Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Ông Bà Tổ Tiên

Giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Việt liên hệ với việc truyền giáo Lm Vũ Kim Chính, SJ Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan
Ông Bà Tổ Tiên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðề cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của nfười Việt cũng thế, là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở đây khi chọn đề tài "Ông bà tổ tiên" liên hệ với việc truyền giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới vấn đề "lễ nghi" đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình. Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính ông bà tổ tiên?

1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên

Tuy ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau thảo luận những tranh chấp về "lễ nghi" thì những tài liệu của các quốc gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.

Việt ngữ dùng danh từ "tôn giáo" để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ "tôn" cũng còn một âm nữa là "Tông" nguyên ủy chỉ ông "thứ tổ" (ông tổ thứ hai), rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo phái, học phái. Như vậy, "tôn giáo" theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na theo lối bình dân như:

"ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn"
, hoặc:

"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con"
.

Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:

"Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân"
.

hay ở đoạn khác:

"Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời"
.

Như vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn kính "Thần Thánh" theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã chép: "Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế. Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì "vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ" (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như Kinh Thi chép: "Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức" (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, mới có đức tốt).

"Ông Trời" là nguyên ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi vui khi buồn đều có thể gọi "Trời ơi" được, nhưng họ không được phép trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: "Việc thờ Trời, thờ quỉ thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả, và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở Á đông". Dù được trực tiếp tế tự "Trời" hay chỉ gián tiếp qua Thần Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới "Thiên nhân tương dữ". Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý, để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với Thiên đạo. Nói cách khác: "Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả, cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ".

Nho gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm và dưỡng tính của bậc quân tử". "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (Luận Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ lòng chân thành: "tế thần như thần tại" (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch: tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời "kính quỉ thần nhi viễn chi" (Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ sự" (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? "là Cung, khoan, tín, mẫn, huệ". Khổng tử giải thích thêm: "Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người" (Luận Ngữ: Dương Hóa, XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này, mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng riêng, một người coi trọng "Nhân" là bảo tồn tính bản thiện của con người, một người trọng "Lễ" để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.

Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: "sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận Ngữ: Vi chính II). Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: "Thận chung, truy viễn, đức qui hậu hĩ" (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).

Tư tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số quần chúng Việt Nam được coi là theo "đạo Ông Bà" thường có phong tục làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên, như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con... hay nhiều khi chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại. Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một... Ngoài những biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,... Tất cả những kính cáo, trình khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: "Con cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng".

Nói tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương, nến sáp... Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có bàn thờ riêng thờ ông "Thủy Tổ" của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông, biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn thờ Thủy Tổ.

Quần chúng tuy một đàng muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân biệt rõ ràng như những nho sĩ "vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi", nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá. Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh... để bảo vệ che chở mình hay giúp phát tài,... Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần "lễ nghi" tôn kính ông bà tổ tiên.

2. Tôn Kính Tổ Tiên Liên Hệ Tới Việc Truyền Giáo:

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa bắt đầu bằng những bước dò dẫm, va chạm những khó khăn về phiên dịch, vì hai loại ngôn ngữ biểu tả hai văn hóa quá khác nhau, nên không biết phải làm sao mới có thể đạt tới việc "bản vị hóa" chân chính được. Thoạt đầu những nhà truyền giáo tiên khởi dùng ngôn ngữ địa phương để phiên âm những từ căn bản của Kitô giáo, như thánh Phanxicô Xavier đã Nhật âm hóa tiếng Latinh: Deus Pater, Deus Filius, Deus Spiritus Sanctus là: Deusu Patere, Deusu Hiiruo va Deusu Spiritusu Santa (có khoảng 50 ngữ vựng căn bản như thế). Nhưng cách phiên âm này đã gặp những khó khăn lớn, vì hoặc là âm đó có một nghĩa khác trong ngôn ngữ là "Deusu" làm trò cười cho nhiều Phật đồ Nhật, vì họ liên tưởng tới một âm tương tự là "daiuso", có nghĩa là "Nói dối đại tài". Thấy cách phiên âm này không ổn, nên các nhà truyền giáo kế vị các bậc tiên khởi này như A. Valignano, M. Ricci, A. Schall, A. de Rhodes v.v... đã học hỏi ngôn ngữ và tư tưởng địa phương để Kitô giáo được thích ứng với môi trường mới. Trong lúc phiên dịch và thích ứng này đã xảy ra cuộc tranh chấp về "lễ nghi". Cuộc tranh chấp này mặc dù đầu tiên là bàn về hai phương pháp truyền giáo được hai phe (một bên là dòng Tên, một bên là dòng Ðaminh, dòng Phanxicô và hội Thừa Sai Balê) chủ trương, nhưng dần dần đã vượt qua phạm vi thuần túy truyền giáo và tôn giáo trở thành một tranh chấp bị những ảnh hưởng chính trị, quyền bính chi phối, nên đã trở thành một tấm bi kịch của lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông. Ở đây chúng ta chỉ có thể chú tâm tới những dự kiện chính yếu mà thôi.

Trước tiên chúng ta bàn về vấn đề phiên dịch. Sau khi thảo luận những khả thể dịch chữ, "Deus", các nhà truyền giáo đã đồng ý dùng chữ "Thiên Chúa". Nhưng dùng cách thế nào để giải thích chữ "Thiên Chúa" thì hai phe có những lập trường khác nhau. Một bên cho rằng dùng chữ "Thiên Chúa" để chỉ Deus thì phải hiểu hoàn toàn khác, hoàn toàn độc lập, không thể dùng một từ ngữ nào như "Thiên", "Thượng Ðế" để diễn giải được, vì "Thiên" theo ý họ "chỉ có nghĩa là bầu trời" (ciel materiel et visible), còn quan niệm "Thượng Ðế" là quan niệm dân ngoại thường dùng, nếu ta dùng sẽ rơi vào giới "vô thần" như dân ngoại. Một bên khác cho rằng chữ "Thiên Chúa" mặc dù là chữ ghép mới để chỉ Deus, nhưng có thể dùng những quan niệm sẵn có trong kinh điển Trung Hoa xưa như "Thiên", "Thượng Ðế" để người Trung Hoa có một mấu cứ để thăng hóa, nhờ đó mới dễ dàng hiểu rõ nghĩa thực sự của "Thiên Chúa" được. Thực ra, hai bên dùng hai phương pháp thần học cổ điển vẫn dùng là: phương pháp "phủ nhận" (via negotiva) và phương pháp "sánh loại" (via analogia). Ðứng trên phương pháp học không có chi đáng bàn cãi, nhưng động lực nao khiến họ chọn hai phương pháp này để nói lên thái độ của họ đối với nền văn hóa địa phương. Ðó mới là điều quan trọng. Dù sao đi nữa, sự kiện xẩy ra trong lịch sử là: Giám Mục Charles Maigrot, đặc sứ tông tòa ở Phúc Kiến đã nhân danh Thánh Bộ truyền giáo tuyên bố: từ ngữ "Thiên Chúa" phải được dùng để chỉ chữ "Deus" còn những tiếng khác như "Thiên" và "Thượng Ðế" thì không được dùng.

Ðối với người Công Giáo Việt Nam hiện nay, ta dùng chữ "Thiên Chúa" trong văn chương, nhưng cũna dùng chữ "Ðức Chúa Trời" theo nghĩa bình dân để chữ "Deus". Trong khi đó những người không Công Giáo thường dùng "Ông Trời" (Trung Hoa dùng chữ Lão Thiên) để chỉ Ðấng Tối Cao. Thực ra, quan niệm "Trời" không phải chỉ là "bầu trời", nhưng cũng là "Hóa Công", đấng sinh thành vũ trụ, vì vậy tại sao chúng ta không thể dùng những quan niệm đã có sẵn trong kinh điển Trung Hoa, đã được nhiều người biết tới để giải thích một quan niệm chí ư "trừu tượng", đối với họ hoàn toàn mới lạ như Deus. Phải chăng phản đối dùng những quan niệm như "Thượng Thiên", "Hiển Thiên", "Hoàng Thiên", "Thượng Ðế" để giải thích chữ "Thiên Chúa", vì các nhà truyền giáo sợ người Trung Hoa, Việt Nam không hiểu xác thực được nghĩa Deus của Kitô giáo, hay là các nhà truyền giáo đó đã không hiểu rõ được những quan niệm trên trong tư tưởng Trung Hoa? Trần Văn Hiến Minh còn đi xa hơn nữa, khi ông quả quyết: "Quan niệm một Tiên Chúa có ngôi vị, Thượng Ðế là một trực giác đầu tiên của người Trung Hoa từ xa xôi bao ngàn năm trước. Tất cả cuộc sống Trung Hoa cổ kính đều qui hướng vào đó". Ðề mục họ Trần nêu ra có thể là một đề tài thảo luận hào hứng, nhưng vượt qua phạm vi của bài nói chuyện này. Dù "Thượng Ðế" theo người Trung Hoa hiểu có "ngôi vị" hay không, cũng không thể là lý do chính đáng không dùng những quan niệm đó để "giải thích" tiếng "Thiên Chúa" được.

Như vậy ta thấy được tranh luận về mấy danh từ trên không phải chỉ là một cuộc thảo luận lý thuyết thần học hay ngôn ngữ, văn chương, nhưng là tỏ rõ đường hướng của hai phe đối với vấn đề truyền giáo: giáo hội có thể dùng di sản văn hóa của địa phương để diễn đạt giáo lý, nghi lễ của mình hay không? Mà được phép dùng tới mức nào? Tại sao có thể dùng hay bị cấm dùng như vậy?

Bây giờ chúng ta trực tiếp đề cập tới cuộc tranh luận "lễ nghi". Vấn đề chính của cuộc tranh chấp này là câu hỏi: lễ nghi đối với tổ tiên là "tôn thờ" tổ tiên vì nghi thức này có tính cách tôn giáo. Tôn thờ tổ tiên là những người theo "đạo Ông Bà". Nói cách khác, nghi lễ tôn thờ này được cử hành trong những nơi nhất định (chủ đường hay tông đường hoặc tại gia, trước bàn thờ tổ), có những qui định riêng (thành văn hoặc bất thành văn) và đối tượng của đạo này là "tôn thờ Bài Vị" của những người quá cố, Bài Vị này là chỗ của các Hồn người quá cố "cư ngụ". Khi hành lễ gia trưởng chắp vái hay quì lạy, dâng hương, báo cáo, cầu xin trước bàn thờ vong linh có đốt nến và bày những lễ cúng như hoa quả, bánh rượu... lễ nghi này cũng giống như lễ nghi trước phần mộ khi mai táng hay trong các dịp kỵ lễ. Sau khi đã mô tả những chi tiết trên, cộng thêm sự ghi chú những tính cách tôn giáo của đạo ông bà, các vị thừa sai này đã đặt những câu hỏi xin thánh bộ giải quyết, như: xin hỏi người Kitô hữu có được phép cử hành những nghi lễ và dâng cúng trước bài vị theo như tập tục ở chủ đường hoặc nơi phần mộ hay trước linh cửu? Và nếu họ được phép làm như vậy thì họ có thể tham dự với dân ngoại hay hành lễ một mình? Hay câu hỏi: Người Kitô hữu có được dựng bài vị tổ tiên ở trong nhà mình với chữ khắc "Thần Chủ" không? Dĩ nhiên những câu hỏi này đã được sửa soạn bằng những "mô tả" hàm xúc một câu trả lời phủ nhận. Có người còn đi xa hơn nữa, coi việc "Tôn thờ tổ tiên" ở Trung Hoa giống hệt như việc thờ phượng các thầ Manes xưa ở Hy lạp hay La Mã: "Theo lịch xưa của người La Mã khi thời thờ ẩu thần còn hiển trị, có nhắc tới một dịp lễ gọi là "Feralia", bắt đầu từ 20 tháng 2 kéo dài tới cuối tháng 2. Lễ này là dịp tôn thờ các Thần Manes. Dân ngoại đem thịt đặt trên mộ các người quá cố để họ hưởng, như tiến sĩ Varron đã giải thích. Ðó cũng là những việc mà những người Trung Hoa hành lễ ở các chùa chiền, trên phần mộ hay trong tư thất trước bài vị tổ tiên". Sự so sánh này đặt người hữu trách trước một sự lựa chọn không thể chối được: Nếu xưa giáo hội đã hủy bỏ phong tục thờ tà thần Manes, tại sao ngày nay lại có thể cho phép làm như thế ở trung Hoa. Lý chứng này càng ảnh hưởng tới người hữu trách khi người đó không hiểu thấu hiện trạng phức tạp ở miên Viễn Ðông.

Trong khi đó, phe khác coi nghi lễ đối với ông bà tổ tiên là sự "tôn kính" bày tỏ lòng hiếu đễ của con cái đối với bậc tiền nhân, dù khi còn sống hay đã quá cố. Trước tiên họ nhận định những nghi lễ trong các chùa chiền hay trước những thần tượng bày rải rắc khắp nơi là có tính cách tôn giáo và nhuốm nhiều màu sắc mê tín, dị đoan. Họ cũng công nhận thái độ mê tín này có thể ảnh hưởng tới việc tôn kính tổ tiên, nếu không được giải thích minh bạch giữa nơi tôn thờ và tôn kính: Ngược với "chùa miếu" là nơi tôn thờ các thần thánh, "đường" nơi có tính cách "trung tính" (có thể dùng liên quan tới tôn giáo hay không). Do đó, "chủ đường" hay "tông đường" (hay nói nôm na là "chỗ dành cho tổ tiên") là "nơi" kính nhớ ông bà tổ tiên để tỏ lòng biết ơn với những người quá cố, cũng như phong tục tập quán địa phương có những "nơi" riêng trọng kính các vị tiền bối lúc sinh thời. Còn Bài Vị thực ra không phải là "bàn thờ" thực, nhưng thường là một thanh gỗ được sửa soạn tươm tất ở trên đó có ghi danh tánh ông bà tổ tiên được bày trên án hương. Tuy Bài Vị "là biểu tượng" cho vong linh người quá cố, nhưng không phải là chỗ "cư ngụ" của hồn linh đó. Các vị này giải thích: trong quá khứ người Trung Hoa có thói quen tìm một người "thay thế" cho một người thân quá cố. Phong tục này được chuyển hóa bằng việc dùng bài vị như là biểu tượng của người quá cố ở giữa con cái. "Bài vị được dựng nên không phải để đánh dấu sự hiện hữu của một linh hồn mà người ta tin rằng linh hồn đó cư ngụ ở bài vị, nhưng đúng hơn là để thức tỉnh một thái độ luân lý và sự biểu tượng này có thể coi như sự hiện diện của một thân xác". Trong khi đó, việc "hóa" vàng giấy, đốt những đồ vật làm bằng giấy cho tổ tiên dùng là những điều mê tín, dị đoan cần cấm bỏ. Ngược lại, những cử chỉ bái lạy hay quỳ gối là những cung cách người Trung Hoa thường dùng để tỏ lòng tôn kính đối với bậc trên, dù những người này còn sống hay đã qua đời. Ðiều đáng chú ý là, chính vua Khang Hy ngày 30.11.1700 đã tự tay chứng thực bản văn do các cha dòng tên thảo nói những lễ nghi tôn kính Khổng Tử, tổ tiên là những hình thức bày tỏ lòng thành kính mà thôi: "Nói là Khổng Tử được thờ phượng để xin sự khôn ngoan hay để xin được thăng chức hay thêm bổng lộc là không đúng... Dựng bài vị tiền nhân quá cố không có nghĩa là linh hồn tổ tiên được nghĩ là thực sự ngự trị trong miếng gỗ này... Mục đích thực sự của nghi lễ tôn kính tổ tiên là con cháu trong một dòng tộc không được phép quên, nhưng luôn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên cho đến muôn đời". Nhưng lời chứng thực của vị hoàng đế trung Hoa, người có thẩm quyền nói lên ý nghĩa thực sự của phong tục tập quán, đã không được tòa thánh thời đó lưu ý tới.

Trên đây là lược thuật tổng quát lập trường của hai phe phái về vấn đề đối với tổ tiên có liên hệ đến việc truyền giáo. Cuộc tranh chấp "lễ nghi" này đã tạm thời kết thúc khi Ðức Giáo Hoàng Clement XI ngày 20.11.1704 đã quyết định:

- Cấm dùng chữ "Thiên" hay "Thượng Ðế" để giải nghĩa "Thiên Chúa". Theo đó không được dùng "mensa seu altare" (bàn thờ) để "kính Thiên" trong nhà thờ.

- Người Kitô hữu không được phép tổ chức hay tham gia những lễ nghi theo như phong tục đối với Khổng Tử hay những người quá cố. Do đó cũng không được phép lập "chủ đường", miếu đường", cũng không được phép dâng lễ vật trong miếu đường hay gia thất vì những nghi thức này liên hệ tới mê tín ("tamquam superstitione inseparabilia"). Tông huấn (Ex illa die) đã được quyết định, đã được đặc sứ tòa thánh, Hồng Y De Tournon mang sang Trung Hoa để ban hành. Sau ba lần De Tournon hội kiến với Hoàng Ðế Khang Hy, Tông huấn đã không được chính thức ban hành cho tới ngày 19.3.1715 mới được Giám Mục đầu tiên của địa phận Bắc Kinh Charles Castorano ban hành. (Trong khi đó De Tournon đã mất ngày 8.6.1710 ở Macao). Tông huấn "Ex illa die" được chính thức ban hành gây ra nhiêu phản ứng khác nhau, nhưng khi phải quyết định phát thệ "chống lễ nghi" theo chỉ thị của tòa thánh, các nhà truyền giáo đã anh dũng bỏ lập trường riêng để chấp nhận tông huấn "Ex illa die". Về phần Khang Hy, ông thấy Công Giáo chống đối lễ nghi và tập tục Trung Hoa đối với Khổng Tử và tổ tiên, đã đổi thái độ từ thân thiện sang nghịch thù. Nhưng cuộc tranh chấp chưa kết thúc, vì chính Ðức Clement XI lại sai một đặc sứ khác là Charles Ambrose Mezzabarba, tân giáo phụ của Alexandria tới Bắc Kinh ngày 26.12.1720. Sau khi đã hội kiến, lắng nghe các nhà truyền giáo báo cáo và đã được tiếp kiến Hoàng Ðế, C. A. Mezzabarba đã trở về Maccao và thảo một bức thư mục vụ ca ngợi tinh thần phục tùng và thống nhất của các nhà truyền giáo, đồng thời đã liệt kê "Tám điều được phép" để dễ dàng thực hành mục vụ. "8 điều được phép này" đã được ban hành ngày 4.11.1721, nới rộng những điều cấm ngặt của tông huấn "Ex illa die". Tỉ dụ: được lập "bài vị" trên đó chỉ được phép ghi tên người quá cố. Tất cả các lễ nghi trung Hoa đối với tổ tiên nếu không pha trộn mê tín mà chỉ có tính cách "dân sự" (Civil) thì đều được phép tổ chức hay tham dự. Hay là: được phép dùng nến, hương, hoa quả, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với người quá cố... "8 điều được phép này" đã làm sống lại cuộc tranh chấp "lễ nghi" một lần nữa, nhất là sau khi đặc sứ C.A. Mezzabarba đã trở về Âu Châu. Một đàng khác, Dũng Thành kế vị Khang Hy được một năm thì ra chỉ thị trục xuất những nhà truyền giáo trừ những người được mời ở lại. Tình trạng hỗn độn này cuối cùng đã được chấm dứt với Tông huấn "Ex Quo Singulari" do Ðức Benedictus XIV ban hành ngày 11.1.1742. Tông huấn này là tông huấn cuối cùng cấm ngặt "lễ nghi" đối với tổ tiên và rút lại tất cả những điều cho phép trước kia. Ðức Benedictus XIV đã minh định: "không phải xấu vì bị cấm, nhưng bị cấm vì xấu".

3. Bàn Về Việc Tranh Chấp "Lễ Nghi"

Trong quá trình tranh chấp như chúng ta thấy ở trên khó mà phân định được "bị cấm vì xấu" hay "xâu vì bị cấm". Ngay cả khi đã bị cấm nhưng trên thực tế chỉ là tránh né vấn đề hơn là giải quyết vấn đề. Bằng chứng là sau gần 200 năm bị cấm ngặt, ngày 8.12.1939 thánh bộ truyền giáo đã hủy bỏ việc bắt các nhà truyền giáo phải tuyên thệ chối bỏ "lễ nghi" mà tông huấn năm 1742 đã đòi buộc và đồng thời tuyên bố các Kitô hữu và các nhà truyền giáo ở trung Hoa, Việt Nam... đối với việc tôn kính Khổng Tử và tổ tiên cần có một cái nhìn "mới". Cái nhìn mới này sau công đồng Vaticanô II đã trở thành một khía cạnh quan trọng để thành lập một nền thần học bản vị hóa. Như vậy Bản vị hóa không những chỉ được phép mà phải được khuyến khích. Ðứng trên một thái độ mới này nhìn lại lịch sử tranh chấp chúng ta dễ có cái nhìn khách quan hơn.

Trước tiên chúng ta nhận định "mạch sống" của hai phe. Một bên đứng trên quan điểm của người trí thức, của tân nho gia đời Minh, để tìm hiểu ý nghĩa của các nghi lễ. Nếu lễ nghi đối với hổng Tử, tổ tiên thuộc về tôn kính hơn là tôn thờ thì hiển nhiên thuộc về phạm vi luân lý hơn là tôn giáo. Quả thực các nhà trí thức Trung Hoa đã hiểu như thế, vì vậy lập trường của các nhà truyền giáo này đã được Hoàng Ðế Khang Hy chứng thực. Chúng ta thấy hiện nay những "lễ nghi" tưởng niệm Khổng Tử hay các vị tiên đế đã mang một ý nghĩa hoàn toàn "dân sự". Các nhà trí thức Việt Nam như Trần Văn Chương, Hồ Ðắc Diễm, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim v.v... cũng cho những nghi lễ tôn kính ông bà là bày tỏ lòng con cái hiếu thảo đối với tổ tiên, là hành động muốn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên mà thôi. Vì thế cúng bái ông bà tổ tiên theo như tập tục không phải là hành động của "niềm tin", nghĩa là qua đó cắt nghĩa một sự mầu nhiệm liên quan tới sự sống và sự chết, cũng không phải là hành động "phi lý" nhưng là những củ chỉ "tự nhiên" (theo phong tục tập quán của một nền văn hóa) do tấm lòng hiếu thảo thôi thúc. Cũng vì thế những việc dâng hương cúng quả, tiến rượu bày cỗ trước Bài vị không mang một ý nghĩa phụng dưỡng vật chất nào cả. Quan trọng nhất là vì nhớ tới ông bà tổ tiên nên con cái cháu chắt thấy họ có bổn phận phải sống như một người tốt, một tôi trung, một đệ tử thành tín, một người chồng gương mẫu, một người vợ hiền, một người con thảo... để khỏi làm nhơ danh tiền nhân. Ðây là quan niệm tôn kính tổ tiên trong mạch suấng của trueỳn thống nho học đặt nặng trên bổn phận luân lý.

Trong khi đó các nhà truyền giáo khác đứng trên phương diện của giới bình dân coi việc tôn kính ông bà tổ tiên là một lễ nghi tôn giáo, vì vậy họ nghĩ rằng cho phép cử hành những nghi thức này tức là hỗn hợp các tôn giáo, làm tha hóa, làm tha hóa Kitô giáo và làm hoang mang lòng các tín hữu. Do đó, họ xin tòa thánh qui định rõ ràng để dễ thực hành mục vụ. Ở đây ngôn ngữ là vấn đề then chốt. Nhưng để giải quyết nạn ngôn ngữ thiếu minh bạch mà cấm dùng ngôn ngữ đó thì không phải là giải pháp thỏa đáng, vì nếu không dùng chữ "Thiên" để giải thích "Thiên Chúa" thì khi dùng chữ "Thiên Chúa" người địa phương cũng không thể hiểu khác hơn mạch sống văn hóa của họ được. Cũng vậy, gọi Khổng Tử là "Thần nhân" thì ý nghĩa của chữ "Thần" này không thể hiểu theo một mạch văn hóa khác được (tỉ dụ như thánh nhân theo nghĩa hẹp của Giáo Hội Công Giáo). Cũng thế, những hạn ngữ như "Altare", "Sacrificium", genuflectio, templum... là những từ ngữ tùy theo nền văn hóa Âu Châu hay Trung Hoa, Việt Nam mà mang một ý nghĩa khác nhau. Nếu dùng cái nhìn của nền văn hóa Âu châu phán đoán những hiện trạng của nền văn hóa Á Châu tức là đã tách những dự kiện, hình ảnh tượng trưng ra khỏi mạch sống văn hóa. Nếu hai nền văn hóa đó quá khác nhau và chưa hiểu nhau được, thì làm sao tránh khỏi được những ngộ nhận. Nếu quyền phán quyết dành cho một phía khi chưa thấu triệt vấn đề thì phán đoán đó làm sao tránh khỏi những thiên kiến?

Tóm lại, cuộc tranh chấp "lễ nghi" nói lên những khó khăn mà một thần học bản vị hóa trong một môi trường cụ thể đã gặp phải và dần dần vượt qua. Cuộc tranh chấp trên không những chỉ bộc lộ hai phe đứng trên hai phạm vi khác nhau để nhìn một vấn đề mà cũng đứng trong những giai đoạn tiến tới thần học bản vị hóa khác nhau, nên gặp nhau trong đối thoại. Sự tranh chấp lễ nghi trở thành một thảm kịch trong lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông, vì giải quyết sự tranh chấp đã không nằm trong mạch sống đó, nhưng ở ngoài và ở trên mạch sống văn hóa, nên không thấu đáo được những nhu cầu sống của giáo hội địa phương.

Như vậy, đề cập tới vấn đề "Ông Bà Tổ Tiên" có liên quan tới việc truyền giáo tức là phản tỉnh một nền thần học bản vị hóa. Bản vị hóa không có nghĩa là chỉ hội nhập và chấp nhận những gì có sẵn trong nền văn hóa đó, nhưng đồng thời cũng thăng hóa những giá trị đó. Vậy theo đó ý nghĩa của lễ nghi đối với ông bà tổ tiên là gì? Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ tiên là cách bày tỏ lòng hiếu đễ, tức là thực thi một bổn phận luân lý, thì chưa chứng minh lý do tại sao con người đòi buộc phải thực hành luân lý như vậy. Nếu ta coi sự đòi buộc đó là một sự tự minh (self-evident) thì hoặc là rơi vào chủ nghĩa độc đoán (dogmatism) hoặc chủ trương thuyết "vô tri thức" (agnosticsm) như khuynh hướng của một số nhà nho tân thời ở Ðài Loan hiện nay. Cả hai khả thể trên chỉ là né tránh vấn đề mà không giúp chúng ta hiểu tại sao con người phải thi hành bổn phận luân lý với tổ tiên. THực ra khi những nhà truyền giáo dòng Tên chủ trương coi lễ nghi tôn kính ông bà thuộc phạm vi luân lý, họ tin rằng một khi đã tìm ra ý nghĩa nguyên ủy và chính yếu của lễ nghi này, họ có thể giáo dục quần chúng gọi bỏ những mê tín mọc rườm rà bên ngoài và cuối cùng có thể biến hóa những bổn phận luân lý đó cho họp với niềm tin Kitô giáo. Như vậy, mặc dù học nhấn mạnh "lễ nghi" này thuộc phạm vi luân lý, nhưng ngầm xác định cn bản của luân lý không thể tách rời khỏi niềm tin tôn giáo được. Mối liên hệ giữa luân lý và tôn giáo này có thể dùng tư tưởng sẵn có trong kinh điển Trung Hoa như niềm tin "Thiên nhân tương dữ" và "vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ" để giải thích. Theo đó tôn kính ông bà không thể độc lập với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc kính Thiên được, vì con người cũng là thành phần của vạn vật mà nguyên ủy của vạn vật là Thiên. Hiểu như thế, việc tôn kính ông bà tổ tiên không những không phản với đạo Công Giáo mà còn bộc lộ được tính cách đặc biệt đông phương, đạo hiếu của người Việt, đồng thời qua việc đưa hành động tôn kính này hòa hợp với tinh thần Kitô giáo, chúng ta vừa thăng hóa vừa qui tụ những giá trị luân lý và những hình thức bày tỏ trên về cội gốc của muôn loài: chúng ta hiếu thảo cha mẹ vì Chúa là Cha chúng ta đã dậy như thế. Nói cách khác, một khi việc tôn thờ "Trời". "Thượng Ðế"... những danh từ chỉ Thiên Chúa ẩn hình (Deus absconditus) được niềm tin do Ðức Kitô mặc khải soi chiếu, canh cãi và hoàn hảo hóa, thì những hành động có tính cách nhân bản của một nền văn hóa cũng được xác định và thăng hóa theo đúng mức nahn bản của nó.

4. Kết luận

Thảo luận việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ tới việc truyền giáo là dịp may hiếm có để chúng ta suy tư về một khía cạnh của nền thần học bản vị hóa Việt Nam. Trong bài học lịch sử trên chúng ta nhận ra hậu quả của một cuộc tranh chấp lễ nghi mà đã bị tách rời khỏi mạch sống văn hóa và bị phán quyết do những người chưa thấu đáo ý nghĩa của nó. Tấm bi kịch này là một điển hình của bước khó khăn trong cuộc gặp gỡ của hai nền văn hóa cổ truyền, mạnh mẽ nhưng khác nhau, khi hai nền văn hóa đó thiếu uyển chuyển nên ngăn cản việc thăng hóa tới một hợp đề bao gồm một nền nhân bản phong phú hơn. Sau công đồng Vaticanô II việc tích cực tìm hiểu nền văn hóa địa phương, xác định những giá trị nhân bản chân chính của những tôn giáo khác, những luồng tư tưởng khác trở thành một nhu cầu thường nhật của mỗi giáo hội địa phương. Chúng ta nghiên cứu việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ với việc truyền giáo ở Việt Nam, ở Trung Hoa, không phải để nuối tiếc một dịp may đã qua, nhưng quan trọng hơn là tìm thấy những ý nghĩa có liên quan tới cuộc sống đạo hiện tại của chúng ta. Nói cách khác sau khi đã nhận định lòng hiếu thảo là một giá trị nhân bản căn bản của nền văn hóa ảnh hưởng nho học, và ý thức được những lễ nghi tôn kính khác với những mê tín dị đoan, chúng ta tự hỏi, chúng ta có thể thực hiện những hình thức, "lễ nghi" nào để biểu tỏ lòng thành kính, hiếu đễ của chúng ta? Nhưng để những nghi thức đó không rơi vào trạng thái "vụ hình thức" "cố chấp" chiếu lệ. điều quan trọng nhất là tấm lòng người Việt thành kính mà chúng ta có thể gọi là "Tâm Việt". Tâm Việt đối với ông bà tổ tiên là một khía cạnh biểu lộ của Tâm Việt. Khía cạnh này không thể tách rời khỏi lòng thành đối với Thượng Ðế được, nếu không Tâm Việt này sẽ thiếu nguồn sống và trở thành độc đoán. Bởi đó Tâm Việt là nguồn sống của "Việt tính". Dĩ nhiên Tâm Việt này còn có thể biểu lộ theo những cách thế khác tùy theo ta nhìn từ Phật Giáo hay Lão Giáo mà trong bài này chúng ta không có dịp để bàn tới. Có Tâm Việt như vậy chúng ta mới có thể bước thêm một bước nữa là đi tìm một hợp đề của Tâm Việt trong môi trường cụ thể mà chúng ta đang sống ở hải ngoại này. Hợp đề này là một mức độ nhân bản cao hơn vì nó được cải hóa và bổ túc do hai nền văn hóa khác nhau. Tiên chuẩn canh cải và hoàn thiện này không gì khác hơn là một nhân bản thuần túy: Hiện Thân của một mẫu mực Thiên Nhân tương dữ, Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Chúa Nhập Thể.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ông Bà Tổ Tiên

Tướng mặt đàn ông yêu vợ thương con

Tướng mặt đàn ông yêu vợ có những đặc điểm nào dễ nhận biết. Hãy cùng ## tìm hiểu vấn đề này nhé.
Tướng mặt đàn ông yêu vợ thương con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Đàn ông có tướng mũi thẳng, cánh mũi đầy đặn không những hết lòng hết dạ với vợ con, mà còn mang lại phúc khí dồi dào, thúc đẩy vận khí của vợ tăng lên. Theo đó, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, hôn nhân viên mãn.
 

  1. Sống mũi thẳng, cánh mũi đầy đặn   Mũi chính là tài khố. Sống mũi thẳng, hai cánh mũi đầy đặn là dấu hiệu cho thấy vận thế sự nghiệp hanh thông, tài lộc dồi dào. Nếu có thêm đặc điểm lỗ mũi tròn đầy, thì đây đích thị là tướng mặt đàn ông yêu vợ.   Đàn ông có tướng mũi như vậy không những hết lòng hết dạ với vợ con, mà còn mang lại phúc khí dồi dào, thúc đẩy vận khí của vợ tăng lên. Theo đó, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, hôn nhân viên mãn.  
Tuong mat dan ong yeu vo thuong con hinh anh 2
 
2. Cung Điền Trạch đầy đặn   Cung Điền Trạch nằm ở vị trí giữa lông mày và mắt. Trong 12 cung tướng mặt, cung này biểu thị của cải, tài sản, đất đai của một người được thừa hưởng hoặc sở hữu.   Đàn ông có cung Điền Trạch đầy đặn, sáng sủa thường được sở hữu hay thừa kế khối tài lớn, bản thân họ cũng nỗ lực hết mình để duy trì và phát huy cơ nghiệp tổ tiên để lại.   Người này sẽ là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho vợ con. Cuộc sống sau hôn nhân khá viên mãn, vợ chồng yêu thương nhau, chồng trợ lực lớn cho vợ, cả hai cùng kề vai sát cánh thực hiện những mục tiêu lớn của gia đình. Đời sống vật chất ngày càng đi lên, giàu có.   Tướng mặt những quý cô có thể “tùy biến” số phận của chính mình Tránh xa tướng mặt phụ nữ đi tới đâu gieo rắc tai họa tới đó 5 tướng mặt có cát tinh che chở năm 2016
3. Thiên Đình tròn đầy, chất tóc mềm mượt
  Thiên đình chính là phần trán trên khuôn mặt. Đây cũng là vị trí của cung Sự nghiệp. Thiên đình đầy đặn, sáng sủa chứng tỏ chủ nhân dễ gặt hái thành công trong sự nghiệp.   
Tuong mat dan ong yeu vo thuong con hinh anh 2
 
Đàn ông có Thiên Đình tròn đầy, cộng thêm với chất tóc mềm mại, tính tình điềm đạm, dễ gần. Trong tình yêu, họ hết mực chiều chuộng đối phương. Bản thân người này chính là nguồn sinh khí thúc đẩy vận khí của vợ thêm vượng. Quý cô lấy được chồng này cuộc sống không khác gì phu nhân quyền quý.   Đàn ông có tướng mặt này, phúc mỏng vận xui Bạn hiểu thế nào về xem bói tướng mặt? Quan sát tướng mặt của người khó thành công, dễ thất bại
4. Lông mày dài, không quá rậm
  Đàn ông có tướng lông mày dài nhưng không quá rậm thường lấy được vợ xinh xắn, ngoan hiền. Nếu có thêm đặc điểm đôi mắt nhìn có thần thái đường hoàng, nhất định là bậc trượng phu, mang lại hạnh phúc viên mãn cho vợ con, gia đình.  
Tuong mat dan ong yeu vo thuong con hinh anh 2
 
5. Đôi môi căng đầy, răng khít   Đàn ông môi căng đầy, răng khít thường có tính tình đôn hậu, chân thành, làm việc chu đáo, coi trọng tín nghĩa. Đến trung vận thì khả năng phát tài rất lớn, cuộc sống muôn phần sinh động.    Bản thân tài vận của người này cũng rất vượng, lại còn có thể thúc đẩy vận khí của nửa kia thêm tốt đẹp. Nhìn chung, cuộc sống hôn nhân, gia đình hài hòa, hạnh phúc.   6. Cằm tròn đầy   Đàn ông sở hữu chiếc cằm rộng mà tròn đầy thường lập nên đại nghiệp từ đôi bàn tay trắng, đời sống vật chất dư thừa.    Người này thuộc tuýp cẩn trọng, tỉ mỉ và chu đáo. Trong tình yêu, họ luôn là chỗ dựa vững vàng cho đối phương cả về tinh thần và vật chất. Có được ông xã như vậy, bạn tha hồ hưởng phúc.   Ngân Hà  
Xem phong thái đi đứng của đàn ông có số làm quan
– Nhìn nhanh một vài tư thế đi đứng của các anh chàng dưới đây, quý cô sẽ biết tướng đàn ông có số làm quan để trao thân gửi phận suốt cuộc

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng mặt đàn ông yêu vợ thương con

Hóa giải sao xấu và hạn Thái Tuế bằng vật phẩm phong thủy - Phong thủy - Xem Tử Vi

Hóa giải sao xấu và hạn Thái Tuế bằng vật phẩm phong thủy, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Hóa giải sao xấu và hạn Thái Tuế bằng vật phẩm phong thủy, tu vi Hóa giải sao xấu và hạn Thái Tuế bằng vật phẩm phong thủy, tu vi Phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hóa giải sao xấu và hạn Thái Tuế bằng vật phẩm phong thủy

Theo quan niệm người xưa, mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh, tất cả có 9 ngôi sao, cứ 9 năm lại luân phiên trở lại. Có sao tốt có sao xấu. Gặp sao tốt thì sức khỏe, công danh, tình cảm thuận lợi, gặp sao xấu thì ngược lại. Trong 9 sao chiếu mạng thì mỗi sao đều có ngũ hành riêng. 

Cụ thể từng sao có ngũ hành như sau: Sao La Hầu (hành Kim, xấu), Sao Kế Đô (hành Thổ, xấu), Sao Thái Dương (hành Hỏa, tốt), Sao Thái Âm (hành Thủy, tốt), Sao Mộc Đức (hành Mộc, tốt), Sao Vân Hớn, hoặc Văn Hán (hành Hỏa, xấu), Sao Thổ Tú (hành Thổ, xấu), Sao Thái Bạch (hành Kim, xấu), Sao Thủy Diệu (hành Thủy, tốt).

Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạnhằng tháng tại nhà ở, và phải làm lễ giải hạn sao xấu liên tục trong 12 tháng mới đúng bài bản, chứ không phải cúng giải hạn 1 lần vào đầu năm là xong, với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.

Tuy nhiên việc cúng sao giải hạn trong 12 tháng cho đúng bài bản vào các ngày cố định của từng vị sao, không phải ai cũng thực hiện được với nhiều lý do riêng của mỗi người.Vì vậy để tiện cho việc hóa giải ngũ hành của từng sao xấu, người bị sao hạn chiếu có thể đeo vật phẩm phong thủy cho phù hợp để hóa giải ngũ hành của sao xấu hoặc tăng cường cát khí của ngũ hành sao tốt. Cụ thể:

Sao La Hầu

Khẩu thiệt tinh, chủ về ăn nói thị phi, hay liên quan đến công quyền, nhiều chuyện phiền muộn, bệnh tật về tai mắt, máu huyết. Nam rất kỵ, nữ cũng bi ai chẳng kém. Kỵ tháng Giêng, tháng Bảy. Sao này ảnh hưởng nặng cho nam giới về tai tiếng, thị phi, kiện thưa, bệnh tật, tai nạn. 

Sao La Hầu thuộc hành Kim, nên dùng hành Thủy để tiết khí hành Kim của sao xấu, như đeo trang sức đá quý màu đen, màu xám, màu xanh biển như: Thạch anh đen, Thạch anh tóc đen, thạch anh tóc tiên đen, hoặc đá mã não xanh dương, đá thanh kim xanh đậm…

Sao Kế Đô

Hung tinh, kỵ tháng Ba và tháng Chín, nhất là nữ giới. Chủ về ám muội, thị phi, đau khổ, hao tài tốn của, họa vô đơn chí; trong gia đình có việc mờ ám. Sao Kế Đô thuộc hành Thổ nên dùng hành Kim để tiết khí hành Thổ của sao xấu, như đeo đá quý màu trắng như Thạch anh trắng…

Sao Thái Dương

Thái dương tinh (mặt trời) tốt vào tháng Sáu, tháng Mười, nhưng không hợp cho nữ giới. Chủ về an khang thịnh vượng, nam giới gặp nhiều tin vui,phong thuy tài lộc còn nữ giới lại thường gặp tai ách. Sao Thái Dương là tinh quân tốt nhất trong các sao hạn cho nam giới như Rồng lên mây, chiếu mệnh tháng 6, tháng 10, lộc đến túi đầy tiền vô. Mệnh ai chịu ảnh hưởng của sao này đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, tài lộc hưng vượng, phát đạt.

Sao Thái Dương thuộc hành Hỏa, nên dùng màu đỏ, màu hồng, màu tím để tăng cường cát khí của sao tốt chủ về tài lộc, như đeo trang sức đá quý màu đỏ, màu hồng, màu tím như: Thạch anh tím, Thạch anh hồng, mã não đỏ, Thạch anh tóc đỏ, Thạch anh hồng ưu linh, Ruby đỏ… Hoặc dùng màu xanh lá thuộc hành Mộc, để Mộc sinh Hỏa càng thêm tốt, như đeo đá quý màu xanh lá.

Sao Thái Âm

Chủ dương tinh (mặt trăng), tốt cho cả nam lẫn nữ vào tháng Chín nhưng kỵ tháng Mười. Chủ về danh lợi, hỉ sự. Sao Thái Âm thuộc hành Thủy, nên dùng màu đen để tăng cường cát khí hành Thủy của sao tốt chủ về danh lợi, hỉ sự, như đeo trang sức đá quý màu đen, màu xám, màu xanh biển như: Thạch anh đen, Thạch anh tóc đen, thạch anh tóc tiên đen, hoặc đá mã não xanh dương, đá thanh kim xanh đậm… 

Hoặc dùng màu trắng thuộc hành Kim, để Kim sinh Thủy càng thêm tốt, như đeo đá quý màu trắng như: Thạch anh trắng…

Sao Mộc Đức

Triều ngươn tinh, chủ về hôn sự, nữ giới đề phòng tật bệnh phát sinh nhất là máu huyết, nam giới coi chừng bệnh về mắt. Tốt vào tháng Mười và tháng Chạp âm lịch. Sao Mộc Đức thuộc hành Mộc, nên dùng màu xanh lá thuộc hành Mộc, để tăng cường cát khí của sao tốt chủ về tình duyên, hôn nhân, hạnh phúc, như đeo trang sức đá quý màu xanh lá như: Ngọc phỉ thúy… 

Hoặc dùng màu đen thuộc hành Thủy, để Thủy sinh mộc càng thêm tốt, như đeo đá quý màu đen hoặc màu xanh dương như: Thạch anh đen, Thạch anh tóc tiên đen, Lam Bảo (Ngọc lam)…

Sao Vân Hớn (hoặc Văn Hán)

Tai tinh, chủ về tật ách, xấu vào tháng Hai và tháng Tám âm lịch. Nam gặp tai hình, phòng thương tật, bị kiện thưa bất lợi; nữ không tốt về thai sản, nên đề phòng gặp chuyện quan sự, trong nhà không yên, khó nuôi súc vật. 

Sao Vân Hớn thuộc hành Hỏa, nên dùng hành Thổ để tiết khí hành Hỏa của sao xấu, như đeo trang sức đá quý màu vàng, màu nâu như: Thạch anh vàng, Thạch anh tóc vàng, Thạch anh ưu linh nâu, hổ phách…

Sao Thổ Tú

Ách tinh, chủ về tiểu nhân, xuất hành đi xa không lợi, có kẻ ném đá giấu tay sinh ra thưa kiện, gia đạo không yên, chăn nuôi thua lỗ. Xấu tháng Tư, tháng Tám âm lịch, trong nhà nhiều chuyện thị phi, chiêm bao quái lạ, không nuôi được súc vật, chẳng nên đi xa và đêm vắng. Sao Thổ Tú thuộc hành Thổ, nên dùng hành Kim để tiết khí hành Thổ của sao xấu, như đeo trang sức đá quý màu trắng như: Thạch anh trắng…

Sao Thái Bạch

Triều dương tinh, sao này xấu cần giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, đề phòng quan sự. Xấu vào tháng Năm âm lịch và kỵ màu trắng quanh năm, nữ mạng sẽ gặp bất lợi, đề phòng tiểu nhân mưu hại hay hao tài tốn của, nhất là ở tháng Năm âm lịch.

Sao Thái Bạch thuộc hành Kim, nên dùng hành Thủy để tiết khí hành Kim của sao xấu, như đeo trang sức đá quý màu đen, màu xanh dương, như: Thạch anh đen, Thạch anh tóc đen, Đá thanh kim xanh dương…

Sao Thủy Diệu

Phước lộc tinh, tốt nhưng cũng kỵ tháng Tư và tháng Tám. Chủ về tài lộc hỉ. Không nên đi sông biển, giữ gìn lời nói (nhất là nữ giới) nếu không sẽ có tranh cãi, lời tiếng thị phi đàm tiếu. 

Để tăng cường cát khí cho sao tốt Phước lộc tinh thuộc hành Thủy, chủ về về tài lộc hỉ, thì đeo trang sức đá quý màu đen, màu xanh dương, để tăng cường cát khí của sao tốt như: Thạch anh đen, Thạch anh tóc đen, Đá thanh kim xanh dương… Hoặc dùng màu trắng thuộc hành Kim, để Kim sinh Thủy càng thêm tốt như đeo đá quý màu trắng.

Hạn Thái Tuế (năm tuổi)

Hạn Thái Tuế, tức là hạn gặp “năm tuổi” thì rất xấu, vì công việc có tiểu nhân ám hại, sự nghiệp gặp khó khăn, mọi việc không thuận lợi, bệnh tật, tai nạn… Nếu gặp trường hợp này thì nên đeo mặt dây chuyền Phật bản mệnh của tuổi đó để hóa giải. 

Ví dụ người tuổi Mùi đến năm Mùi là bị hạn Thái Tuế, tức là hạn gặp “năm tuổi” thì nên đeo Phật bản mệnh tuổi Mùi để được độ mạng bình yên. Ngoài ra tuổi nào đeo Phật bản mệnh của tuổi đó để được độ mạng bình yên.

Phật bản mệnh được phân định theo tuổi (con giáp) như sau:

Tuổi Tý: Quan Âm bồ tát độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh). Người Việt thường gọi là Phật bà nghìn tay nghìn mắt hay Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan thế âm bồ tát.

Tuổi Sửu tuổi Dần: Hư Không Tạng bồ tát độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh), tượng trưng cho sự giàu có, thành thực, là thần tài trong Phật giới.

Tuổi Mão: Văn Thù bồ tát độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh), tượng trưng cho trí tuệ, mở mang trí tuệ, nâng cao ngộ tính, chủ về đường học tập thi cử thuận lợi, tăng khả năng thành đạt trong công việc, thăng tiến.

Tuổi Thìn tuổi Tỵ: Phổ Hiền bồ tát độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh), tượng trưng cho lễ và đức, cho sự hoàn nguyện, nâng cao uy tín, uy quyền, khu trừ tiểu nhân, thực hiện được nguyện vọng, hạnh phúc mỹ mãn.

Tuổi Ngọ: Đại Thế Chí bồ tát độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh), tượng trưng cho sự phát huy trí tuệ, phù hộ cho tuổi này luôn thuận buồm xuôi gió trên đường đời, đem trí tuệ của mình tạo lập sự nghiệp, đạt đến cảnh giới cao nhất của trí tuệ của mình.

Tuổi Mùi tuổi Thân: Đại Nhật như lai độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh), là tượng trưng của sự sáng suốt, của lý trí, hiểu được tinh hoa của đạo lí, cảm nhận linh khí của vũ trụ, vui vẻ, dám nghĩ dám làm.

Tuổi Dậu: Bất Động minh vương độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh), tượng trưng của lý tính, biết đúng biết sai, có thể tự sửa đổi, giỏi nắm bắt thời cơ, vận dụng tốt trí tuệ của mình, tùy cơ ứng biến trong lúc khó khăn, sự nghiệp thành tựu, gia đình hạnh phúc.

Tuổi Tuất tuổi Hợi: A Di Đà phật độ mệnh (cũng gọi là thần hộ mệnh), tượng trưng của sáng suốt vô lượng, thọ mệnh vô lượng, trí tuệ thông thiên địa, giải trừ mọi phiền não, nhọc nhằn vất vả, có khả năng sáng tạo, đem lại lợi ích cho cả gia đình và xã hội, góp công xây dựng sự nghiệp nhà Phật, từ bi hỉ xả cho chúng sinh.

phong thuy, coi phong thuy, phong thuy 2015, vat phong phong thuy
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải sao xấu và hạn Thái Tuế bằng vật phẩm phong thủy - Phong thủy - Xem Tử Vi

Tấm lòng thiện lương của chòm sao Xử Nữ

Người thuộc cung Xử Nữ tao nhã, mẫn cảm, chất phác, trong sáng. Họ có thiên tính vui vẻ, khiêm tốn, thật thà, chăm chỉ.
Tấm lòng thiện lương của chòm sao Xử Nữ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những đặc điểm ấy khiến họ trở thành chỗ dựa của nhiều người.


► Cùng bói cung hoàng đạo để tìm những điều thú vị về bạn

Tam long thien luong cua chom sao Xu Nu hinh anh
 
Người thuộc cung Xử Nữ thích giúp đỡ người khác, không thể ngồi yên không làm gì. Phục vụ người khác là mục tiêu cuộc đời của họ. Họ rất có ích cho các bệnh nhân và người cùng khổ.
 
Những phụ nữ từ thiện nổi tiếng nhất đều sinh ở cung này. Họ bao giờ cũng đầy cảm thông và cứu giúp. Nếu bạn bị nhức đầu, Xử Nữ không chậm chễ chạy đi mua thuốc. Nếu đúng khi đó bạn đang ở nhà Xử Nữ, người đó không cần phải chạy ra hiệu thuốc, vì tủ thuốc ở nhà đã đầy đủ mọi thứ cho mọi sự cố. 
 
Khi thấy người khác gặp khó khăn, Xử Nữ cũng không chậm trễ giúp đỡ. Họ khinh thường thói ngửa tay xin xỏ, sự nghèo hèn, nhưng lại không chần chừ đến giúp bạn bè gặp hoạn nạn. 
 
Xử Nữ là chòm sao có tấm lòng lương thiện và hành động thực tế vì sự lương thiện ấy. Họ yêu cầu nghiêm khắc đối với bản thân, khắt khe với những người thân hoặc đòng nghiệp cấp dưới nhưng lại khá hào phóng và rộng lượng với những kẻ yếu thế. Chòm sao này sẵn sàng dành tiền bạc, thời gian và công sức để giúp đỡ, chăm lo cho những người kém may mắn.
 
Họ làm như vậy xuất phát tử nguyên tắc sống tốt đẹp và sự nhạy cảm của mình. Không thể dửng dưng trước những phận người khổ đau. Tuy nhiên, Xử Nữ cũng là người có lý trí rất mạnh. Họ không bao giờ giúp đỡ người khác một cách vô tội vạ hay nửa vời.
 
Lên kế hoạch chu đáo, chọn đối tượng cẩn thận và giúp đỡ tới cùng. Xử Nữ làm tất cả những điều đó âm thầm, không phô trương, không cần đền đáp, nhưng nhất định phải dành cho người xứng đáng.
Theo Mật ngữ 12 chòm sao 
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tấm lòng thiện lương của chòm sao Xử Nữ

Chùa Hoằng Ân - Hà Nội

Chùa Hoằng Ân còn có tên thường gọi là chùa Quảng An, Chùa tọa lạc tại xã Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Đây là một trong số ít những ngôi chùa cổ ở Hà Nội
Chùa Hoằng Ân - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Hoằng Ân còn có tên thường gọi là chùa Quảng An, Chùa tọa lạc tại xã Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Đây là một trong số ít những ngôi chùa cổ ở Hà Nội đã nghìn năm tuổi, được xây dựng từ thời nhà Lê. Trải qua thời gian biến cố lịch sử, đến nay chùa vẫn giữ được những nét cổ kính. Mỗi ngày nơi đây đều có đông phật tử đến tham quan cúng bái.

Lịch Sử: Chùa Hoằng Ân (Quảng Bá) được Thiền sư Ngộ Ấn tạo dựng, ban đầu chỉ là một am thờ Phật, sau dựng thành chùa và có tên là Báo Ân tự (chùa Báo Ân). Trải qua thời gian dài Báo Ân Tự vừa là nơi thờ Phật cũng là nơi sinh hoạt văn hóa, tâm linh của cộng đồng dân cư.

Vào năm Vĩnh Tộ thứ 10 đời Lê Thần Tông (1628) chùa được xây dựng lớn bởi công chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Hoàng đế Nguyễn Hoàng, vợ chúa Trịnh Tráng (1623 – 1657), sau đó chùa được đổi tên thành chùa Long Ân. Năm Minh Mạng thứ hai (1821), nhân chuyến tuần du ra Bắc, Vua đã đến thăm chùa, lúc này chùa được đổi tên thành Sùng Ân tự. Năm Tân Sửu (1841) Vua Thiệu Trị đến thăm chùa Sùng Ân cho tu sửa lại chùa và đổi thành chùa Hoằng Ân.

Ngay từ khi ra đời chùa đã là một danh lam của kinh thành Thăng Long, chùa cũng từng là nơi ngự giá, thăm viếng của các bậc đế vương. Dưới thời Trần Anh Tông, Tam Tổ Huyền Quang từ núi Yên Tử cũng chọn nơi đây để giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm. Triều Nguyễn vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị đều chọn chùa là nơi dừng chân vãn cảnh.

Kiến Trúc: Chính chùa gồm Tiền Đường và hậu cung: có 5 gian lợp ngói, bờ nóc và bờ dài chạy thẳng, chính giữa đắp hổ phù đội mặt trời. Phía trước hiên là hai cột trụ trên nóc đắp hình búp sen. Kiến trúc chùa chủ yếu làm theo lối bào trơn đóng bên với hình thức chồng giường, con nhị kèo ngồi xa nách. Gian giữa có hệ thống cửa bức bàn. Các mảng chạm kỹ lưỡng với những mảnh chạm điển hình nơi xứ Huế. Nền chùa và Hậu cung được lát gạch Bát Tràng. Hậu cung 3 gian xây liền với Tiền Đường tạo cho chùa chính có dạng chuôi vồ.

Ngôi chính điện này trước đây được xây trên gò tam cấp, đến nay vẫn còn nguyên vẹn, chưa có sửa chữa gì, gần đây vào năm 2002 được sự quan tâm của các cấp chính quyền chùa đã nâng cấp xung quanh như: xây tường bao khuôn viên, đường vào và xây kè hồ. Chùa trước đây nuôi dấu cán bộ, có hầm nằm trong khuôn viên nhà Tổ, mỗi khi có địch đến, nhà sư liền gõ mõ, đập gậy làm tín hiệu báo cho chiến sĩ ta.

Chùa Hoằng Ân hiện nay còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật quý: gồm có 2 quả chuông đồng (Quả lớn được đúc thời vua Lê Hiển Tông (1743), cao 1,5m, đường kính 0,8m; vai chuông khắc nổi bốn chữ Hán “Long Ân Tự chung”, Quả chuông nhỏ được đúc vào thời Nguyễn); 33 tấm bia từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 20; 30 Pho tượng có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20. Hệ thống tượng tròn của chùa còn khá đầy đủ với những pho tượng có giá trị nghệ thuật cao như tượng Quan âm Nam Hải, các Pho tượng Tam Thế, A Di Đà tạc vào thế kỷ 17- 18.

Tam bảo chùa
Tam bảo chùa

Với giá trị lịch sử – văn hóa và thế đắc địa mà thiên nhiên ban tặng, nhìn ra Hồ Tây mênh mông, chung quanh là những vườn quất trĩu quả, chùa Hoằng Ân là một trong những điểm văn hóa – du lịch của thành phố thu hút khách muôn nơi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Hoằng Ân - Hà Nội

Top 3 con giáp có lòng bao dung vô bờ bến

Điển hình nhất là người tuổi Thìn với tấm lòng đồng cảm lớn cũng như luôn ý thức được trách nhiệm sâu sắc trong mọi việc.
Top 3 con giáp có lòng bao dung vô bờ bến

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Top 1. Tuổi Thìn

1-3972-1408414438.jpg

Người tuổi Thìn thông minh linh hoạt, gan dạ hơn người. Họ tràn trề sức sống, không chịu khuất phục, có tấm lòng đồng cảm lớn cũng như luôn ý thức được trách nhiệm sâu sắc với mọi việc. Họ nhiệt tình, phóng khoáng, có quan hệ tốt với mọi người. Nếu quen biết lâu với người tuổi Thìn bạn sẽ biết họ thích náo nhiệt, không thích gây bất hòa, xích mích hay phân chia rạch ròi, biết đối nhân xử thế, giải quyết mọi việc đều hào phóng, tuyệt đối sẽ không để bụng vì những chuyện nhỏ nhặt. Người khác có sai sót thì họ cũng chỉ nói đạo lý mà thôi.

Top 2. Tuổi Tuất

2-3944-1408414439.jpg

Người tuổi Tuất bản tính chính trực, lương thiện, khả năng quan sát nhạy bén, phản ứng nhanh, rất chuộng nghĩa khí và tinh thần trách nhiệm, có tấm lòng đồng cảm. Người tuổi Tuất ghét nhất những kẻ giả tạo, ra vẻ ta đây; coi thường nhất những kẻ dối trá, bịp bợm. Họ biết cách đối nhân xử thế, cư xử với mọi người bằng sự chân thành. Các mối quan hệ xã hội của họ cũng rất tốt, làm việc gì cũng đến nơi đến chốn, không bao giờ bỏ dở giữa chừng.

Top 3. Tuổi Sửu 

3-6130-1408414439.jpg

Người tuổi Sửu tính tình trung hậu thật thà, chất phác, thận trọng và ôn hòa. Tuy có lúc hơi chậm chạp, không biết ứng biến linh hoạt nhưng họ lại là người rất quý trọng tình cảm, trọng tình trọng nghĩa. Người tuổi Sửu bản tính lương thiện, thích giúp đỡ người khác. Vì vậy, họ rất dễ tin người, đương nhiên cũng... dễ bị lừa. Lòng bao dung của người tuổi Sửu tuy có kém hơn hai con giáp trên một chút, nhưng vẫn được xem là mạnh so với các con giáp khác!

Nhật Băng


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 3 con giáp có lòng bao dung vô bờ bến

Bày Rùa kích thích tài lộc, may mắn

Theo phong thủy, Rùa được xem là con vật thiêng liêng mang lại nhiều điềm lành và tài lộc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có một vài điều trong cuộc sống đến như một phần thưởng khiến bạn có cảm giác mình đang được hỗ trợ.

Theo phong thủy, sự hỗ trợ có thể đến dưới nhiều hình thức như sự giúp đỡ của bạn bè, những giúp đỡ kịp thời vào thời điểm quan trọng và các cơ hội kinh doanh, sự nghiệp, công việc được thực hiện khi bạn cần chúng.

Có một con vật thiêng liêng trong phong thủy có thể mang đến cho bạn những yếu tố tốt đẹp trên, đó là Rùa.

 bay rua kich thich tai loc, may man - 1

Rùa là 1 trong 4 tứ linh, 4 thần thú trấn giữ 4 phương. Những con vật đó là: rồng xanh (Đông), chim chu tước (Nam), hổ trắng (Tây), rùa (Bắc).

Rùa được xem là con vật thiêng liêng mang lại nhiều điềm lành và tài lộc. Rùa còn là biểu tượng của sự trường thọ. Mọi người đều hưởng được lợi ích từ sự hiện hữu của rùa. Ngoài ra, rùa còn là vật bảo vệ ở hướng Bắc, là hướng chủ đề tài lộc của bạn.

 bay rua kich thich tai loc, may man - 2

Sử dụng 6 lời khuyên sau để tăng thu nhập, sự hỗ trợ và may mắn trong cuộc sống với sự giúp đỡ tuyệt vời của những chú rùa:

1. Tích lũy để giàu có hơn

Đặt một bức tượng hoặc hình ảnh Rùa ở hướng Đông Nam là một cách để phát triển tiền bạc của bạn. Trên thực tế, nếu có thể nuôi một con Rùa và đặt ở hướng này không chỉ giúp các khoản đầu tư của bạn phát triển mà còn bảo vệ của cải cho bạn. Yếu tố mộc ở hướng Đông Nam chỉ thích hợp với năng lượng của nước, vì thế, bạn nên nuôi rùa nước ở đây hoặc có thể đặt một đài phun nước cùng một con rùa là cách kích hoạt sự giàu có tuyệt vời nhất.

 bay rua kich thich tai loc, may man - 3

2. Tạo nên giấc ngủ ngon

Đặt một chú Rùa nhỏ dưới giường ngủ của bạn để giúp bạn ngủ ngon hơn vào ban đêm. Sự hỗ trợ được bổ sung mang đến cho bạn giây phút nghỉ ngơi thoải mái cùng cảm giác được bảo vệ trong khi đang ngủ. Nó cũng thu hút nhiều thu nhập hơn và các cơ hội cho bạn trong lúc bạn ngủ.

3. Tăng thêm cơ hội thu nhập

Thêm một biểu tượng hoặc hình ảnh của Rùa trong phòng làm việc của bạn sẽ làm tăng sự hỗ trợ và sự công nhận tại nơi làm việc – không đề cập đến các cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp – và kiếm được nhiều tiền hơn. Đặt một đồng tiền xu Trung Quốc vào miệng con rùa để tượng trưng cho tiền bạc sắp xuất hiện.

 bay rua kich thich tai loc, may man - 4

4. Tăng khả năng kiếm tiền

Đặt một biểu tượng hoặc hình ảnh con Rùa ở hướng Bắc trong phòng khách để tăng thu nhập và cơ hội tạo ra thu nhập nhiều hơn trong công việc.

5. Cải thiện sức khỏe

Nếu bạn muốn những mối quan hệ gia đình hạnh phúc và tốt đẹp hơn, sức khỏe dồi dào hơn, hãy đặt một con rùa ở hướng Đông của ngôi nhà hoặc phòng khách để cải thiện cả hai lĩnh vực trong cuộc sống của bạn. Rùa – biểu tượng của yếu tố thủy sẽ làm tăng cường góc mộc trong nhà. Sự tăng trưởng cũng đại diện cho sự mở rộng.

 bay rua kich thich tai loc, may man - 5

6. Con Rồng và Rùa cải thiện sự nghiệp của bạn

Nếu bạn đang tìm kiếm những cơ hội tăng thêm thu nhập một cách nghiêm túc, hãy cân nhắc đặt một con rồng và rùa tại văn phòng. Những sinh vật này là hiện thân của sức mạnh (rồng) và sự bảo vệ, sức ảnh hưởng (rùa) và đều tạo kích thích sự may mắn trong công việc và kinh doanh phát triển hơn.

Nên nhớ, không được đặt rùa hoặc rồng trực diện với bạn vì sức mạnh của chúng là quá lớn. Nếu đặt trên bàn thì phải đặt lệch sang một phía hoặc tốt nhất nên đặt trên một chiếc bàn phía sau lưng. Thêm một đồng xu vào miệng của chung để tượng trưng cho thu nhập tăng trưởng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bày Rùa kích thích tài lộc, may mắn

Xem tướng người tốt (Phần 1)

Trong nhân tướng học, tướng rồng, tướng phượng, tướng kì lân...là tướng người tốt, có cuộc sống giàu sang, phú quý.
Xem tướng người tốt (Phần 1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Xem tuong nguoi tot (Phan 1) hinh anh
Ảnh minh họa
  1. Tướng rồng

Đặc điểm: Thân hình cao lớn, dáng đi vững chãi, sắc mặt hồng hào, ánh mắt uy nghiêm, giọng nói ôn hòa, lông mày dài và rậm. 
 
Tính cách: Người có tướng rồng khá quyết đoán, khả năng xử lí công việc nhanh chóng, hợp lí. Trong quan điểm nhân tướng thời xưa, đây là tướng đế vương, nắm giữ quyền hành lớn trong tay, thường có địa vị cao trong xã hội và là tướng người tốt, biết giúp đỡ người yếu thế.
 
2. Tướng phượng

Đặc điểm: Thân hình dong dỏng cao, đôi mắt thon dài, chân mày nhỏ hẹp, thần sắc uy nghi, giọng nói trong trẻo. 
 
Tính cách: Người có tướng phượng thường có cuộc sống giàu sang phú quý và được vang danh trong thiên hạ.
 
3. Tướng kì lân

Đặc điểm: Thân hình vừa phải, ngực rộng, rắn chắc và hơi ưỡn về phía trước, trán cao mắt sáng, chân mày đen rậm, giọng nói rõ ràng, to tát.
 
Tính cách: Chủ nhân của tướng kì lân là người “ăn to nói lớn”, có thể làm nên sự nghiệp hiển hách cho đời.
 
4. Tướng sư tử
 
Đặc điểm: Thân hình cao to, vai rộng và nở, lưng to, chân tay rắn chắc, miệng rộng môi dày, mắt lớn đầy uy lực, tiếng nói ầm vang, trán gồ cao.
 
Tính cách: Người có tướng sư tử rất thông minh, mưu trí, văn võ song toàn. Họ chính trực, thẳng thắn nên dễ “mất lòng trước, được lòng sau”.
 
5. Tướng voi
 
Đặc điểm: Thân hình to lớn và nặng nề, bước đi chậm chạp, dáng ngồi nghiêm chỉnh, môi dày, mũi thấp.
 
Tính cách: Người có tướng này tuy không nhanh nhẹn thông minh nhưng lại hiền hậu, suy nghĩ chín chắn và làm việc chăm chỉ nên có cuộc sống giàu sang khi về hậu vận.
 
6. Tướng tê giác

Đặc điểm: Thân hình to lớn, trán cao rộng, lông mày rậm rạp, đầu tròn, mắt nhỏ nhưng hơi lồi, hai tai nhỏ nhưng dày.
 
Tính cách: Đây là tướng tốt. Người này có sức khỏe cường tráng, ít bệnh tật, sống thọ và có cuộc sống sung túc, giàu có.

7. Tướng khỉ

Đặc điểm: Thân hình nhỏ, vừa phải, trán nhô cao về phía trước, hai mắt đen tròn, lưỡng quyền nổi cao.
 
Tính cách: Người có tướng khỉ vô cùng lanh lợi, mưu trí và cuộc sống sung túc nhưng có điểm hạn chế là khá háo sắc.
 
8. Tướng ngựa

Đặc điểm: Khuôn mặt rất dài và hẹp dần ở phía dưới, miệng rộng, răng to, lưng dài.
 
Tính cách: Người có tướng này thường chăm chỉ, khoan dung, cuộc sống những năm đầu đời tuy vất vả nhưng hậu vận tốt, hưởng phúc an lành.
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng người tốt (Phần 1)

Lý giải lá số: giải mã bí ẩn cuộc đời

Một bài viết rất hay về phương pháp giải đoán lá số tử vi của tác giả Lâm Canh Phàm. Mời các bạn cùng đọc tham khảo
Lý giải lá số: giải mã bí ẩn cuộc đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong Tử vi đẩu số khi các lá số được sắp xếp, điều quan trọng nhất là xem cát hung của cung Mệnh, xem có được sinh vượng (cung vị của Trường sinh, Đế vượng), Mộ khố (cung Sửu là Kim khố, cung Mùi là Mộc khố, cung Thìn là Thủy khố, cung Tuất là Hỏa khố), sao Lộc tồn và sao Thiên mã rơi vào Không vong hay không, trong đó lấy sao Địa không, sao Tiệt lộ Không vong là đáng ngại nhất, Tuần không xếp ở vị trí thứ hai. Sao Mệnh chủ phạm Không vong là bất lợi nhất, sau đó sao Thân chủ phạm Không vong xếp ở vi trí tiếp theo. Sao Lộc tồn phạm Không vong, thì phát cũng không liền; sao Thiên mã phạm Không vong, thì cả đời bôn ba, mà tốn công vô ích. Nếu sao Lộc, Mã, Mệnh chủ và Thân chủ phạm Không vong, nhất định phải dựa vào thuộc tính Ngũ hành của cung vị của sao đó để phán đoán cát hung. "Kim không sẽ kêu", "Hoả không sẽ phát", đại hạn và tiểu hạn gặp phải mà được phúc. "Thủy không thì trôi nổi, Mộc không thì gãy, Thổ không thì sụt lún".

Tiếp đến là xem nạp âm mệnh chủ của Ngũ hành cục của bản mệnh thuộc sao nào. Mệnh Thủy nhị cục, lấy sao Phá quân là nạp âm mệnh chủ; mệnh Mộc tam cục, lấy sao Tham lang là nạp âm mệnh chủ; mệnh Kim tứ cục, lấy sao Vũ khúc làm nạp âm mệnh chủ; mệnh Thổ ngũ cục thì lấy sao Cự môn làm nạp âm mệnh chủ; mệnh Hỏa lục cục thì lấy sao Liêm trinh là nạp âm mệnh chủ. Lấy hung cát mà nạp âm mệnh chủ rơi vào vị trí của cung để phân biệt họa phúc, cát hung. Nếu cung vị đó là sinh vượng, hoặc tại cung vị của quý nhân (vị trí cung của sao Thái dương, Thiên khôi, Thiên việt) và đồng cung với Lộc tồn là cát lợi. Nếu cùng cung với sao Thất sát, Kình dương là mệnh hạ đẳng.

Sau đó, lấy sao Mệnh chủ làm chủ, sao Thân chủ làm phụ tá, dựa vào hung cát mà nó rơi vào vị trí của cung để phán đoán phú, quý, hèn, sang. Tiếp theo, xem vận cát hung của sao Tử vi và Thiên tướng rơi vào vị trí của cung. Nếu sao Tử vi gặp hung, sát tinh thì phải xem hung cát mà Linh tinh, sao Vũ khúc sở tại vị trí của cung, qua đó mới có thể phán đoán là mệnh phú quý hay không. Người thuộc mệnh quý, ắt phải xem mức độ miếu, vượng của sao Thái dương; người thuộc mệnh phú, ắt phải xem độ sáng tối của sao Thái âm. Nếu như sao Thái dương tọa mệnh cung Dậu, Tuất, Hợi, Thái âm ở Thìn, Tỵ, Ngọ, mệnh này không thể giữ được những gì đã có, phải rời xa quê hương xuất ngoại mới có cơ hội phát triển, cải biến vận mệnh. Người thuộc mệnh nghèo hèn cũng phải xem cát hung của cung Mệnh.

Trong lá số, nếu cung Mệnh tốt, gặp lưu niên, đại tiểu hạn tốt, không gặp bất cứ trở ngại nào, tự nhiên sẽ phát vượng, cả đời sung túc. Đó là mệnh phú quý.

Trong lá số, nếu cung Mệnh kiên cố, bền vững làm cho vận mệnh không được như ý, nhưng vẫn được bình an vô sự là mệnh bình ổn.

Trong lá số, nếu cung Mệnh không gặp cát tinh, không thể kiên cố, lại gặp ác tinh, sát tinh phần lớn đều do xuất thân nghèo hèn. Nếu có thế phát tài bình ổn, cũng là do gặp 10 năm đại hạn tốt, 10 năm sau lại dần dần lụi bại, tài tán nhà tan, gặp phải việc không như ý, là mệnh nghèo khổ, bần cùng.

Nếu con người từ khi sinh ra đã giàu có mà không bị phá hoại, hưởng phúc đến già, đây ắt là do mệnh, hạn tương hợp, từng bước tiếp cận, nâng đỡ nhau, sao nhập cung miếu 5, 10 năm cũng không thất vận. Nếu người sinh ra đã được vui vẻ, hưởng phúc, vợ vinh con quý, đến trung niên lại gặp tai ương, hao người tốn của, hoặc thương vong, nhất định do trụ không vững, hoặc xuất hạn giao hạn, từ cát chuyển thành hung, trung niên phạm sát tinh chiếu mệnh hạn, hoặc sao rơi vào cung lạc hãm, lại thêm Thái tuế gặp hung, vận hạn đến đó, không nghèo khổ thì cũng chết yểu. Nếu một người sinh ra đã nghèo hèn, ban đầu rất gian khổ, đến trung niên trở nên vượng phát, tài lộc như ý, uy quyền xuất chúng, đều do sinh tại trung cục, các sao vận hạn trung niên đều mạnh, lại thuộc miếu vượng, là mệnh trước khổ mà sau sướng.

Vận mệnh phú quý của con người đã định sẵn trong bản mệnh mỗi con người, làm sao có thể phân biệt được sinh tử? Với vấn đề này, trước tiên phải xem đại hạn và xem tiểu hạn. Đại hạn chủ về phúc họa trong vòng 10 năm, tiểu hạn chủ về thăng trầm trong vòng 1 năm. Đại vận suy, thì 10 năm sẽ rơi vào lận đận khốn khó, cho dù tiểu hạn được vượng cũng chỉ hưởng phúc trong 1 năm.

Đại hạn đã suy, tiểu hạn cũng không có tác dụng gì. Đại hạn tốt tiểu hạn xấu không quá đáng lo ngại. Vì thế, cho dù lưu niên không lợi nếu đại hạn vững vàng, kiên cố, tai họa sẽ giảm nhẹ đi. Nếu luận sinh tử trước hết xem cung Mệnh có sát tinh không. Nếu Thái tuế lưu sát giao hội đối xung vị trí của cung tiểu, đại hạn, mà sao Tử vi, sao Lộc tồn đều là lạc hãm, lại chịu sự kiểm soát của Không vong, lúc này nếu 3 sao Tử vi, Thiên tướng ấn tinh, Lộc tồn tài tinh tam hợp hội chiếu, có thể giải trừ được tai ách, tuy bại mà không nguy; nếu không, sẽ gặp tai họa có liên quan đến tính mạng.

Cách cục của lá số vừa xác định, có thể dựa vào Chính tinh của cung Mệnh, đế đoán định tính cách của bản mệnh. Nếu cung Mệnh, một tinh cấp, một tinh chậm, lại có thể phán đoán được tính cách bất thường của họ, thiện ác khó phân định, ba phải, thiếu lập trường quan điểm. Nếu cát tinh nhập cung Mệnh, thì chủ nhân có tính cách nhân từ, phúc đức, là cách cục thượng hảo. Nếu ác tinh, sát tinh nhập cung Mệnh, thì bản tính ác độc ngang ngược. Ngoài ra, nếu có thể tham khảo quan hệ sinh khắc của Ngũ hành, thì suy đoán vận mệnh càng thêm tỉ mỉ, chính xác.

Khi sử dụng Ngũ hành phải xem xét mối quan hệ sinh khắc giữa đôi bên, lại xem chúng rơi vào cung nào. Nếu ngũ hành của sao Thất sát thuộc Hỏa, nếu rơi vào cung Dần, Dần thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa. Ngũ hành của sao Vũ khúc thuộc Kim, nếu đồng cung với sao Thất sát, Hỏa của sao Thất sát khắc chế Kim của sao Vũ khúc, sao Vũ khúc không thể phát huy được vai trò. Nếu Kim nhập Hỏa, là chịu hạn chế; nếu Kim nhập Thổ là đắc địa.

Bất luận con người có vận mệnh phú, quý, sang, hèn, nếu mệnh rơi vào cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi trong lá số, chủ về sự vất vả. Nếu lại giao hội các sao động như Thiên mã, Thiên cơ, Thái âm, Thái dương..., thì đặc tính của mệnh vất vả, gian truân càng nổi bật. Nếu mệnh rơi vào cung Tý, Ngọ Mão, Dậu, chủ về bất lợi, hiếu sắc, thích giao du, đàng điếm, chuyện tình duyên cả đời lận đận, lại gặp các sao đào hoa như: Tham lang, Liêm trinh, Thiên diêu, Hàm trì, Hồng loan, thì đặc tính đào hoa càng nổi trội. Nếu mệnh rơi vào cung Thìn, Tuất, Mùi, Sửu thì chủ về hình (hình khắc), cá tính bảo thủ, cô độc, rời xa quê hương, nếu lại gặp sao Phá quân, Cự môn, thì tính cách cô độc. Do cung Thìn và cung Tuất là Thiên la, Địa võng, ngưòi thuộc cung này nhất định muốn phá vỡ khuôn khổ và nguyên tắc, vì thế đặc tính tha hương càng thể hiện rõ.

Ngoài ra, 12 cung vị trong lá số, đều có thuộc tính ngũ hành riêng. 12 Địa chi của năm sinh cũng có những hợp kỵ không giống nhau. Vì thế, vị trí của cung Mệnh, Thái tuế, lưu niên và đại, tiểu hạn mà chúng tiến đến gần, hung cát họa phúc của chúng có liên quan đến năm sinh của con người.

(Tử vi đẩu số nhập môn - Lâm Canh Phàm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lý giải lá số: giải mã bí ẩn cuộc đời

Chùa Bảo Đài – Quần thể di tích chùa Hương

Chùa Bảo Đài thuộc khu Tuyết Sơn nằm trong quần thể di tích chùa Hương với động Ngọc Long đẹp đẽ được chúa Trinh Sâm ban tặng là Kỳ sơn tú thủy
Chùa Bảo Đài – Quần thể di tích chùa Hương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Bảo Đại toạ lạc dưới một chân núi thấp. Động Tuyết Sơn nơi đây xưa kia là một vùng hoang vắng Đời Vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hoà thứ 15 (1694) bà quận chúa Hoàng Thị Ngọc Hương về dựng chùa Bảo Đài mở động Tuyết Sơn làm nơi thờ phật. Chùa Bảo Đài được xây dựng theo kiến trúc cổ Việt Nam đời Lê – Trịnh. Trải qua nhiều thế kỷ chùa đã được tu sửa lại nhiều lần. hiện nay Chùa được làm theo kiến trúc nhà Nguyễn.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chỉ chép: “Thôn Đường An, xã Yến Vỹ, huyện Hoài An về phía nam: Vua Lê đến đây cho khắc ba chữ “Bạch tuyết môn”

Gần đấy có cung Bảo Đài theo đường đi lên động cửa động có khắc ba chữ lớn “Ngọc Long động”, trong động có một thạch nhũ to và cao trắng xóa như tuyết gọi là cây trường tuyết Từ bến đò thôn Phú Yên đi bằng đường thủy tới chùa Bảo Đài khoảng 1500 m. Dòng suối Tuyết Sơn trong xanh chảy giữa một vùng đầm lầy. Một bên là những quả núi với nhiều hình thù kỳ thú: Núi Thuyền Rồng; núi Chim Phượng Hoàng; Núi Ba Tòa; nổi bật lên là hình tượng Phật thiên tạo mặc áo cà sa đứng trên đỉnh núi với dáng vẻ từ bi mộ đạo… Còn một bên là cánh đồng mênh mông với những gò nấm thiên nhiên xanh mướt cỏ cây.

Chúa Trịnh Sâm là người nổi tiếng hay chữ và sành sỏi các thú du ngoạn đã phong tặng cho nơi đây là cảnh “kỳ sơn tú thủy” (núi nước đẹp lạ). Theo truyền thuyết phong thủy, địa lý nơi đây có đất quần ngư, câu ca dao cổ còn gắn với truyền thuyết lưu lại trong xã:

Đường An có đất quần ngư
Ai mà để được thượng thư đời đời.

Chùa Bảo Đài thuộc quần thể di tích chùa Hương, cùng với động Ngọc Long, chùa Ngư Trì, đền Trình Phú Yên tạo thành khu Tuyết Sơn chùa Hương.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Bảo Đài – Quần thể di tích chùa Hương

3 con giáp 'thích' chịu thiệt thòi trong tình yêu

Người tuổi Mùi rất dịu dàng. Họ chu đáo lại tốt bụng, sẵn sàng vì người mình yêu mà cho đi tất cả một cách tự nguyện và hạnh phúc.
3 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Sửu

Những người tuổi Sửu có nguyên tắc sống của riêng mình. Việc gì đã quyết, họ sẽ không thay đổi, bướng bỉnh và kiên trì với quan điểm cá nhân. Đặc biệt, họ rất có trách nhiệm với những việc mình làm. Trong tình cảm, họ không bao giờ hời hợt, luôn một lòng một dạ với người yêu.

Mặt khác, người tuổi Sửu thích dùng hành động để thể hiện tình yêu bao la của mình, bất luận chịu bao đau khổ, gặp bao khó khăn, họ vẫn không rời đối phương, âm thầm cho đi và chấp nhận thiệt thòi.

3-con-giap-thich-chiu-thiet-thoi-trong-tinh-yeu

Tuổi Mão

Những người tuổi Mão mặc dù sống thực tế tới mức thực dụng, nhưng trong chuyện tình cảm họ lại rất tinh tế, trung thành với tình yêu. Khi quyết định ở bên nhau, người tuổi Mão sẽ nỗ lực hết sức vì mối quan hệ, cho dù bản thân cho đi nhiều hơn cũng không bao giờ tính toán. Với họ, điều quan trọng hơn tất cả là hai người yêu nhau và được ở bên nhau. Bởi vậy, chỉ cần không bị bỏ rơi, người tuổi Mão sẽ không ngừng yêu thương đối phương và chấp nhận mọi thiệt thòi dù thế nào chăng nữa.

Tuổi Mùi

Người tuổi Mùi rất dịu dàng. Trong tình cảm, họ chu đáo lại tốt bụng, sẵn sàng vì người mình yêu mà cho đi tất cả một cách tự nguyện và hạnh phúc. Tình yêu và hôn nhân với họ là điều tuyệt vời và thần kỳ mà không gì có thể so sánh nổi ^^.

Maruko (theo Meiguoshenpo)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 con giáp 'thích' chịu thiệt thòi trong tình yêu

Kinh Dịch là của người Việt

Tác giả: theo Nguyễn Thiếu Dũng Nguồn: Bee.net.vn
Kinh Dịch là của người Việt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một người làm khoa học chân chính chỉ nên đưa ý kiến phản biện sau khi đã đọc kỹ quan điểm đối lập, cân nhắc chính xác những bằng chứng họ đề ra xem chỗ nào mình đồng ý, chỗ nào không đồng ý, rồi chính mình phải trưng cho được những chứng cứ ngược lại để làm sáng tỏ vấn đề, không nên nói chung chung, nói theo cảm tính. Cho rằng Kinh Dịch là của Trung Quốc hay của Việt Nam là quyền của mỗi người, nhưng muốn bảo vệ niềm tin này phải dựa vào chứng lý.
Người Trung Hoa nói về nguồn gốc Kinh Dịch dựa trên những chứng lý nào ?
1/ Trước hết họ cho Phục Hy nhìn những hình đồ trên con long mã vẽ nên bát quái. Đây là chuyện hoang đường chỉ hợp với những người mê tín, ưa sự huyền hoặc, thế mà cũng được vô số người tin như thật. Nhưng Phục Hy dù là nhân vật huyền thoại vẫn không phải là thủy tổ chính thống của người Hoa hạ.
Phục Hy là tổ của một tộc trong đại chủng Bách Việt phía Nam Trung Quốc, người Hoa mượn làm tổ của mình. Tư Mã Thiên không đồng ý nên đặt Hoàng Đế ở đầu Sử ký. Vậy nếu Phục Hy có làm ra Bát quái cũng không thể nói là của Trung nguyên. Thừa nhận Phục Hy chế ra Kinh Dịch là người Hoa đã nhận Kinh Dịch là của dân Bách Việt, vậy sao cứ nói mãi Kinh Dịch của Trung Hoa và gọi đó là niềm tin chính thống. Hoàng Tông Viêm (16161 0 1686) người ở cuối đời nhà Minh, đầu đời nhà Thanh đã cực lực phủ nhận vai trò của Phục Hy trong Kinh Dịch, sao người Việt Nam vẫn cứ tin! 2/ Sau Phục Hy, người Hoa tin là Văn Vương khi bị Trụ Vương cầm tù ở Dữu Lý đã nâng cấp 8 quẻ thành 64 quẻ và viết quái từ hào từ Kinh Dịch. Người đưa ra thuyết này Tư Mã Thiên, sử gia hàng đầu và uy tín của Trung Quốc. Chính vì Tư Mã Thiên có uy tín nên người ta đã theo đó mà tin không cần kiểm chứng.
Từ Văn Vương đến Tư Mã Thiên cách nhau hơn nghìn năm trung gian có Khổng Tử cách mổi ông chừng 500 năm. Khổng Tử rất tôn sùng Văn Vương, thế mà chưa bao giờ nói với Văn Vương soạn Kinh Dịch. Ở đầu quyền Sử ký, lương tri Tư Mã Thiên còn ray rứt nên chỉ đưa ra giải thuyết “có lẽ Văn Vương diễn Dịch”, nhưng gần cuối sách thì lại xác định hẳn là Văn Vương diễn Dịch, và nhiều người hùa theo đó mà tin.

Kinh Thi là sách đại tụng Văn Vương, kể rất nhiều công tích của văn Vương nhưng không hề đả động đến Kinh Dịch. Các con Văn Vương như Võ Vương, Chu Công dùng bói toán để cúng lễ Văn Vương nhưng chưa bao giờ nói Văn Vương bói Dịch chứ đừng nói đền chuyện Văn Vương soạn dịch.
Chính nhóm Ngô Bá Côn đã xác định điều này: “Từ thời cận đại đến nay, cách nhìn nhận này đã bị các học giả phủ nhận” (Dịch học, Nxb Văn hóa – Thông Tin, Hà Nội, 2003, tr.90). Sách Tả truyện dẫn nhiều câu chuyện bói Dịch nhưng không hề nói Văn Vương soạn Dịch. Các nhà Dịch học Trung Quốc đầu thế kỷ XX đã có người muốn dứt bỏ Văn Vương khỏi vương quốc Kinh Dịch, nhưng có một số người nhiễu sự ưa chuyện huyễn hoặc cứ cố níu kéo Văn Vương, nhất là một số Dịch học người Việt.

3/ Sau khi loại bỏ Phục Hy và Văn Vương, một số nhà Dịch học Trung Quốc lại cho rằng Kinh Dịch có nguồn gốc từ các nhà Vu Hịch là các quan coi việc bói toán (Có Hiệt Cương, Lý Kính Trì), Kinh Dịch có các từ phán đoán giống các từ bói toán: cát, hung, hối lận, cữu, vô cữu, nhiều lời hào trùng hợp với lời bói, nhưng quan điểm này không mấy thuyết phục vì hai cơ cấu Dịch và bói khác nhau, bốc từ là những câu hỏi sẵn đưa ra để hỏi về một vấn đề mà người hỏi thắc mắc, câu trả lời là nhận hoặc phủ nhận, có hay không, còn hào từ phải tùy thuộc vị trí của hào, bản chất của hào, thời của quẻ.

4/ Phát hiện mới nhất là quan điểm của Trương Chính Lương khi cho rằng nguồn gốc của quẻ Dịch đến từ quẻ số khắc trên Giáp Cốt Văn và Kim Văn. Nhóm Chu Bá Côn cũng đã có ý kiến về vấn đề này “Song dùng các chữ số trong phép bói cỏ như 1,5,6,7,8 … không đủ chứng cứ để chứng minh tại sao trong Kinh Dịch lại chỉ có 8 kinh quái và 64 biiệt quái” (Dịch học, tr.63).

Sau cùng nhóm Chu Bá Côn kết luận: “Tóm lại, đối với việc tìm hiểu nguồn gốc của quái, hào, tượng tuy đã có một số ý kiến có ảnh hưởng nhất định trong mấy năm gần đây, nhưng những điều được đề cập tới đầu không ngoài loại tượng và số, vẫn chưa thể nói là đã có một đáp án được gọi là công nhận. Có lẽ trong tương lai gần, theo đà phát hiện tư liệu ngày càng nhiều, chúng ta sẽ có được một đáp án xác đáng.” (Dịch học, tr.63). Còn Vương Ngọc Đức thì bi quan hơn: “Cuộc tranh luận kéo dài hai ngàn năm vẫn không có câu giải đáp chính xác. Nếu vẫn theo phương thức tư duy của các học giả thời xưa, thì hai ngàn năm nữa vẫn chưa làm rõ được vấn đề". (Bí ẩn của Bát Quái – Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội. 1996, tr.27).

Như vậy, đối với vấn nạn nguồn gốc Kinh Dịch, các học giả Trung Quốc đành chịu “bó tay” không truy vấn được. Vậy thì người Việt Nam hà cớ gì cứ đi theo họ để xác nhận một điều họ đã phủ nhận, cứ trân trọng mãi cái họ đã ném đi.
Vậy để xác định Kinh Dịch có nguồn gốc từ Việt Nam, chúng ta có những chứng cứ gì ?

Năm 1970, Giáo sư Kim Định đã tuyên bố “Kinh Dịch là của Việt Nam” trong tác phẩm Dịch Kinh linh thế, tiếp sau đã có nhiều người mạnh dạn đề xuất những chứng cứ như Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Trần Quang Bình, Hà Văn Thùy, Nguyễn Quang Nhật, Nguyễn Việt Nho, Trúc Lâm …
Riêng cá nhân tôi từ năm 1999, đến nay, tôi đã trình với công luận những chứng cứ khả dĩ chứng minh được Kinh Dịch là di sản của tổ tiên Việt Nam qua mấy điểm sau:
Căn cứ vào những hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn thì Việt tộc đã ghi khắc những quẻ Dịch trước Trung Quốc và sớm hơn chứng liệu của Trung Quốc (xin xem Phát hiện Kinh Dịch thời đại Hùng Vương – Thanhnienonline).

Chứng liệu của Việt tộc trực tiếp từ tượng quẻ không phải qua suy luận từ số đến tượng như Trung Quốc. Có đầy đủ 8 quẻ đơn và một số quẻ kép trên đồ đồng Đông Sơn. Những quẻ này có thể đọc thành văn bản phản ánh tư tưởng quốc gia Văn Lang (Sứ giả Văn Lang – Anviettoancau.net).

Quẻ Dịch trên đồ Phùng Nguyên và Đông Sơn chứng tỏ hào dương vạch liền và hào âm vạch đứt của Trung Quốc là biến thể của hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm của Việt Nam, Trung Quốc đã nối những chấm âm lại thành vạch đứt để vạch cho nhanh (cải biên) (Chiếc gậy thần – dạng thức nguyên thủy của hào âm dương – thanhnienonline).
Các từ Dịch/Diệc, Hào, Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Khảm, Ly, Tốn, Đoài chỉ là từ ký âm tiếng Việt (Bàn về tên gọi tám quẻ cơ bản của Kinh Dịch – Dunglac.net).

Quan trọng nhất theo tiêu chuẩn tam tài của Trung Quốc chỉ sử dụng Tiên Thiên đồ, Hậu Thiên đồ mà không có Trung Thiên Đồ, một đồ cốt yếu đã được tổ tiên Việt Tộc sử dụng đễ viết quái, hào từ Kinh Dịch. Đồ này được tổ tiên Việt tộc giấu trong truyền thuyết, trên trống đồng, nên có thể khẳng định Trung Quốc không thể nào là người khai sinh Kinh Dịch cũng như phân bố vị trí các quẻ. (Trung Quốc đã công bố hơn 4000 Dịch đồ nhưng không có đồ nào phù hợp với Trung Thiên Đồ) (Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam – Thanhnienonline)

Truyền thuyết Việt Nam một phần là những câu chuyện liên hệ với Kinh Dịch, như chuyện Con Rồng cháu tiên là chuyện của Trung thiên Đồ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là chuyển kể lại từ những lời hảo quẻ Mông, người Trung Hoa chỉ cần thay đổi bộ thủy trong hai chữ “chất cốc” là đổi câu chuyện nói về lũ lụt thành chuyện dạy trẻ mông muội là xóa được gốc tích của Kinh. Truyền thuyết được lưu giữ chính là để báo tồn Kinh Dịch (Các bài trên Anviettoancau.net – cùng tác giả).

Trong một bài báo ngắn, chúng tôi không thể trình bày hết mọi chứng cứ nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ để hy vọng các bậc đại thức giả Việt Nam nên xét lại vấn đề, cân nhắc phân minh trả lại sự công bằng cho tổ tiên. Thái độ thờ ơ của quí vị chỉ làm tăng thêm nỗi đắng cay chua xót của liệt tổ ở chốn u linh. Xin hãy chung tay làm sáng tỏ huyền án này.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kinh Dịch là của người Việt

Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả theo hầu Phật A Di Đà, xưng tụng là Tây Phương Tam Thánh, tiếp dẫn và độ hóa chúng sinh.
Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả theo hầu Phật A Di Đà, xưng tụng là Tây Phương Tam Thánh, tiếp dẫn và độ hóa chúng sinh bằng trí tuệ.

 

Mục Lục

  1. Danh xưng Đại Thế Chí Bồ Tát
  2. Sức mạnh của Đại Thế Chí Bồ Tát
  3. Hình tượng Đại Thế Chí Bồ Tát
  4. Ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát
  5. Đại nguyện của Đại Thế Chí Bồ Tát
  6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát

 

1. Danh xưng Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Đại Thế Chí Bồ Tát là tên phiên phiên âm từ tiếng Phạn Mahastamaprapta, dịch ý là Đại Thế Chí hoặc Đại Tinh Tiến, gọi tắt là Thế Chí Bồ Tát. Ngoài ra còn những tên khác như Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ Tát, Vô Biên Quang Bồ Tát. Mỗi cái tên, danh xưng đều có ý nghĩa quan trọng, gắn liền với đạo hạnh và chức trách mà Ngài mang.

 

Cái tên Đại Thế Chí xuất phát từ việc Ngài dùng ánh sáng trí tuệ chiếp khắp muôn nơi để chúng sinh mười phương thoát khỏi đau khổ, đạt thành tựu Bồ Đề, có đạo hạnh chuyên tu. Đắc Đại Thế Bồ Tát có nghiêng về diễn tả đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, dùng hạnh nguyện của mình để điều phục và tiếp độ chúng sinh trong thế giới Ta bà.

 

Đại Tin Tấn hay Đại Tinh Tiến tức là vị Bồ Tát có sức tinh tiến vĩ đại, vô biên, càng ngày càng tiến lên để hóa giải mọi phiền não và giáo hóa chúng sinh, không mệt mỏi, không lùi bước, không ngại chướng khổ. Vô Biên Quang là vị Bồ Tát có ánh sáng vô biên, tỏa khắp pháp giới để chúng sinh hữu duyên thấy được ánh sáng quang minh tinh diệu vô lượng của Ngài khắp mười phương.

 

2. Sức mạnh của Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Quán Vô Lượng Thọ Kinh có ghi, Đại Thế Chí Bồ Tát lấy ánh sáng trí tuệ làm ngọn đèn soi đường cho chúng sinh thoát khỏi ba cõi ác, đạt được sức mạnh vô biên, hướng tới thân tâm an lạc. Khi Ngài di chuyên, thập phương mười hướng như đang xảy ra một cơ địa chấn, trí tuệ quét sạch u mê nên có tên gọi Đại Thế Chí.

 

Ngài là một trong Tây Phương Tam Thánh, cùng Quan Thế Âm Bồ Tát theo hầu Phật A Di Đà, một trong các vị Thượng thủ trong chúng hội Bồ Tát. Đại Thế Chí bên phải, Quan Thế Âm bên trái, một bên đại diện cho tinh thần đại trí, một bên biểu thị cho tinh thần đại bi. Người tu hành muốn tu tập viên mãn, đạt thành tựu Phật giáo thì phải có cả hai yếu tố là tấm lòng và trí tuệ.

 

Từ bi bên trái, trí tuệ bên phải, trí tuệ dẫn đường cho từ bi để từ bi đi đúng hướng, từ bi thấm nhuần trí tuệ để trí tuệ không cứng nhắc, không trên đời mà giúp đời, cứu đời thoát khỏi u tối. Đó chính là ý nghĩa cao nhất, sự hòa hợp tốt đẹp nhất của Phật giáo. Là Phật tử, là những người hướng Phật nhất định phải hiểu được đạo lý này, đồng thời trang bị cho mình hai hạnh này, có như vậy thờ Phật mới chân chính, kính Phật mới chuyên tu.

 

Trí của Thế Chí Bồ tát là trí của ánh sáng và niềm tin, quyết tâm giáo hóa chúng sinh tránh khỏi đường mê lối lạc. Ngài là vị Bồ Tát Đẳng Giác hầu cận Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc, trợ giúp Phật hóa, tiếp dẫn chúng sinh mười phương thế giới, giáo hóa Thánh chúng tại Cực Lạc, chờ tới khi công quả viên mãn sẽ bổ xứ thành Phật.

 

Đây là vị Bồ Tát có nhân duyên sâu nặng với chúng sinh khắp cõi, tuy đã thành Phật trong kiếp quá khứ nhưng kiếp này thừa nguyện tái lai vì lòng thương chúng sinh, hiện thân làm Bồ Tát ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, trợ duyên cho Phật A Di Đà giáo hóa và tiếp dẫn chúng sinh thoát khỏi bể khổ.

 

Bồ Tát được Phật Bảo Tạng thọ ký rằng, trong vô lượng vô biên kiếp, sau khi Đức Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Sơn Vương Như Lai nhập Niết Bàn, tức là Quan Thế Âm Bồ Tát thành Phật trong đời vị lai thì Đại Thế Chí sẽ thay Ngài tiếp quản chánh pháp và thế giới Tây Phương, thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương Như Lai.

 

Đại hùng đại lực đại từ bi của Thế Chí Bồ Tát chính là tinh thần và trí tuệ cao nhất để Ngài hoàn thành nguyện cũng như trọng trách mà Phật đạo giao phó. Sức mạnh ấy thể hiện ở các phương diện dưới đây:

 

  • Đại hùng: sự mạnh mẽ, can trường dám xả thân rời xa những tham muốn hưởng lạc của thế gian. Điều này không những cần tiến tu mà còn phải có đại hùng, tu đạo Bồ Tát, kham những công hạnh, quyết dấn thân vào những việc khó khăn, quyết nhẫn nhục những điều vượt qua giới hạn bằng sức mạnh của tu tập.

 

  • Đại lực: Tuy đã thành Phật nhưng Ngài không an trụ tại cảnh giới Niết Bàn, tận hưởng pháp lạc mà tiếp tục hiện thân Bồ Tát Đẳng Giác để xả thân cứu độ chúng sinh, giáo hóa giác ngộ lầm than. Cái ác của chúng sinh có sâu dày đến đâu, ác nghiệp có cường thịnh đến đâu Thế Chí cũng không nản lòng, thệ nguyện vào những nơi tối tăm nhất, chốn ngọc nhằn nguy khó nhất để giác ngộ chúng sinh.

 

  • Đại bi: có đại bi mới làm tròn được hành nguyện giáo hóa khó nhọc đến vậy, từ bi cũng là gốc rễ ngọn nguồn của Phật giáo. Trí tuệ là đại hùng nhưng được dẫn dắt bởi đại bi, dùng trí tuệ quan sát căn tính của chúng sinh ngay cả khi mạt pháp nghiệp mỏng chướng dày nhất, kể cả khi căn lành nông cạn nhất để chúng sinh vượt khổ nạn, đạt thành tựu.

 

Trong kinh Lăng Nghiêm, chương Niệm Phật viên thông, khi Đức Phật Thích Ca hỏi về pháp môn tu hành, Đại Thế Chí Bồ Tát cho biết Ngài tu theo pháp môn niệm Phật. Nhân lành mà Ngài gặt hái được là dùng tâm niệm Phật, vô sinh pháp nhẫn, vì thế Ngài quyết dùng đại hùng đại lực đại bi mà mình có để tiếp dẫn những người niệm Phật vãng sinh tịnh độ.

 

Khi niệm Phật, n hất định phải chuyên tâm, người lâm chung muốn vãng sinh thì độ niệm phải có tâm chuyên nhất. Nếu trong lòng tưởng nhớ đến Phật, thấy đường Phật hướng thì Phật cách không ca, không cần phương pháp tu nào khác mà thành được Phật. Nói cách khác, “Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối nhau, được Tam ma địa, đó là bậc nhất”. Đây là điểu quan trọng nhất là người tu niệm Phật cần phải nhớ khi hành trì.

Theo phong thủy và tâm linh, Bồ Tát Đại Thế Chí là Phật bản mệnh của người tuổi Ngọ.

 

3. Hình tượng Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Trong Tây Phương Tam Thánh, Thế Chí Bồ Tát đứng bên phải Đức Phật A Di Đà, bên phải là Quan Thế Âm Bồ Tát, hiện thân là hai cư sĩ có cách ăn mặc tương tự nhau. Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh, Quan Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy.

 

Xem thêm bài viết Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát được nhiều người kính ngưỡng?

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Trên chóp mũ của Bồ Tát có hình ngôi chùa, đại diện cho trí tuệ. Thân tỏa ra màu vàng tím lấp lánh, soi chiếu thập phương để chúng sinh hữu duyên đều có thể tận mắt nhìn thấy ánh sáng của Phật pháp và tịnh diệu. Vì thế mà Bồ Tát Đại Thế Chí cũng được gọi là Bồ Tát Vô Lượng Quang.

 

Thiên quan của Ngài có 500 bảo hoa, trên mỗi bảo hoa có 500 bảo đài, mỗi bảo đài hiện lên quốc độ tịnh diệu của chư Phật thập phương. Tóc búi hình hoa sen đỏ, trên có bảo bình, trong bảo bình chứa ánh sáng trí tuệ - nguồn lực để độ hóa chúng sinh.

 

Cũng có hình tượng Bồ Tát Đại Thế Chí hiện thân là tướng người cư sỹ, nơi cổ có đeo chuỗi ngọc anh lạc và trên tay cầm một hoa sen màu xanh, tượng trưng cho sự thanh tịnh. Có ý rằng nhờ trí tuệ sáng suốt mà dứt sạch được mọi phiền não mê lầm nơi tự thân và đưa tay cứu với chúng sanh ra khỏi mê lầm tội lỗi.

 

Trí tuệ là thanh gươm tinh nhuệ cắt đứt mọi ràng buộc, vướng mắc trong cõi trần ai mà đức Đại Thế Chí đã đạt được trải qua nhiều kiếp tu hành tích lũy biết bao công phu. Dùng trí của mình để độ kiếp lầm than, theo đúng tinh thần của Phật giáo.

 

Tại sao Bồ Tát lại hiện thân cư sĩ? Điều này cho thấy hạnh nguyện của Ngài gần gũi với chúng sinh, muốn chúng sinh nghe pháp, thấu hiểu pháp thì cần phải cảm thông cho chúng sinh. Chỉ khi gần gũi và trở thành bạn lành của chúng sinh thì mới có thể làm được điều này. Bồ Tát là vị cư sĩ giản dị, dễ dàng đi khắp nhân gian để tiếp xúc với mọi người.

 

Muốn cứu vớt chúng sanh về tịnh độ, trước phải dạy họ dứt sạch phiền não uế ô. Vì thế, danh hiệu Ngài đã nói lên ý nghĩa vận dụng ánh sáng trí tuệ chiếu soi cho chúng sanh thấy rõ những uế trược nơi mình, đồng thời giúp cho họ có sức mạnh đoạn trừ những uế tạp, hướng về tịnh độ.

 

4. Ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Ngày 13/7 âm lịch là ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát, tức ngày Bồ Tát đản sinh. Ngày này chúng Phật tử và những người hướng Phật cùng làm lễ kính ngưỡng công đức, hạnh nguyện của người. Không chỉ cúng dường, tụng niệm mà còn hướng về Phật pháp, học hỏi Phật pháp, noi gương Ngài ứng dụng vào đời sống để đạt tới lý tưởng tu hành của bản thân.

 

Ngoài ra, tích cực hành thiện, tổ chức phóng sinh, bố thí, gieo thêm căn lành, hạnh lành cho cuộc đời. Mỗi việc tốt là ngọn nguồn của một cây thiện, đâm ra trái ngọt quả lành mà con người cần phải nhân rộng, đẩy lùi xấu xa ác nghiệt, coi như hoàn thành ý nguyện của Bồ Tát Thế Chí.

 

Xem thêm bài viết Bố thí đúng cách - hưởng thụ khi học Phật

 

5. Đại nguyện của Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dưới đây là lời Bồ Tát Thế Chí nguyện hứa trước Đức Phật khi quyết đi theo con đường tiến tu, học đạo, hướng Phật và tu đạo Bồ Tát.

 

“Bạch Đức Thế Tôn! nay tôi xin đem công đức cúng dường Phật và chúng tăng trong ba tháng, và những hạnh tu tập của tôi đã từng làm, như là:

 

Ba nghiệp thân

 

  1. Không sát hại chúng sanh

 

  1. Không trộm cắp của người

 

  1. Không tà dâm

 

Bốn nghiệp miệng
 

  1. Không nói láo xược

 

  1. Không nói thêu dệt

 

  1. Không nói hai lưỡi

 

  1. Không nói độc dữ thô tục

 

Và ba nghiệp ý

 

  1. Không tham nhiễm danh lợi và sắc dục

 

  1. Không hờn giận oán cừu

 

  1. Không si mê ám muội, cùng các món hạnh tu thanh tịnh của tôi, mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và cầu được một thế giới rất trang nghiêm đẹp đẽ, như cõi Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quan Minh Sang Vương Như Lai.

 

Tôi xin tiếp tục tu đạo Bồ Tát, làm việc Phật sự, khuyên bảo chúng sinh, mang lại lợi ích cho chúng sinh để mau chóng hoàn thành những hạnh nguyện tôi đã thề. Đến chừng nào Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai diệt độ, thì tôi sẽ thành đạo, kế ngôi Phật truyền Chánh Pháp mà độ hóa chúng sinh”.

 

6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Thế Chí Bồ Tát là vị Bồ Tát có trí tuệ và tinh thần từ bi, cứu độ chúng sinh vô biên, vô điều kiện, muốn gặp Phật phải có Phật trong tâm, muốn được Phật độ chứng phải thành tâm tụng niệm. Muốn thỉnh nguyện tới Ngài thì hướng về Phật pháp, chuyên tâm tu dưỡng và cúng dường, làm lễ công quả.

 

Thế gian còn lao khổ, Thế Chí còn miệt mài cứu độ chúng sinh tiến tới cõi Niết Bàn. Cách thỉnh nguyện tốt nhất, hiệu quả nhất chính là học tập đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, không chỉ giữ lập trường tu hành, trọn vẹn tinh thần hoằng pháp mà còn đẩy lui phiền não khổ sở. Chẳng những để bản thân giác ngộ mà còn giác ngộ những người xung quanh để cuộc sống ngày càng tốt đẹp, ngày càng an lạc.

 

Chăm làm việc thiện, thiện giả thiện báo, phóng sinh cứu độ, giữ tâm chân thành, bố thí hoạn nạn, đường tới thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát ở ngay phía trước.

 

Địa Tạng Vương Bồ Tát - Địa ngục chưa trống thề không thành Phật Văn Thù Bồ Tát - bậc Đại Trí dùng trí tuệ dẫn đường chúng sinh


Tâm Lan


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Xem bát tự - lý giải về Thập Thần

Xem bát tự đoán việc lớn là truyền thống của người Á Đông. Bài viết xin giới thiệu về Thập Thần – một trong những khái niệm tử vi cơ bản.
Xem bát tự - lý giải về Thập Thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem bát tự đoán việc lớn là truyền thống của người Á Đông. Ngày nay, không chỉ tin tưởng, phó mặc hoàn toàn cho thầy mà nhều người cũng muốn tự mình tìm hiểu những kiến thức tử vi cần thiết này. Bài viết xin giới thiệu về Thập Thần – một trong những khái niệm tử vi cơ bản.


Xem bat tu - ly giai ve Thap Than hinh anh
 
1. Xem bát tự dự đoán vận mệnh đời người là dựa vào 10 Thiên Can, trong đó Thập Thần là trung tâm ý nghĩa để đoán định. Cũng có thể nói, Thập Thần là căn cứ định vị đặc biệt đối với 10 Thiên Can.   2. Lấy can ngày sinh là ta, can ngày việc ấy diễn ra là khách, thì Thập Thần chia thành 10 loại như sau: 1. Sinh ta là Ấn tinh gồm Chính Ấn (gọi tắt là Ấn) và Thiên Ấn (gọi tắt là Kiêu); 2. Ta sinh là Thực Thương, gồm Thương Quan (gọi tắt là Thương) và Thực Thần (gọi tắt là Thực); 3. Khắc ta là Quan Sát, bao gồm Chính Quan (gọi tắt là Quan) và Thiên Quan (gọi tắt là Sát); 4. Ta khắc vợ chồng tiền tài, bao gồm Chính Tài (gọi tắt là Tài) và Thiên Tài; 5. Cùng loại với ta là Tỷ Kiếp, bao gồm Kiếp Tài (gọi tắt là Kiếp) và Tỷ Kiên (gọi tắt là Tỷ).   3. Thập Thần Thiên Chính là yếu tố trọng yếu của 10 Thiên Can cùng với âm dương ngũ hành. Giáp là dương Mộc, Ất là âm Mộc, Bính là dương Hỏa, Đinh là âm Hỏa, Mậu là dương Thổ, Kỷ là âm Thổ, Canh là dương Kim, Tân là âm Kim, Nhâm là dương Thủy, Quý là âm Thủy.   Can ngày có quan hệ sinh khắc cùng loại thì là Thiên, có Thiên Ấn, Tỷ Kiên, Thực Thần, Thiên Tài, Thiên Quan. Ví dụ, ngày sinh là Giáp Mộc thì Nhâm Thủy trở thành Thiên Ấn của Giáp Mộc, Giáp Mộc trở thành Tỷ Kiên của Giáp Mộc, Bính Hỏa là Thực Thần của Giáp Mộc, Mậu Thổ là Thiên Tài của Giáp Mộc, Canh Kim là Thiên Quan của Giáp Mộc.
Xem bat tu - ly giai ve Thap Than hinh anh
 
Can ngày có quan hệ sinh khắc khác loại thì là Chính, có Chính Ấn, Kiếp Tài, Thương Quan, Chính Tài, Chính Quan. Ví dụ, ngày sinh là Quý Thủy, Canh Kim là Chính Ấn của Quý Thủy, Nhâm Thủy là Kiếp Tài của Quý Thủy, Giáp Mộc là Thương Quan của Quý Thủy, Bính Hỏa là Chính Tài của Quý Thủy, Mậu Thổ là Chính Quan của Quý Thủy.
  4. Xem tử vi có thể thấy, nguyên tắc địa chi tàng Thiên Cạn, giấu Thực Thần rất quan trọng. Tý giấu Quý Thủy; Sửu giấu Kỷ, Quý, Tân; Dần giấu Giáp, Bính, Mậu; Mão giấu Ất; Thìn giấu Mậu, Ất, Quý; Tỵ giấu Bính, Mậu, Canh; Ngọ giấu Đinh, Kỷ; Mùi giấu Kỷ, Đinh, Ất; Thân giấu Canh, Nhâm; Mậu; Dậu giấu Tân; Tuất giấu Mậu, Tân, Đinh; Hợi giấu Nhâm, Giáp.   5. Quan hệ sinh khắc của Thập Thần bao gồm: tương sinh có Quan Sát sinh Kiêu Ấn, Kiêu Ấn sinh Tỷ Kiên, Tỷ Kiên sinh Thực Thương, Thực Thương sinh Tài Tinh, Tài Tinh sinh Quan Sát; tương khắc có Quan Sát khắc Tỷ Kiên, Tỷ Kiên khắc Tài Tinh, Tài Tinh khắc Kiêu Ấn, Kiêu Ấn khắc Thực Thương, Thực Thương khắc Quan Sát.
Cho biết tương lai qua thập thần của Tứ trụ (phần 2) Cho biết tương lai qua thập thần của Tứ trụ (phần 1) Bảng thập thần âm dương ngũ hành với ngày chủ 
Trình Trình  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bát tự - lý giải về Thập Thần

Đặc điểm của lá số tử vi có tứ trụ thuần dương (P1)

Xem tử vi dựa vào tứ trụ có thể biết được những vấn đề cơ bản của đời người. Tứ trụ thuần dương tức tổ hợp thiên can địa chi đều thuộc dương, đời nhiều chuyển
Đặc điểm của lá số tử vi có tứ trụ thuần dương (P1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tử vi dựa vào tứ trụ có thể biết được những vấn đề cơ bản của đời người. Trường hợp tứ trụ thuần dương tức tổ hợp thiên can địa chi đều thuộc dương, cuộc đời có nhiều chuyển biến.

 
Dac diem cua la so tu vi co tu tru thuan duong P1 hinh anh
 
Xem tử vitứ trụ có thiên can và địa chi đều thuộc dương thì là người tứ trụ thuần dương. Số lẻ là dương, số chẵn là âm, tứ trụ đều là số lẻ tức là thuần dương. Lá số tử vi của người này cho biết 4 điều cơ bản về cuộc đời.   1. Tính cách tương đối cực đoan   Tục ngữ nói, tính cách quyết định vận mệnh, thuần âm thuần dương chính là mệnh cách thuần âm thuần dương. Nữ mệnh thuần dương thì tính cách mạnh bạo, giống như đàn ông; nam mệnh thuần dương thì tính cách cực đoan, không sợ sinh tử, có phần gia trưởng.
2. Hôn nhân bất lợi   Cũng xuất phát từ bát tự thuần dương, tính cách mạnh mẽ, cực đoan nên nhân duyên không tốt, ở chung với người khác có chút bất hòa. Người bát tự thuần âm nhân duyên tốt hơn nhiều, kể cả trắc trở thì sau đó cũng có thể ly hôn rồi tái hôn, mong chờ hạnh phúc mới. Nhưng người bát tự thuần dương thì hôn nhân khó thành, sống cô độc suốt quãng đời còn lại.
4 yếu tố tử vi nên xem trước khi quyết định kết hôn Giờ sinh hưởng trọn phúc khí Hướng dẫn 5 bước cơ bản để tự xem bát tự luận số mệnh
3. Khỏe mạnh nhưng dễ đột tử
  Người mà bát tự thuần dương thì sức khỏe dồi dào, ít bệnh tật nhưng lại dễ chết bất ngờ, bạo tử, đoản mệnh. Nếu có thể gặp cát tránh hung thì cuộc đời kéo dài hơn một chút.  
Dac diem cua la so tu vi co tu tru thuan duong P1 hinh anh
 
4. Sự nghiệp đột biến
  Người mà bát tự thuần dương thì tính tình mạnh bạo, dám làm dám mạo hiểm, rất tốt trên con đường sự nghiệp, nhất là đường làm quan, nhất mực thông thuận, thăng tiến nhanh chóng.
Yếu tố phong thủy ảnh hưởng đến tài vận năm 2016 của bạn Lận đận tình duyên vì bát tự kém may Luận giải mối quan hệ giữa tình yêu và giờ sinh theo tử vi
► Xem tử vi hàng ngày được cập nhật liên tục, chuẩn xác tại Lichngaytot.com!

Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc điểm của lá số tử vi có tứ trụ thuần dương (P1)

Xung khắc của thái tuế

Thái tuế (chi của năm) khắc tôi và tôi khắc thái tuế, phải làm rõ các trường hợp khác nhau để biết được họa nặng hay nhẹ, có hại hay không.
Xung khắc của thái tuế

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



1. Thiên khắc địa xung

Khái niệm "tôi" ở đây có thể hiểu là đối tượng được nói đến trong sự tương quan với thái tuế. Nó có thể là giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh hoặc năm sinh. Bài này lấy trụ ngày là "tôi".

Nếu thiên can địa chi của thái tuế đồng thời khắc thiên địa chi của trụ ngày, hoặc thiên can địa chi của trụ ngày khắc thiên can địa chi của thái tuế thì gọi là thiên khắc địa xung. Cái hại của trường hợp này là khắc đơn.

Ví dụ tôi (trụ ngày) Giáp Tý khắc lưu niên (gồm cả can và chi năm) Mậu Ngọ tức là tôi thiên khắc địa xung thái tuế; hoặc lưu niên Canh Thìn khắc tôi (trụ ngày) Giáp Tý thì gọi là thái tuế thiên khắc địa xung tôi.

Tranh cát tường

2. Xung khắc tuế vận

"Tôi" (trụ ngày) xung khắc thái tuế thì tai họa nặng, nếu thiên can địa chi của trụ ngày vừa xung khắc thái tuế, vừa xung khắc đại vận mà không được các can chi khác của tứ trụ giải thì rất nguy hiểm.

3. Tứ trụ đều đến xung khắc thái tuế

Ví dụ tôi (trụ ngày) là Dậu Kim, trụ năm, trụ tháng cũng là Dậu Kim, hoặc trụ ngày là Dậu Kim, trụ tháng, trụ giờ cũng là Dậu Kim còn thái tuế là Mão, đó là 3 Dậu xung khắc một Mão, 1 Mão xung 3 Dậu, nếu trong tứ trụ và đại vận, tiểu vận không có can chí khác cứu giải thì đặc biệt nguy hiểm.

4. Tứ trụ, đại tiểu vận cấu kết lại hình, xung, khắc, hại thái tuế

Ví dụ trụ ngày, trụ tháng, đại vận đều là Dậu Kim, hoặc trụ ngày, đại vận và tiểu vận đều là Dậu Kim, thái tuế là Mão Mộc, như thế là 3 Dậu xung khắc 1 Mão hoặc 1 Mão xung 3 Dậu, nếu không được cứu giải thì tai họa khôn lường.

(Theo Dự đoán tứ trụ)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xung khắc của thái tuế

Nét kiến trúc xưa cũ Đền Trần - Hải Phòng

Cùng với nét kiến trúc xưa, Đền Trần Đền Trần đã khiến nơi đây trở thành một điểm đến tham quan bổ ích, hấp dẫn du khách trong và ngoài thành phố.
Nét kiến trúc xưa cũ Đền Trần - Hải Phòng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Với những giá trị to lớn về lịch sử văn hóa, về nghệ thuật kiến trúc hàm chứa tại Đền Trần đã khiến nơi đây trở thành một điểm đến tham quan bổ ích, hấp dẫn du khách trong và ngoài thành phố. Đền Trần nằm tại tổ dân phố Chẽ, phường Vạn Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Đền Trần còn gọi là Đền thờ Đức Thánh Trần thuộc phường Vạn Sơn, quận Đồ Sơn, Hải Phòng, được lập từ thời vua Minh Mạng ngũ niên (1824), thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Sử sách ghi chép , ngôi đền gắn liền với thân thế, sự nghiệp vị anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước Trần Quốc Tuấn – người 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược thế kỷ XIII.

Lịch sử đền Trần – Hải Phòng

Tương truyền, cả ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sai quân lính đi khảo sát, tuần du ven biển, cửa sông Bạch Đằng, làng Phú Xá và bán đảo Đồ Sơn. Ngài đã chọn Núi Chẽ (Đồ Sơn) làm nơi giấu quân và cho đẵn gỗ ở khu núi Chẽ làm cọc trong trận chiến thắng Bạch Đằng lịch sử. Khí thiêng non nước Đồ Sơn, nhân dân Đồ Sơn anh dũng, kiên cường đã cùng toàn quân, toàn dân lập nên chiến công hiển hách.

Sau khi mất, triều đình phong Trần Quốc Tuấn là Thái sư Thượng phụ quốc công Tiết chế Nhân Võ Hưng Đạo Vương. Nhân dân vô cùng thương tiếc người anh hùng dân tộc đã có công lớn ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc nên đã lập đền thờ ông trên nền Vương phủ (Đền Kiếp Bạc). Dân ta kính trọng vinh danh Ngài là Đức thánh Hưng Đạo Đại Vương và lập đền thờ Đức Thánh Trần ở nhiều nơi. Tưởng nhớ công đức của ông, thời Minh Mạng ngũ niên (1824), người Đồ Sơn dựng đền thờ Hưng Đạo Đại Vương tại chân núi Chẽ.

Kiến trúc Đền Trần – Hải Phòng

Đền Trần được xây dựng ở vị trí rất đẹp, lưng tựa núi Mẫu Sơn (là một ngọn núi cao nhất trong 9 ngọn núi ở Đồ Sơn nằm theo hướng Cửu long chầu ngọc), mặt hướng ra biển. Đền mang kiểu kiến trúc đặc trưng thời Nguyễn, hình chữ Nhị, mặt trước 3 gian tiền đường nối liền với hậu cung, mái chồng diêm, đầu đao góc mái khắc chạm tứ linh vô cùng sống động, hài hoà, oai linh.

Trong đền hiện còn lưu giữ một số vật cổ quý giá như bức Tượng Ngai ỷ, Bức đại tự Thần Cơ Duệ Toán, bản sắc phong và đặc biệt là bộ câu đối “Sát Thát bình man an xã tắc, Bảo dân hộ quốc điện sơn hà”. Bên cạnh đó, ngoài sân đền còn giữ được tấm bia đá văn chỉ ghi công đức của nhiều họ từ thời Thành Thái Thập thất niên đóng góp công của xây dựng đền.

Trải qua hàng trăm năm, chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, đền nhiều lần bị hư hỏng, xuống cấp nhưng với tấm lòng thành kính, biết ơn người anh hùng dân tộc Đức Thánh Trần, nhân dân Đồ Sơn cùng với du khách đã đóng góp công đức xây dựng, tu tạo đền Trần.

Cùng với nét kiến trúc xưa, sự giữ gìn, tôn tạo và 4 cây cổ thụ ngoài sân có từ hàng trăm năm đã tạo nên một đền Trần cổ kính, thiêng liêng, khiến nhân dân địa phương và du khách muôn phương tới dâng hương tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc, vị Thánh hiển linh Hưng Đạo Đại Vương thấy lòng thanh thản, nhẹ nhõm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nét kiến trúc xưa cũ Đền Trần - Hải Phòng

Phong thủy phòng ngủ khiến bạn khó thoát khỏi “kiếp FA”

Bạn luôn thắc mắc không hiểu vì sao mình đẹp trai, xinh gái, công việc lại ổn định, tính tình cũng chẳng tới mức khó ưa, vậy mà tại sao lúc nào cũng cô đơn lẻ
Phong thủy phòng ngủ khiến bạn khó thoát khỏi “kiếp FA”

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  bóng. Có lẽ, bạn nên xem lại căn phòng của mình một chút, có thể nguyên nhân nằm ở đây.


Phòng quá cao 
 
Căn phòng quá cao sẽ bất lợi cho việc thành gia lập thất. Phong thuỷ rất coi trọng khả năng tụ khí tránh gió của ngôi nhà, với kiến trúc quá cao căn phòng sẽ không giữ được khí, không khí tiêu tán không dung hòa, cô âm độc dương mỗi nơi một luồng sẽ khiến bạn càng thêm đơn côi. 

Nhung can phong khien ban kho thoat khoi kiep FA hinh anh
Phòng cao sẽ không giữ dudược khí, khiến bạn càng thêm đơn côi
Phòng quá thấp 
 
Căn phòng quá thấp so với các kiến trúc xung quanh gây áp lực lên chuyện tình cảm khiến con người trở nên nhút nhát. Sự nghiệp vừa khó phát triển mà cuộc sống cũng không thuận lợi. Loại nhà này thiếu dương khí, khó mà sinh vượng đào hoa, hôn nhân cũng không lâu dài. 
 
Phòng nhỏ hẹp 
 
Mặc dù loại nhà này có lợi cho việc tụ tài, nhưng nếu ở lâu dài trong một không gian chật chội dễ khiến con người trở nên bí bách, dễ nổi cáu, không thể hòa đồng với mọi người, vì thế chuyện tình cảm cũng trở nên xa vời.

Nhung can phong khien ban kho thoat khoi kiep FA hinh anh 2
Phòng nhỏ hẹp khiến cho người ở có cảm giác bí bách, dễ nổi cáu
Trong phòng ẩm lạnh 
 
Phòng ẩm ướt là căn phòng thiếu ánh sáng mặt trời, cũng có căn phòng không có hơi ấm hoặc để điều hòa quá lạnh. Những căn phòng như trên rất bất lợi cho chuyện vợ chồng. Nếu người độc thân ở trong căn nhà này thì khó mà thoát khỏi đời độc thân. 
 
Đương nhiên còn nhiều lý do nữa khiến bạn độc thân, nhưng nếu bạn vẫn đang FA thì hãy thử điều chỉnh một chút căn phòng của bạn, biết đâu vận đào hoa lại khởi sắc thì sao. 
 
► Xem thêm: Phong thủy phòng ngủ chuẩn giúp đem lại vận tốt cho gia chủ

Theo meiguoshenpo.com
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy phòng ngủ khiến bạn khó thoát khỏi “kiếp FA”

Những lá số tử vi phú quý, định sẵn giàu có phát tài

Ai cũng mong có cuộc sống giàu có, sung túc, đủ đầy, vận trình tài lộc dồi dào. Cùng điểm danh những trường hợp lá số tử vi phú quý, có mệnh giàu sang nhé.
Những lá số tử vi phú quý, định sẵn giàu có phát tài

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ai cũng mong có cuộc sống giàu có, sung túc, đủ đầy, vận trình tài lộc dồi dào. Mấy ai biết rằng việc bạn giàu hay không đã được định sẵn trong bát tự từ khi sinh ra rồi, các biện pháp khác chỉ mang tính chất cải thiện, tăng cường vận may hoặc hóa giải vận xui mà thôi. Cùng điểm danh những trường hợp lá số tử vi phú quý, có mệnh giàu sang nhé.

Nhung la so tu vi phu quy, dinh san giau co phat tai hinh anh
 

1. Bát tự vượng Tài tinh

 

Trong bát tự có tài vận thông môn hộ, môn hộ ứng với thời tiết và thời vụ, hay còn gọi là mùa và tiết khí, Tài tinh ở trụ tháng vượng thì chính là trường hợp lá số tử vi phú quý. Ví như trụ tháng không có Tài mà Tài chỉ có ở chi ngày, tiết khí và mùa sinh đỡ hoặc ở can chi của trụ giờ sinh có cùng mạch vượng thì là điềm báo phát tài, một đời hưởng giàu sang.   Người này vận may tốt, không những được thừa hưởng tài sản từ cha mẹ, tổ tiên mà còn tự mình làm giàu, gặp may nên nhanh chóng trở nên giàu có. Vận may chính thì hiếm người có nhưng vận may phụ trợ thì cũng có nhiều, nên học cách xem lá số tử vi đơn giản để soi xem mình có thuộc trường hợp này không.   Ngày sinh kém mà Tài tinh vượng, vận thêm Ấn tinh; ngày sinh cường nhưng Thiên Tài yếu, sau có Thực Thương vận hoặc Quan Sát vận phát tài hộ tài; từ cách cục Tài, Kiếp vận đặc cách là 3 tình huống thỏa mãn điều kiện của lá số tử vi phú quý, có điềm vượng tài, đắc cách.  Ví dụ cụ thể như sau: một người khi còn bé người nhà đi xem mệnh nói sau này tương lai sẽ phát tài, sau đó quả nhiên phát tài. Đó không phải nói bừa mà là họ đã xem xét mệnh cục, dựa vào bát tự mệnh lý để đưa ra những lời dự đoán, định hướng có độ chính xác cao. Có thể tham khảo thêm bài viết hướng dẫn xem lá số tử vi dựa vào thần sát để làm phong phú kiến thức về lĩnh vực này.  

2. Lá số chính đại vận

  Càn tạo: Bính Ngọ, Mậu Tuất, Giáp Dần, Ất Sửu   Đại Vận: Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tị. Hiện tại đang là đại vận Quý Mão.   Tuổi Giáp Mộc sinh vào mùa thu, tháng Tuất bất tuân, địa chi có tam hợp Dần Ngọ Tuất tiếp thêm sức lực, là gốc rễ hóa chi ngày thì dẫn tới tài vận kém cỏi. Trụ tháng có Thiên Tài đương lệnh, can chi liền mạch, trụ năm có tam hợp vượng Hỏa cục nâng đỡ, Thiên Tài rất vượng. 
Nhung la so tu vi phu quy, dinh san giau co phat tai hinh anh
 
Tử vi cho biết, nhật nguyên yếu, với Hỏa vượng Thổ vượng đều là kị thần. Nhưng bát tự dù sao cũng lấy Thiên Tài làm chủ đạo nên bản chất kinh doanh buôn bán rất tốt, có điềm báo phát tài rõ ràng, tự mình làm chủ, càng làm càng phất, chăm chỉ thì cuối đời đáng mừng, tích lũy tài sản để lại cho con cháu.   Người mà hành Thủy vượng, Ấn tinh vượng thì rất có lợi, thành tích học tập giỏi, sẽ được kì vọng là học hành đỗ đạt, có thể xin công việc tốt, thu nhập cao. Nhưng khi xem bát tử mệnh lý thì lại thấy hoàn toàn ngược lại, Canh Tý vận Canh Kim có Thất Sát xung với ngày mà Thất Sát đại biểu cho tiểu nhân, địa chi Tý xung năm Ngọ Hỏa, tất phải rời khỏi quê hương tha phương cầu thực.  Canh Tý vận chủ xuất ngoại làm công, đại vận Canh Kim cùng bát tự có Bính Hỏa tạo thành cách cục Thực Thần chế Sát, can chi đại vận lại là cách cục Sát Ấn tương sinh nên trưởng thành đến Tân Sửu đại vận thì chuyển nghịch, có thể an cư lập nghiệp, cuộc sống sung túc hơn trước.   Tiến vào Nhâm Dần đại vận, mệnh chủ kết bạn bốn phương, làm ăn hài lòng, sự nghiệp phát đạt. Nhâm Dần đại vận hay Quý Mão đại vận đều là Thủy Mộc vận, thân cường thắng tài nên phát tài. Tiến vào Giáp Thìn đại vận thì địa chi Thìn Tuất tương xung, xông vào tài khố, càng làm càng phát tài. Tiến vào đại vận Ất Tị lộ ra Kiếp Sát, nhiều rủi ro. Tị Hỏa tiết chế Mộc, sinh Thổ dẫn tới đại hung, tiền tài khó khăn, làm ăn thất bát.   Như vậy, lá số tử vi phú quý được định sẵn nhưng có thời kì, lúc tốt lúc xấu. Có người tốt cả đời nhưng có người tốt lúc này, xấu lúc khác, họa phúc đan xen, không thể đoán định trước nên khi xem mệnh phải hết sức lưu ý. Tuy nhiên, số mệnh có thể đổi dời, tử vi có thể thay đổi, tùy thuộc vào phần "đức năng thắng số" nên chung quy lại, vẫn cần nhiều nỗ lực của chính mình.
Những lá số tử vi có chủ tinh báo hiệu lấy chồng giàu sang Có phải người có lá số tử vi Kim vượng là mệnh phú quý? Xem bát tự đoán tài vận cả đời
Trình Trình

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lá số tử vi phú quý, định sẵn giàu có phát tài

Nhìn trán phán bản chất chính xác tới 80 phần trăm

Qua hình dáng của vầng trán, người ta có thể nhận biết rõ ràng bản chất, tính cách của người đối diện
Nhìn trán phán bản chất chính xác tới 80 phần trăm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trán là phần bao bọc phía ngoài của não bộ, não bộ lại chủ về tri thức, nên qua hình dáng của vầng trán, người ta có thể nhận biết rõ ràng bản chất, tính cách của người đối diện.

Nhin tran phan ban chat chinh xac toi 80 phan tram hinh anh
 


Trán chia làm 3 phần: Nếu phần trên cùng dô ra thì người này có trí nhớ cực kỳ tốt. Phần giữa dô ra thì người này khá nhạy bén. Còn nếu phần dưới dô ra thì người này rất có năng khiếu nghệ thuật.

Trán rộng: Thể hiện người này luôn phải bận tâm suy nghĩ, hoạt động trí não.
 
Giữa trán bị hõm vào: Chỉ người kiêu căng ngạo mạn.
 
Trán rất nhỏ: Là người kém thông minh.
 
Trán cao và rô: Có độ thông minh và hiểu biết cao.
 
Trán thẳng và phẳng: Người hay đau ốm.
 
Trán cân đối: Thường hay suy nghĩ, đa cảm.
 
Trán thấp và hẹp: Ngang bướng và không chịu động não.
 
Trán thấp, hẹp và rô. Chỉ biết hành động song không chịu dùng cái đầu để suy nghĩ.
 
Trán dài và hõm vào: Người này rất xấu tính.
 
Trán phẳng và rất dài: Là người cầu toàn, chịu tiếp thu, song lại vô cùng nham hiểm.
 
Trán tròn và sáng: Là một thiên tài và có lòng hào hiệp.
 
Trán cứng và hẹp: Là một người chắc chắn và quyết đoán.
 
Đỉnh trán nhô và ra thẳng đứng: Thể hiện một người đứng đắn, lịch sự, có thể nhìn được tương lai trước mắt.
 
Trán rất lớn nhưng không có hình dạng cụ thể: Ngốc nghếch.

Soi trán đoán trí tuệ đàn ông
Theo nhân tướng học, chỉ cần nhìn mặt một người thì sẽ có thể đoán được tài của người đó. Người đó khôn ngoan, thông minh hay ngu ngốc, tất cả sẽ được thể
Trán nghiêng về phía sau nhiều: Là người có nhiều suy nghĩ ngốc nghếch, hay mơ mộng hão huyền.
 
Trán nhăn nheo: Là nhà khoa học.
 
Trán dày thịt: Chính là một người can đảm và mạnh mẽ.
 
Trán bị dị tật và sưng lên: Là người lừa đảo.
 
Nếu thanh niên đã có những nếp nhăn trên trán: Điều này thể hiện họ có rất nhiều chuyện buồn.
 
Trán thấp và nhô lên: Thể hiện người không thể tự quyết định và thay đổi suy nghĩ trong bản thân họ.
 
► Xem nốt ruồi trên mặt phụ nữ đoán tính cách chuẩn xác

Nguyễn Huyền (Theo Facereading)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn trán phán bản chất chính xác tới 80 phần trăm

3 chòm sao phô trương thích trưởng giả học làm sang

3 chòm sao phô trương dưới đây, dù chẳng phải mới phất lên nhưng khí chất thì lại giống y hệt, nhất nhất trưng diện khoe của.
3 chòm sao phô trương thích trưởng giả học làm sang

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

"Nhà giàu mới nổi" vốn chẳng tốt đẹp gì, có tiền là phơi bày thanh thế một cách quá đà.

 
3 chom sao pho truong thich truong gia hoc lam sang hinh anh
 

Kim Ngưu

  Chòm sao yêu tiền như Kim Ngưu luôn có cảm giác tự hào về khối tài sản mà mình có được. Họ sống tiết kiệm, cóp nhặt và làm việc rất chăm chỉ để thỏa mãn ham muốn của bản thân. Nên khi đã thành công, đã kiếm được một khoản dù lớn hay bé thì Kim Ngưu cũng muốn cả thế giới biết đến thành tựu của mình.   Họ tiêu tiền, mua sắm, trưng diện, nhưng vốn không quen với chốn xa hoa nên cách thức của họ khá quê mùa, kệch cỡm và khiến người khác bàn tán. Chỉ có điều, chòm sao này vốn không quan tâm tới ánh nhìn của người khác, cứ tự do làm bản thân vui là được.
 

Sư Tử

  Chòm sao phô trương nhất vòng tròn hoàng đạo này luôn tìm đủ mọi chiêu trò để mình nổi bật nhất, đình đám nhất. mỗi ngày, Sư Tử đều lượn qua lượn lại, khoe khoang sự giàu có, thành đạt và hạnh phúc của bản thân, người khác có đồ gì đẹp họ cũng phải có bằng được để nhận được sự ngưỡng vọng của người khác. Có thể cuộc sống của họ tốt như vậy thật, cũng có thể không.   Tất nhiên, không ai rỗi hơi mà tung hô Sư Tử cả ngày. Cũng như khoe quá đà, bày lộ liễu như thế chỉ khiến người khác nghĩ rằng cung hoàng đạo Sư Tử đang “trưởng giả học làm sang”. Nhiều khi, cố gồng mình lên để sang chảnh cũng khiến chòm sao này mệt mỏi.  

Cự Giải

 
3 chom sao pho truong thich truong gia hoc lam sang hinh anh
 
Cự Giải rất hiền lành, nhưng lại là chòm sao ham hư vinh, thích hưởng thụ. Có chút tiền là Cự Giải trang bị phục sức lòe loẹt, trang sức đắt tiền, mặc kệ người khác nói mình là khoe của hay kệch cỡm. Họ chỉ muốn khiến mình lỗng lẫy hơn, ra dáng hơn.
  Có thể những thứ đó không phù hợp với Cự Giải nên họ không được đánh giá cao, thậm chí chi nhiều tiền nhưng lại chẳng hiệu quả, không được khen mà chỉ nhận chê.

Xem thêm: Cự Giải chỉ hạnh phúc khi ở bên chòm sao nào? 
Trình Trình
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 chòm sao phô trương thích trưởng giả học làm sang

Các lễ hội ngày 12 tháng 7 âm lịch - Hội Miếu Ba Thôn

Hội Miếu Ba Thôn được tổ chức vào ngày 12 tháng 7 âm lịch hàng năm tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 12 tháng 7 âm lịch - Hội Miếu Ba Thôn

Các lễ hội ngày 12 tháng 7 âm lịch - Hội Miếu Ba Thôn

Hội Miếu Ba Thôn

Thời gian: tổ chức vào ngày 12 tháng 7 âm lịch.

Địa điểm: xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Nguyễn Cang.

Nội dung: Hội miếu ba thôn hàng năm thường tổ chức lễ rước nước ở ngoài biển.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 12 tháng 7 âm lịch - Hội Miếu Ba Thôn

Xem tướng phụ nữ qua đặc điểm của mông

Nhân tướng học quan niệm, xem tướng phụ nữ thấy tướng mông tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là mông cong thì mới đúng chuẩn tướng cách
Xem tướng phụ nữ qua đặc điểm của mông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một khuôn mặt xinh xắn, một dáng hình thon thả và "vòng 3" săn chắc, gợi cảm là điều mơ ước của rất nhiều chị em phụ nữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có được "của trời cho" ấy. Vậy thế nào là một đôi mông đẹp, có tướng cách tốt theo tiêu chuẩn của thuật xem tướng phụ nữ ? 


(Ảnh chỉ có tính chất minh họa)


Theo quan niệm của nhân tướng học, một đôi mông đúng tướng cách phải lấy tiêu chuẩn bình mãn làm đầu. Bình mãn có nghĩa là mông phải tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là mông cong. 

Phụ nữ tướng cách tốt cần có đôi mông tròn, đều đặn, tương xứng với thân mình. Nếu mông quá to là người tính nóng nảy, không chịu nhún nhường người khác. Nếu đôi mông lép thì đôi chân lại trở nên thiếu cân đối, người đó khó mà an nhàn sung sướng được.

Phụ nữ có đôi mông nhỏ, thường ưa sống nội tâm; tính cách lúc nóng như lửa, lúc lại lạnh như băng; đầu óc minh mẫn, khả năng phán đoán linh hoạt và tư tưởng sắc bén. Về tình yêu, người này thường dễ rung động nhưng tình duyên không phải lúc nào cũng được suôn sẻ.

Phụ nữ có đôi mông hơi lớn thì tính tình lại độ lượng và hào phóng hơn. Trong chuyện tình cảm, người này yêu hết lòng và dám hi sinh tất cả vì người mình yêu. Tuy nhiên, đôi khi  cũng vì bản tính này mà họ dễ bị dụ dỗ, lừa gạt. Cuộc sống của người này khá suôn sẻ, đủ ăn đủ mặc, không có gì phải lo lắng.

Tướng người phụ nữ nhỏ bé mà cũng không có mông thì tuy học vấn cao nhưng thành công ít, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phụ nữ mập tròn mà không có mông thì hiếm muộn về đường con cái, cuộc sống dễ trở nên cô độc, buồn nản.

Về màu sắc của da mông, giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt nhiều. Đàn ông da mông nên có màu nâu mới khỏe mạnh, nếu nam mà mông trắng bệch thì tính cách mềm yếu, nhu nhược như đàn bà. Nhưng phụ nữ thì da mông phải thật trắng hồng mới đầy đủ nữ tính. 

(Theo Nhân tướng học toàn thư)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng phụ nữ qua đặc điểm của mông

Mệnh cách trợ lực cho tài vận của bạn

Trong Tử vi đẩu số thì có mười mệnh cách trợ lực nhiều nhất cho tài vận, mệnh cách của bạn có là những mệnh cách này?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong các mệnh cách của Tử vi đẩu số thì mệnh cách Lộc mã giao trì (Lộc mã phôi ấn), Nhật nguyệt giáp mệnh, Nhật nguyệt chiếu bích, Tài lộc giáp mã, Nguyệt lang thiên môn, Tài ấn tọa mã, Lộc hợp uyên ương (Song lộc triều viên), Phủ tướng triều viên, Tử phủ đồng cung (Tử phủ triều viên), Nhật chiếu lồi môn (Nhật xuất phù tang)... là trợ giúp nhiều nhất đối với tài vận.

menhcachtaivan

1. Mệnh cách Lộc mã giao trì: Tài lộc nhiều

Lộc tồn, Thiên mã cùng tọa thủ tại cung Tài bạch, Thiên di hoặc Điền trạch, không bị 4 sát tinh Dương, Đà, Hoả, Linh xung phá (cung đối diện) là mệnh cách Lộc mã giao trì, tài lộc nhiều, danh lợi song toàn, càng động thì càng phát tài.

Nếu lại thêm sao Thiên tướng cùng tọa thủ là mệnh cách Lộc mã phôi ấn càng được nắm quyền, tài lớn quyền lớn.

2. Mệnh cách Nhật nguyệt giáp mệnh: cả đời giàu có

Sao Thiên phủ tại Sửu, Mùi tọa cung Mệnh (Tài), sao Thái dương, Thái âm cùng giáp, hoặc Vũ khúc, sao Tham lang tọa thủ cung Mệnh (Tài) tại Sửu, Mùi, nhật nguyệt đồng Giáp, là mệnh cách Nhật nguyệt giáp mệnh (tài), cả đời giàu có, tài vận hanh thông, có tiền tài địa vị (giáp cung Mùi thì càng tốt hơn).

Nhật nguyệt giáp Vũ khúc, Tham lang thì còn gọi là mệnh cách Vũ Tham (gặp hung tinh Dương, Đà thì phá mệnh cách), chủ tính cách kiên cường, gặp cơ hội tốt mà một bước phát triển nhưng phát triển muộn thì hơn, hơn nữa tha hương mới được như ý.

3. Mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích: Kế thừa tổ nghiệp

Thái dương (nhật), Thái âm (nguyệt) tại Sửu, Mùi cùng nhập cung Điền trạch, nhật, nguyệt lần lượt hợp chiếu cung Điền trạch tại Thìn, Tuất là mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích, bất động tài sản nhiều, có thể kế thừa tổ nghiệp, là mệnh hào phú.

4. Mệnh cách Tài lộc giáp mã: Nguồn tài nhiều

Sao Thiên mã tọa mệnh tại cung Tỵ, Hợi, sao Vũ khúc (tài), Lộc tồn (hoặc Hóa lộc) tinh cùng giáp, là mệnh cách Tài lộc giáp mã, nguồn tài nhiều, càng động thì càng sinh tài.

5. Mệnh cách Nguyệt lang thiên môn: Sự nghiệp sớm thành

Sao Thái âm nhập miếu tọa mệnh tại cung Hợi, sao Thái dương, Thiên lương nhập miếu cùng hội chiếu tại cung Mão (Quan lộc), người sinh vào ban đêm là mệnh cách Nguyệt lang thiên môn, tài vận phong phú, được toại nguyện khi còn trẻ tuổi, giàu có xứng đáng.

6. Mệnh cách Tài ấn tọa mã: Phú quý song toàn

Vũ khúc (tài), Thiên tướng (ấn), sao Thiên mã cùng tọa mệnh tại cung Dần, Thân, là mệnh cách Tài ấn tọa mã, danh lợi lưỡng toàn, phú quý song toàn.

7. Mệnh cách Lộc hợp uyên ương: Tài quan song mỹ

Sao Lộc tồn, Hóa lộc cùng tọa mệnh, là mệnh cách Lộc hợp uyên ương. Sao Lộc tồn, Hóa lộc cùng hội chiếu tại cung (Tài bạch, Quan lộc, Thiên di) của Tam phương Tứ chính tại cung Mệnh, là mệnh cách Song lộc triều viên, tài quan song mỹ.

8. Mệnh cách Phủ tướng triều viên: Phú quỷ song toàn

Sao Thiên phủ tọa mệnh, sao Thiên tướng hội chiếu tại cung Tài bạch; hoặc sao Thiên tướng tọa mệnh, sao Thiên phủ hội chiếu tại cung Tài bạch, không có sát tinh xung phá, mà sao Thiên tướng tất phải miếu vượng là mệnh cách Phủ tướng triều viên, phú quý song toàn.

9. Mệnh cách Tử phủ triểu viên: Được cả phú và quý

Sao Tử vi miếu vượng, sao Thiên phủ tọa mệnh, Tam phương Tứ chính lại thêm cát tinh là mệnh cách Tử phủ triều viên. Sao Tử vi, Thiên phủ cùng tọa mệnh là mệnh cách Tử phủ đồng cung, không phải lo đến việc ăn mặc, tài vận không thiếu, được cả phú và quý.

10. Mệnh cách Nhật chiếu lôi môn: Tài đạt khắp nơi

Sao Thái dương nhập miếu tọa mệnh tại cung Mão (sao Thiên lương nhập miếu cùng tọa thủ), sao Thái âm nhập miếu hội chiếu tại cung Hợi (cung Tài bạch), người sinh vào ban ngày là mệnh cách Nhật chiếu lôi môn hay còn gọi là mệnh cách Nhật xuất phù tang.

Có khả năng lãnh đạo và giao tiếp siêu việt, có trách nhiệm và chính nghĩa, không phải là sinh ra trong gia đình phú quý mà là thiếu niên thành tài, nổi danh thiên hạ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mệnh cách trợ lực cho tài vận của bạn

Ý nghĩa Thất Sát và một số sau khác

CÁCBỘ SAO TỐT - Sát, Tử – Vi ở Tỵ: phú quí, uyquyền (Thất Sát ở đây được ví như gươm báu của nhà vua). - Sát Liêm đồng cung ở Sửu Mùi, Mệnh Ất, Kỷ, Âmnam: anh hùng quán thế, can đảm, thao lược. - Sát Hình đồng cung hay hội chiếu:liêm chính, ngay thẳng, chính trực, vô tư, hiển đạt về nghiệp võ, rất uy nghi lẫmliệt, nhưng tính nóng nảy khiến thiên hạ phải khiếp sợ.
Ý nghĩa Thất Sát và một số sau khác

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

CÁC BỘ SAO XẤU

-    Sát Tử Hỏa Tuyệt: người háo sát, giết người không gớm tay, không bị lương tâm cắn rứt.

-    Sát Liêm Sửu Mùi: chết ở ngoài đường vì tai nạn xe cô hay vì dao súng (ám sát).

-    Sát hãm địa (hay Phá hãm địa): tha phương lập nghiệp: người lắm nghề nhưng không tinh thục.

-    Sát Phá Tham, nữ Mệnh tuổi Tân Đinh gặp Văn Xương: góa bụa, nghịch cảnh vì gia đạo, làm lẽ, sát phu, muộn chồng.

-    Sát gặp Tứ Sát (Kình Đà Linh Hỏa): bị tật, chết trận rất thê thảm.

-    Sát Kình ở Ngọ: chết vì đao súng, không toàn thây nhất là đối với tuổi Bính, Mậu. Ngoại lệ đối với hai tuổi Giáp, Kỷ (anh hùng cái thế).

-    Sát ở cung Thân: yểu.

-    Sát ở Tý Ngọ gặp Kiếp Riêu: ghét đàn bà, thích sống độc thân. Còn đàn bà thì đa tình, đa mang đau khổ nhiều lần.

-    Sát hãm gặp Hỏa Kình: nghèo, làm nghề sát tinh.

Tóm lại, các sao xấu đi với Thất Sát tại hãm địa, hiểm nguy rất nhiều và phải chết thê thảm. Sát là sao chỉ tương đối tốt nếu đắc địa, nhưng hết sức hung khi gặp sao xấu hoặc hãm địa. Hung, sát tinh không phải lúc nào cũng bảo trợ sao Sát, Phá, Liêm, Tham: có nhiều trường hợp ngoại lệ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa Thất Sát và một số sau khác

Vì sao con người có 3 hồn?

Nhiều người thắc mắc, trong mỗi con người chỉ có một phần hồn và phần xác, nhưng trong các đám ma người ta lại gọi ba hồn. Dưới đây là một cách lý giải ba hồn
Vì sao con người có 3 hồn?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

trong dân gian theo khoa học. 


Vi sao con nguoi co 3 hon hinh anh
 
ThS Vũ Đức Huynh lý giải “ba hồn” theo phân tích khoa học gồm: thành tố thần thức, thành tố vía và thành tố phách.
 

Phần hồn gồm các hạt điện năng sinh học âm và dương liên kết với nhau thành mạng lưới có thể co lại và dãn rộng ra tùy trường hợp hay có thể móc thêm vào các mắt lưới mới vẫn theo nguyên dạng mẫu đã được định hình từ khi lọt vào “cửa sinh” của người phụ nữ để hình thành sinh linh mới khi có điều kiện âm (vợ), dương (chồng), giao hòa thuận hợp.
 

Ba thành tố cơ bản của phần hồn được sắp xếp theo dạng mạng hạt vòng đứng lần lượt. Thành tố vía gồm hạt điện sinh học âm và dương, có 2 phần và ở ngoài cùng; phần mạng vòng các hạt điện sinh học ở phía trong vòng thần thức. Và phần mạng vòng các hạt điện sinh học có dương ở ngoài giáp “vòng trường sinh âm tính” ở bên ngoài bao quanh cơ thể cấu tạo vòng vía là hoàn hảo vì có cả âm dương nên cấu tố vía tương đối độc lập. Nó có thể uyển chuyển tạm thời tách được khỏi phần hồn, hay tương tác dễ dàng với các sóng mang thông tin có tràn ngập bên ngoài cơ thể và trong bao la.
 

Thành tố thần thức chỉ gồm các hạt điện năng lượng sinh học dương liên kết với nhau thành mạng lưới vòng đứng sát vòng mạng điện tích âm của thành tố vía bên trong. Đây là thành tố trọng yếu mang chức năng nhạc trưởng của phần hồn, có trọng trách dịch mã thông tin từ bên ngoài thu nhận được, nơi hình thành mọi ý tưởng và điều hành các hoạt động nhịp nhàng, cũng là nơi lưu giữ nhiều nhất các ký ức chung và riêng với hai thành tố vía và phách. Đặc biệt, nó liên thông chặt chẽ với vía và phách để tạo mọi sự hài hòa đồng bộ trong các hoạt động của con người sống.
 

Thành tố phách gồm toàn các hạt điện sinh học âm với cấu tạo mạng lưới vòng đứng theo chiều dài cơ thể nằm ở trong cùng. Nó nặng nhất và mang nhiều ký ức bản ngã dục vọng của con người vì nó điều hành chủ yếu mảng này.
 

Những lý giải “ba hồn” dựa trên nguyên lý khoa học vật lý và sinh học này là một trong những giả thuyết để giải thích các hiện tượng kì bí như nhập hồn, nhớ lại tiền kiếp,… cùng hiện tượng ma quỷ. 

► Mời các bạn xem tử vi năm 2016 theo cung, mệnh bản thân chuẩn xác

ST


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao con người có 3 hồn?

Những thế nước quanh nhà đại kị trong phong thủy

Dòng nước gần nhà có thể mang lại luồng khí tốt cho gia chủ nhưng nếu ở vị trí phạm phong thủy, cũng đưa đến những bất lợi, không hay. Cùng xem để tránh những
Những thế nước quanh nhà đại kị trong phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

thế nước quanh nhà đại kị về phong thủy.

Nhung the nuoc quanh nha dai ki trong phong thuy hinh anh
 
1. Hồ ở Tây Bắc, nghèo khó suốt đời
Phía tây Bắc (cung Càn) gọi là Thiên Môn. Thiên Môn có ao hồ gọi là “Thiên Môn bị khuyết”, “Kim hàn Thủy lạnh”, rất bất lợi.
 
2. Càn lâm Khôn thủy, tử tôn bần tiện Phía Tây Bắc (Càn) nhà có nhiều cây, phía Tây Nam (Khôn) nhà có dòng nước, ao hồ thì là hung. Chủ nhà nghèo khó, con cháu bần hàn.
 
3. Thủy xối ngọ phương, trước giàu sau nghèo Nhà hướng Nam bị dòng nước xối thẳng vào nhà thì hậu vận lụi tàn, trước giàu sau nghèo. Nên chuyển cổng sang hướng khác.
 
4. Cầu nhỏ xối nhà, bất lợi tiền của Cầu gần nhà không những gây bất lợi về tài vận mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của gia chủ. Nên đặt gương lồi hóa giải.
 
5, Nhà có nhiều ao hồ dễ gặp “Đào hoa trạch” Nhà có các phương kiến thủy như ao, hồ, đài phun nước khiến chủ nhà dễ gặp chuyện đào hoa. Trời mưa, nước chảy về phía nhà gọi là lai thủy (thủy đến), nước chảy đi gọi là khứ thủy (thủy đi).
 
Lai thủy ở phía Đông (Mão), khứ thủy ở phía Nam (Ngọ) là nhà đào hoa điển hình. Đào hoa có 4 loại: “Tường nội đào hoa” chỉ tình cảm vợ chồng thắm thiết; “Tường ngoại đao hòa” chỉ tình cảm nam nữ bất chính; “Thêm đinh đào hoa” chỉ trường hợp không có con trai, tìm vợ bé để sinh con trai; “Nhân duyên đào hoa” là gia chủ có nhiều mối duyên nợ tình cảm.  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những thế nước quanh nhà đại kị trong phong thủy
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries