Dự đoán vận may năm 2015 của người tuổi Tý –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thu Hương (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thu Hương (##)
Từ trước đến nay, khi nói đến vấn đề chọn hướng nhà, ngvròi ta đều dựa vào phưong pháp phân chia nhà và tuổi thành 2 nhóm Đông – Tây như sau:
– Những ngưòi có năm sinh thuộc các quẻ Chấn, Tốn, Khảm, Ly là thuộc Đông tứ mệnh, và chỉ có thể chọn những nhà có phương tọa thuộc các hướng Đông, Đông Nam, Bắc và Nam, tức những nhà thuộc Đông tứ trạch thì mọi sự mói được tốt đẹp.

– Những người có năm sinh thuộc các quẻ Càn, Khôn, Cấn, Đoài là thuộc Tây tứ mệnh, nên chỉ có thể chọn những nhà có tọa thuộc các hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây, tức nhũng nhà thuộc Tây tứ trạch.
– Nếu người mệnh Đông mà ở Tây trạch, hay người mệnh Tây ở Đông trạch thì thường là làm ăn thất bại; dễ mắc đủ mọi tai họa, bệnh tật, chết chóc.
Một số lưu ý và kiêng kị khi chọn hướng và tuổi xây nhà
Theo quan niệm phong thủy, trước khi quyết định xây nhà, gia chủ cần cân nhắc tuổi của mình. Không nên phạm vào các năm: Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai…
Các tuổi Kim Lâu: đặc biệt kiêng kị, không được phạm:

Các tuổi Hoang Ốc: nếu chỉ phạm riêng năm Hoang Ốc cũng có thể làm được:

Các năm Tam Tai: nếu chỉ phạm, riêng năm Tam Tai củng có làm được:

Chú ý:
– Tuổi Kim Lâu đặc biệt kiêng kị không nên phạm.
– Nếu chỉ phạm một trong các tuổi Hoang Ốc hoặc Tam Tai thì cũng có thể làm được.
– Nếu phạm 2 trong 3 yếu tố trên thì không nên làm.
– Nếu bất đắc dĩ phải làm thì nên dùng các biện pháp thay tên mượn tuổi…
Tuổi theo Ngũ hành, quái số, cung phi là những thông số giúp ta định vị được bản thân mình trong không gian vũ trụ và cũng giúp ta lựa chọn được vị trí tối ưu trong cuộc sống thường ngày.
Cụ thể: ngưòi mệnh Kim có tính cách, đặc điểm khác ngưòi mang mệnh Mộc. Mỗi người lại có con số huyền bí gọi là “Quái số”. Từ con số này có thể kiểm nghiệm và ứng dụng không gian sống của mình một cách có lọi nhất. Cung phi biểu thị cho tính cách.
Theo phong thủy có 2 nhóm hướng chính: Đông và Tây
– Đông gồm các hướng: chính Đông, chính Nam, chính Bắc và Đông Nam.
– Tây gồm các hưóng: chính Tây, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Bắc.
Người tuổi Thân, Tý, Thìn không nên làm nhà ở phía Nam hướng ra phía Bắc.
Ngưòi tuổi Tỵ, Dậu, Sửu không nên làm nhà ở phía Đông hưóng ra phía Tây.
Ngưòi tuổi Dậu, Ngọ, Tuất không họp vói nhà phía Bắc hướng ra phía Nam.
Người tuổi Họi, Mão, Mùi không họp vói nhà ở phía Tây.
Xem phương vị tốt, xấu
Nhìn từ góc độ phong thủy phương vị (vị trí) của nhà ở được phân thành phương vị cát và hung nên ý nghĩa của mỗi phương vị trong ngôi nhà được xét theo hai mặt cát và hung.
* Ý nghĩa đại diện của phương vị cát (tốt)
– Phương sinh khí (thượng cát): Tiêu biểu cho sinh khí dồi dào tích cực chủ động thăng quan phát tài, sự nghiệp hưng vượng.
– Phương Diên Niên (thượng cát): Tiêu biểu cho tiền của dồi dào sức khỏe trường thọ, quan hệ với người xung quanh, người khác giới tốt đẹp.
– Phưong Thiên Y (trung cát): Sức khỏe dồi dào, ít mắc bệnh tật ổn định đắc tài.
– Phưong Phục Vị (tiểu cát): Là quan tâm chăm sóc, cuộc sống ổn định an bình, tiểu tài.
*Ý nghĩa đại diện phương vị hung (xấu)
– Tuyệt Mệnh (đại hung): Bệnh tật, chết yểu, lo lắng, suy nghĩ, tâm phiền muộn u uất.
– Ngũ Quỷ (đại hung): Kiện tụng mất trộm mất cắp tài lộc thui chột
– Họa Hại (thứ hung): Tranh cãi, thị phi, bệnh tật, đau đớn hao tài của mất tự tin.
– Lục Sát: giáng chức, thất bại, phán đoán sai lầm.
* Cách tìm phương vị tốt
Người mệnh Đông tứ (Khảm, Ly, Chấn, Tốn): Phía Bắc, Nam, Đông, Đông Nam.
Ngưòi mệnh Tây tứ (Càn, Khôn, Cấn, Đoài): Tây Bắc, Tây Nam, ; Đông Bắc, Tây.
Các phương vị tốt xấu ứng với từng quẻ mệnh.
* Tìm hướng nhà phù hợp
Đối với người mệnh Đông tứ hợp vói 4 loại nhà như sau:

Đối vói người mệnh Tây tứ hợp vói 4 loại nhà như sau:

| ► Tham khảo thêm: Đặt tên con theo phong thủy để có vận mệnh tốt đẹp |
![]() |
![]() |
Sinh con trai con gái như ý muốn theo phương pháp Thanh Cung
Đến thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, tại nước Tề ( nay là tỉnh Sơn Đông ) có học giả Trâu Diễn, căn cứ vào Kinh Dịch, đã phổ biến hết tinh thần và công dụng của Âm dương, ngũ hành không những vào sự vật thiên nhiên mà còn cả vào việc người nữa. Do đó, người đời sau coi Trâu Diễm như người khai sáng ra phái Âm Dương. Phái này chính là nguồn gốc của phái Lý Số do các học giả đời Tống sau này sáng lập.
Đến đời Hán, học giả Dương Hùng ( 53 trước Tây lịch - 20 Tây lịch ) tham bác kinh Dịch và Đạo đức kinh mở ra ngành Lý số học sơ khai qua tác phẩm Thái huyền kinh.
Đến đời Tống sơ ( khoảng thế kỷ thứ 10 ) một nhân vật đạo gia kiêm nho gia là Trần Đoàn tự là Đồ Nam, hiệu là Hi Di tiên sinh, tinh thông cả Lý Số học của các nhà đi trước đã tổng hợp các kiến giả về lý Thái cực của vũ trụ, lấy tượng số mà xét sự vận chuyển của Trời Đất, suy diễn ra hành động của vạn vật rồi áp dụng các hệ quả của Lý thái cực vào Nhân tướng học đế giải đoán tâm tình, vận số của con ngườ , mở đầu cho Lý Số và Tướng số học.
Từ đó về sau, quan niệm Âm Dương, Ngũ hành được áp dụng rộng rãi vào Nhân tướng học và thành ra một thành tố bất khả phân trong tướng thuật.
b ) Nội dung của Thuyết âm Dương, Ngũ hành
Theo cổ nhân Trung Hoa, lúc đầu vũ trụ chỉ là một khối hỗn độn, không có hình dạng rõ ràng được gọi là thời Hỗn mạng. Trong sư Hỗn mạng đó, bàng bạc cái lẽ vô linh linh diệu gọi là Thái cực. ( Sở dĩ gọi là Thái cực vì nó huyền bí và vô tận nên không thể xác định rõ ban thế cuả nó ra sao).
Tuy nhiên, dẫu không biết được chân tính và chân chất của cái lẽ Thái cực huyền vì song ta có thể dựa vào sự quan sát về tính cách biến hoá của vạn vật mà suy ra được cái đông thể của Thái cực. Căn bản của sự chuyển biến hoá được biểu lộ bằng hai trạng thái tương phản là Động và Tĩnh. Động gọi là Dương, Tĩnh gọi là Âm. Dương lên đến cực độ thì lại biến ra Dương. Hai cái trạng thái tương đối của cái Bản thể nguyên khởi duy nhất ( Thái cực ) cứ tiếp diễn mãi, điều hợp với nhau, sinh sinh hoá hoá không ngừng mà sinh ra Trời, Đất, Người cùng vạn vật. Vì Âm Dương phối hợp, đun đẩy lẫn nhau nên có sự biến chuyển. Sự biến chuyển chính là nền tảng của Dịch. Do đó, trong phần chú giải kinh Dịch, Khổng Tử đã nói “ Âm nhu Dương Cương, Cương nhu tương thôi sinh nhi biến hoá “(Nghĩa là Âm thì mềm, Dương thì cứng, cứng mềm đun đẩy lẫn nhau chuyển hoá thành thiên hình vạn trạng).
Theo cổ nhân, mỗi chu trình gồm bốn giai đoạn :a ) Nguyên : Khởi đầu của sự biến hoá b ) Hạnh : Sự thông đạt , hội hợp các thành tố c ) Lợi : Sự thỏa đáng các điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng d ) Trinh : Sự thành tựu chung cuộc của một chu trình sinh ra sự vật
Biến hoá là ngoại biểu của Thái cực mà đạo Dịch căn cứ trên sự biến hoá của vũ trụ và vạn vật. Do đó, Kinh Dịch mô tả diễn trình chuyển hoá (Dịch) một cách khái quát như sau :
“ Dịch hữu Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh Ngũ hành : Đạo Dịch có nguồn gốc là Thái cực, Thái cực sinh ra hai Nghi ( Âm và Dương ) hai Nghi sinh ra bốn Tượng ( bốn trạng thái tượng trưng bằng bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông ) bốn tượng sinh ra tám Quẻ ( Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ) tượng trưng cho Trời, Đầm, Lửa, Sấm, Gió, Nú, Nước, Đất ) tám Quẻ sinh ra năm Hành ( năm loại nguyên tố cấu tạo ra vạn vật hữu hình Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ).
Khởi đầu của sự biến hoá rất đơn giản, rồi từ cái đơn giản đó mà chuyển hoá dần dần để thành ra phồn tạp. Vì Âm Dương là hai thành tố đầu tiên của vũ trụ, nên được Kinh Dịch chọn là biểu tượng căn bản và tượng trưng bằng hai cái vạch đơn giản :a ) Vạch liên tục tượng trưng cho Dương b ) Vạch gián đoạn ( - - ) tượng trưng cho Âm
Trong phép biến đổi hoá để sinh ra Bát quái, hai vạch tượng trưng cho Âm Dương lần lượt chồng chất lên nhau theo nền tảng tam tài mà thành ra tám Quẻ căn bản với hình dạng và ý nghĩa tượng trưng sau đây :
1 - Kiền tượng trưng cho Trời
2 - Đoài tượng trưng cho Đầm , Ao
3 - Ly tượng trưng cho Lửa
4 - Chấn tượng trưng cho Sấm
5 - Tốn tượng trưng cho Gió
6 - Cấn tượng trưng cho Núi
7 - Khảm tượng trưng cho Nước
8 - Khôn tượng trưng cho Đất
Đó là tám Quẻ nguyên thủy gọi là “ Tiên thiên Bát quái “ do vua Phục Hy ( 4477 - 4363 ) trước Tây lịch vạch ra để giải thích cái lẽ Âm Dương biến hoá của Thái cực. Về sau vua Hạ Vũ (2205 - 2163 trước Tây lịch) đặt ra Cửu trù ( chín pháp lớn ) phối hợp với Bát quái và tính cái số của Ngũ hành trong việc giải thích lẽ biến hoá của vũ trụ và vạn vật.
Tới đời Tây Chu, vua Văn Vương, trong thời gian bị giam ở ngục Dũ Lý ( khoảng thế kỷ 11 trước Tây lịch ) đã dành thì giờ nhàn rỗi diễn lại các quẻ tiên thiên Bát quái của Phục Hy thành tám quẻ, Bát quái mới gọi là hậu thiên Bát quái với các ý nghĩa thiên về nhân sự để dùng vào việc bói toán và suy gẫm việc ngườ . Con Văn Vương là Chu Công Đán về sau có giải thích thêm đôi chút về ý nghĩa và công dụng của kẻ Bát quái, nhưng rất ngắn và mơ hồ, chỉ có các kẻ có thiên tư đặc biệt tâm truyền mới có ánh mắt hiểu được. Tình trạng của Dịch lý từ thượng cổ đến trước khi Khổng Tử ra đời chỉ có như thế mà thôi.
Đến đời Đông Chu, Khổng Tử ( 511 - 478 trước Tây lịch ) đem kiến giảu cảu mình bổ xung vào các điều truyền lại của Dịch lý đời Chu, san định lại và viết thành Kinh Dịch trong đó bao gồm cả Âm Dương, Bát quái và Ngũ hành.
Căn cứ theo ý nghĩa thông thường, cổ nhân gán cho Âm Dương Ngũ hành, các ý nghĩa tượng trưng sau đây :
Dương : Tượng trưng cho mặt trời, lửa, ánh sáng, sinh động, cứng cát, ban ngày, đàn ông …..Âm : Tượng trưng cho mặt trăng, tối tăm, nguội lạnh, bất động, mềm nhão, ban đêm, đàn bà ….Kim : Vàng, bạc, hiểu rộng ra là tất cả các chất kim thuộc Mộc : Cây trong rừng, nói tổng quát ra là mọi thực vật trên mặt đất Thủy : Nước và nói rộng ra là các chất lỏng Hỏa : Lửa, hơi ấm Thổ : Đất đá, nói chung Thổ bao gồm mọi loại khoáng chất trừ kim loại
Về phương diện siêu hình. Âm Dương không phải là cái khí vật chất hữu hình hữu thể mà chỉ là biểu thị tượng trưng cho hai trạng thái tương đối, mâu thuẫn như nóng lạnh, sáng với tối, cứng với mềm, sinh với diệt, khoẻ với yếu ….
Về phương diện ý nghĩa siêu hình của Ngũ hành, ta cũng đi đến kết quả tương tự Kim, Mộc, Thủy, Hoả, ngoài tìm cách vật chất của nó kể trên có một ý nghĩa tượng trương có tính cách tương sinh tương khắc trong sự biến hoá của muôn vật diễn ra hàng ngày trước mắt.
Trong tướng học, người ta rất chú trọng đến Ngũ hành và thường hiểu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ theo cả hai ý nghĩa : vật chất lẫn siêu hình qua sự tượng hình chuyển ý của văn tự từ nghĩa hẹp đến nghĩa rộng.
c ) Ảnh hưởng của thuyết ngũ hành trong nhân sinh quan Trung Hoa
Từ quan niệm là một lý thuyết triết học thuộc phần Hình nhi thượng từ đời Tống trở đi, Âm Dương thuộc Ngũ hành được đem áp dụng vào lãnh vực Hình nhi hạ. Đại đa số học giả Trung Hoa và các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng văn hoá sâu đậm của Trung Hoa đã dùng lý thuyết Ngũ Hành đem giải thích và gán ghép các đặc tính của vật chất được siêu hình hoá của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vào các lãnh vực thường dụng của nhân loại, điển hình là các trường hợp sau đây :
1 - Phương hướng, màu sắc, bốn mùa
1a ) Mộc tượng trưng cho Mùa Xuân, màu Xanh, phương Đông
Mùa Xuân khí hậu mát mẻ như sương buổi ban mai, biểu hiện khởi đầu của một chu trình biến hoá mới của vạn vận bắt đầu hồi sinh và tăng trưởng. Mặt đất về Mùa Xuân, đâu đâu cũng một màu xanh thắm, Thái dương bắt đầu mọc ở phương đông. Tất cả đều bàng bạc ý nghĩa của Âm Dương tương thôi với Dương lấn lướt Âm một cách tương đối trong cái trung dung của Âm Dương ( Âm Dương tỷ hoà thì vạn vật mới sinh ). Do đó, cổ nhân đã lấy Mộc tượng trưng cho mùa Xuân, màu Xanh, phương Đông.
1b ) Hỏa biểu thị mùa Hạ, màu Đỏ, phương Nam Mùa hè nóng nực bức như lửa thiêu, Dương cương lên đến cùng cực. Hoa lá đặc trưng của mùa này như lụa và phượng vĩ trổ bông màu đỏ, phương Nam gần như ấm áp quanh năm nên Hỏa tượng trưng cho mùa Hạ, màu Đỏ và phương Nam vậy.
1c ) Kim tiêu biểu cho mùa Thu, màu Trắng, phương Tây Mùa Thu là giai đoạn cho Âm Dương tương thôi bình hoà khí trời nóng quá, không lạnh lắm, nhưng Dương cương bắt đầu suy, Âm nhu bắt đầu thịnh. Mặt trời lặn ở phương Tây sau khi đã mọc ở Phương Đông. Trời Mùa Thu thường có mây trắng ngà bao phủ, nên cổ nhân mới nhân đó mà chọn Kim tiêu biểu cho mùa Thu, màu trắng và phương Tây. Nói khác đi, theo Ngũ hành thì mùa Thu, sắc trắng phương Tây thuộc Kim.
1d ) Thủy tiêu biểu cho mùa Đông , màu đen , phương Bắc Hiện tượng độc đáo nhất của mùa Đông là tuyết rơi, giá buốt, cảnh vật ảm đạm, cửa nẻo đóng kín, tối tăm. Tuyết là một trạng thái của nước, phương Bắc thường hay có tuyết nên với tinh thần tượng hình, chuyển ý, cổ nhân Trung Hoa chọn hành Thủy để tượng trưng cho mùa Đông, màu Đen, phương Bắc.
1e ) Thổ tiêu biểu cho Đất , màu Vàng , Trung ươngNgười Tàu phát tích ở lưu vực sông Hoàng Hà, đất đai ở đây màu vàng ( hoàng thổ ) nên dựa vào sự vật để định tên, lấy đất tiêu biểu cho chất Thổ và màu vàng tượng trưng cho sắc Thổ. Bởi người Tàu lấy địa phương của họ làm trung tâm quan sát, tự coi mình là người trung Thổ, danh xưng là Trung quốc nên màu vàng, vàng là màu trung ương, Thổ là Hành chủ bao gồm cả bốn hành còn lại với lý do Địa tải sơn hà vạn vật ( Sông núi, muôn loài vạn vật đều do đất chứa đựng ).
2 - Năm đức tính căn bản của con người Trên bình diện đạo đức, năm đức tính căn bản để phân định kẻ lương tri với kẻ bại hoại là Nhân Nghĩa Lễ Trí và Tín, gọi chung là Ngũ thường. Dựa vào ý nghĩa siêu hình của Ngũ hành và đặc tính bao quát của Ngũ thường người ta đã đi đến chỗ Ngũ hành hoá Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín .
2a ) Nhân ứng với Mộc : Nhân chủ ở chỗ thanh tĩnh, ung dung tự tại, không cạnh tranh bao dung và đãi người đồng đẳng. Thảo mộc, vốn không di động cạnh tranh, loài tùng bách quanh năm xanh tươ , bất chấp gió sương, nóng lạnh, tượng trưng cho thái độ an tĩnh, ung dung tự tại. Cây cỏ còn để người che mưa tránh nắng, không phân biệt một ai. Hoa quả trong chốn sơn lâm ai thưởng thức cũng được. Cái đức tự nhiên lưu hành của thảo mộc tương tự như đức Nhân của bậc thức giả nên Mộc được coi là biểu tượng của đức Nhân ở nhân loại. Do ở ý nghĩa mà Khổng Tử đã nói “ Nhân giả nhạo sơn ( Bậc nhân giả thích núi ) vì trên núi có thảo mộc tượng trưng cho đức Nhân của tạo vật.
2b ) Nghĩa ứng với Kim : Luôn luôn thích ứng với phép tắc thiên nhiên hoặc công lý, hằng cửu, không biến chất, cứng cỏi không sờn. Đó là những ý nghĩa bao quát của Nghĩa. Loài Kim thuộc như vàng luôn luôn giữ mãi vẻ sáng cứng rắn, khuyết biết tiết, dù ở nơi này hay nơi khác, lúc nào cũng vậy, phảng phất ý nghĩa của đức Nghĩa nên cổ nhân lấy Kim tượng trưng cho Nghĩa.
2c ) Lễ ứng với Hỏa : Lễ gồm chung tất cả những gì soi sáng khuôn phép, tạo nên tôn trọng duy trì diềng mối, phát huy chân lý tự nhiên lưu hành, Tế tự là một hình thức cụ thể của Lễ, biểu dương sự tôn kính. Một trong những cái ứng dụng của Hỏa là soi sáng tại nơi, làm hiển lộng cái tôn kính quỷ thần của con người nên cái dụng ( về phương diện ý nghĩa triết học ) của Hoả và Lễ tương đồng, nên Lễ ứng với Hoả.
2d ) Trí ứng với Thủy : Kẻ trí không điều gì là không thấu triệt, nước không đâu là không thông qua. Cái đức của Trí và Nước có sự tương đồng đại lược nên người xưa đã nói một cách đầy biểu tượng “ Trí giả nhao Thủy “ ( Bậc trí giả thích nước ). Do đó, Thủy tượng trưng cho Trí.
2e) Tín ứng với Thổ : Bản chất của Thổ là không bao giờ sai chạy. Thảo mộc dựa vào đất mà sống và đất cứ theo từng mùa nhất định mà thúc đẩy sự sinh diệt của cây cối theo đúng chu trình chuyển hoá tự nhiên của tạo vật, không bao giờ sai chạy. Do đó, so với Tín thì bản chất của Tín và Thổ về ý nghĩa tổng quát có những nét tướng đồng.
3 - Năm cung bậc trong âm nhạc a ) Cung ( âm thấp nhất ) ứng với Thổ b ) Thương ứng với Kim c ) Giốc ứng với Mộcd ) Chủy ứng với Hỏae ) Vũ ứng với Thủy
1) Nhân tướng học & tiên liệu vận mạng
2) Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế
3) Tướng Phát Đạt
4) Tướng Phá Bại
5) Thọ, Yểu qua tướng người
6) Đoán tướng tiểu nhi
7) Phu Luân về tướng Phụ nữ
8) 36 tướng hình khắc
9) Những tướng cách phụ nữ
10) Nguyên lý Âm Dương Ngũ hành
11) Ứng dụng của Âm Dương trong Tướng Học
12) Tương quan giữa Sắc và con người
13) Ý niệm Sắc trong tướng học Á Đông
14) Bàn tay và tính tình
15) Quan điểm của Phật giáo về vấn đề xem Tử Vi - Bói Toán
(Trích Lược Tử Vi : Tuổi Mùi, năm nay số mệnh ra sao? 12 Con Giáp và những đặc tính)
Phong thủy học cho rằng, để thu được hiệu quá tốt trong hoá giải sát khí thì việc bố trí pháp khí trong nhà là vấn đề cần được quan tâm. Dưới đây là một số ví dụ xung quanh vấn đề này:

(1) Bài trí của Rồng
Trong ánh mắt mọi người long tức rồng, ngoài khía cạnh rồng tiêu biểu cho sự phú quý cát tường ra, nó còn tượng trưng cho quyền lực và uy vũ. Theo phong thuỷ, tuy rồng có tác dụng sinh vượng và chế sát nhưng việc bài trí rồng trong nhà không thể tuỳ tiện, nếu không sẽ gây hậu quá xấu.
Dưới đây là một số vấn đề liên quan cần chú ý:
1- Rồng nên được phối hợp cùng với thủy (nước )
Rồng gặp nước thì sinh, sẽ đặc biệt uy mãnh, nếu để rồng ở nơi khô cạn thì chẳng khác gì rồng trong hí kịch “rồng đi chơi gặp cua nơi nước cạn”. Cho nên, nếu bài trí hình rồng trong nhà thì phải ở nơi có nước. Đặt hình rồng ở hai bên bể cá là rất hợp, có thể thu được nhiều sinh vượng.
2- Rồng phải hướng ra biển hoặc sông ngòi.
Một số ngôi nhà hướng ra biển hoặc sông, tuy rất tốt về phong thuỷ vì có thể hấp thu được tài khí, nhưng đáng tiếc vì khoảng cách quá xa nên mỗi lần đứng nhìn ra biển trong lòng thường có cảm giác mát buồn. Phương pháp khắc phục có thể đặt ở cửa sổ hoặc trên ban công một đôi rồng đá màu xám hoặc màu đen, đầu rồng hướng ra biển hoặc ra sông, nếu có song long xuất hải theo phong thuỷ học sẽ mang lại nhiều sinh vượng. Nhưng cần chú ý là nếu nguồn nước trước nhà bị ô nhiễm thì không nên làm như vậy vì như vậy sẽ làm bẩn Song Long.
3- Rồng nên đặt ở hướng Bắc
Nếu như trong nhà và bên ngoài nhà đều không có nguồn nước, cách bố cứu là để vật trang trí có hình Rồng ở hướng Bắc vì hướng Bắc là hướng thuỷ khí vượng, vì vậy sẽ hợp với rồng, vì rồng rất thích nước.
4- Không nên để rồng hướng vào phòng ngủ
Rồng tuy là loài động vật mang lại may mắn nhưng vì uy lực của nó quá mạnh nên không được đặt rồng hướng vào phòng ngủ, đặc biệt là những hình rồng có răng nanh và móng vuốt. Rồng có đôi mắt đỏ càng không được đặt hướng vào phòng ngủ hoặc giường ngủ của trẻ, như vậy sẽ khắc với trẻ, đặc biệt với những đứa trẻ tuổi tuất càng không lợi.
5- Tranh hình rồng nên lồng vào khung sắt
Nếu trong nhà dùng tranh hình rồng để trang trí thì tốt nhất hãy lồng tranh đó vào khung màu ánh kim và treo tranh ở hướng bắc, rất tốt, khác nào như thêm hoa cho gấm. Nếu rồng trong tranh có tới 9 con thì nên có một con ở vị trí trung tâm của tranh, nếu không sẽ là quần long vô thủ, tượng trưng cho gia đình bất an.
Trên bàn thờ tổ tiên, ở chính giữa đặt bát hương (tượng trưng cho tinh tú) và trên bát hương có cây trụ để cắm hương vòng (tượng trưng cho trục vũ trụ); ở hai góc ngoài bao giờ cũng có hai cây đèn dầu (hoặc nến) tượng trưng cho mặt trời ở bên trái và mặt trăng ở bên phải. Khi cần giao tiếp với tổ tiên (có lúc thỉnh cầu, có khi sám hối...), người ta thường đốt nến (đèn dầu) và thắp hương. Mọi nguyện cầu theo các vòng khói hương chuyển đến ông bà tổ tiên.
Đặc trưng của văn hóa nông nghiệp cũng được thể hiện ở trên bàn thờ tổ tiên của người Việt. Thông thường, ở ngay sau bát hương đặt một chiếc Tam sơn trên đó đặt ba cái đài nhỏ đựng ba chén nước trong. Nếu không có đủ như vậy, mỗi lần thắp hương chủ lễ cũng vẫn phải thay ba chén nước mới để tỏ lòng thành kính trắng trong. Phía sau Tam sơn, thường có một cái đỉnh ba chân, nắp đỉnh được vẽ hình con lân với ý nghĩa sức mạnh bề trên kiểm soát tinh thần con cháu khi đứng trước bàn thờ.
Bàn thờ tổ tiên luôn cần được thanh tịnh. Vì thế, đồ tế lễ chỉ có thể là hương, hoa, trà, quả... Những ngày giỗ Tết, con cháu muốn dâng cúng cỗ mặn phải đặt ở một chiếc bàn phụ phía trước và thấp hơn bàn thờ chính.
Tết là thời điểm quan trọng trong năm cho nên bàn thờ ngày Tết cũng trở nên đặc biệt. Việc trang hoàng bàn thờ tùy thuộc điều kiện hoàn cảnh mỗi nhà nhưng dứt khoát nhà nào cũng phải bày mâm ngũ quả. Thông thường ngũ quả gồm 5 loại quả có 5 màu khác nhau như chuối xanh, bưởi vàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam tượng trưng cho mong ước: phú (giàu có) - quý (sang trọng) - thọ (sống lâu) - khang (khỏe mạnh) - ninh (bình yên).
Còn thời điểm nào thiêng liêng hơn khi cả nhà thành kính đứng trước bàn thờ tổ tiên thắp những nén hương trầm ngào ngạt. Tình người nồng ấm, tình đời rộng mở. Và, một năm mới tràn đầy hy vọng bắt đầu...
theo aFamily
![]() |
Thông thường cổ tay sẽ có từ 2-4 ngấn. Sở hữu càng nhiều ngấn tay, bạn càng sống thọ và ngược lại. Cụ thể, đường ngấn đầu tiên đậm, rõ ràng, bạn sẽ sống được khoảng 30 năm; đường tiếp theo tương ứng với 50 năm, 70 năm và trên 80 năm. Phần lớn mọi người đều có 2,3 ngấn. Số người có 4 ngấn không nhiều.
Bên cạnh đó, sự đậm nét hay mờ nhạt của mỗi ngấn tay còn nói lên tình trạng sức khỏe, cuộc sống tương lai của người ấy.
Đường ngấn đầu tiên
Đường ngấn đầu tiên đậm, rõ ràng: Bạn khỏe mạnh, tinh thần tốt. Ngược lại, nếu đường ngấn mờ nhạt, đứt đoạn, bạn thường bị đau ốm bệnh tật, sức khỏe không như mong muốn.
Đường ngấn thứ hai
Những người có đường ngấn thứ hai rõ ràng, thẳng tắp thường có cuộc sống giàu có, khá giả, hôn nhân hạnh phúc, không có gì phải lo lắng.
Đường ngấn thứ ba
Đường ngấn mờ nhạt chỉ đơn thuần nói lên tuổi thọ của bạn. Đường ngấn thứ ba mà đậm nét chứng tỏ bạn là người nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng nhất định, được nhiều người biết đến.
Đường ngấn thứ tư
Cũng giống đường ngấn thứ ba, nhưng mức độ nổi tiếng của người có 4 đường ngấn rõ ràng hơn, tầm ảnh hưởng cũng sâu rộng hơn.
Maruko (theo d1xz)
Họ tên được chia làm 5 cách, đó là: Thiên, Địa, Nhân, Tông, Ngoại. Ngoài Thiên cách là bất di bất dịch ra, các cách còn lại nên chọn dùng số lành, tốt đẹp. Thiên cách là vận thành công của nhân cách. Nhân cách là nền tảng cơ bản của địa cách, chúng nên tương sinh lẫn nhau.
1- Phân loại năm cách.
Thiên thuộc dương, Địa thuộc âm, trời đất âm dương giao hoà sinh vạn vật, đây là Lý của trời đất, tạo hoá. Tên của con người không chỉ là ý nghĩa của người mà còn bao hàm cả Lý của trời đất tạo hoá, điều này giải thích nguyên nhân vì sao họ tên lại chia thành Thiên, Địa, Nhân. Vạn vật đã có trong ắt phải có ngoài, đã có chia rời ắt có tụ hợp, đây là cơ sở để định Tổng và Ngoại cách.
Họ là Thiên cách, tên là Địa cách, chữ cuối cùng của họ và chữ đầu tiên của tên là Nhân cách, tổng cộng các nét cả họ lẫn tên là Tổng cách, lấy số nét tổng cách trừ đi số nét của nhân cách thì được Ngoại cách.
Tam tài: Thiên, Địa, Nhân là nền tảng của 5 cách.
2- Giải thích năm cách.
Thiên cách: Họ từ hai chữ trở lên (họ phức) thì tính cả số nét của họ và tên. Họ thường thì thêm một số giả vào để làm Thiên cách, cách này do người xưa truyền lại. Số lý của nó không ảnh hưởng trực tiếp, mà có thể xem nó như mối quan hệ giữa mình với cha mẹ và người trên, số lý của Thiên cách vốn không có tốt xấu vậy.
Nhân cách: Còn gọi là "Chủ vận", là trung tâm điểm của họ tên. Vận mệnh của cả đời người đều do Nhân cách chi phối, ảnh hưởng, đưa đẩy tới. Phép tính Nhân cách là lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên. Muốn dự đoán vận mệnh của người thì nên lưu tâm nhiều tới cách này từ đó có thể phát hiện ra đặc điểm vận mệnh và có thể biết được tính cách, thể chất, năng lực của họ. Số lý của Nhân cách liên quan tới Thiên, Địa cách, biến hoá vô cùng, nên bất kỳ thế nào cũng nên chuyên tâm học hỏi, lý giải, tổng hợp các mối quan hệ này.Địa Cách: Còn gọi là "Tiền Vận" (trước 30 tuổi), Nó liên qua lớn tới vận mệnh, kết hợp cùng với Thiên, Nhân cách ảnh hưởng tới đời người. Cách tính Địa cách là tính tổng số các nét của tên. Địa Cách được xem như là mối quan hệ giữa mình với con cái, bạn bè thuộc hạ.
1. Giới thiệu về năm bản mệnh
Trong cuộc đời khi một người gặp phải một năm có địa chi giống như năm mà người đó sinh ra, thì năm đó gọi là năm bản mệnh hay năm tuổi.
2. Năm 2015 là năm bản mệnh của những người nào?
Mỗi năm sẽ có những người bước vào năm bản mệnh, bị các sao Hung chiếu, khiến cho cuộc sống lận đận, không thể yên ổn. Năm nay những người sinh năm 1931, 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003 sẽ bước vào năm bản mệnh.
Năm nay là năm bản mệnh của những người cầm tinh con Dê.
3. Năm bản mệnh có ảnh hưởng như thế nào?
Năm bản mệnh cũng giống như một chiếc ghế có hai người cùng ngồi, một bát cơm có hai người cùng ăn, hoặc đi đường, làm việc phải cõng thêm một người nữa. Năm bản mệnh có cái tốt cũng có cái xấu. Điều tốt là tiền tài sẽ tăng lên nhanh chóng, sự nghiệp lên như diều gặp gió; điều xấu là điều xui xẻo liên tiếp kéo tới.
Tóm lại, những người trong năm bản mệnh sẽ không thể có một năm yên lành. Trong năm 2015, năm bản mệnh là thiên can Ất Mộc khắc chế Vị Thổ, khiến cho những người tuổi Dê chịu nhiều ràng buộc, khó có thể tiêu dao tự tại.
4. Vận thế của những người năm bản mệnh 2015
Những người tuổi Dê một khi bước vào năm Dê Ất Vị, sẽ bị các sao hung Kiếm Phong, Thái Tuế, Trạng Thi chiếu. Khi đó dễ có hiện tượng sức khỏe bị tổn hại, công việc sự nghiệp có biến động lớn, hoặc là nhảy việc, từ chức, thất nghiệp, đương nhiên cũng có cả thăng chức, điều động,...- không nhất định là chỉ có những ảnh hưởng xấu. Về tài vận, nhất là những người kinh doanh, khi đầu tư khoản tiền lớn thì cần vạch kế hoạch kĩ càng, kể cả phương án khống chế rủi ro để tránh lâm vào bước đường cùng, đói quá hóa liều.
Những người năm bản mệnh có áp lực tâm lý lớn, thường rơi vào trong mâu thuẫn, khó có thể thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn, cần tự điều chỉnh, gặp gỡ giao lưu với nhiều người và tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể.
Những người thuộc năm bản mạng cần vạch rõ kế hoạch khi kinh doanh để tránh rủi ro.
5. Vận thế của từng năm bản mạng cụ thể thế nào?
Những người sinh năm 1931: tránh ngã bị thương.
Những người sinh năm 1943: chú ý các bệnh về tim, ngực, huyết quản.
Những người sinh năm 1955: chú ý bệnh về gan, thận.
Những người sinh năm 1967: tài vận không ổn định, đầu tư cần thận trọng.
Những người sinh năm 1979: dễ chiêu đào hoa, cần giữ mình thanh khiết.
Những người sinh năm 1991: công việc dễ gặp nhiều biến động.
Những người sinh năm 2003: học tập dễ phân tâm, không thể tập trung tinh thần.
Trên đây chỉ là những vấn đề nổi trội của từng năm chứ không có nghĩa là những người trong năm đó chỉ có hung mà không có cát.
6. Cấm kỵ trong năm bản mạng
- Những người năm bản mạng kỵ nhất là bị thương, chảy máu, phẫu thuật - nhất là những người tuổi đã cao hoặc những người hoạt động ngoài trời càng cần chú ý.
- Không được đặt đồ ví dụ như bàn làm việc, đầu giường …. ở hướng sao Thái Tuế cũng không được đặt ở hướng tương phản với Thái Tuế, tức hướng Tuế Phá. Nếu như đặt đồ vào hai hướng ấy sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra. Đồng thời vị trí Thái Tuế cần được giữ gìn sạch sẽ, có thể trồng cây phong thủy để tăng thêm may mắn, không nên động thổ, tu sửa ở hướng này. Năm nay hướng sao Thái Tuế là hướng Tây Nam, hướng Tuế Phá là Đông Bắc.
7. Cách hóa giải cho những người năm bản mạng
- Dùng vải đỏ: trên những cây cổ thụ gần đền chùa thường treo rất nhiều mảnh vải đỏ. Nhiều người không biết những mảnh vải này dùng để làm gì, thật ra là dùng để hóa giải tai kiếp. Mua 1/3m vải đỏ, dùng bút viết tên và thời gian sinh của mình, và cả ước nguyện, sau khi viết xong buộc ở eo hoặc đặt dưới gối. Ba ngày sau, chọn giờ lành đem buộc lên cây cổ thụ. Trước khi buộc lên cây cổ thụ cần đi quanh cây bên trái 3 vòng, bên phải 3 vòng, vừa đi vừa lẩm nhẩm ước nguyện của mình.
Vì sao như vậy lại có thể hóa bỏ tai ương và bảo vệ cho bạn? Là bởi vì những cây cổ thụ có tuổi thọ cao, sức sống mãnh liệt, khả năng chịu đựng và chống chọi với tự nhiên khắc liệt lớn, trải quả hàng trăm năm mưa gió bão bùng còn không bị đổ, huống chi là gánh vác chút khó khăn của bạn.
- Phóng sinh: 3 ngày trước khi phóng sinh, mua 3 đến 5 còn rùa, mỗi con khoảng nửa cân, trên lưng rùa khắc tên của mình. Nuôi những con rùa này trong phòng ngủ của mình 3 ngày. 3 ngày sau chọn giờ lành đem thả ở ao, sông hoặc hồ.
Nếu như có thể kiên trì phóng sinh trong nhiều năm, thì không những sức khỏe dồi đào, mà sự nghiệp, tình duyên cũng thuận lợi. Thời gian thích hợp nhất để phóng sinh, thường là những ngày cuối cùng của một năm hoặc những ngày đầu tiên của một năm, lấy Âm lịch làm chuẩn.
Phóng sinh rùa là một cách hóa giải vận hạn năm bản mạng.
- Đi chùa: Nếu như có điều kiện, đầu năm những người năm bản mạng nên đến chùa, miếu bái Thái Tuế hoặc đốt hương cầu phúc.
Đốt hương cầu Phúc là việc không thể thiếu trong những ngày Tết để hóa giải vận hạn.
- Dùng bùa: Cách này tương đối phức tạp, còn dựa vào từng người cụ thể, tốt nhất nên hỏi ý kiến của những người có chuyên môn.
Hành: ThổLoại: Ác TinhĐặc Tính: Tù hãm, khốn đốn, trở ngạiTên gọi tắt thường gặp: Võng
Phụ Tinh. Thuộc bộ sao đôi Thiên La và Địa Võng. Gọi tắt là La Võng. Vị trí luôn ở trong Cung Tuất. Sao này là sao xấu.
Ý Nghĩa Địa Võng Ở Cung Mệnh
Sao Địa Võng ở Mệnh là rất thông minh, có tài khéo, suy tính công việc rất tài tình nhưng hay gặp ngăn trở, mọi công việc hay gặp rắc rối, bị ràng buộc.
Ý Nghĩa Địa Võng Với Các Sao Khác
Con gái là chúa nhỏ mọn, yêu rồi nhưng nhất định phải truy hỏi bạn trai có bao nhiêu người yêu cũ. Các chàng trai luôn cảm thấy câu hỏi này thật chẳng cần thiết chút nào nhưng lại không dám không trả lời. Cùng xem cách đối phó của 12 chòm sao nam khi bị hỏi về người yêu cũ nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
NGỌ
Công việc: Năm nay, do có sao Thái Tuế, những người tuổi Ngọ không nên quá mạo hiểm trong những vụ đầu tư. May mắn là sao Kim Tinh xoay về cung hoàng đạo này và có thể mang đến những điều tốt đẹp trong công việc và tiền của, miễn đừng liên quan đến những loại đầu tư ăn cả ngã về không.
Tình yêu: Tình yêu của người tuổi Ngọ có thể gặp nhiều mâu thuẫn trong năm nay.
Sức khỏe: Sức khỏe không tốt lắm, tránh các đồ vật sắc bén vì dễ bị đứt tay chân nhẹ.
2014 là năm thích hợp để bạn làm mới bản thân như tham gia các lớp học thiền, Yoga, các môn thể thao giữ cân bằng hay đơn giản chỉ là hít thở không khí trong lành ở công viên, những nơi dễ đi bộ đến.
Giáp Ngọ là một năm thiếu Thủy, những người tuổi ngựa nên ăn nhiều trái cây và uống nhiều nước ép trái cây hơn để cân bằng sự thiếu nước.
Đây là thời điểm tốt để bạn sinh em bé, có con cũng là một cách hiệu quả để hóa giải vận xui.
MÙI
Đối với những người tuổi Mùi, năm nay còn tốt hơn năm 2013 vì Ngọ và Mùi là hai cung hoàng đạo hỗ trợ nhau. Những ai sinh vào năm 2003 và 1943 đặc biệt may mắn, bạn không cần phải chần chừ hay lùi bước khi cơ hội đến. Hơn nữa, sao Thái Dương rơi vào tử vi cho thấy bạn sẽ được nhiều người giúp đỡ cũng như nhiều sự ủng hộ từ xung quanh.
Nói chung đây sẽ là một năm tốt cho tuổi Mùi, trong công việc, học hành, phát triển kinh doanh, tình yêu và cả sức khỏe.
Đeo một hình con rắn như mặt dây chuyền/nhẫn hoặc để chung quanh những đồ vật liên quan đến rắn và uống nhiều nước có thể làm bạn khỏe mạnh hơn.
THÂN
Công việc: 2014 là năm tốt cho những người tuổi Thân, nhất là những ai có công việc đòi hỏi di chuyển nhiều. Những người làm công việc ngồi một chỗ cũng có một năm khá tốt, dù cơ hội thăng tiến không nhiều bằng. Tuy nhiên, không có các vì sao tốt giúp đỡ nên bạn sẽ phải “tự thân vận động” để hoàn thành công việc.
Sức khỏe & tình yêu: Sức khỏe và tình yêu của bạn ở mức trung bình, không có nhiều ảnh hưởng lớn.
DẬU
Đây là một năm rất may mắn cho người tuổi Dậu về mọi thứ từ tình yêu, công việc, kinh doanh đến sức khỏe, những phụ nữ ở vị trí lãnh đạo sẽ đặc biệt may mắn hơn.
Năm nay là thời điểm tốt để bạn thực hiện những thay đổi, bước chuyển lớn trong cuộc sống, kể cả chuyện hôn nhân. Nếu còn độc thân, tình duyên cũng sẽ tìm đến bạn. Tuy nhiên, dù nhiều cơ hội mỉm cười với bạn, bạn vẫn nên tập trung vào một số việc quan trọng để tránh sơ suất.
Những người tuổi Dậu nhạy bén nhưng thường không giỏi quản lý tài chính và phát triển kinh doanh. Để tránh hao hụt tiền của, bạn nên đeo hình con rồng hoặc tiếp xúc, làm ăn nhiều hơn đến những người tuổi Thìn.
TUẤT
Bạn có thể mỉm cười thật tươi vì bất cứ vấn đề gì không vui và tiêu cực trong năm 2013 sẽ hóa tốt vào năm nay. Đây là thời điểm thích hợp để bạn mở rộng giao thiệp vì các mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp sẽ giúp bạn giải quyết những vấn đề rắc rối.
Công việc: Bạn sẽ gặp nhiều may mắn trong công việc mang tính cạnh tranh, có cơ hội thăng tiến cũng như phát triển kinh doanh. Tuy nhiên, bạn không nên mạo hiểm và đầu tư lớn vì vận may về của cải chỉ ở mức trung bình, những bước đi đều đặn và vững chắc sẽ sinh lợi hơn.
Tình yêu: Tình yêu của bạn ở mức trung bình.
Sức khỏe: Sức khỏe không tốt là điều những người tuổi Tuất cần quan tâm trong năm nay, nhất là những người lớn tuổi. Nếu hướng nhà ở, phòng ngủ hoặc phòng ngủ ở hướng Tây Bắc hoặc Đông, bạn cần lưu tâm nhiều hơn vì tác hại sẽ lớn hơn.
Tham khảo những gợi ý phong thủy phía dưới để khắc phục.
HỢI
Công việc & tình yêu: Một năm trung bình trong công việc, của cải và tình yêu. Mặc dù có một vài ngôi sao tiêu cực rơi vào tử vi, sao Mộc Đức sẽ biến đồng nghiệp và những người gần gũi thành quý nhân giúp ích cho cuộc sống của bạn. Cứ theo việc cũ mà làm sẽ tốt hơn, vì vận may của bạn chỉ ở mức trung bình. Các gợi ý phong thủy ở phần dưới có thể giúp thu hút nhiều vận may hơn.
Sức khỏe: Vấn đề chính của những người tuổi Hợi năm nay là sức khỏe không tốt. Bạn cần ăn uống đủ chất và tập thể dục đều đặn hơn.
Đeo một hình con hổ có thể ngăn chặn mất mát tài chính do trộm cắp hoặc ăn cướp.
TÝ
Nhìn chung, 2014 không phải là một năm nổi bật dành cho người tuổi Tý.
Công việc: Tý xung đột với Ngọ nên những người tuổi Tý có thể mất mát về của cải và hay gặp chuyện buồn. Tốt nhất, bạn không nên đầu tư hoặc tiến hành việc kinh doanh, mua bán một cách hấp tấp để đề phòng người khác hãm hại, lừa gạt. Duy trì công việc và kinh doanh như cũ sẽ an toàn hơn.
Sức khỏe & tình yêu: Không phải tất cả mọi việc đều không như ý muốn, sức khỏe của bạn tốt và tình yêu cùng sự lãng mạn cũng đang đến tốt đẹp.
Năm nay, bất cứ những thứ liên quan đến nước sẽ giúp bạn may mắn hơn. Bạn có thể đeo một hình con trâu hoặc trưng một tượng hình con Trâu ở hướng Bắc trong nhà.
SỬU
So với hầu hết các tuổi khác, tử vi những người tuổi Sửu cũng khá tốt.
Công việc: Duy trì công việc hiện tại là điều nên làm vì vận may của bạn đến từ cấp trên như trưởng phòng, trưởng nhóm. Những thay đổi trong công việc hoặc bắt đầu việc kinh doanh mới có thể không suôn sẻ. Bất cứ điều gì bạn làm tuân theo cấp trên đều đạt được kết quả tốt, ngược lại có thể gặp thất bại.
Sức khỏe & tình yêu: Tình yêu và sức khỏe khá tốt. Để tình duyên như ý muốn, bạn có thể đặt 11 viên sỏi trong bất cứ đồ vật gì bằng thủy tinh ở hướng Tây Nam trong nhà.
Đeo một vật hình con Rắn là lời khuyên dành cho bạn. Ngoài ra, nên tham khảo những gợi ý phong thủy bên dưới để thu hút những vận may.
DẦN
Không có ngôi sao tốt nào trong tử vi, người tuổi Dần có thể gặp khá nhiều biến động và xui rủi trong năm nay như sức khỏe kém, gặp tai nạn và có người hãm hại. Bạn nên tốt bụng với mọi người và cứ theo việc cũ mà làm. Giao tiếp hoặc hợp tác làm ăn với những người tuổi Mẹo và Tuất có thể làm giảm nhẹ những điều xấu.
Nhớ làm theo các lời khuyên phong thủy ở phần dưới bạn nhé.
MẸO
Chúc mừng bạn vì Mẹo là một trong những cung hoàng đạo may mắn nhất trong năm 2014. Bạn được quý nhân giúp đỡ nên mọi khía cạnh trong cuộc sống đều như ý muốn, công việc thăng tiến, kinh doanh sinh lợi… Đây còn là thời điểm lý tưởng để kết hôn hoặc có con. Những cô nàng còn độc thân sẽ sớm tìm được ý trung nhân.
Quá may mắn trong mọi thứ sẽ dễ mang lại nhiều lời đồn dẫn đến hiểu lầm, do đó bạn nên cẩn thận lời nói, giữ bình tĩnh và chân thật trong mọi việc.
Đeo một hình con chó bên người có thể bảo vệ bạn khỏi rắc rối.
THÌN
2014 với tuổi Thìn là một năm tốt hơn mức trung bình một chút.
Công việc: Những khó khăn của bạn sẽ sớm được giải quyết và có nhiều người hỗ trợ bạn.
Sức khỏe & Tình yêu: Sức khỏe tốt nhưng những cô nàng tuổi Thìn có thể cảm thấy hơi cô đơn vì ngôi sao Cô Độc rơi vào tử vi. Tốt hơn, bạn nên đi ra ngoài để mở rộng giao tiếp và quan hệ xã hội để cảm thấy yêu đời hơn. Các mối quan hệ với bạn bè và đồng nghiệp sẽ tiến triển tốt đẹp.
Bạn có thể tăng vận may bằng cách đeo một hình con gà.
TỴ
Nếu như năm 2013 không được suôn sẻ thì năm nay mọi việc sẽ biến chuyển tốt hơn với cô nàng tuổi Tỵ.
Công việc: Công việc có thể không ổn định, bạn nên cố gắng duy trì và khiêm tốn trong công sở. Im lặng là vàng là lời khuyên dành cho bạn để những mâu thuẫn có thể xảy ra.
Tình yêu: Tình yêu và sự lãng mạn của bạn sẽ thăng hoa vì tuổi Tỵ và Ngọ đều là yếu tố hỏa. Bạn nên cẩn thận vì Sức mạnh hỏa gấp đôi có thể làm bạn vướng vào tình tay ba. Tốt hơn nên dành năng lượng vào công việc và giải quyết những vấn đề tài chính bạn nhé.
Sức khỏe: Sức khỏe có thể không tốt lắm, đặc biệt bạn có thể gặp những vấn đề liên quan đến phổi, hoặc lo lắng, căng thẳng đầu ốc. Tránh hút thuốc và thường xuyên tập thiền, yoga, những môn thư giãn tâm trí sẽ giúp ích cho bạn.
Môn thể thao thích hợp nhất cho bạn là đi bơi, bởi vì 2014 là năm yếu tố Hỏa rất mạnh, thêm vào Rắn cũng là yếu tố Hỏa, tất cả đều thiếu nước. Giảm nhẹ hỏa bằng nước còn giúp mang đến cho bạn những nguồn thu nhập mới.

HƯỚNG ĐẠI KỴ VÀ CÁCH HÓA GIẢI
2014 là năm không tốt lắm do hầu hết các hướng đều có các ngôi sao mang năng lượng tiêu cực, xấu nhất là hướng chính Nam và 322-337 độ Tây Bắc.
Ngôi sao số 8 Tài Lộc xoay vào hướng Nam, nhưng các ngôi sao xấu như Thái Tuế và sao Hỏa Tinh, đều là những ngôi sao mang năng lượng tiêu cực, cũng ở hướng Nam.
Sao Thái Tuế sẽ gây ra mất mát về của cải và mang đến tai họa. Những người sử dụng hoặc ở hướng Nam cần kiềm chế hai nguồn năng lượng tiêu cực lớn nhất này ở mức thấp nhất để tránh gặp hậu quả không tốt. Bạn không nên làm những việc quan trọng ở hướng Nam như xây dựng, sửa chữa, đào đất, tụ tập lớn như tiệc tùng. Nếu bắt buộc phải sử dụng hướng Nam, tốt nhất, bạn nên nhờ đến chuyên viên phong thủy chọn ngày thích hợp và cách hóa giải.
Không giống những năm năng lượng trung bình khác, vào năm 2014 chúng ta không thể tiếp thêm quá nhiều năng lượng cho hướng Nam vì sao Thái Tuế sẽ dễ dàng làm tăng năng lượng của sao Tài Lộc một cách quá mức. Trước tiên, bạn nên đặt một con dê bằng đá hay ngọc bích hoặc tỳ hưu ở hướng Nam để hóa giải sao Thái Tuế.
Để hạn chế những tranh cãi, xung đột, bạn không nên đặt thêm bất cứ vật dụng bằng kim loại nào khác vào hướng Nam. Sao này là biểu hiện cho cho gươm kiếm (kim loại), càng nhiều kim loại ngôi sao xấu này sẽ càng mạnh mẽ hơn.
Để tăng năng lượng cho sao Tài Lộc, bạn có thể để tượng tỳ hưu hoặc dê, sau đó là đặt 8 viên sỏi trong một ly nước (nhớ thay nước mỗi ngày) hoặc một đồng hồ màu đỏ ở hướng Nam trong nhà.
Ở vị trí 322-337 độ Tây Bắc, bạn cũng nên hạn chế năng lượng càng nhiều càng tốt bằng cách đặt một tượng con hổ hoặc mèo bằng bất cứ chất liệu gì, miễn là không phải màu đỏ và không dẫn điện ở hướng này.
CÁC HƯỚNG KỴ KHÁC VÀ CÁCH HÓA GIẢI
Hướng xấu thứ hai là 43-337 độ Bắc/Tây Bắc, vị trí của sao Tam Sát và hướng Tây Bắc, vị trí của sao số 5 thuộc hành Thổ. Sao số 5 ảnh hướng không tốt đến sức khỏe và của cải, sức phá hoại của sao Tam Sát còn mạnh mẽ và nhiều hơn.
Để hóa giải, ở hướng 43-337 độ Bắc/Tây Bắc bạn nên đặt ba con kỳ lân và ở hướng Tây Bắc đặt những đồ vật bằng kim loại hoặc nhạc cụ, trừ trống hoặc dàn âm thanh nổi Hifi/Stereo. Nếu bạn nhất thiết sửa chữa nhà cửa ở hai hướng này, tốt hơn nên nhờ chuyên gia phong thủy cho ngày tốt và cách hóa giải phù hợp.
Ngôi sao số 9 Tình Duyên và Lãng Mạn nằm ở hướng Bắc, tuy nhiên bạn cũng nên hạn chế năng lượng ở cả hai hướng Bắc và Tây Bắc như đối với hướng Nam. Ngoài cách hóa giải như trên, ở hướng Bắc bạn có thể đặt 9 viên pha lê màu hồng hoặc hoa hồng để kích thích vận may về tình yêu và sự lãng mạn. Ở hướng Tây Nam, để chín con cá vàng hoặc 11 viên sỏi màu xám trong một ly nước sẽ tăng thêm năng lượng cho tình yêu và của cải.
Tất cả những vị trí khác, sao số 2 thuộc Thổ ở hướng Đông, sao số 3 thuộc Mộc ở hướng Đông Nam, sao số 6 thuộc Kim ở hướng Tây và sao số 7 ở hướng Đông Bắc đều không quá xấu. Để duy trì sức khỏe tốt, bạn có thể đặt một ly nước ở hướng Đông Bắc và một tô đồng tiền kim loại hoặc một hồ lô bằng đồng ở hướng Đông. Hướng Đông Nam cũng không xấu vì sao học thức ở vị trí này có thể kích thích sự học hành và trí thông minh. Bạn nên giữ hướng Đông Nam sạch sẽ và sử dụng nó.
Ở hướng Tây, đặt 6 viên sỏi trắng trong một ly nước có thể giúp mang đến thu nhập bất ngờ, nhớ thay nước sạch mỗi ngày.
Đặc biệt, tên các loài vật biết bay có thể dùng để đặt tên người, gồm có các chữ như Diên Lân (chỉ con lân, con vật trong tứ linh); Quy (chỉ con rùa); Phượng (chỉ con phượng hoàng); Phúc (chỉ con dơi); Lộc (chỉ con nai); Oanh (chỉ chim oanh); Uyên (chỉ tên loài chim uyên ương); Loan (chỉ chim loan và nó thường đi với chim phượng, ý chỉ vợ chồng hòa thuận); Hồng (chỉ chim hồng, hay còn gọi là hồng nhạn); Ly (chỉ chim hoàng ly, hoàng anh); Quyên (chỉ chim đỗ quyên); Bằng (chỉ chim ó, chim ưng)... Mỗi 1 loài đều có những đặc điểm riêng mang đầy ý nghĩa để có thể được dùng để đặt tên cho con người.
Diên
Diên chính là chỉ tên của chim ưng, chim ó. Tên của loài chim này khá hay gặp trong danh từ riêng chỉ người. Bởi vì chim ó là loài chim bay rất cao, rất dũng mãnh và được nhiều người yêu thích. Khi dùng tên loài chim này để đặt tên, bạn có thể dùng chữ Diên để làm tên, cũng có thể dùng làm tên đệm, ví dụ Diên Hải, Mạnh Diên, Diên Vỹ, Diên Vũ, Diên Minh, Lâm Diên...
Hải Âu
Hải âu hay còn gọi là chim Âu, là loài chim có lông màu trắng sinh sống chủ yếu ở bờ biển. Đây là loài chim thông minh, thực hiện những hình thức giao tiếp phức tạp và có tổ chức bầy đàn cao. Đặc biệt, loài chim xinh đẹp này rất giỏi đương đầu với mưa gió biển khơi và rất thân thiện với con người. Vì thế, sử dụng chữ Âu làm tên người nghe rất hay.Loan
Loan chính là chim phượng hoàng, là vua của trăm loài chim trong truyền thuyết cổ đại. Bộ lông của phượng hoàng rất diễm lệ, là biểu tượng cho sự cát tường, mạnh khỏe. Nếu sử dụng chữ "Loan" làm tên gọi sẽ mang nội hàm là cát tường. Một số tên gọi hay như: Hồng Loan, Kim Loan, Thanh Loan, Bích Loan...
Lưu ý: Đối với những người thường giao tiếp hoặc có quan hệ với người nước ngoài thì không nên đặt tên Loan, vì theo tiếng Anh, Loan nghĩa là Nợ.
Ly
Ly chỉ loài chim hoàng ly có thân hình màu vàng, màu đỏ, tiếng kêu nghe rất hay. Nó cũng có tên gọi là hoàng oanh. Tên gọi Hoàng Ly hàm ý chủ nhân có dung mạo đẹp đẽ và giọng nói trong trẻo dễ nghe. Một số tên khác cũng rất ý nghĩa như Kiều Ly, Ngọc Ly...
Quyên
Tức là chỉ chim Đỗ Quyên, là loài chim có lông màu tro, đuôi lại điểm 1 vài dấu chấm trắng. Đỗ quyên là cách gọi giống nhau của chim đỗ quyên và hoa đỗ quyên. Một số tên Quyên mang ý nghĩa tốt đẹp: Kim Quyên, Lệ Quyên, Tố Quyên, Ngọc Quyên, Vũ Quyên...
Oanh
![]() |
| Tên Oanh thường được dùng để đặt tên cho con gái |
Hình dáng chim oanh rất nhỏ bé, có lông màu nâu hoặc màu xanh tối. Người ta thường múa điệu “oanh ca yến vũ” để chào đón mùa xuân về. Tên Oanh thường được dùng để đặt tên cho con gái và có thể được dùng làm tên đệm. Một số tên gọi hay như: Hoàng Oanh, Kim Oanh, Lâm Oanh, Yến Oanh, Oanh Vũ, Oanh Ca...
Uyên
Chim uyên ương có thân hình nhỏ bé, không những là loài chim bay giỏi mà còn biết bơi. Nó có bộ lông sặc sỡ rất đẹp. Con cái lại có lông màu nâu. Chim đực và chim cái thường cùng chung sống với nhau ở ven hồ, do đó mọi người thường ví uyên ương như đôi vợ chồng. Nếu muốn chỉ tính cách dịu dàng, hòa thuận thì chữ “Uyên” rất thích hợp để đặt tên cho con gái. Một số tên gọi hay có thể đặt như: Tố Uyên, Mỹ Uyên, Hồng Uyên...Bằng
Chim Bằng là loài chim lớn nhất so với các loài chim khác trong truyền thuyết. Người ta thường ví “bằng trình vạn lý” với những gì xa xôi ở hành trình phía trước. Ở Việt Nam có 1 số người đặt tên cho con là Bằng với hàm ý công bằng: Vũ Bằng là 1 cái tên khá ý nghĩa. Ngoài ra, còn 1 số tên khác như Bằng Sơn, Thiên Bằng, Lâm Bằng...
Mi
Mi là loài chim có bộ lông màu nâu, giọng hót mượt mà, dễ nghe. Với người con gái yêu thích ca hát thì dùng chữ Mi với ý nghĩa là nốt nhạc là hay nhất. Mang ý nghĩa này, ta có thể đặt tên là Giáng Mi, Diễm Mi, Trà Mi, Hoàng Mi...
Long
Thời xưa, rồng là hóa thân của Hoàng đế, đại diện của quyền lực. Rồng được liệt vào vị trí số 1 trong “tứ linh”, bao gồm: Long, Lân, Quy, Phượng. Trong ngũ hành, rồng đại diện phương Đông, được mệnh danh là Thanh Long, đối xứng với Bạch Hổ ở phương Tây. Vì thế, lấy tên Long đặt cho con trai với kỳ vọng lớn vào công danh của con mình sau này quả là lý tưởng. Những cái tên gắn liền với hình tượng rồng mang đầy ý nghĩa như: Vân Long, Long Sơn, Thiên Long, Long Du, Thủy Long, Ngọc Long, Thanh Long, Thăng Long, Xuân Long...
Theo Tìm hiểu khoa học về tên gọi
|
Thời gian: tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Kim Giang, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Các thần Cao Sơn, Diêm La, Mộc Tinh, hai vị bản thổ (hoàng cung Trịnh Thục phu nhân, Tràng Hán anh linh Đại Tướng quân).
Nội dung: Ngày 11/2 Sáng, lễ khai mạc được diễn ra sau một hồi trống tưng bừng của đội trống trong làng. Sau đó là lễ tế nhập tịch tại đình và đền do các cụ bô lão trong làng với trang phục truyền thống vào lễ cáo xin phép với Thành hoàng làng. Buổi chiều được tiếp tục với các hoạt động vui chơi dân gian truyền thống như chọi gà, chơi cờ tướng, đánh đu. Buổi tối có biểu diễn ca múa nhạc tại sân đình làng Kim Giang.
Ngày 12/2: Là ngày hội chính được bắt đầu bằng lễ rước bảng sắc phong từ nhà sắc về đình, đền. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng do thanh niên làng đảm nhiệm sau đó là các cháu thiếu nhi rước ảnh Bác Hồ, tiếp là đội tế lễ nam và nữ. Đội múa sinh tiền được các cháu thiếu nhi biểu diễn suốt cả đoạn đường rước kiệu mang lại không khí vui vẻ nhí nhảnh hồn nhiên của trẻ thơ. Bảng sắc phong đi cùng đoàn rước kiệu do hội phụ nữ làng đảm nhiệm, sau cùng là đội lễ của nhân dân trong làng và ngoài làng cùng tham gia lễ hội. Chương trình được tiếp tục với màn đội tế nam, tế nữ làm lễ dâng hương và đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu tại đình, đền. Sau đó dân làng và du khách cùng hưởng lộc thánh. Buổi chiều được tiếp tục với các tiết mục hoạt động vui chơi trao giải thưởng cho các trò chơi đạt giải tại sân đền. Lễ tạ Thánh và tổng kết lễ hội được các cụ bô lão và dân làng tham gia tiến hành vào lúc xế chiều.
Lễ hội làng Kim Giang được tổ chức hàng năm góp phần giáo dục các con cháu trong làng không quên truyền thống giữ nước của cha ông và góp phần nâng cao tình đoàn kết của nhân dân trong và ngoài làng. Bài và ảnh Huy Hoàng
Mỗi một công việc của cửa hàng và phòng làm việc đều có liên quan đến phong thủy, tất cả mọi sự vật không sự vật nào là không mang tính chất phong thủy. Vấn đề là chúng ta liệu có đủ tinh tế để quan sát thấy điều đó hay không? Nơi chúng ta ở, cửa hàng hoặc phòng làm việc có một số đồ vật vì quá quen thuộc làm mất đi giá trị phong thủy của nó. Trên thực tế, nghiên cứu tỉ mỉ thì sẽ thấy không có gì không liên quan đến phong thủy chẳng qua là mức độ của từng yếu tố quan trọng nhiều hay ít mà thôi.
Đèn là một trong những loại đồ vật thường thấy, đèn có chức năng chiếu sáng. Ánh sáng của đèn xua tan đi bóng đêm. Đèn cũng chính là công cụ phong thủy mạnh và hiệu quả, lúc lắp đèn nhất định không thể không chú ý.

Ánh đèn có hai đặc điểm lớn, một là ánh sáng, hai là nhiệt năng. Ánh sáng và sức nóng đều là biểu hiện của năng lượng. Nó đủ để ảnh hưởng tới sự thay đổi về cát hung trong phong thủy. Thường thì trong phòng làm việc thường có lắp bóng đèn chùm, và thường lắp đèn theo một quy cách thống nhất. Điều này sẽ làm cho chúng tương đối hài hòa, nếu dùng quá nhiều thì cần phải cẩn thận cân nhắc đến cách treo hoặc vị trí đặt.
Người lãnh đạo công ty muốn tăng thêm vẻ sang trọng hoặc muốn lắp đặt một đèn trang trí đặc biệt cho phòng làm việc của mình thì cần phải cân nhắc. Đặc biệt là một số đèn treo thủy tinh, nhìn chúng thì có vẻ đẹp lung linh, huyền ảo, thế nhưng khi chọn vị trí đặt cần phải chú ý đến một nguyên tắc lớn đó là không được để quá gần đỉnh đầu của người quản lý, nếu không có thể làm ảnh hưởng đến tài vận.
Ánh sáng và nhiêt năng chính là năng lượng của tài khí phong thủy
Đèn treo sinh ra quang và nhiệt, đầu óc con người lại tương đối mẫn cảm với những điều đó. Đầu óc muốn phát huy được chức năng tốt nhất thì phải đặt trong không gian yên tĩnh và thoải mái. Ánh sáng và nhiệt đều. có thể kích thích đến đầu óc, có thể dẫn tới trở ngại cho suy nghĩ.
Đầu tiên, sức nóng có thể khiến đầu bị choáng, làm suy giảm năng lực tư duy, vì thế mà làm cho người ở môi trường đó trở nên khó chịu, tính khí ũng thất thường. Đây là điều cần tránh trong việc kinh doanh buôn bán.
Vì thế, đèn treo không được trực tiếp lắp vào nơi trên đỉnh đầu. Nếu như muốn lắp thêm đèn thì nên đặt ở nơi mà cách đầu tầm 3 thước... để cho ánh điện có khoảng cách chiêu sáng phù hợp. Điều này có thê giúp bạn tránh được những phiền nhiễu không đáng có, để khả năng của bộ não được phát huy một cách tốt nhất
Vừa mới đây, ca sĩ Phương Thanh đã chia sẻ về sự ra đi của Minh Thuận và Minh Thuận về báo mộng việc bị chơi bùa ngải. Theo cô thì cái chết của người anh thân thiết có liên quan tới chuyện bùa ngải này. Cùng tìm hiểu chuyện tâm linh này liệu có thật không?
![]() |
| Chia sẻ về nguyên nhân cái chết người anh thân thiết của ca sĩ Phương Thanh |
![]() |
Phương Thanh coi Minh Thuận là người anh thân thiết |
| ► Mời các bạn đọc những câu nói hay về cuộc sống cùng những lời hay ý đẹp và suy ngẫm |
![]() |
![]() |
Trùng tang là một hiện tượng mà từ trước tới nay vẫn luôn được thêu dệt một cách huyền bí, mang màu sắc tâm linh rõ rệt và thể hiện “quyền lực” siêu nhiên không giới hạn của con người ngay cả khi đã… chết. Vậy “trùng tang” có thật hay không và nên hiểu nó như thế nào trên cả hai phương diện khoa học duy tâm và duy vật

Cách đây hơn một năm, nhiều tờ báo đưa tin về trường hợp trùng tang ở quận Tây Hồ, Hà Nội rất đáng sợ. Đó là một gia đình trong một ngày xảy ra 2 cái chết của bố chồng và nàng dâu cách nhau chưa đến 5 tiếng đồng hồ. Điều đáng nói là người con dâu đang khỏe mạnh bình thường, vẫn còn đang tất bật chuẩn bị “hậu sự” cho bố chồng thì bỗng nhiên đột tử vì cảm. Để tránh không chôn cất cùng một giờ, hơn nữa, chưa được “giờ đẹp” nên người bố “hạ huyệt” trước, sau đó người con dâu mới được khâm liệm và hạ huyệt sau.
Khỏi phải nói gia tộc đó hoảng sợ đến mức nào, nhất là người con trai cả đồng thời cũng là chồng của người vợ quá cố. Anh rất lo lắng cho đứa con trai độc nhất 15 tuổi và cả bản thân mình. Vì người ta bảo nhà anh bị “trùng tang”. Từ trước tới nay anh có biết “trùng tang” là gì đâu, hơn nữa, những chuyện như vậy chẳng khi nào anh quan tâm do không biết thực hư thế nào. Nhưng khi trong gia đình mình cùng lúc 2 cái chết của bố và vợ thì anh hoảng hồn thực sự, đến nỗi ai bảo gì anh làm nấy để gọi là tránh chuyện tương tự xảy ra.
Như gia đình trên đây, thì một gia đình ở ngay phố Ngọc Hà, quận Ba Đình cũng xảy ra những cái chết tương tự. Chỉ khác là gia đình này, trong vòng 3 năm, 2 người con trai duy nhất trong gia đình đều “đi” theo bố và “đi” một cách “bất đắc kỳ tử”. Người bố sau một thời gian bị bệnh nan y thì qua đời khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”. Nỗi đau của những người trong gia đình chưa qua thì chỉ sau cái lễ 100 ngày của ông ít hôm, lại đến con trai trưởng của ông mất. Cái chết của anh ở tuổi “vẫn còn đang xoan” không chỉ khiến cho người ta thương tiếc mà còn làm cho câu chuyện về “trùng tang” được tin nhiều hơn và thêu dệt nhiều hơn.
Đêm hôm trước, anh vẫn còn ngồi quán nước và nói chuyện oang oang về thế sự, không một chút biểu hiện của người đau ốm, bệnh tật. Thế mà sớm hôm sau, khi vợ gọi anh dậy để đỡ chị dọn hàng bán đồ ăn sáng như mọi khi, anh đã mãi ngủ không bao giờ dậy. Liên tiếp 2 cái chết xảy ra trong vòng hơn 3 tháng, tưởng như gia đình anh không thể gắng gượng được.
Vậy mà chưa hết, 2 năm sau, người con trai út đang phơi phới tuổi xuân bỗng dưng một chiều đi làm về kêu mệt, vào giường nằm rồi mất lúc nào cũng không ai biết. Cả gia đình nhộn nhạo, hoảng loạn. Không ai có thể giải thích được nguyên nhân vì sao chỉ trong thời gian ngắn mà cả 3 người đàn ông trong nhà đều ra đi ngoài lý do duy nhất: “Trùng tang”. Và trùng tang như thế được gọi là “trùng tang liên táng”.
Thực ra, từ trước tới nay, chưa bao giờ có một định nghĩa chính thống về “trùng tang” mà chỉ dựa trên hiện tượng rồi đúc kết thành quan niệm. Ngay cả, Phật pháp cũng không định nghĩa về hiện tượng này, mặc dù đây là “hồn cốt” của thế giới tâm linh. Theo cách hiểu dân gian “trùng tang” là trường hợp người chết “phạm” phải năm hoặc tháng hoặc giờ xấu do đó linh hồn không siêu thoát nên cứ quanh quẩn trong nhà trở thành “trùng” (có khái niệm cho rằng là “âm binh”) rồi lần lượt “bắt” theo từng người thân trong dòng tộc.
Nhưng phải trong 3 năm liền xảy ra liên tiếp những cái chết của những người trong cùng dòng tộc mới coi là “trùng tang”. Còn nếu không thì không phải. Có rất nhiều người nhầm lẫn điều này nên thấy trong gia tộc có nhiều người mất nhưng không phải trong 3 năm liên tiếp vẫn nhận là bị “trùng tang”.
Cách tính “trùng tang” theo “Phật pháp bách vấn” thì như thế này: Đối với những người tuổi thân, tý, thìn nếu mất vào một trong bất kể ngày hoặc tháng, năm, giờ tỵ thì coi là bị mất vào ngày trùng tang, còn được gọi là ngày “kiếp sát”. Tức là những tuổi đó “kỵ tỵ”. Mà đã ‘kỵ tỵ” thì những người tuổi thân, tý, thìn càng không được an táng vào ngày tỵ. Tương tự cách tính ấy, tuổi dần, tuất, ngọ kỵ hợi; tuổi tỵ, dậu, sửu kỵ dần; Hợi, mão, mùi kỵ thân. Tiện ích tính tự động trùng tang liên táng tại đây
Còn cách tính ngày trùng là chẳng hạn, ngày dần, tháng dần, năm dần, hay ngày thân, tháng thân, năm thân… cũng được gọi là ngày “trùng”. Ngày “trùng” này không tính riêng cho một tuổi nào mà bất kỳ người tuổi nào mất vào ngày “trùng” cũng “kỵ”.
Sách “Tam giáo chính hội” còn nói đến cách tính “trùng tang” cổ xưa là phải tính theo niên, nguyệt, nhật, thời (năm, tháng, ngày, giờ) thì mới biết người quá cố có “trùng tang” hay không. Theo cách tính đó thì những người mất ở tuổi (âm lịch): 10, 13, 16, 19, 22, (cứ cộng thêm 3) thì sẽ bị “trùng tang”. Hoặc những người tuổi tý, ngọ, mão, dậu nếu mất vào một trong các năm tuổi ấy, cũng coi là “trùng tang”…
Tuy nhiên, việc “trùng tang” có thật hay không hay chỉ là sự ngẫu nhiên tình cờ?
Mặc dù là thế giới tâm linh đầy huyền bí và cũng có hẳn cách tính ngày “trùng tang” nhưng Phật giáo lại quan niệm về “trùng tang” như thế này: Sống chết là chuyện thường niên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định, có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ mất cũng như chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác…”.
Trên cơ sở khoa học, GS.VS Đào Vọng Đức, PGS.TS Hà Vĩnh Tân, những nhà vật lý thuộc Hội Vật lý Việt Nam cũng đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về vấn đề này đã lý giải theo cách của mình.
Mà cách lý giải ấy rất giống với những kiến giải của cố GS Nguyễn Hoàng Phương - nhà vật lý học nổi tiếng - từng giải thích hiện tượng “trùng tang” theo lý thuyết sóng điện từ và trường năng lượng: “Trong mối quan hệ giữa người chết bị “trùng tang” và người bị “trùng bắt” không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số khác nhau nhiều nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống”.
Còn TS Đỗ Kiên Cường, một người rất am hiểu về những khả năng tiềm ẩn của con người, về những cái gọi là “thế lực siêu nhiên”… đồng thời là tác giả của rất nhiều bài viết lý giải về vấn đề này dưới góc độ khoa học cho rằng: “Trùng tang” đơn giản chỉ là sự trùng hợp mang tính ngẫu nhiên. Trong đó, bản chất của sự trùng hợp là luật số lớn trong lý thuyết xác suất và thống kê. Định luật này đơn giản có thể hiểu là: “Với một mẫu xét đủ lớn, bất kỳ hiện tượng kỳ lạ nào cũng có thể xảy ra”.
Như vậy, với những cách giải thích trên đây, mặc dù chưa có cách giải thích nào có thể chứng minh theo kiểu “tai nghe mắt thấy” nhưng rõ ràng “trùng tang” chỉ là một quan niệm “siêu thực”, xuất phát và tồn tại trong tín ngưỡng, thế giới tâm linh của con người. Và khi đã tồn tại trong tín ngưỡng dân gian, thế giới tâm linh của con người thì nhận định như nhà văn hóa Trần Lâm Biền “cần gì phải biết đúng - sai; thực - hư mà cứ để nó như vậy. Duy chỉ có điều không được khoác lên nó, thêu dệt xung quanh nó màu sắc mê tín dị đoan”.
Còn cách “hóa giải” trùng tang như Phật giáo khuyên: “Vì là tập tục đã ăn sâu vào tâm thức mọi người nên trong tinh thần phương tiên, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phúc hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để “âm dương lưỡng lợi” theo quan điểm của Phật giáo”.
Còn để “trấn an” tinh thần của những người còn sống, dân gian có cách “giải” trùng tang là: dùng các vị thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào một cái túi rồi đặt trong quan tài người chết. Hoặc có thể dùng bộ linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên ngực, hoặc lót dưới quan tài… Bộ linh phù này được biết ở chùa Hàm Long, Bắc Ninh có bộ ván in khắc phù giải đã có mấy trăm năm nay. Người dân có thể đến đây nhờ các sư thầy tư vấn mà không nên lập đàn tế lễ tốn kém, gây hoang mang cho người còn sống…
Theo Tùng An
Tuổi Dậu
![]() |
Cộng với đôi mắt long lanh biết nói, họ khiến những ai gặp gỡ, dù chỉ là lần đầu tiên, đều có ấn tượng khá sâu sắc. Đặc biệt, những anh chàng cá tính mạnh mẽ rất muốn che chở và bảo vệ cho cô nàng có trái tim yếu đuối này.
Tuổi Mão
Con gái sinh năm Mão khá ôn hòa và dễ mến. Hơn thế, mọi ngôn từ cử chỉ của họ đều nho nhã, điềm đạm, khiến mọi người cảm thấy thoải mái và thu hút ngay từ cái nhìn đầu tiên. Những cô nàng tuổi Mão lại rất coi trọng tình cảm nên dễ trở thành “mục tiêu” lý tưởng cho những anh chàng muốn có được cuộc sống gia đình hạnh phúc.
Tuổi Tý
![]() |
Duyên dáng nhưng hơi nhút nhát là đặc điểm thường thấy ở những cô nàng tuổi Tý. Lần đầu tiếp xúc với họ, hội đầu keo đều cảm thấy có sức hút kỳ lạ nào đó. Càng nghĩ như vậy, những anh chàng đó càng quyết tâm tìm hiểu, chinh phục và bảo vệ cô nàng tuổi Tý.
Tuổi Ngọ
Cô nàng tuổi Ngọ sở hữu tính cách vui vẻ, phóng khoáng và vô cùng nhiệt tình. Điều đó khiến họ nổi bật ở bất cứ nơi đâu. Nhiều anh chàng bị thu hút ngay từ ánh nhìn đầu tiên là điều khó tránh khỏi. Dù chỉ nhìn thấy nàng tuổi Ngọ mỉm cười hay nghe thấy tiếng cười sảng khoái của họ, những “vệ tinh” xung quanh sẽ nhanh chóng tìm tới để góp vui cũng như hòa mình với họ.
Mr.Bull (theo Dyxz)
Phan Kế Bính là một nhà trí thức tiến bộ (1875-1921) học vấn uyên thâm, đỗ cử nhân Hán học (1906). Lại am tường văn minh Đông Tây, đã có nhiều cống hiến trong công cuộc khảo cứu văn học và lịch sử. Ông khuyên ta không nên mê tín quá vào việc xem ngày kén giờ, nhưng tại sao không bài bác thẳng thừng mà còn hướng dẫn người đọc: cưới xin, làm nhà, khai trương, xuất hành, an táng nên tìm ngày gì, kị ngày gì và bày cách chọn giờ hoàng đạo.
Trong bài có nói đến nhiều cát tinh (sao tốt), hung tinh (sao xấu), các ngày trực tốt trực xấu. Vậy sao không hướng dẫn cụ thể nên những người đọc muốn kén ngày, giờ vẫn phải đi tìm thầy, nhiều khi vừa tốn kém lại vừa bị lừa bị bịp.
Theo thiển ý chúng tôi: Ông không đi sâu giải thích từng cát tinh hung tinh vì trong thời kỳ đầu thế kỷ đã có bản niên giám ban hành nhiều năm và nhiều người biết tiếng Hán xenm được.
Nhằm giải đáp những thắc mắc trên và giúp bạn trẻ thời nay hiểu thêm về một số vấn đề mà học giả Phan Kế Bính đã đề cập tới, trong phần chú giải dưới đây, chúng tôi dựa theo những tư liệu bằng tiếng Hán đã được lưu truyền như "Vạn niên lịch", "Ngọc hạp kỷ yếu", "Chư gia tuyển trạch nhật", "Đổng công trạch nhật","Vạn bảo toàn thư" đối chiếu với lịch thế kỷ XX của nha khí tượng và một số bài viết của các nhà khoa học để làm nhiệm vụ biên khảo, dẫn giải tiếp bài viết của Phan Kế Bính.
Thực ra muốn trả lời cho thật đầy đủ và cụ thể phải đi sâu vào chiêm tinh học cổ đại mà cuốn sách này chưa thể đáp ứng.
Có những cách tính ngày tốt xấu cơ bản như sau:
Tính theo tháng âm lịch và ngày can chi:
- Các sao tốt: Thiên đức, nguyệt đức (lục hợp), thiên giải, thiên hỷ, thiên quý (yếu yên),tam hợp (ngũ phú). Theo quan niệm xưa, những ngày có các sao này chiếu thì làm việc gì cũng tốt.
Ngoài ra còn có các sao: Sinh khí (thuận việc làm nhà, sửa nhà, động thổ), thiên thành (cưới gả giao dịch tốt), thiên quan (xuất hành giao dịch tốt), lộc mã (xuất hành di chuyển tốt), phúc sinh (được phúc tốt), giải thần (giải trừ các sao xấu), thiên ân (được hưởng phúc ân, làm nhà, khai trương)...
Theo thứ tự lần lượt từ tháng giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, mười một, chạp thì các sao tốt sẽ chiếu vào các ngày như sau:
Thiên đức: Tị, mùi, dậu, hợi, sửu, mão, tị, mùi, dậu, hợi, sửu, mão. (1)
Nguyệt đức: Hợi, tuất, dậu, thân, mùi, ngọ, tị, thìn, mão, dần, sửu, tý.
Thiên giải: Ngọ, thân, tuất, tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất, tý, dần, thìn.
Thiên hỷ: Tuất, hợi, tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu.
Thiên quí: Dần, thân, mão, dậu, thìn, tuất, tị, hợi, ngọ, tý, mùi, sửu.
Tam hợp: Ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, tý, sửu, dần, mão, thìn, tị.
Sinh khí: Tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.
Thiên thành: Mùi, dậu, hợi, sửu, mão, tị, mùi, dậu, mùi, sửu, mão, tị.
Thiên quan: Tuất, tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất, tý, dần, thìn, ngọ, thân.
Lộc mã: Ngọ, thân, tuất, tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất, tý, dần, thìn.
Phúc sinh: Dậu, mão, tuất, thìn, hợi, tị, tý, ngọ, sửu, nùi, dần, thân.
Giải thần: Thân, thân, tuất, tuất, tý, tý, dần, dần, thìn, thìn, ngọ, ngọ.
Thiên ân: Tuất, sửu, dần, tị, dậu, mão, tý, ngọ, thân, thìn, thân, mùi.
--------------------------------------------
Có nghĩa là: Sao thiên đức chiếu vào những ngày tị của tháng giêng, ngày mùi của tháng hai, ngày dậu của tháng ba... Các sao khác cũng xem như vậy.
Các sao xấu: (mỗi tháng tính theo ngày âm có ba ngày nguyệt kỵ là mồng 5, 14, 23 và 6 ngày tam nương là ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27).
Các sao xấu khác tính theo tháng âm lịch và ngày can chi như: Thiên cương, thụ tử, đại hao, tử khí, quan phù (xấu trong mọi việc lớn), tiểu hao (kỵ xuất nhập, tiền tài), sát chủ, thiên hoạ, địa hoả, hoả tai, nguyệt phá (kiêng làm nhà), băng tiêu ngoạ giải (kiêng làm nhà và mọi việc lớn), thổ cấm (kiêng động thổ), vãng vong (kiêng xuất hành giá thú), cô thần, quả tú (kiêng giá thú), trùng tang trùng phục (kỵ hôn nhân, mai táng, cải táng).
Theo thứ tự từ tháng giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, một, chạp thì các sao xấu chiếu như sau:
Thiên cương: Tị, tý, mùi, dần, dậu, thìn, hợi, ngọ, sửu, thân, mão, tuất.
Thụ tử: Tuất, thìn, hợi, tị, tý, ngọ, sửu, mùi, dần, thân, mão, dậu.
Đại hao, tử khí, quan phù: Ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, tý, sửu, dần, mão, thìn, tị.
Tiểu hao: Tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, tý, sửu, dần, mão, thìn.
Sát chủ: Tý, tị, mùi, mão,thân, tuất, sửu, hợi, ngọ, dậu, dần, thìn.
Thiên hoả: Tý, mão, ngọ, dậu, tý, mão, ngọ, dậu, tý, mão, ngọ, dậu.
Địa hoả: Tuất, dậu, thân, mùi, ngọ, tỵ, thìn, mão, dần, sửu, tý, hợi.
Hoả tai: Sửu, mùi, dần, thân, mão, dậu, thìn, tuất, tị, hợi, tý, ngọ.
Nguyệt phá: Thân, tuất, tuất, hợi, sửu, sửu, dần, thìn, thìn, tị, mùi, mùi.
Băng tiêu ngoạ giải: Tị, tý, sửu, thân, mão, tuất, hợi, ngọ, mùi, dần, dậu, thìn.
Thổ cấm: Hợi, hợi, hợi, dần, dần, dần, tị, tị, tị, thân, thân, thân.
Thổ kỵ, vãng vong: Dần, tị, thân, hợi, mão, ngọ, dậu, tý, thìn, mùi, tuất, sửu.
Cô thần: Tuất, hợi, tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu.
Quả tú: Thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi, tý, sửu, dần, mão.
Trùng tang: Giáp, ất, mậu, bính, đinh, kỷ, canh, tân, kỷ, nhân, quý, mậu.
Trùng phục: Canh, tân, kỷ, nhâm, quí, mậu, giáp, ất, kỷ, bính, đinh, mậu.
Mỗi năm có 13 ngày dương công (xấu).
Tính theo ngày tiết: 4 ngày ly và 4 ngày tuyệt (xấu)
Mỗi năm có 4 ngày tứ ly (trước tiết xuân phân, thu phân, đông chí, hạ chí một ngày), 4 ngày tứ tuyệt (trước tiết lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông một ngày).
Tính theo ngày trực:
- Trong 12 ngày trực có 6 ngày tốt (trực kiến (1), trực mãn (3), trực bình (4), trực định (5), trực thành (9), trực khai (11), 3 ngày thường (trực chấp (6), trực trừ (2), trực thu (10), 3 ngày xấu (trực phá (7), trực nguy (8), trực bế (12).
Tính theo nhị thập bát tú:
- Trong 28 ngày có 14 ngày tốt, 14 ngày xấu nhưng nhị thập bát tú tương ứng với ngày tuần lễ. Nói chung ngày thứ tư, thứ năm hàng tuần thường là ngày tốt.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Hành: Thủy
Loại: Cát Tinh
Đặc Tính: Văn chương, học hành, thi cử
Sao Bác Sĩ là cát tinh, có nghĩa là thông minh, hay suy xét kín đáo, chủ sự thông đạt thâm thúy, ngôn ngữ hoạt bát, khoan hòa, nhân hậu, lợi ích cho việc thi cử học hành, giải trừ bệnh tật.
Về các điểm này, Bác Sĩ có đặc tính tương tự như Hóa Khoa, chủ về học và hạnh đồng thời cứu giải bệnh tật. Nhưng Bác Sĩ không mạnh bằng vào Hóa Khoa.
Ý Nghĩa sao Bác Sĩ Và Các Sao Khác:
Bác Sĩ gặp Hóa Khoa: Có học, có hạnh.
Bác Sĩ gặp Âm Dương, Xương Khúc: Có khoa danh làm nên.
Vì cách an Sao có sự trùng hợp trong Tử Vi cho nên có nhửng sao luôn luôn đi kèm nhau như hình với bóng .Chẳng hạn như cung có Phượng Các thì tất nhiên phài có Giải Thần hoặc ngược lại .Có Quan Phù là phải có Long Trì hoặc có Long Trì thì phải có Quan Phù ,có Hư tất có Phá hoặc có Phá tât có Hư .
Lộc Tồn với Bác Sĩ cũng nằm trong định luật ấy .Có sao bác Sĩ tất có Lộc Tồn hoặc có Lộc Tồn tất có Bác Sĩ .
Trong chúng ta,ai cũng đều biết là vòng Bác Sĩ (hoặc Lộc Tồn )được an theo Thiên Can của năm sinh,nối đuôi là 11 sao theo thứ tự :..Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư ............
Có 2 giả thuyết để chúng ta chấp nhận:
-Giả thuyết thứ nhất, nếu sao Bác Sĩ được chính danh đứng đầu trong vòng sao của mình thì đương nhiên phải chấp nhận Lộc Tồn là 1 sao đơn được an theo hàng Can của năm sinh như các sao Khôi, Việt, Lưu Hà, Thiên Trù, Lưu Niên Văn Tinh ......Một khi đã là sao đơn thì không có chuyện khởi thuận hoặc khởi nghịch của Lộc Tồn .Vô hình chung,ta khẳng định rằng Kình Dương luôn luôn an trước Lộc Tồn 1 cung và Đà La luôn luôn an sau Lộc Tồn 1 cung với câu thiệu:"Lộc tiền nhất vị thị Kình Dương" .
-Giả thuyết thứ 2, Nếu Lộc Tồn được chính danh đứng đầu trong vòng sao của mình thì chúng ta phải chấp nhận sự khởi thuận và khởi nghịch của Lộc Tồn và cũng phải chấp nhận là Kình Dương luôn luôn đi kèm Lực Sĩ, vì có khởi thuận hoặc khởi nghịc đi chăng nữa thì Lực sĩ cũng luôn luôn đi trước Lộc Tồn .
Sao Lộc Tồn được chính danh hay Bác Sĩ được chính danh cũng tùy theo kiến thức, nhận xét của chúng ta .Mong rằng mọi người hãy cùng nhau góp sức để làm sáng tỏ vấn đềvà cũng là để thống nhất cách an Kình Đà
![]() |
![]() |
Tài vị kỵ đè nén: Theo Phong thủy, tài vị không được để bị đè nén, nếu đặt ở đó những cái tủ lớn, những tủ sách nặng hoặc những tủ tường liên hợp… đè xuống tài vị thì sẽ khiến cho tài vận của căn phòng bị tổn thất.

Tài vị kỵ thủy: Có một số người thích đặt bể cá ở tài vị, thực tế như vậy là không nên bời vì vô hình chung đã đặt thần tài đi đến bể nước và biến thành “kiến tài hỏa thúy” rồi. Tài vị kỵ nước, chính vì vậy không nên đặt những thực vật được nuôi dưỡng bằng nước ở nơi đó.
Tài vị kỵ không: Đằng sau tài vị nên có một bờ tường cố định, bởi vì nó tượng trưng cho ngọn núi có thể nương tựa, bảo đảm không có những buồn phiền sau này, như vậy mới có thể tàng phong tụ khí được. Ngược lại, nếu đặt phía sau tài vị là cánh cửa sổ thủy tinh trong suốt, như vậy không những không thể tích lũy được tài phú, hơn nữa còn bị trệ khí, dẫn đến phá sản.
Tài vị ky xung: Phong thủy học kỵ nhất là những góc nhọn đối nghịch, chính vì vậy mà gần những nơi có tài vị không nên có những góc nhọn, để tránh ảnh hưởng xấu đến tài vận.
Tài vị kỵ ô bẩn: Nếu đặt nhà vệ sinh ở tài vị hoặc những đồ vật bỏ đi ở tài vị, điều này sẽ ảnh hưởng đến tài vị, khiến cho tài vị sẽ bị ảnh hưởng xấu, không những khiến tài vị không thể chiêu tài tiến bảo, ngược lại còn khiến cho tài lộc trong nhà bị tổn hao.
Tài vị kỵ âm: Tài vị nên sáng sủa không nên tối, sáng sủa thì sinh khí dồi dào; âm u lại khiến cho không khí nặng nề, dẫn đến trệ tài vận, cần phải hoá giải bằng đèn chiếu sáng.
|
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Tục ngữ có câu: "Đàn ông sợ nhất là làm sai nghề, phụ nữ sợ nhất là lấy nhầm chồng”. Để tìm được người bạn đời trong biển người mênh mông quả không phải là chuyện dễ. Đối với phụ nữ, tìm được người chồng tốt vừa yêu thương vợ vừa biết lo cho gia đình đó là điều hạnh phúc nhất của cả đời người. Dựa vào 1 số đặc điểm của nét tướng biểu hiện dưới đây, có thể bạn sẽ tìm được người chồng ưng ý.
- Địa Các (cằm) đầy đặn, bằng phẳng, vuông tròn là lý tưởng. Địa Các cho biết vận mệnh cuối đời; thể hiện quan niệm, thái độ, tình cảm của một người đối với gia đình. Nếu nam giới có cằm như trên là coi trọng cuộc sống gia đình. Trái lại, người có cằm nhọn thường không thích gò bó trong vai trò của một người chồng, do đó tình cảm vợ chồng vì thế cũng bị ảnh hưởng, cuộc sống gia đình không xuôi chèo mát mái.
- Gian Môn (phía trên đuôi mắt) bằng phẳng, đầy đặn, không có nếp nhăn xung phá là tướng tốt, được sự hậu thuẫn đắc lực của người vợ. Nếu bộ phận này lõm vào thì duyên phận vợ chồng có thể bị tổn hại, khắc với vợ, không thể sống với một vợ đến già mà sẽ có nhiều lần kết hôn. Vị trí này dù không lõm nhưng lại có nốt ruồi hoặc có quá nhiều nếp nhăn nơi đuôi mắt kéo dài ra tận cung Phu Thê (phần nằm ở đuôi lông mày và đuôi mắt kéo dài đến chân tóc mai) thì có ảnh hưởng không tốt đến vợ.
- Sơn Căn (khoảng cách ở giữa 2 đầu mắt) cao, màu sắc sáng sủa; sống mũi cao, chóp mũi tròn, 2 cánh mũi phải đầy đặn; chân mày hướng đến tóc mai là người có chí lớn, tài vận tốt. Nếu nam giới có đầu mũi nhọn, xương xẩu là người rất khắt khe, thường hay trách cứ vợ con; chặt chẽ trong chi tiêu. Nếu xương sống mũi lộ ra thì càng khắc vợ.
- Eo tròn, lưng dày, vai bằng, rộng, ngực bụng cân đối thường là người có phúc tướng. Người này có nhiều phúc lộc, có thể gánh vác trọng trách trong gia đình và ngoài xã hội. Ngược lại, nếu nam giới có vai nhọn, cao là người có sức khỏe yếu, cuộc sống vất vả, bụng dạ hẹp hòi và nóng nảy.
(Theo Thuật xem tướng mặt và tướng bàn tay)
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt tổng hợp mọi thông tin về mười hai con giáp bạn nên xem |
Thế giới của những con giáp không thể sống thiếu điện thoại
Chiêm bao thấy một bãi rác cao như núi là ám chỉ bạn đã bỏ qua một vài ý tưởng, bạn chưa thực sự tự tin vào khả năng của mình, hoặc cũng có thể bạn cũng phủ nhận năng lực của một ai đó bên cạnh mình.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Đừng khó chịu khi mơ thấy rác có mùi, vì đây là điềm báo bạn sắp có tài lộc đấy.
Mơ thấy mình đang đi trên đống rác là cát mộng, bạn sắp nhận được nhiều tin vui bất ngờ.
Mơ thấy mình đi đổ rác là điềm báo đối tác trong công việc làm ăn sẽ chính là người mang lợi lộc tới cho bạn.
Mơ thấy mình bị đổ rác vào người là sắp có nhiều tài lộc.
Mơ thấy quét rác ở trong nhà là đự báo sắp có khách từ phương xa tới thăm. Nhưng nếu mơ thấy mình quét rác ở ngoài đường thì lại là việc không vui vẻ gì vì giữa bạn và người hàng xóm sắp xảy ra xích mích.
Tuy nhiên, nếu bạn mơ thấy rơm rác bừa bãi ở nhiều nơi là điềm báo, sắp tới bạn sẽ gặp phải những khó khăn, vất vả.
| ► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác |
Theo Khám Phá Bí Ẩn Những Giấc Mơ