Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Đại diện của ngũ hành và can chi

a - Mộc đại diện cho mùa Xuân b - Hỏa đại diện cho mùa Hạ c - Kim đại diện cho mùa Thu d - Thủy đại diện cho mùa Đông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1 – Ngũ hành đại diện cho các mùa 
a - Mộc đại diện cho mùa Xuân
b - Hỏa đại diện cho mùa Hạ
c – Kim đại diện cho mùa Thu
d - Thủy đại diện cho mùa Đông 

2 – Can chi đại diện cho các hành 
Giáp, Ât, Dần, Mão đại diện cho hành Mộc 
Bính, Đinh, Tị, Ngọ đại diện cho hành Hỏa 
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đại diện cho hành Thổ 
Canh, Tân, Thân, Dậu đại diện cho hành Kim 
Nhâm, Quý, Hợi, Tý đại diện cho hành Thủy 

3 – Can chi đại diện cho mầu sắc 
Giáp , Ât , Dần và Mão là Mộc đại diện cho mầu xanh.
Bính, Đinh, Tị và Ngọ là Hỏa đại diện cho mầu đỏ.
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu và Mùi là Thổ đại diện cho mầu vàng.
Canh, Tân, Thân và Dậu là Kim đại diện cho mầu trắng.
Nhâm, Quý, Hợi và Tý là Thủy đại diện cho mầu đen

4 – Can chi đại diện cho các bộ phận trong cơ thể con người 
Giáp, Ât, Dần, Mão (Mộc) đại diện cho các bộ phận trong cơ thể con người là gan, mật, thần kinh, đầu, vai, tay, ngón tay …….
Bính, Đinh, Tị, Ngọ (Hỏa) đại diện cho các bộ phận tim, máu, ruột non, trán, răng, lưỡi, mặt, yết hầu, mắt ……
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (Thổ) đại diện cho dạ dầy, lá lách, ruột già, gan, bụng, ngực, tỳ vị, sườn ……
Canh, Tân, Thân, Dậu (Kim) đại diện cho phổi, máu, ruột già, gân, bắp, ngực, khí quản ……...
Nhâm, Quý, Hợi, Tý (Thủy) đại diện cho thận, bàng quang, đầu, bắp chân, bàn chân, tiểu liệu, âm hộ, tử cung, hệ thống tiêu hóa, …….. 

5 - Can chi và ngũ hành đại diện cho các phương.

Sơ đồ của các can, chi và ngũ hành đại diện cho các phương như sau:



Giáp, Ât, Dần và Mão là Mộc đại diện cho phương Đông.
Bính, Đinh, Tị và Ngọ là Hỏa đại diện cho phương Nam.
Mậu và Kỷ không ở phương nào cả mà đại diện cho trung tâm.
Thìn đại diện cho phương Đông Nam. 
Tuất đại diện cho phương Tây Bắc. 
Sửu đại diện cho phương Đông Bắc. 
Mùi đại diện cho phương Tây Nam.
Canh, Tân, Thân và Dậu là Kim đại diện cho phương Tây.
Nhâm, Quý, Hợi và Tý là Thủy đại diện cho phương Bắc.

6 – Can chi đại diện cho nghề nghiệp
Giáp, Ât, Dần và Mão là Mộc đại diện cho các nghề sơn lâm, chế biến gỗ, giấy, sách báo, làm vườn, trồng cây cảnh, phục trang, dệt, đóng thuyền ……
Bính, Đinh, Tị và Ngọ là Hỏa đại diện cho các nghề thuốc súng, nhiệt năng, quang học, đèn chiếu sáng, xăng dầu, cao su (xăm lốp ,dây đai ,nhựa cây), các sản phẩm đồ điện, vật tư hóa học, luyện kim, nhựa đường …..
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu và Mùi là Thổ đại diện cho các nghề chăn nuôi , nông nghệp, khai khẩn đồi núi, giao dịch về đất đai, buôn bán địa ốc, phân bón, thức ăn gia súc, khoáng vật, đất đá, gạch ngói, xi măng, đồ gốm, đồ cổ, xây dựng, …..
Canh, Tân, Thân và Dậu là Kim đại diện cho các nghề vàng bạc, châu báu, khoáng sản, kim loại, máy móc, thiết bị nghiên cứu hóa học, thủy tinh, các công cụ giao thông …… .
Nhâm, Quý, Hợi và Tý là Thủy đại diện cho các nghề nước giải khát, hoa quả, đồ trang sức mỹ nghệ, hóa phẩm mỹ dụng, giao thông vận tải, vận chuyển hàng hóa, chăn nuôi thủy sản, mậu dịch, du lịch, khách sạn, buôn bán ,….

Người Trung Quốc từ xa xưa đã dùng lịch Can Chi để xác định các mốc thời gian trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó tại thời điểm của mỗi người khi sinh ra được xác định bởi bốn thông tin của lịch Can Chi. Đó chính là bốn tổ hợp can chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh mà chúng được gọi là Tứ Trụ hay mệnh của người đó. Ví như một cái nhà được xây dựng lên bởi bốn cái cột, nếu bốn cái cột này đều nhau và vững chắc, nghĩa là các hành Kim, Thủy, Mộc, Hỏa và Thổ trong tứ trụ là tương đối bằng nhau thì người đó cả cuộc đời thường là thuận lợi, còn nếu bốn cột không điều nhau, tức ngũ hành quá thiên lệch, tất dễ đổ nhà - cuộc đời dễ gặp tai họa. 

Cách đây ba bốn nghìn năm con người đã biết sử dụng lý thuyết này để phòng và chữa bệnh. Ví dụ những ai trong mệnh (tứ trụ) mà ngũ hành thiếu Mộc mà lại cần Mộc, thì đầu tiên cần đặt tên mang hành Mộc và nên sống ở về phía Đông so với nơi mình được sinh ra, vì đó là phương Mộc rất vượng (tức là Mộc nhiều). Sau khi trưởng thành cũng nên làm những nghề liên quan đến hành Mộc, thêm nữa nên mặc quần áo mang hành Mộc (xanh). Nếu làm như vậy thì sẽ có một phần Mộc được bổ xung cho tứ trụ. Còn khi bị bệnh do hành Mộc thiếu thì thầy thuốc sẽ căn cứ vào sự thiếu nhiều Mộc hay ít để bốc thuốc mang hành Mộc cho phù hợp với sự thiếu Mộc đó. Được như vậy cuộc đời người đó thường gặp thuận lợi rất nhiều hay dễ khỏi bệnh. Các hành khác cũng suy luận tương tự như vậy.

Nguồn: phuclaithanh.com


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đại diện của ngũ hành và can chi

TẢN MẠN NHỮNG ĐIỀU GHI CHÉP VỀ VUA LÊ THÁI TỔ

Sự tích phát vinh hiển, đế vương nhờ địa huyệt phong thủy của Vua Thái tổ triều Hậu Lê, cho thấy ngoài nhân mệnh, sự nỗ lực cá nhân, thời cuộc thì phong thủy rất quan trọng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

TẢN MẠN NHỮNG ĐIỀU GHI CHÉP VỀ LÊ THÁI TỔ

Những ghi chép về vua Lê Thái Tổ

Xưa nay, mỗi một vị đế vương lên ngôi lập ra triều đại mới thường đi liền với những câu chuyện ly kỳ đầy màu sắc huyền ảo. Những câu chuyện trên có thật, hoặc cũng có thể được thêu dệt, thêm bớt, vì mục đích chính trị, khẳng định ông vua đó là chân mệnh thiên tử.

Thế kỷ XV của nước ta là một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng cũng đầy hào quang lấp lánh. Bởi vì thời kỳ đó, nhân dân ta chịu ách áp bức đô hộ của triều Minh – Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo tài tình của người anh hùng dân tộc, vua Thái Tổ, Lê Lợi, cùng với tinh thần xả thân vì nền độc lập dân tộc của nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân ta đã đập tan ách thống trị của giặc Minh tàn bạo. Thật đúng là:

“Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc”

             Bình Ngô Đại cáo - Nguyễn Trãi.

Cũng như bao ông vua lập quốc khác trong lịch sử, những câu chuyện nhuốm đầy màu sắc tâm linh huyền ảo về xuất thân, sự nghiệp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi vẫn thường được lưu truyền, như thanh gương thần, lưỡi khắc chữ thuận thiên, chuôi gươm nạm ngọc, có sức mạnh vô song, hay câu chuyện vợ vua nhặt được quả ấn báu, rồi chuyện trả gươm trên hồ Gươm, chuyện vua bị truy đuổi mà được Hồ Ly phu nhân cứu cho thoát nạn…

Trong tất cả những câu chuyện trên, đều khẳng định vua có chân mệnh đế vương, là người có sứ mệnh cao cả thiên liêng cứu vớt sinh linh ra khỏi bùn lầy tăm tối của nô lệ, áp bức, dã man.

Sách lịch sử ghi lại gốc gác xuất thân của Vua như sau: Tổ tiên bốn đời tức là tằng tổ của Vua tên húy là Hối, họ Lê. Một ngày ông Hối đi chơi qua vùng đất Lam Sơn thấy khu đất này thủy tú, sơn kỳ, cỏ cây hiền hòa, cây cối tốt tươi, chim muông quy tụ rất đông. Ông Hối cho rằng “ đất lành, chim đậu”, nên dọn nhà đến khu đất Lam Sơn này ở.

Kể từ khi chuyển nhà, cuộc sống của ông ngày một giàu có, ruộng nương nhiều, gia súc đông, lương thực dồi dào, bạc vàng của cải tích lũy rồi trở nên giàu có thịnh vượng nhất vùng. Không chỉ thịnh vượng về của cải con cháu ông càng ngày càng đông đúc, quy tụ, nhân đinh trong họ xuất hiện nhiều bậc hiền tài, kiệt xuất.

Ông Hối cũng là người nhân ái, thường xuyên cứu giúp những người khó khăn hoạn nạn trong vùng, đối với gia đinh, nô bộc ông cũng đối xử rất tử tế, nên nhân dân trong vùng kẻ trên người dưới, nam phụ lão ấu đều hết sức kính trọng ông.

Từ đó trở đi ông làm nhiệm vụ coi xét một vùng. Đến đời của Vua thì vẫn nối tiếp chức vụ ấy. Vua lớn lên làm chức phụ đạo sách Khả Lam, bọn tướng tá nhà Minh muốn ông làm quan nhưng ông nghĩ: “Làm kẻ trượng phu phải trừ nạn lập công, sao lại chịu làm tôi tớ cho người ta cưỡng bức”. Từ chối làm quan, ông cùng họ hàng thân thuộc và bạn bè siêng năng việc cầy cuốc, rèn luyện thao lược binh pháp, nung nấu hùng tâm tráng trí.

Bấy giờ Vua sai người cày ruộng ở đất Chiêu Nghi, người tá điền này gặp một nhà sư. Nhà sư than rằng: - Đất quý như thế này mà chẳng có ai để trao cho !

Người tá điền lấy làm lạ vội chạy về báo lại với Vua. Vua vội chạy tới, sau khi thi lễ. Hòa thượng đó mới nói:

  • Bần đạo từ đất Ai Lao đến đây, họ Trịnh, đạo hiệu Bạch Thạch. Thấy ngài dung mạo khác thường, ắt làm nên nghiệp cả.

Vua quỳ xuống hỏi  rằng:

  • Mạch đất trong nước sang hèn ra sao, xin thầy chỉ rõ cho !.

Vị hòa thượng nói:

  • Trong động Chiêu Nghi, xứ Phật Hoàng có một thửa đất, rộng chừng nửa sào, có hình như quả quốc ấn. Bên tả có Thái Thất là núi Chí Linh ở mường Giao Lão. Trong núi ấy có gò Tiên Bạn và gò Chiêu Sơn ở xã An Khoái là án. Phía trước có nước Long Sơn. Phía trong có nước Long Hồ, hình xoáy như ruột ốc. Bên hữu có nước hồ bao quanh phía ngoài chân núi tựa như chuỗi hạt.  

    Đất ấy, đàn ông thì quý không thể nói được, nhưng đàn bà thì hẳn là sẽ phải thất tiết. Tôi e rằng con cháu ngài về sau nó không ở cùng với nhau. Ngôi bấu tất có khi trung hưng. Mệnh trời có thể biết trước được (Bây giờ) nếu có được thầy giỏi, đem hài cốt đi cải táng thì vẫn có thể phấn phát được dăm trăm năm.

Vua lậy tạ rồi chọn ngày, đưa hài cốt của phụ thân mình tới đó táng. Sau này, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành được thắng lợi, lên ngôi vua. Thật ứng với Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa. Sau này, họ Mạc cướp ngôi vua Lê, gặp được đám trung thần triều Lê là Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm mới trung hưng được cơ đồ.

Thời kỳ còn chiến tranh với giặc Minh, có lần bọn giặc đào lấy hài cốt của thân phụ ngài để ép Vua xuất hiện. Tướng tá của Vua lén giành lại được, bí mật táng lại chỗ cũ.

Xét trên lá Tử vi của Ngài thì cung Phúc đức có bộ Tướng quân, Quốc ấn, Thiên mã…Lại kèm Địa không, Địa kiếp đắc, ngộ Tuần, có lẽ ứng đúng vào huyệt đất ở động Chiêu Nghi, sản sinh ra anh hùng, có võ nghiệp lẫy lừng, đời đời vinh hiển.

Nay nghiệm ra và sâu chuỗi móc nối sự việc lại mới thấy chuyện trên đây là có cơ sở, chứ không phải huyễn hoặc, hoang đường.

Xem thêm tử vi trọn đời tại Phong thủy số.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: TẢN MẠN NHỮNG ĐIỀU GHI CHÉP VỀ VUA LÊ THÁI TỔ

Giờ tốc hỷ là gì? Liệu bạn có biết?

Xuất hành vào giờ tốt với mong muốn cả năm đó được nhiều may mắn và thành công. Trong các giờ xuất hành tốt, xem ở lịch vạn niên bạn sẽ thấy có giờ tốc hỷ. Vậy giờ tốc hỷ là gì? Đây là giờ tốt hay xấu?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Từ xưa đến nay,  mỗi khi làm việc quan trọng điều đầu tiên mọi người sẽ làm chính là xem ngày lành tháng tốt, giờ tốt để thực hiện công việc nhằm mang lại sự thuận lợi, như ý. Và đặc biệt vào những ngày đầu năm mới, khi khởi hành ra khỏi nhà vào sáng sớm ngày mùng 1 hoặc khởi hành đi xa, việc xem giờ tốt để xuất hành là việc không thể bỏ qua. Xuất hành vào giờ tốt với mong muốn cả năm đó được nhiều may mắn và thành công. Trong các giờ xuất hành tốt, xem ở lịch vạn niên bạn sẽ thấy có giờ tốc hỷ. Vậy giờ tốc hỷ là gì? Đây là giờ tốt hay xấu? Hãy cùng Phong thủy số tìm hiểu rõ hơn ngay sau đây.

Giờ tốc hỷ là gì? Liệu bạn có biết?

Xem thêm: 

Ngày bất tương là ngày gì?

Ngày chu tước hắc đạo là ngày gi?

Ngày không vong là gì?

Giờ tốc hỷ là gì?

Từ rất xa xưa, các cụ nhà ta đã biết cách tính ngày giờ và dựa vào đó để ứng với các công việc cụ thể. Khi làm việc quan trọng như cưới xin, ma chay, mua đất làm nhà, động thổ, khai trương, trấn trạch...việc đầu tiên mọi người làm sẽ làm xem ngày giờ. Trong ngày sẽ có ngày hoàng đạo, ngày hắc đạo, trong giờ cũng có giờ hoàng đạo, giờ hắc đạo. Khi hỏi ý nghĩa ngày hoàng đạo là gì có lẽ tất cả mọi người sẽ biết đó là ngày đẹp, nên làm việc quan trọng. Nhưng khi được hỏi giờ tốc hỷ là gì có lẽ sẽ rất hiếm người có thể trả lời được nhất là các bạn trẻ.

Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem giờ tốc hỷ là gì, là tốt hay là xấu trong bảng lịch giờ xuất hành theo lịch của cụ Lý Thuần Phong – người học rộng tài cao, tinh thông thiên văn địa lý sau đây:

Tý (23h-1h)

Đại an (Tốt)

Ngọ (11h-13h)

Đại an (Tốt)

Sửu (1h-3h)

Tốc hỷ (Tốt)

Mùi (13h-15h)

Tốc hỷ (Tốt)

Dần (3h-5h)

Lưu niên (Xấu)

Thân (15h-17h)

Lưu niên (Xấu)

Mão (5h-7h)

Xích khẩu (Xấu)

Dậu (17h-19h)

Xích khẩu (Xấu)

Thìn (7h-9h)

Tiểu các (Tốt)

Tuất (19h-21h)

Tiểu các (Tốt)

Tỵ (9h-11h)

Tuyết lô (Xấu)

Hợi (21h-23h)

Tuyết lô (Xấu)

Trong bảng trên, bạn có thể nhìn thấy các giờ tốt là giờ tốc hỷ, đại an, và giờ tiểu các – đây là những giờ nên thực hiện việc quan trọng đặc biệt là việc xuất hành đầu năm.

+ Giờ tiểu các là rất tốt lành, đi giờ này sẽ gặp nhiều may mắn nên xuất hành, khai trương, buôn bán bởi sẽ có lời.

+ Giờ đại an: biểu thị mọi sự tốt lành

Bên trên là những điều cần biết về giờ lành tháng tốt và cụ thể giờ lành ở đây là giờ đại an, tốc hỷ và tiểu các. Mọi người hãy cùng tìm hiểu ngay để từ đó sắp xếp các công việc quan trọng để làm nhé.

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giờ tốc hỷ là gì? Liệu bạn có biết?

Phong thủy cho khu tiền sảnh

Tiền sảnh không chỉ là nơi để chủ nhà đón khách mà còn là khoảng không gian ngăn cản các xung sát từ bên ngoài tác động vào và cũng là một điểm nhấn riêng biệt
Phong thủy cho khu tiền sảnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tiền sảnh không chỉ là nơi để chủ nhà đón khách mà còn là khoảng không gian ngăn cản các xung sát từ bên ngoài tác động vào và cũng là một điểm nhấn riêng biệt của mỗi ngôi nhà.

Dùng mái phụ để che tiền sảnh

Theo phong thủy, tiền sảnh cần tương ứng với quy mô của nhà cũng như với cửa nhà. Nhà lớn mà lối vào nhỏ hoặc không có tiền sảnh thì dễ bị tán khí. Nhà nhỏ mà tiền sảnh rộng quá sẽ lãng phí diện tích. Đối với tiền sảnh của những ngôi nhà cao, bề thế, có thể dùng thêm mái phụ được hạ thấp xuống để giới hạn phạm vi vùng đệm. Điều này khác với tiền sảnh của các tòa nhà lớn nơi công cộng thường cao rộng để đón nhiều người.

Ở xứ nhiệt đới, tiền sảnh đóng vai trò là nơi tiếp khách tạm và thường không có cửa hoặc tường. Trong tiền sảnh thường kết hợp chỗ để giày dép, mũ nón, áo mưa... để thuận tiện trong sử dụng và giảm "áp lực" cho phòng khách bên trong.

Về hình dáng và màu sắc, có thể bố trí tiền sảnh theo nguyên tắc ngũ hành tương sinh để thêm sinh khí. Ví dụ, với nhà có hình vuông (thuộc hành Thổ) thì mái vào tiền sảnh nên là hình nhọn (hành Hỏa). Nhà sơn màu xanh dương (thuộc hành Thủy) thì tiền sảnh - mái đón có thể sơn màu trắng (hành Kim). Khi tiền sảnh thuộc dạng dài (hành Mộc), có thể dùng các mảng gạch trang trí thô, điểm nhấn vuông (hành Thổ)...

(Theo Baomoi)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho khu tiền sảnh

Kiêng kị đối với phòng thờ, bàn thờ –

Tránh bố trí tủ quần áo bên cạnh bàn thờ Trong các điều, nên tránh bố trí tủ quần áo bên cạnh bàn thờ vì trong quá trình sử dụng ngưòi trong nhà có thể sơ ý sẽ làm động bàn thờ, theo phong thủy là không tốt. Trong trường họp không gian quá chật hẹp p

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tránh bố trí tủ quần áo bên cạnh bàn thờ

Trong các điều, nên tránh bố trí tủ quần áo bên cạnh bàn thờ vì trong quá trình sử dụng ngưòi trong nhà có thể sơ ý sẽ làm động bàn thờ, theo phong thủy là không tốt. Trong trường họp không gian quá chật hẹp phải để tủ quần áo bên cạnh bàn thờ thì cần bố trí một khu vực khác để thay quần áo.

Phòng thờ kiêng bị ánh nắng và gió chiếu vào

Một trong những yếu tố nguy hiểm trong phép đặt bàn thờ mà ít chuyên gia phong thủy biết cũng như người dân không hề biết, đó là bàn thờ bị nắng, gió chiếu vào qua cửa sổ và cửa chính.

kieng-ki-ban-tho

Phân tích theo khoa học năng lượng phong thủy thì nắng và gió có chứa nhiều “tia khí đen” và các “xạ khí”, những tia khí xấu này có chứa nhiều dương khí mà dương khí này còn rất xấu, sẽ làm cho phòng không thể tụ được âm khí của người âm khi họ về. Do ngưòi âm muốn về được nhà con cháu thì phải đảm bảo âm khí trong phòng thờ và không bị dương khí cản trở.

Bàn thờ bị ánh nắng chiếu vào hay gió thổi vào sẽ làm cho những người trong gia đình gặp các vấn đề sau:

– Gia đình luôn bất an, vì khi thắp hương mời gia tiên về, không có ai về được, nên người âm tìm mọi cách để làm cho con cháu thay đổi lại bàn thờ, và gây khó khăn cho con cháu trong làm ăn.

– Công việc hay bị đình trệ, họp đồng hay bị hỏng, làm ăn thua lỗ và kém dần.

Những kiêng kị khác

– Không đặt bàn thờ tại nơi nóng bức, nhất là trên tum của tầng thượng hay bị nắng nóng làm cho âm khí không tụ.

– Bên trên phòng thờ (tầng trên tầng có phòng thờ) thẳng lên không được có bể nước, vì nếu có bể nước sẽ phạm Thủy Hỏa tương xung, làm cho người trong nhà ốm đau bất an.

– Không để ti vi hay máy tính trong phòng thờ, vì sẽ có nhiều từ trường làm cho sóng âm không về và tụ lại được.

– Không tự tiện kê chuyển bàn thờ, vì nếu tự tiện kê chuyển vị trí bàn thờ sẽ làm “động” bàn thờ, đây là điều không tốt trong phong thủy.

– Nếu có kê chuyển sang vị trí tốt hơn thì phải làm lễ xin chuyển và xin đài âm – dương thì mới chuyển.

– Không để bàn thờ đối diện với cửa sổ hay thẳng cửa ra vào.

– Phòng thờ không nên làm nhiều cửa, hạn chế có cửa sổ rộng trong phòng thờ.

– Không dùng điều hòa nhiệt độ trong phòng thờ.

– Không để phòng thờ trên tầng thượng có mái tôn, cửa kính hay tường kính, vì có rất nhiều xạ khí từ tường kính, cửa kính.

– Không được để nhiều đồ đạc trong phòng thờ, nhất là các đồ có góc nhọn.

– Phòng thờ mà để tại tầng 1 thì cũng không đưọc để bên trên bể nước ngầm hay bể phốt, vì cũng phạm Thủy Hỏa tương xung.

– Cửa phòng thờ không đối diện với cửa phòng khác, nhất là kiêng kị đối diện với của phòng vệ sinh.

– Không đặt bàn thờ bên dưới là lỗ thoáng hay cửa sổ.

– Không đặt bàn thờ đối diện với cửa chính và cửa sổ.

– Không đặt bàn thờ ngoài tròi.

– Bàn thờ không được dựa vào nhà vệ sinh.

– Bàn thờ không được dựa vào bếp.

– Bàn thờ không được đặt trong phòng ngủ, nhất là phòng ngủ của vợ chồng.

– Bàn thờ kiêng kị bị dầm nhà đè xuống.

– Không được để vật nhọn xung chiếu vào bàn thờ.

– Không để các linh vật thú dữ trong phòng thờ: Sư tử, hổ, chó, kỳ lân.

– Bàn thờ đại kỵ đặt ở lối đi

– Bàn thờ đại kỵ dùng gỗ đã dùng rồi.

– Bàn thờ đại kỵ đặt trên nóc tủ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiêng kị đối với phòng thờ, bàn thờ –

Xem tướng số qua hình cái mũi

Cái mũi là 1 trong những tướng số quan trọng nhất. Đối với đàn ông mũi biểu tượng về tiền tài còn đối với phụ nữ thì mũi biểu tượng về chuyện chồng con. Coi bói qua cái mũi giúp bạn có thêm những dự đoán thú vị.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mũi giữ vai trò rất quan trọng trên khuôn mặt con người. Dù cho tai mắt miệng có hài hoà đẹp đẽ đến bao nhiêu mà mũi xấu xí lệch lạc thì khuôn mặt cũng xem như bị phá cách.

Xem tướng số qua hình cái mũi

Coi bói qua cái mũi

Theo một thuyết coi bói về nhân tướng học cuả người Nhật, mũi được chia thành 3 khu vực, mỗi khu vực biểu hiện rất rõ ràng cá tính cuả một người với ý nghĩa như sau:

  • Khu vực sống mũi: bao gồm Sơn Căn ( gốc mũi nằm giữa hai mắt ), Niên Thượng và Thượng Thọ, biểu hiện về những khả năng tiềm tàng của một người. Khi coi bói tùy theo khu vực này rộng hẹp phát triển ra sao mà người coi bói này có thể mạnh mẽ hoặc yếu kém.
  • Khu vực Chuẩn Đầu: biểu hiện cho trí lực, có liên quan rất lớn đến sự phát triển cuả trí óc và tinh thần của người coi bói.
  • Khu vực phụ trợ: tức là hai cánh mũi ( Giản Đài và Đình Uý) thể hiện cho năng lực hoạt động cuả một người.

Người coi bói cũng nên chú ý đến chiều dài và độ cao thấp cuả mũi. Một chiếc mũi được gọi là trung bình khi có chiều dài bằng 1/3 chiều dài cuả khuôn mặt. Còn để nhận biết mũi là cao hay thấp thì dùng cách so sánh sự cân đối giữa chiều cao của mũi với chiều cao lưỡng quyền hay chiều cao cuả cằm để nhận biết độ cao thấp.

Trong sách tướng nói rất nhiều về các tướng mũi, sau đây là một vài hình dáng thông thường của cái mũi để bạn có thể tham khảo khi coi bói (mũi đã được sửa hong có tính nhé) .

Xem tướng số qua hình cái mũi

 

  • Coi bói mũi phú quý : Mũi cao, cánh mũi to dày, lỗ mũi rộng , chuẩn đầu tròn đầy.Người có dạng mũi thường sống trong giàu sang, sung sướng.
  • Coi bói với mũi dọc dừa : người coi bói có dạng mũi này là người có tính tình trung hậu, khoan hoà trong xử thế, thiên về văn chương nghệ thuật nên thường được danh tiếng hơn lợi lộc.
  • Coi bói mũi nghèo khó: Lỗ mũi lớn và quá lộ hay hếch lên.
  • Coi bói mũi hung ác: mũi có nhiều nếp ngang dọc, thân mũi cao gầy, lỗ mũi hẹp, Chuẩn Đầu nhọn trơ xương.
  • Coi bói mũi gian trá xảo quyệt: mũi nhỏ và ngắn, mềm, lỗ mũi hếch. Cánh mũi lệch hoặc cụp xuống như mỏ chim nhiều hâu.
  • Coi bói mũi đầy đặn, rộng từ trên xuống dưới Chuẩn Đầu khiến Gián Đài và Đình Úy bị thu hẹp: Người coi bói bình thường có thể được giàu sang.
  • Coi bói mũi đầy đặn, cao và rộng nhưng hơi thiếu chiều dài giống như mũi cọp: người có cá tính thiên về vật chất, ăn to nói lớn, thích danh vọng. Khi coi bói quan sát nếu có thêm Đình Úy và Giản Đài cân xứng thì có thể thành công về đường võ nghiệp hay binh nghiệp.
  • Coi bói mũi đầy đặn, phát triển cả bề cao lẫn chiều rộng, không bị phá cách: là tướng đại phú qúy, người coi bói có dạng mũi này là người rất thông minh, mưu trí và dũng cảm hơn người công thêm  tính tình trung thực, thẳng thắng giao thiệp rộng nên thường rất thành đạt trong công việc.

 

Xem tướng số qua hình cái mũi

Coi bói với mũi đầy đặn của Goo Hye Sun

  • Coi bói mũi thẳng nhưng hẹp ở phiá trên, khi đến Chuẩn Đầu mới phát triển, lỗ mũi lộ rõ: người coi bói có dạng mũi này là người có tính tình phóng khoáng, thích kết hợp bè bạn, vận số ở mức bình thường nhưng nếu đắc cách với ngũ quan thì có thể hưng vượng hậu vận.
  • Coi bói mũi dài nhưng không đầy đặn, bề ngang quá hẹp giống như thân cá kết hợp với phần Niên Thượng, Thọ Thượng nổi cao: người coi bói có dạng mũi này là người có cá tính nhỏ nhen, hay nghi ngờ người khác nên thiếu sự thân thiện, hường khó thành công trong cuộc sống.
  • Coi bói mũi gấp khúc nhiều đoạn: người có tính khí thất thường, kiến thức nông cạn, gặp nhiều nhiều trắc trở trong sự nghiệp. Khi coi bói quan sát thấy phần Lưỡng Quyền khuyết hãm thì càng xấu tướng hơn, không đủ tài sức đủ ăn đủ mặc.
  • Coi bói mũi hẹp ở phần trên nhưng đến Chuẩn Đầu thì nở nang quá mức, kéo theo hai canh mũi to: người coi bói với mũi này là người có tâm tính hời hợt, thường thích được người khác nịnh hót, sinh kê, vất vả.
  • Coi bói mũi nhìn khô khốc và xương xẩu: người có đời sống tình cảm nghèo nàn, gia đình bất hoà.
  • Coi bói mũi thon nhỏ nhưng Giản Đài và Đình Úy hơi trễ xuống dưới nhân trung: người coi bói có dạng mũi này là người có cá tính nhanh nhẹn, thích nhàn nhã chứ không thích làm việc nặng nhọc, cuộc sống đủ ăn chứ không giàu sang.

Một vài đặc điểm về sống mũi , lỗ mũi :

  • Coi bói  sống mũi lệch trái: Mẹ thọ hơn Cha
  • Coi bói với sống mũi lệch phải: Cha thọ hơn Mẹ
  • Coi bói sống mũi nhỏ và hẹp: là người thẳng tính nhưng lại quá cứng rắn, thường hay cố chấp, thiếu kiên nhẫn khi gặp khó khăn.
  • Coi bói sống mũi lớn nhưng cong vào khiến Chuẩn Đầu thấp hẳn xuống: người coi bói này có tính tình nhân hoà. Khi coi bói nếu thấy Lưỡng Quyền tốt thì có thể làm ăn thành công rất đễ dàng. Trường hợp Lưỡng Quyền phá cách thì tướng tốt cũng bị giảm sút nhiều, chỉ là người có ăn có mặc vưà đủ mà thôi.
  • Coi bói sống mũi có nốt ruồi: cần thận sự nghiệp bị gãy đổ nửa chừng.
  • Coi bói lỗ mũi nhỏ hẹp, Gián Đài và Đình Úy đầy đặn và cân bằng nhau:người coi bói này có tính tham lam hoặc keo kiệt.
  • Coi bói lỗ mũi rộng , Giản Đài và Đình Úy xẹp, đường nét không rõ : người thích nghe lời ngọt ngào , nịnh hót ,chi tiêu phung phí .
  • Coi bói lỗ mũi rộng, Giản Đài và Đình Úy đầy đặn và cân bằng nhau : người coi bói này rất thông minh , trí tuệ hơn hẳn người khác, thích hợp với những công việc dùng đầu óc .

Mũi là dấu hiệu chủ yếu trên khuôn mặt thể hiện nguyên tố Kim và tượng trưng cho khả năng sở hữu sức mạnh.

Xem tướng số qua hình cái mũi

Coi bói với mũi to của Quang Thắng

Người ra nói rằng ở Trung Đông thời cổ đại, mũi của các hoàng tử trẻ được kéo ra và được xoa bóp vì họ tin rằng không ai có thể làm vua mà lại không có một cái mũi thật to. Nếu nét này có kích thước lớn thì nó cũng thể hiện tham vọng và tính độc lập; mũi to quá cỡ lại là dấu hiệu cho thấy người nào đó có thể có tính tự cao tự đại và tự cho mình là trung tâm. Và nếu mũi bạn nhô ra khỏi mặt quá nhiều- nhô ra hơn khoảng 1 inch( khoảng 2,54cm) – thì đó là dấu hiệu cho thấy bạn là người đi tiên phong. Vì vậy, việc giải phẫu thẩm mỹ ở vùng mũi không những có thể làm hạn chế những trải nghiệm cuộc đời mà bạn có thể có ở tuổi 40( như tôi đã đề cập ở phần trước) mà nó còn có thể tác động đến khí chất của con người bạn nữa.

Khi coi bói, mũi không cần phải có kích thước lớn thì mới có thể chứa đựng một nét tinh túy thuộc nguyên tố Kim. Trong điều kiện hoàn hảo, nét mũi này là dấu hiệu thể hiện phẩm chất thuộc Nguyên tố Kim của một người có lý tưởng cao cả. Bạn rất coi trọng tầm nhìn của mình và khao khát sống một cuộc đời có ý nghĩa.

Nguồn: Xem tướng số qua hình cái mũi


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng số qua hình cái mũi

Nằm lòng những vị trí trưng tượng Phật tại gia chuẩn phong thủy

Việc bày tượng Phật trong nhà để cầu bình an thế nào cho đúng là thắc mắc thường thấy của mọi người. Hãy cùng các chuyên gia phong thủy đi tìm câu trả lời đúng
Nằm lòng những vị trí trưng tượng Phật tại gia chuẩn phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Việc bày tượng Phật trong nhà để cầu bình an thế nào cho đúng là thắc mắc thường thấy của mọi người. Hãy cùng các chuyên gia phong thủy đi tìm câu trả lời đúng chuẩn.


Dưới đây là một vài lưu ý về vị trí trưng tượng Phật tại gia chuẩn phong thủy để mang tới những điều an lành, tốt đẹp cho bạn và mọi thành viên trong gia đình.

1. Nơi tôn nghiêm

Dù là bài trí tượng Phật hay những đồ vật liên quan đến Phật pháp tại gia, bạn cần lưu ý phải chọn vị trí tôn nghiêm trong nhà để thể hiện sự kính trọng.

2. Chú ý độ cao

Vị trí đặt tượng ít nhất phải ngang hàng hoặc cao hơn tầm mắt của bạn. Bởi nếu bạn đứng từ trên cao nhìn xuống sẽ bị coi là bất kính, Đức Phật sẽ không phù hộ. Ngoài ra, nên đặt tượng Phật tránh xa các thiết bị điện vì dễ bị từ trường nhiễu loạn từ chúng ảnh hưởng.

Nam long nhung vi tri trung tuong Phat tai gia chuan phong thuy hinh anh 2
 
3. Vị trí lí tưởng


a. Đặt tượng Phật đối diện cửa chính: Theo ý kiến các chuyên gia phong thủy, gia chủ nên đặt tượng Phật trên một chiếc bàn cao khoảng 70cm, ở vị trí đối diện cửa chính của ngôi nhà.

Tại đây, luồng năng lượng của Phật dễ tương tác với năng lượng xung quanh, kích thích những năng lượng tích cực tràn vào nhà đồng thời có thể chặn đứng những tà khí hoặc biến chúng thành năng lượng tinh khiết, có lợi cho vận khí của mọi thành viên trong gia đình.

b. Trưng tượng Phật ở phòng khách: Đây là một trong những vị trí quan trọng của ngôi nhà, là nơi cả gia đình tụ họp, sum vầy hàng ngày để tạo sự gắn kết bền chặt. Do đó, đặt tượng Phật ở đây khá thích hợp.

c. Bài trí tượng Phật trên bàn làm việc hoặc bàn học: Với trí tuệ minh mẫn, tấm lòng từ bi hỉ xả, Đức Phật sẽ giúp khai thông trí lực, bạn dễ dàng tập trung tinh thần làm việc hiệu quả, trẻ nhỏ học hành giỏi giang, thông minh và hơn tất cả, ai nấy đều cảm thấy bình an trong lòng.

Nam long nhung vi tri trung tuong Phat tai gia chuan phong thuy hinh anh 2
 
d. Trưng tượng Phật tại vườn Thiền:
Không còn gì lí tưởng hơn nếu đặt tượng Phật ở vườn Thiền, nơi giúp bạn tĩnh tâm và tinh thần thư thái mỗi ngày. Tư thế Phật phổ biến và thích hợp nhất cho vườn Thiền là Phật tọa đài sen.

e. Đặt tượng Phật trên bàn thờ: Nếu gia chủ theo Phật giáo, trong nhà sẽ có bàn thờ Phật.

f. Bài trí tượng Phật ở phòng tập Yoga: Một góc đặc biệt trong phòng tập Yoga, đảm bảo sạch sẽ, thông thoáng và chiều cao không vượt quá tầm mắt của mọi người là vị trí lí tưởng để đặt tượng Phật. Bạn sẽ cảm thấy tâm thái bình tĩnh, dễ đạt được hiệu quả luyện tập tối đa.

► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất

Theo Khám phá

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nằm lòng những vị trí trưng tượng Phật tại gia chuẩn phong thủy

Quẻ Quan Âm: Lưu Bị Chiêu Thân

Quẻ Quan Âm thứ 53 nói về điển cố Lưu Bị chiêu thân, cưới được em gái Tôn Quyền, quẻ thuộc cung Tý, là quẻ trung bình, mọi việc nên nghe theo người tài
Quẻ Quan Âm: Lưu Bị Chiêu Thân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 53 được xây dựng trên điển cố: Lưu Bị Chiêu Thân – hay Lưu bị làm rể.

Đây là quẻ Trung bình, thuộc cung Tý. Quẻ nói về việc nên thuận theo lẽ thường mà làm, bản thân có hy vọng thì mới có thành công. Những việc có người tài chỉ đường dẫn lỗi thì hãy làm y như thế thì sẽ có được kết quả tốt đẹp, tự nhiên sẽ được thông lợi, trôi chảy.

Điển cố quẻ Quan Âm: Lưu Bị Chiêu Thân

Sau khi Lưu Bị mượn đất Kinh Châu, không có ý định quay về Đông Ngô. Lúc này vì Cam phu nhân vừa mắc bệnh qua đời, Tôn Quyền nghe được thông tin này, liền muốn thông qua phương thức thông hôn chính trị để cùng chống Tào. Chu Du lại vạch ra mỹ nhân kế, để cải trang thành em gái Tôn Quyền kén rể, âm mưu nhân cơ hội Lưu Bị qua sông, bắt Lưu Bị làm con tin, để chiếm lại Kinh Châu. Nhưng mưu kế này bị Gia Cát Lượng biết được, ông liền tương kế tựu kế, sai Triệu Tử Long cùng Lưu Bị qua sông, đến chùa Cam Lộ ở núi Bắc cố, Trấn Giang đón dâu, lại trao cho kế sách đựng trong túi gấm, dùng mưu dụ Kiều Quốc Lão đến, sắp xếp cho mẹ của Tôn Quyền là Ngô Quốc Thái đến lầu Đa cảnh ở chùa Cam Lộ gặp Lưu Bị. Ngô Quốc Thái thấy Lưu Bị “mặt vuông tai to, tay vượn dài quá đầu gối”, đúng là tướng mạo của bậc thiên tử, nên rất vui mừng, liền hứa gả con gái là Tôn Thượng Hương cho Lưu Bị.

Như vậy, việc thông hôn giữa hai họ Tôn Lưu từ giả đã trở thành thật, cuối cùng mưu kế của Chu Du thành xôi hỏng bỏng không, không những là không thu hồi được Kinh Châu, mà ngược lại còn mất em gái của Tôn Quyền làm phu nhân cho Lưu Bị, khiến cho Đông Ngô “đã thiệt phu nhân lại mất quân”.

Năm 211, Lưu Bị đích thân dẫn đại quân theo hướng tây tiến đến ích Châu, hai vợ chồng từ đây mỗi người một nơi, vĩnh viễn không gặp lại nhau nữa. Lúc này, Tôn Quyền nghe tin Lưu Bị đi về phía tây, bèn sai người đi thuyền đến đón Tôn Thượng Hương, lại muốn Tôn Thượng Hương đưa A Đẩu (con trai Lưu Bị) trở về Đông Ngô, mục đích của Tôn Quyền là muốn dùng con trai duy nhất của Lưu Bị làm con tin, để lấy lại vùng đất phía nam cho Đông Ngô. Sau đó Trương Phi, Triệu Vân đẫ “dẫn quân vượt sông, đưa Lưu Thiền về”, đến chỗ Tôn Thượng Hương cướp lại A Đẩu. Từ đó, việc thông hôn giữa hai họ Tôn Lưu đã tan vỡ.

Sau khi Tôn Thượng Hương trở về đất Ngô và ở lại đây, vừa phải chịu cuộc sống lặng lẽ cô đơn, lại phải hứng chịu áp lực tinh thần rất lớn. Trong con mắt của người Đông Ngô, bà vẫn là phu nhân của Lưu Bị, thủ lĩnh tối cao của quân địch; còn trong lòng người Thục Hán, bà là người câu kết với Đông Ngô, từng cướp A Đấu làm con tin. Vì thế, sau khi Lưu Bị xưng đế ờ Thục Hán, cũng không phong cho bà tước hiệu gì. Tuy bà đường đường là con gái của Phá Lỗ tướng quân Tôn Kiên, là em gái của Ngô Đại Đế Tôn quyền, là vợ của Thục Tiên Chủ Lưu Bị, nhưng vẫn chỉ là vật hy sinh cho cuộc đấu tranh chính trị đầy nghiệt ngã.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Lưu Bị Chiêu Thân

"Lễ lại mặt" có ý nghĩa gì?

Lễ lại mặt là một nghi lễ cần được duy trì, nó thể hiện văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Qua đây, nhắc nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành
"Lễ lại mặt" có ý nghĩa gì?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lễ thành hôn, tơ hồng, hợp cẩn xong xuôi, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên ông bà cha mẹ, đi chào họ hàng thân nhân bên nhà gái sau đó đón bố mẹ và vài thân nhân sang nhà chú rể. Kể từ buổi đó, mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà chú rể và nhà thông gia, vì trong lễ cưới, mẹ cô dâu (có nơi cả bố) không đi đưa dâu.

Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau ngày cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ) tuỳ theo khoảng cách xa gần và hoàn cảnh cụ thể mà định ngày. Thành phần chủ khách rất hẹp, chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình.

Trường hợp hai nhà xa xôi cách trở, ông già bà lão thì nên miễn cho nhau, cô dâu chú rể nếu bận ông tác cũng nên được miễn thứ. Nếu điều kiện cho phép thì nên duy trì, vì lễ này mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp:

  • Nhắc nhủ con đạo hiếu, biết tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ cũng như bố mẹ mình.
  • Thắt chặt và mở rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ buổi đầu, tình cảm được nhân đôi.
  • Hai gia đình cùng trao đổi rút kinh nghiệm về việc tổ chức hôn lễ và bàn bạc về trách nhiệm của hai bên bố mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi trẻ trong tương lai.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: "Lễ lại mặt" có ý nghĩa gì?

Vật phẩm phong thủy cho người mệnh thổ –

Theo chuyên gia phong thủy, đối với người mệnh Thổ, trong phong thủy khuyến khích nên sử dụng hòn non bộ nhưng bên cạnh đó khi đặt cũng cần tránh một số vị trí nhất định. Ngoài ý nghĩa là thú chơi đá cảnh, vật trang trí... hòn non bộ còn được xem là

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo chuyên gia phong thủy, đối với người mệnh Thổ, trong phong thủy khuyến khích nên sử dụng hòn non bộ nhưng bên cạnh đó khi đặt cũng cần tránh một số vị trí nhất định.

Ngoài ý nghĩa là thú chơi đá cảnh, vật trang trí… hòn non bộ còn được xem là vật phẩm phong thủy với tác dụng trấn trong các ngôi nhà, công sở, vị trí không tốt…

vật phẩm phong thủy cho người mệnh thổ

Những người mệnh Thổ hoặc trong bản mệnh về tứ trụ mà hành thổ là dụng thần, những vật liệu mang hơi hướng thổ khí như hòn giả sơn (còn gọi là hòn non bộ), các loại đá tự nhiên được khuyến khích dùng. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao nhất khi sử dụng non bộ cần tuân theo những nguyên tắc nhất định. Với nhà có nhiều tầng, hòn non bộ không nên đặt ở tầng trên cùng của căn nhà, dù bố trí ở bất kỳ vị trí nào.

Trong trường hợp nhà lớn, sân trước rộng hòn giả sơn loại nhỏ có thể đặt phía trước cửa nhà tạo thành tiền án hay còn gọi là chu tước theo thuật phong thủy. Hòn non bộ lớn có thể đặt phía sau nhà để tạo thành một thế nhà vững chắc hay làm vững thêm huyền vũ theo cách nói của thuật phong thủy.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vật phẩm phong thủy cho người mệnh thổ –

Lễ hội ngày 29 tháng 8 âm lịch - Lễ DOLTA Và Hội Đua Bò

Lễ DOLTA Và Hội Đua Bò được tổ chức vào ngày 29 tháng 8 âm lịch Tại chùa, từng gia đình cộng đồng Khơmer thuộc huyện Tri Tôn hoặc Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lễ hội ngày 29 tháng 8 âm lịch - Lễ DOLTA Và Hội Đua Bò

Lễ hội ngày 29 tháng 8 âm lịch - Lễ DOLTA Và Hội Đua Bò

Lễ DOLTA Và Hội Đua Bò

Thời gian: tổ chức vào ngày 29 tháng 8 tới ngày 1 tháng 9 âm lịch (nếu tháng nào thiếu sẽ kéo dài tới ngày 2 tháng 9).

Địa điểm: Tại chùa, từng gia đình cộng đồng Khơmer thuộc huyện Tri Tôn hoặc Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Nội dung: Trường đua bò thường là một khu đất rộng khoảng 60m, dài chừng 170m xung quanh có bờ đất cao đồng thời là nơi dành cho khán giả. Đường đua trên mặt ruộng nước dài khoảng trên 100m, rộng khoảng 4m; hai đầu cắm mốc xuất phát và đích.

Mỗi giải đua ấn định 38 đôi bò được lựa chọn sau các lần đua ở vòng loại tại các xã. Nhiều con tham gia giải nhiều năm, chúng đều to khoẻ, dáng đẹp: đầu to, lưng thẳng, xương chắc, đuôi dài, tai ngắn và nhỏ, cổ tròn và cặp mắt hiền lành. Đối với những người có kinh nghiệm chọn bò lâu năm thì đôi bò tốt còn là tài sản theo đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng, vì đôi bò thắng trận sẽ có gần 20 triệu đồng. Tuy nhiên chủ bò không bao giờ bán đôi bò của mình nếu giành giải nhất, vì đó là niềm vinh dự của gia đình và cộng đồng.

Vào cuộc đua, đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt, gọng bừa là bàn đạp bao gồm một tấm gỗ rộng 30cm, dài 90cm, bên dưới là răng bừa. Lúc này các tài xế được phân thành cặp và làm thủ tục chọn cặp đua trước, đua sau. Không giống như đua xe, tất cả xuất phát cùng một lúc. Đua bò lại thi hai đôi một: đôi trước, đôi sau. Mỗi cặp bò đều phải kéo theo một giàn bừa đã được cưa ngắn bớt răng. Người điều khiển đứng trên giàn bừa vung roi như khi đang bừa trên ruộng, do vậy họ phải đứng để không bị ngã, nếu ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa thì phạm luật và thua cuộc. Ngày nay thể thức đua bò đã được cải tiến hơn xưa rất nhiều: cuộc đua diễn ra trên mặt ruộng có nước chứ không phải trên mặt đường như trước đây, vì vậy tính mạng của người điều khiển bò an toàn hơn. Tuy có một số thay đổi nhưng lệ vẫn giữ  nhiều quy ước cũ.

Cuộc đua chia làm hai vòng: vòng hu và vòng thả, hết vòng hu đến vòng thả. Có thể hiểu vòng hu là vòng loại của cuộc đua, còn vòng thả mới phản ánh đầy đủ sức mạnh của cặp bò cùng tay nghề, bản lĩnh của người điều khiển.

Vào vòng hu, mỗi đôi bò phải đi dạo hai vòng quanh trường đua để trình diễn và khởi động. Nếu đôi bò nào đạp vào bừa của đôi bò khác là bị loại.

Ngược lại, lệ quy định ở vòng thả khác với vòng hu, nếu đôi bò nào ở phía sau đạp vào bừa của đôi bò trước thì lại thắng cuộc. 

Đua bò ở An Giang đã có từ hàng trăm năm nay. Sự kiện này là dịp những người đàn ông trong phum sóc trổ tài dũng cảm, sự khôn khéo của mình trước cộng đồng. Hàng ngày những tài xế, chủ bò là những nhà nông chân lấm tay bùn, nhưng lúc này họ được tôn vinh là nhân vật chính của ngày hội.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ hội ngày 29 tháng 8 âm lịch - Lễ DOLTA Và Hội Đua Bò

Tướng phụ nữ hại chồng –

Danh xưng hình khắc ở đây có nghĩa rất rộng rãi. Nhẹ thì hàm ý rằng khi lấy chồng, vợ chồng sẽ xung đột, gia đạo sóng gió, ít khi có hạnh phúc, nặng thì biểu lộ sự hung hiểm xảy đến cho người chồng công danh sự nghiệp, sức khoẻ hoặc sinh mạng, vợ chồ
Tướng phụ nữ hại chồng –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phụ nữ hại chồng –

Đặt tên hay cho người tuổi Ngọ

Căn cứ vào bản tính của loài ngựa và các mối quan hệ tương sinh tương khắc với những con giáp còn lại, người xưa đúc rút cách đặt tên hay cho người tuổi Ngọ.
Đặt tên hay cho người tuổi Ngọ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Căn cứ vào đặc điểm về bản tính của loài ngựa và các mối quan hệ tương sinh tương khắc với những con giáp còn lại, người xưa đúc rút cách đặt tên hay cho người tuổi Ngọ.


Dat ten hay cho nguoi tuoi Ngo hinh anh
Ảnh minh họa

1. Dựa vào đặc tính sinh sống
  Ngựa là loài động vật ăn cỏ, các loại ngũ cốc, đi lại trong rừng và ở những nơi có thể tránh mưa gió. Do đó, có thể dùng các chữ có bộ Thảo, Hòa, Mạch, Thục, Đậu, Túc, Mộc và Miên để đặt tên cho người tuổi Ngọ.   Những tên hay cho người tuổi Ngọ: Phù, Chi, Lan, Hoa, Linh, Nhược, Diệp, Mậu, Như, Thảo, Tú, Thu, Khoa, Tắc, Tích, Dĩnh, Tô, Phong, Đậu, Diễm, Thụ, Lâm, Đông, Vinh, Nhu, Kiệt, Sâm, Sở, Nghiệp, Thủ, An, Tông, Gia, Thực, Bảo, Dung, Nghi…   Ngoài ra, thích hợp dùng những bộ thủ có nghĩa chỉ y phục như Mịch, Y, Cân, Sam, bởi một con ngựa tốt mới được người ta khoác lên mình nó y phục màu sắc.    Những tên thích hợp bao gồm các bộ trên: Sam, Bành, Chương, Đồng, Bân, Ngạn, Thái, Ước, Thần, Duyên, Cương, Luyện, Kỷ, Viên, Trang, Tịch, Phàm…   Có thể dùng những tên có bộ Mục để đặt cho người tuổi Ngọ, bởi điều đó thể hiện con ngựa có mắt tinh nhanh, đẹp và có duyên với  người, bao gồm: Trực, Tương, Chân, Mục, Mi…
2. Dựa vào mối quan hệ tương sinh với những con giáp khác
 
Dần – Ngọ - Tuất thuộc mối quan hệ tam hợp. Theo đó, có thể dùng các chữ như Dần, Tuất để đặt tên cho người tuổi Ngọ: Dần, Hiến, Thành, Quần, Kiến, Mĩ, Nghĩa…   Ngoài ra, những tên có ý nghĩa miêu tả dáng vẻ của rồng cũng thích hợp để đặt cho người tuổi Ngọ. Vì nó tượng trưng cho “tinh thần long mã”, nghĩa là tích cực, có sức sống, nhanh nhẹn và thành công, bao gồm: Long, Thìn, Nông, Thần…   3. Những tên cần tránh
 
Người tuổi Ngọ kị những chữ có chứa bộ Điền, Sơn vì nó không thích bị gò bó, phải kéo cày ở đồng hay chạy đường núi.   Những tên cần tránh bao gồm: Phú, Do, Nam, Điện, Giới, Đơn, Lưu, Cương, Đương, Nhạc, Đại, Dân, Tuấn, Phong, Tung…   Bên cạnh đó, không nên dùng các tên có chữ Khẩu, Nhân, Kỳ vì ngựa sợ bị dính vào chuyện thị phi khiến làm việc gì cũng không thuận lợi hoặc ngựa bị đè đầu cưỡi cổ, buồn rầu không kiên cường: Phẩm, Cáp, Hỉ, Ca, Gia, Kỳ, Cơ, Đắc, Đồ, Đức, Dịch, Phục, Nhân, Trưng…   Ngoài ra, không nên dùng những tên có chữ Tý, Thủy, Nhâm, Băng, Quý, Bắc, vì dễ có sự tương xung giữa Thủy và Hỏa, vì người tuổi Ngọ thuộc hành Hỏa nên không thích hợp với việc chọn chữ Thủy để đặt tên. Những tên đó là: Thủy, Vĩnh, Băng, Cầu, Quyết, Hà, Dương, Tân, Hồng, Hải, Hàm, Lâm, Hiếu, Mạnh, Học, Tự, Quý…
Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt tên hay cho người tuổi Ngọ

Hình thể khu vườn

Theo khoa Phong Thủy, hình thể của lô đất mà trên đó chúng ta xây cất, hoặc là nơi căn nhà của chúng ta đang an vị, là rất quan trọng. Hình dáng bình thường, đều đặn, không có chỗ nào bị khuyết là tốt nhất. Chúng ta có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để tạo cho khu đất có hình dáng bình thường hơn so với hình dáng sẵn có của nó.
Hình thể khu vườn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những hàng rào hoặc giàn cây leo có thể chia lô đất có hình dáng xô lệch, không thẳng hàng thành các khu đất riêng biệt để dễ dàng xử trí hơn.

Việc sử dụng các chất liệu khác nhau để tạo ra các bờ đê có thể giúp phân ranh và, tất nhiên, cây trồng cũng có thể góp phần khai mở hoặc che đậy những không gian khó khăn nhất. Những sáng tạo trong việc trồng cây dường như có khả năng tạo ra mọi ảo giác mà chúng ta muốn.

Lô đất hình chữ nhật

Theo Phong Thủy, một lô đất hình chữ nhật được xem là lý tưởng. Căn nhà nên được đặt ngay giữa lô đất để khu vườn quanh nhà có tỉ lệ cân xứng với căn nhà.

Lô đất hình tam giác

Lô đất hình tam giác không được coi là tốt trong Phong Thủy vì các điểm nhọn của nó khiến cho chúng ta có cảm giác của một lưỡi dao. Thế đất này thật khó giải quyết vì chúng tạo ra ba khu vực chứa năng lượng ứ đọng.

Tuy nhiên, chúng ta có thể hóa giải bằng cách bố trí cây trồng và thiết lập những cảnh trí một cách cẩn thận để tạo ra ảo giác rằng đây là một lô đất có hình dạng bình thường. Một phương án khác là trồng cây dọc theo đường ranh thật dày và xây dựng các lối đi uốn lượn bên trong khu vườn.

Lô đất hình tròn và hình chữ l

Lô đất hình tròn rất khó. Mặc dầu luồng khí có thể luân lưu tự do, thoải mái nhưng thật khó lưu giữ nó và nên tạo một hình thể khác, ổn định hơn bên trong khuôn viên hình tròn để kê ghế ngồi. Với thế đất hình chữ L và các hình bất thường khác, tốt nhất nên phân thành các khu vực có hình dáng bình thường để dễ xử lý.

Tiền sảnh sáng sủa

Tiền sảnh sáng sủa nguyên thủy là một hồ nước phía trước nhà. Chức năng của nó là tụ khí và duy trì vùng không gian thông thoáng ở đó. Đó cũng có thể là hình thức của một khu vườn bị nhận chìm hoặc đơn giản là một không gian tụ họp rộng thoáng.

Ngày nay đó là không gian ngay cửa trước. Khu vực này nên cân xứng với mặt trước của căn nhà và nên được chăm sóc cẩn thận để luôn được sạch sẽ, gọn gàng.
Theo Nghệ thuật bài trí nhà cửa theo khoa học Phương đông.

Phong thủy tổng hợp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình thể khu vườn

Văn hóa khai trương, mở hàng năm mới

“Đầu xuôi đuôi lọt” là cở sở lý luận của tập quán khai trương. Bất kỳ sự việc nào cũng có bắt đầu, và “vạn sự khởi đầu nan”, nếu đã mở đầu được và mở đầu một cách tốt đẹp thì sự việc sẽ phát triền đến kết thúc tốt đẹp, ít nhất là trong niềm hy vọng của con người. Vấn đề là làm thế nào để có một mở đầu tốt đẹp ?
Văn hóa khai trương, mở hàng năm mới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nghề buôn bán bất kỳ thời nào cũng không thể loại bỏ yếu tố may rũi trong  công việc làm ăn. May rủi là một thực  thế ở ngoài khả năng kiểm soát của con người nên người ta đành trông cậy vào những sức mạnh siêu tự nhiên,và trong tập quán khai trương không tránh khỏi những điều mê tín. Có một số nghi thức vô hại, có một số có tác dụng tích cực đối với việc buôn bán, đương nhiên cũng có vài điều bất lợi . người buôn bán mỗi đầu ngày đều có “mở hàng”, mỗi đầu năm lại “khai trương”,  tùy theo tầm cỡ và tính chất việc làm ăn mà thực hiện những nghi thức khác nhau.

Một người buôn bán nhỏ ở chợ thì đầu ngày phải dọn hàng sớm, bày biện hàng hóa sao cho hấp dẫn khác, chuẩn bị cho mình một tâm lý phấn khởi chờ đón người “mở hàng” cho mình. Để cho sự “mở hàng” tốt đẹp, người bán phải chuẩn bị hàng hóa bao bì để làm vừa lòng khách hàng đã đành, lại còn phải chuẩn bị “tiền lẻ” để thối  lại trong trường hợp cần thiết. Khách hàng đưa tiền mà mình bối rối vì không có tiền thối lại, khiến việc mua bán trục trặc là điều kiêng kỵ. Kỵ nhất là đầu ngày đầu năm mà đi “đổi tiền”.  vỉ không ai muốn cái may (hoặc rủi) của mình chạy qua người  khác hay ngược lại. Khách mở hàng đưa tiền lớn, người bán có sẵn tiền thối lại, tiền  bạc sòng phẳng, coi như một mở hàng tốt đẹp, vì có “đồng ra đồng vào”.

Việc “thuận mua vừa bán” cũng là một mở hàng tốt đẹp; người bán thường không nói thách quá cao với người khách đầu tiên, e họ trả giá sát quá hay không chịu mua, mở hàng mà không bán được là xui xẻo. Người buôn bán dở cho rằng phải “chửi” người  khách mở hàng mà không mua, hay đối phong long để xả xui. “vía” người mở hàng cũng quan trọng, những người “nặng bóng vía” mặt mũi lầm lì, tướng tá lù đù không nên “mở hàng” người ta. Người buôn bán có kinh nghiệm thường ghi nhận một số khách quen có “vía tốt”, mời mọc hya nhờ họ “mở hàng” để lấy hên.

Việc buôn bán là để kiếm tiền, nên nhiều người buôn bán thờ cúng Thần Tài, người bán hàng rong hay bán lẻ ở chợ thì thờ Tần Tài ở nhà, trước khi đi bán thì thắp một cây nhang để khấn vái Thần Tài phù hộ buôn may bán đắt. Ngày đầu năm đầu tháng hay rằm thì cúng hoa quả. Thường thì Thần Tài được thờ ở ngay cửa hàng, trước khi mở hàng chủ cũng thắp một nén nhang. Do yêu cầu phòng cháy, nhiều chợ đông qui định cấm đốt nhang hay giấy vàng bạc trong chợ, nên nhiều người chỉ khấn suông Thần Tài. Với luật lệ  con người Thần Thánh cũng chước cho.

Tất cả những nghi thức “mở hàng” đầu ngày  đó được “nâng cao” vào ngày “khai trương” đầu năm. Như cúng Thần Tài trang trọng hơn, có gà thịt tôm cua ngoài hoa quả. Trước khi khai trương phải chọn ngày giờ tốt, có người đi chùa rước lộc về gởi Thần Tài giữ, nhờ người có “vía tốt” mở hàng. Ngày tốt thường là ngày chẳn như mùng 2, mùng 4, mùng 6. Có khi ngày tốt nhằm vào mùng hai Tết, người ta vẫn cúng mở hàng, mua bán tượng trưng, rôì đóng cửa hàng đi chơi tiếp. Với những người buôn bán hàng ăn uống và làm dịch vụ giải trí ngày Tết thì không thể đợi đến ngày tốt mà bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Lúc đó phải coi giờ, vì trong ngày xấu vẫn có giờ tốt. Đại khái thần thánh cũng chước cho qui luật thị trường.

Những người kinh doanh lớn thì có nghi thức khai trương xôm tụ hơn, rước lân rồng đến cùng Thần Tài. Bài múa lân khai trương khác với múa lân chúc Tết. Rồng bạc và rồng vàng được ưa chuộng vì tượng trưng cho vàng bạc tới nhà. Sau phần múa lân rồng, thường có biểu diễn võ thuật và khí công. Người ta tin là điều đó đem lại “khí lực” cho công việc làm ăn phát đạt. điều đó cũng thu hút dân chúng tụ tập xem và cổ vũ, taọ không khí “tấp nập” cần thiết cho việc kinh doanh.

Khai trương mở hàng không chỉ là hoạt động thương mại  mà còn là một khía cạnh văn hóa. Ngày xưa việc khai trương là nghi thức trọng đại được tiến hành nghiêm túc chặt chẽ, có nhiều điều kiêng kỵ. Ngày nay rất nhiều kiêng kỵ đã bãi bỏ vì không phù hợp nếp sống mới, và vì người buôn bán có tri thức hơn về quản l kinh doanh, hiểu biết thị trường. Thí dụ trước đây người ta không mua bán vào ngày mùng một Tết, nhất là thức ăn uống. (Lệ xưa nhà nhà đều dự trữ thức ăn cho ngày Tết, mùng Một không mua sắm).

Nhưng ngày nay tết nhất người ta lại kéo nhau đến các khu vui chơi, đương nhiên nảy sinh nhu cầu ăn uống. kinh doanh ẩm thực không thể nào “nghỉ tết” hay chờ mùng 6 mới khai trương.  Nhiều người buôn  bán nhỏ quanh năm  suốt tháng không có cả ngày nghỉ tết, nên cũng không bận tâm chuyện “khai trương”. Nhiều người  giỏi kinh doanh lợi dụng “khai trương” như một cơ hội quảng cáo, tính toán ngày giờ, nghi thức khai trương khoa học và dựa theo cơ chế thị trường, chủ động taọ thuận lợi cho việc làm ăn.

Tuy việc kinh doanh vẫn có yếu tố may rủi, nhưng người ta tự mình dốc hết sức rồi mới trông cậy đến trời.

Nhà văn Lý Lan


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn hóa khai trương, mở hàng năm mới

Đẩu Số Cốt Tủy Phú Chú Giải

Tác Giả: Vũ Tài Lục
Đẩu Số Cốt Tủy Phú Chú Giải

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tiên minh cách cuộc
Thứ khán ác tinh
Yêu tri nhất thế chi vinh khô
Định khán ngũ hành chi cung vị
Đệ nhất thị khán thân mạng
Tài tam tế khảo thiên di
Phân đối cung chi thể dụng
ĐỊnh tam hợp chi nguyên lưu
Mạng vô chính diệu yểu chiết cô bần
Cát hữu hung tinh mỹ ngọc hà điếm
Ký đắc căn cơ kiên cố
Tu tri hợp cuộc tương sinh
Kiên cố tắc phú quý diên thọ
Tương sinh tắc tài quan chiêu trước
Mệnh hảo thân hảo hạn hảo đáo lão vinh xương
Mệnh suy thân suy hạn suy, chung thân khất cái
Giáp Quý giáp Lộc thiểu nhân tri
Giáp Quyền giáp Khoa thế sở nghi.
Giáp Nhật giáp Nguyệt thuỳ năng ngộ
Giáp Xương giáp Khúc chủ quý hề
Giáp Không giáp Kiếp chủ bần tiện
Giáp Kình giáp Đà vi khất cái
Liêm Trinh Thất Sát phản vi tích phú chi nhân
Thiên Lương Thái Âm khước tác phiêu bồng chi khách
Liêm Trinh hãm, hà tiện cô hàn
Thái Âm vượng, nhất sinh khoái lạc
Tiền bần hậu phú Vũ Tham đồng thân mạng chi cung
Tiền phú hậu bần chỉ vị vận hạn phùng Kiếp Sát
Xuất thế vinh hoa, Quyền Lộc thủ tài quan chi vị
Sinh lai bần tiện, Kiếp Không lâm tài Phúc chi hương
Văn Khúc Văn Xương vi nhân đa học đa năng
Tả Phụ Hữu Bật bình tính khắc khoan khắc hậu
Thiên Phủ Thiên Tướng nãi vi y lộc chi thần
Vi sĩ vi quan, định chủ hanh thông chi triệu
Miêu nhi bất tú, Khoa danh hãm ở hung thần
Phát bất chủ tài, Lộc chủ triền ư nhược địa (Tý Ngọ Thân Dậu là nhược địa của Hoá Lộc)
Thất Sát triều đẩu, tước lộc vinh xương
Tử Phủ đồng cung, chung thân phúc hậu
Tử Vi cư Ngọ vô sát tấu, vị chí công khanh
Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù yêu kim ý tử
Khoa Quyền Lộc củng, danh dự chiêu chương
Vũ Khúc miếu viên, uy danh hách dịch
Khoa minh Lộc ám vị liệt tam thai
Nhật Nguyệt đồng lâm quan cư hầu bá
Nhật Nguyệt đồng lâm luận đối cung
Bính Tân nhân ngộ phúc hưng long
Cự Cơ đồng cung, công khanh chi vị
Tham Linh tịnh thủ, tướng tướng chi danh
Thiên Khôi Thiên Việt cái thế văn chương
Thiên Lộc Thiên Mã kinh nhân giáp đệ
Tả Phụ Văn Xương hội cát tinh, tôn cư bát toạ
Tham Lang Hoả tinh cư miếu vượng danh chấn chư bang
Cự Nhật đồng cung quan phong tam đại
Tử Phủ triều viên, thực lộc vạn chung
Khoa Quyền đối củng, dược tam cấp ư Vũ Môn (cá hoá rồng)
Nhật Nguyệt tịch minh, tá cửu trùng kim điện
Phủ Tứơng đồng lai hội mạng cung, toàn gia thực lộc
Tam hợp minh châu sinh vượng địa, ổn bộ thiềm cung
Thất Sát Phá Quân nghi xuất ngoại
Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân
Tử Phủ Nhật Nguyệt cư vượng địa, đoán định công hầu khí
Nhật Nguyệt Khoa Lộc Sửu cung trung, định thị phương bá công
Nhật Nguyệt Sửu Mùi mạng trung phùng
Tam phương vô cát phước nan hưng
Nhược hoàn cát hoá phương vi mỹ
Phương diện uy quyền phúc lộc tăng
Thiên Lương Thiêm Mã hãm, phiêu đãng vô nghi
Liêm Trinh, sát bất gia, uy danh viễn bá
NHật chiếu Lôi môn, phú quý vinh hoa
Nguyệt lãng Thiên môn tiến tước phong hầu
Dần phùng Phủ Tướng, vị đăng nhất phẩm chi vinh
Mộ phùng Tả Hữu tôn cư bát toạ chi quý
Lương cư Ngọ vị quan tư thanh hiển
Khúc ngộ Lương tinh vị chí đài cương
Khoa Lộc tuần phùng, Chu Bột hân nhiên nhập tướng
Văn tinh ám củng, Giả Nghị doãn hỷ đăng khoa
Kình Dương Hoả Tinh, uy quyền xuất chúng
Đồng hành Tham Vũ uy áp biên di
Lý Quảng nan phong, Kình Dương phùng ư Lực Sĩ
Nhan Hồi yểu chiết, Văn Xương hãm ư Thiên Thương
Tử Vũ tài năng, Cự tú, Đồng Lương xung thả hợp
Dần Thân tối hỷ Đồng Lương hội
Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cụ Môn
Lộc đảo Mã đảo, kỵ Thái Tuế chi hợp Kiếp Không
Vận suy hạn suy hỷ Tử Vi chi giải hung ác
Cô bần đa hữu thọ
Phú quý uc yểu vong
Điếu Khách Tang Môn Lục Châu hữu truy lâu chi ách
Quan Phù Thái Tuế, Công Dã hữu luy tiết chi ưu
Hạn chí Thiên La Địa Võng, Khuất Nguyên nịch thủy chi vong
Vận ngộ Địa Kiếp Thiên Không, Nguyễn Tịch hữu bần cùng chi khổ
Văn Xương Văn Khúc hội Liêm chỉ táng mạng yểu niên
Mạng Không, hạn Không vô cát tấu, công danh tắng đắng
Sinh phùng Thiên Không do như bán thiên chiết xứ
Mạng trung ngộ Kiếp cáp như lãng lý hành thuyền
Hạng Vũ anh hùng, hạn ngộ Thiên Không nhi táng quốc
Thạch Sùng cự phú, hạn hành Địa Kiếp dĩ vong gia
Lữ Hậu chuyên quyền, lưỡng phùng Thiên Lộc, Thiên Mã
Dương Phi hảo sắc, tam hợp Văn Khúc Văn Xương
Thiên Lương ngộ Mã, nữ mạng tiện nhi thả dâm
Văn Khúc giáp Trì, nam mạng quý nhi thả hiền
Cực cư Mão Dậu, đa vi thoát tục chi tăng
Trinh cư Mão Dậu, định thị công tư tại bối
Tả Phủ đồng cung, tôn cư vạn thặng
Liêm Trinh Thất Sát, lưu đãng thiên nhai
Đặng Thông ngã tử, vận hành Đại Háo (Hao) chi hương
Phu Tử tuyệt lương hán đáo Thiên Thương chi nội
Linh Xương La Vũ, hạn chí đầu hà
Cự Hoả Kình Dương, chung thân ải tử
Mạng lý phùng Không, bất phiêu lưu tất chủ tất khổ
Mã đầu đới kiếm, phi yểu chiết tắc chủ hình thương
Tý Ngọ Phá Quân gia quan tiến lộc
Xương Tham cư mạng, phấn cốt thoái chi
Triều đẩu ngưỡng đẩu, tước lộc vinh hoa
Đan Trì Quế TRì tảo loại thanh vân chi chí
Hợp Lộc củng Lộc đôi kim ngọc
Tước lộc cao thiên ý cẩm bào
Âm Dương hội Xương Khúc xuất thế vinh hoa
Phụ Bật ngộ tài quan, y phi trước tử
Cự Lương tương hội Liêm Trinh tính
Hợp Lộc uyên ương nhất thế vinh
Vũ Khúc nhân cung đa xảo nghệ
Tham Lang hãm địa tác đồ nhân
Khôi tinh lâm mạng, vị liệt tam thai
Vũ Khúc cư Càn, Tuất Hợi thượng
Tối pha Thái Âm phùng Tham Lang
Hoá Lộc hoàn vị hảo
Hưu tướng mộ trung tàng
Tý Ngọ Cự Môn thạch trung ẩn ngọc
Minh Lộc Ám Lộc cẩm thượng thêu hoa
Toạ thủ là minh nhị hợp là ám
Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân
Phú nhi bất thật hữu hư danh
Xương Khúc Phá Quân phùng
Hình khắc đa lao lục
Tham Vũ mộ trung cư
Tam Thập tài phát phúc
(Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân
Vận quá tam thập phương diên thọ)
Thiên Đồng Tuất cung vi phản bối
Đinh nhân hoá cát chủ đại quý
Cự Môn Thìn Tuất vi hãm địa
Tân nhân hoá cát lộc tranh vanh
Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối, nãi vị thất huy
Thân Mạng định yếu tinh cầu, khủng sai phân số
Âm chất diên niên tăng bách phúc
Chí ư hãm địa bất tao thương
Mạng thật, hạn kiên, cảo điền đắc vũ
Mạng suy, hạn nhược, nộn thảo tao sương
Luận mạng tất suy tính thiện ác
Cự Phá Kình Dương tính tất cương
Phủ Tướng Đồng Lương tính tất hảo
Hoả Kiếp Không Tham tính bất thường
Xương Khúc Lộc Cơ thanh tú xảo
Âm Dương Tả Hữu tối từ tường
Vũ Phá Trinh Tham xung hợp, khúc toàn cố quý
Dương Đà Thất Sát tương tạp, hỗ kiến tắc thượng
Tham Lang Liêm Trinh Phá Quân ác
Thất Sát Kình Dương Đà La hung
Hoả Tinh Linh tinh chuyên tác hoạ
Kiếp Không Thương Sứ hoạ trùng trùng
Cự Môn Kỵ tinh giai bất cát
Vận thân, mạng, hạn kỵ tương phùng
Cánh kiêm Thái Tuế Quan Phù chí
Quan phi khẩu thiệt quyết bất không
Điếu Khách Tang Môn hựu tương ngộ
Quản giao tai bệnh nhi tương công
Thất Sát thủ thân chung thị yểu
Tham Lang nhập mạng tất vi xương
Tâm hảo Mệnh vi diệc chủ thọ
Tâm độc mạng hậu diệc yểu vương
Kim nhân mạng hữu thiên kim quý
Vận khứ chi thì khởi cửu trường
Số nội bao tàng đa thiểu lý
Học giả tu đương tử tế tường.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đẩu Số Cốt Tủy Phú Chú Giải

Thiền Viện Tịnh Chiếu - Bà Rịa - Vũng Tàu

Thiền Viện Tịch Chiếu là nơi địa thế khá lý tưởng, lại là một trong những danh lam đẹp của khu du lịch Long hải tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Thiền Viện Tịnh Chiếu - Bà Rịa - Vũng Tàu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiền Viện Tịnh Chiếu tọa lạc tại ấp Hải Điền, Thị Trấn Long Hải, huyện Long Đất, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu – Một không gian êm đềm và tĩnh mịch với âm thanh líu lo của tiếng chim hót như vọng về từ xa xăm, những vườn cây xanh mát đang xào xạc trong buổi sớm mai. Đặt chân đến đây, tự nhiên bạn sẽ cảm thấy cõi lòng mình như dịu lại, bình an… tâm hồn trở nên cởi mở và tan hòa vào khung cảnh thiên nhiên cô tịch.

Thiền Viện Tịch Chiếu là nơi có kiến trúc giống Thiền viện Thường Chiếu của Hoà Thượng Thích Thanh Từ, được nằm nơi địa thế khá lý tưởng, lại là một trong những danh lam đẹp của khu du lịch Long hải.

Năm 1973, Thiền Viện Tịch Chiếu, nguyên là hai Tịnh Thất nhỏ: Tịnh Thất Quan Âm của hai bà Trần Thị Tư (Tịnh Ngọc), Trần Thị Bảy (Tịnh Bửu), và Tịnh Thất của Sư Cô Thích Nữ Diệu Quang xây dựng, khi ấy có tên là Quan Âm Viện.

Năm 1988, hai Phật tử Tịnh Ngọc và Tịnh Bửu cúng dường hai Tịnh Thất và gần nữa mẫu đất cho Hoà Thượng Thích Thanh Từ. Hoà Thượng chỉ định hai đệ tử là Thích Nữ Hạnh Thanh và Thích Nữ Diệu Tánh về hai Tịnh Thất này. Hai Sư Cô Hạnh Thanh và Diệu Tánh xin sát nhập hai Tịnh Thất này thành Thiền Viện Tịch Chiếu.

Năm 1993, hai Sư Cô xây dựng lại thành Thiền Viện mới như tình trạng hiện nay. Nơi Thiền Viện này, hai Sư Cô đã tạo được gần hai chục Thiền Sinh cho Ni Giới.

Thiền Viện Tịch Chiếu gồm Chánh Điện, Nhà Tổ,Trai Đường và phòng của Ni chúng. Sân trước chùa trang trí với nhiều loại cây cảnh quí như tùng bách, trắc bá diệp, thiên tuế… và các loại hoa đẹp. Vườn hoa nhỏ nhưng chăm sóc công phu, mỹ thuật và mang nét Thiền Vị. Chánh điện xây theo hình vuông, cạnh 11m, nóc hai tầng mái ngói theo kiểu chùa xưa, tường đúc và xây gạch với nhiều khung cửa kiếng, kiến trúc đơn giản nhưng kiên cố và khang trang. Chánh điện thờ Phật Thích Ca, đơn giản nhưng trang nghiêm. Sau Chánh Điện là Nhà Tổ, cách một sân lộ thiên nhỏ.

tichchieu
Nhà Tổ

Giữa sân là hòn Non Bộ với ý nghĩa biểu trưng của hội Linh Sơn với sự tích “Niêm Hoa Vi Tiếu” (Giơ cành hoa, mĩm cười): Trong Pháp Hội trên núi Linh Thứu (Ấn Độ), Đức Phật Thích Ca không nói lời nào, chỉ cầm cành hoa giơ lên ! Tăng chúng không hiểu gì, tất cả đều im lặng, chỉ có một mình Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp nhìn cành hoa, miệng mĩm cười. Đức Phật nói: Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng, Vi Diệu Pháp Môn, Bất Lập Văn Tự, Giáo Ngoại biệt truyền, giao phó cho Ma Ha Ca Diếp. Đây là sự tích của việc ” Truyền Tâm Ấn” trong Thiền Tông.

Non Bộ còn trang trí có tượng Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Di Lạc, nhắc cho người xem hạnh Từ Bi – Hỷ Xả của chư Phật, Bồ Tát. Hòn Non Bộ tuy nhỏ, nhưng trang trí mỹ thuật, nói lên ý nghĩa Phật Pháp thâm sâu, tăng thêm ” Thiền Vị” cho khách hành hương khi viếng Thiền Viện Tịch Chiếu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thiền Viện Tịnh Chiếu - Bà Rịa - Vũng Tàu

Hình dáng tai cho biết phúc lộc của con người

Trong nhân tướng, chỉ cần xem ngũ quan trên khuôn mặt là có thể đoán biết được phúc khí của một người, hình dáng tai xấu hay đẹp cũng góp phần quyết định phúc
Hình dáng tai cho biết phúc lộc của con người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong nhân tướng, chỉ cần xem ngũ quan trên khuôn mặt là có thể đoán biết được phúc khí của một người, tướng tai xấu hay đẹp cũng góp phần quyết định phúc khí cả đời.


► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Nhan tuong hoc luan phuc loc qua hinh dang tai hinh anh
Ảnh minh họa

1. Vành tai mềm mại – thiếu dũng khí

 
Dùng tay sờ vào vành tai, nếu có cảm giác mềm mại thì người này đích thị là người có lối suy nghĩ tiêu cực, không có chính kiến, thiếu sự can đảm. Nếu nhìn chính diện khuôn mặt mà không thấy vành tai thì là người nhát gan, hành động nhút nhát, nếu muốn người này làm việc tốt thì cần có người bên cạnh giúp sức và đốc thúc. Hơn nữa, người này mỗi khi gặp chuyện quan trọng thì lại không có chính kiến, do dự, cả tin và thường dễ bị lừa gạt. Đàn ông có vành tai mềm thì hay sợ vợ.
 
2. Vành tai lớn – cẩn trọng, sáng suốt
 
Người có vành tai lớn thường rất thông minh, lỗ tai lớn thì rộng lượng, bao dung. Hình dáng vành tai càng lớn thì càng có phúc khí, là người có lý trí mạnh mẽ, ham học hỏi, thích tìm tòi, khám phá cái mới. Người này cũng rất sáng suốt, phân biệt rõ trắng đen phải trái. Vành tai lớn cũng là biểu hiện của người có sức khỏe tốt, có cá tính và vô cùng cẩn thận. Trong công việc rất tập trung, làm đến nơi đến chốn, có nhiều ý tưởng sáng tạo, sự nghiệp ắt sẽ thành công.
 
3. Tai nhỏ - hành động theo cảm tính, dễ xúc động
 
Người có tai nhỏ là người hành động theo cảm tính, khá tinh tế trong chuyện tình cảm nhưng ý chí lại không đủ kiên định, dễ bị lung lay bởi ý kiến của người khác, cuộc sống có chút mơ hồ. Bên cạnh đó, người này cũng dễ xúc động, nhanh mồm nhanh miệng nhưng lại khá nôn nóng, làm việc không tính toán, không kế hoạch nên cả đời khó đạt thành công, không thích hợp với việc buôn bán.   4. Vành tai dày – số phú quý
 
Người có vành tai dày là người có phúc khí, có số hưởng thụ, vành tai càng dày thì càng giàu có. Người này cũng có sức khỏe tốt, tính tình thoải mái, biết thông cảm với người khác, gia đình hạnh phúc, mối quan hệ đối nhân xử thế cũng không tồi. Về cơ bản, những người này không có tham vọng lớn nhưng họ lại không thiếu tiền tiêu và tài sản thì không ngừng gia tăng một cách tự nhiên.   
Nhan tuong hoc luan phuc loc qua hinh dang tai hinh anh
Ảnh minh họa

5. Không có dái tai – kiếm tiền khó khăn

 
Dái tai mỏng và nhỏ là người có trí tưởng tượng phong phú, giàu tình cảm và có tính cách hướng nội nhưng hơi ảo tưởng và hành động thường không có kế hoạch, nhất thời thường xử sự thiếu suy nghĩ. Nếu dái tai nhọn thì vận tiền tài kém, chi nhiều hơn thu, thường gặp thất bại hoặc rủi ro. Người này muốn thành công không phải là chuyện dễ dàng, cần nâng cao năng lực và coi trọng việc quản lý tài sản hơn nữa.   6. Tai dài – trường thọ
 
Người có tai dài là người trường thọ, thông minh và nhạy bén, cần cù và cẩn thận. Những người này có ít dục vọng, bằng lòng với cuộc sống hiện tại, sống một cách bình thản, họ chỉ mong muốn về già được sum vầy cùng con cháu.    7. Tai ngắn – bảo thủ
 
Người có tai ngắn là người bảo thủ, không có chủ kiến, thường hay ỷ lại, nhút nhát, an phận với cuộc sống hiện tại, không theo đuổi những mục tiêu mới trong cuộc sống. Những người này dù bên ngoài rất bình thản nhưng trong lòng lại có rất nhiều ảo tưởng, luôn mong muốn rằng mình sẽ làm một việc gì đó để được mọi người khen ngợi. 

8. Tai lệch – dũng cảm, lý trí, làm việc cẩn thận
 
Vành tai sát vào đầu, nhìn nghiêng có vẻ hơi lệch là người tương đối thông minh, có lý trí, làm việc có kế hoạch, khả năng giữ bình tĩnh tốt. Không chỉ vậy, những người này còn rất am hiểu đạo lý, khá chu đáo và có tinh thần làm việc tốt. Khi gặp khó khăn những người này sẵn sàng đối mặt nên cũng dễ dàng gặt hái được thành công.

Nhan tuong hoc luan phuc loc qua hinh dang tai hinh anh
Ảnh minh họa

9. Tai dày – tiền vào như nước
Vành tai có thịt, lớn và đầy đặn là người trường thọ, nếu vành tai tròn mà lại nhiều thịt, rắn chắc thì người này có thể tự dựa vào năng lực của mình để làm nên sự nghiệp, vận khí tốt, dễ gặt hái thành công.
 
10. Tai mỏng – tiền tài không tụ
 
Người có tai mỏng là người thiếu tự tin, thường bị mất ngủ, ăn uống không có cảm giác ngon miệng, dễ bị táo bón. Người này không có sự tích tụ phúc khí, bản lĩnh kém, thường bị người khác sai bảo. Hình dáng tai đẹp nhưng lại mỏng thì cũng có chút tiền tài nhưng cũng sẽ tiêu hết một cách nhanh chóng, sự nghiệp có thể đạt được những thành tích nhất định nhưng không lớn lắm.   Duy Anh Luận tướng tai phú quý ở nữ giới Nhận biết số sướng khổ của phụ nữ qua tướng tai Xem tướng tai biết tài vận và sức khỏe
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình dáng tai cho biết phúc lộc của con người

Đường chỉ tay thể hiện EQ của bạn

EQ của một người có thể nhìn thấy được rõ nhất qua đường Trí Đạo, ngoài ra đường Sinh Đạo cũng phần nào thể hiện điều này.
Đường chỉ tay thể hiện EQ của bạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

EQ là một bộ những kỹ năng bao gồm: Biết mình; tính lạc quan; khả năng lựa chọn cách phản hồi cảm xúc phù hợp nhất; sự cảm thông với mọi người.

0-3328-1406282892.jpg

- Người có đường Trí Đạo ngắn thì trí tuệ xúc cảm không cao lắm. Trong tình yêu họ thích sự yên ổn, cho rằng một mối tình yên ổn mới là thực tế.

- Cuối đường Trí Đạo bị phân nhánh, nếu phân nhánh ngắn thì EQ rất thấp; nếu phân nhánh lớn, có thể coi như hai đường Trí Đạo thì người này có EQ khá cao.

- Người có Đường Trí Đạo sâu dài và rõ ràng, trong phương diện tình cảm biết nắm bắt cơ hội, nỗ lực đạt được danh tiếng và của cải nhờ vào trí thông minh của mình, nhưng nói chung trong tình yêu cũng dễ gặp khó khăn.

- Đường Trí Đạo uốn éo chứng tỏ suy nghĩ tình cảm phức tạp, sống thiếu nguyên tắc và khá vô tổ chức, nên hay ưu sầu buồn bã.

- Có hai đường Trí Đạo, là người "hai mặt", nhưng tính tình khá ôn hòa.

- Người có đường Trí Đạo quá dài, trong suy nghĩ và hành động luôn xem bản thân là trung tâm, do quá tự tin nên khó có thể đối mặt với thất bại.

-  Đầu đường Sinh Đạo cách xa đường Trí Đạo, tính tình kiêu ngạo, không biết kiểm soát cảm xúc của mình, EQ không cao.

- Đường Trí đạo mở rộng đế tận gò Thủy Tinh, là người tính tình kiên cường, không sợ khó khăn. Đồng thời EQ khá cao, giỏi giao tiếp, chuyện tình yêu cũng nhờ vậy mà thuận lợi.

- Sinh Đạo và Trí Đạo xuất phát cùng một điểm, thích làm việc theo kế hoạch, cẩn thận tỉ mỉ, nhưng là người dễ kích động, chuyện bé xé ra to, cho nên khó phát huy được tài năng của mình.

- Đường Trí Đạo gần với đường Sinh Đạo, sau đó cắt đường Sinh Đạo, kéo dài đến tận cổ tay, người này tính tình ích kỷ, yếu đuối, không làm được việc. 

- Trên nhánh của đường Trí Đạo có đường gạch chéo, EQ cao, sắc bén, sáng suốt, phù hợp làm kinh doanh, trong tình yêu có thể khiến đối phương yêu mình sâu đậm. 

Xem tiếp

Kunie

00-1403489294-362x0-3975-1406282484.jpg

Mức độ giàu có của bạn qua đường Thái Dương

Bạn có thể dể dàng tìm thấy đường Thái Dương của mình, chính là đường chỉ từ gốc ngón áp út kéo thẳng xuống.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đường chỉ tay thể hiện EQ của bạn

Tìm may mắn cho người tuổi Mậu Thìn

Người tuổi Mậu Thìn mệnh Mộc, sinh năm 1988. Hãy cùng Lịch ngày Tốt giải mã vận mệnh cuộc đời người tuổi Mậu Thìn nhé!
Tìm may mắn cho người tuổi Mậu Thìn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Mậu Thìn mệnh Mộc, sinh năm 1988. Hãy cùng Lịch ngày Tốt giải mã vận mệnh cuộc đời người tuổi Mậu Thìn nhé! 

Cuộc đời: Số xung khắc với người thân, cuộc đời gặp nhiều vất vả nhưng hay được người giàu sang giúp đỡ.

Xem tử vi, nữ giới tuổi Mậu Thìn sinh vào mùa đông, mùa xuân là tướng quý, cả đời giàu có, phúc lộc. Nếu là nam sẽ có số may mắn, trung vận yên ổn, về già an nhàn, sung sướng.

Các tuổi đại kỵ trong cuộc đời người Mậu Thìn là: Tân Mùi, Quý Mùi. Nếu kết hợp sẽ bị tuyệt mệnh hoặc rơi và cảnh ly biệt, buồn đau.

Những tuổi khó khăn nhất của nam Mậu Thìn cần đề phòng bệnh tật, hao tài tốn của là: 25, 29, 37, 42; nữ là: 25, 28, 34, 37.

Mời bạn đọc thêm: 
Tử vi trọn đời của người tuổi Mậu Thìn nam mệnh.

tuoi mau thin
 

Tính cách: Là người hoạt bát, vui vẻ, nhạy bén. Nữ tuổi Mậu Thìn hiền lành, trung thực, nam giới mạnh mẽ, nhiệt tình trong công việc.

Tình duyên: Tuổi này đường tình duyên gặp nhiều trắc trở, phải trải qua buồn phiền, đổ vỡ sau mới hạnh phúc.

Nam Mậu Thìn sinh vào tháng: 2, 9, 10; nữ sinh vào tháng: 1, 2, 6, 9, 10 cuộc sống gia đình sẽ hòa thuận, con cháu vui vầy, làm ăn phát đạt, một đời an nhàn hưởng phúc.

Nữ giới tuổi Mậu Thìn không nên kết hôn với tuổi: Nhâm Thân, Bính Dần, Canh Thân, Mậu Dần; nam Mậu Thìn tránh kết hôn với tuổi: Nhâm Thân, Mậu Dần, Giáp Thân, Bính Dần sẽ không phải chịu cảnh xa vắng triền miên, buồn khổ.

tuoi mau thin 1
 

Gia đạo: Tuổi Mậu Thìn hay xảy ra mâu thuẫn với anh em. Đến năm 39 tuổi gia đạo mới yên ổn, hạnh phúc.

Công danh sự nghiệp: Nam tuổi Mậu Thìn nhiều năng lực, sớm đạt được công danh sự nghiệp.

Nữ giới tuổi này sự nghiệp bất ổn, khó đạt được thành công lớn. Từ 40 tuổi trở đi mới vững chắc. Có thể bạn quan tâm: Tử vi trọn đời của người tuổi Mậu Thìn nữ mệnh.

Tuổi Mậu Thìn nên kết hợp làm ăn với các tuổi Kỷ Tỵ, Quý Dậu, Ất Hợi, Đinh Sửu việc làm ăn sẽ thuận lợi, phát đạt.

Tiền bạc: Tuổi này tiền vận khó khăn, trung niên có tài lộc, về già sẽ giàu sang, phú quý.

(Theo 12 con giáp và tính cách con người qua năm sinh)

Tính cách, vận mệnh người tuổi Thìn mệnh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Xem tình duyên năm 2017 của người tuổi Thìn Tuổi Thìn hợp với tuổi nào trong tình yêu hôn nhân?
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm may mắn cho người tuổi Mậu Thìn

Nhà một phòng vẫn có phong thủy đẹp

Hiện nay, có nhiều cặp vợ chồng hoặc người độc thân do điều kiện kinh tế thường thuê nhà trọ chỉ có một phòng. Việc bố trí như thế nào để nhà trọ hợp phong
Nhà một phòng vẫn có phong thủy đẹp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện nay, có nhiều cặp vợ chồng hoặc người độc thân do điều kiện kinh tế thường thuê nhà trọ chỉ có một phòng. Việc bố trí như thế nào để nhà trọ hợp phong thủy trong một không gian nhỏ hẹp, bao gồm cả phòng bếp,  phòng ngủ, phòng tắm quả không phải là dễ.


► Mời các bạn xem hướng nhà theo tuổi để không phạm phải đại kị

Nha mot phong van co phong thuy dep hinh anh
 
1. Phân cung – điểm hướng hợp lý
Dùng các vách ngăn lửng hay tủ kệ để chia không gian, còn tính chất trường khí vẫn liên tục, không ảnh hưởng tới phong thủy nhà trọ. Có thể bố trí chỗ tiếp khách, ngủ, làm việc… cần có đầy đủ ánh sáng và thông thoáng tự nhiên, nằm về các phương vị tốt, sắp đặt lối vào các chức năng phụ như bếp, vệ sinh, lùi ra phía sau.
 
Chú ý khoảng giữa phòng luôn là Trung Cung, cần giữ thoáng đãng, xung quanh sắp xếp đồ theo chức năng và sự tiện dụng, tránh ăn ngủ ngay tại Trung Cung.
 
2. Tận dụng chiều cao và giữ trường khí thống nhất Nhà trọ một phòng thường hay thiếu các không gian riêng. Do đó, nếu chiều cao cho phép, nên tận dụng đưa một số phần lên cao như chỗ ngủ hoặc làm việc riêng, kho, tủ thờ… Chỗ cầu thang (nếu có làm gác xép nhỏ) nên tận dụng làm tủ kệ đựng đồ, trang trí.
 
Một cách tận dụng chiều cao nữa là dùng giường tầng hoặc giường ngủ trên cao, bàn làm việc dưới thấp. Khi đó, trường khí toàn phòng vẫn là một, không bị ngăn cách nhiều.
 
Muốn có nhà trọ hợp phong thủy phải sử dụng các dạng tủ kệ liên hoàn để giảm diện tích chiếm chỗ, tránh kê nhiều đồ đạc đơn lẻ mà nên tận dụng các ngóc ngách, tủ treo, khung cửa sổ làm nơi chứa đồ và kết hợp trang trí.
 
3. Giảm xung sát Các xung sát trong nhà trọ một phòng thường hay xảy ra do khu phụ và cách mở cửa. Phòng vệ sinh cũng nên đặt cửa ở vị trí kín đáo, tránh sinh hoạt trước phòng vệ sinh. Có thể đưa lavabo ra ngoài kề cận chỗ ngủ, dùng vách kính ngăn nhẹ, còn bồn cầu thì cần phải che chắn kín đáo.
 
Một dạng xung sát nữa là mở cửa vào gặp ngay giường ngủ, việc này cần khắc phục bằng cách sử dụng hệ thống đồ dùng liên hoàn và rèm che di động là có ngay nhà trọ hợp phong thủy.
 
Bình phong cũng là vật che chắn xung sát khá hữu hiệu, nên sử dụng để giảm tầm nhìn và gió lùa. Có thể kết hợp bình phong với tủ trang trí để tăng thêm tiện ích.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhà một phòng vẫn có phong thủy đẹp

Có hay không việc linh hồn tái sinh?

Theo Alexander Berzin - một học giả, dịch giả và giảng viên Phật giáo Tây Tạng chủ yếu về đề tài truyền thống Tây Tạng, thì việc tái sinh là có thật.
Có hay không việc linh hồn tái sinh?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Dưới đây là những câu hỏi và câu trả lời của học giả Phật giáo Alexander Berzin về vấn đề tái sinh có thật hay không?


Co hay khong viec linh hon tai sinh hinh anh 2
Ảnh minh họa

Hỏi: Ông có tin vào tái sinh hay không?

  Đáp: Tôi tin có tái sinh, nhưng phải mất một thời gian lâu tôi mới đi đến kết luận này. Sự tin tưởng về tái sinh không đến ngay lập tức. Có những người sinh trưởng ở những nơi mà niềm tin về tái sinh là một thành phần trong nền văn hóa của họ. Đây là trường hợp tại nhiều nước Á châu, vì người dân đã nghe kể về những chuyện tái sinh từ lúc còn bé, nên họ tin tưởng một cách tự nhiên. Tuy nhiên, với những người như chúng tôi, lớn lên trong nền văn hóa Tây phương, thoạt tiên, điều này có vẻ thật lạ lùng. Niềm tin này không đến một cách đột ngột, với tiếng nhạc trỗi lên, cầu vồng hiện ra trên trời và ta thốt lên rằng: “Hallelujah, bây giờ thì tôi đã tin rằng có tái sinh rồi.” Sự việc thường không xảy ra như vậy.   Số đông quần chúng cần một thời gian dài mới quen thuộc với ý niệm về tái sinh. Tôi cũng đã trải qua nhiều giai đoạn trong tiến trình đưa đến sự xác tín vào tái sinh. Trước hết, tôi phải có tinh thần cởi mở để nghĩ rằng: “Tôi không thật sự hiểu tái sinh là gì.” Việc chấp nhận rằng ta không thấu hiểu về tái sinh là điều quan trọng, vì đôi khi ta có thể phủ nhận tái sinh, và điều ta phủ nhận là một ý nghĩ sai lầm về tái sinh mà chính Phật giáo cũng bác bỏ. Một người có thể nghĩ rằng, “ Tôi không tin vào tái sinh vì tôi không nghĩ là có một linh hồn có cánh bay từ thân này qua thân khác.” Phật giáo cũng đồng ý như vậy, “Chúng tôi cũng không tin vào một linh hồn có cánh bay.” Để đi đến quyết định xác tín vào tái sinh, tôi phải tìm hiểu khái niệm này trong Phật giáo và nó không giản dị cho lắm. Nó vô cùng tinh vi, như tôi đã giải thích trước đây về tâm thức và năng lượng vi tế nhất, cùng với những bản năng đi kèm theo nó.   Thế rồi tôi nghĩ mình sẽ có một ít bán tín bán nghi về tái sinh. Tạm thời, chúng ta hãy xem là có sự tái sinh. Thế thì điều gì sẽ xảy ra khi ta nhận thức sự hiện hữu của mình bằng cách này? Ta có thể thiết lập tất cả những pháp tu của Bồ Tát, ta có thể thừa nhận mọi người đã từng là mẹ của mình và nhờ vậy, cảm thấy một sự liên hệ nào đó với tất cả mọi người.   Rồi những việc xảy ra trong đời tôi cũng có thể giải thích được. Tại sao một người có quá trình đào tạo như tôi lại rất thích học tiếng Trung Hoa? Tại sao Ấn Độ lại có sức lôi cuốn đến nỗi tôi phải đến đó và tu học với những người Tây Tạng? Xét vào những sở thích của gia đình tôi và môi trường nơi tôi sinh trưởng, chúng chẳng giải thích được tại sao tôi lại thích thú vào những điều này. Tuy nhiên, khi nghĩ đến vấn đề tái sinh thì tôi thấy việc này có thể giải thích được. Tôi phải có những liên hệ với Ấn Độ, Trung Quốc và Tây Tạng trong những kiếp khác, điều này khiến cho tôi có sự thích thú với những nơi này, với ngôn ngữ và văn hóa của các nước này. Tái sinh bắt đầu giải thích được nhiều điều mà tôi thắc mắc từ lâu, nhưng không thể tìm ra được câu trả lời nào khác; nếu không có nghiệp và những tiền kiếp, thì ta không thể giải thích được những gì xảy ra trong đời hiện tại của tôi. Tái sinh cũng giải thích được những giấc mơ quen thuộc cứ tái diễn trong giấc ngủ của tôi. Cứ như thế mà tôi dần dần trở nên quen thuộc với ý niệm tái sinh.   Tôi đã tu học tại Ấn Độ mười chín năm và tôi có nhiều đặc ân cũng như cơ hội để học hỏi với nhiều vị thầy rất cao tuổi, lúc họ còn tại thế. Những người này đã qua đời, đã tái sinh và hiện nay tôi lại gặp họ như những đứa trẻ. Tôi đã quen biết họ trong hai kiếp sống.
Co hay khong viec linh hon tai sinh hinh anh 2
Ảnh minh họa
Có một thời điểm nào đó trên đường tu của Phật pháp mà bạn có thể kiểm soát được những tái sinh của mình. Bạn không cần phải là một vị Phật hay một hành giả đã giải thoát, một A La Hán, thì mới làm được việc này. Tuy nhiên, bạn cần phải là một vị Bồ Tát. Bạn phải tu hành đến một trình độ cao cấp trên đường tu mật tông và có một nguyện ước mãnh liệt muốn tái sinh vào sắc tướng nào đó để có thể giúp đỡ mọi người. Có những pháp quán tưởng và phương pháp giúp bạn chuyển hóa cái chết, thân trung ấm và tái sinh. Nếu bạn đã tinh thông ở cấp độ này thì bạn có thể kiểm soát việc tái sinh của mình. Có khoảng một ngàn người Tây Tạng đạt được trình độ này và khi sau khi họ qua đời, người ta lại tìm ra được họ. Trong hệ thống Tây Tạng, những người này được gọi là tulkus. Tulku là một vị lama tái sinh, được ban danh hiệu là Rinpoche. Tuy nhiên danh hiệu Rinpoche không chỉ được dùng cho các tulku hay những vị tái sinh thôi. Nó còn được dùng cho các vị trụ trì hay cựu trụ trì của một tu viện. Không phải ai được gọi là Rinpoche cũng là một vị lama tái sinh cả.   Tôi cũng xin nêu ra một điều là chữ lama được dùng theo nhiều cách khác nhau, tùy theo từng truyền thống ở Tây Tạng. Trong một vài truyền thống, lama đề cập đến bậc thầy tâm linh rất cao cấp, ví dụ như một vị geshe – người có bằng cấp tương đương với tiến sĩ trong Phật học – hay một vị lama tái sinh. Trong vài truyền thống khác, chữ lama được dùng để gọi một vị sư trong một cộng đồng. Vị sư này đã trải qua ba năm nhập thất và đã học được một số nghi lễ. Họ đi từ làng này qua làng khác để làm lễ cúng tế cho dân làng. Vì thế, danh hiệu lama có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau.   Có khoảng một ngàn người được công nhận là lama tái sinh hoặc tulkus. Họ được nhận ra bằng những điều họ biết, hoặc qua những chỉ dấu khác như các vị vấn linh (oracle), hay từ những dấu hiệu đáng kể đã xảy ra trong môi trường. Thị giả của vị lama quá cố sẽ đi tìm vị tái sinh mới. Họ sẽ đem theo những vật dụng mà vị lama tiền thân thường dùng trong các nghi lễ và những vật sở hữu của vị ấy, cùng với các vật khác tương tự với những món vật này. Đứa trẻ phải có khả năng nhận ra những vật sở hữu của nó trong đời trước. Ví dụ như Đức Dalai Lama đương thời đã nhận ra được những người đến tìm Ngài. Ngài gọi đúng tên của từng người và bắt đầu nói chuyện với họ bằng thổ ngữ Lhasa, không phải là thổ ngữ nơi Ngài đang sinh trưởng. Những dấu hiệu như thế giúp họ nhận ra đứa bé.   Tôi rất xúc động khi gặp lại các vị thầy của tôi trong hậu thân của họ. Xúc động nhất là khi tôi gặp lại Ling Rinpoche, người đã từng làm trợ giáo của Đức Dalai Lama đương thời. Rinpoche cũng là một đại sư đứng đầu truyền thống Gelug (phái Cách-lỗ). Khi viên tịch, Ngài đã nhập định gần hai tuần lễ, mặc dù Ngài đã tắt thở và theo phương diện y khoa, Ngài được xem như đã chết. Tuy nhiên, tâm thức vi tế của Ngài vẫn lưu lại trong thân Ngài. Tâm thức vô cùng vi tế của Ngài đã an trụ trong thiền định thậm thâm. Vùng xung quanh tim Ngài vẫn còn một ít hơi ấm và Ngài đã ngồi trong tư thế tọa thiền mà cơ thể không hề bị hư hoại. Khi Ngài chấm dứt thiền định, đầu Ngài nghiêng sang một bên và một ít máu mũi chảy ra. Vào lúc đó, tâm thức Ngài đã rời khỏi nhục thân của Ngài.   Tại Dharamsala, nơi tôi sống, hiện tượng này xảy ra hai, ba hay bốn lần mỗi năm. Điều này không phải là hiếm có, mặc dù một hành giả phải đạt được trình độ tâm linh cao cấp mới làm được điều này. Khả năng này có thể đạt được.   Vị tái sinh của Ling Rinpoche được công nhận khi Ngài được một tuổi chín tháng. Thông thường thì trẻ con không được nhận diện sớm như vậy, vì khi đứa bé lớn hơn chút nữa, khoảng ba hay bốn tuổi, chúng có thể nói chuyện hay tự đưa ra vài dấu hiệu. Đứa bé được đưa về nhà, nơi vị tiền thân đã ở, và một buổi lễ rất lớn được tổ chức để chào mừng vị tái sinh. Mấy ngàn người đã đứng hai bên đường, và tôi được may mắn ở trong đám người ấy. Ai cũng mặc áo quần đặc biệt và ca hát vui vẻ. Đó là một ngày thật vui tuơi.

 

Hỏi: Đứa trẻ được nhận diện như thế nào?

  Đáp: Đứa bé được công nhận qua các vị vấn linh và môi giới, cũng như bằng khả năng tự nhận ra những vật dụng của mình từ đời trước. Ngoài ra, em bé cũng biểu tỏ một vài nét đặc trưng qua sắc tướng, ví dụ như vị tiền thân thường cầm chuỗi tràng hạt (mala) bằng hai tay, thì em bé này cũng làm y như vậy. Em còn nhận ra những người ở trong nhà của vị tiền thân nữa.   Tuy nhiên, điều thuyết phục tôi nhất là cách cư xử của chú bé trong buổi lễ. Chú bé được đưa vào trong nhà, nơi một pháp tòa đã được dựng lên gần khung cửa nhìn ra một hàng ba rất lớn và có đến hai ba ngàn người tụ tập ngoài sân. Hầu hết trẻ con dưới hai tuổi sẽ rất sợ hãi trong trường hợp này, nhưng chú bé này thì không hề biết sợ. Bé được đặt lên trên pháp tòa. Thông thường thì một đứa trẻ sẽ đòi đi xuống và khóc lóc nếu không được làm như vậy. Thế nhưng em bé này đã ngồi xếp bằng không xê dịch trong một tiếng rưỡi đồng hồ, trong khi mọi người đang làm lễ chúc thọ (long-life puja) cho em. Em chăm chú vào mọi việc đang xảy ra và không hề tỏ vẻ khó chịu giữa đám đông.
Co hay khong viec linh hon tai sinh hinh anh 2
Ảnh minh họa
Một phần của buổi lễ gồm có việc cúng dường vị lama và cầu chúc Ngài sống lâu. Đoàn người tuần tự diễu hành, mỗi người dâng lên Ngài một lễ vật như tượng Phật, kinh điển, bảo tháp nhỏ, một bộ cà sa và nhiều vật khác nữa. Khi có người dâng lễ vật, Ngài phải nhận bằng hai tay và trao lễ vật ấy cho một người đứng ở phía bên trái của Ngài. Em bé làm như vậy một cách hoàn hảo khi nhận từng lễ vật. Thật là một điều phi thường! Làm sao ai có thể dạy cho một đứa bé một tuổi chín tháng cách cư xử như vậy? Không thể nào được!   Khi buổi lễ chấm dứt, mọi người xếp hàng để được Ngài ban phước. Được một người khác bế, em bé đưa tay theo đúng cách để ban phước cho từng người một. Với sự chú tâm hoàn toàn, không hề chán nản hay mệt mỏi, em bé đã ban phước cho hai hay ba ngàn người như thế. Sau đó, Đức Dalai Lama thọ trai với em. Em bé chỉ khóc một lần duy nhất và tỏ vẻ không bằng lòng khi Đức Dalai Lama từ giã ra về. Em không muốn Ngài đi.   Thật ra, em bé này đã dùng tay ban phước cho nhiều người trước khi được công nhận là Ling Rinpoche. Em đã sống trong viện mồ côi với người anh, vì mẹ em đã từ trần không lâu, sau khi sanh em ra. Ba em rất nghèo nên đành phải gửi hai đứa con vào cô nhi viện. Em bé đã ban phước cho nhiều người trong cô nhi viện và người anh của bé, khoảng ba hay bốn tuổi, đã nói với mọi người rằng, “Em tôi rất đặc biệt. Nó là một lama, một Rinpoche. Đừng làm điều gì xấu đối với nó. Hãy đối xử với nó một cách đặc biệt.”   Những vị Ling Rinpoche tiền thân đã là sư phụ của ba vị Dalai Lama liên tiếp. Một vị là sư phụ của Đức Dalai Lama thứ mười hai, vị Ling Rinpoche kế tiếp là sư phụ của Đức Dalai Lama thứ mười ba, và vị tiếp theo là thầy của Đức Dalai Lama thứ mười bốn. Dĩ nhiên, người ta xem vị Ling Rinpoche tái sinh này là thầy của vị Dalai Lama trong kiếp tương lai.   Chứng kiến những trường hợp này tạo cho tôi nhiều ấn tượng mạnh về sự khả thi của những đời sau. Thế nên, nhờ sự suy xét, nhờ được nghe những mẫu chuyện và nhìn thấy những việc như trên, ta sẽ dần dần chấp nhận sự hiện hữu của đời sống trong quá khứ và vị lai. Bây giờ, nếu có ai hỏi tôi rằng, “ Ông có tin vào những kiếp vị lai không?”, tôi xin trả lời là, “Có, tôi tin vào những đời sau.”

 

Hỏi: Có phải các vị lama tái sinh chỉ được tìm thấy trong cộng đồng người Tây Tạng hay không?

  Đáp: Không đâu, có khoảng bảy vị đã được tìm ra ở các nước Tây phương. Một trong những vị này, Lama Osel, tái sinh của Lama Thubten Yeshe, là một em bé người Tây Ban Nha. Việc gặp gỡ Lama Osel đã thuyết phục được những người đã từng quen biết Lama Yeshe, khiến họ tin tưởng vào sự tái sinh.   Alexander Berzin Singapore 10 tháng Tám, 1988 Trích đoạn đã được duyệt lại từ Berzin, Alexander and Chodron, Thubten. Glimpse of Reality. Singapore: Amitabha Buddhist Centre, 1999.

ST.

Những câu chuyện luân hồi chưa thể lý giải (phần 1)
Khoa học hiện đại vẫn chưa thể chứng minh được việc có kiếp sau hay kiếp trước của con người hay không? Tất cả vẫn chìm trong kỳ bí với nhiều sự việc luân hồi
Những câu chuyện luân hồi chưa thể lý giải (phần 2)
Khoa học hiện đại vẫn chưa thể chứng minh được việc có kiếp sau hay kiếp trước của con người hay không? Tất cả vẫn chìm trong kỳ bí với nhiều sự việc luân hồi

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có hay không việc linh hồn tái sinh?

Khu vườn ấn tượng với những suối hoa

Khu vườn nhà bạn sẽ trở nên sinh động hơn với những bông hoa trải dài mềm mại nổi bật trên nền cỏ xanh hoặc đất nâu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

khu vườn 
Những thảm hoa trông giống như tuýp màu loang giữa thảm cỏ xanh đã được
những người làm vườn có kinh nghiệm sáng tạo nên

khu vườn độc đáo 
Cách làm dễ áp dụng và phổ biến nhất là bạn chôn một nửa chiếc bình gốm
xuống mặt đất. Nhờ đó, bạn có thể tận dụng các chiếc bình hỏng, vỡ.

khu vườn ấn tượng 
Trước khi trồng, bạn nên phác thảo hình dạng của thảm hoa. Loại hoa nở bền
như cúc, những loại hoa nhỏ nên được ưu tiên trồng để vườn đẹp lâu hơn

khu vườn xinh xắn 
Bạn có thể để các bụi hoa hoa mọc tràn không theo hình dạng nào
trên nền đá sỏi nếu là người thích sự tự nhiên

khu vườn màu sắc 
Một thùng nước lớn đổ ra những bông hoa păng-xê

khu vườn xinh tươi 
Bình hoa trở nên tươi vui mắt hơn với sự phối hợp màu sắc

khu vườn hài hòa 
Bên cạnh hoa, bạn cũng có thể dùng những loại sen đá, cây xanh khác để tạo ra tiểu cảnh

khu vườn màu xanh 
Màu xanh của những loại cây đơn giản đem lại sức sống cho nền đất sỏi nâu

khu vườn lạ mắt 
Chỉ với một luống hoa nhỏ có cách trình bày khác lạ, phần sân vườn nhà bạn sẽ trở nên đặc biệt hơn

(Theo Vnexpress)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khu vườn ấn tượng với những suối hoa

Biểu hiện của 12 chòm sao khi vướng vào lưới tình –

Biểu hiện của 12 chòm sao khi vướng vào lưới tình là gì? Ngưu sẽ chú ý từng hành động kể cả nhỏ nhất, còn Bò Cạp sử dụng vô số kế hoạch để thu hút đối phương. Còn những chòm sao khác thì như thế nào? Khám phá trong bài viết dưới đây nhé! Biểu hiện củ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Biểu hiện của 12 chòm sao khi vướng vào lưới tình là gì? Ngưu sẽ chú ý từng hành động kể cả nhỏ nhất, còn Bò Cạp sử dụng vô số kế hoạch để thu hút đối phương. Còn những chòm sao khác thì như thế nào? Khám phá trong bài viết dưới đây nhé!

Nội dung

  • 1 Biểu hiện của 12 chòm sao khi vướng vào lưới tình
    • 1.1 Bạch Dương
    • 1.2 Kim Ngưu
    • 1.3 Song Tử
    • 1.4 Cự Giải
    • 1.5 Sư Tử
    • 1.6 Xử Nữ
    • 1.7 Thiên Bình
    • 1.8 Bò Cạp
    • 1.9 Nhân Mã
    • 1.10 Ma Kết
    • 1.11 Bảo Bình
    • 1.12 Song Ngư

Biểu hiện của 12 chòm sao khi vướng vào lưới tình

Bạch Dương

BachDuong-1168-1397366774

Kim Ngưu

KimNguu-9873-1397366774

Song Tử

SongTu-2283-1397366774

Cự Giải

CuGiai-2410-1397366775

Sư Tử

SuTu-6964-1397366775

Xử Nữ

XuNu-8829-1397366775

Thiên Bình

ThienBinh-4745-1397366775

Bò Cạp

BoCap-9780-1397366775

Nhân Mã

NhanMa-7806-1397366775

Ma Kết

MaKet-8434-1397366776

Bảo Bình

BaoBinh-3411-1397366776

Song Ngư

SongNgu-5780-1397366776


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Biểu hiện của 12 chòm sao khi vướng vào lưới tình –

12 sao sẽ đi đâu vào dịp Giáng Sinh?

Có thể là Hồng Kông, Berlin hay New York, chỉ cần có thể xách ba lô lên và đi đã là một điều tuyệt vời đối với 12 sao rồi.
12 sao sẽ đi đâu vào dịp Giáng Sinh?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Mùa Giáng Sinh an lành đã đến, 12 sao đã lên kế hoạch du lịch cho riêng mình.

12 sao se di dau vao dip Giang Sinh hinh anh
 
 
12 sao se di dau vao dip Giang Sinh hinh anh 2
 
12 sao se di dau vao dip Giang Sinh hinh anh 3
 

12 sao se di dau vao dip Giang Sinh hinh anh 4
 
► Xem thêm: Bí ẩn 12 cung hoàng đạo và Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất

Dương Nguyên

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 sao sẽ đi đâu vào dịp Giáng Sinh?

Cách phân tích nét trong một chữ khi số hóa –

Các chữ cái Trong tiếng Việt có 23 chữ cái và 5 dấu độc lập, 3 dấu phụ chữ. Nếu ghép 3 dấu phụ, tiếng Việt có thêm 6 chữ cái nữa gộp lại ta có 23 + 6 => 29 chữ cái có nghĩa. Đó là A, Ă, Â, B, c, D, Đ, E, Ê, G, H, I, K, L, M, N, o, , ô, p, Q, R, s,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các chữ cái

Trong tiếng Việt có 23 chữ cái và 5 dấu độc lập, 3 dấu phụ chữ. Nếu ghép 3 dấu phụ, tiếng Việt có thêm 6 chữ cái nữa gộp lại ta có 23 + 6 => 29 chữ cái có nghĩa. Đó là A, Ă, Â, B, c, D, Đ, E, Ê, G, H, I, K, L, M, N, o, , ô, p, Q, R, s, T, u, Ư, V, X, Y và 5 dấu: huyền (\); sắc (/); hỏi (?); ngã (~); nặng (•). Ta có 29 chữ cái hay 29 âm (nguyên âm và phụ âm).

Cách phân tích nét

Muốn phân tách nét để số hóa, ta viết các chữ cái, dưới dạng chữ in hoa. Với chữ in hoa cách tính số nét được chính xác rõ ràng. Ngoài tính nét của một chữ cái ta phải tính dấu trong một từ nữa. Mỗi dấu của 1 chữ cái như: râu (’), nón (^) đều được tách nét. Được kể là một nét đôi với (’) Và được tính hai nét đối với (^). Mỗi dấu trong một từ thì chỉ được kể là một nét

mau-chu-tren-bang-mau-chu-dung

Số chữ cái tối đa trong một từ

Trong tiếng Việt một từ có nhiều nhất là 7 chữ và 1 dấu. Từ ít nhất là 1 chữ cái có nghĩa, ví dụ: o, Ô, Y, v.v…

Ví dụ: Từ nhiều chữ nhất có nghĩa như: NGHIÊNG, còn từ nhiều chữ cái nhất còn có thêm một trong 5 dấu: ?, /,

  • như NGHIỄNG… thì không có nghĩa ứng dụng, như vậy có thể kết luận là từ tiếng Việt mà có nghĩa chỉ có 7 chữ cái mà thôi.

Điều này thật lý thú khi tính chữ cái, nét của một chữ nhiều nét nhất mà từ đó có nghĩa thì cũng vừa đúng 23 nét trùng với 23 chữ cái (trong từ điển tiếng Việt).

Liên hệ với Hán ngữ

Nếu liên hệ xa hơn với thể chữ “Khải thư” của Hán tự ngày nay ta thấy để viết một chữ, người Trung Quốc dùng 7 nét cơ bản: Ngang, sổ, phẩy, mác, hất, móc, chấm. Với 7 nét cơ bản người Trung Quốc lập thành một chữ có nghĩa có nhiều nét nhất là 29 nét và chữ có nét ít nhất có nghĩa cũng có 1 nét (60% chữ Việt có gốc từ Hán ngữ – Giáo sư Nguyễn Lân).

Hai hệ chữ hoàn toàn khác nhau. Tiếng Việt là hệ La Tin; còn chữ Hán là hệ Hán, Nôm tượng hình. Ấy vậy mà khi sử dụng phương pháp của “tính danh học tự đoán”, hay “số hóa họ tên dự đoán pháp” lại có chung một cách tính “số lý” phù hợp đến vậy.

Trong “tính danh dự đoán học” của Trung Quốc cho một họ tên thì có 81 số lý. Nhưng trong tiếng Việt nếu giả định một họ tên để tính số lý thì có tới 115 số lý có nghĩa. Còn nếu ghép họ tên một cách võ đoán mà không có nghĩa ứng dụng thì số lý còn nhiều hơn (120 số lý).

Cũng vì lý do tương hợp về số lý giữa hai thứ tiếng Việt, Hán, nên có nhiều vấn đề lý giải về dự đoán học trong tiếng Việt có phần nào quan điểm của người Hán. Sự chắt lọc và áp dụng những quan niệm của nhau là vấn đề khoa học cho phép. Đó không phải là gượng ép để dùng cho người Việt Nam. Những vấn đề áp dụng ở đây là thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành để lý giải một phần nhân cách, tính cách của con người cho hợp lý. Ngày nay trong Đông y, các lương y Việt Nam cũng vẫn đang áp dụng hai thuyết trên trong y lý và y hành để chuẩn trị bệnh tật cho người Việt Nam là một hiện thực.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách phân tích nét trong một chữ khi số hóa –

Hoàn thiện bản thân - Chương 2: Pháp Luân Công

CHƯƠNG II: PHÁP LUÂN CÔNG Pháp Luân Công bắt nguồn từ Pháp Luân Tu Luyện Ðại Pháp của Phật Gia, nó là một phương pháp tu luyện khí công đặc biệt của Phật Gia, nhưng chính nhờ nó có các đặc tính riêng biệt mà làm cho nó nổi bật lên giữa các đường lối tu luyện trung bình khác trong Phật Gia. Hệ thống tu luyện này là một phương pháp tu luyện đặc biệt và cấp tốc nên vẫn thường đòi hỏi người tu phải có một tâm tính thật cao và căn cơ thật tốt 1 .

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðể giúp cho nhiều người luyện công lên cao được, đồng thời vẫn thỏa mãn yêu cầu của phần đông các người quyết chí tu luyện, tôi đã chỉnh đốn lại và cập nhật toàn bộ các phương pháp tu luyện này để thích hợp cho việc quảng bá trong quần chúng, mặc dù được sửa đổi, nó này vẫn vượt xa những kết quả và trình độ khi tập luyện các công pháp.

1. Vai trò của Pháp Luân

Pháp Luân của Pháp Luân Công có được cùng đặc tính với vũ trụ, nó là mô hình nhỏ của vũ trụ. Người tu luyện theo Pháp Luân Công sẽ không chỉ có khả năng phát triển các công năng và công lực một cách nhanh chóng, mà họ cũng sẽ phát triển được một Pháp Luân với uy lực vô tỷ trong thời gian thật ngắn. Sau khi Pháp Luân được thành hình, nó tồn tại dưới dạng một linh thể 2, nó luôn luôn quay tự động không ngừng nghỉ nơi vùng bụng dưới của người luyện công, liên tục thu hút và chuyển hóa năng lượng từ vũ trụ, và cuối cùng là biến đổi nó thành ra công trong bản thể của người luyện công, vì vậy nó đạt được hiệu quả của pháp luyện người 3, nói cách khác, mặc dầu người ta không thể luôn luôn luyện tập, nhưng Pháp Luân vẫn không ngừng luyện người. Khi quay vào trong Pháp Luân độ chính mình, nó làm cho người tu luyện mạnh mẽ hơn và khỏe mạnh hơn, thông minh và khôn ngoan hơn, và bảo vệ cho người tu không bị sai lệch, nó cũng có thể giữ cho người tu không bị quấy nhiễu bởi những người với tâm tính thấp kém. Khi quay ra ngoài Pháp Luân độ cho người, nó có thể chữa bệnh và trừ tà cho người khác, điều chỉnh mọi trạng thái bất thường. Pháp Luân quay không ngừng nơi vùng bụng dưới, nó quay chín lần theo chiều kim đồng hồ và sau đó chín lần ngược chiều kim đồng hồ. Khi quay theo chiều kim đồng hồ nó thu hút năng lượng thật mãnh liệt của vũ trụ, năng lượng to lớn phi thường. Khi công lực tăng trưởng thêm nữa, sức xoay chuyển trở nên mạnh hơn nhiều, một trạng thái mà không thể đạt được khi cố gắng dùng ý hút đầy khí từ đỉnh đầu. Khi quay ngược chiều kim đồng hồ, nó phóng thích năng lượng và cứu độ tất cả chúng sinh, cũng như điều chỉnh mọi trạng thái bất thường, người nào ở gần người tu sẽ được ảnh hưởng tốt. Trong tất cả các cách tập khí công được giảng dạy trong nước của chúng ta (Trung quốc), Pháp Luân Công là công pháp đầu tiên và duy nhất đạt được tiêu chuẩn pháp luyện người.
Pháp Luân rất quý báu, không thể mua được bằng số tiền lớn nào. Khi giao Pháp Luân cho tôi, sư phụ của tôi dạy rằng: Pháp Luân không thể được truyền cho bất cứ người nào, tất cả mọi người dù đã tu luyện hàng ngàn năm và muốn nó, nhưng họ không thể có được. Ðiều này chỉ được truyền cho một người theo đường lối tu luyện của chúng tôi sau một thời gian thật là lâu, không như những thứ nào đó mà được truyền cho một người cứ mỗi vài chục năm, vậy nên Pháp Luân thật cực kỳ quý giá. Bây giờ, mặc dầu chúng tôi phổ truyền trong công chúng và biến nó thành ít mạnh mẽ, nó vẫn còn thật là quý giá. Ðối với người tu có nó, họ đã tiến được nửa đoạn đường tu luyện, những gì còn lại là để cho quý vị nâng cao tâm tính của mình, và sẽ có một cấp khá cao đang chờ quý vị. Dĩ nhiên, người không có duyên phận sẽ ngưng tập luyện sau khi bắt đầu một thời gian, và rồi thì Pháp Luân sẽ không còn tồn tại trong người họ nữa.
Pháp Luân Công là công pháp thuộc Phật Gia, nhưng nó hoàn toàn vượt ra ngoài phạm vi của Phật Gia, nó luyện theo cả toàn vũ trụ. Trong quá khứ tu luyện trong Phật Gia chỉ nói về những nguyên lý của Phật Gia, trong khi tu luyện theo Đạo Gia chỉ nêu lên những nguyên lý của Đạo Gia, cả hai trường phái đều không có cắt nghĩa thấu đáo căn bản của vũ trụ. Vũ trụ cũng như con người, ngoại trừ cấu trúc vật chất ở bên ngoài, nó cũng có đặc tính riêng của nó, một cách vắn tắt là nó có thể được tóm gọn trong ba chữ, đó là "Chân Thiện Nhẫn". Tu luyện theo Đạo Gia chủ yếu ngộ về "chân", nói chân thật, làm việc chân thật, trở về nguồn cội, và sau cùng thành một chân nhân. Tu luyện theo Phật Gia chú trọng về "thiện", làm sản sinh tâm đại từ bi, cứu độ chúng sinh. Pháp môn của chúng ta tu theo "Chân Thiện Nhẫn" cùng một lúc, tức là trực tiếp tu luyện theo đặc tính căn bản của vũ trụ, và cuối cùng là đạt được sự đồng hóa cùng vũ trụ 4.
Pháp Luân Công là công pháp tu cả tâm lẫn thân, khi công lực và tâm tính đã đạt đến một trình độ nào đó, là đến lúc để đạt tới trạng thái khai ngộ (khai công) trong thế gian này, tu thành một cơ thể không bao giờ bị hư hoại 5. Nói chung Pháp Luân Công được chia thành thế gian pháp và xuất thế gian pháp mà bao gồm nhiều cấp bậc. Tôi hy vọng rằng mọi người quyết chí sẽ chuyên cần tu luyện, không ngừng nâng cao tâm tính, đạt đến viên mãn.

2. Hình dáng của Pháp Luân

Pháp Luân của Pháp Luân Công là một vật thể có linh tính, xoay tròn và cấu thành từ vật chất cao năng lượng. Nó chuyển động xoay tròn theo đúng luật chuyển động của toàn vũ trụ. Ở một mức độ nào đó, Pháp Luân là một mô hình nhỏ của vũ trụ. Ở giữa Pháp Luân là dấu hiệu chữ Vạn (chu Van) của Phật Gia. Nó là trung tâm của Pháp Luân. Màu sắc của nó gần giống như màu vàng kim với nền màu đỏ sáng chói. Nền của vòng tròn bên ngoài thì màu cam. Bốn dấu hiệu Thái Cực và bốn chữ Vạn của Phật Gia được xếp đặt xen kẽ nhau theo tám hướng. Thái cực gồm có màu đỏ và đen thuộc về Đạo Gia, trong khi Thái Cực với màu đỏ và xanh thuộc về Tiên Thiên Đại Đạo. Bốn chữ Vạn nhỏ cũng có màu vàng kim. Nền của Pháp Luân có màu thay đổi theo chu kỳ: đỏ, cam, vàng, xanh lá cây, xanh dương, chàm, và tím. Những màu này rất đẹp. Các màu của chữ Vạn chính giữa và Thái Cực thì không thay đổi. Các Pháp Luân với kích thước khác nhau này tự xoay chuyển, và chữ Vạn cũng vậy. Pháp Luân có cội rễ từ trong vũ trụ. Vũ trụ đang xoay chuyển, tất cả các thiên hà đang xoay chuyển, vì vậy, Pháp Luân cũng đang xoay chuyển. Những người đã mở Thiên mục ở cấp thấp, họ có thể nhìn thấy Pháp Luân đang quay vòng như một cây quạt; còn những người mở Thiên mục ở cấp cao, họ có thể thấy nguyên hình Pháp Luân rất đẹp và sáng chói, điều này khuyến khích người tu phấn đấu mạnh mẽ để tiến lên.

3. Ðặc Ðiểm Của Pháp Luân Công

(1) Pháp luyện nhân

Người tập Pháp Luân Công sẽ không chỉ có khả năng làm tăng Công lực và công năng một cách mau chóng, nhưng cũng sẽ có khả năng luyện thành Pháp Luân. Pháp Luân có thể được tạo thành trong một thời gian rất ngắn, và một khi thành hình, nó rất là mạnh mẽ. Nó có thể che chở cho người tu khỏi bị sai đường. Thêm vào đó, nó có thể bảo vệ người tu không bị quấy rầy bởi những người có tâm tính thấp kém. Nó cũng là một phương pháp tu luyện hoàn toàn khác hẳn với lý thuyết của các phương pháp tu luyện truyền thống. Vì Pháp Luân tự nó xoay chuyển không ngừng nghỉ sau khi được thành lập, nó tồn tại dưới dạng thức của một linh thể, thu hút năng lực một cách liên tục và thường xuyên ở vùng bụng dưới của người tu. Pháp Luân xoay vòng để tự động thu hút năng lượng từ vũ trụ. Chính vì nó xoay chuyển không ngừng nghỉ, nó đạt được mục đích của "Pháp Luyện Nhân", nó liên hệ đến việc Pháp Luân luyện người không ngừng nghỉ ngay khi người ta không luôn luôn luyện tập. Như mọi người đều biết, người thường phải làm việc ban ngày và nghỉ ban đêm, còn lại rất ít thời giờ cho việc tu luyện. Ðể đạt được trạng thái tu luyện 24 giờ một ngày, phương pháp được gọi là luôn luôn nghĩ đến việc tu luyện không có hiệu lực, và sử dụng các phương pháp khác vẫn khó lòng đạt đến mục đích thật sự tu luyện 24 giờ một ngày. Tuy nhiên, Pháp Luân xoay chuyển không ngừng nghỉ, gom góp và chuyển hóa khí được hấp thụ từ vũ trụ bằng cách quay vào bên trong. Ðiều này được thực hiện ở mọi vị trí của Pháp Luân, ngày lẫn đêm, không bao giờ ngừng lại. Nó biến đổi khí thành một chất liệu ở cao tầng, sau cùng biến nó thành công mang trên thân người tu. Ðây gọi là "Pháp Luyện Nhân". Tu luyện theo Pháp Luân Công hoàn toàn khác với bất kỳ trường phái nào khác và các môn phái tu luyện khí công đan đạo. Ðiểm nổi bật nhất của Pháp Luân Công là luyện một Pháp Luân thay vì luyện đan. Cho đến nay, trong các phương pháp tu luyện được phổ truyền, không kể đến từ trường phái nào hay đường lối tu luyện nào, có thể là chi nhánh của Phật giáo, Đạo giáo, Phật Gia, Đạo Gia, hay thuộc các hệ phái rải rác trong quần chúng, tất cả đều luyện đan. Nhiều đường lối tu luyện bàng môn khác cũng giống như vậy. Chúng được gọi là khí công đan đạo. Sự tu hành của các tăng, ni và các đạo sĩ, tất cả đều phát xuất từ cách tu luyện đan này. Nếu được hỏa táng sau khi viên tịch, chúng sẽ tạo thành các viên xá-lợi mà thành phần cấu tạo của chúng chưa được khám phá ra bởi các thiết bị khoa học tân tiến. Nó rất là cứng, chắc và rất đẹp. Thật ra, nó là chất liệu ở cao tầng được tích tụ từ các không gian khác, chứ không phải trong không gian của chúng ta. Ðó là Đan. Rất khó cho người theo khí công đan đạo để đạt được trạng thái giác ngộ trong một kiếp người. Trước kia, có rất nhiều người luyện theo khí công đan đạo đã cố gắng để vận chuyển Đan đi lên. Một khi nó chạy lên đến Nê hoàn cung, nó không có thể xuất ra ngoài, vì vậy những người này bị kẹt ở đây. Vài người rất muốn cho nó nổ tung ra, nhưng không biết làm cách nào. Một số người làm như thế này: Ông nội của người đó không thành công. Khi sắp chết, ông nội nhả ra và giao lại cho người cha. Người cha cũng không thành công. Khi chết, người cha cũng nhả ra và giao lại cho người con. Cho đến bây giờ, anh ta vẫn là người tầm thường. Quả thật là quá khó! Dĩ nhiên, cũng có nhiều phương pháp tu luyện đứng đắn. Nó tương đối khá tốt nếu quý vị có thể có được sự chân truyền. Tuy nhiên, vị thầy có thể không dạy cho quý vị những thứ thật sự ở cao tầng.

(2) Tu luyện chủ ý thức

Mọi người đều có một chủ ý thức (nguyên thần). Người ta thường tùy thuộc vào chủ ý thức khi thi hành các nhiệm vụ và xem xét các vấn đề. Ngoại trừ chủ ý thức,cũng có một hay nhiều phụ ý thức trong bản thể con người, cũng như các tín hiệu được thừa hưởng từ các tổ tiên trong gia đình. Phụ ý thức có cùng tên với chủ ý thức, nhưng thông thường nó có nhiều khả năng hơn và cũng ở cấp cao hơn chủ ý thức. Phụ ý thức không bị mê hoặc bởi cám dỗ của xã hội người thường của chúng ta và có thể nhìn thấy các không gian riêng biệt của nó. Nhiều công pháp tu luyện theo lối luyện phụ ý thức, theo đó thì cơ thể vật chất và chủ ý thức chỉ có nhiệm vụ chuyên chở. Người tu luyện thường không biết đến những điều này. Và họ có thể vẫn cảm thấy rất thoải mái về chính họ. Khi đang sống trong xã hội, thật rất khó để một người từ bỏ điều thực tiễn, nhất là những điều mà người đó gắn bó vào. Vì vậy, nhiều phương pháp tu luyện nhấn mạnh đến việc tập luyện khi đang ở trong trạng thái hôn mê, một trạng thái hôn mê hoàn toàn. Khi sự chuyển hóa xảy ra trong lúc đang hôn mê, phụ ý thức đang qua sự chuyển hóa và được nâng cấp. Ngày nào đó, phụ ý thức hoàn tất sự tu luyện và mang công của quý vị đi. Không còn lại gì cho chủ ý thức và bản thể thật của quý vị hết, và cả đời tu luyện của quý vị sẽ tiêu tan hết. Ðiều này thật đáng tiếc. Một số thầy khí công danh tiếng sử dụng mọi loại công năng vĩ đại và nhờ nó mà được nổi danh và được kính nể; tuy nhiên, họ vẫn không nhận thức được là công của họ không tăng trưởng trên chính cơ thể của họ. Pháp Luân Công của chúng ta tu luyện trực tiếp về chủ ý thức, nó đòi hỏi Công phải thật sự tăng trưởng trên cơ thể của quý vị. Dĩ nhiên, phụ ý thức cũng sẽ được chia phần, vì là phần quan trọng thứ nhì sau chủ ý thức, nó cũng đang thăng tiến. Phương pháp tu luyện của chúng ta đòi hỏi một tâm tính thật gắt gao, để cho quý vị rèn luyện tâm tính của mình và thăng tiến trong trong mọi hoàn cảnh phức tạp nhất của xã hội người thường, như hoa sen mọc lên giữa bùn lầy. Vì vậy quý vị được chứng đắc trong sự tu luyện của mình. Ðây là lý do tại sao Pháp Luân Công quý báu như vậy. Nó quý báu vì chính quý vị đạt được Công. Nhưng, nó cũng rất khó khăn. Sự khó nhọc dựa trên sự kiện là quý vị đã chọn một đường đi mà sẽ hướng dẫn quý vị tu luyện trong các hoàn cảnh phức tạp nhất. Vì mục đích tập luyện là tu luyện chủ ý thức, chủ ý thức phải được sử dụng để điều khiển sự tu luyện. Những gì chủ ý thức quyết định là dứt khoát; nó không được chuyển qua cho phụ ý thức. Nếu không, sẽ có một ngày khi phụ ý thức hoàn tất sự tu luyện của nó ở một cấp cao và mang Công theo với nó. Vì vậy, là chủ bản thể và chủ ý thức, quý vị sẽ không còn lại gì cả. Khi quý vị tu luyện ở cao tầng, nó không thể chấp nhận được khi chủ ý thức của quý vị ngay cả không ý thức được mình đang tu luyện, như là quý vị đang ngủ mê vậy. Quý vị phải biết rõ rằng mình đang tập luyện, tu luyện đến cao tầng và nâng cao tâm tính của mình. Chỉ như vậy quý vị sẽ kiểm soát được hành động của mình và có thể đạt được công. Nhiều lần khi quý vị lơ đễnh, quý vị có thể hoàn tất điều gì đó mà ngay cả không biết làm sao nó đã được làm. Thật ra, chính là phụ ý thức đã đóng vai trò trong đó. Phụ ý thức đã chủ động. Nếu quý vị ngồi thiền nơi đó, và quý vị mở mắt nhìn trước trán mình, quý vị sẽ thấy rằng có một quý vị khác ngồi đối diện. Nếu quý vị ngồi thiền quay về hướng bắc, nhưng bỗng nhiên, quý vị thấy mình ngồi tại hướng nam và quý vị bắt đầu nghĩ rằng: "Làm sao ta đi ra ngoài?", rồi thì đây là người thật của quý vị xuất ra. Cái đang ngồi đó là cơ thể của quý vị và phụ ý thức. Những điều này có thể phân biệt được. Quý vị không được hoàn toàn quên hẳn mình khi đang tập luyện Pháp Luân Công. Quên chính mình tức là không theo đúng Đại Pháp của sự tu luyện Pháp Luân Công. Quý vị phải giữ tâm của mình được sáng suốt khi tập luyện. Quý vị sẽ không đi sai lệch nếu chủ ý thức của quý vị mạnh mẽ trong lúc luyện tập, và những điều tầm thường không thể làm hại đến quý vị. Nếu chủ ý thức yếu đi, những thứ lạ có thể xâm nhập vào cơ thể quý vị.

(3) Tu luyện không kể phương hướng hay giờ giấc

Nhiều phương pháp tu luyện rất chú trọng về phương hướng và thời điểm tốt nhất để luyện tập. Chúng ta không chú trọng về những điều này. Tu luyện Pháp Luân Công là chiểu theo đặc tính của vũ trụ và những nguyên lý diễn hóa của vũ trụ mà luyện. Vì vậy, chúng ta không chú trọng về phương hướng hay thời điểm. Các bài tập của chúng ta tương đương với tập luyện trong lúc đang ngồi trên Pháp Luân, nó có ở mọi hướng và luôn luôn xoay vòng. Pháp Luân của chúng ta hòa nhịp với cả vũ trụ. Vũ trụ đang chuyển động, giải Ngân hà đang chuyển động, chín hành tinh đang quay chung quanh mặt trời và trái đất chính nó cũng đang quay. Hướng nào là đông, nam, tây hay là bắc? Người sống trên trái đất nghĩ ra các phương hướng. Vì vậy, bất kỳ hướng nào quý vị đối diện, quý vị sẽ đang đối diện với mọi hướng. Một số người nói rằng tốt nhất là tập luyện lúc giữa đêm, có người nói lúc đúng ngọ, hay một thời điểm nào khác. Chúng ta cũng không bận tâm về vấn đề này vì Pháp Luân sẽ luyện quý vị khi quý vị không đang tập luyện. Pháp Luân đang giúp cho quý vị tu luyện ở mọi thời điểm, đó là "Pháp luyện nhân". Trong khí công đan đạo, người ta luyện đan; trong Pháp Luân Công, nó là pháp luyện người. Thực hành càng nhiều càng tốt khi quý vị có thì giờ. Tập ít đi khi quý vị không có nhiều thì giờ. Nó rất là thoải mái.

4. Tính mệnh song tu

Pháp Luân Công tu luyện tâm lẫn thân. Qua sự tu luyện, bản thể thật của quý vị được thay đổi trước. Không để mất bản thể thật, chủ ý thức hợp với cơ thể vật chất thành một, hoàn tất sự tu luyện một cách trọn vẹn.

(1) Thay đổi của bản thể

Một cơ thể con người gồm có thịt, máu và xương, với các thành phần và cấu trúc phân tử khác nhau. Nhờ tu luyện, thành phần nguyên tử của cơ thể con người được chuyển hóa thành chất liệu ở cao tầng. Vì vậy những bộ phận trong cơ thể con người không còn là những chất liệu nguyên thủy nữa, nhưng thay vào đó chúng đã trải qua một sự thay đổi căn bản về các chất lượng ở bên trong. Tuy nhiên, người tu tu luyện và sinh sống giữa những người thường, và không có thể vi phạm các tình trạng của xã hội loài người. Vì vậy, sự thay đổi như thế này không biến đổi các cấu trúc phân tử nguyên thủy, cũng không thay đổi thứ tự sắp xếp các phân tử. Nó chỉ thay đổi các thành phần nguyên tử nguyên thủy. Xác thịt của con người vẫn mềm mại, xương cốt vẫn rắn chắc và máu vẫn ở thể lỏng. Khi bị đứt tay người ta vẫn chảy máu. Theo học thuyết Ngũ hành của Trung Quốc cổ đại, "kim, mộc, thủy, hỏa và thổ" tạo nên vạn vật. Nó cũng như vậy đối với cơ thể con người. Khi người tu trải qua các sự biến đổi của bản thể thật của họ, có được các chất liệu ở cao tầng thế vào các thành phần nguyên tử nguyên thủy, tới lúc đó cơ thể con người không còn cấu tạo bởi các chất liệu nguyên thủy nữa. Ðiều này chính là điều được gọi là "không trong ngũ hành". Ðặc điểm nổi bật nhất của các phương pháp tu luyện tâm lẫn thân là nó kéo dài mạng sống và chống lão hóa. Pháp Luân Công của chúng ta có được cái đặc điểm nổi bật này. Pháp Luân Công có tác dụng như sau: nó thay đổi từ căn bản các thành phần phân tử của cơ thể con người, gom góp lại và chứa các chất liệu cao tầng trong mọi tế bào, và cuối cùng để cho các chất liệu ở cao tầng thay thế các thành phần của tế bào. Bằng cách đó, sự già nua sẽ không xảy ra. Người ta quả thật không còn trong ngũ hành, biến cơ thể của họ thành một cơ thể gồm có các chất liệu ở các không gian khác. Nó không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian của chúng ta nữa, người này sẽ trẻ mãi. Trong lịch sử, có nhiều vị cao tăng sống rất thọ. Bây giờ, có người sống tới vài trăm năm đi ngoài đường, và quý vị không có thể nói họ là ai. Họ trông rất trẻ và mặc quần áo giống người thường nên quý vị không thể phân biệt được. Tuổi thọ của con người không thể quá ngắn ngủi như hiện nay. Nói từ khía cạnh khoa học tân thời, người ta phải có khả năng sống đến hơn 200 tuổi. Theo các hồ sơ có một người tên là Femcath ở Anh quốc sống được 207 năm. Một người tên là Mitsu Taira ở Nhật sống đến 242 tuổi. Dưới thời nhà Ðường ở xứ ta (Trung Quốc) có một thầy tu tên là Huệ Chiêu (Hui Zhao) sống đến 290 tuổi. Theo sổ bộ của quận Vĩnh Thái (Yong Tai) thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trần Khuyên (Chen Jun) sinh vào năm đầu của thời Trung Hòa (Zhong He) (năm 881 sau công nguyên) dưới triều vua Hi Tông (XiZong) của nhà Ðường. Ông mất dưới thời Thái Ðịnh (Tai Ding) của triều đại nhà Nguyên (năm 1324 sau công nguyên), sau khi sống được 443 tuổi. Những điều này được hỗ trợ bởi các hồ sơ và có thể tra cứu được. Chúng không phải là các chuyện thần thoại. Nhờ tu luyện, các người tu Pháp Luân Công làm giảm bớt các vết nhăn trên mặt một cách rõ rệt, và gương mặt hồng hào, khỏe mạnh và sáng sủa. Cơ thể của họ cảm thấy rất nhẹ nhàng và thư giãn, và không có dấu hiệu mệt mỏi khi đi bộ hay làm việc. Ðây là một hiện tượng thông thường. Nó cũng là lý do tại sao dáng vóc của tôi, theo các người khác nói lại, vẫn không thay đổi sau 20 năm. Chính tôi đã tu luyện trong nhiều chục năm. Pháp Luân Công của chúng ta có chứa đựng một nguyên lý tu thân rất vững vàng. Khi về già, người tu theo Pháp Luân Công trông khác với người thường thật rõ rệt. Họ trông không giống với số tuổi đời của họ. Vì vậy, đặc điểm nổi bật nhất của các phương pháp tu luyện tâm lẫn thân là gia hạn mạng sống, làm chậm sự lão hóa và kéo dài tuổi thọ.

(2) Pháp Luân chu thiên

Cơ thể của chúng ta là một tiểu vũ trụ. Năng lượng của cơ thể con người luân chuyển vòng quanh cơ thể, nó được gọi là chuyển động của tiểu vũ trụ, và cũng được gọi là chuyển động của vòng Chu Thiên. Vòng Chu Thiên nối liền hai mạch Nhâm và Ðốc, theo các xếp loại về cấp bậc, chỉ là một vòng Chu Thiên cạn dưới làn da. Nó không có hiệu lực để tu mệnh. vòng Tiểu Chu Thiên, theo nghĩa thật sự, di chuyển bên trong cơ thể đi từ Nê Hoàn Cung đến Đan Điền. Nhờ sự nội chuyển này, nó làm mở tung mọi kinh mạch bắt đầu từ bên trong cơ thể ra đến bên ngoài. Pháp Luân Công của chúng ta đòi hỏi tất cả các kinh mạch đều được mở ra ngay từ đầu. Vòng Ðại Chu Thiên là vận chuyển của kỳ kinh bát mạch và đi vòng quanh cơ thể theo một vòng tuần hoàn. Khi vòng Ðại Chu Thiên được mở ra, nó sẽ mang đến trạng thái là người đó có thể bay khỏi mặt đất. Ðây là cái mà người ta muốn nói là "Bạch Nhật Phi Thăng", như được chép lại trong Đan Kinh. Tuy vậy, thường là một điểm nào đó trong cơ thể của quý vị sẽ bị khóa lại để cho quý vị không thể nào bay lên được. Tuy vậy, nó sẽ mang đến cho quý vị trạng thái như vậy: quý vị sẽ đi bộ nhanh hơn và không cần ráng sức, và khi quý vị đi lên dốc, quý vị sẽ cảm thấy như có ai đẩy phía sau quý vị. Sự khai mở của vòng Ðại Chu Thiên cũng có thể mang lại một loại công năng: nó có thể làm cho khí giữa các bộ phận khác nhau trong cơ thể hoán đổi vị trí. Khí của tim di chuyển đến dạ dày; khí của dạ dày đi đến ruột,v..v. Khi công lực được gia tăng thêm, khả năng này biến thành công năng di chuyển đồ vật từ xa (công năng ban vận) nếu khí được phóng ra ngoài cơ thể. Loại vòng Chu Thiên này cũng còn được gọi là "Tý Ngọ Chu Thiên" hay là "Càn Khôn Chu Thiên". Tuy vậy các chuyển động của nó vẫn chưa đạt được mục đích là chuyển hóa bản thể. Còn có một vòng Chu Thiên tương tự khác nữa được gọi là vòng "Mão Dậu Chu Thiên". Ðây là cách chuyển vận của Mão Dậu Chu Thiên: nó phát xuất từ huyệt Hội âm hoặc huyệt Bách hội, di chuyển dọc theo phía ngoài của cơ thể nơi tiếp giáp giữa mặt âm và dương. Vòng Chu Thiên trong Pháp Luân Công lớn hơn các chuyển động của Kinh Lạc và Bát Mạch được bàn tới trong các pháp tu luyện trung bình. Nó là sự chuyển động của các kinh mạch xuyên tréo khắp cơ thể con người. Nó đòi hỏi tất cả các mạch phải được mở hoàn toàn ngay lập tức, và tất cả cùng nhau di chuyển. Những điều này đã được gắn sâu vào trong Pháp Luân Công của chúng ta, nên quý vị không cần phải cố ý luyện tập nó, cũng không cần phải hướng dẫn nó với ý nghĩ của quý vị. Nếu quý vị làm điều đó, quý vị sẽ đi sai đường. Tôi đã gắn khí cơ (bộ máy khí) bên ngoài cơ thể của quý vị trong lớp học. Nó luân chuyển một cách tự động. Khí cơ là thứ đặc biệt của sự tu luyện ở cao tầng, và là một phần của những gì làm cho sự tu luyện của chúng ta được tự động. Cũng như Pháp Luân, nó xoay chuyển không ngừng nghỉ, hướng dẫn tất cả các năng lượng bên trong kinh mạch của cơ thể chuyển động xoay tròn. Mặc dầu quý vị không có luyện tập vòng Chu Thiên, thật ra, những kinh mạch này đã được hướng dẫn xoay vòng, và phía ngoài cũng như phía sâu trong cơ thể đều cùng nhau chuyển động toàn diện. Chúng tôi sử dụng các bài tập để gia tăng sức mạnh của khí cơ hiện diện ở phía ngoài cơ thể.

(3) Khai mở kinh mạch

Mục đích khai mở kinh mạch là làm cho năng lượng chuyển động, để thay đổi các thành phần phân tử của tế bào và để chuyển hóa nó thành chất liệu ở cao tầng. Các kinh mạch của người không tu thì bị tắc nghẽn và rất là hẹp. Kinh mạch của người tu sẽ dần dần sáng sủa hơn, làm thông các vùng bị tắc. Kinh mạch của người tu lâu năm sẽ được nới rộng ra. Chúng sẽ còn nới rộng hơn nữa khi tu luyện ở cao tầng. Một số người có kinh mạch rộng như một ngón tay. Tuy vậy, sự khai mở các kinh mạch tự nó không phản ảnh các trình độ tu luyện, hoặc bề cao của Công. Nhờ tu luyện, các kinh mạch sẽ được sáng sủa hơn và nới rộng hơn, và dĩ nhiên sẽ liên kết với nhau để trở thành một khối đồng nhất. Tới lúc đó, người này không còn có kinh mạch hay các huyệt châm cứu nữa.

Trái lại, toàn thân của họ tất cả đều là kinh mạch và các huyệt châm cứu. Ngay cả đến lúc này, nó không có nghĩa là người này đã đạt được sự tu luyện. Nó chỉ phản ảnh một trình độ nào đó trong tiến trình tu luyện Pháp Luân Công. Khi đạt đến giai đoạn này, người ta đã đạt tới đoạn cuối của sự tu luyện thế gian pháp. Cùng lúc đó, nó mang đến một trạng thái giống như là sự xuất hiện ở bên ngoài của Tam Hoa Tụ Ðỉnh. Một số lớn công đã được phát triển, với mọi hình dạng, và cột trụ công cũng rất là cao. Thêm nữa, ba đóa bông đã xuất hiện trên đỉnh đầu, một bông giống như là hoa cúc và một bông khác là hoa sen. Cả ba đóa hoa đều quay tròn, và cùng lúc, thay phiên nhau xoay chung quanh chính nó. Mỗi đóa hoa có một cột trụ rất cao ở bên trên, cao tới tận trời. Ba cột trụ này cũng quay tròn và xoay chung quanh chính nó cùng lúc với các đóa hoa. Người ta sẽ cảm thấy bộ đầu trở nên nặng nề. Tới điểm này, người ta đang ở bậc cuối cùng của sự tu luyện thế gian pháp.

5. Ý niệm

Tu luyện Pháp Luân Công không kèm theo ý niệm. Ý niệm tự nó không đạt được gì cả, nhưng nó có thể đưa ra các mệnh lệnh. Cái mà thật sự thi hành là các công năng, nó có khả năng suy nghĩ của một linh thể và có thể nhận chỉ thị từ các tín hiệu đến từ bộ óc. Nhưng nhiều người, nhất là những người trong lĩnh vực khí công, có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Họ cho rằng ý niệm có thể làm được rất nhiều việc. Có người nói đến việc sử dụng ý niệm để phát triển các công năng, để mở thiên mục, để chữa bệnh và di chuyển đồ vật từ xa, v..v. Hiểu như vậy là sai. Ở các cấp thấp, người thường sử dụng ý niệm để điều khiển các giác quan và tứ chi. Ở các cấp cao, ý niệm của người tu tiến cao hơn một bậc, nó ra lệnh cho các quyền năng để thi hành các công tác. Nói cách khác, các công năng nhận mệnh lệnh từ ý niệm. Ðây là cách mà chúng ta xem xét ý niệm. Ðôi khi chúng tôi thấy một vị thầy khí công trị bệnh cho người khác. Các bệnh nhân nói rằng họ trở nên khá hơn ngay cả khi vị thầy chưa động đến ngón tay nữa, và họ nghĩ rằng bệnh được chữa bằng ý niệm. Thật ra, người ta sử dụng một loại của công năng và ra lệnh cho nó trị bệnh, hoặc làm điều gì khác.

Vì công năng di chuyển trong một không gian khác, người thường không thể thấy bằng mắt của họ. Những người không hiểu cho rằng đó là kết quả của ý niệm. Có người tin rằng ý niệm có thể dùng để trị bệnh, nhưng đó là hướng dẫn người ta đi lạc đường. Quan điểm này phải được làm sáng tỏ.

Ý nghĩ của con người là một loại tín hiệu, một loại năng lượng và cũng là một dạng của vật chất. Khi người ta nghĩ về các vấn đề gì, bộ óc phát ra một rung động. Ðôi khi nó thật là hữu hiệu khi niệm chú. Tại sao vậy. Vì vũ trụ cũng có tần số rung động của chính nó. Khi tần số câu chú của quý vị trùng hợp với tần số của vũ trụ, nó có thể có hiệu lực. Muốn cho chắc chắn có hiệu lực, nó phải là một chú rất nhỏ vì các điều tà ma không được phép tồn tại trong vũ trụ. Ý niệm cũng là một lối suy nghĩ đặc biệt. Pháp Thân của các thầy khí công cao cấp được kiểm soát và nhận mệnh lệnh từ ý nghĩ của bản thể chính. Pháp Thân cũng có suy nghĩ riêng của nó, nó có khả năng độc lập để tự giải quyết các vấn đề và thi hành các công tác. Nó là một cá thể hoàn toàn độc lập.

Nhưng cùng lúc, Pháp Thân hiểu ý nghĩ của bản thể chính của các thầy khí công và thi hành các công tác dựa theo các ý nghĩ đó. Chẳng hạn như nếu vị thầy Khí công muốn trị bệnh cho một cá nhân nào đó, Pháp Thân của ông ta sẽ đi đến đó. Nếu không có ý nghĩ đó, nó sẽ không đi. Khi nó thấy một điều gì thật tốt và nên làm, nó sẽ tự mình làm điều đó. Có thầy chưa đạt đến trạng thái giác ngộ. Có một số điều ông ta chưa được biết, nhưng Pháp Thân của ông ta đã biết rồi.
Ý niệm cũng bao gồm ý nghĩa của linh cảm. Linh cảm không đến từ chủ ý thức của con người. Kiến thức căn bản của chủ ý thức rất là hạn hẹp. Nó sẽ không làm được nếu chỉ dựa vào chủ ý thức để thử đưa ra giải pháp gì mà chưa có trong xã hội này. Linh cảm đến từ phụ ý thức. Có người tham gia vào các công trình sáng tạo hay nghiên cứu khoa học. Khi họ bị kẹt sau khi tận dụng bộ óc của họ, họ bỏ ngang, nghỉ xả hơi một hồi, hay là đi bộ ngoài trời. Đột nhiên, linh cảm đến với họ mà không cần suy nghĩ. Họ lập tức bắt đầu ghi chép mọi điều xuống một cách nhanh chóng.

Vì vậy họ đã sáng chế ra được điều gì. Ðây là vì khi chủ ý thức quá mạnh, nó kiểm soát bộ óc. Nó bị kẹt. Khi chủ ý thức buông lỏng, phụ ý thức bắt đầu hoạt động. Rồi nó kiểm soát bộ óc. Phụ ý thức, thuộc về một không gian khác, không bị kiềm chế bởi không gian này, và nó có khả năng sáng tạo những điều mới lạ. Nhưng phụ ý thức không thể vượt quá hay là cản trở các tình trạng của xã hội người thường, cũng không có thể ảnh hưởng đến sự tiến bộ của phát triển trong xã hội.
Linh cảm đến từ hai nguồn gốc. Một là do được cung cấp bởi phụ ý thức. Phụ ý thức không bị lạc giữa cạm bẫy của thế giới này và có thể tạo ra linh cảm. Nguồn gốc khác nữa đến từ các mệnh lệnh và hướng dẫn của một linh thể ở cao tầng. Khi được hướng dẫn bởi một linh thể ở cao tầng, tâm người ta đã được mở rộng và có thể sáng tạo những thứ thật quan trọng. Sự phát triển toàn vẹn của xã hội và của vũ trụ có các nguyên lý riêng của nó. Không có gì xảy ra do sự ngẫu nhiên hết.

6. Tầng thứ tu luyện của Pháp Luân Công

(1) Tu luyện ở cao tầng

Pháp Luân Công tu luyện ở một cấp thật cao, vì vậy công được phát sinh rất mau. Ðại đạo rất đơn giản và dễ dàng. Trên căn bản tổng quát, Pháp Luân Công có rất ít động tác. Tuy vậy, nó kiểm soát tất cả các bộ phận của cơ thể, kể cả những thứ sẽ được sinh ra. Chừng nào tâm tính có thể được tăng lên, công sẽ tăng thật mau, nó đòi hỏi rất ít cố gắng của ý định, hay sử dụng phương pháp đặc biệt nào, hay bắt lò luyện đan. Dựa vào sự hướng dẫn của ý định có thể rất là phức tạp và có thể dễ dàng đi sai lệch. Nơi đây chúng tôi cung cấp một lối tu luyện thích hợp nhất và tốt nhất, tuy vậy cũng là khó nhất. Ðể cho người tu đạt đến trạng thái Thân Trắng Như Sữa (nãi bạch thể), nó sẽ mất hơn chục năm, nhiều chục năm, hay ngay cả lâu hơn nữa theo các pháp môn khác. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ mang quý vị đến trạng thái này ngay lập tức. Trình độ này có lẽ đã vượt qua trước khi quý vị ngay cả cảm nhận được nó. Nó có lẽ kéo vài khoảng vài giờ. Sẽ có một ngày quý vị cảm thấy rất nhạy cảm, và chỉ một lúc sau, quý vị sẽ không còn cảm thấy nhạy cảm như vậy nữa. Thật ra, quý vị vừa mới trải qua một cấp bậc lớn.

(2) Các hình thức biểu lộ của công

Sau khi trải qua sự điều chỉnh của cơ thể vật chất, học viên Pháp Luân Công đã đạt đến một trạng thái thích hợp cho việc tu luyện Ðại Pháp. Ðây là trạng thái ‘nãi bạch thể’. Công chỉ có thể được tạo thành sau khi chúng được điều chỉnh tới trạng thái này. Người có thiên mục mở ở cấp cao có thể thấy công phát triển trên làn da của người đó, rồi nó được thu hút vào trong cơ thể của người tu. Kế đó nó được tạo thành lần nữa và hấp thụ vào trong cơ thể lần nữa, và cứ tiếp tục như vậy, đi từ lớp này đến lớp khác, đôi khi rất nhanh chóng. Ðây là công của đợt đầu. Sau khi công đã được phát triển trong đợt đầu, cơ thể của người tu không còn là một cơ thể thường nữa. Sau khi đạt đến “nãi bạch thể” người ta sẽ không bao giờ bị bệnh nữa. Cơn đau có thể xuất hiện đó đây hay là sự khó chịu ở vùng nào đó, tương tự như bệnh tật, nhưng nó không phải là bệnh. Nó gây ra bởi nghiệp lực. Sau đợt phát triển công lần thứ nhì, các linh thể đã tăng trưởng thật lớn. Chúng có thể di chuyển và trò chuyện. Ðôi khi chúng nó được sinh sản rải rác, đôi khi tụ lại rất đông đúc. Chúng cũng có thể nói chuyện với nhau nữa. Một khối năng lượng thật lớn được chứa đựng trong các linh thể này, nó được dùng để thay đổi bản thể thật sự.
Khi tu luyện theo Pháp Luân Công đến một cấp thật cao, đôi khi Hài-nhi (Anh hài) xuất hiện cùng khắp cơ thể con người. Chúng nó rất là nghịch ngợm, thích nô đùa và rất rộng lượng. Cũng có thể một linh thể khác được sinh ra. Ðó là Nguyên Anh. Nó ngồi trên tòa sen trông thật đẹp. Nguyên Anh được sinh ra do sự tương hội giữa Âm và Dương trong cơ thể con người. Người tu nam cũng như nữ đều có thể luyện thành Nguyên Anh. Lúc đầu Nguyên Anh rất nhỏ, nhưng nó lớn dần, và cuối cùng nó to lớn cũng bằng và trông giống như người tu. Nó ở phía trong cơ thể của người tu. Khi người có công năng nhìn người đó, họ sẽ nói rằng người đó có hai cơ thể. Thật ra, người đó đã luyện thành cơ thể thật của mình. Thêm vào đó, có nhiều Pháp Thân cũng có thể được phát sinh nhờ sự tu luyện. Một cách tổng quát, các công năng được phát triển trong vũ trụ, tất cả đều có thể được phát triển trong Pháp Luân Công; các công năng được phát triển trong các pháp môn tu luyện khác, tất cả cũng được bao gồm trong Pháp Luân Công.

(3) Tu luyện xuất thế gian pháp

Nhờ tập luyện, người tu làm cho các kinh mạch của mình nới rộng hơn và rộng hơn nữa, nối liền với nhau thành một khối. Ðó là tu luyện đến trạng thái không còn kinh mạch hay huyệt châm cứu nữa. Nhưng nói khác đi, kinh mạch và các huyệt châm cứu hiện diện ở khắp nơi. Ðiều này cũng chưa có nghĩa là quý vị đạt được Ðạo. Nó chỉ phản ảnh một trình độ nào đó trong tiến trình tu luyện Pháp Luân Công. Khi đạt đến trạng thái này, người ta đi đến cuối đường của sự tu luyện Thế Gian Pháp. Công phát triển được rất là mạnh mẽ, và có đủ mọi hình dáng. Cột trụ công cũng rất cao. Thêm vào đó, ba đóa hoa xuất hiện trên đỉnh đầu. Tới lúc đó, người này đã hoàn tất bước cuối cùng của Thế Gian Pháp.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hoàn thiện bản thân - Chương 2: Pháp Luân Công
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries