Lịch sử Lịch vạn niên: Dưới triều Nguyễn cuốn Lịch vạn niên dùng để chọn ngày, chọn giờ thông dụng nhất là Ngọc hạp thông thư,Đối chiếu Ngọc hạp thông thư với một số tư liệu khác như Vạn bảo toàn thư, Tuyển trạch thông thư.
Lịch sử Lịch vạn niên: Dưới triều Nguyễn cuốn Lịch vạn niên dùng để chọn ngày, chọn giờ thông dụng nhất là Ngọc hạp thông thư, ngoài ra có cuốn Tăng bổ tuyển trạch thông thư quảng ngọc hạp kỷ. ( 2 quyển Tăng bổ tuyển trạch thông thư quảng ngọc hạp ký, một bản do Phúc Văn Đường in năm Đinh Dậu triều Thành Thái (1897), một bản do Phúc An Hiệu in năm Qúy Hợi triều Khải Định (1923). Ngoài ra một số bản khác rải rác ỏ các tủ sách gia đình nhà nho cũ ở các tỉnh miền Trung, miển Bắc.
Tên đề và nội dung thống nhất với Ngọc hạp thông thư nhưng các quyển này ngoài phần Ngọc hạp thông thư còn kèm theo nhiều tạp thuật khác như bùa trấn yếm, trong việc chọn ngày có cả những thuyết đã bị bãi bỏ ỏ Trung Quốc từ thời vua Càn Long. Ở nước ta dưới triều Nguyễn còn có Khâm định vạn niên thư và Hiệp kỷ lịch. Theo Phan Kế Bính trong bài "Xem ngày kén giờ" trích trong cuốn Việt Nam phong tục có đoạn viết:
"Mỗi năm ngày mồng một tháng Chạp, Hoàng đế ngự điện khai trào, các quan toà Khâm Thiên giám cung hiến Hiệp kỷ lịch, rồi khâm mạng vua mà ban lịch đi khắp nơi... Ban lịch trọng nhất là để cho thiên hạ biết chính xác khí tiết, tháng thiếuI tháng đủ, ngày tốt ngày xấu để tuân hành được đều nhau..."
Xem cuốn "Lịch hai thế kỷ (1802- 2010) và các lịch vĩnh cửu" của GS. Lê Thành Lân cũng có nói đến Vạn niên thư và Hiệp kỷ lịch triều Nguyễn, nhưng nội dung chủ yếu so sánh giữa lịch ta và lịch triều Thanh Trung Quốc, về ngày tốt xấu, tháng nhuận, tháng thiếu, tháng đủ. Đó là những khoản mục có tính pháp định, không thấy đề cập đến ngày tốt, ngày xấu. GS. Lê Thành Lân có trích một đoạn} trong Đại Nam Thực lực nói về chức trách của Khâm Thiên Giám triều Nguyễn (trang 84): "... Phàm suy tính để chiêm nghiệm sai độ của từng năm, bình trật để phân đều khí hậu, ghi chép lịch sử lịch số để nêu đúng năm và mùa, miêu tả sắc mây và hình vật để xem đoán tượng trời, xem ngày giờ để chọn tốt lành, coi giọt lậu để báo trống canh. Mọi sự có quan hệ về cách suy tính ấy đều giao cho Khâm thiên giám. Đại thẩn quản lý Khâm thiên giám do đặc cách kén chọn cử ra, không nhất định là viên quan nào. Qua đó ta có thể nhận định rằng: Ngọc hạp thông thư (tức Lịch vạn niên để xem ngày tốt ngày xấu dưới triều Nguyễn) là loại lịch cũng do Khâm thiên giám ban hành nhưng không hẳn có tính pháp đinh như Khâm định vạn niên thư hay Hiệp kỷ lịch.
Ngọc hạp thông thư liệt kê các loại sao tốt và xấu theo ngày hàng can (ở giữa) hàng chỉ (chung quanh theo 12 cung) của từng tháng, gổm 12 tờ, mỗi tháng một tờ. Có một bản kê riêng sao tốt sao xấu tính theo ngày âm lịch từng tháng và một bản kê các sao xếp theo hệ lục thập hoa giáp cả năm. Cuối sách là bản kê các sao tốt, tính chất tốt của từng sao, bản kê các sao xấu cũng vậy.
Nếu theo Lịch vạn niên Trung Quốc thì có 4 loại Thần sát (Niên Thần sát: sao vận hành theo năm, Nguyệt Thần sát: sao vận hành theo tháng, Nhật Thẩn sát: sao vận hành theo ngày và Thời Thần sát: sao vận hành theo giờ). Xem trong Ngọc hạp thông thư chỉ ghi 3 niên thần sát: Tuế đức, Thập ác Đại bại, Kim thần Thất sát thay đổi theo từng năm hàng can (khác với Trung Quốc, có đến 30 niên Thần sát, trong đó có trên 10 niên Thần sát trùng tên với Nguyệt Thần sát của Việt Nam). Còn giờ tốt giờ xấu, Ngọc hạp thông thư chỉ ghi giờ Thiên cẩu hạ thực, giờ con nước (thủy triều lên xuống). Chọn giờ tốt xấu chủ yếu dựa vào giờ Hoàng đạo.
Đối chiếu Ngọc hạp thông thư với một số tư liệu khác như Vạn bảo toàn thư, Tuyển trạch thông thư. Đổng công tuyển trạch nhật, Thần bí trạch cát, v.v... Chúng tôi đã rút ra được quy luật vận hành của các Thần sát, phân loại lập thành các bản kê sau đây:
A. Bản kê tính chất sao và quy luật vận hành các sao tốt xếp theo ngày hàng can, hàng chi từng tháng âm lịch.
B. Bản kê các sao xấu cùng nội dung trên.
C. Bản kê các sao tốt xấu vận hành theo ngày kết hợp can chi cả năm.
D. Bản kê các sao tốt xấu vận hành theo ngày âm lịch cả năm và từng mùa, từng tháng.
Xuất hành di chuyển Hôn nhân giá thú Xây dựng sửa chữa nhà cửa Khai trương, cầu tài lộc An táng, xây dựng, sửa sang mồ mả Tế tự, cầu phúc, kiện tụng... Trích Ngọc hạp thông thư: xếp sao theo tháng theo ngày: Mỗi tháng theo ngày can, ngày chi, ngày trực, ngày sao, ngày lịch âm liệt kê các sao tốt xấu.
Giúp bạn tự tính nhẩm mệnh ngũ hành năm sinh theo Can Chi
Bạn có biết mình mệnh gì, cha mẹ, con cái mình mệnh gì không? Chỉ cần biết Can Chi của một năm bất kỳ, bạn sẽ tính nhẩm mệnh ngũ hành năm sinh theo can chi.
– Bạn có biết mình mệnh gì, cha mẹ, con cái mình mệnh gì không? Chỉ cần biết Can Chi của một năm bất kỳ, bạn sẽ tính nhẩm ra ngay mệnh ngũ hành rồi.
1. Can Chi là gì?
Can Chi, còn gọi là Thiên Can Địa Chi, là hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước có nền văn hóa Á Đông như: Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và một số quốc gia khác.
Can Chi được áp dụng với tổ hợp chu kỳ 60 (tức bội số chung nhỏ nhất của 10 Can và 12 Chi) trong âm lịch nói chung, để xác định tên gọi của thời gian (ngày, giờ, năm, tháng) cũng như trong chiêm tinh học.
Can ứng với 10 can khác nhau, theo thứ tự: Giáp - Ất - Bính - Đinh - Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm - Quý.
Chi biểu thị 12 chi, tức 12 con vật trong vòng hoàng đạo của tử vi phương Đông, còn gọi là 12 con giáp.
Các con giáp lần lượt là: Tý (chuột) - Sửu (trâu) - Dần (hổ) - Mão (mèo, hoặc thỏ ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản) - Thìn (rồng) - Tỵ (rắn) - Ngọ (ngựa) - Mùi (dê) - Thân (khỉ) - Dậu (gà) - Tuất (chó) - Hợi (lợn).
Ban có thể tìm hiểu thêm: Quan hệ can chi - ngũ hành và ảnh hưởng tới bản mệnh
2. Cách tính nhẩm mệnh ngũ hành năm sinh theo Can Chi như thế nào?
Công thức: Mệnh ngũ hành = Can + Chi
Trong đó, 10 Can được quy đổi giá trị như sau:
Can
Giá trị tương ứng
Giáp, Ất
1
Bính, Đinh
2
Mậu, Kỷ
3
Canh, Tân
4
Nhâm, Quý
5
Tương tự, 12 chi được quy đổi giá trị như sau:
Chi
Giá trị tương ứng
Tý, Sửu, Ngọ, Mùi
0
Dần, Mão, Thân, Dậu
1
Thìn, Tỵ, Tuất, Hợi
2
Lưu ý: Giá trị của Can + Chi ứng với các Mệnh (nếu kết quả > 5 thì trừ đi 5 để ra mệnh). Cụ thể giá trị các mệnh như sau:
Kim = 1
Thủy =2
Hỏa = 3
Thổ = 4
Mộc = 5
Ví dụ, năm Bính Thân 2016 sẽ được tính mệnh ngũ hành như sau: Bính + Thân = 2 + 1 = 3 => Mệnh Hỏa.
Để hiểu thêm về bản chất của ngũ hành, mời bạn đọc tham khảo bài viết sau: Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là gì? và Thế nào là ngũ hành tương sinh tương khắc? Việt Hoàng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Cát Phượng (##)
Năm bản mệnh có cái tốt cũng có cái xấu. Điều tốt là tiền tài sẽ tăng lên nhanh chóng, sự nghiệp lên như diều gặp gió; điều xấu là điều xui xẻo liên tiếp kéo tới.
Trong cuộc đời khi một người gặp phải một năm có địa chi giống như năm mà người đó sinh ra, thì năm đó gọi là năm bản mệnh hay năm tuổi.
2. Năm 2015 là năm bản mệnh của những người nào?
Mỗi năm sẽ có những người bước vào năm bản mệnh, bị các sao Hung chiếu, khiến cho cuộc sống lận đận, không thể yên ổn. Năm nay những người sinh năm 1931, 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003 sẽ bước vào năm bản mệnh.
Năm nay là năm bản mệnh của những người cầm tinh con Dê.
3. Năm bản mệnh có ảnh hưởng như thế nào?
Năm bản mệnh cũng giống như một chiếc ghế có hai người cùng ngồi, một bát cơm có hai người cùng ăn, hoặc đi đường, làm việc phải cõng thêm một người nữa. Năm bản mệnh có cái tốt cũng có cái xấu. Điều tốt là tiền tài sẽ tăng lên nhanh chóng, sự nghiệp lên như diều gặp gió; điều xấu là điều xui xẻo liên tiếp kéo tới.
Tóm lại, những người trong năm bản mệnh sẽ không thể có một năm yên lành. Trong năm 2015, năm bản mệnh là thiên can Ất Mộc khắc chế Vị Thổ, khiến cho những người tuổi Dê chịu nhiều ràng buộc, khó có thể tiêu dao tự tại.
4. Vận thế của những người năm bản mệnh 2015
Những người tuổi Dê xem tử vi, một khi bước vào năm Dê Ất Vị, sẽ bị các sao hung Kiếm Phong, Thái Tuế, Trạng Thi chiếu. Khi đó dễ có hiện tượng sức khỏe bị tổn hại, công việc sự nghiệp có biến động lớn, hoặc là nhảy việc, từ chức, thất nghiệp, đương nhiên cũng có cả thăng chức, điều động,...- không nhất định là chỉ có những ảnh hưởng xấu. Về tài vận, nhất là những người kinh doanh, khi đầu tư khoản tiền lớn thì cần vạch kế hoạch kĩ càng, kể cả phương án khống chế rủi ro để tránh lâm vào bước đường cùng, đói quá hóa liều.
Những người năm bản mệnh có áp lực tâm lý lớn, thường rơi vào trong mâu thuẫn, khó có thể thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn, cần tự điều chỉnh, gặp gỡ giao lưu với nhiều người và tích cực tham gia vào các hoạt động tập thể.
Những người thuộc năm bản mạng cần vạch rõ kế hoạch khi kinh doanh để tránh rủi ro.
5. Vận thế của từng năm bản mạng cụ thể thế nào?
Những người sinh năm 1931: tránh ngã bị thương.
Những người sinh năm 1943: chú ý các bệnh về tim, ngực, huyết quản.
Những người sinh năm 1955: chú ý bệnh về gan, thận.
Những người sinh năm 1967: tài vận không ổn định, đầu tư cần thận trọng.
Những người sinh năm 1979: dễ chiêu đào hoa, cần giữ mình thanh khiết.
Những người sinh năm 1991: công việc dễ gặp nhiều biến động.
Những người sinh năm 2003: học tập dễ phân tâm, không thể tập trung tinh thần.
Trên đây chỉ là những vấn đề nổi trội của từng năm chứ không có nghĩa là những người trong năm đó chỉ có hung mà không có cát.
6. Cấm kỵ trong năm bản mạng
- Những người năm bản mạng kỵ nhất là bị thương, chảy máu, phẫu thuật - nhất là những người tuổi đã cao hoặc những người hoạt động ngoài trời càng cần chú ý.
- Không được đặt đồ ví dụ như bàn làm việc, đầu giường …. ở hướng sao Thái Tuế cũng không được đặt ở hướng tương phản với Thái Tuế, tức hướng Tuế Phá. Nếu như đặt đồ vào hai hướng ấy sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra. Đồng thời vị trí Thái Tuế cần được giữ gìn sạch sẽ, có thể trồng cây phong thủy để tăng thêm may mắn, không nên động thổ, tu sửa ở hướng này. Năm nay hướng sao Thái Tuế là hướng Tây Nam, hướng Tuế Phá là Đông Bắc.
7. Cách hóa giải cho những người năm bản mạng theo Phong Thủy
- Dùng vải đỏ: trên những cây cổ thụ gần đền chùa thường treo rất nhiều mảnh vải đỏ. Nhiều người không biết những mảnh vải này dùng để làm gì, thật ra là dùng để hóa giải tai kiếp. Mua 1/3m vải đỏ, dùng bút viết tên và thời gian sinh của mình, và cả ước nguyện, sau khi viết xong buộc ở eo hoặc đặt dưới gối. Ba ngày sau, chọn giờ lành đem buộc lên cây cổ thụ. Trước khi buộc lên cây cổ thụ cần đi quanh cây bên trái 3 vòng, bên phải 3 vòng, vừa đi vừa lẩm nhẩm ước nguyện của mình.
Vì sao như vậy lại có thể hóa bỏ tai ương và bảo vệ cho bạn? Là bởi vì những cây cổ thụ có tuổi thọ cao, sức sống mãnh liệt, khả năng chịu đựng và chống chọi với tự nhiên khắc liệt lớn, trải quả hàng trăm năm mưa gió bão bùng còn không bị đổ, huống chi là gánh vác chút khó khăn của bạn.
- Phóng sinh: 3 ngày trước khi phóng sinh, mua 3 đến 5 còn rùa, mỗi con khoảng nửa cân, trên lưng rùa khắc tên của mình. Nuôi những con rùa này trong phòng ngủ của mình 3 ngày. 3 ngày sau chọn giờ lành đem thả ở ao, sông hoặc hồ.
Nếu như có thể kiên trì phóng sinh trong nhiều năm, thì không những sức khỏe dồi đào, mà sự nghiệp, tình duyên cũng thuận lợi. Thời gian thích hợp nhất để phóng sinh, thường là những ngày cuối cùng của một năm hoặc những ngày đầu tiên của một năm, lấy Âm lịch làm chuẩn.
Phóng sinh rùa là một cách hóa giải vận hạn năm bản mạng.
Đốt hương cầu Phúc là việc không thể thiếu trong những ngày Tết để hóa giải vận hạn.
- Dùng bùa: Cách này tương đối phức tạp, còn dựa vào từng người cụ thể, tốt nhất nên hỏi ý kiến của những người có chuyên môn.
Hình mẫu lý tưởng của 12 chòm sao nữ, đã gặp là yêu quên lối về
Con gái luôn có hình tượng nam thần của riêng mình, chỉ cần vừa nhìn thấy thì trái tim đã loạn nhịp rồi. Hình mẫu lý tưởng của 12 chòm sao nữ như thế nào nhỉ.
Con gái mà, luôn có trong lòng hình tượng nam thần của riêng mình, chỉ cần vừa nhìn thấy thì trái tim đã loạn nhịp rồi. Hình mẫu lý tưởng của 12 chòm sao nữ như thế nào nhỉ, cùng xem nhé!
Bạch Dương: đẹp trai
Tất nhiên cô gái nào cũng thích trai đẹp nhưng độ mê trai vô địch thiên hạ thì không ai dám tranh với cô nàng Bạch Dương đâu. Chỉ cần đẹp, tất cả những thứ khác đều không quan trọng, anh đẹp anh được tha thứ. Mà phải đẹp kiểu nam tính, đàn ông, mạnh mẽ và có dáng vẻ phóng khoáng cơ nhé.Nàng Bạch Dương sẵn sàng nhất kiến chung tình, vừa gặp đã yêu với anh chàng hấp dẫn ánh mắt mình. Có lẽ với nhiều người vẻ đẹp ngoại hình không so sánh được với vẻ đẹp nội tâm nhưng riêng cừu trắng bất chấp hết, một lần nhìn thấy, nguyện suốt đời theo anh. Hình tượng này căn cứ vào 12 chòm sao nữ với những tính cách không lạc đi đâu được đấy, thử xem có chuẩn không nhé.
Kim Ngưu: khí chất
Hình mẫu lý tưởng của 12 chòm sao nữ không ai giống ai, với Ngưu chan, chàng trai ấy đẹp hay không đẹp lắm cũng không quan trọng bằng việc chàng có khí chất riêng hay không. Giữa đám đông ồn ào, nhất định chàng ấy phải nổi bần bật, có thần thái, có phong độ, toát ra nội tâm phong phú và tình cảm tràn đầy.Cô gái Kim Ngưu thường có tính cách trầm tĩnh, không quá chú trọng tới vẻ ngoài mà muốn tìm cảm hứng trong những anh chàng thú vị, hiểu biết, có phong phạm với kiến thức sâu rộng. Có thể chàng ấy không hào quang rạng ngời, bắt mắt như những anh chàng đẹp trai nhưng khi nói chuyện thì nhất định là hấp dẫn khó tả.
Song Tử: trai hư
Thường có câu: trai không hư, gái không yêu, nếu áp dụng với Tử nhi thì đúng chuẩn rồi. Cô ấy không thích những anh chàng hiền lành, dịu dàng mà chỉ mê chàng có cá tính mạnh mẽ, có phong cách bui bặm chất chơi, có thể hơi hư một tí, có vài hình xăm nho nhỏ hay có cách ăn mặc hip hop chẳng hạn.Song Tử thích những thứ mới mẻ, chỉ có chàng bad boy mới có thể đưa cô ấy tới thế giới của niềm vui, sự hứng khởi và đôi khi cả liều lĩnh. Một chàng trai ngoan nào có thể cùng lên bar quẩy tới bến cùng cô, nào có thể phượt xuyên đêm mỗi khi cô có hứng hay làm sao dám trốn học, trốn làm dạo phố khi bất chợt Tử nhi rủ nhỉ.
Cự Giải: thành công
Với Cự Giải, hình mẫu cố định mà cô ấy hướng tới là người đàn ông thành đạt, thành công trong cuộc sống, là người có thể gánh vác trách nhiệm gia đình. Trong mắt chòm sao nữ dịu dàng và thích ổn định này thì đó chính là người đẹp nhất, hấp dẫn nhất, nam tính nhất, đáng để yêu nhất.Loại đàn ông chỉ được mẽ ngoài, chơi bời lêu lổng tất nhiên không thể trở thành người trong mộng của Cự Giải được rồi. Trầm ổn, chân thành, có công việc, có năng lực, có mục tiêu, anh ấy sẽ thu hút cô nàng ngay từ lần đầu tiên và nguyện cùng chàng đi tới tận cùng hạnh phúc.
Sư Tử: tốt bụng
Chàng trai trong mơ của 12 chòm sao nữ là hình tượng mà họ luôn hướng tới. Ai cũng nghĩ rằng với nữ cường nhân như Sư Tử thì cô ấy sẽ thích một người đàn ông cũng rực rỡ như mình nhưng không, hoàn toàn ngược lại. Chàng trai khiến nàng sao này rung động tới tận tâm can lại là người có tấm lòng lương thiện, tốt bụng và ấm áp.Vì sao ư? Vì chàng ấy sẽ bù đắp sự cô đơn trong nội tâm của Sư Tử, sẽ an ủi ôm ấp cô mỗi khi cô buồn, sẽ nhường nhịn tính cách bốc đồng của cô, sẽ yêu thương và cho cô cảm giác như công chúa nhỏ. Con gái mà, dù mạnh mẽ thế nào cũng chỉ mong muốn có một người đàn ông để mình dựa vào mà thôi.
Xử Nữ: chung tình
Yêu cầu của Xử Nữ trong tình yêu tương đối cao nên nàng ấy sẽ không tùy tiện say đắm một ai đó. Nhưng đó chỉ là nguyên tắc, nếu gặp được anh chàng chung tình, có ánh mặt ấm như mùa xuân thì đảm bảo chòm sao nữ này sẽ không thoát nổi lưới tình, đã yêu là bất chấp tất cả, không dứt ra được.Anh ấy dùng ánh mắt của mình để biểu đạt tất cả nội tâm, cho Xử Nữ biết rằng anh vô cùng chung thủy, nguyện một đời một kiếp một người thì cô cũng không ngại gì cùng anh tiến bước. Bề ngoài hào nhoáng, có nhà có xe cũng không bằng trái tim chung tình, có nhau trong đời.
Thiên Bình: soái ca
Nếu Bạch Dương mê anh chàng đẹp trai theo kiểu rạng rỡ thì Thiên Bình theo đuổi hình tượng soái ca trong truyền thuyết. Anh ấy phải đẹp như bước ra từ trong truyện, có phong thái cao quý, khí chất tao nhã, quý tộc, cảnh giới này tuyệt đối là cao, cực kì cao, rất ít người đạt tới.Tất nhiên, bàn về chàng trai trong mơ của 12 chòm sao nữ nên có thể nói Thiên Bình hoàn toàn có quyền mơ mà. Chỉ cần anh ấy đẹp, mọi khuyết điểm đều có thể bỏ qua, bao nhiêu tính xấu đều không còn xấu nữa. Vì anh ấy lúc nào cũng ở trên cao, tỏa ra thứ ánh sáng rực rỡ khó mà chạm vào nên Bình nhi cứ thần thánh hóa anh ấy vậy đó.
Hổ Cáp: nam tính
Cô gái này thích anh chàng như thế nào đây? Chòm sao nữ Hổ Cáp - độc dược của đàn ông, cô ấy thần bí và lạnh nhạt, nguy hiểm nhưng hấp dẫn nên người có thể nắm bắt được chắc chắn phải cực kì nam tính, cực kì mạnh mẽ. Bề ngoài cường tráng, nội tâm vững vàng, khí thế bức người, chỉ cần anh xuất hiện, cô ấy nguyện yêu anh.Hổ Cáp là cô nàng không hề có chút hứng thú nào với những tiểu nam sinh ẻo lả, mấy anh chàng tóc dài da trắng chẳng hấp dẫn họ chút nào. Anh ta trông thế còn yếu hơn cả mình, làm nên trò trống gì cả chứ. Chỉ có người đàn ông chân chính mới đánh đổ được tảng băng ngoài mặt của nàng thôi.
Nhân Mã: phóng khoáng
Chàng ấy như làn gió, có nụ cười tươi mới, có tâm hồn tự do, mang tới cảm giác hứng khởi cho cuộc sống khiến Nhân Mã mê mẩn không rời. Thực ra cô nàng này nổi tiếng cả thèm chóng chán, hứng thú không nổi ba phút đồng hồ nên rất thích cuộc sống độc thân, không vướng bận yêu đương. Có điều, nếu chàng trai phóng khoáng ấy xuất hiện trong đời, cô nguyện bỏ tự do theo chàng.Chàng trai giống như cuốn sách, càng đọc càng mê, càng tìm hiểu càng hấp dẫn, tràn ngập năng lượng, tạo cảm hứng cho Nhân Mã. Cô ấy muốn tham dự vào cuộc sống vui vẻ của anh và đưa anh vào cuộc sống nhiều màu sắc của mình, cùng nhau chu du thiên hạ, tận hưởng hạnh phúc.
Ma Kết: thành đạt
Người đàn ông có công việc thăng tiến, có sự nghiệp thành đạt chính là hình mẫu của Ma Kết. Vì cô nàng này có ý chí rất mạnh, năng lực làm việc rất tốt nên đương nhiên không thể tìm chàng trai thua kém mình được. Hơn nữa, cô cảm thấy đàn ông có sự nghiệp nổi trội chắc chắn là người rất hấp dẫn.Có thể Ma Kết không hề chủ đích nhưng lại vô ý ngắm nhìn anh ấy lâu hơn, theo dõi công việc của anh ấy nhiều hơn và lòng ghi nhớ dáng vẻ của anh ấy sâu hơn. Nếu anh nói hãy cùng anh tiến lên, cô nguyện ý; nếu anh nói, hãy là hậu phương vững chắc cho anh, cô cũng nguyện ý.
Bảo Bình: dễ thương
Hình mẫu lý tưởng của 12 chòm sao nữ thường sẽ lấy tiêu chuẩn phẩm chất và ngoại hình xuất sắc, chỉ có cô nàng Bảo Bình là muốn hướng tới anh chàng dễ thương, yêu động vật và chan hòa. Anh ấy có thể không nổi bật, không thành công nhưng lại rất gần gũi, chân thực và có thể làm cho cô thoải mái.Con gái cung Bảo Bình thực ra chẳng câu nệ về chuẩn mực gì đâu, miễn là chàng ấy chính là chàng trai cô yêu. Yêu là yêu, chòm sao đơn thuần nhất trong tình cảm này chẳng đòi hỏi gì nhiều. Chỉ là ánh mắt cô sẽ dừng lại lâu hơn khi anh ấy chơi đùa với động vật nhỏ xinh, cố tình ngang qua chỗ anh ấy nhiều hơn để cảm nhận được tấm lòng cởi mở, tốt đẹp của anh ấy, đời tự dưng cũng đẹp hơn.
Song Ngư: lãng mạn
Soái ca như nam chính ngôn tình bước ra mới đủ sức chinh phục cô gái Song Ngư. Nói đùa thôi, thực ra chỉ cần anh ấy lãng mạn, tinh tế, biến cô thành công chúa nhỏ, thành nữ chính đời anh là đủ rồi. Tỏ tình bằng hoa hồng, cầu hôn có ánh nến lung linh, làm lành có bóng bay viết câu xin lỗi,… ngọt ngào quá đi.Người theo đuổi tình ái có thể coi là biệt danh của Song Ngư vì cô ấy trọn vẹn cho tình yêu, khát khao tình yêu nhất. Mọi người đều bảo cô ấy phải sống hiện thực hơn, lý trí hơn nhưng sâu thẳm trong lòng, nếu chàng trai ấy xuất hiện, thì cô chẳng cần hiện thực, chẳng cần lý trí làm gì. Các đức ông chồng tố cáo tính xấu của 12 chòm sao nữPhát hoảng những chiêu trò khi 12 chòm sao nữ yêuChiêu 12 chòm sao nữ trị bạn trai kém lãng mạn Trình Trình
Theo phong thủy thì cửa là miệng nạp khí nên nếu để các cửa đối diện nhau sẽ hình thành thế đôi xung, dòng khí đôi lưu lớn, mạnh, làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của gia chủ bởi vậy khi thiết kế nhà ở cần tránh: - Cửa trước đối diện với cửa sau vì như vậ
Theo phong thủy thì cửa là miệng nạp khí nên nếu để các cửa đối diện nhau sẽ hình thành thế đôi xung, dòng khí đôi lưu lớn, mạnh, làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của gia chủ bởi vậy khi thiết kế nhà ở cần tránh:
– Cửa trước đối diện với cửa sau vì như vậy sinh khí trong nhà sẽ bị tiêu tán hết, dễ gây phản gió làm người trong nhà bị ốm yếu, gây tổn hại tới sức khỏe. Khắc phục bằng cách trổ cửa sau so le với cửa trước, để khí lưu thông trong nhà từ trước ra sau dích dắc theo hình chữ S”, như vậy khí tụ trong nhà sẽ lâu hơn.
– Cửa ra vào đối diện với cửa buồng ngủ. Buồng ngủ là nơi nghỉ ngơi thư dãn, cần phải yên tĩnh, kín đáo, còn cửa chính là nơi ra vào của người trong nhà và khách tới chơi, nếu để hai cửa đối diện sẽ ảnh hưởng tới không gian yên tĩnh và người đang nghỉ ngơi. Nếu không thể bố trí lại hai cửa thì lấy vị trí giường nằm làm gốc, kê giường vào một góc khuất, sao cho từ cửa ra vào không thể nhìn ngay thấy giường. Ngoài ra, có thể thay đổi hướng mở cánh cửa, ví dụ bản lề cánh cửa ở bên trái thì đem chuyển sang bên phải hoặc cánh cửa mở vào thì đổi thành mở ra từ phía ngoài.
– Cửa ra vào đôi diện với cửa gian bếpể Nếu để hai cửa này đối diện với nhau thì tài khí lọt hết do cửa ra vào là miệng nạp khí, còn gian bếp thiên về âm khí vì lấy Hoả làm chủ. Khắc phục bằng cách kê lại vị trí lò bếp cho hướng sang phía khác.
– Cửa ra vào đối diện với cửa buồng vệ sinh vì như vậy sinh khí vào cửa chính sẽ xộc thẳng vào nơi uế khí, âm khí nặng nề, tạo nên sự đối xung giữa hai luồng khí. Để giảm bớt hoặc triệt tiêu thế đối xung này chỉ cần xê dịch hướng cửa buồng vệ sinh là được.
– Cửa buồng ngủ đối diện với cửa ra vào gian bếp. Buồng ngủ là nơi nghỉ ngơi, phải có không gian yên tĩnh, an toàn, không bị phiền nhiễu bởi nước và lửa. Do vậy, khi đun nấu, hơi nóng, khói bụi sẽ xộc thẳng vào buồng ngủ gây ô nhiễm không khí buồng ngủ, khiến chủ nhà khó chịu, đồng thời nước lửa trong gian bếp đều tiềm ẩn mối nguy hiểm. Đặc biệt là khả năng sự cố rò rỉ khí gas và cả khí than bếp, than tổ ong. Vì vậy, cần bố trí hai cửa này thật xa, để tăng độ an toàn.
– Cửa bếp đối diện với cửa buồng vệ sinh. Bếp là nơi đun nấu, chế biến đồ ăn thức uống, mà buồng vệ sinh là nơi nuôi dưỡng vi khuẩn và không khí bẩn, nếu để hai cửa này đối diện nhau sẽ ảnh hưởng tới vệ sinh, tổn hại tới sức khỏe.
Dân gian có câu “Mắt lá khoai liếc chồng, chồng chết, liếc trai, trai mù”. Đây là tướng phụ nữ lẳng lơ, không đoan chính, đa dâm, cuộc sống gia đình sóng gió vì không tránh khỏi chuyện ngoại tình. Người này có ham muốn tình dục mạnh, không thỏa mãn với những gì đã có.
2. Mặt trắng pha hồng Phụ nữ “mặt hoa da phấn”, sắc da trắng thêm chút hồng hào, hoặc mặt trắng có nhiều tàn nhang đều háo dâm, khả năng tình dục mạnh. Người này có số đa phu, không hưởng hạnh phúc trọn vẹn.
Ảnh minh họa
3. Môi mỏng Trong Nhân tướng học, môi mỏng chưa nói đã vọng động là tướng tà dâm, mê nhục dục. Nữ giới môi mỏng không những thích nói chuyện thị phi mà còn thiếu thủy chung và chân thành. Người này điềm tĩnh, phản ứng nhanh nhạy với ngoại cảnh nhưng thường theo xu hướng nói xấu người khác, nên không được yêu mến. 4. Nhân trung có tía đỏ ngang Theo quan điểm nhân diện học, Nhân trung nữ giới thể hiện phần nào sự ham mê và khả năng tình dục. Nếu trên Nhân trung có tía đỏ hoặc hồng nằm ngay như sợi tơ nhện (rất nhỏ, phải tinh mắt mới nhìn thấy) là người phụ nữ lẳng lơ, ham mê nhục dục và háo sắc. Ngoài ra, nếu Nhân trung gẫy khúc, quanh mép hoặc miệng có sắc da xanh xám tự nhiên, không phải do bệnh tật đều là dấu hiệu của người dâm đãng, lẳng lơ. 5. Mắt tam bạch Đặc điểm của tướng mắt này là phần tròng trắng nhiều hơn tròng đen, lâu dần khiến tròng đen bị bao bọc biến thành loại mắt tam bạch tạm thời. Thông thường hiếm thấy loại mắt này, nhưng vì đắm say nhục dục nên sau thời gian ngắn sẽ xuất hiện. Tướng phụ nữ này không gian tà thì dâm đãng, đam mê nhục dục. 6. Lệ đường xuất hiện màu xanh đen Thông thường lệ đường không có sắc xanh đen, nhưng vì giao hoan lạc thú nên xuất hiện. Đồng thời có lằn xếp hay gân màu xanh xám hoặc hồng chạy về đuôi mắt là tướng đàn bà có xu hướng yêu đương vụng trộm, trốn chồng ngoại tình. 7. Phía dưới mắt có nốt ruồi đen
Nếu nữ giới có nốt ruồi đen nổi rõ hoặc mắt ướt không phải do khóc là tướng tiện dâm, phóng khoáng trong chuyện tình dục. Đây cũng là một trong những đặc điểm dễ nhận thấy của tướng phụ nữ lẳng lơ, không chung thủy. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Tiết Lập Xuân là tiết khí đầu tiên trong năm, mang ý nghĩa xuân tới vạn vật thức tỉnh, hồi sinh. Đối với bất kì ai, đây cũng là khoảng thời gian tươi đẹp, tràn trề sức sống và hi vọng. Để hưởng trọn xuân mới, hãy lưu ý những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân.
Tiết Lập Xuân là lúc có nhiều phong tục tập quán, mà nổi bật nhất là các lễ hội mùa xuân, lễ tế trời cầu nông nghiệp được mùa, lễ nghênh đón hoa xuân,… Thời gian này hầu như mọi người thường tận hưởng không khí náo nhiệt và dễ chịu đầu năm mà quên đi những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân. Hãy cùng tìm hiểu và nhớ kĩ để tránh mắc phải sai lầm đáng tiếc.1. Truyền thống nhấn mạnh rằng, nếu ngày Lập Xuân mà khí trời sáng sủa, tất năm đó mùa màng bội thu, nếu trời âm u thì khả năng cao là thất bát mất mùa, rất không may mắn. 2. Lập Xuân kiêng cãi nhau, mắng người, chữa bệnh, cắt tóc, di chuyển.3. Lập Xuân không nên ngủ quá nhiều vì những ngày này dương khí thịnh vượng hơn, cần đứng thẳng hoặc ngồi để đón tiếp thời khắc tốt đẹp. Người có thói quen ngủ trưa lâu cũng cần điều chỉnh thời gian ngủ cho hợp lý.4. Một trong những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân là không cãi vã, tranh chấp thị phi, không nói lời tục tĩu. Cần giữ hòa khí, đón mừng ngày vui của trời đất. Nếu đầu năm đã cãi cọ, tranh giành, đấu khẩu thì cả năm không yên ổn, gặp nhiều phiền phức, tâm tính bất thường. Đây không chỉ là truyền thống, phong thủy mà còn là phong tục tốt, đức tính đẹp, cần phát huy.
5. Tiết Lập Xuân vạn vật sinh sôi, dương khí trong đất hưng vượng, nên hạn chế việc đi giày dép thường xuyên, cần có cơ hội đi chân không trên nền đất tự nhiên để hấp thu các ion dương, có lợi cho sức khỏe. 6. Trong các tiết khí hàng năm thì Lập Xuân là tiết khí giao thời, giao mùa và giao niên nên khí hỗn loạn, không thích hợp để di chuyển, chuyển đổi công việc, chuyển nhà hay có sự thay đổi lớn nào. Ngũ hành lưu chuyển, thiên địa nhân hòa hợp mới mang tới vận may, thiên địa chưa yên thì con người cũng sẽ bị ảnh hưởng.7. Tục xưa truyền lại, tiết Lập Xuân con gái đi lấy chồng không về nhà mẹ đẻ, vì sẽ mang vận may từ nhà chồng về nhà mình. Tuy nhiên, ngày nay điều này chỉ còn mang tính chất tham khảo chứ không được áp dụng rộng rãi.8. Tiết Lập Xuân cố gắng không cắt tóc vì theo những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân thì cắt tóc là điềm không may. Ngày xuân vạn vật đang nhú mầm, như con người đang hồi vượng, vươn lên lại cắt đi sẽ làm tổn hại thân thể, bất lợi sức khỏe, triệt đường phát triển.9. Mệnh lý học cho rằng, ngày xuân khí lực trời đất chưa ổn định, dễ gây chuyện thị phi, tận lực tránh được càng nhiều càng tốt. Đặc biệt là người có cầm tinh vướng bệnh tai, cầm tinh tương xung với năm thì Lập Xuân nhất định phải thận trọng. Người mà năm trước kém may thì thời điểm này cũng không nên chủ quan.
Tiết Lập Xuân - khởi đầu thăng hoa, dưỡng sinh triệt để Xuân mới khởi đầu mới, tiết Lập Xuân là tiết khí đầu tiên của năm, cũng là thời điểm tràn đầy mới mẻ, phấn khởi, đánh dấu sự chuyển mình rõ rệt của thời tiết Trình Trình
Mơ thấy thi cử gian lận: Cho thấy sự tự ti trong bạn –
Từ lúc vừa cắp sách đến trường đến giờ, tôi chưa một lần gian lận trong thi cử. Thế nhưng sau khi ra trường đi làm, tôi lại mơ thấy cảnh quay cóp khi thi. Hôm đấy, chúng tôi thi môn dịch thuật, tôi biết sẽ làm bài thế nào, duy chỉ có một từ đơn là kh
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong kinh Thiện Sinh
Cha mẹ chăm lo về đời sống vật chất cho con cái và phát triển đời sống đạo đức và trí tuệ. Bổn phận của con cái là không để cho cha mẹ phải phiền lòng.
Thường thì khi đề cập đến đạo hiếu trong đạo Phật người ta chỉ nói đến việc hiếu thảo của người con, mà không đề cập nhiều đến vai trò đạo đức và giáo dục của các bậc cha mẹ. Đó là một sự thiếu sót rất lớn.
Thật ra theo tinh thần của lời Phật dạy trong kinh Nguyên thủy và Đại thừa, “Đạo hiếu” của người Phật tử được thể hiện đầy đủ về hai mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, và giữa con cái với cha mẹ. Ở đây, người viết sẽ đề cập về hai mối quan hệ thể hiện đạo hiếu đó, được mệnh danh là đạo làm cha mẹ và đạo làm con.
Trong các mối quan hệ con người, có thể nói mối quan hệ cha mẹ và con cái là thiêng liêng nhất. Sự thiêng liêng không chỉ đơn thuần nằm ở mối quan hệ di truyền và huyết thống, mà đó còn là tất cả tình người, tính giáo dục, đạo đức của hai thế hệ, trước và sau, thế hệ sinh và thế hệ được sinh ra.
Người con nào phá vỡ mối quan hệ thiêng liêng này đối với cha mẹ, nghĩa là bất hiếu, báo đời, hại cha mẹ, làm mất thanh danh và truyền thống tốt đẹp của gia tộc, làm các việc phạm pháp..vv. thì người con đó không còn là người con đúng nghĩa, mà chỉ là một người tội lỗi và đáng trách.
Trái lại, cha mẹ không làm tròn bổn phận của mình, chẳng hạn như không giáo dục con cái trưởng thành về thể chất, thể trí, tự lập trong đời sống chân chính (chính mạng) thì hàng cha mẹ đó cũng không xứng đáng là các bậc cha mẹ. Cả hai hạng cha mẹ và con cái như vậy đều được xem là không xứng đáng trong tinh thần giáo pháp của Đức Phật.
Trên tinh thần xây dựng và phát huy một xã hội an bình và hạnh phúc trong chiều hướng thượng, những lời dạy của Đức Phật trong tam tạng kinh điển Nam tông và Bắc tông, đã trực tiếp và gián tiếp ca ngợi về mối quan hệ thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái. Trong phần này, xin trình bày mối quan hệ này cụ thể qua kinh Thiện Sinh – Trung A Hàm. Đây là một bài kinh được xem là tiêu biểu cho đạo hiếu trong truyền thống Phật giáo Bắc phương.
Điều cần nói ở đây là trong lời Phật dạy về đạo hiếu, các giá trị giáo dục và đạo đức được thể hiện theo mối quan hệ song phương, đa chiều. Đạo hiếu, do đó, không chỉ dành cho những người con đối với cha mẹ mà quan trọng không kém đó là quan hệ của cha mẹ đối với con cái. Nói khác hơn đó là mối quan hệ của đạo làm cha mẹ và đạo làm con cái.
Trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái
Nói đến mối quan hệ cha mẹ đối với con cái là nói đến tinh thần trách nhiệm và bổn phận của các bậc cha mẹ đối với một phần máu thịt mà mình đã sinh ra. Theo lời Phật dạy, cha mẹ sinh con cái không phải để thỏa mãn dục tính mà là thể hiện tình thương yêu đối với một phần máu mủ và sự sống của chính mình.
Mối quan hệ của cha mẹ như vậy được xem là nền tảng ban đầu, là cơ sở phát sinh các mối quan hệ đạo đức xã hội về sau
Ở đây, chúng ta thấy đạo Phật đã nhấn mạnh đến đạo đức trong mối quan hệ giới tính của các bậc cha mẹ. Chính do tính chất đạo đức này mà các bậc cha mẹ cảm thấy cần phải có trách nhiệm đạo đức đối với việc nuôi nấng và dạy dỗ cho con cái trưởng thành và có lợi ích cho xã hội. Kinh Thiện Sinh đã đề cập đến mối quan hệ đạo đức của các bậc cha mẹ đối với con cái qua năm tiêu chí căn bản sau đây:
Thương yêu con cái:
Như đã nói mối quan hệ giới tính của các bậc cha mẹ trong đạo Phật được đặt trên cơ sở đạo đức, do đó, sự sinh sản con cái không nhằm nhu cầu thỏa mãn các khoái lạc giác quan thuần túy. Chính vì thế các bậc cha mẹ xem việc nuôi nấng con cái không chỉ là trách nhiệm mà còn là luân lý đạo đức không thể thiếu được.
Trong trách nhiệm thiêng liêng thứ nhất này, các bậc cha mẹ ngoài việc nuôi nấng con cái về thể chất, còn phải nuôi con cái bằng đạo đức và lòng yêu thương chân chính. Đó chính là thể hiện tinh thần từ bi của Phật tử. Các bậc cha mẹ phải luôn luôn quan tâm, yêu thương con cái hết mực.
Bởi vì con cái mình mà không thể yêu thương được, thì làm sao có thể yêu thương những người khác. Lòng yêu thương con cái của các bậc làm cha mẹ được thể hiện rất rõ ở văn hóa phương Đông nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Mẹ già trăm tuổi thương con tám mươi”, chính là thể hiện sự yêu thương con cái hết mực vậy.
Ngoài ra, yêu thương con cái là phải luôn dạy con cái không làm các điều ác, phải tuân thủ luật pháp xã hội, tôn trọng thuần phong mỹ tục của quốc gia, duy trì truyền thống tốt đẹp của gia đình. Sự giáo dục con cái như vậy rõ ràng là sự giáo dục của người có trí: không nuông chiều con cái, không để chúng có cơ hội đi vào con đường tội lỗi.
Các bậc cha mẹ nuôi con mà không biết dạy con tránh xa tội ác như vậy sẽ trở thành chướng ngại cho đời sống gia đình và xã hội. Đồng thời thể hiện sự yêu thương mù quáng, không đúng tinh thần của đạo Phật.
Cung cấp cho con cái không thiếu thốn:
Điều thứ hai mà cha mẹ có trách nhiệm với con cái là không để chúng thiếu thốn. Không thiếu thốn ở đây phải thể hiện trên hai phương diện là vật chất và tinh thần.
Trên phương diện vật chất, bậc làm cha mẹ phải tùy vào khả năng, điều kinh tế của mình để lo cho con cái đầy đủ từ miếng cơm, manh áo..vv, các phương tiện để học hành phát triển tài năng, trí tuệ. Trên phương diện tinh thần, cha mẹ phải luôn quan tâm chăm sóc, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn để động viên con cái có động lực vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.
Ngày nay nhiều bậc cha mẹ chỉ biết cung cấp cho con cái về mặt vật chất mà thiếu sự quan tâm về mặt tâm lý. Do đó con cái cảm thấy xa lạ với chính cha mẹ của mình..vv. dẫn đến khủng hoảng tâm lý mà sa đọa vào các tệ nạn xã hội. Vì vậy các bậc cha mẹ không chỉ lo cho con cái về mặt vật chất, mà phải luôn quan tâm về mặt tâm lý tinh thần.
Tạo dựng nghề nghiệp chân chính cho con cái:
Giáo dục theo tinh thần đạo Phật luôn bắt đầu và đặt nền móng trên giáo dục đạo đức. Các bậc cha mẹ nào không đặt tầm quan trọng của giáo dục đạo đức ắt sẽ gặp phải cảnh người con bất hiếu, ngỗ nghịch và tạo ra cảnh mất đầm ấm hạnh phúc trong gia đình ở hiện tại và về sau, cho dòng tộc và tha nhân. Nói như thế không có nghĩa đạo Phật bỏ rơi sự giáo dục con cái trưởng thành về thể chất.
Tạo dựng nghề nghiệp cho con cái không những bao gồm sự nuôi nấng theo tinh thần khoa học mà còn chăm lo đến nghề nghiệp tương lai của chúng. Điều này có nghĩa là giao cho con cái cả gia tài sự nghiệp sẵn có của mình không bằng truyền thụ cho chúng kiến thức để có được nguồn tài sản đó.
Ở đây, giáo dục Phật giáo nhấn mạnh đến giáo dục “nhân” để sinh ra “quả”. Vun bồi nhân là cách tốt nhất để gặt hái quả tốt. Do đó giáo dục trong đạo Phật luôn là giáo dục con đường chứ không ban cho con đường. Đây là lối giáo dục vô cùng sáng suốt vì đã loại bỏ yếu tố tha lực trong các hoạt động và phát triển nhân cách đạo đức và năng lực bản thân.
Kế đến lời dạy này còn nhắm đến tính giáo dục tinh thần tự lực cho con cái, theo quy luật của cuộc sống và theo đạo đức của cuộc đời. Chỉ có tinh thần tự lực, dưới sự hướng đạo của cha mẹ, con cái mới thật trưởng thành trong xã hội.
Một ý nghĩa khác có thể rút ra từ lời dạy trên là để khắc chế nạn lêu lổng và buông thả của đời sống thanh thiếu niên trong xã hội nhiều cám dỗ, các bậc cha mẹ phải dạy chúng ý thức về một nghề nghiệp ổn định cho bản thân. Sự sống nhờ vả, dù đó là nhờ vào cha mẹ, cũng chỉ là tạm thời và có ý nghĩa rất ít; trong khi sự tự lập bằng mồ hôi, sức lực, trí khôn trong chiều hướng đạo đức và khả năng của bản thân mới là con đường tự tồn tại lâu dài và bền bĩ.
Chính sự giáo dục này giúp cho con cái thoát khỏi các cạm bẫy ăn chơi sa đọa của xã hội, góp phần ổn định đời sống tập thể và cộng đồng, nhất là hạn chế nạn thất nghiệp và những việc làm phi pháp.
Tìm nơi chốn xứng đáng để dựng vợ gả chồng cho con cái:
Trách nhiệm của các bậc cha mẹ không chỉ dừng lại ở giáo dục đạo đức tránh ác làm lành, ổn định nghề nghiệp cho con mà còn chăm lo đến đời sống lứa đôi cho con cái. Cần nhấn mạnh ở đây rằng xây dựng gia thất cho con cái không có nghĩa là ép buộc con cái phải làm chồng / vợ một người nào đó mà mình thích, thay vì người mà chúng yêu thương.
Đạo Phật không khuyến khích một tập tục “bắt đâu ngồi đó” như trong truyền thống Ấn giáo cổ đại, cũng như truyền thống “phụ vi tử cương” của Nho giáo. Đạo Phật đề cao tinh thần bình đẳng trong nhận thức của cha mẹ và con cái. Khi chưa đến tuổi thành niên, con cái tùy thuộc vào sự quyết định đúng đắn của cha mẹ.
Khi con cái đã đến tuổi trưởng thành, việc quyết định đời sống hôn nhân của chúng phải tùy thuộc vào sự lựa chọn của chúng. “Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên” là một phương châm rất phù hợp với tinh thần của lời dạy này. Ngoài ra, một ý nghĩa giáo dục khác là nếu cha mẹ có thể dạy và tạo dựng nghề nghiệp chân chính và ổn định cho con cái thì các bậc cha mẹ cũng có thể cố vấn tình yêu và hôn nhân cho chúng. Lời dạy này mang tính giáo dục rất cao.
Cha mẹ không chỉ là người sinh ra con cái mà còn là người thầy, người cố vấn, người hướng đạo đời sống yêu đương và hôn nhân cho con cái. Ở đây, ngoài yếu tố truyền trao kinh nghiệm yêu đương và hôn nhân cho con cái, các bậc cha mẹ còn phải đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn con cái chọn lựa người bạn đời thích hợp. Không có gì thiêng liêng và cao quý cho bằng khi cha mẹ còn đóng vai trò của người thầy và người cố vấn hôn nhân.
Nói rõ hơn, cha mẹ chỉ làm chức năng tư vấn cho con cái biết rõ tiêu chuẩn của một người vợ hay người chồng lý tưởng cũng như, thế nào là trách nhiệm và bổn phận của đôi vợ chồng “loan phụng hoà minh” v.v… Hoàn toàn không có chuyện ép buộc và sắp đặt của cha mẹ trên vấn đề hôn nhân của con cái. Đây là tinh thần giáo dục rất phù hợp đời sống hôn nhân hiện đại.
Một điểm cần lưu ý nữa là khái niệm “xứng đáng” không có nghĩa là “môn đăng hộ đối” như phong tục Nho giáo. Xứng đáng ở đây mang tính đạo đức và xã hội. Ở góc độ đạo đức, người con khôn ngoan nên biết chọn cho mình người bạn đời có đủ phẩm chất đạo đức ít nhất như mình.
Đây là sự tương thích về nhân phẩm giữa hai người. Kế đến, về phương diện xã hội, sự xứng đáng còn mang ý nghĩa chọn người bạn đời có cùng tính tình, chí hướng và hạnh nguyện. Không có gì đau khổ cho bằng khi vợ chồng lâm vào cảnh “đồng sàng dị mộng” vợ nắng chồng như mưa hay vợ mặt trăng, chồng mặt trời v.v…
Để tránh các tình trạng đau lòng có thể dẫn đến sự đổ vỡ mối quan hệ tình yêu và hôn nhân như vậy, con cái rất cần đến sự cố vấn của cha mẹ chúng, những người ít nhất đã một lần trải qua.
Trên tinh thần giáo dục trên, việc dựng vợ gả chồng xứng đáng cho con cái không chỉ tránh được các đổ vỡ do mối quan hệ đơn thuần “môn đăng hộ đối” về vật chất nhưng lại không thích hợp về tính tình, đạo đức, trí tuệ và hạnh nguyện, mà còn hướng đến một căn bản tương thích của đời sống lứa đôi. Nói cách khác, hạnh phúc hôn nhân không chỉ có được từ sự giàu sang mà phải đặt nền tảng trên sự tương thích về phẩm chất đạo đức, lý tưởng và hạnh nguyện. Trong bất kỳ cuộc hôn nhân nào nếu có sự tương thích về đời sống đạo đức và lý tưởng thì tất nhiên sẽ kéo theo sự hạnh phúc lứa đôi.
Cha mẹ có của cải vừa ý đều giao hết cho con cái:
Trách nhiệm thứ năm này mang ý nghĩa pháp lý và đạo đức rất cao. Về phương diện pháp lý, việc truyền trao này bao gồm di chúc và tài sản thừa tự cho con cái. Có nhiều bậc cha mẹ đã không nghĩ tới chuyện này khi còn khỏe mạnh. Do đó, một khi nhắm mắt xuôi tay, con cái bất hiếu đã gây cảnh nồi da xáo thịt về quyền thừa tự, tranh giành tài sản do cha mẹ để lại. Chính vì thế, để tránh các tình trạng trên, Đức Phật đã dạy các bậc cha mẹ phải di chúc và trao truyền gia tài khi mình còn sáng suốt và khỏe mạnh. Chỉ có trong tình trạng khỏe mạnh và sáng suốt, người ta mới có thể chọn người xứng đáng vá thích hợp để mà ủy thác.
Về phương diện đạo đức, sự truyền trao gia tài không chỉ có nghĩa đơn thuần là phân chia tài sản cho con cái mà còn có ý nghĩa truyền trao di sản văn hóa của dân tộc, truyền thống gia đình.
Gia tài đó hẳn không phải là “một nước Việt buồn” mà phải là một nước Việt thoát khỏi thực trạng khổ đau (khổ đế) hướng đến an lạc và giải thoát trên tinh thần tự chủ vô ngã.
Một gia tài như vậy, vàng bạc không thể mua được, đô-la không thể đổi được. Do đó cần phải cẩn trọng chọn lựa người xứng đáng mà truyền trao.
Ở mức độ đơn thuần hơn, sự truyền trao gia tài còn có ý nghĩa giúp cho xã hội tránh được sự truyền thừa không xứng đáng, những tình trạng cha truyền con nối, những truyền thống thế tập “con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”.
Đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đã không truyền trao y bát cho ngài Thần Tú mà trái lại truyền cho ngài Tuệ Năng. Đức Phật Thích Ca đã không trao chính pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm cho ngài A Nan bác học đa văn mà giao cho tổ Ca Diếp đạo cao đức trọng. Sự chọn lựa ở đây bao hàm nội dung đạo đức rất lớn. Chọn lựa sai lầm thì kết quả đau thương sẽ không thể tưởng tượng. Chính vì thế sự chọn lựa đối tượng trao gia tài cần phải cẩn trọng, hợp thời, hợp cơ. Trừ phi đối tượng xứng đáng về đạo đức và trí tuệ được chọn lựa và giao phó, sự truyền trao sẽ trở nên vô nghĩa và nguy hiểm cho cả nhiều thế hệ về nhiều phương diện của cuộc sống.
Nói chung, nếu tinh thần này được áp dụng ở xã hội thì lo gì xã hội không có đủ người tài đức, đất nước không có được minh quân. Mọi sự phân biệt mang tính cách bè phái, cục bộ “con ông cháu cha” sẽ không còn cơ hội để tồn tại trong một xã hội mà tinh thần giáo dục của Đức Phật được truyền thừa và phát huy triệt để.
Bổn phận của con cái đối với cha mẹ
Theo tinh thần duyên khởi của đạo Phật, bất cứ mối quan hệ nào cũng phải có sự đối lưu của ít nhất hai thành phần. Ở đây sự đối lưu là giữa cha mẹ và con cái và ngược lại. Tinh thần giáo dục của Đức Phật không đơn thuần và một chiều, mà đó là sự đối lưu của ít nhất hai trị số con người trong mối quan hệ vừa đạo đức và giáo dục.
Người con cũng phải có trách nhiệm đạo đức đối với cha mẹ, nuôi nấng mình trưởng thành và trở nên hữu dụng cho bản thân và xã hội.
Sự hiếu thảo của người con như vậy được trình bày qua năm trách nhiệm đạo đức sau đây:
Tăng thêm của cải để nuôi dưỡng cha mẹ:
Trách nhiệm đạo đức trước tiên của một người con đối với hai đấng sinh thành ra mình theo Đức Phật là phải biết làm tăng thêm của cải, vật chất để nuôi dưỡng cha mẹ. Hay nói cách khác người con phải lấy sự báo đền cha mẹ bằng cách chăm sóc cha mẹ về đời sống vật chất, cũng như chính cha mẹ đã lo cho chúng ta trưởng thành, trong suốt những năm vị thành niên.
Cần lưu ý ở đây rằng: Tăng thêm của cải là để biểu thị một ý thức trách nhiệm cao độ, chứ không đơn thuần là một lời hứa suông. Như chúng ta đã biết Đức Phật định nghĩa nghiệp là những hành vi có ý thức và ý thức là chất xúc tác và dẫn đạo các hành vi của lời nói và việc làm. Do đó, chỉ có với một ý thức sâu sắc về bổn phận làm con ” Tăng thêm của cải để nuôi dưỡng cha mẹ” mới có thể giúp người con duy trì tốt truyền thống hiếu thảo đối với cha mẹ được. Bởi nếu không có của cải thì cũng không thể lấy gì mà phụng dưỡng cho cha mẹ.
Sự chăm lo đến đời sống vật chất của cha mẹ ở đây cho thấy đạo Phật rất thực tiễn. Người con hiếu thảo không chỉ biết vâng lời cha mẹ, làm việc tốt cho gia đình và xã hội mà trước tiên và hơn hết là lo phần đời sống vật chất cho cha mẹ mình. Chăm lo đời sống vật chất bao gồm việc dâng tặng cho cha mẹ tiền chi tiêu, quà quý, thuốc thang, sự thăm viếng và phụng dưỡng khi cha mẹ đau ốm hay không còn sức lao động.
Lời dạy này ngoài việc khích lệ con cái hiếu kính đối với cha mẹ còn nhắm vào việc xóa bỏ các quan niệm sai lầm cho rằng cha mẹ sinh con là để thoả mãn dục vọng cho nên con cái không cần phải có trách nhiệm lo lắng trở lại. Nếu lời dạy cao qúy này được áp dụng chắc chắn rằng xã hội sẽ không còn tình trạng các cha mẹ già phải tủi phận vào sống các nhà dưỡng lão, chỉ vì các người con bất hiếu. Kế đến, lời dạy còn có ý nghĩa cao quý khác, đó là, sẽ không còn cảnh những đứa con ngỗ nghịch “báo đời” cha mẹ dưới nhiều hình thức và về nhiều phương diện.
Cáng đáng việc nhà, làm tròn bổn phận đối với cha mẹ:
Ý thức trách nhiệm làm tròn bổn phận của một người con là điều quan trọng thứ hai trong đạo hiếu thảo của người Phật tử. Lời dạy này mặc dù rất bao quát nhưng có ý nghĩa đạo đức rất lớn. Khái niệm bổn phận ở đây cần phải được hiểu là sự thực thi những điều trách nhiệm của người con đối với cha mẹ tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cho phép. Nghĩa là công việc hiếu thảo không bao giờ là một sự bắt buộc mà trái là một ý thức cao độ, ý thức làm người có đạo lý.
Có nhiều trường hợp người con vì thương cha kính mẹ mà làm nhiều điều tội ác để chu cấp tài sản cho cha mẹ. Đạo Phật chống lại sự hiếu thảo phi pháp như vậy. Nói cách khác cáng đáng việc nhà để trọn bổn phận tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cho phép là một trong những cách thể hiện chữ hiếu hợp lý nhất. Ví dụ khi còn ngồi dưới mái trường, việc làm trọn bổn phận của người con đối với cha mẹ là vâng lời thầy cô, học hành chăm chỉ, thu hoạch kiến thức để làm nền tảng trí thức và đạo đức cho bản thân, hiện tại và về sau.
Khi đã xây dựng gia thất riêng, việc làm tròn bổn phận của người con là sống đúng, sống theo và sống hợp với các nguyên tắc đạo đức của đạo Phật, không làm các điều ác, phát huy các điều thiện, chăm lo cho vợ/chồng con chu đáo, cáng đáng việc nhà để cho cha mẹ có thời gian thư nhàn lúc tuổi xế chiều, không để cha mẹ phải vất vả vì công việc gia đình. Nói chung trong mọi hoàn cảnh và trường hợp, người con làm tròn bổn phận phải là người có ý thức trách nhiệm và thể hiện trách nhiệm đó bằng hành động cụ thể, đúng chính pháp và phù hợp với đạo lý và luật pháp của xã hội hiện hành.
Dâng cho cha mẹ những gì cha mẹ muốn:
Các bậc làm cha mẹ đã suốt đời hy sinh vì con cái, cũng không ai đòi hỏi con cái phải dâng hiến cho mình những gì vượt ngoài khả của con cái. Khi còn trẻ cha mẹ đã hết mình lo cho con cái, nhưng khi về già, không còn sức lao động, không làm ra của cải vật chất nhưng cũng không ai muốn ngửa tay xin con cái.
Cho nên phận làm con cái luôn phải biết vâng lời cha mẹ, tùy theo điều kiện hoàn cảnh kinh tế của gia đình mà dâng cho cha mẹ những gì cha mẹ muốn, không đợi cha mẹ phải đòi hỏi. Đây cũng là thể hiện tính tự giác, luôn biết quan tâm đến tâm tư tình cảm của cha mẹ. Tiếc rằng xã hội ngày nay, nhiều người làm con cái sống trong cảnh dư thừa vật chất, nhưng vẫn để cho cha mẹ nghèo khổ, đói rét. Chính vì thế mà tục ngữ có câu: “Một mẹ nuôi được mười con, mười con không nuôi nổi một mẹ”.
Đây quả thực là một tình trạng đáng buồn của xã hội, lời dạy trên của Đức Phật thật vô cùng ý nghĩa đối với những người làm con cái mà chưa tròn trách nhiệm của mình đối với cha mẹ.
Không tự làm gì khi chưa hỏi cha mẹ và không được trái ý cha mẹ:
Đây chính là bổn phận của người làm con khi tiến hành bất cứ một công việc gì cũng phải hỏi cha mẹ trước, mục đích để giữ gìn danh dự và không đi ngược với truyền thống gia đình.
Mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng. Chính nét riêng là giá trị tạo nên và đóng góp cho nền văn hóa của nhân loại. Cũng vậy mỗi gia đình đều có truyền thống riêng mà các bậc tiền bối và tổ tiên đã dày công xây dựng. Người con hiếu thảo theo Đức Phật là người, ngoài việc làm tròn bổn phận, phụng dưỡng vật chất cho cha mẹ đúng pháp còn là người biết tôn trọng các giá trị văn hóa và di sản truyền thống tốt đẹp của gia đình, giống nòi và dân tộc.
Cần lưu ý ở đây rằng lời dạy này không nhằm khuyến khích một chế độ thế tập “cha truyền con nối” một cách mù quáng. Nó chỉ nhằm kêu gọi ý thức trách nhiệm bảo vệ và phát huy các truyền thống tốt đẹp của một gia phả, một làng xóm, một cộng đồng, một sắc tộc, một quốc gia mà thôi.
Đạo Phật không dạy chúng ta phục tùng các truyền thống lạc hậu, phản với đạo đức và sự hướng thượng trong đạo đức và tu tập.
Trong tinh thần này, những quan niệm duy trì truyền thống theo kiểu “con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa thì quét lá đa” cần phải được loại bỏ ra khỏi quan điểm chữ hiếu trong đạo Phật.
Đức Phật chỉ khuyên chúng ta theo mặt tốt và tiến hóa của truyền thống trong khi mạnh dạn loại bỏ các mặt tiêu cực và bất lợi của nó.
Lời dạy này càng có ý nghĩa to lớn hơn nếu ta đặt nó trong sự vận động bảo tồn và duy trì các sắc thái văn hóa của tổ chức UNESCO. Nói dễ hiểu hơn, đây có thể là phương châm cho một khuynh hướng giữ gìn và bảo vệ nền văn hóa tích cực của các sắc dân, của các dân tộc trên thế giới theo chiều hướng có chọn lọc các truyền thống và đặt chúng trong tiêu chí của các giá trị phát triển đạo đức và đạo lý con người hơn là chỉ đơn thuần tìm hiểu và làm sống dậy chúng.
Tất cả những vật riêng của mình đều dâng hết cho cha mẹ:
Phận làm con phải luôn tự giác dâng nhưng tài sản, vật chất của mình cho cha mẹ, mà không giấu diếm giữ làm của riêng. Đây chính là thể hiện tinh thần tập thể của một gia đình, nhằm bảo vệ và làm tăng tiến tài sản thừa tự.
Nếu “duy trì các truyền thống tốt đẹp của gia đình, quốc gia” là một nguyên tắc chung và bao quát đối với những người con có hiếu theo tinh thần lời Phật dạy thì “bảo vệ tài sản thừa tự” là một nguyên tắc cụ thể ứng dụng trong phạm vi của truyền thống gia tộc. Điều này có ý nghĩa giáo dục rằng một mặt con cái phải biết sử dụng gia tài và di sản của cha mẹ để lại đúng pháp và mặt khác phải là người kế thừa có đạo lý. Nghĩa là cha làm thầy thì con cái không được đốt sách. Cha mẹ làm việc thiện, tôn kính Tam Bảo, thì con cái không nên làm việc ác, phỉ báng Phật Pháp Tăng. Trái lại còn phát huy một cách tốt hơn và có chiều kích hơn.
Rất tiếc hiện nay trong nhiều xã hội, lời dạy nầy không được áp dụng nên đã có nhiều cảnh con cái trở thành những kẻ phá hoại tài sản của cha mẹ và tổ tiên để lại. Nhiều người con chỉ biết chi tiêu gia tài của cha mẹ theo khuynh hướng tán gia bại sản hơn là duy trì và phát huy chúng.
Tóm lại, qua những gì vừa được trình bày ở trên, đạo hiếu của Phật giáo bao gồm đạo làm cha mẹ và đạo làm con cái. Năm nguyên tắc đạo đức của đạo làm cha mẹ và năm nguyên tắc đạo đức của đạo làm con trong kinh Thiện Sinh có thể được xem là những chuẩn mực, khuôn vàng thước ngọc cho các mối quan hệ của cha mẹ và con cái trong một xã hội tiến bộ và văn minh.
Mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái là mối quan hệ mang tính đạo đức và giáo dục rất cao. Các bậc cha mẹ không chỉ chăm lo về đời sống vật chất cho con cái mà còn và quan trọng hơn hết là chăm lo và phát triển đời sống đạo đức và trí tuệ của chúng. Đồng thời bổn phận của con cái không chỉ là chăm lo cho cha mẹ về mặt vật chất, mà phải luôn săn sóc cha mẹ về mặt tinh thần, không để cho cha mẹ phải phiền lòng.
Nếu năm nguyên tắc đạo làm cha mẹ nên được phổ biến rộng rãi trong các hội bô lão và các hội phụ huynh thì năm nguyên tắc đạo làm con nên được truyền bá trong các câu lạc bộ thanh thiếu niên, trong các hội đoàn sinh viên học sinh, để các bậc làm cha mẹ xứng đáng là cha mẹ và để các người con xứng đáng là những người con.
Rồng là con vật đứng đầu trong “tứ linh”. Nó vừa tượng trưng cho quyền uy, vừa tượng trưng cho phú quý cát tường. Vì vậy việc bài trí hình rồng trong văn phòng có thể sinh vượng khí và chế ngự sát khí. 1. Vị trí đặt đồ trang trí Khi chọn đồ trang trí
Rồng là con vật đứng đầu trong “tứ linh”. Nó vừa tượng trưng cho quyền uy, vừa tượng trưng cho phú quý cát tường. Vì vậy việc bài trí hình rồng trong văn phòng có thể sinh vượng khí và chế ngự sát khí.
1. Vị trí đặt đồ trang trí
Khi chọn đồ trang trí là hình con rồng thì nên đặt cạnh nước vì rồng gặp nước sẽ thể hiện được sự dũng mãnh thần kỳ của rồng, nước sẽ phát huy tối đa được những năng lượng của rồng. Từ đó sẽ mang đến điềm lành cho công ty. Có thể để đồ trang trí hình rồng trên bể cá hoặc hai bên bể cá, như vậy sẽ có tác dụng sinh tài lộc.
Rồng không được để tùy tiện để tránh hiệu ứng ngược. Không nên để rồng nơi khô ráo vì nó giống cảnh tượng “rồng bơi nước cạn gặp tôm đùa”. Điều này có thể mang đến những khó khăn, bất lợi trong việc làm ăn của công ty.
2. Hướng đặt hình rồng
Khi đặt đồ trang trí hình rồng thì nên để đầu rồng hướng ra sông hoặc ra biển. Tuy nhiên, nếu văn phòng cách xa sông, biển thì rất khó để thu được vượng khí. Trong trường hợp này nên đặt một đôi rồng đá màu đen hoặc xám trên khung cửa sổ trên gác cao, đầu cũng hướng ra biển hoặc sông. Như vậy là “song long xuất hải” có thể sinh vượng và mang đến nhiều may mắn cho văn phòng.
Nếu trong và ngoài văn phòng đều không có nước, thì có thể đặt hình rồng hướng về phương Bắc. Vì phương Bắc thuộc Thủy, là hướng có Thủy khí tương đối vượng, rất thích hợp đối với loài rồng vốn ưa nước.
3. Nơi kỵ đặt hình rồng
Nếu trước văn phòng có rãnh nước bẩn thì không nên đặt đồ trang trí hình rồng, vì nó sẽ khiến cho con rồng bị bám bẩn, khiến cho nhân viên trong công ty hay ốm đau, bệnh tật.
4. Tuổi kỵ đặt hình rồng
Rồng tuy là con vật cát tường nhưng vì nó là loài mãnh thú có khả năng khắc chế mạnh nên rất không có lợi cho những người tuổi Tuất. Vì vậy, những người đứng đầu văn phòng hay công ty là tuổi Tuất thì không nên bài trí hình con rồng.
5. Lưu ý khi treo tranh hình rồng trong văn phòng
Có rất nhiều đồ vật bài trí mang hình rồng, tuy nhiên khi lựa chọn treo tranh hình rồng thì nên lồng trong khung kính, viền có màu vàng kim và treo hướng Bắc.
Nếu là bức tranh có chín rồng thì trong đó phải có một con làm đầu đàn . Nếu không chúng sẽ trở thành rồng mất đầu, gây ra nhiều điều tai tiếng, thị phi, mang lại những điều không may mắn cho công ty.
Trong thuật ngữ phong thủy thì bắp cải phong thủy còn được gọi là "rau phong thủy" có tác dụng "chiêu" tài lộc, may mắn cho mọi thành viên trong gia đình và là chiếc túi càn khôn sinh tài sinh lộc, hoạnh phát... Trong phong thủy, bắp cải được ví như
Trong thuật ngữ phong thủy thì bắp cải phong thủy còn được gọi là “rau phong thủy” có tác dụng “chiêu” tài lộc, may mắn cho mọi thành viên trong gia đình và là chiếc túi càn khôn sinh tài sinh lộc, hoạnh phát…
Trong phong thủy, bắp cải được ví như chiếc túi dùng để chứa tiền tài, “của cải”. Và khi tiền đã vào chiếc túi này thì sẽ sinh sôi nảy nở “cuồn cuộn” không ngừng.
Bắp cải giúp mang lại may mắn, thu hút tài lộc rất hiệu quả nên thường được đặt ở vị trí trang trọng, tốt nhất nên chọn vị trí thuộc cung tài lộc của gia chủ.
Ngoài cung tài lộc của gia đình, bạn có thể treo tranh bắp cải trong phòng khách hoặc trong phòng ăn cũng có thể tụ khí tốt cho gia đình.
Lông mày của con gái cũng chính là cung tình duyên, đuôi mày chỉ ra sự thất bại hay thành công của con gái trong tình cảm. Nếu đuôi mày lớn, lông mày thưa, mọc tán loạn thì đường tình duyên cũng nhấp nhô, khó thành.
2. Ấn đường trũng
Nếu ấn đường sâu, trũng gần ngang bằng mắt thì khó lấy chồng, lấy rồi cũng dễ ly hôn, nếu ấn đường có đường vạch ngang thì chuyện tình duyên nhấp nhô.
3. Lông mày rậm
Có nhiều cô gái lông mày rậm và thường tính cách của họ cũng khá nam tính, thiếu dịu dàng, thiếu tỉ mỉ chu đáo. Khi yêu sẽ dễ vì những tranh chấp nhỏ mà nảy sinh bất hòa, dễ rời xa nhau.
Ảnh minh hoạ.
4. Khu vực gần lông mày, lông mày mọc hỗn loạn, khác chiều
Người sở hữu lông mày không mọc theo một hướng mà hỗn loạn đa chiều, phần cuối lại gấp khúc thường có tâm lý phản kháng, khi yêu, họ không vì đối phương mà suy nghĩ. Người như vậy tính cách cũng khá hiếu thắng, vì vậy dễ thất bại trong tình yêu.
5. Mũi hếch
Cô gái có mũi hếch thường ích kỷ, đến đi tùy ý, cái tôi quá lớn, rất khó ở chung cùng nửa kia. Họ không đặt mình vào vị trí của đối phương mà suy nghĩ, dễ nảy sinh bất đồng, tính cách to gan lớn mật, không thích bị quản thúc bởi vậy dễ tranh chấp với người yêu dẫn đến chia tay.
6. Cung phu thê có nốt ruồi đen
Phía đuôi mắt gần mép tóc là Phu thê cung, nếu có nốt ruồi đen ở chỗ này thì con đường tình yêu của họ định sẵn không thuận.
Nơi lễ chùa dâng sao giải hạn Rằm tháng Giêng linh thiêng
Tổng hợp một số chùa linh thiêng được nhiều người viếng thăm và dâng sao giải hạn rằm tháng Giêng ở Hà Nội. Tết Nguyên Tiêu là dịp để lễ chùa dâng sao giải hạn.
Vào ngày Tết Nguyên tiêu theo Lịch âm, người dân Việt không chỉ làm mâm cúng ở nhà mà còn đi chùa lễ Phật dâng sao giải hạn Rằm tháng Giêng để cầu mong những điều tốt lành cho bản thân và gia đình.
Ngày rằm tháng Giêng hay còn gọi là Tết Nguyên tiêu được coi là một trong ngày lễ lớn theo quan niệm của người Việt. Nhà nhà không chỉ cúng gia tiên mà còn lên chùa thắp hương, cầu mong sức khỏe, bình an; gia đình hạnh phúc, con cháu học hành tấn tới. Dưới đây là một số chùa được nhiều người viếng thăm dâng sao giải hạn rằm tháng Giêng ở Hà Nội.
Chùa Phúc Khánh
Hàng nghìn người đổ về chùa Phúc Khánh dâng sao giải hạn
Chùa Phúc Khánh còn có tên là chùa Sở, hay chùa Thịnh Quang, nằm trên phố Tây Sơn, gần Ngã Tư Sở, thuộc phường Thinh Quang, Đống Đa, Hà Nội. Dù là một ngôi chùa nhỏ nhưng lại thu hút nhiều người đến hành lễ. Hàng năm, dòng người đổ về đây chiêm bái, lễ Phật cầu ăn, dâng sao giải hạn, cầu siêu rất đông.Trong đó, rằm tháng Giêng là thời điểm đông nhất. Mỗi ngày có tới hàng nghìn phật tử đổ về đây. Đặc biệt trong các khóa lễ người dân thường đứng kín từ trong chùa tràn ra đến ngoài phố Tây Sơn, lan sang cả Ngã Tư Sở, nhiều người còn chấp nhận đứng xa cả cây số để vái vọng.
Chùa Hà
Chùa Hà nổi tiếng linh thiêng về cầu duyên nên thu hút đông đảo bạn trẻ
Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, trước thuộc làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, nay thuộc quận Cầu Giấy – Hà Nội, được xây dựng từ thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497).Nếu như những ngôi chùa khác tập trung nhiều tầng lớp trung niên, các cụ ông cụ bà đến để giải hạn, để lễ bái thì chùa Hà được đông đảo học sinh, sinh viên biết đến với một cái tên khác – Chùa Tình yêu.Chùa Hà nổi tiếng là linh thiêng nên chùa thu hút rất đông khách thập phương đến tham quan, lễ Phật. Trai chưa vợ, gái chưa chồng đến sắp lễ xin tìm được một nửa của mình. Những đôi yêu nhau cũng đến chắp tay thành kính cầu cho tình duyên trăm năm hạnh phúc.Thêm vào đó, trong giới trẻ còn lan truyền những tin đồn về sự linh ứng của ngôi chùa này: nào là trai gái độc thân đến đây xin cầu duyên đều nhanh chóng tìm đuợc ý chung nhân của mình. Thậm chí có những bạn còn khăng khăng kéo người yêu mình đến đây thề yêu nhau, vì đã thể ở đây rồi sẽ không bao giờ thay lòng đổi dạ. Chính điều đó khiến chùa Hà trong tư tưởng của những người đến cầu càng mang đậm nét huyền bí linh thiêng. Ai đã một lần đến đây thắp hương, xin đài xin lộc đều mang trong mình một niềm tin vào sự linh ứng.5 ngôi chùa cầu được ước thấy nên đi lễ đầu năm Năm mới lễ chùa cầu may là nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt. Cùng điểm danh 5 ngôi chùa cầu được ước thấy trên đất nước Việt Nam.
Chùa Trấn Quốc
Chùa Trấn Quốc
Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội.Từng là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Lý và thời Trần với những giá trị về lịch sử và kiến trúc, chùa Trấn Quốc nổi tiếng là chốn cửa Phật linh thiêng, là điểm thu hút rất nhiều tín đồ Phật tử, khách tham quan, du lịch trong và ngoài nước.Vào ngày rằm, đặc biệt là rằm tháng Giêng, người dân đổ về đây để cầu lộc, cầu sức khỏe, và bình an rất đông.
Chùa Quán Sứ
Chùa Quán Sứ
Chùa Quán Sứ là một ngôi chùa ở số 73 phố Quán Sứ, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Chùa Quán Sứ là một trong rất ít ngôi chùa ở phía Bắc mà tên chùa cũng được viết bằng chữ Quốc Ngữ.Năm 1943, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ. Năm 1942, chùa được xây lại theo quy mô kiến trúc và trang trí nội thất như ngày nay. Chùa có quy mô kiến trúc lớn, tam quan kiểu 3 tầng mái, chính giữa là lầu chuông.Qua tam quan đến một sân rộng lát gạch. Giữa sân xây tòa chính điện cao, hình vuông, có hành lang bao quanh. Hai bên và đằng sau là dãy nhà dung làm thư viện, giảng đường, nhà khách và tăng phòng. Chùa Quán Sứ hiện nay là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.Vào ngày rằm tháng Giêng, dòng người đổ về đây để lễ Phật, cầu sức khỏe, bình an,... rất đông.
Phủ Tây Hồ
Phủ Tây Hồ
Phủ Tây Hồ nằm trên bán đảo lớn giữa Hồ Tây, trước là một làng cổ của kinh thành Thăng Long nằm ở phía đông của Hồ Tây. Phủ Tây Hồ được coi là một trong những ngôi đền linh thiêng để cầu tài lộc mỗi dịp đầu xuân năm mới.key_il_34b0fec8-0c47-4d49-91c1-dc34c71bd792 Dẫu là chuyện tâm linh, nhưng đi lễ cầu duyên như một cách vỗ về tâm lý và một nét đẹp tín ngưỡng của dân tộc. Dẫn bạn tới những địa điểm cầu duyên thiêng nhất
Đền Quán Thánh
Đền Quán Thánh
Trấn giữ phía bắc là đền Quán Thánh hay còn gọi là đền Trấn Vũ. Ngôi đền có vị trí đẹp, nằm đúng ngã tư giao đường Thanh Niên với đường Quán Thánh, nhìn sang Hồ Tây. Năm 1962, đền đã được Bộ VHTT&DL xếp hạng danh mục di tích lịch sử - văn hóa. Dịp đầu xuân hay mồng 1, ngày rằm hàng tháng, đền luôn tấp nập khách thập phương đến dâng sao giải hạn rằm tháng Giêng. Nơi đây tổ chức chính hội vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm.Ngoài bức tượng đồng thờ thần Huyền Trân Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, nơi đây còn có quả chuông đồng trên gác tam quan với tiếng ngân đã đi vào lòng người dân Việt Nam: “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương”.
Đền Kim Liên
Đền Kim Liên
Đền Kim Liên - hay còn được gọi là đền Cao Sơn - trấn giữ ở phía nam của kinh thành Thăng Long. Được Bộ VHTT&DL xếp hạng danh mục di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1990, đây là một trong hệ thống những di tích quan trọng và nổi tiếng ở Hà Nội.Hội đền và đình Kim Liên được tổ chức thường niên vào ngày 16/3 âm lịch, thu hút đông đảo du khách và người dân Hà thành. Trong dịp này, người ta tổ chức các sinh hoạt văn hóa độc đáo như chọi chim, thi nấu cơm trên thuyền, chơi bấp bênh dưới nước, thi tài dọn cỗ cúng thần với những mâm cỗ rất thú vị.
► Mời các bạn: Đổi ngày dương sang âm nhanh chóng và chuẩn xác nhất tại Lịch ngày tốt
T.HXem thêm clip: Buông tất cả để được tất cả Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
– Cúng tam tai giải hạn quan trọng không kém việc dâng sao giải hạn hàng năm, nhưng vẫn có không ít người chưa hiểu được nghi lễ này.
1. Thế nào là hạn tam tai?
Tam tai là hạn của 3 năm liên tiếp đến với mỗi tuổi. Trong một đời người, cứ 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai. Thông thường, hạn năm giữa là nặng nhất.
Tam: Ba, số 3, thứ ba. Tai: Tai họa, họa hại. Tam tai là ba tai họa gồm: Hỏa tai, Thủy tai, Phong tai.
Hỏa tai là tai họa do lửa cháy, như cháy nhà, cháy rừng. Thủy tai là tai họa do nước gây ra, như lũ lụt, sóng thần. Phong tai là tai họa do gió gây ra, như bão, lốc.
Khi vào vận Tam Tai thì hay khốn đốn, trắc trở, vất vả. Đặc biệt là khi cả vợ chồng cùng nằm trong tam hợp tuổi nói trên vì đôi bên đều phải mệt mỏi cùng lúc.
Mức độ cộng hưởng sẽ làm ảnh hưởng nặng đến gia đình. Đó cũng là thiệt thòi của các tuổi hợp. Nếu vợ chồng không cùng tam hợp thì hạn rải rác sẽ đỡ áp lực hơn.
Ngoài ra còn có Tiểu Tam tai gồm 3 tai họa nhỏ: Cơ cẩn chi tai (đói khát), Tật dịch tai, Đao binh tai.
- Cơ cẩn chi tai là tai họa do mất mùa lúa và rau. - Tật dịch tai là tai họa do bịnh dịch truyền nhiễm. - Đao binh tai là tai họa do chiến tranh.
Mời bạn đọc tham khảo thêm bài viết: Tam tai là gì? Vì sao Tam hợp hóa tam tai?
2. Cách tính hạn tam tai như nào?
a. Tuổi Thân, Tý, Thìn gặp tam tai tại các năm Dần, Mão, Thìn
- Năm Dần: gặp Thiên Cổ Tinh Quân tắc vật hại nhân hoặc vi trùng vi hại hoặc bị mê hoặc chi bệnh. - Năm Mão: phùng Thiên Hình Tinh Quân tắc bị pháp luật hình phạt hoặc cập đao thiết nhi xuất hành dã, bị giải phẫu. - Năm Thìn: ngộ Thiên Kiếp Tinh Quân tắc cướp đạo nhi thất tài vật hoặc bị uy quyền bức bách, cướp bóc tổn thất tài vật.
b. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất gặp tam tai tại các năm Thân, Dậu, Tuất
- Năm Thân: gặp Thiên Hoàng Tinh Quân tắc bị thiên hành chi hữu, khủng cụ chi họa. - Năm Dậu: gặp Thiên Đối Tinh Quân tắc hữu đối thủ hoặc đối thủ dĩ hoàng thiên. - Năm Tuất: gặp Địa Tai Tinh Quân tắc hữu tai hại vi thổ địa.
c. Tuổi Hợi, Mão, Mùi: Tam tai tại các năm : Tỵ, Ngọ, Mùi
- Năm Tỵ: ngộ Âm Mưu Tinh Quân tắc hữu thù địch chi nhân mưu vi hại (bị người mưu hại). - Năm Ngọ: phùng Hắc Sát Tinh Quân tắc hữu hắc ám sự (việc mờ ám có hại). - Năm Mùi: ngộ Bạch Sát Tinh Quân tắc tổn thất tài vật hoặc hữu tang sự bạch y bạch cẩn (cử mặc đồ trắng).
d. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: Tam tai tại các năm: Hợi, Tý, Sửu
- Năm Hợi: ngộ Thiên Bại Tinh Quân tắc bị bại hoại sự nghiệp hoặc bại hoại tài sản hoặc bại hoại gia phong. - Năm Tý: ngộ Địa Vong Tinh Quân tắc bị tai hại vi thổ địa nhi tổn thất hoặc thổ động nhi bệnh tật. - Năm Sửu: ngộ Thổ Hình Tinh Quân tắc vi thổ địa nhi cập hình phạt hoặc tổn thất điền địa hoặc vị thổ địa đông nhi hữu tai.
Như vậy, có 4 tuổi sẽ gặp hạn tam tai năm thứ 3 năm tuổi của mình, gồm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Vào năm này, những ai gặp hạn sao La Hầu (nam) và Kế đô (nữ) sẽ có cùng lúc 3 hạn: Tam tai, năm tuổi, sao hạn.
3. Tam tai gây ra họa gì?
Mọi người có quan điểm chung rằng, không phải lúc nào gặp tam tai cũng là tai họa, nhưng thường đến năm tam tai gặp nhiều vất vả, khó khăn hơn trong công việc, mua bán, làm nhà, tu sửa, kết hôn...
Một số việc xấu thường xảy đến với người bị hạn tam tai:
+ Tính tình nóng nảy bất thường. + Có tang trong thân tộc. + Dễ bị tai nạn xe cộ. + Bị thương tích. + Bị kiện thưa hay dính đến pháp luật. + Thất thoát tiền bạc. + Mang tiếng thị phi.
Lưu ý: Tránh cưới gả, hùn vốn, mua nhà và kỵ đi sông đi biển. Tiếp tục làm những việc còn dang dở trước đó thì thường không bị ảnh hưởng nặng. Không nên khởi sự trong những năm bị tam tai.
Năm đầu tam tai, không nên bắt đầu làm việc trọng đại; năm giữa tam tai, không nên dừng việc đang tiến hành (vì thường sau đó tiếp tục dễ gặp trở ngại); năm cuối tam tai, không nên kết thúc việc quan trọng vào đúng năm này.
4. Những ai trong năm Bính Thân gặp tam tai, cách cúng giải hạn?
Theo cách tính hạn tam tai ở trên, năm Bính Thân 2016, các tuổi Dần, Ngọ, Tuất đã phạm hạn tam tai. (Ba năm tam tai là Thân – đầu tam tai; Dậu – giữa tam tai; Tuất – cuối tam tai).
Cách cúng giải hạn tam tai năm Bính Thân
Người xưa có quan niệm về các vị thần giáng hạ cho từng năm (năm, thần, ngày cúng, hướng). Căn cứ vào đó để hành lễ dâng hương để giải trừ tam tai, cụ thể như sau:
+ Năm Tý, ông thần Địa Vong, cúng ngày 22, lạy về hướng Bắc. + Năm Sửu, ông Địa Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng Đông Bắc. + Năm Dần, ông Thiên Linh, cúng ngày rằm, lạy về hướng Đông Bắc. + Năm Mão, ông Thiên Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng Đông. + Năm Thìn, ông Thiên Kiếp, cúng ngày 13, lạy về hướng Đông Nam. + Năm Tỵ, ông Hắc Sát, cúng ngày 11, lạy về hướng Đông Nam. + Năm Ngọ, ông Âm Mưu, cúng ngày 20, lạy về hướng Nam. + Năm Mùi, ông Bạch Sát, cúng ngày mồng 8, lạy về hướng Tây Nam. + Năm Thân, ông Nhân Hoàng, cúng ngày mồng 8, lạy về hướng Tây Nam. + Năm Dậu, ông Thiên Hoạ, cúng ngày mồng 7, lạy về hướng Tây. + Năm Tuất, ông Địa Tai, cúng ngày mồng 6, lạy về hướng Tây Bắc. + Năm Hợi, ông Địa Bại, cúng ngày 21, lạy về hướng Tây Bắc.
Như vậy, năm Bính Thân, cần tiến hành nghi lễ cúng giải trừ tam tai vào ngày mùng 8 âm lịch hàng tháng, khi cúng lạy về hướng Tây Nam. Người xưa thường lễ cúng ở ngã ba, ngã tư đường nhưng thời nay mọi người có thể cúng tại sân, chủ yếu là do tâm thành.
Chuẩn bị bàn cúng:
- Sử dụng bài vị theo mẫu của năm Bính Thân (In trên bìa giấy đỏ, chữ màu đen, hoặc có thể nhờ thầy viết). Bài vị này dán trên một chiếc que, cắm vào ly gạo, mặt có chữ để đối diện với người đứng cúng, đặt ở giữa hay phía trong cùng bàn lễ.
Bài vị cúng giải hạn tam tai năm Bính Thân Phiên âm bài vị: (Đọc từ phải sang trái, từ trên trên xuống dưới) Bốn góc: Cung – Thỉnh – Hạ giáng – Chứng Minh Ở giữa: Mông Long Đại Tướng Nhân Hoàng Tam Tai Kim Ách Thần Quan.
- Gỡ ít tóc rối hoặc cắt chút tóc, cắt chút móng tay, móng chân của người mắc hạn tam tai, gói lại với ít bạc lẻ, để trên 1 đĩa riêng trên bàn lễ.
- 1 bộ tam sanh (tam sênh) gồm có: miếng thịt luộc, con tôm luộc (hoặc tôm khô), trứng vịt luộc. Cúng lúc chiều tối (18—19 giờ), cúng tại trước sân (hay ngã ba đường thì tốt hơn).
– Bình hoa để bên phải, đĩa quả tươi bên trái, phía trước là lư hương, kế tiếp là 3 cây đèn, rồi đến 3 ly rượu (ly trà), trong nữa là bài vị (cắm vào ly gạo, bề mặt có chữ quay về phía người cúng). – Người cúng sắp đặt bàn sao cho mặt mình nhìn về hướng Tây Nam, tức bài vị ở phía Tây Nam, người cúng ở phía Đông Bắc. Kế tiếp là một mâm sắp bộ tam sênh ở giữa, trầu cau, gạo muối, thuốc hút, giấy tiền vàng bạc để xung quanh.
Bài khấn giải hạn tam tai:
Hôm nay là ngày mồng 8 tháng …. , năm Bính Thân. Con tên là …………………………. tuổi: …………….. Hiện cư ngụ tại…………………………………………… Nay con thành tâm thiết bày phẩm vật, cầu xin “MÔNG LONG ĐẠI TƯỚNG NHÂN HOÀNG TAM TAI KIM ÁCH THẦN QUAN” phù hộ độ trì cho con và toàn thể gia đình được bình an mạnh khỏe, tai qua nạn khỏi, phiền não đoạn diệt, nghiệp chướng tiêu trừ, thường hoạch kiết tường, vĩnh ly khổ ách. Thứ nguyện: – Âm siêu dương thới, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sanh, tề thành Phật Đạo. Phục duy cẩn cáo!”
Sau đó vái 3 lần, lạy 12 lạy (cầu cho 12 tháng bình yên). Rồi chờ đến tàn hết nhang đèn, âm thầm lặng thinh, không nói chuyện với bất cứ ai. Tiếp đó đem gói nhỏ (tóc, móng tay, móng chân, tiền lẻ) ra ngã ba đường mà bỏ, nhớ đừng ngoái lại xem. Hoặc có thể đốt chung gói nhỏ đó với 3 xấp giấy tiền, vừa đốt vừa van vái cho tiêu trừ hết tai nạn. Gạo muối vãi ra đường, chỉ mang bàn và đồ dùng (mâm, ly, tách...) về nhà.
Cách cúng giải hạn tam tai không có trong giáo lý nhà Phật mà là tín ngưỡng lưu truyền trong dân gian từ xa xưa. Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam thì cũng tùy thuận theo cái tập tục có sẵn ở từng địa phương và theo từng hoàn cảnh có thể có những cách cúng hạn tam tai khác nhau. Người dân không nên quá tốn kém và quan trọng hóa việc làm những lễ này.
Điều mà tôi muốn nói tới, rằng: cái gì quyết định cho chí hướng, đã chỉ đạo phương hướng, mà Người và Sự - Vất, tất phải đi qua (!).
Vậy thì, chí hướng căn cứ vào đâu để mà tồn tại (?) Chí hướng quyết định phương hướng dựa vào cơ sở nào đây (?)
Số "3" là con số của "trùng hư", đây là một định nghĩa rõ ràng từ Lão Tử. Nhưng mối liên hệ giữa con người và sự vật, rồi chính sự phát triển của con người và sự vật, cũng đều không thể rút ra một kết luận chính xác và rõ ràng.
Nói rằng, sự biến đổi ở bên ngoài, có thể "thấy". Nhưng nguyên nhân biến đổi ở bên trong, cái nội tại hiện hữu, cái biến đổi ở bên trong này, luôn hình thành có chí hướng nhất định, hướng dẫn hành vi hoạt động của con người, đi theo một phương hướng nào đó.
Thuật toán của Đông Phương học cho chúng ta biết rằng: "chu nhi phục thủy", trong chu kỳ năm 1864 - 2043, đối với cái tài của Thiên, thì chúng ta đang ngồi hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc:
"Hà thiên chi cù, hanh".
Vậy thì, còn cái tài của Địa, cái tài của Nhân, trong hệ thống Tam tài, sẽ được tính toán như thế nào ? Thông qua đó, chính chúng ta nhận thức được điều gì đây (!)
Quải - Bác luận
Trong bối cảnh mà người phải biết chiết trung, do bởi Trời cao không thích sự cực đoan.
Có những người, dù trong lúc sướng hay khổ, cũng đều biết chia sẻ. Có những người, là bạn trong lúc giầu sang, nhưng ngoảnh mặt quay lưng ở lúc khốn cùng. Và có những người hoạn nạn thì có nhau, nhưng đến lúc phú qúy thì lại trở mặt.
Đứng trước chiến thắng nhà Tần bạo ngược, Hạng Vũ đã phải đối đầu với một thách thức mới: đó là việc phân phối thành quả thu được sau chiến thắng. Cốt lõi của sự phân phối này, chính là sự công bằng.
Không ai có thể giữ được lòng trung thành, của những người đi theo mình, nếu không có sự công bằng. Khi không có sự trung thành của những người bên dưới mình, thì chẳng một ai có thể giữ được ngôi vị Bá chủ của mình được. Vậy mà
Hạng Vũ bị Lưu Bang đánh bại. Thật vậy !
Lưu Bang đã thành công, là nhờ biết cách sử dụng những con người có tài năng, như Trương Lương, Hàn tín, Tiêu Hà, Trần Bình.
Ngược lại, Hạng Vũ chỉ có một người khôn ngoan, đó là Phạm Tăng.
Lưu Bang biết quy tụ những con người tài năng lại với nhau. Hạng Vũ như chẳng biết sử dụng con người của Phạm Tăng vậy.
Trí khôn tập thể của Lưu Bang, đã chiến thắng chủ nghĩa anh hùng cá nhân của Hạng Vũ. (Hào 6 Quải - Bác)
Tìm Hiểu Mối Quan Hệ Hào Từ Với 60 Can Chi Hệ thống 60 Can Chi có quan hệ với Hào từ quẻ Dịch không ?
Trong quá trình trải nghiệm và khảo chứng, ta nhận thấy Can Chi thật là giản dị, vậy mà ít thấy sách vở bàn tới, rất hiếm khi thấy nói tới mối quan hệ giữa Can Chi với hào từ.
Chúng ta từng bước khảo nghiệm mối quan hệ này, đó là thuyết Bản thể: cái mà phải dựa vào. Đối với thuyết Sinh - Thành, chúng ta khảo nghiệm sau.
Bắt đầu từ trường phái Tam huyền đời nhà Hán (Tiêu diên Thọ, Kinh Phòng, Dương Hùng) Trường phái "Tam huyền" đã thống nhất quy định:
乾宫八卦属金
Càn cung bát quái thuộc kim 乾为天
Càn Vi Thiên 天风姤
Thiên Phong Cấu 天山遁
Thiên Sơn Độn 天地否
Thiên Địa Bỉ 风地观
Phong Địa Quán 山地剥
Sơn Địa Bác 火地晋
Hỏa Địa Tấn 火天大有
Hỏa Thiên Dại Hữu
坎宫八卦属水
Khảm cung bát quái thuộc thủy 坎为水
Khảm Vi Thủy 水泽节
Thủy Trạch Tiết 水雷屯
Thủy Lôi Truân 水火既济
Thủy Hỏa Ký Tế 泽火革
Trạch Hỏa Cách 雷火丰
Lôi Hỏa Phong 地火明夷
Địa Hỏa Minh Di 地水师
Địa Thủy Sư
艮宫八卦属土
Cấn cung bát quái thuộc thổ 艮为山
Cấn Vi Sơn 山火贲
Sơn Hỏa Bí 山天大畜
Sơn Thiên Đại Súc 山泽损
Sơn Trạch Tổn 火泽睽 Hỏa Trạch Khuê 天 泽履
Thiên Trạch Lý 风泽中孚
Phong Trạch Trung Phu 风山渐
Phong Sơn Tiệm
震 宫八卦属木
Chấn cung bát quái thuộc mộc 震为雷
Chấn Vi Lôi 雷地豫
Lôi Địa Dự 雷 水解
Lôi Thủy Giải 雷风恒
Lôi Phong Hằng 地风升
Địa Phong Thăng 水风井
Thủy Phong Tỉnh 泽风大过
Trạch Phong Đại Quá 泽雷随
Trạch Lôi Tùy
巽宫八卦属木
Tốn cung bát quái thuộc mộc 巽为风
Tốn Vi Phong 风天小畜
Phong Thiên Tiểu Súc 风火家人
Phong Hỏa Gia Nhân 风雷益
Phong Lôi Ích 天雷无妄
Thiên Lôi Vô Vọng 火雷噬嗑
Hỏa Lôi Phệ Hạp 山雷颐
Sơn Lôi Di 山 风蛊
Sơn Phong Cổ
离宫八卦属火
Ly cung bát quái thuộc hỏa 离为火
Ly Vi Hỏa 火 山旅
Hỏa Sơn Lữ 火风鼎
Hỏa Phong Đỉnh 火水未济
Hỏa Thủy vị Tế 山水蒙
Sơn Thủy Mông 风水涣
Phong Thủy Hoán 天水讼
Thiên Thủy Tụng 天火同人
Thiên Hỏa Đồng Nhân
坤宫八卦属土
Khôn cung bát quái thuộc thổ 坤为地
Khôn Vi Địa 地雷复
Địa Lôi Phục 地泽临
Địa Trạch Lâm 地天泰
Địa Thiên Thái 雷天大壮
Lôi Thiên Đại Tráng 泽天夬
Trạch Thiên Quải 水天需
Thủy Thiên Nhu 水地比
Thủy Địa Tỉ
兑宫八卦属金
Đoái cung bát quái thuộc kim 兑为泽
Đoài Vi Trạch 泽水困
Trạch Thủy Khốn 泽地萃
Trạch Địa Tụy 泽山咸
Trạch Sơn Hàm 水山蹇
Thủy Sơn Kiển 地山谦
Địa Sơn Khiêm 雷山小过
Lôi Sơn Tiểu Quá 雷泽归妹
Lôi Trạch Quy Muội
Thực hiện thuận tự theo 60 Can Chi, ta xác định được từng cặp Can Chi phối hợp với từng hào từ quẻ Dịch:
Phong thuỷ có câu “Khí khẩu tư nhất trạch chi khu, long huyệt lạc tam cát chi phụ”. “Khí khẩu tư nhất trạch chi khu” có nghĩa là Phi Tinh chỉ được thúc vượng trong một tình huống nhất định. Đó chính là vị trí thường xuyên có người qua lại hoặc vị tr
í đó có không khí lưu thông. Ví dụ, một căn nhà toạ Canh hướng Giáp, có hai ngôi sao Bát Bạch tinh cùng bay đến hướng Đông, tức là song tinh cùng đến. Nếu hướng Đông có mở cửa sổ, Bát Bạch tinh sẽ được thúc vượng. Hàng ngày, chúng ta hãy cố gắng mở cửa sổ ra thì cũng có thể tăng vượng Bát Bạch tinh. Nếu vị trí đó nhìn thấy đường đi, bể nước, cầu thì càng thêm vượng.
Khi bước vào một căn nhà, chúng ta phải tìm ra vấn đề lớn nhất mà căn nhà đó gặp phải là gì. Vị trí then chốt khi đó là cửa chính, vì nó là cửa ngõ cho khí lưu thông. Cửa chính là vị trí quan trọng nhất của cả nhà. Dùng Phi Tinh của vị trí cửa chính để suy đoán cát hung của cả nhà thì ứng nghiệm nhất. Ngoài cửa chính, cửa sổ có chức năng nhập khí thì máy điều hoà cũng có chức năng tương tự vì nó hút không khí từ bên ngoài thổi vào trong nhà, tự nhiên sẽ thúc vượng khí trường tại vị trí đó.
Tóm lại, bất cứ vị trí nào trong nhà có gió thì sẽ thúc vượng Phi Tinh chỗ đó. Cho nên khi xem phong thuỷ căn nhà, điều đầu tiên là quan sát nơi nạp khí.
“Long huyệt lạc tam cát chi phụ” là chỉ ba cát tinh Nhất Bạch, Lục Bạch và Bát Bạch. Long huyệt chỉ ngôi nhà hoặc ngôi mộ. Long huyệt tam cát có ý chỉ khi xem phong thuỷ phải tìm ra vị trí ba ngôi sao may mắn ấy bay đến đâu. Chúng ta vừa ví dụ với căn nhà Canh sơn Giáp hướng, ba ngôi sao đó cùng bay đến vị trí Thuỷ (hướng Đông). Điều này có lợi để ta tiến hành bố trí phong thuỷ, tránh hoạ chiêu lợi.
Sao Vũ khúc tại cung Mão, Dậu, cung Mệnh là sao Tử vi nhập miếu và sao Phá quân thế vượng, chủ có đặc điểm những năm trẻ tuổi thì tự phụ quật cường, không nghe theo những lời nói thật, tự cho mình là đúng, trung niên và cuối đời thì thay đổi hoàn toàn, thận trọng hay suy nghĩ, bình tĩnh, nhìn xa trông rộng và quyết đoán, thiết thực, chịu vất vả. Mặc dù không tránh khỏi vất vả khó nhọc nhưng lao động có thu hoạch. Thế nên mới nói tuổi này tiền tài thăng trầm, dễ phát tài cực thịnh nhưng cũng phá tài cực nhiều
BỐ CỤC SAO
Sao Vũ khúc tại cung Mão, Dậu là thế lợi tất có sao Thất sát thế vượng cùng tọa thủ, sao Thiên phủ tại cung Phúc đức triều chiếu (cung Dậu là thê vượng, cung Mão là thế địa). Cung Mệnh là sao Tử vi nhập miếu và sao Phá quân thế vượng, cung Quan lộc là sao Liêm trinh, Tham lang rơi vào thế hãm; cung Điền trạch là sao Thái âm (cung Tuất là thế vượng, cung Thìn là rơi vào thế hãm), cung Thiên di là sao Thiên tướng (cung Sửu là nhập miếu, cung Tý là thế địa).
PHÂN TÍCH TÀI VẬN
Sao Vũ khúc mạnh mẽ quyết đoán, bảo thủ chín chắn, điềm tĩnh, vững vàng. Sao Thất sát dứt khoát dũng mãnh, hào phóng hấp tấp, thích hoạt động có thể thành công. Hai sao cùng tọa thủ cung Tài bạch, thẳng thắn, có thành tích, bảo thủ, mục tiêu và tầm nhìn xa, có thể đảm đương trọng trách.
Tài vận không tồi, giỏi việc quản lý tiền nong, kiếm tiền nhiều, tiêu tiền nhanh, hành động mang tính tùy tiện, thích đầu cơ mạo hiểm, tự mình lập nghiệp, làm theo ý mình, công việc trong cuộc đời thay đổi nhiều, tiền tài thăng trầm lớn, có lúc gặp trắc trở nhiều, dễ phát tài cực thịnh, phá tài cực nhiều. Những năm trẻ tuổi thì tiền đến rồi lại đi, trung niên và cuối đời thì có thể lập nghiệp từ hai bàn tay trắng, thành tích tốt.
Khi sao Vũ khúc tại cung Mão tọa cung Tài bạch, sao Thái âm tại cung Tuất tọa cung Điền trạch, là thế vượng, sao Thái dương thế vượng ở cung đối diện chiếu vào là mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích, tài vận thông thuận, vận bất động sản tốt, gia nghiệp phong phú.
Tử vi đế tinh gặp Phá quân điện tiền tướng quân, những năm trẻ tuổi thì tự phụ quật cường, không nghe theo những lời nói thật, tự cho mình là đúng, trung niên và cuối đời thì thay đổi hoàn toàn, thận trọng hay suy nghĩ, bình tĩnh, nhìn xa trông rộng và quyết đoán, thiết thực, chịu vất vả. Mặc dù không tránh khỏi vất vả khó nhọc nhưng lao động có thu hoạch.
Sao Thiên phủ tọa cung Phúc đức, tấm lòng lương thiện, hài lòng với hiện tại, thu nhập không tồi, sống hưởng thụ, về tiền tài cần tránh dính líu đến bạn bè. Sao Thái âm tọa cung Điền trạch, nhà ở thường thích trang nhã thanh tịnh, thích nơi điền viên sơn lâm hoặc đặt những cây cối hoa cỏ. Cung Tuất sao Thái âm thế vượng tọa cung Điền trạch, sao Thái dương thế vượng tại cung đối diện chiếu vào, là mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích, tài vận thông thuận, vận bất động sản tốt, nên đề phòng đào hoa kiếp.
Sao Thái âm tọa cung Điền trạch, nhà ở thường thích trang nhã thanh tịnh, thích nơi điền viên sơn lâm hoặc đặt những cây cối hoa cỏ. Cung Tuất sao Thái âm thế vượng tọa cung Điền trạch, sao Thái dương thế vượng tịa cung đối diện chiếu vào, là mệnh cách Nhật nguyệt chiếu bích, tài vận thông thuận, vận bất động sản tốt, nên đề phòng đào hoa kiếp.
Sao Liêm trinh, Tham lang cùng tọa thủ cung Quan lộc, làm việc chăm chỉ, có biểu hiện tốt, giỏi việc giao tiếp xã giao, không thích công việc ràng buộc khuôn phép.
Sao Thiên tướng tọa cung Thiên di, quan hệ xã giao mạnh tốt nhân duyên tốt, xuất ngoại có quý nhân phù trợ, vui khi giúp đỡ người khác, được người khác hoan nghênh, được đánh giá tốt.
Nhà vệ sinh tuyệt đối không được ở giữa nhà, đây là điều rất quan trọng, bởi vì Trung Cung là Khí tổng quản cả chín cung trong nhà nên nếu để nó ô nhiễm thì tất là tài vận và sức khỏe trong nhà đều không tốt.
1. Đại kỵ 1: Cửa chính không được đối diện với cửa ra ban công - Phạm Xuyên Tâm Sát Cửa ra vào chính đối diện với chỗ ra ban công sẽ phạm phải cái gọi là “Xuyên Tâm Sát” - trong nhà tiền bạc khó mà tích tụ, tất có việc phải phá tài. Nếu cửa sổ mở ra ban công hoặc bên ngoài có ánh nắng chiếu vào chính diện với bếp hoặc thẳng ra cửa đi lại chính, có thể dùng rèm cửa che chắn thường xuyên liên tục. Phương pháp hóa giải: Đặt một huyền quan chắn giữa cửa lớn và cửa thông ra ban công, tại cửa lớn bố trí một bể cá (Hoặc dùng bình phong). Có thể bố trí cửa ra ban công thành cửa sổ, hoặc tốt hơn là treo rèm, nếu không ở ban công có thể kê đặt các loại cây cảnh để hãm bớt luồng khí xung xạ, hoặc trồng loại cây leo giàn. 2. Đại kỵ 2: Kiêng kỵ bếp đối diện với Ban công Ban công cũng không thể đối diện trực tiếp với phòng bếp, đây cũng có thể coi là một loại xuyên tâm, làm cho khả năng đoàn tụ nhất trí trong nhà yếu, làm cho gia đình khó hòa thuận, hạnh phúc. Phương pháp hóa giải: Nên đặt chậu hoa hoặc trồng cây leo ngăn cách cốt sao cho trong ngoài không thông nhau để hóa giải. Nếu là cửa đi thì dùng rèm che, cũng có thể đặt huyền quan ngăn cách nhưng phải làm sao cho không ảnh hưởng đến sự đi lại, chỉ cần chỗ ban công không thông thẳng với bếp là được. 3. Đại kỵ 3: Không đặt Loa, Đài phát, trên trần nhà thẳng vị trí giường ngủ Nếu như trên trần nhà đặt loa phát âm thanh lâu dài, hoặc trên sà nhà hay phát tiếng cót két, có thể coi như một lực lượng xung sát từ trên trần; nếu âm thanh đó ngay trên giường ngủ, thì người nằm dưới giường đó lâu dài sẽ phát sinh bệnh tật. Phương pháp hóa giải: Tốt nhất nên đặt giường ngủ cách xa chỗ đó, hoặc giải quyết dứt điểm không cho phát âm thanh là tốt nhất. 4. Đại kỵ 4: Chủ nhà mệnh Hỏa kiêng nuôi cá Nếu trong mệnh kỵ Thủy, trong nhà tất không nên bày bể cá, nếu chỉ biết rằng bày bể cá để tụ tài, mà không biết Hỷ Kỵ của chủ nhà có sự chuyên biệt kỵ húy. Nên nhận biết và tránh đi. Phương pháp hóa giải: Nên nhờ thầy phong thủy hoặc các chuyên gia phong thủy phân tích tứ trụ của chủ nhà để xem Hỷ Kỵ thế nào, từ đó rút ra các vật phẩm có tính chất kỵ với chủ nhà. 5. Đại kỵ 5: Mái hiên che mưa không làm mũi nhọn Mái che mưa (thường ở sân trước nhà) nên làm thành hình vòng cung, tránh làm thành mũi nhọn; nếu không sẽ làm bất lợi cho chủ nhà, đặc biệt về sức khỏe. Phương pháp hóa giải: Không nên dùng mái che mưa, nhưng nhất định phải làm thì nên làm hình vòm, không được làm hình nhọn. 6. Đại kỵ 6: Lò bếp không đối diện với cửa nhà Lò bếp không thể đặt đối diện với cửa nhà, cửa ra ban công, cửa phòng bếp, cửa phòng, thường phạm vào sức khỏe không tốt và các việc không may mắn khác. Phương pháp hóa giải: Có thể tại cửa bếp dùng rèm hoặc bình phong che đi. 7. Đại kỵ 7: Không tự tiện đặt gương kính trong nhà Trong nhà không nên tùy ý đặt gương kính, dễ tự mình phá vỡ khí trường trong nhà. Có lúc do muốn mở rộng diện tích trong nhà mà đặt kính gương, tuy nhiên nếu là phòng ngủ thì tuyệt đối không được đặt kính, làm cho khí trường bị phản xạ hỗn loạn. Phương pháp hóa giải: Nếu bắt buộc phải đặt gương chỉ nên treo một bên tường, nhất định không nên treo cả hai bên, đặc biệt là đối diện nhau, sẽ tạo thành phản xạ. Nếu không nên dùng các vật dụng trong nhà đặt gương kính (phía trong tủ, trong phòng tắm, trong phòng thay đồ) dùng xong lại che khuất đi. 8. Đại kỵ 8: Không phải cây nào cũng để trong nhà được Trong nhà sử dụng cây cối chậu cảnh nên thận trọng lựa chọn. Không nên chọn lựa loại cây có lá dài nhọn, dễ làm cho chủ nhân dính vào các chuyện cãi cọ tranh chấp. Các loại cây thuộc họ Quyết và Cát Đằng là các loại cây không nên chọn, đây là các loại cây âm tính, nếu nó tốt tươi tất trong nhà phạm vào các sự “Bất Can Tịnh – Không sạch sẽ”. Phương pháp hóa giải: Nên chọn các loại cây có bản lá to rộng, hoặc các loại cây hoa có sức sống khỏe. 9. Đại kỵ 9: Kiêng kỵ đặt nhà vệ sinh ở giữa nhà Nhà vệ sinh tuyệt đối không được ở giữa nhà, đây là điều rất quan trọng, bởi vì Trung Cung là Khí tổng quản cả chín cung trong nhà nên nếu để nó ô nhiễm thì tất là tài vận và sức khỏe trong nhà đều không tốt. Phương pháp hóa giải: Nếu như kiến trúc đã chọn phạm vào điều này thì tốt nhất nên sửa đổi, còn nếu không thể sửa thì nên dọn sạch sẽ chỗ đó, bồn tắm cũng cần rửa sạch sẽ thường xuyên.. 10. Đại kỵ 10: Một số kiêng kỵ khác Ngoài các kiến trúc bên trong thì kiến trúc bên ngoài cũng rất quan yếu. Có người tại mặt ngoài nhà ở bỗng xây, đặt một vật nhô lên như đầu người, đây là điều đại kỵ, nó giống như một cục u máu chắn trước nhà. Đây là hình tượng không tốt, nên tránh xa điều này. Phương pháp hóa giải: Nếu không phải là đặc biệt cần thiết thì không nên tạo dựng các hình tượng như vậy, còn nếu bắt buộc thì nên tham khảo ý kiến các chuyên gia.
Kết hôn là việc trọng đại của cuộc đời nên trang trí phòng cưới cũng cần đẹp mắt và có không khí của ngày vui. Hơn nữa, phong thủy phòng cưới đúng chuẩn sẽ giúp cuộc sống vợ chồng sau này hạnh phúc, hòa hợp hơn.
Trong phòng cưới không nên đặt cây cảnh, hoa cỏ và bể cá
Trong phòng ngủ của đôi vợ chồng mới cưới, những vật có tính Thủy quá mạnh như cây cảnh, hoa cỏ hay bể cá tốt nhất không nên để. Nếu không có thể khiến cho ngọn lửa tình yêu của hai người lụi tàn bởi nước. Không nên chất đồ lung tung dưới giường
Dưới giường là nơi u ám, khó thoáng khí, khi đặt đồ linh tinh vào có thể ảnh hưởng tới khí trường trong phòng làm người trong phòng ngủ không sâu, dễ gặp ác mộng. Bên cạnh đó, đồ đặt dưới gầm giường dễ mốc và sinh ra vi khuẩn, khiến cô dâu mới dọn dẹp cũng sẽ khó khăn. Trong phòng cưới không đặt quá nhiều đồ điện
Tốt nhất phòng cưới không nên để quá nhiều đồ điện, chỉ cần một chiếc TV. Theo phong thủy phòng cưới, đặt quá nhiều đồ điện gọi là “hỏa trạch” làm ảnh hưởng tới sức khỏe người trong phòng và dễ gây xích mích giữa hai vợ chồng. Gương không nên treo đối diện giường
Kiêng kỵ này nhiều người biết nhưng một số người không biết lý do vì sao. Đặt gương đặt đầu giường thường rất dễ ra gây ám ảnh hoặc ảo giác nếu như bất giác tỉnh dậy giữa đêm khuya, điều đó khiến cho tâm trạng của hai vợ chồng sợ hãi và bất an.ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Khánh Linh (##)
Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Thái Công Gặp Văn Vương có bắt nguồn như sau:Đây là điển cố thứ Hai mươi quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát, mang tên Thái Công Ngộ Văn Vương
Đây là điển cố thứ Hai mươi trong quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát, mang tên Thái Công Ngộ Văn Vương (còn gọi là Thái Công Gặp Văn Vương). Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Thái Công Gặp Văn Vương có bắt nguồn như sau:
Cuối đời nhà Thương, ở lưu vực sông Vị Thủy đã xuất hiện một cường quốc là nước Chu, tố tiên của nhà nước này họ Cơ, tương truyền viễn tổ của họ là Hậu Tắc đảm nhiệm chức vị Nông sư ở thời Đế Nghiêu. Thủ tĩnh của nước Chu là cố Công Đản Phụ, thống tĩnh người của bộ tộc từ phía bắc của núi Kỳ Sơn chuyển đến cánh đồng Chu Nguyên phía nam núi Kỳ Sơn để cư trú, khai khẩn đất hoang ờ đây, xây dựng thành quách cung thất, sắp đặt chế độ quan lại. Đến thời con trai của cố Công Đản Phụ là Quý Lịch tại vị, thế lực của nhà nước Chu ngày càng lớn mạnh.
Sau khi Quý Lịch mất, con trai là Cơ Xương kế vị, đây chính là Chu Văn Vương nối tiếng trong lịch sử. Chu Văn Vương rất coi trọng nhân tài, vì thế những người tài trong thiên hạ lũ lượt tìm đến với Chu Văn Vương. Trụ Vương nhà Thương thấy thế lực của nhà Chu ngày càng lớn mạnh, rất sợ hãi, bèn tìm cách giam cầm Chu Văn Vương ở Dữu Lý. Để giải cứu được Văn Vương, thần dân nước Chu đã chọn mỹ nữ, ngựa đẹp và báu vật dâng cho Trụ Vương, lại mua chuộc quan đại thần của nhà Thương, nên Chu Văn Vương được thả ra.
Sau khi Chu Văn Vương được tự do, ông quyết tâm cai trị tốt đất nước của mình, để tìm cơ hội lật đố nhà Thương. Thuộc hạ dưới quyền tuy có rất nhiều quan văn tướng võ, nhưng lại thiếu một người có thế trù tính toàn cục, vạch kế sách lớn tiêu diệt nhà Thương, vì vậy ông rất tích cực tìm kiếm người hiền tài như thế.
Một lần, Chu Văn Vương ra ngoài đi săn, đã gặp một ông lão câu cá bên suối Bàn Khê là một nhánh của sông Vị Thủy, ông lão râu tóc bạc phơ, xem chừng khoảng bảy tám mươi tuổi. Điều kỳ lạ là, ông lão vừa câu cá vừa lẩm nhấm một mình: “Mau cắn câu đi mau cắn câu! Kẻ muốn cắn câu hãy cắn câu!” Lại thấy lưỡi câu của ông lão câu cá để cách mặt nước đến ba thước, lại thẳng tuột chứ không uốn cong, trên lưỡi câu không thấy mắc mồi câu. Văn Vương cảm thấy rất kỳ lạ, liền đi đến hỏi chuyện ông lão.
Ông lão này vốn họ Khương, tên Thượng, tự là Tử Nha. ông từng làm nghề mố bò ở Triều Ca (nay là huyện Thang Âm, tỉnh Hà Nam), bán rượu ở bến Mạnh Tân bên sông Hoàng Hà. Nhưng ông lại không buôn bán gì được, làm gì cũng bị lỗ vốn. ông đến bên sông Vị Thủy câu cá, kỳ thực là đang chờ đợi vị vua anh minh, tài giỏi đến tìm. Sau khi trò chuyện với Khương Thượng, Chu Văn Vương nhận thấy ông lão này trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, rất am hiếu về chính trị, quân sự, đặc biệt là đối với tình hình chính trị đương thời. Vì thế, Văn Vương khẩn thiết nói với Khương Thượng rằng: “Ta mong chờ khanh đã rất lâu rồi, khanh hãy đến giúp đỡ ta cai trị đất nước!”
Khương Thượng về triều, được lập làm Quốc sư, sau đó thăng chức lên Quốc tướng, quản lý chính trị và quân sự của đất nước, ông giúp đỡ Chu Văn Vương bên trong phát triển sản xuất, bên ngoài mở rộng lãnh thố, làm suy yếu thế lực của nhà Thương. Đến khi Chu Văn Vương về già, lãnh thổ của nhà Chu đã trở nên rất rộng lớn: Phía tây thu phục được vùng đất cũ của nhà Chu, là dải Thiểm Tây, Cam Túc ngày nay; phía đông bắc tiến đến vùng phụ cận Lê Thành của Sơn Tây; phía đông đến Tấm Dương, Hà Nam hiện nay, gần sát đến đô thành Triều Ca của nhà Thương; phía nam mở rộng thế lực đến các lưu vực Trường Giang, Hán Thủy, Nhữ Thủy. Tương truyền đến thời Chu Văn Vương, nhà Chu đã khống chế được hai phần ba thiên hạ, đặt nền móng vững chắc cho Chu Vũ Vương tiêu diệt nhà Thương.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Trong ngày Tết Đoan Ngọ, ngoài những tục lệ truyền thống bạn cũng có thể tích phúc bằng những hành động rất đơn giản như treo cành xương rồng trên cửa, tắm
Vào ngày 5/5 Âm lịch hàng năm, người dân Việt lại có truyền thống ăn bánh gio, ăn rượu nếp và ăn hoa quả đương mùa để “giết sâu bọ”. Ai cũng mong bình an, mọi việc thuận buồm xuôi gió nên ngoài việc gìn giữ truyền thống thì bạn cũng nên thực hiện một số công việc để tích vận phúc khí trong ngày Tết Đoan Ngọ.
1. Treo cành xương rồng trên cửa
Ảnh minh họa
Đoan Ngọ là thời gian dương khí vượng nhất, muốn cho nhà mình đón được nhiều vượng khí nhất thì bạn có thể treo một nắm cây ngải cứu hoặc một cành xương rồng trên cửa, 2 loại cây này sẽ có tác dụng trừ tà, loại bỏ mọi tà khí. Còn biện pháp tối ưu nhất là bạn sửa sang, quét dọn nhà cửa sạch sẽ một chút. 2. Mang theo một nắm hương (nhang) bên mìnhMang theo một chút hương trầm theo người trong ngày Tết Đoan Dương. Những nguyên liệu để làm ra hương sẽ là vật hộ thân an toàn, vừa có tác dụng phòng bệnh, vừa có tác dụng trừ tà.3. Tắm bằng thảo mộc
Ảnh minh họa
Trong ngày Tết Đoan Ngọ bạn cũng có thể sử dụng nhưng cây cỏ thiên nhiên nấu lên làm nước tắm vừa để xua đi tà khí vừa làm cho cơ thể khỏe mạnh hơn, tinh thần sảng khoái. Các loại cây có thể dùng để đun nước tắm như cỏ mần trầu, bông mã đề, lá mùi già, hương nhu…4. Phóng sinhĐoan Ngọ cũng là thời điểm thích hợp để bạn làm việc thiện như phóng sinh. Điều này có thể là vì chính bản thân mình hoặc cho người nhà, tu nhân tích đức, quảng kết thiện duyên, phóng sinh là phương pháp loại bỏ ưu buồn, đau khổ hiệu quả nhất.5. Quét dọn phòng vệ sinh
Ảnh minh họa
Phòng vệ sinh cần quét dọn sạch sẽ. Phòng vệ sinh mà dơ bẩn thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, như vậy cần quét dọn sạch sẽ, chẳng những làm cho cơ thể khỏe mạnh hơn mà còn có thể đánh bay vận xui. 6. Không đến những nơi có nhiều âm khí Trong ngày Tết Đoan Ngọ, tốt nhất là bạn không nên tới những nơi có nhiều âm khí như bệnh viện, nghĩa trang, ao hồ, nơi tối tăm, vắng vẻ để tránh bị âm khí làm ảnh hưởng tới sức khỏe và tinh thần.
► Mời các bạn tra cứu Lịch 2016 theo Lịch vạn sự chuẩn xác
Phương Thùy Những con giáp thích hợp ăn chay để tăng vận khí – Ăn chay không chỉ mang lại lợi ích cho sức khỏe, nó còn giúp vận khí của bạn tăng lên, thúc đẩy mọi mặt cuộc sống diễn ra suôn sẻ. NhữngĐổi màu cửa sổ, vận khí tăng tiến Phong thủy nhà ở là sự phối hợp của tất cả các yếu tố hiện hữu trong căn nhà. Màu sắc cửa sổ hợp phong thủy cũng góp phần làm tăng vận khí và tạo bố cục phong Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Đèn thuộc Hỏa, mang năng lượng dương, có tác dụng kích hoạt năng lượng trong ngôi nhà. Theo phong thủy, mỗi loại đèn sẽ kích thích một vận may khác nhau.
Đèn thuộc Hỏa, mang năng lượng dương, có tác dụng kích hoạt năng lượng trong ngôi nhà. Theo phong thủy, mỗi loại đèn sẽ kích thích một vận may khác nhau.
► Xem thêm: Những yếu tố phong thủy nhà ở ảnh hưởng đến tài vận gia đình bạn
1. Đèn ánh sáng trắng kích thích sự nghiệpĐặt một chiếc đèn ánh sáng trắng ở hướng chính Bắc của ngôi nhà sẽ kích thích năng lượng tác động tới sự nghiệp của nhân, mang may mắn tới. 2. Đèn ánh sáng cam tốt cho vận đào hoaNếu muốn tăng thêm thế vận về hôn nhân hay tình yêu, có thể đặt một chiếc đèn bàn ánh sáng màu cam tại vị trí Tây Nam của phòng khách. 3. Đèn huỳnh quang tốt cho sự nghiệp văn chươngMuốn sự nghiệp văn chương phát triển, đặt đèn huỳnh quang tại vị trí hướng Đông Bắc của thư phòng - khu vực thuộc mệnh Thổ, nếu bài trí thêm thủy tinh tự nhiên thì hiệu quả sẽ càng cao. 4. Đèn phản xạ có lợi cho sức khỏeĐặt loại đèn này ở hướng Đông, có thể làm lưu thống khí huyết, rất tốt cho sức khỏe của gia chủ. 5. Đèn tụ quang thúc đẩy tài vậnĐèn tụ quang tốt cho tài vận, tốt nhất nên dùng loại đèn có ánh sáng màu hồng, đặt ở hướng Đông Nam. 6. Đèn màu kim loại tăng cường quan hệ xã hộiĐèn màu kim loại làm tăng thêm năng lượng cho hướng Tây Bắc, tốt cho vận quý nhân và các mối quan hệ xã hội của gia chủ. ST
Tục ngữ nói “đàn ông như cái đăng, đàn bà như cái đó”, hoặc nói “Đàn ông đem vô, đàn bà cất giữ” v.v… đều là chỉ về sự tương quan trong cuộc lập nghiệp của đôi vợ chồng. Đăng lùa được cá, nhưng đó lủng rách thì cá chui lọt đi hết còn đâu. Vậy hình tướng của đàn bà trọng đại tới tương lai chồng con lắm.
Sau đây chúng tôi xin sưu tập và dịch rõ phần tổng quát về hình tướng phụ nữ để quí thân chủ và bạn đọc suy nghiệm.
- Lưng dài vai tròn là: Vượng phu ích tử. - Lưỡng quyền cao mủi nhỏ là: Hại tử khắc phu. - Tam đình bình đẳng là: Khởi gia hưng nghiệp. - Mũi cao lỗ kín là: Có chồng giàu sang. - Môi xứng với miệng là: Con làm nên danh vọng. - Mặt chỗ lép chỗ nhọn là: Sạt nghiệp chồng con. - Mặt sáng ngời như ngọc: Ắt đẻ con sang, con hiếu. - Mũi nhỏ mặt bạnh là: Đa dâm đa loạn. - Mình thơm mắt sáng là: Phu quí tử vinh. - Miệng rộng mồm méo là: Phu cùng tử yểu. - Trán thẳng mày thanh là: Đàn bà phước đức. - Mặt lớn má lép là: Người vô phước. - Mũi tròn da mịn là: Tướng phụ nữ hưng gia. - Mũi tẹt mặt lớn là: Tướng đàn bà phá sản. - Môi trắng mỏ nhọn là: Phường ăn không nói có. - Má cao khắc lỏm là: Tướng khắc chồng con. - Môi hường tươi: Ắt sanh con quí. -Con ngươi đỏ như tia lửa là: Khắc sát chồng con. - Dáng vóc nhàn tịnh khiêm cung là: Nghiêm tướng. - Mặt đẹp con ngươi vàng là: Sát tướng. - Tướng hình đoan chính trang nghiêm là: Uy tướng. - Mặt lớn mồm nhỏ răng thô là: Sát tướng. - Trên sóng mũi có nhiều lằn gạch là: Sát tướng. - Ngồi ngay nói thẳng lòng khoan hoà là: Uy tướng. - Tai lật không có thành quách là: Sát tướng. - Vẻ mặt hoà dịu, mừng không lộ, sợ không khiếp là: Nghiêm tướng, quí tướng, có con quí chồng sang.
- Mặt đẹp nhưng trắng như vôi, lông mi đen rậm như lưỡi dao lớn, con ngươi như mắt cá đỏ, lông mày thô như chổi, đều là Sát tướng. Dù mặt – tướng diện – có đẹp đẻ đến đâu cũng hình phu khắc tử sát hại chồng con ghê lắm.
Trở lên là tướng hình tốt xấu lẫn lộn, xem rồi suy gẩm ắt thấy điều hay. Sau đây là tướng hình đàn bà hiền đức.
Trán bằng, đầu tròn, tóc mịn đen mướt.
Mặt như khuôn thiên, cằm nở dài mép có một vành. Đi đứng ngay thẳng, ngồi nằm khoan thai. Tóc nỏn nà nhuyễn mượt, mắt dày mày thanh môi hồng răng trắng ngà, da mịn xương nhỏ không lộ, mình trắng hơn mặt, thân mình sắc hoà dịu.
Lưng vai tròn, ngực rộng, vú to không xệ, rún sâu có vành. Bàn tay dài, ngón tay hơi nhọn, tiếng thanh, ít nói cười. Hơi mình thon, xương âm cao nhô ra, thịt dầy, âm đạo thẳng đều là tướng hiền, có phước đức.
Lại có những tướng hình tổng quát lẫn lộn thiện ác, tốt xấu như sau:
Người có tướng đi đứng khoan hoà hiền diệu, tinh thần nghiêm chỉnh, tiếng nói trắng thanh, ngồi nằm đoan chính là tướng đàn bà quí, lập danh cho chồng, để đức cho con, hưởng thọ tuổi cao, sanh toàn con trai.
Người có tướng mặt hơi vuông dài, ngực lớn, tiếng nói lớn mà thanh, tinh thần tươi sáng, cử chỉ đoan chính, chuyện trò êm thấm hoà dịu, vẻ người trang nghiêm chửng chạc, khiến kẻ đối diện nể trọng, ấy là đàn bà có phước đức trinh thuận, liêm chánh.
Người có tướng diện tươi thắm như hoa nở đầy hương nhụy, cười như hoa đào, mắt sáng như sao chớp, đi đứng phong lưu đài trang, làm cho người đối diện phải ao ước mơ tưởng và hình dung điều bất chánh, có khi kẻ đối diện có cảm tưởng như cởi bỏ y trang, để xoi mói vào bên trong thân thể, ấy là tướng tà dâm, rất dễ bị mềm lòng nhẹ dạ. Không tốt.
Tướng người mặt nhọn ngực lép mà bạnh ra, môi ướt răng hô, mắt tròn trắng dả, mũi nguỡng thiên, tiếng nói rè, đi như ma đuổi, đi lắc như phải gió, chưa nói mà ngoắc tay nghiêng mình kiễng chân như con lật đật. Tướng nghèo khó, hình phu, khắc tử.
Má thật cao, mắt lỏm, tóc xoắn, môi mép có lông rám như râu. Xương thịt thân thể cứng rắn, mình miệng và các chỗ kín có mùi hôi hám khó chịu đều là các hình tướng bần tiện, hạ đẳng, ngu độn chỉ làm nô tỳ chớ không thể làm nổi ca kỷ được nữa.
Tướng có gò má thật cao, lông mày xoáy hoặc hình chổi sề, hình lưỡi đao, tiếng nói nhọn bén như ong vò vẻ, mắt như mắt chó sói, như mắt cá đỏ, là tướng đàn bà cùng hung cực ác, khắc sát chồng con dữ lắm.
Lại có tướng người đi đứng không yên như gấp rút vội vàng như sợ sệt gì vậy. Người thì đong đưa nghiêng ngã, tưởng như sắp té đến nơi, giọng nói cợt nhả đỏng đảnh mời mọc, đó là tướng đàn bà ngồi lê đôi mách, bần tiện hạ lưu, chuyên đi nịnh bợ xoi móc hàng xóm.
Cũng có tướng người mặt ngang trán lớn má cao, tiếng nói khao khao, bước đi mông lắc như chim se sẻ, mắt lộ con ngươi đỏ như diều, như cá chép, như mắt rắn là người bạc ác, lòng một dạ hai, bất nghĩa bất tín mà ương ngạnh, ưa nói càng nói bướng.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Cách cục Nguyệt Sinh Thương hải (Trăng mọc biển xanh)
1. Sao Thiên Đồng, Thái Âm trấn mệnh tại cung Tý, có các sao Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Tả, Hữu, Xương , Khúc , Khôi, Việt gia hội là hợp cách. 2. Sao Thái Âm, Thiên Đồng đều trấn cung Điền Trạch tại cung Tý, gặp cát tinh, cát hóa hội hợp, nhưng cung mệnh và cung tam phương phải cần có cát tinh. Sao Thiên Đồng, Thái Âm tại cung Tý gặp cát tinh chủ về tướng mạo thanh tú, lịch thiệp, học vấn cao, có được tiền tài và danh vọng. Nếu cách cục tốt chủ về đại phú, đại quý.
Ưu điểm: Thông minh, thanh tú, cử chỉ thanh lịch, nhã nhặn, khiêm nhường, có được trợ giúp lớn từ người khác giới, dễ gây thiện cảm với người khác, có được tiền tài, danh vọng, làm các chức vụ quan trọng, thanh cao.
Nhược điểm: Không hợp với Mệnh nữ, chủ về đường tình duyên gặp nhiều trắc trở, nên kết hôn muộn.
Kinh văn có câu: "Thái Âm tại Tý gọi là Thủy trừng quế ngạc (Cành quế nước trong), chủ về làm chức quan trung trực, chức vụ cao mà thanh liêm, "Thái Âm tại Tý nếu sinh năm Bính Đinh giàu sang trung lương". Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Trước khi dọn đồ ra cúng cô hồn, nếu chưa kịp thắp nhang khấn vái mà có những người tranh nhau giật các đồ cúng từ trên tay bạn thì ngay lập tức nên buông thả đồ cúng ra khỏi tay. Nếu bạn giật lại thì hậu quả nhận được là những điều tệ hại. Nếu khi bạn ch
Tháng cô hồn hay tháng “xá tội vong nhân” là một tín ngưỡng dân gian quan trọng và có liên quan tới ma quỷ, tâm linh nên rất được người Việt quan trọng. Ngoài những lễ tiết cúng bái, dân gian ta còn tương truyền cả những điều con người nên làm và không nên làm trong tháng cô hồn để cho cầu mong được bình an, hạnh phúc. Dưới đây là 13 điều nên làm vào tháng Cô hồn
1. Làm lễ cúng các cô hồn vào bất cứ ngày nào trong tháng, nếu vào ngày mùng 2 hoặc 16 âm lịch thì càng tốt để tỏ lòng thành chính mình.
2. Thăm mộ phần của người thân trong gia đình ở ngoài nghĩa địa hay trong trong chùa chiền, nơi lưu giữ các hũ hài cốt. Vì trong tháng cô hồn còn gọi là Tết của những người Âm.
3. Trước khi dọn đồ ra cúng cô hồn, nếu chưa kịp thắp nhang khấn vái mà có những người tranh nhau giật các đồ cúng từ trên tay bạn thì ngay lập tức nên buông thả đồ cúng ra khỏi tay. Nếu bạn giật lại thì hậu quả nhận được là những điều tệ hại. Nếu khi bạn chưa làm lễ cúng mà đã có người chầu chực để giật có nghĩa là tín hiệu tốt.
4. Nên hạn chế sát sinh các con vật.
5. Nên cúng xe ô tô dù có kinh doanh hay không kinh doanh.
6. Nên ăn chay để tránh điềm dữ.
7. Nên làm phúc thiện mạnh mẽ trong tháng này.
8. Nếu biết tụng kinh thì nên trì tụng (Chú Đại bi, chuẩn đề, vu lan báo hiếu, Địa tạng).
9. Nên ăn nói nhã nhặn, vui vẻ trong gia đình hay trong bạn bè đối tác.
10. Nên tránh xa các cuộc xung đột.
11. Nên cứu người khi gặp nguy cấp.
12. Nên đi chùa chiền thắp nhang cầu xin sức khỏe, cầu siêu…
Nên thành tâm, lễ chùa và làm việc thiện trong tháng cô hồn.
13. Khi các bạn cúng cô hồn xong thì 1 ngày sau đó hoặc cuối tháng 7 nên dùng bột trừ tà ma tiêu khử, tránh trường hợp các âm hương linh phảng phất vào nhà mình tụ ở lại. Đồng thời vào đầu tháng 8 âm lịch thì nên dùng bột tẩy uế mà tẩy hoàn toàn trong căn nhà mình để có tác dụng cân bằng sinh khí trong ngôi nhà mình ở.
Những điều nên làm hay không nên làm trong tháng cô hồn đều là những tín ngưỡng dân gian mà không ai hay một ngành khoa học nào có thể kiểm chứng đúng sai. Nhưng với quan niệm rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” nên người dân vẫn chú trọng làm theo. Hơn nữa, người Việt cho rằng cúng cô hồn là một hành động nhân đạo, mang tính nhân văn cao cả của con người, thể hiện lòng kính trọng, tôn nghiêm của người còn sống đối với người đã khuất, đề cao việc báo hiếu và làm phúc bố thí…
Nếu đốt trên dài hơn đốt dưới, đây là kiểu phụ nữ có ham muốn rất mạnh mẽ. Cô nàng này thích kiểm soát và quyết định mọi chuyện…
Nhìn bàn tay đoán tính cách
Bàn tay nhọn:
Bàn tay có hình dáng xinh xắn, mảnh mai, các ngón tay thon dài như búp măng là người đa cảm đa sầu nhưng lại rất khoan dung, nhân từ. Người có bàn tay nhọn yêu thơ văn, hội họa và sự thẩm mỹ. Đây cũng là người rất đa tình, khi đã yêu thì sẽ yêu hết mình, không tính toán, vụ lợi trong tình yêu.
Người có kiểu tay này thì trực giác rất nhạy bén. Linh cảm có thể mách bảo cho họ nhiều điều và mang đến cho cuộc sống của họ không ít sự bất ngờ thú vị. Họ có ngoại hình ưa nhìn và là người luôn vươn tới cái đẹp và sự hoàn mỹ trong cuộc sống.
Bàn tay hình nón:
Chủ nhân của bàn tay tròn trịa và mềm mại này có đôi mắt rất tinh tường cùng khả năng quan sát tinh tế và nhạy bén. Mang trong mình tố chất nghệ sĩ, họ khát khao tìm kiếm cái đẹp của cuộc sống và cả trong tâm hồn con người. Đây cũng là những con người duy cảm.
Bàn tay hình vuông:
Là bàn tay có hình dáng thô kệch, da dày, xù xì, to và ngắn. Đây là bàn tay của người lao động, thuộc dạng người kém thông minh, ít suy nghĩ, biết hôm nay và không lo ngày mai. Những người có bàn tay này thường thật thà, chất phác, nhân hậu và thủy chung trong tình yêu.
Họ khá chăm chỉ, yêu lao động, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Tư duy logic giúp họ giải quyết công việc một cách dễ dàng.
Bàn tay có hình thìa (hình lá):
Đặc điểm nổi bật là lòng bàn tay mở rộng ra từ gốc tay. Chủ nhân là người cầu toàn, thông minh và giàu tính kiên trì. Họ có thể đạt được nhiều thành công trong cuộc sống. Họ tận dụng mọi khoảng thời gian có được để làm việc và ít khi để nó trôi qua một cách vô ích.
Bàn tay hình chiếc quạt:
Những người sở hữu bàn tay có hình dáng như chiếc quạt xòe với những ngón tay cũng xòe ra là người trực tính, nóng nảy và liều lĩnh. Họ thường hay quan tâm đến bạn bè, người thân, thẳng thắn và thành thật. Tính tình không đa nghi, không hay can thiệp vào chuyện của người khác.
Nhìn hình dáng bàn tay cho biết cách nàng làm “chuyện ấy”
Độ dài các đốt của ngón cái
Yếu tố đầu tiên cần quan sát là ngón cái. Cụ thể hơn là quan sát đốt trên và dưới của ngón cái. Đốt trên tượng trưng cho “ham muốn” và đốt dưới tượng trưng cho “lý trí”.
Nếu đốt trên dài hơn đốt dưới, đây là kiểu phụ nữ có ham muốn rất mạnh mẽ. Cô nàng này thích kiểm soát và quyết định mọi chuyện.
Tính cách này thoạt đầu có thể khiến “chuyện ấy” hấp dẫn hơn, tuy nhiên, về lâu dài sẽ khiến bạn cảm thấy khó chịu. Suy cho cùng, bạn phải ép bản thân mình chiều lòng nàng dù không muốn.
Trong khi đó, nếu đốt dưới dài hơn, trước mặt bạn là một người phụ nữ luôn hành động theo lý trí. Nhược điểm của cô nàng này là thiếu sự liều lĩnh. Điều mà bạn thấy hài hước và thú vị có thể sẽ bị nàng cho là phi lý hoặc ngớ ngẩn.
Đầu ngón tay
Sau khi đã khám phá “ham muốn” và “lý trí” của nàng, mục tiêu tiếp theo chính là hình dạng của đầu ngón tay. Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng nhìn chung, cách phân loại đơn giản nhất là đầu ngón tay nhọn và vuông.
Đầu ngón tay nhọn cho biết bạn đang gặp gỡ một cô nàng mơ mộng, luôn nhìn thế giới bằng màu hồng. Nàng biết thưởng thức cái đẹp và luôn giữ thái độ lạc quan với mọi chuyện. Kiểu phụ nữ này thường không có dự tính lâu dài cho tương lai và muốn tìm kiếm một người đàn ông có cùng tư tưởng sống với mình.
Ngược lại, đầu ngón tay vuông là một dấu hiệu rõ nét cho thấy nàng thuộc mẫu phụ nữ thực tế. Đừng cố chơi trò “mèo vờn chuột” với họ. Ngoài ra, những chiêu trò lãng mạn với nàng cũng chỉ là một sự nhạt nhẽo và lố bịch.
Đường chỉ tay
Đường trái tim (đường nằm ngang cao nhất trong lòng bàn tay) tiết lộ chiều sâu cảm xúc và ham muốn tình dục của một người. Phụ nữ với đường trái tim dài và đậm có xu hướng trải nghiệm những cung bậc cảm xúc cao nhất của “yêu” và “hận”, trong khi người có đường trái tim ngắn hoặc gãy lại biết cách kiểm soát cảm xúc của mình và kiềm chế tình cảm rất tốt.
Người với đường trái tim ngắn và thẳng có ham muốn tình dục cao và đặc biệt hứng thú với “tình một đêm”, thay vì gắn bó với một mối quan hệ lâu dài.
Cảm giác khi chạm vào bàn tay
Yếu tố cuối cùng cần để tâm chính là cảm giác khi chạm vào bàn tay của nàng. Có hai loại cảm giác chính là mềm mại và thô ráp.
Bàn tay mềm mại cho biết trước mặt bạn là một tín đồ của nghệ thuật. Nói đến đây chắc hẳn trong đầu bạn đang nghĩ có thể lấy lòng nàng bằng một bữa tối lãng mạn và một bộ phim tình cảm đằm thắm.
Tuy nhiên, sự thật là cô nàng sẽ ấn tượng hơn với một chuyến đi tham quan quanh viện bảo tàng, nhất là những viện bảo tàng đẹp. Để chiều lòng mẫu phụ nữ này, đàn ông phải có tính sáng tạo cao.
Nếu bàn tay bạn đang chạm vào cho cảm giác thô ráp, bạn cần phải tiếp cận nàng một cách thận trọng. Đây là kiểu phụ nữ có cá tính hết sức mạnh mẽ. Khi yêu, họ sẽ yêu hết mình, yêu điên cuồng nhưng đến lúc tức giận cũng sẽ hết sức khủng khiếp.
Ngoài ra, bạn sẽ thấy cô nàng thiếu sự khéo léo, tinh tế trong cách cư xử, thậm chí khiến bạn suốt ngày phải lạy trời mong cô ấy đừng thẳng tính quá như vậy. Nhìn chung, sự thẳng thắn, trung thực của cô nàng sẽ khiến bạn choáng ngợp.
xem tuong phu nu, xem tay, xem ngon tay, xem ban tay Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Ý nghĩa sao Triệt Không - Tùy tinh chủ sự chướng ngại, bế tắc
Loại: Tùy Tinh
Đặc Tính: Bế tắc, chướng ngại, chặn đứng.
Là một Phụ Tinh. Tên gọi đầy đủ là Triệt Lộ Không Vong. Một trong 4 sao của bộ Tứ Không là Thiên Không, Địa Không, Tuần Không, Triệt Không.
Ý Nghĩa Của sao Tuần Triệt Không:
Tác dụng của Tuần, Triệt có tính cách toàn diện, không có biệt lệ, tức là hai sao này chi phối tất cả các sao đồng cung và tất cả các cung có Tuần, Triệt án ngữ, không vị nể một sao nào hay một cung nào. Tuy nhiên, có sự phân biệt ít nhiều ý nghĩa của hai sao này, từ đó, có ảnh hưởng trên sự luận đoán:
Sự Khác Biệt Ý Nghĩa Giữa Tuần, Triệt Không:
Sao Tuần là Ám Tinh, Triệt là Không Tinh. Như vậy, ý nghĩa Tuần tất nhiên nhẹ hơn Triệt. Tuần báo hiệu sự trắc trở, khó khăn còn Triệt báo hiệu sự bế tắc, chướng ngại lớn, sự lụn bại nặng nề.
Sao Tuần ảnh hưởng suốt đời, còn Triệt chỉ mạnh cho đến khoảng 30 tuổi, tuổi tam thập nhi lập, tuổi từ đó con người có thể tự lập thân, không còn chịu ảnh hưởng nặng của gia đình.
Tác Dụng Tương Đồng Của Tuần, Triệt Không:
Trong thời gian hai sao còn ảnh hưởng, Tuần, Triệt đóng ở bất cứ cung nào đều tiên quyết:
Gây trở ngại ít hay nhiều cho cung đó. Mức độ ít hay nhiều này tùy thuộc sự tốt, xấu của 3 cung Phúc, Mệnh, Thân. Điều này có ngoại lệ cho cung Tật sẽ nói đến sau này.
Tác họa ít nhiều trên các sao đồng cung. Sự tác hóa này có hai cường độ: hoặc biến hoàn toàn ý nghĩa của sao (như biến sao xấu thành tốt hay ngược lại) hoặc chỉ giảm ảnh hưởng của các sao (như làm cho bớt tốt, bớt xấu).
Tuy nhiên, tác dụng tiên quyết này có 3 ngoại lệ:
Nếu chính và phụ tinh tọa thủ vốn xấu mà gặp Tuần hay Triệt thì bớt xấu, có thể trở thành tốt được.
Sao Tuần, Triệt đóng tại cung Tật rất tốt vì tiên quyết ngăn trở rất nhiều bệnh tật, tai họa lớn cho đương số, bất luận tại cung Tật có sao tốt hay xấu.
Sao Tuần, Triệt đóng tại cung vô chính diệu thì lại hay. Nhưng ảnh hưởng tốt này cũng không tuyệt đối và tùy thuộc mức độ tốt của cung vô chính diệu. Nếu vô chính diệu mà được Tứ Không (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) thì rất đẹp, được Tam Không thì đẹp, đươc Nhị Không thì tầm thường, còn chỉ Nhất Không thì kém.
Tác Dụng Của Các Sao Khác Đối Với Sao Triệt Không:
Mặc dù sao Triệt chi phối tất cả các sao đồng cung nhưng sao này không phải bất khả xâm phạm, nó vẫn bị các sao kia chi phối lại, nhất là chính tinh. Có sự ảnh hưởng qua lại hai chiều cho nên kết luận giải đoán chung cuộc chỉ có thể đưa ra sau khi cân nhắc ảnh hưởng hai chiều đó với hàm số Phúc, Mệnh, Thân.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Mệnh:
Tuổi trẻ lận đận, nghèo, cực, bôn ba, đau ốm.
Có thể mồ côi sớm hay sớm ra đời để lập nghiệp.
Sinh bất phùng thời.
Nếu vô chính diệu có Tứ hay Tam Không thì làm nên danh phận nhưng không bền, tuổi niên thiếu vất vả.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mất sớm, nhất là nếu Nhật, Nguyệt lạc hãm hay bị Không Kiếp chiếu. Cần cân nhắc với hai sao Nhật, Nguyệt và cung Phụ Mẫu có Tuần, Triệt.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Phúc Đức:
Phúc đức bị trục trặc trên phương diện nào đó.
Triệt, Dương: Dòng họ thất tự, phải lập con nuôi.
Ý Nghĩa sao Triệt Cung Điền Trạch, Tài Bạch:
Triệt ở hai cung Điền Trạch, Tài Bạch có thể có nhiều nghĩa:
Không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó.
Làm ra của nhưng phải chật vật.
Không được hưởng di sản tổ phụ.
Không có của để lại cho con.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Quan Lộc:
Công danh lận đận, khó nhọc mới làm nên.
Phải chịu vất vả trong một thời gian.
Thiên Tướng, Triệt, Tuần: Có thể bị bãi chức, hay bị tai nạn trong công vụ.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Nô Bộc:
Triệt ở cung Nô có nghĩa là tôi tớ thay đổi, ra vào luôn, không ai ở lâu dài
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Tật Ách:
Rất cần có Tuần, Triệt tại cung Tật Ách vì nhờ hai sao này mà bệnh, tật và họa sẽ tiêu tán hay giảm thiểu đi rất nhiều. Sức khỏe và may mắn sẽ được bảo đảm nhiều hơn.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Tử Tức:
Sát con, nhất là con đầu lòng.
Sinh con đầu lòng khó khăn, khó nuôi.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Phu Thê:
Triệt ở cung này tiên quyết nói lên sự trắc trở hôn nhân, nhất là sự thất bại của mối tình đầu.
Lấy người khác làng, khác tỉnh mới tốt, nhưng nhân duyên phải gặp khó khăn.
Triệt gặp Mã: Vợ chồng bỏ nhau rất dễ dàng.
Ý Nghĩa sao Triệt Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em xung khắc hoặc ít anh chị em.
Anh cả, chị cả mất sớm.
Triệt Khi Vào Các Hạn
Nếu gặp sao sáng sủa thì hạn lại mờ ám, mưu sự trắc trở, thất bại.
Nếu gặp sao xấu xa thì hạn được sáng sủa, dù có gặp trắc trở ban đầu.
Đặc biệt cung Hạn gặp Tuần, Triệt rất đáng lưu ý vì hai sao này có hiệu lực mạnh ở các đại, tiểu hạn.
Tóm lại, Triệt là sao hết sức quan trọng, chi phối các cung, các sao, biến tốt thành tương đối xấu, biến xấu thành tương đối tốt. Hiệu lực nghịch đảo đó có thể làm lạc hướng luận đoán nếu sự cân nhắc không tinh vị.
EXPLAIN not possible on query: UPDATE `tho_extensions`
SET `params` = '{\"mediaversion\":\"989297d2182eeedafb4f6b445a190702\"}'
WHERE `type` = 'library' AND `element` = 'joomla'
Query Time: 0.68 ms After last query: 28.03 msQuery memory: 0.027 MB Memory before query: 8.396 MBRows returned: 28
SELECT `id`,`name`,`rules`,`parent_id`
FROM `tho_assets`
WHERE `name` IN ('root.1','com_admin','com_ajax','com_associations','com_cache','com_categories','com_checkin','com_config','com_content','com_cpanel','com_finder','com_installer','com_jce','com_joomlaupdate','com_languages','com_login','com_mailto','com_media','com_menus','com_messages','com_modules','com_plugins','com_postinstall','com_redirect','com_search','com_tags','com_templates','com_users','com_wrapper')
Query Time: 1332.28 ms After last query: 2.34 msQuery memory: 1.213 MB Memory before query: 9.328 MBRows returned: 39
SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating,
COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 05:28:30') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 05:28:30')
ORDERBY c.lft, RAND() , a.created LIMIT 14607, 39
Query Time: 1.31 ms After last query: 2.15 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 10.631 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16557 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.16 ms After last query: 0.16 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.653 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15456 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.675 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9391 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.697 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1164 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.16 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.719 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3593 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.740 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5875 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.762 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 2819 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.784 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14733 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 10.807 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4061 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.830 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14719 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.851 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 11533 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.873 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4726 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.895 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15290 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.18 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.917 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15725 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.17 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.938 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14926 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.960 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8700 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.982 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8968 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.004 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15136 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.025 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4775 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.047 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10778 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.069 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 2231 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.091 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9882 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.112 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 11264 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.134 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16492 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.162 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5513 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.185 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4831 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.207 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4925 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.42 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.229 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3992 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.32 ms After last query: 0.32 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.251 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 13792 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.15 ms After last query: 0.18 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.272 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 374 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.14 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.294 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15782 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.13 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.316 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15457 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.337 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6203 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.359 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4548 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.71 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.381 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 7890 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 2.40 ms After last query: 0.26 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.403 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15727 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.99 ms After last query: 0.33 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.424 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1868 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.43 ms After last query: 0.30 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.446 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9593 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.20 ms After last query: 0.23 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.468 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16644 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 90.65 ms After last query: 1.29 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.559 MBRows returned: 1
SELECTCOUNT(*)
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 05:28:30') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 05:28:30')
Query Time: 2.10 ms After last query: 0.59 msQuery memory: 0.023 MB Memory before query: 11.563 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.category' AND `m`.`content_item_id` = 17 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
1 × SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating, COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECTCOUNT(*) FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECT c.id, c.asset_id, c.access, c.alias, c.checked_out, c.checked_out_time, c.created_time, c.created_user_id, c.description, c.extension, c.hits, c.language, c.level, c.lft, c.metadata, c.metadesc, c.metakey, c.modified_time, c.note, c.params, c.parent_id, c.path, c.published, c.rgt, c.title, c.modified_user_id, c.version, CASEWHENCHAR_LENGTH(c.alias) != 0 THENCONCAT_WS(':', c.id, c.alias) ELSE c.id END as slug FROM `tho_categories` AS `s` INNERJOIN `tho_categories` AS `c` ON (s.lft <= c.lft AND c.lft < s.rgt) OR (c.lft < s.lft AND s.rgt < c.rgt)
1 × SELECT* FROMtho_template_styles
OTHER Tables:
1 × UPDATE `tho_extensions` SET `params` = '{\"mediaversion\":\"989297d2182eeedafb4f6b445a190702\"}'