiếng kêu mà bói điều lành dữ - ngõa bốc), bói gà, bói quạ, bói nghe tiếng ngưòi nói (Hưởng bốc – nghe âm vang tiếng người nói đêm 30 Tết để xem điềm) cũng đều biết trước được sự lành dữ; vì rằng không có cái gì là không có lý ở trong cả.

HÌNH TƯỢNG (38 điều)

1. Về thuyết “Trời xoay về bên tả, mặt trời, mặt trăng và ngũ tinh (năm sao Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa) chuyển về bên hữu, xưa nay cãi lộn nhau đã nhiều. Nhưng theo câu trong kinh Dịch: "Trời đất thuận chiều mà chuyển động, cho nên mặt trời, mặt trăng đi không quá độ, bốn mùa không sai” ta cho rằng cứ lấy câu ấy mà đoán cùng đủ.

Ở trên mặt đất mà xem, ta chỉ thấy thất diệu (Nhật nguyệt và ngũ tinh) đi về phía tả, chứ có thấy chuyển về phía hữu đâu? Bây giờ trở ngược lại mà suy đoán, cho hợp với trời, thì không chỗ nào không có thể bảo là thuận động.

2. Sách Chu lễ nói, họ Bảo chương lấy đất thuộc các phận sao mà phân biệt đất chín châu; mỗi khu vực phong cho chư hầu đều có địa phận từng sao để xem điềm lành dữ; nhưng sách ấy không còn truyền lại. Ban Cố đời Hán theo lịch Tam thống (phép làm lịch trong sách Tam Thống lịch phả của Lưu Hâm từ thời Thái Sơ -104BC - nhà Hán) lấy 12 triền thứ (trạm nghỉ, cung độ) phối hợp với 12 phân dã các vì sao. Trần Trác là quan thái sử nước Ngụy lại nói rõ: quận nào nước nào thuộc vào độ số các vì sao nào. Hoàn Vũ to như thế, có chắc hẳn các quận, các nước ở Trung Châu đương hết được không?

3. Sao Giốc, sao Trương, sao Cang chiếm ít độ thì phân dã hẹp. Sao Đẩu, sao Ngưu, sao Cơ, sao Tỉnh chiếm nhiều độ thì phân dã rộng. Đó là lẽ tất nhiên. Đến như Tây Vực, Bắc Minh không biết đến đâu cùng tận. Ngoài phía đông nam Minh Hải, Bột Hải còn có nhiều đất nước cách Trung châu đến mấy vạn dặm, sao không ứng vào một vì sao nào trên trời?

Cho nên, Nhan Chi Thôi nói rằng: “Lúc mới thành lập trời đất đã có tinh tú; lúc đó chưa vạch ra chín châu, chưa chia ra các nước, cất đặt ra cương giới, khu dã, có chỗ gọi là triền thứ của các sao. Từ đời Phong kiến (nghĩa cổ từ thời Hạ Thương Chu lấy đất mà phong tước Công, Hầu được 100 dặm, tước Bá được 70 dặm, tước Tử, Nam được 50 dặm) về sau, mới có qui chế cắt đặt (đến đời Tần thì đặt ra quận huyện). Số các nước có tăng có giảm, nhưng các vì tinh tú không hơn không kém. Còn sự ứng hiện của điềm lành dữ, họa hay phúc, nếu như không sai thì bầu trời to thế, tinh tú nhiều thế, phân dã từng tinh tú thế nào, tại sao lại chỉ liên hệ với Trung quôc mà thôi? Sao là sao Mao đầu (nghĩa đen là kẻ tiên phong) triền thứ của nó là nước Hung Nô. Còn các nước Tây vực, Đông Di, Điêu Đề, Giao Chỉ, thì sao lại bị bỏ rơi, không nói đến?

Cứ thế mà suy xét tìm tòi, không bao giờ xong được.

Nhà sư Nhất Hành nói rằng: “Sông núi trong thiên hạ, ỏ về phía Nam phía Bắc còn thấy mênh mông. Nay xem như Bắc Định thì thuộc vào phân dã sao Mão, Triều Tiên thì thuộc vào phân dã sao Cơ, Giao Chỉ thì thuộc vào phân dã sao Chẩn sao Quỉ, còn các bộ lạc ngoài ải xa thì tùy chỗ tính tú gặp nhau". Nói thế cũng là phỏng theo thuyết cũ mà thôi.

4. Nhà Thành Chu trước đóng đô đất Mân, đất Kỳ, sau đóng ở đất Phong, đất Cảo. Địa phận nước Tần, sau này là đất của nhà Chu. Bấy giờ nhà Chu chia đất, phong cho 18 nước chư hầu: các nước Tống, Tề, Tấn, Vệ, Hàn, Yên đều là các nước lớn cũ; các nước Tần, Trịnh đều là nước lớn mới; Ngô, Sở, Việt, Vệ, Thục đều là nươc nhỏ cũ, sau này mới lớn lên. Còn nước Triệu là một quan khanh nước Tấn, sau mới được phong, mới lấy tên họ đặt làm tên nước Tạo Phủ, nước Triệu, khi mới lập ấp ở thành chẳng qua là một nước phụ dung (phụ thuộc, do nước nhỏ, diện tích < 50 dặm vuông) mà thôi. Hai ông họ Cam, họ Thạch làm Tinh kinh (Sách xem các vì sao), trong đó có nói: “Trên Thiên Viên có các vì sao ứng vào địa phận nhà Chu và các nước Tần, Trịnh, Việt, Hàn, Ngụy, Triệu, Tề, Yên, Vệ, Thục, Ba, Lương, Sở; nước nào thấy phân dã sao có sự biến động xâm phạm thì nước ấy có sự không lành". Không biết nói thế có đúng không?

5. Trước thời Xuân Thu, các nước lớn nhỏ lẫn lộn; vua nhà Chu đóng đô hai nơi; vậy thì sách của Tinh quan (quan coi thiên văn) căn cứ vào đâu mà xem?

Theo ý riêng ta: lúc bấy giờ, họ Bảo chương lấy tinh thổ (đất thuộc các phân dã sao) chia rõ phong vực chín châu; mỗi châu đều có tinh phận nhất định, có sách ghi chép. Sách ấy nay bị mất rồi. Nhưng, cổ nhân xem Khí hậu đã có phép hay, cho nên Sĩ Văn Bá thưa với Tấn Hầu rằng: "Sáu vật (Tuế, thời, nhật, nguyệt, tinh, thần) không giống nhau; nhân dân mỗi người một dạ; thứ tự việc làm không cùng một loại; chức vụ các quan không phải có một qui tắc; trước thì giống nhau rồi sau khác hẳn, sao có bình thường được”. Vòng trời 365 độ với 1/4 độ, chia làm 12 vi thứ, dưới ứng với chín châu; muôn nghiệm lành dữ thì phải xem chỗ đất "thượng đức" và “thừa vượng" mà tiên vương đã đóng đô.

Các nước chư hầu đã được nhà Chu phong cho, lúc mới nhận chức và tên họ, dựa vào độ số, hành trình của năm vì sao Ngũ Vĩ (năm đường ngang mà ngũ tinh hành vận) mà suy tìm so đọ để làm cho cõi đất hợp với vị thứ các sao trên trời.

Xem các sách Tả truyệnQuốc ngữ (2 cuốn của Tả Khâu Minh đời Xuân Thu) ta sẽ biết được đại lược việc nói trên. Như nói: ''Vua Nghiêu dời Át bá ra đất Thương Khâu, chủ vể sao Thần. Người nhà Thương nhân đó mà theo, cho nên Thần là sao thuộc vê đất Thương. Đổi Thực Trầm ra đất Đại Hạ, chủ về sao Sâm (thuộc phân dã sao Sâm). Người nhà Đường nhân đó mà theo, cho nên Sâm là sao thuộc về nước Tấn.

Các sách lại nói: Vị thứ sao Đại Thần (ba sao Phòng, Tâm, Vĩ) thuộc nước Tống, sao Thái hiệu thuộc nước Trần, sao Chúc Dung thuộc nước Trịnh, đều là Hỏa Phòng, Vị thứ của sao Chuyên Húc ở nước Vệ, tinh của sao này là hư không, vì nó vượng về thủy".

Cũng các sách ấy lại cho biết: chức hỏa chính đời Đào Đường, là Át Bá, ở đất Thương Khâu, giữ việc thờ thần Đại hỏa, mà lấy đức hỏa chép tuế thời; ông Tướng thổ, nhân đó mà theo, cho nên nhà Thương lấy Đại hỏa làm chủ.

Lại cho biết: Tuê vận ở tinh Kỷ (tên tinh thứ ngang với sao Nam đẩu, sao Khiên Ngưu va sao Tú Nữ) mà đi trái đường vào vị thứ Huyền Hiệu, là tinh phận của nước Tống, nước Trịnh, thì đất sẽ bị nạn đói. Lại nói: Tuế tinh năm nào bỏ vị thứ mà trọ ở vị thứ năm sau, phạm vào triền thứ Điểu nô, là điềm không hay cho nhà Chu và nước Sở. Lại nói rằng: "Họ Chuyên Húc nước Trần, mà tuế tinh là Thần hỏa, thì mất nước; Tuế tinh ở vị thứ Tích mộc, thì có cơ Phục hưng. Mặt trời chiếu vào vị thứ sao Thuần hỏa thì nước Trần sẽ mất, mặt trời ra khỏi vị thứ sao Vụ, sao Nữ thì vua Tấn sắp chết; Tuế tinh ở Đai Lương thì nước Thái phục lại, nước Sở mắc nạn. Vua Vũ Vương đánh được nhà Thương vì tuế tinh ở Thuần hỏa; Văn công nước Tấn lấy lại được nước là vi tuế tinh ở vị thứ Thực trầm”.

Tất cả mọi việc kể trên đều ứng với thiên tượng cả, có phải như đời sau xuyên tạc nói dựa đâu?

6. Năm thứ ba, đời vua Nhị thế nhà Tần, (207 BC), năm sao Ngũ hành tụ họp ở vị thứ sao Đông Tỉnh, quay lưng về phía Nam đẩu, Có người nhận xét rằng: Đông Tỉnh ở về phận dã nước Tần tức là phận dã Mùi, sao Nam đẩu ở về phận dã nước Việt tức là phận dã Sửu. Sửu xung khắc với Mùi; Tần mất vượng khí, thì Việt được Bá khí; cho nên Triệu úy Đà ứng vào thiên tượng ấy mà làm nổi lên (Triệu Đà làm quan Úy nhà Tần, sau khi chiếm nước Nam Việt, thấy nhà Tần mất liền xưng là Nam Việt Vũ Vương).

7. Các nhà làm lịch xưa nay, đều có căn cứ cả: lịch Thái sơ (lịch do Đặng Bình làm, còn gọi là Luật Lịch, làm năm Thái sơ nhà Hán, 104 BC) căn cứ vào âm luật (âm nhạc); lịch Đại diễn (tăng Nhất Hành, đời Đường, làm) căn cứ vào phép bói bằng cỏ thi; lịch Thụ thời (do Hứa Hành và Quách Thủ Kính làm thời Hán Nguyên đế) căn cứ vào bóng mặt trời.

Mỗi nhà trên này chủ trương một thuyết riêng; nhưng, tóm lại, thì lịch Thụ thời hơn cả, vì tượng có trước số, số ở sau tượng; tham khảo âm luật và bói thi (chung luật, thi sách) để nghiệm tượng trời thì được, nhưng khảo sát thiên tượng để phối hợp vối âm luật và phép bói bằng cỏ thi thì không khỏi khiên cưỡng. Quĩ ảnh, lấy cọc đánh dấu, đo bóng mặt trời là thiên tượng rõ ràng nhất; dựa vào đó, lượng đo kỹ càng, để lấy Khí trung bình của trời, không nương tựa xê xích vào đâu, thế mới đúng với độ trời.

Thuyết trung tinh cơ hành (sao nào đi đến giữa trời gọi là trung tinh, còn cơ hành là 2 dụng cụ làm bằng ngọc của vua Thuấn để đo lường thiên tượng) trong Ngu thư (năm chương trong Kinh thư chép về đời Ngu, từ chương Nghiêu điển đến chương Ích Tắc) cũng suy tính dựa theo bóng mặt trời.

8. Các nhà làm lịch đều lấy nửa đêm ngày Giáp Tí, mồng một tháng Tý (Một, 11) là tiết Đông Chí làm đầu lịch. Thiệu Khang Tiết lấy ngày Giáp, tháng Tý, sao Giáp, giờ Thân làm số Nguyên hội vận thế; không kể gì ngày sóc hư và tháng nhuận, mà lấy 360 ngày làm một năm, thế là nói có chỗ căn cứ.

Hoài nam tử nói: “Mỗi luật có 5 tiếng, 12 luật là 60 tiếng, lại nhân với 6, thành 360 tiếng để đương đốì vói số ngày trong một năm”. Phép làm lịch của người Tây Dương (Âu châu) cũng lấy số 360 làm độ chu thiên, có 96 khắc làm một ngày, khiến cho mỗi giờ đều tám khắc, không có số lẻ, để tiện suy tính; phép ấy rất là giản tắt.

9. Thuyết Thanh đạo Xích đạo xuất xứ ở sách Vĩ thư Dịch kê lãm đồ (sách nói về thiên văn lịch toán, quái khí kinh Dịch và phép suy bộ mặt trời, sau tăng Nhất Hành dựa vào đó mà làm lịch). Thuyết Địa hữu tứ du xuất xứ ở sách Vĩ thư khảo linh diệu (tên một bộ sách về địa học. Sách này nói đất có tứ du thường động mà ngưới ta không biết. Nhưng sách Nhĩ nhã, chuyên nói vê thiên vẳn lại chép; ngoài nhị thập bát tú, lại có trên dưới, đông, tây mỗi phương 15.000 dặm, gọi là tứ du).

10. Trong thiên Qui tâm, Nhan Chi Thôi nói ràng: "Trời là tinh khí, mặt trời là tinh của Dương khí, mặt trăng là tinh của Âm khí, các vì sao là tinh của muôn vật. Cái mà nho gia hiểu được: mảnh ngôi sao rơi xuống là đá rơi xuống đó. Một vật ở xa và to mà người ta không đo lường được, không gì bằng trời. Sao sa xuống, nếu là đá thì không có sáng, chỉ có chất nặng, bấu víu vào đâu? Đường kính một vị sao, to đến trăm dặm; một chùm sao, đầu đuôi cách nhau đến vài vạn trăm dặm; mấy vạn ngôi sao chi chít với nhau, rộng hẹp dọc chếch thường không co nở. Vả lại, mặt trời, mặt trăng với các ngôi sao cũng một sắc sáng, chỉ có lớn nhỏ khác nhau mà thôi, thế thì mặt trời, mặt trăng cũng là đá ư? Đá đã rắn chắc, thì Kim Ô, Ngọc Thố (quan niệm xưa trên mặt trời có Quạ vàng, trên mặt trăng có Thỏ ngọc) ở vào đâu? Đá ở trong không khí, tự nó vận động sao được.

Ta thì cho rằng: sao ở trên có sáng, cái sáng đó là khí; khi vừa sa xuống bị gió lạnh buốt ở lưng chừng trời táp vào mối đọng lại thành đá, chứ không phải sẵn là đá ở trên trời rồi.

Mặt trời, mặt trăng cũng là tinh Khí tích lại mà có sáng, và to lớn đó thôi. Sao là tinh Khí của vạn vật, cho nên sa xuống hóa ra đá. Mặt trời là hỏa tinh thái dương, mặt trăng là thủy tinh thái âm; không thể viện lệ ấy mà cho cũng là đá được. Đến như phép đo lường vòng tròn, đường kính rộng hẹp của các vì sao, thì trong sách lịch tây dương nói rất tinh tưòng.

Nhan Chi Thôi lại nói: "Mặt trời, mặt trăng, các sao, đều là khí; Khí thể nhẹ mà nổi, nên liền với trời, đi lại, xoay chuyển không hề sai lẫn, mà sự mau chậm cũng phải nhất luật. Cớ sao mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh, nhị thập bát tú, đều có độ số, di chuyển không đều, lẽ nào Khí sa xuống lại hóa đá”.

Ta xét Hách Manh đời Hán có nói: “Trời không có chất; ngửa lên mà trông, chỉ thấy cao rộng không cùng cực. Mặt trời, mặt trăng, và các vì sao, tự nhiên quây quần ở trong khoảng hư không; lúc đi lúc đứng đều nhờ có Khí cả; cho nên thất diệu lúc ẩn lúc hiện không thường, lúc tiến lúc lui không giống nhau; vì không bám bíu vào đâu cho nên thế. Cho nên chỗ không có sao, Thần Cực ở yên một chỗ, mà sao Bắc đẩu không cùng với các sao khác lăn về phía Tây. Các vì sao Nhiếp Đề (chỗ cạnh Đế đình có 3 ngôi sao như cái chân vạc), Trấn Tinh (sao Thổ) đều đi về phía Đông, mỗi ngày đi một độ, một tháng đi 30 độ, Vậy xem thế đủ biết các sao không bấu bíu vào đâu". Cát Trĩ Xuyên (Cát Hồng) nghe nói thế, chê rằng: "Nêu tinh tú không bấu víu vào trời thì trời vô dụng”.

11. Người học về thuyết Hồn Thiên (thuyết này nói hình trời như quả trứng gà, đất là lòng đỏ, trời bọc ngoài đất) lại cho rằng Tam viên (ba chòm Tử vi, Thái vi, Thiên thị) và nhị thập bát tú, cùng với trời chuyển vận nhất định, không di dịch; đó là Kinh tinh (Sao ở kinh tuyến không thay đổi vị trí); còn mặt trời, mặt trăng, năm sao Ngũ hành, cùng vận hành với các sao khác, không có chỗ nhất định; đó là Vĩ tinh (sao ở vĩ tuyến). Kinh với Vĩ lẫn lộn hiện ra thiên văn.

Các đời đều theo thuyết ấy.

Gần đây có người Tây Dương vào Trung Quốc, tinh về thuật trắc nghiệm (đo lường trời), có nói rằng: “Trời có 9 tầng: tầng cao nhất là Tôn động thiên, không có sao gì cả; mỗi một ngày, đem các tầng trời từ Đông sang Tây, quay về bên tả một vòng. Tầng thứ hai là Liệt tú thiên. Tầng thứ ba là Trấn tinh thiên (Thổ tinh). Tầng thứ tư là Tuế tinh thiên (Mộc tinh). Tầng thứ năm là Huỳnh hoặc thiên (Hỏa tinh). Tầng thứ sáu là Thái dương thiên. Tầng thứ bảy là Kim tinh thiên. Tầng thứ tám là Thủy tinh thiên. Tầng thứ chín, tầng thấp nhất, là Thái âm thiên.

Tám tầng trời, từ Trấn tinh thiên trỏ xuống, đều theo Tôn động thiên quay về phía tả. Nhưng, mỗi một tầng trời đều có độ xoay sang hữu, tự Tây sang Đông. Thuyết này cũng giống như thuyết Chu Bễ, lấy con kiến đi trên bàn xoay đá mài làm thí dụ.

Mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh, đều có một tầng trời; những tầng ấy đều không giống với đất, cho nên cách đất cao thấp không thông nhất; cái số cao nhất, thấp nhất đểu phải lấy đường bán kính của đất làm chuẩn đích.

Thuyết này cùng giống với câu nói trong Sở từ: "Vòng tròn có chín tầng trời”.

12. Bọn Nam Hoài Nhân (Ferdinandus - Verbiest), người Tây Dương làm sách Khôn dư đồ thuyết, có nói: “Đất với biển vốn là hình tròn, hợp lại làm một quả cầu ở trong thiên cầu; thực như quả trứng gà, lòng đỏ ở trong lòng trắng; trời đã bao bọc đất thì trời với đất cùng nhau hưởng ứng”.

Sách ấy lại nói: ''Người đời bảo trời tròn bao bọc lấy đất vuông, đó là lấy nghĩa động tĩnh lý vuông tròn mà nói, chứ không phải nói hình. Họ còn đem độ số Đông, Tây, Nam, Bắc để chứng minh cái nghĩa đất tròn rất là rành mạch. Các nhà khảo về hình tượng đều bảo thuyết đó không ra ngoài thuyết Hồn Thiên của người Trung Quốc xưa.

Lại bài Thiên đạo luận của Nhân Loan, đời Hậu Chu, trong Hoằng minh tập, có nói: “Đạo gia thường nói trời tròn đất vuông; nay đem bốn góc cùng phương hướng so sánh, thì thấy trời đất đều tròn”. Thế thì cái thuyết trời đất cùng tròn, cổ nhân cũng đã có vậy. Hai quyển Đồ thuyết dịch ra chữ hán. Trong sách ấy có nói về thổ địa, sản vật, phong tục, nhân vật, khí dụng và chế độ các nước, nhiều sự quái gỏ lạ lùng, không sao biết được. Còn như bàn đến núi non, triều tịch (nước thủy triều lên xuống), sông biển, gió mây, sấm chớp, thì đều rất đúng; vì các nước ấy ở gần biển, tập quen đường biển, căn cứ vào sự biết thực, thấy thực mà suy lượng hình tượng, chứ không phải ức đoán vu vơ! Nay sách Thuyết linh (của Ngô Chấn Phương, Uông Uyển, đời nhà Thanh) cũng có chép, nhưng mười phần không còn một phần; mà sự lựa chọn cũng sai lầm nhiều lắm.

13. Trong thiên Thiên viên của sách Đại Đới lễ ký (của Đới Đức, đời Hán) có chép việc Đan Cư Ly hỏi Tăng tử rằng: "Có thực trời tròn mà đất vuông không? Tăng tử đáp: “Trời sinh ở đầu trên, đất sinh ở đầu dưới (chua: ngưòi ta đầu tròn mà chân vuông, nhân đó mà hệ thuộc trời đất). Đầu trên gọi là tròn, đầu dưới gọi là vuông; như thực trời tròn, đất vuông thì thành ra bốn góc không được che kín à? Ta nghe đức Khổng Tử có nói: ”Đạo trời tròn, đạo đất vuông (chua thêm: đó là đạo vuông tròn, chứ không phải nói hình tượng vuông tròn)".

Ta nhận thấy Khổng Tử tuy không nói rõ hình đất tròn, nhưng xem một câu nói: ‘Tứ giác chi bất yểm (bốn góc không che kín)” thì đã biết được đại ý. Vậy, lời bàn về đất tròn của người Tây Dương thật không phải là mới lạ.

14. Sách Ngọc ghi chép: “Độ mỗi nhất vạn1” và chua rằng: chia một độ làm vạn phần. Xét sách Quảng nhã (của Trương Ấp đời Ngụy) mỗi độ là 2.932 dặm, nhị thập bát tú cách nhau tích lại được 1,700.923 dặm, đường kính là 356,970 dặm. Nhưng sách Thì hậu thần khu lại nói: "Nhị thập bát tú cộng là 366 độ, mỗi độ ước 3.000 dặm; kể là vạn phân thì 10 phân là 1 tấc, 10 tấc là một thước; mỗi 1 phân quản 30 dặm, mỗi 1 tấc quản 300 dặm, mỗi 1 thước quản 3.000 dặm”. Cùng với các thuyết “Chu thiên” cộng 1.097.000 dặm, không giống nhau. Xét sách Tấn chí dẫn lời Xuân thu khảo dị có bác đi rằng: Chu thiên cộng 1.071.000 dặm, mỗi độ là 2.932 dặm.

Có lẽ thuyết này là đúng.

Ngưòi Tây Dương lại cho là vòng Chu thiên 90.000 dặm, mà mỗi độ là 150 dặm; như thế lại là khác hẳn.

15. Sách Thượng thư vĩ khảo linh diệu (nguyên là Thượng thư vi, do Trình Huyền chú giải) chép rằng: “Ngày dài thì bóng mặt trời dài 1 thước, 6 tấc; ngày ngắn thì bóng mặt trời dài 1 thước, 3 tấc”. Sách Dịch Vĩ nói: “Ngày Đông chí, trồng một cây nêu cao 8 thước đến trưa, xem bóng mặt trời dài ngắn để chiêm nghiệm có điều hòa không. Phép xem bóng ấy cho biết ngày Hạ chí bóng dài 1 thước 4 tấc 8 phân; ngày Đông chí dài 1 trượng 3 thưóc”.

Phép Chu Bễ nói: “Trong đất nhà Thành Chu, ngày Hạ chí bóng mặt trời dài 1 thước 6 tấc; ngày Đông chí dài 1 trượng 5 thước 5 tấc”.

Bài truyện về sách Hồng Phạm, Lưu Hường có nói: “Ngày Hạ chí, bóng mặt trời dài 1 thước 5 tấc 8 phân; ngày Xuân phân và Thu phân, bóng dài 7 thước 3 tấc 6 phân; bóng mặt trời ỏ kinh đô Hán, Ngụy, Tống đều khác nhau”. Phép làm lịch của bốn nhà, về cách ảnh hậu (trình độ đo lưòng bóng mặt trời) thì như nhau, nhưng về cách điều trần đường vĩ tuyến thì sợ khó mà bằng cứ được. Cái thuyết đo bóng vào hai ngày Xuân phân, và Thu phân của Lưu Hướng nói trên, là chỉ lấy sai phân mà suy ra, chứ không phải nhân biểu hậu mà định dài ngắn.

Xét các sách Linh Diệu, Chu Bễ, Linh HiếnTrịnh Huyền, chua sách Chu Lễ đều nói rằng: "Bóng mặt trời chiếu xuống đất, một nghìn dặm chỉ sai 1 tấc”.

Xét năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Nguyên gia thứ 19 (442), nhà Tống sai sứ sang Giao Châu đo bóng mật trời thì thấy: ngày Hạ chí bóng cây nêu về phía Nam dài 3 tấc 3 phân.

Hà Thừa Thiên khảo sát bóng mặt trời ở Dương Thành có nói rằng: "Ngày Hạ chí, bóng dài 1 thước 5 tấc”. Tính ra thì Dương Thành cách Giao Châu vạn dặm, mà bóng mặt trời sai nhau có 1 thước 8 tấc 2 phân, thế là 600 dặm, chỉ sai 1 tấc thôi.

Đến đời Hậu Ngụy, Tín Đô Phương chua bôn phép xem thiên văn của phép Chu Bễ có bảo rằng: “Đất Kim Lăng cách Lạc Dương từ Nam chí Bắc độ nghìn dặm, bóng sai 4 tấc”. Vậy thì, cứ 250 dặm là sai 1 tấc.

Lưu Chưóc đời nhà Tùy, lấy bóng mặt trời ở hai ngày Hạ chí và Đông chí mà định chỗ trời cao nhất chiếu xuống. Sách Chu Quan nói bóng mặt trời ngày Hạ chí dài 1 thước 5 tấc. Bọn Trương Hành, Trịnh Huyền, Vương Phồn, Lục Tích, đều cho bóng mặt trời cứ 1.000 dặm sai 1 tấc. Lại nói về phía Nam: dưới xứ Đới Nhật 1 vạn 5 nghìn dặm, bóng cây nêu rất đúng; khi trời cao lại khác. Xét trong phép toán, không có lý nào, 1 tấc sai được 1 nghìn dặm; mà cũng không có điển nào nói thế cả. Nay Giao Châu và ích Châu, về phía Bắc, nếu không có bóng, mà về phía Nam, qua Đới Nhật, cách những 50.000 dặm, như vậy thì nghìn dặm sai 1 tấc; đó không phải là sự thực.

16. Phép Trung quĩ phúc ảnh đời Đưòng nói rằng: "về phép Trung quĩ, xưa kia, Lý Thuần Phong làm lịch lấy trung quĩ định 24 tiết khí; cùng với phép đo dài ngắn của Tổ Xung Chi khác nhau; nhưng chưa biết ai phải.

Khi Tăng Nhất Hành làm lại Đại diễn, vua Đường có hạ chiếu cho quan thái sử phải đo bóng mặt trời khắp thiên hạ, mà lấy chỗ đất giữa làm định số. Khi họp bàn có nói rằng: Chu quan (Sách) dùng thổ khuê (thước đo bóng mặt trời bằng ngọc) đo, thì lấy chỗ bóng mặt trời 1 thước 5 tấc làm trung tâm điểm của đất, mà họ Trịnh (Trịnh Huyền) thì cho là bóng chiếu xuống đất, cứ 1 nghìn dặm sai 1 tấc. Như vậy, về phía Nam xứ Đới Nhật Hạ, xa cách 15.000 dặm, thì sai mất 1 thưóc 5 tấc. Đất cùng với tinh, thần, tứ du, lên xuống trong 3 vạn dặm; lấy số ấy mà chia đôi thì thấy được chỗ địa trung, Đĩnh Xuyên quận, đất Dương thành ngày nay, tức là địa trung đó.

Trong khoảng năm Nguyên gia (424 - 454), nhà Tống đi đánh nước Lâm Ấp (Chiêm Thành); ngày tháng 5 dựng cây nêu để trông, thì thấy mặt trời ở về phía Bắc cây nêu; ở Giao Châu thì bóng mặt trời ở về phía Nam cây nêu 3 tấc. Năm Khải nguyên thứ 12 (724, đời Đường Huyền Tông), đo bóng mặt trời ở Giao Châu (tức là Thăng Long, Hà Nội ngày nay) vào ngày Hạ chí thì thấy bóng ở phía Nam cây nêu 3 tấc, 3 phân cùng với sự đo năm Nguyên gia nói trên giống nhau.

Sứ giả (nhà Đường) là Đại tướng Nguyên Thái nói: ở Giao Châu, trông hết tầm con mắt mới thấy cao hơn 20 độ. Còn sách Hội yếu (Vương Phổ đời Tống soạn) thì bảo: ra khỏi mặt đất hơn 30 độ. Vào cữ tháng Tám, người đi biển trông thấy dưới sao Lão nhân tinh có hàng sao lấp lánh sáng, vừa rõ vừa tỏ và rất nhiều, mà xưa nay chưa thấy. Đó là những sao mà nhà làm sách Hồn thiên cho là những sao thường ẩn ở trong đất.

Lại về phía Bắc nước Thiết Lặc (tên thị tộc cổ ở tây bắc Trung quốc, nay là Thanh Hải, còn gọi là Sắc Lặc) có nước Cốt Lị Cán (tên bộ lạc trong thị tộc Sắc, gần Tây Bá Lị Á – Siberia) ngày dài đêm ngắn; đêm đến, trời vàng vàng mà không đen tối; chiều tối nấu một bộ lá lách dê vừa chín thì trời đã sáng, vì chỗ ấy gần chỗ mặt trời mọc.

Sách Nam cung (viết tắt của Nam cung cố sự của Trịnh Hoằng) của Thái sử Giám nói: “Chọn nơi đất phẳng ở tỉnh Hà Nam, đặt phép đo bằng dây tẩm mực trước, rồi dựng cây nêu, kéo dây mà đo, bắt đầu từ huyện Hoạt Đài trước. Bóng mặt trời ngày Hạ chí ở thành Bạch Mã dài 1 thước 5 tấc 7 phân. Về phía Nam hơn nữa, ở huyện Tuấn Nghi và huyện Nhạc Đài (thuộc Khai Phong, tỉnh Hà Nam), thì bóng mặt trời dài 1 thước 5 tấc 3 phân. Lại về phía Nam hơn nữa, ở huyện Phù Câu, bóng dài 1 thước 4 tấc 4 phân. Lại về phía Nam hơn nữa, ở huyện Thượng Sái và huyện Vũ Tân, thì bóng dài 1 thước 3 tấc 6 phân và một nửa phân. Đại khái cứ 526 dặm, 270 bộ, là bóng sai hơn 2 tấc. Còn thuyết cũ nói chỗ kinh đô nhà vua cứ nghìn dặm thì bóng sai 1 tấc là lầm.

Nay lấy phép Câu Cổ (phép toán cổ tính theo như định lý Pytago) so với cách đo Trung quĩ ở Dương Thành, thì thấy bóng ngày Hạ chí dài 1 thước 4 tấc 4 phân, 7 hay 8 li; bóng ngày Đông chí dài 1 trượng 2 thước 7 tấc 1 phân và nửa phân; bóng ngày Xuân phân và ngày Thu phân dài 5 thước 4 tấc 5 phân; lấy cái thước vuông đo úp, mà đo chéo đến chỗ cùng đất, thì thấy 34 độ và 4 phần 10 độ (4/10).

Xem cây nêu ở các huyện Hoạt Đài, Tuấn Nghi, Thượng Thái và Vũ Tân, thì Bắc Cực cách đất, dù ngày Xuân phân hay Thu phân hơi có co giãn, nhưng cũng khó so sánh được. Đại để cứ 351 dặm, 80 bộ, sai lắm là 1 độ.

Bắc Cực khi xa khi gần mặt trời khác nhau, thì bóng ở đường Hoàng đạo cũng vì đó mà biến đổi.

Hàng năm, lấy địa đồ đo bóng mặt trời ở Vũ Lăng, định khí là 4 thước 4 tấc 7 phân. Cầm bản đồ mà trông chếch, thì thấy chỗ cực cao là 29 độ và nửa độ (1/2), sai với Dương Thành là 5 độ 3 phân. Lấy địa đồ ở Uất Hoành Dã mà đo bóng, định khí là 6 thước 6 tấc 5 phân và một nửa phân (1/2); cầm bản đồ, trông chéo, thì thấy chỗ cực cao là 40 độ, sai với Dương Thành 5 độ 3 phân.

Phàm độ số Nam, Bắc sai nhau 10 độ và nửa độ nữa (1/2); đưòng kính là 3.688 dặm, 90 bộ. Từ Dương Thành đến Uất Hoành Dã và Vù Lãng, đại khái vào ngày Hạ chí dùng với Nam Phương sai ít, vào ngày Đông chí cùng với Bắc Phương sai nhiều.

Lại lấy bản đồ, xét và so sánh, ở Việt Nam, lúc mặt trời ở trên đỉnh trời về phía Bắc 2 độ, 4 phân, chỗ cực cao 20 độ, 4 phân; vào tiết Đông chí bóng dài 7 thước 9 tấc 4 phân; nhất định như thế. Tiết Xuân phân và Thu phân là 2 thước 9 tấc 3 phân; tiết Hạ chí, bóng cây nêu về phía Nam 3 tấc 4 phân, sai với Dương Thành 14 độ, 3 phân, mà đường kính thì 5.023 dặm. So đến Lâm Ấp: lúc mặt trời ở đỉnh trời, về phía Bắc 6 độ, 6 phân hơn một ít; chỗ cực cao 70 độ, 4 phân, chu vi 25 độ; thường hiện luôn, không khi nào lấp bóng, tiết Đông chí bóng dài 6 thước, 9 tấc. Bằng nay cách Dương Thành, phía bắc đến đất Thiết Lặc củng sai mất 17 độ, 4 phân; mà cùng với Lâm Ấp ngang nhau.

Quan Trung Thường Thị nước Ngô là Vương Phồn, xét chuyện tiên nho, lấy mực 15.000 dặm ở xứ Đới Nhật Hạ làm một nửa đưòng kính chu vi, rồi theo phép toán Câu cổ tà xạ để đo độ trời, thì thấy được 1.406 dặm, 24 bộ có thừa. Nay đo bóng mặt trời, cách Dương Thành 5.000 dặm, thì thấy đã ở phía Nam nước Đái Nhật; thế là mỗi độ giảm một phần ba của độ (1/3).

Nam cực, Bắc cực, cách nhau 8 vạn dặm, mà đường kính thì 5 vạn dặm. Vũ trụ to rộng, há chỉ như thế? Cái thuật đo trời của Vương Phồn, không khác gì lấy quả bầu mà đong biển.

Năm Khai nguyên thứ 13, đo đến núi Đại Tông (theo chú trong Ngiêu điển thì Đại Tông là núi Thái Sơn) lúc bấy giờ ở chân núi hay còn đêm tốì, ở chỗ nhật quán (nơi mặt trời mọc, đông nam núi Thái Sơn) trông về phía Đông, thấy mặt trời cao dần dần. Cứ phép đo, từ lúc sớm cho đến khi mặt trời mọc, sai 2 khắc rưởi, mà nay lại sai hơn 3 khắc, lý do là người đời xưa dùng thước thổ khuê đo trời, cốt để tuyên bá hòa khí, giúp đỡ mọi vật, chứ không ở chỗ đo đưòng kính chu vi các vị trí ngôi sao. Còn như ý nghĩa trong lịch số, là lấy lòng thành kính mà ban bố thời hậu cho dân biết và tôn trọng tượng trời, chứ không phải chỗ phải trái, của các thuyết hồn thiên, cái thiên.

17. Sách Tấn thiên văn chí nói: "Đất là ở giữa trời, mà Dương Thành là giữa đất". Sách Hà đồ quát địa tượng nói: “Núi Côn Lôn là cột trời, khí núi ấy thông lên tận trời. Côn Lôn là chính giữa đất”.

Chu tử nói: "Trung tâm điểm của đất bây giờ với ngày xưa khác nhau. Đời Hán thì Dương Thành là giữa đất; đời Tống thì Nhạc Đài là giữa đất; đã thấy sai nhau nhiều”.

Tạp chí của Lưu Định Chi nhà Hán nói: “Đính tâm của trời là ỏ huyện Dương Thành ở chân núi Tung Sơn, đính tâm của đất là ở núi Côn Lôn; so le không cân nhau, là vì trong khoảng trời đất, phương Đông Nam thì nắng nóng; phướng Tây bắc thì rét lạnh, Đất ở phương rét lạnh thì rắn chắc mà cao vọt lên, cho nên phương Tây bắc có nhiều núi; đất ở phương nắng nóng thì mềm ướt mà sụt thấp xuống, cho nên phương Đông nam nhiều nước. Hợp cả chỗ Đông nam nhiều nước, Tây bắc nhiều núi, quân bình mà bàn, thì Dương Thành là giữa đất lấy chỗ đính cao thì Côn Lôn là giữa. Đó là nói về phong vực Trung Quốc.

Nhưng ta xét lời nói của Trâu Diễn, thì đất chia làm chín châu, Đông nam gọi là Thần Châu, còn tám châu nữa, là Thứ Nhung, Hấp, Ký, Thai, Tế, Bạc, Dương, đều là Xích Huyện (tức Xích Thành, ở đó đất đỏ, sắc như ráng mây). Ký châu là một trong chín châu không biết ở vào chỗ nào.

Nhà sư Ma Đằng (Kàcyapa Màtàngha) thưa với vua Minh đế nhà Hán rằng: "Nước Cà-ti-la-vệ (Kapilavastu, nơi sinh quán của Đức Phật, trung bộ Ấn Độ, Tây nam Nepal) là trung tâm "tam thiên đại thiên thế giới bách ức nhật nguyệt” và các phật tam thế đều sinh ra ở đấy cả.

Trách Dưng nói rằng: "Phật sinh ở Thiên Trúc, vì Thiên Trúc là chính giữa trời đất và là nơi trung hòa”. Ông lại nói: “Trong truyện có nói rằng: Các vì sao Bắc thần, ở trời là giữa, mà ở người là phía Bắc”.

Xem đó thì đất Hán chưa hẳn đã là giữa trời.

Nhà sư Pháp Lâm đời Đường, dẫn lời bàn ở sách Trí độ luận (kinh Phật, của Long thụ bồ tát) có nói rằng: “Thiên và thiên kể chồng lại cho nên gọi là tam thiên; thiên rồi lại mấy thiên nữa, cho nên gọi là đại thiên; nước Cà-ti-la-vệ ở đó”. Kinh Phiên thán nói rằng: “Sông Thông Hà (Rapti) trở về phía Đông gọi là Chấn Đán, lấy nghĩa là lúc mặt trời mọc sáng rọi vào góc Đông. Chư Phật ra đời đều ở trung châu, chứ không ở ngoài biên ấp”.

Pháp uyển truyện nói: Hà Thừa Thiên nước Tống cùng với Trí tạng pháp sư tranh luận về chỗ giữa trời. Nhà sư nói rằng: “Thiên Trúc là trung thiên, vì những ngày Hạ chí, Đông chí, lúc mặt trời giữa trưa, dựng nêu không có bóng. Đến đời nhà Hán, lập ra Ảnh đài (để đo bóng mặt trời), đến lúc giữa trưa ngày Hạ chí, Đông chí, dựng nêu còn hơi thấy bóng. Theo trong toán kinh, một tấc ở trên trời bằng một nghìn dặm ở dưới đất". Khi ấy họ Hà mới tỉnh ngộ.

Nói tóm lại: Trung bộ Thiên Trúc là trung tâm trái đất. Ông Thích Minh khái bác lời sớ của Phó Dịch có nói rằng: "Gọi là nước ở giữa thiên hạ thì phải là trung tâm của ba nghìn nhật nguyệt, một vạn hai nghìn trời đất". (Tam thiên nhật nguyệt, vạn nhị thiên thiên địa chi trung tâm).

Các thuyết kể trên vể trời đất sai trái nhau, không biết thuyết nào là đúng.

18. Sách của người Tây Dương ra đời sau hết; thuyết của họ lại ly kỳ. Những người Tây Dương ấy đi đường biển mười vạn dặm mới đến Trung Quốc, họ lịch duyệt đã nhiều, đo lường lại tinh, cho nên ngưòi Trung Quốc đều dốc lòng tin, không ai dám chê cả. Nay chép các thuyết của họ, nói về chia độ kinh tuyến các nước, đại lược như sau: "Tất cả các nưóc lớn hay nhỏ, hoặc ở về Nam, Bắc, hoặc về Đông, Tây, đều có độ phận. Vì đất cùng biển đã thành hình tròn như quả cầu; từ Nam đến Bắc, quả đất như cái trục có hai đầu đối với trời. Nam cực và Bắc cực của trời gọi là hai cực quả đất; nhất định thế. Hai cực ấy đều cách xích đạo, mà phía trên phía dưới xích đạo là số của vĩ tuyến thì rõ ràng lắm".

Mặt trời và mặt trăng bám vào thiên cầu đi quanh địa cầu suốt ngày đêm không nghỉ, vốn không mọc hay lặn. Duy, nước này gặp khi mặt trời sáng thì là ngày, khi trăng sao sáng thì là đêm. Vì thế, thấy vầng thái dương lên thì đó là phương Đông; thấy vầng thái dương xuống thì đó là phương Tây. Xong, phương Tây ở nước này lại là phương Đông ở nước kia, mà địa cầu vốn không có chính Tây chính Đông gì cả.

Thế thì kinh tuyến của quả đất bắt đầu kể số từ chỗ nào?

Lúc mới họa toàn đồ thì hai đại châu thổ là Âu La Ba và Lỵ Mạt Á đều ở về phía Tây nước Trung Hoa. Kỳ thủy xét trong bốn biển thì Phúc Đảo là cực tây; ngoài đảo ấy là biển; đi sang Đông mà tìm lục địa (đất liền) thì thấy từ biển về phía Đông, đất rộng mênh mông biết đâu là cùng, mà là những nước liên tiếp nhau. Trên bản đồ nhất thống, vạch một đường tuyến từ Bắc Cực qua Phúc Đảo đến Nam Cực, rồi lây đường tuyến ấy làm mốc (biểu) độ số đường ngang, thì gồm hai mối đầu đuôi của 360 độ

Có người hỏi: quả địa cầu không có Đông Tây, sao trong địa đồ lại có các địa phương Đông Dương, Tây Dương; chẳng hóa lầm ư? Xin đáp rằng: người khéo họa đồ ấy đã lấy nước lớn làm chủ, rồi xem bên tả, bên hữu nước lớn ấy, đặt tên biển và tên các địa phương, vả như: Âu La Ba (châu Âu) thì thấy Á Mặc Li Gia (châu Mỹ) làm phía Tây, lấy châu Á Tê Á (Châu Á) làm phía Đông, cho nên vẽ Á Mặc Lị Gia ở phía hữu, và Á Tê Á ỏ phía tả. Như Trung Hoa (thuộc châu Á Tê Á) thì phải vẽ Âu Ba La và Lị Mạt Á ở phía hữu mà Nam và Bác Á Mặc Lị Gia ở phía tả. Vì, nếu không vẽ thế thì tên các địa phương sẽ lẫn lộn.

Sách Sơn hải toàn đồ chú giải rằng: "Đất với biển vốn hình tròn mà hợp làm một ở trong thiên cầu, Trời đã bọc đất thì trời đất ứng nhau: cho nên trời có Nam Bắc hai cực, đất cũng có Nam Bắc hai cực như vậy; trời chia làm 360 độ, thì đất cũng chia làm 360 độ. Trong thiên cầu có đường xích đạo; từ xích đạo xuông Nam 33 độ 1/2 là Nam Hoàng đạo; từ xích đạo lên phía Bắc 33 độ 1/2 là Bắc Hoàng đạo.

Cứ như Trung Quôc ở về phía Bắc Bắc Hoàng đạo, mặt trời đi theo đường xích đạo thì ngày đêm bằng nhau; đi về nam đạo thì ngày ngắn, đi về bắc đạo thì ngày dài. Cho nên, về thiên cầu có bản đồ ngày đêm bằng nhau ở giữa, lại có hai bản đồ ngày ngắn và ngày dài ở nam và ở bắc để tỏ rõ bóng mặt trời đi. Địa cầu cũng có ba bản đồ tương ứng như thế ở dưới. Duy trời bọc ngoài đất rất to, độ rộng; đất ở trong trời rất nhỏ, độ hẹp. Do đó độ số khác nhau. Bề rộng trong thiên hạ, bắt đầu từ Phúc Đảo, gồm có 10 độ, rồi đến 360 độ lại tiếp liền nhau. Thử xét như Nam Kinh cách trung tuyến trở lên là 32 độ, cách Phúc Đảo sang Đông là 120 độ, rồi ở yên đó. Phàm các vùng trên mặt địa cầu, từ trung tuyến trở lên đến bắc cực thì thực là bắc phương, từ trung tuyến trở xuống thì thực là nam phương”.

Nhà Phật nói Trung Quốc ở Nam Thiểm Bộ châu; và kể cả số đất của Tu Di Sơn (kinh Phật nói là Tuyết Sơn - Hymalaya) ở trong ngoài mặt đất, thì đủ biết là lầm.

19. Từ sau sách Sử kýHán thư, người nói đến phân dã đều cho là sao Nữ sao Ngưu là phân dã các nước Ngô, Việt; sao Dực, sao Chẩn là phân dã các nước Kinh, Sở. Lưỡng Quảng tuy là đất Việt nhưng giới hạn có phân biệt; Địa lý chí đời Tiền Hán cho là các quận thuộc về Uất Lâm, Thương Ngô ở về phía Tây tỉnh Việt (Việt Đông là Quảng Đông, Việt Tây là Quảng Tây) thì đều thuộc phân dã sao Ngưu, sao Nữ. Các nhà học giả Đỗ Hựu, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha đã phân biệt rõ ràng. Nhà sư Nhất Hành lại có thuyết lưỡng giới (hai cõi): lấy phía Đông bắc nước Việt tiếp giáp nước Ngô thuộc Tinh Kỷ (phân dã sao Ngưu, sao Đẩu) phía Tây nước Việt đến nước Sở thuộc sao Thuần Vĩ. Bạch Quì Kham đời Tống đà càn cứ vào đó mà khảo luận, không còn nghi hoặc gì nữa.

Thế thì tỉnh Quảng Đông là khu vực Dương Châu, mà các tỉnh Yên Quảng, Hải Dương cùng Sơn Nam Hạ Lộ nước Việt Nam ta đều thuộc về chi điều ấy, nên thuộc phân dã sao Nữ. Tỉnh Quảng Tây là khu vực Kinh Châu, mà các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Kinh Bắc cùng Sơn Nam Thượng Lộ nước Việt Nam ta đều thuộc chi điều ấy, nên thuộc phân dã sao Chẩn.

Nơi nào gần phương Đông thì ấm nhiều, rét ít, hàng năm ruộng cấy hai mùa; nơi nào gần phương Tây thì nóng rét bằng nhau, mỗi năm ruộng chỉ cấy được một mùa; vì Khí hậu các nơi ấy khác nhau. Đến như Vân Nam là khu vực Dương Châu; các xứ ở nước ta như Tuyên Quang, Hưng Hóa đến mãi Sơn Tây, mãi đến phía hữu liên tiếp Thanh Hóa, Nghệ An, đều là dư Khí (khí dư dật) của khu vực ấy nên đều thuộc phân dã sao Quỉ.

Sách Vĩ thư khảo linh diệu có nói: “Mỗi một độ là 2.932 dặm có lẻ"; vậy phủ Thái Bình thuộc tỉnh Quảng Tây, thuộc phân dã độ thứ 13 sao Chẩn; ở về nước ta, các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Kinh Bắc, và Sơn Nam Thượng Lộ ước chừng đứng vào độ thứ 14 phân dã sao Chẩn. Phủ Liêm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông đứng vào độ thứ 6 phân dã sao Nữ; ở nước ta thì các xứ Yên Quảng, Hải Dương, Sơn Nam Hạ Lộ ước chừng đúng vào độ thứ 7 phân dã sao Nữ.

Các loại sách thiên văn trong Minh chí cho các châu Cao, Hóa, ở tỉnh Quảng Đông thuộc phân dã sao Ngưu, sao Nữ, còn các châu Khâm, châu Liêm thuộc phân dã sao Dực, sao Chẩn. Ta nghi rằng: châu Liêm là đất quận Hợp Phố phía Nam liền ngay bờ biển phải thuộc về dư chi sao Thuần Vĩ, là phân dã sao Tinh Kỷ, mà phía hữu thì vào đến một khoảng ở giữa các phủ Thái Bình và Nam Ninh, không thể kéo ra phía ngoài biển được. Vả lại, Ngô Châu thuộc phân dã sao Nữ, còn hai huyện Bác Bạch, Lục Châu thuộc phủ ấy, đều có đường thông vào xứ Yên Quảng nước ta; Khâm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông lại giáp giới với châu Vạn Ninh thuộc tỉnh Yên Quảng nước ta. Xem thế đủ biết nó phải đứng vào phân dã sao Nữ.

20. Sách Sơ học ký (Bộ bách khoa thư đời Đường do Từ Kiên chủ biên) chép rằng: “Việc chế tạo ra "lậu khắc” (dụng cụ đo thời giờ bằng nước rỏ giọt) có từ thời Hoàng đế, truyền đến đời nhà Hạ, nhà Thương". Theo phép ấy, sáng sớm tiết Đông chí, giọt nước chảy đến khắc 45, sau tiết Đông chí thì ngày dài, cứ 9 ngày dài thêm một khấc; sáng sớm ngày tiết Hạ chí giọt nước chảy đến khắc 65, sau tiết Hạ chí thì ngày ngắn, cứ 9 ngày giảm đi một khắc”.

Dụng cụ dùng nước xem giờ ấy có ba tầng tròn, đường kính đều một thước, để trên cái thùng hứng nước (trì chù) hình khối vuông, có con rùa vàng miệng phun nước vào thùng hứng nước, nước chảy ngang dọc lại chảy xuống cái chứa nước để ngang ở dưới, gọi là cái cừ, trên cái cừ ấy, có đặt hình người tên là quan tư thần (giữ việc giờ, khắc) đúc bằng vàng, mặc đủ áo mũ, hai tay cầm cái tên. Ấy là phép "lậu khắc” (xem giờ bằng giọt nước) của Ân Quỳ.

Còn một phép nữa: Lấy đồng đúc một con quạ khát nước, gọi là khát ô (ống đồng uốn khúc lấy hơi dẫn nước lên), hình như cái móc câu uốn khúc, dẫn nước vào mồm con rồng bạc để nó phun vào chậu đựng nước; cứ nước chảy xuống được 1 thưng, trọng lượng hai căn là một khắc. Ấy là phép "lậu khắc” của Lý Lan.

Hà Thừa Thiên đời Tống đã cải tiến phép ấy, định lại là hai ngày Xuân phân và Thu phân sớm tối, ngày đêm đều 55 khắc、

Đến đời Lương, Vũ đế cho ngày đêm có 100 khắc, đem phân phối cho 12 giờ, mỗi giờ 8 khác thì còn có phần thừa, nên chỉ lấy 96 khắc cho cả ngàv lẫn đêm, số 96 ấy chia làm 12 giờ, thì mỗi giờ chẵn 8 khắc. Đến năm Đại đồng thứ 10 (544) lại đổi làm 108 khắc. Tiết Đông chí, giờ ban ngày 48 khắc, giờ ban đêm 60 khắc, Tiết Hạ chí, giờ ban ngày 70 khắc, giờ ban đêm 38 khắc. Ngày Xuân phân, Thu phân, giờ ban ngày 60 khắc, giờ ban đêm 48. Còn các số buổi tối, buổi sáng đều là 3 khắc. Đến đời Trần lại phục hồi phép cổ cả ngày lẫn đêm là 100 khắc.

Đời Đường lại chế ra phép “Thủy hải phù tiễn" (tên nôi trong biển nước), có bôn cái thùng rót nước, lấy tên nổi lên chia ra khắc; chia ngày đêm làm 12 giờ, mỗi giờ 8 khắc, 30 phân; mỗi khắc 60 phân, cộng 48 cái ten; 2 cái tên là một khí; một năm cộng có 2,191.500 phân đều khắc ở trên cái tên; có con quạ bằng đồng dẫn nước xuống, tên nổi lên; đến chỗ phân biệt ngày đêm, chia tiết hậu, ngày chí (Hạ chí, Đông chí); mùa hạ ngày dài, mùa đông ngày ngắn, buổi sớm, buổi tốì, lúc ẩn, lúc hiện, đều đúng với cách đo bóng của sách Chu quan không sai chút nào. Cách thức chế tạo của đời Tống, đời Nguyên, không giống nhau, nhưng đều lấy 100 khắc làm phép áp dụng cả.

Sách Tam tài đồ hội (bách khoa thư, Vương Kỳ đời Minh soạn) có dẫn các sách nói về nguồn gốc Khí hậu. Sách Xuân thu nội sự nói: “Vua Phục Hi đặt ra tám tiết, vạch ra hào để ứng với tiết hậu”. Sách Tấn lịch chí nói: “Vua Viêm đế chia một năm làm tám tiết, trước hết là công việc nhà nông. Đổng Ba nói: “Vua Phục Hi đặt ra tám quẻ, mỗi quẻ ba vạch để tượng trưng 24 Khí tiết. Thiên Nguyệt lệnh trong sách Lễ ký có chua rằng: “Chu công làm ra phép xem giờ, định ra 24 khí, 72 tiết hậu. Vậy thì phép xem Khí hậu đã được đặt ra từ vua Phục Hi trước, rồi đến Chu công định lại sau: Cứ năm ngày là một tiết hậu, một tháng có sáu tiết hậu, 5 nhân với 6 là 30 ngày (6x5 = 30), ba tiết hậu là một Khí có 15 ngày.

21. Phép định tiết Khí ngày giờ

Tiền cửu niên suy hậu cửu thông,

Can thực chi xung tiết Khí đồng,

Nhuận nguyệt tất định vô trung khí,

Thử pháp ư quân tối hữu công.

Dịch nghĩa;

Suy tính chín năm trước, thì biết được chín năm sau,

Can thực chi xung, thì cùng một tiết khí,

Tháng nhuận chắc chắn được định là không có trung khí,

Phép ấy dạy người rất có công.

Thí dụ: Năm Kỷ Hợi, ngày Nhâm Tuất là tiết Lập xuân, thì (chín năm sau là) năm Đinh Mùi, ngày Giáp Thìn sẽ cũng là tiết Lập xuân. Nhâm là thủy sinh Giáp là mộc, là thực thần; Thìn xung Tuất; thế là "Can thực chi xung". Còn những tiết khác, theo đó mà tính.

22. Phép định tiết Khí thời khắc:

Kim niên Vũ thủy, mính niên xuân

Thiên can bất động gia lưỡng thần,

Dịch nghĩa:

Xuân năm nay là tiết Vũ thủy, thì sang năm là tiết Lập xuân,

Không động gì đến thiên can, chỉ gia thêm hai địa chi giờ (thời thần).

23. Tính 24 khí, cũng phỏng theo phép này.

Thời gia tam khắc vạn niên linh,

Dịch nghĩa:

“Án giờ thêm 3 khắc dẫu muôn năm cũng không sai”.

Thí dụ: Năm nay ngày mồng ba tháng Giêng là ngày Canh Thân, một khắc đầu giờ Ngọ là tiết Vũ Thủy từ ngày Canh Ngọ không động đến thiên can (là Canh) chỉ gia thêm 2 giờ là Tuất, tức ngày Canh Tuất (tháng Giêng) sang năm là tiết Lập xuân. Lại như: một khắc đầu giờ Tí, là tiết Vũ Thủy thì khắc thứ ba đầu giờ Tí, sẽ là tiết Lập xuân.

24. Phép xem giờ khắc mặt trời mọc, lặn.

Giờ Mặt Trời mọc

a. Giờ Dần:

Hạ Chí, giữa giờ Dần, 2 khắc.

Mang Chủng, Tiểu Thử, giữa giờ Dần, 3 khắc.

Tiểu Mãn, Đại Thử, giữa giờ Dần, 4 khắc.

b. Giờ Mão:

Lập Hạ, Lập Thu, đầu giờ Mão, 1 khắc.

Cốc Vũ, Xử Thử, đầu giờ Mão, 2 khắc.

Thanh Minh, Bạch Lộ, đầu giờ Mão, 3 khắc.

Xuân Phân, Thu Phân, đầu giờ Mão, 4 khắc.

Kinh Trập, Hàn Lộ, giữa giờ Mão, 1 khắc.

Vũ Thủy, Sương Giáng, giữa giờ Mão, 2 khắc.

Lập Xuân, Lập Đông, giữa giờ Mão, 3 khắc.

Đại Hàn, Tiểu Tuyết, giữa giờ Mão, 4 khắc.

c. Giờ Thìn:

Tiểu Hàn, Đại Tuyết, đầu giờ Thìn 2 khắc.

Đông Chí, đầu giờ Thìn 1 khắc.

Giờ Mặt Trời lặn

d. Giờ Thân:

Đông Chí, giữa giờ Thân, 2 khắc.

Tiểu Hàn, Đại Tuyết, giữa giờ Thân, 3 khắc.

Đại Hàn, Tiểu Tuyết, giữa giờ Thân, 4 khắc.

e. Giờ Dậu:

Lập Đông, Lập Xuân, đầu giờ Dậu, 1 khắc.

Vũ Thủy, Sương Giáng, đầu giờ Dậu, 2 khắc.

Kinh Trập, Hàn Lộ, đầu giờ Dậu, 3 khắc.

Xuân Phân, Thu Phân, đầu giờ Dậu, 4 khắc.

Thanh Minh, Bạch Lộ, giữa giờ Dậu, 1 khắc.

Cốc Vũ, Xử Thử, giữa giờ Dậu, 2 khắc.

Lập Hạ, Lập Thu, giữa giờ Dậu, 3 khắc.

Tiểu Mãn, Đại Thử, giữa giờ Dậu, 4 khắc.

f. Giờ Tuất:

Mang Chủng, Tiểu Thử, đầu giờ Tuất 2 khắc.

Đại Thử, đầu giờ Tuất 1 khắc.

25. Tiết vị lai nguyệt sóc tiết khí quyết

(Nắm lấy bí quyết xem tiết khí ngày mồng Một đầu tháng sắp tới)

Bí quyết này có 12 câu thơ thất ngôn:

Nguyệt sóc nguyên lai tự cổ hữu

Tiền cửu tương lai giữ hậu cửu.

Đại nguyệt ngũ can liên, cửu chi,

Tiểu nguyệt tứ can bát chi ngẫu.

Lục lục chi niên, tử tế suy,

Nhiệm quân tẩu tận kỷ hàn lộ;

Tiện tố kim niên lập xuân số;

Toán lai hữu bản vô sai ngộ.

Tứ thập thất niên tiền hữu nhuận,

Nhuận tiền nhị nguyệt định kim phùng,

Phân hào bất lậu chân tiêu tức

Tận tại tiên sinh chưởng át trung.

Dịch nghĩa:

Ngày sóc (mồng một đầu tháng) từ xưa nguyên vẫn có.

Chín năm trước tính đến chín năm sau,

Tháng đủ tính theo năm can và chín chi,

Tháng thiếu tính theo bốn can và tám chi.

Cái năm sáu sáu suy cho kỹ,

Trải qua mấy tiết Hàn lộ,

Thì định được ngày tiết Lập xuân năm nay.

Tính như thế đã có căn bản không thể sai lầm.

Bốn mươi bảy năm trước có tháng nhuận,

Thì năm nay nhuận, trước hai tháng;

Một phân một hào không sót tí gì,

Đều ở trong tay thầy toán số.

Giả như năm Mậu Tí, tháng Giêng là tháng thiếu, mà ngày mồng một là ngày Ất Dậu; can Ất đến can thứ tư là Mậu, chi Dậu tính đến chi thứ tám là Thìn (xem câu thơ thứ tư ở trên), thì biết ngày sóc tháng Giêng năm Bính Thân (9 năm sau) là ngày Mậu Thìn.

Tháng Hai năm Mậu Tí là tháng đủ mà ngày mồng Một là ngày Giáp Dần; từ Giáp tính đến can thứ năm là can Mậu, từ chi Dần tính đến chi thứ chín là chi Tuất (xem câu thơ thứ 3 ở trên), thì ngày Sóc tháng 2 năm Bính Thân (9 năm sau) là ngày Mậu Tuất. Còn những năm khác theo thế mà tính.

Lại có bí quyết rằng;

Chính nguyệt sơ nhất nhật thìn thuyết,

Cửu niên nhị nguyệt thập ngũ đồng.

Nhị nguyệt sơ nhất, nhật thìn vị,

Tức thị cửu niên nhị nguyệt trung.

Dịch nghĩa:

Mồng một tháng Giêng là ngày Thìn,

Thì rằm tháng Hai chín năm sau cũng là ngày Thìn.

Mồng một tháng Hai là ngày Thìn,

Thì rằm tháng Hai chín năm sau cũng là ngày Thìn,

Phép này rất đúng.

Duy có tiết Khí nào ở vào rằm tháng nhuận, thì nên tính lui lại một ngày, còn những tháng khác tương đối không sai.

26. Luận về tiết Lập xuân. Đem những thời khắc ngày tiết Hàn lộ từ 36 về trước đối chiếu với thời khắc tiết Lập Xuân năm nay không sai chút nào.

Luận về tháng nhuận. Xem tháng nhuận 47 năm về trước, lại gia thêm hai tháng, thì biết năm nay nhuận tháng nào. Thí dụ: Năm Canh Thìn trước, nhuận tháng tám, tính đến năm Bính Dần (47 năm về sau; xem câu thơ thứ chín ở trên), gia thêm hai tháng, tức là nhuận tháng Mười.

27. Sáu mươi hoa giáp chia làm đôi, từ Giáp Tí, Ất Sửu thuộc Kim, đến Nhâm Thìn, Quí Tị thuộc Thủy, cộng 30 hoa giáp. Lại từ Giáp Ngọ, Ất Mùi thuộc Kim, đến Nhâm Tuất, Quí Hợi thuộc Thủy cũng 30 hoa giáp.

Chính cung, đối cung; Kim rồi Hỏa, Hỏa rồi Thủy, đều giống nhau.

28. Về nghĩa Lục thập Giáp Tí nạp âm, trong sách Tứ thư đại toàn và tiểu chú, chương thiên thời, địa lợi, sách Mạnh Tử có dẫn thuyết Tam xa nhất lãm (xem qua đủ hiểu) nhưng chưa được minh bạch.

Xét sách Thụy quế đường hạ lục, thấy có nói: “Âm luật lấy số nhất với lục làm hành thủy; nhị với thất làm hành hỏa; tam với bát làm hành mộc; tứ với cửu làm hành kim; ngũ với thập làm hành thổ. Trong ngũ hành, chỉ kim, mộc là có âm tự nhiên, còn thủy, hỏa, thổ phải nhờ nhau mới thành âm được: thủy nhờ thổ, hỏa nhờ thủy, thổ nhờ hỏa. Cho nên: kim âm là tứ cửu; mộc âm là tam bát; hỏa âm là nhị thất; thủy âm là nhất lục; thổ âm là ngũ thập.

Giáp, Kỷ, Tí, Ngọ là số 9;

Ất, Canh, Sửu, Mùi là số 8;

Bính, Tân, Dần, Thân là số 7;

Đinh, Nhâm, Mão, Dậu là số 6;

Mậu, Quí, Thìn, Tuất là số 5;

Tỵ, Hợi là số 4.

Giáp Tí, Ất Sửu 34 số (9+9+8+8), là âm của tứ (4) kim, cho nên gọi là kim;

Mậu Thìn, Kỷ Tị 23 số (5+5+9+4), là âm của tam (3) mộc, cho nên gọi là mộc.

Canh Ngọ, Tân Mùi 32 số (8+9+7+8), nhị là âm hỏa (2), Thổ lấy hỏa làm âm, cho nên gọi là Thổ.

Giáp Thân, Ất Dậu 30 số (9+7+8+6), thập là thổ (10), thủy lấy thổ làm âm, cho nên gọi là thủy. Mậu Tí, Kỷ Sửu 31 số, nhất là số thủy, hỏa lấy thủy làm âm,cho nên gọi là hỏa.

Sáu mươi hoa giáp đều thế, vì đó mới là nạp âm. Lục thập Giáp Tí là lịch, nạp âm là luật, chi là nạp âm phân biệt ra.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vân Đài Loạn Ngữ

Cẩm nang phong thủy tuổi Ất Mão 1975 –

Người tuổi Ất Mão sinh từ ngày 11/2/1975 đến 30/1/1976. Mèo là đại diện của tuổi Mão, được xếp ở vị trí thứ 4 trong 12 địa chi. Xét theo góc độ thời gian thì đó là khoảng từ 5 đến 7 giờ, về phương vị thì là hướng Chính Đông. Nếu lấy 4 mùa để phân chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Ất Mão sinh từ ngày 11/2/1975 đến 30/1/1976. Mèo là đại diện của tuổi Mão, được xếp ở vị trí thứ 4 trong 12 địa chi. Xét theo góc độ thời gian thì đó là khoảng từ 5 đến 7 giờ, về phương vị thì là hướng Chính Đông. Nếu lấy 4 mùa để phân chia thì vào khoảng tháng 3 Dương Lịch, tức là khoảng tháng 2 Âm Lịch.

Bằng cách vận dụng phong thủy hợp lý, người tuổi Ất Mão 1975 có thể dùng linh vật phong thủy, đá quý phong thủy để bài trí nhà cửa, thu hút vận may, rước tài lộc vào nhà. Tuy nhiên linh vật phong thủy, hay đá phong thủy đó gồm những gì thì không phải ai cũng biết, cũng như tuổi Ất Mão hợp hướng, hợp màu…Hay những con số mang lại may mắn đối với tuổi này là số nào nhiều người cũng chưa biết. Để cùng trả lời câu hỏi mà nhiều người thắc mắc thì chúng tôi có viết bài viết về cẩm nang phong thủy tuổi Ất Mão 1975 để mọi người cùng đọc.

Nội dung

  • 1 1. Tổng quan tính cách tuổi Ất Mão 1975
  • 2 2. Sinh năm 1975 mệnh gì? hợp màu gì?
  • 3 3. Ất Mão hợp tuổi nào?
  • 4 4. Phật bản mệnh tuổi Ất Mão
  • 5 5. Ất Mão trồng cây gì? hợp con số nào?
  • 6 6. Đá quý phong thủy tuổi Ất Mão 1975
  • 7 7. Linh vật & Vật phẩm phong thủy cho tuổi Ất Mão
  • 8 8. Hướng tốt, hướng xấu tuổi Ất Mão
    • 8.1 8.1. Hướng tốt, hướng xấu cho Nam Ất Mão
    • 8.2 8.2. Hướng tốt, hướng xấu cho nữ Ất Mão

1. Tổng quan tính cách tuổi Ất Mão 1975

Mèo là loài động vật nhu mì, trong văn hóa phương Đông, mèo thường tượng trưng cho cát tường. Chúng nhỏ nhắn, thanh tú và đáng yêu.

Mèo cũng là loại động vật săn mồi, có cái khéo léo và dũng mãnh riêng, tuy nhỏ bé nhưng khôn ngoan, nhẫn nại và nhanh nhẹn, khó loài động vật hung dữ nào có thể uy hiếp được mèo.

Mèo cũng là người bạn, vật nuôi trong nhà của con người.

Người tuổi Mão là những người tinh tế, gần gũi, lịch sự và quý phái, tuy nhiên đôi khi tuổi Mão bị cho là lạnh lùng và kiêu ngạo.

Người tuổi Mão thường gây ấn tượng với người khác bằng sự tinh tế, duyên dáng, nhạy cảm của mình. Họ là những người lãng mạn trong tình yêu, hòa đồng trong các mối quan hệ và đặc biệt rất cầu toàn.

Tuổi Mão rất khéo léo trong đối nhân xử thế, họ biết lắng nghe hoặc thậm chí chấp nhận thua trong các cuộc cãi vã để đổi lấy sự hòa giải, chính vì điều này mà người tuổi Mão ít khi có kẻ thù.

Tuổi Mão rất mến khách, nếu làm việc chung với người tuổi Mão, bạn sẽ thấy họ là người chuyên nghiệp, có định hướng và làm việc rất hiệu quả. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người tuổi Mão thường do dự để đánh mất những cơ hội lớn.

Điểm mạnh của người tuổi Mão: Lịch sự, tinh tế, nhân ái, nhã nhặn, khiêm tốn.

Điểm yếu của người tuổi Mão: Đa tình, hay do dự, bướng bỉnh.

2. Sinh năm 1975 mệnh gì? hợp màu gì?

Ất Mão sinh năm 1975 mệnh Thủy (Đại Khê Thủy)

Mệnh Thủy hợp màu gì?

Dựa vào đặc tính và ý nghĩa của mệnh Thủy và quy luật tương sinh tương khắc của Ngũ hành, mệnh Thủy hợp với màu sắc của hành Kim, vì Kim sinh Thủy nên đây là mối quan hệ tương sinh, những màu sắc này là màu trắng, màu xám, màu ghi.

Mệnh Thủy cũng hợp với màu của hành Thủy, vì Thủy với Thủy là mối quan hệ tương hợp, những màu sắc này là màu đen, màu xanh nước biển.

Mệnh Thủy không hợp với màu sắc của hành Hỏa, vì Thủy khắc Hỏa là mối quan hệ tương khắc, những màu sắc này là màu đỏ, cam và tím. Tương tự như vậy, mệnh Thủy cũng không hợp với màu sắc của hành Thổ, vì Thổ khắc Thủy, những màu này là màu vàng, nâu đất, nâu nhạt.

Ngoài ra, người mệnh Thủy không nên chọn màu thuộc hành Mộc, vì Thủy sinh Mộc tuy là mối quan hệ tương sinh, nhưng Thủy mất đi năng lượng để hỗ trợ cho Mộc, nên trong trường hợp này sẽ làm người mệnh Thủy bị tiêu hao năng lượng. Màu sắc thuộc hành Mộc là màu xanh lá cây.

3. Ất Mão hợp tuổi nào?

Tam hợp: Ất Mão hợp với người tuổi Hợi (Heo) và tuổi Mùi (Dê). Những tuổi này có rất nhiều điểm tương đồng, họ rất hòa hợp và hiểu nhau, cuộc sống sẽ trở nên đầy màu sắc như một cuốn truyện do chính họ tạo nên, vì vậy mà mối quan hệ luôn được làm mới. Họ biết cách thấu hiểu, lắng nghe và thông cảm cho nhau. Các cặp đôi này thường chu đáo, ân cần, khoan dung, đó là chìa khóa cho một cuộc hôn nhân viên mãn, hạnh phúc.

Tứ hành xung: Người tuổi Ất Mão không hợp những người tuổi Tý (Chuột), Ngọ (Ngựa), Dậu (Gà). Sự kết hợp của những tuổi này thường tạo ra nhiều mâu thuẫn, khó hòa giải.

4. Phật bản mệnh tuổi Ất Mão

Người tuổi Ất Mão được sự phù hộ độ trì của Phật bản mệnh Bồ Tát Văn Thù.

Trong giới Bồ Tát của Phật giáo, Bồ Tát Văn Thù là Phật bản mệnh của người tuổi Mão, có địa vị hiển hách, uy danh lẫy lừng. Tên tiếng Phạn của ngài là Manjusri, dịch âm là Văn Thù Sư Lợi.

Bồ Tát Văn Thù biểu thị ý nghĩa của trí tuệ Phật Đà, đó là hình tượng nhân cách hóa của trí tuệ. Các bậc đại sư Phật giáo ở Ấn Độ và Tây Tạng đều lấy Bồ Tát Văn Thù làm Bản tôn tu trì.

Như đại Luận sư Nguyệt Xứng và Đại sư Tông Khách Ba nổi tiếng về tư tưởng Trung quán đều coi Bồ Tát Văn Thù là Bản tôn tu trì.

Phật giáo cho rằng, tu trì pháp môn của Bồ Tát Văn Thù có thể nhanh chóng đạt được sự gia trì, từ đó dễ dàng có được trí tuệ thế gian và xuất thế gian.

5. Ất Mão trồng cây gì? hợp con số nào?

Con số may mắn của tuổi Ất Mão là số 3, 4 và 9. Con số không may mắn của Ất Mão là số 1, 7 và 8.

Người tuổi Ất Mão hợp trồng cây Kim Ngư Thảo (snapdragon), cây hoa lưu niên, cẩm nhung.

 

6. Đá quý phong thủy tuổi Ất Mão 1975

Người tuổi Ất Mão sinh năm 1975, có ngũ hành năm sinh là Đại khê Thủy, hợp với đá quý màu trắng, đen và xanh dương như đá mặt trăng, đá aquamarine, lapis lazuli, kyanite, topaz, thạch anh khói, đá mắt hổ xanh đen (mắt hổ chim ưng).

Đá mặt trăng: Theo quan niệm tôn giáo của Hindu, đá mặt trăng được tạo thành từ những tia sáng ánh trăng ngàn năm kết tụ lại. Nhiều nền văn hóa cổ đại khác cũng có những truyền thuyết tương tự. Người xưa tin rằng, ánh sáng của mặt trăng qua hàng nghìn năm xuyên thấu vào lòng đất, ngưng tụ lại và tạo thành những viên đá, những viên đá này toát ra ánh sáng xanh trông giống như ánh trăng xuyên qua những đám mây trong đêm.

Đá Aquamarine: Tên gọi Aquamarine bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là nước biển. Người Latin cổ đại tin rằng Aquamarine là viên đá của thần biển, những ngư dân khi ra khơi đánh cá thường mang bên mình trang sức được làm từ loại đá này để được bình yên trước những con sóng dữ.

Đá Lapis Lazuli: Đá lapis lazuli là một loại đá quý được con người biết đến và yêu thích từ thời cổ đại, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra lapis lazuli trong những kho báu được chôn cất trong những ngôi mộ cổ cách đây hàng nghìn năm ở Mesopotamia, Ai Cập, Trung Quốc, Hy Lạp và Rome (Italy).

Đá Topaz: Mỗi viên đá topaz, dù mang màu sắc lạnh hay nóng, chúng cũng luôn toát lên vẻ đẹp rực rỡ rất riêng.

Đá mắt hổ: đá mắt hổ có tác dụng giữ vững tinh thần, tích tụ tài bảo; tăng cường ý chí và lòng dũng cảm, niềm tin, giúp những người nhút nhát trở nên mạnh mẽ. Đeo vòng tay đá mắt hổ có tác dụng tăng cường sức sống, phù hợp với những người thân thể yếu đuối, bệnh lâu ngày không khỏi. Hơn nữa, còn giúp tăng cường trí lực, hiểu thấu đáo mọi vấn đề, kiên trì và giữ vững nguyên tắc.

Lưu ý

Các loại đá quý đa sắc có thể đeo cho tất cả các mệnh như tourmaline đa sắc, thạch anh đa sắc, đá melody (super seven)…

Các loại đá quý không màu như kim cương, zircon không màu… có thể đeo cho tất cả các mệnh

Các loại đá quý có nguồn gốc hữu cơ như ngọc trai, ngà voi, mai rùa có thể đeo cho tất cả các mệnh

7. Linh vật & Vật phẩm phong thủy cho tuổi Ất Mão

Phật Tổ Như Lai
Phật Di Lặc
Văn Thù Bồ Tát (Phật bản mệnh tuổi Mão)
Tỳ Hưu
12 con giáp
Vòng tay phong thủy
Thiềm thừ (Cóc tài lộc)
Chúa gê-su…

8. Hướng tốt, hướng xấu tuổi Ất Mão

8.1. Hướng tốt, hướng xấu cho Nam Ất Mão

Nam Ất Mão sinh năm 1975

Cung mệnh: Đoài thuộc Tây tứ trạch

Mệnh nạp âm: Đại khê Thủy


Hướng tốt theo Bát trạch:

Hướng Tây (Đoài): Được Phục vị, Phù Bật Thủy tinh.
Hướng Đông Bắc (Cấn): Được Phúc Đức, Vũ Khúc Kim tinh.
Hướng Tây Nam (Khôn): Được Thiên y, Cự Môn Thổ tinh.
Hướng nhà, giường ngủ, cửa phòng bếp, bàn thờ: Tây, Đông Bắc, Tây Nam.
Nhà vệ sinh, bếp: Nhâm, Ất, Quý, Đinh.
Chọn vợ, chồng hoặc đối tác làm ăn: Thuộc Tây tứ mệnh.

Sử dụng và bài trí các linh vật theo la bàn phong thủy để được may mắn và bình an:

Về mặt sức khỏe: Đặt một bình hoa to trong phòng khách và phòng ngủ, treo tranh hình chim hạc theo hướng sao tốt.

Về mặt trí tuệ: Đặt Tâm kinh , tháp Văn Xương theo hướng sao tốt.

Về mặt công danh sự nghiệp: Đặt quả cầu thủy tinh, treo xâu tiền cổ Ngũ đế hướng Phúc Đức, Phục vị.

Về mặt tài lộc: Đặt một bể cá cảnh ở hướng Tây Nam hoặc treo bức tranh 7 con cá chép.

8.2. Hướng tốt, hướng xấu cho nữ Ất Mão

Nữ Ất Mão sinh năm 1975

Cung mệnh: Cấn thuộc Tây tứ trạch

Mệnh nạp âm: Đại khê Thủy


Hướng tốt theo Bát trạch:

Hướng chánh Tây (Đoài): Được Phước Đức, Vũ Khúc Kim tinh.
Hướng Tây Bắc (Càn): Được Thiên Y, Cự Môn Thổ tinh.
Hướng nhà, giường ngủ, hướng cửa bếp và bàn thờ: Tây, Tây Bắc.
Nhà vệ sinh, bếp nấu: Đinh, Ất.
Chọn vợ, chồng hoặc đối tác làm ăn: Thuộc Tây tứ mệnh.
Sử dụng và bài trí các linh vật theo la bàn phong thủy để được may mắn và bình an:

Về mặt sức khỏe: Treo bức tranh chữ Phúc hoặc Ngọc Pháp luân theo hướng sao tốt.

Về mặt trí tuệ: Đặt Tâm kinh hoặc tháp Văn Xương hoặc ngọn Trường minh đăng theo hướng Đông Bắc để hóa giải sinh khí kỵ.

Về mặt công danh sự nghiệp: Đặt tượng Mã thượng phong hầu bằng ngọc ở hướng Phúc đức, Phục vị.

Về mặt tài lộc: Đặt bể cá cảnh ở hướng Tây Nam, nuôi 5 hoặc 8 con cá vàng, đặt một con nghê bằng đồng quay đầu ra cửa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cẩm nang phong thủy tuổi Ất Mão 1975 –

MỐI QUAN HỆ CHA MẸ VÀ CON CÁI THEO NĂM SINH

Năm sinh con cái và năm sinh cha mẹ có mối liên hệ như thế nào

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nghệ sỹ Xuân Hinh có nói: " Còn nhỏ thì sợ mẹ sợ cha, lớn lên sợ vợ, về già sợ con ". Nếu con cái bất hiếu, không được nhờ vả về già thì thật bất hạnh. Mức độ hòa hợp giữa tuổi cha mẹ và con cái có ảnh hưởng, liên quan tới nhau thật hay không? Trên cơ sở, nghiệm lý, quan sát tỉ mỷ trong thực tiễn Ngô Bạch đã thống kê mức độ hòa hợp và bất hòa hợp giữa tuổi cha mẹ và con cái. Trên cơ sở đó, có thể vận dụng linh hoạt để xây dựng một gia đình hạnh phúc, xã hội phồn vinh...

 Xem tuổi con cái có hợp với tuổi cha mẹ hay không 

Cha mẹ tuổi Ngọ

Con cái tuổi Tý: Luôn xảy ra xung đột, tranh cãi

Con cái tuổi Sửu: Không hòa hợp, tuy con cái vẫn hiếu thuận

Con cái tuổi Dần: Cha mẹ nên để con cái tự chủ, tự do phát triển

Con cái tuổi Mão: Cha mẹ ít có thời gian chăm sóc con cái

Con cái tuổi Thìn: Gia đình hòa thuận, yên ấm

Con cái tuổi Tị: Con cái luôn có ý bất mãn

Con cái tuổi Ngọ: Đôi bên cùng hiểu thấu, tông cảm lẫn nhau

Con cái tuổi Mùi: Quan hệ đôi bên rất tốt

Con cái tuổi Thân: Quan hệ bình thường

Con cái tuổi Dậu: Con cái có ý bất mãn

Con cái tuổi Tuất: Con cái thường tự lo cho mình

Con cái tuổi Hợi: Quan hệ giữa hai thế hệ khá tốt đẹp

Cha mẹ tuổi Mùi

Con cái tuổi Tý: Luôn xung khắc, khó hòa hợp

Con cái tuổi Sửu: Có khoảng cách lớn giữa hai thế hệ

Con cái tuổi Dần: Con cái có ý bất mãn

Con cái tuổi Mão: Quan hệ bình thường

Con cái tuổi Thìn: Gia đình hạnh phúc

Con cái tuổi Tị: Cha mẹ có thể hy sinh tất cả vì con

Con cái tuổi Ngọ: Hai thế hệ gắn bó, quan hệ rất tốt

Con cái tuổi Mùi: Quan hệ bình thường

Con cái tuổi Thân: Quan hệ rất tốt, thường xuyên giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc và cuộc sống

Con cái tuổi Dậu: Hai bên khó dung hòa bởi quan niệm sống rất khác nhau

Con cái tuổi Tuất: Con cái có xu hướng muốn sớm thoát ly khỏi gia đình

Con cái tuổi Hợi: Con cái hiếu thảo, luôn luôn gánh vác trọng trách trọng yếu trong gia đình.

  Xem tuổi con cái có hợp với tuổi cha mẹ hay không

Cha mẹ tuổi Thân

Con cái tuổi Tý: Quan hệ hai thế hệ rất tốt đẹp

Con cái tuổi Sửu: Đôi bên có sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc, nên gia đạo rất hài hòa

Con cái tuổi Dần: Khó hòa thuận, luôn xung khắc và hay xảy ra cãi vã

Con cái tuổi Mão: Gia đình hạnh phúc yên vui

Con cái tuổi Thìn: Gia đình ấm êm, con cái hiển đạt

Con cái tuổi Tị: Con cái sớm trưởng thành và giúp đỡ nhiều cho cha mẹ

Con cái tuổi Ngọ: Rất khó hòa hợp

Con cái tuổi Mùi: Con cái luôn tin tưởng, và noi theo tấm gương của cha mẹ

Con cái tuổi Thân: Mọi người trong gia đình đều được quyết định chung

Con cái tuổi Dậu: Con cái luôn bất mãn

Con cái tuổi Tuất: Luôn xung khắc, rất khó hòa hợp

Con cái tuổi Hợi: Cha mẹ luôn cưng chiều, bảo vệ che chở cho con cái

Bói tên coi cái và tên vợ chồng xem ý nghĩa của tên những người trong gia đình bạn.

Cha mẹ tuổi Dậu

Con cái tuổi Tý: Khó hòa hợp, luôn bất đồng ý kiến

Con cái tuổi Sửu: Con cái có thể giúp đỡ hiệu quả đối với sự nghiệp của cha mẹ

Con cái tuổi Dần: Con cái luôn chống đối với cha mẹ, bất đồng quan điểm, ý kiến luôn

Con cái tuổi Mão: Con cái ngang bướng, không nghe lời cha mẹ

Con cái tuổi Thìn: Quan hệ rất tốt, trong ấm ngoài êm

Con cái tuổi Tị: Con cái luôn tranh cãi với cha mẹ

Con cái tuổi Ngọ: Thế hệ trẻ trong gia đình muốn sớm thoát ly khỏi gia đình

Con cái tuổi Mùi: Con cái bất hiếu, khiến cha mẹ thất vọng

Con cái tuổi Thân: Cha mẹ luôn tự hào về con cái

Con cái tuổi Dậu: Gia đình bất ổn, lúc nào cũng có việc để tranh cãi

Con cái tuổi Tuất: Cha mẹ không hiểu được con cái mình

Con cái tuổi Hợi: Con cái chỉ biết làm theo ý mình                           

Cha mẹ tuổi Tuất

Con cái tuổi Tý: Cha mẹ không có nhiều  thời gian  chăm sóc con cái

Con cái tuổi Sửu: Khó hòa thuận với nhau

Con cái tuổi Dần: Rất tốt, cha mẹ hy sinh tất cả cho con

Con cái tuổi Mão: Gia đình hòa thuận, êm ấm

Con cái tuổi Thìn: Con cãi bất mãn vì cha mẹ quá nghiêm khắc trong việc dạy dỗ

Con cái tuổi mùi: Khó hòa hợp với nhau

Con cái tuổi Thân: Gia đình thiếu bầu không khí thuận hòa, yên vui

Con cái tuổi Dậu: Con cái ngang bướng, không nghe lời cha mẹ

Con cái tuổi Tuất: Con cái hiếu thảo

Con cái tuổi Hợi: Gia đình yên ấm, an bình

Cha mẹ tuổi Hợi

Con cái tuổi Tý: Quan hệ rất tốt

Con cái tuổi Sửu: Cha mẹ rất cưng chiều và kỳ vọng ở thế hệ sau

Con cái tuổi Dần: Gia đình thuận hòa

Con cái tuổi Mão: Quan hệ tốt, nhưng con cái có chí hướng riêng, không hướng về gia đình

Con cái tuổi Thìn: Cha mẹ cưng chiều con cái, con cái cũng giỏi giang làm cha mẹ vẻ vang, rạng rỡ

Con cái tuổi Tị: Con cái hay làm phiền lòng, trái ý bề trên

Con cái tuổi Ngọ: Con cái muốn thoát ly gia đình, khiến cha mẹ buồn phiền, thất vọng

Con cái tuổi Mùi: Đôi bên cùng thấu hiểu, quan tâm, chăm sóc vun đắp gia đình hạnh phúc

Con cái tuổi Thân: Con cái thông minh, tài giỏi

Con cái tuổi Dậu: Con cái được chăm sóc tốt, và được cưng chiều

Con cái tuổi Tuất: Cha mẹ vì con mà làm tất cả

Con cái tuổi Hợi: Hai thế hệ rất gắn bó, chia sẻ, quan tâm đối với nhau hài hòa, chứa chan tình cảm

Xem thêm Xem tuổi con và xem tuổi cha mẹ có hợp nhau hay không?

Ngô Bạch


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: MỐI QUAN HỆ CHA MẸ VÀ CON CÁI THEO NĂM SINH

Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Bật mí những bí mật gia tăng vận đào hoa tuyệt diệu nhất trong ngày Rằm Tháng Giêng - Valentine phương Đông. Cách tăng vận đào hoa để tình yêu nảy nở
Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày Rằm Tháng Giêng ở Việt Nam còn gọi là ngày vía Phật Tổ, nhưng ít ai biết rằng Rằm Tháng Giêng còn được coi là mùa Valentine phương Đông. Thơ Đường xưa đã viết: "Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt", mùa trăng tròn lung linh sắc màu hoa đăng rực rỡ cũng là dịp nam thanh nữ tú thả đèn trời hẹn hò se duyên.


Dưới đây, ## xin được giới thiệu cho bạn đọc những bí mật gia tăng vận đào hoa tuyệt diệu nhất trong ngày Rằm Tháng Giêng này.



Bi quyet tuyet voi gia tang van dao hoa ngay Ram thang Gieng hinh anh

► Mời các bạn: Đổi ngày dương sang âm nhanh chóng và chuẩn xác nhất tại Lịch ngày tốt

Kiếm Phong

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Bật mí tính cách ẩn giấu trong tư thế ngủ của bạn

Ngủ là một nhu cầu và thói quen mà ai cũng trải qua sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi. Tư thế ngủ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn thể hiện
Bật mí tính cách ẩn giấu trong tư thế ngủ của bạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

tính cách đặc trưng của mỗi người.    

1. Tư thế ngủ như bào thai

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
Đây là tư thế ngủ phổ biến nhất. Với tư thế này, bạn thường nằm nghiêng một bên, hai chân cong lên như hình dáng em bé nằm trong bụng mẹ.    Theo quan điểm nhân tướng học, những người ngủ theo tư thế thai nhi thường cố tỏ ra cứng rắn để che đậy sự nhút nhát và nhạy cảm bên trong. Họ thấy mình cần được bảo vệ, thấu hiểu và đồng cảm.    Đồng thời, người ngủ theo tư thế này luôn cố gắng tránh xa các vấn đề phải đối mặt trong  cuộc sống. 

Có thể bạn chưa biết Những kiểu ngồi “tố” con người và vận mệnh phái đẹp
 

2. Tư thế ngủ khát khao, hi vọng

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
Ngủ theo tư thế này, bạn thường nằm nghiêng về một bên, hai tay đưa ra phía trước mặt.
 
Các nghiên cứu cho thấy, những người chọn vị trí ngủ này thường rất cởi mở với mọi người, luôn khát khao cái mới nhưng cũng rất đa nghi.   Họ thường mất nhiều thời gian cho một quyết định nào nhưng một khi đã lựa chọn, họ gần như không bao giờ thay đổi hay hối tiếc.  

4. Tư thế ngủ như khúc gỗ

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
Với tư thế này, bạn hay nằm nghiêng về một bên, chân và tay thẳng dọc theo cơ thể.   Những người ngủ thế tư thế này thuộc tuýp hòa đồng và luôn thích tham gia vào tất cả các hoạt động của tập thể cũng như cá nhân. Tuy nhiên, họ có một điểm yếu là cả tin nên dễ bị lừa.
Xem thêm: Tư thế ngủ cát tường của Phật giáo - vừa dưỡng sinh vừa tu hành 
 

5. Tư thế ngủ nghiêm trang như người lính trong quân đội

 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 
Đặc trưng của cách ngủ này là bạn thường nằm ngửa, duỗi thẳng người, cánh tay đặt xuôi thẳng xuống dưới. Tư thế nằm này giống với cách đứng nghiêm trang của những người lính trong quân đội.   Đa phần những ai có thói quen ngủ này đều rất trầm tính và kín đáo. Bạn sống nghiêm túc, ít nói, rất quy củ và quyết đoán.    Không những vậy, bạn còn đặt nhiều kỳ vọng cũng như tiêu chuẩn cao cho bản thân và những người xung quanh. Một khi xác định được mục tiêu phấn đấu, họ sẽ cố gắng đến cùng để chinh phục được nó.

Ngoài xem tướng ngủ, chúng ta cũng có thể luận bàn con người qua tướng ngồi.
 

6. Tư thế ngủ tự do

  Người ngủ theo tư thế này thường nằm úp bụng xuống giường, đầu nghiêng sang một bên và bàn tay đặt gần gối.   Nét nổi bật trong tính cách của những người ngủ theo tư thế “rơi tự do” là sự cá tính, thân thiện, cởi mở, thích giao du và vui vẻ.   Tuy nhiên, họ cũng rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương vì những lời chỉ trích của mọi người xung quanh.  
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 

7. Tư thế ngủ sao biển

  Sao biển là thói quen ngủ ít phổ biến nhất, biểu hiện là bạn thường nằm ngửa, hai cánh tay đưa lên đầu và chân đặt xuôi xuống phía dưới.   Có phong cách ngủ độc đáo này đa phần là người thuộc tuýp trung thành và tận tâm. Họ thường quan tâm đến người khác vô điều kiện và bạn bè luôn được ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống. Họ luôn sẵn sàng lắng nghe người khác và thường giúp đỡ khi cần.    Đồng thời, người có thói quen này cũng không thích là trung tâm của sự chú ý.
 
Bat mi tinh cach an giau trong tu the ngu cua ban hinh anh goc
 

 

8. Tư thế ngủ kết hợp giữa quân đội và sao biển

  Tính cách đặc trưng của người nằm ngủ theo tư thế này là linh hoạt, mềm dẻo.    Tuy nhiên, họ cũng thuộc tuýp người không có lập trường kiên định, có khuynh hướng dễ bị thuyết phục bởi những người khác.

Có thể bạn quan tâm: Tiết lộ vận mệnh cuộc sống qua dáng đi

 

9. Ôm chặt gối khi ngủ

  Dù ngủ ở bất kì vị trí nào, bạn cũng ôm chặt chiếc gối trong tay.   Chủ nhân của thói quen ngủ này luôn đề cao các mối quan hệ về tình bạn, gia đình cũng như xã hội. Họ có xu hướng  trở thành những người vui nhộn và luôn cố gắng giúp đỡ người khác thay vì bản thân mình.   Tuy nhiên họ dễ bị hoảng hốt, buồn bực, khó chịu và oán trách lung tung. Họ không biết cách giải tỏa tinh thần cho thoải mái nên thần kinh thường hay căng thẳng và có phản ứng thái quá khi đối mặt với những việc nhỏ nhặt trong cuộc sống.  

11. Ngủ hay ngáy

  Đây không phải là một tư thế ngủ nhưng nó cũng có thể tiết lộ đôi điều về bạn.    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người ngủ hay ngáy thường hay có những cảm xúc cực đoan, biểu hiện trong sự hiếu động, hung hăng, hoặc trầm cảm. Tuy nhiên, họ luôn có niềm đam mê và sống trọn vẹn với từng khoảnh khắc có trong cuộc đời.   Thủy Nguyễn
Xem tâm tính và sức khỏe của con người qua tướng đi (P1) Xem tâm tính và sức khỏe của con người qua tướng đi (P2)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bật mí tính cách ẩn giấu trong tư thế ngủ của bạn

Hóa giải phong thủy xấu cho nhà gần đường tàu hỏa

Những ngôi nhà nằm quá gần đường ray tảu hỏa không chỉ bị khó chịu bởi tiếng ồn mà cả sức khỏe và tài vận của gia đình cũng bị ảnh hưởng. Đây là một thế nhà bất lợi về phong thủy, nhất là những ngôi nhà nằm kề sát đường ray.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy cho rằng, những ngôi nhà nằm cạnh đường tàu sẽ gặp nhiều bất lợi. Những thứ dễ thấy nhất là khói bụi và tiếng ốn khi tàu di chuyển qua khiến môi trường sống xung quanh ngôi nhà luôn trong tình trạng bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe.


Với những ngôi nhà nằm gần đường tàu, nên bố trí phòng ngủ, phòng thờ và phòng làm việc tại khu vực cách xa đường tàu nhất có thể. Ảnh minh họa

Đặc biệt, các chuyến tàu thường chạy qua với tốc độ rất nhanh, tạo nên áp lực lớn khiến vùng đất xung quanh ít nhiều bị ảnh hưởng. Những ngôi nhà ở vị trí tiếp giáp đường tàu thường không có khoảng trống phía trước (Minh đường) để tiếp nhận khí ra vào, do đó, khí vào nhà vốn đã không vượng lại bị cuốn trôi đi nhiều khi có tàu chạy qua. Đó cũng là lý do vì sao những khu vực quanh đường tàu thường rất kém phát triển.

Ngoài ra, âm thanh lớn do đoàn tàu gây ra cũng có nhiều tác hại. Cách thông thường để giảm âm lượng khó chịu này là đóng kín các cửa hoặc tạo khoảng cách nhất định giữa ngôi nhà và đường tàu, có thể là khoảng sân với cây cối hoặc những hàng cây xanh liên tiếp, dày đặc, vừa giúp bảo vệ ngôi nhà, vừa hấp thụ bớt tiếng ồn cũng như các loại khói bụi ô nhiễm.

Với những ngôi nhà gần đường tàu, tường nhà nên xây bằng loại vật liệu cách âm. Đồng thời, các không gian cần yên tĩnh như phòng ngủ, phòng thờ và phòng làm việc nên đặt ở vị trí càng xa đường tàu càng tốt.

(Theo Báo Xây dựng Online)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải phong thủy xấu cho nhà gần đường tàu hỏa

10 tuyệt chiêu phong thủy giúp bạn đối phó với kẻ thứ ba

Chỉ với những tuyệt chiêu phong thủy đơn giản này, bạn có thể thoải mái đối phó với kẻ thứ ba. Yên tâm là kẻ thứ ba sẽ không bao giờ bén mảng vào gia đình bạn.
10 tuyệt chiêu phong thủy giúp bạn đối phó với kẻ thứ ba

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một cuộc hôn nhân hạnh phúc không có chỗ cho tình cảm ngoài chồng vợ. Chỉ với những tuyệt chiêu phong thủy đơn giản này, bạn có thể thoải mái đối phó với kẻ thứ ba. Yên tâm là kẻ thứ ba sẽ tuyệt đối không bao giờ bén mảng vào gia đình bạn nữa.   Để gìn giữ hạnh phúc gia đình, việc bài trí đồ đạc hợp với phong thủy là điều vô cùng quan trọng. Cách thức làm sao hiệu quả phong thủy phát huy mạnh mẽ nhất không phải ai cũng biết, nhất là làm thế nào để chỉ thay đổi phong thủy nhà ở mà đuổi khéo được kẻ thứ ba thì càng ít người hay.   Không hiểu biết mà tùy tiện sắp xếp đồ đạc trong nhà thì rất có thể bạn đã tự tay giết chết vận đào hoa của mình, mở đường cho kẻ thứ ba bước chân vào cuộc hôn nhân hai người. Bạn đã biết những tuyệt chiêu phong thủy để đối phó với kẻ thứ ba, giúp hôn nhân bền vững, hạnh phúc mãi về sau chưa? Hãy cùng Lịch ngày tốt khám phá bí mật này nhé.

10 tuyet chieu phong thuy giup ban doi pho voi ke thu ba hinh anh
 

1. Đầu giường có điểm tựa

  Trong phòng ngủ của hai vợ chồng, giường phải được kê đúng cách. Phía đầu giường phải có điểm tựa, đại diện cho chỗ dựa của cuộc hôn nhân. Chỗ dựa của người phụ nữ là người chồng, nếu đầu giường quay về phía cửa sổ mà cửa sổ không đóng thì rất dễ bị phá hoại vận đào hoa.  
Bạn có biết nếu Đặt đồ vật này ở đầu giường vô tình có thể phá hoại phong thủy tốt không?
 

2. Hạn chế đặt bình hoa lớn trong phòng ngủ

  Khi bài trí phòng ngủ, người đã kết hôn nên tránh đặt bình hoa quá lớn, bởi nếu không cẩn thận đặt trúng Đào hoa vị thì có thể sẽ thúc đẩy vận đào hoa của nửa kia, khiến kẻ thứ ba ngang nhiên tiến tới.  

3. Phía dưới phòng ngủ không nên có dòng nước chảy ngang

  Dòng nước chảy phía dưới phòng ngủ hai vợ chồng biểu thị sự bất ổn, thiếu bền vững từ nền móng. Dòng nước chảy có thể cuốn trôi mọi thứ, thậm chí cả vận đào hoa.  

4. Tránh mở cửa nhà vệ sinh trong phòng ngủ
 

Với những phòng ngủ dạng khép kín, có nhà vệ sinh tích hợp sẵn bên trong thì tốt nhất nên nhớ đóng cửa nhà vệ sinh lại hoặc dùng bình phong chắn đỡ. Không làm vậy thì hai vợ chồng rất dễ vướng vào cảnh ngoại tình, trong phong thủy gọi đó là “Phiếm thủy đào hoa”.

10 tuyet chieu phong thuy giup ban doi pho voi ke thu ba hinh anh
 

5. Treo tranh em bé 

  Trên tường phòng khách hoặc phòng ngủ của nhà mình, bạn có thể treo những bức tranh em bé đáng yêu hoặc tranh phong thủy như Bách tử đồ, Kì lân tống tử để tâm trí người ấy luôn hướng về gia đình, nơi có những đứa trẻ đáng yêu là kết tinh tình yêu của hai người. Bạn sẽ chẳng còn phải lo lắng đối phó với kẻ thứ ba nữa.

Đọc thêm Phong thủy nhà ở hạn chế tình trạng ngoại tình bạn nhé.
 

6. Bố cục nhà cân đối, trái phải cân bằng

  Bên trái căn nhà tượng trưng cho người đàn ông, bên phải tượng trưng cho người vợ. Khi bài trí nhà cần chú ý cân đối hai bên, từ trong ra ngoài căn nhà đều cần lưu ý. Nếu để phía bên trái quá mạnh như trái có tủ cao mà phải chỉ có giá thấp thì tương tự, vị thế người chồng cũng lớn mạnh hơn nhiều so với người vợ. Người chồng ở vào thế thượng phong, càng ngày càng không để ý đến lời vợ nói.  

7. Đồ đạc màu sắc thanh nhã, tránh quá sặc sỡ

  Nếu đồ đạc hay vật dụng trang trí trong nhà quá sặc sỡ sẽ không tốt cho đời sống hôn nhân. Nó sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu tới không ngờ đến quan hệ vợ chồng.   Tuy nhiên, nếu màu sắc trong nhà quá sắc lạnh, dùng nhiều kim loại hay đồ gỗ quá thì cũng không nên, bởi dễ khiến cho tình cảm hai người lạnh nhạt. Những đồ trang trí như tranh ảnh nên chọn thứ ngụ ý cát tường, hạnh phúc.


10 tuyet chieu phong thuy giup ban doi pho voi ke thu ba hinh anh
 
 

8. Không đặt gương đối diện với giường ngủ

  Nếu trong phòng ngủ lại đặt gương đối diện với giường thì rất dễ gây họa đào hoa, khiến kẻ thứ ba thừa cơ xuất hiện. Gương hoặc sẽ vượng Phu tinh hoặc Thê tinh, bất lợi cho hôn nhân. Chính vì thế mà nên cẩn trọng, chú ý hướng đặt các đồ vật có tính phản chiếu như gương hay tivi kẻo phạm phải cấm kị trong phong thủy phòng ngủ.  

9. Không dùng giường đệm hình thù kì quái

 

Nhiều người trẻ ngày nay thích phong cách mới mẻ lạ lẫm nên bỏ qua những chú ý khi chọn giường, chọn đệm. Sai lầm này có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng đối với hạnh phúc gia đình. Giường đôi dùng 2 tấm nệm hay đầu giường có hình thù kì quái, ngụ ý không cát lành đều có thể trở thành mũi tên chí mạng gây ra cảnh đồng sàng dị mộng, xa mặt cách lòng.

Bạn đã biết các Mẹo phong thủy hâm nóng tình cảm vợ chồng dành riêng cho 12 con giáp chưa?
 

10. Đặt nhiều đồ dùng, đồ trang trí hình tròn

  Trong nhà có nhiều đồ đạc hay vật trang trí hình tròn mang biểu tượng viên mãn sẽ rất tốt cho tình cảm vợ chồng, tăng sự gắn kết trong tình yêu. Nếu nhà bạn dùng nhiều đồ sắc cạnh thì mau mau thay đổi đi nhé, đừng để tới lúc phải mất ăn mất ngủ vì suy tính đối phó với kẻ thứ ba.    An An 

Nét tướng tố cáo bạn sẽ trở thành kẻ thứ ba Lỗi phong thủy phòng ngủ “tử hình” hôn nhân 5 cải thiện nhỏ trong phòng ngủ khiến chồng yêu vợ hơn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 tuyệt chiêu phong thủy giúp bạn đối phó với kẻ thứ ba

Xem ngày sinh đại cát cho người tuổi Tỵ (P1)

Người tuổi Tỵ sinh ngày 12 âm lịch thích hợp đi xa để phát triển sự nghiệp, số mệnh vất vả, tay trắng lập nghiệp nhưng cũng đạt được thành quả nhất định trong
Xem ngày sinh đại cát cho  người tuổi Tỵ (P1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

sự nghiệp.

  Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 1   Những người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 1 âm lịch làm việc gì cũng thuận buồm xuôi gió, gặp nhiều chuyện vui, thành công nhiều hơn thất bại, số mệnh cát tường, như ý.   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 2   Thông minh, hiền đức, nhiều tài năng, tiền vận trung bình nhưng trung và hậu vận khởi sắc, hưởng phúc lộc khi về già.   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 3   Cuộc sống người này nhiều vất vả, thăng trầm, không được nương tựa và gia đình, người thân, tiền và trung vận cực khổ, đến hậu vận mới khởi sắc và được hưởng phúc.   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 4   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 4 gặp bất lợi trong việc kết giao bạn bè, dễ chịu thu thiệt dẫn tới nóng nảy, không kiểm soát được cảm xúc nên phạm sai lầm gây tổn hao tài sản.   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 5   Cuộc đời người này vui nhẻ, yên bình, nhiều chuyện vui hơn buồn. Mệnh số đào hoa, cẩn thận vướng vào họa khẩu thiệt thị phi, đồng thời đề phòng rước họa tửu sắc vào thân.   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 6   Cuộc sống nhiều thăng trầm, bất ổn, hung cát đan xen, thành bại ngang nhau, số li hương gây dựng sự nghiệp, công danh sự nghiệp cũng đạt được những thành công nhất định.
Xem ngay sinh dai cat cho  nguoi tuoi Ty P1 hinh anh
Ảnh minh họa

Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 7   Mệnh người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 7 có số đào hoa, tính tình phong lưu đa tình, tiêu tiền như nước, không biết tích lũy, về già chịu cuộc sống cô đơn khổ cực, không người nương tựa.   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 8   Vui buồn đan xen, tiền vận không tốt, dễ gặp tai nạn bất ngờ, cuộc sống vất vả cực khổ và trải qua nhiều sóng gió.   Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 9   Người này có số mệnh khổ cực, dễ vướng vào những rắc rối thị phi, làm việc gì cũng gặp nhiều trở ngại, trúc trắc. Ngoài ra, trong đời còn nhiều biến cố về tài chính, thậm chí cơ nghiệp bị phá sản.
Người tuổi Tỵ sinh ngày mùng 10   Người này có số mệnh cát tường, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống, có quyền thế, đường công danh sáng lạng, tài lộc dồi dào.   Người tuổi Tỵ sinh ngày 11   Cuộc sống nhiều thăng trầm, vất vả, vui buồn đan xen, số mệnh khổ cực.   Người tuổi Tỵ sinh ngày 12   Người tuổi Tỵ sinh ngày 12 âm lịch thích hợp đi xa để phát triển sự nghiệp, số mệnh vất vả, tay trắng lập nghiệp nhưng cũng đạt được thành quả nhất định trong sự nghiệp.   Người tuổi Tỵ sinh ngày 13   Người này có tính cách vui vẻ, lạc quan, phóng khoáng, tiền vận trung bình, trung vận phát đạt nhưng hậu vận lại gặp không ít khó khăn.   Người tuổi Tỵ sinh ngày 14   Cuộc sống gia đình hạnh phúc, vợ chồng hòa hợp, có sự tương hỗ lẫn nhau, đời sống vật chất sung túc.   Người tuổi Tỵ sinh ngày 15   Công danh sự nghiệp thành đạt, gia đình hưng vượng, con đàn cháu đống, cần đề phòng tai họa bất ngờ.
► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình

An Khánh (Theo XZ360)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem ngày sinh đại cát cho người tuổi Tỵ (P1)

Các lễ hội ngày 23 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Lệ Mật

Vào ngày 23 tháng 3 âm lịch có diễn ra một số lễ hội tiêu biểu như sau: Hội Chùa Bà Thiên Hậu tổ chức tại Hà Nội vàHội Làng Lệ Mật tổ chức tại TP.HCM

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 23 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Lệ Mật

Các lễ hội ngày 23 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Lệ Mật

Các lễ hội tiêu biểu diễn ra trong ngày 23 tháng 3 âm lịch:

1.Hội Làng Lệ Mật

Thời gian: tổ chức vào ngày 23 tháng 3 âm lịch.

Địa điểm: làng Lệ Mật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: nhằm tưởng nhớ Hoàng Đức Trung (thành hoàng làng họ Hoàng) có công trong việc đưa người nghèo từ làng Lễ Mật tới vùng kinh đô khẩn hoang, lập ra 13 trại ở phía tây thành Thăng Long (quận ba đình ngày nay).

Nội dung: Phần lễ của hội bao gồm: lễ rước nước từ giếng làng, rước cá chép vào đình Thánh, Rước cỗ (lễ vật) của 13 trại ở quận Ba Đình về làng dâng thần.

Phần hội đặc sắc nhất là trò múa rắn. Con rắn (được làm bằng nan tre lợp vải) tượng trưng cho loài thuỷ quái đã bị chàng trai họ Hoàng dùng sức mạnh và ý chí của mình hạ gục. Nhạc múa là dàn bát âm và tiếng trống nhịp đôi kết hợp dồn dập, náo nức.

Bên cạnh đó thì tiết mục thi nấu ăn món đặc sản cũng dành được sự quan tâm của rất nhiều người. rất nhiều món được trổ tài như : "tam xà đại hội" (3 loại rắn là rắn hổ mang, cạp nong, rắn ráo), "ngũ hổ chầu lâm" (cỗ 5 con ếch) và "lý ngư vọng nguyệt" (cỗ cá chép to, cỗ gỏi)…

Hội làng Lệ Mật là cơ hội để hàng năm con cháu trong làng (gọi là dân cựu quán) và con cháu đi xa khai hoang bên kinh đô (gọi là dân kinh quán) gặp gỡ nhau ôn lại trang sử dựng làng đầy gian nan thử thách từ xa xưa, cùng chung niềm vui và lòng biết ơn đối với tổ tiên.

2. Hội Chùa Bà Thiên Hậu

Thời gian: tổ chức vào ngày 23 tháng 3 âm lịch.

Địa điểm: 710 Nguyễn Trãi, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Bà Thiên Hậu.

Nội dung: Để chuẩn bị cho ngày lễ vía Bà, từ những ngày trước đó, ban quản trị nhà chùa đã tổ chức trang hoàng, sửa sang lại bên trong nội thất và chang đèn kết hoa ở bên ngoài. Ngay từ chiều ngày 22 tháng 3, ban quý tế tổ chức lễ cúng và với thành phần tham dự gồm có ban quản trị, những thiện tín có nhiều đóng góp công sức, tiền của cho nhà chùa, các quan khách địa phương và nhiều thiện nam tín nữ khác. Lễ vật dâng cúng gồm có heo quay, ga, ngỗng (nói chung là thức cúng mặn) cùng các loại hoa quả, bánh trái. Xưa lễ vía Bà thường phải cúng đủ “tam sanh” –heo, gà, dê làm thịt, mổ ruột và để sống. Nay thì tục lệ như vậy dâng cúng đã giảm lược hơn.

Sau lời khấn khai mạc của vị chánh tế, người phụ nữ đọc bản văn viết sẵn bằng tiếng Quảng Đông ca tụng công đức của Bà, nay nhân ngày vía bà, mọi người xin tỏ lòng biết ơn chân thành và mong sao Bà phù hộ cho mọi người, mọi nhà sống yên vui, làm ăn phát đạt, đoàn kết tương thân tương ái với nhau…Sau bài văn tế, các thành viên trong ban quản trị tổ chức bốc thăm để lựa chọn người “cầm ấn” (một chiếc ấn bằng đồng khắc cổ tự) lên trước ngai thờ Bà, đóng lên tấm giấy đỏ mang dòng chữ Khai ấn đại kết và Hợp cảnh bình an viết bằng mực xạ, để dán lên hai bên các điện thời trong chùa.

Sau nghi lễ ba tuần rượu và ba tuần trà ở nơi chính điện thì ở phía trước, nơi sân thiên tĩnh bắt đầu đốt vàng mã và đốt pháo. Khi tràng pháo dài chấm dứt, mọi người làm lễ chào Bà lần cuối, một người trong ban quản trị đi thâu nhang tận tay của từng người dự lễ, để đem đi cắm rải rác chung quanh chùa.

Bước sang ngày 23 – ngày chánh vía Bà từ 4h sáng, trong chùa, trên các điện thời, đèn nến thắp sáng choang, nhang trầm hương ngào ngạt. Sau một hồi chuông dóng lên, cửa chùa từ từ mở rộng để đón các đoàn khách đến cúng Bà. Lễ vật dâng cúng thì tuỳ hoàn cảnh và lòng hảo tâm của từng người, riêng món nhang đèn, giấy vàng bạc, giấy tiền là những lễ vật không thể thiếu, vì người Hoa quan niệm đây là quà biết dâng lên các vị thần. Ngoài phần lễ bái ở nơi chính điện thờ Bà Thiên Hậu, khách còn tuỳ theo nhu cầu và ước vọng riêng của từng người, từ việc gia đạo, đến tình duyên, con cái, từ việc cầu sức khoẻ đến chuyện buôn bán làm ăn… mà mang lễ vật tiếp tục đến cúng bái ở các điện thờ nhân vật khác.

Sau khi cúng lễ xong, thân chủ thường để lại cho nhà chùa một phần còn một phần thì mang về nhà, gọi là để “hưởng lộc thánh”. Trong khi cúng lễ, khách có thể mua ngay tại chỗ những “vòng nhang cầu an” có đường kính trung bình từ 50 đến 60cm, có loại đường kính đến 1 mét. Nhà chùa ghi tên người đó trên một miếng giấy đỏ đính kèm vòng nhang rồi treo lên trần đốt. Mỗi “vòng nhang cầu an” như thế cứ cháy suốt đêm trong vòng một tháng trời. Đây là một nét đặc trưng ở chùa Hoa, đặc biệt ở chùa Bà Thiên Hậu và chùa Ông (Nghĩa An hội quán).

Người đi lễ sau khi cúng bái thường được nhận của nhà chùa 3 tấm giấy (khổ 12 x 25cm) trên có in dòng chữ Hán và đóng triện son: “Thánh Mẫu toạ trấn, hợp gia bình an, bảo hộ an khang”. Theo cách gọi của người Hoa, đây là “rước vía Bà” đưa về nơi bàn thờ ở gia đình.

Đến chiều 24 tháng 3, lễ vía Bà kết thúc. Vào lúc đó, những đội lân cùng xuất hiện, trình diễn nơi sân chùa, rồi toả về một số ngả phố như để báo hiệu với mọi người một lễ hôi vía Bà diễn ra thuận lợi, tốt lành và hy vọng sẽ gặp nhau lại trong lễ hội năm sau.

Trước ngày giải phóng, lễ vía Bà Thiên Hậu, ngoài việc cúng bái linh đình, kéo dài cả tuần lễ, còn có các tục mê tín như xin xăm, bói toán, coi ngày, bay tiền thần… nay những tục lệ ấy đã giảm đi khá nhiều.

Chùa Bà Thiên Hậu là một ngôi chủa lớn của thành phố, là một di tích văn hoá có giá trị cao về mặt nghệ thuật và kiến trúc. Nếu như sự hình thành của các chùa Hoa nói chung, trong đó có chùa Bà Thiên Hậu, gắn liền với lịch sử định cư của khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn, thì trên bình diện tôn giáo, tín ngưỡng, việc thờ cúng, sinh hoạt lễ hội hàng năm ở đây là một biểu hiện rõ nét quá trình hội nhập của người Hoa vào cộng đồng tổ quốc Việt Nam từ vô thức đến ý thức. Đã từ khá sớm, chùa Hoa ở thành phố không chỉ là riêng của người Hoa mà không ít chùa có sự đóng góp xây dựng của bà con người Việt, và bà con người Việt cũng chân thành chia sẻ những tín ngưỡng của bà con người Hoa. Không ít thợ thủ công, nghệ nhân người Việt đã đóng góp vào nghệ thuật xây dựng, trang trí làm tăng thêm vẻ đẹp của các chùa Hoa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 23 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Lệ Mật

Bánh xe pháp luân phong thủy cho trí tuệ trong tình yêu –

Bánh xe pháp luân là một trong những dấu hiệu may mắn được cho là xuất hiện ở lòng bàn chân Đức Phật. Bánh xe pháp luân còn được gọi là bánh xe chân lý, bánh xe vũ trụ, bánh xe cuộc đời. Pháp luân tượng trưng cho pháp hay lời day của Đức Phật, luôn b

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bánh xe pháp luân là một trong những dấu hiệu may mắn được cho là xuất hiện ở lòng bàn chân Đức Phật.

187

Bánh xe pháp luân còn được gọi là bánh xe chân lý, bánh xe vũ trụ, bánh xe cuộc đời.

Pháp luân tượng trưng cho pháp hay lời day của Đức Phật, luôn biến hoá thích nghi để dẫn đường đi đến giác ngộ và giải thoát tối hậu.

Thuật ngữ “bánh xe” xuất phát từ chữ cakra trong tiếng Phạn, là một loại vũ khí của Ấn Độ thời cổ đại. Pháp luân là vũ khí để hàng phục mọi tà kiến ngoại đạo.

Phật giáo quan niệm pháp luân tượng trưng cho giáo pháp của Đức Phật gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Trung đạo. Pháp luân thường được vẽ như một bánh xe tám nhánh, tượng trưng cho bát chính đạo.

Theo phong thuỷ bánh xe pháp luân tượng trưng cho phong thuỷ trong tâm. Bánh xe biểu tượng cho sự vượt thoát khỏi ba nguồn gốc khổ đau của con người đó là THAM (tham lam) SÂN (hận thù) Si (si mê).

Đặt biểu tượng bánh xe pháp luân trong nhà giúp cho tâm hồn được an tịnh, trí tuệ được minh mẫn.

Với những người đang tìm kiếm bạn đời, biểu tượng bánh xe pháp luân có thể mang đến may mắn và hạnh phúc cho tình yêu của họ.

Trong trường hợp này, đặt biểu tượng bánh xe pháp luân ở góc Đông-Bắc của phòng ngủ được cho là tốt nhất.

Hướng Đông-Bắc có liên quang đến hành Thổ. Đặt bánh xe ở đó sẽ đảm bảo rằng ngay cả khi đang yêu, bạn cũng được vững vàng, và bạn luôn sáng suốt khi tìm bạn trăm năm.

Bánh xe được cho là có thể mang đến sự may mắn về trí tuệ.

Vì vậy đây là một biểu tượng tuyệt hảo cho những ai đang dự tính hôn nhân hoặc bắt đầu cuộc sống hôn nhân.

Bánh xe pháp luân còn tạo ra năng lượng chủ về sự hoà thuận và lòng bao dung.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bánh xe pháp luân phong thủy cho trí tuệ trong tình yêu –

Tuổi Dậu và tuổi Hợi có hợp nhau không? –

Trong số 12 con giáp, tuổi Dậu và tuổi Hợi khi kết hợp với nhau có mang lại kết quả tốt đẹp hay sẽ xảy ra xung khắc? Hãy cùng xem lời giải đáp sau đây. Người tuổi Dậu ghét cay ghét đắng sự bừa bãi. Trong con mắt của họ, Hợi là mẫu người chỉ thích hưở
Tuổi Dậu và tuổi Hợi có hợp nhau không? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Dậu và tuổi Hợi có hợp nhau không? –

Nhìn tướng đàn ông –

Cung Điền Trạch nằm ở phần giữa lông mày và mắt, chính là phần thể hiện tài sản, đất đai, hoàn cảnh gia đình và danh vọng của mỗi người.Cung Điền Trạch tốt: Nếu người có mi mắt trên đầy đặn, cao rộng, thanh tú, không có vết sẹo, không có nốt ruồi đượ
Nhìn tướng đàn ông –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn tướng đàn ông –

Sinh tài vượng vị, năm điều nên làm của tài vị –

Sinh tài vượng vị Cái gọi là “tài vị” (vị trí phát tài lộc), phong thủy học có rất nhiều những cách gọi khác nhau. Một là cho rằng ở vị trí góc xiên của cửa chính; hai là cho rằng tài vị ờ vị trí tam bạch trong phòng, tức là 3 vị trí phi tinh là nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sinh tài vượng vị

Cái gọi là “tài vị” (vị trí phát tài lộc), phong thủy học có rất nhiều những cách gọi khác nhau. Một là cho rằng ở vị trí góc xiên của cửa chính; hai là cho rằng tài vị ờ vị trí tam bạch trong phòng, tức là 3 vị trí phi tinh là nhất bạch, lục bạch, bát bạch; ba là cho rằng trong vòng hai mươi năm hạ nguyên thất vận từ năm 1984 đến năm 2003, khi tài vị đang ở phía Tây Bắc.

tai-vi-b11fa

Năm điều nên làm của tài vị

Tài vị nên sáng không nên tối xám: Sáng sủa tức là sinh khí dồi dào, chính vì vậy tài vị có ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn chiếu vào có:

Tài vị nên sinh: ‘‘Sinh” ở lợi lớn cho sinh vượng khí, đây là chỉ sinh cơ thịnh vượng chính vì vậy nên đặt ở tài vị những cây cối xanh quanh năm, đặc biệt là những loại cây như là: hoàng kim cát, cây cao su và cây có lá to và dày là tốt nhất; nhưng cần lưu ý, những loại cây này nên dùng bùn để trồng, nếu dùng nước để nuôi thì không nên. Tài vị đặt ở nơi trồng những loại cây như cây xương rồng có gai, nếu không thì sẽ có tác dụng ngược lại.

Tài vị nên toạ: Tài vị là vị trí tụ tài khí trong nhà, chính vì vậy mà nên sử dụng tốt nó, ví dụ như ghế salon đặt ở tài vị, khi mà cả nhà ngồi nghỉ ở những nơi đó và nói chuyện, có thể càng tăng thêm tài khí khiến cho căn phòng bỗng nhiên sôi nổi hẳn lên. Ngoài ra, nếu đặt bàn ăn ở tài vị cũng rất thích hợp, bởi vì điều này sẽ khiến cho mọi người đều được lợi.

Tài vị nên nằm: Con người ta khoảng 1/3 thời gian la dành cho giấc ngủ, chính vì vậy mà cát hung của vị trí đặt giường có ảnh hưởng rất lớn đối với vạn trình này. Nếu giường ngủ đặt ở tài vị, ngày đêm nằm ngủ ở đây, ngày tháng tích luỹ tự nhiên sẽ thấy tài vận tới. Có một số người hiểu lầm cho rằng giường ngủ là đồ dùng nặng, có thể làm hỏng tài vị, chính vì vậy mà không dám đặt giường ngủ ở đó, nhưng thực tế là đã lãng phí mất tài vị.

Tài vị nên cát: Tài vị là nơi ngưng tụ vượng khí, nếu ở đó đặt một số vật có ngụ ý cát tường, như tam tinh Phúc, Lộc, Thọ hoặc là tượng thần tài Văn Vũ, điều này sẽ khiến cho cát vận lại càng cát, góp phần thêm may mắn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sinh tài vượng vị, năm điều nên làm của tài vị –

Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Khi muốn đeo trang sức Phật giáo, người ta truyền nhau rằng Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc thì sẽ được hưởng phúc khí, tài lộc. Vậy câu nói này do đâu mà có?
Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi muốn đeo trang sức Phật giáo, người ta thường truyền nhau rằng “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” thì sẽ được hưởng phúc khí, hạnh phúc đủ đầy. Vậy quan niệm này từ đâu mà có, tính chính xác của nó đến đâu, hãy cùng tìm hiểu nhé.   Trong giới chơi ngọc có câu “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”, đó là một tục truyền dân gian, tựa như một lời cầu chúc may mắn cho người tín ngưỡng. Bạn đã biết và hiểu lý do tại sao có câu nói thiên về yếu tố tâm linh này hay chưa? Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ cùng các bạn độc giả đi tìm rõ ngọn nguồn nảy sinh và cách hiểu câu nói được sử dụng khi chọn trang sức Phật giáo này sao cho thật chính xác nhé.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
 

Nguồn gốc ra đời quan niệm “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”

  Quan niệm “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” chủ yếu bắt nguồn từ mối quan hệ giữa Đạo giáo, Phật giáo và Kinh Dịch, kết hợp với âm dương ngũ hành để đúc rút ra kinh nghiệm sử dụng trang sức Phật giáo. Nam giới thuộc dương mà nữ giới thuộc âm. Ngược lại, Quan Âm là nữ thuộc âm, Di Lặc là nam thuộc dương. Từ đó có thể hiểu rằng quan niệm trên sinh ra từ việc bản thân được mặt Phật đem theo mình bổ sung âm dương, đạt đến hiệu quả âm dương cân bằng.    Trong quan điểm văn hóa truyền thống phương Đông, âm dương luân chuyển, là đạo lý của vạn vật trong vũ trụ này, âm dương giao hòa là bản chất nội tại của tự nhiên, là cơ chế hoạt động của sinh mệnh con người. Do đó, dù là tu sinh hay dưỡng sinh thì đều phải đạt đến độ âm dương cân bằng, tiến tới tâm và cơ thể hài hòa, chạm tới cảnh giới con người và thiên nhiên hợp vào làm một.    Xưa kia, nam giới là người ra ngoài đối ngoại, lo chuyện làm ăn buôn bán, kiếm tiền chăm sóc gia đình. Họ thường phải đi xa gia đình suốt một thời gian dài, vì thế sự an toàn luôn là điều quan trọng nhất.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
  Nam đeo Quan Âm vì tâm tính đàn ông thường khá lạnh lùng thô bạo, mà Quan Âm là đức Phật đại diện cho thiện tâm. Mang theo mình tượng Quan Âm cũng chính là lời nhắc nhở bản thân tu thân tích đức, xóa bỏ tà tâm, bình tình giải quyết sự việc, không nóng nảy bộp chộp mà dễ hỏng việc lớn.   Ngoài ra, nam đeo Quan Âm là thể hiện mong muốn nam giới ra ngoài xã hội được bình an may mắn, công danh tài lộc đủ đầy. Trong văn hóa về Ngọc, Quan Âm là hình tượng nữ thân được kết hợp từ Quan Âm trong Phật giáo và Vương Mẫu nương nương trong Đạo giáo.    Quan Âm là vị Phật có thể bảo trợ bình an, ngoài ra chữ “Quan Âm” trong tiếng Hán đồng âm với “Quan Ấn”, vì thế mà người ta cũng hy vọng Quan Âm sẽ phù hộ độ trì cho cuộc sống thuận lợi, sự nghiệp hanh thông, sức khỏe dồi dào, vạn sự như ý.  
Bạn có biết Một năm có bao nhiêu ngày vía Quan Âm không?
 
Nữ giới đối nội, coi gia đình làm trọng, là người mang lại sự ấm áp cho gia đình, là biểu trưng cho tổ ấm hạnh phúc. Phật Di Lặc đầu tròn bụng lớn, thân hình tròn trịa, lòng dạ khoan dung, từ bi độ lượng, luôn nở nụ cười, lạc quan vui vẻ. Nữ giới đeo Di Lặc sẽ hoàn toàn thể hiện được tình yêu bao la của người mẹ, có thể thoải mái giải quyết đủ mọi chuyện vụn vặt của gia đình, giữ cho gia đình hòa thuận yên ấm, “gia hòa vạn sự hưng”.

Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
Nữ đeo Di Lặc còn thể hiện mong muốn cuộc đời phụ nữ được Di Lặc bảo hộ được an nhàn hạnh phúc. Di Lặc là đức Phật của tương lai, có thể đem lại phúc khí, cát khí cho con người, mang tới ngày mai tươi sáng hơn. Nữ đeo Di Lặc hay nữ đeo Phật cũng có ý nghĩa tương tự như nhau, chữ “Phật” trong tiếng Hán phát âm gần giống với chữ “Phúc”, ý cầu chúc người phụ nữ lấy được người chồng tốt, cả đời được phúc khí đi theo.   Nữ đeo Di Lặc vì phụ nữ thường có phần ích kỉ nhỏ nhen, hay so đo tính toán, mà Di Lặc là đức Phật đại diện cho lòng dạ bao la, khoan dung độ lượng. Nói nữ nên đeo mặt Di Lặc là muốn học cách phóng khoáng đối diện với mọi chuyện mình gặp phải. Cuộc đời nhiều chuyện phải lo phiền nghĩ ngợi, nên học Phật để tĩnh tâm an lạc, bình tâm xem xét sự đời, mỉm cười vượt qua giông bão. Bạn biết cách thờ Phật Di Lặc hay chưa, cùng tìm hiểu nhé.   Nói tóm lại, “nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” cũng chính là lấy âm dương nam nữ tương trợ, bù đắp cho nhau những điều còn thiếu sót. Nam giới có thể lấy những ưu điểm của nữ giới để sửa đổi bản thân mình và ngược lại, nữ giới cũng vậy.   Từ đó có thể thấy, “nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” là quan điểm thể hiện sự hiểu biết và thăng hoa của văn hóa Phật giáo, Đạo giáo đối với việc sử dụng ngọc, đá quý. Dù là Quan Âm hay Di Lặc thì đều là Đức Phật phổ độ chúng sinh, có thể giúp con người trừ tà tích phúc, hóa dữ cầu an, gặp hung thành cát.

Khám phá 5 vị trí đắc đạo đặt tượng Phật Di Lặc hái tài hái lộc nhé.
 

Quan điểm trên có thực sự chính xác hay không?

 

Có người lại cho rằng cách lý giải phía trên là không hoàn toàn chính xác, vì trong Phật giáo thì Phật và Quan Âm vốn không phân biệt giới tính rõ ràng, vậy thì sao có thể nói “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”.    Theo quan điểm này thì Phật giáo Mật tông của Trung Quốc được truyền qua thiên can địa chi, 12 mối nhân duyên, ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ tương sinh nên có 8 đức Phật bảo hộ cho 12 con giáp. Vì thế, nếu muốn được Phật phù trợ thì tốt nhất nên dựa vào con giáp của mình mà lựa chọn Phật bản mệnh cho chính xác để mang theo người.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
  Câu nói “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” qua thời gian bị thay đổi dần. Theo ghi chép trong Kinh Phật thì khi mỗi người sinh ra đều có một vị Phật hay Quan Âm Bồ Tát đi theo bảo vệ. Người sinh vào con giáp khác nhau thì tính cách khác nhau, tính cách là một trong những yếu tố quan trọng quyết định vận thế con người. Bạn đã biết Các vị Phật bản mệnh phù hộ độ trì cho 12 con giáp chưa, đọc ngay nào.   Phật độ mệnh thực tế chính là dựa vào việc trong mệnh mỗi người thiếu sót gì thì đeo mặt Phật độ mệnh bên mình sẽ bổ khuyết, giữ được bình an, hóa hung thành cát, ly khổ đắc lạc. Theo đó, chúng ta có Phật độ mệnh cho từng con giáp, giúp bản mệnh được an lành, phúc lộc.

Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 

Phật bản mệnh bảo hộ cho từng con giáp là ai?

  Tuổi Tý: Quan Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay Tuổi Sửu: Hư Không Tạng Bồ Tát Tuổi Dần: Hư Không Tạng Bồ Tát Tuổi Mão: Văn Thù Bồ Tát Tuổi Thìn: Phổ Hiền Bồ Tát Tuổi Tị: Phổ Hiền Bồ Tát Tuổi Ngọ: Đại Thế Chí Bồ Tát Tuổi Mùi: Đại Nhật Như Lai  Tuổi Thân: Đại Nhật Như Lai  Tuổi Dậu: Bất Động Minh Vương Tuổi Tuất: Phật A di đà Tuổi Hợi: Phật A di đà   An An

Lịch Phật hàng năm - những ngày lễ lớn kính ngưỡng Phật, Bồ Tát Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát được nhiều người kính ngưỡng? Trang sức hình Phật: Nên đeo hay không, suy ngẫm thế nào mới đúng?

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Tuổi Mùi và tuổi Thân có hợp nhau không? –

Mặc dù mối quan hệ của Thân và Mùi rất vui vẻ nhưng Thân cần điều chỉnh lối sống sôi động và cách chơi “bạt mạng” của mình sao cho Mùi không phải lo lắng. Mùi rất nhạy cảm và dễ xúc động. Do đó, khi có cảm giác không được yêu thương, họ thường lo lắn
Tuổi Mùi và tuổi Thân có hợp nhau không? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Mùi và tuổi Thân có hợp nhau không? –

Xem sao Trường Sinh, biết ngay vận mệnh cuộc đời

Các sao Trường Sinh nắm trong tay Mệnh của con người từ khi sinh ra cho tới khi nhắm mắt xuôi tay.
Xem sao Trường Sinh, biết ngay vận mệnh cuộc đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi trọn đời chuẩn xác

Xem sao Truong Sinh, biet ngay van menh cuoc doi hinh anh
 
Trường sinh

Trong các sao Trường Sinh thì Trường sinh kỵ đồng cung với Không vong. Mệnh tọa Trường sinh là người trọng đạo lý, thông minh, ôn hòa, trường thọ. Chủ về mệnh được vinh hoa phú quý. Nếu ngày sinh và giờ sinh trùng nhau thì chủ về người có tính thông minh, nhanh nhẹn. Nếu thêm được cát thần cùng tương trợ thì tuổi trẻ thi cử đỗ đạt. 
 
Cung Trường sinh nếu được tương phùng thì sinh ra sẽ được kế thừa cơ nghiệp tổ tông. Cha mẹ vợ con đều không khắc hãm, an nhiên hưởng phúc đến cuối đời.
 
Mộc dục

Trong các cung Trường Sinh, đó là cung “đào hoa”, rất kỵ tọa Mão, Dậu, nếu lại thêm các sao đào hoa như Thiên diêu, Hàm trì, Hồng loan thì ắt sẽ vì tình dục quá độ mà chịu thương tổn. Cung Thân, Mệnh, Tài bạch, Điền trạch, Quan lộc mà tọa ở Mộc dục thì dễ vì tư tình mà dẫn đến phá tài, mất chức, nếu thêm Sát thì càng hung. 
 
Mệnh tọa Mộc dục là người bảo thủ, cố chấp, ít nghe lời khuyên chân thành, thường hay để chuyện tình cảm gây rối rắm, phiền lụy, cuộc sống có phần hơi bấp bênh vì Mộc dục còn gọi là “Bại địa”.
 
Quan đới

Trong các sao Trường Sinh, sao này chủ về vui mừng, ở mọi cung đều tốt, nhập Mệnh thì chủ về người hiếu thắng, yêu cầu cao, thích phê bình người khác, có toan tính, nỗ lực sẽ có danh vọng, uy quyền. Phàm việc gì cũng yêu cầu hà khắc, là người tự cao tự lợi, đều vì toan tính và làm lợi cho bản thân.
 
Lâm quan

Sao này ở 12 cung đều tốt, nếu tọa Mệnh thì tay trắng lập nên nghiệp. Tuổi trẻ có phần vất vả, mọi chuyện không đẹp ý nhưng từ trung niên về sau sẽ thành công. Nếu có nhiều tiền dễ tổn thọ, nghèo thì thọ cao. Chuyện tình cảm không được tốt.
 
Đế vượng

Sao này tọa Mệnh là người cao ngạo, làm việc gì cũng giữ riêng ý mình, thích cô độc một mình, không muốn dựa dẫm người khác, không vì người khác mà cúi đầu, lấy điều mình thích để sáng tạo, dễ đắc tội với người, cần trải qua khổ tâm, thử thách thì mới được thành công.
 
Suy

Trong các sao Trường Sinh, sao này nhập Thân, Mệnh thì thiếu tinh thần tranh đấu, là người nham hiểm, tính toan, ít hoạt bát, bề ngoài có vẽ lãnh đạm hờ hững nhưng trong lòng nóng vội, sốt sắng, thiếu nhẫn nại nên giữ thì được mà không thích hợp khai sáng nghiệp.  Mệnh nữ thì bề ngoài có vẻ văn nhã, dịu dàng nhưng nội tâm thì có phần giả tạo, dối trá, khó trải qua được thử thách và thất bại, ít có lòng nhẫn nại, dễ bỏ cuộc, nếu tọa Dậu thì càng rõ.
 
Bệnh

Sao này không ưa tọa cung Tật ách và thuở sơ vận vì nhiều bệnh, khó nuôi. Chủ về sự thích sự ảo tưởng, làm việc ít có tâm, không kiên trì. Thiếu thời và về già nhiều bệnh, tọa Mệnh thì dễ kết hôn hai lần hoặc tình duyên, tình cảm hôn nhân có biến cố, dễ bất hòa, mâu thuẫn, xung đột.
 
Tử

Sao tử không ưa gặp Lão vận và Thiếu vận, dễ mắc bệnh. Nhập Mệnh, nhập hãm vì sẽ phát sinh nhiều việc liên quan đến pháp luật, hình khắc, phá tài, bệnh tật, làm việc không đến nơi, đến chốn, cố chấp, lỗ mãng, cứng đầu, khó thay đổi, quả đoán. Nếu có cát tinh thì sẽ tốt hơn một chút.
 
Mộ

Sao Mộ ưa tọa Tài bạch, Điền trạch, Quan lộc chủ về tập trung, thu thập. Mộ nhập Phúc chủ về an hưởng thanh phúc. Nhập Mệnh, chủ về trì trệ, cá tính hơi lập dị, ít quan tâm vẻ ngoài, tiết kiệm, làm việc có kế hoạch, đam mê nghiên cứu, làm việc chậm nhưng chắc, nếu có thể sống cởi mở, không ngừng nỗ lực thì có thể thành công.   Tuyệt

Trong các sao Trường Sinh, sao này tọa Mệnh là người cô độc, tọa tứ khố Thìn, Tuất, Sửu, Mùi càng rõ hơn, làm việc đầu voi đuôi chuột, qua loa và dễ chủ quan, tự đắc nếu gặp việc đắc ý. Nên sớm rời quê đến nơi khác làm ăn sẽ được phát triển, ít nhờ được lục thân. Thích nhập cung Tật ách, chủ về ít bệnh.
 
Thai

Sao này là cát tinh, không ưa đồng cung với Không Vong. Chủ về có thể phát triển, việc gì cũng làm cho lớn hơn, tăng thêm, tiến thêm cho nên kỵ nhập Tật ách. Nhập Mệnh là người khoan thai, thích mộng tưởng, đôi khi xa rời thực tế, hiếu kỳ, thích nghiên cứu, có óc hài hước, làm việc chú trọng đến môi trường.
 
Dưỡng

Sao chủ về phúc, ở cung nào cũng mang đến điều tốt, kỵ Không vong. Chủ về việc gì cũng có đôi chút bồng bột, rất có niềm tin vào cuộc sống. Ưa nhập Mệnh và vận trình thiếu niên, trung niên. Dưỡng là cửa của sinh, đại diện cho ý nghĩa phát triển, tự chủ, sáng nghiệp. Nhập Mệnh là người ngoan cường, chịu được khó khăn, vất vả nhưng thường tự cao tự đại, giao tiếp giỏi, nếu không ngừng nỗ lực có thể đạt được tiền tài và địa vị tuy nhiên không quá lớn.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem sao Trường Sinh, biết ngay vận mệnh cuộc đời
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries