Bí mật về những thầy phong thủy xoay chuyển càn khôn
Thầy phong thủy thông tuệ về trời đất, con người, nắm trong tay những bí mật xoay chuyển vận mệnh. Họ có gì nổi trội mà đạt được năng lực phi thường ấy.
Thầy phong thủy – những người được coi là thông tuệ về trời đất, con người, nắm trong tay những bí mật xoay chuyển vận mệnh. Họ có gì nổi trội mà đạt được năng lực phi thường ấy.
► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh
Thầy phong thủy bắt buộc phải được sự chân truyền của sư phụ, phải đạt được năng lực câu thông với thần, ngoài ra còn phải có khả năng quan sát “hình”. Trung Quốc cổ đại có một số nhà phong thủy sau khi tu luyện đến một trình độ nhất định, trên thân thể đều xảy ra những biến hóa rất lớn. Rất nhiều truyền thuyết kể rằng, một số cao nhân có khả năng đặc biệt, vào những thời kỳ nóng nhất trong hè họ không bị đổ một giọt mồ hôi nào, vào mùa đông họ chỉ mặc một chiếc áo cũng không cảm thấy lạnh, một số người còn có thể bay. Ngoài ra thân thể của họ còn có thể tiến nhập sang không gian khác, cho nên có một số người thấy họ đang ở trước mặt trong chớp mắt bỗng biến mất không dấu vết. Các thầy phong thủy thường xuyên đi đến những nơi rừng sâu núi thẳm, một bước đi của họ có thể di chuyển được hàng mấy trăm mét, ở đó họ có thể tự do bay qua bay lại. Trong kinh thơ Đại Nhã Lưu Công có nói về “Trắc cương”, “Giáng nguyên”, “Thệ thủy”, “Quan kinh” đều là để nói về những điều này, do vậy có người còn gọi các thầy phong thủy là “Địa Tiên”. Thầy phong thủy và những giang hồ thuật sỹ đó có sự khác biệt rất lớn. Giang hồ thuật sỹ không tu luyện, họ chỉ hiểu được một chút kỹ năng, biết được một chút thủ thuật mà thôi. Những điều họ xem đều là thuộc về xem “hình”, dựa vào kinh nghiệm của những người xưa tổng kết lại. Họ chủ yếu xem về địa thế, đất đai, thời hạn,… Một điều đặc biệt quan trọng đối với thầy phong thủy là đạo đức chân tu. Những thầy phong thủy chính hiệu là những người chuyên tâm tu luyện, học tập cả về phong thủy lẫn đạo đức. Bởi người có tâm trong sáng, khoáng đạt mới có tầm nhìn xa trông rộng và toàn tâm toàn ý tiếp thu tinh hoa học thuật. Địa huyệt tốt xấu là có liên quan đến đạo đức. Nếu có thể tìm được huyệt tốt, chọn được huyệt như thế nào là có quan hệ với hành vi đạo đức của thầy phong thủy, nếu không có đạo hạnh cao thâm thì không thể nào làm được sự việc chân chính ấy. Thầy phong thủy chân chính là có thiện tâm giúp người, không kể danh tiếng, không ham tiền bạc, họ làm việc gì cũng đều là thuận theo thiên mệnh, tất cả những mảnh đất mà họ chỉ điểm thông thường đều có liên quan rất lớn đến sự hưng thịnh của triều đại và sự biến đổi của lịch sử. Cho nên thường không phải chỉ là chọn một mảnh đất mà thực tế là vẽ ra một bối cảnh. Bởi những người đắc đạo, trên thân thể có mang năng lượng, họ có thể có năng lực “quyết định” các sự tình, giang hồ thuật sỹ không thể làm được điều này. Đương nhiên chữ “định” này cũng phải tuân theo sự biến hóa của thiên tượng và phúc đức cùng nhiều nhân tố khác nhau để xem xét. ST
Chọn ngày tốt, tránh ngày xấu: mê tín hay khoa học?
Theo âm lịch, người ta có định ra ngày tốt - xấu, giờ cát - hung... Trong dân gian nhiều người tin là khi làm việc gì hệ trọng như xây nhà, dọn nhà, cưới hỏi,
đi xa... đều phải chọn ngày, giờ tốt mới tiến hành...
Đã chọn ngày tốt, tất phải kiêng ngày xấu. Người ta cũng kiêng 3 ngày nguyệt kỵ trong tháng (âm lịch) là mùng 5, 14, 23 không nên khởi đầu làm việc gì cả. Dân gian mới có câu:
"Mồng năm, mười bốn, hai ba Làm gì cũng bại chẳng ra việc gì"
Nhiều người không tin, cho đó là chuyện mê tín nhưng các nhà khoa học bằng thực nghiệm lại chứng minh rằng có ngày tốt - xấu, năm cát - hung...
Chọn ngày tốt xấu
Theo các cuộc khảo sát, nghiên cứu của nhiều nhà thiên văn học các nước phương Tây thì ánh sáng mặt trời chiếu xuống trái đất thỉnh thoảng lại tăng thêm nhiệt độ. Hiện tượng này xảy ra có chu kỳ: cứ 11 năm lại có một lần mặt trời tăng nhiệt độ. Mới đầu nhiệt độ tăng dần dần, rồi lên đến cực độ, sau lại dịu dần đi, để 11 năm sau lại diễn ra hiện tượng “tăng - giảm” nhiệt độ như vậy. Chu kỳ này là bất di bất dịch.
Lần đầu tiên các nhà khoa học thấy nhiệt độ mặt trời tăng vào năm 1933, các năm 1936 -1939 là thời kỳ nihệt độ mặt trời tăng lên cực độ. Đến năm 1943 nhiệt độ lại dịu dần.
Năm 1944 lại bắt đầu thời kỳ nhiệt độ mặt trời tăng dần. Giai đoạn nhiệt độ cực lớn là lúc sức khỏe con người bị ảnh hưởng tai hại. Nhiệt độ của vỏ mặt trời lúc cao nhất là 6000 độ, gây ra “bão mặt trời”. Năm 2003, trái đất và con người đã từng hứng chịu tác hại của “bão mặt trời”. Nhất là khi mặt trời có những vết đen và tỏa ra ánh sáng có nhiệt độ cực cao hàng mấy triệu độ thì lúc này tác hại của nó càng ghê gớm, nguy hiểm hơn nhiều.
Thỉnh thoảng, vỏ mặt trời lại nứt ra một lỗ hổng giống như miệng phễu, sâu hút đến tận phía trong. Từ những lỗ hổng này, sức nóng của mặt trời tỏa ra rất mạnh, gây nên nhiều tai họa cho trái đất.
Qua kính thiên văn, người ta thấy các lỗ hổng ấy có màu đen nên gọi là các vết đen của mặt trời. Mỗi khi trên mặt trời xuất hiện vết đen, người ta có thể tiên đoán sắp xảy ra việc gì hệ trọng trên trái đất. Và khi những lỗ hổng (tức những vết đen) lớn gấp hàng chục lần trái đất tỏa sức nóng xuống trái đất thì có thể gây nên những cơn giông tố, bão táp, lụt lội, động đất, các bệnh dịch, tai ương, những vụ tự sát, chết bất đắc kỳ tử...
Cũng may, nhờ khoa học thiên văn người ta có thể biết trước thời điểm nào trên mặt trời xuất hiện các vết đen và tìm cách ngăn ngừa các tác hại của chúng.
Tại hội nghị “Thiên văn phân tích” họp tại Nice (Pháp) vào tháng 6 năm 1938, bác sĩ Mourice Faure đã nói trước đại biểu của hơn 20 nước dự họp hội nghị: “Nhiều lần tôi đã báo trước cho các phi công và những người tổ chức các cuộc bay tập biết là vào ngày nào không nên bay, cho dù thời tiết rất tốt. Người ta không nghe tôi, thành ra máy bay gặp tai nạn, bị rơi, phi công hoặc bị chết, hoặc bị thương nặng...”.
Theo các nhà thiên văn học, khi có “bão mặt trời” thường có những nhiệt tuyến tỏa ra quá lớn làm thay đổi cả điện từ và việc truyền điện từ của bầu khí quyển đủ làm vỡ tan máy bay và hệ thần kinh các phi công. Nó cũng ảnh hưởng đến sóng phát thanh của vô tuyến điện.
Trong các tai nạn do nhiệt độ cực điểm của mặt trời gây ra, có cả các bệnh thời khí. Nhiều nhà bác học trên thế giới đã xác nhận rằng mỗi khi mặt trời có vết đen thì trên trái đất lại phát sinh các bệnh thời khí như cúm, dịch tả, dịch hạch, đậu mùa...
Giáo sư Ane Dias cho biết ở Brazil, vào thời kỳ có “bão mặt trời”, người ta không tiến hành các ca phẫu thuật. Bởi vậy, tất cả các bệnh viện ở thủ đô nước này đều liên hệ chặt chẽ với các đài thiên văn.
Như vậy, theo kinh nghiệm dân gian người ta quy định ngày tốt - xấu, năm cát - hung... để chọn lựa hoặc kiêng kị cũng không hoàn toàn mang tính chất mê tín dị đoan, mà cũng có cơ sở khoa học của nó. Sở dĩ có ngày tốt - xấu, năm cát - hung là do ảnh hưởng của bức xạ mặt trời và các hành tinh trong thái dương hệ.
Tuyển tập những câu nói hay của Beethoven. Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ở Wien, Áo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Ông có thể được coi là người dọn đường (Wegbereiter) cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Beethoven được khắp nơi công nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại và ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sỹ, và khán giả về sau.
Năm 1781, Beethoven 11 tuổi, ông đã biểu diễn như một nghệ sĩ piano điêu luyện tại Hà Lan. Cũng trong thời gian này, ông cũng được cử làm phụ tá chơi đàn organ trong nhà thờ tại Bonn. Năm 1782 chính Neefe đã cho xuất bản tác phẩm đầu tiên của Beethoven, bản “Các variation cho clavecin của bản march của Ernst Christoph Dressler”. Cũng chính trong năm này, Beethoven trở thành người đại diện cho Neefe ở dàn nhạc hoàng gia với vai trò nghệ sĩ đại phong cầm. Năm 14 tuổi, Beethoven giành được vị trí chính thức là nghệ sĩ chơi đại phong cầm trong dàn nhạc này. Tuy nhiên trong thời gian này ông vẫn tiếp tục luyện tập dương cầm.
Năm 1795, Beethoven bắt đầu nổi danh là một nghệ sĩ piano với bản Concerto cung do trưởng. Nhưng chẳng may từ năm 1780 ông bắt đầu bị lãng tai. Lúc đầu ông mất hết hy vọng nhưng rồi cố gắng thích nghi với điều kiện sống và bắt đầu tập trung tư tưởng tình cảm cao độ hơn bất cứ lúc nào hết trong sáng tác.
Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng 1803-1805 vượt trổi hẳn những gì mà ông sáng tác trước đó. Đó là bản Sonate Kreutzar (1803) viết cho violon và piano. Bản Giao hưởng Số 3 Anh hùng ca (1804) có sức cuốn hút mạnh mẽ và gây xúc động sâu xa, lúc đầu ông đề tặng Napoléon nhưng khi Napoléon lên ngôi Hoàng đế thì ông đã xé đi lời đề tặng. Các Sonate cho piano, Bình minh (1804) và Appasionta (1805), Bản Giao hưởng Số 4 (1806), Bản Giao hưởng Số 5 Định mệnh (1808) đều có giá trị nghệ thuận lớn lao. Ông muốn lột tả trong âm thanh về một cuộc sống trong sự đấu tranh với cái chết bằng một sức mạnh khủng khiếp cuối cùng đã ca khúc khải hoàn, như nhân vật nữ trong vở Opera Fidelio (1805) ra sức bảo vệ người chồng của mình chống lại sự xấu xa bạo tàn, và trong khúc Missa Solemnis là lời cầu nguyện để giải thoát khỏi đau thương chiến tranh.
Trong số những tác phẩm lớn của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Eroica (giao hưởng Anh hùng ca), Giao hưởng Định mệnh, số 9, The Pastoral (Giao hưởng đồng quê), các tác phẩm cho dương cầm như Für Elise và các sonata Thống thiết (Pathétique) và Ánh trăng (Moonlight)…
Tuyển tập những câu nói hay của Beethoven
Âm nhạc là nhà hòa giải giữa cuộc sống thể xác và cuộc sống tâm linh.
Music is mediator between spiritual and sensual life.
Âm nhạc là sự giác ngộ cao hơn cả triết học và tri thức.
Music is a higher revelation than all wisdom and philosophy.
Âm nhạc khơi ngọn lửa trong tim người đàn ông và dâng lệ lên mắt người phụ nữ.
Music should strike fire from the heart of man, and bring tears form the eyes of woman.
Hãy dạy cho con cái anh đức hạnh; bởi chỉ có nó chứ không phải tiền bạc là có thể đem lại cho con cái anh hạnh phúc. Tôi nói điều này từ trải nghiệm bản thân.
Recommend virtue to your children; it alone, not money, can make them happy. I speak from experience.
Người nào nói dối không có trái tim trong trắng, và không thể nấu súp ngon.
Anyone who tells a lie has not a pure heart, and cannot make a good soup.
Nghệ thuật! Ai hiểu được nàng? Ta có thể gặp ai để hỏi về vị nữ thần vĩ đại này?
Art! Who comprehends her? With whom can one consult concerning this great goddess?
Đầu năm mới, người phương Đông thường có xu hướng chọn ngày tốt giờ tốt để làm những việc thuận lợi như mở hàng, đi lễ, hay chỉ đơn giản là xuất hành trong ngày, với ngụ ý đầu xuôi đuôi lọt, đầu năm thuận lợi để cả năm làm việc, học tập... được dễ dàng hơn.
Ngày Tết, nhiều sinh hoạt thường nhật đều tạm gác lại, nhà nhà kiêng không quét nhà và đổ rác vì sợ sẽ đổ hay vứt bỏ những sự may mắn tốt lành tới nhà mình. Thường người ta phải đợi đến sau mùng 3, hoặc đến mùng 5 - ngày phá trừ, tức ngày bỏ đồ cúng, quét dọn nhà. Thực tế do nhu cầu sinh hoạt, ngày mùng 2, mùng 3 nhiều nhà đã đổ rác, miễn hạn chế việc quét dọn là được.
Nếu nhà ai có tang thì không nên đi xông nhà hay đi mừng tuổi người khác để tránh cho người khác không bị xui như mình. Cũng như vậy, phụ nữ có thai thường kiêng không đi đâu trong những ngày đầu năm mới vì tục ngữ có câu "sinh dữ, tử lành".
Lưu ý ngày đẹp xuất hành, đi lễ dịp Tết:
- Mùng 1 Tết (31/1, thứ sáu, Nhâm Dần): Có thể xuất hành, mở hàng, không lợi đi lễ. Xuất hành chọn hướng Tây.
- Mùng 2 Tết (1/2, thứ bảy, Quý Mão): Có thể mở hàng, đi lễ, không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Tây.
- Mùng 3 Tết (2/2, chủ nhật, Giáp Thìn): Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Đông Nam.
- Mùng 4 Tết (3/2, thứ hai, Ất Tỵ): Có thể mở hàng, đi lễ, không lợi xuất hành, nếu cần xuất hành chọn hướng Đông Nam.
- Mùng 5 Tết (4/2, thứ ba, Bính Ngọ), ngày lập xuân: Có thể xuất hành, mở hàng, đi lễ. Xuất hành chọn hướng Đông.
- Mùng 6 Tết (5/2, thứ tư, Đinh Mùi): Có thể đi lễ, không lợi xuất hành, mở hàng. Nếu cần xuất hành chọn hướng Đông.
- Mùng 7 Tết (6/2, thứ năm, Mậu Thân): Có thể đi lễ, không lợi xuất hành, mở hàng. Nếu cần xuất hành chọn hướng Bắc.
- Mùng 8 Tết (7/2, thứ sáu, Kỷ Dậu): Có thể đi lễ, không lợi xuất hành, mở hàng. Nếu cần xuất hành chọn hướng Nam.
- Mùng 9 Tết (8/2, thứ bảy, Canh Tuất): Có thể mở hàng, không lợi xuất hành, đi lễ. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây Nam.
- Mùng 10 Tết (9/2, chủ nhật, Tân Hợi): Có thể mở hàng, đi lễ. Không lợi xuất hành. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây Nam.
- 11 Tết (10/2, thứ hai, Nhâm Tý): Có thể mở hàng, đi lễ, không lợi xuất hành. Nếu cần xuất hành chọn hướng Tây.
Chú ý: Hướng tốt cho xuất hành là hướng Tài thần, nhiều người không hiểu lấy hướng Hỷ thần (lợi cho cưới gả), là nhầm lẫn cơ bản trong chọn ngày giờ.
Qua những ngày trên có thể thấy:
- Ngày tốt cho xuất hành, gặp mặt đầu năm: Mùng 1 (31/1), mùng 3 (2/2), mùng 5 (4/2).
- Ngày tốt cho mở hàng, giao dịch ký kết đầu năm: Mùng 1 (31/1), mùng 2 (1/2), mùng 3 (2/2), mùng 4 (3/2), mùng 5 (4/2), mùng 9 (8/2), mùng 10 (9/2), 11 (10/2).
- Ngày tốt cho cúng tế, đi lễ đầu năm: Từ mùng 2 (1/2) đến mùng 8 (7/2), mùng 10 (9/2), 11 (10/2).
Nguyễn Mạnh Linh Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Người xưa rất coi trong đạo đức làm người, mọi điều giáo huấn đề đề cao những tấm gương đạo đức nổi tiếng về hiếu thảo, trung thực, khiêm tốn của con người
Người xưa rất coi trọng về đạo đức làm người. Những câu chuyện về tấm gương đạo đức, bài học giáo huấn luôn được lưu truyền trong dân gian nhằm gìn giữ nền tảng đạo đức cho xã hội. Câu chuyện của ba nhân vật dưới đây sẽ giúp chúng ta cảm nhận được phần nào quan niệm về “đạo đức” của người xưa.
1. Nghệ nhân điêu khắc băng không có người nối nghiệp
Kinh thành có một người có thể dùng những tảng băng điêu khắc ra đủ loại hình tượng người, muôn hình vạn trạng, yểu điệu thướt tha lay động lòng người, vô cùng đẹp đẽ.
Trong những ngày giá rét, hình nhân băng có thể giữ được mấy ngày mà không tan chảy. Người đến đây tham quan luôn tấp nập không ngừng.
Một ngày nọ, nghệ nhân điêu khắc này hét giá hô to giữa đám đông: “Ai đưa ra được ba đấu gạo kê, ta sẽ đem kỹ thuật của môn này truyền cho người ấy“.
Ông hô liên tục mười lần, nhưng không một ai hưởng ứng. Cuối cùng, có người nói với ông rằng: “Kỹ thuật này của ông, tuy rằng rất tinh xảo; hình dáng tướng mạo cũng rất sinh động, nhưng không hề lưu giữ được chút giá trị nào. Chỉ cần hễ trời nóng lên, tượng băng lập tức tan chảy ngay. Không ai bỏ tiền ra đi học cái kỹ năng không giải quyết được bất kể vấn đề thực tế nào này đâu. Ông nên buông bỏ suy nghĩ đó đi!”
Lời bàn:
Những thứ dù đẹp đẽ và đặc sắc đến đâu nhưng không bền vững thì nó cũng như “băng tan thành nước”, mau chóng mất đi mà không hề để lại giá trị thực tế nào.
2. Người lái thuyền mất hồn mất vía
Một người đàn ông nọ học lái thuyền từ một vị thuyền phu. Ngay từ lúc bắt đầu, vô luận là tiến thoái nhanh chậm, hay là xoay qua trái phải, anh ta đều rất nghiêm túc nghe theo sự chỉ huy của thuyền phu.
Một ngày nọ, người đàn ông này tự mình lái thuyền, ở khu vực nước chảy êm, đã thử một chút, phát hiện rằng bản thân mình đã học vững kỹ thuật lái thuyền, đạt đến trình độ thuần thục muốn sao được vậy.
Thế là, ông ta đã chia tay vị thuyền phu, tự mình lái thuyền, xông thẳng ra dòng nước nguy hiểm.
Lúc thuyền mất kiểm soát ở trong xoáy nước, người đàn ông này hốt hoảng nhìn quanh, mất hết hồn vía. Chẳng những mái chèo trong tay rơi mất, ngay cả thuyền cũng bị nước cuốn trôi không còn dấu vết.
Lời bàn:
Tính kiêu căng, sự nóng vội trong công việc cũng như học tập sẽ chỉ khiến bạn chuốc lấy thất bại mà thôi.
3. Kế hoạch hối cải của kẻ trộm gà
Mạnh Tử nói:
Có một người, mỗi ngày bắt trộm một con gà của hàng xóm, có người khuyên bảo y rằng: “Đây không phải hành vi của người đứng đắn, nhà người hãy mau mau sửa sai hướng thiện mới đúng”.
Người ăn trộm gà nói: “Tôi đã có một kế hoạch, chính là lần lần giảm thiểu số lần bắt trộm gà. Sau này mỗi tháng chỉ bắt trộm một con gà. Đợi đến sang năm, ngay cả một con gà cũng không trộm nữa. Thế nào?”.
Lời bàn:
Nếu như người ta đã biết việc làm của bản thân mình là không đúng; vậy thì nên lập tức dừng lại, cớ sao lại còn phải chờ đến năm sau?
Sang tháng 12 vận trình khởi sắc, 3 con giáp dưới đây có cơ hội phô diễn tài năng, gặt hái thành công ở cả phương diện sự nghiệp, tài chính cũng như tình cảm.
– Sang tháng mới vận trình khởi sắc, 3 con giáp dưới đây có cơ hội phô diễn tài năng, gặt hái thành công ở cả phương diện sự nghiệp, tài chính cũng như tình cảm.
Tử vi sức khỏe năm 2017 của người tuổi TýTử vi sức khỏe năm 2017 của người tuổi DầnTử vi sức khỏe năm 2017 của người tuổi Dậu
No1. Người tuổi Thân
Bước sang tháng 12, tử vi người tuổi Thân lâm cục diện Thân Tý Thìn Tam Hợp, vận trình khởi sắc hơn nhiều so với tháng trước. Công việc đạt hiệu quả cao, bản mệnh không những có cơ hội nâng cao tay nghề mà còn khẳng định vị trí quan trọng của mình trong tập thể. Người kinh doanh, buôn bán có một tháng thu hoạch khá lý tưởng, bõ công bao tháng ngày chạy đôn chạy đáo khắp nơi để tìm nguồn hàng và nguồn khách hàng tiềm năng. Trong tháng, nếu nguồn vốn đã vững, bạn có thể mở rộng quy mô làm ăn, sẽ thu về lợi nhuận lớn hơn.Vận đào hoa xán lạn, nhân duyên khác giới tốt đẹp, tình cảm phát triển như vũ bão, đôi lứa xứng đôi ra mắt họ hàng hai bên để định ngày làm đám cưới. Tình hình sức khỏe ổn định, không xảy ra vấn đề nào nghiêm trọng. Tuy nhiên tinh thần dễ căng thẳng do áp lực cuộc sống, nên dành nhiều thời gian nghỉ ngơi, thư giãn đầu óc.
Xem thêm: Tử vi năm 2017 của người tuổi Thân
Tử vi tuổi Thân tháng 12 khởi sắc hơn những tháng trước
No2. Người tuổi Thìn
Trong tháng 12, người tuổi Thìn được cục diện Tý Thìn Bán Hợp trợ lực rất lớn, vận trình tháng ngày càng khởi sắc, nhân duyên tốt đẹp, tạo cơ hội để bản mệnh phát triển khả năng sáng tạo cũng như gắn kết các mối quan hệ xã giao, tạo nền tảng vững vàng cho đường công danh, sự nghiệp. Công việc có nhiều biểu hiện xuất sắc, tinh thần làm việc lên cao, nhất là làm việc theo nhóm. Sự kết hợp ăn ý giữa bản mệnh và đồng nghiệp tạo ra nguồn sức mạnh to lớn để vượt qua mọi thách thức, tiến tới thành công. Cơ hội thăng tiến rộng mở thênh thang, chỉ cần bạn tập trung tinh thần và hạ quyết tâm, chắc chắn sẽ đạt được thành quả tốt đẹp. Người kinh doanh, buôn bán củng cố thêm về nguồn vốn cũng như các mối quan hệ hợp tác với đối tác, khách hàng, từ đó tìm được nhiều kênh phát triển mới, tài lộc hanh thông vô cùng.Nhân duyên khác giới lý tưởng, mang tới không ít sự trải nghiệm thú vị cho người tuổi Thìn trong tháng này. Xác định tình cảm thực lòng rồi, bạn chủ động bày tỏ đi thôi, càng do dự càng dễ bỏ lỡ cơ hội tốt.
Xem thêm:Tử vi tuổi Thìn năm Đinh Dậu 2017
No3. Người tuổi Sửu
Vừa được cục diện Lục Hợp che chở, lại có thêm sức mạnh tương hỗ từ Thái Tuế, vận khí của người tuổi Sửu ngày càng thăng cấp, làm gì cũng thuận lợi đủ đường, gặt hái không ít thành công. Công việc tiến triển thuận lợi đúng như mọi dự liệu của bạn. Các mối quan hệ xã giao hài hòa hơn nhiều, nhất là điềm hung hại từ tiểu nhân đã bị tiêu trừ, ảnh hưởng không còn quá lớn. Tuy nhiên, tiểu nhân vẫn ngầm quấy phá, tuổi Sửu vẫn nên cẩn trọng đề phòng.Vận quý nhân trong tháng khá vượng, giúp bản mệnh tiến hành việc lớn nhỏ đều trôi chảy. Vì thế tài lộc hanh thông, trong tháng tha hồ mà “hốt vàng hốt bạc”.
Xem thêm: Tử vi tài lộc của người tuổi Sửu năm 2017 Ngân Hà Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Đầu năm là sự khởi đầu tốt đẹp cho cả năm của người tuổi Dậu. Trong tháng Dần này, tài lộc của người tuổi Dậu có nhiều khởi sắc rõ rệt. Họ tìm thấy niềm hứng khởi trong cuộc sống, trong công việc và những lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, người này còn thu được nhiều lợi nhuận trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, họ cũng nên cân nhắc trước nhiều mối quan hệ trong cuộc sống và công việc để tránh chuyện thị phi.
Tháng 2 (Âm lịch)
Khác với tháng trước, vận thế của người tuổi Dậu trong tháng Mão có chiều hướng đi xuống. Cho dù nỗ lực cố gắng nhưng họ vẫn không đạt được kết quả như mong đợi. Tài lộc tháng này ít, nguồn thu hạn hẹp. Người tuổi Dậu nên cân đối lại tài chính, chi tiêu tiết kiệm trong giai đoạn nhiều khó khăn này.
Tháng 3 (Âm lịch)
Tháng Thìn, tài lộc của người tuổi Dậu có nhiều khởi sắc mới. Những khó khăn trở ngại của tháng trước dần mất đi. Tinh thần làm việc của người này hăng say hơn, thành quả thu được nhờ vậy mà tăng lên. Họ nên đầu tư kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau để thu lại nhiều lợi nhuận nhất. Bên cạnh đó, người này cũng nên lập những kế hoạch cụ thể trước khi “bắt tay” vào công việc.
(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)
Tháng 4 (Âm lịch)
Tháng 4 (tháng Tỵ) được coi là tháng may mắn của người tuổi Dậu. Sự nghiệp phát triển thuận lợi tạo niềm hứng khởi cho người tuổi Dậu làm việc hết sức mình. Họ thu được nhiều lợi nhuận trong kinh doanh, đầu tư vào lĩnh vực nào cũng có lãi. Trong lúc này, người tuổi Dậu nên mở rộng nhiều mối quan hệ hợp tác hơn nữa để đạt được thành quả tốt nhất.
Tháng 5 (Âm lịch)
Tháng Ngọ, người tuổi Dậu có sao dữ chiếu mệnh nên tài lộc không tốt. Họ gặp phải những rắc rối trong cuộc sống thường nhật. Công việc có ổn định hơn nhưng thu nhập thì bấp bênh. Người này nên cân đối lại tài chính trong gia đình kẻo thâm hụt ngân sách. Những lúc khó khăn, hãy giữ bình tĩnh để xử lý mọi việc được tốt hơn.
Tháng 6 (Âm lịch)
Tháng Mùi, người tuổi Dậu gặp nhiều tài lộc may mắn hơn. Tài năng và tinh thần làm việc của người này được cấp trên tín nhiệm và đồng nghiệp đánh giá cao. Họ sẽ thu lại nhiều kết quả tốt nếu đầu tư vào những lĩnh vực liên quan đến truyền thông hay công tác xã hội. Tuy nhiên, khi làm bất cứ việc gì, người tuổi Dậu cũng phải suy tính thật kỹ để tránh những rủi ro có thể xảy ra.
Nguồn sáng thích hợp chiếu từ trái qua phải, từ sau lên trước, từ trên xuống dưới. Vì thế, phong thủy cũng rất quan tâm đến việc thiết kế chiếu sáng cho văn phòng. Hãy cùng Lịch ngày Tốt tìm hiểu về cách bố trí ánh sáng văn phòng chuẩn phong thủy.
Lượng ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp tới người làm việc trong phòng
Vị trí chỗ ngồi không nên đối diện với cửa sổ vì đó là nơi ánh sáng trực tiếp đi vào. Khi ánh sáng mặt trời có cường độ mạnh sẽ gây hại cho mắt. Để có thể điều tiết ánh sáng, cửa sổ nên có rèm hoặc mành để hạn chế ánh nắng trực tiếp mà vẫn tạo được độ sáng cho phòng làm việc. Bạn có thể tìm hiểu thêm bài viết Chọn chỗ ngồi hợp phong thủy theo nguyên tắc Tứ tượng để chọn được chỗ ngồi hợp lý.
Phía trên đỉnh đầu không nên có đèn treo lớn. Đèn sẽ gây phản quang trên mặt bàn khi chúng ta làm việc. Như vậy vừa không có lợi cho mắt vừa thiếu tập trung khi làm việc. Mặt khác, nếu có sự cố xảy ra, đèn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Bạn có thể đặt đèn chiếu sáng tại bàn làm việc của mình ở vị trí phù hợp.
Nguồn sáng không đúng phong thủy gọi là “phản quang sát”. Phản quang trước đây phần lớn đều do các hồ ao bên ngoài công trình kiến trúc tạo nên. Khi gặp ánh sáng, chúng chiếu sáng vào trong phòng tạo ra phản quang sát.
Nếu phản quang của nước sông hồ chiếu vào trong phòng thì sẽ sản sinh ra sóng ảnh lay động. Nó tạo ra ánh sáng ảo trên trần nhà, khiến người làm việc khó tập trung tinh thần, thậm chí còn nảy sinh tâm lý căng thẳng.
Hiện nay, ở các đô thị, thành phố đều sử dụng kính trong việc thiết kế bức tường. Việc làm này cũng tạo ra phản quang. Phản quang từ những bức tường này vô cùng mạnh. Nó có thể phá hoại khí trường tốt vốn có trong phòng làm việc.
Để hóa giải điều này, đối với những văn phòng bình thường có thể sử dụng loại kính tối màu thay cho kính trong suốt khi lắp cửa. Ngoài ra, có thể dùng rèm, đặt chậu cây cảnh, bể cá trên bệ cửa sổ, vừa để ngăn chặn xung sát vừa tạo mỹ quan cho môi trường.
Các bài viết sau cùng chủ đề, có thể bạn quan tâm:
Ánh sáng trong phong thủy: Sử dụng hợp lý sẽ đón tài lộc miễn phíSử dụng, bố trí đèn hợp phong thủy (phần 2)Ánh sáng phòng khách theo nguyên tắc phong thủyÁnh sáng đèn và tài khí phong thủy
1.Lòng bàn tay hồng hào, có những đường màu đỏ hiện rõ, biểu hiện cho tài vận sắp tới của bạn rất tốt, vạn sự như ý.
2.Hai bàn tay hồng nhuận, lại vừa có đường tài vận tốt sẽ có thêm nhiều của cải.
3.Đốt thứ hai của ngón cái càng nhiều đường vân, càng tăng tài phú.
4.Gò mộc tinh ở gốc ngón trỏ nổi rõ, màu sắc hồng hào hoặc đỏ, tài vận sẽ rất tốt. Người có gò mộc tinh đầy đặn không những có tiền tài mà còn quyền thế vững chắc.
5.Gò Thái Dương ở gốc ngón áp út có dấu chữ thập, tức sắp gặp chuyện đại phú đại quý.
6.Dưới gò Thái Dương xuất hiện những nét đan thành lưới, là biểu hiện của “cao thủ cá kiếm”.
7.Xuất hiện dấu chữ thập ở giữa khu vực gò Thủy Tinh (dưới gốc ngón út) và gò Thái Dương (dưới gốc ngón áp út) tức sắp được may mắn bất ngờ.
8.Gò thủy tinh dưới gốc ngón út xuất hiện những đường chỉ xiên thẳng, biểu hiện cho cuộc sống hạnh phúc, sẽ nhận được của cải bất ngờ.
9.Gốc ngón út xuất hiện những đường chỉ thẳng đứng, sâu đậm mà không bị đường nào cắt ngang hoặc chặn đứng chứng tỏ tài vận đang cực thịnh.
10.Ngón tay hẹp dần về đầu ngón tức là bạn sắp có khoản tiền để dành.
11.Đường Sinh Đạo và đường Trí Đạo xuất phát cùng một điểm, hướng lên trên là dễ phát tài.
12.Đường thành công xuất hiện nhánh kéo đến gò Thủy Tinh là sắp phát đại tài.
13.Ngón cái thẳng - đầu óc kinh doanh tốt.
Dấu hiệu sắp có chuyện vui:
1.Đầu đường hôn nhân có dấu chữ thập hoặc dấu sao, thì rất có thể bạn đã tìm được “người ấy” rồi, hỷ sự sắp tới.
2.Gốc đường hôn nhân có dấu sao hoặc dấu chữ thập, chuyện tình duyên của bạn đang phát triển tốt, rất có hy vọng.
3.Gò Thái Dương xuất hiện dấu sao hoặc dấu chữ thập sao, bạn sẽ có một đám cưới ở nước ngoài.
4.Đường tình cảm ngày càng dài và sâu chứng tỏ cả đời thuận lợi, hỷ sự sẽ tới.
Không những học nói mà còn phải học cách ngừng nói
Cổ nhân xưa vẫn có câu dạy chúng ta rằng “Nên uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”. Thế nên, học nói không những quan trọng mà ta nên biết nói sao cho chừng mực
Cổ nhân xưa vẫn có câu dạy chúng ta học nói rằng: “Nên uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”. Quả thật, ngôn ngữ dùng để biểu đạt cảm xúc, là công cụ để biểu lộ suy nghĩ, thế nhưng nó cũng có thể tạo ra những lời nói không phù hợp, vô nghĩa hoặc không cần thiết, dẫn đến phiền não không đáng có.
Vương Dương Minh là một nhà tư tưởng học nổi tiếng vào thời Minh. Trong một lần cùng với các đệ tử ra ngoài dạo chơi, ông thấy trên đường có hai người đang cãi nhau, một người nói: “Ngươi thật không có đạo lý”; người kia phản bác: “Ngươi thì không có lương tâm!”
Một vị đệ tử liền quay ra nói với thầy rằng: “Thầy nghe xem, bọn họ đang giảng đạo”.
Vương Dương Minh nói: “Không phải, họ đang mạ lỵ người khác”.
Dùng thiên lý, lương tâm yêu cầu chính bản thân thì là giảng đạo, còn áp đặt yêu cầu lên người khác thì chính là đang mạ lỵ người ta. Khi giao tiếp với mọi người, lời chúng ta nói ra chính là một cách tu hành thâm nhập thực tế, những lời nói tốt đẹp chính là hành động thiện lành nhất. Vì thế người nói, người nghe hay người ngoài cuộc mà vô tâm khiêu khích cũng sẽ tạo ra một sự ác ý tuần hoàn. Vì vậy, có thể nói tin đồn sẽ dừng ở người khôn ngoan. Khi mọi người ở cùng với nhau, không nên vì những lời nói tức thời bộc phát mà làm mất đi thiện duyên khó có được này.
Ngôn ngữ dùng để biểu đạt cảm xúc, là công cụ để biểu lộ suy nghĩ, thế nhưng nó cũng có thể tạo ra những lời nói không phù hợp, vô nghĩa hoặc không cần thiết, dẫn đến phiền não không đáng có.
Socrates – một triết học gia người Hy Lạp cổ rất giỏi về diễn thuyết, ông thường hay dạy mọi người cách làm thế nào để trò chuyện. Một hôm, có một thanh niên đến và nhờ ông dạy những kỹ năng diễn thuyết, bàn về tính trọng yếu của diễn thuyết như thế nào.
Sau một thời gian dài chờ đợi chàng thanh niên nói xong, Socrates tỏ ý muốn thu tiền học phí của anh gấp đôi, anh ta hỏi nguyên nhân tại sao. Socrates trả lời:
“Bởi vì, ngoài việc dạy anh diễn thuyết, tôi còn phải dạy thêm anh cách để ngừng nói”.
Cổ nhân xưa có câu: “Nhất ngôn chiết tận bình sinh phúc” – Cẩn trọng khi nói chính là điểm mấu chốt của tu thân.
Mục đích của lời nói là để diễn đạt những lời yêu thương dễ nghe cho nhau. Thế nhưng, trong những cuộc nói chuyện hàng ngày, có rất nhiều từ ngữ chúng ta cần thực sự phải chú ý, ví dụ:
“Là tôi bảo anh ta đến” – tại sao lại không nói: “Là tôi mời anh ta đến”?
“Hãy nghe tôi đi” – tại sao lại không nói là: “Chúng ta cùng bàn bạc nhé”.
“Bạn đừng có hối hận đấy” – tại sao lại không nói là: “Bạn có muốn suy nghĩ thêm không?”
“Bạn hãy cẩn thận cho tôi” – tại sao lại không nói là: “Có lẽ vẫn cứ nên cẩn thận một chút thì tốt hơn”…
Cùng là một hàm nghĩa nhưng tại sao cứ phải thêm vào những lời khó nghe? Như vậy, không những khiến cho đối phương cảm thấy không vui, mà còn dễ dẫn đến hiểu lầm, quả thực là không xứng với nét đẹp của những người có văn hóa.
Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm khi đăng ngôi Hoàng đế, muốn coi bói quẻ xem ngôi Hoàng đế này sẽ được truyền đến bao đời, kết quả là chỉ có một chữ “Nhất” (một). Vũ Đế rất không vui, quần thần đều sợ hãi mặt tái xanh, không ai dám nói câu gì. Đúng lúc đó, thị trung Bùi Khai đã tiến lên trước và nói: “Vi thần nghe nói, trời có một sẽ thanh minh, đất có một sẽ an bình, hầu vương có một sẽ có được sự ủng hộ trung thành của quần dân”. Chỉ một câu nói ngắn gọn như vậy đã khiến Vũ Đế từ lo lắng chuyển sang vui mừng, quần thần từ đáy lòng đều cảm phục Bùi Khai.
Bất cứ việc gì bạn nhìn thấy cũng có thể chỉ là vẻ bề ngoài chứ chưa phải là thực chất, không nhất định là đúng. Có thể nắm rõ những kỹ năng khi nói chuyện, vào những lúc thích hợp, bạn sẽ có thể biến nỗi buồn thành niềm vui, hoá thối nát thành thần kỳ.
Tu trăm năm mới chung một chuyến thuyền, tu nghìn năm mới nên duyên vợ chồng, đó là câu nói dân gian về duyên phận nhân sinh, gặp nhau bởi chữ duyên, gắn kết đời nhau bởi chữ nợ, trân quý cơ duyên này cũng chính là trân quý bản thân mình vậy.
Vợ chồng là thiếu nợ lẫn nhau sao? Vợ chồng là nợ nghiệp nhau sao? Duyên vợ chồng như thế nào mới có thể chấm dứt đây? Vợ chồng lại là cái gì duyên mà kết thành đây? Tục ngữ có câu:“Tu trăm năm mới đi chung thuyền, tu ngàn năm mới chung chăn gối”. Ý câu này là, những người có thể ngồi chung trên một chuyến thuyền đều là người hữu duyên, còn có thể kết thành vợ chồng thì giữa họ với nhau mối duyên càng sâu đậm. Nói cách khác, quan hệ vợ chồng là loại sâu sắc nhất trong tất cả các loại duyên phận, chỉ có điều là trong những duyên này có thiện có ác.
Duyên vợ chồng nhìn chung đến từ ba loại duyên dưới đây:
Duyên đến từ việc người này có ân với người kia
Con người trong những lần gặp nhau, nếu người này có ân với người kia, khiến họ cảm động khôn nguôi, và nguyện ý báo ân trả nợ, thì vào kiếp sau một người sẽ là nam còn người kia là nữ, bởi nguyện ước thiện lành trong quá khứ mà kết thành vợ chồng.
Ví dụ, khi bạn rơi xuống nước, lúc đó không ai nguyện ý cứu bạn, nhưng lại có một người dũng cảm quên mình vì bạn, mặc kệ có cứu sống hay không, bạn vẫn ghi lòng tạc dạ ân nghĩa này. Vì đền ân cứu mạng, bạn vào kiếp sau sẵn lòng làm thân trâu ngựa báo đáp. Loại tình huống này chính là duyên vợ chồng vì báo ân mà kết thành.
Trong các loại duyên vợ chồng, loại duyên vợ chồng này có thể hạnh phúc mỹ mãn nhất, bởi vì sâu thẳm trong ý thức của một người tồn tại ý niệm dâng hiến một cách không oán không hối, nên hai bên đều có thể hạnh phúc. Tuy nhiên, loại vợ chồng này không bảo đảm là không cãi nhau hoặc không ly hôn, nếu cá tính không hợp thì vẫn sẽ có vấn đề ma sát khi sống chung.
Duyên mà người này thiếu nợ người kia
Nếu như duyên vợ chồng kết thành từ việc người này thiếu nợ người kia, thì chúng ta có hai loại nợ nần được tính đến. Một là khoản nợ tiền tài, hai là khoản nợ tình cảm, cũng có những khoản nợ khác, nhưng hai loại trên vẫn là chính yếu.
Ví như nếu kiếp trước bạn là đàn ông, bị một người con gái phụ bạc, lừa gạt tình cảm, cảm thấy không cam lòng. Như vậy kiếp sau bạn sẽ còn gặp lại cô ấy. Khi cô gái này gặp được bạn, cô sẽ nắm chặt bạn, không bao giờ để bạn chạy trốn nữa. Đây chính là vợ chồng vì khoản nợ tình cảm mà kết thành.
Một ví dụ khác như, khi nam nữ đang trong quá trình tìm hiểu, con trai lúc nào cũng là người chi trả mọi khoản. Nếu cô gái ham hưởng thụ điều này, mà lại không thành tâm muốn kết giao, khi đã lợi dụng được một thời gian liền lạnh lùng rời đi, như vậy người con trai đương nhiên sẽ rất không cam tâm. Nếu là vậy, cô gái này trong kiếp sau sẽ còn gặp người con trai này, cô gái khi đó cũng sẽ có tiền, nhưng rất nhiều tiền của cô đều bị anh ta tiêu hết, hoặc cuối cùng đều thuộc về anh ta. Trường hợp này là vợ chồng vì khoản nợ tiền tài mà kết thành. Dẫu đây là vì ác duyên mà kết thành vợ chồng, nhưng chỉ cần trong quá trình sống chung tại kiếp này có thể làm việc chăm chỉ, không so đo với nhau khi ở chung, thì vẫn có cơ hội sống hạnh phúc.
Nhân duyên thiếu nợ lẫn nhau
Loại duyên thiếu nợ lẫn nhau này, tức là nợ qua nợ lại nhưng là nợ tiền tài và tình cảm là phần nhiều. Nói cách khác, nếu đôi bên khi tìm hiểu, đã nợ nhau các khoản tiền tài và tình cảm như trên, họ kiếp này gặp lại kết thành vợ chồng, vừa vặn dễ dàng giúp nhau trả nợ.
Lúc này cũng có thể nói, vợ chồng kết thành chính là vì cân bằng nhân quả. Chính vì có nhân quả nên “quan hệ” giữa con người với nhau liên tục được cân bằng, không tồn tại bất công.
Vì vậy, bất kì ai khi đã nên duyên vợ chồng, cần phải quý trọng nhau mà chung sống, vì khoản nợ này sẽ còn thay đổi. Không được oán giận người kia, không được oán trời trách đất, vì oán thán sẽ khiến món nợ kia trả hoài không hết! Hoặc món nợ đã mắc càng ngày càng nặng hơn! Trong loại duyên vợ chồng này, bởi vì hai bên đối với nhau đều đòi hỏi bên này phải trả nợ bên kia, nên thường xuất hiện tính toán và tranh chấp. Tuy nhiên, hai bên chỉ cần thay đổi suy nghĩ, dùng thái độ cam tâm tình nguyện mà đối đãi với người kia, như vậy khoản nợ này sẽ nhanh chóng được trả hết.
Duyên vợ chồng tốt nhất
Trên đây là nói về các loại yếu tố kết thành duyên vợ chồng. Nếu dùng số mệnh con người để xem, các loại thiện ác trong duyên vợ chồng cũng phần nào nói lên bạn có hạnh phúc hay không, những người vì ác duyên mà thành vợ chồng, lại càng không cần phải nói. Tuy nhiên, nếu hai bên phù hợp ba điều kiện dưới đây, bất kể là loại vợ chồng duyên gì cũng có thể hưởng hạnh phúc. Vì vậy, khi bạn chọn người phối ngẫu, ba nhân tố này là rất quan trọng:
Một, hai bên cá tính tương hỗ.
Hai, hai bên đều kính trọng lẫn nhau.
Ba, hai bên đều là người có trách nhiệm.
Nói cách khác, điều kiện bên ngoài, vinh hoa phú quý hay không cũng không phải chỉ tiêu hạnh phúc hay không.
Làm sao biết duyên vợ chồng đã kết thúc hay chưa?
Bên cạnh đó, khi chung sống tại kiếp này, vợ chồng cãi nhau là chuyện thường tình. Tuy nhiên, sau khi giằng co cự cãi không ai chịu ai, luôn sẽ có một người nhất định muốn ly hôn, nhưng người kia lại không chịu, điều này nói lên rằng khoản nợ lẫn nhau vẫn còn chưa hết, duyên vợ chồng này còn chưa kết thúc.
Ngược lại, nếu như trong quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng nhạt nhẽo, chẳng ai lưu luyến ai. Điều này nói lên rằng khoản nợ giữa vợ chồng đã hết, vì vậy hai bên sống chung giống như bạn bè, chẳng lưu luyến bịn rịn.
Ngoài ra, qua việc chia tay cũng có thể nhìn rõ duyên vợ chồng đã kết thúc hay chưa. Bất luận việc chia tay này là tử vong, đi xa nhà, xuất gia, hay ly hôn.
Nếu như đôi bên khó lòng chia ly, lúc chia tay khóc nức nở, thì ắt hẳn ân oán vợ chồng này còn chưa trả hết, duyên vợ chồng vẫn còn.
Còn khi chia tay, oán hận lẫn sự bất mãn vẫn khuấy động tâm can hoặc không cam lòng, điều này nói lên rằng “khoản nợ” giữa các bạn vẫn còn chưa trả hết, kiếp sau gặp lại vẫn sẽ tiếp tục kết làm vợ chồng.
Hoặc lúc chia tay, cả hai giống như bạn bè, không oán hận, chỉ đau thương hoặc khổ sở một chút, nhưng không đến nỗi muốn níu kéo nhau, điều này nói lên rằng khoản nợ giữa vợ chồng các bạn cuối cùng có thể chấm dứt rồi.
Vợ chồng là nghiệp chướng sao?
Phật giáo thường nói, kết hôn là nghiệp chướng, cái này chủ yếu nói về giải thoát trong tu luyện. Dựa vào duyên vợ chồng trong quá khứ, bởi vì có ân oán tình thù chưa kết thúc, vì vậy đời này kết làm vợ chồng, mà trước khi ân oán tình thù chưa cân bằng, hai bên sẽ phải gắn kết với nhau, người này cản trở người kia, tạo thành chướng ngại trên con đường tu hành. Tuy nhiên, nếu các bạn mong muốn nhanh chấm dứt duyên vợ chồng này, có thể dùng lý trí mà suy nghĩ để cải thiện quan hệ đôi bên. Suy nghĩ cho lợi ích của đối phương là điều kiện tiên quyết để quyết định sự việc, chuyện cản trở lẫn nhau này có thể giải quyết được.
Ngoài ra, nếu như duyên vợ chồng của các bạn còn chưa kết thúc, mà bạn muốn tu hành, thì bạn có thể tận dụng khoản thời gian chung sống vợ chồng để hiểu rõ nhân tính. Việc này chính là giúp bạn thêm trí tuệ, bởi hiểu tận tường nhân tính con người không phải chuyện dễ dàng.
Nam và nữ đều có cả ưu và khuyết điểm, và khoảng thời gian chung sống của vợ chồng cũng chính là thời khắc bạn học tập ưu điểm của người kia, đây cũng là điều không dễ để tiếp thu. Đặc thù giữa nam nữ khác nhau rất lớn, ví dụ như mưu cầu dục vọng và giá trị quan của nam nữ khác nhau, sở thích hoặc nhu cầu tình cảm cũng không giống nhau v.v.., bạn chính là trong khi chung sống vợ chồng mà tự mình tìm hiểu, nếu làm được như thế thì đây cũng là tu hành rồi.
Duyên vợ chồng mặc dù là trở ngại giải thoát, nhưng nếu bạn có thể tận dụng tốt việc này để tìm hiểu nhân tính, thì cũng chính là có thể giúp bạn khai mở trí tuệ, chẳng phải đó là “đá kê chân” sao. Hãy tận dụng cho tốt cơ duyên này vậy.
Máu trong giấc mơ đại diện cho cuộc sống, tình yêu, niềm đam mê cũng như sự thất vọng. Nếu bạn thấy từ “máu” trong giấc mơ của bạn, thì nó có thể ám chỉ đến một số tình huống sắp tới trong cuộc sống của bạn mà không thể thay đổi. Trong giấc mơ mà bạn
Hạng 1: Thuỷ Bình – nắm quyền trong tay, không quan tâm tới cảm giác của đối phương Thủy Bình dễ mất tình yêu bởi sự chăm chăm cho mình là đúng, là thông minh hơn người. Con gái không cần một “biết tuốt” bên cạnh, họ cần một người đồng hành sẻ chia. Hạng 2: Nhân Mã – quá nhiệt huyết chuyên tâm nên khiến đối phương đánh mất cảm giác Đàn ông Nhân Mã rất nhiệt tình, quan tâm tới người yêu nhưng lại khiến đối phương mất cảm giác kích thích vì những cử chỉ, hành động khá sáo rỗng. Anh bay nhảy khắp nơi không màng đến ai rồi mỏi gối chùn chân về tới tấp buông lời mật ngọt thì đâu có được. Hạng 3: Thiên Bình – không biết cách từ chối người khác, nên mới tổn thương tới họ Với ai cũng tốt, cũng nhiệt tình, vậy người yêu đứng ở vị trí nào trong lòng Thiên Bình. Hãy nhớ sự ưu tiên cần thiết dành cho người quan trọng. Hạng 4: Ma Kết – quá lý trí dẫn tới những lời nói không hay Chòm sao nam dễ mất người yêu không thể không có Ma Kết, bởi họ lý trí đến tàn nhẫn. Có những việc không nhất thiết phải buông những lời thẳng thắn đến cay nghiệt như thế với người mình yêu đâu Kết Kết nhé.
► Xem thêm: Mật ngữ 12 chòm sao, Horoscope được cập nhật mới nhất
Chọn năm sinh con không còn là chuyện xưa nay hiếm hiên nay với các ông bố bà mẹ hiện đại. Với những tư tưởng cải tiến, việc lựa chọn năm sinh tháng đẻ cho con cái mình dựa theo Khoa Học Phong Thủy Ngũ Hành giúp cho các bậc cha mẹ tự tin hơn để sinh
con và giúp con cái mình có những bước tiến vững chắc đầu đời.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Ngũ Hành
Ngũ Hành của bản mệnh là yếu tố đầu tiên được xem xét đến khi chọn năm sinh con. Quy luật tương sinh tương khắc của Ngũ Hành rất đơn giản và dễ nhớ:
Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc – Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ – Thổ sinh Kim Kim khắc Mộc – Mộc khắc Thổ – Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa – Hỏa khắc Kim Như vậy, khi sinh con cần lựa chọn năm sinh để con không khắc với bố mẹ và ngược lại. Ví dụ: Bố mệnh Kim, mẹ mệnh Hỏa thì có thể chọn con sinh năm có bản mệnh Thổ là hợp tương sinh nhất.
Thông thường con khắc bố mẹ gọi là Tiểu Hung, bố mẹ khắc con là Đại Hung, nếu không tránh được Hung thì nên chọn Tiểu Hung sẽ đỡ xấu rất nhiều.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Thiên Can
Thiên Can (hay còn gọi là Can) là cách đánh số theo chu kỳ 10 năm (Thập Can) của người Trung Hoa cổ. Can cũng phối hợp được với Ngũ Hành và Âm Dương:
Can
Năm
Hành
Âm – Dương
Giáp
Cuối cùng là 4 (94,04,14…)
Mộc
Dương
Ất
Cuối cùng là 5 (95,05,15…)
Mộc
Âm
Bính
Cuối cùng là 6 (96,06,16…)
Hỏa
Dương
Đinh
Cuối cùng là 7 (97,07,17…)
Hỏa
Âm
Mậu
Cuối cùng là 8 (98,08,18…)
Thổ
Dương
Kỷ
Cuối cùng là 9 (99,09,19…)
Thổ
Âm
Canh
Cuối cùng là 0 (00,10,20…)
Kim
Dương
Tân
Cuối cùng là 1 (01,11,21…)
Kim
Âm
Nhâm
Cuối cùng là 2 (02,12,22…)
Thủy
Dương
Quý
Cuối cùng là 3 (03,13,23…)
Thủy
Âm
Trong Thiên Can có 4 cặp tương xung (xấu) và 5 cặp tương hóa (tốt), làm cơ sở để lựa chọn năm sinh phù hợp:
4 cặp tương xung (xấu)
5 cặp tương hóa (tốt)
Giáp xung Canh
Ất xung Tân
Bính xung Nhâm
Đinh xung Quý
Giáp – Kỷ hoá Thổ
Át – Canh hoá Kim
Bính – Tân hoá Thuỷ
Đinh – Nhâm hoá Mộc
Mậu – Quý hoá Hoả
Như vậy, chọn năm sinh của con sẽ có thể dùng Thiên Can để so với bố mẹ dựa vào các cặp tương xung và tương hóa. Nếu Thiên Can của con và bố mẹ có tương hóa mà không có tương xung là tốt, ngược lại là không tốt. Ví dụ: Bố sinh năm 1979 (Kỷ Mùi), mẹ sinh 1981 (Tân Dậu), con sinh 2010 (Canh Dần) thì bố mẹ và con không có tương xung cũng như tương hóa và ở mức bình thường.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Địa Chi
Địa Chi (hay còn gọi là Chi) là cách đánh số theo chu kỳ 12 năm (Thập Nhị Chi) và nói đơn giản là 12 con giáp cho các năm. Chi từng được dùng để chỉ phương hướng, bốn mùa, ngày, tháng, năm, giờ ngày xưa và Chi gắn liền với văn hóa phương Đông.
Khi xem hợp – xung theo Chi, có các nguyên tắc cơ bản sau:
Tương hình (12 Địa Chi có 8 Chi nằm trong 3 loại chống đối)
Lục xung (6 cặp tương xung)
Tương hại (6 cặp tương hại)
Lục hợp (các Địa Chi hợp Ngũ Hành)
Tam hợp (các nhóm hợp nhau)
Tương hình
Lục xung
Tương hại
Tý chống Mão;
Dần, Tỵ, Thân chống nhau;
Sửu, Mùi, Tuất chống nhau.
Hai loại tự hình: Thìn chống Thìn, Ngọ chống Ngọ.
Dậu và Hợi không chống gì cả.
Tý xung Ngọ (+Thuỷ xung + Hoả)
Dần xung Thân (+ Mộc xung + Kim)
Mão xung Dậu (-Mộc xung -Kim)
Thìn xung Tuất (+Thổ xung +Thổ)
Tỵ xung Hợi (-Hoả xung -Thuỷ)
Tý hại Mùi
Sửu hại Ngọ
Dần hại Tỵ
Mão hại Thìn
Thân hại Hợi
Dậu hại Tuất.
Thông thường để đơn giản trong Tương Hình, Lục Xung, người ta thường ghép thành 3 bộ xung nhau gọi là Tứ Hành Xung:
Dần – Thân – Tỵ – Hợi
Tí – Dậu – Mão – Ngọ
Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
Tuy nhiên cũng không hoàn toàn chính xác. Ví dụ: Dần và Hợi không xung, Mão và Ngọ không xung, Ngọ và Dậu không xung, Tí và Dậu không xung, Thìn và Mùi không xung, Thìn và Sửu không xung.
Lục hợp
Tam hợp
Tý-Sửu hợp Thổ
Dần-Hợi hợp Mộc
Mão-Tuất hợp Hoả
Thìn-Dậu hợp Kim
Thân-Tỵ hợp Thuỷ
Ngọ-Mùi: Thái dương hợp Thái âm.
Thân-Tí-Thìn hoá Thuỷ cục
Hợi-Mão-Mùi hoá Mộc cục
Dần-Ngọ-Tuất hoá Hoả cục
Tỵ-Dậu-Sửu hoá Kim cục.
Như vậy, nếu dựa theo Địa Chi, việc chọn năm sinh, tuổi sinh cần chọn Lục Hợp, Tam Hợp và tránh Hình, Xung, Hại. Ví dụ: Bố tuổi Dần thì tránh con tuổi Thân, Tỵ, Hợi sẽ tránh được Xung của Địa Chi.
Nói tóm lại, lựa chọn năm sinh con để hợp tuổi bố mẹ có thể dựa vào Ngũ Hành, Thiên Can hoặc Địa Chi, cũng có thể dựa vào cả 3 yếu tố trên và lựa chọn phương án tốt nhất. Tuy nhiên, các yếu tố này cũng chỉ là một phần trong cuộc đời con người, cũng có nhiều trường hợp bố mẹ khó chọn được 1 dải năm để sinh con hợp tuổi do vậy không nên nhất thiết phải chọn năm để sinh, còn rất nhiều yếu tố khác như môi trường, xã hội, gia đình… hay kể cả về lý số cũng còn yếu tố Tử Vi để xem hung cát.
Phong thủy tủ giày vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng tới tài lộc, sự may mắn của chính căn nhà và gia chủ. Dưới đây là một số quy tắc bố trí tủ giày trong nhà
Phong thủy tủ giày vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng tới tài lộc, sự may mắn của chính căn nhà và gia chủ. Dưới đây là một số quy tắc bố trí tủ giày trong nhà để bạn tham khảo.
3. Không đặt linh vật phong thủy trên nóc tủ đựng giày
Luôn luôn ghi nhớ rằng không được bày các linh vật phong thủy như Tỳ Hưu, Rồng, Hổ,… trên nóc tủ giày để tiết kiệm không gian. Vì điều này sẽ gây ra tác động tiêu cực đến phong thủy tủ giày, ảnh hưởng tới phong thủy của ngôi nhà.
4. Không đặt tủ giày trong phòng ngủ
Vì lý do tiện lợi, nhiều gia đình thích bố trí tủ giày ngay trong phòng ngủ. Lúc này, năng lượng tiêu cực của giày dép đã đi tác động đáng kể tới phong thủy phòng ngủ và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng hôn nhân. Vì thế, hãy loại bỏ tủ giày ra khỏi phòng ngủ ngay lập tức.
5. Vị trí của giày dép
Giày dép lấm bẩn, có mùi hôi phải đặt xuống dưới cùng của tủ. Mũi giày nên quay vào trong để tránh hướng tạp khí trực tiếp vào người mỗi khi đóng mở tủ. Điều này đặc biệt đúng với những mẫu giày mũi nhọn, đại diện cho yếu tố Hỏa. Để những đôi giày kiểu này chĩa vào người, lâu dần sẽ gây ra bệnh tật. Đối với các tầng/giá/kệ thiết kế theo đường chéo, luôn đặt mũi giày hướng lên trên. Vì, mũi giày hướng xuống dưới thể hiện sự suy giảm về may mắn của chủ nhân.
6. Giữ gìn vệ sinh, ngăn nắp
Nên giữ tủ (hoặc giá, kệ) đựng giày sạch sẽ và ngăn nắp. Vệ sinh tủ định kỳ để loại bỏ bụi bẩn, mùi hôi và phân loại những đôi giày cũ lâu không dùng đến. Như vậy thì phong thủy tủ giày sẽ được cải thiện đáng kể. Dù cho vận dụng bao nhiêu biện pháp phong thủy tủ giày tốt đẹp cho ngôi nhà, cho cửa ra vào với mong muốn thu hút may mắn và tài lộc, đừng quên chú ý đến tủ đựng giày dép. Tủ đựng giày thuận phong thủy chắc chắn mang đến những kết quả tuyệt vời về sức khỏe, may mắn và giàu có cho các thành viên trong gia đình. ST
1. Quan niệm 8 phép quan sát tướng của người xưa gồm: Uy, Hậu, Thanh, cổ, Cô, Bạc và Tục. Đó là với nam. - Và tướng nữ thì có: Kính, Trọng, Khinh, Hỷ (gian mê), Uy, Khủng (ác độc), ác (hủ lậu hình thù cổ quái). 2. Phép chia tướng 7 chữ gồm: Thanh (t
Tình duyên người tuổi Dậu và người tuổi Tuất năm 2014 –
Dậu/Tuất - Ít hiểu nhau Dậu Tuất không có khả năng giao lưu trong năm 2014, và kể cả nếu có thể, hai người sẽ như đang đi trên những đường thẳng song song, rất ít sự hiểu biết. Năm nay Tuất gây hại cho Dậu. Vì lợi ích của cả hai, tốt nhất là không nê
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi.
Lâu lắm chúng tôi không có cơ hội về giảng cũng như nhắc nhở sự tu hành cho toàn thể chư Tăng Ni ở khu Đại Tòng Lâm. Hôm nay được ban tổ chức trường hạ Đại Tòng Lâm mời về thăm và nói chuyện với tất cả Tăng Ni và Phật tử nơi đây, tôi liền hoan hỉ chấp nhận.
Vì trước kia Hòa thượng Giám đốc và Phó giám đốc ở Ấn Quang, khi thành lập được khu Đại Tòng Lâm thì chúng tôi có mặt bên cạnh, vâng lời dạy của các ngài phụ giúp phần nào đối với cơ sở này. Giờ đây hai Hòa thượng đã theo Phật, chúng tôi những người còn sót lại tự nhiên cảm thấy bổn phận phải làm sao duy trì gìn giữ ngôi Đại Tòng Lâm này đúng như sở nguyện của hai Hòa thượng.
Tất cả những vị ở Đại Tòng Lâm, hoặc là trường Trung cấp, hoặc là trường Cao cấp, hoặc các Thiền viện do chúng tôi thành lập trong khu vực này đều là Tăng Ni chung của Đại Tòng Lâm, mà cũng là của Phật giáo Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng biệt được. Vì vậy khi cần, chúng tôi sẵn sàng đến để nhắc nhở Tăng Ni, Phật tử hiểu biết tu hành cho đúng với chánh pháp.
Mùa an cư này chư Tăng chư Ni về đây an cư là cơ hội tốt để Đại Tòng Lâm càng ngày càng phồn thịnh hơn, sự tu hành càng tinh tiến hơn, đó là điều hết sức quí báu. Vì vậy tôi nghĩ không thể nào chỉ nói suông, tán thán một cách tổng quát như vậy mà cần phải đi sâu vào vấn đề đạo lý, để cho Tăng Ni và tất cả quí vị nghe hiểu có kinh nghiệm thêm trên đường tu hành. Đó mới là điều quí giá. Vấn đề tôi nói hôm nay là hai vấn đề tối hệ trọng của những người tu Phật, đó là trí tuệ và từ bi.
Như chúng ta đã biết đạo Phật là đạo giác ngộ. Đức Phật ngồi thiền định dưới cội bồ-đề mà được giác ngộ. Ngài đi giáo hóa khắp nơi để truyền đạo giác ngộ này. Nhưng sao chúng ta không gọi là đạo giác ngộ mà gọi là đạo Phật. Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud là giác, dha là người. Người giác ngộ đi truyền bá đạo giác ngộ. Nhưng nếu giải nghĩa chữ Phật là giác ngộ thì sợ người ta hiểu lầm. Bởi có những người làm ăn bất chánh không lương thiện, khi có ai nhắc nhở dạy bảo, họ bỏ điều bất chánh trở thành người lương thiện thì người ta sẽ nói anh ấy đã giác ngộ rồi. Giác ngộ đó chỉ có nghĩa là bỏ cái xấu, cái dở để trở thành người tốt thôi. Nếu hiểu đạo Phật theo nghĩa giác ngộ như vậy thì đánh giá quá thấp đạo Phật, làm mất giá trị siêu thoát của đạo Phật. Bởi vậy trong nhà Phật để nguyên từ Phật.
Nói Phật chắc quí vị sẽ có nghi. Tại sao bây giờ chúng ta nói đức Phật mà hồi xưa ông bà tổ tiên chúng ta lại nói là Bụt. Như vậy nói Bụt trúng hay nói Phật trúng? Từ Bụt cho chúng ta thấy đạo Phật được trực tiếp truyền vào Việt Nam từ những vị Sư Ấn Độ. Ngày xưa ở miền Bắc vùng Luy Lâu rất phồn thịnh, các sư người Ấn theo tàu buôn đến đó truyền bá. Các ngài trực tiếp dạy người dân biết đạo Phật, và đức Phật được gọi là Bụt. Bụt nguyên là Bud, đọc trại đi một tí thành Bụt. Đọc Bụt nghe gần hơn, còn đọc Phật nghe xa quá. Vậy đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam gốc từ người Ấn truyền sang, chớ không phải từ Trung Hoa truyền sang buổi đầu.
Tại sao bây giờ chúng ta đọc là Phật? Ở Trung Hoa từ đời Tống đến đời Minh có in những Tạng kinh dịch từ chữ Phạn, chữ Pali ra chữ Hán rồi tặng cho Việt Nam. Đời Trần được tặng một Tạng kinh và sau này chúng ta cũng có thỉnh thêm những Tạng kinh từ Trung Hoa. Chữ Buddha người Trung Hoa dịch gồm một bên chữ nhân đứng, một bên chữ phất. Như vậy Phật là phát sanh từ chữ Hán mà ta đọc theo âm Việt Nam là Phật hay Phật-đà.
Nói đến đạo Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn tuyệt cùng, chớ không phải sự giác ngộ thông thường của thế gian, vì e người ta hiểu lầm nên để nguyên âm là Phật, chớ không nói là giác ngộ. Giờ đây chúng ta học Phật phải dùng những từ gần thời hiện tại như giác ngộ, trí tuệ để dễ thâm nhập hơn.
Vì vậy chúng ta phải hiểu tường tận gốc của đạo Phật là giác ngộ viên mãn. Nên người tu Phật lúc nào cũng phải thuộc lòng Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nói đến Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn, tức giác ngộ tròn đầy không thiếu khuyết một góc cạnh nào.
Chúng ta học Phật, tu Phật là tu theo đạo giác ngộ. Mà đạo giác ngộ dĩ nhiên trí tuệ là căn bản không thể nào thiếu được. Người tu theo Phật dù xuất gia hay tại gia cũng phải mở sáng con mắt trí tuệ.
Chúng ta hãy xét lại xem từ ngày phát tâm tu theo Phật đến giờ đã mở sáng trí tuệ được nhiều hay ít? Có người khi nghe đến trí tuệ dường như sợ nên thường xưng Ngu tăng hay Phàm tăng như để nói lên sự khiêm nhường, họ ít nói đến sự giác ngộ.
Mà chưa giác ngộ thì chưa phải tu theo đạo Phật. Ở đây, tôi không nói đến giác ngộ mà chỉ nói trí tuệ. Bởi vì trí tuệ mở màn cho giác ngộ cứu kính.
Chúng ta nhớ lời Phật dạy, người tu phải tự giác và giác tha. Tự giác là mở sáng trí tuệ của mình.
Giác tha là đem trí tuệ đó đánh thức, cảnh tỉnh mọi người cùng giác ngộ. Tự giác là việc của mình. Giác tha là giúp cho người. Giúp cho người là lòng từ bi. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi. Chưa giác ngộ mà nói đến từ bi, chỉ là từ bi gượng thôi.
Nếu một vị Tăng đã thấy bổn phận mình phải truyền bá chánh pháp, phải thực hành hạnh từ bi mà không chịu tu, không thức tỉnh, không chịu giác ngộ thì chẳng biết vị ấy sẽ thực hành hạnh từ bi bằng cách nào? Chẳng lẽ chúng ta đi đắp đất, cuốc đường hay hốt rác cho thiên hạ. Từ bi như vậy người phàm tục cũng làm được mà. Vậy từ bi trong đạo Phật là thế nào? Tôi sẽ nói rõ hơn vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ trở lại phần trí tuệ. Trí tuệ mà Phật dạy cho Tăng Ni là ba môn tuệ học: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Văn tuệ là như thế nào? Chúng ta đến với đạo, tự mình làm sao giác được. Nên phải nhờ những người đi trước như bậc thầy, các hàng Tôn túc đã tu, đã học, đã mở được đôi phần trí tuệ hướng dẫn, chỉ dạy cho chúng ta từ từ mở con mắt trí tuệ. Nhờ lắng nghe những lời chỉ dẫn, giảng dạy ấy mà chúng ta mở được con mắt trí tuệ của mình là Văn tuệ. Người tu cất thất ở riêng, không học hành gì hết chắc chắn sẽ không có Văn tuệ. Không có Văn tuệ mà tu thì chỉ là tu mù. Những người tu này khi chỉ dạy cho kẻ khác thì cũng chỉ dạy một cách mù quáng mà thôi. Trong kinh Phật nói: “Một người mù dẫn một đám mù, người mù đi trước sụp hầm, những kẻ mù theo sau cũng té xuống hầm luôn.” Người học Phật mà thiếu Văn tuệ không thể được.
Trong kinh A-hàm Phật dạy: Người cư sĩ đến chùa đầu tiên phải gặp Tăng Ni. Gặp Tăng Ni để thưa hỏi Phật pháp chớ không phải để cúng cầu an cầu siêu, như vậy là Văn tuệ. Sau khi nghe chư Tăng Ni dạy Phật pháp rồi phải suy gẫm lời thầy dạy có đúng với kinh Phật không, có đúng với lẽ thật chân lý không? Nếu đúng mới tin, còn dạy sai dạy lầm thì không tin. Cho nên Tư tuệ hết sức thiết yếu. Sau khi suy tư nghiệm thấy đúng kinh Phật, đúng chân lý rồi mới tu. Phật dạy cư sĩ còn như vậy huống là tu sĩ xuất gia mà lại thiếu Văn, Tư, Tu. Thế mà có nhiều tu sĩ cứ tự tu không cần học với ai cả thì thật sự hết sức sai lầm.
Tư tuệ là như thế nào? Phật dạy chúng ta nghe rồi phải suy gẫm, suy gẫm đó chính là tư duy, phải là chánh tư duy. Nếu nghe dạy chúng ta tin mà không hiểu, thì tin đó chưa phải là chánh. Cần phải suy gẫm cho đúng, hiểu cho đúng mới gọi là chánh.
Hồi xưa lúc còn làm Tăng sinh, tôi cũng học như quí vị. Những gì tôi không hiểu thì tôi hay nghi, nghi thì phải tra tìm. Những năm Sơ đẳng, tôi học lý nhân quả luân hồi kỹ lắm, nhưng khi học cổ sử Ấn Độ tôi thấy lý nghiệp báo luân hồi không phải mới có từ thời đức Phật, mà đã có từ thời Áo nghĩa thư của Ấn Độ, tức trước Phật cả mấy trăm năm. Biết được vậy tôi rất buồn, tôi nghĩ Phật đã giác ngộ rồi sao không lựa điều gì mới, mà lại lấy cái cũ của người ta đem ra dạy mình.
Có lần tôi đọc cuốn sách của một số học giả phê bình rằng: “Đạo Phật ăn cắp lý nghiệp báo của Áo nghĩa thư làm của mình.” Đọc đến đó tôi thấy xót quá, khó chịu quá. Đức Phật của mình sao lôi thôi vậy, của người ăn cắp đem làm của mình thì thật là buồn. Lâu nay chúng ta tin rằng đức Phật giác ngộ viên mãn thì những gì Phật dạy đều từ trí tuệ giác ngộ của Ngài lưu xuất. Thế sao lại ăn cắp của người ta đem làm của mình, tôi không bằng lòng như vậy.
Khi lên Trung đẳng, rồi Cao đẳng tôi đã tra hết các bộ kinh A-hàm trong Hán tạng. Đọc một lần chưa thấm, đọc hai lần rồi ba lần, tôi có nguồn an ủi. Trong một bài kinh đức Phật dạy: “Khi Ngài chứng được Thiên nhãn minh rồi, nhìn lại thấy chúng sanh bị nghiệp dẫn luân hồi sanh tử giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi đường này, người đi đường kia một cách rõ ràng không nghi.” Như vậy sở dĩ Phật nói luân hồi nhân quả hay nghiệp dẫn luân hồi là Ngài thấy rõ ràng, chớ không phải ăn cắp như người ta nói xấu.
Rồi lần lần tôi lại thấy ra, trong Áo nghĩa thư có nói về nghiệp báo luân hồi nhưng chưa phân tích rõ ràng. Nên khi đạo Bà-la-môn kế thừa tinh thần của Áo nghĩa thư, mới đặt ra bốn giai cấp. Trong đó Bà-la-môn được sanh ra từ đầu của Phạm Thiên nên được kính trọng nhất, còn các giai cấp khác được sanh từ ngực, từ bụng, từ bàn chân nên không được kính trọng bằng. Sự phân chia giai cấp này khiến người dân càng khổ, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, dù họ nói nghiệp báo luân hồi nhưng phải nhờ các vị Bà-la-môn cầu cúng thì mới hết nghiệp hết tội. Hoặc phải mở những hội tế đàn nào là trâu, dê cúng cho nhiều thì mới hết tội. Cả hai điều này đều bị Phật bác hết. Về mặt giai cấp, Phật bảo không có giai cấp khi mọi người máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau, nên mọi người đều bình đẳng.
Kinh kể hôm nọ Phật ở trong rừng với đệ tử, một số thầy Bà-la-môn đến hỏi Phật:
– Thưa ngài Cù-đàm, đệ tử Ngài chết Ngài cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Phật không trả lời mà chỉ hỏi lại:
– Đệ tử các ông chết các ông cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Các vị Bà-la-môn đáp:
– Được.
Lúc đó Phật nói thí dụ:
– Như nơi một giếng sâu, có người ôm cục đá bỏ xuống giếng rồi nhờ các ngài cầu cho nó nổi, đừng chìm được không?
Các vị Bà-la-môn đều lắc đầu, Phật hỏi tiếp:
– Có người cầm chai dầu đổ xuống giếng, rồi nhờ các ngài cầu cho dầu chìm xuống đáy giếng được không?
Các vị Bà-la-môn cũng lắc đầu, Phật nói:
– Cũng vậy, người làm nghiệp lành sẽ sanh cõi lành giống như dầu nhẹ nổi lên, dầu các vị có ác ý cầu cho xuống địa ngục họ cũng không xuống. Ngược lại người làm dữ phải đi xuống giống như đá, dầu các vị có thiện cảm chấp tay cầu nguyện cũng không nổi lên được.
Vậy đức Phật chấp nhận cầu nguyện hay chấp nhận nghiệp? Nghiệp lành, nghiệp dữ đưa mình lên hoặc lôi mình xuống, chớ không phải cầu nguyện mà được lên hoặc xuống. Đức Phật thấy rõ về nghiệp, cho nên Ngài biết manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi lành, manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi dữ.
Trong nhà Phật dạy chúng ta có Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa là sanh trở lại làm người, Phật dạy tu giữ năm giới. Năm giới nếu giữ toàn vẹn bảo đảm người đó đời này làm người, đời sau chết trở lại làm người. Tu Thập thiện, sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời. Mỗi một nhân đưa tới một quả, Phật thấy tường tận rõ ràng như thế. Còn Áo nghĩa thư của Bà-la-môn giáo nói nghiệp báo không phân biệt rành rõ, chưa biết cái gì nhân cái gì quả nên chưa thấu đáo. Do đó nên biết Phật nói nghiệp, nói luân hồi là vì Ngài thấy tường tận, chớ không phải ăn cắp của người làm của mình. Khi thấy rõ như vậy, tôi không còn nghi, không còn mặc cảm nữa.
Đức Phật rất khoa học, từ thời Áo nghĩa thư đã có thuyết nghiệp, luân hồi. Sau Ngài tu thấy điều đó đúng nên cũng thừa nhận. Nhưng khác hơn là Ngài vạch rõ từng phần chi tiết, thế nào là nhân, thế nào là quả, Ngài phân tích rành cho chúng ta. Đó là tinh thần khoa học chớ không phải học lóm. Từ đó về sau tôi mới hài lòng, đức Phật không phải dở như người ta nói.
Nói về lý nghiệp báo luân hồi, sau khi suy tư kỹ càng, tôi thấy đó là một chân lý không chối cãi được. Ai có nói gì cũng không lay chuyển được tôi, vì đó là một sự thật. Tại sao tôi tin như vậy? Bởi kinh nghiệm từ những việc bên ngoài, cho tới bản thân mình tôi thấy rõ như vậy.
Luân hồi là gì? Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn. Bánh xe xoay tròn lên xuống, lên xuống cứ đảo đi lộn lại hoài. Đối với ngoại vật, chúng ta đặt câu hỏi trái đất có xoay tròn không? Trái đất cứ xoay tròn, xoay tròn, vậy nên trái đất luân hồi. Đến con người, chúng ta thấy máu từ tim chạy ra các mạch, rồi từ các mạch trở về tim, cứ như vậy đảo đi lộn lại hoài, đó là luân hồi. Rõ ràng con người đang luân hồi, quả đất đang luân hồi, vậy chết có luân hồi không? Tôi nói hai phần:
1- Vật chất: Thân chúng ta gồm tứ đại tức bốn chất đất, nước, gió, lửa hợp thành. Những gì là đất? Tóc, lông, gân, móng, da, thịt, răng, xương… những thứ cứng là đất. Những gì là nước? Mồ hôi, máu mủ tức chất ướt là nước. Những gì là gió? Hơi thở vào ra, vào ra là gió. Những gì là lửa? Hơi ấm trong người là lửa, cầm hai tay chà một hồi ấm lên, đó là phát ra lửa.
Đất nước gió lửa sẵn trong con người chúng ta, khi chết bốn thứ đó đi đâu? Nhẹ nhất là hơi thở, lúc sống hít vô trả ra, khi trả ra mà không hít lại là chết. Vậy chúng ta trả ra chớ không phải hết, không phải mất. Thứ hai là hơi ấm trong người, chúng ta chết rồi nó cũng tan vào hư không, theo luồng hơi ấm trong nắng trong lửa, trở về với lửa. Đến đất, nước khi chết thân này nứt nẻ nước tuôn ra, rồi tới đất rã. Nước theo mạch chảy đi khắp nơi cũng không mất, đất cũng trả về đất không mất. Như vậy tứ đại mất đi chỉ mất cái giả tướng duyên hợp, chớ bản chất nó đâu có mất.
2- Tinh thần: Tứ đại không mất thì tinh thần có mất được không? Tinh thần đi theo nghiệp duyên của nó. Ví dụ nước từ thể lỏng đổ vào trong nồi nấu, nước sôi bốc hơi rồi cạn. Nước cạn người ta nói hết nước, nhưng thật ra nước bốc thành hơi bay lên, gặp lạnh đọng lại thành nước rơi trở xuống. Hoặc lấy một ly nước để trong tủ lạnh thì nó sẽ đặc thành thể cứng. Như vậy nước không mất mà có thể chuyển biến từ thể lỏng thành hơi hoặc thể rắn. Nước để ở nhiệt độ vừa chừng, không nóng quá, không lạnh quá thì nước còn hoài.
Cũng vậy người tu có duyên lành nhiều, nghiệp lành nhiều khi nhắm mắt sẽ đưa tới cõi lành, tức lên. Ngược lại nghiệp dữ nhiều sẽ đưa tới chỗ dữ, tức xuống. Nếu tư cách con người tốt, vị lai trở lại làm người, như nước giữ quân bình không lạnh nóng thì ở thể lỏng hoài. Phật dạy Nhân thừa là do giữ đúng năm giới nên đời này làm người đời sau cũng được làm người. Như nước y nguyên nhiệt độ đừng cao đừng thấp thì bao nhiêu nước còn nguyên bấy nhiêu. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ gì.
Chúng ta khi ra đời còn trẻ, đáng lẽ ham danh lợi tài sắc ở thế gian, nhưng tại sao lại ham tu? Như vậy do trong nghiệp từ quá khứ của chúng ta còn lưu lại. Như tôi khi chưa đi tu, mỗi lần qua chùa nghe tiếng chuông, thấy xôn xao trong lòng quá. Cái gì làm cho mình bất an, nếu không phải là chủng tử trước kia?
Mỗi khi chúng ta ra đời, nghiệp từ quá khứ còn lưu lại trong con người hiện tại chớ không phải mất. Nếu chúng ta nhìn vào một lớp học thì biết rõ sự sai biệt, người giỏi về văn, người giỏi về toán v.v… Thầy cô dạy như nhau nhưng điểm riêng biệt của mỗi học trò lại khác. Điểm đó ở đâu ra? Chẳng qua chủng tử từ quá khứ còn lưu lại nơi mỗi người, nên không ai giống ai. Nếu nói do thầy cô dạy mới biết, thì tại sao không biết như nhau mà lại có sự sai lệch. Rõ ràng do chủng tử từ quá khứ chớ không phải ngẫu nhiên. Như những vị thần đồng chưa học mà đã biết, đâu do ai dạy. Đó là chủng tử quá khứ còn nguyên vẹn chưa mất nên ra đời nhớ lại liền. Vậy luân hồi là một lẽ thật, không phải là một nghi vấn nữa.
Khi học Phật, chúng ta cần phải suy tư, chớ không chỉ nghe bao nhiêu biết bao nhiêu thôi. Phải tìm, phải gẫm cho tới nơi tới chốn, như vậy chúng ta mới đủ lòng tin Phật. Do đó Tư tuệ là một điều hết sức thiết yếu.
Tu tuệ là như thế nào? Tư chí lý rồi đến tu rất dễ, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhờ nghe hiểu, suy gẫm và biết cách ứng dụng những pháp mình đã học được vào đời sống tu hành, thấy có lợi ích. Đây chính là Tu tuệ. Ba vấn đề Văn, Tư, Tu đều là trí tuệ. Trí tuệ từ thầy ban cho, trí tuệ do mình suy gẫm, trí tuệ do mình cố gắng thực hành, cho nên ba Tuệ học ấy không thể thiếu được.
Nhà Phật nói trí tuệ có hai phần: Một là Hữu sư trí, tức trí học nơi thầy như Văn Tư Tu. Hai là Vô sư trí, tức trí sẵn có của mình, không do học. Đó là Tam vô lậu học, tức ba môn học giải thoát Giới, Định, Tuệ. Giới là đức hạnh, Định là thiền định, Tuệ là trí tuệ. Nhờ giữ được giới nên thiền định không bị xao xuyến. Vì vậy giới trước rồi định sau. Nhờ thiền định nên Trí vô sư phát sanh là tuệ.
Tại sao thiền định được Trí vô sư? Khi thiền không nghĩ gì cả nên được định, được định nên trí sáng giác ngộ, đó là trí không thầy. Trong kinh có kể lại: Đức Phật sau khi thành Phật rồi, Ngài tuyên bố ta học đạo không thầy. Bởi vì bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề Ngài không học với ai cả, mà nhờ định nên được giác ngộ. Vì vậy nói Ngài học đạo không có thầy.
Phật giác ngộ viên mãn Trí vô sư, ngày nay chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử cũng phải đi tới Trí vô sư đó, nên nói Giới, Định, Tuệ là ba pháp môn tu được giải thoát. Chữ Vô lậu là không còn rơi, không còn rớt lại Tam giới nên gọi là giải thoát sanh tử. Như vậy người học Phật phải đủ trí tuệ, từ Hữu sư trí rồi tiến tới Vô sư trí. Hữu sư trí là nhờ học, Vô sư trí là nhờ tu. Đó là hai phần hết sức rõ ràng.
Điều hệ trọng thứ hai là từ bi. Bởi vì chúng ta không có quyền nghĩ mình tu để hưởng an lạc một mình. Tại sao? Đức Phật ngày xưa chủ trương đi khất thực là vì sao? Khất thực tức là gieo duyên với chúng sanh. Tôi nói là lãnh nợ của chúng sanh. Nếu chúng ta tu mà đối với mọi người không có liên hệ, không trao qua đổi lại thì không có gì dính dáng. Mà không có dính dáng thì giáo hóa họ không được, nên Phật dạy tu sĩ phải nhận của đàn-na thí chủ cúng dường. Có những thí chủ rất nghèo cúng dường nhưng chúng ta cũng phải nhận. Nhận để chi? Để người đó gởi mình, mình nhận nợ.
Nên từ gieo duyên là nói cho đẹp, thật ra chúng ta nhận nợ. Có nợ thì mới gặp lại để đền trả.
Trả nợ có hai cách:
Nếu chúng ta không tu không đủ phước đức thì phải mang lông đội sừng để trả nợ. Nếu chúng ta tu hành có đủ phước đức thì trả bằng cách làm thầy. Bây giờ tôi cũng đang trả nợ đó. Bởi vì chúng ta đều có duyên có nợ với nhau nên mới gặp nhau, còn không duyên không nợ thì không gặp. Gặp để chúng ta giáo hóa, chúng ta chỉ dạy người có duyên với mình. Vì vậy người tu đều phải phát tâm từ bi nhận tất cả những gì của Phật tử gởi gấm. Không phải nhận vì ích kỷ, mà nhận để có duyên hay có chút nợ nần với nhau, hầu giáo hóa giúp đỡ trên đường đạo.
Người xuất gia do Phật tử ủng hộ, nếu hiểu đạo rồi lo tu cho giải thoát, về Cực lạc, bỏ mọi người ở lại ra sao thì ra, như vậy có hơi nhẫn tâm không? Mình tu giải thoát nhập Niết-bàn không bao giờ trở lại nữa, những người cúng cho mình thấy chúng ta nhập Niết-bàn, bỏ họ bơ vơ buồn khổ, thật tội nghiệp cho họ. Vì vậy với tinh thần Phật giáo Đại thừa, người tu không nỡ nhập Niết-bàn liền, mà phải đi đi lại lại trong cõi thế gian này để giáo hóa, để trả nợ. Đến chừng nào thí chủ của chúng ta hiểu được tu tập được, mình mới yên.
Thí dụ như trong Tứ quả Thanh văn, chúng ta được quả thứ ba là A-na-hàm, thì ít ra đệ tử của mình cũng được quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Nếu mình tới Bồ-tát Thập trụ, thì đệ tử cũng tới Thập tín mới được. Khi tu thiên hạ nuôi, đến thành tựu chúng ta lại hưởng một mình, như vậy có buồn không? Giả sử tôi là quí Phật tử, tôi cũng không chấp nhận điều đó nữa. Quí thầy ăn gian quá đâu được. Vậy mà có người tha thiết tu một đời này để về Cực lạc cho rồi, ở đây khổ quá. Về bên đó vui có một mình, bỏ người ta ở đây khổ, ai mà đành lòng. Thôi thì cùng ở với nhau nhưng ở trong sự tỉnh giác chớ không phải trong cái mê mờ, nhớ như vậy.
Tinh thần từ bi của đạo Phật dạy chúng ta phải làm sao đem lại cho mọi người ánh sáng đạo lý, để cho họ biết được lẽ chân thật, không tạo những điều đau khổ, luôn luôn tiến tới chỗ an vui. Lòng từ bi chúng ta không thể nói suông mà phải được thể hiện cụ thể. Muốn thể hiện lòng từ bi chúng ta phải thực hành hạnh bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy. Phải đem của cải, hoặc đem chánh pháp mình hiểu hoặc đem sự tốt lành cao quí an ủi người đau khổ. Đó mới thể hiện lòng từ bi.
Bố thí tài phần lớn dành cho cư sĩ Phật tử vì họ làm ra tiền. Họ mới có điều kiện giúp đỡ người nghèo khổ. Còn các sư có làm ra xu con nào đâu? Nếu có chăng cũng ăn mày của đàn-na thí chủ chớ đâu phải tự mình có tiền lương mỗi tháng. Hàng Phật tử cũng có người làm ra tiền của, có người nghèo cháy da, vậy làm sao bố thí? Nên Phật dạy tài thí có hai phần ngoại tài và nội tài.
Người Phật tử muốn thể hiện lòng từ bi mà không có tiền bạc giúp cho người nghèo đói thì đem công sức của mình ra giúp. Người có tiền tới chùa cúng, người không tiền vào chùa làm công quả. Người có tiền cho tiền, người không tiền ra công đi ủy lạo, khuân vác cũng là bố thí. Nên hiểu có tiền mới bố thí được là lầm. Đem của bố thí là ngoại tài, đem công bố thí là nội tài, như vậy có ai không làm được hạnh bố thí đâu.
Bố thí pháp là phần của Tăng Ni. Tăng Ni tu thấy được cái hay, cái cao quí của Phật pháp, đem sự hiểu biết đó ban rải cho Phật tử cùng biết cùng hiểu như mình. Đem pháp mình đã tu học được, chỉ dạy cho người khác gọi là bố thí pháp.
Bố thí tài, bố thí pháp cái nào tốt hơn? Bố thí tài chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí pháp chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.
Ví dụ chú đạp xích lô có một vợ hai con, mỗi ngày chạy xe kiếm được hai ba chục ngàn nuôi vợ nuôi con. Nhưng nếu chiều vô quán nhậu hết thì vợ con đói khổ. Người hàng xóm thấy thương, đem ít lít gạo lại cho, đó là bố thí tài. Rồi mai chú đạp xe có tiền cũng nhậu hết như vậy thì sao, cho đến chừng nào mới đủ, chừng nào gia đình mới ấm no. Bây giờ có một thầy, một cô nào đó sáng suốt tới khuyên chú, nói với chú uống rượu có hại gì, bệnh hoạn ra sao, rồi vì uống rượu mà không đủ tiền nuôi vợ con, làm vợ con đói khổ. Chú nghe hiểu, thức tỉnh bỏ rượu. Như vậy chúng ta chỉ nói chuyện một giờ, nửa giờ mà chú thức tỉnh bỏ rượu. Từ đó làm được bao nhiêu tiền chú đem về nuôi vợ con. Như vậy bố thí pháp không có cạn hết. Chỉ dùng lời nói, lý lẽ chân thật khuyên chỉ người, khi người tỉnh ngộ rồi gia đình hết khổ. Còn nếu cho tiền cho cơm hằng ngày, thì họ chỉ hết khổ tạm rồi mai mốt sẽ khổ nữa. Như vậy cái nào hơn?
Có kẻ cho rằng người tu Phật tiêu cực quá, nhất là Tăng Ni không chịu làm phước, làm việc xã hội, cứ đi nói pháp hoài. Những người tích cực làm việc này, việc kia giúp cho đồng bào rất dễ thấy, còn người nói pháp xem như không có lợi ích gì. Nhưng thật tình việc này lợi rất lớn. Nên trong hai thứ bố thí: bố thí tài và bố thí pháp thì bố thí pháp là hơn.
Bố thí pháp là đem lòng từ bi của mình chỉ dạy nhắc nhở mọi người biết tu, chỉ dạy nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Giả sử tôi có mười ngàn đồng muốn đem bố thí, nếu tôi cho mỗi người một ngàn đồng, thì cho mười người là hết. Còn tôi bố thí pháp thì có một trăm người, tôi cũng bố thí trọn đủ hết. Vậy bố thí pháp là bất tận. Chúng ta học đạo phải học cái bất tận, còn những việc có chừng mực, có giới hạn chúng ta làm một phần nhỏ thôi, gốc là phải bố thí pháp. Muốn bố thí pháp, chúng ta phải có học có tu và có lòng từ bi. Vì vậy từ bi sau trí tuệ. Hai việc đó không tách rời nhau.
Bố thí vô úy là sao? Vô úy là không sợ. Chúng ta mang tới cho người niềm an ổn không sợ hãi. Không sợ này có nhiều thứ: Sợ ma, sợ rắn, sợ cọp… đủ thứ sợ.
Thí dụ đối với người sợ ma, chúng ta muốn cho họ khỏi sợ, phải giải thích cho họ hiểu ma không đáng sợ. Phật dạy trong lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời, thì ngạ quỉ là loại quỉ đói đứng thứ hai, người cao hơn ngạ quỉ hai cấp. Mình cao hơn nó mà lại sợ nó thì vô lý quá. Chẳng lẽ ông Tỉnh trưởng lại sợ người dân, người lại sợ ma thì thật ngu khờ. Giải thích cho người biết và hết sợ đó là bố thí vô úy.
Như có người sợ chết, chúng ta phải giảng giải cho họ hiểu chết là một lẽ đương nhiên thôi, ai rồi cũng phải chết. Phật chết, Bồ-tát chết, chư Thánh tăng chết, Phàm tăng, Phàm ni chết, cư sĩ chết. Đó là chuyện thường, phải chi có người không chết thì mình sợ, ai cũng chết hết thì có chi mà sợ. Giải thích có căn bản cho người ta hiểu, hiểu rồi thì không sợ. Đó là bố thí vô úy. Như vậy, bố thí pháp trùm cả bố thí chánh pháp và bố thí vô úy luôn.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi. Đó là điều không hợp lý. Nhập thất tu để sáng đạo thì được, nhưng cũng phải đi giáo hóa, chớ không được đóng cửa suốt đời.
Hồi xưa học luật, Phật dạy thầy Tỳ-kheo không nên đi dép da vì làm tổn thương lòng từ bi. Nhưng khi thấy Bồ-tát Văn-thù cỡi sư tử, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi… tôi sanh ra thắc mắc. Tại sao các Ngài không đứng trên cụm mây thôi được rồi. Lại cỡi sư tử cỡi voi, như vậy các Ngài có từ bi không? Sau khi tra cứu hiểu ra rồi tôi mới thấy có lý. Vì đức Phật Thích-ca là vị Giáo chủ cõi Ta-bà, mà dân cõi Ta-bà này thì cang cường nan điều nan phục. Muốn điều phục được phải có trí tuệ vượt bực, nên vị Bồ-tát phụ tá thứ nhất cho đức Phật là Văn-thù.
Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí. Ngài ngồi trên lưng sư tử để biểu trưng rằng chỉ có trí tuệ mới hàng phục được ma quân, chỉ có trí tuệ mới giáo hóa được chúng sanh cang cường này. Đó là ý nghĩa hết sức thâm trầm. Song vì chúng sanh cõi này cứng đầu quá, dùng trí tuệ dạy họ, rồi ít bữa cũng trở lại y cũ, thì làm sao đây. Vì vậy phải có đại nguyện đại hạnh, cho nên bên trái của đức Phật vị Bồ-tát phụ tá thứ hai là Phổ Hiền cỡi voi. Vì hạnh lớn mạnh nên tượng trưng cho voi. Voi sáu ngà nghĩa là đem pháp giáo hóa chúng sanh không biết mệt mỏi. Như vậy các hình tượng ấy mang ý nghĩa đức Phật vào cõi Ta-bà giáo hóa phải có đủ trí tuệ vượt bực, hạnh nguyện to lớn mới giáo hóa được. Nếu không sẽ dễ thoái chuyển, dễ chán lắm.
Đức Phật Di-đà thì bên phải có Bồ-tát Quan Thế Âm, bên trái có Bồ-tát Đại Thế Chí. Đức Phật Di-đà ở cõi Cực lạc là chỗ sạch vui. Muốn sang Ta-bà là chỗ uế trược độ chúng sanh, phải có lòng từ bi tràn trề, nên tượng trưng cho Bồ-tát Quan Thế Âm. Vì chúng sanh khó độ nên chúng ta thấy vẽ tượng đức Phật Di-đà ở trên mây duỗi tay xuống, còn chúng sanh đang trồi hụp dưới biển mà không chịu trồi đầu lên đưa tay cho Phật vớt, cứ hụp lặn ở dưới hoài. Vì vậy muốn không thối tâm phải có đại chí tức là chí cứng rắn vững vàng. Dù cho nó khó, nó mê, nó đắm say ngũ dục cũng ráng chờ vớt nó lên. Nếu không có chí lớn thì chán lắm.
Thí dụ trong hoàn cảnh xã hội của chúng ta, có người khá giả thấy những đứa trẻ bụi đời lang thang ở góc phố này góc chợ kia muốn gom lại nuôi dạy. Từ một người giàu có, bây giờ cất trại về ở với mấy thằng nhỏ khó dạy như vậy thì phải hi sinh sự ổn định của mình, chấp nhận cảnh khổ. Do đó phải có lòng từ bi trước, lòng từ bi thật rộng lớn mới làm được việc đó. Mấy đứa nhỏ đem về dạy có dễ đâu. Nhiều khi nó muốn thoi lại mình nữa. Nó là dân bụi đời, mình thương muốn dạy dỗ nó, nhưng nó lại không biết gì, không mang ơn mà còn cự cãi với mình. Nếu không có ý chí vững bền sắt đá thì không thể nào làm được.
Nên tôi nhắc Tăng Ni phải có tâm biết thương những người chờ đợi mình, trông ngóng mình. Học rồi đem sự hiểu biết chánh pháp đó giáo hóa được năm bảy người, thì phước đức cũng lớn lắm. Do đó quí vị thấy trách nhiệm chúng ta không phải đơn giản. Không phải lo cho mình có địa vị cao, có chức tước lớn là hay. Mà phải làm sao thực tế đời mình đem lợi ích thiết thực cho Phật tử, cho mọi người. Đó mới là giá trị thật đáng quí. Mong tất cả Tăng Ni ở đây hãy nhớ lấy điều này, mà đem hết tâm nguyện phụng sự chúng sanh để đền ân chư Phật.
Chiếc nấm thân hình vốn nhỏ bé lại đội cái mũ to tướng, nên rất mong manh, chỉ cần chạm mạnh là đổ ngay, nó tượng trưng cho sự mong manh trong hạnh phúc gia đình, cần trân trọng mới có thể giữ vững dài lâu. Mơ thấy nấm, nghĩa là cuộc sống ngày một t
Bạn đang có một nhà bếp cho tổ ấm của mình nhưng vẫn băn khoăn chưa biết bố trí những vật dụng thường ngày như thế nào để chúng vừa hợp với thuật phong thuỷ, vừa tiện lợi khi sử dụng. Dưới đây là những gợi ý nho nhỏ giúp bạn… Bàn ăn: Cách chọn bàn ăn
Bạn đang có một nhà bếp cho tổ ấm của mình nhưng vẫn băn khoăn chưa biết bố trí những vật dụng thường ngày như thế nào để chúng vừa hợp với thuật phong thuỷ, vừa tiện lợi khi sử dụng. Dưới đây là những gợi ý nho nhỏ giúp bạn…
Bàn ăn:
Cách chọn bàn ăn: theo phong cách truyền thống, người ta thường sử dụng bàn hình tròn, biểu thị sự sum họp. Ngoài ra, bàn có thể là hình vuông, hình chữ nhật hoặc elip. Nhưng tránh bàn ăn có góc nhọn, nhiều cạnh hoặc hình bình hành. Bàn ăn nên đặt ở chỗ khuất, không nên đặt gần cửa ra vào. Bàn ăn cũng không nên đặt đối diện với bàn thờ tổ tiên hay thờ thần. Vì diện tích hẹp phải đặt như vậy thì nên đặt bàn ăn ra xa một chút và lùi ra hai bên, tránh trường hợp bàn ăn và bàn thờ ở trên một đường thẳng.
Điều tối kỵ khi đặt bàn ăn ở phòng có xà ngang treo lơ lửng trên đầu dẫn đến chủ nhà bất minh, nhân khẩu hao hụt. Nếu vì diện tích hẹp mà phải đặt như vậy thì nên treo quả cầu tròn với màu sắc phù hợp bên dưới xà ngang với hàm ý: quả cầu đã hứng chịu hết cho gia chủ.
Đặt bếp
Theo thuật phong thủy không nên đặt bếp nấu ăn dựa vào tường nhà bếp, bếp nhìn thẳng ra cửa chính hay phía sau bếp là cửa sổ vì gió sẽ thổi vào bếp từ những cửa này, đặc biệt không nên đặt bếp nấu ở cạnh cửa sổ có mặt trời phía tây chiếu vào vì nếu bạn đun bằng bếp dầu hay ga gió không chỉ thổi tắt bếp ma mùi dầu, ga còn gây độc hại cho người. Nếu bạn đun bằng bếp than củi lúc gió thổi lửa liếm ra 4 phía có khi còn gây ra hỏa hoạn. Ngoài ra, không nên đặt bếp ở gần phòng ngủ vì bếp nóng bức, hơi dầu mỡ, người hít phải nhiều hơi này sẽ có hại cho sức khỏe.
Tránh đặt bếp nấu ăn kẹp giữa hai vật dung mang theo nước như máy giặt, tủ lạnh, bồn chậu rửa bát vì thuỷ kị hoả. Nhà bếp là nơi rất quan trọng trong một gia đình do đó bạn nên đặt ít đồ để tạo không khí thoáng. Bạn cũng nên đặt quạt thông gió hoặc máy hút khói dầu để làm sạch không khí sau khi nấu ăn. Hơn nữa, phòng bếp cần có đủ ánh sáng, do vậy bạn nên lắp đèn tuýp hoặc đèn chùm là tốt nhất.
Bồn rửa bát:
Như đã nói ở trên, chúng ta không nên để bồn rửa bát quá gần bếp nấu ăn nhưng cùng không nên đặt bồn rửa ở phía đối diện với bếp vì sẽ gây nhiều điều bất tiện cho người nấu. Do vậy, có thể đặt bồn rửa ở khoảng cách vừa phải trên bệ cao tương ứng.
Hũ gạo:
Ngày nay, thùng đựng gạo thường đặt kín đáo trong các ngăn tủ ngay dưới bếp.
Theo phong tục tập quán, trong bữa ăn của người phương Đông không thể thiếu cơm gạo. Thế chúng ta có thể đặt hũ gạo ở đâu là tốt nhất? Nên đặt nó tại nơi kín đáo ở hướng Tây Nam hay Đông Bắc của bếp và được kê lên để chống ẩm. Tránh đặt nó ở hướng Đông và đặt quá cao.
Tủ lạnh:
Ngày xưa, ông cha ta chưa có tủ lạnh nên trong các tài liệu về phong thủy của người xưa để lại chưa đề cập tới vấn đề này. Nhưng theo quan điểm được nhiều người đồng tình nhất về cách đặt tủ lạnh là nên đặt nó ở hướng lành (Bắc, Đông Nam), vì tủ lạnh là loại máy móc vận hành liên tục 24h/ngày. Nếu như đặt ở hướng dữ sẽ làm chấn động đến các sao dữ, và kích động nó gây rối.
Thờ táo quân
Là người Việt Nam chắc hẳn ai cũng biết về sự tích ông Công, ông Táo. Tục lệ thờ những vị thần này được gìn giữ và lưu truyền cho tới ngày nay. Nên thờ Táo quân ở đâu là phù hợp nhất? Các vị thần này nên được đặt phía trên bếp nấu ăn, nếu không đủ chỗ thì đặt ở góc nhà bếp phía Nam, bởi vì ngũ hành Táo quân thuộc “Hoả”, cho nên Táo quân cần được đặt ở phía Nam “Hoả” vượng.
6 lời khuyên cho phong thuỷ
Theo thuật Phong thuỷ, cách bạn trang trí nhà cửa có một ảnh hưởng lớn đến nhiều khía cạnh của cuộc sống. Nếu nhà bạn hay môi trường làm việc ở giữa đống đồ đạc lộn xôn, bừa bãi thì tài chính, sức khoẻ, đời sống tình cảm cũng sẽ có tình trạng tương tự. Muốn tránh được những điều đó, các bạn nên tham khảo 6 lời khuyên sau.
– Một môi trường lộn xộn và bừa bãi làm cản trở sự lưu thông của các nguồn năng lượng. Hãy bắt đầu bằng việc dọn dẹp nhà cửa hay văn phòng và vứt bỏ những thứ không cần đến nữa hoặc quá lâu không sử dụng.
– Nếu có thứ gì cần sửa chữa, cách đơn giản là khắc phục ngay hoặc loại bỏ nó.
– Để ý tới cả những vật nhỏ đã chất đống lên từ lâu như các loại hoá đơn điện nước hay thư từ. Làm việc đó nghĩa là bạn đã bắt đầu với một việc không mang tính ràng buộc và giúp bạn lấy lại cảm giác thích sự sạch sẽ.
– Sử dụng cây xanh trong môi trường sinh hoạt, chăm sóc chúng cẩn thận và tưới nước đều đặn. Những loại cây lá tròn được mọi người ưa thích hơn cả.
– Các sơ đồ thiết kế nên giới hạn vì việc thực hiện có thể tiêu tốn nhiều tiền và gây ra những vấn đề về sức khoẻ.
– Tránh treo đèn có ánh sáng quá chói trên trần nhà và hạn chế tối đa những vật dụng có góc cạnh sắc nhọn.
Theo Lý luận của Tử vi đẩu số thì sao, mệnh cách, mệnh bàn khác nhau thì sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới tài vận của con người, có tổn thất có ích lợi có tai họa có phúc đức. Chỉ khi hiểu rõ được mối quan hệ giữa các sao, mệnh cách, mệnh bàn với tài vận thì mới có thể đón lợi tránh hại thu thập được nguồn tài.
Sao tài tinh trợ lực nhất cho tiền tài
1. Sao Thiên phủ: Sao tọa tài
Sao Thiên phủ là “sao tài khố”, là tài khố ở trên trời, là cơ sở của phú quý, chủ “tiền tài, điền trạch, bổng lộc”.
Tài khố của sao Thiên phủ thuộc về tài của quan tước bổng lộc, vì vậy không thích hợp với việc kinh doanh thương mại.
Nguồn tài của sao Thiên phủ tương đối ổn định, thường là có từ tài sản kế thừa của tổ tông hoặc do tự mình tích lũy được, đối với tiền tài vô cùng bảo thủ cẩn thận, thường rất trân trọng tiền bạc.
2. Sao Vũ khúc: Sao chính tài
Sao Vũ khúc là “sao chính tài”, chủ “tiền tài”. Chính tài của sao Vũ khúc giống như mỏ vàng, bẩm sinh vốn đã có tính chất tài lộc, khiến cho người ta giỏi việc quản lý tiền tài. Nhưng trước tiên cần phải có sự nghiệp, đồng thời chăm chỉ nỗ lực sau khi kinh doanh thành công thì nguồn tài mới cuồn cuộn đến, đồng thời thường sẽ trở thành cự phú.
3. Sao Thái âm: Sao gia tài
Sao Thái âm là “sao gia tài”, chủ “Tài bạch, điền trạch, y lộc”. Gia tài của sao Thái âm thích hợp với việc đầu tư bất động sản, tiền tài có tính lưu thông, không chỉ giàu có về mặt vật chất mà về mặt tinh thần cũng rất phong phú.
Nguồn tài trong cuộc đời ổn định, có thu nhập đều và cố định, đồng thời cũng có cơ hội kiêm chức, tiền tài từ đó mà dần được tích lũy, rất ít có được từ cạnh tranh, tính toán và cũng không có hoành phát bạo phúc, mặc dù không thực sự để ý đến tài tiền tài nhưng lại biết cách sử dụng tiền tài.
Khi sao Thái âm miếu vượng thì thu nhập phong phú, khi rơi xuống thì lao tâm tôn sức để tiến tài. Gia tài của sao Thái âm sợ nhất là bị sát tinh, kỵ tinh xung phá, xung phá thì tiền tài thường không tích lũy được.
4. Sao Lộc tồn: Sao nguyên tài
Sao Lộc tồn là “sao nguyên tài” hay còn gọi là “sao Thiên lộc”. Nếu để ý tới ý nghĩa tên gọi của nó sẽ thấy vừa có lộc lại có thể tích lũy, chủ “thiên lộc, tài, thọ”.
Nguồn tài của sao Lộc tồn có tính lưu thông, có khả năng quản lý tiền tài, thường có cơ hội tiếp cận với những công việc liên quan tới tiền, nguồn tài mặc dù không rõ ràng và cũng không cố định nhưng nói chung là nguồn bất tận, mãi không bao giờ hết.
Cho dù gặp phải sát tinh kỵ tinh, thì nguồn tài cũng không bị gián đoạn mà chẳng qua chỉ không thể tích lũy được mà thôi. Thiên lộc của sao Lộc tồn thuộc về tài của tích đức, người có đức thì nguồn tài vô tận, người thất đức thì vất vả để sinh tài.
5. Sao Hóa lộc: Sao chuyển tài
Sao Hóa lộc là “sao chuyển tài”, chủ tài. Chuyển tài của sao Hóa lộc có thể thúc đẩy sự lưu thông của tiền bạc, khiến cho thu nhập tăng lên, tiến tài thuận lợi.
Những vấn đề liên quan đến tiền bạc thường rất dễ giải quyết, còn tài lộc của nó thì lại tùy thuộc vào Hóa tinh mà có sự khác nhau.
Sao hung sát bất lợi nhất đối với tiền tài.
1. Sao Phá quân: Sao hao tài
Sao Phá quân là mệnh cách “hao tài tinh”, thường không giỏi quản lý tiền nong, công việc thường không ổn định hoặc có tính mạo hiểm, biến đổi thăng trầm về tiền tài nhiều, thường bại trước thành sau, hoặc hoành phát hoành phá, đủ ảnh hưởng tới cả cuộc đời.
2. Sao Địa không: Sao không tài
Sao Địa không là “sao không tài”, cảnh ngộ cả đời không thuận, nhiều sóng gió và tai ách, biến đổi thành bại rất lớn, vất vả phiêu bạt, tiền tài thường “được mà lại mất”, mất công toi, dễ đột nhiên gặp phải đả kích mà “gãy cánh giữa chừng”, việc sắp thành công thì lại hỏng.
3. Sao Địa kiếp: Sao phá tài
Sao Địa kiếp là “sao phá tài”, tiền tài thường có biến đổi ngoài dự liệu, thường được rồi lại mất, hoặc không bù lại được thứ đã mất, tiếp đó lại thêm hôn nhân, tình cảm không như ý, khiến cho con người bị thất bại cả về vật chất và tinh thần, hành trình cả đời giông như “chèo thuyền trong sóng”, gió to sóng cả, lênh đênh bất định.
Người tuổi này mạnh mẽ, độc lập và có lòng tự trọng cao. Họ thường hành động đơn lẻ, muốn che chở mọi người xung quanh và thích người khác phải phục tùng mình.
Khi đã đặt ra mục tiêu cụ thể, người tuổi Dần sẽ nỗ lực hết sức để đạt được nó. Thậm chí, dù phải nhảy vào "dầu sôi lửa bỏng", họ vẫn kiên trì tới đích cuối cùng.
Người tuổi Thìn
Xuất thân từ dòng dõi cao quý, người tuổi Thìn luôn kiên trì và dũng cảm đương đầu với mọi thách thức. Hơn thế, họ có thái độ lạc quan, tích cực nhìn nhận mặt tốt của cuộc sống.
Khi quyết tâm gây dựng sự nghiệp lớn, con giáp này sẽ được mọi người hết lòng ủng hộ và giúp đỡ. Đó là lý do giải thích tại sao người tuổi Thìn có được thành công vang dội trong sự nghiệp của họ đến vậy.
Người tuổi Ngọ
Nhiệt tình, năng nổ và tâm huyết là những yếu tố tạo dựng sự nghiệp lớn lao của người tuổi Ngọ. Phong cách làm việc của con giáp này vô cùng phóng khoáng nhưng lại đầy sáng tạo và tinh tế. Họ sẽ không chối bỏ trách nhiệm nếu phạm sai lầm và biết tiếp thu ý kiến đóng góp của mọi người nên được đông đảo bạn bè yêu mến.
Ngoài ra, người tuổi Ngọ ham học hỏi, thích đi du lịch đó đây để mở rộng tầm mắt và tích lũy kinh nghiệm sống. Chính điều đó đã "nhào nặn" nên người tuổi Ngọ hiểu biết, đáng tin tưởng và có tố chất để gây dựng sự nghiệp lớn lao.
Người tuổi Dậu
Cổ nhân xưa coi con giáp này có họ hàng với dòng dõi phượng hoàng, dù vẻ bề ngoài không hoàn hảo và thu hút sự chú ý của mọi người. Tài năng và học thức của người tuổi Dậu vô cùng uyên thâm nhưng không mấy khi họ thể hiện ra bên ngoài.
Họ làm việc một cách chính xác, tỉ mỉ và hiệu quả nên được mọi người tín nhiệm và giao phó những trọng trách cao cả. Chính con giáp này là nhân tố quyết định trong thành công của một tập thể. Mọi người sẽ cảm thấy lo lắng, bất an nếu thiếu vắng sự hiện diện hoặc giúp đỡ của người tuổi Dậu.
Người tuổi Tuất
Trong 12 con giáp, người tuổi Tuất vô cùng thông minh, lanh lợi, giỏi giang và dễ được mọi người tin tưởng tuyệt đối. Khi đã quyết định làm việc gì, nhất định họ sẽ nỗ lực hết sức và hoàn thành một cách chu toàn.
Ngoài ra, ý chí quyết tâm và tinh thần cầu tiến là một trong những yếu tố tạo nên thành công cho người tuổi Tuất. Họ nhất định sẽ tạo nên nghiệp lớn để không phụ lòng tin tưởng của mọi người.
Bạn đọc Vương Hải Dương (Thường Tín, Hà Nội) hỏi, anh sinh năm 1976. Phòng khách nhà anh sử dụng gạch lát màu đen có phù hợp không ? Lưu ý, nhà không được lớn lắm, là nhà tường gạch, xà gỗ, mái ngói ?
Chuyên gia phong thủy Phạm Cương, Công ty Cổ phần Nhà Xuân cho biết, theo quan niệm phổ biến hiện nay, những người sinh năm 1976 mang mệnh Thổ thường lo ngại lát đá màu đen mang hành Thủy vì sợ Thổ khắc Thủy.
Tuy nhiên, đây là quan niệm chưa đúng. Bởi theo quy luật phong thủy, sàn nhà tượng trưng cho trời mang tính âm, trần nhà tượng trưng cho đất mang tính dương. Vì vậy, việc chọn màu tối cho sàn nhà và màu sáng cho trần về cơ bản là phù hợp với đạo âm dương của trời đất.
Với những căn nhà có diện tích hạn chế, chật chội về phong thủy được đánh giá là mang tính âm. Nếu lát sàn màu tối thì âm tính. Lời khuyên trong trường hợp này là nên sử dụng màu sắc sáng sủa làm cho không gian có cảm giác rộng rãi, sáng sủa và sạch sẽ hơn.
(Theo Kienthuc) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Tảo mộ tiết Thanh Minh là phong tục truyền thống của người Việt nhằm tỏ lòng biết ơn, hướng tới tổ tiên ông bà. Kiêng kỵ những điều dưới đây khi đi tảo mộ để
Tết Thanh Minh tuy không phải là một ngày lễ lớn nhưng lại gắn liền với bổn phận, đạo đức của mỗi người con Việt Nam, hướng về tổ tiên với phong tục truyền thống đi tảo mộ tiết Thanh Minh.
Tết Thanh Minh năm 2017 là ngày nào?
Tết Thanh Minhlà ngày để con cháu làm lễ cúng bái và tưởng nhớ tổ tiên, ông bà. Vào ngày này, con cháu trong nhà thường lui tới nghĩa trang hay phần mộ tổ tiên để tỏ lòng hiếu kính, giãy bày nỗi niềm nhung nhớ, luyến tiếc với người đã khuất. Vậy khi đi tảo mộ nên chú ý những điều gì để tránh gây ra những phiền phức không đáng có? Dưới đây là 10 điều đại kị khi đi tảo mộ tiết Thanh Minh được truyền lại qua bao đời.
1. Người có da mặt xạm đen, hắc khí bao phủ đi tảo mộ
Vào ngày tảo mộ, nếu thấy trước trán có quầng đen hay một khoảng tối khi ẩn khi hiện dưới da thì có nghĩa vận khí của người đó rất xấu, nên tránh đi tảo mộ. Nếu nhất định phải đi, có thể mang theo người vật hộ thân đã được khai quang để hóa giải điềm dữ. Đó có thể là các vật phẩm phong thủy hộ mệnh như bùa hay vòng tay, dây chuyền... đã được khai quang điểm nhãn, giúp dữ hóa lành.
2. Ăn đồ mặn khi đi tảo mộ
Ngày tảo mộ, từ sáng sớm tới lúc đến nơi cúng tế, không nên ăn đồ mặn, quần áo phải sạch sẽ, chỉnh tề, thể hiện sự tôn trọng với người đã khuất. Đồ ăn có thể lựa chọn các loại đồ chay tịnh, bánh trái hoa quả. Lễ cúng cũng nên là lễ chay, bởi dân gian quan niệm được ăn chay, niệm Phật mới dễ dàng siêu thoát. Lễ cúng nên có hoa tươi, xôi oản, trái cây, chai nước, gạo muối, bỏng, bơ, chén mật ong... Có thể chọn hoa cúc vàng, thể hiện sự đau buồn và nhớ nhung của con cháu đối với tổ tiên.
3. Không đề phòng cháy nổ, trộm cắp
Khi đốt vàng mã, nên chú ý phòng ngừa cháy nổ. Ở một số nơi, mộ phần được đặt trên đồi núi, nếu không cẩn thận khi đốt vàng mã có thể khiến lửa bén vào cỏ khô, gây hỏa hoạn. Đồ lễ bái nên chuẩn bị từ trước, tránh mua ở các hàng bán đồ lễ gần nơi cúng tế. Nếu không tiện chuẩn bị đồ lễ, nên để sẵn tiền lẻ vào túi áo khoác ngoài, khi mua sắm sẽ dễ thao tác hơn. Tiền mệnh giá lớn nên cất kĩ, tránh để kẻ xấu lợi dụng sơ hở trộm cắp giữa chốn đông người.
4. Tùy tiện chọn ngày tế lễ
Tránh đi tảo mộ vào ngày cuối tuần hoặc các ngày cao điểm khác trong tiết Thanh Minh. Ngày nay, điều kiện kinh tế được nâng cao, nhiều gia đình sở hữu xe ô tô riêng, vì thế vào dịp tảo mộ rất dễ xảy ra ách tắc giao thông. Để tránh phiền phức, bạn có thể lựa chọn các phương tiện giao thông công cộng, cũng có thể kéo dài thời gian làm lễ tảo mộ (đi sớm về muộn) hoặc tránh các giờ cao điểm trong ngày, giúp buổi lễ được tiến hành thuận lợi, vạn sự hanh thông.
5. Lơ là, không chú ý đến đồ đạc mang theo
Bất kể khi đến nơi tế lễ hoặc rời khỏi đó, chúng ta đều nên tập cho bản thân thói quen kiểm kê đồ đạc mang theo, tránh vô ý thất lạc đồ quý giá. Ngoài ra, khi đi tảo mộ theo tập thể, nên chú ý kiểm soát số người mọi lúc mọi nơi. Đặc biệt nếu mang theo con trẻ đi cùng, cha mẹ càng nên cẩn trọng, luôn để mắt đến con, tránh để trẻ mải chơi đi lạc.
6. Dừng chân quá lâu nơi vắng vẻ
Có những gia đình mộ phần tổ tiên được đặt ở xa nơi ở, phải đi qua nhiều khu vực hẻo lánh, ít người qua lại, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm. Tốt nhất nên đi theo lộ trình đã định, chọn những con đường mà mọi người hay đi, tránh dừng chân lâu ở nơi hoang vắng để bảo đảm an toàn cho bản thân và người đi cùng. Hơn nữa, theo quan niệm phong thủy, đi đến những nơi như vậy thường dễ nhiễm tà khí, nếu thực sự cần thiết thì nên đi cùng nhiều người.
7. Kinh động đến hương hồn người khác
Nghĩa trang, mộ phần là nơi người đã khuất yên nghỉ, tuyệt đối cấm kị cười nói ồn ào, buông lời nóng nảy hay đánh mắng, chửi bới nhau. Không được đi lại, chạy nhảy lung tung, tiểu tiện bừa bãi. Khi đi ngang qua mộ phần của người khác, không được dẫm chân lên bia mộ. Không được tùy tiện động vào đồ tế lễ đặt trên mộ phần người khác, nếu lỡ vô ý chạm phải, nên thành tâm khấn vái xin hương hồn họ thứ lỗi. Gia đình có trẻ nhỏ nên chú ý trông chừng các bé cẩn thận. Trong khu tế lễ, nên chú ý kiểm soát thái độ, cảm xúc của bản thân, giữ lòng thành kính, tránh làm kinh động đến hương hồn người đã khuất.
8. Tùy tiện chọn giờ tế lễ
Nên tiến hành tảo mộ vào thời điểm dương khí vượng trong ngày. Khi trời còn chưa sáng hay nhập nhoạng tối đều không tốt cho người đi tảo mộ, dễ bị nhiễm tà ma, chướng khí, vì thế nên tránh làm lễ vào những thời điểm này. Từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều là khoảng thời gian tốt nhất mà mọi người thường lựa chọn để tảo mộ, lúc này không chỉ dương khí dồi dào mà sắc trời thường quang đãng, thuận lợi cho việc tiến hành tế lễ.
9. Không dọn dẹp mộ phần cẩn thận
Khi đi tảo mộ tiết Thanh Minh, nên chuẩn bị sẵn dụng cụ để dọn dẹp mộ phần sạch sẽ, gọn gàng. Thấy cỏ rậm thì phát cho quang, thấy đất khuyết thì đắp bồi lên, trồng thêm cây xanh và hoa tươi, cũng đừng quên quét dọn khu vực xung quanh mộ. Nên chú ý sửa sang bốn phía của mộ phần, làm vậy không chỉ để tỏ lòng kính trọng với người đã khuất mà còn để xem xét tình hình của ngôi mộ. Nếu quanh mộ có nước sẽ không tốt cho vận thế của người đời sau. Khi làm mới lại diện mạo của mộ phần, phải giữ lòng thành kính, cầu mong tổ tiên nơi suối vàng phù hộ con cháu sức khỏe, may mắn và cuộc sống an lành.
10. Phụ nữ có thai đi tảo mộ
Theo lời các cụ xưa truyền lại, phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kì hành kinh không được đi tảo mộ, nhất là khoảng thời gian sau 3 giờ chiều tuyệt đối không được tham gia vào các hoạt động này. Không tính đến vấn đề phong thủy, cơ thể phụ nữ thời điểm này rất yếu ớt, dễ bị nhiễm lạnh và khí độc nơi nghĩa trang, mộ phần. Những người có khí trường hay sức khỏe yếu đi tảo mộ về, khi vào nhà nên bước qua chậu lửa hoặc tắm nước lá bưởi để xua đi những trường khí độc. Chi tiết, mời bạn đọc tham khảo bài viết: Phụ nữ mang thai có nên đi tảo mộ trong tiết Thanh Minh? Để tiết Thanh Minh thêm phần trọn vẹn, bạn tham khảo thêm bài viết: Nên và không nên chọn loại hoa nào để đi tảo mộ trong Tết Thanh Minh? để chọn được loại hoa phù hợp bạn nhé! Hy VũVăn khấn tảo mộ tiết Thanh Minh (mồng 5/3 - 10/3 ÂL) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Phụ Tinh. Thuộc bộ sao đôi Hỏa Tinh và Linh Tinh. Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Vị Trí Ở Các Cung
Đắc địa: Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ.
Hãm địa: Tý, Sửu, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Mệnh Tướng Mạo Cung Mệnh có sao Linh Tinh là người có thân hình thô, xấu, tóc và lông màu vàng hay đỏ, thường có tỳ vết ở chân tay hay răng miệng, vóc người ốm. Tính Tình Người can đảm, dũng mãnh, có chí khí, tính tình nóng nảy, táo bạo, liều lĩnh. Công Danh Tài Lộc Sao Linh Tinh vốn là sát tinh nên sao này ít ý nghĩa tốt, trừ phi đắc địa ở các cung ban ngày (Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ) và nếu gặp thêm nhiều cát tinh. Phúc Thọ Tai Họa Linh Tinh dù hãm địa, nhưng gặp chính tinh đắc địa và hợp Mệnh cũng can đảm, nghiêm túc, hay ghen táo bạo, liều lĩnh. Nữ mệnh Âm, nam Thái Dương đắc địa, đẹp và nghiêm túc. Những bất lợi trên đặc biệt xảy ra cho người có Mệnh đóng ở Tây (Dậu) và Bắc (Tý) có Linh Tinh hãm địa tọa thủ. Vì là sao Hỏa nên sự tác họa rất mau. Vốn xấu vì hãm địa, Linh Tinh càng xấu khi gặp sát tinh, hãm địa khác:
Linh Tinh gặp Kình Dương: Công danh trắc trở, tài lộc kém, hay bị tai nạn.
Riêng việc giáp Linh Tinh cũng là biểu hiện của bại cách, suốt đời phải tha phương, bất đắc chí, bất mãn. Những Bộ Sao Tốt Người sinh năm Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, có Linh Tinh đắc địa là hợp cách, vì Linh Tinh là sao Hỏa, chịu ảnh hưởng của ban ngày, đắc địa ở Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ. Trong trường hợp này, nếu gặp nhiều cát tinh thì chắc chắn phú quý trọn đời. Người mà ở cung Mệnh ở hướng Đông, Nam (tức là Mão và Ngọ) có Linh Tinh đắc địa tọa thủ cũng hợp cách, phú quý. Nếu cung Mệnh ở hướng Tây (Dậu) và Bắc (Tý), có Linh Tinh đắc địa chiếu, cũng được phú quý nhưng không bền. Linh Tinh là sao võ cách, đắc địa thì hiển hách về võ nghiệp. Nếu đồng cung và đắc địa thì càng đẹp hơn. Những Bộ Sao Xấu Sao Linh Tinh vốn là sát tinh, sao này hãm địa rất xấu về các phương diện tính tình, bệnh lý, tai họa, phúc thọ. Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Phụ Mẫu
Cha mẹ khắc khẩu, giảm thọ, nếu có khá giả thì cũng có bệnh tật, tai nạn.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Phúc Đức
Giảm thọ, may rủi đi liền nhau.
Nếu công danh sự nghiệp phát đạt bất ngờ thì cũng hay gây tai biến, tai họa.
Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, trong nhà, trong họ có người cùng túng, nghèo khó.
Hỏa Tinh, Linh Tinh, có mồ mả phát hình cái bút, hoặc có hình dài.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Điền Trạch
Dù có nhà đất của ông bà để lại cũng không giữ được, phải tự tay gầy dựng, hay có tai biến hoặc thiên tai về nhà cửa.
Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp hoặc sao Đại Hao, không tiền của, đất đai, tán tài.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Quan Lộc
Nếu đắc địa là người có tinh thần làm việc cật lực, dũng mãnh, có óc phán đoán sâu sắc, nóng tính, nếu hãm địa thì công danh, chức vụ chỉ được một thời gian, vất vả.
Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, công danh hay bị trắc trở.
Linh Tinh, Tang Môn, Bệnh Phù, công danh hèn kém.
Linh Tinh, Thiên Hư, Địa Không, Địa Kiếp hoặc các sao Thiên Hình, Đại Hao, công danh không có.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Nô Bộc
Thường sống chung đụng với những người có điểm giống nhau về chủng tộc, nghề nghiệp, tôn giáo.
Linh Tinh đắc địa thì bè bạn, đồng nghiệp, người giúp việc tốt.
Linh Tinh hãm địa mà có thêm các sao Đại Hao, Địa Kiếp thì càng nhiều bạn lại càng nhiều tai họa.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Thiên Di
Ra ngoài vất vả, dù có gặp thuận lợi cũng không lâu bền, hay gặp tai nạn, trắc trở.
Hỏa Tinh, Linh Tinh, Cự Môn, cẩn thận khi đi đường, dễ gặp tai nạn nguy hiểm chết người.
Hỏa Tinh, Thiên Mã, Linh Tinh, bôn ba, phiêu lưu, lận đận, nay đây mai đó.
Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, cô độc, tán tài, danh bại, tha phương cầu thực.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Tật Ách
Sao Hỏa Tinh nếu đắc địa mà không có sao xấu thì là người có sức khỏe tốt, nếu có thêm các sao Bệnh, Bệnh Phù thì hay bị sốt.
Gặp các sao Hỏa Tinh, Mộc Dục thì bị phỏng nước sôi, phỏng lửa.
Gặp các sao Hỏa Tinh, Thiên Hình, Thiên Việt thì bị chết đâm, chết chém.
Gặp các sao Thiên Hình, Phi Liêm, bị sét đánh, chết vì súng đạn.
Gặp các sao Hỏa Tinh, Kình Dương hãm địa tại Cung Thìn, bị chết đuối.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Tài Bạch
Tài lộc hoạnh phát hoạnh phá, lúc có lúc không, lên xuống thất thường, khó cầm giữ.
Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp hoặc sao Đại Hao, không tiền của, tán tài.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Tử Tức
Làm giảm số lượng con cái.
Hiếm con, muộn con.
Con cái có tướng lạ, con lai.
Con ngoại hôn, hoặc tàn tật, khó nuôi.
Đồng cung với sao Hỏa Tinh, về già mới có con, nhưng con khá giả.
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Phu Thê
Xung khắc gia đạo.
Kiếp Sát (nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Riêu).
Ý Nghĩa Linh Tinh Ở Cung Huynh Đệ
Anh chị em xa cách, trong nhà có người đau bệnh, tàn tật, tự tử.
Gặp sao Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, anh chị em nghèo khổ, ly tán.
Linh Tinh Khi Vào Các Hạn
Linh Tinh đắc địa, thì hỷ sự về tiền bạc hay công danh một cách nhanh chóng.
Linh Tinh hãm địa, thì có tang, hay bệnh hoạn, bị kiện, mất của, truất quan, hoặc phỏng đồ nóng, hoặc cháy nhà (nếu có thêm Tang Môn), có thể bị loạn trí, điên cuồng.
Liêm Trinh ứng với quái Li rực rỡ quá độ nên tốt thì chủ công danh, xấu biến thành tai họa . Liêm Trinh cùng cung Phá Quân hoặc Tham Lang thì lạc hãm nên vô lực. Bạch Hổ tượng kẻ nhất định dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi của mình. Vô lực mà đòi dùng lực tất bị nguy hiểm, tai ương. Nên Liêm Trinh hãm địa cùng cung với Bạch Hổ khó tránh tai nạn.
Liêm Trinh độc thủ Dần Thân được hội họp với Phủ Tướng nhưng lại bị Tham Lang (hãm) xung chiếu, đồng cung Bạch Hổ cũng nguy hiểm nhưng đỡ hơn Liêm Phá , Liêm Tham . Có sao tốt giải cứu thì không đáng lo ngại.
Chú ý: Có Thanh Long hội họp thì thành cách "Thanh Long Bạch Hổ". Trong trường hợp này Bạch Hổ không còn tác họa nữa mà biến thành một yếu tố thành công.
Giáp Ngọ, Ất Mùi thì Ngọ là chỗ hỏa vượng, hoả vượng thì kim bại; Mùi là chỗ hỏa suy, hỏa tuy suy nhưng kim cũng đã cùn nhược. Gọi bằng Sa Trung Kim, Kim không đủ cứng cáp để chém, để đẩy cho nên người Sa Trung Kim thường làm việc một cách đầu voi đuôi chuột. Mệnh cung mà thêm sao Thiên Đồng hãm nữa thì càng vớ vẩn.
Sa Trung Kim cần liên tục theo đuổi mục đích nào đó, nói khác đi là ngoan cố đeo đẳng mới đạt tới được. Giáp Ngọ thì Ngọ hỏa khắc kim tước giảm khí thế, trong khi Ất Mùi thì Mùi thổ sinh kim. Ất Mùi đương đầu với gian nan uyển chuyển hơn Giáp Ngọ. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
EXPLAIN not possible on query: UPDATE `tho_extensions`
SET `params` = '{\"mediaversion\":\"8bbc27a8229cd87c9cfdedefe8cbc47a\"}'
WHERE `type` = 'library' AND `element` = 'joomla'
Query Time: 0.74 ms After last query: 29.48 msQuery memory: 0.027 MB Memory before query: 8.398 MBRows returned: 28
SELECT `id`,`name`,`rules`,`parent_id`
FROM `tho_assets`
WHERE `name` IN ('root.1','com_admin','com_ajax','com_associations','com_cache','com_categories','com_checkin','com_config','com_content','com_cpanel','com_finder','com_installer','com_jce','com_joomlaupdate','com_languages','com_login','com_mailto','com_media','com_menus','com_messages','com_modules','com_plugins','com_postinstall','com_redirect','com_search','com_tags','com_templates','com_users','com_wrapper')
Query Time: 1082.98 ms After last query: 2.25 msQuery memory: 1.202 MB Memory before query: 9.330 MBRows returned: 39
SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating,
COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 12:42:08') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 12:42:08')
ORDERBY c.lft, RAND() , a.created LIMIT 1026, 39
Query Time: 1.25 ms After last query: 2.17 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 10.629 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16476 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.16 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.651 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 723 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.673 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 393 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.20 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.695 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3016 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.717 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16928 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.738 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12301 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.760 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6394 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.782 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8144 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 10.805 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3081 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.828 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16874 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.849 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9495 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.16 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.871 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3098 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.893 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5330 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.915 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10809 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.936 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5674 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.958 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10318 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.980 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 7770 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.002 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6648 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.023 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15123 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.045 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10154 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.067 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4811 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.089 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10065 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.110 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10051 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.132 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15140 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.160 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5745 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.183 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6331 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.205 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6456 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.227 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 11038 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.249 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14226 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.270 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8746 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.292 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1311 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.314 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15508 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.335 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8199 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.357 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 7706 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.379 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 7238 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.401 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 8351 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.422 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 13198 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.444 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12525 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.05 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.466 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14845 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 87.85 ms After last query: 1.18 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.557 MBRows returned: 1
SELECTCOUNT(*)
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 12:42:08') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 12:42:08')
Query Time: 1.18 ms After last query: 0.30 msQuery memory: 0.023 MB Memory before query: 11.561 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.category' AND `m`.`content_item_id` = 17 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
1 × SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating, COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECTCOUNT(*) FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECT c.id, c.asset_id, c.access, c.alias, c.checked_out, c.checked_out_time, c.created_time, c.created_user_id, c.description, c.extension, c.hits, c.language, c.level, c.lft, c.metadata, c.metadesc, c.metakey, c.modified_time, c.note, c.params, c.parent_id, c.path, c.published, c.rgt, c.title, c.modified_user_id, c.version, CASEWHENCHAR_LENGTH(c.alias) != 0 THENCONCAT_WS(':', c.id, c.alias) ELSE c.id END as slug FROM `tho_categories` AS `s` INNERJOIN `tho_categories` AS `c` ON (s.lft <= c.lft AND c.lft < s.rgt) OR (c.lft < s.lft AND s.rgt < c.rgt)
1 × SELECT* FROMtho_template_styles
OTHER Tables:
1 × UPDATE `tho_extensions` SET `params` = '{\"mediaversion\":\"8bbc27a8229cd87c9cfdedefe8cbc47a\"}'