Nhìn tai đoán vận mệnh và sức khỏe –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Tôi thực sự yêu những chiếc kệ bên dưới, yêu từ kiểu dáng hình khung rỗng cho tới màu sơn vàng sáng. Nhờ nó mà không gian phòng khách nhỏ này nổi bật hơn, xứng đáng là tâm điểm của ngôi nhà.
Cách sắp xếp đồ đạc cũng thực sự khiến cho một cô gái như tôi bị ám ảnh. Chiếc kệ chia thành nhiều ô, có đủ diện tích để cất đồ và trang trí thêm cây xanh, khung ảnh.
|
| Đối với phòng khách nhỏ thì chiếc kệ đựng đồ dạng khung là lựa chọn số 1. Thêm một vài màu sắc tươi sáng như màu vàng... để tạo điểm nhấn cho không gian. |
Có rất nhiều cách tuyệt vời để mang tới sự khác biệt “độc nhất vô nhị”, những giải pháp lưu trữ thân thiện với túi tiền vào trong không gian sống của gia đình bạn. Nhất là, nó còn hài hòa với phong cách và lối trang trí vốn có.
Ngay cả khi không gian phòng khách được dùng làm nơi để bạn và các thành viên nghỉ ngơi, đọc sách, xem phim, ăn vặt và chơi game thì nó vẫn có thể vui tươi và đa năng, tích hợp được tất cả các chức năng cần thiết.
Tủ ốp tường là một xu hướng khác mà tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đồng ý rằng đây là xu hướng vượt thời gian, sẽ được sử dụng lâu dài.
![]() |
| Tủ ốp tường dễ dàng hài hòa với nhiều phong cách thiết kế khác nhau, tạo thêm không gian trữ đồ đầy thẩm mỹ. |










Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
![]() |
![]() |
![]() |
| ► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Sinh tháng Giêng: Người tuổi Mão sinh vào tiết xuân thường có vận tốt nhưng phải bôn ba khắp nơi, ít được thảnh thơi.
Sinh tháng 2: Người sinh vào tháng này thường được hưởng phúc khi về già. Cuộc đời thăng trầm.Sinh tháng 4: Là người hào hoa, phong nhã, oai phong lẫm liệt, có ý chí nhưng thiếu quyết đoán. Số may mắn, phú quý, có vợ hiền, con cháu hiển vinh, tâm hồn luôn được thảnh thơi, vui vẻ. Đây là người có thể làm được mọi việc nhưng nhất thiết phải có tầm bao quát.
Sinh tháng 5: Sự nghiệp kinh doanh thuận lợi, đời sống vật chất dư dả, cuối đời gặp nhiều may mắn. Là người cung kính, lễ phép, được mọi người quý trọng.
Sinh tháng 6: Là người phong thái tôn nghiêm, có tài quản lý. Số có gia thế hưng vượng, mọi việc thành công như ý, vợ hiền đẹp đảm đang, con cái vinh hoa.
Sinh tháng 7: Sinh vào Lập Thu, tiết đẹp khí tốt. Là người có chí khí lớn, đáng tin cậy, dễ lập nên nghiệp lớn. Nếu là nữ giới sẽ rất thông minh, quyền thế hiển hách, ung dung tự tại.
Sinh tháng 8: Bản tính thông minh, ứng biến linh hoạt, trung thành, nghĩa hiệp. Số phận may mắn, luôn vượt qua được gian khó, sự nghiệp dễ thành.
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Sinh tháng 9: Là người quyền thế, hiệp nghĩa nhưng dễ nản chí trước khó khăn. Số có gia đình bình yên, vinh hoa phú quý, một đời được hưởng phúc êm ấm.
Sinh tháng 10: Sinh vào tiết Lập Đông dịu mát, có số thanh cao, trường thọ, no đủ, một đời thuận lợi. Tuy có lúc gặp hiểm nguy nhưng nếu biết kiên trì vượt khó thì mọi việc đều tốt đẹp.
Sinh tháng 11: Số ít may mắn, cuộc sống thiếu thốn, hay gặp thất bại, không được trợ giúp, khó làm ăn kinh doanh. Nếu làm chủ được mình, kiên cường vượt qua gian khó cũng nên nghiệp lớn. Là người bảo thủ nhưng khiêm nhường, có chí nhưng không gặp thời, hay âu lo phiền muộn.
Sinh tháng 12: Số nghèo khó, khắc cha mẹ, anh chị em. Nên cẩn trọng khi kết giao bạn bè.
(Theo Nhân duyên & tướng cách đàn bà)
|
||||
Trong mỗi chúng ta hẳn ai cũng ước vọng một cuộc sống có của ăn của để, nhưng có nhiều người trong gia đình có những thiết kế làm “trôi của” mà không hề hay biết. Thậm chí có thể làm tài vận suy yếu hoặc mất đi. Muốn giữ được của thì cửa chính rất quan trọng, những điều cấm kỵ về phong thủy cho cửa chính nhà bạn cần được chú ý.
1. Độ cao của cửa nhà
Việc đo đạc độ cao chiều rộng cửa nhà thông thường thì độ cao nên là số thập phân hoặc số lẻ, ví dụ 2.5 mét. Chiều rộng cửa cũng nên lấy số thập phân/số lẻ làm chuẩn. Nếu không cho dù là thu nhập chính hay thu nhập phụ thì cũng rất dễ bị cuốn trôi.
2. Màu sắc
Nếu như cửa nhà bạn màu đỏ, màu đen, màu xanh lá cây,...sẽ có ảnh hưởng không tốt tới tài vận. Hoặc đơn giản như màu sắc cửa nhà không hợp với mệnh thì của cải cũng dễ biến mất.
3. Khe cửa
Đóng cửa lại, lấy một tờ giấy mỏng, đặt trước khe cửa, xem tờ giấy có bị dao động không. Nếu tờ giấy hơi hơi bị gió thổi thì đồng tiến chính mà bạn kiếm được rất dễ theo khe cửa đó mà trôi tuột đi.
4. Khóa cửa
Hãy nhìn chiếc khóa cửa của nhà bạn, nếu nó thuộc loại khóa bấm thì tức là cửa cứ đóng là sẽ khóa luôn lại. Vậy thì của cải bạn kiếm được cũng rất dễ theo cái khóa cửa đó mà đi.
Trấn trạch
Theo kinh nghiệm dân gian, việc trấn trạch cho nhà ở hoặc cơ quan, công sở sẽ giúp ngôi nhà đó được vững vàng, người sống và làm việc trong nhà được an lành, thịnh vượng. Trước đây, khi nhà ở đều xây trên nền đất, khi làm thủ tục dọn vào nhà mới, các "thầy cúng" thường lấy các mẩu vàng găm (hoặc đá phong thủy) nhỏ, hoặc 8 đồng xu chôn tại 4 góc nhà. Điều này mang ý nghĩa mong cầu tiền tài vào tứ phương, đồng thời còn giúp xua đi tà khí để được cát tường. Ngày nay, việc trấn trạch này thường được gia chủ tiến hành trước khi lát gạch cho sàn nhà. Nếu bạn dọn đến một căn nhà đã hoàn thiện, không cần sửa lại sàn bạn cũng hãy bỏ vàng găm và tiền xu vào trong một cái lọ nhỏ rồi đặt ở một góc nhà hay góc cửa. Thủ thuật này cũng mang ý nghĩa tài lộc tương tự như khi bạn trấn trạch ngôi nhà mới. Ngoài ra, nhiều người còn đặt vài mẩu vàng găm vào trong bát hương địa tài, vì vàng găm thuộc Thổ, sẽ giúp mang lại tài lộc cho gia chủ. Nếu có điều kiện hơn, gia chủ có thể thay vàng găm bằng đá thạch anh trắng, mặc dù có ý nghĩa tương đương nhưng thạch anh trắng có công năng cao hơn, vì nó có từ tính thuộc loại mạnh nhất và ổn định nhất trong các loại đá phong thủy. Ngoài ra, việc dùng thạch anh trong nhà còn giúp ổn định từ trường, điều tiết các loại chướng khí và giúp mang lại sự ổn định cũng như tài lộc cho gia chủ.
![]() |
| Nhà cửa lâu ngày không ở hoặc ít khi sử dụng thường có nhiều chướng khí bất lợi, vì thế khi dọn đến ở hoặc có nhà ít sử dụng, bạn hãy dùng các phương pháp giúp đem lại dương khí cho nhà. Ảnh: motthegioi |
Thắp nến (đèn cầy)
Cách đơn giản nhất để xua đuổi khí xấu chính là thắp nến. Hãy đặt một cây nến ở góc Đông Nam trong nhà sau đó quan sát ngọn lửa. Cần chú ý, khi đốt nến bạn phải đóng kín các cửa để tránh gió làm tắt nến hoặc ảnh hưởng đến việc quan sát. Trường hợp ngọn lửa lập lòe chứ không cháy đều và đứng ngọn nghĩa là ngôi nhà này đã để không quá lâu, độ ẩm quá cao và nhiều nấm mốc, khí xấu, rất độc hại, không tốt cho sức khỏe và tâm trí của gia chủ. Việc đốt nến không chỉ giúp bạn xác định được tình trạng của ngôi nhà mà còn giúp kiểm soát được khí lưu trong nhà, tăng cường "dương khí".
Xông nhà bằng thảo mộc
Xông nhà cũng là giải pháp hữu hiệu giúp xua đi các chướng khí tích tụ lâu ngày trong nhà và thậm chí, đuổi được các loại côn trùng có hại. Vật liệu để xông nhà là hỗn hợp các loại bao gồm rễ cây, hương liệu, bột trầm hương và cả nhang thơm. Sau khi mua đủ các loại nguyên liệu này, hãy cho chúng vào một cái nồi đất và châm lửa đốt để khói bay ra khắp nhà. Hãy xông theo nguyên tắc từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài. Cần lưu ý, những góc tường ẩm ướt do ngấm nước mưa nhiều hãy xông thật kỹ. Đồng thời, khi xông, bạn hãy bật tất cả đèn điện trong nhà lên, vừa để có đủ ánh sáng quan sát hiện trạng hư hại (nếu có), lại vừa giúp tăng nhiệt khí, dương khí. Trường hợp nhà chưa có điện hoặc đang bị cúp điện, bạn có thể nhóm bếp than rồi đặt một chậu cây xanh vào góc phía Nam hoặc Đông trong nhà, điều này sẽ giúp tăng cường dương khí.
Treo chuông gió (phong linh)
Sau khi đã làm vượng dương khí bằng các giải pháp trên, bạn hãy dùng phong linh (chuông gió) treo ở một số nơi trong nhà. Chuông gió là một công cụ tuyệt vời giúp dẫn dắt khí luân chuyển trong nhà. Thông thường, chuông gió hay được treo ở các cửa ra vào hoặc cửa sổ. Loại chuông gió dùng trong trường hợp này làm bằng kim loại, phát ra âm thanh lớn, ứng với cung Thương của ngũ âm cổ. Theo phong thủy, chuông gió kim loại thuộc hành Kim, có ý nghĩa tiền tài theo gió vào trong nhà. Ngoài ra, người xưa còn cho rằng, âm thanh vui tai và vang xa của kim khí có khả năng xua đuổi tà ma, dịch bệnh, giúp mang lại điềm lành và báo hiệu về người mới cư ngụ, dương khí đã đến với vùng đất này.
(Theo giadinhnet)
![]() |
| (Ảnh chỉ mang tính minh họa) |
Cách tra Thiên Mã là lấy chi ngày (hoặc chi năm) làm cơ sở để tra các địa chi khác trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Thiên Mã nhập mệnh.
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Dần, Ngọ, Tuất thấy chi Thân
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Thân, Tý, Thìn thấy chi Dần
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Tỵ, Dậu, Sửu thấy chi Hợi
- Chi ngày (hoặc chi năm) là Hợi, Mão, Mùi thấy chi Tỵ
Ví dụ: Người sinh vào 16 giờ ngày 14/9/1990 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Canh Thân, ngày Quý Hợi, tháng Bính Tuất, năm Canh Ngọ.
Theo trường hợp 1, chi năm Ngọ (Canh Ngọ) gặp chi Thân của giờ (Canh Thân), do vậy tổ hợp này xuất hiện Thiên Mã.
(Theo Dự đoán theo tứ trụ)
Tử Vi nguyên thuộc thổ Quan lộc cung chủ tinh Hữu tướng vi hữu dụng Võ tướng vi cô quân (Sao Tử Vi vốn thuộc thổ Chủ quan tước quyền vị Có bề tôi thì mới hữu dụng Như vua mà không triều đình)
Những sao tá tinh đứng ở đâu ? Ở hai bên hoặc theo tam hợp chiếu gọi là giáp hay hiệp, hoặc đứng cùng. Tỉ dụ Tử Vi đứng giữa hai cung bên có Tả Phụ Hữu Bật Xương Khúc. hoặc Tử Vi cùng Tả Hữu đứng chung một cung, hoặc tam hợp xung chiếu là Tả Hữu.
Tử Vi thiếu Tả Hữu là cô quân. Vua phải có quần thần mới thành quyền lực, mới uy nghi. Quần thần là những sao nào? Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Thiên Mã.
Nếu không có quần thần lại còn gặp nhiều hung tinh tức là đế ngộ hung đồ (vua gặp kẻ cướp) hoặc “quân tử tại dã tiểu nhân tại vị” (vua bị đám gian thần tiểu quân uy hiếp). Đế tinh trở nên vô dụng còn gặp nguy hại nữa.
Hung đồ tiểu nhân là những sao nào? Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Tham Lang, Tuần Triệt. Đừng quên rằng những sao kể trên chỉ là hung đồ tiều nhân đối với Tử Vi thôi. Ở một số trường hợp khác, chúng lại thành cực tốt.
Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có câu: Quần thần khánh hội, phú quí song toàn (vua tôi hợp hội giàu sang) Cách này là cách Tử Vi gặp đầy đủ sao phò trợ, như Tả Hữu làm tướng súy, Thiên Tướng Xương Khúc làm phụ tá, Khôi việt làm quan truyền lệnh, Thiên Phủ làm quan coi kho, binh lương, Lộc Mã làm quan giữ sổ bộ phong chức tước.
Trong “Chư tinh vấn đáp”, Trần Hi Di tiên sinh viết: “Tử Vi là đế hoa ở mọi cung đều có khả năng giáng phúc tiêu tai, hóa giải những hung ác của các sao khác, khả dĩ chế ngự Hỏa Tinh, có năng lực biến Thất Sát thành quyền, hợp cùng với Thiên Tướng, Thiên Phủ đều thành sang quí, nếu không thế lực thì cũng giàu có, dù gặp Tứ Sát phá vẫn xem là trung cục hoặc bình thường chứ không đến mức thấp kém, hạ tiện.
Sang đến “Cổ Ca” lại thấy một câu khác: “Tụ hội với Kình Dương Hỏa Linh biến thành loại ăn trộm, ăn cắp vặt”. Thế là thế nào? Hai câu mâu thuẫn nhau? Thật ra không mâu thuẫn. Tử Vi phải đi cùng với các sao tốt khác đã, rồi gặp Tứ Sát mới là trung cục. còn như gặp toàn sát tinh không tất nhiên thấp kém, hạ tiện.
Trường hợp Tử Vi đứng một mình tại Ngọ cung và Tí cung (đứng Ngọ đẹp hơn) tất có Thiên Phủ Thiên Tướng chiếu lên hội họp, sách gọi bằng cách Cực Ưỡng Ly Minh (Cực là tên gọi khác của Tử Vi, Ly là cung Ngọ). Cách Cực Ưỡng Ly Minh dù không đến nỗi ra cái thân phận cô quân. Chỉ xem thê cung mà thấy nhiều đào hoa tinh thì dễ bị vợ lừa. Vào số nữ thì khác, thường chỉ là chồng kém mình trên địa vị học vấn hoặc tiền bạc. Phủ, Tướng trong cách “Cực Ưỡng Ly Minh” đã góp phần nào cho sự cân bình lực lượng chống với hung sát tinh. Căn cứ vào câu phú: “Tử Vi cư Tí Ngọ, Khoa Quyền Lộc chiếu tối vi kỳ”, Tử Vi Tí Ngọ gặp thêm Khoa Quyền Lộc thì cán cân lực lượng ngã về Tử Vi, ác thế lực cũng phải nhường bước.
Tử Vi thủ Mệnh an ở Ngọ Không Sát tinh chức có tam công
Tử Vi Thiên Tướng đồng cung (Thìn Tuất) đương nhiên Thiên Phủ chiếu hội, nhưng cách cục này không hay bằng Tí Ngọ Tử Vi hội chiếu Phủ Tướng (Phủ Tướng triều viên). Tử Tướng Thìn hay Tuất hãm vào Thiên La địa Võng khó khăn hơn, nhất là vào số nữ không tránh khỏi vất vả.
Tử Vi Phá Quân, Tử Vi Thiên Tướng thủ Mệnh nữ, việc trăm năm không suôn sẻ, lận đận chồng con. Tử Vi Phá Quân đóng Mệnh bị Liêm Tham Tỵ hoặc Hợi xung chiếu. Tử Vi Thiên Tướng đóng Mệnh, Phu cung Tham Lang hội Liêm Trinh ở Dần hoặc Thân. Liêm Tham là hai sao mang tính chất sắc tình rắc rối, bởi vậy nên vấn đề gia thất không êm.
Bây giờ bàn riêng về Tử Vi Phá Quân. Tử Vi Phá Quân đi cặp chỉ thấy ở hai cung Mùi và Sửu. Phá Quân là sao xung phong hãm trận, đi với Tử Vi được tính như vị tướng dũng mãnh. Tử Vi ra hiệu lệnh, Phá Quân thi hành.
Muốn khống chế Phá Quân, Tử Vi cũng cần một trí lực cao. Do đó Tử Phá đóng Mệnh bất luận nam hay nữ đều là con người quyết đoán, chí phấn đấu sôi nổi, can trường lì lợm, phiêu lưu, không thủ cựu, có đời sống hiếu động nhiều màu sắc.
Số trai Tử Phá dễ đi vào chính giới hay quân giới nếu gặp cơ duyên. Được Hóa Quyền Tả Hữu Kình Dương là thành công. Tuy nhiên cuộc sống bôn ba thăng trầm. Tử Phá ra kinh doanh cũng đắc lực nhưng không bền vì nguyên tắc tiền bạc cần phải an định mới tụ để phát triển lớn.
Tử Phá nữ mệnh, người đàn bà tháo vát, ngang ngạnh, bướng bỉnh, dám làm dám chịu, riêng về tình ái rất tùy tiện, tính dục mạnh. Sách mới có câu:
Tử Phá Tham Lang vi chí dâm Kìa nữ mệnh xem tướng cách cuộc Tử Phá Tham hội ước đa dâm
Tử Phá và Tử Vi Tham Lang (tức các Đào hoa phạm chủ). Nam mạng Tử Phá mà tuổi Sửu, Mùi, Thìn, Tuất vào quân giới chính trị hay hơn các tuổi khác (Qua kinh nghiệm thôi, sách vở không nêu lý do tại sao).
Tử Phá nữ mệnh đối với hiện đại tốt hơn thời xưa vì hiện đại người đàn bà được trọng qua sự nghiệp hơn là qua hôn nhân theo quan niệm tự do phóng khoáng là hạnh phúc.
Về cách Tử Vi Tham Lang đóng Mão và Dậu, cách này cổ thư gọi bằng Đào hoa phạm chủ. Tử Vi là chủ, Tham Lang là Đào hoa. Tham Lang ví như Đắc Kỷ, Tử Vi ví như Trụ Vương. Tham Lang như Tây Thi, Tử Vi như Phù Sai.
Tử Tham nữ mạng đa tình hiếu dâm. Tử Vi nam mạng dễ rơi vào lụy tình, bẫy tình, dại gái, mê gái. Sách có câu: Tử Tham Mão Dậu gặp Kiếp Không, Kình Đà Linh Hỏa thường đi vào đường tu hành. Tu hành nên hiểu theo nghĩa khác nhau. Lão kỹ đầu thiền về già đi tu, hương nhang thờ cúng cũng kể làm thoát tục. Nhiều chồng rút cuộc nằm không cũng kể là tăng. Cả đời toàn gặp thất bại, lấy cho lắm vợ cuối cùng ngồi trơ thân cụ, đây là kết quả của Tử Tham Tứ Sát Kiếp Không trong Mệnh cung của lá số.
Tử Tham Tứ Sát tâm thần sinh ra chán nản thường trực. Không cứ phải cạo trọc đầu hay khoác áo nhà tu mới là thoát tục, mới là tăng lữ. Cách Tử Tham nếu chỉ gặp Hỏa hay Linh tinh tránh được Kình Đà Không Kiếp thì tốt hơn. Trong khi cách Tử Vi Phá Quân gặp Linh Hỏa lại không tốt mà gặp Kình Đà lại hay, như câu phú: Tử Phá thủ Mệnh ngộ Dương Đà, tiện khứ kinh thương (hội Dương Đà vào kinh thương hoạnh phát) Cổ nhân còn đưa ra câu phú sau đây:
Tử Vi ngộ Phá Quân ư Thìn Tuất Sửu Mùi tứ mộ cung, vi thần bất trung, vi tử bất hiếu (Tử Vi gặp Phá Quân ở bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi làm bề tôi bất trung, làm con bất hiếu)
Tử Vi Thiên Tướng tại Thìn hay Tuất đều gặp Phá Quân ở Tuất hay Thìn. Còn Tử Vi Sửu Mùi đương nhiên đứng bên Phá Quân. Tử Phá Sửu Mùi vào quân giới, chính trị đạt ước nguyện, hai giới này sự phản phúc bất trung chẳng khác gì chất dẫn hỏa chỉ chờ có lửa liền bốc cháy, bởi vậy không nên dùng người mang số Tử Phá làm tâm phúc.
Tử Vi Thiên Tướng gặp Phá Quân ở cung xung chiếu cũng thế. Chỉ khác nhau ở điểm Tử Phá thì tự mình tạo phản còn Tử Tướng thì nghe theo người làm phản. Một đàng do tham vọng, mộg đàng gió chiều nào ngả chiều ấy.
Còn vấn đề làm con bất hiếu? Bản chất con người Tử Phá không bao giờ chịu ước thúc trói buộc, làm việc chỉ hoàn toàn tự ý, vì lợi hay vì vợ dụ mà bất hiếu do cái lòng ích kỷ và ba phải.
Số nữ Tử Phá thủ mệnh bậc làm cha mẹ phiền lòng hơn Tử Tướng. Số nam ngược lại Tử Phá bướng, phiêu lưu, gây tai tiếng, gây xáo trộn, phá rối kỷ cương nhưng một ngày nào đó thành công. Nam mạng Tử Vi Thiên Tướng, phụ mẫu cung Thiên Lương hãm tại Tị hoặc Hợi. Thê cung Tham Lang bất hiếu nặng hơn như mê vợ mà quên công ơn sinh thành (Thê hội chiếu Đào Hoa), hoặc bỏ quê hương gia đình lưu lạc, hoặc phụ mẫu sớm xa trần thế, muốn ân trả nghĩa đền không được. Tử Vi Thiên Tướng không thành công bằng Tử Phá. Sách ghi câu:”Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân, phú quí hư danh”. Hư danh là không thực, hão huyền.
Nói đến Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung. Cách này hiện lên chỉ ở hai cung Dần và Thân. Phú ghi mấy câu:
Tử Vi Nam Hợi Nữ Dần cung, Nhâm Giáp sinh thân phú quí đồng Tử Vi Thiên Phủ toàn y Phụ Bật chi công Tử Phủ đồng cung chung thân phúc hậu Tử Phủ, Nhật Nguyệt cư vượng địa, đoán định công hầu khí Câu thứ nhất Tử Vi Nam Hợi không có Thiên Phủ đồng cung, đó là cách Tử Vi Thất Sát với cung xung chiếu là Thiên Phủ. Chỉ có Dần cung mới đứng cùng Thiên Phủ thôi.
Vậy thì số gái Tử Phủ mà tuổi Nhâm Giáp giàu sang là bởi tại tuổi Giáp Lộc Tồn đóng Dần, hội với Hóa Lộc đứng bên Liêm Trinh và Hóa Khoa đứng với Vũ Khúc. Hội đủ Khoa Quyền Lộc: tuổi Nhâm Quyền Khoa ngay tại mệnh và Lộc Tồn nhị hợp từ Hợi.
Câu hai còn như gấm thêm hoa, đã Khoa Quyền Lộc còn cả Tả Hữu càng đẹp, đã sang trọng giàu có còn quyền thế. Câu ba ý chỉ dù không phải là tuổi Giáp Nhâm cũng có đời sống bình ổn vững vàng.
Câu bốn nói Tử Phủ đồng cung tại Thân tốt hơn tại Dần, vì Thân thì Thái Dương Thái Âm đắc địa trợ giúp cho vận trình, trong khi ở Dần, Thái Dương Thái Âm vào thế hãm (chỉ riêng cho tuổi Giáp).
Có một luận cứ đáng ghi nhận nói: Tử Phủ đồng cung hội tụ cả hai chủ tinh Bắc và Nam đẩu, như vậy thái quá nên dễ cô đơn. Trường hợp Mệnh Phụ Mẫu, Phu chịu ảnh hưởng Cô Thần Quả Tú càng nặng dễ ly hôn, góa bụa hoặc sớm khuyết cha mẹ. Chuyển qua cách Tử Vi Thất Sát. Cách này chỉ hiện lên ở hai cung Tỵ và Hợi. Trần Đoàn tiên sinh viết: Tử Vi năng hóa Thất Sát vi quyền. Tử Vi đứng bên Thất Sát thế vị oai nghiêm, hùng tâm vạn trượng, như vị hoàng đế xuất chinh có bầy tướng giỏi.
Tử Vi Thất Sát khả năng hành động cũng như khả năng suy tưởng kế hoạch đều giỏi, tham vọng cao , vào bất cứ lãnh vực nào học vấn, kinh doanh, chính trị, quân sự, kỹ nghệ đều được. Thành tựu lớn hay nhỏ, cao hay thấp còn tùy thuộc các phụ tinh. Nếu nhiều phụ tinh tốt thì chức trọng quyền lớn, địa vị chức nghiệp khả kính.
Tử Vi Thất Sát có Hóa Quyền thế lực càng lớn. Phú nói: Tử Vi Thất Sát Hóa Quyền phản tác tinh tường (Tử Sát mà gặp Hóa Quyền lại thành hay đẹp). Tại sao dùng hai chữ phản tác? Bởi tại Tử Vi không Thất Sát mà chỉ Hóa Quyền tự mình không điều khiển được Quyền sẽ đưa đến hung hiểm Tử Vi hợp với Lộc Khoa Khôi Việt Tả Hữu hơn đứng riêng với Hóa Quyền. Tử Vi Thất Sát thủ Mệnh gặp Tuần Triệt ưu thế bị giảm nhiều, thành công với hư vị, không có thực quyền. Như phú nói: Tử Vi Thất Sát gia không vong, hư danh thụ ấm. Tử Vi Thất Sát vào số Nữ thường được chồng nể vì do tài điều khiển gánh vác. Nhưng Tử Sát nam mạng thì vợ quán xuyến Vai trò Thiên Phủ từ cung xung chiếu của cách Tử Vi Thất Sát chỉ là phụ họa vào cái tốt đã sẵn thôi. Về hình thái và tính nết của Tử Vi có những điểm sau: Tử Vi người đầy đặn, mặt vuông vắn hoặc tròn. Tử Vi có một sở đoản trên tính tình, ưa nghe lời phiến động, khoán nịnh, đôi lúc kiêu căng và dễ phụ hội với kẻ quyền thế, hay biến tâm, bản chất tương đối trung hậu nhưng khí lượng hẹp hòi, thiếu anh hùng bản sắc.Có khuynh hướng năm thê bảy thiếp.
Trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có đoạn viết:
Tử Vi viên hội cát tinh lâm Nhị hạn phùng chi phúc lộc hưng Thương nhân đắc ngộ đa tài phú Quan quí phùng chi chức vụ thăng Tử Vi nhập hạn bản vi tường Chỉ khứng tam phương Sát Phá Lang Dân thứ phùng chi đa bất lợi Quan viên lạc hãm hưu kinh thương
Nghĩa là:”Vận hạn gặp sao Tử Vi, thương nhân phát tài, làm quan thăng chức. Tử Vi là sao đem may mắn đến. Nhưng nếu gặp thêm với Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang thì lại không tốt. Kẻ dân giã bất lợi, người chức vị khó khăn.
Sát Phá Tham đây là Tử Sát, Tử Phá và Tử Tham ở cung vận hạn. Không hẳn gặp những sao ấy sẽ bất lợi với khó khăn. Vì Tử Sát, Tử Phá thường gây ra biến động. Thời xưa con người sợ biến động, nhưng thời nay biến động là cần thiết. Thấy Tử Sát, Tử Phá ở vận trình hoặc tiểu hoặc đại vận mà hay tốt lên thì mừng chứ sao lại lo ngại. Những câu cổ ca trên không lấy gì là đúng cho hiện đại. Về sao Tử Vi còn thấy những câu phú khác không ghi trong toàn thư mà của những nhà tướng số đời sau ghi lại qua kinh nghiệm. - Đế toạ ly cung Tam Kỳ Hình Ấn Khôi Xương Hồng Bật, mỹ mạo tài hung, hạn hữu Cự Sát Đà Linh, Chu Du cam hận mệnh vong (Tử Vi đóng Ngọ hội hợp với Khoa Quyền Lộc, Hình Ấn, Khôi Xương là người tài giỏi, tướng mạo khôi ngô, nếu gặp vận hạn có Cự, Sát, Đà, Linh (Cự Môn, Đà La, Linh Tinh hoặc Thất Sát, Đà La, Linh Tinh) thì giống như Chu Du đời tam quốc nuốt hận mà chết)
- Đế lạc nhàn cung, gia Khúc Xương đa ngôn giảo hoạt (Tử Vi đóng Tí Mão Dậu hội tụ Xương Khúc thì giảo hoạt và ưa nói quá sự thực) Trong khi Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có câu: ”Tử Vi Quyền Lộc ngộ Dương Đà tuy hoạch cát nhi vô đạo” nghĩa là Tử Vi có Quyền Lộc nên danh có của nhưng nếu gặp thêm Dương Đà nữa thì tâm chất bất nhân vô đạo. - Tử Vi mạc phùng Kiếp Không Hồng Đào nhập Mệnh giảm thọ (Tử Vi mà gặp Kiếp Không, Hồng Đào tại Mệnh tất không thọ)
- Tử Phủ đồng cung, Tuần Không xâm nhập, đế vô quyền nan giải hung tinh hạn ngộ (Tử Vi Thiên Phủ tại Mệnh bị Tuần Không, vua thành vô quyền khó giải cứu cho vận gặp hung tinh)
- Dần mộc, Phủ Vi hội Tam Kỳ, Kình Bật cư lai, Mệnh xuất võ do văn quyền hành cứ phục chúng nhân, mạc phùng Không Kiếp hư vô (Dần cung, Tử Vi Thiên Phủ có Khoa thêm Kình Dương Hữu Bật có văn tài nhưng lại theo nghiệp võ, thành công người đời kiêng nể, nhưng nếu bị Không Kiếp lại thành sôi hỏng bỏng không)
- Tử Phá mộ cung vô ưu họa ách, vận lai Phụ Bật nguyên vọng đắc như cầu, Thân kiêm Hồng Lộc Hóa Khoa khánh hội long vân (Tử Vi Phá Quân ở Sửu Mùi Thìn Tuất không lo những họa tai lặt vặt, tới vận gặp Tả Hữu thì mưu sự thành tựu, nếu cung Thân lại được Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hồng Loan cảnh thêm hay).
- Đế toạ Thiên La Thân cư Triệt xứ, Giáp Kỷ nhân chung niên nan toại chí đa trái thê nhi (Tử Vi đóng Thìn, cung Thân bị sao Triệt án ngữ, tuổi Giáp tuổi Kỷ suốt đời không toại chí, còn khổ vì vợ vì con)
- Tứ Sát Tốn cung, đề huề bảo kiếm, Hỏa Tuyệt nhập xâm đa sát. Hạn hội Hồng Khoa Ấn Mã dị lập chiến công. (Tử Vi Thất Sát ở cung Tỵ gặp Hỏa Tinh và sao Tuyệt thành người đa sát nếu có Hồng Loan, Hóa Khoa, Quốc Ấn, Thiên Mã hội tụ làm võ tướng dễ lập công to)
- Tử Phủ Vũ Tướng Tả Hữu Long Phượng Khoa Quyền Lộc Ấn, quần thần khánh hội chi cách gia Kình Kiếp loạn thế nan thành đại sự (Cách quần thần khánh hội Tử Phủ Vũ Tướng Long Phượng Tả Hữu Khoa Quyền Lộc Ấn nếu bị Kình Dương Địa Kiếp gặp thời loạn bất thành đại sự)
- Tử Tham Tả Hữu hội trung Có người con gái trốn chồng theo trai (Ở cách này Tả Hữu biến chất, tuy nhiên Tử Tham Tả Hữu còn phải thêm cả Tang Hổ nữa thì mới liều như thế)
- Tử Tham Khôi Việt phương Đoài Long thần kỳ đảo ai ai cúng dường (Tử Tham đóng ở Dậu cung gặp Khôi Việt dễ đi vào nghề thầy chùa thầy cúng).
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Phòng ngủ hướng Tây Bắc - người bảo thủ nhưng lại có tài
Phòng ngủ quay hướng Tây Bắc có thể khiến cho cái tôi của người đàn ông thể hiện càng rõ. Người này thường có tính độc tài, lại tương đối bảo thủ. Nhìn bề ngoài thì người này có vẻ không quan tâm đến những chuyện nhỏ nhặt, nhưng thực ra trong số họ lại có rất nhiều người bận tâm đến điều đó.

Đàn ông sống trong nhiệt lượng tại phía Tây Bắc này rất dễ gặt hái thành quả, lại có thể đảm nhận chức vụ cao. Đồng thời vì rất có khí phách của một người đàn ông nên được cấp dưới tín nhiệm. Cuối đời họ có thể để lại tiếng thơm.
Khi quay hướng Tây Bắc, phòng ngủ có một đặc điểm về nghề nghiệp là thành tích đều tương đối ổn định. Hướng Tây Bắc tương đối thích hợp với phòng ngủ, vì nó có thể hấp thu đầu đủ nhiệt lượng, đồng thời cũng hài hòa với ánh mặt trời chiều.
Đặc điểm của phòng ngủ hướng Tây Bắc là tính độc tài và bảo thủ. Hướng Tây Bắc rất thích hợp với nam giới, nhưng phải chú ý, không nên để người ta có ấn tượng về "tính bảo thủ" của bạn.
Phòng ngủ hướng Bắc - người luôn nỗ lực gặt hái thành quả
Đàn ông nghỉ ở phòng ngủ hướng Bắc dễ chịu sự chi phối của quan hệ xã giao, lại không khéo bày tỏ ý của mình. Người ngủ ở phương vị này tuy không mấy thông minh, nhưng họ không vì thế mà nhụt chí. Họ là người biết tự kiểm điểm bản thân, xem mình có phạm lỗi lầm gì hay không.
Nói chung, phòng ngủ hướng Bắc mang khí chất của học giả. Hay nói cách khác, người ở trong phòng ngủ hướng này thường vùi đầu vào công việc nghiên cứu. Họ không hay trách móc mọi người không hiểu mình, chỉ cần nỗ lực làm việc thì nhất định sẽ gặt hái được thành quả lớn lao.
Người nghỉ ở phòng ngủ hướng Bắc về nghề nghiệp tương đối thích hợp với các nghề như học giả, nhà văn, nhân viên kỹ thuật. Ngoài ra, họ cũng có thể làm rất tốt công việc kinh doanh quán bar hoặc câu lạc bộ.
Người nghỉ ở phòng ngủ hướng Bắc đa phần thuộc kiểu người có tài nhưng thành đạt muộn, do vậy không nên vì thấy tình hình hiện tại không được như ý muốn mà lo lắng. Về quan hệ xã giao, chỉ cần để ý một chút là có thể ứng phó dễ dàng.
Phòng ngủ hướng Đông Bắc - thích quan tâm đến người khác

Người ở trong phòng ngủ quay hướng này đa số đều có tính hẹp hòi ích kỷ, nhưng lại gặp rất nhiều sóng gió trong cuộc đời. Đối với người làm công chức thì có thể hay bị thuyên chuyển công tác. Đối với người tự kinh doanh thì có thể gặp nhiều thất bại.
Hướng Đông Bắc là hướng tối nhất trước lúc mặt trời mọc, đôi khi khó tránh khỏi cảm giác lạnh lẽo. Người ở trong phòng ngủ hướng này thường thích quan tâm đến người khác. Do vậy, có một số người ở trong phòng ngủ hướng này thường hay bị mắc lừa.
Hướng Đông Bắc thường lạnh, có thể khơi dậy nhiệt huyết của người đàn ông. Trong con mắt của người khác thì người đàn ông ở trong phòng ngủ hướng Đông Bắc thường là người tốt nhất, mà bản thân họ cũng cảm thấy tự hào về điều này. Tóm lại, rộng rãi, độ lượng chính là phẩm chất tốt đẹp của họ. Mặt khác, vì họ rất nhiệt tình nên thường hay giúp đỡ mọi người.
Nói chung, người ở trong phòng ngủ hướng này đa phần là người rất có tâm huyết, khá thích hợp với nghề kỹ sư xây dựng. Nhưng điều cần lưu ý là, không nên cáu gắt vô cớ, để tránh bị thiệt hoặc làm tổn thương chính mình.
Phòng ngủ hướng Đông - thành công sớm, năng động
Phòng thường mang đến sự tươi mới và phát triển, do vậy dễ mang lại thành công cho nam giới khi tuổi còn trẻ. Những người ngủ ở phòng hướng này thích hợp với những nghề nóng của thời đại như vi tính, truyền hình, sáng tác âm nhạc, nhà văn, thời trang,...
Tuy có người do quan hệ nghề nghiệp liên quan đến cuộc sống vào ban đêm, nhưng họ vẫn thường dậy sớm tập thể dục. Đó cũng là do chịu ảnh hưởng từ "cảm giác năng động" của hướng Đông. Do luôn tràn đầy sức sống nên chỉ cần là người khéo tùy cơ ứng biến là có thể phát huy được thực lực của mình.
So với công việc lãnh đạo một nhóm người thì chi bằng đảm nhiệm chức lãnh đạo của một đơn vị gồm mấy chục người, như vậy có thể phát huy được năng lực của mình, nếu được làm việc trong văn phòng hướng về phía mặt trời thì cơ hội tăng lương thăng chức sẽ nắm chắc trong tầm tay. Nhưng sau khi bước vào tuổi trung niên, tốt nhất nên chuyển phòng ngủ sang hướng Tây để tạo cảm giác ổn định.
Cho dù đối với bất cứ việc gì cũng không được có tâm trạng hoang mang, tuyệt đối không được tùy tiện quyết định bất cứ việc gì khi chưa có sự suy xét kỹ lưỡng.
Hướng kê giường tuổi Tân Hợi 1971
– Năm sinh dương lịch: 1971
– Năm sinh âm lịch: Tân Hợi
– Quẻ mệnh: Khôn Thổ
– Ngũ hành: Thoa Xuyến Kim (Vàng trang sức)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạchh
– Hướng tốt: Tây Bắc (Diên Niên); Đông Bắc (Sinh Khí); Tây Nam (Phục Vị); Tây (Thiên Y);
– Hướng xấu: Bắc (Tuyệt Mệnh); Đông (Hoạ Hại); Đông Nam (Ngũ Quỷ); Nam (Lục Sát);

Phòng ngủ:
Con người luôn giành 30% cuộc đời mình cho việc ngủ, nên phòng ngủ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.
Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ mang mệnh Kim, Thổ sinh Kim, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Thổ, là hướng Đông Bắc; Tây Nam;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Vàng, Nâu, đây là màu đại diện cho hành Thổ, rất tốt cho người hành Kim.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
Đây là một truyện ngắn mà cũng là một bức vẽ. Nên không phải một cây bút họa công và nếu không có con mắt quan-sát tinh-tế, đâu có được những nét truyền thần ấy!
THẦY LÁC
Truyện ngắn của Thao-Thao
Tôi đã được nghe nói nhiều về ông thầy tướng số ấy. Mọi người quen gọi là thầy lác. Vì mắt hơi lác lác. Sự thật thì là bạch tình lộ.
Thầy lác, ngoài cái đặc điểm khi nói không nhìn thẳng vào mắt ai bao giờ, lại còn đặc điểm này nữa: ít nói.
Lúc nào cũng cứ lầm lầm, lỳ lỳ. Chính vì cái đặc điểm lầm lầm lỳ lỳ đó mà nhiều người phục thầy lác vô kể. Phục... vì, thầy lác, khi nào đã nói thì cứ như đanh đóng cột. Nghĩa là không sai bao giờ.
Không mở ngôi hàng xem tướng, thầy lác không có chỗ ngồi nhất định như những ông thầy tướng khác.
Nay nhà này, mai nhà nọ, thầy lác thường đóng đô hàng tháng ở nhà những người bạn giàu có hết sức thù phụng thầy. Và thầy lác ngồi xem tướng ngay ở nhà người bạn giàu có đó.
Phải là người giàu có lắm, giầu của đã đành lại còn phải giầu lòng tin tưởng và nhất là giầu lòng hào hiệp mới có thể lưu được thầy lác ở nhà. Bởi thầy lác là người khó tính lắm.
Đến nhà nào thầy phải ở riêng một nơi thật tĩnh mịch. Không uống rượu, thầy "ăn thuốc". Hút thật nhiều. Nhiều gấp hai ba mọi người. Sau mỗi bữa cơm đem lại phải có hoa quả tráng miệng.
Thầy không lấy tiền của ai. Người nào muốn thầy xem cho chỉ việc đỡ chủ nhà hai khoản đó: thuốc phiện và hoa quả.
Thế rồi, một mình - thầy chỉ tiếp một người một thôi - vào ngồi từ bi từ tại hàng giờ ở trước mặt thầy nhìn thầy hút, nhìn thầy ăn - ăn lê, ăn táo - và đợi thầy xem.. tướng cho.
Trong khi hút - thầy tiêm lấy - thầy chỉ thỉnh thoảng đưa cặp mắt bạch tình lộ - không phải mắt trắng rã - liếc nhìn người ngồi cung kính trước mặt thầy. Rồi như khám phá ra được điều bí quyết gì, thầy gật gật giây lâu rồi, im lặng, mơ màng nhìn khói thuốc phiện thở ra mờ tỏa chung quanh...
Một lúc sau, thầy lại liếc nhìn như thế. Lại gật gật như thế. Lại mơ màng nhìn khói thuốc như thế.
Vài giờ sau, xong bữa cơm nâu, thầy lác ngồi lên, ung dung gọt vài quả lê hay quả táo, thủng thẳng vừa nhai vừa nói...
Thầy lác nói về quá khứ. Một vài điều về quá khứ. Ít thế thôi. Nhưng là một vài điều đáng tiền, à! Đáng thuốc, đáng lê, đáng táo...
Thật vậy. Nó đúng quá. Nó làm người nghe phải lạnh người, chỉ muốn van thầy lác đừng nói nữa.
Thầy lác, tức thì, mỉm cười, khoan khoái... Người nghe vừa nói, thấy thầy lác ngừng lại thì cúi gầm mặt xuống, vẻ sượng sùng...
Một ngời bạn thân được thầy lác xem cho, đã thân mật nói với tôi như thế này:
- Giỏi thật. Thầy lác bảo tôi thường có những mối tình thầm vụng với người trong nhà... Việc đó, tôi giữ bí mật lắm. Không ai biết cả. Thế mà thầy lác "gọi" ra!
Một người bạn gái - vâng người bạn gái của tôi - cũng đã thân mật nói với tôi như thế này:
- Thầy lác đã làm em sượng sùng chết được. Thầy bảo em phải... lưỡng phu quân. Phu quân thứ hai lại là... và.. Nhưng thôi. Còn một vài người bạn trai, bạn gái khác đã thân mật nói lại với tôi, thầy lác bảo thế này, thầy lác bảo thế nọ; nhưng, nhắc lại, cũng chẳng hơn gì. Vì.. toàn những chuyện bí mật, thuộc về đời riêng của người ta cả. Có điều... sao không thấy các ông thầy tướng khác nói đến?
Sau khi nói cho nghe một vài điều đặc biệt ấy, thấy đã chiếm được lòng tin phục của người ngồi nghe, thầy lác mới mạnh bạo tấn công:
-Tháng vừa rồi bà vừa thua thiệt một món tiền lớn hàng vạn. Bị bạn lừa... Đích bị bạn lừa!.
- Nhất định cụ nhà thế nào cũng qua đời vào ngày mão này Phải Nhất định ngày mão, giờ ngọ.. (Ông cụ ấy tuổi Dậu, mà năm là năm Tý!)
- Nhất định tháng sau bà sẽ ốm lượt giường.
- Nhất định sang năm ông sẽ được cất nhắc, cuộc đời sẽ thay đổi hẳn...
- Nhất định, sang năm ông sẽ tan nát cơ nghiệp.
Và nhiều nữa. Nhiều nữa. Với người nào, thầy lác cũng làm cho hoảng, hay làm cho mừng... Nhưng chỉ hoảng trong giây lát và cũng chỉ mừng trong giây lát... Vì thầy lác bảo:
- Tháng sau bà sẽ ốm liệt giường đấy, có thể gần đất xa trời được; nhưng.. nhưng nếu bà nghe tôi...
Bà nọ vội vàng:
- Vâng. Xin nghe thầy. Trăm sự nhờ thầy trỏ đường sống cho.
Chậm rãi, thầy lác gật gù vừa nhai nốt miếng táo, vừa nói:
- Bà phải nghe tôi về kê ngay lại giường bà nằm. Phải đầu "gối" hướng Đông, chân "đạp" hướng Tây. Bà cứ về kê lại như thế. Rồi bệnh sẽ qua khỏi và rồi làm ăn sẽ vô cùng thịnh vượng.
Và bà này đã về kê ngay lại giường nằm. Bà ấy đã ốm và đã khỏi. Và đã trở lên giầu có sau mấy chuyển buôn. Đa-dơ-năng về hậu phương, không bị vấp váp.
Với ông sắp được cất nhắc thầy lác bảo:
-Sang năm thì ông sẽ một bước nhảy lên quan, vì có quan thầy đỡ đầu; nhưng.. ông phải nghe tôi...
Ông nọ vội vàng ngồi nghiêm chỉnh hơn, trịnh trọng hơn:
- Vâng. Xin thầy làm ơn chỉ bảo cho. Nếu đúng như lời thầy nói tôi sẽ hậu tạ thầy thật xứng đáng.
Thầy lác bắt lời ngay:
- Đừng sai nhời nhé. Một nghìn?
Ông nọ vội suýt soa:
- Vâng. Xin có một nghìn.
Và xin đưa trước năm trăm. Nhé tiền vào ví xong, thầy lác ung dung truyền phán:
- Đầu sang năm, ông phải đeo kính gọng vàng, quan thầy trông thấy tự nhiên tin yêu ông. Rồi ông sẽ được cất nhắc như lời tôi nói.
Ông nọ, về mua sẵn ngay kính gọng và chờ đầu năm sau đeo lên sống mũi nom thật là đạo mạo. Và năm sau, ông nọ được quan thầy cất nhắc thật. Đúng như lời thầy lác đã nói.
Với ông sắp bị tan cơ nghiệp thầy lác nói:
- Sang năm thì thế nào ông cũng đi đời cả cơ nghiệp đấy. Nhưng nếu ông nghe tôi...
Ông này rắn rỏi đợi chờ:
- Xin thầy cứ cho nghe...
Thầy lác ngập ngừng rồi nói:
- Tôi chắc bảo thì bảo ông cũng chẳng tin nghe nào. Và vì thế, tôi e ông sẽ tan cơ nghiệp mất.
- Thì thầy cứ nói.
Miễn cưỡng thầy lác nói:
- Ông nên nghe tôi may quần áo màu nâu gạch mà mặc.
- Sao lại dùng mầu nâu gạch? Dùng màu khác thì sao?
- Thì không ăn thua gì chứ sao!
- Thầy nhất định tôi phải dùng mầu nâu gạch mới khỏi tan cơ nghiệp. Có phải không?
- Phải.
Ông nọ đứng lên, đầy vẻ hoài nghi:
- Có lý nào! Tôi đánh bạc! Tôi không chung vốn buôn to nữa! Thử xe có việc gì không nào?
Và nhất định không may quần áo màu nâu gạch. Năm sau, thủ đô xảy ra nạn khói lửa. Mấy ngôi nhà của ông nọ thành tro than cả.
Thế là thế nào? Phải. Thế là thế nào? Kê lại giường nằm, đầu gối hướng Đông, chân đạp hướng Tây thì khỏi ốm, thì phát tài? Đeo kính gọng vàng thì được quan thầy cất nhắc thay đổi hẳn cuộc đời? mặc quần áo mầu nâu gạch thì không bị tan cơ nghiệp? Cưỡng lại, không chịu nghe lời thầy lác thì có mấy ngôi nhà thành tro than cả mấy. Thế là thế nào? Phải. Thế là thế nào? Lại còn thế này nữa: ông này đến năm ấy phải để râu thì mới đại phát tài, ông này phải húi trụi đầu đi thì mới có lộc, bà này lúc nào cũng phải đeo thật nhiều vàng ở cổ tay mới phát được.
Thế là thế nào? Phải. thế là thế nào?
Câu hỏi ngờ vực, đầy sự bán tín, bán nghi ấy cứ luôn luôn lởn vởn ở đầu óc tôi. Nhiều lúc tôi vò đầu, vò tai, tự hỏi:
- Có thể như thế được không?
Nhưng vô ích. Tôi chỉ làm tội cái đầu, cái tai của tôi phải rối lên, phải đỏ bừng lên chứ có ăn thua gì? Thế rồi, nghĩ mãi vẩn cả óc chẳng tìm ra lý lẽ gì cả, tôi bực mình hạ lệnh cho tôi nhất định không bao giờ thèm nghĩ đến chuyện khó hiểu ấy nữa.
Bẵng đi ít lâu. Một hôm một chuyện xẩy ra đã khiến tôi lại nghĩ đến... Mà không sao nghĩ được?
Việc xảy ra ngay bên nhà hàng xóm.
Bà Bốn bán bánh cuốn, ế hàng, không tiền đóng họ góp năm, sáu ngày còn đọng lại bị người chủ họ ỉ eo điều tiếng. Chẳng hiểu bà Bốn nghĩ ngợi quẩn chí thế nào, bà treo cổ tự tử. Đàn con nhỏ của bà ta, có đứa trông thấy, khóc ầm lên. Hàng xóm đổ sang đỡ bà ta xuống, thoát chết. Trong số những người sang thăm hỏi bà ta có tôi và anh Kiến, bạn cùng sở, ở cạnh nhà tôi.
Anh Kiến đã ôn tồn bao bà Bốn như thế này:
- Bà không phải lo gì nữa. Chỉ dăm hôm nữa bà sẽ có người mang đến bạc vạn tận nhà giao cho bà. Bà sẽ tha hồ mà tậu nhà...
Lúc ấy, nghe anh Kiến nói thế tôi cũng chỉ cho lời nói an ủi của một người hàng xóm với nhau
Bất ngờ, năm hôm sau đó một người đã cao tuổi, tay ôm một gói chăn có vẻ nặng nề bước vào nhà bà Bốn. Thấy người này, bà Bốn reo lên:
- A! Cụ Cả! Cụ mới ở hậu phương về à?
Vâng, tôi về thăm nhà cửa nhưng đổ cả. Đêm nay, tôi đến đây ngủ nhở một đêm, bà có cho ngủ không?
- Xin cụ cứ chiếu cố. Chỗ người làng, người nước với nhau!
Thế rồi cụ Cả đi tìm chỗ để gói chăn. Bà Bốn trông thấy gói chăn có vẻ nặng nề thì hỏi:
- Gói gì mà có vẻ nặng thế cụ?
A! Một vài thứ đồ đồng tôi bới được ở trong đống vôi gạch ra ấy mà!
Đêm hôm ấy, cụ Cả đi ra ngoài để tiểu tiện chẳng may trúng phải gió độc. Năm phút sau thì cụ Cả tắt thở. Trước khi nhắm mắt, cụ Cả gọi bà Bốn giao cho cho gói chăn kia. Dở ra, bà bốn thấy hai chục thoi vàng nằm trên hai nghìn tờ giấy một trăm cũ.
Theo lời cụ Cả đã trối trăng lại với bà Bốn thì đó là của trôn ở trong nhà trong của cụ Cả ở phố Hàng H.. vừa đào lên. Chỗ của đó, cụ Cả trao cả cho bà Bốn để nuôi con cái vì cụ Cả chẳng còn biết trao cho ai; con trai độc nhất của cụ Cả đã thiệt mạng ở ngoài hậu phương.
Sau khi an táng cụ Cả xong, bà Bốn vung tiền tậu hai ngôi nhà, một để ở, một cho thuê...
Thế là thế nào? Phải, thế là thế nào? Anh Kiến, bạn tôi cũng là thầy tướng chăng? Không là thầy tướng thì sao lại nói đúng như thế được: năm hôm sau nữa, bà sẽ có người mang của đến tận nhà giao cho bà. Bà sẽ tha hồ tậu nhà?
Tôi quyết phải hỏi cho ra. Nhưng anh Kiến cứ trối bai bải mãi. Anh nhất định câu nói của anh chỉ là câu nói để an ủi bà Bốn đang lúc cùng quẫn. Nếu đúng thì chẳng qua là sự ngẫu nhiên thôi. Không nên tin làm gì cả.
Nhưng tôi không nản lòng. Tôi đem những chuyện nghe được ra thuật lại tường tận với anh, mong anh giảng giải để tôi khỏi phải khổ sở về nỗi bán tín, bán nghi..
Thấy tôi khẩn khoản thật lòng, anh Kiến, không sao được, đành phải lên tiếng:
- Cứ theo như anh nói thì thầy lác đã trộn lẫn tướng với số để mê hoặc mọi người. Thầy lác đã lợi dụng cái biết về tướng, số để đón trước việc cát hung của đời người. Thầy lác thấy bà này sắp ốm, và sau khi ốm, sẽ gặp nhiều sự may mắn về tiền tài thì mượn chuyện xoay giường, xoay hướng để mưu kiếm chác. Thấy ông kia sắp động về công danh thì mượn chuyện xoay giường, xoay hướng để mưu kiếm chác. Thấy ông kia sắp động về công danh thì mượn chuyện kính gọng vàng để sơi ngon năm trăm và còn nhiều nữa. Thấy ông này sắp bị tan cơ nghiệp, thì mượn chuyện quần áo mầu nâu gạch để rử. Nếu ông này nghe lời, thì thầy lác sẽ bảo thêm cho biết, sau năm năm chẳng hạn, ông này sẽ lại khôi phục được cơ nghiệp. Tôi không biết thầy lác có nói thêm như thế hay không. Nếu có nói thì nhất định ông này, sau khi ở hậu phương ra, sẽ mặc quần áo mầu nâu gạch cho mà xem!
Tôi hỏi:
- Hình như tướng có thay đổi kia mà? Trong sách chẳng khối chỗ nói người này, người nọ bị thầy tướng chê là tướng bần tiện thế mà, ít lâu sau, thầy tướng đó đã đổi dọng:
Ông sắp phú quý đến nơi rồi!
Hỏi ra mới rõ người bị thầy tướng chê vừa cứu được một người thoát chết đuối.
Anh Kiến nói:
Tướng người ta có thay đổi, nhưng đó là những trường hợp đặc biệt. Việc cứu người không phải là việc thường xảy ra. Thí dụ người tướng bần tiện, có thể nói là tướng chết đói. Vì tướng "đằng sà nhập khẩu". Nhưng vì làm một việc đại phúc nên, trong lòng vui thích, tướng nhân thế thay đổi. Tướng "đằng sà nhập khẩu" biến thành tướng "thanh long quá giang".
Tướng biến vì là tâm biến. Cái tâm mới là quan trọng. Đổi được cái tâm có phải chuyện dễ đâu?
Còn đổi những cái bề ngoài như để râu chỉ là để chữa một phần nào. Dùng màu sắc để chế hóa theo ngũ hành, tôi tin chỉ là trò bị bợm..
Để kết luận, anh Kiến nói:
- Biết tướng để trỏ bảo họa phúc cho người đời thì được; nhưng để thay đổi họa phúc thì không có lý nào! Định mệnh là định mệnh.
Khi chia tay, anh Kiến thân mật bảo tôi:
- Thí dụ tôi biết tướng, tôi cũng không bảo anh. Vì, biết anh chỉ luẫn quẫn với anh, không ích lợi gì cả. Cứ làm cứ ăn. Cái dở trong cái hay. Cái hay trong cái dở. Đời là một cuộc biến chuyển phiền phức, sao ta lại cứ tin những anh thầy lác để ta luẫn quẫn với ta làm gì?
Từ hôm ấy, tôi hết bán tín, bán nghi.
Tác giả: Thao Thao
-----------------------------------------------
Mình gõ lại theo link: http://baochi.nlv.gov.vn/baochi?a=d&d=HxpJ19490320.2.13#
Đây là một truyện ngắn kinh điển của tác giả Thao Thao viết được mọi người đánh giá rất cao. Bóc mẽ được các mánh khóe của thầy Tướng Số.
Về tác giả Thao Thao: Link Wiki: http://vi.wikipedia.org/wiki/Thao_Thao
Ông sinh ngày 11 tháng 6 năm 1909, tại xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là huyện Gia Lâm, Hà Nội). Ông là cháu xa đời của danh nhân văn hóa Cao Bá Quát: 1809-1865. Thuở nhỏ, ông học tiểu học ở thị xã Bắc Ninh.
Tác giả Thao Thao viết loạt sách:
I – Thiên địa nhân
Các Can và Chi trong tứ trụ tượng trưng cho khí âm dương của ngũ hành của trời và đất.
Thiên tức là thiên can chủ về trời, là Thiên nguyên (tức là các nguyên nhân này do ông trời quyết định – tức bởi 10 vật thể lớn nhất trong hệ mặt trời gây ra). Chúng chính là các can đã lộ ra trong tứ trụ của từng người.
Địa tức là địa chi chủ về xã hội mà con người đang sống trên mặt đất, là Địa nguyên.
Nhân tức là con người được tạo ra trong trời và đất, do vậy trong mỗi địa chi của tứ trụ có chứa từ 1 đến 3 can, đó chính là các thần đặc trưng cho khả năng chủ quan của người có tứ trụ, là Nhân nguyên.
Sự dự đoán tổng hợp của tam nguyên (Thiên Địa Nhân) là một thể thống nhất trong mệnh lý học, nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi vì nó có thể chỉ ra toàn bộ tiền đồ, cát, hung, họa, phúc ....của cả một đời người. Nếu kết hợp tứ trụ với tướng tay và tướng mặt để dự đoán thì điều dự đoán có thể đạt đến sự chính xác, chi tiết đến kỳ diệu.
II – Thiên nguyên
Thiên nguyên trong tứ trụ chính là các can của trụ năm, tháng và giờ, đó là ba thần. Đối với tứ trụ có một tổ hợp trong sáng và đẹp thì ba thần này thường sẽ là : Thực hay Thương sinh Tài, Tài sinh Quan hoặc Sát, Quan hay Sát sinh Ấn, Thực thần chế Sát, Thương quan hợp Sát, Thương quan hoặc Thực thần mang Ấn, Tài Quan Ấn đều có... Những tổ hợp này thường là các yếu tố báo hiệu những mệnh phú quý.
1 – Ngũ hợp của thiên can
Vì các thiên can là khí của ngũ hành nên chúng có hai tính chất tương sinh và tương khắc với nhau (như đã nói ở trên) ngoài ra chúng còn có các tính chất hợp và biến đổi để tạo ra các hóa cục.
Thiên can chỉ có thể hợp với nhau khi chúng ở gần nhau. Gần ở đây có nghĩa là can trụ năm với can trụ tháng, can trụ tháng với can trụ ngày, can trụ ngày với can trụ giờ, các can trong tứ trụ với can đại vận và lưu niên, can đại vận và can lưu niên với can tiểu vận.
2 – Tính chất của ngũ hợp
Giáp hợp với Kỷ, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp trung chính.
Ất hợp với Canh, tức là hợp với người hay sự việc là hợp nhân nghĩa.
Bính hợp với Tân, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp có uy lực để chế ngự.
Đinh hợp với Nhâm, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp dâm loạn.
Mậu hợp với Quý, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp vô tình.
5 tổ hợp này được gọi là ngũ hợp.
3 - Thiên can hợp với nhau có thể hóa cục
Giáp hợp với Kỷ có thể hóa được thành Thổ.
Ất hợp với Canh có thể hóa được thành Kim.
Bính hợp với Tân có thể hóa được thành Thủy.
Đinh hợp với Nhâm có thể hóa được thành Mộc.
Mậu hợp với Quý có thể hóa được thành Hỏa.
Các hóa cục này có khả năng sinh, phù hay khắc chế Thân.
4 – Quy tắc hợp và hóa của các thiên can trong tứ trụ
Các thiên can trong tứ trụ hợp được với nhau chỉ khi chúng ở gần nhau. Cần phân biệt hai trường hợp, các can hợp với nhau hóa được hay chỉ hợp mà không hóa.
a – Can ngày chỉ hợp được với can tháng và can giờ. Nếu can ngày chỉ hợp với can tháng hay can giờ thì chúng không thể hóa được cục nếu trong tứ trụ xuất hiện hành quan-sát của hóa cục này (nghĩa là hành khắc hành của hóa cục này, kể cả hành quan-sát này chỉ có các can tàng phụ (?)) mặc dù có hành của chi tháng hay hành của hóa cục của chi tháng là hành dẫn hóa, còn nếu 2 can hợp với 1 can thì ngũ hợp này không bao giờ có thể hóa được cục.
b – Ngũ hợp của can trụ năm với can trụ tháng có thể hóa cục chỉ khi hành của chi tháng hay hành hóa cục của chi tháng là hành dẫn hóa hay còn được gọi là thần dẫn (nó giống như chất xúc tác trong các phản ứng hóa học).
Ví dụ : Mậu ở trụ năm hợp với Quý ở trụ tháng hóa thành Hỏa cục chỉ khi chi tháng (chi của trụ tháng) là Tị, Ngọ (vì hành của Tị và Ngọ là Hỏa) hay chi tháng đã hóa thành Hỏa cục, vì vậy các chi Tị, Ngọ hay Hỏa cục ở chi của trụ tháng được gọi là các thần dẫn cho các hóa cục của các thiên can.
5 – Quy tắc hợp và hóa của các can giữa tứ trụ, tuế vận và tiểu vận
a – Ngũ hợp chỉ có 2 can
1 - Ngũ hợp của các can trong tứ trụ (kể cả can ngày bởi vì khi nó hợp với tuế vận, nó được xem như các can khác và nó không làm cho hành của Thân thay đổi khi nó hóa thành các hành khác nếu hành của Thân chỉ có can ngày) với can đại vận hóa cục chỉ khi hành của chi tháng hay chi đại vận (mặc dù các chi này đã hóa cục có hành khác với hành của các chi này) cũng như hành của hóa cục của chi tháng hay chi đại vận (nếu chúng hóa cục) có khả năng dẫn hóa cho ngũ hợp này (nghĩa là hành của thần dẫn giống với hành của ngũ hợp này).
2 - Ngũ hợp của can trong tứ trụ với can lưu niên hóa cục...nó tương tự như câu trên khi thay đại vận thành lưu niên, chỉ có khác là hành của chi lưu niên cũng có khả năng dẫn hóa nếu chi lưu niên là động (khi nó bị xung, khắc hay hợp hóa cục hay không hóa cục bởi các chi khác).
3 – Ngũ hợp của can đại vận với can tiểu vận hóa cục.... nó tương tự như can trong tứ trụ hợp với can đại vận nhưng có thêm chi tiểu vận (nghĩa là hành của chi tiểu vận) cũng có khả năng dẫn hóa như chi đại vận nếu nó là động (tức là nó bị xung, khắc hay hợp hóa cục hay không hóa cục bởi các chi khác).
4 - Can lưu niên hợp với can tiểu vận hóa cục tương tự như can trong tứ trụ hợp với can lưu niên hóa cục nhưng có thêm chi tiểu vận cũng có khả năng dẫn hóa như chi đại vận nếu nó là đông (tức là nó bị xung, khắc hay hợp hóa cục hay không hóa cục bởi các chi khác.
5 – Can đại vận hợp với can lưu niên hóa cục chỉ khi hành của các chi trụ tháng, đại vận hay lưu niên (riêng chi lưu niên phải động) cũng như hóa cục của các chi này (nếu chúng hóa cục) là thần dẫn.
b – Ngũ hợp có từ 3 can trở lên
Các ngũ hợp này được gọi là tranh hợp nên chúng không có khả năng hóa cục. Do vậy các can của chúng luôn luôn khắc nhau nếu là tranh hợp giả và không khắc được nhau nếu là tranh hợp thật.
1 - Tranh hợp thật của thiên can chỉ xẩy ra khi có 2 can giống nhau có hành là chủ khắc ở tuế vận hợp với can tiểu vận hay hợp với 1 hay nhiều can giống nhau trong tứ trụ hoặc hợp với can tiểu vận và các can giống với can tiểu vận ở trong Tứ Trụ.
2 - 2 can là chủ khắc giống nhau ở trong tứ trụ hợp với 1 can của tuế vận hay 2 can của tuế vận nếu chúng giống nhau.
Giải thích về tranh hợp thật của thiên can giống như tranh hợp thật của địa chi (xem phía dưới).
Khi các thiên can hợp với nhau hóa cục có hành mới thì ta phải lấy hành mới này để luận, như vậy thì hành cũ của các can trong hóa cục này đã hoàn toàn mất đi tác dụng của chúng, còn nếu chúng hợp với nhau mà không hóa thì chỉ có các can trong tổ hợp mới có khả năng tác dụng được với nhau nhưng chúng không có khả năng tác dụng với các can khác ngoài tổ hợp này (trừ các chi cùng trụ với chúng sẽ nói sau).
III - Địa nguyên
Các địa chi trong tứ trụ là địa nguyên. Địa nguyên đại diện cho xã hội của con người nên rất phức tạp. Đủ thứ phát sinh trong cái xã hội này, như đâm, chém, giết nhau... người ta gọi là xung, khắc. Tụ tập thành từng nhóm, từng hội thành các đảng phái, tôn giáo... khác nhau người ta gọi là hội, hợp. Người này lừa đảo, hãm hại người kia người ta gọi là hình, hại. Tự mình làm khổ mình người ta gọi là tự hình,…..Sự hình, xung, khắc, hại, hội và hợp của các địa chi có ảnh hưởng rất lớn đối với Thân.
Giữa các địa chi với nhau các sách cổ chỉ nói đến hình, xung, khắc, hóa, hội, hợp và hại mà không nói đến sự tương sinh (phải chăng địa chi không có khả năng sinh cho nhau (?)).
Tôi đã chứng minh được thiên can và địa chi trong cùng trụ có thể sinh cho nhau và một ví dụ có thể chứng minh được các thiên can cũng có thể sinh được cho nhau (?) (xem ví dụ số 148).
1 - Lục hợp của địa chi
Tý....hợp với Sửu có thể hóa thành Thổ cục.
Ngọ...........Mùi..................Thổ cục.
Dần...........Hợi..................Mộc cục.
Mão...........Tuất.................Hỏa cục.
Thìn..........Dậu..................Kim cục.
Tị............Thân.................Thủy cục.
Sáu tổ hợp trên được gọi là lục hợp chỉ có khi các chi của chúng ở gần nhau (gần của địa chi tương tự như gần của thiên can). Lục hợp chủ yếu đại diện cho quan hệ vợ chồng hay giữa nam với nữ.
2 – Tam hợp của địa chi
Thân Tý Thìn hợp với nhau có thể hóa thành Thủy cục.
Hợi..Mão Mùi ..........................................Mộc cục.
Dần..Ngọ Tuất..........................................Hỏa cục.
Tị..Dậu Sửu............................................Kim cục.
Tam hợp không cần các chi của chúng phải gần nhau. Tam hợp chủ yếu đại diện cho các tổ chức, đoàn thể, đảng phái chính trị....
3 - Các bán hợp của địa chi
Thân bán hợp với Tý hay Tý bán hợp với Thìn có thể hóa thành Thủy cục.
Hợi......................Mão hay Mão............Mùi.......................Mộc cục.
Dần......................Ngọ hay Ngọ............Tuất......................Hỏa cục.
Tị.........................Dậu hay Dậu............Sửu.......................Kim cục.
Bán hợp chỉ có khi các chi của chúng ở gần nhau. Bán hợp chủ yếu đại diện cho các tổ chức nhỏ phi chính trị.
Trong tứ trụ có lục hợp, tam hợp hay bán hợp là chủ về người đó có dung nhan đẹp, tính cách thanh lịch, thần khí ổn định, yêu cuộc sống, lòng dạ thẳng thắn, linh lợi, thông minh hoạt bát (xét về hợp). Nếu các tổ hợp này hóa thành (cục) hỷ dụng thần là tốt (trừ chúng gây ra Đại Chiến), còn hóa thành kỵ thần là xấu (xét về hành của hóa cục).
4 – Tam hội của địa chi
Tam hội của Dần Mão Thìn..về phương Đông có thể hóa thành Mộc cục.
Tam.............Tị Ngọ Mùi....về phương nam..có thể hóa thành Hỏa cục.
Tam.............Thân Dậu Tuất.về phương Tây..có thể hóa thành Kim cục.
Tam.............Hợi Tý Sửu....về phương Bắc..có thể hóa thành Thủy cục.
Tam hội không cần các chi của chúng phải gần nhau. Tam hội chủ yếu đại diện cho các tổ chức tôn giáo.
Vì khí của tam hội cục sẽ hội tụ về một phương (tôn thờ một vị thánh), cho nên khí âm dương ngũ hành của nó là vượng nhất, sau đó mới đến tam hợp, bán hợp rồi mới đến lục hợp. Các sách cổ thường nói trong tứ trụ có từ 3 tổ hợp trở lên thường là người có tài đối với nam, còn là dâm loạn đối với nữ (thời nay câu này là sai với nữ).
5 - Lục xung của địa chi
Tý....với..Ngọ...là tương xung
Mão........Dậu................
Dần........Thân...............
Tị...........Hợi................
Thìn.......Tuất...............
Sửu.........Mùi................
Trong đó:
Tý với Ngọ, Tị với Hợi là sự xung-khắc của Thủy với Hỏa.
Dần với Thân, Mão với Dậu là sự xung-khắc của Kim với Mộc.
Duy chỉ có thìn với Tuất và Sửu với Mùi là giống nhau về hành, vì vậy chỉ nói đến xung không nói đến khắc.
Trong đó:
Các lực xung-khắc của Tý với Ngọ và Dậu với Mão là các lực xung-khắc mạnh nhất, vì chúng đại diện cho các lực xung-khắc chính phương là Đông (Mão) với Tây (Dậu) và Nam (Ngọ) với Bắc (Tý). Sau đó mới đến lực xung-khắc của Dần với Thân và Tị với Hợi vì phương xung-khắc của nó không đúng chính phương, cuối cùng mới là lực xung của Thìn với Tuất và Sửu với Mùi.
6 – Tương hại của địa chi
a - Tý.....và...Mùi...hại với nhau, tức là Tý....hại...Mùi, .Mùi...hại...Tý
b - Sửu...............Ngọ........................Sửu.........Ngọ, .Ngọ.........Sửu
c - Dần.................Tị...........................Dần...........Tị,.....Tị..........Dần
d - Mão................Thìn.......................Mão.........Thìn, Thìn........Mão
e - Thân...............Hợi........................Thân........Hợi,..Hợi.........Thân
f - Dậu.................Tuất.......................Dậu ........Tuất,.Tuất........Dậu
Lục hại trên được sinh ra từ lục hợp :
Ví dụ 1: Lục hợp (gia đình) của Ngọ với Sửu bị phá tan khi có Tý đến xung Ngọ, vì vậy Tý đã hại Mùi (làm cho gia đình của Ngọ với Mùi bị tan vỡ).
Ví dụ 2 : Lục hợp của Tý với Sửu có thể bị phá tan khi có Mùi đến xung Sửu, vì vậy Mùi đã hại Tý (làm cho gia đình của Tý với Sửu có thể bị tan vỡ).....
Người gặp các hại trên, sợ nhất ở trụ ngày và trụ giờ. Thường đối với người như vậy thì về già hay bị tàn tật hoặc không có nơi nương tựa. Nếu còn gặp Kình dương thì không chúng phải mũi tên, hòn đạn cũng dễ gặp phải hổ (?). Hình, tự hình và hại nói chung là xấu nhưng nếu bị hợp hóa cục, hoặc bị khắc có thể giải được, còn bị xung (kể cả thổ) thì chỉ giảm đi một phần.
7 – Tương hình của địa chi
Tý hình Mão, Mão hình Tý là hình phạt do vô lễ mà dẫn đến.
Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần là hình phạt do đặc quuyền đặc lợi dẫn đến.
Sửu hình Mùi, Mùi hình Tuất, Tuất hình Sửu là hình phạt do cậy quyền cậy thế gây lên .
Tương hình chủ yếu được gây ra từ tam hợp, nó nghĩa là những người trong cùng hay khác các đoàn thể, đảng phái chính trị lừa đảo, hãm hại nhau.
8 - Tự hình của địa chi
Thìn tự hình Thìn, Dậu tự hình Dậu, Ngọ tự hình Ngọ, Hợi tự hình Hợi là do tự mình gây lên. Các sách cổ có viết: “Tự hình sợ nhất là năm và tháng lại có thêm sát thì nhất định bị tổn thương, hoặc không bị giam cầm thì cũng bị chết cháy, hay gặp nạn binh đao mất đầu “.
9 - Tứ hình của địa chi
Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi được gọi là tứ hình. Trong tứ trụ phải có ít nhất 3 chi khác nhau của tứ hình và đến năm có thái tuế là chi thứ 4 thiếu thì tứ hình này mới được coi là xấu, còn ngoài ra cho dù tứ trụ với tuế vận có đủ tứ hình cũng không có tác dụng gì cả.
10 - Tứ trự hình của địa chi
Tứ Tự Hình là phải có ít nhất 4 chi giống nhau của Tự Hình là Thìn, Dậu, Ngọ hay Hợi.
(Cách giải cứu cho tất cả các loại hình, tự hình và hại này là giống nhau.)
11 – Quy tắc hợp và hóa của các địa chi trong tứ trụ
Ta gọi các tổ hợp của các can chi trong tứ trụ chưa có tuế vận vẫn hóa được cục là hóa cục có từ khi mới sinh.
a - Các bán hợp hay lục hợp của các địa chi trong tứ trụ hợp được với nhau chỉ khi 2 chi này phải ở gần nhau trong tứ trụ, trừ tam hợp và tam hội. Các bán hợp, lục hợp, tam hợp hay tam hội hóa thành cục chỉ khi trong tứ trụ hay ở tuế vận có thần dẫn.
Các thần dẫn cho các tổ hợp của các địa chi hóa cục chính là các can lộ trong tứ trụ hay ở tuế vận cũng như các hóa cục của thiên can có hành giống với hành của hóa cục mà các tổ hợp của các địa chi đó sẽ hóa thành (chú ý can tiểu vận chỉ dẫn hóa được cho tổ hợp của chi tiểu vận).
Ví dụ: Trong tứ trụ có Tý trụ năm và Sửu trụ tháng ở gần nhau, vì vậy chúng có thể hợp được với nhau và tổ hợp này được gọi là lục hợp, nhưng lục hợp này hóa được Thổ cục chỉ khi có thần dẫn là các can lộ xuất hiện trong tứ trụ hay ở tuế vận như Mậu, Kỷ hoặc các Thổ cục của các can (nếu gặp Tý hay Sửu ở tuế vận thì Thổ cục này được xem là mạnh hơn).
b - Nếu bán hợp hay lục hợp có 3 chi liền nhau mà 2 chi bên ngoài giống nhau hợp với chi ở giữa thì được coi là tranh hợp nên không thể hóa cục được (trừ khi 1 liên kết của chúng bị phá).
c - Nếu bán hợp hay lục hợp có 3 chi liền nhau trong đó 2 có chi liền nhau là giống nhau thì chỉ có chi ở gần chi thứ 3 mới có thể hợp với nó và hóa cục.
12 – Quy tắc hợp và hóa giữa các địa chi giữa Tứ Trụ với tuế vận và tiểu vận
a - Tất cả các tổ hợp của các địa chi giữa tứ trụ, tuế vận và tiểu vận có thể hợp được với nhau và hóa cục nếu có thần dẫn.
b – Các chi trong tứ trụ hợp với chi đại vận hay thái tuế (được xem như hợp gần) nhưng chúng không thể hợp trực tiếp được với chi tiểu vận.
c – Chi tiểu vận chỉ hợp được với chi đại vận và thái tuế (cũng được xem là hợp gần) hay nó cùng với các chi giống nó ở trong tứ trụ hợp với các chi tuế vận thì can tiểu vận cũng có thể làm thần dẫn cho tổ hợp này hóa cục, nhưng chi tiểu vận không thể hợp trực tiếp được với các chi trong tứ trụ.
f – Địa chi tranh hợp thật :
1 - Nếu chỉ có 2 chi giống nhau mang hành chủ khắc cùng ở trong tứ trụ hợp với chi đại vận hay thái tuế hoặc hợp với cả chi đại vận và thái tuế (nếu chúng giống nhau) thì tổ hợp này được gọi là tranh hợp thật nên chúng không thể hóa được cục.
2 – Nếu chi đại vận và thái tuế giống nhau có hành là chủ khắc hợp với chi tiểu vận hay hợp với một hay với nhiều chi giống nhau trong Tứ Trụ cũng như hợp với chi tiểu vận và các chi trong Tứ Trụ giống với chi tiểu vận thì tổ hợp này cũng được gọi là tranh hợp thật nên nó cũng không thể hóa được cục.
Giải thích :
Nếu trong tứ trụ có 2 Thìn hợp với Tý ở đại vận hay thái tuế thì 2 Thìn là Thổ khắc được Tý là Thủy nên 2 Thìn mang hành chủ khắc, còn chi Tý mang hành bị khắc. Hiểu đơn giản như 2 ông làm sao lấy chung một bà bao giờ đâu. Nhưng 2 Tý trong tứ trụ hợp với Thìn ở đại vận hay Thìn thái tuế vẫn có thể hóa Thủy được (nếu có thần dẫn), vì thực tế có nhiều bà vẫn lấy chung 1 ông.
Vì sao 2 chi chủ khắc này phải cùng ở tuế vận hay cùng ở trong Tứ Trụ ? Bởi vì chỉ có như vậy thì thế lực của chúng mới tương đương với nhau để cho cuộc chiến mới không phân thắng bại, chính vì vậy mà chúng mới không có thì giờ rảnh để hợp với cô gái kia hòng tạo ra được sản phẩm (hóa cục).
3 - Nếu 4 chi hợp với 1 chi, trong đó chỉ có 2 chi giống nhau ở trong tứ trụ hợp với chi ở đại vận hay thái tuế là tranh hợp thật thì tổ hợp của 5 chi này không hóa cục được (?) (ví dụ 155).
4 - Nếu có từ 3 chi giống nhau trở lên (trừ câu 2) là chủ khắc hợp với 1 hay nhiều chi giống nhau thì không phải là tranh hợp thật nên vẫn có thể hóa cục (?) (xem ví dụ 165).
Giải thích :
Bởi vì khi 2 thằng đàn ông đánh nhau thì thằng thứ 3 được tự do có thể “hợp” với cô gái đó..., vì vậy cả 3 thằng này đều có cơ hội để “hợp” được với cô gái đó tạo ra… (điều này khác với thiên can, vì người trần mắt thịt khác với các vị thần ở trên trời chăng ?)
13 - Thiên Khắc Địa Xung
A - Thiên khắc địa xung
Có 3 loại thiên khắc địa xung (TKĐX):
1 – TKĐK và TKĐX có chi không phải là Thổ.
2 – TKĐX có chi là Thổ.
3 – TKĐK* và TKĐX* có chi là Thìn và Tý chỉ khi các chi của chúng ở gần nhau.
TKĐK là trong 1 trụ có cả can và chi đều là chủ khắc, còn TKĐX thì trong 1 trụ chỉ có can chủ khắc còn chi chỉ là chủ xung.
B – Các can và chi là chủ xung hay chủ khắc
1 - Các can chủ khắc, nó nghĩa là can đó phải khắc được can khác như :
Giáp....khắc...Mậu..............Ất......khắc....Kỷ
Bính...............Canh.............Đinh............Tân
Mậu................Nhâm.............Kỷ..............Quý
Canh ..............Giáp.............Tân..............Ất
Nhâm...............Bính.............Quý.............Đinh.
2 - Các chi chủ khắc, nó nghĩa là chi đó phải khắc được chi khác như:
Tý.....khắc....Ngọ
Dậu..............Mão
Hợi...............Tị
Thân..............Dần
Thìn..............Tý
3 - Các chi chủ xung, nó nghĩa là chi đó chỉ xung được chi khác như :
Ngọ....xung....Tý................Thìn....xung.....Tuất
Mão...............Dậu...............Tuất.............Thìn
Tị...................Hợi...............Sửu..............Mùi
Dần...............Thân..............Mùi..............Sửu
Tý...................Thìn.
Ta thấy số trường hợp TKĐX nhiều hơn TKĐK, do vậy ở đây chúng ta gọi chung hai loại này là TKĐX và ở đây quy ước nói trụ nào trước cũng được vì lực của TKÐX được tính cả 2 chiều.
Ví dụ :
1 - Trụ Giáp Tý TKĐK với trụ Mậu Ngọ bởi vì trụ Giáp Tý có Giáp khắc Mậu và Tý khắc Ngọ.
2 - Trụ Giáp Ngọ TKĐX với trụ Mậu Tý bởi vì trụ Giáp Ngọ chỉ có Giáp khắc Mậu còn Ngọ chỉ xung Tý.
3 - Trụ Giáp Thìn TKĐX với Mậu Tuất bởi vì trụ Giáp Thìn chỉ có Giáp khắc Mậu còn Thìn chỉ xung Tuất.
14 – Thời gian của các trụ trong tứ trụ mang vận hạn
Trụ năm mang vận hạn từ khi mới sinh đến tròn 15 tuổi.
Trụ tháng mang vận hạn từ 15 tuổi đến tròn 30 tuổi.
Trụ ngày mang vận hạn từ 30 tuổi đến tròn 45 tuổi.
Trụ giờ mang vận hạn từ 45 tuổi tới tròn 65 tuổi.
Từ 65 tuổi trở đi trụ năm mang vận hạn (hay là ở cả 4 trụ ?).
Nếu lưu niên và trụ đang mang vận hạn TKĐX với nhau thì điểm hạn của tất cả các lực xung hay khắc vào trụ này đều phải tăng gấp đôi, trừ can chủ khắc của nó ở lưu niên nhược ở tuế vận.
Xem các giả thiết từ số 166/ tới 168/ ở chương 14.
IV - Nhân nguyên
Địa chi tàng chứa từ 1 đến 3 can, các can tàng này được gọi là Nhân nguyên (các nguyên nhân của người). Các can tàng này chính là 10 thần, là các thần nắm sự việc,.... chúng đại diện cho các yếu tố chủ quan của người có tứ trụ. Do vậy chúng ta rất khó dự đoán được các yếu tố này khi nào sẽ phát sinh và biểu hiện ra bên ngoài. Thiên can đã lộ ra trong tứ trụ (can năm, can tháng và can giờ) cũng có các đặc tính như vậy nhưng vì nó đã lộ ra ngoài nên dễ nhận biết được để dự đoán.
1 – Các can tàng trong địa chi
Quý....................tàng trong Tý...........Kỷ, Tân và Quý.....tàng trong Sửu
Giáp, Bính và Mậu ..............Dần..........Ất....................................Mão
Mậu, Quý và Ất..................Thìn.........Bính, Canh và Mậu................Tị
Đinh và Kỷ.........................Ngọ..........Kỷ, Ất và Đinh.....................Mùi
Canh, Nhâm và Mậu...........Thân.........Tân...................................Dậu
Mậu, Đinh và Tân................Tuất.........Nhâm và Giáp........................Hợi
Chú ý : Can tàng có cùng hành với hành của địa chi mà nó tàng được gọi là can tàng bản khí hay chính khí (bởi vì nó có lực mạnh hơn các lực của các can tàng khác trong địa chi đó) còn các can tàng khác trong địa chi này (nếu có) được gọi là can tàng phụ.
Ví dụ 1 : Tị tàng chứa các can Bính, Mậu và Canh trong đó Bính là can tàng mang bản khí hay khí chính (tức là hành Hỏa là hành chính của Tị), vì vậy Bính có lực mạnh hơn lực của Mậu và Canh chỉ mang hành là tạp khí hay khí phụ là Thổ và Kim. Mậu và Canh được gọi là can tàng phụ.
Ví dụ 2 : Dậu chỉ có chứa 1 can tàng Tân là bản khí, không có tạp khí.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
| Bốn chữ "Phúc, Lộc, Thọ, Hỷ" |
Cách tra Lộc Tồn là lấy can ngày sinh làm cơ sở để tra các địa chi khác trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Lộc Tồn.
- Ngày Giáp thấy chi Dần
- Ngày Ất thấy thấy chi Mão
- Ngày Bính thấy chi Tỵ
- Ngày Mậu thấy chi Tỵ
- Ngày Đinh thấy chi Ngọ
- Ngày Kỷ thấy chi Ngọ
- Ngày Canh thấy chi Thân
- Ngày Tân thấy chi Dậu
- Ngày Nhâm thấy chi Hợi
- Ngày Quý thấy chi Tý
Ví dụ: Người sinh vào ngày 10 giờ ngày 18/9/1979 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Đinh Tỵ, ngày Mậu Dần, tháng Giáp Tuất, năm Kỷ Mùi.
Theo trường hợp 4, can Mậu của ngày (Mậu Dần) gặp chi Tỵ (Đinh Tỵ) của giờ, do vậy tổ hợp này xuất hiện Lộc Tồn.
(Theo Dự đoán theo tứ trụ)
Phòng tiếp tân bao giờ cũng được xem là nơi quan trọng nhất của công ty về mặt ngoại giao, với vai trò là trung tâm, là cánh cửa đầu tiên để tiếp xúc khách hàng, khách quý đến với thế giới riêng của công ty của bạn.
Tiền sảnh không chỉ là nơi đón tiếp mà còn là khoảng ngăn cản hữu hiệu các xung sát từ bên ngoài tác động vào, cũng như làm một điểm nhấn riêng biệt của mỗi ngôi nhà.
Phong cách, tính chất hoạt động, thậm chí uy tín của cả một điểm kinh doanh phụ thuộc nhiều ở khu vực lễ tân, sảnh đón tiếp. Các nguyên tắc của phong thủy công sở hiện đại xác lập ấn tượng cần có của một lối vào, sảnh đón phải làm sao cho khách hàng đặt niềm tin vào doanh nghiệp đó, đồng thời giảm thiểu tác động xấu từ môi trường bên ngoài.

Kích thước
Phong thủy quy định tiền sảnh phải tương ứng với quy mô của nhà, tương tự với cửa là chỗ nạp khí. Nhà lớn mà lối vào nhỏ hoặc không có tiền sảnh thì dễ bị tán khí. Nhà nhỏ mà tiền sảnh rộng quá thì lãng phí diện tích. Khi nhà cao, bề thế, tiền sảnh có thể dùng thêm mái phụ, hạ thấp xuống để giới hạn phạm vi vùng đệm, tạo sự gần gũi hơn (khác với tiền sảnh nơi công cộng thường cao rộng để đón nhiều người).
Nếu khu tiền sảnh tăm tối, bố trí bừa bộn sẽ chỉ ra cho thấy sự thiếu quan tâm đến hình ảnh của doanh nghiệp, làm giảm hưng phấn làm việc của nhân viên, gây suy thoái nguồn khí mở đầu cho mỗi cơ sở kinh doanh.
Bố trí hợp lý
Có thể đi theo thứ tự hệ thống cửa - quầy lễ tân - nơi ngồi đợi và giao tiếp để kiểm tra và bố trí phong thủy hợp lý cho một không gian sảnh đón. Nếu là nhà phố thì trước khi vào đến bộ cửa chính cần có khoảng lùi vừa đủ để giảm xung sát từ ngoài vào. Tỷ lệ của bộ cửa chính cần có sự tương xứng với mặt tiền nhà và không gian sảnh bên trong, phù hợp với số lượng người giao dịch, chiều cao và rộng của mặt tiền văn phòng và chất liệu cửa thể hiện nội dung kinh doanh bên trong.
Nếu dùng cửa hai cánh hoặc nhiều hơn, thì phải mở được hết các cánh để đảm bảo sự thông suốt và chào đón, tránh tình trạng “mắt nhắm mắt mở” sẽ ngăn cản dòng khí lưu chuyển, tạo cảm giác lệch lạc khi ra vào sử dụng. Chú ý cửa chính dẫn đến sảnh chứ không phải dẫn vào ngay phòng làm việc hay… đi luôn ra phía sau, cho nên nếu văn phòng có cửa đi và cửa sổ ở phía đối diện cửa chính thì cần bố trí bình phong, cây xanh, bàn ghế thư giãn… sao cho ngăn luồng di chuyển, luồng khí xông thẳng trôi qua, giúp nội thất được tàng phong tụ khí tốt hơn.
Khoảng cách từ quầy tiếp tân đến cửa cũng là vấn đề nên quan tâm sao cho khách vào không phải băng qua không gian quá rộng hoặc sâu, nhưng cũng không phải vừa vào thì “sà ngay” đến quầy tiếp tân. Các chuyên gia phong thủy khuyên nên có khoảng cách trong vòng từ 5 đến 9 bước chân của khách (từ 3m đến 5,5m) là hợp với nhịp sinh học và các quái số tốt của phong thủy. Bạn có thể tra cứu thước lỗ ban để chọn được kích thước chuẩn nhất. Tốt nhất là quầy lễ tân cần có khoảng tường (hậu chẩm) làm chỗ dựa phía sau, kết hợp trên đó treo logo, tên hoặc slogan của công ty, còn phía trước có khoảng trống nội minh đường quang đãng.
Lối đi ra phía sau nên nằm về một bên và đủ rộng để không phải vòng qua quầy mới đi ra vào được. Nếu có nhiều lối đi tỏa từ quầy lễ tân ra thì phải phân loại đâu là lối nhân viên, đâu là lối của khách để tránh tình trạng rối loạn, va chạm trong giao thông nội bộ.
Trang trí
Về hình sáng và màu sắc, tiền sảnh có thể bố trí theo nguyên tắc Ngũ hành tương sinh để thêm sinh khí, theo quan niệm phong thủy. Ví dụ nhà có dáng vuông vức (thuộc hành Thổ) thì mái vào tiền sảnh nên dùng mái làm hình nhọn (hành Hỏa) để Hỏa sinh Thổ. Hoặc nhà sơn màu xanh dương (thuộc hành Thủy) thì tiền sảnh - mái đón có thể sơn màu trắng (hành Kim) để Kim sinh Thủy. Gặp trường hợp lối vào nhà bị góc nhọn, vát xéo (hành Hỏa) thì có thể đặt non bộ, gương soi (Thủy) để khắc bớt Hỏa. Khi tiền sảnh thuộc dạng dài (hành Mộc), có thể dùng các mảng gạch trang trí thô, điểm nhấn vuông (hành Thổ) để tạo hành tương khắc, giảm bớt cảm giác hun hút.
Ngày sinh 12 chòm sao quyết định tính cách của họ một cách rõ nét. Ngoài 4 nhóm cung hoàng đạo theo nguyên tố nhóm Lửa, nhóm Nước, nhóm Đất và nhóm Khí; theo đặc tính có 3 nhóm với những phẩm chất rất nổi bật. Theo chiêm tinh, ngày sinh 12 chòm sao chi phối, ảnh hưởng tới cuộc đời của họ thông qua việc quy định tính cách, quan điểm, thái độ. Ngoài ra, sự di chuyển của các hành tinh qua các cung cũng tạo ra vận mệnh, biến cố trong cuộc đời mỗi người. Mỗi nhóm cung có những nét riêng, thể hiện trong suy nghĩ và các hành động thường ngày.
![]() |
![]() |
![]() |
4 vật phẩm phong thủy trừ tà nên tặng làm quà cho phái nữ![]() |
| => Cùng đọc: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp và suy ngẫm |
Cách hóa giải những yếu tố phong thủy ảnh hưởng xấu đến gia đình hay doanh nghiệp của bạn, đây là những yếu tố cơ bản nhất có ảnh hướng đến sự Hưng Vượng của bạn…
Hai căn nhà có cửa chính xung đối nhau :
Theo Phong Thuỷ, nếu hai nhà có cửa chính xung đối sẽ làm cho khí nhà này xung thẳng vào cửa nhà kia nên chắc chắn sẽ có một nhà bị xấu. Để khắc phục có thể dùng gương Bát Quái hoặc chuông gió có gắn đá thạch anh treo ở cửa. Gương trong Phong Thuỷ có tác dụng phản xạ lại luồng khí bay tới, nhưng việc sử dụng gương phải hết sức cẩn thận, không được sử dụng bừa bãi vì gương có thể phạn xạ cả cát khí..


Ngoài ra để hoá giải hung khí có thể dùng đôi tỳ hưu , đá thạch anh để trấn ở cửa hoặc chân cầu thang để chặn hung khí
– Nhà ở có đường đâm thẳng vào nhà :
Nếu có con đường đâm thẳng vào nhà thì hung khí sẽ dội thẳng vào nhà. Ở nhà này không yên ổn dễ sinh thị phi bệnh tật, hao tổn tài lộc. Để khắc phục có thể dùng gương Bát Quái hoặc đặt khối đá ( dòng đá có nhiều năng lượng ) để chắn.

– Nhà ở có dốc cao chạy thẳng vào nhà :
Nếu có dốc cao chạy thẳng vào nhà thì khí sẽ xung thẳng vào nhà hoặc khí đổ thẳng ra đường. Khí vận chuyển trong ngôi nhà cũng như mạch máu trong cơ thể, phải thu nạp sinh khí và xuất đi uế khí. Khí vận chuyển phải quanh co uốn lượn không được xộc thẳng vào hoặc xộc thẳng ra ngoài. Trường hợp này cần xây nhiều bậc lên xuống để giảm xung khí và treo rèm ở cửa ra vào. Dùng thêm tỳ hưu, hoặc tượng phật chế ở vị trí dốc cao đâm vào nhà.
– Nhà có cửa chính thông với cửa hậu :
Nếu cửa chính thông với cửa hậu và cửa giữa (nếu có) thì tạp thành thế ba cửa thông nhau. Khí vào sẽ bị thất tán hết, chủ tiền tài không vượng, hao tổn tiền tài, không cầm giữ được tài lộc. Trường hợp này cần sửa lại cửa hoặc đặt bình phong chắn ở giữa để cửa chính và cửa phụ không nhìn thấy nhau nữa. Dùng cầu thạch anh đặt ở vị trí thông giữa hai cửa, dùng tượng phật hoặc tượng Tam Đa che chắn ở phía cửa phụ.

Nếu cửa chính bị phạm hướng xấu thì dùng hướng bếp để khắc chế, cụ thể như sau :
– Hướng cửa chính phạm Ngũ Quỷ thì đặt bếp hướng Sinh Khí
– Hướng cửa chính phạm Tuyệt Mệnh thì đặt bếp hướng Thiên Y
– Hướng cửa chính phạm Lục Sát thì đặt bếp hướng Phúc Đức
– Hướng cửa chính phạm Hoạ Hại thì đặt bếp hướng Phục Vị
Ví dụ : Người sinh năm 1957- Đinh Dậu mệnh cung Đoài, cửa chính hướng Nam là Ly phạm Ngũ Quỷ. Vậy phải đặt bếp hướng Tây Bắc để chế vì Tây Bắc là Càn được Sinh Khí sẽ hoá giải được hướng cửa chính bị phạm.
– Gương trong phòng ngủ :
Gương trong Phong Thuỷ có tác dụng phản xạ lại các luồng hung khí chiếu đến. Việc sử dụng gương phải hết sức cẩn thận không được đặt bừa bãi. Trong phòng ngủ, khi nằm không nên nhìn thấy mình trong gương. Nếu nhìn thấy thì khí bị xung sát dễ gây nên mộng mị, ảnh hưởng sức khỏe.
– Xà nhà chắn ngang giuờng ngủ hoặc bàn thờ, bếp :
Tại các vị trí đặt xà, khí của nó tương đối mạnh và thường là sát khí. Nếu giường ngủ đặt ngay dưới xà nhà hoặc dưới chân cầu thang thì vô cùng bất lợi. Cần khắc phục bằng cách kê giường chỗ khác hoặc dùng một trần gỗ hoặc giấy căng ngang phủ lấy xà nhà. Như vậy sẽ giảm bớt tác động xấu của xà. Điều này cũng áp dụng tương tự với bếp và bàn thờ.
– Trước nhà có căn nhà đổ nát :
Nếu đối diện nhà có căn nhà hoang tàn đổ nát thì hung khí của nó sẽ tác động ngay đến nhà mình và gây ra nhiều tác động xấu. Cần treo gương Bát Quái hoặc một chuông gió đá mã não ở trước cửa để hoá giải hung khí do nhà đối diện mang lại. Có thể dùng tượng tượng Tam Đa để hoá giải hung khí.
– Trước nhà có 1 cây to hoặc cây khô trước nhà :
Phong Thuỷ tối kỵ có cây khô trước nhà, hoặc trước nhà có một cây to, gọi là độc mộc, chủ buồn khổ cô độc. Vì vậy cần chặt hết những cây khô trước nhà và không trồng duy nhất một cây to. Nếu có cây to và chưa chặt được thì dùng một đèn sáng màu đỏ trước cửa hoặc đá thuộc Hoả nhiều màu đỏ đặt trước cửa. ( hỏa có thể đốt mộc )
– Nhà ở đối diện đường vòng hoặc giao lộ :
Nếu ở đối diện đường vòng hoặc đối diện thì khí xung sát sẽ chiếu thẳng vào nhà. Sát khí làm hao tổn nhân đinh, gây thị phi bất hoà, ly tán gia đình, sát vợ hại con. Trường hợp trên chỉ dùng làm cơ sở kinh doanh không nên ở. Trước nhà nên dùng gương Bát Quái hoặc đặt đá có năng lượng chắn. Có thể dùng tỳ hưu để trấn áp, hoá giải luồng hung khí.
– Thiên Trảm Sát :
Phong Thuỷ tối kỵ trước nhà mình có một khe hở giữa hai nhà cao tầng chiếu thẳng vào nhà gọi là “Thiên Trảm Sát” rất xấu cho ngôi nhà. Vì thế cần dùng một chuông gió treo trước nhà để hoá giải hung khí hoặc dùng một bể cá, một bình nước đặt ở trước nhà hoặc ở cửa sổ để tiết chế hung khí do Thiên Trảm Sát gây ra. Dùng các vật khí chế hoá bằng đá năng lượng cũng phát huy tác dụng rất tốt.
– Gian phòng khách bị lộ :
Nếu nhà gần đường đi lại mà người đi ngoài đường có thể nhìn thấy rõ phòng khách và những người ngồi trong nhà thì theo Phong Thuỷ điều đó rất bất lợi cho gia chủ. Gây nên chuyện thị phi, bất hoà, hao tán tài lộc. Hãy xây tường bao hoặc cổng, cửa, nếu không thể xây thì dùng mành hoặc rèm che khuất để người ngoài không thể nhìn trộm vào nhà. Dùng các vật khí trấn áp như tỳ hưu, nghê, tượng phật trong phòng khách hướng ra cửa.
– Giường ngủ hoặc bàn đọc sách gần cửa sổ :
Nếu giường ngủ hoặc bàn làm việc, bàn đọc sách gần cửa sổ thì khí bên ngoài sẽ xung thẳng vào giường hoặc bàn, ảnh hưởng đến sức khoẻ và việc học hành và công việc. Khí đến giường ngủ cần yên tĩnh, kín đáo. Khí đến bàn làm việc, bàn đọc sách tránh phân tán. Vì thế, gặp trường hợp trên nên treo rèm trước cửa sổ hoặc đóng lại không sử dụng khi ngủ hoặc làm việc. Dùng thêm các vật khí lợi cho công danh thi cử như qủa cầu thạch anh, tháp văn xương đá thạch anh màu trắng…
– Giường ngủ hoặc bếp gần nhà vệ sinh :
Trong bài trí Phong Thủy tối kỵ nhà bếp hoặc giường ngủ sát ngay nhà vệ sinh. Uế khí của nhà vệ sinh sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ và nguồn tài lộc của gia đình. Gặp trường hợp trên nhất thiết phải di chuyển giường và bếp, hoặc phá nhà vệ sinh đi không dùng nữa. Để khắc phục phải sử dụng các vật khí hỗ trợ như đá năng lượng, cầu thạch anh …
– Bàn thờ ở trên hoặc dưới nhà vệ sinh :
Hiện nay, ở các đô thị có rất nhiều nhà cao tầng và gian thờ thường đặt trên tầng thượng. Cần chú ý không để bàn thờ mà ở tầng dưới có nhà vệ sinh. Uế khí của nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thờ cúng gia tiên, gây nên nhiều điều xấu cho gia chủ. Gặp trường hợp trên cần di chuyển bàn thờ ra vị trí khác hoặc đóng nhà vệ sinh lại không sử dụng nữa.
Màu sắc các phòng trong căn nhà không hợp lý
Việc bố trí màu sắc cho các phòng cần tuân thủ theo nguyên lý ngũ hành sinh khắc. Thường phòng ngủ tối kỵ màu tối, cần dùng các gam màu sáng, ấm áp để gợi cảm giác ấm cúng như màu hồng, giấc ngủ sẽ ngon hơn. Tránh treo các tranh ảnh gây cảm giác cô đơn buồn tẻ như cánh buồm cô độc chẳng hạn. Nên treo các tranh gợi cảm giác đoàn tụ sum họp.
Phòng ăn nên dùng gam màu vàng vì màu vàng thuộc Thổ sẽ hợp với một gian phòng ăn vì thức ăn và dạ dày thuộc Thổ.
Phòng khách nên bố trí màu sắc tươi sáng, hài hoà với nội thất sao cho màu tối và màu sáng cân bằng nhau, đó cũng là cái lý âm dương hài hoà.
Phòng học, phòng đọc sách nên bố trí nhiều màu xanh, nên trồng các loại cây xanh như trúc cảnh, hợp với sao Văn Xương chủ về công danh, thi cử.
Nên dùng các Đá Phong Thuỷ trong từng phòng theo mệnh
Sau đây là bảng màu hợp với bản mệnh của mỗi người :
Bản mệnh Màu sắc
Mộc Màu Xanh – Mộc sinh Hỏa
Hoả Đỏ, Hồng – Hỏa sinh Thổ
Thổ Vàng, Nâu – Thổi sinh Kim
Kim Trắng, Bạc – Kim sinh Thủy
Thuỷ Đen, xanh sẫm – Thủy sinh Mộc
Mỗi người đều hy vọng nhận được sự tôn trọng của người khác, cũng hy vọng nhận được sự tôn trọng của quỷ Thần. Rốt cuộc là những người như thế nào mới xứng đáng nhận được sự vinh hạnh đặc biệt này đây? “Duyệt vi thảo đường bút kí” có đề cập đến mấy loại người, chúng ta hãy đọc thử, xem xem có ở trong số đó hay không.
“Duyệt vi thảo đường kí” có ghi chép rằng, viên ngoại Cố Đức Mậu nói ông ta là minh vương của Đông Nhạc, những lời mà ông ta nói cũng rất có đạo lý. Trước đây ở nhà Cầu Văn Đạt, ông ấy nói rằng:
“Trong địa phủ rất xem trọng những bậc trung trinh liệt nữ, nhưng cũng có phân thành đẳng cấp. Hoặc vì tình cảm trai gái, hoặc vì gia sản nhà chồng kếch xù, nên có phần lưu luyến mà không tái giá, là thuộc hạ đẳng; có nảy sinh cảm tình với người khác nhưng có thể dùng lễ nghĩa để mà khắc chế bản thân, là thuộc trung đẳng; lòng như giếng khô, không nảy sinh những cơn sóng cảm tình, không tham luyến vinh hoa phú quý, đói rét cũng không màng, cũng không so tính thiệt hơn, là thuộc thượng đẳng.
Những người như vậy trong nghìn người cũng không dễ có được một người. Nếu là người như vậy, quỷ Thần cũng sinh tâm kính ngưỡng. Một ngày kia, trong địa phủ truyền rằng có một tiết phụ đã đến, Diêm Vương thần thái nghiêm trang cùng với các âm quan đều ăn mặc chỉnh tề, đứng dậy nghênh đón. Chỉ thấy một bà cụ già dáng vẻ rất mệt mỏi đi đến, chân bà dường như đang bước lên bậc thang. Mỗi bước một cao hơn, đợi đến khi bước đến Diêm Vương điện, bỗng từ nóc điện đi lên, không biết đã đi đâu rồi. Diêm Vương kinh ngạc nói: ‘Người này đã thăng thiên rồi, không ở trong cõi ma quỷ của chúng ta nữa’”.
Cố Đức Mậu lại nói: “Hiền thần cũng chia làm ba đẳng, những người sợ chế độ pháp luật là thuộc vào hạ đẳng, yêu thanh danh khí tiết là thuộc về trung đẳng, lòng trung với triều đình, chỉ một lòng vì nước vì dân, không màng họa phúc vinh nhục là thuộc hàng thượng đẳng”.
Ông ấy còn nói: “Địa phủ vốn rất căm ghét những kẻ vì cầu danh cầu lợi mà tranh mà đấu, cho rằng kết thảy mọi tội ác trên thế gian đều từ đây mà sinh ra. Vậy nên luôn khiến cho loại người này không được như ý muốn, khiến cho cái được của họ chẳng bằng với cái mất. Lòng người càng xảo trá, thì an bài của quỷ Thần cũng càng tinh xảo”.
Lại nói: “Chế độ pháp lệnh nơi âm gian cũng giống như phẩm hạnh khí tiết của của các bậc Thánh hiền vậy, luôn có thiện ý giúp đỡ người khác. Quân tử vì cố chấp phiến diện của bản thân mà tổn hại sự việc nào đó, cũng sẽ bị ghi chép lại làm thành khuyết điểm; tiểu nhân có một chuyện gì mà làm có lợi cho người khác, cũng phải dùng chút thiện báo để báo đáp y. Con người thế gian vốn không hiểu được đạo lý này, vậy nên luôn luôn hoài nghi nhân quả báo ứng có những lúc không ứng nghiệm”.
Những chuyện được đề cập ở trên, có lẽ không được tường tận rõ ràng cho lắm, nhưng cũng đủ để cho chúng ta thức tỉnh, biết nên làm người như thế nào rồi.
Độ rộng hẹp của con đường phải thích hợp
Độ rộng của con đường đối điện với cửa hàng phải thích hợp, không phải càng rộng càng tốt. Thông thường là đường cấp 2, cấp 3 là tương đối phù hợp.
Về mặt phong thủy, con đường được người ta bàn đến đầu tiên. Đường không phải càng to càng tốt, nếu đường cái quá rộng có nghĩa thủy lưu hút quá gấp khiến cho cửa hàng có thu mà không trụ lại được, nên không lý tưởng. Điều này mọi người có thể đi quan sát, những cửa hàng nằm ờ con đường cái gặp phải tình trạng kinh doanh không tốt có rất nhiều.

Nhưng cũng không phải đường càng hẹp thì càng tốt. Nếu đường quá hẹp gây cho việc kinh doanh có rất nhiều bất tiện. Xét về góc độ phong thủy, điều này cùng gây ra khí lưu không thuận, bị ngáng trở.
Cố tránh đường một chiều
Hiện nay trong thành phố, lượng xe cộ đi lại rất nhiều mà thiết kế đường xá lại tương đối lạc hậu, bắt buộc người ta phải lấy đường nhỏ hẹp làm đường một chiểu, xe cộ chỉ được đi về một hướng. Đường một chiều gây cho khách bộ hành một số bất tiện, họ tự nhiên ngại đi lại.
Nếu vì tình hình khách quan của môi trường xung quanh, cống chính không thể tránh được dường một chiều thi làm cống nghiêng về plũa phái lả tốt nhất. Một là sử dụng thuận tiện. Hai là có lợi cho phong thủy. Phong thủy có cảu: “Phía phài sõng lìì lỗi, phía trãi sông là xấu”. Con đường cùng giông như con sông, dòng suôi, lẻ nào nghiêng về phin phải thì không tốt sao?
Nghiên cứu kỹ đường vòng cung
Theo tình trạng khách quan của vị trí đất, có một số cửa hàng xoay kiểu gì cùng đụng phải đường hình vòng cung. Theo kiến trúc phong thủy, đường vòng cung là một loại sát khí, hơn nữa sát khí tương đối mạnh. Vì thế, khi lựa chọn địa điểm, gặp phải cửa hàng nằm ở đường vòng cung thì tốt nhất thiết kế cửa chính không nằm vào hưóng này. Nếu điều kiện không thể tránh thì phải áp dụng một số biện pháp xử lý do hóa giải.
Ngược lại, nếu cửa hãng nằm trên đường ôm lấy cửa hàng thì lại là điều cát tường.
Tránh đường dốc
Tốt nhất cổng của cửa hàng nằm trên mặt bằng, tránh đường dốc. Hướng đường xuống dốc không được phong thủy tốt, không lưu giữ được tài lộc, chỉ có nghèo khó. Đây cũng là nguyên nhân nước chảy rất gấp. Hướng đường lên đỉnh dốc lại không nghiêm trọng như vậy, bởi vì xe lên dốc với tốc độ chậm, dễ gây tắc đường khiến cho khí lưu thông khó khăn cũng dễ gây bất tiện trong cuộc sống, cổng của cửa hàng cũng không nên mở ở đây.
Tránh ngõ cụt
Cổng chính của cửa hàng nằm ngay hướng ngõ cụt, dù có chếch về hướng nào cùng vẫn nằm đầu ngõ thì rất bất lợi.
Trong cuộc sống, cổng chính nằm ở trong ngõ cụt cũng thật sự có rất nhiều sự tai hại. Nếu gió thổi, sức gió sẽ tăng lên nhiều lần, không có gió thì cũng “tam thốn lãng”. Người sống ở đây có cảm giác khó chịu, còn nói gì đến phong thủy?
Không chỉ chờ đến Tết mà phật thủ được bán quanh năm và lúc nào cũng đắt như tôm tươi. Ngày mồng 1, ngày rằm và những dịp lễ người dân đã quen phải mua quả phật thủ bày trên ban thờ.
Vào những ngày cuối năm này, nhiều người săn lùng những quả phật thủ có hình dáng đẹp, có giá trị cao để làm quà biếu hay đơn giản là trưng bày trên mâm ngũ quả ngày Tết.
Theo quan niệm xưa, phật thủ là loại quả dùng để thờ Phật và gia tiên vì có mùi thơm quyến rũ, tác dụng lưu giữ thần, Phật và gia tiên lưu lại trong nhà lâu hơn để phù hộ cho gia chủ. Mọi người thờ phật phủ với mong muốn gia đình gặp nhiều may mắn trong năm mới, phồn thịnh về của cải, sức khỏe…
Quả phật thủ ngoài ý nghĩa thờ tâm linh, chúng còn được nhiều người tìm mua phật thủ để làm thuốc chữa bệnh như dùng phật thủ ngâm với mật ong chữa ho rất tốt hay làm mứt… Bởi vậy, dù giá loại quả này khá cao, có khi tới vài triệu nhưng vẫn bán khá chạy.

Quả phật thủ đẹp phải to, nhiều ngón tay, mập dài
Theo tư vấn của anh Tuấn Trường– một chủ vườn trồng phật phủ ở Đắc Sở (Hoài Đức, Hà Nội), cách chọn và giữ quả phật thủ để ban thờ Tết được đẹp, lâu cũng khá cầu kỳ, nếu không để ý sẽ không chọn được quả đẹp:
- Trái Phật thủ đẹp phải nhiều ngón tay, thông thường mỗi quả có 20-30 ngón tay. Các ngón tay tỏa tròn đều xếp thành nhiều vòng như hình bông hoa, ngón của vòng ngoài cùng trùng với các số đẹp sẽ có giá trị. Khi chọn mua quả phật thủ, nên chọn quả to, ngón tay của Phật Thủ càng nhiều, dài mập, các ngón đều nhau. Bạn cũng nên chú ý chọn quả có gia trơn cật, màu hơi mơ vàng là quả già để được lâu và thơm hơn.
- Tránh mua quả bị xước sát, bị sâu đục khoét, bị dập hoặc gãy các ngón phật thủ. Không chọn phật thủ non dù chúng cũng có màu vàng nhưng lại rất nhanh hỏng. Một quả phật thủ trưởng thành thì các túi tinh dầu tròn trịa, cách đều nhau, căng mọng, bề mặt quả rắn và cứng.
- Bày bàn thờ ngày Tết cũng không nên chọn loại quả phật thủ quá chín, vàng sậm và da nhăn nheo thì không bảo quản được lâu.
- Để tránh phật thủ hỏng nhanh, không nên rửa hoặc ngâm phật thủ trong dịch muối. Bởi khi nước đọng trong các khe ngón của quả rất dễ tạo môi trường ẩm ướt cho nấm phát triển phá huỷ vỏ quả gây thối rữa. Bạn chỉ nên dùng khăn ẩm lau.
- Muốn giữ quả phật thủ để bàn thờ Tết được đẹp, lâu thì cứ khoảng 5-7 ngày, bạn có thể dùng rượu trắng để lau bụi bẩn bám trên quả. Khi đặt trên bàn thờ, bạn có thể để một bát nước, cho thêm vài viên thuốc B1 vào sau đó đặt phật thủ vào bát nước sẽ giúp phật thủ tươi rất lâu.
![]() |
| Thìn - Tý | Thìn - Sửu | Thìn - Dần | Thìn - Mão |
| Thìn - Thìn | Thìn - Tỵ | Thìn - Ngọ | Thìn - Mùi |
| Thìn - Thân | Thìn - Dậu | Thìn - Tuất | Thìn - Hợi |
Maruko (theo Sohu)
Theo luận giải tử vi trọn đời, tuổi Tý sinh vào tiết xuân thường có tài nên có cuộc sống vật chất đầy đủ. Tuy nhiên, do bản tính tự cao bảo thủ, luôn cho rằng tất cả những gì mình làm đều đúng nên cuộc sống không được như ý. Bên cạnh đó, thời thanh niên họ rất ham chơi, lười biếng, thụ động nên ngoài 35 tuổi mới thành đạt trong sự nghiệp.
![]() |
Là người độc lập, sống nội tâm. Tuy có tài lộc nhưng lại luôn cảm thấy mọi sự hư không. Ít được nhờ bạn bè, ngược lại, đôi khi còn bị bạn bè hãm hại. Cần đề phòng với những chuyện không hay có thể xảy ra.
Là người sống lãng mạn, si tình và thường không làm chủ được bản thân. Có quan hệ xã hội rộng rãi, số thanh đạm, nhưng nhiều nguy nan. Cần đề phòng tiểu nhân quấy phá.
Là người có tinh thần tự lập cao, được nhiều người khâm phục. Số giàu có nhưng được hưởng phúc muộn.
Theo lá số tử vi 12 con giáp cho rằng, tuổi Tý sinh vào tháng này là người thông minh, khoáng đạt. Đường công danh, sự nghiệp rộng mở, cả đời phúc lộc hơn bạn bè. Tuy nhiên, họ lại thích làm những việc vượt quá khả năng nên hay chuốc lấy thất bại. Trong công việc dễ xảy ra xung đột với cấp trên. Nên đề phòng bệnh tật do thời tiết nóng bức, tốt nhất nên sống ở nơi có nguồn nước mát mẻ.
Là người có khí chất kiên cường nhưng lại rất ôn hòa, nội tâm phong phú, suy nghĩ kín đáo. Được lộc trời cho, đời sống no đủ, trung niên phát đạt. Cần đề phòng tiểu nhân hãm hại. Trong việc lớn cần có sự khoan dung, rộng lượng mới thành.
Là người thông minh, tài trí hơn người, nhạy bén, quan hệ rộng, thành đạt. Số được quý nhân phù trợ, gặp việc không như ý cần nhẫn nhịn tất sẽ thành. Nếu là nam giới có số hào hoa, là nữ giới thì duyên dáng, đức hạnh.
Người tuổi Tý sinh tháng này thường là người trung thực, cẩn trọng, nhạy cảm nhưng lại không muốn giao tiếp rộng. Họ giỏi kiếm tiền, tự thân lập nghiệp, có thiên hướng làm chỉ huy nhưng lại thiếu tự tin vào bản thân.
Là người biết nhìn xa trông rộng, có khả năng phán đoán tốt, tự lập. Nếu là nam giới thì thường tự ti trước phụ nữ. Cuộc sống vật chất không ổn định vì để tuột mất cơ hội tốt. Ngoài 30 tuổi mới có sự nghiệp cho riêng mình.
Là người độc đoán, bảo thủ, ít mối quan hệ. Cuộc sống bình an, ít người đối địch. Tuy sự nghiệp đến muộn nhưng lại rất thành công.
Tuổi Tý sinh vào tiết Tiểu Hàn là người nhiệt tình, luôn bận rộn trong công việc. Cuộc sống no đủ, an khang thịnh vượng cả đời hưởng phúc.
Các bài viết sau cùng chủ đề, có thể bạn quan tâm:
(Theo Nhân duyên & tướng cách đàn bà)
| ► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
![]() |
![]() |