Mơ thấy vàng –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Ví dụ Can ngày là Giáp Mộc, Mộc sinh vào xuân, Thuỷ có thể sinh Mộc cho nên chi tháng nếu gặp tháng xuân thì thuộc về vượng. Gặp về mùa Đông, coi là tướng đều thuộc gặp thời. Nếu như Can ngày Giáp Mộc không sinh vào tháng đông xuân, mà chỉ sinh vào tháng Mộc có thể sinh Hoả, Hoả sinh Mộc vào tháng hạ, tháng Mộc có thể khắc Thổ, Thổ vượng Mộc tù tức là vào tháng 3, 6, 9, 12, thậm chí sinh vào tháng thu Kim có thể khắc Mộc, Kim thịnh Mộc tử, đều thuộc vào không gặp thời. Gặp thời thì bản thân cường vượng, không gặp thời thì bản thân suy nhược, về mối quan hệ cua Ngũ hành với Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử của bốn mùa trong năm, ở trên đã nói kỹ rồi, cứ địa là hiểu. Ngoài ra, quan sát mối quan hệ Can ngày và Can tháng, còn có lợi cho việc nhận định cách cục Bát tự của một coi người. Sau khi xem mối quan hệ của Can ngày và Chi tháng, lại xem ô dưới Can ngày thuộc về Địa Chi nào, Địa Chi này đối với Can ngày mà nói, nó ở vào trạng thái nào trong 12 cung ký sinh, là Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Đế vượng hay là Suy, Bệnh, Tử, mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng? Ngoài ra không được quên xem Can Chi của Can chi giờ và trụ tháng ở bên phải trái sát ngay Can Chi của chi ngày, còn như Can Chi của trụ năm, những Âm Dương ngũ hành đại biểu cho những Can Chi này với Can Chi ngày của bản thân mà nói thì tình hình sinh khắc phù ức như thế nào.
Cách xem này, nói đúng ra trên cơ sở lấy Can ngày làm chủ, lấy Chi năm làm gốc, có thể biết được thịnh suy của cuộc đời. Lấy trụ tháng làm mầm giống, có thể biết được người thân khác của bố mẹ không, anh em có tốt hay không tốt, lấy trụ Nhật chủ làm bản thân, Chi ngày làm vợ, có thể biết vợ có hiền thục hay không, lấy trụ giờ làm hoa quả, có thể biết con cái có hưng vượng hay không.
Ở đây điều quan trọng là: chúng ta không thể nào được quên, căn cứ vào nhu cầu sinh khắc phù ức của Ngũ hành Can ngày lấy ra Dụng thần, sau đó lại xem Dụng thần này thích cái gì, kỵ cái gì. Có như vậy mối suy xét được toàn diện để luận đoán. Bây giờ đem cách xem Can, cách cục và Can Chi Hợp Hoá hình Xung trong mệnh phân tích cụ thể như sau:
1. Trước tiên xem xét Can ngày cường nhược
Can ngày có nhiều cách gọi tên, như gọi là chủ, mệnh chủ, thân chủ, nhật nguyên, nhật thần. Trong Bát tự của một con người, địa vị của Can ngày được cân nhắc nặng nhẹ rất kỵ vì Can ngày đại biểu cho bản thân con người. Vì vậy từ điểm này xuất phát, đầu tiên phải đoán định Can ngày của bản thân một người suy vượng cường nhược như thế nào, trở thành điều kiện đầu tiên của xem mệnh.
Phương pháp đoán định Can ngày của một người cường nhược chủ yếu có 3 điểm.
Thứ 1, xem can ngày ở tháng sinh có được lệnh hay không được lệnh. Ví dụ Can ngày Giáp, Ất gặp Chi tháng Dần, Mão, Bính, Đinh gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, Mậu, Kỷ gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, hoặc Thìn, Tuất, Sửu Mùi, Canh Tân gặp Chi tháng Thân, Dậu, Nhâm Quý gặp Chi tháng Hợi Tý, đều ở vào trạng thái được lệnh sinh vượng tốt nhất, cho nên Can ngày này cường ngược lại, Can ngày sinh trong nguyệt lệnh nếu như ở trạng thái hoặc Hưu, hoặc Tù, hoặc Tử, như vậy là nhược.
Thứ 2, Can ngày trong tứ trụ được trợ giúp nhiều hay ít. Ví dụ Can ngày thuộc Giáp, Ất, Mộc nếu trong tứ trụ được Thuỷ Mộc trợ giúp nhiều thì là vượng mà đắc thế, ngược lại Can ngày Giáp, Ất Mộc không được thuỷ Mộc trong tứ trụ trợ giúp, thậm chí gặp phải Kim chế Hoả tiết, thì là nhược mà không đắc thế.
Thứ 3, đem Can ngày bản thân đối chiếu với Chi tứ trụ nếu gặp Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Lâm quan (lộc), Đế vượng hoặc Mộ khố thì là đắc địa đắc khí, bản thân tự nhiên cường vượng, ngược lại là thất địa thất khí, cường vượng không vươn lên được. Ba cái đắc lệnh, đắc địa, đắc thế tập trung vào một người, Can ngày ở vào trạng thái cực nhược. Lại còn phân ra vượng, cường, trung, suy, nhược. Vượng là Can ngày ở vào trạng thái cực vượng, cường là Can ngày ở vào trạng thái tương đối cường, trung là Can ngày ở vào trạng thái trung hoà, suy là Can ngày ở vào trạng thái tương đối suy, nhược là Can ngày ở vào trạng thái cực nhược, về nguyên tắc phù ức vượng, cường, suy nhược của Can ngày, đại thể là cực vượng thì nên tiết, cường thì nên khắc, suy thì nên phù, nhược thì nên ức. Xem ví dụ dưới đây:
Mệnh có ngày sinh cực vượng:
Tháng thương cung Ất Mão Ất Mộc đế vượng Năm Tỷ kiên Giáp Dần lộc
Ngày Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục
Giờ Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục
Mệnh này được tạo nên, Can ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Mão trọng xuân, ở trạng thái hưng phấn, cho nên đắc lệnh. Giáp Mộc trong tứ trụ, sinh ra nó có 2 Chi ngày và Chi giờ đều là Quý Thuỷ, coi là An thụ (Chính ấn), nó có Can năm, Can giò đều là Giáp Mộc đồng loại, coi là Tỉ kiên và Ất Mộc trong Chi tháng Mão coi là Kiếp tài, cho nên đắc thế.
Giáp Lộc đến Dần, Chi năm Dần là Lộc của Giáp, với Chi tháng Mão ở Giáp thì ở vào trạng thái thiếu Đế vượng nên lấy là đắc địa, mệnh Giáp Mộc này đắc lệnh, đắc thế, đắc địa, được 3 cái đắc nên Nhật chủ cực thịnh.
Mệnh của Nhật chủ tương đối vượng:
Mệnh của Nhật chủ cực nhược: Mệnh này được tạo nên, Can ngày Kỷ Thổ sinh vào tháng Tý tức mùa đông tuyệt địa, không đắc lệnh. Do Chi ngày Chi giờ là Tỵ Hoả, là quê Đế vượng của Can ngày Kỷ Thổ mà Chi năm Mậu Thổ lại là dưỡng địa của Kỷ Thổ cho nên đắc địa. Cộng vào Can Chi tứ trụ Tỉ Kiếp trùng trùng, có Ấn sinh phù cho nên đắc thế. Nhìn vào toàn cục của mệnh là đắc địa, đắc thế. Từ nhược chuyển cường, cho nên lấy Can tháng chính quan Giáp Mộc làm Dụng thần, đó là thân cường kham nhậm tài quan mà sách mệnh học nói.
Mệnh mà nhật chủ tương đối nhược: Mệnh này được tạo nên, Căn ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Thân đầu thú Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh Giáp Mộc trong tứ trụ, trụ tháng Canh Thân và Chỉ năm, Chỉ tháng Thân Kim đều là Thất sát khắc nó, còn Chi ngày Chi giờ Đinh Hoả lại ra sức tiết nó, thêm vào lại có Tỷ, Kiếp trợ giúp cho nên thất lệnh. Giáp Mộc trong địa Chi giờ, ngày, năm, tháng đều ở vào trạng thái Tử Tuyệt cho nên thất địa. Thất lệnh, thất thế, thất địa, cả ba đều mất sạch, cho nên là mệnh của Nhật chủ cực nhược.
Mệnh mà nhật chủ trung hoà:Năm Tháng Ngày Giờ Mệnh này được tạo nên, Nhật chủ Mậu Thổ, sinh vào tháng Thìn Quan đái, Thìn lại là Thổ và ngày sinh lại đúng vào thời tiết Thổ vượng trước Lập hạ 18 ngày, cho nên đắc lệnh. Nhưng Mậu Thổ tuy đắc lệnh, nhưng địa Chi Dần Mão Thìn sẽ thành Đông phương Mộc cục mà Can Chi năm Mậu Thổ ra thiếu Ấn, Tỷ trợ giúp, nên phải xem khắp toàn cục. Bị Mộc thế cường vượng chế ước, mệnh chủ ở vào thế nhược tương đối
Năm kiếp tài Giáp Dần đế vượng
Tháng thiên ấn Quý Dậu tuyệt
Ngày Ất Hợi tử
Giờ thương quan Bính Tý bệnh
Mệnh này được tạo nên nhật chủ Ất Mộc, sinh vào tháng Dậu giữa thu Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh. Ất Mộc trong tứ trụ, được can tháng, chi ngày chi giờ và trụ năm Thuỷ Mộc trợ giúp nên là đắc thế. Ất Mộc tuy trong chi tháng chi ngày ở vào đất tuyệt, bệnh nhưng chi năm đế vượng đắc khí, cho nên trung hoà.
Tổng hợp lại thất thời, đắc thế, địa khí trung hoà, cho nên mệnh này nhật chủ trung hoà hoặc thiên về cường một chút. Nhìn chung về tình hình nhật chủ cường nhược. Trần Tố Am trong sách Cách xem nhật chủ đã nói lên chủ trương của mình:
“Sách cũ nói về cường nhược của nhật chủ hoặc chuyên chủ thích nhấn mạnh về cường nhược, nếu cường quá thì phải ức mạnh, nếu nhược quá thì phải phù nhiều, thuyết này là “có bài thuốc chữa bệnh là quý”, như vậy là thiên kiến. Hễ nhật chủ rất quý trung hoà, tự nhiên cát nhiều hung ít, chỉ có thể phải ức cường phù nhược thì còn gì tác dụng. Các tác dụng là như ngày Mộc cường thì dùng Kim khắc, dùng Hoả tiết, ngày Mộc nhược dùng thuỷ để sinh, dùng Mộc trợ giúp, nếu đắc Thổ mà sát thế của nó, cũng phải ức, mượn Thổ để bồi bổ gốc của nó, cho nên phải phù, rốt cục quy về trung hoà mà thôi. Sách cũ nói nhật chủ nam giới không hiềm can cường, nhưng cường quá cũng phải ức, nhật chủ nữ giới không hiềm can nhược, nhưng nhược quá cũng hỏng. Còn về chi của nhật chủ, tương đối thân thiết, nhưng cát thần toạ ở tài quan cũng cần được tứ trụ thấu xuất phù trợ, hung thần toạ thương kiếp, tứ trụ cũng phải phạt mà khử đi.
Xem cách cục trong mệnh.
Trong mệnh lý học tứ trụ, xem cách cục cũng là một khâu quan trọng không thể xem thường, tuy nhiên về khâu này lại có cách xem khác nhau, có nhà mệnh lý học cho rằng vứt bỏ cách cục đi cũng có thể xem được mệnh, nhưng trong phần lớn trường hợp, xem cách cục vẫn tốt hơn nhiều so với bỏ cách cục. Theo cách nói của sách đoán mệnh, có sự khác nhau giữa chính cách và biến cách, chính cách có chính quan, thất sát, chính tài, thiên tài, chính ấn, thiên ấn, thực thần, thương quan tất cả 8 loại, nếu bỏ đi chính thiên của hai cách tài, ấn vẫn còn 6 loại, còn như biến cách thì thiên biến vạn hoá, khó mà lần mò được.
Thế thì làm thế nào xem cách được cụ thể? Đầu tiên dùng nguyên tắc “chi tháng tàng can” để xem cách cục. Gọi là “chi tháng tàng can” có nghĩa là thiên can nào ẩn chứa trong địa chi của tháng (như đã trình bày ở phần mở đầu và các phần trên đây). Khi áp dụng nguyên tắc này, đầu tiên phải xem thiên can ẩn chứa trong chi tháng, nguyên khí của nó có thấu đến can tháng, can năm, can giờ không, nếu có ví dụ như can tháng Dần thấu (tàng) Giáp, can tháng Mão thấu Ất, can tháng Thìn thấu Dậu, can tháng Tỵ thấu Bính, can tháng Ngọ thấu Đinh, can tháng Mùi thấu Kỷ, can tháng Thân thấu Canh, can tháng Dậu thấy Tân, can tháng Tuất thấu Mậu, can tháng Hợi thấu Nhâm, can tháng Tý thấu Quý, can tháng Sửu thấu Kỷ, đều có thể căn cứ vào thiên can tìm ra này mà xem môi quan hệ sinh khắc của nó với thiên can nhật chủ, lấy làm cách cục. Nếu như Chi tháng thấu ra là chính tài thì là chính tài cách, nếu Chi tháng thấu ra là thiên tài thì thiên tài cách,Chi tháng thấu ra là chính quan thì là chính quan cách, Chi tháng thấu ra là thiên quan thì là thiên quan cách; Chi tháng thấu ra là ấn thụ thì là ấn thụ cách, Chi tháng thấu ra là thiên ấn thì là thiên ấn cách, Chi tháng thấu ra là thương quan thì là thương quan cách, Chi tháng thấu ra là thực thần thì là thực thần cách.
Ngoài ra trong chi những tháng Tý, mão, Dậu chỉ hàm chứa một thiên can nguyên khí, nếu như nguyên khí này không thấu ra ở năm, tháng, giờ, cũng có thể căn cứ mối quan hệ của chi tháng can ngày mà lấy làm cách cục. Thứ 3, nếu như thiên can của nguyên khí can ẩn chứa trong chi tháng không thấy ra ở năm, tháng, giờ, thế thì lại xem những thiên can khác ẩn chứa trong chi tháng có thấu ra không, ví dụ nguyên khí của chi tháng Dần là Giáp Mộc, nhưng nếu ở Giáp Mộc không có thiên can thấu ra mà Bính Hoả hoặc Mậu Thổ ẩn tàng trong đó có thấu ra thì cũng có thể căn cứ mỗi quan hệ giữa
Bính Hoả hoặc Mậu Thổ với thiên can trụ ngày mà lấy làm cách cục. Còn như nên lấy Bính Hoả hoặc lấy Mậu Thổ thì phải xem lực lượng của hai cái mạnh nhiều hay ít. Thứ 4, nếu như nguyên khí của chi tháng và một trong những ngũ hành ẩn tàng không thấu ra thiên can, thế thì phải căn cứ vào các can ẩn chứa trong chi tháng, so sánh sự cường nhược thịnh suy giữa chúng nó, chọn lấy một cái tương đối đắc lực hơn, sau đó lại căn cứ vào mối quan hệ giữa thiên can này với thiên can khác mới lấy làm cách cục. Ngoài ra, nếu mối quan hệ giữa can ẩn tàng trong chi tháng với trụ ngày thuộc về tỉ, kiếp, lộc, nhận thì thông thường không lấy làm cách cục chính thức mà phải đặc biệt lấy làm biến cách. Ví dụ ngày Giáp tháng Dần, ngày Ất tháng Mão, ngày Bính tháng Tỵ, ngày Đinh tháng Ngọ, ngày Mậu tháng Tỵ, ngày Kỷ tháng Ngọ, ngày Canh tháng Thân, ngày Tân tháng Dậu, ngày Nhâm tháng Hợi, ngày Quý tháng Tý, do Giáp Lộc ở Dần, Ât Lộc ở Tỵ, Đinh Lộc ở Ngọ, Mậu Lộc ở Tỵ, Kỷ Lộc ở Ngọ, Canh Lộc ở Thân, Tân Lộc ở Dậu, Nhâm Lộc ở Hợi, Quý Lộc ở Tý (xem nội dung các phần trên đây), cho nên có thể mở ra cách chính cách khác, lấy làm biến cách kiến lộc, biện pháp xem cách cục nói trên, không thể không lấy ví dụ để nói rõ, để hiểu được tận nguồn gốc.
Ví dụ: Mệnh chọn:
Năm Tân Sửu
Tháng chính cung Mậu Tuất, Mậu
Thổ, Tân Kim, Đinh Hỏa
Ngày Qúy Mùi
Giờ Nhâm Tý
Mệnh này sinh vào ngày Quý, chi tháng Tuất chứa Mậu Thổ, Tân Kim, Đinh Hoả, trong đó Mậu Thổ thấu ra can tháng, Tân Kim thấu ra can năm, do nguyên khí của Tuất là Mậu Thổ nên lấy Mậu Thổ để định cách cục. về Quý Thuỷ mà nói, Mậu Thổ khắc chính quan của nó, cho nên cách cục của mệnh này là chính quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Kỷ Tỵ
Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,
Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ
Ngày Bính Thìn
Giờ Kỷ Sửu
Mệnh này sinh vào ngày Bính mà chi tháng Thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó nguyên khí của Thân Canh Kim có thể thấu ra 3 trụ năm, tháng, giờ, mà chỉ có Nhâm Thuỷ thấu ra can tháng, cho nên căn cứ giữa Bính Hoả và Nhâm Thuỷ dương nọ khắc dương ta là Thiên quan, lấy cách cục là thiên quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Giáp Thìn
Tháng Bính Tý chính quan
Ngày Bính Thân
Giờ Kỷ Hợi
Mệnh này sinh vào ngày Bính mà trong chi tháng Tý tàng chứa Quý Thuỷ, vì rằng 3 chi Tý, Mão, Dậu chỉ tàng có nguyên khí cho nên căn cứ điều 2 ở nguyên tắc lấy cách, theo mối quan hệ hình thành chính quan giữa Quý Thuỷ và Bính Hoả, nên lấy chính quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Giáp Dần
Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,
Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ
Ngày Nhâm Thân
Giò Ất Tỵ
Mệnh này sinh vào ngày Nhâm mà trong chi tháng thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó Nhâm Thuỷ tuy thấu ra can tháng nhưng do giữa can tháng và can ngày hình thành quan hệ Tỷ kiên, cho nên không lấy làm cách, lại thấy Canh Kim Mậu Thổ trong Thân, do Canh Kim thuộc nguyên khí của chi thân, sức mạnh rõ ràng vượt qua Mậu Thổ, cho nên lấy quan hệ thiên ân giữa Canh Kim và Nhâm Thuỷ, định cách cục là thiên ấn cách.
Trong mệnh còn có nhiều loại cách cục khác, chúng tôi sẽ có một thiên chuyên nói về vấn đề này.
2. Ba lần xem hình xung hợp hoá của Can Chỉ
Hình xung hợp hoá giữa thiên can và thiên can, địa chi và địa chi trong Bát Tự, có ảnh hưởng tới âm dương ngũ hành trong mệnh cục, cho nên các nhà mệnh lý học cũng rất coi trọng, cách xem đại thể là:
Hai Can tương hợp, quý Thổ đắc trung. Ví như Giáp Kỷ hợp Thổ địa Chi cả hai đều hưởng sinh vượng , đó là được trung mà không thiên. Nếu như Giáp quá mạnh, Kỷ quá nhu, như vậy một bên thái quá, một bên bất cập, sẽ không trung hoà. Dương đắc âm hợp, âm đắc dương hợp, sách đoán mệnh nói: thiên can hợp, dương đắc âm hợp, phúc đến chậm, âm đắc dương hợp, phúc đến nhanh, ví như dương ở Giáp đắc âm ở Kỷ hợp thành tài, âm ở Kỷ đắc dương ở Giáp hợp thành quan, tuy đều là phúc nhưng cái trước phúc chậm, cái sau phúc nhanh khác nhau. Lại có người cho rằng, trong mệnh hợp nhiều thì tính thích dầm lạc, cho nên nữ mệnh tối kỵ hợp nhiều, nhưng với Giáp Kỷ và Ất Canh hợp nhau, lại không kỵ với nữ mệnh.
Hai can tranh hợp, Ảm Dương thiên khố, nếu như gặp hai thiên can hợp với một thiên can, trong sách đoán mệnh gọi là âm dương thiên khô, ví như trong hai giáp hợp một kỷ, hoặc hai kỷ hợp một giáp khác nào chồng nhiều vợ ít, hoặc vợ nhiều chồng ít cũng vậy. Khó tránh bất đồng xung khắc cho nên không phải là chuyện tốt.
Can ngày hợp hoá, thông báo thừa vượng. Đây là nói can ngày hợp với thiên can năm, tháng, giờ, phải sinh vào ngày mà ngũ hành bản can sinh vượng, như vậy là vượng mà có gốc. Ví như Thân Kỷ hợp mà hoá Thổ, phải sinh vào tháng Thổ vượng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ất Canh hợp mà hoá Kim, phải sinh vào tháng, Kim vượng Tỵ, Dậu, Sửu hoặc Thân, Bính Tân hợp mà hoá Thuỷ, phải sinh vào tháng Thuỷ vượng Thân, Tý, Thìn hoặc Hợi, Đinh Nhâm hợp mà hoá Mộc, phải sinh vào tháng Mộc vượng, Hợi, Mão, Mùi hoặc Dần, Mậu Quý hợp mà hoá Hoả, phải sinh vào tháng Hoả vượng Dần, Ngọ, Tuất hoặc Tỵ, nếu không thì không thể nói là hoá.
Gián cách càng xa, tuy hợp khó hoá. Thiên can hoá hợp, ngoài phải kết hợp tháng sinh ra, còn phải xem vị trí xa gần. Nếu can năm thuộc Ất, can giờ thuộc Canh, hai can gián cách xa, sức hợp đơn mỏng, thì cũng không hẳn là hoá.
Thiên Can tương hợp, có cát có hung. Sau khi thiên can hợp với nhau rồi, phần lớn bản thân hãy còn 6-7 phần lực lượng ví như Ất Canh hợp Kim, Kim tuy bị hợp nhưng tính chất bản thân vân còn tồn tại quá nửa. Thiên can sau khi tương hợp là cát hay là hung, phải căn cứ tình hình cụ thể mà định. Trong tình hình chung, hợp lại không phải là việc xấu nhưng một khi nếu hỉ thần hoặc dụng thần của can ngày bị hợp thì chủ hung thần loạn ý, tình hình không tốt nữa.
Địa Chi lục hợp phân biệt đối xử. Tức là nói, địa chi mà mệnh cục hỉ sau khi bị lục hợp mất thì phải giảm cát, địa chi phải kỵ sau khi bị hợp sẽ bị giảm hung. Ngoài ra địa chi hợp cục sẽ loại bỏ hình xung không cát. Tình hình cụ thê phải được phân tích cụ thể. Ví như mệnh cục thích Tý. Trong địa chi có Sửu hợp mà hoá Thổ sẽ giảm phần trăm cát, ngược lại mệnh cục kỵ Tý nhưng gặp Ngọ xung, lúc này nếu có Mùi đi hợp Ngọ, như vậy sẽ giải được tương xung giữa Tý Ngọ. Điều cần chú ý ở đây là, địa chi lục hợp phải gắn chặt với nhau,như chi ngày và chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa, ngoài ra, địa chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa. Ngoài ra, địa chi nếu là nhị Mão hợp nhất Tuất hoặc nhị Tuất hợp nhất Mão, nhị Dần hợp nhất Hợi, hoặc nhị Hợi hợp nhất Dần, được gọi là ghen ghét mà hợp.
Địa chi tam hợp, luận cát luận hung, ở địa chi Thân, Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão, Mùi, hợp Mộc, Dần Ngọ Tuất hợp Hoả, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim, trong cục tam hợp này nếu hợp cục đem hỷ đến cho mệnh là cát, đem kỵ đến là hung. Ví như mệnh cục hỷ Thuỷ mà trong địa chi xuất hiện Thân Tý Thìn tam hợp Thủy cục thì gọi là hung. Ngoài ra nếu địa chi xuất hiện Thân Tý hoặc Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão hoặc Mão Mùi hợp Mộc, Dần Ngọ hoặc Ngọ Tuất hợp Hoả, Tý Dậu hoặc Dậu Sửu hợp Kim thông thường gọi đó là hợp cục, bán hợp cục lấy sát liền là hay. Nhưng dù cho tam hợp cục hay là bán hợp cục đều sợ phùng, tạo thành phá cục.
Địa Chi tam hội, xem hội cát hung. Ở địa chi Dần Mão Thìn hội đông phương Mộc, Tý Ngọ Mùi hội đông nam Hoả, Thân Mùi Tuất hội Tây phương Kim, Hợi Tý Sửu hội bắc phương Sửu, trong tam hội phương hướng cũng như địa chi tam hợp cục, nếu hội cục trong mệnh hỷ thì cát, mà kỵ thì hung, ví như mệnh cục hỉ Thuỷ, trong địa chi xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ thì gọi là cát, ngược lại mệnh cục kỵ Thuỷ, trong địa chi lại chỉ xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ, thế thì gọi là hung, về lực lượng, nếu uy lực của phương hướng địa chi tam hội lớn hơn tam hợp cục mà uy lực tam hợp cục lại lớn hơn lục hợp, vì vậy nếu trong tứ chi tam hợp cục hoặc tam hội phương hướng đồng thời xuất hiện, thông thường bỏ hợp lấy hội
Địa Chi lục xung, bản khí là trọng. Địa chi trong mệnh tương xung, lấy bản khí làm trọng, ví như Dần Thân tương xung bản khí của Dần là Giáp Mộc, bản khí của Thân là Canh Kim, cho nên hai cái đó tương xung, đầu tiên thể hiện ở Giáp Mộc và Canh Kim xung khắc, trong trường hợp thông thường vẫn là Thân Kim thắng mà Dần Mộc bại. Nhưng nếu như thời mệnh gặp Hoả vượng Kim suy, hoặc Thuỷ vượng Hoả suy, lại có thể tạo thành Dần Hoả thắng mà Thân Kim bại hoặc Thân Thuỷ thắng mà Dần Hoả bại. về cát hung nếu địa chi mà mệnh cục hỷ bị xung bại thì hung, địa chi mà mệnh cục kỵ bị xung bại thì cát. Điều cần bổ sung ở đây là, địa chi tương xung phải ở sát liền kề nhau mới coi là xung, nếu xa cách chỉ coi là giao động chút ít. Lục xung và tam hợp cục cùng xuất hiện, do lực lượng của tam hợp lớn hơn lục xung, cho nên lấy hợp cục. Nhưng nếu bán hợp cục có lúc phùng xung, cũng có thể giải bỏ hợp đi. Ví nhu giò Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giờ Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giò Tỵ bán hợp nhưng chi ngày Hợi và chi giò Tỵ tương xung thì giải bỏ bán hợp cũng chi tháng Dậu và chi giờ Tỵ.
Địa Chi Hình Hại, động giao chút ít. Địa chi Tý hình Mão, Mão hình Tý vốn là Thuỷ Mộc tương sinh, Tỵ hình Thân, Tỵ Thân vốn hợp, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, đều là Thổ đồng loại, còn như Thân hình Dần, Mùi hình Sửu, không phải là tương xung mà thôi. Cũng vậy, địa chi tương hại cũng giống như địa chi tương hình, ảnh hưởng không lớn, chỉ là động giao chút ít mà thôi.
Hình xung hoá hợp của can chi nói trên, sách Trích thiên thuỷ còn có cách nói: chi dương động và cường, lành dữ hiện lên nhanh, chi âm tĩnh và chuyên, lành dữ phải qua năm. Trong 12 địa chi thì Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ là dương, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là âm nhưng phần lớn các nhà tinh mệnh học lại lấy Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương, lấy Sửu Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là âm. Do chi dương tính động mà cường, cho nên nghiệm số cát hung thường hiện nhanh, chi âm tính tình mà nhược nên hoạ phúc thường đến chậm, ngoài ra, Trích thiên Thuỷ còn nói: “sinh phương sợ động khố nên khai, bại địa phùng xung cần tính kỹ”. Dần, Thân, Tỵ, Hợi, là sinh phương. Bảo rằng sinh phương sợ động là vì, nếu có xung động, dễ dẫn tới kết cục lưỡng bại đều bị thương, như Dần, Thân phùng xung, Canh Kim trong Thân tuy khắc Giáp Mộc trong Dần nhưng Bính Hoả trong Dần không hẳn khắc được Canh Kim trong Thân, Nhâm Thuỷ trong Thân tuy khắc Bính Hoả trong Dần nhưng Mậu Thổ trong Dần không hẳn khắc được Nhâm Thuỷ trong Thân. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là “tứ khố”, thông thường trong khố chứa đựng Ấn thụ tài quan của ngày, nên xung thì khai, nhưng vẫn phải xem tình hình cụ thể, không thể nói chung chung, Tý, Ngọ, Mão, Dậu là địa chi của “Tứ bại” do khí nó tàng chứa chuyên mà không tạp, cho nên nếu phùng xung, phải tính kỹ nên hoặc không nên, không được câu nệ.
Do tình hình “tứ sinh” “tứ khổ” “tứ bại” phùng xung, Nhậm Thiết Tiểu trong trích thiên tuỷ đã nêu ví dụ nói:
Ví dụ: sinh phương phùng xung
Năm Quý Tỵ Tháng Quý Hợi
Ngày Giáp Thân Giờ Nhâm Thân
Đại vận Nhâm Tuất
Tân Dậu Canh Thân
Kỷ Mùi Mậu Ngọ Đinh Tỵ
Giáp Mộc can ngày sinh vào đầu mùa đông tháng Hợi, Mộc lạnh thích Hoả nhưng tứ trụ Nhâm Quý Thuỷ tràn, không có Thổ chế ước, Nhâm Thuỷ trong Hợi lại xung Bính Hoả trong Tỵ là tai hoạ, xem ra tựa hồ không đẹp. Nhưng hay ở chỗ Dần Hợi hợp Mộc khiến cho Kỷ Hoả ở tuyệt địa phùng sinh mà được hung phát. Kết hợp hành vận, tuổi trẻ vận nhập Tây Phương Kim địa, sinh Thuỷ chế Thuỷ, cho phong sương đầy tràn, lâu chảy không ngừng, sau tuổi 40 vận lâm nam phương Hoả Thổ, trợ giúp dụng thần, bỏ ấn lấy tài, cho nên nguồn tài sung mãn, lấy thiếp sinh con, qua đó thì thấy, ấn tuy tác dụng phùng tài. Gây hoạ không nhỏ: không dùng tài đến, phát lúc lớn nhất.
Ví dụ: sinh phương phùng xung
Năm Giáp Dần Tháng Nhâm Thân
Ngày Quý Tỵ Giờ Quý Hợi
Đại vận Quý Dậu
Giáp Tuất Ất Hợi Bính Tý
Đinh Sửu Mậu Dần Kỷ Mão
Canh Thìn
Nước mùa thu thêm nguồn, Thân Kim đương lệnh, Thuỷ trọng Mộc tù phùng xung, không đủ để dùng, Hoả tuy hưu mà ở sát chi ngày, khí dư của thu chưa tắt, dụng thần phải ở Tỵ Hoả, xấu ở Tỵ, Hợi Tỷ hàng xóm phùng xung, các kiếp phân tranh, cho nên đây khắc tam thê, không con, vận lại đi đến bắc phương Thuỷ địa, dẫn tới phá hao khác thường. Đến Mậu Dần, Kỷ Mão vận chuyển đông phương, thích dụng hợp nên, đã được no ấn. Canh vận chế thương sinh kiếp, lại gặp năm Dậu, Hỉ, dụng hai thương, không lộc.
Ví dụ: đại bại phùng xung
Năm thương. Tân Mão. quan
Tháng Ấn. Đinh Dậu. thương
Ngày Mậu Tý. tài
Giờ tỉ. Mậu Ngọ. ấn. kiếp
Đại vận Bính Thân
Ất Mùi Giáp Ngọ Quý Tỵ
Nhâm Thìn Tân Mão
Ở thương quan dụng ấn “này”, hỉ thần tức quan tinh, không như dân gian thường nói “Thổ Kim thương quan kỵ quan khẩn”. Chi tháng Dậu trong cục xung chi năm Mão, dẫn tới ấn tinh Đinh Hoả ở tháng mất đi thần sinh trợ, chi ngày Tý xung chi giờ Ngọ làm cho Đinh Hoả trong Ngọ, khó được hưởng cái của thương quan cho. Từ đó có thể biết, do địa chi Kim vượng Thuỷ sinh, Mộc Hoả xung khắc đến hết, cho nên thiên can Hoả Thổ hư thoát, không có rễ để cắm, quan sát cả đời mệnh chủ, học hành không đến nơi, kinh doanh trục trặc, lại thiên can trung vận, Kim Thuỷ nhất khí, không tránh khỏi có chí mà khó triển khai. Tuy nhiên tốt ở Thuỷ không thấu can, là người nho nhã phong lưu, giỏi về thư pháp nhưng không hề làm cho mệnh chủ nhờ đó mà thoát khỏi tù túng. Từ đó có thể thấy, hễ thương quan đeo ấn, hỉ thần dụng thần ở Mộc Hoả, thông thường đều kỵ gặp Kim Thuỷ.
Ví dụ: Địa Chi toàn là tứ khố
Năm Tân Mùi Tháng Tân Sửu
Ngày Mậu Thìn Giờ Nhân Tuất
Đại vận Canh Tý
Kỷ Hợi Bính Thân
Mậu Tuất Đinh Dậu Ất Mùi
Mệnh này đẹp, không phải ở các chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, đề tứ khố mà là Tân Kim nguyên thần thấu xuất trong chi tháng Mùi, thương quan Thổ tú, tiết ra tinh anh của cường Thổ, cộng thêm Mộc Hoả của tứ trụ, ẩn mà không thấy, cho nên mệnh cục thuần thanh không hỗn tạp. kết hợp hành vận, đến Dậu vận giò Tân Kim đắc địa học thi đỗ cao, sau đó vận đi về nam Phương, Mộc Hoả cùng vượng, dụng thần Tân Kim bị làm tổn hại, cho nên không tiến lên phát tích được.
Ví dụ địa chi toàn tứ khố
Năm Mậu Thìn Tháng Nhâm Tuất
Ngày Tân Mùi Giờ Kỷ Sửu
Mệnh này được tạo nên bởi Tân Kim nhật nguyên, toàn cục ẩn thụ, Nhâm Thuỷ thương tận, không đủ để dùng. Nếu thấy Ất Mộc tàng chứa ở chị Mùi, chị Thìn để dùng, chỉ đợi vận đến dẫn đi là có thể phá ấn nhưng hai khố Sửu Tuất song song xung phá khố Mùi khố Thìn, chém phạt Ất Mộc, cuối cùng dẫn tới khắc thê không còn, từ đó mà bàn, cách nói tứ khố phải xung khai, mấu chốt toàn ở thiên cần điều chỉnh mà được nên, càng cần dụng thần có lực, sau đó tuế vận phụ giúp mới có thể sống được bình yên, vận may đi thăng, nếu không sẽ không tốt.
Nguồn: Quang Tuệ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Lý tưởng nhất là sắp đặt theo hình Bát quái, bởi ghế ngồi thường xếp liền kề, không những có thể thúc đẩy sự hài hoà mối quan hệ xã giao, mà còn tạo nên không gian nghỉ ngơi thích hợp.
Sofa kiểu dáng mới mẻ sang trọng là một bộ phận không thể thiếu trong một căn nhà, tạo hình và màu sắc của nó thể hiện không khí trong một căn nhà. Sofa vải màu trang nhã là lựa chọn hợp phong thuỷ nhất, bởi sofa kị hoa loè loẹt.
Trong cuộc sống hàng ngày, sofa có chức năng làm nơi ngồi nghỉ ngơi, trò chuyện và tiếp khách khứa, bởi vậy trong phong thuỷ nhà ở, nó chiếm một vị trí khá quan trọng. Nên sự sắp xếp cũng cần hết sức thận trọng, phải đạt được các yêu cầu sau đây:
1. Về số lượng
Về hình dáng có sofa đơn, sofa đôi, sofa dài vàs ofa cong lưng, sofa quây tròn. Về chất liệu có sofa da, sofa giả da, sofa vải, sofa mây... về mặt màu sắc và tạo hình, càng “thiên hình vạn trạng”. Về số lượng sofa cũng phải thận trọng, kị bầy một bộ rưỡi sofa, hoặc 2 bộ sofa tròn vuông với nhau.

Bài trí sofa hợp phong thủy, cần chú ý tạo thế "tựa lưng vào núi", mang lại thịnh vượng cho gia chủ.
2. Phương vị kê đặt sofa
Sofa là nơi có thể để mọi người già trẻ trong nhà có thể nằm, ngồi nghỉ ngơi thoải mái, vậy nên phải chú ý tới phương vị kê đặt. Với nhà ở hướng Đông, thì sofa trong phòng khách đặt ở mé chính Đông, Đông Nam, chính Nam và chính Bắc, với nhà hướng Tây, sofa trong phòng khách nên đặt mé chính Nam, chính Tây, Tây Bắc và Đông Nam là đẹp.
3. Phía sau sofa nên có điểm tựa
Điểm tựa tương trưng cho núi, tựa vững chắc vào núi, đó là bức tường vững thãi kề phía sau sofa, không có cảm giác trống trải, chống chếnh phía sau, thế mới phù hợp với thuật phong thuỷ nhà ở. Người xưa thường dùng “tràng kỷ” (loại ghế tựa dài bằng gỗ, song mây, tre vầu...). Nhà giàu có thường dùng sofa, ghế bành bằng gỗ quý lưng tựa có khảm phiến đá vân mài nhẵn, có hoa văn và ẩn hiện phong cảnh sơn thuỷ rất đẹp, cũng mang ú nghĩa “tựa lưng vào núi”.
Nếu phía sau sofa là cửa sổ, là cửa ra vào hay lối đi lại, không gian trống, có nghĩa phía sau hư không chẳng có chỗ dựa vững chắc, cho người ngồi có cảm giác không an toàn, đương nhiên là kém thoải mái dễ chịu.
4. Sofa nên kê uốn lượn, không kê thẳng hàng
Địa vị quan trọng của sofa trong căn nhà ở cũng tựa như cảng khẩu chủ yếu của một quốc gia, phải cố gắng “nạp thuỷ” thật nhiều, mới hưng vượng. Mà một cửa hải cảng tốt thường 2 bên có bờ nhô ra như “tay ngai” tạo thành vịnh, như hình chữ U, che chắn bảo vệ 2 bên cạnh sườn, còn ở giữa chính là nơi nạp khí trong phong thuỷ, có thể “Tàng phong tụ khí”, để đạt được mục đích người và của cải đều dồi dào, hưng vượng
(Theo 100 câu hỏi về phong thủy nhà ở)
| ► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác |
![]() |
Rừng tự sát Aokigahara
Aokigahara là khu rừng nằm ở chân núi Phú Sĩ, Nhật Bản, được biết đến là nơi rất nhiều kẻ xấu số đã lựa chọn để kết liễu cuộc đời mình. Xu hướng này được cho là bắt đầu từ khi nhà văn Seicho Matsumoto cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Kuroi Kaiju, trong đó mô tả hai nhân vật chính đã tự tử tại chính khu rừng này. Đến nay, nơi đây đã trở thành địa điểm chết của Nhật Bản.
Nhiều khi thiết kế hoặc khi mua nhà, chúng ta không để ý nhiều tới phòng vệ sinh có cửa sổ hay không. Tuy nhiên, đừng nghĩ rằng phòng vệ sinh không quan trọng, nên có hay không có cửa sổ đều được. Vậy phòng vệ sinh không có cửa sổ, phong thủy sẽ thế nào?
Phong thủy phòng vệ sinh không có cửa sổ
Phòng vệ sinh là nơi âm khí nhiều nhất trong nhà, nơi mà dương khí duy nhất e chỉ có ánh sáng đèn điện. Nói cho cùng, ánh sáng đèn điện không phải ánh sáng tự nhiên, hơn nữa chỉ buổi tối mới bật, cho nên không có nặng lượng cao như ánh sáng tự nhiên. Ngoài ra phòng vệ sinh còn có nhiều uế khí, không thể đào thải sạch sẽ được, lại thêm không có cửa sổ, cho dù là ban ngày, phòng vệ sinh cũng sẽ rất tăm tối. Một nơi âm - lạnh - uế-đục, rất không có lợi cho sức khỏe của các thành viên trong gia đình và phong thủy của cả nhà.
Phòng vệ sinh không có cửa sổ không có lợi cho sức khỏe và phong thủy của mọi người trong nhà.
Hóa giải phong thủy phòng vệ sinh không có cửa
Nhiều người do chịu hạn chế về diện tích hoặc không gian xung quanh căn nhà nên không thể làm cửa sổ phòng vệ sinh. Cách hóa giải như sau:
- Trong phòng vệ sinh, lắp đặt quạt thông khí và nên thường xuyên bật để làm sạch và làm khô không khí trong nhà.
- Lắp đèn trường minh để thắp sáng cả ngày.
- Đảm bảo phòng vệ sinh luôn sạch sẽ, khô thoáng, nên thường xuyên quét dọn, diệt trùng.
Phòng thủy cửa sổ phòng vệ sinh
- Cửa sổ phòng vệ sinh không nên đặt đối diện với đường, do có sát khí gây nên bất lợi. Cách hóa giải là treo trên cửa sổ một tấm gương hướng về phía đường.
- Cửa sổ phòng vệ sinh không nên mở vào trong nhà. Nếu mở vào trong nhà chỉ làm cho uế khí của phòng vệ sinh vào trong nhà, không có lợi cho phong thủy.Tức là không nên đối diện với hành lang trong nhà hoặc phòng khách, càng không được đối diện với cửa phòng bếp. Hơn nữa nếu đối diện phòng vệ sinh sẽ dễ khiến người trong nhà mắc các bệnh về đường ruột.
- Cửa sổ phòng vệ sinh kỵ đối diện gương, tốt nhất là dịch chuyển vị trí của gương.
Tháng 7 (Âm lịch)
Tài lộc trong tháng Thân của người tuổi Mùi có chiều hướng tốt lên, khó khăn trong công việc và tranh chấp về vấn đề nhân sự dần dần lắng xuống, sự nghiệp lại “quay trở về quỹ đạo chính”. Song, sóng gió vẫn còn, người tuổi Mùi cần vững vàng để đương đầu với mọi việc. Khi thời cơ đến, nếu người tuổi Ngọ có thể nắm chắc, việc tăng lương, tiến chức là điều dễ dàng với họ.
Tháng 8 (Âm lịch)
Tài lộc trong tháng Dậu chuyển biến theo chiều hướng tốt lên, thu nhập từ công việc và các khoản thu phụ đều khá. Trong thời gian này, tốt nhất là nên giữ thái độ ôn hòa và nhường nhịn trong mọi việc để tạo lợi ích cho hai bên. Mặc dù công việc bận rộn nhưng kết quả cũng rất đáng kể. Người “thích thay đổi”, nếu muốn chuyển công tác hoặc khởi nghiệp thì có thể tiến hành nhưng vẫn cần hết sức thận trọng.
Tháng 9 (Âm lịch)
Tài lộc người tuổi Mùi trong tháng Tuất có chiều hướng xấu đi, áp lực công việc nặng nề, mỏi mệt cả thể xác lẫn tinh thần. Tuy nhiên, họ vẫn đạt được những kết quả nhất định. Vào thời gian này, người tuổi Mùi cần tạo trạng thái tâm lý tích cực, tự tin; nên xây dựng mối quan hệ với đối tác giỏi, đáng tin cậy. Họ cũng đừng bận tâm tới những chuyện nhỏ nhặt của người thân hay bạn bè, càng không nên đứng ra bảo lãnh cho người khác kẻo có thể dẫn tới tai họa.
|
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Tháng 10 (Âm lịch)
Tài lộc tháng Hợi của người tuổi Mùi được ví như “diều gặp gió”. Họ đầu tư vào lĩnh vực nào cũng thu được lợi nhuận lớn. Hơn nữa, do có quý nhân phù trợ, họ có thể vượt qua khó khăn, trở ngại một cách dễ dàng. Kinh tế dồi dào, thu nhập khả quan song không nên để tiền bạc làm “hoa mắt".
Tháng 11 (Âm lịch)
Trong tháng Tý, nhờ có nhiều cát tinh chiếu mệnh nên tài lộc của người tuổi Mùi tốt đẹp. Nếu nắm bắt được cơ hội phát triển sự nghiệp thì uy tín của người này càng được nâng cao. Vào tháng này, điều cần chú ý cho người tuổi Mùi là chuyên tâm phân tích và lựa chọn thời cơ thích hợp, “xuất kích đúng lúc” nhưng đừng nên tham lam quá mức.
Tháng 12 (Âm lịch)
Tài lộc tháng Sửu của người tuổi Mùi có nhiều bước tiến. Họ có thể thu được lợi nhuận trong nhiều hoạt động kinh doanh. Những người làm trong nhà nước thì được thăng quan, tiến chức, thu nhập dư dả. Do vậy, đây được coi là thời gian để người tuổi Mùi "thu gom" lại tất cả kinh nghiệm trong năm để áp dụng vào công việc đúng lúc. Nếu thời cơ đến, người này nhất định sẽ thành công vang dội.
(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Đôi khi may mắn vẫn có thể do con người tạo ra. 12 con giáp nên làm gì để may mắn về với mình?

Tuổi Tý
Suy nghĩ thoáng và lạc quan hơn
Người tuổi Tý khá cố chấp, thường hay suy nghĩ nhiều nên có cái nhìn khá bi quan về cuộc sống. Vì suy nghĩ quá nhiều, không chỉ cho bản thân mà còn vì những người thân trong gia đình, nên người tuổi này hay rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi.
Chỉ có cách suy nghĩ thoáng hơn, lạc quan hơn, bỏ bớt sự cố chấp trong tính cách của mình để có thể lùi một bước mà tiến hai bước, sống cuộc đời bình an, không ưu phiền.
Tuổi Sửu
Mở rộng tấm lòng đối với người xung quanh
Có thể nói con giáp này khá cầu toàn, nên rất nỗ lực trong việc hoàn thiện các kỹ năng của bản thân. Trong mắt mọi người, tất cả các mặt từ đời sống vật chất, tinh thần đến tính cách của tuổi Sửu đều tốt. Duy nhất tồn tại cách nghĩ được mất ở người tuổi này cần phải sửa đổi.
Vì cân nhắc đến vấn đề thiệt hơn cho bản thân nên đôi khi họ tính toán quá chi li khiến người khác phải khó chịu và thay đổi cái nhìn vốn dĩ rất thiện cảm với họ. Người tuổi này nên mở rộng tấm lòng của mình thêm chút xíu, đối xử với mọi người tốt hơn thì tự khắc bản thân sẽ được lòng tốt và sự tôn trọng của mọi người.
Tuổi Dần
Tiết chế ham muốn và tham vọng của bản thân
Người tuổi Dần thường có tham vọng lớn, lúc nào cũng đặt mình trong trạng thái phấn đấu không mệt mỏi để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Đôi lúc vì không có được thứ như mong đợi, họ tỏ ra chán nản và thất vọng rồi quay ra trách móc chính mình.
Lời khuyên có thể thay đổi vận mệnh cho người tuổi Dần chính là phải biết tiết chế những tham vọng của bản thân. Phân tích kỹ lưỡng những gì mình muốn có để tìm được cảm giác vui vẻ, hạnh phúc ngay trong cuộc sống thường nhật.
Tuổi Mão
Rộng lượng hơn với người khác
Tính hiếu thắng của người tuổi Mão khiến họ thường xuyên rơi vào những mâu thuẫn, bất đồng quan điểm hoặc tranh chấp với mọi người. Điều này khiến họ bỏ lỡ khá nhiều cơ hội để phát triển sự nghiệp cũng như khẳng định danh tiếng của mình.
Dùng thái độ khoan dung, rộng lượng với mọi người xung quanh, người tuổi Mão sẽ thấy nó vô cùng hữu ích cho cuộc sống của mình. Bạn hãy mở lòng cho đi những gì cần thiết, thứ mà bạn nhận lại cũng vô cùng giá trị.
Tuổi Thìn
Khiêm tốn và học hỏi nhiều hơn nữa
Bản tính tự tin và có đôi chút tự cao tự đại của tuổi Thìn sẽ làm mất lòng không ít người. Người chịu thiệt thòi cuối cùng không ai khác chính là họ mà thôi.
Để thay đổi vận mệnh, người tuổi này cần khiêm tốn hơn nữa, học hỏi và trau dồi thêm kinh nghiệm sống để dành được sự yêu mến và tôn trọng của mọi người. Đó cũng là nền tảng vững chắc giúp họ đi tới thành công.
Tuổi Tỵ
Không đi ngược với quy tắc đạo đức thông thường
Tham vọng của người tuổi này rất lớn, họ có thể bất chấp tất cả để hoàn thành mục tiêu đã đề ra cho bản thân. Đôi khi, họ có thể làm những việc đi lại với lẽ thường hoặc gây tổn thương về mặt tinh thần cho người xung quanh.
Để thay đổi vận mệnh của mình, người tuổi Tỵ cần tuân thủ những quy tắc đạo đức thông thường, đừng cố phá vỡ nó chỉ vì mục đích cá nhân bạn nhé.
Tuổi Ngọ
Suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động
Một trong những điểm nổi bật của người tuổi Ngọ mà khi xúc ai cũng phải thừa nhận và tỏ ra ngưỡng mộ đó là trí tuệ thông minh, có dũng khí và tràn đầy năng lượng. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của họ lại là sự nôn nóng, dễ bị kích động và không mấy kiên nhẫn.
Vì nhược điểm đó mà đôi khi họ “lĩnh” hậu quả từ những quyết định vội vàng và sai lầm của mình. Để có thể thay đổi vận mệnh, tuổi Ngọ nên nhớ phải suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động nhé.
Tuổi Mùi
Tự tin hơn nữa vào chính mình
Người tuổi Mùi thường hay bị mọi người hiểu nhầm hoặc làm tổn thương vì tính cách khá rụt rè, không mấy tự tin vào bản thân. Đôi khi mọi người tỏ ra ngại tiếp xúc hoặc kết thân với họ cũng chính bởi lý do này.
Để thay đổi cuộc đời mình, người tuổi Mùi cần tự tin và mạnh mẽ hơn nữa. Chủ động thể hiện cho mọi người biết năng lực và suy nghĩ của mình. Có như vậy mọi người mới hiểu và muốn làm bạn với người tuổi Mùi.
Tuổi Thân
Lên kế hoạch rõ ràng cho mọi việc
Người tuổi này thường rất gan dạ và thẳng thắn, thậm chí có chút “phổi bò” và cẩu thả, nên không ít lần “tự rước’ phiền toái cho bản thân. Dù đã có ý định thực hiện mục tiêu nào đó, nhưng vì tính cách bộc trực lại không tỉ mỉ đi vào chi tiết, nên đôi khi kết quả không như họ mong đợi.
Để cải thiện vận mệnh của mình, người tuổi Thân cần lập kế hoạch rõ ràng và tỉ mỉ cho mỗi việc muốn làm. Có sự sắp xếp logic về thời gian cũng như cách thức thực hiện, người tuổi này sẽ đạt được rất nhiều thành công còn hơn cả mong đợi.
Tuổi Dậu
Tiết chế sự bốc đồng của bản thân
Khi làm bất cứ việc gì, người tuổi Dậu đều tỏ ra vô cùng tự tin, thậm chí là bốc đồng và làm quá sự việc. Vì không suy nghĩ thấu đáo mà đưa ra quyết định vội vàng, thiếu tính khả thi nên họ ít đạt được điều gì như ý muốn.
Cách duy nhất có thể giúp người tuổi Dậu thay đổi được vận mệnh của mình đó chính là học cách tiết chế sự bốc đồng của bản thân. Thay vào đó cần cân nhắc và phân tích kỹ lưỡng mọi sự việc trước khi hành động để tránh xảy ra những sai sót không đáng có.
Tuổi Tuất
Mở rộng các mối quan hệ xã giao
Có thể nói người tuổi Tuất sống hướng nội và không mấy quan tâm đến các mối quan hệ xã giao. Điều đó khiến họ gặp không ít trở ngại trong quá trình thực hiện một công việc nào đó.
Người tuổi Tuất nên mở rộng cách nghĩ của mình cũng như các mối quan hệ xã giao để có thể dựa vào đó mà đạt được nhiều thành công hơn nữa. Đôi khi các mối quan hệ mà bạn tạo dựng được sẽ là cầu nối giúp bạn thay đổi vận mệnh của mình một cách nhanh chóng.
Tuổi Hợi
Chăm chỉ và tiết kiệm hơn nữa
Người tuổi Hợi thường có cuộc sống an nhàn và hạnh phúc khi về già. Đó một phần là số phận của họ, nhưng phần lớn là do sự nỗ lực không ngừng nghỉ của người tuổi này.
Để có được tương lai tốt đẹp hơn nữa, ngoài việc cần phát huy những sở trường tốt đẹp của mình, người tuổi Hợi cần chăm chỉ và có ý thức tiết kiệm hơn. Có như vậy mới đảm bảo cuộc sống no đủ về sau này.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Có một số người khi hoàn thiện nhà vệ sinh (bao gồm cả nhà tắm) lại thích xây thêm trong nhà vệ sinh một cái bồn tắm, cái bồn này cao hơn nền 1-2 bậc, sau đó tắm trong cái bồn đó.

Thực ra mà nói, bố cục như vậy rất đẹp. Nhưng tốt nhất không nên thiết kế kiểu này cho nhà vệ sinh trong phòng ngủ, bởi vì dựa theo nguyên lý “gia tướng học” của truyền thông Trung Quốc, nền nhà vệ sinh không được cao hơn nền phòng ngủ, đặc biệt là vị trí nhà tắm không được có cảm giác coa cao tại thượng.
Học thuyết Ngũ hành cho rằng: Nước chảy theo hướng từ trên xuống, sống lâu như vậy sẽ bị nước “từ nhuận” trong phòng ngủ, dễ gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe. Nếu bạn thích bốn cầu theo kiểu phong cách này thì có thể đặt ở một phòng vệ sinh khác xa phòng ngủ, chứ không nên đặt trong nhà vệ sinh trong phòng ngủ.
Những câu nói chế bất hủ qua mọi thời đại. Thời đại công nghệ internet đến từng người, từng nhà, mọi người tham gia nhiều hơn, trao đổi nhiều thứ hơn, ngoài vấn đề phục vụ công việc thì giải trí cũng là vấn đề chính để người dùng sử dụng, kết nối mọi người với nhau như đời thường, thơ chế, truyện vui, những câu nói hài hước cũng từ đó mà sinh ra rất nhiều.
Dưới đây là số ít trong số đó hy vọng sẽ mang đến cho quý vị những giây phút thư giãn thoải mái nhất.
+. Tiền thì anh không thiếu!
Nhưng nhiều thì anh không có
+. Tiền không phải là vấn đề
Vấn đề là bao nhiêu tiền
+. Con nhà lính, tính nhà nông, biết cảm thông, dễ rung động….. mỗi tội hay nói phét
+. Ngoài đẹp trai thông minh tài giỏi giàu có ra thì mình cũng koc òn gì quá nổi bật
+. Được CÁi Đẹp Zai…Kute…Ngoan Ngoãn…Hiền Lành…Có XE Đạp Riêng… Mỗi Tội Nghiện
+. Khoa học đã chứng minh : nhìn vào tiền là thấy rõ hơn
+. Dân thường chơi đẹp, đè bẹp dân chơi
+. Lô đề cờ bạc muôn đời thịnh
Học Hành chăm chỉ vạn kiếp suy
+. Vạn sự khởi đầu nan gian nan bắt đầu nản
+. Không phải ai xăm mình cũng xấu , nhưng những người xấu đều xăm mình .
+. Thất bại vì ngại thành kông …
+. Ngu không phải là cái tội mà cái tội là không biết mình ngu !
+. Dù bạn không sao nhưng người khác cũng chẳng muốn nhìn
( bía sài gòn xanh: dù bạn không cao nhưng người khác cũng phải ngước nhìn )
+. Chúng ta rùi cũng sẽ già , sẽ lên nóc tủ ngắm con gà khỏa thân …
+. Không nên “đập” con gái dù chỉ bằng một cánh hoa Mà hãy lấy khăn mùi xoa… gói thêm cục đá
+. Bình tỉnh , tự tin , không cay cú. Âm thầm , chịu đựng , trả thù sau
+. Đừng tự hào mình nghèo mà học giỏi Hãy tự hỏi : Sao học giỏi mà vẫn nghèo !
+. Trái tim em chỉ 2 lần mở cửa.
Đón anh vào và tống cổ anh ra
+. Trăm năm bia đá cũng mòn , bia chai cũng bể , chỉ còn bia … ôm.
+. Nghệ thuật che lấp sự bất tài cũng đòi hỏi không ít tài năng.
+. Không ít phụ nữ già đi nhanh chóng vì luôn suy nghĩ phải làm sao để mình trẻ lại.
+. Hài kịch sẽ chuyển sang bi kịch nếu không bán được vé.
+. Một người vợ tốt luôn tha thứ cho chồng khi cô ta sai.
+. Ly dị là sự kiện mà người đàn ông phải giặt đồ cho mình … thay vì trước đó phải giặt đồ cho cả hai
+. Theo lý thuyết thì Lý thuyết không khác với thực tế là mấy , nhưng thực tế thì thực tế khác xa lý thuyết.
+. Bia độc hơn rượu ,bằng chứng trên thế giới chỉ có ” mộ bia ” mà không có ” mộ rượu ”
+. Một người phụ nữ toàn diện : sáng diện , trưa diện , chiều diện , tối diện.
+. Trăm lời anh nói không bằng làn khói a còng @
+. Rõ ràng là trên đời này không có gì là rõ ràng
+. Tôi chắc chắn một điều là không có gì là chắc chắn cả
+. Cách tốt nhất để giữ lời hứa là đừng hứa gì cả.
+. Tôi đã nói “không” với ma túy, nhưng tụi nó không chịu nghe
+. Sáng soi, trưa đánh, chiều chờ
Cầm tờ kết quả cứ đờ mặt ra.
+. Điều tuyệt đối nhất chính là tất cả chỉ là tương đối
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Nếu như nhà bạn vừa mới được xây xong và còn thừa một đống đá, nhưng lại chẳng biết sử dụng làm gì. Đừng vội vứt đi mà hãy giữ chúng lại để trang trí vườn và nhà của mình từ những viên đá nhỏ ấy.
Cách làm rất đơn giản, trước tiên bạn làm lớp đáy giỏ bằng cách lát lớp nền xi măng (nhớ làm một vài chiếc lỗ nhỏ để thoát nước cho cây). Rồi đặt một chiếc khung, có thể là một chiếc chậu chẳng hạn, sau đó dùng xi măng chát tiếp từ phấn đáy giỏ lên trên. Tiếp đó nhanh tay xếp những viên đá lên bề mặt xi măng vừa chát vì nếu bạn làm chậm thì xi măng sẽ nhanh chóng bị khô và đá không dính được nữa. Đến phần làm quai giỏ thì bạn kiếm một thanh nhựa dẻo gắn vào phần xi măng vừa chát, rồi lại chát 1 lớp xi măng lên thanh nhựa dẻo đó, rồi dùng đá gắn lên lớp xi măng. Cuối cùng chỉ cần chờ cho toàn bộ lớp xi măng khô cứng lại, bạn bỏ chiếc chậu và thanh nhựa dẻo ra. Như vậy là bạn đã có được chiếc giỏ hoa từ đá rồi đó.
Chiếc giỏ hoa đáng yêu được làm từ đá
Cũng giống như cách làm giỏ hoa, tuy nhiên cách làm chậu hoa nhỏ lại dễ dàng hơn nhiều, vì khung chậu hoa nhỏ vô cùng dễ kiếm. Đơn giản nhất, bạn chỉ việc lấy một chiếc lon hay chiếc hộp sữa cũ làm khung, sau đó đục vài chiếc lỗ dưới đáy hộp sữa để cây có thể thoát nước. Dùng xi măng trắng hoặc keo đính những viên đá ra bên ngoài của lon sữa và chờ chúng khô lại. Bạn có thể đặt những chậu hoa xinh yêu này ngoài vườn khi nhà có tiệc ngoài trời, còn bình thường thì bạn có thể đặt chúng ở bàn ăn, bệ cửa sổ,...
Chậu hoa bằng đá cũng xinh xắn và gây ấn tượng không kém gì giỏ hoa
bằng đá. Bạn vừa có thể dùng để trang trí nhà, vườn hoặc bàn ăn
Nếu bạn trồng xương rồng thì ít phải tốn công chăm sóc, thê nhưng trồng "xương rồng đá" này còn chẳng phải chăm sóc gì luôn. Bạn chỉ cần kiếm vài viên đá dài và dẹt, sau đó sơn màu xanh lên những viên đá này. Khi pha sơn, chú ý pha màu sao cho có đủ xanh đậm ( lá già), xanh non (lá non) và xanh bình thường nhé. Đợi cho đến khi lớp sơn vẽ khô đi bạn dùng bút xóa vẽ những chiếc gai cho cây. Như vậy là xong phần cây. Cuối cùng bạn chỉ cần xếp chúng vào chậu và bỏ thêm vài viên đá nhỏ đa sắc màu xung quanh để giúp cây đứng được.
Chậu "xương rồng đá" nhỏ nhắn nhưng vố cùng đáng yêu và sinh động
Những ngôi nhà nhỏ được xếp dọc lối ra để trang trí vườn như thế này rất độc đáo và ấn tượng
Tổ chim được cách điệu bằng cách ốp đá bên ngoài thật sự quá phong cách
Đơn giản chỉ là bạn muốn nói rằng, mình yêu thích công việc làm vườn
Sử dụng những viên đá và những mảnh chai vỡ được mài cẩn thận để làm những viên đá xếp trên đường đi ra vườn cũng là ý tưởng khá hay ho. Xếp những viên đá và những mảnh thủy tinh xuống đáy khung, rồi đổ xi măng lên. Sau đó, chờ cho xi măng khô lại, bạn đổ úp chiếc khung xuống. Như vậy là bạn đã có viên đá lót đường đẹp mắt rồi.
Viên đá lót đường này quả thật "có một không hai"
Những viên đá màu sắc này cũng sẽ góp phần làm đẹp cho lối đi trong vườn nhà bạn
Một cách sắp xếp khác đầy sáng tạo
Thuật phong thủy sử dụng Bát quái để chỉ ra ý nghĩa của các vị trí khác nhau trong căn phòng. Công cụ này chia ra 9 vị trí và được áp dụng cho văn phòng làm việc hay nhà riêng.
Vị trí bàn làm việc có thể ảnh hưởng đến năng suất, sự tiến triển trong công việc và cảm nhận của người khác về bạn. Hiểu được ý nghĩa của điều này có thể giúp bạn thành công và thăng tiến nhanh chóng.

Thuật phong thủy sử dụng Bát quái để chỉ ra ý nghĩa của các vị trí khác nhau trong căn phòng. Công cụ này chia ra 9 vị trí và được áp dụng cho văn phòng làm việc hay nhà riêng.
Với phòng làm việc chung, 9 vị trí của sơ đồ Bát quái truyền thống gộp lại còn 5, dùng cho phòng làm việc mà ở đó những đồng nghiệp thông cảm với nhau thường có mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau.
Vị trí quyền lực là vị trí xa nhất nhìn từ cửa vào, nơi này thường được các lãnh đạo chọn để đặt bàn.
Phát triển khả năng của mình trong công việc là rất quan trọng. Ngay cả khi bàn của bạn không được đặt xa nhất từ cửa nhìn vào, mà chỉ cần đặt thẳng hướng nhìn từ cửa, thì bạn vẫn tạo được thế mạnh của mình với người khác.
Vị trí kết hợp công việc nằm phía phải căn phòng (tính từ lối vào). Sắp xếp phòng làm việc như vậy có thể làm bạn và tất cả đồng nghiệp đều thoải mái. Tương tự, nếu bạn muốn được chú ý trong cuộc họp, hãy ngồi phía bên phải người chủ trì.

Vị trí năng động là khu vực xung quanh cửa ra vào. Nếu tinh thần đoàn kết trong công việc của bạn bị giảm thì nên sắp xếp lại, tổ chức lại vị trí đó.
Vị trí của sự thách thức thường ở phía bên tay trái của bạn khi vào phòng. Thực tế cho thấy, vị trí này thường đòi hỏi sự tập trung cao độ và đem lại kết quả cao nhất.

Vị trí tài chính và nghề nghiệp là trung tâm của văn phòng theo khoa học tự nhiên. Bạn nên biết rõ tình hình tài chính của công ty hiện nay, để có quyết định chi tiêu phù hợp trong thời gian tới.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật? |
![]() |
Tránh những lỗi được kể sau chắc chắn tình yêu của vợ chồng bạn sẽ được cải thiện. Theo kinh nghiệm của một chuyên gia phong thủy nhận định rất ít phòng ngủ hiện nay thỏa mãn tiêu chuẩn phong thủy của phòng ngủ. Hầu hết chúng không có dòng chảy năng lượng cân bằng và thiếu sức sống của tình yêu. Dường như mọi người chỉ quan tâm tới phòng khách mà thường bỏ qua căn phòng quan trọng nhất trong nhà. Và chúng đặc biệt quan trọng đối với những ai đang độc thân hoặc những người có hôn nhân không hạnh phúc. Hãy xem bạn có đang mắc những lỗi cơ bản sau không nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Ảnh minh họa |
- Nhật, Cự: ngây ngô, hơi khùng, suy luận không bình thường. Nhật càng sáng, bệnh càng nặng.
- Nhật, Không, Kiếp.
- Phá, Hoả, Linh.
- Nhật và nhiều sao hỏa ở cung Hoả,
- Phá, Kình, Đà, Hình, Ky.
Ngoài ra Mệnh nào có Tang hổ, Khốc Hư, Cô Quả, Đẩu Quân thường u buồn, uỷ mị, dồn ép.
* Những bệnh ở chân tay, gân cốt
Về cơ thể chân tay do Thiên Mã chỉ danh. Về bệnh lý, hai sao Kình, Đà cũng có nghĩa bệnh tật liên quan đến tứ chi.
Sau đây là nhũng bộ sao đáng lưu ý:
- Mã, Đà: có tật ở chan tay
- Mã, Hình: có thương tích ở chân tay.
- Hình, Đà: chân tay bị yếu gân.
- Vũ Riêu: tê thấp hoặc phù chân tay
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
6000 năm trước đây, các nhà y học Ai Cập đưa ra ý kiến: Tim sản sinh ra tư duy. 4000 năm trước đây các học giả Babilon đã đưa ra ý kiến: Gan sản sinh ra tư duy. Lý luận y học phương Đông cho rằng:
![]()
– Tâm chủ thần minh (Tim làm chủ thì tinh thần minh mẫn).
– Gan làm chủ phát ra buồn giận.
– Mật làm chủ thì quyết đoán.
– Thận ẩn tinh thần.
– Mệnh môn là nguồn vô khí.
– Phổi là chủ của tiêu và giáng xuống.
– Tỳ thăng: thanh nhàn, không ô trọc.
– Ân không tốt là do ngủ không yên.
Tất cả đều có liên quan đến tư duy.
Ngũ hành biện chứng là sự khái quát quy luật tự nhiên của người phương Đông cổ, chủ yếu là ở Trung Hoa, đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi.
Người ta dùng 7 trạng thái tâm lý: Hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh theo nguyên tắc:
– Dùng tư bỏ ưu.
– Dùng khủng bỏ kinh.
Trong 5 loại trạng thái tâm lý: Nộ, hỷ, tư, bi, khủng thì nộ, hỷ, tư là 3 loại tình cảm chủ yếu.
Lạc cực sinh bi: nói rõ quan hệ của vui, giận với buồn,
SỢ.
Sợ và buồn là tình cảm xấu, rất bất lợi cho sự cân bằng tâm lý.
Gặp điều bi thương, nếu kéo dài thì sẽ suy yếu, đau đốn, phải tìm ra nguồn gốc để hòa giải.
Phải dùng giận, vui, suy nghĩ để trừ bỏ sợ và buồn, giữ cân bằng tâm lý.
Trong ba loại trạng thái tâm lý giận, vui và suy nghĩ thì suy nghĩ là quan trọng nhất.
Vui là trong âm có âm.
Giận là trong dương có dương.
Vui – giận là một cặp mâu thuẫn, cũng là tình cảm chủ yếu của con người. Sách Hoàng Đế nội kinh có chép: “Dương binh âm bí, tinh thần nãi trị” (dương bình thường âm bế tắc, phải chữa trị tinh thần). Bảy thủ tình cảm của con người không thể nào chia cắt được. Phải tự mình hoàn thiện, nhớ lại hôm qua, nhiệt tình với hôm nay,
nhìn ngày mai đầy triển vọng
Nếu đứa bé đi học mà suốt ngày bị bạn bè chế giễu vì cái tên thì sẽ ảnh hưởng không ít đến phát triển tâm lý và sự tự tin khi giao tiếp. Hay nói cách khác, đó chính là hiện tượng phong thủy xấu gây ra những tác động tiêu cực không mong muốn.
Họ tên của mỗi người là tài sản quý giá đầu tiên mà bố mẹ dành cho, phản ánh ít nhiều kỳ vọng, tình thương của cha mẹ đối với đứa con thân yêu của mình. Họ tên có ảnh hưởng quan trọng đến tương lai sự nghiệp, sức khỏe, vận mệnh của mỗi con người chứ không đơn giản chỉ là công cụ để phân biệt người này với người kia.

Chúng ta đều biết rằng, nghệ thuật phong thủy là phương pháp sử dụng các đồ vật bài trí trong nhà để thu hút sinh khí, loại trừ tà khí, đem lại may mắn, sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp cho gia chủ. Tương tự như vậy, họ tên của mỗi người có thể nói cũng là một công cụ phong thủy, ảnh hưởng đến “gia chủ”, tức là người mang cái tên đó, bởi nó thường xuyên đồng hành với mỗi “gia chủ” cho đến hết đời, hàng ngày được người ta nhắc gọi thường xuyên trong giao tiếp và trên giấy tờ. Tuy nhiên, việc ảnh hưởng xấu hay tốt đến vận mệnh cuộc đời mỗi cá nhân còn phụ thuộc vào cái “công cụ phong thủy” đó tốt hay xấu. Nếu như cái tên có âm dương hòa hợp, thuận theo ngũ hành tương sinh, phù hợp với bản mệnh…thì sẽ có trợ giúp đắc lực cho vận mệnh chủ nhân, đem lại may mắn, hạnh phúc, tài lộc, danh vọng. Ngược lại, nếu là một cái tên xấu, mất cân bằng âm dương, ngũ hành tương khắc, xung khắc với bản mệnh chủ nhân…thì sẽ có hại cho sức khỏe, đem lại điều rủi ro, tài lộc rơi vãi, thậm chí nguy hại đến tuổi thọ và tính mạng.
Mức độ tốt xấu của họ tên còn phụ thuộc vào ý nghĩa, âm vận của nó. Nếu như một cái tên được đặt mà gợi nghĩa xấu, thô tục, khiếm nhã thì chắc hẳn sẽ làm cho người xướng cái tên đó cảm thấy mất cảm tình (ví dụ Trần Đại Phá, Nguyễn Trường Hận, Mai Phạt Sáu Ngàn Rưởi, Võ Thị Xin Thôi, Lê Thị Ly Tan…). Một cái tên có ý nghĩa tuyệt đối còn có thể gây ra cảm giác khó chịu, dễ bị soi mói, chế giễu hơn là đồng cảm (ví dụ như Cao Bạch Tuyết, Bùi Mỹ Mãn, Vương Thái Hậu, Trần Diễm Lệ, Hoàng Vô Địch…). Ngược lại, nếu là một cái tên có ý nghĩa đẹp, trang trọng, thể hiện tình cảm, ý chí, khí chất cao nhã của người mang tên đó thì sẽ dễ chiếm được cảm tình của mọi người, rất có lợi cho quan hệ giao tiếp, làm ăn, đề bạt (ví dụ như Cao Đức Phát, Lê Hồng Phong, Phan Bảo Tín, Đặng Thành Tâm…).
Tương tự như ý nghĩa, âm vận của cái tên cũng có ý nghĩa phong thủy nhất định. Một cái tên có âm bằng trắc cân đối, nhịp nhàng, âm vang thì người gọi tên đó cũng cảm thấy thuận miệng, vui tai, nhớ lâu (ví dụ như Phạm Như Hoa, Đinh Bảo Thoa, Đặng Ngọc Hân…). Nếu như quan hệ bằng trắc rối loạn, âm thanh ngắn cụt hoặc trúc trắc thì rõ ràng đọc không thuận miệng, đem lại cảm giác trầm đục, thiếu sức sống hoặc gọi đứt hơi và khó nhớ (ví dụ Trịnh Thị Mộng Phượng, Nguyễn Tiến Vĩnh, Vũ Bảo Nghĩa…). Những cái tên như thế sẽ có ảnh hưởng nhất định đến cảm tính (trong tiềm thức) của bạn bè, lãnh đạo, đối tác trong giao tiếp.
Ngoài ra, những người có cái tên kém trang nhã hoặc có ý nghĩa xấu, thô thiển do hiện tượng đọc lái sinh ra (ví dụ như Lại Tiến Tùng, Trần Tú Viên, Nguyễn Y Vân, Đàm Nguyên Tú…) rất dễ là tâm điểm của sự trêu chọc. Nếu đứa bé đi học mà suốt ngày bị bạn bè chế giễu vì cái tên thì sẽ ảnh hưởng không ít đến phát triển tâm lý và sự tự tin khi giao tiếp. Hay nói cách khác, đó chính là hiện tượng phong thủy xấu gây ra những tác động tiêu cực không mong muốn.
Theo quan niệm của tử vi truyền thống, mỗi con người khi sinh ra về cơ bản đã được số mệnh an bài, cát hung đã định. Sự khác biệt ở thực tế (xấu hơn hoặc tốt hơn dự tính) là do có sự thay đổi ở môi trường sống, phúc đức của tổ tiên và chất lượng tu dưỡng của bản thân. Tương tự như vậy, trong Tính Danh Học (môn khoa học về đặt tên) cũng xác định Họ là yếu tố đã định, không thể thay đổi do có sự kế thừa truyền đời, đại diện cho âm đức của tổ tiên. Tên (bao gồm tên đệm và tên chính) là yếu tố sinh sau, được lựa chọn có chủ ý và có thể thay đổi được nhằm hỗ trợ cho bản mệnh, tăng cường sự may mắn, tốt lành, loại trừ những tác động tiêu cực có thể xảy ra. Việc lựa chọn tên theo hướng phù hợp với bản mệnh, âm dương, ngũ hành, can chi…nhằm đem lại sự may mắn, an khang, hanh thông cho chủ nhân chính là nội dung chủ yếu của Tính Danh Học. Đây là một môn khoa học có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc, Nhật Bản, trải qua hàng ngàn năm hun đúc và chứng thực, đã trở thành bảo bối được ứng dụng rộng rãi trong văn hóa đặt tên.
Người xưa có câu “cho con ngàn vàng không bằng dạy con một nghề, dạy con một nghề không bằng đặt cho con một cái tên hay”, có ý nhấn mạnh vai trò quan trọng của cái tên. Vì vậy, các bậc cha mẹ hãy cẩn trọng và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định đặt tên cho con yêu của mình nhé!
Cổ nhân xưa vẫn có câu dạy chúng ta học nói rằng: “Nên uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”. Quả thật, ngôn ngữ dùng để biểu đạt cảm xúc, là công cụ để biểu lộ suy nghĩ, thế nhưng nó cũng có thể tạo ra những lời nói không phù hợp, vô nghĩa hoặc không cần thiết, dẫn đến phiền não không đáng có.
Vương Dương Minh là một nhà tư tưởng học nổi tiếng vào thời Minh. Trong một lần cùng với các đệ tử ra ngoài dạo chơi, ông thấy trên đường có hai người đang cãi nhau, một người nói: “Ngươi thật không có đạo lý”; người kia phản bác: “Ngươi thì không có lương tâm!”
Một vị đệ tử liền quay ra nói với thầy rằng: “Thầy nghe xem, bọn họ đang giảng đạo”.
Vương Dương Minh nói: “Không phải, họ đang mạ lỵ người khác”.
Dùng thiên lý, lương tâm yêu cầu chính bản thân thì là giảng đạo, còn áp đặt yêu cầu lên người khác thì chính là đang mạ lỵ người ta. Khi giao tiếp với mọi người, lời chúng ta nói ra chính là một cách tu hành thâm nhập thực tế, những lời nói tốt đẹp chính là hành động thiện lành nhất. Vì thế người nói, người nghe hay người ngoài cuộc mà vô tâm khiêu khích cũng sẽ tạo ra một sự ác ý tuần hoàn. Vì vậy, có thể nói tin đồn sẽ dừng ở người khôn ngoan. Khi mọi người ở cùng với nhau, không nên vì những lời nói tức thời bộc phát mà làm mất đi thiện duyên khó có được này.
Ngôn ngữ dùng để biểu đạt cảm xúc, là công cụ để biểu lộ suy nghĩ, thế nhưng nó cũng có thể tạo ra những lời nói không phù hợp, vô nghĩa hoặc không cần thiết, dẫn đến phiền não không đáng có.
Socrates – một triết học gia người Hy Lạp cổ rất giỏi về diễn thuyết, ông thường hay dạy mọi người cách làm thế nào để trò chuyện. Một hôm, có một thanh niên đến và nhờ ông dạy những kỹ năng diễn thuyết, bàn về tính trọng yếu của diễn thuyết như thế nào.
Sau một thời gian dài chờ đợi chàng thanh niên nói xong, Socrates tỏ ý muốn thu tiền học phí của anh gấp đôi, anh ta hỏi nguyên nhân tại sao. Socrates trả lời:
“Bởi vì, ngoài việc dạy anh diễn thuyết, tôi còn phải dạy thêm anh cách để ngừng nói”.
Cổ nhân xưa có câu: “Nhất ngôn chiết tận bình sinh phúc” – Cẩn trọng khi nói chính là điểm mấu chốt của tu thân.
Mục đích của lời nói là để diễn đạt những lời yêu thương dễ nghe cho nhau. Thế nhưng, trong những cuộc nói chuyện hàng ngày, có rất nhiều từ ngữ chúng ta cần thực sự phải chú ý, ví dụ:
“Là tôi bảo anh ta đến” – tại sao lại không nói: “Là tôi mời anh ta đến”?
“Hãy nghe tôi đi” – tại sao lại không nói là: “Chúng ta cùng bàn bạc nhé”.
“Bạn đừng có hối hận đấy” – tại sao lại không nói là: “Bạn có muốn suy nghĩ thêm không?”
“Bạn hãy cẩn thận cho tôi” – tại sao lại không nói là: “Có lẽ vẫn cứ nên cẩn thận một chút thì tốt hơn”…
Cùng là một hàm nghĩa nhưng tại sao cứ phải thêm vào những lời khó nghe? Như vậy, không những khiến cho đối phương cảm thấy không vui, mà còn dễ dẫn đến hiểu lầm, quả thực là không xứng với nét đẹp của những người có văn hóa.
Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm khi đăng ngôi Hoàng đế, muốn coi bói quẻ xem ngôi Hoàng đế này sẽ được truyền đến bao đời, kết quả là chỉ có một chữ “Nhất” (một). Vũ Đế rất không vui, quần thần đều sợ hãi mặt tái xanh, không ai dám nói câu gì. Đúng lúc đó, thị trung Bùi Khai đã tiến lên trước và nói: “Vi thần nghe nói, trời có một sẽ thanh minh, đất có một sẽ an bình, hầu vương có một sẽ có được sự ủng hộ trung thành của quần dân”. Chỉ một câu nói ngắn gọn như vậy đã khiến Vũ Đế từ lo lắng chuyển sang vui mừng, quần thần từ đáy lòng đều cảm phục Bùi Khai.
Bất cứ việc gì bạn nhìn thấy cũng có thể chỉ là vẻ bề ngoài chứ chưa phải là thực chất, không nhất định là đúng. Có thể nắm rõ những kỹ năng khi nói chuyện, vào những lúc thích hợp, bạn sẽ có thể biến nỗi buồn thành niềm vui, hoá thối nát thành thần kỳ.
No1: Tuổi Tỵ
Họ không quan tâm đến kết quả cuối cùng ra sao mà chỉ lao mình đi tìm cơ hội tiếp cận trái tim đối phương.
![]() |
Dù có mang tiếng là kẻ thứ ba phá đám, họ vẫn kiên quyết tới cùng. Chỉ khi nào đối phương chính thức kết hôn, người tuổi Tỵ mới buông tay.
No2: Tuổi Sửu
Người tuổi này làm việc gì cũng chắc chắn nhưng lại không thể kiểm soát được tình cảm và tham vọng của bản thân. Nếu đã dính vào chuyện tình yêu, họ tham vọng có được tình cảm của đối phương bằng mọi giá. Dường như không điều gì có thể cản trở họ dừng lại.
![]() |
Họ dễ rơi vào tình huống là kẻ thứ ba "phá đám" chuyện tình của người khác. Bởi lẽ tình cảm sướt mướt trong trái tim họ đã lấn át hết lý chí rồi.
No3: Tuổi Mão
Người tuổi Mão có bản tính ôn hòa và thích dựa dẫm vào người khác. Nếu ai đó đưa tay giúp đỡ họ trong hoàn cảnh khó khăn, họ sẽ khắc cốt ghi tâm và dành tình cảm yêu mến chân thành.
![]() |
Thậm chí, nếu có tình cảm đặc biệt với người ấy, họ sẽ chủ động tán tỉnh và tạo cơ hội độc chiếm trái tim đối phương bất kể người đó đã có "gấu" hay chưa.
Mr.Bull
![]() |
Con số mang lại điều tốt lành cho 12 con giáp 1 và 6 là số may mắn của người tuổi Hợi, Tý; 5 và 0 là số may mắn của người tuổi Tuất, Thìn... |
Peridot còn được biết đến như olivine hay chrysolite, được tạo thành bởi magma trong tinh thể núi lửa. Nó thường có màu olive hoặc vàng xanh. Peridot được người Ai Cập dùng làm trang sức và chữa bệnh. Vậy cùng Tìm hiểu về ý nghĩa của đá Peridot.

Nội dung
Đá Peridot còn được biết đến như olivine hay chrysolite, được tạo thành bởi magma trong tinh thể núi lửa. Nó thường có màu olive hoặc vàng xanh.
Peridot được người Ai Cập dùng làm trang sức và chữa bệnh. Nó đã được khai thác làm tinh thể quý khoảng bốn nghìn năm theo Kinh thánh, nơi tên Do Thái của nó là pitdah, và được cho là một trong những loại tinh thể dùng trong bản khắc quan tài của các thầy tu Do Thái. Đá Peridot được dùng để xua đuổi tà ma trong thời Trung cổ.
Đá Peridot tương thích với chakra tim, nó có thể tẩy sạch trái tim khỏi sự đố kỵ, oán giận, cay đắng, ghét bỏ và lòng tham, để ta tha thứ và quên đi, đồng thời mở lòng ra với niềm vui và những mối quan hệ mới. Do khả năng giải phóng giận dữ và tội lỗi, nó rất tốt để giải độc gan và túi mật, nơi chất chứa những cảm xúc này.

Peridot cung cấp một tấm khiên bảo vệ ta khỏi bị người khác lấy mất năng lượng. Một tinh thể tái sinh và cung cấp năng lượng, nó có thể được sử dụng để hồi sức, chữa lãnh cảm và mệt mỏi. Thật thế, đá peridot là một liều thuốc tăng lực cho cả cơ thể, củng cố hệ miễn dịch và ngăn bệnh tái phát. Nó có thể chữa bệnh phổi nhờ vào khả năng thúc đẩy cơ thể loại thải niêm dịch của mình. Đá Peridot có thể tăng cường thị lực và chữa các vấn đề tiêu hóa và da liễu, đặc biệt là mụn cóc.
Peridot còn được biết đến như olivine hay chrysolite, được tạo thành bởi magma trong tinh thể núi lửa. Nó thường có màu olive hoặc vàng xanh.
Peridot được coi là viên đá của Mặt Trời. Peridot có màu xanh hi vọng kết hợp với vàng cao quý sẽ xua tan nỗi sợ hãi trong đêm và mang lại sự may mắn trong tình yêu, hạnh phúc bền chặt. Trang sức từ Peridot có thể vừa tăng vẻ đẹp vừa xua đuổi tà ma.
Thuở xưa người ta đã dùng đá Peridot làm bùa hộ mệnh bằng cách đục lỗ vào mảnh đá, luồn sợi lông con lừa qua lỗ ấy rồi đeo vào tay trái và coi đó như là bùa “hộ phù trừ xui”.Ngày nay, việc dùng đá này làm bùa hộ mệnh càng phổ biến, bởi khi được gắn trên trang sức nó sẽ khiến chủ nhân quyến rũ, quý phái và nổi bật mọi lúc, mọi nơi.

Mang màu xanh mát, Peridot được xếp vào đá quý tuổi tháng 8 – tượng trưng cho vẻ đẹp dịu dàng, thể hiện nét hiền hoà lãng mạn của người mang nó. Đặc biệt, với những người tuổi Thân, sử dụng bộ trang sức gắn đá quý Peridot sẽ có được sự may mắn, nó sẽ mang lại cho bạn niềm hạnh phúc, mãn nguyện trong cuộc sống. Ngoài ý nghĩa là bùa hộ mệnh, Peridot còn mang ý nghĩa ghi dấu ấn về thời gian – đây là viên đá kỷ niệm 16 năm ngày cưới.
Peridot có độ cứng 6,5 trên thang Mohs nên mềm hơn nhiều đá quý khác như: Kim Cương, Ruby, Emeral, … vì vậy khi cất giữ nữ trang peridot bạn nên cẩn thận, tránh cọ sát và làm rơi. Vệ sinh peridot với xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi tích tụ nhiều chất dơ hoặc dùng nước rửa trang sức chuyên dụng. Không nên rửa peridot bằng máy siêu âm.
| ► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi của bản thân chuẩn xác |
![]() |
Tại các ngôi nhà phố, dù diện tích cũng khá nhỏ hẹp nhưng gia chủ vẫn có thể chừa một khoảng không nhất định làm tiểu cảnh, sân vườn...vừa làm đẹp vừa mang lại sức sống, khoảng xanh quý giá. Tuy nhiên, ở các tòa nhà chung cư, căn hộ nào cũng rơi vào cảnh "đói" không gian xanh vì không có khoảng lùi. Để tìm được chỗ đặt cây xanh đẹp và thích hợp không dễ chút nào.
![]() |
| Nếu đặt vài chậu cây xanh ngoài ban công, luồng khí vào phòng khách sẽ trở nên trong lành hơn |
Theo thiết kế thông thường, các ban công chung cư rộng chừng 3m. Với diện tích nhỏ như vậy, các gia đình có thể bố trí một góc nhỏ để phơi đồ, góc còn lại đặt một vài chậu cây cảnh nhỏ. Có thể tận dụng diện tích trên lan can bằng cách bố trí dàn chậu hoa nhỏ nhưng đa dạng về chủng loại để tạo nên sự sinh động màu sắc của các loài hoa như lan, cúc, đồng tiền, tóc tiên, hoa dừa cạn hoặc dạ yến thảo vốn có rất nhiều màu sắc...
Phòng khách chung cư thường được bố trí liên thông với bếp ăn, vì vậy nên việc bố trí cây cảnh tại không gian này có phần hạn chế. Nếu đặt quá gần bếp sẽ khiến cây dễ bị ám dầu mỡ và khói thức ăn, ngoài ra sức nóng của bếp cũng khiến cây dễ héo hoặc chết. Vì vậy, đối với các chậu cây cảnh lớn nên đặt phía gần bàn tiếp khách hoặc trong góc phòng, xa với bếp. Với chậu hoa nhỏ thì có thể đặt ở vị trí cửa sổ, đây là nơi đầy đủ ánh sáng nhất, giúp cây phát triển tốt. Ngoài ra, có thể đặt thêm một lọ hoa, chậu cây nhỏ trên bàn ăn, bàn phòng khách...để tạo thêm màu sắc thiên nhiên cho căn hộ.
Phòng ngủ cũng có thể đặt cây xanh nhưng với điều kiện không gian này thoán đãng và có cửa sổ rộng. Khu vực nhà vệ sinh nếu muốn thì chỉ nên bố trí một bình hoa nhỏ để tạo cảm giác tươi tắn, thoải mái. Tuy các loại cây trồng trong nhà khá đa dạng nhưng bạn cũng cần lưu ý lựa chọn loại cây phù hợp với không gian và sở thích của các thành viên trong gia đình. Ban công là khu vực có điều kiện tốt nhất để cây phát triển, vì thế bạn có thể tùy ý lựa chọn loại cây thích hợp theo diện tích của từng ban công. Có thể chọn các loài hoa leo mềm mại như ti gôn, hồng leo, hoặc cây lá xanh như thường xuân, trầu bà...
![]() |
| Cần chọn lưỡng kỹ lưỡng những loại cây có thể đặt trong phòng ngủ |
Không gian phòng khách thường đón ít ánh nắng mặt trời hơn so với cửa sổ hoặc ban công, vì vậy bạn hãy chọn những loại cây có khả năng chịu ẩm tốt, không cần nhiều ánh nắng. Bạn có thể chọn những loài cây vừa trang trí và tốt cho sức khỏe như huyết dụ, phong lan, thông cảnh, hồng môn, cây ráy thơm đỏ, địa lan, cây rắn...
Với phòng ngủ, không nên trồng những loại cây có mùi thơm quá nồng vì chúng gây ảnh hưởng không tốt đến hệ hô hấp của bạn. Nếu đặt cây trong phòng ngủ bạn có thể chọn phong lan với khả năng hút chất độc hoặc cây ngũ da bì có tác dụng đuổi muỗi…
(Theo Báo Xây dựng Online)