Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

sai lầm trong phong thủy phòng khách

Trong phòng khách, có nhiều người dù biết là các mãnh thú: sư tử, hổ, báo … ngồi, nằm trợn mắt, nhe nanh múa vuốt…. làm bằng đất đá 100% những vẫn đặt cả bục,
sai lầm trong phong thủy phòng khách

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Trong phòng khách, có nhiều người dù biết là các mãnh thú: sư tử, hổ, báo … ngồi, nằm trợn mắt, nhe nanh múa vuốt…. làm bằng đất đá 100% những vẫn đặt cả bục, kệ hẳn hoi cho các “ngài”.

Thú chơi mãnh thú này có từ thời thượng cổ. Chỉ để các “ngài” trông giữ cửa đền miếu, đình, chùa, cửa công quyền, nhà quyền quý hù doạ người qua đường, con nít, kẻ bất lương yếu bóng vía. Chứ đâu được ngồi chễm chệ ở phòng tiếp khách. Chủ khách tâm đầu ý hợp ra về còn dùng dằng đâu cần các “ngài” xua đuổi. Việc này người xưa chưa làm thế bao giờ.

Phòng khách có đặt bộ loa đài, dàn nghe nhạc, ti vi chủ khách ngồi đối ẩm, hàn huyên nhưng tai phải căng ra, mặt nhăn như bị để lắng nghe từng lời hay ý đẹp của nhau trong tiếng nhạc, tivi mở to át cả tiếng thiên hạ, thật vô phúc lại bị nghe một thứ nhạc phẩm ẽo ợt, đập phá ình ình. Phải làm khách trong hoàn cảnh này thật khó quá!
 

Phòng khách giản dị nhưng lại vô cùng thanh cao

Không ít phòng khách đã thiết kế cầu kì, màu sắc loạn xạ, tứ tung lại gắn lên tường một tấm gương to đến 2-3m² đối diện với chỗ chủ khách đang ngồi. Tấm gương vốn là vật làm duyên nay trở thành công cụ giám sát vào tình thế o ép, đánh mất sự tự nhiên vốn có trong giao tiếp, dồn nén thần kinh. Bị bao quanh không gian trên trần, dưới đất, phải trái toàn là bàn ghế, đèn đóm lập loè, nếu phải tiếp xúc một giờ hoặc hơn thế nữa với những người mẫn cảm, hẳn lúc ra về tâm thần sẽ bất ổn. Điều này thật bất tiện.

Ánh sáng thiên nhiên đủ, không nhất thiết phải nhờ đến công cụ chiếu sáng, đừng nên bật loại đèn có màu xanh xanh, đỏ đỏ quay tít vì có hại cho mắt, cho sức khỏe.

Nhìn lại người xưa có phòng tiếp khách, sang thì bộ tràng kỉ, khó thì bộ bàn ghế bằng tre gọn gàng tinh tế, trên bàn bày bộ bàn trà tươm tất, kê thêm vài chiếc đôn ghế bằng tre, một lọ hoa lan phớt màu vàng nhạt, hoặc đúng mùa thì bày thêm một vài bông cúc vàng ươm. Đôi khi cũng thấy ở trên đôn đặt cái liễn lam tuyền, một cây mai thế nhỏ, phất phơ mấy nụ mai, hơn nữa trên tường bộ tranh nhỏ xinh xắn vẽ bốn mùa xuân – hạ – thu – đông, tố nữ đàn hát. Phòng khách giản dị, thanh cao thân thiết đến vô cùng.

 

Theo Phong Thủy Nhà Ở


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: sai lầm trong phong thủy phòng khách

Mơ thấy sông: Bạn đã nhận thức được dòng chảy tình cảm của mình –

Một dòng sông trong mơ cho thấy người nằm mơ đã nhận thức được dòng chảy tình cảm của bản thân mình. Nếu mơ thấy mình đang ở trong lòng sông, có thể đoán là bạn đã cảm giác được tính dục và đời sống cảm quan của bản thân. Hầu như mỗi người chúng ta
Mơ thấy sông: Bạn đã nhận thức được dòng chảy tình cảm của mình –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy sông: Bạn đã nhận thức được dòng chảy tình cảm của mình –

Sự tích tơ hồng

"Tơ hồng Nguyệt lão thiên tiên" dựa theo tích Vi Cố gặp ông lão trong một đêm trăng, ngồi kiểm sách hướng về phía mặt trăng, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. Ông lão bảo cho biết đây là những văn thư kết hôn của toàn thiên hạ. Còn những dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua. Bỗng ông già lại hiện lên cho biết đứa bé kia sẽ là vợ anh.
Sự tích tơ hồng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Vi Cố giận, bảo đầy tớ tìm giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ lẻn đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Mười bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố gạn hỏi, vợ mới bảo: Thuở còn bé, một bà vú họ Trần bế vào chợ bị một tên cuồng tặc đâm phải. Vi Cố hỏi: Có phải bà vú đó chột mắt không? người vợ bảo: Đúng thế! Vi Cố kể lại chuyện trước, hai vợ chồng càng quý trọng nhau cho là duyên trời định sẵn.

Mẩu chuyện vui: Tình yêu làm cho con người lú lẫn.

..."Tâu Thượng đế, theo hạ thần thì thượng đế không cần đòi lại trí khôn của con người. làm như thế không khỏi mang tiếng là trời nhỏ nhen. Điều mà thượng đế nên làm là hạn chế trí khôn của con người."

-"Bằng cách nào"?

-"Chỉ có tình yêu-Không có gì làm con người lú lẫn đi như trong tình yêu. Trời chỉ cần phái một vị thần mang vòng dây xuống trần, cứ đôi trai gái nào ở gần nhau thì quăng cho một vòng. Người nào càng thông minh thì cần quăng thêm cho nhiều vòng. Con người chỉ luẩn quẩn trong những vòng ấy mà chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lên quấy nhiễu nhà trời nữa".

Trời khen "Thật là diệu kế"!, bèn truyền cho ông tiên già mang những chiếc vòng của trời xuống trần gian.

Từ ngày bị ông tiên già khoác vào người mình những vòng dây tình ái, con người chỉ luẩn quẩn với nhau, không còn nghĩ tới chuyện đánh nhau với trời nữa. Ông tiên già ấy được gọi là ông "Tơ".


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sự tích tơ hồng

Mơ thấy thu dọn nhà cửa: Sự nghiệp thành công và có thu nhập kinh tế –

Tôi vốn thích dọn dẹp nhà cửa, bởi một căn nhà gọn gàng mới mang đến cảm giác ấm cúng cho mọi người. Thế nên người yêu thường hay chế nhạo tôi mắc phải chứng bệnh sạch sẽ. Đôi lúc tôi còn mơ thấy mình đang xắn quần quét dọn nhà cửa, lau chùi vật dụng
Mơ thấy thu dọn nhà cửa: Sự nghiệp thành công và có thu nhập kinh tế –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy thu dọn nhà cửa: Sự nghiệp thành công và có thu nhập kinh tế –

Quẻ Quan Âm: Tần Bại Cầm Tam Tướng

Quẻ Quan Âm thứ 74 Quân Tần Bại Cầm Tam Tướng đoán rằng tiến thoái lưỡng nan. Hẫy bỏ mặc tất cả, cúi đầu mà đi, thành hay bại đều ở trong đó.
Quẻ Quan Âm: Tần Bại Cầm Tam Tướng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 74 được xây dựng trên điển cố: Tần bại cầm tam tướng hay quân Tần thất bại, ba vị tướng bị bắt.

Quẻ hạ thuộc cung Tỵ. Hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan, muốn tiến cũng không được, muốn lui cũng khó. Bốn phương tám hướng đều thấy bế tắc. Mọi sự cứ thận trọng và an bài cho số mệnh của mình.

Thử quái tự hộc đều long chi tượng. Phàm sự đa hư thiểu thực dã.

Điển cố quẻ Quan Âm: Quân Tần Bại Cầm Tam Tướng

Mùa đông năm Tần Mục Công thứ 32 (tức năm 628 tr. CN), Tấn Văn Công băng hà. Lúc này, Khởi Tử từ nước Trịnh sai người gửi thư về nước Tần, nói rằng: “Người nước Trịnh đã trao chìa khóa cửa phía bắc cho tôi, nếu như lặng lẽ cử quân đội đến, sẽ có thể có được nước Trịnh.” Tần Mục Công hỏi ý kiến Kiến Thúc và Bách Lý Hề, hai người đáp rằng: “Vượt chặng đường mấy nghìn dặm đi qua mấy nước để tập kích người khác, rất ít khi thành công. Hành động của quân ta, nước Trịnh chắc chắn sẽ biết, không thể đi được!” Tần Mục Công nói: “Ta đã quyết định rồi, hai ngươi không cần nói nữa.” Bèn sai con trai của Bách Lý Hề là Mạnh Minh Thị, con trai của Kiến Thúc là Tây Khất Thuật và Bạch Ất Bính, ba người đem quân xuất phát.

Mùa xuân năm sau, quân Tần tiến về phía đông, Bách Lý Hề và Kiến Thúc khóc tiễn đội quân, Tần Mục Công rất tức giận: “Ta xuất quân, các ngươi lại khóc lóc với bộ mặt đưa đám làm ảnh hưởng đến sĩ khí của quân ta, thế là thế nào?” Hai người đáp: “Chúng thần thực không muốn làm mất sĩ khí. Chỉ là chúng thần tuổi đã già rồi, con trai phải xuất chinh, sợ rằng sau này không gặp lại được nữa!” Hai người nói với con trai của mình rằng: “Quân đội chắc chắn sẽ thất bại, người nước Tấn sẽ chặn đánh ở núi Hào Sơn!”

Đại quân nước Tần muốn lặng lẽ đánh úp nước Trịnh, nhưng nước Tấn sớm đã nhận được tin báo. Đại tướng nước Tấn là Tiên Chẩn cho rằng, đây là cơ hội tốt để đánh nước Tần, khuyên Tấn Tương Công mới lên ngôi cho chặn đánh ờ núi Hào Sơn. Tấn Tương công đích thân chỉ huy quân đội đến núi Hào Sơn.

Quân của Mạnh Minh Thị vừa đến núi Hào Sơn, đã rơi vào trận mai phục, bị đông đảo quân Tấn vây bủa, quân Tấn phục hai bên ném thuốc súng mồi lửa vào quân Tần, còn phía sau lưng nghe tiếng quân Tấn hô hào dậy đất. Quân Tần lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, dẫm đạp lên nhau, sĩ tốt người thì chết, người thì đầu hàng, chết và bị thương vô số, cuối cùng ba đại tướng là Mạnh Minh Thị, Tây Khất Thuật và Bạch Ất Bính đều bị bắt sống.

Tấn Tương Công đắc thắng trở về triều, Văn Doanh (phu nhân của Tấn Văn Công) cầu xin Tấn Tương Công thả ba vị tướng soái của nước Tần trở về, nói rằng: “Họ đúng là đã làm li gián mối quan hệ giữa hai quốc quân của hai nước Tần Tấn. Nếu như Tần Mục Công có được ba người này, có ăn thịt của họ cũng chưa hả giận, sao phải mất công trị tội họ? Hãy để họ trờ về nước Tần, cho vua nước Tần tự trừng phạt họ, được chăng?” Tấn Tương Công nghe mẹ nói có lý, liền cho thả ba người ra.

Ba người về tới nước Tần, Tần Mục Công biết tin toàn quân bị tiêu diệt, đã mặc tang phục, đích thân ra ngoài thành đón họ.

Ba người quỳ dưới đất chịu tội, Tần Mục Công nói: “Đây là sai lầm của ta, đã không nghe theo lời khuyên của cha các ngươi, hại các ngươi phải chịu bại trận, sao có thể trách các ngươi được? Ta cũng không thể vì phạm lỗi lầm nhỏ, mà xóa bỏ công lao to lớn của một người!” Ba người cảm động đến rơi nước mắt, từ đó về sau, họ chăm chỉ luyện tập binh mã, một lòng một dạ muốn báo thù cho nước Tần.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Tần Bại Cầm Tam Tướng

Xem tướng người Mắt trắng môi thâm –

Môi thâm vì những lý do đó trở thành rào cản lớn trong giao tiếp của chị em phụ nữ. Không người con gái nào muốn có một làn môi thâm với nhiều điều tiếng xấu nhưng những thứ tạo hóa “nhào nặn” cho mình thì đâu có thể tự quyết định. Ngoài ra, trong kh
Xem tướng người Mắt trắng môi thâm –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

oa học môi thâm còn là biểu hiện xấu cảnh cáo sức khỏe có vấn đề và cơ thể chứa nhiều nguy cơ bệnh tật. Vậy ý nghĩa của câu Mắt trắng môi thâm là gì?

Nội dung

  • 1 Xem tướng môi thâm
    • 1.1 Môi thâm là tướng ác của người con gái
    • 1.2 Môi thâm là dấu hiệu của người đàn bà không đàng hoàng
  • 2 Xem tướng Mắt trắng, môi thâm
  • 3 Một số câu ca dao về tướng học

Xem tướng môi thâm

Môi thâm là tướng ác của người con gái

Những người sở hữu môi thâm thường không nhận được ánh mắt thiện cảm từ người đối diện thì trong nhân tướng học, môi thâm lại là một trong chín tướng ác của người phụ nữ. Chính vì lẽ đó, con gái môi thâm hay gặp phải nhiều phiền muộn và rắc rối.

Trong dân gian, các cụ ta khi nói về “gái môi thâm thì sao” đã có câu: “Những người mắt trắng môi thâm, Ví chẳng hại chồng thì cũng hại con.”. Mặc dù quan niệm dân gian chỉ mang tính chất tương đối nhưng từ xưa đến nay, những người con gái môi thâm không tránh khỏi cảm giác mặc cảm, chán nản và tự ti vì diện mạo của mình không được đánh giá tốt.

Môi thâm là dấu hiệu của người đàn bà không đàng hoàng

Theo tướng số, con gái môi thường bị coi là những người không chung thủy, không đoan chính thậm chí còn dâm đãng và lăng loàn. Mà người xưa thường gọi gái môi thâm thì sao là “dâm phụ”.

oa học môi thâm còn là biểu hiện xấu cảnh cáo sức khỏe có vấn đề và cơ thể chứa nhiều nguy cơ bệnh tật.

Xem tướng Mắt trắng, môi thâm

“Những người mắt trắng, môi thâm,
Trai thì xảo quyệt gái thì điêu ngoa” 

Hai câu ca dao trên đây, mà các nhà đoán số, tướng số vịnh theo đó mà làm về Ấn tướng để ám chỉ kẻ tiểu nhân hoặc những phường buôn hương bán phấn.
Câu trên chỉ về Ấn tướng của mắt, chỉ về con mắt trắng, những người có con mắt mà tròng đen nhỏ, tròng trắng nhiều, khi nhìn lên mà kẻ đối diện cứ tưởng rằng mắt họ chẳng có tròng đen.

Những người có cặp mắt như thế thì phần đông họ là người tiểu nhân, đàn ông thì gian xảo đàn bà thì trắc nết lăng loàn. Những người như thế nên tránh xa thì phải.

Còn có những người mà có đôi mắt nhìn chớp lia lịa, thì đó là những người thiếu thành thật, họ có thể nói khác mà đến lúc làm thì lại làm khác.

Còn những người khi nhìn người, nhìn vật mà theo một con mắt lại, hạng người đó thì lại ưa nghệ thuật có khiếu thẩm mỹ. Trái lại những người có hai con mắt một to một nhỏ thì đó là (lưỡng mục bất đồng, nhân tâm bất chính) trong thâm tâm họ tính toán sự lừa đảo người khác (mắt lé).

Một số câu ca dao về tướng học

“Người nào tí hí mắt lươn, 
Trai thì trộm cướp gái buôn chồng người”.

Câu này cũng đồng nghĩa gần giống như hai câu trên, có khác là ở đàn bà thì họ có số làm đĩ, vì đàn ông thì gian manh xảo quyệt, họ không thành thật với ai bao giờ, nếu gặp trường hợp những người có Ấn tướng khuyên quý vị nên xa lánh tốt hơn.

Ấn tướng về mũi: Những người bình thường mà lúc nói chuyện mũi thường hay khẹt khẹt thì đó những người ưa lý luận, hay làm thầy thiên hạ, tự coi mình là hơn kẻ khác, hoặc thình thoảng mũi cứ nở phồng lên phồng xuống thì đó là những người ham muốn địa vị cao sang, tham sống, lúc nào cũng sợ chết, thích lòe loẹt thích ăn uống, chịu hưởng thụ nhiều chỉ nghĩ đến mình, chết ai thây kệ.

“Những người mũi thẳng dâng cao, 
Chính nhân quân tử, công hầu có khi”.

Câu này có ý nói người nào mũi cao và thẳng thì đường công danh thật lớn có danh vị quan trọng xã hội. Dù học thức của họ chẳng đến đâu mà những người có mũi này cũng sẽ thành công mai hậu. Nên biết đây là Hiện tướng chứ không phải là Ấn tướng.

Còn những người có mũi thấp và nhỏ lông mũi hếch lên lúc thở nghe hơi ra khì khì, thì đó là tướng người nghèo khổ, tay làm hàm nhai chớ chẳng giàu có, số cơ cực.

Lông mũi cuốn lại bò quanh, 
Đó là Ấn tướng gian manh trong đời, 
Tướng này thích lấy vợ người, 
Khi mà hữu sự chạy dài có khi

Bốn câu này ám chỉ người nào có lông mũi quăn queo xoắn quanh lỗ, thì tâm tánh của người đó bất chính, tà tâm ưa thích sự gian lận, không ngay thẳng, người hèn, tội lỗi, khi làm việc thì biếng nhác. Những người này khó mà trung thành với ai dù với vợ của họ cũng thế, người ta có thể gọi là sâu bọ trong xã hội.

Những người không điếc, không lãng tai, nhưng khi nghe ai nói hoặc nghe bất cứ một tiếng động gì của sự vật mà bất cứ nhỏ hay lớn đều nghiêng tai tỏ vẻ lắng nghe thì đó gọi là Ấn tướng. Ấn tướng đó cho biết hạng người này, ưa sự nghi ngờ cho nên khó mà ghi được lòng tin với người đó. Ngoài xã hội họ chẳng tin ai, mà trong gia đình ngay chính vợ con của họ, họ cũng đa nghi vậy. Vì thế mà trong gia đình hay bị xào xáo nhất là ghen tuông vì tánh đa nghi.

“Nghiêng tai nghe thử tiếng đời,
Hỏi ai trả giá, hỏi người nào ngay. 
Nghe luồng gió thổi cây lay, 
Tướng quân trộm đạo đang bày trò gian.”

Bốn câu thơ trên đây có thấy rõ sự đa nghi quá lố của những người có tật nghiêng tai nghe ngóng.

Những người có Ấn tướng này rất khó mà thành công trên đường đời, bởi họ hay đa nghi chẳng tin ai cũng vì thế mà không gây được cảm tình với ai thành ra thất bại vì chung quanh chẳng có người ưa thích.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng người Mắt trắng môi thâm –

Chọn tranh phong thủy cho người tuổi Dần –

Tuổi Dần: Gồm có các tuổi sinh năm: 1938 – 1950 – 1962 – 1974 – 1986 – 1998. Đối với tuổi này cần chọn treo tranh nào để hợp phong thủy và thu hút tài lộc. Chúng ta cùng đọc bài viết sau để để có câu trả lời nhé! Tranh phong thủy nào hợp với tuổi Dần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Dần: Gồm có các tuổi sinh năm: 1938 – 1950 – 1962 – 1974 – 1986 – 1998. Đối với tuổi này cần chọn treo tranh nào để hợp phong thủy và thu hút tài lộc. Chúng ta cùng đọc bài viết sau để để có câu trả lời nhé!

Nội dung

  • 1 Tranh phong thủy nào hợp với tuổi Dần
    • 1.1 Tranh sơn thủy
    • 1.2 Tác dụng của việc treo tranh
    • 1.3 Vị trí treo tranh

Tranh phong thủy nào hợp với tuổi Dần

tranh-son-thuy-1

Tuổi Dần khi muốn chọn tranh phong thủy để mang lại may mắn, thì nên chọn một trong các loại tranh sau:

Tranh sơn thủy

Các loại tranh sơn thuỷ, núi cao lớp lớp, tranh hổ.

Tác dụng của việc treo tranh

Vượng về điền trạch, vượng nhân đinh, tăng khả năng công tác, khẳng định vị thế phía sau dựa núi, trước mở đường tài – Kim Đồng tiến bảo, bên trái chiêu tài – bên phải trừ tai, chủ yên vị khách yên tâm.

Vị trí treo tranh

Nên treo phòng khách, sảnh đường, phía sau chủ nhân theo hướng phòng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn tranh phong thủy cho người tuổi Dần –

Tác động của Hóa Khoa với các chủ tinh

HÓA KHOA VŨ KHÚC Vũ Khúc là tài tinh chủ về hành động tìm đến với tiền bạc cho nên khi gặp Khoa để hóa với hai đặc điểm: a. Nổi danh về ngành nghề, khả năng nào đó rồi qua sự nổi danh ấy mà kiếm tiền. Tỉ dụ một nhà kinh tế gia được mời cai quản, tính thị trường cho hãng sản xuất.
Tác động của Hóa Khoa với các chủ tinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 
b. Nếu tự tay kinh doanh thì đã nổi tiếng với một hai vụ làm ăn rồi từ đấy có đà phát triển.

Nói tóm lại Vũ Khúc Hóa Khoa kể là cách danh lợi song thâu. Nhưng danh ở Vũ Khoa khác với danh ở Thiên Cơ Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Khoa hay Tử Vi Hóa Khoa không phải danh trên văn chương, trên thế lực mà là cái danh của thực tế kiếm tiền.

Nếu Vũ Khoa gặp Liêm Lộc thường qua danh mà thâu lợi bất ngờ. Đã Vũ Khúc Hóa Khoa thì đương nhiên Thái Dương đứng với Hóa Kị (như người tuổi Giáp tứ Hóa an theo tuần tự: Liêm Phá Vũ Dương. Người xưa thâm ý muốn nhắn bảo phải cẩn thận khi đi vào vận Thái Dương Hóa Kị, danh cao bổng hậu cho người oán ghét ắt tai họa cũng gần chứ không xa.

Vũ Khúc Tham Lang đồng cung mà Vũ Khúc đứng bên Hóa Khoa cùng lúc lại có cả Linh hay Hỏa Tinh thì hoạnh phát mau hơn nhưng cũng lại vì dương danh vô lối mà thất bại chóng hơn.

Các nhà Tử Vi Trung Quốc chủ trương Vũ Khúc Hóa Khoa nên thành công qua nghề chuyên môn hơn là xông vào doanh thương, đỡ kẻ thù đỡ kẻ ghét.

Vũ Khúc Hóa Khoa đóng Thê, vợ đoạt quyền chồng nhưng đồng thời cũng phù trợ chồng chứ không đoạt quyền để lăng loàn. Vũ Khúc Hóa Khoa đóng Tử Tức không đông con và có nhiều khả năng con hai dòng nhưng con cái đa năng.

Vũ Khúc đơn độc đóng Phụ Mẫu dễ xung khắc với cha mẹ. Nhưng có Hóa Khoa không những bớt khắc mà còn sinh trưởng từ một gia đình uy danh. Cung Tật gặp Vũ Khúc Hóa Khoa gặp Hỏa Tinh phải coi chừng phổi nhiệt, khí quản viêm.

HÓA KHOA TỬ VI

Tử Vi rất hợp với Hóa Khoa, nếu cả Thiên Phủ đứng cùng càng hay vì khi có Thiên Phủ tất nhiên phải kèm Thiên Tướng như vậy kể là tạm đủ văn võ triều đình.

Ở trường hợp không Phủ Tướng mà lại thấy tứ Sát Hình Hao hội tụ thì Hóa Khoa vô dụng. Tuy nhiên về mặt học vấn vẫn xem là con người có học, ít nhiều đến được với khoa bảng.

Tử Vi Hóa Kị đứng với Xương Khúc Khôi Việt, Long Phượng thì đa tài đa nghệ theo đuổi một ngành nghề khả dĩ thành công.

Tử Vi Hóa Khoa có một điểm dở là bạn hữu, phần lớn Tử Vi Hóa Khoa đi với nhau ở cung Nô thường xấu. Tỉ dụ Tử Vi Hóa Khoa đóng Tí, cung Nô Bộc Thái Âm ở Tỵ đứng cùng Hóa Kị không bao giờ được sự đắc lực của thủ hạ hay bạn bè. Cung Nô cũng gây ảnh hưởng luôn với cung Bào Huynh. Như vậy Tử Khoa không có thể cộng tác với ai, cộng tác chỉ bị thiệt. Trường hợp sinh ban đêm hay Thái Âm đắc địa sẽ giảm những khó khăn trên. Tỉ dụ số nữ mà Tử Vi đóng Ngọ cung, Thái Âm ở Hợi đứng với Hóa Kị mà lại sinh ban đêm thì thuộc hạ bằng hữu thật hữu dụng.

Tử Vi Hóa Khoa tính tình khoan hậu, nhưng tính cách này lại rất dễ biến thành chủ quan, yêu ghét giận mừng một cách chủ quan khiến cho lòng khoan hậu vì thiện từ mà đâm phiền, có khi lại thành đố kị.

Cho nên Tử Khoa nếu vào vận Hình Sát ắt đưa đến tình trạng hoài tài bất ngộ, vào vận hanh thông lại dễ bị đố kị. Thà đừng Hóa Khoa thì cuộc sống yên hơn.

Các cung lục thân mà Tử Vi Hóa Khoa đều kể làm tốt. Tỉ dụ cung Huynh đệ Tử Khoa, anh em ruột thịt nâng đỡ, vào Phụ Mẫu được cha mẹ che chở, vào Thê cung dễ gặp vợ hơn tuổi nhưng đảm đang, vào cung Nô Bộc mà thấy cả văn tinh thì tài năng kém thuộc hạ, cần phải biết sử dụng khéo thì tình thế này mới hay. Tử Khoa đóng Tật Ách phải săn sóc hệ thống bài tiết nhất là nhiếp hộ tuyết.

HÓA KHOA THÁI DƯƠNG

Thái Dương bản chất là tán phát nên không thật thoải mái với Hóa Khoa. Hóa Khoa làm tăng thêm tính phát tán ấy cho nên dễ thành ra tiếng nhiều mà miếng ít. Bị người chú ý quá mức dù là ngưỡng vọng thì cũng phiền. Như quẻ dịch gọi bằng “Khang long hữu hối” là thế.

Thái Dương miếu địa đứng với Khoa không bằng đứng với Lộc, Quyền trên thực tế thâu hoạch tốt. Thái Dương Hóa Khoa cũng cần bách quan tề tựu mới thành đại sự, nếu chỉ gặp Sát Hình thì là hư danh hư lợi thôi, có khi còn bị thiên hạ lợi dụng nữa.

Nói về bách quan tề tựu cũng có hai hình thái khác biệt. Thái Dương Hóa Khoa nhất định là nổi danh, người đời chú ý từ cử chỉ đến lời nói, nếu được văn tinh Xương Khúc chế giàm tục khí ngôn hành văn nhã, thiếu văn tinh sẽ thô lỗ, ẩu tả cho người đời đàm tiếu. Thái Dương hãm địa hoặc bị Tuần Triệt sự ẩu tả đậm nét hơn.

Có Xương Khúc rồi thêm Lộc Tồn càng đẹp. Cách Dương Lương Xương Lộc đóng vào Mão tốt nhất, trường hợp này Hóa Khoa sẽ đắc lực hơn Quyền Lộc nếu vào học thuật văn chương, nhưng lại không thành giàu có.

Thái Dương Hóa Khoa chỉ thành phú cách nếu xung chiếu bởi Hóa Quyền và cung Quan có Hóa Lộc. Được Thiên Mã Tả Hữu sẽ rất sớm thành công nếu như không bị Hỏa Linh Không Kiếp.

Dương Khoa có Cự Môn đứng cùng hay chiếu, ăn nói lý luận cứng cỏi vào ngành ngoại giao hay pháp luật hợp cách. Thái Dương Hóa Khoa ở hãm cung mà bị Không Kiếp sẽ vì danh vọng hão mà mang họa vào thân.

Dương Khoa đóng cung lục thân đều hay trừ cung Nô Bộc. Dương Khoa đóng Bào Huynh, Phu Thê, Phụ Mẫu những người thân ấy đều có danh vọng. Đóng vào Nô Bộc, thuộc hạ sẽ lợi dụng danh mình hoặc tựa vào mình mà vượt trội lên hơn mình.
Dương Khoa vào lục thân cung nếu bị Đà La Không Kiếp lại thành ra bị lục thân bóc lột. Thái Dương Hóa Khoa đóng Tật Ách dễ bị bệnh ở buồng gan, can khí nhiệt uất bốc lên mặt làm thành bệnh mắt.

HÓA KHOA THIÊN CƠ

Thiên Cơ bản tính phù động, đứng với Hóa Khoa tính năng động ấy sẽ thành kế hoạch, giỏi về giao tế, thuyết phục thiên hạ. Khoa đi với Cơ tốt hơn Lộc đi với Cơ.

Khoa Cơ luôn luôn đeo đẳng một điểm phiền là gặp Hóa Kị đứng với Cự Môn (người tuổi Đinh tứ Hóa an theo thứ tự Âm Đồng Cơ Cự). Cự Kị đương nhiên này không tuyệt đối thành cặp hung thần nếu không bị hung sát tinh khác. Hễ có hung sát tinh hội tụ để trợ giúp Cự Kị lập tức sinh phiền nhiễu do vạ miệng, do những lời phê bình sắc bén mà gây thù oán ảnh hưởng cho công việc làm.

Thiên Cơ Hóa Khoa càng thông tuệ, có điều Thiên Cơ đa học nhưng lại bất chuyên. Bởi vậy Cơ Khoa ít hy vọng thành một chuyên gia thật giỏi. Cơ Khoa sẽ chịu ảnh hưởng nhiều từ Cự Kị khi vận đi xuống. Bởi thế Cơ Khoa lúc đắc thời đắc thế cần thận trọng.

Ông Vương Đình Chi đưa ra lập luận sau đây: “Thiên Cơ đóng Mệnh rất ngại sao Thiên Lương đóng Phúc Đức (đó là cách Cự Cơ Mão Dậu đấy) sẽ đưa đến tình trạng tự thị thông minh mà rơi vào lầm lẫn to tát, khiến cho khả năng quyền biến thành hư ngụy, hoặc ra con người khinh bạc khó thành đại sự”

Cơ Khoa đóng Huynh Đệ, anh em bất hòa thường trực, hoặc bằng mặt mà chẳng bằng lòng, anh em cộng tác với nhau mà mỗi người lại tính toán riêng. Thà không Hóa Khoa còn hơn, có Hóa Khoa vào Huynh Đệ không chỉ ảnh hưởng đến anh em mà còn ảnh hưởng đến cả bè bạn. Có Hóa Khoa tóm lại khó lòng gặp được người cộng tác trung thực.

Cung Tật Ách thấy Cơ Khoa can hỏa vượng thịnh, khó ngủ vì tâm thần bất giao do sự hun nóng của lá gan đưa đến thần kinh suy nhược.

HÓA KHOA VĂN XƯƠNG
Xương Khúc tuy là phụ tinh nhưng cũng dự phần vào chuyện an tứ Hóa. Một phụ tinh nữa dự phần tứ Hóa là sao Hữu Bật. Xương Khúc chủ văn chương nên gặp Hóa Khoa kể như hữu lý.

Một phái hệ Tử Vi bên Trung Quốc không chấp nhận Hữu Bật đứng với Hóa Khoa, nhưng đấy chỉ đặt vấn đề thôi, không được giải quyết.

Thời xưa do khoa cử mà nên công danh (dĩ nhiên cũng không thiếu gì người qua dị lộ mà có công danh). Bởi vậy khi chuyển vào số mà chủ trương Mệnh hay Thê cung mà có Xương Khoa rất đáng mừng. Vận gặp Xương Khúc Hóa Khoa cũng thuận lợi cho công danh.

Đời bây giờ Xương Khoa không còn sức mạnh để đạt công danh như ngày trước, chỉ xem là giành được phần khoa bảng thôi.

Văn Xương chủ về văn thư khế ước, viết sách nổi tiếng, hoặc có văn bằng mà thành danh giá. Xương Khoa Hóa Lộc đi cùng khả dĩ nhờ một khế ước mà có tiền.
Xương Khoa cần có thêm Tấu Thư càng dễ nêu cao danh vọng. Xương Khoa cũng là dấu báo của một tin vui. Xương Khoa là một con người giỏi thích ứng với cuộc sống, yêu đời.

Xương Khoa vào vận hạn hay các cung lục thân mà gặp nhiều hung sát tinh thì lại không tiếp tục mang tính chất mừng vui hỉ khánh nữa mà có thể ra tang lễ. Tại sao? Vì Xương Khoa chủ về lễ nhạc kèn trống tế lễ.

Thê cung thấy Xương Khoa đi cùng Đào Hoa vào cổ thời là con người ưa lấy vợ lẽ thiếp hầu, ở thời này thường xảy ra những cuộc tình ngoại hôn. Xương Khoa vào cung Tật Ách mà có Hỏa hay Linh thì bệnh tật để lại vết sẹo, như giải phẩu hoặc nám da.


HÓA KHOA THIÊN LƯƠNG

Thiên Lương chủ quí nên cần gặp Hóa Khoa để mà danh dự. Cơ Lương đi cặp đứng cùng Hóa Khoa là con người quản trị giỏi. Thiên Lương Hóa Lộc dễ được người tin cậy.

Cách Cơ Cự Đồng Lương được Hóa Khoa là một cán bộ hành chánh cừ khôi, hoặc là loại chuyên viên có hạng. Cao thấp còn tùy sao bản mệnh.

Lương Khoa trên tính tình là con người từ ái, chuộng nghĩa khinh tài. Lương Khoa mà gặp Văn Khúc Hóa Kị đối xung thì sức lực bị giảm hẳn, gây thù chuốc oán vì cái tính bới lông tìm vết xét nét tiểu tiết nhỏ nhặt.

Lương Khoa có Tấu Thư học vào ngành viết diễn văn, làm đổng lý phụ tá đắc lực.

Lương Khoa đi cùng Thiên Đức Giải Thần học thuốc dễ thành công.

Thiên Lương Thiên Đồng hễ có Hóa Khoa thì không sợ thấy Thiên Mã, không Khoa chỉ có Thiên Mã thôi Đồng Lương sẽ ra lãng đãng, bông lông.

Đồng Lương Hóa Khoa có Thiên Mã thành ra con người giao du rộng rãi “tứ hải văn danh”. Ngay cả Thiên Lương Tỵ Hợi mà được Khoa cũng giảm bớt chất phiêu bồng thêm Khôi Việt nữa thì qua cơn phiêu lãng trải nhiều kinh hiểm khả dĩ nên công. Lương Tỵ Hợi vào Thê cung dù có Khoa cũng vẫn không đẹp.

Lương Khoa đóng Phụ Mẫu hay Tử Tức đều tốt, được ân đức cha mẹ và con cái thành đạt. Thiên Lương đóng Tật Ách gặp Không Kiếp dễ bị tê thấp đau nhức, có Hóa Khoa càng nặng.

Nữ mệnh Thiên Lương Hóa Khoa đóng Tật Ách gặp Linh Hỏa bị lưu sản, bệnh lộn xộn đường kinh. Từ trước tới giờ người ta nghĩ Hóa Khoa vào Tật Ách là giải hết bệnh hoạn, điều này qua kinh nghiệm không đúng

HÓA KHOA THÁI ÂM

Thái Âm là tài tinh, khi đã hóa thành Khoa khiến cho tài nguyên thuận lợi. Thái Âm Hóa Khoa vào kinh doanh hợp cách, dễ tạo thanh danh cho công việc kinh doanh mà sinh lợi. Tỉ dụ một tiệm ăn nổi tiếng, tiệm quần áo nổi tiếng….

Thái Âm khác Thái Dương ở điểm: Thái Dương trải ánh sáng đi, tán quang trong khi Thái Âm lại liễm ánh sáng tới. Bởi thế nên sự thành danh cũng khác với thành danh của Thái Dương. Thái Dương mở rộng ra quần chúng, Thái Âm lại cần hạn hẹp với lợi ích bản thân.

Thái Âm Hóa Khoa tạo tính lạc quan, dễ sống, thích nghi hưởng thụ. Thái Âm Hóa Khoa đóng Phúc Đức quan niệm sống thoải mái với hưởng thụ nhân sinh. Do đó mới có luận cứ rằng: Âm Khoa đóng Mệnh đắc địa không hay bằng đóng Phúc Đức trên mặt nhàn nhã hưởng thụ. Vì Âm Khoa ở Mệnh thì cung Phúc Đức có Cự Môn thường đưa đến tình trạng đam tâm thái quá dễ mệt mỏi tinh thần.

Âm Khoa vào Tài Bạch cung thì cung Mệnh sẽ là sao Thiên Lương thủ. Tiền bạc không do tự tay mình tung hoành mà nhờ thanh vọng chức tước sẵn có để hưởng bổng lộc. Thái Âm đóng hãm cung mà có Hóa Khoa càng vô duyên với những vụ đầu tư, hãy theo đuổi chức nghiệp thì hơn.

Thái Âm hãm đứng với Hóa Khoa ở Tật Ách chủ về bệnh âm hư. Âm Khoa đắc địa vào cung lục thân Phụ Mẫu Tử Tức xem là tốt đẹp kể luôn cả Thê cung, nhưng nếu lạc hãm thì ngược lại.


HÓA KHOA VĂN KHÚC


Xương hay Khúc đều là văn tinh cho nên đương nhiên cần Hóa Khoa. Thời xưa cho rằng Văn Khúc không bằng Văn Xương vì Văn Khúc mang khuynh hướng dị lộ công danh. Văn Khúc Hóa Khoa cùng với Ấn Quang Thiên Quí tốt hơn Văn Khúc chỉ với một Hóa Khoa, như vậy mới thành cách “Ân Khoa”. Cách này dễ được đề bạt vào chức vị.

Văn Khúc sao có tài ăn nói nếu gặp Cự Môn Hóa Lộc thì nói ra tiền, hoặc vì giỏi ngôn từ mà được người đời tin cậy. Văn Khúc cũng chủ về thuật số đứng với Khoa và Cơ Âm học về thuật số khả dĩ nổi danh.

Văn Khúc Hóa Khoa chịu ảnh hưởng nhiều từ các sao mà chúng đứng cùng. Tỉ dụ Tử Vi Thất Sát không ưa Văn Khúc Hóa Khoa lắm. Tử Sát chủ về quyền lực, Khúc Khoa không làm tăng tấn quyền lực, đôi khi còn làm trở ngại cho khả năng quyết đoán.

Vũ Khúc có thể cần Văn Khúc thôi, nhưng không cần Văn Khúc với Hóa Khoa vì Khoa chen vào tạo thành mâu thuẫn đáng lẽ cần tham, quyết định thì là dùng dằng mà hỏng việc. Nhưng Thiên Cơ Thiên Lương thì tuyệt đối cần Văn Khúc Hóa Khoa. Cơ Lương có được Khúc Khoa thanh vọng tăng lên, nhưng đồng thời cũng mang một khuyết điểm là nhiều lý thuyết hơn hành động.

Cự Môn Hóa Lộc đứng với Văn Khúc Hóa Khoa tài ăn nói hơn người với điều kiện đừng có Sát Kị tinh. Gặp Sát Kị sẽ bị họa do ngôn từ. So Xương với Khúc thì Văn Xương thiên về tư tưởng, Văn Khúc lại ngả về hành động. Văn Xương khi suy tư rất sáng nhưng vào hành động lại vụng về, trong khi Văn Khúc suy tính không tinh sảo nhưng hành động đắc lực.

Khúc Khoa vào cung Phúc Đức ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc đời. Khúc Khoa đóng Mệnh mà Thê cung lại thấy Văn Xương Hóa Kị thì trước khi có vợ đã có thiếp. Nữ mệnh mà như thế lúc lấy chồng không còn là con gái nữa. Nó không rõ rệt như Tham Đào nhưng là ngấm ngầm.

HÓA KHOA THIÊN PHỦ

Thiên Phủ ưa nhất Lộc. Khoa đối với Phủ chỉ là thứ yếu. Thiên Phủ thiếu Lộc mà gặp cả Sát tinh như Triệt Tuần, Linh Hỏa, Không Kiếp sách gọi bằng: “Phủ khố không lộ” (kho thủng, kho không cửa ngõ). Khoa vào chẳng giúp ích được gì.

Thiên Phủ Hóa Khoa không bị sát tinh là người quản thủ tiền bạc giỏi. Thiên Phủ Hóa Khoa gặp Sát tinh nên học một nghề cho tinh để vinh thân.

Phủ Khoa thành một cách đặc biệt nếu gặp Thiên Riêu đứng bên. Hễ có Riêu thì không sợ các sát tinh. Thêm Sát tinh càng tốt, biến ra con người nhiều mưu chước kinh doanh tài chánh, hoàn cảnh càng biến hóa càng lên cao. Phủ Khoa Riêu không Sát tinh thì chỉ là con người gây được tín nhiệm của thiên hạ nhưng coi chừng tâm tư người này quá lớn.

Tử Vi Thiên Phủ đồng cung hoặc đối xung thì Thiên Phủ Hóa Khoa kể làm tốt nhất là với người tuổi Nhâm vì còn hội thêm với Quyền Lộc. Phủ Khoa trong trường hợp trên đem lại khả năng lãnh đạo và được người tin cậy miễn đừng thấy Hóa Kị đứng bên Vũ Khúc. Có Vũ Kị biến ra lý tưởng quá mức mà đưa đến không tưởng.

Phủ Khoa đóng lục thân, có thể tin cậy trong mọi công việc làm ăn. Tỉ dụ vào cung Bào hãy cộng tác với anh em ruột thịt. Phủ Khoa đóng Thê cung hay Phu cung luận đoán phức tạp hơn. Vì Phủ ở Thê thì Mệnh là Tham Lang. Phủ Khoa như vậy người phối ngẫu sẽ chỉ phúc hậu với điều kiện hơn tuổi (vợ già hay chồng già). Phủ Khoa gặp Sát tinh đóng Tật Ách thường bị bệnh ở bộ phận tiêu hóa: dạ dày, ruột.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tác động của Hóa Khoa với các chủ tinh

Luận dụng thần

Một bài viết về luận dụng thần của tác giả Hoàng Đại Lục. Mời các bạn cùng đọc.
Luận dụng thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tác giả: Hoàng Đại Lục

Dụng thần là gì? Học giả mệnh lý hiện đại hầu như đều nhất chí cho rằng: Dụng thần tức là mấu chốt của bát tự, là một hai loại ngũ hành co thể gây nên những tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan trong bát tự. Hoặc có thể nói, dụng thần chính là "thần" có thể làm cân bằng ngũ hành bát tự, có ích với nhật chủ, nói gọn là dụng thần cân bằng.

Lật giở các thư tịch mệnh lý hiện đại, chúng ta sẽ phát hiện đa số tác giả đều dùng phần lớn số trang sách để luận thuật tác dụng quan trọng của dụng thần và cả phương pháp lựa chọn dụng thần. Các vị ấy còn cho rằng dụng thần không thể bị tổn thương được, dụng thần mà có lực thì mệnh chủ sẽ cát, dụng thần bị thương thì mệnh chủ sẽ hung, do đó điều cơ bản nhất, quan kiện nhất, khó khăn nhất khi xem mệnh chính là tìm đúng dụng thần. Ví dụ như cuốn "Tứ trụ bác quan" do hai vị tiên sinh Lăng Chí Hiên và Trương Chí Xuân biên soạn, trong đoạn "Tường luận dụng thần" có nói: "Hạch tâm trung khu của tứ trụ mệnh lý học là ở tìm dụng thần, muốn biết sự gập ghềnh khúc khuỷu của đường đời nhân sinh, toàn phải nhờ vào dụng thần làm tọa độ để miêu tả. Tìm không ra tọa độ dụng thần, hoặc tìm sai tọa độ dụng thần sẽ thành " Một chữ sai, toàn bàn sai hết". Có thể nói quan điểm về dụng thần của cuốn này đã đại biểu cho mệnh lý hiện hành.

Thế nhưng, muốn tìm đúng cái dụng thần cân bằng này lại là một chuyện khó khăn dị thường. Bởi vì tiền đề của tìm dụng thần đầu tiên là phải nắm bắt chuẩn xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự. Mà sự vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự lại tùy theo sự giới nhập của tuế vận mà biến hóa không ngừng, muốn cân đo đong đếm nó khác nào đi cân đo đong đếm con khỉ có bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Cho nên thường ba vị mệnh sư phân tích cùng một bát tự sẽ đưa ra hơn ba kiểu vượng suy kết luận. Thế thì cũng như không có kết luận! Lăng Chí Hiên tiên sinh cũng vì thế mà vô cùng đau đầu, ông nói trong cuốn "Tứ trụ bác quan" rằng: "Cho dù là cao thủ mệnh lý đi nữa, khi họ đối diện với một số mệnh tạo có cách cục đặc thù hoặc sự cường nhược không rõ ràng thì cũng cảm thấy bó tay... Người viết cũng từng gặp qua những trường hợp kiểu này, tụ tập bảy tám vị dịch hữu cùng thảo luận, kết quả là mỗi người nói mỗi phách, chẳng ai chịu nhường ai, ai cũng phô ra một kiểu lý luận của riêng mình, cãi lý cả một ngày cũng không giải quyết được vấn đề. Thế đấy, có phải muốn phán đoán chính xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành bát tự còn khó hơn Phật Bà phán đoán Tề Thiên thật và Tề Thiên giả không nhỉ?

Nói cách khác, cho dù có ai vào một ngày nào đó dùng tuyệt kỹ tìm dùng thần này mà xem mệnh thì tỷ lệ chuẩn xác chưa chắc đã cao. Tại sao vậy? Đầu tiên, các cách như nhất khí chuyên vượng cách, tòng cường cách, tòng Sát cách, tòng Tài cách, tỉnh lan xoa cách, v.v... vốn không cần đến sự cân bằng ngũ hành của bát tự, cái gọi là dụng thần cân bằng không có chỗ dùng trong các loại cách này. Kế tới, cho dù là mệnh cách thông thường cần ngũ hành cân bằng, chỉ cần bát tự kết cấu không thỏa đáng, phá hoại mất cách cục thì cho dù thân cường Tài vượng hay thân Sát lưỡng đình đi chăng nữa mà dùng dụng thần cân bằng cũng khó đoán chuẩn cát hung họa phúc của người ta. Cho dù là danh sư nhiều năm nghiên cứu mệnh lý cũng không ngoại lệ. Tác giả bộ "Bát tự chân quyết khởi thị lục" là Tống Anh Thành tiên sinh trong bài "Nghiên cứu hỷ dụng thần" đã cảm khái nói: "Tác dụng của dụng thần đôi khi làm người ta cảm thấy khó hiểu, đi đến vận trình của hỷ dụng thần, chẳng những không thăng quan phát tài mà còn bị hao tổn trầm trọng, cơ hàn đói rách, có phải là hỷ dụng thần mà chúng ta chọn khác hẳn với hỷ dụng thần chân chính? Nghĩ tới đây hèn gì có người nghiên cứu hết bao nhiêu kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá."

Nghe câu trên mà thấy rầu! Trải qua chín chín tám mươi mốt tai nạn mới lấy được chân kinh, ấy thế mà "nghiên cứu hết kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá"! Cố gắng hết sức mới chọn được dụng thần mà không xài được!

Để tìm đột phá khẩu, giải cứu dụng thần cân bằng ra khỏi tình huống khó xử, có học giả bèn không thèm chấp vào cách chỉ chọn một dụng thần nữa, mà chọn mấy loại dụng thần từ trong một mệnh, nào là đại dụng thần, tiểu dụng thần, hoặc dụng thần thứ nhất, dụng thần thứ hai, dụng thần thứ ba, hoặc dụng thần cân bằng, dụng thần điều hậu, dụng thần cách cục v.v..., muốn đem càng nhiều dụng thần hơn nữa vô để bịt những lỗ hổng xuất hiện liên tục trong khi dự đoán. Dùng dụng thần cân bằng không thể xử được, bèn dùng dụng thần điều hậu và dụng thần cách cục để xử lý. Ví dụ như nhà mệnh lý học trứ danh là Lương Tương Nhuận tiền bối trong cuốn "Tế phê chung thân tường giải" đã dùng nhiều loại dụng thần để phê mệnh. Ông đã dùng dụng thần điều hậu của Dư Xuân Đài, lại còn dùng dụng thần cách cục của Thẩm Hiếu Chiêm (nhưng không chuẩn), hãy còn dùng dụng thần cân bằng của "Kim Bất Hoán" (thực ra cũng không phải nốt), kết hợp thêm với cả tứ giác hình xung hợp hội, thần sát, nạp âm, v.v... hổ lốn các phương pháp, thậm chí còn bao gồm cả những ngón vụn vặt xác suất trúng cực thấp như "Diễn cầm phu thê - tử nữ biểu".

Cái kiểu dùng nhiều loại dụng thần để xem mệnh này tuy có thể cầm cự được khiếm khuyết do chỉ dùng một dụng thần gây ra, nhưng phương pháp này tự thân nó lại không thể giải quyết được vấn đề mới nảy sinh như sau:

1. Dụng thần đã là mấu chốt của bát tự, thế thì, tổn hại dụng thần có ý nghĩa phá vỡ sự cân bằng ngũ hành trong bát tự, từ đó khiến mệnh chủ gặp tai nạn, đây là quan điểm được tuyệt đại đa số các học giả mệnh lý đồng ý. Nếu sử dụng nhiều dụng thần để đoán mệnh sẽ đồng thời xuất hiện nhiều điểm cân bằng, nhiều điểm mấu chốt. Vấn đề là, nhiều điểm cân bằng ấy có phải quan trọng như nhau không? Giả thiết câu trả lời là khẳng định, thế thì mỗi khi tuế vận phá vỡ bất cứ một điểm cân bằng nào trong đó, cả mệnh cục sẽ mất cân bằng, thế thì các điểm cân bằng còn lại có còn được gọi là điểm cân bằng nữa không? Còn tính là mấu chốt của bát tự nữa chăng?

2. Nếu như quyền lợi của nhiều dụng thần không đồng đẳng, thì cũng như Thị trưởng, Phó Thị trưởng và Trợ lý Thị trưởng vậy, quyền lợi to nhỏ khác hẳn nhau, thế thì, quyền lợi của loại dụng thần nào mới là to nhất? Lương Tương Nhuận tiên sinh cho rằng: "Điều hậu chi dụng, vi bát tự đệ nhất yếu nghĩa". Ông cho rằng dụng thần điều hậu là quan trọng bậc nhất. Thế mà trong "Kim Điếu Thùng" thì nói: "Nếu nhập cách thì lấy quí mà đoán, phá cục thì lấy bần mà đoán, nếu như cách (và) cục bị thương tổn phá hoại sẽ không cát, dù cho có cơ hội hồi thiên chuyển trục thì cũng không thể kiến công lập nghiệp được." Kim Điếu Thùng (Durobi chú thích: Danh gia mệnh lý thời xưa, có viết quyển Lão Kim Điếu Thùng) đem thành cách phá cách xem là tối quan trọng. Thường các mệnh lý học giả cho rằng cân bằng ngũ hành trong bát tự là điều tối quan trọng, và cho điều hậu dụng thần chỉ sử dụng trong trường hợp đặc biệt,, còn cách cục thì lờ luôn, luận cũng được không luận cũng được. Trước ba cách nói như trên, kẻ hậu học biết nghe ai đây nhỉ?

3. Mỗi khi nhiều loại dụng thần xảy ra giao tranh trên cùng một mệnh cục thì phải xử lý thế nào? Ví dụ ngày Canh kim sinh tháng Ngọ, là Chính Quan cách, nếu muốn thủy điều hậu, thủy là Thực Thương, chẳng phải đã phá Chính Quan cách hay sao? Lại ví dụ Tỉnh Lan Xoa cách, ba ngày Canh Tý Canh Thìn Canh Thân, sinh vào tháng Tý, địa chi Thân Tý Thìn toàn đủ, theo lý thuyết phải dùng hỏa để điều hậu, kim thủy Thương Quan hỷ kiến Quan mà, nhưng cách này lại yêu cầu không được gặp hỏa, ca quyết nói: " Tỵ Ngọ Mùi lâm thì đắng cay, Nhâm Quí phá, Bính Đinh xung, trụ và vận không gặp sẽ hiển danh". Câu này ý gặp Tỵ Ngọ Bính Đinh hỏa thì phá cách. Điều hậu dụng thần không hề được hoan nghênh ở đây. Lúc này điều hậu dụng thần có còn là dụng thần nữa không? Nếu bị thương khắc, mệnh chủ sẽ gặp tai hay không? Còn nữa, lúc dụng thần cân bằng và dụng thần cách cục phát sinh giao chiến thì phải hy sinh ai đây? Những vấn đề này đều là những nút thắt cứng của những ai theo thuyết dùng nhiều dụng thần, không ai thể gỡ được, kể cả chính họ.

Một dụng thần không được, nhiều dụng thần cũng không xong, phải làm sao bây giờ? Có người chủ trương phương pháp sau tiết Đông Chí thì đổi trụ năm, có người đề xướng đại vận không phân biệt nam nữ đều thuận hành, Lữ Văn Nghệ tiên sinh ở Sơn Đông kiên quyết chủ trương phế trừ cổ pháp, thứ nhất không bàn vượng suy, thứ hai không bàn cách cục, thứ ba không bàn dụng thần, thứ tư không bàn thần sát, chỉ dùng chiêu sinh khắc "Lữ thị bát tự mệnh lý" là xong. Nhưng, chẳng lẽ môn đoán mệnh của Từ Tử Bình thật vô dụng vậy sao? Các vị toán mệnh tiên sinh từ xưa tới giờ đều không có công phu thực sự hay sao? Hay là chúng ta đã nhầm lẫn điểm quan trọng nào đó? Như Tống Anh Thành tiên sinh nói: "Có phải chăng hỷ dụng thần mà chúng ta đã dùng khác hẳn với hỷ dụng thần thực sự?"

Vâng, chính xác là như vậy! Người viết sau khi nghiên cứu nghiêm túc, phát hiện hỷ dụng thần của hiện đại mệnh lý và hỷ dụng thần của mệnh lý cổ điển là hai thứ hoàn toàn khác nhau! Có ba chứng cứ như sau:

Thứ nhất, trong ba bộ mệnh lý cổ điển "Uyên Hải Tử Bình", "Tam Mệnh Thông Hội" và "Thần Phong Thông Khảo", không hề tìm thấy cái mà hiện đại mệnh lý gọi là dụng thần! Lật bất cứ sách mệnh lý hiện hành nào chúng ta cũng có thể thấy những chương tiết chuyên luận thuật về dụng thần, từ khái niệm về dụng thần phương pháp chọn dụng thần đều được giới thiệu kỹ càng. Nhưng trong các mệnh lý kinh điển như "Uyên Hải Tử Bình" v.v... lại không thấy bất cứ chương tiết nào chuyên luận thuật về dụng thần, cho dù là một đoạn ngắn cũng không có! Những loại "dụng thần" có tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan không hề tìm thấy bất cứ chứng cứ nào trong ba quyển sách mệnh lý cổ này. Trời ạ, dụng thần là thứ quan trọng không thể thiếu được như thế, vậy mà cổ nhân lại không hề có một chuyên đề nào để giới thiệu, có phải là rất kỳ quặc không nhỉ? Đối với mệnh lý hiện hành mà nói, đoán mệnh mà không nhắc tới dụng thần thì chỉ là một kẻ a ma tơ. Thế nhưng tổ tông môn Tử Bình của chúng ta là Từ Tử Bình trong cuốn "Uyên Hải Tử Bình" sao không thấy nhắc tới vấn đề dụng thần vô cùng quan trọng này? Dù có kiệm lời tới đâu thì ít ra cũng để lại một đoạn ngắn chứ? Tiếc rằng chúng ta tìm nát trong mấy cuốn sách mệnh lý cổ kia mà vẫn không thấy! Cái mà chúng ta thấy là cổ nhân dùng đến một phần ba cuốn sách để nói đến cách cục, chuyện này thì sách mệnh lý hiện hành không hề có. Điều này chứng tỏ cái gì? Chứng tỏ rằng chỉ có một khả năng, đó chính là trong sách mệnh lý cổ điển căn bản là không hề có loại dụng thần cân bằng ngũ hành bát tự, nếu như có dụng thần thì e rằng dụng thần chính là cách cục.

Thứ hai, dụng thần của mệnh lý lưu hành hiện đại và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển, đặc trưng của cả hai hoàn toàn không phù hợp nhau. Chủ yếu biểu hiện trong ba mặt sau:

1. Dụng thần của mệnh lý hiện hành đặc trưng chính yếu ở chỗ tính bất khả tổn hại của nó. Dùng lời của Chung Nghĩa Minh tiên sinh trong cuốn "Bát Tự Khí Số Mệnh Lý Học" rằng: "Dụng thần là linh hồn của bát tự", "Nên dụng thần không thể bị thương tổn đến, không bị khắc hại hình xung v.v...". Thế nhưng cổ nhân trong "Tứ Ngôn Độc Bộ" lại chỉ ra rằng: "Cách cách thôi tường, dĩ Sát vi trọng, chế Sát vi quyền, hà sầu tổn dụng". Ý của "Hà sầu tổn dụng" chẳng phải là không sợ tổn hại đến dụng thần hay sao? Trong "Nguyệt Đàm Phú" cũng nói: " Cách hữu khả thủ bất khả thủ, dụng hữu đương khí bất đương khí". Nói rõ có lúc cần đến là có thể vứt luôn dụng thần.

2. Dụng thần của mệnh lý hiện hành, đặc trưng thứ yếu của nó là tính thiểu lượng. Nghĩa là dụng thần đã là điểm cân bằng ngũ hành bát tự thì dụng thần sẽ không thể là ngũ hành chiếm số lượng nhiều, bởi vì tổng cộng chỉ có tám chữ, số lượng nhiều lên sẽ phá vỡ cân bằng mà trở thành bệnh trong mệnh cục, cho nên dụng thần thường chỉ chiếm một hai chữ trong mệnh cục, không thể nhiều hơn. Cũng bởi vì phân lượng dụng thần ít cho nên mới sợ bị tổn hại! Thế mà nguyên chú của chương Thể dụng trong "Tích Thiên Tủy" nói: "Nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Có nghĩa một bát tự mà có ba bốn năm dụng thần thì không phải mệnh tốt. "Cùng Thông Bảo Giám - Tam xuân Giáp mộc luận" nói: "Phàm dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, tiết đi mới hay". Câu này chúng ta còn có thể tìm thấy trong "Tam Mệnh Thông Hội". Vậy đấy, dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển hóa ra còn có lúc đạt đến bốn năm cái, mà còn tiết đi mới tốt nữa!

3. Dụng thần trong mệnh lý hiện hành đặc tính thông thường của nó là tính chỉ có ích mà không có hại. Mệnh lý hiện hành cho rằng bất kể là Tài Quan Ấn Thực hay là Sát Thương Kiêu Nhận, chỉ cần khi được chọn làm dụng thần thì chỉ có ích mà không có hại, giữa chúng không có phân biệt thiện và ác, đã là dụng thần thì không thể bị khắc. Nhưng, dụng thần của cổ nhân không như thế. Chương Luận dụng thần trong "Tử Bình Chân Thuyên" viết: "Tài Quan Ấn Thực, thử dụng thần chi thiện, nhi thuận dụng chi giả dã. Sát Thương Kiêu Nhận, thử dụng thần chi bất thiện, nhi nghịch dụng chi giả dã". Có nghĩa là Tài Quan Ấn Thực là bốn dụng thần thiện, phải bảo hộ nó mà sử dụng. Mà Sát Thương Kiêu Nhận là bốn dụng thần ác, phải chế ước nó mà sử dụng. Đấy, loại dụng thần như vầy thì mệnh lý hiện hành chắc là không có nhỉ!

Thứ ba, cách dùng của dụng thần trong mệnh lý hiện hành và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển không giống nhau. Mệnh lý hiện hành cho rằng sự vượng suy cường nhược và bị khắc hay không của dụng thần vừa quyết định sự phú quí bần tiện của mệnh chủ và cũng chủ tể cát hung họa phúc của mệnh chủ, tác dụng của nó không có thứ nào khác có thể so sánh được. Nhưng chương Luận tướng thần khẩn yếu trong cuốn "Tử Bình Chân Thuyên" lại chỉ rõ: "Thương dụng thậm ư thương thân, thương tướng thậm ư thương dụng". Ý là thương hại đến dụng thần còn gay go hơn thương hại đến nhật nguyên, mà thương hại đến tướng thần còn gay go hơn thương hại đến dụng thần. Có thể thấy còn có tướng thần quan trọng hơn cả dụng thần. "Ngũ Ngôn Độc Bộ" lại nói: "Có Sát chỉ luận Sát, không có Sát mới luận dụng thần". Ý gì nhỉ? Có Thất Sát chẳng lẽ có thể không cần luận dụng thần hay sao? Câu này mệnh lý hiện hành không giải thích nổi. Trong "Bảo Pháp - Quyển nhị" cũng nói: " Phàm thuật xem Tử Bình, thủ cách bất định, thì xem mười sai đến chín". Chú ý nhé, ở đây nói "Thủ cách bất định" chứ không nói "Thủ dụng bất chuẩn" nhé! Có phải cổ nhân thủ cách (chọn cách cục) rõ là hiệu nghiệm hơn chúng ta ngày nay chọn dụng thần không? Thiên mở đầu của "Tinh Vi Thiên" nói: "Phàm khán nhân mệnh, chuyên luận cách cục. Phùng Quan khán Tài, kiến Tài nhi phú quí. Phùng Sát khán Ấn, hữu Ấn dĩ vinh hoa". Ở đây chỉ cường điệu "Chuyên luận cách cục" chứ không phải chuyên luận dụng thần nhé! Mà còn nói thẳng gặp Quan xem Tài, gặp Ấn xem Quan, không như mệnh lý hiện hành ngày nay trước hết phải xem thân vượng thân nhược, thân vượng thì dụng Tài Quan, thân nhược thì dụng Ấn Tỷ. Tại sao cổ nhân không chú trọng đến tiền đề quan trọng là xem thân vượng thân nhược vậy? Tại sao không nói "Phàm thuật xem Tử Bình, thủ dụng bất chuẩn (xác), xem mười sai hết chín"? Nguyên nhân thì chỉ có một thôi, đó chính là dụng thần mà cổ nhân nói tới khác xa lắc xa lơ với dụng thần mà ngày nay chúng ta nói!

Dông dài hồi lâu, chắc độc giả cũng muốn hỏi thế dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển là gì thế?

Kỳ thực, định nghĩa dụng thần của cổ nhân rất đơn giản, tức: Dụng thần chính là vật khả dụng của nguyệt lệnh. Hai chữ "khả dụng" này có hai tầng ý nghĩa, một là có những thứ gì có thể dùng? Hai là dùng vào việc gì?

Nguyệt lệnh có những thứ gì có thể dùng? Có sáu thứ có thể dùng, tức: Tài, Quan, Ấn, Sát, Thực, Thương. Dùng vào việc gì? Dùng để cấu thành CÁCH CỤC. Tức là, dụng thần mà cổ nhân nói tới, kỳ thực chính là VẬT mà nguyệt lệnh dùng đến để cấu thành cách cục.

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách". Những lời trên của cổ nhân khi nói đến dụng thần, tất cả đều nhấn mạnh tìm ở nguyệt lệnh, các sách đều coi dụng thần với cách cục làm một. Chúng ta chớ có tưởng rằng cổ nhân nói không rõ ràng, không logic (như Từ Lạc Ngô đại sư tưởng thế), nói không rõ sự tồn tại của dụng thần cân bằng nào là phù ức, điều hậu, thông quan. Thực ra trong mắt cổ nhân, dụng thần chính là vật mà nguyệt lệnh dùng để cấu thành cách cục, hoặc nói dụng thần và cách cục là một.

Chính bởi vì dụng thần chỉ là vật mà nguyệt lệnh dùng để định cách, không phải ở bất cứ vị trí nào khác dùng để cân bằng ngũ hành bát tự, cho nên cổ nhân mới gồm dụng thần và cách cục vô làm một, và đem cách cục vật khả dụng của nguyệt lệnh gọi là nội cách, mà cách cục vật không khả dụng của nguyệt lệnh gọi là ngoại cách (xin tham khảo cuốn "Tử Bình Chân Thuyên Bản Nghĩa của tác giả). Chúng ta biết rằng mệnh lý hiện hành chọn dụng thần không chú trọng đến nguyệt lệnh, cho nên cách cục không phân làm nội cách và ngoại cách, hoặc nói không rõ nguyên do sự phân chia nội cách ngoại cách.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không hề là mấu chốt của cả bát tự, cho nên có lúc xuất hiện hiện tượng "dụng thần quá nhiều", dụng thần đã quá nhiều thì mới có câu " dụng thần có cái bỏ đi có cái không thể bỏ đi" và "ngại gì mà không tổn đến dụng thần (hà sầu tổn dụng)", thế mới xuất hiện cách cục câu "Khí Ấn tựuTài", "Khí Quan tựu Thực" v.v... Nếu không thì theo lối suy nghĩ của mệnh lý hiện hành thì chẳng ai giải thích rõ được mấy câu trên.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không nhất định là thứ có ích đối với nhật chủ, cho nên dụng thần mới phân thiện và ác, với thiện dụng thần Tài, Quan, Ấn, Thực phải sử dụng với tính chất phù trợ, đối với ác dụng thần Sát, Kiêu, Thương, Nhận thì phải sử dụng có tính chế ước. Cho nên "Ngũ Ngôn Độc Bộ" mới nói " Có Sát thì trước tiên luận Sát, không có Sát mới luận dụng", là bởi vì "Các cách suy cho rõ, lấy Sát làm trọng" ấy mà. Dụng thần của mệnh lý hiện hành phải luận trước cả Sát, lại còn không được chế ước Sát nữa.

Có người phản bác: Trong "Thần Phong Thông Khảo" tuy không có chương tiết chuyên luận dụng thần, nhưng còn có "Bệnh dược thuyết" trứ danh đấy thôi? Trương Nam nói "Dược" chẳng phải là dụng thần của mệnh lý hiện hành hay nói hay sao?

Đúng, mệnh lý hiện hành hay lấy thuyết bệnh dược của Trương Nam để mượn làm dụng thần cân bằng. Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ nguyên văn sẽ phát hiện "Dược thần" mà Trương Nam nói chẳng phải là dụng thần cái gì cả. Nguyên văn: "Như dụng Tài kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược dã. Như dụng Thực Thần Thương Quan, dĩ Ấn vi bệnh, hỷ Tài vi dược dã". Ở đây chẳng phải rõ ràng nói trước "Dụng Tài", sau đó mới nói "Kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược" hay sao? Câu sau "Như dụng Thực Thần Thương Quan", cũng chính là lấy Thực Thần Thương Quan làm dụng thần. Tài là dụng, Tỷ Kiếp là bệnh, Quan Sát là dược ; Thực Thương là dụng, Ấn là bệnh, Tài là dược, ý quá rõ rồi gì nữa? Còn lý do nào để nói dược thần của Trương Nam chính là dụng thần không?

Kỳ thực, dược thần của Trương Nam chính là "Tướng thần" mà "Tử Bình Chân Thuyên" đã nói tới, chẳng qua Trương Nam không gọi nó là tướng thần mà thôi.

Có lẽ sẽ còn có người lấy những câu bình chú của Nhậm Thiết Tiều trong "Tích Thiên Tủy" để phản bác lại, Nhậm nói: "Ví như nhật chủ vượng, đề cương là Quan là Tài hoặc Thực Thương, đều có thể làm dụng. Nhật chủ suy, đừng tìm tứ trụ can chi vật có giúp thân làm dụng...". Dụng thần mà ông nói ở đây chẳng phải dụng thần cân bằng mà mệnh lý hiện hành hay nói sao?

Đúng, sự ra đời của mệnh lý hiện đại e phải lấy Nhậm Thiết Tiều làm công đầu. Vốn nguyên văn "Tích Thiên Tủy" và các sách cổ điển như "Uyên Hải Tử Bình" là nhất mạch tương thừa, nhưng qua tay hậu nhân chú thích, đặc biệt là sau khi qua tay Nhậm lão tiên sinh chú thích, thì cuốn "Tích Thiên Tủy" đã trở thành nền móng cho mệnh lý hiện hành.

Nhậm Thiết Tiều chú thích chương Bát cách trong cuốn "Tích Thiên Tủy": "Bát cách giả, mệnh trung chính lý dã. Tiên quan nguyệt lệnh sở đắc hà chi, thứ khán thiên can thấu xuất hà thần, tái cứu tư hà lệnh dĩ định chân giả, nhiên hậu thủ dụng, dĩ phân thanh trọc, thử thực y kinh thuận lý, nhược nguyệt phùng Lộc Nhận, vô cách khả thủ, tu thẩm nhật chủ chi hỷ kỵ, lánh tầm biệt chi thấu xuất thiên can giả, tá dĩ vi dụng". (Tám cách là chính lý trong mệnh. Trước phải xem nguyệt lệnh là chi gì, sau xem thiên can thấu xuất thần gì, tiếp coi cái gì nắm lệnh để định thật giả, sau đó chọn dụng thần để phân chia sự thanh trọc, đó thực là thuận lý theo kinh sách, nếu nguyệt lệnh là Lộc Nhận thì không chọn được cách, phải xem xét hỷ kỵ của nhật chủ mà tìm chi khác thấu thiên can mượn đỡ mà dùng). Có thể thấy, phương pháp thủ dụng định cách của họ Nhậm là cơ bản thống nhất với phương pháp "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh", "Nguyệt Kiếp vô dụng, lánh tầm ngoại cách" trong "Tử Bình Chân Thuyên". Tiếc thay, họ Nhậm không hề thông hiểu mật pháp luận cách cục truyền thống này ("Tích Thiên Tủy" luận cách không kỹ càng bằng "Tử Bình Chân Thuyên"), trong khi gặp khó khăn trong lúc luận mệnh, ông đã không kiên trì giữ vững phương pháp này nữa. Cho nên ông sau chương "Bát cách" lại nói rằng: "Từ mấy mệnh trên có thể thấy, cách cục không thể chấp nhất. Không nên câu thúc ở các cách Tài Quan Ấn..., không liên can gì đến nhật trụ, vượng thì nên ức chế, suy thì nên phù trợ, Ấn vượng tiết Quan mừng Tài tinh, Ấn suy gặp Tài mừng Tỷ Kiếp, đây là phương pháp không thay đổi được". Hèn gì, kiểu phương pháp luận mệnh khinh cách cục, trọng cân bằng này của Nhậm Thiết Tiều chính là lam bản cho mệnh lý hiện hành ngày nay.

Còn chuyện nữa càng khiến người ta tiếc rẻ, sau Nhậm Thiết Tiều là Từ Lạc Ngô đại sư, ông chú thích "Tích Thiên Tủy" mà vô cùng sai lệch nguyên chú, làm cho kẻ hậu học dễ hiểu nhầm nguyên văn, từ đó trượt luôn vào vũng lầy mệnh lý hiện hành. Ví dụ như chương "Thể dụng" của "Tích Thiên Tủy" nguyên chú thích nói rằng: "...nhi nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Ý là khi nguyệt lệnh dụng thần số lượng đạt tới bốn hoặc năm, như vậy thì không phải là mệnh tốt nữa. Ví dụ như nguyệt lệnh là Ấn tinh, khi có hai ba Ấn tinh nếu có Tài tinh khắc Ấn, cách cục sẽ thành "Khí Ấn tựu Tài" cách. Nếu Ấn lên tới bốn năm, Tài tinh sẽ không thể nào khắc Ấn được nữa, tốt nhất là dùng Tỷ Kiếp để tiết bớt Ấn, giống như ý của "Cùng Thông Bảo Giám" nói "Hễ dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, cần phải tiết đi mới hay". Nhưng nếu Ấn quá nhiều, một là không có Tài khắc, hai là không có Tỷ Kiếp hóa tiết, vậy nhất định không phải mệnh tốt rồi.

Ấy thế mà do Nhậm Thiết Tiều không hoàn toàn hiểu hết được khái niệm dụng thần này, cho nên khi ông phê chú đoạn trên bèn nói: "Nguyên chú nói rằng: hai ba bốn năm dụng thần thực không phải mệnh tốt. Đấy là nói bậy! Chỉ có tám chữ mà nếu khử đi bốn năm chữ dụng thần thì trừ nhật can ra chỉ có hai chữ không dùng, làm sao thế được!". Nghe ý ông là hiểu không thể có trường hợp một mệnh tạo mà có đến bốn năm dụng thần.

Từ Lạc Ngô đại sư cũng nói đế vào phụ cho họ Nhậm, nói rằng: "Như câu trong nguyên chú hai ba bốn năm dụng thần, họ Nhậm bài xích là phải. Dụng thần làm sao có hai được nói chi đến ba bốn năm dụng thần! (Xem chương Thể dụng tinh thần trong cuốn "Tích Thiên Tủy Bổ Chú của Từ Lạc Ngô)". Ông khăng khăng dụng thần chỉ có một mà thôi, tuyệt không có hai, nói gì đến bốn năm dụng thần! Ông đâu có biết, dụng thần mà nguyên chú "Tích Thiên Tủy" nói hoàn toàn không phải loại dụng thần mà ông và Nhậm Thiết Tiều nghĩ!

Thật là "Một chữ sai, toàn bàn hỏng bét", dụng thần mà sai rồi thì phương pháp luận mệnh cũng sai theo! Không ai ngờ và nghĩ được rằng như hai vị đại sư cấp nhân vật trong làng mệnh lý là Nhậm Thiết Tiều và Từ Lạc Ngô lại nhầm lẫn khái niệm hạch tâm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất của mệnh học --- DỤNG THẦN!

Con rùa bò phía trước mở đường, con rùa phía sau bò theo. Cứ thế, ngàn ngàn vạn vạn kẻ hậu học theo sau đít hai ông Nhậm, Từ, thoát li khỏi tư tưởng chính tông của Từ Tử Bình, nhắm đến vũng lầy mệnh lý hiện hành vô biên vô tế phía trước mà tiến bước......

Lão Tử nói rất hay, "Ngũ sắc khiến người ta mù". Chỉ có mấy ông thầy bói mù (manh sư) mắt không nhìn được ngũ sắc nữa mới không mù quáng đi theo Nhậm, Từ. Họ đã không thể đọc các danh trước mệnh học của hai ông, cũng không thể tham duyệt tư liệu mệnh lý hiện hành, cho nên họ không bị bất cứ ảnh hưởng nào của mệnh lý hiện đại, vẫn cứ y theo phương pháp xa xưa của Tử Bình mệnh học. Có lẽ họ luận cách tinh xác không bằng "Tử Bình Chân Thuyên", hoặc họ mỗi người có một pho ca quyết luận mệnh cho riêng mình, nhưng khái niệm dụng thần và luận mệnh phép tắc là nhất mạch tương truyền với các kinh điển mệnh lý "Uyên Hải Tử Bình", "Thần Phong Thông Khảo", "Tam Mệnh Thông Hội", "Tử Bình Chân Thuyên" và "Tứ Ngôn Độc Bộ". Người viết quen biết một vị manh sư họ Dương, công phu của ông rất tinh thâm, nổi danh một vùng. Ông có thể thuộc lòng các ca quyết cổ điển như " Tứ Ngôn Độc Bộ", "Ngũ Ngôn Độc Bộ" và "Nguyệt Đàm Phú" v.v..., nhưng ông không hề biết tý gì về cái gọi là dụng thần cân bằng như phù ức, điều hậu, thông quan. Ông cũng giống như nhiều vị manh sư khác, bình thường chỉ nói về cách cục, không nói dụng thần, bởi vì ông giải thích rằng dụng thần chính là cách cục!

Đấy chính là bộ mặt thật của dụng thần, cho dù các thầy mệnh lý hiện đại mở miệng ra là nói tới nhưng cũng không biết tới nó!

Durobi dịch

Bổ sung chuyển từ Hán Việt ra Việt ngữ đoạn này, đoạn thứ 22 từ trên xuống, lúc dịch quên béng mất...

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách".

Chương Luận dụng thần trong sách Tử Bình Chân Thuyên nói rằng: " Dụng thần của bát tự, nên tìm ở lệnh tháng mà thôi. Lấy nhật can phối hợp với địa chi lệnh tháng, bởi do sinh khắc không giống nhau nên phân ra các loại cách cục".

Chương Thủ cách chỉ quyết ca đoán trong sách Thần Phong Thông Khảo nói rằng: "Lấy ngày làm thân gốc, mà lấy đề cương (lệnh tháng) làm dụng. Thứ đến lấy năm tháng ngày làm quả, gặp Quan thì phải xem Tài, gặp Tài thì phải xem Sát, gặp Sát thì phải xem Ấn, gặp Ấn thì phải xem Quan".

Quyển thứ hai của sách Bảo Pháp nói rằng: " Thuật xem Tử Bình, lấy ngày làm chủ, trước hết phải xem đề cương (lệnh tháng) là điểm quan trọng, kế đến dùng chi năm tháng ngày giờ, hội thành cách cục rồi mới có thể đoán, thường các trường hợp đều lấy lệnh tháng làm dụng, không được lấy năm để chọn cách.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận dụng thần

Chớp mắt chọn đúng đối tượng phù hợp qua tướng mặt

Thông qua các nét tướng mặt, bạn có thể đoán biết phần nào tính cách, bản chất con người đối phương để có thể trao gửi tình cảm đúng người.
Chớp mắt chọn đúng đối tượng phù hợp qua tướng mặt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Thông qua các nét tướng mặt, bạn có thể đoán biết phần nào tính cách, bản chất con người đối phương để có thể trao gửi tình cảm đúng người.

 

1. Xem tướng mắt   Đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn. Thông qua đôi mắt, bạn cũng có thể thấu hiểu phần nào tính cách, con người cũng như tâm tư, tình cảm của đối phương. Nhìn mắt chọn người, đây là cách đơn giản nhưng lại khá chính xác.   Nếu đối phương có mắt hình tam giác, chứng tỏ nội tâm đen tối, làm ít nhưng muốn hưởng lợi nhiều, chưa giúp người đã đòi báo đáp.  
Chop mat chon dung doi tuong phu hop qua tuong mat hinh anh
 
Hơn nữa, người này còn kén cá chọn canh trong việc lựa chọn bạn đời, đề ra tiêu chuẩn quá cao. Thường thì đối phương phải đáp ứng về điều kiện kinh tế và nhan sắc thì mới có thể lọt vào “mắt xanh” của người này.   Ngược lại, nếu quan sát thấy mắt đối phương có thần sắc, lòng đen và lòng trắng rõ ràng, chứng tỏ đó là người có tâm, trái tim nhân hậu, tốt bụng, có tinh thần trách nhiệm cao. Vì thế, nếu thấy tính cách có điểm tương đồng, bạn hoàn toàn có thể “bật đèn xanh” cho người này.   ‘Nhận dạng’ người thông minh giỏi giang Xem đặc trưng của tướng người phúc đức Soi tướng mũi của những người thành đạt
2. Xem tướng mũi
  Thông thường, tướng mũi chủ về tài lộc, sự nghiệp. Người có sống mũi cao, thẳng thì tố chất thông minh, coi trọng sự nghiệp, có chí tiến thủ. Dù là trong sự nghiệp hay tình yêu, người này đều cảm thấy viên mãn, thuận lợi.   
Chop mat chon dung doi tuong phu hop qua tuong mat hinh anh
 
Nếu sống mũi thấp, lại cong vẹo, khuyết hãm thì tài lộc khó vượng, làm việc dễ bỏ cuộc giữa chừng, dễ bị tác động bởi các yếu tố xung quanh. Ngoài ra, người này thuộc tuýp lãng mạn, làm việc theo hứng, không câu lệ tiểu tiết.   Nhìn chung, cuộc sống của người này khá vui vẻ, không nhiều áp lực. Bản thân họ không bao giờ tạo áp lực cho mình, lúc nào cũng tâm niệm sống vui vẻ, thoải mái là được.    3. Xem tướng gò má  
Chop mat chon dung doi tuong phu hop qua tuong mat hinh anh
 
Trong nhân tướng học, gò má đại diện cho quyền lực. Phần xương gò má quá cao, cho thấy chủ nhân có tính cách hung bạo, ngang ngược, làm việc gì cũng có dã tâm. Vì thế, đối tượng phù hợp với người này phải có tính kiên nhẫn cao độ, tính tình điềm đạm, cư xử khéo léo. Nếu không, hai bên dễ mâu thuẫn, cãi vã liên miên, hôn nhân khó mà viên mãn.   Ngược lại, người có gò má cân đối với toàn khuôn mặt thì lại luôn tìm kiếm cảm giác an toàn. Thế nên, họ rất cần những ai mạnh mẽ, can đảm ở bên cạnh để bảo vệ, che chở.   Coi tướng mặt của người dễ nhặt được tiền của Giải mã bí mật cuộc đời nam giới qua chiếc cằm Xem đời người phụ nữ qua tướng cằm
4. Xem tướng cằm
 
Chop mat chon dung doi tuong phu hop qua tuong mat hinh anh
 
Chủ nhân của tướng mặt mà có cằm tròn đầy, tính tình chân thành nhưng khá thận trọng. Trong việc lựa chọn bạn đời, người này cũng khá kén chọn, nhưng không tới mức thái quá.   Còn những ai có cằm nhọn lại rất coi trọng vật chất, trước khi chọn đối tượng cho mình, họ sẽ cân nhắc điều kiện vật chất trước. Thói ham hư danh của người này dường như đã ăn sâu vào bản chất, khó lòng thay đổi.  
► Xem nốt ruồi trên mặt đoán tính cách chuẩn xác

Ngân Hà
Tránh xa tướng mặt phụ nữ đi tới đâu gieo rắc tai họa tới đó
– Phụ nữ có tướng miệng rộng, môi trề thường hay nói nhiều, dễ vướng vào rắc rối thị phi, đi tới đâu gieo rắc tai họa tới đó. Không những

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chớp mắt chọn đúng đối tượng phù hợp qua tướng mặt

Đi tìm nhân sinh quan trong Tử Vi hay làm thế nào để sửa số?

Một bài viết rất hay về nhân sinh quan trong Tử Vi và làm thế nào để sửa số mệnh của tác giả Cam Vũ. Đây là một bài trình bày rất hay!
Đi tìm nhân sinh quan trong Tử Vi hay làm thế nào để sửa số?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết trích từ phụ lục của tác giả Cam Vũ viết trong cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ Văn Lưu

* Tác giả Cam Vũ chính là nick name MinhMinh trên trang tuvilyso.org

Theo quan niệm: thiên địa vạn vật đồng nhất thế của triết học Trung Hoa, thì sự hình thành và biến hóa của vũ trụ đều do sự sinh hóa không ngừng của 7 yếu tố chính gọi là âm dương ngũ hành, phát xuất từ khối nguyên thủy gọi là Thái Cực, cũng là 1 lối quan niệm về sự hình thành và biến hóa của vũ trụ này cũng được cổ nhân Trung Hoa đồng hóa cho con người vì con người là 1 nhân thân tiểu thiên địa hay còn gọi là tiểu vũ trụ. Nên những sinh động biến hóa trong con người cũng được hình thành do 2 khí âm dương và 5 chất ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Thủy tổ khai sáng ra nền tư tưởng này là:

  • Vua Phục Hy: 4447 - 1142 trước Tây lịch Vua Văn Vương: 1144 - 1142 trước Tây Lịch.
  • Ðức Khổng Tử: 551-479 trước Tây Lịch.

Khổng Tử đã hoàn chỉnh và lập thành sách để dạy cho môn sinh. Bắt đầu từ thời Châu được gọi là Kinh Dịch. Nội dung nói về sự biến hóa của trời đất, ứng dụng sự hiện diện của âm dương ngũ hành và quy tắc sinh khắc biến hóa vào mọi lĩnh vực từ lý số đến chính trị quân sự xã hội, kinh tế văn hóa, y học, dạy con người xử thế nào cho hợp thời phải đạo – giúp cho con người hiểu được thời để xuất sử, tiến thoái cho đúng lúc nhất nhất đều không ra khỏi căn bản là sự sinh động của âm dương ngũ hành.

Vào đời nhà Tống lúc mà nền văn hóa Trung Hoa rất thịnh vượng, các triết gia thời ấy đều chuyên tâm vào việc nghiên cứu con người để tìm giải pháp cho cuộc sống, tìm nguyên tắc cho việc xử thế ngõ hầu mưu cầu hạnh phúc cho mọi người. Tất cả bộ môn nhân văn đều tập trung vào môn khảo cứu con người và xã hội cần thiết cho việc tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ. Tất cả đều thấm nhuần tinh thần nhân bản thật hoàn mỹ, thủy tổ của Tử Vi: Trần Ðoàn, còn gọi là Hy Di Lão Tổ, một đạo gia kiêm nho gia thời Bắc Tống đã thấm nhuần tinh hoa của nền triết học này. Môn Tử Vi ra đời như một một học nghiên cứu hoàn con người hiện tại cho con người biết được bản dự thảo cuộc đời mình, cũng vẫn đưa trên nguyên lý âm dương ngũ hành, nên cũng không đi ngoài tư tưởng của Dịch Học. Trên tinh thần biến hóa không ngừng, hẳn bản dự thảo kia cũng không ngừng cố định ở 1 điểm A là A nào đó, nó có thể là A, rồi đến Á rồi đến B hay xa hơn nữa mà cái hàm súc của Tử Vi sẽ chỉ cho ta biết phải làm thế nào vậy.

1. Can Chi của tuổi tương ứng với quái dịch

Khi biết được can chi của tuổi thì nạp âm của can chi ấy đã tạo thành 1 quẻ dịch của một trong 64 quẻ. Ý nghĩa của cuộc đời của tuổi ấy. Và phải sống thế nào để có lợi cho sự nghiệp.

a. Thập can tương ứng với bát quái

  • Giáp là Cấn: Là sơn: Núi.
  • Ất là Chấn: Là lôi: Sấm sét.
  • Bính là Tốn: Là Phong: gió
  • Ðinh là Tỵ: Là hỏa: Lửa
  • Mậu là Tốn: Là phong: gió
  • Kỷ là Ly: Là hỏa: là lửa
  • Canh là Khôn: Là địa: đất.
  • Tân là Ðoài: Là Trạch: Hồ, Ao, Ðầm
  • Nhâm là Càn: Là Thiên: Trời
  • Quí là Khảm: Là Thủy: Nước

b. Thập nhị chi tương ứng với bát quái

  • Tý là Khảm
  • Sửu là số 5 thuộc trung ương
  • Dần là Cấn
  • Mão là Chấn
  • Thìn là số 5 thuộc trung cung
  • Tỵ là Tốn
  • Ngọ là Ly
  • Mùi là số 5 trung cung
  • Thân là Khôn
  • Dậu là Ðoài
  • Tuất là số 5 thuộc trung cung
  • Hợi là Càn

Lưu ý: số 5 thuộc trung cung thì tùy nam hay nữ luân giải: nam là quái khôn, nữ là quái Cấn.

Như vậy mỗi nạp âm (tức can chi của năm sinh, của tuổi 1 người) cho ta ý thiên về 1 quẻ dịch của 1 đời người.

Thí dụ: đàn ông, tuổi Canh Dần, Canh là Khôn vi Địa, Dần là Cấn vi Sơn, Quẻ Khôn ở trên, kết hợp với quẻ Cấn ở dưới thành ra quẻ địa sơn khiêm có nghĩa là: ở đời càng nhún nhường khiêm tốn càng có lợi cho sự nghiệp.

Như trên ta thấy cách thành lập quẻ được xếp theo: lấy hàng Can làm thương quái, lấy hàng Chi làm hạ quái.

Thượng quái và hạ quái kết hợp với nhau ra 1 trong 64 quẻ.

Thí dụ: Tuổi Ất Dậu, đàn bà, Ất là Chấn vi Lôi, Dậu là Ðoài vi Trạch, quẻ Chấn ở trên quẻ Ðoài ở dưới tạo thành quẻ lôi trạch quy muội có nghĩa là: những công việc làm vì vui thú, vì cao hứng thì chẳng được lành, càng đi càng vất vả, có nhiều ngang trái trong cuộc sống.

c. Sau đây là phần ý nghĩa các quẻ dịch

1. Phong thiên tiêu súc
Mây u ám mà không mưa, chưa có gì, việc làm nên đợi chín mùi hãy hành động.

2. Phong trạch trung phù
Trứng sắp nở không nên do dự nữa mà hỏng việc phải có gan tới phút cuối cùng.

3. Phong hỏa gia nhan
Ngọn lửa ở bếp, thời vẻ vang đã hết, cần an phận thì yên ổn hơn.

4. Phong lôi ích
Biết mình trong lợi ích chung, nên nhường nhịn để cùng hưởng lợi.

5. Phong thủy hoán
Buồm căng trước gió cơ hội tốt đang dần dần tới nên thận trọng mà đón nhận, vẫn có thử thách và nguy hiểm.

6. Phong sơn tiệm
Dục tốc bất đạt, loài chim biển khi cất cánh bay lên phải biết giữ sức để bay xa vì sông nước quá mênh mông.

7. Phong địa quan
Gío đang lớn thành bão, chớ vội vàng mà hỏng việc, nên nại chờ thời có thuận lợi.

8. Thuần tốn
Tự lượng sức mình thấy chưa đủ khả năng thì nên tìm cách ẩn náu kẻo có hại.

9. Thủy thiên nhu
Hãy trau dồi cho có khả năng để khi thuận lợi mà phát huy không nên vọng động sớm mà có hại.

10. Thủy trạch tiết
Phải chừng mực, tiết đồ để khỏi bị suy thoái.

11. Thủy hỏa ký tế
Thành công viên mãn.

12. Thủy lôi trân
Mầm non trong khối băng tuyết, tuy hy vọng mà nhiều bấp bênh gian nan, cần tu bổ khả năng chu đáo hơn.

13. Thủy phong tinh
Giếng nước ngọt có trước mắt người đang khát, ở đời nếu làm việc gì nên quyết định ngay kẻo lỡ mất cơ hội.

14. Thủy sơn kiển
Tưởng băng giá làm tê cóng tay, phải biết khi nguy hiểm ở trước mắt thì không nên làm, hay dừng lại là thuận lý.

15. Thủy địa tỵ
Khi thuận lợi vui vẻ phải cẩn thận đang có mầm khó nhọc xảy ra.

16. Thuần Khảm
Khi cảm thấy nhiều khó khăn đang đến như thác lũ kéo về. Cần nhẫn nại mới đương đầu vượt thắng được.

17. Trạch thiên quải
Tượng Hổ gầm dưới trăng, khi có tài mà chưa gặp thời chớ nên bất mãn, sẽ có lúc thuận lợi để khai triển sở trường.

18. Trạch hỏa cách
Khi việc cần đến phải bỏ cũ để làm mới hơn, chớ nuối tiếc do dự, càng gây cấn càng vẻ vang và thành công lớn.

19. Trạch lôi tùy
Khi hoàn cảnh khó thay đổi, cần ở thế nhu thuần là biết phận, không nên vọng động mơ tưởng thái quá.

20. Trạch phong đại quá
Tham thì cực thân, phải cận thận khi đến đích là lúc hết sức lực.

21. Trạch thủy khôn
Chịu vất vả thì sau này tốt tươi hơn.

22. Trạch sơn hàm
Những hỉ sư đến, với tầm tay, nên cố giữ mà hưởng thụ lâu dài.

23. Trạch địa tụy
Khi làm việc gì học hỏi cho kỹ; thành công đòi hỏi nhiều về quá trình kinh nghiệm của người khác.

24. Thuần đoài
Miệng lưỡi là gốc của họa phúc, thuận lợi xen lẫn với hiểm nghèo, làm việc gì cũng phải cẩn thận.

25. Ðịa thiên thái
Cuộc đời gặp được nhiều việc đắc ý sở cầu nhưng đừng nên thái quá.

26. Ðịa trạch lâm
Mềm dẻo, dĩ nhu chế cương thì thành công, tuy cơ mà ứng biến.

27. Ðịa hỏa minh di
Khi có nhiều tai họa vây quanh, nên tìm cách ẩn hơn là tranh đua, chỉ mua lấy bất lợi.

28. Ðịa lôi phục
Khi gặp thất bại nên rút tỉa kinh nghiệm thì sẽ thành công.

29. Ðịa phong thăng
Muốn thoải mái chớ tự phụ, khả năng nhiều cần giúp đỡ người khác.

30. Ðịa thủy sư
Khi gặp nổi khổ tâm, đừng nản chí, sáng suốt thì thoát khỏi thất bại.

31. Ðịa sơn Khiêm
Ở đời càng nhường nhịn là khôn ngoan, sẽ đạt thắng lợi nhiều.

32. Thuần Khôn
Nhu hòa và phải biết lùi đúng lúc là đã thành công thì tránh được họa hại.

33. Hỏa thiên đại hữu
Tương mặt trời ở chính ngọ phải thận trọng, lúc cao nhất là sắp bước sang kỳ suy thoái vất vả.

34. Hỏa trạch khuê
Phải tranh đấu mới được việc, vẫn cần đề phòng tất cả chỉ là tạm thời, phải chịu đựng.

35. Hỏa lôi phệ hạp
Phải quyết định dứt khoát mọi trở ngại mới mong thành công ở đời.

36. Hỏa phong đỉnh
Ở đời khi mong ước điều gì, cần góp nhặt tất cả khả năng, điều kiện.

37. Hỏa thủy vi tế
Khi thành công một phần, chớ tự mãn vì sự việc cần, đòi hỏi tiến tới nữa.

38. Hỏa sơn lú
Cuộc đời như người lữ khách nhiều lo âu, đang trong cơn thất thế, cần an phận, bình tĩnh.

39. Hỏa địa tấn
Vạn sự khởi đầu nan, cần vững tâm để có khí thế ban đầu.

40. Thuần ly
Ở đời, sự việc khi khí thế đang phát triển thì đừng nên quá đà mà trở thành ảo mộng.

41. Lôi thiên đại tráng
Không kìm hãm được mình, thành ra hỏng việc.

42. Lôi trạch qui muội
Vì tình mà quên lý, cái thế lỡ làng, nên nhẫn nhục là hơn.

43. Lôi Hỏa Phong
Lúc thành công nhất cũng là lúc báo hiệu suy tàn tới nơi, cần phòng xa.

44. Lôi Phong Hằng
Cố gắng tạo căn bản, đó là nắm vững lẽ thường, nên trầm tĩnh mà làm việc.

45. Lôi thủy giải
Tượng que: tuyết tan được nắng xuân. Khi thuận lợi đã đến nên nắm lấy mà hành động.

46. Lôi sơn tiểu quá
Cuộc sống ở đời thiếu thuận hòa, điều bất lợi càng lúc càng nhiều.

47. Lôi địa tụ
Phải biết lo xa để khỏi phiền gần, có phòng xa thì mới vui vẻ

48. Thuần lôi
Sau cơn mưa trời lại sáng, cứ yên tâm với những nỗi biến động của cuộc đời.

49. Thiên trạch lý
Ở đời khi đã bắt tay vào việc phải tùy cách đối phó khéo léo mà cư xử.

50. Thiên hỏa đồng nhân
Sự việc ở đời cần sự giúp đỡ của những người chung quanh cho nên quyết định một mình.

51. Thiên lôi vô vọng
Khi gặp lúc thất vọng cần trầm tĩnh để phân biệt cái thất bại với cái thành công. Thủ phận chờ lúc không phải là đã chịu an phận.

52. Thiên Phong cấu
Cuộc đời gặp lúc họa vô đơn chí, có nhiều tai họa dồn dập, phải bình tĩnh mà nhận định, chớ cuống cuồng.

53. Thiên thủy Tụng
Ở đời càng bớt va chạm càng tốt, giảm cứng rắn để đoạt thắng lợi.

54.Thiên sơn độn
Khi cơn nguy đến, chạy trước là thượng sách, tìm nơi ẩn mình mà tu dưỡng, sẽ vinh quang sau này.

55.Thiên Ðịa Bỉ
Ở đời khi gặp lúc cũng ví như vào ngõ cụt thì nên chịu phận nhục mà thu hồisức lực, chớ vong động rồi sẽ gặp thoải mái hơn.

56.Thuần Cấn
Bay cao quá sẽ rớt đau hơn, khi thành công chớ khinh thường, nên củng cố kinh nghiệm để tạo thành công mới.

57. Sơn thiên đại súc
Ở đời mọi sự việc càng chuẩn bị chu đáo, sẽ vững lòng tiến đến thành công.

58. Sơn trạch tổn
Ở đời nếu biết hy sinh những cái lợi trước mắt cách tạm thời, sẽ hanh thông hơn trong tương lai kế cận.

59. Sơn hảo bi
Ở đời nhưng cơ hội tốt đến với mình chỉ thoáng qua ví như sự huy hoàng của ngọn đèn sắp tàn.

60. Sơn lôi hi
Trước khi làm việc gì phải mất công quan sát nhiều điều kiện thì mới được tốt đẹp.

61. Sơn Phong Cổ
Ở đời mỗi lần sự việc xấu đến với mình, hay lan rộng từ trong ra ngoài nên phải đề phòng, nên tĩnh thì hơn.

62. Sơn Thủy Mông
Càng gặp chua cay thất bại càng nên học hỏi, chớ nản cứ kiên nhẫn, thời cơ sẽ đợi mình.

63.Sơn địa bác
Khi gặp tình thế bi quan, chớ nản lòng, trong đó vẫn còn lối dẫn đến thành công. Cứ bình tĩnh mà tìm sẽ thấy.

64. Thuận Cấn
Ở đời phải biết chữ tùy khi ngại ở trước mắt.

Trên đây chỉ là tóm tắt ý chính, lời khuyên bảo cho mỗi quẻ, để cho dễ nhớ, nếu muốn đào sau cho tường tận, ngọn nguồn, nên tìm đọc thêm các sách Chu–Dịch-vì ở đây không hoàn toàn thuộc phạm vi của Dịch Lý nên chỉ xin được phép khái lược để gây cho độc giả ý niệm về Dịch. Tuy vậy những lời bảo của mỗi quẻ dịch tương ứng với mỗi tuổi, vẫn được trình bày cách đơn giản và dễ hiểu.

2. Ý Nghĩa của mệnh và Thân

Theo các sách Tử Vi của người xưa để lại, đều thấy nói, từ lúc mới sinh cho đến năm 30 tuổi thì cuộc đời ảnh hưởng do cung mệnh, do đó lấy cung Mệnh làm chính. Cuộc đời ngoài 30 tuổi trở ra tới lúc chết thì ảnh hưởng do cung Thân (Thân đây là cung an Thân chứ không phải cung Thân trong địa chi Tý Sửu Dần..). Do đó phải lấy quan niệm tam thập nhi lập – con người sống ở đời trong vòng 30 tuổi. Là cái thời gian để trui luyện dùi mài kinh sử, luyện tập khả năng để khi rời mái gia đình tức là từ 30 tuổi trở ra, mới đem cái sở trường ra để tạo sự nghiệp giúp đời, lúc ấy mới chính là lúc hành động. Thế cuộc biến đổi, quan niệm tam thập nhi lập ngày nay không còn nữa, để phù hợp với đại cuộc, cung mệnh chỉ được khả coi nặng khi đương số có trong mái gia đình và khi ra hoạt động với không không phân biệt tuổi tác thì ấy chính là lúc Thân hoạt động. Nhưng mỗi động tác con người đều là sự kết thúc của những năng lực tiềm tàng trong nội giới

Thân chính là cái ứng dụng của Mệnh - hay nói một cách rõ ràng dể hiểu hơn:

  • Mệnh là tư tưởng của con người
  • Mà Thân là cái ta hành động vậy

Trên địa bàn một lá số, chỉ thoáng nhìn cung mệnh, rồi đến cung an thân, ta có thể hiểu được con người của lá số ấy có tư tưởng gì và hành động ra sao? Mà mọi kết thúc của hành động chính là những tác nhân (nguyên nhân tác động) gây nên những điều hoặc có lợi, hoặc có hại cho bản ngã.

Vậy phải hành động thế nào cho có lợi cho bản ngã, khi nào chiều theo tư tưởng vẫn tự nó phát sinh, khi nào nên dứt bỏ, phải xét lại; ấy chính là cái “biệt” của người trí giả vậy.

Muốn biết về ý nghĩa của mệnh, thân, thế nào chỉ căn cứ vào vòng Thái Tuế và các sao ở cung mệnh hay Thân và ý nghĩa các sao liên hệ để luận.

Thí dụ: 1 lá số dương nam Canh Dần tháng 9 ngày 3 giờ Thân. Như vậy mệnh Lập tại Dần có Tham Lang gặp Thái Tuế. Thân đóng ở Ngọ có Quan Phù gặp Thất sát ngộ Tuần Triệt - có nghĩa là con người trong tư tưởng lúc nào cũng mang niềm tự hào, thích ra tay nghĩa hiệp nhưng hành động thì lại hay nóng nảy (quan.???? Thất sát) mà hỏng việc (Tuần Triệt cản) mà như vậy thì lại sinh ra bất mãn ở con người. Thái Tuế càng thất bại, càng gặp việc khó càng kiêu kỳ, chính vì cái tư tưởng (mệnh) Tham Lang nên khi làm việc chỉ hăng hái buổi đầu rồi tư tưởng sẽ thay đổi để dễ bỏ dở công việc để làm việc mới khác. Vậy muốn sống cho được thành công, người này phải biết mềm mỏng, kiên nhẫn và cương quyết trước sự việc, khi gặp trở ngại đừng nản chí, cứ tiếp tục làm sẽ thành công.

3. Thiên Tài, Thiên Thọ hay Nhân Quả

Sao THIÊN TÀI được khởi từ cung mệnh là cung tý tính theo chiều thuận đến năm sinh.

Sao THIÊN THỌ được khởi từ cung an thân là cung tý cung tính theo chiều thuận đến năm sinh.

Như, trên đã trình bày cái lý hàm súc của mệnh, Thân Thiên tài đi theo mênh, Thiên Thọ lại tùy với Thân như ngầm bảo cho thấy phải gieo cái Nhân ở đâu thì sẽ gặt hái kết quả cho đời, vậy nêu tính ra sẽ thấy người sinh năm:

  • Tý sao Thiên tài ở Mệnh
  • Sửu sao Thiên tài ở Phụ Mẫu
  • Dần sao Thiên tài ở Ðiền
  • Thìn sao Thiên tài ở Quan
  • Tỵ sao Thiên tài ở Nô
  • Ngọ sao Thiên tài ở Di
  • Mùi sao Thiên tài ở Ách
  • Thân sao Thiên tài ở Tài
  • Dậu sao Thiên tài ở Tử
  • Tuất sao Thiên tài ở Phối
  • Hợi sao Thiên tài ở Bào
  • Dần sao Thiên tài ở Phúc

Sao Thiên Thọ nằm ở đâu thì những kết quả gặt hái được sẽ do từ cung ấy.

Thí dụ: Tuổi Canh Dần ngày 3 tháng 9 giờ Thân. Thân cư quan Lộc, Thiên tài Phúc Ðức, Thiên thọ cư tài bạch, ở người này nếu muốn được sự thoải mái may mắn về tiền bạc, phải đối xử với họ hàng bà con thật rộng lượng, cho phải đạo, gạt bỏ mọi tị hiềm.

  • Người tuổi Tý THIÊN TÀI ở Phụ Mẫu nghĩa là phải đối xử với cha mẹ cho ra người hiếu tử.
  • Người tuổi Dần THIÊN TÀI ở Phúc: phải đối xử với họ hàng cho phải đạo.
  • Người tuổi MÃO, THIÊN TÀI ở Ðiền: lo nhà cửa, nơi che mưa trú nắng là quan trọng.
  • Người tuổi THÌN, THIÊN TÀI cư Quan: phải chăm lo bồi đắp cho công danh của mình.
  • Người tuổi TỴ, THIÊN TÀI cư Nô: phải đối xử rộng rãi và cho có nhân tình với bạn bè, với người giúp việc.
  • Người tuổi Ngọ, THIÊN TÀI ở Di: phải có những hoạt động xã hội giúp đỡ tha nhân.
  • Người tuổi Mùi, THIÊN TÀI ở Ách:phải chăm lo đến sức khỏe của mình.
  • Người tuổi Thân, THIÊN TÀI ở Tài: phải biết chi tiêu rộng rãi nhưng lo xa.
  • Người tuổi Dậu, THIÊN TÀI ở Tử Tức: nếu chăm lo cho con cháu sẽ được hưởng phúc.
  • Người tuổi Tuất, THIÊN TÀI ở cung Phối ngẫu: nên cư xử cho đúng đạo vợ chồng.
  • Người tuổi Hợi, THIÊN TÀI ở Bào: nếu biết lo toan bao bọc xây dựng cho anh em, sẽ được đền bù xứng đáng.

Tử Vi là 1 khoa học nhân văn nghiên cứu về con người hiện thực, cho nên Tài, Thọ ở đây là cái Nhân quả nhãn tiền có ngay từ cuộc sống này. Những thoải mái, may mắn mà ta đạt được (Thiên Thọ), sẽ xảy ra ngay sau cái nhân là Thiên Tài mình gieo được.

4. Ðạo lý ẩn tàng trong chính tinh của Tử Vi

Người nghiên cứu Tử Vi, nếu đặt bút làm con tính thì ai cũng có thể thấy cứ 1 hội (60) thì có được 512.640 lá số tử vi khác nhau, nhưng trong khi ấy thì nhân loại có khoảng 6 tỉ người như thế, tính trung bình thì cứ 12,000 người có cùng 1 lá số giống nhau; thế nhưng trên thực tế số người số người có cùng một lá số lại vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Ðiều này đã gây thắc mắc không ít cho học giả. Thật ra khi truyền bá môn lý học này. Cổ nhân có ý muốn hệ thống hóa các đặc loại con người, rồi theo đó mà có lời bảo cho từng loại phải sống sao cho chan hòa cùng nhau (xã hội hoàng kim thịnh vượng là vậy) chứ không hẳn chỉ nhằm vào việc đoán vận mệnh phú quý, thọ yểu mà thôi. Mỗi lá số đều có những cấu trúc tinh đẩu khác nhau chỉ thoáng qua thế chính tinh đã thấy rõ 3 cách phân bố.

a. Nhân cách: là thể nhị hợp của Liêm trinh với Thiên Lương, của Thiên Cơ với Phá Quân, của Vũ Khúc với Thái âm, của Thiên Phủ với Thái Dương và của Tham Lang với Thiên Ðồng.
b. Ðịa cách: là tính xung đối của Thiên tướng với Phá Quân, của Thất Sát với Thiên Phủ.
c. Thiên cách: là tính hình hại của chính tinh, xin nhắc lại tính hình hại của 12 cung địa chi, còn gọi là Lục Hại.

  • Tỵ hình Dần
  • Thìn hình Mão
  • Ngọ hình Sửu
  • Mùi hình Tý
  • Thân hình Hợi
  • Dậu hình Tuất

Ở thế này luôn luôn thấy tính cách hình Hợi của Tử Vi với Cự Môn, của Thiên tướng với Thiên Cơ, của Thái Dương với Thất Sát.

Sự hình thành chặt chẽ các thế đứng của 14 chính tinh trải đều trên địa bàn 12 cung dù trong bất cứ ở cung nào cũng không ra ngoài 3 thể cách đã nêu trên, đây cũng là 1 trong những huyền ảo của Tử Vi. Chính là ẩn tàng cái đạo lý làm người khi ta nghiệm lý về Tử Vi.

Mỗi cách số của Tử Vi đều có cái thuận lợi riêng và cũng có cái bất lợi riêng của nó, người thâm cứu về Tử Vi không phải là chỉ biết khi nào đáo vận Thái tuế, lúc nào đáo hạn Thiên Không, cái biết này chỉ là cái dụng sơ đẳng, tầm thường. Quan trọng hơn là ta phải biết cái “thể” rõ nét mà xử lý với đời như thế nào cho phải đạo.

  • SUY NGẪM VỀ NHÂN CÁCH: Chính tinh ở thế nhị hạp. Ta thấy bàng bạc lời khuyên bảo chí tình: sống thanh bạch nhưng giữ cho phẩm chất thanh cao (thế Liêm trinh hỏa sinh Thiên lương mộc). Muốn đổi cũ thay mới phải biết cân nhắc tính toán cho cẩn thận khôn ngoan, không thể phủ định tất cả (Phá quân thủy sinh Thiên cơ mộc), sống có tình cảm chan hòa nhân ái chứ không nên vì đồng tiền mà thành cô đơn ti tiện (Vũ khúc Kim sinh Thái âm thủy - khi phú quý song toàn, có nghĩa là khi được địa vị cho sang cả phải có lòng nhân hậu trong sáng (Thái dương hỏa sinh Thiên phủ thổ). Phải thành khẩn tu tâm, hối cải các lỗi lầm để diệt bớt dục vọng, đừng tham lam mà chỉ tính chuyện canh cải sửa đổi hời hợt (Thiên đồng thủy sinh Tham lang mộc).
  • SUY NGẪM VỀ ÐỊA CÁCH: Chính tinh thế xung đối thấy rõ ràng thuật xử thế lấy độc trị độc, cao nhân tất hữu cao nhân trị (Phá quân xung với Thiên tướng ). Lấy đạo cương nhu mà dung nạp nhau, đạo đức kiềm chế hung bạo (Thiên phủ xung với Thất sát).
  • SUY NGẪM VỀ THIÊN CÁCH: Tính hình hài của tinh đẩu cho thấy lời chỉ dạy về kinh nghiệm sống ở đời phải biết. Khi đạt địa vị cao sang phải biết nghe lời phê phán sự bình phẩm của xã hội là cách tu sửa bản thân chính đáng, hoàn mỹ đó là Cự Môn với Tử Vi.
  • Trí và Dũng không cân xứng là đau khổ, thiếu cái này sẽ mất cái kia đó là Tướng quân với Thiên cơ.

Quân tử khó chung đụng với tiểu nhân, sự trong sáng, nghiêm túc không dung chứa tà mị vũ phu đó là thế hình nhau của Nhật với Phá quân. Ðời người theo tính lý của Tử Vi chỉ là 1 bản dự thảo của một con người.

Không một thế lực nào có thể độ mạng cho ta được, đời ta do tay ta gầy dựng tùy ý ta chọn lựa để tiếp nhận lấy những sự xảy đến với ta.

Không nên chê trách MẪU THIÊN KHÔNG. Những cũng chớ vội tôn sùng người THÁI TUẾ, vấn đề khẩn yếu là dựa vào cấu trúc của các tinh đẩu ở lá số của mình mà xử thế với đời sao cho nên người tốt lành trong xã hội.

Toàn bộ nội dung bài viết về phần quẻ dịch năm sinh và nguyên lý Tài Thọ đã được lập trình vào trong Hệ Thống Giải Đoán Lá Số Tử vi Xem Tướng. Bạn đọc có thể truy cập vào: ## để lấy lá số (lưu ý nhập ngày tháng năm và giờ sinh là âm lịch) sau đó vào phần "LỜI KHUYÊN ỨNG XỬ" để đọc nội dung hướng dẫn lời khuyên ứng xử theo nội dung bài viết.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đi tìm nhân sinh quan trong Tử Vi hay làm thế nào để sửa số?

Văn Khấn Lễ Thần Thổ Công - Đệ nhất gia chi chủ

Văn Khấn Lễ Thần Thổ Công - Đệ nhất gia chi chủ dùng để dâng lễ vị thần trông coi, cai quản trong nhà, định sự họa phúc cho mọi gia đình.
Văn Khấn Lễ Thần Thổ Công - Đệ nhất gia chi chủ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn Lễ Thần Thổ Công dùng để dâng lễ vị thần trông coi, cai quản trong nhà, định sự họa phúc cho mọi gia đình, thường được gọi là Đệ nhất gia chi chủ. Nhờ có vị thần này nên các hồn ma quỷ không xâm nhập được vào nhà để quấy nhiễu gia đình.

Bàn thờ Thổ công không chỉ thờ một vị, mà thờ ba vị thần với ba danh hiệu khác nhau. Trong bài vị người ta để danh hiệu của cả ba vị thần này, mỗi vị trông coi một việc khác nhau.
– Thổ Công: trông coi việc bếp núc.
– Thổ Địa: trông coi việc nhà.
– Thổ Kỳ: trông nom việc chợ búa cho phụ nữ, hoặc việc sinh sản các vật ở vườn đất.

Bài vị của ba thần được lập chung và viết như sau:
– Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân,
– Bản gia Thổ địa Long Mạch Tôn Thần,
– Bản gia Ngũ phương Ngũ thổ Phúc đức chính thần.

Mỗi gia đình có riêng một Thổ công. Hàng năm các Thổ công này được thay thế vào ngày 23 tháng chạp (gọi là ngày ông Táo lên trời). Vào ngày này gia đình sửa lễ cúng ông Công , rồi đốt bài vị cũ, thay bài vị mới.

Mũ Thổ Công:
– Mũ Thổ Công là một cỗ gồm ba chiếc: 1 mũ đàn bà và 2 mũ đàn ông không có hai cánh chuồn. Nếu thờ 3 chiếc là thờ đủ mũ cho ba vị thần còn nếu thờ 1 mũ thì đó là mũ Thổ Công.
– Mũ được làm bằng giấy, mũ thường đi kèm với một chiếc áo và một đôi hia. Dưới mũ đặt 100 thoi vàng giấy.
– Mũ, áo, hia mỗi năm một màu hợp với ngũ hành: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ (trắng-xanh-đen-đỏ-vàng) mỗi năm có một hành riêng, mỗi hành có một màu nhất định:

+ Năm có hành Kim: cúng mũ màu trắng.
+ Năm có hành Mộc: cúng mũ màu xanh.
+ Năm có hành Thủy: cúng mũ màu đen.
+ Năm có hành Hỏa: cúng mũ màu đỏ.
+ Năm có hành Thổ: cúng mũ màu vàng.

Cũng như bài vị Thổ Công, hàng năm mũ cũng được đem hóa vào ngày tết Táo quân và được thay cỗ mũ khác để thờ cho đến tết Táo quân năm sau.

Sắm lễ cúng Thần Thổ Công

– Cúng vào ngày giỗ Tết, Sóc Vọng. Có thể cúng chay hoặc mặn.
– Trong ngày Sóc Vọng, ngày mồng Một, ngày Rằm, các gia đình thường cúng chay; đồ lễ gồm: giấy vàng, bạc, trầu, nước, hoa quả. Tuy vậy, cũng có gia đình cúng mặn có thêm các đồ: rượu, xôi, gà, chân giò….
– Những khi làm lễ cúng Gia tiên, bao giờ cũng cúng Thổ Công trước. Khấn cầu sự phù hộ của Thổ Công cũng giống như khấn Gia tiên. Mặc dù gọi là cúng Thổ Công, nhưng khi cúng phải khấn đủ các Thần linh ghi trong bài vị.

Tết Thổ Công:
– Thổ Công là vị thần có nhiệm vụ ghi chép mọi việc tốt xấu xảy ra trong mỗi gia đình. Lễ cúng Thổ Công quan trọng nhất là ngày tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp (còn gọi là tết ông Công).

– Trong ngày lễ này, sau khi cúng xong, Thổ Công lên chầu Thượng Đế để báo cáo những điều tai nghe, mắt thấy ở trần thế mà mình đã ghi chép được. Còn các gia đình sẽ hóa vàng, mũ, áo, hia của năm trước đổ tro ra sống và phóng sinh cho con cá chép để cho ông cưỡi lên trời. (quan niệm dân gia cho rằng: cá chép sau khi được phóng sinh sẽ hóa thành rồng để cho ông Táo cưỡi.).

Văn Khấn Lễ Thần Thổ Công

Văn khấn Thổ Công sau đây được dùng cho cả năm tùy theo cúng vào lúc nào mà thay đổi ngày tháng cho phù hợp.
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
– Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này.
Tín chủ là………………………………………………………………
Ngụ tại………………………………………………………………….
Hôm nay là ngày……….tháng……..năm………………………….
Tín chủ con thành tâm sắm sửa hương, hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả, bầy ra trước án. Đốt nén hương thơm kính mời: ngày Bản gia Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa Long Mạch Tôn thần, ngài Bản gia Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức chính Thần.
Cúi xin các Ngày thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn Lễ Thần Thổ Công - Đệ nhất gia chi chủ

Luận sơ lược Tử vi Tuổi Tý

BÍNH-TÍ 18 TUỔI: (Sinhtừ 19/2/1996 đến 6/2/1997) Mệnh: Giản Hạ Thủy (Nước dưới khe)
Luận sơ lược Tử vi Tuổi Tý

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


NAM:
  Cung Tốn, sao Mộc-Đức, hạn Hùynh-Tuyền: Bản tính ngay thẳng thật thà, nhạy bén nhưng hơi lãng mạn. Mẫu người mưu lược, tạo được quyền lực. Nếu là con út trong gia đình thì lớn lên có thể gần mẹ xa cha hay gần cha xa mẹ. Ở đời có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh, tài ba tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ học hành 4 năm đại học, có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này.

 “Tuổi trẻ hôm nay ráng học hành

Ngày mai rạng rỡ bước công danh

Chuyên cần chăm chỉ lo đèn sách

Hiếu thảo đền ơn đấng sinh thành”.

Năm nay, đúng chương trình là chuyển lên lớp 11. Cố gắng thi SAT cao điểm để xin được học bổng và dễ được các đại học nổi tiếng tuyển mộ, không cần đợi cọng điểm GPA khi tốt nghiệp lớp 12. Hạp màu trắng. Hướng nhà cửa tốt nhất là Bắc, Nam và Đông Nam. Muốn đổi chỗ ở, chuyển trường đều thực hiện được.

NỮ:  Cung Khôn sao Thủy-Diệu, hạn Tán-Tận: Mẫu người thích nghiên cứu, tìm tòi, có óc quan sát. Mưu cầu sự hoàn mỹ nên hơi mơ mộng. Nếu là con út trong gia đình thì lớn lên có thể gần cha xa mẹ hay gần mẹ xa cha. Ở đời có ba điều đáng trách: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh, tài ba tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ ân hận suốt đời mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ học hành 4 năm đại học, có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này.

“ Cơm cha áo mẹ công thầy

Tuổi xuân học tập tháng ngày chăm lo

Ngày mai vinh hiển ấm no

Yêu cuồng sống vội hẹn hò không nên”

Năm nay đúng chương trình là chuyển lên lớp 11.  Cố gắng  thi SAT cao điểm để dễ xin học bổng, dễ vào các đại học nổi tiếng, không cần đợi cọng điểm GPA khi tốt nghiệp lớp 12. Hạp màu trắng. Hướng mở tiệm, văn phòng thương mại là Tây và Tây Bắc. Chọn chồng hợp những tuổi sau: Qúy-Dậu ( 1993), Giáp-Tí ( 1984), At-Sửu ( 1985), Mậu-Thìn (1988),  Canh-Ngọ (1990). Bất luận lấy chồng năm nào, nên chọn ngày giờ tốt trong tháng 6 hay 12 âm lịch.

GIÁP-TÍ 30 TUỔI: ( Sinh từ 2/2/1984 đến 20/1/1985)

Mệnh: Hải Trung Kim ( Vàng giữa biển)

NAM: Cung Đoài, sao Thủy-Diệu, hạn Ngũ-Mộ : Mẫu người hiếu học, thông minh, nhanh nhẹn, mưu lược, chịu khó, bộc trực, nóng nảy nhưng rất lương thiện. Sinh vào mùa Thu phú qúi, một đời vật chất sung túc, khá giả về tiền bạc. Tính tự lập với nhiều cá tánh mang nhiều tham vọng, tự tin và gánh vác trách nhiệm, một đời hiên ngang. Gieo nhân lành thì quả tốt. Thi cử dễ có bằng cấp cao; nhờ đó mà tương lai sáng lạn. Tiền vận khó khăn thăng trầm. Hậu vận rất thành công. Sinh mùa Xuân, Hạ, Đông, gian nan:

“Tự tin xây dựng cuộc đời

Tuổi xuân chăm chỉ, thảnh thơi về già

Một đời ngang dọc phong ba

Hiển vinh hậu vận thăng hoa sáng ngời”

Tình duyên lận đận: Vui chưa lâu thì nỗi buồn chợt đến. Hạp với tuổi Giáp-Tí (1984), Nhâm-Tuất (1982), và Qúy-Dậu (1993). Đại kỵ tuổi Bính-Dần (1986), Đinh-Mão (1987). Rất kỵ màu đỏ. Hạp màu vàng. Phương hướng nhà cửa và thương mại tốt nhất là hướng Tây và Tây Bắc. Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm Tam-Địa Sát, không thích hợp cho việc xây cất hay chỉnh trang nhà cửa. Tháng 4 tháng 8, trong gia đình có người bệnh hoạn, hay tang chế bà con xa.

 

NỮ: Cung Cấn, sao Mộc-Đức, hạn Ngũ-Mộ: Mẫu người rất thông minh, lanh lẹ, chịu khó, tử tế, tốt bụng, nên cuộc đời thành công. Với tài giao tế, đắc nhân tâm nên dễ thăng tiến trên thương trường. Khó nhờ vả anh chị em. Tình duyên lận đận nếu sinh vào mùa Xuân, Hạ, Đông. Nhiều cá tánh và thích gánh vác giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, ly hương lập nghiệp lại rất giàu có sau 40 tuổi.

Mệnh Hải Trung Kim số chẳng nghèo

Mẫu người năng nỗ vững tay chèo

Thông minh tốt bụng, đời sang cả

Đường tình lận đận lắm gieo neo”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm Tam Địa Sát, không tốt cho việc xây cất, chỉnh trang nhà cửa. Tuy nhiên, việc làm ăn rất phát đạt, thịnh vượng. Làm công chức sẽ được lên chức lên lương. Tốt nhất trong mùa Đông. Rất hạp  màu vàng, kỵ màu đỏ. Dễ có tình cảm tốt với người bằng tuổi và Qúy-Hợi (1983), At-Mão (1975), Giáp-Dần (1974), Ất-Sửu (1985)  và Mậu-Ngọ (1978). Bất luận năm nào, khi cưới hỏi phải chọn ngày giờ tốt trong các tháng 6, hay 12 âm lịch là tốt nhất. Làm ăn nên chọn hướng Tây Nam và chánh Tây. Nếu muốn sinh con, thì nên có thai sau tháng 6; để sinh con Giáp-Ngọ, có thể tốt cho cha mẹ đựợc 20 năm. ( Nếu là con út.)

NHÂM-TÍ 42 TUỔI: (Sinh từ 15/2/1972 đến 2/2/1973)

Mệnh: Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu).

NAM: Cung Khảm, sao Vân-Hớn hạn Thiên-La: Nam “ nhâm” là số phú qúi, nhờ  thông minh năng nỗ tháo vác, giỏi ứng phó trước mọi hoàn cảnh. Luôn tự tin, không ỷ lại vào người khác. Đa mưu túc trí, tránh đụng chạm. Ly hương lập nghiệp dễ dàng phát đạt giàu sang. Rất có năng khiếu về quản trị kinh doanh. Tương lai sang giàu bền vững. 

Tang Đố Mộc số thành công

Tình tiền danh lợi một vòng vẻ vang

Suốt đời phát đạt giàu sang

Công danh sự nghiệp vững vàng ấm  êm”

Tất cả mọi thay đổi như chỗ ơ, chỗ làm hay đi xa xuất ngoại trong năm nay đều thành công. Tài lộc phát đạt đem lại một năm thịnh vượng. Tuy nhiên cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ trong tháng Giêng và tháng 7. Bàn tay Kim Lâu nhằm “Lục Hoang Ốc” thành thử  không nên xây cất nhà cửa. Người độc thân, rất hạp và có thể tiến tới hôn nhân với các tuổi Giáp-Dần (1974), Qúy-Sửu (1973), Canh-Thân (1980), Nhâm-Tuất (1982) và Qúi-Hợi (1983). Kỵ tuổi Bính-Thìn (1976). Về màu sắc nên chọn màu xanh nhạt. Phương hướng nhà cửa và làm ăn thương mãi tốt nhất là Đông Nam và chánh Bắc. Dự tính có con năm nay cũng tốt.

 

NỮ: Cung Cấn, sao La-Hầu, hạn Diêm-Vương: Mẫu người thông minh tháo vát năng động, với một đầu óc biết tính toán sáng suốt. Tánh tình chu đáo hiếu thảo, thủy chung biết nhìn xa và thật thà nhưng có ý chí, đầy nghị lực, tạo được sự quan hệ tốt với xã-hội. Con cái ngoan hiền. Khó nhờ vả anh chị em. Muốn tự kinh doanh, nên chọn hướng Tây và Tây Bắc, dễ phát đạt, thịnh vượng. Hạp màu xanh nhạt. Hôn nhân thường trở ngại lúc đầu, sau phải lấy chồng hợp tuổi mới hạnh phúc bền lâu.

“Thông minh chẳng có ai bằng

Nữ nhi hiếu đạo tâm hằng sáng soi

Góp công làm đẹp cho đời

Trăm năm bền vững rạng ngời an vui”

Hôn nhân hạp với những tuổi Giáp-Dần (1974), Ất-Tị (1965), Giáp-Thìn (1964), Canh-Tuất (1970), Quí-Sửu  (1973), Quí-Mão (1963) và Nhâm-Dần ( 1962). Kỵ tuổi Kỷ-Dậu (1969). Bàn tay Kim-Lâu nhằm “Lục Hoang Ốc” không nên xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Tuy nhiên, mọi thay đổi chỗ ở, chỗ làm, đi xa xuất ngoại đều thành công như ý. Một năm rất phát đạt và thịnh vượng. Cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ trong tháng Giêng và tháng 7.

 

CANH-TÍ  54 TUỔI: (Sinh từ 28/1/1960 đến 14/2/1961)

Mệnh: Bích Thượng Thổ (Đất trên tường)

 

NAM: Cung Tốn, sao Mộc-Đức, hạn Hùynh-Tuyền: Mẫu người sáng trí thông minh nhanh nhẹn và chịu khó. Hành sự đơn độc, âm thầm lo toan mọi việc trong cô đơn nhưng có tinh thần kỹ luật, trọng nghĩa khí; đôi khi khoan dung và từ tâm bác ái. Nhiều khi nóng nảy hấp tấp, cho nên hôn nhân cách trở khó khăn. Đi xa lấy vợ, hay cưới vợ khác xứ khác quê càng tốt. Tiền vận trước 26 tuổi thường gặp gian nan. Hạp màu đỏ và vàng. Tạo mãi nhà cửa hay kinh doanh tốt nhất trên hướng Bắc, Nam, và Đông Nam. Bạn đời lý tưởng nhất là các tuổi Mậu-Ngọ (1978), Quý-Mão (1963), Canh-Tí (1960), Ất-Mão (1975), và Bính-Ngọ (1966). Kỵ tuổi  Kỷ-Dậu (1969) và Đinh-Mùi (1967).

“ Mẫu người sáng trí thông minh

Siêng năng chịu khó, tự tin chính mình

Tha phương kỳ ngộ duyên tình

Gặp người tri kỷ trọn tình trăm năm”

Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Tam Địa Sát” không tốt cho việc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Tuy nhiên việc làm ăn có nhiều biến chuyển thuận lợi trong mùa Đông. Trong hãng xưởng dễ được thăng quan tiến chức. Kinh doanh thương mãi, tài lộc rất khả quan. Con cái thi cử đỗ đạt.

 

NỮ: Cung Khôn, sao Thủy-Diệu, hạn Tán-Tận: Mẫu người sáng trí, thông minh, ứng phó tài tình trước nghịch cảnh. Có tài năng và kiến thức sâu rộng, dễ thủ đắc tiền tài. Cho nên đôi khi quá tự tin và hành sự độc đoán gây đụng chạm. Một đôi khi tỏ ra hấp tấp vội vàng nhưng nhờ tâm tốt, hay làm việc thiện nên cũng dễ quên những nỗi khổ trong lòng.

“Tính người vì quá tự tin

Trước bao nghịch cảnh tại mình xem khinh

Trường đời khéo léo giữ gìn

Khiêm cung từ tốn gia đình mới yên”

 Làm ăn nên chọn hướng Tây và Tây Bắc. Hạp màu đỏ và vàng. Người hợp tác cũng như bạn trăm năm rất hợp với các tuổi Ất-Tị (1965), Canh-Tí (1960), Ất-Mùi (1955), Giáp-Thìn (1964), Giáp-Ngọ (1954), Quý-Mão (1963), Mậu-Tuất (1958), Canh-Dần ( 1950) và Mậu-Tí (1948). Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Tam Địa Sát”, không tốt cho việc xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi. Tháng 4, tháng 8 gia đình có người bệnh hoạn hay tang chế bà con. Lái xe cũng phải cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ trong 2 tháng nói trên.

 

MẬU-TÍ 66 TUỔI: (Sinh từ 10/2/1948 đến 28/1/1949)

Mệnh: Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét).

 

NAM: Cung Đoài, sao Thủy-Diệu, hạn Thiên-Tinh: Số ly hương xa xứ, thông minh lanh lẹ và mưu lược. Tự tay lập nghiệp mà thành, không nhờ vả người thân. Nếu là con út trong gia đình thì sớm bị mồ côi. Tính tình khí khái cương trực, dứt khoát, nhưng cũng thích triết và đạo lý, có tâm hồn hướng thượng, tin tưởng vào các sự kiện tâm linh. Cho nên một khi đã “tri thiên mệnh” thì lại tu hành bất chợt. Tình duyên lận đận, trắc trở nhiều phen. Hôn nhân không mấy khi hợp ý toại lòng. Nhưng nếu gặp những tuổi Mậu-Tuất (1958), Canh-Tí (1960) hay Bính-Thân (1956),  tình duyên được vững bền.

Tự tay lập nghiệp mà thành

Nên tri thiên mệnh tu hành quán thông

Tâm hồn hướng thượng thong dong

Đạo đời hòa hợp, thoát vòng khổ đau “.

Đại kỵ màu đen, đi xe đen. Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất là Tây Nam, Đông Bắc và Chánh Tây. Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Lục Hoang Oc”, không tốt cho việc xây cất nhà cửa hay tạo lập cơ sở kinh doanh. Công việc làm ăn cứ giữ nguyên tình trạng cũ, không nên mở mang rộng lớn, sẽ lâm và tình trạng lớn thuyền lớn sóng, tiếng có miếng không. Lái xe phải cẩn thận đề phòng tai nạn xe cộ, nhất là trong tháng 4 và 8.

 

NỮ: Cung Cấn, sao Mộc-Đức hạn Tam-Kheo: Nữ nhân mà nam tính, thích tự lập với nhiều tự ái. Rất thông minh, tài giỏi, cương trực, thích ly hương dựng nghiệp. Chấp nhận hiện tại và có tinh thần trách nhiệm. Tình duyên trắc trở, lận đận nhiều phen và hôn nhân ít khi hợp ý toại lòng. Khi “ ngũ thập tri thiên mệnh”(50 tuổi biết được ý trời) thì gia tăng khuynh hướng thích triết, đạo lý và tu hành hướng thượng. Tuy nhiên, khi đã lập gia đình với những tuổi Canh-Dần (1950), Quý-Mùi (1943), Mậu-Tí (1948), Đinh-Hợi (1947) gia đạo lại an vui. Nếu quí bà là con út, thường sớm bị mồ côi.

“Nữ nhân nam tính sống ngang nhiên

Mệnh Trời hòa hợp mối thiên duyên

Triết lý đạo đời tâm hướng thựợng

Thiên di cẩn thận mới bình yên”

Tối kỵ màu đen, nhất là đi xe đen ! Hướng tốt để làm ăn là Tây Bắc, và Chánh Tây. Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Lục Hoang Oc”. Không nên xây cất nhà cửa hay văn phòng thương mãi. Mọi việc làm ăn cứ theo đường xưa lối cũ, tránh mở mang rộng lớn, để khỏi bị tình trạng lớn thuyền, lớn sóng, tiếng có miếng không. Hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại.

Nguồn Vietstar

Xin Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo, nếu Quý khách hàng muốn có bài luận giải tử vi đúng của chính mình, xin vui lòng đóng phí ở dịch vụ Xem tử vi trọn đời để được chuyên gia gửi bài luận giải qua địa chỉ email.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận sơ lược Tử vi Tuổi Tý

Xem bói tay,bàn tay người có khả năng sáng tạo

Nếu xem bói tay mà bạn có hoa tay tròn trên ngón vô danh thì bạn là người có năng lực nghệ thuật, có khả năng sáng tạo, dự báo sẽ là một nhà nghệ thuật.
Xem bói tay,bàn tay người có khả năng sáng tạo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiên bẩm chính là chỉ một người khi sinh ra đã có năng lực sáng tạo thần kỳ, khiến cho người khác không thể xem thường được. Hành vi, cử chỉ của họ siêu phàm thoát tục, bàn tay cũng đặc biệt, từ vị trí các gò, đường chỉ tay và các ký hiệu đều có rất nhiều điểm khác thường so với người bình thường, điếu đó ngầm báo hiệu cho thấy một tương lai huy hoàng đang chờ đón họ. Hãy cùng xemboituong tìm hiểu xem bạn có là một trong số đó…

Ngón vô danh có hoa tay tròn

Nếu xem bói tay mà bạn có hoa tay tròn trên ngón vô danh thì bạn là người có năng lực nghệ thuật, thẩm mỹ cao, có khả năng sáng tạo, dự báo sẽ là một nhà nghệ thuật. Thích hợp làm việc trong ngành nghệ thuật mang tính sáng tạo.

Có đường Công danh dài kéo tới gò Nguyệt

Báo hiệu là người có năng lực sáng tạo rất tốt, giàu tính nghệ thuật. Người có đường Công danh như vậy, không những đạt được thành công trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn có thể đạt được thành tựu trong các lĩnh vực khác, nên làm công việc mang tính chất sáng tạo. Nếu như có thêm hình sao trên gò Thái dương thì nhất định sẽ gặt hái được thành công trong lĩnh vực nghệ thuật hoặc các ngành nghề sáng tạo khác.
Khả năng tưởng tượng phong phú, là người có năng lực đặc biệt. Trong đó người có đường Trí tuệ kéo dài đến nửa dưới của gò Nguvệt, mặc dù tư tưởng mạnh mẽ nhưng linh cảm phong phú, tài hoa xuất chúng, có thể sáng tác ra những tác phẩm rung động lòng người.

Có vòng Kim tinh

Cảm quan nhạy bén nhưng thần kinh có chút suy yếu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tay,bàn tay người có khả năng sáng tạo

Những cặp đôi kết hợp thành công nhất trong 12 con giáp –

Bạn đang thắc mắc cặp đôi nào kết hợp thành công nhất trong 12 con giáp? Sự kết hợp giữa các cặp đôi ấy sẽ mang lại thành công rực rỡ cho sự nghiệp cả hai. Củ thể đó là những cặp đôi nào? chúng ta cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé! Những cặp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn đang thắc mắc cặp đôi nào kết hợp thành công nhất trong 12 con giáp? Sự kết hợp giữa các cặp đôi ấy sẽ mang lại thành công rực rỡ cho sự nghiệp cả hai. Củ thể đó là những cặp đôi nào?  chúng ta cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé!

Nội dung

  • 1 Những cặp đôi kết hợp thành công nhất trong 12 con giáp
    • 1.1 Tuổi Tý và tuổi Sửu
    • 1.2 Tuổi Dần và tuổi Thìn
    • 1.3 Tuổi Mão và tuổi Mùi
    • 1.4 Tuổi Tỵ và tuổi Dậu
    • 1.5 Tuổi Ngọ và tuổi Hợi

Những cặp đôi kết hợp thành công nhất trong 12 con giáp

Tuổi Tý và tuổi Sửu

Người tuổi Tý có tính cách linh hoạt, năng động còn người tuổi Sửu lại chân thành, đôn hậu. Thái độ làm việc của người tuổi Tý rất tích cực, trong khi người tuổi Sửu nỗ lực, chăm chỉ.

Khi người có trí tuệ thông minh như tuổi Tý kết hợp với người tuổi Sửu chân thật, chất phác, mọi chuyện sẽ diễn ra suôn sẻ và thành công mỹ mãn.

ti-4470-1408777213

Ngoài ra, sự kết hợp giữa trí cầu tiến và tinh thần trách nhiệm cao giữa hai tuổi này sẽ tạo nên hiệu quả công việc thần tốc. Tính cách hai tuổi này bổ trợ cho nhau, bù đắp những nhược điểm còn thiếu và giúp đôi bên cùng hoàn thiện bản thân.

Tuổi Dần và tuổi Thìn

Người tuổi Dần khí phách hiên ngang, dám làm dám chịu, nhiệt tình, phóng khoáng, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng. Người tuổi Thìn lại có con mắt tinh tường, cái nhìn sâu rộng về tương lai và thái độ quyết đoán. Nếu hai con giáp này “liên thủ”, công việc đảm bảo sẽ thuận lợi.

thin-8077-1408777213

Ngoài ra, tính cách nôn nóng của người tuổi Dần sẽ được sự bao dung và rộng lượng của người tuổi Thìn chế ngự. Ngược lại, lối sống lý tưởng hóa mọi chuyện của người tuổi Thìn sẽ được cái nhìn thực tế và nhạy bén của người tuổi Dần dung hòa.

Tuổi Mão và tuổi Mùi

Ưu điểm hòa đồng và lương thiện của người tuổi Mão sẽ được người tinh tế và thận trọng tuổi Mùi “chắp cánh”. Tinh thần lạc quan của người tuổi Mùi cũng sẽ nhận được sự tán dương nhiệt tình của người tuổi Mão.

Cả hai con giáp này đều hay quan tâm và giúp đỡ người khác, tham gia nhiệt tình các công tác từ thiện, giúp đỡ trẻ em và người già nghèo khó, không nơi nương tựa.

mui-8195-1408777213

Đồng thời, tính cách nóng nảy, ưa hư vinh của người tuổi Mão sẽ được kiểm soát bởi sự khiêm nhường và điềm tĩnh của người tuổi Mùi. Nhược điểm thiếu quyết đoán và chính kiến của người tuổi Mùi lại được sự thông minh, linh hoạt của người tuổi Mão bù đắp. Hai tuổi này hợp tác với nhau sẽ vô cùng hòa thuận trong mọi việc.

Tuổi Tỵ và tuổi Dậu

Cách tư duy của người tuổi Tý nhạy bén, cách làm việc nhiệt tình và hăng say sẽ hỗ trợ đắc lực tính cách cương trực, thẳng thắn đôi khi làm mất lòng người khác của tuổi Dậu.

Hơn thế, người tuổi Tỵ làm việc gì cũng chuyên tâm, không dễ bị lay động bởi các tác nhân bên ngoài. Người tuổi Dậu lại có tự tin vươn lên trong cuộc sống, có thể “thêm dầu” cho người tuổi Tỵ gặt hái được nhiều thành công hơn nữa.

ty-3569-1408777213

Trong công việc, sự kết hợp hài hòa mang tính hỗ trợ của hai con giáp này sẽ giúp họ đạt hiệu quả cao và ít khi phải mất thời gian để xử lý mâu thuẫn hay bất đồng.

Tuổi Ngọ và tuổi Hợi

Năng lực dồi dào của người tuổi Ngọ nếu kết hợp với sự tâm huyết và chân thành của người tuổi Hợi sẽ giúp cả hai cùng phát huy ưu thế và phối hợp ăn ý trong công việc.

hoi-3959-1408777213

Hơn thế, tính cách cương trực, quyết đoán, không chịu khuất phục của người tuổi Ngọ giúp họ vượt qua mọi khó khăn trở ngại để tiến về phía trước. Tính cách này sẽ mở đường cho bản tính cố chấp, có phần bảo thủ của người tuổi Hợi.

Đồng thời, sự lạc quan vui vẻ, hòa đồng và khiêm nhường của người tuổi Hợi có thể “cầm cương” tính tình nôn nóng, dễ bị kích động của người tuổi Ngọ. Sự kết hợp ăn ý giữa cặp đôi này sẽ mang lại thành quả to lớn ngoài sức tưởng tượng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những cặp đôi kết hợp thành công nhất trong 12 con giáp –

Coi tướng mặt của người dễ nhặt được tiền của

Tướng mặt người nhặt được của: Người có tướng cằm dài lại có cơ hội trúng thưởng và nhặt được rất nhiều tiền của trong năm 2015 này.
Coi tướng mặt của người dễ nhặt được tiền của

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người có tướng cằm dài lại có cơ hội trúng thưởng và nhặt được rất nhiều tiền của trong năm 2015 này. 
 

1. Trán nghiêng về phía vai trái   Chủ nhân của tướng trán nghiêng về phái trái có vận may bất ngờ về tiền bạc trong năm Ất Mùi này. Theo nhân tướng học, trán phía trái là vị trí ngự trị của cung Càn (trời), phía trán bên phải là cung Khôn (đất). Khi Càn Khôn hài hòa thì mọi chuyện đều thuận lợi.    Theo đó, người có trán hơi nghiêng về một bên, đặc biệt là bên trái có công danh sự nghiệp thành đạt và dễ nhặt được tiền của hay bất ngờ thừa hưởng số tiền lớn nào đó.

Coi tuong mat cua nguoi de nhat duoc tien cua hinh anh
Ảnh minh họa

2. Tướng cằm dài   Cằm là biểu trưng của phúc lộc. Người có cằm tròn đầy thì vượng phúc khí, gặp may mắn về chuyện tiền bạc. Còn cằm nhọn mà lại gày, trơ xương thì phúc bạc, tài vận kém sắc, vận thế không thuận lợi. Người có tướng cằm dài lại có cơ hội trúng thưởng và nhặt được rất nhiều tiền của trong năm 2015 này.    Theo đó, nếu nỗ lực phấn đấu hết mình trong năm nay, bạn sẽ có một năm “bội thu”, không những kiếm được nhiều tiền mà còn có thể tạo tiếng vang lớn trong giới kinh doanh.   3. Cung Mệnh có khí sắc tốt   Vị trí cung Mệnh trên khuôn mặt cũng chính là Ấn đường (khoảng giữa hai đầu lông mày). Cung Mệnh chủ về bi hỉ, tài vận và chức vụ, địa vị cao thấp trong xã hội. Nếu cung này có khí sắc tốt, sáng sủa thì chủ nhân của nó dễ phát đạt, tài vận vượng và ngược lại.    4. Trán hẹp nhưng sáng sủa   Người có trán hẹp thường khá tỉ mỉ, làm việc thận trọng, nhát gan, ít có sức hút với người khác giới. Tuy nhiên, trong năm Ất Mùi này, đặc biệt là vào dịp cuối năm Mộc Hỏa tương sinh, vận thế rất vượng. Nếu trán sáng sủa, thần sắc tốt dễ hút tài lộc. 
5. Hai cánh mũi hẹp   Trong nhân tướng học, mũi là cung Tài Bạch, chủ về tiền tài, danh vọng. Những người có tướng mũi tròn đầy, hai cánh mũi đầy đặn thì tài phúc vượng. Tuy nhiên, những người có cánh mũi hẹp được cho là sở hữu tài phụ dồi dào, có thể đạt được số tiền nào đó một cách bất ngờ, không thể dự báo trước.   
► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Hoàng Lan (Theo MGSP)    
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Coi tướng mặt của người dễ nhặt được tiền của

Nguồn gốc Tết nguyên đán ở Việt Nam

Tết cổ truyền hay Tết Nguyên Đán thường bắt đầu vào dịp đầu năm mới theo Âm lịch. Đây là dịp lễ quan trọng nhất và lớn nhất trong văn hóa của người Việt Nam.
Nguồn gốc Tết nguyên đán ở Việt Nam

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tết cổ truyền hay Tết Nguyên Đán thường bắt đầu vào dịp đầu năm mới theo Âm lịch. Đây là dịp lễ quan trọng nhất và lớn nhất trong văn hóa của người Việt Nam. Tuy nhiên, không mấy người trong số chúng ta hiểu rõ về ý nghĩa và nguồn gốc của ngày lễ này.
 

Tết Nguyên Đán có gốc chữ Hán: “Tết” chính là “tiết”; “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu, sự bắt đầu; “Đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, như vậy Tết Nguyên Đán là bắt đầu một năm mới.
 
Nguồn gốc ngày Tết ở Trung Quốc

Nguồn gốc Tết Nguyên đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng tết.  

Nguon goc Tet nguyen dan o Viet Nam hinh anh
Ảnh minh họa
Đời nhà Đông Chu, Khổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Cho đến khi nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.  
 
Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy tháng giêng (8 ngày).    

Phong tục thờ cúng trong ngày Tết của người Việt
Thờ cúng tổ tiên đã trở thành nếp sống, phong tục, nét văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất giản dị: tin rằng tổ tiên
Còn nguồn gốc ngày Tết ở Việt Nam thì sao?


Theo truyền thuyết và lịch sử có ghi, họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879TCN, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Con trai thứ 18 của vua Hùng Vương 6 là Lang Liêu, là người đầu tiên dâng lên vua cha bánh chưng, bánh dày – tượng trưng cho Trời và Đất. Từ thời đó, 2 thứ bánh do Tiết Liêu sáng tạo ra đã trở thành món ăn truyền thống trong dịp Tết của dân tộc Việt
 
Lịch sử Trung Hoa viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang - quan nước Tàu sang nước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng trước khi người Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc.
 
Có thể lý giải về sự khác biệt của Tết Nguyên đán ở Việt Nam so với các nước khác như sau:
 
Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa - nhất nhất theo Khổng giáo. Ông đã có một sự khác biệt lớn đó là truyền ngôi cho con trai thứ 18 thay truyền ngôi cho con cả, ông chọn người kế vị trị vì đất nước thay mình là người hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ.
 
Hơn nữa, Lang Liêu là một hoàng tử, đương nhiên phải là người được tiếp thu, thấm nhuần văn hoá dân tộc và tư duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng, dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với người Hoa. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông vắn - nơi người dân trồng cây lúa nước nuôi sống chính mình. Bánh dày tượng trưng cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông liên tiếp. Người Hoa thường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói toán trừu tượng, đôi khi như ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.

Nguon goc Tet nguyen dan o Viet Nam hinh anh 2
Ảnh minh họa

 
Như vậy, có thể nói Tết cổ truyền của Việt Nam phải hình thành từ trước thế kỷ thứ nhất, không phải do người Hoa khai hoá hay đồng hoá. Tuy nhiên, do cùng nằm chung vùng lục địa, lại nằm kề nhau nên không thể không mang những ảnh hưởng của nhau. Sau này, khi Trung Hoa đô hộ nước ta nhiều năm liền những ảnh hưởng đó càng lớn hơn. Song về cơ bản bánh chưng, bánh dày là đặc trưng của dân tộc Việt. Trong ngày Tết cổ truyền có thể thiếu câu đối đỏ song không thể không có bánh chưng xanh để cúng lễ tổ tiên.
 
Ngoài ra, người ta thường nói "20 Tết", "15 Tết"... đây chỉ là nói những ngày ảnh hưởng do những công việc để chuẩn bị đón Tết hay dư âm còn lại của những ngày Tết.
 
Nguyên nghĩa của Tết chính là "tiết".Văn hóa Việt – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
► Tra cứu Lịch vạn niên 2017 đã có tại Lichngaytot.com

S.T

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguồn gốc Tết nguyên đán ở Việt Nam

Dự đoán về Tài vận (2)

- Thân nhược tài nhiều thì gặp tài là mang hoạ. - Trụ ngày giáp ất, mà hành vận dần mão thì kiếp tài phá tài. - Quan vượng, thân nhược , hành đến quan vận thì hại vô cùng, phá tài là chắc chắn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

-         Kiếp tài, kình dương thì nhất thiết kiêng kị gặp tuế vận, vì như thế sẽ phá tài, bại nghiệp, vì tài cạnh tranh nhau nên phải rời bỏ quê hương, thất nghiệp.

-         Trên trụ giờ có thiên tài thì sợ anh em, hành đến vận kiếp tài thì sẽ bị phá tài và tranh tài.

-         Tài nhiều, thân nhược là nhà cửa nhiều, nhưng của cải ít.

-         Thiên tài sợ hành vận tỷ kiếp, vì gặp vận đó sẽ phá tài, bại tài.

-         Tuế quan bị khắc là bại tài, phá tài.


-         Thân vượng, ấn vượng là tiền hao tán không tụ, chẳng thà rằng trữ của, bất động sản còn hơn.

-         Kiếp tài không nên gặp vượng địa, gặp hao tài.

-         Tài nên tàng ẩn, không nên để lộ, lộ thì dễ bị tranh giành.

-         Thương quan có tài khi hành đến đất quan, sát, gặp đất suy, tài tuyệt thì sẽ mất tài, mất lộc.

-         Thực thần gặp kiêu là tài vật hao tán.

-         Tài quan gặp tài quan là vì tham ô mà bãi chức.

-         Trong trụ kiêu ấn gặp đất tài lại không có tỉ kiếp thì tai hoạ vô cùng.

-         Trụ ngày yếu không thắng nổi tài thì vì của cải mà bị tai hoạ.

-         Kiêu thần mừng nhất gặp tài tinh, thân vượng gặp được là phúc, thân nhược gặp phải là hoạ.

-         Thân vượng hành đến vận tỷ kiếp thì phá tài bại nghiệp.

-         Trong trụ kiếp nhiều lại hành vận kiếp thì nên án binh bất động.

-         Tỉ, kiếp nhiều lại gặp tỉ kiếp là phá tài, ra cửa quan.

-         Thân vượng, tỉ kiếp nhiều lại không có tài thì khi gặp tài là tai hoạ ập đến.

-         Tài tinh nhập mộ thì vợ tính nhỏ nhen, quý của hơn người .

-         Trong trụ có tỉ kiếp , có tài tranh tài, khi không có tài là lúc hoạ đến ; anh em tranh của, vợ chồng tranh giành nhau.

-         Tài rơi vào không vong tất sẽ nghèo.

-         Tứ trụ không có tài để giữ cho mình khi ra ngoài cầu tài cần phải cẩn thận.

-         Tài tinh gặp kình dương thì mất của, mất người .

-         Hành đến vận kình dương thì của cải hao tán, khắc vợ, nát nhà.

-         Trong trụ có thập ác đại bại thì vàng đầy kho cũng thành đất bụi.

Năm 1987, ông Trình giám đốc một nhà máy ở Tây an muốn biết tình hình nhà máy như thế nào nên ông đã đứng chủ nhờ đoán vận nhà máy. Tôi thấy trong trụ của ông tỉ kiếp gặp tài, đại vận bính tuất gặp kiếp, lưu niên đinh mão gặp ngang vai, đúng là tỉ kiếp gặp vượng địa. Nên nói : nhà máy năm đó không những hiệu quả kém mà còn hao tài, nên dặn ông không được đầu tư một cách mù quáng để đề phòng phá sản. Ông nói: nhà máy mấy năm nay luôn làm ăn khá, chắc không đến nổi nghiêm trọng như thế, do đó không nghe theo lời khuyến cáo của tôi. Kết quả nhà máy cuối năm phá sản, ông rất hối hận. Trụ này, ứng với câu : " Tài tinh sợ nhất hành vận tỷ kiếp". 

Tháng 5 năm 1990, một phóng viên nhà báo nhờ tôi đoán hậu vận, tôi thấy trong trụ tài vượng, tài nhiều lại gặp kho, năm 1990 la lưu niên lại hợp với dần, ngọ, tuất của Tứ trụ thành tam hợp tài cục nên đoán : "Năm 1986 lại đây đã phát tài, tuy năm nay có tài, nhưng ngược lại có nguy hiểm về tính mạng". Ông và vợ liền nói: Năm nay nằm viện bị mổ nặng, tí nữa thì mất mạng. Trụ này ứng với câu : "Thân nhược không thắng tài thì vì của mà sinh nạn." 

Tháng 6 năm 1990 khi tôi giảng bài ở Thâm Quyến, gặp Tứ trụ của một tay đánh bạc. Trong trụ ngang vai gặp vượng địa, lại đại hành đại vận canh thân , lưu niên canh ngọ, tức là một loạt ngang vai đều vượng, vì đánh bạc bị thua mà trộm cướp nên bị bắt giam ra toà. Trụ này ứng với câu: " tỉ kiếp trùng trùng lại gặp tỉ kiếp là phá tài và ra cửa quan." 

Trong trụ này tỉ kiếp trùng lặp, đại vận là giáp tuất cung là đất kiếp, vì mưu lợi một cách phi pháp nên nửa đầu năm 1991 bị công an Quảng Châu Phá án bắt giam. Người này đã vi phạm câu "Tứ trụ kiếp nhiều hành vận tỉ kiếp thì nên giữ mình an phận". 

Ðây là Tứ trụ của Phó tổng giám đốc một Công ty ở Thâm Quyến, vì không biết mệnh vận của mình nên năm 1991 cho người khác vay 200 vạn đồng. Người vay tiền vừa nhận tiền là chạy ra nước ngoài. Do đó năm sau Phó tổng Giám đốc bị mất chức, ra toà. Ðó là sự tai hại vì không đoán mệnh, hối hận vì gặp tôi muộn quá. 

Vì sao Phó tổng giám đốc laị gặp tại hoạ này. Ðó chỉ là vì thời gian trước đó vận của ông rất thuận, từ năm 35 tuổi đến năm 44 tuổi là lúc bắt đầu bại vận mà không biết. Kiêu vận gặp năm tân mùi 91 kiếp tài, tức là kiêu sinh ra kiếp cho nên khó tránh khỏi việc mất của. 

Năm nhâm thân 1992 gặp thực thần, kiêu thần đoạt thực thần, tức là chỉ cho sinh hoạt phí thấp nhất. Lại lưu niên nhâm thân và thân tý thìn trong Tứ trụ cùng hội lại làm thương tổn quan cục cho nên Phó tổng giám đốc bị mất chức.

Ví dụ này ứng với câu: " Thực gặp kiêu thì tài vật hao tán", " Thương quan gặp quan là tai hoạ liên miên". 

Tháng 9 năm 1989, khi tôi giảng bài ở Ðại học giao thông Thượng Hải, có một người là người nhà của Chủ tịch Hội đồng quản trị một Công ty nhờ tôi đoán vận cho ông Chủ tịch ấn. Tôi thấy Tứ trụ nhược gặp ngang vai nhiều, vượng mà gặp ấn, đại vận lại hành vận thương quan. Lưu niên kỉ tị kiếp tài ; tiểu vận quý hợi cùng với lưu niên phạm thiên khắc địa xung. Nên đoán : tháng 4 năm 1989 có tai hoạ lớn. Ông ta nói : đúng như thế ! Ông chủ tịch vừa mới ký một hợp đồng với khoản tiền rất to, vừa về đến Ðài Loan thì bi ô tô đâm. Ðến nay đã 7 tháng vẫn chưa tỉnh, không biết từ nay về sau tính mệnh ra sao. Tôi nói tháng 10 âm lịch năm nay có một cửa ải, nếu vượt qua được thì mới bình an vô sự. 

Ông chủ tịch quản trị ấy hồi trẻ đã làm ăn nên nổi, gia tư giàu có, một vụ buôn bán cũng lên đến hàng chục triệu, không ngờ vận chuyển sang kiếp tài, đã hao tiền lại còn nguy hiểm đến tính mạng. Cho nên nếu không biết được mệnh vận thì tiền ức vạn quanh lưng biết đã tốt chưa ? 

Tháng 4 năm 1991, khi tôi đoán vận cho ngài Trương ở Singapo thấy trong Tứ trụ kiêu thần ba lần xuất hien , tính ra lưu niên đến năm kỷ tị lại gặp kiêu, đại vận ất sửu là đất tài tất sẽ có chuyện. Cho nên tôi đoán : năm 1989 có tai nạn lớn, nếu không bị bệnh nặng thì cũng mất của rất nhiều, thậm chí có thể khuynh gia bại sản. Ông Trương và bạn của ông nghe xong rất kinh ngạc. Bạn ông nói : Ðúng ! Gần 1 triệu đồng toàn bộ mất hết vì làm sai luật thuế nên bị tịch thu. Ông Trương ngồi bên lắc đầu lia lịa, không rõ là ông đang hối hận vì không biết vận hạn của mình hay là đang hối hận mình đã không tuân thủ luật pháp. Chắc cả hai điều đều có. Ví dụ này ứng với câu: " ấn kiêu gặp tài địa, không tỷ kiếp thì tai hoạ vô cùng." 

Ðây là một cô gái Mianma, đã buôn bán vàng bạc đá quý nhiều năm, lần này cố ý đến Băng Cốc tìm tôi để nhờ đoán vận. Tôi thấy trong Tứ trụ không có tài, xem các vận thấy trước năm 21 tuổi tài vận đã qua, do dó tôi nói với cô ta: cô không nên tiếp tục buôn bán nữa, bởi vì không những không phát tài mà chỉ càng thêm thua thiệt. Cô ta nói : chẳng trách gì mà nhiều năm nay tôi thua lỗ liên tục. Trụ này ứng với câu : " Trong mệnh không có tài thì không nên làm gắng". 

"Dự đóan theo Tứ Trụ" của Thiệu Vĩ Hoa


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dự đoán về Tài vận (2)

5 bài học rất cần cho cuộc sống

Cuộc sống dạy cho ta những bài học quý giá mà ta nên biết trân trọng để đứng vững giữa cuộc đời! Cùng đọc và suy ngẫm những bài học cuộc sống ý nghĩa!
5 bài học rất cần cho cuộc sống

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!

Cuộc sống dạy cho ta những bài học quý giá mà ta nên biết trân trọng để đứng vững giữa cuộc đời! Cùng đọc và suy ngẫm những bài học cuộc sống ý nghĩa!

Bài học về sự quan tâm

Trong tháng thứ hai của khoá học y tá, vị giáo sư của chúng tôi đã cho chúng tôi một câu hỏi hết sức bất ngờ trong bài thi vấn đáp. Tôi đã lướt qua hầu hết các câu hỏi trong bài thi, và ngạc nhiên dừng lại ở câu hỏi cuối cùng: “Hãy cho biết tên người phụ nữ quét dọn trường học của chúng ta?”. Một câu hỏi không có trong chuyên môn, chắc đây chỉ là một câu hỏi đùa thôi. Tôi đã nghĩ vậy! Thật ra, tôi đã nhìn thấy người phụ nữ đó vài lần. Cô ấy cao, tóc sẫm màu và khoảng chừng 50 tuổi nhưng làm sao mà tôi có thể biết được tên cô ta cơ chứ? Tôi đã kết thúc bài làm của mình với câu cuối cùng bị bỏ trống. 

Cuối giờ kiểm tra, một sinh viên đã hỏi vị giáo sư: “Liệu ông có tính điểm cho câu hỏi cuối cùng kia không?”, ông ta trả lời: “Chắc chắn rồi”, rồi ông nói tiếp: “Trong công việc, các em sẽ gặp rất nhiều người, tất cả họ đều quan trọng, họ xứng đáng được nhận sự quan tâm của các em, dù chỉ là một nụ cười hay một câu chào”.

Tôi đã không bao giờ quên bài học đó trên mỗi bước đường đời của mình sau này, và tôi cũng không bao giờ quên tên của người phụ nữ đó - cô Dorothy.

Bài học về sự giúp đỡ

Trong một đêm mưa bão bất thường trên đường phố Alabama vắng vẻ, lúc đó đã 11:30 khuya, có một bà lão da đen vẫn cứ mặc cho những ngọn roi mưa quất liên hồi vào mặt, cố hết sức vẫy vẫy cánh tay để xin đi nhờ xe.

Một chiếc xe chạy vút qua, rồi thêm một chiếc xe nữa, không ai để ý đến cánh tay dường như đã tê cứng vì lạnh cóng. Mặc dù vậy, bà lão vẫn hy vọng và vẫy chiếc xe kế tiếp. Một chàng trai da trắng đã cho bà lên xe (mặc cho cuộc xung đột sắc tộc 1960). Bà lão trông có vẻ rất vội vã, nhưng cũng không quên cám ơn và ghi lại địa chỉ của chàng trai.

Bảy ngày trôi qua, cánh cửa nhà chàng trai tốt bụng vang lên tiếng gõ cửa. Chàng trai ngạc nhiên hết sức khi thấy một cái ti vi khổng lồ ngay trước cửa nhà mình. Một lá thư được đính kèm, trong đó viết: “Cám ơn cháu vì đã cho bà đi nhờ xe vào cái đêm mưa hôm ấy. Cơn mưa không những đã làm ướt sũng quần áo mà nó còn làm lạnh buốt trái tim và tinh thần của bà nữa. Rồi thì lúc đó cháu đã xuất hiện như một thiên thần. Nhờ có cháu, bà đã được gặp người chồng tội nghiệp của mình trước khi ông ấy trút hơi thở cuối cùng. Một lần nữa bà muốn cám ơn cháu đã không nề hà khi giúp đỡ bà.”

Cuối thư là dòng chữ: “Chân thành - Bà Nat King Cole”.

Bài học về lòng biết ơn

Vào cái thời khi mà món kem nước hoa quả còn rất rẻ tiền, có một câu chuyện về cậu bé 10 tuổi thế này: Ngày nọ, Jim - tên của cậu bé - sau một hồi đi qua đi lại, ngó nghiêng vào cửa hàng giải khát đông nhất nhì thành phố, nơi có món kem nước hoa quả mà cậu rất thích, mạnh dạn tiến lại gần cái cửa, đẩy nhẹ và bước vào. Chọn một bàn trống, cậu nhẹ nhàng ngồi xuống ghế và đợi người phục vụ đến.

Chỉ vài phút sau, một người nữ phục vụ tiến lại gần Jim và đặt trước mặt cậu một ly nước lọc. Ngước nhìn cô phục vụ, cậu bé hỏi: “Cho cháu hỏi bao nhiêu tiền một ly kem nước hoa quả ạ?”. “50 xu“, cô phục vụ trả lời. Nghe vậy, Jim liền móc trong túi quần ra một số đồng xu lẻ, nhẩm tính một hồi, cậu hỏi tiếp: “Thế bao nhiêu tiền một ly kem bình thường ạ?”. “35 xu”, người phục vụ vẫn kiên nhẫn trả lời cậu bé mặc dù lúc đó khách vào cửa hàng đã rất đông và đang đợi cô. Cuối cùng, người nữ phục vụ cũng mang đến cho Jim món kem mà cậu yêu cầu, và sang phục vụ những bàn khác. Cậu bé ăn xong kem, để lại tiền trên bàn và ra về.

Khi người phục vụ quay trở lại để dọn bàn, cô ấy đã bật khóc khi nhìn thấy 2 đồng kẽm (1 đồng bằng 5 xu) và 5 đồng xu lẻ được đặt ngay ngắn trên bàn, bên cạnh 35 xu trả cho ly kem mà Jim đã gọi - Jim đã không thể có món kem nước hoa quả mà cậu ấy thích bởi vì cậu ấy chỉ có đủ tiền để trả cho một đĩa kem bình thường và một ít tiền boa cho cô.

>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?

Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>

Bài học về sự tự giác và trách nhiệm

Xưa thật là xưa, có một ông vua nọ, một hôm ông ta sai quân lính đặt một tảng đá lớn nằm chắn ngang đường đi. Xong, ông nấp vào một bụi cây gần đấy và theo dõi.

Lần lượt ông ta thấy, những thương nhân giàu có đi qua, rồi đến những cận thần của ông đi qua, nhưng không ai có ý định xê dịch tảng đá sang bên nhường chỗ cho lối đi cả, họ chỉ lẩm nhẩm đổ lỗi cho nhà vua vì đã không cho người giữ sạch sẽ con đường.

Một lúc sau, nhà vua nhìn thấy một người nông dân đi tới với một xe rau cồng kềnh nặng trĩu. Nhìn thấy tảng đá, người nông dân liền ngừng xe và nhảy xuống đất, cố hết sức mình ông ta đã đẩy được tảng đá sang bên kia vệ đường. Vừa làm ông ta vừa lẩm bẩm: “Thật không may nếu có ai đó không thấy mày và vấp phải, chắc là sẽ đau lắm đây”. Xong đâu đấy, khi người nông dân quay trở lại xe để tiếp tục đi, bỗng ông nhìn thấy một bao tiền to đùng đặt ngay chỗ mà ông đã di chuyển tảng đá. Đó là một món quà của đức vua cho người nào dịch chuyển được tảng đá

Câu chuyện của người nông dân này đã giúp chúng ta nhận ra một điều quý giá mà rất nhiều người trong chúng ta không bao giờ nhận thấy: Vật cản đôi khi cũng có thể là một cơ hội tốt.

Bài học về sự hy sinh

Đã lâu lắm rồi, nhiều năm đã trôi qua, khi tôi còn là tình nguyện viên tại một bệnh viện, tôi có biết một cô gái nhỏ tên Liz - cô bé đang mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo.

Cơ hội sống sót duy nhất của cô là được thay máu từ người anh trai 5 tuổi của mình, người đã vượt qua được cơn bạo bệnh tương tự một cách lạ thường nhờ những kháng thể đặc biệt trong cơ thể. Bác sĩ đã trao đổi và giải thích điều này với cậu bé trước khi yêu cầu cậu đồng ý cho cô em gái những giọt máu của mình. Lúc ấy, tôi đã nhìn thấy sự lưỡng lự thoáng qua trên khuôn mặt bé nhỏ kia. Cuối cùng, với một hơi thở thật sâu và dứt khoát, cậu bé đã trả lời: “Cháu đồng ý làm điều đó để cứu em cháu”.

Nằm trên chiếc giường kế bên em gái để thuận tiện hơn cho việc truyền máu, cậu bé liếc nhìn em gái và đôi mắt ngời lên niềm vui khi thấy đôi má cô bé hồng lên theo từng giọt máu được truyền sang từ người cậu. Nhưng rồi, khuôn mặt cậu bỗng trở nên tái xanh đầy lo lắng, cậu bé ngước nhìn vị bác sĩ và hỏi với một giọng run run: “Cháu sẽ chết bây giờ phải không bác sĩ?” Thì ra, cậu bé nhỏ của chúng ta đã nghĩ rằng cậu ta sẽ cho cô em gái tất cả máu trong người mình để cứu cô bé và rồi cậu sẽ chết thay em mình.

Bạn thấy không, sau tất cả những hiểu lầm và hành động của mình, cậu bé đã có tất cả nhờ đức hy sinh…Cuộc sống có câu: “Hãy cho đi thứ bạn có, rồi bạn sẽ được đền bù xứng đáng”.

>> Đã có VẬN HẠN 2016 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 bài học rất cần cho cuộc sống

Giải mã ý nghĩa ngày sinh (Từ ngày 19/11 tới ngày 23/11)

Theo ý nghĩa ngày sinh, hầu hết những người sinh vào ngày 21 tháng 11 thường rất thông minh lanh lợi, có chí hướng. Xem ý nghĩa ngày sinh từ 19/11 - 23/11
Giải mã ý nghĩa ngày sinh (Từ ngày 19/11 tới ngày 23/11)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo ý nghĩa ngày sinh, hầu hết những người sinh vào ngày 21 tháng 11 thường rất thông minh lanh lợi, có chí hướng. 


► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của bạn

Giai ma y nghia ngay sinh Tu ngay 1911 toi ngay 2311 hinh anh goc
 

Ngày 19 tháng 11

 

Ý nghĩa ngày sinh, những người sinh vào ngày 19 tháng 11 thì bản tính mạnh mẽ, dũng cảm, có tinh thần tiến thủ, không ngừng theo đuổi cái mới. Họ tràn ngập tự tin về bản thân, là người có năng lực, có khả năng quản lý, khả năng lãnh đạo tốt, không ngại đối mặt với khó khăn.    Ưu điểm: Tích cực, chủ động, tinh lực dồi dào, dũng cảm.   Khuyết điểm: Quá tự tin dẫn đến tự phụ, bá đạo, thích khống chế người khác.  

Ngày 20 tháng 11
 

Những người có sinh nhật vào ngày này thường có tính cách ôn nhu, khả năng phán đoán phong phú, tinh thần cầu thị. Ngoài ra, họ còn rất mẫn cảm, tỉ mỉ, phản ứng nhanh nhẹn, yêu thích sự tìm tòi, thích lý luận.   Ưu điểm: Khả năng tính toán rõ ràng, giỏi phân tích và lên kế hoạch, giàu lòng thông cảm, thích làm việc cùng người khác.
Giai ma y nghia ngay sinh Tu ngay 1911 toi ngay 2311 hinh anh goc
 
Khuyết điểm: Tâm tình không ổn định, hay ghen tỵ, thích tranh luận cùng người khác.  

Ngày 21 tháng 11

  Hầu hết những người sinh vào ngày 21 tháng 11 thường rất thông minh lanh lợi, có chí hướng, mang khí chất tao nhã, cao quý. Không chỉ thế, họ còn rất có tài, có khả năng sáng tác, rất chú trọng chăm lo tới chất lượng cuộc sống.   Ưu điểm: Nhạy bén, nhiều ý tưởng…   Khuyết điểm: Dã tâm lớn, thiếu tập trung, rất khó để tập trung vào một chuyện.  

Ngày 22 tháng 11

  Luôn mang một tinh thần phơi phới, theo đuổi chủ nghĩa tự do là những điều rất dễ nhận thấy ở những người sinh vào ngày 22 tháng 11. Họ cũng khá liều lĩnh, luôn phá vỡ những quy tắc đã có sẵn, khả nanưg quán sát tốt, làm việc theo trực giác.   Ưu điểm: To gan, bốc đồng nhưng dũng cảm, có óc sáng tạo, can đảm thử nghiệm cái mới.   Khuyết điểm: Hay thay đổi, người khác không để đoán được, luôn có ý định phản bội, hành động lỗ mãng.

Ngày 23 tháng 11

  Những người sinh vào ngày 23 tháng 11 theo ý nghĩa ngày sinh thường rất nhanh nhẹn, thông minh, hoạt bát nhưng cũng dễ kích động, thích những điều thần bí. Họ cũng rất thích cuộc sống tự do tự tại, tài ăn nói khéo léo nên cũng có chút tự phụ.   Ưu điểm: Nhạy cảm với các tình huống, phản ứng nhanh, tinh thần hiếu học không biết mệt mỏi, lòng hiếu kỳ cao.   Khuyết điểm: Quá chủ quan, thích tranh luận cùng người khác, luôn làm theo ý mình.   Lichngaytot.com Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 30/10 tới ngày 03/11) Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 25/10 tới ngày 29/10) Giải mã ý nghĩa các ngày sinh (Từ ngày 20/10 tới ngày 24/10)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã ý nghĩa ngày sinh (Từ ngày 19/11 tới ngày 23/11)

Giác quan thứ 6 và những chứng nhân lịch sử

Lịch sử ghi nhận nhiều minh chứng, con người có chức năng cảm giác đặc biệt. Giác quan thứ 6 đã ứng trên nhiều người nổi tiếng, như lời tuyên bố về sự tồn tại
Giác quan thứ 6 và những chứng nhân lịch sử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

và phát triển vững bền của nó.


► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật

Giac quan thu 6 va nhung chung nhan lich su hinh anh
 
Nhà bác học Nga, Mendeleev (1834 - 1907), người phát minh ra định luật tuần hoàn các nguyên tố hóa học, đã nhìn thấy rõ toàn bộ bảng tuần hoàn hiện ra trước mắt trong giấc mơ và ông chỉ việc ngồi dậy ghi chép lại. Tất nhiên, ông cũng phải nghiên cứu về định luật này hàng chục năm trước khi có giấc mơ đó. 
 
Nhà thơ người Nga Lermontov (1814 - 1841) cũng từng kể lại câu chuyện khó lý giải về giác quan thứ 6 khi ông còn là sĩ quan biên phòng ở Kavkaz. Hôm đó, ông đang ngồi đánh bài với lính của mình thì nhìn thấy một người có vẻ mặt khác lạ so với ngày thường, ông bèn nói với người ấy: "Anh phải đề phòng, có lẽ anh sắp bị chết bất đắc kỳ tử. Đêm nay, anh nên ngủ lại ở đồn biên phòng và sáng mai hãy về". Người lính ấy không tin, ra về và dọc đường đã bị một người say rượu đâm chết. 
 
Hay như Napoleon (1769 - 1821) khi đánh vào nước Nga năm 1812 đã linh cảm là sẽ thất bại nhưng ông vẫn cứ tiến hành và kết quả đúng như điều ông linh cảm.
 
Không những các nhà khoa học, các nhà quân sự mà cả những nhà chính trị cũng có khả năng linh cảm đặc biệt. Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill (1874 - 1965) đã một lần thoát chết trong trận oanh tạc của không quân phát xít Đức, do linh tính mách bảo.
 
Năm 1944, ông Churchill vừa chuẩn bị rời trận địa tên lửa thì máy bay oanh tạc của Đức ập đến. Người tài xế vội vàng nổ máy cho xe đi. Không hiểu sao, Churchill không chịu vào xe mà vòng chạy ra phía sau. Đúng lúc ấy, một quả bom nổ ngay cạnh cửa xe, làm thành một hố bom lớn, ngay chỗ Churchill vừa đứng. Trong tập hồi ký của ông, Churchill viết: "Dường như có một sức mạnh nội tâm đã mách bảo tôi phải rời ngay chỗ đứng".
 
Linh tính, chức năng cảm giác kỳ lạ của người – giác quan thứ 6 tương đối phức tạp và đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, từ những câu chuyện có thực kể trên có thể khẳng định, khả năng cảm giác kỳ lạ là loại vật chất có nguồn gốc mà không nhận biết được bằng mắt, tai, lưỡi, cơ thể nhưng con người có thể tiếp thụ tin tức của loại vật chất đó do cơ cấu cơ thể, hệ thần kinh nội tạng truyền liên hệ thần kinh đại não mà nhận biết.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giác quan thứ 6 và những chứng nhân lịch sử

Phong thủy cho máy tính văn phòng

Thuyết phong thủy cho rằng, máy tính là thuộc Hỏa. Nhưng máy tính là thiết bị không thể thiếu được trong văn phòng làm việc hiện đại.
Phong thủy cho máy tính văn phòng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thuyết phong thủy cho rằng, máy tính là thuộc Hỏa. Nhưng máy tính là thiết bị không thể thiếu được trong văn phòng làm việc hiện đại. 

Vị trí đặt máy tính thích hợp nhất

Bản thân máy tính là có sóng điện từ, đối với những người làm việc thường xuyên với máy tính mà nói thì ảnh hưởng của nó là không thể xem nhẹ. Những người sử dụng máy tính cần chú ý phương hướng đặt máy tính, để làm thế nào ngăn cản được sự quấy nhiễu của sóng từ trường, để tránh ảnh hưởng tới sức khỏe của bản thân, đây là những kiến thức cơ bản mà những người sử dụng máy tính cần phải biết.

Phong thuy cho may tinh van phong hinh anh
Máy tính là thiết bị sinh tài tốt nhất
Máy tính đặt ở nơi nào là tương đối thuận  lợi đây? 

Máy tính cần phải đặt ở bên trái của người sử dụng nó. Điều này đối với những người thường xuyên dựa vào máy tính mà nói thì là vị trí tương đối lý tưởng.
 
Căn cứ vào phương vị phong thủy mà nói chính là “rồng sợ bẩn, hổ sợ động”, bên trái là cát, đặt máy tính là thích hợp nhất.
 
Phương pháp hóa giải tia bức xạ của máy tính

Máy tính là một loại thiết bị sinh tài tốt nhất, nhưng hàng ngày ngồi trước máy tính, lâu dần sẽ xuất hiện một số vấn đề về sức khỏe như đau lưng, vai nhức mỏi. Có một số người làm việc với máy tính quá nhiều, cả ngày ngồi trước máy tính mà không nói một lời nào, dường như là khép kín bản thân, điều này tuyệt đối không có lợi cho sức khỏe. 
 
Nhưng điều này nhiều khi không phải là bản thân cá nhân đó có thể khống chế được, cho nên phương pháp giải quyết tốt nhất là đặt một khối thạch anh hoặc đá thái cực ở trước máy tính để hóa giải những bức xạ đe dọa sức khỏe con người.   Theo Sách Phong Thủy Văn phòng làm việc nơi công sở  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho máy tính văn phòng

Những cách tích đức tạo nghiệp lành không tốn một xu (P2)

Mỗi người khéo tích đức tạo nghiệp lành, những ý niệm xấu dần hồi giảm bớt, ý niệm tốt tăng trưởng theo thời gian, càng hoàn thiện chính mình.
Những cách tích đức tạo nghiệp lành không tốn một xu (P2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Mỗi người khéo tu nhân tích đức, những ý niệm xấu dần hồi giảm bớt, ý niệm tốt tăng trưởng theo thời gian, càng hoàn thiện chính mình và giúp ích cho cuộc đời.
 

  9. Tích đức từ thái độ tôn trọng người khác   Đặt lòng tự tôn của người khác ở vị trí cao hơn mình.   Không ngừng cố gắng để người khác cảm nhận thấy sự tôn nghiêm của bản thân mình.   Địa vị càng cao càng không thể khinh thường người khác.   Tôn trọng người khác cũng chính là tôn trọng bản thân mình, tích đức tạo nghiệp lành, lưu cho đời con cháu.  
Nhung cach tich duc tao nghiep lanh khong ton mot xu P2 hinh anh
 
10. Tích đức từ việc giúp đỡ người khác   Muốn được người giúp đỡ, trước tiên hãy mở lòng giúp đỡ người.   Khi đấu tranh vì người khác cũng là đấu tranh cho chính mình.
 
Lòng tốt luôn được người khác khắc ghi trong lòng.   Nhưng lưu ý, giúp đỡ sao cho đối phương vui vẻ chấp nhận mới là điều tốt. Đừng như kiểu gió thổi mây bay, hời hợt qua loa.   11. Tích đức từ thái độ thành thật với người khác   Sống trên đời, không thành thật sẽ khó tồn tại, người giả dối sẽ không có bạn chân thành.   Luôn lấy thành tín làm gốc, coi trọng thành tín trong mọi mối quan hệ thì mọi việc trôi chảy.   Dùng thành tín thu phục người khác, sẽ dễ đạt được thành công.   Khi đã mất đi sự thành thật thì làm việc gì cũng khó.   Mọi lý do giải thích cho sự lừa dối của bản thân chỉ là ngụy biện, nên đừng mất công tìm cớ làm gì.   12. Tích đức từ cách cảm ơn người   Cảm ơn là một cách ngợi ca cuộc đời. Có việc tốt, người tốt ắt sẽ có lời cảm ơn.    Trong cuộc sống, lời cảm ơn kịp thời sẽ khiến mọi người thân thiện với nhau hơn.   Cảm ơn đối thủ là cách thể hiện của người có chí khí, của lòng quân tử.  
Nhung cach tich duc tao nghiep lanh khong ton mot xu P2 hinh anh 2
 
13. Tích đức từ lòng nhân ái của chính mình   Lòng nhân ái luôn có sức mạnh lớn lao. Nó càng lớn hơn khi kết thành lòng nhân ái rộng lớn của cả nhân loại.   Tích đức từ lòng nhân ái không tốn một xu, vậy tại sao mỗi người không tự tạo nghiệp lành cho mình ngay từ bây giờ?   14. Tích đức từ hành động mỉm người với người khác   Nụ cười là phương thức kết nối đơn giản nhưng lại vô cùng hiệu quả giữa con người với con người.   Không ai có thể cự tuyệt một nu cười rạng rỡ.    Dùng nụ cười để ứng phó với sự “khiêu chiến” của đối thủ mới thực là cao nhân. Mỉm cười để thu phục lòng người mới là cao siêu đích thực.   15. Tích đức từ lòng khoan dung   Không thể khoan dung người khác có thể là bởi vì lòng dạ của mình còn quá hẹp hòi.   Lòng khoan dung có thể cải biến một con người lầm lỗi, trở về với thiện lương.   Người có lòng khoan dung sẽ dễ dàng chiếm được trái tim, sự tin tưởng của người khác.   Hãy học cách tha thứ khuyết điểm của người khác, nhẫn nhịn cơn bực dọc, ấy chính là lòng khoan dung.    16. Tích đức từ trái tim lương thiện   Ai cũng muốn làm bạn, làm hàng xóm hay bắt tay hợp tác với người có tấm lòng lương thiện.   Người lương thiện có thể thu phục người khác. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm, bởi việc thiện dù nhỏ cũng phát huy tác dụng lớn lao.   17. Tích đức từ thái độ biết lắng nghe   Người biết lắng nghe thường được lòng và sự tin tưởng của người khác.    Lắng nghe là một cách lấy lòng người khác tốt nhất mà lại chẳng tốn một xu nào.   (Hết)  
=> Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh

An Nhiên  
Cách tích đức tạo nghiệp lành lưu đời con cháu không tốn một xu (P1)
– “Có đức mặc sức mà ăn”, sống phải coi trọng nhân đức, thường xuyên tích đức để tạo phước nghiệp, lưu cho đời con đời cháu.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những cách tích đức tạo nghiệp lành không tốn một xu (P2)

Chọn Màu Sắc hợp mệnh, hợp tuổi, hợp năm sinh

Mỗi chúng ta khi nói đến phong thủy đều tự hỏi một câu là “tuổi mình hợp mầu gì”, nhiều người học phong thủy cơ bản và các thầy phong thủy cơ bản sẽ tư vấn lấy mệnh trong bảng lục thập hoa giáp, rồi cứ lấy màu sắc thuộc ngũ hành sinh cho bản mệnh và ngũ hành giống bản mệnh là tốt. Nhưng có nhiều người có linh cảm tốt, họ cảm nhận khi mặc mầu đó vào thì khuôn mặt và thần thái không toát lên được và không sáng lên. Nhiều người mua xe, quần áo, chăn ga gối, sơn phòng cũng chọn màu sắc theo nguyên lý trên mà cứ gặp đen đủi.
Chọn Màu Sắc hợp mệnh, hợp tuổi, hợp năm sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vậy phương pháp chọn màu sắc hợp dựa vào ngũ hành của năm trong lục thập hoa giáp có đúng không, cứ màu sắc sinh và màu sắc cùng ngũ hành là tốt có phải không.

Nói đến phong thủy thì gốc là ngũ hành, nói đến kinh dịch gốc là âm và dương. Chỉ từ hào âm và hào dương mà kinh dịch đoán sự việc chính xác một cách kinh điển. Vậy từ ngũ hành trong phong thủy có đoán được gì không, hay chỉ để tính màu sắc hợp hay không. Với kinh nghiệm 15 năm học phong thủy, kiến trúc sư hoàng trà khẳng định chỉ bằng ngũ hành có thể đoán “thịnh suy của tài vận – học hành” một cách chính xác. Căn cứ luận đoán dựa trên bộ môn “tứ trụ”, mỗi người có năm tháng ngày giờ gồm 4 thiên can + 4 địa chi, được tính toán chia ra năm ngũ hành kim-mộc-thủy-hỏa-thổ, sau đó tính toán xem ngũ hành nào thừa – ngũ hành nào thiếu – ngũ hành nào vượng – ngũ hành nào suy. Ngũ hành thiếu và suy phải bổ xung thêm, ngũ hành nào vượng và thừa thì phải giảm đi. Từ đó mỗi người nên dùng màu sắc gì phù hợp cho bản mệnh của mình.

Nói đến ngũ hành thông thường mọi người chỉ biết có hai mối tương tác của ngũ hành

- Ngũ hành tương sinh (sinh cho nhau thì tốt)

- Ngũ hành tương khắc (khắc nhau thì xấu)

Mà còn có bốn mối tương quan khác:

- Ngũ hành phản sinh ( ngũ hành đã dư thừa lại cấp thêm càng thừa )

- Ngũ hành phản khắc ( Ngũ hành yếu khắc ngũ hành quá mạnh thì bị khắc lại )

- Ngũ hành ngang hòa ( ví dụ "lưỡng kim thành khí" "lưỡng kim, kim khuyết" )

- Ngũ hành chế hóa ( ngũ hành quá mạnh không khắc được thì làm hao tán đi )

Như vậy có 6 mối tương quan của 5 loại ngũ hành, tổng cộng là có 6x5=30 phép toán của ngũ hành và 30 phép toán này được ví như bảng cửu chương của toán học. Nếu chỉ dùng mỗi ngũ hành sinh và ngũ hành khắc thì làm sao mà chọn màu sắc hợp theo phong thủy được.

Hơn nữa dù hai người sinh cùng năm nhưng tháng – ngày hay chỉ giờ khác nhau thì ngũ hành tính theo bản mệnh đã khác nhau, do vậy người sinh trong cùng một năm dùng màu sắc theo phong thủy cũng không thể giống nhau được.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn Màu Sắc hợp mệnh, hợp tuổi, hợp năm sinh

Top 5 con giáp bị chê tính xấu, khó chiều

Người cầm tinh con Trâu trông có vẻ hiền hòa, chậm chạp, nhưng khi tức giận hay tâm trạng không tốt thì lại rất khó lường.
Top 5 con giáp bị chê tính xấu, khó chiều

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

tuoi-suu-5749-1432636523.jpg tuoi-ho-9857-1432636523.jpg tuoi-rong-1543-1432636523.jpg tuoi-ran-4937-1432636523.jpg tuoi-ngua-5945-1432636523.jpg
1. Tuổi Sửu 2. Tuổi Dần 3. Tuổi Thìn 4. Tuổi Tỵ 5. Tuổi Ngọ

Tuệ Anh (theo Diyixz)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 5 con giáp bị chê tính xấu, khó chiều

Nốt ruồi xấu là gì? Nên là gì với những nốt ruồi xấu

Ban muốn biết nốt ruồi xấu là nốt ruồi như thế nào? Những đặc điểm, cơ sở nào người ta xác định đó là nốt ruồi xấu. Bài viết dưới đây của Phong thủy số sẽ giới thiệu cho bạn những tiêu chí của nốt ruồi xấu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ban muốn biết nốt ruồi xấu là nốt ruồi như thế nào? Những đặc điểm, cơ sở nào người ta xác định đó là nốt ruồi xấu. Bài viết dưới đây của Phong thủy số sẽ giới thiệu cho bạn những tiêu chí của nốt ruồi xấu.

Nốt ruồi xấu là gì? Nên là gì với những nốt ruồi xấu

Nốt ruồi xấu là gì?

Việc xác định những nốt ruồi xấu cần căn cứ vào nốt ruồi ở vị trí nào, với màu sắc ra sao, theo phương pháp tổng hợp và phương pháp loại suy thì theo vị trí tốt hoặc xấu, hoặc tùy các màu đen, đỏ, vàng hoặc xanh. Nốt ruồi tốt xấu không áp dụng cho cả nam và nữ, mà tùy thuộc vào giới tính để thẩm định.

Vị trí của nốt ruồi:

Nốt ruồi ở thắt lưng: Theo quan niệm của các nhà nhân tướng học thì phần thắt lưng không nên có nốt ruồi. Nốt ruồi ở thắt lưng biểu hiện cho đời sống tình cảm của chủ nhân không được như ý. Họ thường gặp phải những cảnh như “ theo tình tình chạy, chạy tình tình theo”.

Nốt ruồi ở đuôi mắt hay còn gọi là gian môn, nếu con gái có nốt ruồi ở vị trí này thường hôn nhân không thuận lợi, thường sẽ gặp nhiều khó khăn trăn trắc trở…

Nốt ruồi trên cánh mũi trái của nam và nốt ruồi trên cánh mũi phải của nữ chủ về người đó yếu kém trong việc tích góp tài sản, thường ham thích những thú vui đỏ đen, trò chơi mạo hiểm. Trong công việc với một dự án có mức đầu tư lớn họ thường kiếm tiền trong nháy mắt, tức là có thể trong ngày nay hoặc ngày mai sẽ kiếm được một khoản tiền lớn.

Nốt ruồi ở môi là nốt ruồi sắc dục, ở cả nam và nữ. Những người có nốt ruồi ở vị trí này thường hay gặp vấn đề về tình cảm, thường hay gặp những mối tình tay ba hay tay tư.

Màu sắc của những nốt ruồi xấu:

Nếu nốt ruồi đen mà lộ quá nhiều thì là điềm hung, nốt ruồi đen mọc trên mặt nhiều là hại bất cập lợi. Nốt ruồi đen mà pha màu đỏ nâu là chủ về người thích tranh cãi, biện luận. Nếu màu đen pha màu trắng thành nốt ruồi màu xám tro thì chủ về tai nạn, bệnh tật. Nếu nốt ruồi màu đen pha màu vàng thành nốt ruồi màu xanh đục là chủ về bệnh đãng trí.

Nốt ruồi ở nam hoặc nữ:

Ví dụ, đối với nốt ruồi nằm ngay giữa cổ đối với nam là biểu hiện của người có tướng quan chức, là công hầu khanh tướng, nhưng đối với nữ lại là nốt ruồi xấu, người phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí này là tướng sát phu.

Đối với nốt ruồi trên mặt và cơ thể, nếu chúng có những biểu hiện bất ngờ như to lên hay màu sắc thay đổi. Bạn nên đến các trung tâm y tế để thăm khám, vì chúng có thể là dấu hiệu của ung thư. Các trung tâm y tế uy tín có thể xóa bỏ nốt ruồi đó giúp bạn.

Trên đây là những đặc điểm của nốt ruồi xấu. Bạn có thể dựa vào các cơ sở trên xác định xem bói nốt ruồi trên mặt và cơ thể của bạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nốt ruồi xấu là gì? Nên là gì với những nốt ruồi xấu

Ý nghĩa sao Thiên Trù

Sao Thiên Trù chủ sự ăn uống, lộc ăn, khiếu ẩm thực: - thích ăn nhậu, ham ăn - ăn nhậu rất khỏe. Nếu đi với Lực Sĩ thì sức ăn càng khủng khiếp - hảo ăn, thường cùng bạn bè đối ẩm - thích ăn món ngon vật lạ, có gu về ăn nhậu sành điệu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Thiên Trù

Ý nghĩa sao Thiên Trù

THIÊN TRÙ (Thổ)

1. Ý nghĩa tính tình: Thiên Trù chủ sự ăn uống, lộc ăn, khiếu ẩm thực: - thích ăn nhậu, ham ăn - ăn nhậu rất khỏe. Nếu đi với Lực Sĩ thì sức ăn càng khủng khiếp - hảo ăn, thường cùng bạn bè đối ẩm - thích ăn món ngon vật lạ, có gu về ăn nhậu sành điệu. Nếu đi với Hóa Lộc thì rất sành về ăn và nhậu. Được thêm Lực Sĩ thì là người vừa ăn khỏe, vừa tham ăn, vừa sành ăn, người sống để ăn. Đây có thể là những đầu bếp giỏi hay đầu bếp tài tử, tự mình làm lấy thức ăn cho vừa ý. Từ đó, có tính khó ăn, kén ăn. Đi với Văn Xương hay Hóa Khoa thì là tác giả các sách gia chánh dạy cách nấu ăn, chế rượu kiêm nhiệm kẻ sành ăn, háo ăn và ăn nhiều.

2. Ý nghĩa tài lộc: Tượng trưng cho lộc ăn, Thiên Trù có nghĩa gia tăng tài lộc nhưng nếu đi với Song Hao thì vì ăn mà hết tiền.

3. Ý nghĩa bệnh lý: Thật ra, Thiên Trù không có nghĩa bệnh lý, trái lại còn có nghĩa là có sức khỏe. Tuy nhiên, đi với một số sao khác, ý nghĩa bệnh lý rất dễ có, dù ở Mệnh hay ở Tật: - Thiên Trù, Nhị Hao: bệnh về bộ máy tiêu hóa (đau gan, đau bao tử, trúng thực, thổ tả ...) do bội thực, bội ẩm mà ra. - Thiên Trù, Không, Kiếp: bệnh nặng về bội thực, bội ẩm, có thể đi đến mổ xẻ, sưng gan, lở bao tử ...

4. Ý nghĩa của thiên trù và một số sao khác:

Thiên Trù, Hóa Lộc hay Tấu Thư: người có vị giác, khứu giác rất linh mẫn, tinh vi

Thiên Trù, Hồng Loan: đầu bếp nổi tiếng nhờ tài nấu nướng hay người bào chế rượu ngon.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Thiên Trù
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries