I. Ngũ hành sinh khắc Giữa thiên văn cận đại phương Tây với thiên văn cổ đại Trung Quốc tồn tại sự khác biệt rất căn bản. Cho dù mặt trời mọc lên hay lặn xuống, trăng đầy rồi khuyết hay là sự vận động của các ngôi sao đều là những hiện tượng tự nhiên mà mắt thường ai cũng thấy, nhưng ngược lại là hai biểu tượng thể nghiệm thế giới hoàn toàn khác nhau của hai nền thiên văn đó. Cả hai biểu tượng này đều có một ý nghĩa chân thực là do sự thể nghiệm thế giới của hai nền thiên văn đó tìm ra. “ Thiên quán thư” là sách ghi chép lại một cách chân thực về những “ quan trắc khoa học”. Sách đó đã chi tiết các thiên tượng âm dương ngũ hành đại ý như sau :
Quan sát sự vận động của mặt trăng, mặt trời là dựa vào sự thuận nghịch của Mộc tinh. Nên nói phương Đông mộc, chủ về mùa xuân, giáp ất. Người thất nghĩa bị phạt khi gặp tuế tinh ( mộc tinh).
Quan sát cương khí dựa vào Hỏa tinh. Nên nói, phương Nam hỏa, chủ mùa hạ, bính đinh. Người thất lễ bị phạt khi gặp hỏa tinh.
Xem các sao lấy vị trí Thổ tinh làm căn cứ. Nên nói thổ ở trung ương, chủ mùa hạ, mậu, kỷ. Đó là tượng của Hoàng đế, ông chủ hay bà chủ.
Quan sát sự dịch chuyển của ngày lấy vị trí Kim tinh làm căn cứ . Nên nói, phương Tây mùa thu, canh tân. Nó chủ về sát, thất sát. Người có thất sát sẽ bị phạt khi gặp thái bạch.
Quan sát giờ căn cứ vào vị trí của Thủy tinh. Nên nói, phương Bắc thủy là tinh của Thái âm, chủ về mùa đông, nhâm quý. Người thất hình bị phạt khi gặp sao giờ sinh.
Sách “ Tố vấn khí giao biến đại luận” cũng đã ghi chép lại cách quan sát ngũ tinh để đoán hoạ phúc. Sách đó có nói: .. . ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ vừa tốt vừa xấu. Dùng nó để biết sinh tử hay thành bại”. Người ta có thể căn cứ vào độ sáng, đường đi, vị trí xa gần, tốc độ của Hỏa tinh, Thổ tinh, Kim tinh ( sao Thái Bạch), Thủy tinh để biết được tai hoạ hay may mắn. Đối với xã hội loài người mà nói, việc mất cân bằng còn hệ trọng hơn nhiều so với sự vận động bình thường. Sự thay đổi của trời đất tuy là điềm dự báo phúc hoạ trong nhân gian, nhưng nguồn gốc sau xa của phúc hoạ lại nằm chính trong hành vi của con người. Lấy âm dương ngũ hành tức là những cái biểu thị sự cân bằng hay mất cân bằng giữa các can chi trong Tứ trụ để đoán biết cát hung, hoạ phúc của con người , đó là kết tinh sự thể nghiệm quý báu của con người Trung Quốc cổ đại. Lấy sự sinh khắc, chế hoá của ngũ hành để giảm sự mất cân bằng của mệnh, đặng từ đó hướng đến điều tốt, lánh xa điều xấu mới là ý nghĩa làm chủ vận mệnh của mình một cách chân chính.
NGŨ HÀNH SINH, KHẮC.
Giữa các ngũ hành tồn tại quy luật tương sinh, tương khắc. Giống như âm dương, tương sinh, tương khắc là hai mặt gắn liền với nhau của sự vật. Không có sinh thì sự vật không thể phát sinh và phát triển: không có khắc thì không thể duy trì sự cân bằng và điều hoà của sự vật trong quá trình phát triển và biến hóa. Trong ngũ hành sinh, khắc có mối quan hệ tương sinh hai mặt: cái sinh ra tôi và cái tôi sinh ra; mối quan hệ tương khắc cũng có hai mặt : cái khắc tôi và cái tôi khắc.
Ngũ hành tương sinh là : mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc.
Ngũ hành tương sinh có nghĩa là:
- Mộc sinh hỏa: vì mộc tính ôn, ấm áp tức hỏa ẩn phục bên trong , xuyên thủng mộc sẽ sinh ra hỏa. Vì vậy mà nói mộc sinh hỏa.
- Hỏa sinh thổ: vì hỏa nóng cho nên đốt cháy mộc. Cháy hết biến thành tro tức là thổ. Cho nên nói hỏa sinh thổ.
- Thổ sinh kim: vì kim ẩn tàng, vùi lấp trong đá, trong núi. Có núi tất có đá, vì vậy nói hỏa sinh thổ.
- Kim sinh thủy: vì khí của thiếu âm ( khí của kim) chảy ngầm trong núi tức kim sinh ra thuỷ. Vì vậy làm nóng chảy kim sẽ biến thành thuỷ, nên nói kim sinh thuỷ.
- Thuỷ sinh mộc: nhờ thuỷ ôn nhuận làm cho cây cối sinh trưởng, nên nói thủy sinh mộc.
Ngũ hành tương khắc.
Mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hỏa, hoả khắc kim, kim khắc mộc.
Ý nghĩa của ngũ hành tương khắc. Ngũ hành tương khắc lẫn nhau đó là bản tính của trời đất : thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim ; kim khắc mộc ; mộc khắc thổ ; thổ khắc thuỷ.
Mối quan hệ sinh, khắc của ngũ hành.
Ngũ hành tương sinh theo quan hệ tuần hoàn ; tương khắc theo quan hệ khắc cách ngôi.
Điều nên và điều kỵ của ngũ hành sinh khắc, chế hóa.
Ngũ hành không những có sinh, có khắc, bổ trợ cho nhau mà con khống chế lẫn nhau. Ngoài ra còn có mặt thái qua và mặt bất cập. Điều đó làm cho việc dự đoán trở nên phức tạp. Trong quá trình học tập muốn nắm vững mối quan hệ đối lập thống nhất này thì cần phải nắm vững những điều nên và những điều kỵ để linh hoạt vận dụng.
Kim : Kim vượng gặp hỏa sẽ trở thành vũ khí có ích.
Kim có thể sinh thuỷ, nhưng thuỷ nhiều thì kim chìm; kim tuy cứng nhưng cũng có thể bị thuỷ dũa cùn.
Kim có thể khắc mộc. Nhưng mộc cứng thì kim bị mẻ; mộc yếu gặp kim tất sẽ bị chặt đứt.
Kim nhờ thổ sinh, nhưng thổ nhiều thì kim bị vùi lấp ; thổ có thể sinh kim nhưng kim nhiều thì thổ biến thành ít.
Hỏa : Hỏa vượng gặp thuỷ thì trở thành ứng cứu cho nhau.
Hỏa có thể sinh thổ, nhưng thổ nhiều thì hỏa ám; hỏa mạnh gặp thổ sẽ bị dập tắt.
Hỏa có thể khắc kim, nhưng kim nhiều thì hoả tắt; kim yếu gặp hỏa tất sẽ nóng chảy.
Hỏa nhờ mộc sinh, mộc nhiều thì ngọn lửa mạnh ; tuy mộc có thể sinh hỏa nhưng hỏa nhiều thì mộc bị đốt cháy.
Thuỷ : Thuỷ vượng gặp thổ sẽ thành ao hồ.
Thuỷ có thể sinh mộc, nhưng mộc nhiều thì thủy co lại; thuỷ mạnh khi gặp mộc thì khí thế của thuỷ yếu đi.
Thuỷ có thể khắc hỏa, nhưng hỏa nhiều thuỷ khô; hỏa nhược gặp thuỷ rất bị dập tắt.
Thủy nhờ kim sinh, nhưng kim nhiều thì thủy đục ; kim có thể sinh thuỷ nhưng khi thuỷ nhiều thì kim lại bị chùn xuống.
Thổ: thổ vượng gặp mộc thì việc hanh thông.
Thổ có thể sinh kim nhưng kim nhiều thì thổ trở thành ít; thổ mạnh gặp kim thì sẽ khống chế được thổ ùn thành đống.
Thổ có thể khắc thuỷ nhưng thủy nhiều thì thổ bị trôi ; thuỷ nhược mà gặp thổ tất sẽ bị chắn lại.
Mộc: Mộc vượng gặp kim sẽ trở thành rường cột.
Mộc sinh hỏa, nhưng hỏa nhiều thì mộc bị đốt ; mộc mạnh gặp hỏa thì mộc trở thành yếu.
Mộc khắc thổ, nhưng thổ nhiều thì mộc bị lấn át ; thổ yếu gặp mộc thì sẽ trở thành khô cằn nứt nẻ.
Mộc nhờ thuỷ sinh, nhưng thuỷ nhiều thì mộc bị dạt trôi ; thuỷ có thể sinh mộc ; nhưng mộc nhiều thì thủy bị co lại.
QUAN HỆ GIỮA NGŨ HÀNH VỚI CON NGƯỜI.
“Chu dịch” nói: mọi việc, mọi vật trong thế gian đều thống nhất ở thái cực. Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ năm ngũ hành này là sự thể hiện rõ nhất, lớn nhất của vạn vật. Cho nên mọi việc, mọi vật đều thống nhất ở âm dương, ngũ hành. Con người là một trong vạn vật, tất nhiên nó phải tham gia vào sự vận động không ngừng của vũ trụ. Tứ trụ dự đoán học với tư cách là sự giải thích toàn diện về cuộc sống con người – tiểu thiện địa, nên đó là môn học về quy luật sinh mệnh của con người. Nó vận dụng quy luật ngũ hành để giải thích mối quan hệ giữa con người và trời đất.
II. BẢN TÍNH CỦA NGŨ HÀNH
Bản tính của con người là nói phẩm chất bẩm sinh vốn có. Cái gọi là tính tình tức là chỉ sự mừng, giận, buồn , yêu, ghét và nhân, nghĩa, lễ, trí, tín luôn có mối quan hệ gắn chặt với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Tuy bản tính con người tuỳ theo ảnh hưởng của hậu thiên nhiên như hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục mà thay đổi, song căn cứ vào sự vượng suy và sinh khắc của âm dương, ngũ hành đã được thể hiện trong Tứ trụ thì về căn bản, thiên tính của con người là không dễ thay đổi.
Những cái mà ngũ hành đại biểu như tính tình, màu sắc, mùi vị, nhân thể, bốn mùa, phương vị đều là những đặc tính căn bản. Ngũ hành trong Tứ trụ có mặt thiên lệch về vượng , lại cũng có mặt thiên lệch về nhược. Mặt vượng là chỉ những đặc tính lộ rõ, trội nổi ; mặt nhược chỉ là những tính chìm ẩn hoặc yếu ơn. Những mặt thiếu khuyết trong Tứ trụ có thể được bổ sung tương ứng để hướng tới cái tốt, tránh được cái xấu. Ví dụ: người mộc vượng thông qua sự cân bằng tổng hợp của Tứ trụ có thể thể hiện ra tính mộc. Nếu mộc không đủ hay khuyết mộc hoặc mộc bị khắc thì không những có thể thông qua vóc người, cá tính, tướng mạo, sức khỏe để nhình thấy mà còn có thể đoán biết người đó hàng ngày ăn uống thường nghiện thức ăn chua. Thích chua chính là sự bổ sung bản năng về mặt sinh lý. Như vậy ta có thể thông qua sự bổ sung lý tính hoặc qua sự lựa chọn có lợi cho sự nghiệp, tiền đồ hôn nhân, tài phú, quan lộc, phúc thọ, lục thân, sức khỏe, nghề nghiệp để cân bằng tổng hợp cho Tứ trụ. Tức là ta đã chọn sự bổ sung có lợi, không có hại. Chỉ riêng một chữ “bổ” được gợi ý từ sách vở cũng đã giúp cho ta một phương châm để điều chỉnh quy luật vận động sinh mệnh của cuộc sống. Chương 2 của cuốn sách này mọi nội dung đều xoay quanh “bổ”, coi đó là chìa khóa vàng cho Nhập môn dự đoán theo Tứ trụ. Hy vọng những người mới học nắm vững được nó để mở được cánh cửa của kho báu về thuật số dịch học.
“Bổ” như thế nào ? Đó là bổ khí. Người ta thường nói: người sống nhờ thở khó. Học thuyết âm dương ngũ hành từ xưa đến nay đối với con người thở khí trời đất để sống mà nói đó chính là bổ khí: kim, mộc, thuỷ, hóa, thổ. Khí của âm dương ngũ hành bao hàm khái niệm không gian và thời gian của vũ trụ. “Khí của trời đất” chính là khí trong đục của ngũ tinh vận động trong thiên thể mà người đó nhận được tại thời điểm và địa điểm lúc sinh ra.
Từ mệnh lý có thể đoán biết được bẩm tính của con người cũng như có thể đoán ra được diện mạo, vóc dáng, nói năng, cử chỉ, thiện ác. Thông thường sự dự đoán cao cấp, nhiều tầng không thể chỉ dùng một Tứ trụ mà phải dự đoán tổng hợp cả các mặt mệnh lý, diện tướng, cốt tướng, vân tay, trong đó lấy mệnh cục làm chủ, các tướng pháp làm bổ trợ, tham khảo, bổ sung. Độ chính xác của cách dự đoán đó chắc chắn sẽ cao vì đã thoát ra khỏi cách dự đoán chỉ dựa vào một mình Tứ trụ. Cách đoán đó đã tập hợp được các mặt lộ ra về âm đức, phong thủy, nhà cửa, di truyền, ngũ hành của người đó, tức là đã tổng hợp được các nhân tố khác nhau để rút ra kết luận dự đoán.
Thư phòng không phải khái niệm xa lạ với nhiều gia đình. Phòng đọc sách, phòng làm việc chính là thư phòng. Phong thủy thư phòng tốt, tự nhiên có lợi cho việc học tập, tiếp thu tri thức và thăng tiến sự nghiệp. Vì thế hãy kiểm tra ngay xem có đang phạm một trong mười đại kị phong thủy thư phòng dưới đây hay không. Nếu có phải nhanh chóng sửa chữa.
1. Thư phòng bên trong phòng ngủ
Đây là lỗi phong thủy thư phòng rất nặng bởi có thể thư phòng sẽ phạm phải vị trí thai thần, bất lợi cho nữ chủ nhân. Dù muốn tiết kiệm không gian hay muốn tiện lợi để làm việc xong có nghỉ ngơi luôn thì cũng không nên bố trí như vậy, ảnh hưởng tới sức khỏe, đặc biệt là khi trong nhà có phụ nữ mang thai.
2. Bàn học, bàn làm việc đối diện cửa thư phòng
Bàn làm việc, bàn học bố trí chính diện với cửa là phạm thế “trùng môn”, dẫn tới thiếu tập trung. Nếu làm việc, học tập trong phòng này thì sự nghiệp không tốt, học nghiệp thụt lùi, dễ gặp tiểu nhân, bị người khác gièm pha, dòm ngó khiến mọi sự không thuận lợi như ý.Hãy xác định bằng cách đứng ở cửa lớn của thư phòng nhìn thẳng vào bên trong, nếu thấy ngay bàn học, bàn làm việc thì nên chuyển đổi phương hướng sao cho khuất hơn hoặc dùng bình phong ngăn cách để hóa giải bớt thế hung hiểm. Xem thêm bài viết Giá sách phong thủy: Nhiều người phạm cấm kỵ mà không hề hay biết
3. Màu sắc thư phòng quá phức tạp
Theo nghiên cứu khoa học, màu sắc có ảnh hưởng tới sự tập trung và phát triển tư duy của con người. Còn theo phong thủy, thư phòng chỉ nên bố trí những màu trang nhã, nhẹ nhàng, tránh những màu quá phức tạp, rực rỡ hoặc quá âm trầm sẽ gây bất lợi cho sự nghiệp, học nghiệp.Các màu sắc được ưu tiên là xanh nhạt, vàng nhạt, hồng phấn, xanh lá,… Bố cục, phối màu trong phòng cũng nên theo hướng tự nhiên, đơn giản, tiết chế khoảng 2 tới 3 màu là đủ, không nên quá nhiều.
4. Bàn học, bàn làm việc dựa vào cửa thư phòng
Đại kị phong thủy thư phòng là sắp xếp bàn quay lưng ra cửa, không những khiến người ngồi làm việc, học tập cảm thấy bất an, thiếu tự tin, không được cấp trên, thầy cô coi trọng, đề bạt. Hơn nữa, cách bố trí như thế này còn đặc biệt có hại cho tinh thần và thu hút tiểu nhân quấy nhiễu.
5. Trong thư phòng có nhà vệ sinh
Để tiện lợi, nhiều người bố trí nhà vệ sinh trong thư phòng mà không biết rằng như vậy rất không hợp phong thủy. Thư phòng không thể ẩn chứa nơi có nhiều uế khí, trọc khí như nhà vệ sinh. Điều đó khiến mai một sự thông minh tài trí của chủ nhân đồng thời có ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe.
6. Thư phòng bày nhiều thiết bị điện
Đồ điện có từ trường lớn, có thể dẫn tới đau đầu, mất tập trung nên tốt nhất là không nên bày ở thư phòng. Tủ lạnh, ti vi đều là những vật không tốt, nếu có chỉ nên máy vi tính phục vụ học tập, làm việc mà thôi. Xem thêm bài viết Xác định Văn Xương vị năm 2017 để sự nghiệp thành công
7. Bàn học, bàn làm việc sát cửa sổ, ở trung cung
Bàn học, bàn làm việc kê sát cửa sổ tạo cảm giác vô vọng, bất an và làm chủ nhân mất tập trung, dễ bị nhiễu loạn do ảnh hưởng từ bên ngoài. Bàn học, bàn làm việc ở trung cung – vị trí trung tâm phòng thì bốn phía không có chỗ dựa, đại biểu tứ cố vô thân, bất kể là công việc hay học tập đều rất gian nan, không nổi bật.
8. Thư phòng có xà ngang áp đỉnh
Xà ngang áp đỉnh trong thư phòng khiến tinh thần uể oải, áp lực, lúc nào cũng bị chèn ép, không thể tiến lên. Điều này chẳng những không tốt cho sự nghiệp, học nghiệp mà còn bất lợi về sức khỏe, làm chuyện gì cũng không như ý, dễ sinh chán nản mệt mỏi.
9. Bàn học, bàn làm việc quá lớn
Nhiều người cho rằng bàn càng lớn thì vận càng phát là không hề chuẩn. Phong thủy thư phòng nhấn mạnh tới tính phù hợp, bàn học bàn làm việc có kích thước vừa vặn với diện tích căn phòng thì vừa đẹp không gian lại có lợi phong thủy. Nhỏ quá không hay mà lớn quá cũng không cát, hài hòa là chuẩn.Bàn, ghế, tủ sách nên dùng chất liệu gỗ là tốt nhất vì gỗ thuộc ngũ hành Mộc, Mộc chủ mùa xuân, đại diện cho sự phát triển, mới mẻ, may mắn. Những đồ vật này sẽ giúp tăng cường dương khí nhưng cũng chứa tính nhu khiến con người tâm tính ôn hòa, sáng suốt, trọn vẹn đôi đường. Xem thêm bài viết Phong thủy bàn làm việc đuổi tiểu nhân, rước may mắn
10. Thư phòng bày nhiều đồ trang trí
Cấm kị trong phong thủy thư phòng là bày quá nhiều đồ vật trang trí ở trên tường, trên tủ kệ và trên mặt bàn. Như vậy dễ sản sinh nhiễu loạn tinh thần, ác mộng, thiếu tập trung. Chỉ bày một số ít vật phẩm có lợi như tháp Văn Xương, thần thú khai vật và chậu cây xanh có ý nghĩa tốt lành như vạn niên thanh, trúc phú quý, cây tơ nhện,… Bí quyết để sở hữu thư phòng có phong thủy trong mơPhối màu phòng đọc sách theo phong thủy đẹp mà hayHướng tốt cho thư phòng Thái Vân
Top 4 con giáp dễ kết hôn trong năm 2016 - Tuổi ngọ - Xem Tử Vi
Top 4 con giáp dễ kết hôn trong năm 2016, Tuổi ngọ, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Top 4 con giáp dễ kết hôn trong năm 2016, tu vi Top 4 con giáp dễ kết hôn trong năm 2016, tu vi Tuổi ngọ
Bạn đang là người độc thân và mong muốn sẽ cập bến tình yêu trong năm 2016. Cùng 12 điềm danh top những con giáp có số dễ kết hôn trong năm Bính Thân này nhé.
1. Người cầm tinh con Ngựa
Trong năm 2016 vận khí của người tuổi Ngọ rất hanh thông, việc gì cũng thuận buồm xuôi gió, đặc biệt là đường tình duyên lại khởi sắc mạnh mẽ.
Chỉ cần những chàng trai, cô gái tuổi Ngựa chịu thay đổi sở thích “xê dịch” của mình, dành nhiều thời gian quan tâm tới đối phương, tình yêu ắt thăng hoa tột độ, tỉ lệ kết hôn cao ngất ngưởng.
2. Người cầm tinh con Rắn
Trong danh sách con giáp kết hôn năm 2016, chắc chắn có người tuổi Tỵ. Tuổi tác và những điều kiện về công việc, kinh tế của những con Rắn rất phù hợp cho chuyện hôn nhân.
Theo tử vi năm 2016 , những ai đã có “gấu” cần thúc đẩy mạnh mẽ mối quan hệ để tạo bước đột phá và hai bạn có thể hợp pháp hóa “về chung một nhà”.
Ngược lại, ai còn cô đơn lẻ bóng cần nắm bắt mọi cơ hội để tìm tình yêu đích thực cho mình. Chính bạn, người trong cuộc, cũng phải bất ngờ với tốc độ phát triển tình cảm đôi bên, thậm chí một đám cưới rình rang sẽ được diễn ra vào nửa cuối năm 2016.
3. Người cầm tinh con Hổ
Trong năm 2016 người tuổi Dần bước sang tuổi 30. Lúc này công danh sự nghiệp của người tuổi Dần cũng “hòm hòm”, có được những thành công bước đầu trong cuộc sống.
Vậy còn chần chừ gì nữa, hãy tính chuyện hôn nhân càng sớm càng tốt, kẻo “cái tuổi nó đuổi xuân đi”, bù đầu bù óc phấn đấu đến khi nhìn lại vẫn chỉ có một mình lẻ bóng.
4. Người cầm tinh con Dê
Đối với người tuổi Mùi có thể nói, họ vừa thoát khỏi áp lực trong năm tuổi. Bính Thân chính là năm mở màn cho những dự định lớn lao trong cả sự nghiệp và tình cảm của con giáp này.
Tới giờ, bạn đã đủ chín chắn để có thể chịu trách nhiệm về bản thân mình cũng như gánh vác cuộc sống cho một gia đình bé nhỏ. Tuy không phải vội vàng đưa ra quyết định hôn nhân đại sự, nhưng nếu tình cảm đã “chín muồi”, bạn cũng không nên do dự mà bỏ lỡ cơ hội được cùng người ấy đi tới tận đầu trời cuối đất. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Ý nghĩa của các con số từ 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29
Vạn vật đều có ý nghĩa riêng của nó. Kể cả những con số thường ngày cũng có ý nghĩa riêng? Cùng Phong thủy số tìm hiểu ý nghĩa số 21, ý nghĩa số 22, ý nghĩa số 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29.
Vạn vật đều có ý nghĩa riêng của nó. Kể cả những con số thường ngày gần gũi với chúng ta cũng có ý nghĩa riêng? Cùng Phong thủy số tìm hiểu ý nghĩa số 21, ý nghĩa số 22, ý nghĩa số 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29.
Ý nghĩa số 21
Số 21 có ý nghĩa gì? Ý nghĩa của số 21 theo quan niệm của người phương Tây và phương Đông như thế nào? Ý nghĩa số 21 theo quan niệm phương Đông: Đây là cặp số được tạo nên bởi số số 2 và số 1. Trong đó ý nghĩa của các con số số 1 tương trưng sao Nhất Bạch, đại diện cho trí tuệ phát triển và danh tiếng còn số 2 đại diện cho sự cân bằng hòa hợp. Ý nghĩa số 21 theo quan niệm phương Tây: Là sự tượng trưng cho hài hòa, ổn định, bền vững.
Ý nghĩa số 22
Số 22 có ý nghĩa gì? Ý nghĩa của số 22 theo quan niệm người phương Đông và phương Tây như thế nào? Ý nghĩa số 22 theo quan niệm phương Tây: Thì số 2 là con số mang ý nghĩa về sự hợp tác, mang đặc tính hòa nhã, dễ tha thứ và thấu hiểu. Số 22 có sự xuất hiện 2 lần con số 2 nên con số này biểu hiện cho sự tích cực, quan tâm ,hướng ngoại. Ý nghĩa số 22 theo quan niệm phương Đông: Số 22 tượng trưng cho một cặp đôi, 1 đôi. Là con số của hạnh phúc, song hỷ, Cũng là con số tượng trưng cho sự cân bằng âm dương, nguồn gốc của vạn vật.
Ý nghĩa số 23.
Số 23 có ý nghĩa gì theo quan niệm phương Đông: Số 23 trong tử vi quẻ dịch là quẻ Sơn Địa Bác nói về ý nghĩa các con số. Quẻ này có sự kết hợp giữa nội quái Khôn - Đất và ngoại quái - Cấn và Núi. Ý nghĩa số 23 là đẽo gọt, rụng rớt, hoang vắng. Vậy nên muốn sử dụng số 23 là con số may mắn bạn nên chuẩn bị những bước đệm cuộc sống, công việc vững chắc thì sự nghiệp của bạn sẽ không ngừng phát triển mạnh mẽ.
Ý nghĩa số 24:
Số 24 có ý nghĩa gì, số 24 có phải là số xấu hay không? Số 24 là sự kết hợp giữa số 2 và số 4. Số 2 tượng trưng cho sự hài hòa, gắn kết, là cặp đôi, sự bền vững. Theo quan niệm phương Đông thì số 4 đọc gần giống với “tử” là số xấu. Nhưng trong đời sống nhận thấy, mỗi năm đều có 4 mùa (xuân, hạ, thu, đông), trong xã hội có 4 nghề (sĩ, công, nông, thương), trong không gian có 4 hướng (đông, tây, nam, bắc) Vây nên, số 24 không hề xấu như bạn nghĩ. Mà thực chất, số 24 là một con số đẹp, mang ý nghĩ bao quát cho sự sống, cuộc đời luôn song hành.
Ý nghĩa số 25
Số 25 có ý nghĩa gì, ý nghĩa số 25 mang lại có tốt hay không? Số 25 trong phong thủy quẻ dịch là quẻ Thiên Lôi Vô Vọng. Quẻ này có sự kết hợp của nội quái Chấn hay Sấm và ngoại quái Càn hoặc Trời. Ý nghĩa số 25 quẻ dịch là cương tự ngoại lai chi tượngThuật số phương Đông có sự thay đổi vạn vật, âm dương ngũ hành, mọi sinh vật tồn tại, phát triển ý nghĩa các con số đều chịu sự cho phối của quy luật này.
Ý nghĩa số 26:
Số 26 là con số có sự cân bằng âm dương.Số 26 có ý nghĩa là “sinh lộc”, mãi phát lộc. Vì trong tiếng Hán, chữ “lục” đọc gần giống với chữ “lộc”. Ý nghĩa của số 26 là mang tài lộc đến với người sở hữu nó. Nhiều người đánh giá rằng số 26 là con số đẹp, mang nhiều ý nghĩa.
Ý nghĩa số 27:
Ý nghĩa của số 27. Số 27 mang ý nghĩa gì. Theo quan niệm phương Đông thì số 27 mang ý nghĩa là dễ phất, tức là dễ lầm ăn, gặp nhiều may mắn, nhanh phát tài.
Ý nghĩa số 28:
Theo ý nghĩa con số thì số 28 có ý nghĩa là mãi phát. Số 8 đọc theo tiếng Hán là “bát” đọc gần giống với từ “phát”. Tổng của số 28 là 2 +8 =10 là chỉ sự hoàn hảo, là mục tiêu của mọi công việc, vấn đề. Như vậy, ý nghĩa số 28 là chỉ sự hoàn hảo, hướng tới những điều hoàn mỹ.
Ý nghĩa số 29
Ý nghĩa của số 29 là gì, số 29 có ý nghĩa gì? Sự kết hợp của số 2 và số 9 nó sẽ tạo thành mãi - cửu, tức là mãi mãi vĩnh cửu, tổn tại mãi mãi với đất trời, trường tồn với thời gian. Trên đây là ý nghĩa các con số từ 21, 22, ...28, 29. Bạn có thể tham khảo thêm những ý nghĩa của những con số khác tại danh mục: Thư viện Phong thủy
: Ý nghĩa của các con số từ 0 đến 100 Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Trong một trùng quái bao gồm có 6 hào, ghép lại từ 2 quẻ đơn là quẻ thượng và quẻ hạ. Quẻ dơn nào có chứa hào động gọi là Quẻ Dụng, quẻ đơn không chứa hào động gọi là Quẻ Thể.
Trong một trùng quái bao gồm có 6 hào, ghép lại từ 2 quẻ đơn là quẻ thượng và quẻ hạ. Quẻ dơn nào có chứa hào động gọi là Quẻ Dụng, quẻ đơn không chứa hào động gọi là Quẻ Thể.
Khi cả 2 quẻ Thượng và Hạ đều có hào động, hoặc đều không có hào động thì lấy quẻ có hào Thế làm Quẻ Thể, quẻ có hào ứng làm Quẻ Dụng
- Quẻ Thể là mình, Quẻ Dụng là người hoặc sự việc - Khi xem trạch nhà thì lấy Quả Dụng là nhà, Quả Thể là Chủ nhà để dự đoán - Trong chiêm đoán lấy quẻ Thể làm chủ, các quẻ khác ( Dụng, quẻ Hỗ, quẻ biến) làm quẻ Ứng. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Tết nguyên đán là dịp lễ tết to nhất, quan trọng nhất của người dân Việt Nam ta. Ý nghĩa ngày tết nguyên đán cũng như nguồn gốc của ngày đặc biệt này, chúng ta sẽ cùng Phong thủy số tìm hiểu rõ hơn ngay sau đây.
Tết nguyên đán là dịp lễ tết to nhất, quan trọng nhất của người dân Việt Nam ta. Đây là ngày lễ cổ truyền đánh dấu khoảnh khắc giao thời giữa năm mới và năm cũ, đánh dấu chu kỳ vận hành của vạn vật, đất trời. Ý nghĩa ngày tết nguyên đán cũng như nguồn gốc của ngày đặc biệt này, chúng ta sẽ cùng Phong thủy số tìm hiểu rõ hơn ngay sau đây.
Xem thêm:
+ Mâm cỗ cúng Tất niên gồm những món gì?
+ Những lời chúc năm mới hay
Tết Nguyên Đán Việt Nam hay còn gọi là ngày Tết Âm Lịch, Tết Cổ Truyền là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người dân Việt Nam. Đây được xem là dịp đặc biệt nhất trong năm, là khoảng khắc tất cả mọi người tìm về với gia đình, xum vầy bên mẹ cha, anh chị em, người thân...dù bất cứ ai, dù đi xa đến đâu đi chăng nữa, đến ngày Tết niềm mơ ước lớn lao nhất của họ vẫn là đoàn tụ bên gia đình. Không chỉ thế, dịp tết cổ truyền còn là dịp để con cháu tỏ lòng biết ơn đến ông bà tổ tiên, cầu mong cho một năm cũ qua đi, năm mới đến với nhiều niềm vui, hạnh phúc, sức khỏe và may mắn.
Trước khi tìm hiểu ý nghĩa ngày tết cổ truyền Việt Nam, chúng ta hãy cùng tìm hiểu trước về nguồn gốc của ngày này.
1.Nguồn gốc
Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ nền văn hóa Trung Hoa trong hơn 1 ngàn năm Bắc thuộc, ngày tết nguyên đán cũng là một trong những nét văn hóa được du nhập vào khoảng thời gian đó. Theo lịch sử Trung Hoa thì ngày tết nguyên đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và sau đó thay đổi theo từng thời kỳ. Tuy nhiên chiều đại cuối cùng thay đổi về ngày tết là thời nhà Hán, Hán Vũ Đế, từ đó đến nay, không có thêm bất cứ sự thay đổi nào. Ngày tết được bắt đầu từ ngày mồng 1 tháng giêng và kéo dài cho đến hết ngày mồng 7 tháng giêng.
Có thể thấy ngày tết cổ truyền của Việt Nam được hình thành cũng như ảnh hưởng khá nhiều từ nền văn hóa trung hoa và nó được hình thành từ rất lâu trước đây, đến nay vẫn chưa có nhà sử học, nhà văn hóa học nào có thể xác định chính xác thời điểm ngày tết cổ truyền Việt Nam ra đời.
2.Ý nghĩa ngày tết nguyên đán
Tết nguyên đán không chỉ là dịp thể hiện sự giao cảm giữa con người và đất trời, không chỉ là dịp đánh dấu 1 sự chuyển giao của đất trời, đánh dấu thời khắc chuyển giao năm cũ và năm mới. Mà thiêng liêng hơn tất cả, đây còn là dịp đoàn viên của mọi gia đình.
Mỗi khi tết đến, dù bất cứ làm công việc gì, ở đâu, tất cả mọi người đều có một niềm ao ước, mong mỏi to lớn nhất đó là được về ăn tết cùng với gia đình, sum họp bên người thân, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi mộ của ông bà những người đã khuất. Đây cũng chính là cơ hội để thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn. Là dịp để mọi người hướng về nguồn cội, tình cảm gia đình... Đây chính là truyền thống tốt đẹp và bền vững của dân tộc ta.
: Những bài thơ chúc tết hay Tết 2017 Mâm cơm cúng ngày mùng 1 Tết Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
- Tháng 1 an tại Dần - Tháng 2 an tại Tị - Tháng 3 an tại Tuất - Tháng 4 an tại Thân - Tháng 5 an tại Ngọ - Tháng 6 an tại Thìn - Tháng 7 an tại Dần - Tháng 8 an tại Tị - Tháng 9 an tại Tuất - Tháng 10 an tại Thân - Tháng 11 an tại Ngọ - Tháng 12 an tại Thìn Như vậy sao Âm Sát chỉ nằm trong 3 trục Dần Thân, Tị Ngọ, Thìn Tuất, ko nằm trên trục tâm linh và âm dương. Âm Sát tính chất là nghi tâm, Âm Sát vào quan hệ giao tế là tiểu nhân. Âm Sát vào tư tưởng tâm lý là ảo giác thiên về những điều quái dị. Sao Âm Sát qua luận đoán của các vị tu hành là sao thuộc về linh giới. Âm Sát vào Mệnh thì hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi nghi hoặc hoặc nên dễ bị phiền não vô ích, nếu thấy cả Đà Kị Không Kiếp hãm thì dễ dàng đi dến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn hoặc vì ma túy mà thành người đầu óc lơ mơ. Tuy nhiên nhiều thầy bói có tiếng hay có Âm Sát ở Mệnh. Âm Sát ở cung Di, con nười cô độc, ít hợp khó hòa hay ngại ngùng nghi kị, mê muội với sự vật hư ảo. Âm Sát ở Tật thêm sát tinh, tư tưởng hành động thiếu thăng bằng, dễ bệnh về tâm trí. Âm Sát ở Phụ ưa những vọng tưởng không thực về gốc gác của mình Âm Sát ở Nô hay uất ức với bè bạn, với công việc hợp tác, nghi kị. Âm Sát ở Bào, thường bị phản từ bên trong. Âm Sát ở Phối, hay đau khổ ngẩn ngơ vì người thương yêu mất đi do sinh ly hay tử biệt. Âm Sát ở Quan, dễ làm việc mê muội mà hại đến sự nghiệp, mê vợ, mê nhân tình hoặc cả tin vào bạn, người dưới quyền, người trên mà khốn khổ. Âm Sát ở Tài, vì tự cao tự đại, vì tham mê mà dễ phá sản. Âm Sát ở Phúc, tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính, gặp thêm các sát kị có thể thành thần kinh. Âm Sát ở Tử thì con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng con cái mình giỏi hơn, đang kính yêu hơn bất cứ ai khác. Âm Sát ở Điền thường gặp những nhà cửa có ma quỉ, hoặc vì vợ mất đi, con chết mà cứ lởn vởn thấy linh hồn vợ con phảng phất. Còn sao Thiên Khố các sách thấy ít nhắc tới, chỉ nói sơ qua là một tiểu Thiên Phủ, chủ về tiền bạc. Đóng cung Tài Bạch và cung Mệnh thì là người quản thủ tiền bạc giỏi. Một số cách giải tử vi mới được bộc lộ, cần kiểm chứng.
- Mối quan hệ giữa Cục và Mệnh để luận độ số tăng giảm. Có câu phú:
Cục mà sinh Mệnh thời hay Cục mà khắc Mệnh tai ương có ngày Mệnh mà sinh Cục có ngày tổn hao…
Một số điều thú vị về các trục trong Tử Vi trong mối tương quan Lục Thân. - Cung Ngọ có đặc điểm là “Cao”. Mệnh đóng ở cung Thân thì cung Thê đóng ở cung Ngọ: Vợ dáng người cao. Cung Huynh Đệ đóng ở Ngọ thì anh em có người cao hơn mình. Mệnh đóng ở cung Ngọ thì người đó dáng cao. Điền trạch ở cung Ngọ thì nền nhà chỗ ở cũng cao hơn chung quanh. Nhưng chú ý, đây là trường hợp không gặp Tuần Triệt.
- Trục Tí Ngọ là trục thuộc về Bố Mẹ, chịu ảnh hưởng nhiều từ Bố Mẹ, kể cả về cung số và cung nhập hạn. Ví dụ hạn cung Tử tức đóng ở cung Tý thì con cái chịu ảnh hưởng nhiều về bố mẹ, phụ thuộc vào bố mẹ, phải nghe theo bố mẹ. Cung Tài ở Ngọ có Song Hao mà xấu lại gặp Triệt thì chẳng được nhờ tiền của bố mẹ. Khi Triệt hết tác dụng thì Song Hao phát huy tác dụng phải lo tiền của để cung phụng bố mẹ.
- Trục Sửu Mùi là trục thuộc về anh em, ảnh hưởng chi phối, phụ thuộc về anh em. Ví dụ cung Tử tức đóng ở Mùi có Tham Vũ gặp Triệt thì khi mình ngoài 30, con cái được nhờ anh và em vợ (vì ở cung Âm). - Trục Dần Thân là thuộc về con cái, vì con cái, ảnh hưởng của con cái, được nhờ con cái. Cung Quan Lộc ở Dần, ảnh hưởng con cái về đường làm ăn sinh sống, do đó mà mình được hưởng nhiều. Cung Thê đóng ở Thân thì vợ nặng về tình cảm với con hoặc vợ mình cũng ảnh hưởng của con cái v.v. Tương tự:
- Trục Thìn Tuất là về bè bạn (tốt cũng như xấu) - Trục Tỵ Hợi là về nhà cửa, đất đai
Ngòai ra, cứ cung Nhị Hợp là chủ về đằng nhà vợ hay phía ngoại. Ví dụ cung Phụ Mẫu cha mẹ đẻ ở Hợi thì cung chủ về cha mẹ đằng nhà vợ là Dần. Cung Huynh Đệ ở Dậu thì anh em đằng nhà vợ ở cung Thìn. Cung Tài của mình ở Ngọ thì tài của vợ ở Mùi v.v..
Trên đây là một số điều mới biết, cần được nghiệm lý thêm. Cũng như vòng Tràng Sinh đại diện cho các thứ bậc cá nhân trong một đại gia đình. Kết hợp những điều này vào luận đoán vận hạn sẽ làm cho sự luận đoán trở nên đặc biệt phong phú và chi tiết.
Chiếc xe đạp là vật rất bình thường đối với nhiều người nhưng với những người người sở hữu chính thì việc mất đi chiếc xe đạp yêu quý của mình là điều nằm ngoài sức tưởng tượng. Một vật bất ly thân mà bỗng dưng biến mất ngay cả trong mơ cũng thật khó
Cũng giống như rồng, hổ, voi trong phong thủy là loài vật mang nhiều ý nghĩa tốt lành.
Con voi là một biểu tượng văn hóa tâm linh xuất hiện ở nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Nó được coi là con vật đứng đầu trong các loài thú rừng, là biểu tượng văn hóa và sự giàu sang sung túc của các buôn làng. Vì vậy có thể thấyhình tượng voi là đặc trưng của sức mạnh về quyền lực và vật chất. Ngoài ra, voi còn có một đặc điểm rất độc đáo hiếm thấy ở những loài động vật gần gũi với con người. Đó là voi có khả năng dùng vòi để hút nước và phun nhả nước. Phong thủy có câu "Sơn quản nhân đinh, thủy quản tài”, nước được coi là biểu tượng về tài lộc, của cải. Vì vậy, việc hút nước của voi liên tưởng đến việc hút tài lộc. Do đó dân gian vẫn sử dụng voi như một linh vật chiêu tài trong phong thủy. Khi sử dụng voi để chiêu tài, nên chọn những con có dáng đứng thẳng, chuẩn nhất là phải hướng vòi về phía trước, không chọn dáng cụp vòi ngồi quỳ. Vị trí tốt nhất để đặt voi trong phong thủy là góc Đông Nam (cung Tài Lộc), nên quay đầu voi hướng về khu vực có nhiều ao hồ hoặc điểm giao thoa giữa các con đường lớn theo phong thủy được gọi là hư thủy cũng là nơi “vượng tài”. Về chất liệu, voi đá phù hợp hơn cho những người cần bổ sung thêm hành Thổ hoặc những ngôi nhà cần trấn trạch bằng hành Thổ. Voi bằng vàng hợp với người mệnh KIm. Người mệnh Thổ nên bày voi bằng gỗ.
Mời bạn đọc xem thêm bài viết: Những đồ phong thủy chiêu tài mang lại vượng khí đầy nhà Trình Trình Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Tuyết (##)
Những người tuổi Thìn nhóm máu B thường có ưu thế lãnh đạo bởi họ có khả năng xử lý các công việc rất tốt. Nhưng khi đứng trước những vấn đề có liên quan
Những người tuổi Thìn nhóm máu B thường có ưu thế lãnh đạo bởi họ có khả năng xử lý các công việc rất tốt. Nhưng khi đứng trước những vấn đề có liên quan đến tình cảm thì họ lại tỏ ra vô cùng lúng túng và không biết phải hành động như thế nào.
Điều này cũng là do tính cách vụng về và lối suy nghĩ giản đơn của họ trong tình yêu mà việc lấy lòng đối phương là vô cùng khó khăn. Chính vì thế, họ thường xuyên bỏ lỡ những cơ hội quan trọng để "ghi điểm" trong mắt "người ấy". Tuy nhiên, đôi khi những biểu hiện xấu hổ, vụng về ở họ lại là tâm điểm thu hút những người khác giới. Vì vậy, có thể nói rằng họ là những người may mắn trong tình yêu.
Khi mới yêu, những người tuổi Thìn thuộc nhóm máu này thường tỏ ra vui vẻ và đáng yêu nhưng sau khi kết hôn, những nhược điểm như tính tùy tiện sẽ bộc lộ rõ. Nếu không hài lòng về một điều gì đó thì họ có thể giận dữ và gây khó chịu cho cả những người xung quanh. Chính vì vậy, sự thông cảm sẻ chia của người bạn đời là vô cùng quan trọng. Họ nên chọn những người chín chắn và rộng lượng có thể lựa lời khuyên nhủ, chế ngự họ những lúc nóng giận, có vậy cuộc hôn nhân mới hạnh phúc.
Nam giới nên chọn bạn đời là những phụ nữ hiền lành, có đức hy sinh và lòng vị tha có thể thông cảm cho tính khí bướng bỉnh, ngang ngược như trẻ con của họ. Nữ giới tuổi này nên gắn bó với những người đàn ông trầm tính, chín chắn và trưởng thành để họ che chở cho mình suốt cuộc đời.
Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn.Tuy nhiên, không phải ai cũng biết ông già tuyết là ai và tại sao lại có ông già tuyết?
>> Năm mới 2016 sắp tới. Ai XÔNG ĐẤT nhà bạn phù hợp nhất mang lại tài lộc, may mắn cho bạn cả năm. Hãy XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất nhé!
1./ Nguồn gốc Lễ giáng sinh
Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Noel, Christmas hay Xmas (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta") là một ngày lễ kỷ niệm ngày Chúa Giê-su thành Nazareth sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc Giáo.
Họ tin là Giê-su được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của nước Do Thái, lúc bấy giờ đang dưới quyền thống trị của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6. Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12.
Theo Công giáo Rôma, lễ chính thức là ngày 25 tháng 12 còn gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng". Dù vậy, lễ đêm 24 tháng 12 thường thu hút tin đồ tham dự nhiều hơn. Những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory (lịch dương).
Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Chữ Christ (Đấng chịu sức dầu) là tước vị của Đức Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Giêsu.
Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos,Xpiơtós hay Xristos. Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho nguyên chữ Xristos hay Xpiơtós, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ.
Thời kỳ Giáo hội cơ đốc sơ khai (2, 3 thế kỷ đầu công nguyên), lễ này được mừng chung với lễ Hiễn linh. Tuy nhiên ngay từ năm 200, thánh Clementê Alexandria (150-215) đã nói đến một lễ hết sức đặc biệt được cử hành vào ngày 20 tháng 5. Còn Hội thánh La tinh thì mừng kính lễ ấy vào ngày 25 tháng 12.
Theo một nguồn khác thì tín hữu cơ đốc sơ khai không ăn mừng lễ sinh nhật, vì họ cho rằng ăn mừng sinh nhật là làm theo thói quen của dân ngoại đạo thờ thần tượng. Bởi lẽ đó họ không ăn mừng lễ giáng sinh của Đức Jesus trong suốt ba thế kỷ đầu. Đến thế kỷ IV, những người Cơ đốc mới bắt đầu muốn ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Jesus mỗi năm một lần, nhưng lại sợ bị chính quyền La Mã phát hiện và bắt bớ bởi vì đến lúc đó, cơ đốc giáo vẫn chưa được công nhận là một tôn giáo hợp pháp.
Những người La Mã, hàng năm ăn mưng "Thần Mặt trời" đem ánh sáng đến cho trần gian vào ngày 25 tháng 12. Những người cơ đốc đã lợi dụng cơ hội này để tổ chức ăn mừng ngày Đức Giêsu giáng sinh vào đem ánh sáng và sự sống đến cho nhân loại cùng một ngày với ngày lễ "Thần Mặt trời" của người La Mã. Nhờ vậy, chính quyền đã không phát hiện việc các tín hữu cơ đốc tổ chức ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Giêsu. Đến năm 312, Hoàng đế La Mã Constantine đã bỏ đa thần giáo và theo cơ đốc. Ông này đã hủy bỏ ngày lễ ăn mừng "Thần Mặt trời" và thay vào đó là ngày ăn mừng sinh nhật của Đức Jesus. Đến năm 354, Giáo hoàng Liberius công bố ngày 25 tháng 12 là ngày chính thức để cử hành lễ Giáng sinh của Đức Jesus.
Trong nhiều thề kỷ, những nhà ghi chép Ki-tô giáo chấp nhận Giáng sinh là ngày Jesus được sinh ra đời. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 18, các học giả bắt đầu đề xuất một cách giải thích khác. Isaac Newton cho rằng ngày Giáng sinh đã được lựa chọn để tương ứng với Đông Chí ở Bắc bán cầu, từng được đánh dấu là ngày 25 tháng 12. Năm 1743, Paul Ernst Jablonski người Đức lập luận ngày Giáng sinh được xác định ngày 25 tháng 12 để khớp với ngày Sol Invictus trong tôn giáo La Mã cổ. Ngoài ra trước người Kitô giáo, nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác cũng ăn mừng ngày lễ cuối tháng 12.
2./ Ý nghĩa lễ giáng sinh
Ngoài ý nghĩa theo đạo Thiên Chúa, Noel là một ngày lễ gia đình, một ngày đặc quyền để tụ tập quây quần mọi người, mọi thế hệ trong gia đình. Lễ này dưới mọi hình thức được biểu lộ, tạo những kỷ niệm chung và duy trì tình cảm giữa mọi người trong gia đình. Mỗi người tìm được, bằng cách thức riêng của mình, để tạo dựng mối liên hệ: chia sẻ với nhau một bữa ăn chung, một đêm không ngủ, nghe thuật lại một câu chuyện, quây quần bên cạnh cây sa pin Noel…
Với địa vị ngày càng lớn lao của trẻ con trong gia đình, ngày Noel trở thành một buổi lễ của trẻ em: một đêm thần diệu mà hầu như tất cả mọi ước nguyện trẻ con được thành sự thật trong sự sung sướng của những người lớn.
Ngày Noel cũng là một thông điệp của hoà bình: ” Vinh danh Thượng Đế trên cao – Bình an cho người dưới thế ” - đây là câu được hát bởi những thiên thần báo tin sự xuất hiện của vị cứu thế và Noel cũng là ngày người ta chia sẻ với những ai bị bỏ rơi, bị cô đơn, bệnh hoạn, già yếu….
3./ Giáng sinh ở Việt Nam thường diễn ra như thế nào?
Giáng sinh du nhập vào Việt Nam và được đông đảo mọi người hưởng ứng rất nhiệt tình. Dù không phải là ngày nghỉ chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12.
Trong những ngày này, cây thông Noel được trang trí ở nhiều nơi, có thể là cây nhân tạo làm bằng nhựa, hoặc cây thật thường là thông ba lá hoặc thông đuôi ngựa, trong khi ở các nước phương tây dùng đa dạng các loài thông, vân sam, lãnh sam. Trên cây, người ta thường treo các đồ trang trí nhiều loại nhưng thường có những cặp chuông, dây giả tuyết, những chiếc ủng, các gói quà tượng trưng và đèn trang trí giống như các nước phương Tây.
Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp. Trong đêm Giáng Sinh, những đôi tình nhân tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, hát karaoke,... và đặc biệt là những người Công Giáo thì chuẩn bị tham dự thánh lễ tại thánh đường giáo xứ hoặc giáo họ của mình.
3./ Ông Già Noel là nhân vật lịch sử hay chỉ là huyền thoại ?
Một nhân vật không thể thiếu trong ngày Lễ giáng sinh là Ông già Noel. Vậy chúng ta cùng tìm hiểu xem nhé.
** Nguồn gốc của Ông già Noel
Thánh Nicôla và Ông Già Noel là cùng một người. Thánh Nicôla là một Giám Mục của Giáo Phận Myra, bên Thổ Nhĩ Kỳ.
Người Pháp gọi là: Le Père Noel (ông Cha, linh mục Noel), người Anh gọi trực tiếp là Santa Claus (Thánh Nicôla), Thánh Giám mục, lễ mừng ngày 6 tháng 12 hàng năm.
Người Pháp thân mật gọi Ngài là “Le Père Noel” (ông cha Noel) vì ngài liên hệ nhiều đến lễ Noel, nhất là với trẻ em, đến nỗi sau khi Ngài qua đời đã lâu rồi, mà hình ảnh Ngài còn được lưu truyền cho hậu thế.
Đầu tiên ở Châu Âu, rồi tới toàn thế giới qua bóng dáng một cụ già đẹp lão, râu tóc bạc phơ, mặc áo choàng đỏ viền trắng, thắt lưng da đen,đội mũ chóp đỏ, lưng vác một giỏ lớn đây đồ chơi và bánh kẹo cho thiếu nhi.
Người ta còn thi vị hóa, đem niềm vui cho trẻ em, bằng cách “bắt ông cha Noel đêm 24 tháng 12 chui qua lò sưởi vào phòng ngủ của các em, bỏ đồ chơi, bánh kẹo vào những chiếc giày các em để bên lò sưởi, hay bỏ vào những chiếc vớ mà các em treo ở chân giường”. Thật ra là cha mẹ các em bỏ vào đó để khuyên các em phải ngoan thì “Cha Noel” mới cho quà! Một cách giáo dục hay!
Khi tới Việt Nam, dân chúng không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình cụ già râu tóc bạc phơ, nên gọi là Ông Già Noel.
Ông Già Noel ngày nay đã bị xã hội tục hóa quá nhiều khiến lu mờ đi ý nghĩa chính của câu truyện, đó là tấm gương quảng đại của vị Giám mục thánh thiện, Thánh Nicôla.
Cả hai giáo hội Ðông Phương và Tây Phương đều vinh danh ngài. Có thể nói, sau Ðức Mẹ, ngài là vị thánh thường được các nghệ sĩ Kitô giáo mô tả. Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, chúng ta chỉ biết một dữ kiện, Thánh Nicôla là giám mục ở Myra vào thế kỷ thứ tư. Myra là một thành phố nằm trong Lycia, một tỉnh của Tiểu Á. Tuy nhiên, như nhiều vị thánh khác, chúng ta có thể biết được mối quan hệ giữa thánh nhân và Thiên Chúa qua sự ngưỡng mộ mà các Kitô hữu dành cho ngài. Sự ngưỡng mộ được diễn tả qua các câu truyện đầy màu sắc và thường được kể đi kể lại trong nhiều thế kỷ.
Có lẽ câu truyện nổi tiếng nhất về Thánh Nicôla là lòng bác ái của ngài đối với một gia đình nghèo khổ mà ông bố không có của cải để cho ba cô con gái làm của hồi môn. Vì không muốn trông thấy họ phải lâm vào cảnh đĩ điếm, Thánh Nicôla đã bí mật ném ba gói vàng qua cửa sổ nhà ông này vào ba trường hợp khác nhau, để giúp các cô con gái ấy đi lấy chồng. Qua các thế kỷ, huyền thoại này trở thành thói quen tặng quà nhân ngày lễ kính thánh nhân. Trong thế giới nói tiếng Anh, Thánh Nicôla trở thành Santa Claus và người Việt thường gọi là Ông Già Noel
** Cuộc đời Thánh Nicôla
Năm 1969, Giáo Hội Công Giáo đã chính thức đặt vấn đề tra cứu về thân thế của Thánh Nicôla. Ngài là một vị thánh thực sự hay chỉ là một huyền thoại?
Sử liệu còn để lại đã chứng minh rằng Ngài là một nhân vật có thật.
Thánh nhân sinh năm 280 SCN, tại một ngôi làng nhỏ tên Batara thuộc vùng Tiểu Á (ngày nay thuộc lãnh thổ nước Thổ Nhỉ Kỳ). Cha mẹ đặt tên cho con trai bằng tiếng Hy Lạp là Nicôla. Lúc ấy nền văn minh và văn hóa Hy lạp còn thống trị nhiều vùng đất rộng lớn trong đó có Thổ Nhỉ Kỳ. Theo tiếng Hy Lạp, Nicôla có nghĩa là Người Anh Hùng của Dân Tộc. Cái tên định mệnh đó rất xứng đáng đối với ngài ít nhất ở lãnh vực đạo đức và tôn giáo. Ông bà thân sinh tuy không giàu có lắm nhưng luôn giúp đỡ người nghèo. Hấp thụ nền đạo đức bác ái từ cha mẹ : “Phải luôn là người lương thiện, nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình”, Nicôla đã trở thành một mẫu người thánh thiện ngay khi ngài còn ở độ tuổi thiếu niên. Một cơn dịch bệnh tràn qua thôn xóm. Cha mẹ qua đời, lúc này Nicôla mới 12 tuổi. Tuy vậy, cậu bé vẫn tiếp tục đem tiền bạc giúp đỡ cho những người cùng khổ. Nicôla miệt mài học tập giáo lý. Ngài có một khả năng siêu nhiên lạ lùng là có thể cảm nghiệm được nỗi khổ đau đang xảy ra ở đâu đó và lập tức đến nơi cứu giúp.
Trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, có lẽ thánh Nicôla là người được phong chức Giám Mục thành Mira ở độ tuổi trẻ nhất. Lúc đó ngài mới có 19 tuổi. Vì vậy, bạn bè đặt cho ngài biệt danh vui nhộn là “chú nhóc Giám Mục”. Ngài cười đón nhận và chẳng phiền lòng tí nào.
Năm 303, lúc Nicôla 23 tuổi, Vua La Mã là Dio Pletian buộc mỗi vùng thuộc đế quốc La Mã phải tôn phục ông là thượng đế. Dĩ nhiên Giám Mục Nicôla và giáo dân địa phận Mira không chịu tuân phục. Ðối với Kitô hữu, chỉ có một Thượng Ðế duy nhất, đó là Thiên Chúa. Vì vậy, thầy trò Nicôla đều được ưu ái mời vô khám nằm đếm lịch, ăn bánh mì đen và uống nước lã. Riêng Nicôla bị biệt giam trong một cái nhà tù nhỏ xíu, bị bỏ đói, khát và lạnh đến 10 năm. Vô cùng mầu nhiệm, ngài vẫn sống.
Đến năm 313, hoàng đế Constantine lên ngôi, ra sắc chỉ Milan, đại xá thiên hạ. Lao lý 10 năm đã làm cho đức tin và con người của Nicôla thêm bền vững. Ngài dốc tâm giảng đạo, phát triển Giáo hội, bố thí của cải và đem vô số người về với Chúa.
Ngày 6 tháng 12 năm 343, Đức giám mục Nicôla từ trần, hưởng thọ 63 tuổi. Ngài để lại cho trần thế một công nghiệp đồ sộ, một tên tuổi rực chói và những câu chuyện có thật lẫn huyền thoại mà vẫn được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
Một thời gian ngắn sau khi Đức giám mục Nicôla từ trần, người dân Mira dựng lên một ngôi đền thờ tôn kính ngài, lưu giữ tất cả các vết tích và các vật dụng của ngài.
Ðến năm 800 Giáo Hội Công Giáo Đông Phương chính thức tuyên dương ngài là thánh.
** Lý do ông già Noel trở nên nổi tiếng?
Như vậy, có thể thấy câu chuyện về ông già Noel xuất phát từ Cơ đốc giáo. Tuy nhiên ngày nay, nhân vật này xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới và nhiều người không theo tôn giáo này nhưng vào ngày lễ Giáng sinh vẫn thực hiện những phong tục giống những người theo đạo như: Tặng quà cho trẻ em hay hóa trang thành ông già Noel.
Vậy nhờ đâu mà người đàn ông bụng phệ mặc đồ đỏ này lại nổi tiếng đến vậy?
Trước hết, ông già Noel không chỉ là hóa thân của một vị thánh trong Cơ đốc giáo, mà ông còn là một hình ảnh tượng trưng cho lòng nhân từ, tình yêu thương giữa con người với con người. Câu chuyện về ông nhanh chóng lan truyền và được mọi người hưởng ứng.
Từ đó, ông già Noel cũng bắt đầu “làm việc” trong lĩnh vực quảng cáo. Hình ảnh ông già Noel trong chiến dịch quảng cáo của Cocacola. Cũng chính từ đây mà ông già Noel nổi tiếng khắp thế giới.
Tuy nhiên, hình ảnh về một nhân vật hiền hậu với chiếc bụng phệ trong bộ trang phục màu đỏ viền trắng cùng bộ râu trắng xóa chỉ trở nên nổi tiếng thế giới kể từ những năm 1930, khi hãng Cocacola sử dụng hình ảnh ông già Noel để thực hiện chiến dịch quảng cáo sản phẩm nhân dịp lễ Giáng sinh. Trong quảng cáo này, ông già Noel trên chặng đường phát quà cho các bạn nhỏ đã dừng lại nghỉ chân và thưởng thức một chai Cocacola giải khát. Vì là một chiến dịch quảng cáo, nên nhờ đó mà hình ảnh ông già Noel tràn ngập khắp các phương tiện truyền thông đại chúng và dần trở nên quen thuộc.
Khi chiến dịch quảng cáo kết thúc, hình ảnh dễ thương này của ông già Noel vẫn được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh khác và kết quả là ngày nay, trên thế giới ai cũng biết tới ông già Noel với tạo hình là một ông lão râu trắng, bụng to, mặc đồ màu đỏ và có một điệu cười vô cùng thân thiện. Thú vị thay, trang phục của ông già Noel có màu sắc cũng tương ứng với logo của hãng nước giải khát này.
4./ Những biểu tượng trong ngày Lễ giáng sinh
** Vòng lá mùa vọng
Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Pháo Lutheran ở Đức vào thế kỷ 16 để nói lên sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối.
Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hi vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng
** Thiệp Giáng sinh
Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole, một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ Horsley, một họa sỹ ở London, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kì người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.
** Quà Giáng sinh
Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bạn bè. Đối với một số người, những món quà Giáng sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người.
Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hương và mộc dược. Vàng tượng trưng Chúa Giêsu là vua ( tức con Chúa Cha - Vua Nước Trời), trầm hương tượng trưng Giê-su là Thiên Chúa và mộc dược biểu hiện hình ảnh Giê-su bị đóng đinh trên cây thánh giá hay nói rõ hơn là sự chịu chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giê-su hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
Ông già Nô-en thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc tất.
** Cây thông NOEL
Cây thông Noel có nguồn gốc từ nước Ðức từ thế kỷ 16. Đây là loại cây sống trong khí hậu khắc nghiệt nhưng vẫn giữ được dáng vẻ mạnh mẽ, vững chãi và màu xanh vĩnh cửu. Dần dần hình ảnh của loài cây này xuất hiện thường xuyên hơn và nó được coi là trung tâm của lễ hội, nơi mọi người cùng nắm tay nhau nhảy múa xung quanh cây thông được trang trí công phu cả bên trong và bên ngoài bằng hoa hồng, táo và giấy màu.
Đến thế kỉ 19 thì cây Noel bắt đầu được sử dụng rộng rãi ở Anh. Đến những năm 1820 cây Noel được những người Ðức ở Pennsylvania mang sang nước Mỹ. Ngày nay, gần đến dịp Noel, người ta thường sắm một cây thông và trang trí lên đó những ngôi sao, những quả châu, dải kim tuyến lấp lánh, hoa... Cây thông được xem là biểu tượng của niềm hy vọng và sức sống mới trong lễ hội đón chào năm mới.
** Quà tặng trong những chiếc bít tất
Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình nhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi. Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình.
Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà.
Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel.
** Ngôi sao Giáng Sinh
Ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rưc rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía,có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt.
Ngôi sao trong lễ Giáng sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy. Từ các vùng phía đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran va Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó, 3 vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các vật phẩm trầm hương và vàng bạc châu báu.
Ngôi sao trở thành biểu tượng ý nghĩa trong mùa Giáng sinh và được treo chỗ sang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đem Giáng sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng đế.
** Chiếc gậy kẹo
Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo. Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.
** Bài hát Giáng sinh
Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng.
Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh. Bài Silent Night, Holy night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo - Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ... nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.
** Nến Giáng Sinh
Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem.
Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.
Lại có một truyền thuyết khác kể rằng thánh Maria và Giu-se đêm Chúa Giáng Sinh đã tìm ra nơi trú ngụ nhờ lần theo ánh đèn hắt ra từ cửa nhỏ một cái chuồng bò lừa.
** Chuông Thánh Đường
Trong vài nền văn hóa Á Châu, tiếng chuông được dùng báo hiệu cho quần chúng biết một biến cố hoan hỉ hay một sự kiện buồn não vừa xảy đến. Sau khi Chúa hài đồng giáng sinh, tục lệ này được truyền đến cho những quốc gia Tây phương để rung lên chào mừng Chúa Cứu thế xuống trần. Tại đất nước Tây Ban Nha, các chuông nhà thờ ngân vang vào lúc nửa đêm báo hiệu Chúa ra đời.
– Có câu “Nghiêm dĩ luật dĩ, khoan dĩ đãi nhân”, nghĩa là: Lấy nghiêm khắc làm kỉ luật cho mình, lấy khoan dung rộng lượng để đối xử với người. Giữa con người với nhau cần phải khoan hậu, bao dung. Dù người khác có đối đãi tử tế hay không, bản thân mỗi con người vẫn cần khoan dung với họ. Đó là một trong những điều tu dưỡng lớn nhất của đời người.
1. Tu dưỡng lớn nhất của đời người là khoan dung
Có câu “Nghiêm dĩ luật dĩ, khoan dĩ đãi nhân”, nghĩa là: Lấy nghiêm khắc làm kỉ luật cho mình, lấy khoan dung rộng lượng để đối xử với người. Giữa con người với nhau cần phải khoan hậu, bao dung.
Dù người khác có đối đãi tử tế hay không, bản thân mỗi con người vẫn cần khoan dung với họ. Đó là một trong những
điều tu dưỡng lớn nhất của đời người.
2. Thu hoạch lớn nhất của đời người là biết đủ
Ai chẳng mong muốn mình gặt hái được thành quả, có thu hoạch tốt nhất. Nhưng thế nào mới là thu hoạch lớn nhất, phải chăng cứ nhiều tiền nhiều của?
Đâu phải như vậy. Khả năng biết đủ của con người mới là thu hoạch lớn nhất. Bởi nếu bạn không thấy đủ, cho dù có ở thiên đường cũng cảm thấy chẳng khác nào địa ngục. Nhưng khi biết đủ, biết hài lòng thì địa ngục cũng như thiên đường, nên biết đủ mới là thu hoạch lớn nhất.
3. Nắm giữ lớn nhất của đời người là lòng biết ơn
Theo bạn, người giàu có nhất là gì, nghèo khổ nhất là gì? Giàu nghèo chỉ là phù du, khi về cõi chết đâu có ai nắm giữ được đâu, tất cả sẽ là cát bụi. Chỉ có tình người, lòng biết ơn mới khắc ghi đời đời. Người có khả năng cảm ơn, trân quý phước đức mới nắm giữ được cuộc sống lớn nhất.
7 điều đừng hiểu sai về sai về đạo Phật Trong đời sống tâm linh của người Việt, Phật giáo được coi là một phần đặc biệt quan trọng. Phần lớn dân số nước ta theo hoặc tin đạo Phật 4. Mỹ đức lớn nhất của đời người là từ bi
Không ít người nghĩ rằng, mỹ đức lớn nhất của đời người là ở dung mạo xinh đẹp, có thật nhiều tiền của, tài năng. Họ đã nhầm, bởi
từ bi mới là mỹ đức lớn nhất.
Trong cuộc đời mỗi con người, thà có thể không xinh đẹp, không có tài cán, học vấn nhưng không thể không có lòng từ bi. Từ tâm mới là phẩm chất, là mỹ đức, là đức hạnh chân chính.
5. Niềm vui lớn nhất của đời người là pháp lạc
Pháp lạc là niềm vui của tinh thần, tri thức, ý kiến, quan điểm, tu hành và gắn kết trọn đời với mỗi con người, không bao giờ thất lạc.
Nhiều người mong muốn tìm kiếm niềm vui từ vật ngoài thân, xung quanh mình như một câu tán thưởng. Chỉ cần được khen ngợi liền hoan hỷ cả ngày, nhưng rồi cảm giác ấy qua đi nhanh chóng.
Người muốn tìm niềm vui từ tiền bạc, vật chất, nhưng chúng cũng sớm như nước chảy, một thoáng tiêu tan.
Người tìm niềm vui từ những chuyến du lịch đó dây, nhưng ngàn dặm vạn lý, nháy mắt một cái đã trôi qua, hân hoãn cũng tiêu tán. Chỉ có pháp lạc mới là niềm vui lớn nhất của đời người.
6. Tâm bệnh lớn nhất của đời người là ích kỷ
Đời người khó tránh khỏi bệnh tật, giàu nua và cái chết. Nhưng điều này cũng đâu có gì đáng sợ, bởi nó là quy luật tự nhiên của cuộc sống, có sinh có diệt. Tâm bệnh mới là thứ đáng sợ, đeo đẳng dai dẳng nhất. Một trong những điều gây ra tâm bệnh lại chính là sự ích kỷ.
Người bị thói ích kỷ xâm chiếm tâm hồn, lúc nào cũng chỉ mong có lợi cho mình, tấm lòng không thoáng đạt, tâm không đại lượng, khó tiển triển thành tựu, tự bản thân không thể thăng hoa cảnh giới tư tưởng.
Vì thế, ngoài việc chú ý giữ gìn sức khỏe để không chịu nỗi thống khổ bệnh tật, cũng cần phải chữa khỏi tâm bệnh của chính mình.
7. Sai lầm lớn nhất của đời người là tà kiến
Tà kiến – nhìn nhận sai lệch sẽ khiến người ta dễ phạm sai lầm. Nếu là sai lầm trên sự việc cụ thể, vẫn có thể sửa chữa được. Nhưng nếu sai từ trong nhận thức, tà kiến về tư tưởng lại chính là sai lầm lớn nhất của đời người.
8. Phiền não lớn nhất của đời người là dục vọng
Thế giới sa bà vốn chứa đựng nhiều đau khổ, sầu não, nhưng đã là người ai cũng phải đối mặt và đi xuyên qua nó, không ai là ngoại lệ, nên ai nấy đều trải qua đầy đủ phiền não, thống khổ.
Ví như mọi người đều có dục vọng, ham muốn về tiền tài, mỹ sắc, cao lương mỹ vị, quyền lực, danh vị để bản thân có những mối quan hệ đẳng cấp trong đời. Dục vọng như núi cao, khi chưa thỏa mãn liền cảm thấy phiền não. Vì thế, phiền não lớn nhất của đời người là dục vọng.
Con giáp sinh ra để mang may mắn cho cha mẹ – Nhờ hồng phúc của những con giáp này, đường công danh, sự nghiệp, tài vận và quan vận của cha mẹ như được chắp thôi đôi cánh, ngày càng 9. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình
Kẻ thù từ bên ngoài dễ nhận biết và đề phòng. Trái lại, chính mình sẽ không dễ nhận thức được mình, không dễ minh bạch, kìm chế tự thân. Ham muốn của mỗi người ví như chiếc thùng không đáy, có thứ này rồi lại trông mong thứ khác. Sai lầm, tội lỗi, oán hận cũng chính từ đó mà ra.
Thế mới nói kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình. Khi chiến thắng được chính mình, đó sẽ là
chiến thắng lớn nhất của đời người.
10. Đáng thương lớn nhất trong đời người là vô tri, kém hiểu biết
Không có tiền, không có thế lực, địa vị hay nghề nghiệp... chưa phải là nỗi bất hạnh, sự đáng thương lớn nhất của đời người. Vô tri, kém hiểu biết, không thấu hiểu lý, không nhận ra chân tướng thế gian, không nhẫn rõ quan hệ nhân ngã, không thấy hết luật nhân quả hay nhân duyên trong đời mới thực sự là đáng thương lớn nhất của đời người.
=> ## cung cấp công cụ Lấy lá số tử vi của mỗi người chuẩn xác
An Nhiên
Bài học đáng suy ngẫm: Câu chuyện về lòng Từ bi Hầu hết chúng ta đều có những suy nghĩ giống nhau. Với những người có diện mạo xinh đẹp, duyên dáng và đáng yêu thì chấp nhận quá dễ dàng, và Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam. Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại
Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.
Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại
Theo văn hóa Phương Đông, lịch được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng. Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.
Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.
Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa. Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (California, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.
“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.
Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài... hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.
Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo... Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.
Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”... vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt/chuột chính là các cách đọc của Tý sau này.
Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?
Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hóa Trung Quốc có xuất phát từ văn hóa Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Mát qua cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Ðế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”... Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hóa là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Ðường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.
Theo ông Thông, ngoài hai chi Tý/Tử/chuột, Mão/ Mẹo/mèo là dễ nhận thấy nhất thì những chi còn lại khi so sánh trong tương quan ngữ âm, ngữ nghĩa cũng đều cho ra những kết quả khá bất ngờ.
Ví dụ với trường hợp của Thân là chi thứ 9 trong bản đồ Hoàng Đạo. Nếu xem cách viết chữ Thân bằng bộ điền với nét giữa dài hơn với cách viết chữ Khôn (một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh. Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và Khôn, tuy nhiên tiếng Việt cổ có chữ khọn là con khỉ (người Huế hay người xứ Nghệ hiện nay một số chỗ vẫn còn những câu cửa miệng “tuồng mặt con khọn” để ám chỉ những người vô tích sự, chẳng làm chẳng nên trò trống gì). Thành ra, Thân chính là khỉ, tiếng Việt cổ dù biến âm th-kh rất hiếm gặp trong tiếng Việt ngày nay nhưng nó vẫn còn dấu tích của những từ cặp đôi như: thân- cận- gần, thận- cẩn (thận trọng, cẩn trọng).
Tương tự với trường hợp của con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng rồng là một con vật tiêu biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con vật có mặt trong 12 con giáp của cung Hoàng Đạo. Nhưng ít ai biết được rằng rồng thực sự là con vật chủ của người Việt cổ và ngày xưa người Việt đã có những từ ngữ riêng để nói đến rồng hay thìn. Thìn/Thần dấu tích còn lại trong giọng Bắc Kinh hiện nay chỉ còn chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần của Hán Việt. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là tlan (Tiếng Việt cổ - âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts - mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản...) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn - thằn lằn, tlian - thuồng luồng... cho thấy vết tích của rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.
Lý giải về nguyên nhân dẫn đến việc bị “lẫn lộn” về nguồn gốc 12 con giáp, ông Thông cho rằng “Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá Trung Quốc, từ đời Hán và sau đó là Đường, Tống... với sức ép của giai cấp thống trị từ phương Bắc tên 12 con vật tổ đã từ từ được thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá Trung Hoa hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ) trong đời sống người Việt”
Sự phát hiện mới mẻ này đã chứng minh cho sự phát triển của người Việt xưa trong cách tính lịch và làm nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ ở phía Nam Đông Nam Á.
12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ
Lâu nay người ta vẫn lầm tưởng 12 con giáp tượng trưng cho 12 chi trong hệ can chi có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, trước đây đã có các học giả phương Tây nghiên cứu cho thấy, các con giáp này vốn có xuất xứ từ phương Nam.
Tên 12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ (Ảnh: Internet)
Khi được du nhập vào Trung Quốc, qua nhiều lần biến cải, những con giáp này vừa biến dạng cả chữ viết và hình tượng, cùng với ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa làm cho mất dần đi nguồn gốc ban đầu của nó.
Dựa vào nghiên cứu ngữ âm học lịch sử, nhà ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông gần đây đã chứng minh rất thuyết phục rằng tên 12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ.
Ví dụ năm Ngọ là năm Ngựa, khác xa với từ Mã của người Trung Hoa. Đặc biệt là năm Mão/Mẹo hoàn toàn là gốc Việt bị thay bằng con Thỏ cho phù hợp với quan niệm của người phương Bắc.
Truy tìm gốc gác nhiều tên gọi cũng thấy được xuất xứ ban đầu của nó trong tiếng Việt cổ, như Tí gắn với Chuột, Dần gắn với Hổ, Mùi gắn với Dê, Hợi gắn với Lợn, Thìn gắn với Rồng...
Hà Tùng Long
Nguồn: An Việt Toàn Cầu
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
11 điều kiêng kỵ trong Rằm tháng Giêng để tránh xui xẻo
Sát sinh, đổ vỡ, đi tới những nơi có âm khí nặng, mặc quần áo rách... là những điều kiêng kỵ trong Rằm tháng Giêng cần lưu ý. Tết nguyên Tiêu không nên làm gì?
– Sát sinh, đổ vỡ, đi tới những nơi có âm khí nặng, mặc quần áo rách, quần áo màu trắng và đen... là một trong những điều kiêng kỵ trong Rằm tháng Giêng mà ai cũng cần lưu ý.
Rằm tháng Giêng là ngày trăng tròn đầu tiên của năm mới, còn được gọi là Tết Nguyên Tiêu. Người Việt rất coi trọng ngày này, vì thế mới có câu: "Cúng quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng". Vào ngày này, mọi người thường lên chùa lễ Phật, cúng sao giải hạn, cầu mong an lành cho bản thân và gia đình. Vào ngày Rằm tháng Giêng hàng năm, có những điều kiêng kỵ trong Rằm tháng Giêng mọi người nên biết để tránh gặp xui xẻo, điều bất lợi trong cả năm tới. Nếu tránh được, vận khí bản thân và gia đình đều vượng, hứa hẹn một năm bình an, may mắn.
Có thể bạn quan tâm: 4 kiêng kỵ ngày Rằm tháng Giêng để tránh vận hạn đen đủiĐịa điểm lễ chùa dâng sao giải hạn cúng rằm tháng Giêng linh thiêngRằm tháng Giêng: Cúng vào ngày 14 hay 15 và giờ nào tốt nhất?Lichngaytot.com Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Xem tử vi hôn nhân thông qua thiên can năm sinh có thể giúp bạn tránh được những lỗi không đáng có, cải thiện tính cách để nhân duyên bền vững hơn.
6. Năm Bính (năm có số đuôi là 6): Cự Môn hóa kịCự Môn là ngôi sao võ mồm, một khi hóa kị khó tránh khỏi vì ngôn ngữ không thoả đáng hoặc là nói chuyện thẳng thắn mà đắc tội với người khác. Cự Môn tinh có sức quan sát bình tĩnh nhưng hóa kị lại thành quá mức so đo, nghiêm túc, khuyết thiếu hài hước, không thể tự nhiên thả lỏng, có chút cảm giác tự ti, đa nghi, cho nên không dễ dàng gặp gỡ cảm tình lãng mạn đích.7. Năm Đinh (năm có số đuôi là 7): Thiên Cơ hóa kịThiên Cơ tinh đại biểu thông minh trí tuệ, thập phần tính toán, phi thường mẫn tuệ, sâu sắc, giàu sức quan sát. Nhưng nếu Thiên Cơ tinh hóa kị tất cả ưu điểm cũng có thể trở thành khuyết điểm, buồn lo vô cớ, nhiều tư lự, dễ dàng mắc bệnh thần kinh, còn có thể trở nên đa sầu đa cảm. Xem tử vi hôn nhân cho thấy, gặp đả kích tình cảm trọng đại thì tinh thần lung lay, rất có thể có tự mình hại mình hoặc có hành vi tự ngược, thậm chí trả thù, đùa bỡn cảm tình. Khéo dùng đũa chuẩn phong thủy, hôn nhân hay tài lộc đều viên mãnNgưỡng mộ với cuộc sống hôn nhân hạnh phúc của 3 cặp con giáp6 đại kị phong thủy về dao kéo đừng bao giờ phạm phải 8. Năm Mậu (số có đuôi năm là 8): Văn Khúc hóa kịSao Văn Khúc là tài nghệ tinh, có lối suy nghĩ mẫn tuệ, sâu sắc, nó cũng là hoa đào tinh, thông minh lại giàu tình cảm. Một khi hóa kị k, ở cảm tình sẽ có cảm giác bất an, dễ dàng ngộ nhận, hoặc là yêu phải người không nên yêu, sinh ra mê muội, không thể tự kiềm chế, trở thành bên thứ ba, chính mình hại người. Văn Khúc hóa kị đối với sự vụ sinh ham mê, cố chấp, khiến người khác không thể chịu đựng được mà hôn nhân tan vỡ.
9. Năm Kỷ (năm có số đuôi là 9): Thiên Đồng hóa kịThiên Đồng là phúc tinh, phúc tinh hóa kị tự nhiên phúc phận thiếu hụt, nhân sinh vất vả. Mà Thiên Đồng cũng là cảm xúc tinh, một khi hóa kị liền dễ dàng đa sầu đa cảm, sinh ra rất nhiều mối tình cảm bị phản đối. Thiên Đồng đa tình hơn nữa lại lạm dụng sự đồng tình của người khác, tính nhẫn nại không đủ, ở chuyện tình cảm khó tiết chế. Phúc tinh hóa kị tinh thần sa sút, thường xuyên hối hận. Thiên Đồng là ngôi sao đa tình, Thiên Đồng hóa kị thành tình yêu không màng danh lợi, dễ bị lạm dụng nên cuối cùng cả tình cảm lẫn tiền tài đều thất bại.10. Năm Canh (năm có số đuôi là 0): Văn Xương hóa kịVăn Vương tinh đại biểu quy chế pháp luật, cùng sao Văn Khúc là một đôi tinh diệu, đa tài đa nghệ. Văn Xương hóa kị, hơn phân nửa không tuân thủ lễ giáo, phá bỏ khuôn phép cũ. Đồng thời Văn Xương hóa kị cũng đại biểu có hoa không quả, bị lừa gạt tình cảm, lạm hoa đào, trong hôn nhân cảm tình bị lừa hoặc lừa gạt người khác, không thể hết lòng tuân thủ hứa hẹn, gặp phải rất nhiều tranh cãi thị phi.
► ## cung cấp công cụ Xem ngày cưới chuẩn xác theo Lịch vạn sự
Muốn biết hôn nhân hạnh phúc cỡ nào, xem đường Sủng áiĐiểm danh 7 lá số tử vi bất lợi hôn nhânNhìn kệ giày dự đoán tình cảm vợ chồngTrần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
Ông Công ông Táo: Kiêng kỵ bếp núc để cả năm không "lê lết"
Vào ngày ông Công ông Táo hàng năm, ông bà ta thường có tục lệ tiễn những vị thần cai quản nhà cửa, bếp núc lên chầu Trời. Vì sao cần kiêng kỵ bếp núc?
Vào ngày ông Công ông Táo hàng năm, ông bà ta thường có tục lệ tiễn những vị thần cai quản nhà cửa, bếp núc lên chầu Trời. Có những kiêng kỵ bếp núc mà chúng ta nên biết để tránh cả năm xui xẻo.
Ảnh minh họa
Tết là một trong những ngày quan trọng trong truyền thống văn hóa của nước ta, do đó vào những ngày này có rất nhiều điều ông bà ta kiêng kỵ nhất là khu vực phòng khách và nhà bếp.Ông bà ta ngày xưa cho rằng, những vị thần bếp là những người theo dõi toàn bộ việc tốt xấu của gia đình trong một năm. Nên vào những ngày cuối năm nhất là ngày 23 tháng Chạp trong nhà bếp có nhiều điều quan trọng mà chúng ta cần biết.
Đặt bếp ở giữa nhà để cúng đưa ông Táo về trời
Ngày 23 tháng Chạp âm lịch trong dân gian được gọi là ngày ông Công ông Táo về trời để báo cáo cho Ngọc Hoàng. Vào ngày này, chúng ta tuyệt đối không được để bếp ở khu vực giữa nhà mà xung quanh không có bất kỳ điểm tựa nào, điều này khiến cho những nguồn năng lượng tốt không được giữ lại trong nhà, từ đó sẽ khiến cho vận may của gia chủ bị mất đi.Vào ngày này, sau khi nấu thức ăn xong nên hạn chế đặt những thứ như ấm nước ở gần khu vực nhà bếp. Vì theo quan niệm của ông bà ta ngày xưa, khu vực nhà bếp tượng trưng cho lửa nên khi đặt những thứ chứa nước ở gần sẽ khiến các vị thần bếp không thể thực hiện nhiệm vụ của mình, gia chủ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn vào năm mới. Vì vậy sau khi nấu nước, nên để ấm nước ở xa bếp nấu.
Không thường xuyên dùng nhà bếp để nấu nướng
Nhiều người quan niệm rằng sau khi đưa ông Táo về trời, họ sẽ không được nấu nướng. Nhưng hoàn toàn ngược lại, chúng ta phải luôn giữ cho nhà bếp đỏ lửa, thường xuyên nấu nướng sẽ giúp vận may về tài lộc và sức khỏe của cả gia đình. Việc thường xuyên nấu ăn trong gia đình còn giúp các thành viên trở nên gắn bó với nhau hơn.
Đặt thùng rác gần bếp nấu
Ảnh minh họa
Bếp là nơi cần được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, do đó chúng ta cần phải đặt thùng rác và những thực phẩm hư thối ra xa khu vực nhà bếp để các loại vi khuẩn có hại cho sức khỏe của ác thành viên trong gia đình. Ngoài ra, trong phong thủy thì thùng rác thường chứa nhiều nguồn năng lượng xấu nên khi đặt ở phòng bếp nó sẽ ngăn cản con đường thăng quan tiến chức của gia chủ.
Sử dụng những loại xoong, nồi bị móp méo, gãy quai
Việc sử dụng các loại xoong nồi bị móp méo hay gãy quai trong nhữg gày tết là một việc không nên. Trước hết, nó có thể gây nguy hiểm cho gia chủ khi dùng nó để nấu nướng vì rất dễ gây thương tích. Còn trong phong thủy, việc sử dụng những thứ như vậy sẽ làm cho công việc làm ăn của gia đình trong năm mới không gặp nhiều suôn sẻ, dễ gây xung đột với những người xung quanh.*Bài viết mang tính tham khảo, chiêm nghiệm. Nhưng những gì ông bà dặn dò, kiêng kị thì nên làm theo. Có thờ có thiêng, có kiêng có lành mà.
ST.
Hướng dẫn cách tỉa chân hương trước lễ cúng Táo quân đúng chuẩn, không lo bị phạmHướng dẫn sắm lễ và văn khấn cúng Ông Công Ông Táo đúng cách nhấtBếp và bàn thờ gia tiên: Cúng Táo quân ở đâu mới là chuẩn? Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Trong điều kiện đất đai chật hẹp, ban công trở thành không gian hiếm hoi có được lợi thế của một vùng chuyển tiếp giữa trong và ngoài, chung và riêng. Phong thủy ban công là phần rất quan trọng mà không phải ai cũng chú ý.
Ban công là nơi bị hung sát nhiều nhất vì không có tường che chắn. Bày đôi sư tử đá có thể hóa giải vì nó là vật dương cương trấn trạch, bảo vệ an toàn. Miệng sư tử đá hướng ra ngoài nhà. Kỳ lân là linh thú có linh khí mạnh nhất. Nó xuất hiện báo điềm cát lợi, mang lại sức khỏe cho gia chủ, nên đặt ở ban công. Ban công trông ra biển, hồ, ao có thể bày một đôi rồng đá để nạp tài. Tuy nhiên, người tuổi Tuất không nên bày rồng đá, thay bằng rùa đá, kỳ lân đá vì hai linh thú này thích nước, vượng tài. Đầu rồng quay về phía hồ nước. Người tuổi Dậu, Tý, Mão, Tỵ kị đặt tượng chim ưng ở ban công vì chim ưng bắt gà, khó tiến lên được. Nếu ban công nhìn ra phía trước có con đường đâm thẳng vào nhà, giống như con cọp dữ phóng thẳng tới vồ là rất xấu. Nên tránh mở ban công theo hướng này. Nếu lỡ mở thì nên đặt rùa đồng hoặc chậu cảnh lá to để hóa giải.
Ban công nhìn ra tường ô kính, ánh sáng phản chiếu vào gọi là “phản quang sát”, hung sát. Nhà ở bị “thiêu”, nhiệt độ cao, chói mắt, chủ bị nạn đao kiếm, xe cộ. Nên treo hồ lô gỗ, xâu tiền ngũ đế, bạch ngọc, gương lồi để hóa giải. Ban công nhìn ra khe giữa hai tòa nhà là bị “Thiên trảm sát”, đại hung. Đặt ngựa đồng hoặc xâu tiền đồng ở cửa sổ. Tình hình nghiêm trọng có thể đặt một đôi kỳ lân đồng ở ban công để hóa giải. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Cây tre phong thủy biểu tượng của trường thọ và khả năng chịu đựng –
Từ lâu cây tre được xem là biểu tượng của trường thọ, điều nay xuất phát từ đặc tính bền bỉ, dẻo dai của nó. Củ thể như thế nào chúng ta cùng đọc bài viết dưới đây để có thêm kiến thức về cây tre phong thủy nhé! Ý nghĩa của cây tre phong thủy Ý nghĩa
Từ lâu cây tre được xem là biểu tượng của trường thọ, điều nay xuất phát từ đặc tính bền bỉ, dẻo dai của nó. Củ thể như thế nào chúng ta cùng đọc bài viết dưới đây để có thêm kiến thức về cây tre phong thủy nhé!
Nội dung
1 Ý nghĩa của cây tre phong thủy
1.1 Ý nghĩa kiên cường chịu đựng
1.2 Ý nghĩa trường thọ
1.3 Tượng trưng cho tình yêu bất diệt và lòng thủy chung
1.4 Tượng trưng cho vận may và sức khỏe dồi dào
1.5 Ý nghĩa mang lại may mắn
1.6 Lưu ý
Ý nghĩa của cây tre phong thủy
Ý nghĩa kiên cường chịu đựng
Suốt bốn mùa, dù điều kiện thời tiết thế nào, tre vẫn luôn xanh tươi. Cây tre phát triển mạnh vào những tháng mùa đông, do đó mang ý nghĩa kiên cường và chịu đựng.
Ý nghĩa trường thọ
Ở Hồng Kông tre được trồng khắp mọi nơi, ngay cả phía Bắc của Bắc Kinh và kể cả tại Việt Nam. Có khoảng mười loại tre, và mỗi loại lại có nhiều biến thể. Tất cả các loài tre đều có thể trưng bày để tượng trưng cho trường thọ.
Tượng trưng cho tình yêu bất diệt và lòng thủy chung
Có nhiều truyền thuyết liên quan đén các loài tre khác nhau. Tre có đốm tượng trưng cho tình yêu bất diệt và lòng chung thuỷ vì người ta nói chúng là những giọt lệ của vợ vua.
Tượng trưng cho vận may và sức khỏe dồi dào
Loại tre có gai tượng trưng cho vận may của tuổi già kết hợp với gia đình hạnh phúc. Người cha của gia đình sẽ được may mắn để chia sẽ sự thành công với con cháu.
Tre thân cứng tượng trưng cho một cuộc sống không có bệnh tật. Sức khoẻ tốt có liên quan đến loài tre thân cứng.
Ý nghĩa mang lại may mắn
Ngày xưa tre được trồng để tăng cường khí chủ về trường thọ. Người ta thường trồng những cây tre đốm gần phía trước của ngôi nhà, hoặc ở dọc theo hàng rào phía Đông của khu vườn. Đây là khu vực thuộc hành mộc và là nơi lý tưởng để trồng cây tre may mắn.
Có thể đặt những hình tượng tre hoặc treo những bức tranh tre nhiều lá trong phòng học hay văn phòng để đảm bảo trường thọ và may mắn trong công việc và nghề nghiệp.
Lưu ý
Chọn trang vẽ những chùm 6, 8, 9 lá (hoặc bội số của những số may mắn này) được xem là số may mắn, trong khi chùm 2,5,7, được xem là không may mắn. Cách kết hợp lá tre tốt nhất là chùm 6, 8 lá.
Từ trước đến nay, khi nói đến vấn đề chọn hướng nhà, ngvròi ta đều dựa vào phưong pháp phân chia nhà và tuổi thành 2 nhóm Đông - Tây như sau: - Những ngưòi có năm sinh thuộc các quẻ Chấn, Tốn, Khảm, Ly là thuộc Đông tứ mệnh, và chỉ có thể chọn những
Từ trước đến nay, khi nói đến vấn đề chọn hướng nhà, ngvròi ta đều dựa vào phưong pháp phân chia nhà và tuổi thành 2 nhóm Đông – Tây như sau:
– Những ngưòi có năm sinh thuộc các quẻ Chấn, Tốn, Khảm, Ly là thuộc Đông tứ mệnh, và chỉ có thể chọn những nhà có phương tọa thuộc các hướng Đông, Đông Nam, Bắc và Nam, tức những nhà thuộc Đông tứ trạch thì mọi sự mói được tốt đẹp.
– Những người có năm sinh thuộc các quẻ Càn, Khôn, Cấn, Đoài là thuộc Tây tứ mệnh, nên chỉ có thể chọn những nhà có tọa thuộc các hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây, tức nhũng nhà thuộc Tây tứ trạch.
– Nếu người mệnh Đông mà ở Tây trạch, hay người mệnh Tây ở Đông trạch thì thường là làm ăn thất bại; dễ mắc đủ mọi tai họa, bệnh tật, chết chóc.
Một số lưu ý và kiêng kị khi chọn hướng và tuổi xây nhà
Theo quan niệm phong thủy, trước khi quyết định xây nhà, gia chủ cần cân nhắc tuổi của mình. Không nên phạm vào các năm: Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai…
Các tuổi Kim Lâu: đặc biệt kiêng kị, không được phạm:
Các tuổi Hoang Ốc: nếu chỉ phạm riêng năm Hoang Ốc cũng có thể làm được:
Các năm Tam Tai: nếu chỉ phạm, riêng năm Tam Tai củng có làm được:
Chú ý:
– Tuổi Kim Lâu đặc biệt kiêng kị không nên phạm. – Nếu chỉ phạm một trong các tuổi Hoang Ốc hoặc Tam Tai thì cũng có thể làm được. – Nếu phạm 2 trong 3 yếu tố trên thì không nên làm. – Nếu bất đắc dĩ phải làm thì nên dùng các biện pháp thay tên mượn tuổi…
Tuổi theo Ngũ hành, quái số, cung phi là những thông số giúp ta định vị được bản thân mình trong không gian vũ trụ và cũng giúp ta lựa chọn được vị trí tối ưu trong cuộc sống thường ngày.
Cụ thể: ngưòi mệnh Kim có tính cách, đặc điểm khác ngưòi mang mệnh Mộc. Mỗi người lại có con số huyền bí gọi là “Quái số”. Từ con số này có thể kiểm nghiệm và ứng dụng không gian sống của mình một cách có lọi nhất. Cung phi biểu thị cho tính cách.
Theo phong thủy có 2 nhóm hướng chính: Đông và Tây
– Đông gồm các hướng: chính Đông, chính Nam, chính Bắc và Đông Nam. – Tây gồm các hưóng: chính Tây, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Bắc.
Người tuổi Thân, Tý, Thìn không nên làm nhà ở phía Nam hướng ra phía Bắc. Ngưòi tuổi Tỵ, Dậu, Sửu không nên làm nhà ở phía Đông hưóng ra phía Tây. Ngưòi tuổi Dậu, Ngọ, Tuất không họp vói nhà phía Bắc hướng ra phía Nam. Người tuổi Họi, Mão, Mùi không họp vói nhà ở phía Tây.
Xem phương vị tốt, xấu
Nhìn từ góc độ phong thủy phương vị (vị trí) của nhà ở được phân thành phương vị cát và hung nên ý nghĩa của mỗi phương vị trong ngôi nhà được xét theo hai mặt cát và hung. * Ý nghĩa đại diện của phương vị cát (tốt) – Phương sinh khí (thượng cát): Tiêu biểu cho sinh khí dồi dào tích cực chủ động thăng quan phát tài, sự nghiệp hưng vượng. – Phương Diên Niên (thượng cát): Tiêu biểu cho tiền của dồi dào sức khỏe trường thọ, quan hệ với người xung quanh, người khác giới tốt đẹp. – Phưong Thiên Y (trung cát): Sức khỏe dồi dào, ít mắc bệnh tật ổn định đắc tài. – Phưong Phục Vị (tiểu cát): Là quan tâm chăm sóc, cuộc sống ổn định an bình, tiểu tài.
*Ý nghĩa đại diện phương vị hung (xấu)
– Tuyệt Mệnh (đại hung): Bệnh tật, chết yểu, lo lắng, suy nghĩ, tâm phiền muộn u uất. – Ngũ Quỷ (đại hung): Kiện tụng mất trộm mất cắp tài lộc thui chột – Họa Hại (thứ hung): Tranh cãi, thị phi, bệnh tật, đau đớn hao tài của mất tự tin. – Lục Sát: giáng chức, thất bại, phán đoán sai lầm.
* Cách tìm phương vị tốt
Người mệnh Đông tứ (Khảm, Ly, Chấn, Tốn): Phía Bắc, Nam, Đông, Đông Nam. Ngưòi mệnh Tây tứ (Càn, Khôn, Cấn, Đoài): Tây Bắc, Tây Nam, ; Đông Bắc, Tây.
Các phương vị tốt xấu ứng với từng quẻ mệnh.
* Tìm hướng nhà phù hợp
Đối với người mệnh Đông tứ hợp vói 4 loại nhà như sau:
Đối vói người mệnh Tây tứ hợp vói 4 loại nhà như sau:
Lên lão cũng phải khao. "Khao lão" không khó khăn như khao vị thứ đình trung. Lo đủ lệ là được, có mời thì mời phe giáp hay thôn xóm khắc đến, vì lên lão là quyền đương nhiên không phải cậu cạnh.
Những nhà giàu có thường nhân dịp bày tiệc mừng thọ tế lễ, ăn uống linh đình. Tế sống cha mẹ, có văn chúc thọ với ban tư văn hành lễ trợ tế. Cha mẹ ngồi phía trong, con trái, gái, dâu, rể, cháu chắt, phân thứ bậc trên dưới đứng hai bên, nam bên trái, nữ bên phải, làm lễ tế ba tuần rượu, có tấu nhạc trọng thể , vui vẻ. Tế sống cha mẹ mỗi lần hai lạy, khác tế thần, tế tổ mỗi lần bốn lạy. ở đất văn vật, bài văn tế chúc thọ thường là cả một công trình bút mực, có khi người trong vùng nô nức đến xem tế và nghe đọc văn.
Có đám mừng thọ mời bà con họ hàng làng tổng, tiệc tùng hát xướng hai ba bốn ngày.
"Phú quý sinh lễ nghĩa", có nhiều nhà làm lễ mừng thọ cha mẹ lên lão 70, 80, 90 tuổi...Không phải tục lệ bắt buộc, giàu có bày ra thết đãi mời mọi người đến chia vui với mình, đồng thời làm vui lòng cha mẹ, tưởng cũng là một tục hay, có thể khiến cho những kẻ nhẹ tình hiếu thảo, không lo phụng dưỡng cha mẹ cho được tuổi thọ như người, phải lấy làm suy nghĩ và hổ thẹn.
Lễ lại mặt là một nghi lễ cần được duy trì, nó thể hiện văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Qua đây, nhắc nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành
Lễ thành hôn, tơ hồng, hợp cẩn xong xuôi, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên ông bà cha mẹ, đi chào họ hàng thân nhân bên nhà gái sau đó đón bố mẹ và vài thân nhân sang nhà chú rể. Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi đưa dâu.
Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ) tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định ngày. Thành phần chủ khách rất hẹp, chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình.
Trường hợp hai nhà xa xôi cách trở, ông già bà lão thì nên miễn cho nhau, cô dâu chú rể nếu bận ông tác cũng nên được miễn thứ. Nếu điều kiện cho phép thì nên duy trì, vì lễ này mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp:
Nhắc nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ cũng như bố mẹ mình.
Thắt chặt và mở rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ buổi đầu, tình cảm được nhân đôi.
Hai gia đình cùng trao đổi rút kinh nghiệm về việc tổ chức hôn lễ và bàn bạc về trách nhiệm của hai bên bố mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi trẻ trong tương lai.
Đa số người tuổi Tý thuộc nhóm máu O đều có khiếu hài hước, sống vui vẻ lạc quan. Nhờ tính cách này mà họ luôn mang lại không khí vui vẻ cho người yêu trong các buổi hẹn hò.
Những người này thường rất tự tin vào tình yêu mà mình đang theo đuổi và luôn cố gắng để vun đắp nó. Tuy nhiên, nếu thấy người yêu không còn tha thiết với mình như lúc đầu, họ cũng thay đổi thái độ ứng xử phù hợp.
Chính vì vậy khi buộc phải chia tay, họ không bị chìm vào cảm giác chán nản và thất vọng như thường thấy. Họ sẽ nhanh chóng cân bằng lại tinh thần để tiếp tục tạo dựng những mối quan hệ mới.
Với người tuổi Tý nhóm máu O, gia đình đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ.
Sau kết hôn, nữ giới tuổi này chăm lo chồng con rất chu đáo. Họ có thể coi là mẫu người của gia đình. Bên cạnh đó, một số phụ nữ thuộc nhóm máu này không những quán xuyến mọi công việc gia đình mà còn rất giỏi với các công việc xã hội. Cuộc sống gia đình dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn song họ luôn sát cánh cùng chồng gánh vác, bàn cách ứng phó giải quyết.
Nam giới thuộc tuổi này trở thành những người chủ rất có trách nhiệm với gia đình. Họ sẵn sàng chia sẻ công việc nhà với vợ và cùng chăm sóc con cái.
Các bài viết cùng chủ đề người tuổi Tý, có thể bạn quan tâm:
Tuổi Tý nhóm máu O: Lanh lợi, phóng khoáng, hậu vận phú quýBài trí phong thủy văn phòng cho người tuổi Tý dễ phát tàiXem giờ sinh phú quý cho người tuổi TýLuận giải vận số của người tuổi Tý theo ngày sinh
Việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa trong năm mới mang ý nghĩa “tẩy rửa mọi vận khí xui rủi xấu xa, đón chào vận khí năm mới”. Việc dọn dẹp nhà cửa cũng bao hàm ý
Chụp ảnh là việc không thể thiếu khi đi du lịch, lưu lại những kỉ niệm đẹp của chuyến đi, lại có hiện vật mang về khoe với bạn bè, người thân. Tuy nhiên những cấm kị khi chụp ảnh dưới đây thì nhất định phải nhớ, có thích tới đâu cũng không thể lưu lại hình trong những trường hợp này.
1. Không chụp ảnh cùng người lạ
Không nên tùy tiện chụp ảnh cùng người không quen biết bởi người đó có thể mang tới những điều không may mắn như mang ảnh ra làm trò đùa, phát tán trên mạng xã hội hoặc xấu hơn là không may người đó gặp chuyện chẳng lành như thiệt mạng sẽ lần theo bức ảnh đến quấy nhiễu bạn.Về tâm linh, hiện tượng này hoàn toàn có thể xảy ra nên để tránh phiền phức hãy từ chối nếu người khác mời chụp ảnh chung. Bản thân cũng không nên mời người lạ chụp ảnh cùng.
2. Không chụp ảnh cùng cây cổ thụ
Dân gian truyền lại rằng, cây cổ thụ có linh khí, còn có thể là nơi trú ngụ của hồn ma bóng quế nên một trong những cấm kị khi chụp ảnh là không chụp dưới gốc cây cổ thụ kẻo khi xem ảnh sẽ thấy hiện tượng lạ đấy. Xem thêm bài viết Nằm lòng những ngày kiêng cắt tóc để tránh xui xẻo
3. Không chụp ảnh ở góc tường
Lưu ý tâm linh khi chụp ảnh là không chụp ở góc tường, dưới dây điện cao thế vì như vậy sẽ mang tới sát khí cho bản thân. Khi lấy cảnh nên quan sát thật kĩ, tránh phạm phải lỗi này mà họa tới lúc nào không biết.
4. Cẩn thận khi chụp ảnh ở nghĩa trang
Khi hạ huyệt, thăm mộ, tảo mộ trong tiết Thanh Minh có không ít gia đình muốn lưu lại kĩ niệm nên chụp ảnh cùng bia mộ mà không biết rằng ở nghĩa trang còn có rất nhiều phần mộ của người khác, không loại trừ khả năng chụp cả những linh hồn xung quanh, điều này rất không tốt lành. Vì thế hãy thực sự thận trọng nếu muốn chụp ảnh tại đây.
5. Lưu ý khi chụp ảnh 3 người
Nhiều người tin rằng chụp ảnh 3 là không may mắn, không tốt lành, người ở giữa sẽ bị ma bắt hay người ở giữa sẽ bị hai người bên cạnh xa lánh. Vì thế khi đi du lịch, chụp ảnh kỉ niệm tốt nhất là không nên chụp ảnh 3 người, có thờ có thiêng có kiêng có lành. Nếu thực sự vẫn muốn chụp bức ảnh kỉ niệm thì 3 người nên cùng nhau nắm một vật gì đó, coi như là có thêm một nhân vật trong bức ảnh cho hợp quy cách. Xem thêm bài viết 15 cách tránh tà khí xâm nhập bạn nên biết
6. Không chụp ảnh ở tháp
Hầu hết mọi người đều lơ là cấm kị khi chụp ảnh này, thấy tòa tháp đẹp liền chụp tới tấp. Nhưng có rất nhiều tỏa bảo tháp dùng để trấn yêu, chế áp sát khí ma quỷ nên không hề may mắn. Tương tự, tự miếu, tượng Phật cũng là biểu tượng tâm linh, không thích hợp để chụp ảnh chung.
7. Phụ nữ mang thai thận trọng
Phụ nữ mang thai khi đi du lịch phải hết sức lưu ý, không nên chụp ảnh ở nơi có âm khí nặng ví dụ như nhà bỏ hoang, tầng hầm, phòng tối. Nơi này đối với người bình thường đã không tốt, đối với thai nhi lại càng bất lợi hơn.
8. Không chụp ảnh với đồ cổ
Du lịch sẽ bắt gặp không ít bảo vật, có thể là đồ cổ, nhà cổ tạo sự hứng thú, tò mò. Tuy nhiên chỉ nhìn ngắm một lúc, không nên lưu lại quá lâu, càng không nên chụp nhiều ảnh. Cố cung, lăng tẩm là nơi linh thiêng, hãy tuân thủ quy định, tuyệt đối không lén lút ngồi trộm lên các hiện vật và chụp ảnh lại, không những bị nhắc nhở xử phạt mà còn gặp phải không ít phiền toái về phương diện tâm linh nữa đấy. Xem thêm bài viết 9 điều kiêng kị bạn cần biết để có một chuyến du lịch "đẹp như mơ"
9. Không chụp ảnh ban đêm
Ban đêm ra ngoài dạo chơi tốt nhất là không nên chụp ảnh, bằng không có thể có vật thể không rõ ràng lọt vào bức hình cũng nên. Hơn nữa ánh sáng máy ảnh vào ban đêm cũng rất dọa người, mờ mờ ảo ảo, không dùng thì hơn.Những cấm kị khi chụp ảnh ở trên là kinh nghiệm dân gian truyền miệng, có người tin có người không tin song vẫn nhắc nhở bạn đọc để tránh được đến đâu hay đến đó. Tâm linh vẫn luôn là vấn đề chưa có lời giải đáp chính xác nên đúng hay sai, có thật hay không có thật chỉ là phỏng đoán, tùy vào quan điểm của mỗi người. Vì sao không nên cắt móng tay vào ban đêm?Những điều chưa biết về giờ Ngọ ba khắcThực hư việc tỏi xua đuổi được tà ma Thái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Ngoại hình ngôi nhà là 1 trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tài vận, sự nghiệp của gia chủ. Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ yếu tố này khi chọn mua nhà.
Ngoại hình ngôi nhà là 1 trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tài vận, sự nghiệp của gia chủ. Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ yếu tố này khi chọn mua nhà.
(Ảnh minh họa)
- 4 phía nhà nhô cao là tốt. Phúc lộc dồi dào, làm ăn phát đạt, con cái tài giỏi.
- Phía trước nhà có gò cao, phía sau có núi đồi, phía Đông có dòng nước, phía Tây có đường là đại cát. Con cháu đời đời làm quan, hưởng lộc may mắn.
- Phía Đông cao, Tây thấp, phía Bắc có núi nhiều là đại cát. Tiền của như núi, trên dưới vui vẻ, thuận hòa.
- Tây ngắn, Đông dài, chủ nhà may mắn, của cải dồi dào, con cháu thịnh vượng.
- Phía Nam có gò đất, phía Bắc có đồi, phía Tây có dòng nước chảy về phía Nam, địa thế thấp dần về phía Đông, kéo dài hơn 1 dặm là tốt.
- 2 bên Đông, Tây có dòng sông chảy qua là tốt. Gia chủ luôn gặp may, hậu thế đời đời hưởng phúc.
- Phía Tây Nam có hồ nước, Đông Bắc có đồi núi là tốt. Gia chủ giàu sang, con cháu hưởng lộc trời.
- Hướng Tây Nam có gò đất cao, là cát. Càng ở lâu, con cháu càng vinh hiển, đời đời thịnh vượng.
- Hướng chính Bắc cò gò mộ là cát. Ở chốn này, người quân tử làm quan hưởng lộc, bình dân thì gia đạo êm ấm.
- Phía Tây Bắc có gò đồi, tốt. Gia đình ngày càng thịnh vượng. Con cháu thành đạt làm rạng rỡ tổ tông.
- Phía Nam và phía Bắc có núi cao, phía Đông và phía Tây có bãi cát, ao hồ, chủ nhà phú quý, trường thọ.
- Phía Đông Bắc có gò đồi là cát. Của cải dồi dào, con cháu hưng thịnh.
- Phía Bắc nhà ở có gò đồi, phía Nam gần ao hồ, địa thế cao dần về phía Tây Bắc là tốt. Con cháu vinh danh rạng rỡ tổ tông.
- Phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc có đồi cao, phía Tây Nam có núi đồi, phía Nam thoai thoải là tốt. Dựng nhà nơi đây, lắm của nhiều con. Con cháu tài ba, vinh hiển.
- Phía Tây Bắc có núi dài hơn vạn dặm, hướng Đông Nam lại có núi cao trùng trùng điệp điệp, địa thế Tây Nam, Đông Bắc bằng phẳng thì giàu sang.
- Phía Bắc có núi, phía Đông có dòng nước trong xanh, hướng Tây có đường đi là tốt. Con cháu làm vinh hiển.
Trong xã hội, người thiện thì ít mà kẻ ác lại qúa nhiều. Tướng ác làm sao mà ra cho hết, các nhà tướng số đã tạm xếp tướng ác nhất của đàn bà vào 9 đặc điểm sau đây, gọi là“cửu ác nữ” : * Chin tướng tiện ác đàn bà : 1- Quyền cao mắt lộ 2- Hầu gồ cao
EXPLAIN not possible on query: UPDATE `tho_extensions`
SET `params` = '{\"mediaversion\":\"441d88815c2d31983329deea0b12bbca\"}'
WHERE `type` = 'library' AND `element` = 'joomla'