Tiết Lập Xuân - khởi đầu thăng hoa, dưỡng sinh triệt để
Xuân mới khởi đầu mới, tiết Lập Xuân là tiết khí đầu tiên của năm, cũng là thời điểm tràn đầy mới mẻ, phấn khởi, đánh dấu sự chuyển mình rõ rệt của thời tiết và
Tiết lập Xuân bắt đầu từ ngày 4 hoặc 5 tháng 2 và kết thúc vào ngày 18 hoặc 19 tháng 2. Tiết Lập Xuân ở sau tiết Đại Hàn và trước tiết Cốc Vũ, bắt đầu một vòng tuần hoàn mới của 24 tiết khí. Lập có nghĩa là bắt đầu, Xuân là mùa xuân, bắt đầu mùa xuân hay mùa xuân của sự khởi nguồn.Trong tiết Lập Xuân có thể thấy Bắc Đẩu Thất Tinh (chòm sao Bắc Đẩu) đang chỉ về hướng Đông Bắc tức chếch góc 45 độ, người xưa xưng là phương Cấn.Đặc trưng thời tiết của Lập Xuân là ấm áp và ẩm ướt, nhiệt độ đã tăng hơn rất nhiều, các cơn mưa phùn kéo dài khiến độ ẩm không khí tăng cao. Thời điểm này cây cối bắt đầu sinh trưởng tươi tốt. Trong 24 tiết khí, lập Xuân là tiết quan trọng hàng đầu đối với vấn đề sức khỏe, dưỡng sinh, bồi dưỡng thân thể. Nắm vững 6 nguyên tắc dưỡng sinh trong tiết Lập Xuân dưới đây sẽ bảo vệ bản thân một cách tốt nhất, duy trì và phát triển thể lực đúng cách, vô cùng có lợi. 1. Dậy sớm ngủ sớm để nuôi dưỡng gan, thúc đẩy gan hoạt động mạnh mẽ, thanh lọc cơ thể. Theo “Hoàng Đế nội kinh” thì “xuân tháng 3 thiên địa đều sinh, vạn vật quang vinh, đêm nằm dậy sớm là lẽ dưỡng sinh tốt nhất”. 2. Phòng ngừa bệnh cũ tái phát, nhất là những người có bệnh viêm phổi, viêm gan, bệnh đường hô hấp, bệnh tim,….
3. Không mặc phong phanh, tuy thời tiết đã ấm lên nhưng chưa hết lạnh hẳn nên đừng vội cất áo mùa đông. Đặc biệt, sáng sớm hay chiều tối ra ngoài nên quàng thêm khăn và chuẩn bị áo đủ dày.4. Mỗi ngày chải đầu 100 làn để lưu thông khí huyết, tăng cường dương khí.5. Ăn ít thực phậm bổ dưỡng và muối để điều tiết cơ thể. Mùa đông lạnh giá cần bồi bổ nên ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao nhưng từ tiết Lập Xuân nên hạn chế hơn và không ăn quá mặn để bảo vệ thận khí.6. Ăn nhiều rau hẹ, rau thơm cho lục phủ ngũ tạng thông suốt, tăng cường dương khí.Tiết Lập Xuân là tiết khí mở đầu, là sự mới mẻ, hanh thông và tươi tốt của toàn thể sự sống. Năm mới với những mong mỏi mới, những khí thế mới, mong rằng mỗi người đều có tâm thế tràn đầy năng lượng để sẵn sàng hoàn thành mục tiêu, tạo dựng thành công.Tiết Đại Hàn - kết thúc năm viên mãn, cho hạnh phúc vẹn toànTiết Đại Hàn: Cách dưỡng sinh và phong tục tập quán đặc trưngGiới thiệu tiết Tiểu Hàn và cách dưỡng sinh đúng chuẩnThái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Nếu các mối quan hệ trong gia đình hoặc ngoài xã hội của bạn trở nên xấu đi, thì rất có thể do năng lượng tại vùng không gian bạn đang sinh sống có ảnh hưởng âm đối với quan hệ của bạn. Điều này thường gây ra do năng lượng Thổ trong nhà bị ảnh hưởng
theo thời gian. Nếu vậy, hãy tìm cách để hóa giải chúng.
Dùng đồ pha lê để hóa giải căng thẳng
Một cách khá hiệu quả để hóa giải sự xung đột trong gia đình là đặt sáu quả cầu pha lê tại các khu vực mà các thành viên thường tụ họp. Số 6 tượng trưng cho Trời. Sáu quả cầu pha lê có tác dụng làm dịu các mối quan hệ.
Những quả cầu pha lê tượng trưng cho sự hòa hợp càn-khôn giữa Trời và đất. Pha lê là biểu tượng mạnh mẽ nhất của năng lượng Thổ mang lại những điềm lành.
Ngoài ra, để kích hoạt năng lượng nên chiếu ánh sáng vào một quả cầu bằng pha lê ở giữa nhà. Ánh sáng kích hoạt năng lượng Thổ của pha lê. Khi giữa nhà luôn luôn được tăng cường bởi năng lượng Thổ, mọi người trong gia đình sẽ cảm thấy dễ chịu. Căng thẳng, xung đột trong nhà bắt đầu lắng dịu, những trạng thái giận dữ và xung khắc sẽ giảm bớt.
Dùng chuông xử lý khí uể oải
Nếu nhà có khí uể oải, những người trong nhà cảm thấy mệt mỏi, thờ thẫn, mụ mẫm, hôn mê, thiếu sinh khí. Nếu bạn cũng có những cảm giác này thì có nghĩa là khí trong nhà bạn đang suy kiệt. Những tấm thảm, bức màn, vách tường đã bị suy tàn cùng với thời gian.
Một cách đơn giản là có thể dùng chuông để đánh thức khí dậy. Chuông không làm sạch vùng không gian, nhưng nó làm cho khí chuyển động, mang khí dương tràn ngập trong nhà. Hãy dùng chuông kim loại vì âm thanh của kim loại thấm qua đất và xuyên qua tường. Nên sử dụng loại chuông đặc biệt làm bằng 7 kim loại gồm cả vàng và bạc, tượng trưng cho Mặt trời và Mặt trăng. Loại chuông này phát ra âm thanh hài hòa, ngân vang lâu. Đồng thời nó còn tượng trưng cho bảy hành tinh của Thái Dương hệ, cũng như bảy luân xa trong cơ thể con người. Chuông làm bằng bảy kim loại là công cụ rất hiệu quả để cải thiện năng lượng trong vùng không gian sống.
Nhổ bỏ cây trồng để được hạnh phúc
Để tăng cường mối quan hệ, hãy tăng cường hành Thổ và nhổ bỏ cây trồng ở khu vực Tây Nam và Đông Bắc của ngôi nhà và mỗi căn phòng riêng.
Tẩy sạch đồ pha lê trước khi mang đồ pha lê về nhà, bạn nên tẩy sạch bằng cách sau:
– Trước hết hãy đặt nó vào dung dịch muối – muối bọt hoặc muối hột. Hoặc chà muối khắp bề mặt của đồ pha lê. Tưởng tượng rằng muối đang loại bỏ tất cả năng lượng âm. – Sau đó bạn lau sạch bằng một miếng giẻ ẩm. Nếu vật bằng pha lê quá lớn, bạn có thể nhúng nó trong dung dịch muối trong 7 ngày 7 đêm. Một khi pha lê được tẩy sạch, chiếu ánh sáng vào pha lê để giữ cho năng lượng của nó luôn tươi mới, mạnh mẽ và đầy sức sống.
Đây là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
ÐÂY LÀ LỜI PHẬT
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.
Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Những gì là mười điều?
Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .
Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .
Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.
ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.
Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Ba từ mang hình tượng sinh động hay biểu thị ba sự vật cụ thể ghép lại thành tên hay, đẹp, mới mẻ. Dưới đây là một số lựa chọn cho bạn:
- Lê Tuyết Đào: Hoa lê nở trắng sân, giống như làn sóng tuyết trắng cuồn cuộn chảy, mang hình ảnh và khí thế sống động, nên thơ.
- Phan Liễu Phong: Gió thổi cành dương liễu đưa nhè nhẹ dưới nắng xuân man mác.
- Trần Ngọc Lâm: Trong đá có ngọc, trong ngọc có đá. Khi đất trời còn hỗn hợp, chưa khai phá thì gọi là Thạch Ngọc Lâm, ý tại ngôn ngoại.
- Phạm Bích Nguyệt: Ánh trăng tròn sáng trong như ngọc chiếu xuống mặt nước, như rắc ánh vàng, khi tròn khi vỡ. Giang Nguyệt có nghĩa gốc của từ Thiên Nguyệt, song, Thiên Nguyệt hàm chứa triết lý sâu sắc hơn.
Hình tượng Nguyệt - ánh trăng tròn sáng trong
- Trần Chính Bình: Vuông vắn, thẳng thắn, vững chắc. Có vuông (Phương) mới có thẳng (Chính), có thẳng mới có vuông, chúng hỗ trợ cho nhau.
- Mai Điệp Xuyên: Hoa bướm và dòng nước hòa vào nhau, làm mê đắm lòng người.
- Nguyễn Vân Thiên: Đường nối với mây, đường xa mây theo che, mây trắng bay khắp trời, đường nối lên trời xanh, bức tranh cưỡi mây lên trời rất đẹp.
- Cao Mã Sơn: Trâu ngựa từng đàn khắp núi đồi, nước suối chảy róc rách, cỏ xanh mơn mởn.
- Phạm Vũ Điền: Sấm sét dẫn đến mưa, mưa rơi ruộng đồng, cây lúa trên đồng vui cười cùng gió, mưa thuận gió hòa hứa hẹn mùa xuân đẹp.
- Nguyễn Lương Xuyên: Mọc trên đất là cốc, gặt hái rồi là lương. Nhà nông cần cù đón năm được mùa ngũ cốc, lương thực đầy kho, xe trên đường, thuyền trên sông chở đầy lương thực.
Họ tên ghép theo hình tượng đem đến hình ảnh mới lạ, gợi ý liên tưởng, nội dung phong phú, hàm chứa triết lý sâu sắc. Khi đặt tên theo phương thức "ghép 3 hình tượng", cần chú ý 3 điều. Thứ nhất, nó phải mang hình tượng cụ thể, ý nghĩa rõ ràng. Thứ hai, 3 hình tượng đó phải có mối liên quan mật thiết với nhau. Thứ ba, những từ để ghép thành hình tượng phần lớn là những từ biểu thị sự vật cụ thể, biểu lộ sắc thái nhất định. Người đặt tên cũng cần hết sức chú ý đến chúng.
Mọi người, đặc biệt là người buôn bán làm ăn thường thờ Thần Tài và Thần Đất (Thổ Địa) để cầu mong sự phù trợ của các vị thần trên con đường lập nghiệp mưu sinh, giúp mọi người làm ăn phát đạt, tấn tài tấn lộc. Thần Đất là vị thần hộ mệnh của xóm làn
Mọi người, đặc biệt là người buôn bán làm ăn thường thờ Thần Tài và Thần Đất (Thổ Địa) để cầu mong sự phù trợ của các vị thần trên con đường lập nghiệp mưu sinh, giúp mọi người làm ăn phát đạt, tấn tài tấn lộc.
Thần Đất là vị thần hộ mệnh của xóm làng, cai quản vùng trời, đất đai, phù hộ con người và gia súc trong xóm làng, mùa màng bội thu. Thần Đất mang dấu ấn của thời kinh tế nông nghiệp. Thần Tài là vị thần trông coi tiền tài, vàng bạc, là dấu ấn của thời kỳ kinh tế thương nghiệp. Vì vậy, người ta thường lập bàn thờ chung để cúng hai vị thần này suốt năm nhưng vào ngày tết thì việc cúng lễ được coi trọng hơn.
Cách bài trí bàn thờ cúng Thần Tài, Thổ Địa
Trong cùng bàn thờ, dán trên vách là một tấm bài vị. Sau lưng bàn thờ thần tài cần phải là vách tường chắc chắn, không được trổ cửa sổ hay đục lỗ vì làm vậy thì tài vận không tụ được. Trong những trường hợp không thể đặt bàn thờ dựa lưng vào tường do phải chọn hướng thì cần tạo vách để tránh góc nhọn sau lưng bàn thờ và giúp bàn thờ nằm vững chắc.
Hai bên, bên trái (nguyên tắc là từ ngoài nhìn vào) là ông Thần Tài, bên phải là Thổ Địa. Ở giữa hai ông là một hũ gạo, một hũ muối và một hũ nước đầy. Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ đặt một bát nhang và cần tránh động bát nhang khi lau chùi bàn thờ. Lọ hoa được đặt bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái. Hoa cúng Thần Tài nên là hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền. Trái cây nên chọn ngũ quả. Xếp 5 chén nước thành hình chữ thập để tượng trưng cho ngũ phương và ngũ hành phát sinh phát triển. Ông Cóc để bên trái, sáng quay Cóc ra, tối quay Cóc vào. Ngoài cùng trên mặt đất, nên chọn một cái bát hoặc đĩa sâu sứ hoặc thuỷ tinh thật đẹp, đổ đầy nước và rắc những cánh hoa hồng trên mặt (đĩa hoa này biểu trưng cho việc giữ tiền bạc khỏi trôi đi).
Bên trên bàn thờ Thần Tài, có thể đặt thêm tượng Phật Di Lặc. Di Lặc Phật Vương sẽ quản lý và ngăn chặn các vị thần làm điều sai trái.
Cách đặt bàn thờ
Để chọn vị trí đặt và hướng của bàn thờ thì gia chủ có thể lựa theo nhiều cách, có thể theo hướng tốt của chủ nhà hoặc hướng hứng được dòng khí từ ngoài vào trong nhà hoặc theo cung tốt của gia chủ. Bàn thờ Thần Tài cần phải đặt tại vị trí quản được hết luồng vào và luồng ra của gia chủ và khách.
Một trong những cách tốt nhất được nhiều người lựa chọn là đặt bàn thờ Thần Tài theo hướng thẳng hoặc chéo với cửa ra vào. Thần Tài phải được đặt ở vị trí thuận lợi để đón khí mới tràn vào nhà và chuyển khí thành năng lượng thịnh vượng luân chuyển trong nhà từ đó có lợi cho gia chủ. Bàn thờ Thần Tài đặt ở nơi mà mọi người đều dễ dàng nhìn thấy và quan sát được. Dù đặt ở hướng nào thì nơi đặt bàn thờ Thần Tài cần phải sáng sủa, sạch sẽ, tốt nhất là đón nhận được ánh sáng tự nhiên, nếu tối thì cần thắp thêm đèn cho sáng.
Bên cạnh bàn thờ có thể đặt chậu cây, loại quanh năm xanh tốt để làm tăng sinh khí. Chọn loại cây được trồng trong đất, không được chọn loại cây được trồng trong nước.
Bàn làm việc của gia chủ hoặc bàn tiếp khách có thể đặt theo phương vị đặt Thần Tài, mục đích là để chủ và khách gần hơn và thấm nhuần nguồn tài khí.
"Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà" - không phải ngẫu nhiên mà dân gian lại truyền miệng câu ca dao này. Thật ra, theo quan điểm của nhân tướng học, hình dáng miệng cũng nói lên được rất nhiều điều về cuộc đời của một con người.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Miệng là cơ quan tiếp nhận vật chất nuôi cơ thể, chuyện thị phi cũng từ đây mà ra. Hình dạng của môi sẽ tiết lộ tính cách hay dở của con người. "Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà" - không phải ngẫu nhiên mà dân gian lại truyền miệng câu ca dao này. Thật ra, theo quan điểm của nhân tướng học thì hình dáng miệng, xem tướng đôi môi cũng nói lên được rất nhiều điều về cuộc đời của một con người.
Theo quan điểm của nhiều nhà nhân tướng học, hình dáng miệng có thể giúp báo hiệu được nhiều điều về số phận hay tài vận của con người. Dưới đây là một số quan niệm được truyền miệng trong dân gian:
- Miệng vuông vắn, to rộng, có góc cạnh, báo hiệu là người sẽ có cuộc sống trường thọ.
- Hình dáng miệng giống như chiếc cung là tướng cách của người có số phú quý.
- Miệng rộng, môi dày, báo hiệu là người giàu có, phúc đức.
- Miệng thẳng mà không lệch, môi dày là tướng của người không sợ thiếu thốn cơm áo gạo tiền.
- Miệng vuông hình chữ “tứ”, báo hiệu là người giàu có.
- Miệng nhọn lại cong, lệch lại mỏng là tướng của người bần hàn.
- Miệng không nói mà tự mở, lại có hình dáng giống như miệng ngựa là dấu hiệu của người có số phận nghèo khổ.
- Miệng nhọn như miệng chuột là tướng của những người hay đố kỵ, thích gièm pha, phỉ báng người khác.
- Miệng có dáng chúm lại giống như đang thổi lửa là tướng của những người cô độc.
- Sắc môi tím đen một cách tự nhiên là tướng của những người có cuộc sống khốn khổ, vất vả.
- Môi trên to hơn môi dưới, báo hiệu là người hay nói xấu người khác.
- Môi dưới dày là tướng cách của người dễ tiêu tài tốn của.
- Răng lộ ra ngoài là tướng của những người có trình độ học vấn không cao, đoản thọ.
- Trên miệng có nốt ruồi đen, báo hiệu là người giàu có, cuộc sống sung túc, đầy đủ.
- Môi có màu đỏ nhạt là tướng của người no ấm, không sợ thiếu cơm ăn áo mặc.
- Miệng rộng là tướng cách của người làm quan tướng.
- Môi mềm mại, đầy đặn là người giàu tài lộc.
- Môi trên môi dưới tương xứng với nhau là người văn hay chữ tốt.
- Môi là thành quách của miệng, lưỡi là lưỡi dao của miệng. Thành quách phải dày, dao phải sắc, dày tức là không có vết lõm, sắc tức là không dễ cùn, đây chính là tướng quý của môi và lưỡi. Lưỡi phải đỏ mà không xuất hiện màu den, đỏ nhạt mà không được trắng. Lưỡi đỏ tươi như màu máu thì có số làm quan, được hưởng lộc. Lưỡi dài chấm tới mũi là tướng của bậc quý nhân. Trên lưỡi có đường vân dài, cũng là báo hiệu của người được sẽ có công danh rạng rỡ. Trên lưỡi có nhiều đường vân là tướng của người giàu có. Lưỡi lớn miệng nhỏ là người có số nghèo hèn lại đoản mệnh.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
- Lưỡi có sắc tía, xám đen cũng là chỉ dấu của người có số nghèo nàn, hay gặp chuyện nguy nan. Lưỡi thè ra có hình dáng giống lưỡi rắn là tướng của người độc ác, đoản thọ.
- Người có môi trên và môi dưới có nhiều đường vân đan xen vào nhau, báo hiệu là con cháu đầy nhà.
- Người có viền môi rõ nét là tướng của người nhân ái tín nghĩa.
- Người có sắc môi đỏ tươi như máu trong nhà dư dả tiền bạc, người có miệng chúm lại như kén tằm đại đa sô” là người nghèo hèn.
- Người có miệng giống như ngậm đan là người giỏi về một môn nghệ thuật nào đó. Trong sách xưa có viết: Nếu môi như đang ngậm đan phần đa là thiên về nghệ thuật.
- Miệng không cân xứng có nghĩa là 2 môi trên dưới không cân xứng vói nhau. Nếu 2 môi không khít nhau sẽ không hiển thị rõ khóe miệng. Người như vậy khi nói chuyện rất kiêu ngạo, tự cao tự đại, là người thiếu tín nghĩa.
- Phụ nữ nếu như hai môi khép lại mà răng vẫn lộ ra ngoài, báo hiệu có thể sẽ gặp khó khăn chuyện sinh nở. Môi dưới to chờm môi trên là tướng sát phu. Môi trên nhô ra chòm xuống môi dưới là tướng người xảo trá.
- Người có khóe miệng trễ xuống, nếu là phụ nữ thì là tướng rất bần hàn, không làm "phòng nhì" thì cũng là mệnh kẻ hầu người hạ.
- Môi thô, dày, sắc tía, nếu là nữ thì là tướng không chồng.
Hình dáng miệng cao quý phải có những đặc điểm sau:
- Các góc cạnh của miệng rõ ràng, khi ngậm lại miệng phải nhỏ, khi mở miệng thì phải rộng, môi trên và môi dưới có đường nét góc cạnh rõ ràng, khẩu hình giống chiếc cung; tức là phải có hình dáng giống như đang ngậm nước, miệng vuông như hình chữ “tứ”, thêm sắc miệng đỏ giống như ngậm chu sa. Người nào có tướng miệng như vậy tất sẽ là quý nhân.
Dù có đầy đủ những điều kiện nói trên nhưng môi lại mỏng thì cũng không phải là tướng quý. Người môi mỏng đại đa số là người thích tụ tập chốn đông người, ăn chơi nên công danh sự nghiệp không hiển hách.
Miệng mang lại họa phúc cho con người. Đặc biệt, có thể nói, họa phúc đều là do con người tự tạo nên, vì thế nói năng không được tùy tiện. Có câu nói rằng: Khi những lời lẽ không hay mà đã được nói ra thì sẽ mang đến tai họa.
Người trung hậu ít nói, sẽ tránh được việc phải nghe những lời khó chịu. Người có cát tướng là người không nói nhiều. Nếu như cẩn thận, ít nói thì sẽ tránh được nhiều chuyện không hay. Người ăn nói ngông cuồng, thích phỉ báng, nói xấu sau lưng người khác sẽ gặp nhiều tai họa.
>> Đã có VẬN HẠN 2016mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Đây là thời điểm để con cái nhớ về công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Ngày này, rất nhiều người đến chùa thành tâm cầu an sức khỏe cho đấng sinh thành.
Theo quan điểm của nhiều người Việt ta, ngày rằm tháng 7 được coi là ngày quan trọng nhất trong năm. Nói như cố hòa thượng Thích Thanh Từ (chùa Quán Sứ, Hà Nội), lễ Vu Lan có nghĩa là ngày báo hiếu cha mẹ. "Ngày rằm tháng 7, ta phải cầu nguyện để đức Phật xá tội cho các linh hồn. Con cái phải hiếu thuận với cha mẹ ngay từ khi họ còn sống để sau này không phải hối tiếc".
Vu Lan là một trong những ngày rằm quan trọng nhất trong năm. Việc đi chùa thắp hương khấn Phật, cầu siêu là điều nên làm. Điều đó sẽ mang lại may mắn, an lành cho những người thân trong gia đình bạn.
Ngày Vu Lan là ngày báo hiếu cha mẹ đã có công sinh thành và nuôi dưỡng. Trong dịp lễ này, người dân nói chung và bà con Phật tử ngoài việc lên chùa cài hoa hồng, tụng kinh cầu siêu tỏ lòng báo hiếu với ông bà tổ tiên, cúng dường trai tăng, công đức để cha mẹ được sống trong cực lạc. Ngày đó vào chùa lễ Phật, nếu may mắn còn mẹ, bạn sẽ được gắn một hoa hồng lên áo. Nếu như không may, mẹ không còn nữa, bạn sẽ được gắn một bông hoa trắng.
Ngày Lễ Vu Lan, bạn nên đến chùa cầu siêu, cầu bình an, tỏ lòng báo hiếu với ông bà tổ tiên, cha mẹ.
Nếu bạn đang được ở cùng cha mẹ, hãy cùng họ lên chùa và tận hưởng những phút giây đoàn viên ý nghĩa. Nếu bạn đang ở xa gia đình, hãy chọn một ngôi chùa nào đó gần nơi bạn đang ở và thành tâm cầu nguyện cho cha mẹ.
Ở mỗi nơi trên đất nước Việt Nam, mỗi người lại có cách báo hiếu cha mẹ khác nhau, có người đi chùa cầu cho cha mẹ bình an, có người lại mua quà tặng cha mẹ,… nhưng điều quan trọng nhất là mỗi người hãy sống thật tốt, đối xử thật tốt với bố mẹ trong những ngày bình thường, ngay khi bố mẹ còn sống.
Hiện nay, cuộc sống ngày càng bon chen và bận rộn, sự quan tâm đến người thân trong mỗi chúng ta ngày càng thưa thớt hơn. Vì vậy, bạn hãy dành những thời gian rảnh rỗi để gọi điện, về thăm bố mẹ. Đó là món quà ý nghĩa nhất mà bố mẹ bạn nhận được.
Phân biệt Lễ Vu lan và lễ cúng Cô hồn
Một số người lầm tưởng Lễ Vu Lan và lễ cúng Cô hồn. Tuy nhiên, hai lễ này hoàn toàn khác nhau. Chúng gắn với hai sự tích khác nhau tuy nhiên lại tổ chức chung một ngày rằm tháng Bảy khiến cho nhiều người nhầm lẫn.
1. Lễ Vu lan Ngày Rằm tháng 7 (Âm lịch) được gọi là ngày “Báo hiếu cha mẹ” tức lễ Vu Lan. Rằm tháng 7 cũng là ngày “Xá tội vong nhân” tức lễ cúng Cô hồn.
Lễ Vu Lan gắn với tích về Mục Kiền Liên, đệ tử của Đức Phật, là một vị tôn giả tu luyện được nhiều phép thần thông, được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật.
Vì tưởng nhớ mẹ nên một ngày nọ Mục Kiền Liên dùng đôi mắt thần nhìn xuống địa ngục, thấy mẹ là bà Thanh Đề bị Diêm Vương đày làm quỷ đói do kiếp trước gây nhiều nghiệp ác. Thương mẹ nên ông dùng phép thuật xuống địa ngục để mang cơm dâng cho người.
Bà Thanh Đề do lâu ngày nhịn đói nên khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình vì sợ các cô hồn khác đến tranh. Vì còn tính "tham sân si" nên khi bà đưa bát lên miệng, thức ăn đã hóa thành lửa đỏ không thể ăn được. Đau xót khi chứng kiến cảnh này, Kiền Liên cầu xin Đức Phật giúp mình cứu mẹ.
Đức Phật dạy ông rằng một mình con không thể cứu được mẹ do ác nghiệp của bà quá nặng, chỉ còn cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong thành công. Vào ngày rằm tháng bảy, nhân lúc chư tăng mãn hạ (sau 3 tháng an cư kiết hạ) thì sửa một cái lễ đặt vào trong chiếc chậu để dâng cúng và thành khẩn cầu xin mới có thể cứu rỗi vong nhân khỏi địa ngục tăm tối.
Mục Kiền Liên thành tâm làm theo lời Phật dạy, không những cứu được mẹ mà còn giải thoát được tất cả vong hồn bị giam cầm ở âm cung. Từ đó ngoài ý nghĩa "mùa hiếu hạnh", tháng bảy âm lịch còn gọi là tháng "xá tội vong nhân", tức là thời gian các vong hồn được thả tự do. Trong những ngày này, người dân thường lập đàn cầu siêu hoặc cúng thí (bố thí) thức ăn cho các cô hồn (tức là vong hồn không có người thân) để mong họ phù hộ cho mình.
Từ đó về sau theo lời Phật dạy, các phật tử muốn báo hiếu cha mẹ thì cử hành lễ Vu Lan để cầu siêu cho các đấng sinh thành và cầu phá địa ngục cho những vong hồn.
2. Lễ cúng Cô hồn Việc cúng Cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu).
Một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau, A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa, mặt cháy đen như nó.
A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, và soạn lễ cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ, còn tôi sẽ được sinh về cõi trên”.
A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Đức Phật bèn cho bài chú gọi là “Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ Ðà La Ni”. A Nan đem tụng trong lễ cúng và được thêm phúc thọ…
Tục cúng Cô hồn bắt nguồn từ sự tích này nên ngày nay người ta vẫn nói cúng Cô hồn là Phóng diệm khẩu, với nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”. Về sau, lại được hiểu rộng thành các nghĩa khác như: Tha tội cho tất cả những người chết (xá tội vong nhân) hoặc Cúng thí cho những vong hồn vật vờ (cô hồn).
Tóm lại, lễ Vu Lan và lễ cúng Cô hồn là hai lễ cúng hoàn toàn khác nhau. Một chuyện liên quan đến ông Mục Liên, một chuyện liên quan đến ông A Nan. Một lễ là để cầu siêu cho cha mẹ ông bà bảy đời, một lễ là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng.
Theo Minh Minh (Gia đình & Xã hội)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Tuyết (##)
Xem tướng. Đàn bà khắc sát chồng con, Mặt dầy miệng rộng, trán còn lằn ngang, Xoáy tóc trước trán mấy hàng, Mặt nhọn gân nổi lại càng xấu xa… Đàn bà khắc sát chồng con Mặt dầy miệng rộng, trán còn lằn ngang Xoáy tóc trước trán mấy hàng Mặt nhọn gân n
Ý nghĩa và tác dụng của những biểu tượng phong thủy –
Từ xưa đến nay con người luôn tin tưởng vào may mắn mà những biểu tượng phong thủy mang đến. Hãy đọc bài viết sau để xem ý nghĩa và tác dụng của những biểu tượng phong thủy. Ý nghĩa và tác dụng của những biểu tượng phong thủy Thứ nhất: ý nghĩa về sự
Từ xưa đến nay con người luôn tin tưởng vào may mắn mà những biểu tượng phong thủy mang đến. Hãy đọc bài viết sau để xem ý nghĩa và tác dụng của những biểu tượng phong thủy.
Nội dung
1 Ý nghĩa và tác dụng của những biểu tượng phong thủy
1.1 Thứ nhất: ý nghĩa về sự thịnh vượng
2 Thứ hai: Mang ý nghĩa biểu tượng về trường thọ, thịnh vượng, hạnh phúc
2.1 Thứ ba: Mang lại may mắn cho chủ nhân
2.2 Dựa theo yếu tố phong thủy để có ý nghĩa nhất
2.2.1 Vị trí hợp phong thủy mang lại nhiều tài lộc may mắn nhất
2.2.2 Dùng âm chữ chứa đựng nhiều ý nghĩa
2.3 Lưu ý khi dùng biểu tượng phong thủy
Ý nghĩa và tác dụng của những biểu tượng phong thủy
Thứ nhất: ý nghĩa về sự thịnh vượng
Một bức tranh có thể có ý nghĩa về sự thịnh vượng hoặc vô tình mang sát khí vì và trở thành không may mắn do những mũi tên độc vô tình từ bức tranh phát ra.
Thời xưa, các họa sĩ rất am hiểu ý nghĩa của các biểu tượng , điều này giúp tranh của họ có nhiều người mua, từ đó ngành nghề được phát triển.
Thứ hai: Mang ý nghĩa biểu tượng về trường thọ, thịnh vượng, hạnh phúc
Tranh phương Đông không chỉ đơn thuần là những tác phẩm nghệ thuật, mà chúng còn mang ý nghĩa biểu tượng, xoay quanh những chủ đề như trường thọ, thịnh vượng, hạnh phúc. Những ý nghĩa này không chỉ thể hiện qua từ ngữ mà còn được thể hiện qua hình ảnh, họa tiết.
Thứ ba: Mang lại may mắn cho chủ nhân
Tranh phương Đông hầu như được vẽ theo những chủ đề may mắn để nó mang nhiều ý nghĩa hơn bản thân hình ảnh trong tranh. Những hình ảnh này có thể là cây cối, sinh vật, hoa, núi, tiên hoặc con người.
Tài năng của họa sĩ không chỉ thể hiện ở đường nét mà còn ở cách kết hợp hình ảnh. Những họa sĩ có tài viết thư pháp sẽ kết hợp hình ảnh với chữ viết để tăng cường ý nghĩa may mắn. Bản thân một bức thư pháp tuyệt đẹp cũng được xem là một vật may mắn.
Vì thế hình thức và nội dung của bức tranh mang ý nghĩa bề sâu về may mắn và thịnh vượng.
Dựa theo yếu tố phong thủy để có ý nghĩa nhất
Vị trí hợp phong thủy mang lại nhiều tài lộc may mắn nhất
Bức tranh có giá trị khi không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn được xem là ẩn chứa những biểu tượng mang sinh khí chủ về may mắn và được treo ở những nơi trang trọng trong nhà.
Nếu bạn có một bức tranh cổ, trước hết hãy nhận biết về chủ đề của nó. Sau đó, treo tranh ở những vị trí thích hợp sao cho nó mang lại nhiều may mắn nhất.
Dùng âm chữ chứa đựng nhiều ý nghĩa
Âm và chữ thường chứa đựng những ý nghĩa tiềm ẩn của hình ảnh. Chẳng hạn, bức tranh con cá được xem là biểu tượng của sự thịnh vượng bởi chữ “Ngư” có nghĩa là thịnh vượng. Đây là lý do khiến người phương Đông thích nuôi cá và cá thường được xem là một biểu tượng may mắn.
Lưu ý khi dùng biểu tượng phong thủy
Để hiểu trường phái biểu tượng trong phong thủy, điều quan trọng là phải nhận biết tầm quan trọng của ngữ âm trong việc nhận dạng các biểu tượng may mắn.
Ví dụ về chữ “Ngư” chỉ là một trong rất nhiều ví dụ. Sự tương tác giữa ngữ âm và chữ viết giải thích lý do tại sao một số sinh vật và cây cối được xem là biểu tượng may mắn.
Đây cũng là lý do tại sao con dơi đỏ được xem là may mắn và tại sao việc trao đổi quả cam vàng là một hoạt động phổ biết trong dịp Tết.
Phong thủy âm trạch (còn gọi là Phong thủy mồ mả) Theo quan niệm người cổ xưa, phía trên mặt đất là yếu tố dương, dưới mặt đất là âm. Nơi chôn cất người sống gọi là dương trạch, còn nơi chôn cất người chết gọi là âm trạch. Âm trạch có nghĩa là dưới âm phủ, là nơi an nghỉ của những người đã khuất. Ngoài ra, các vị tiền bố còn tin rằng, linh hồn của người chết yên ổn thì con cháu, thế hệ người đang sống mới có được cuộc sống thịnh vượng và khỏe mạnh. Do đó, cần tránh những yếu tố gây động mồ mả càng sớm càng tốt. Đường bao quanh mồ mả có thể gây động phong thủy
Cẩn thận tránh động mồ mả vì đường đi sai hướng
- Phía Đông Bắc mộ phần có đường đi Trong Bát quái, phía Đông Bắc gọi là Cấn. Trong phong thủy âm trạch, nếu phía Đông Bắc phần mộ có đường đi, cách khoảng 5m, không tốt cho con cháu đời sau. Cụ thể, đời sau có người làm cướp hoặc làm việc xấu bị tù tội, phụ nữ thì có gian tình. Nếu đường này càng to, cản trở hướng Đông Bắc sẽ càng không tốt vì xuất hiện người làm chùm cướp giật hoặc xã hội đen. - Phía Đông Nam mộ phần có đường đi Phía Đông Nam trong bát quái được gọi là Tốn. Phương này không tốt cho người làm trưởng nữ về cả công danh sự nghiệp và tình duyên. - Phía Tây Bắc mộ phần có đường đi Trong Bát quái, phía này gọi là Càn. Nếu có hai đường đi cắt nhau, trong nhà của con cháu sẽ có người treo cổ tự tử. Nếu không có đường giao nhau, ít nhất một thành viên trong gia đình của thế hệ sau sẽ bị gãy chân hoặc què quặt. - Phía Tây Nam mộ phần có đường đi Phía Tây Nam trong Bát quái gọi là Khôn. Phương Khôn có đường chiếu thẳng vào mộ thì người trông coi mộ (là nữ giới) sẽ chết đột ngột. Nếu đường này hình vòng cung, trong nhà của đời sau có cha mẹ già chết vì bệnh tật hoặc phụ nữ có gian tình làm bại hoại gia phong. - Phía Bắc mộ phần có đường đi Trong Bát quái, phía Bắc gọi là Khảm. Ở phương này nếu có đường nhỏ dẫn đến mộ, trong nhà sẽ có tai họa xảy ra liên miên, gây tổn hại lớn về kinh tế. - Phía Tây mộ phần có đường đi Phía này trong Bát quái được gọi là Đoài. Phương Đoài có đường đâm thẳng vào mộ, con cháu ở thế hệ sau có người bị chết đột ngột, người này phần lớn là thiếu nữ trẻ. Đường càng rộng lớn bao nhiêu, cuộc sống của con cháu càng bị tổn hại bấy nhiêu. Những yếu tố ảnh hưởng khác - Phần mộ được chôn dưới cây cổ thụ: Con cháu hay bị bệnh và phải phẫu thuật. Ngoài ra, còn có người bị liệt, mù và giảm thọ. - Phần mộ nằm cạnh đường cao tốc, đường xe lửa, bến tàu, nhà xưởng công nghiệp: Con cháu sinh ra là người gian xảo, buôn gian bán lậu, cờ bạc hoặc nghiện ngập. - Phần mộ chôn ở nơi quanh năm ngập nước phèn hay sình lầy: Đời con cháu sẽ có người bị phì mập, đau thận, đau lưng hoặc răng. - Phần mộ chôn ở vị trí long hổ giao nhau: Tức núi đồi bên trái mộ và những gò đồi bên phải mộ đụng vào nhau ở tiền án hoặc minh đường. Đời con cháu sẽ có người loạn luân, anh em họ hàng lấy nhau. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Lệ Chi (##)
Ngoại cảnh ngôi nhà là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tài vận, sự nghiệp của gia chủ. Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ yếu tố này khi chọn mua nhà. - Bốn phía nhà nhô cao là tốt. Phúc lộc dồi dào, làm ăn phát đạt, con cái tài giỏi. - Phí
Ngoại cảnh ngôi nhà là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến tài vận, sự nghiệp của gia chủ. Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ yếu tố này khi chọn mua nhà.
– Bốn phía nhà nhô cao là tốt. Phúc lộc dồi dào, làm ăn phát đạt, con cái tài giỏi.
– Phía trước nhà có gò cao, phía sau có núi đồi, phía Đông có dòng nước, phía Tây có đường là đại cát. Con cháu đời đời làm quan, hưởng lộc may mắn.
– Phía Đông cao, Tây thấp, phía Bắc có núi nhiều là đại cát. Tiền của như núi, trên dưới vui vẻ, thuận hòa.
– Tây ngắn, Đông dài, chủ nhà may mắn, của cải dồi dào, con cháu thịnh vượng.
– Phía Nam có gò đất, phía Bắc có đồi, phía Tây có dòng nước chảy về phía Nam, địa thế thấp dần về phía Đông, kéo dài hơn 1 dặm là tốt.
– Hai bên Đông, Tây có dòng sông chảy qua là tốt. Gia chủ luôn gặp may, hậu thế đời đời hưởng phúc.
– Phía Tây Nam có hồ nước, Đông Bắc có đồi núi là tốt. Gia chủ giàu sang, con cháu hưởng lộc trời.
– Hướng Tây Nam có gò đất cao, là cát. Càng ở lâu, con cháu càng vinh hiển, đời đời thịnh vượng.
– Hướng chính Bắc cò gò mộ là cát. Ở chốn này, người quân tử làm quan hưởng lộc, bình dân thì gia đạo êm ấm.
– Phía Tây Bắc có gò đồi, tốt. Gia đình ngày càng thịnh vượng. Con cháu thành đạt làm rạng rỡ tổ tông.
– Phía Nam và phía Bắc có núi cao, phía Đông và phía Tây có bãi cát, ao hồ, chủ nhà phú quý, trường thọ.
– Phía Đông Bắc có gò đồi là cát. Của cải dồi dào, con cháu hưng thịnh.
– Phía Bắc nhà ở có gò đồi, phía Nam gần ao hồ, địa thế cao dần về phía Tây Bắc là tốt. Con cháu vinh danh rạng rỡ tổ tông.
– Phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc có đồi cao, phía Tây Nam có núi đồi, phía Nam thoai thoải là tốt. Dựng nhà nơi đây, lắm của nhiều con. Con cháu tài ba, vinh hiển.
– Phía Tây Bắc có núi dài hơn vạn dặm, hướng Đông Nam lại có núi cao trùng trùng điệp điệp, địa thế Tây Nam, Đông Bắc bằng phẳng thì giàu sang.
– Phía Bắc có núi, phía Đông có dòng nước trong xanh, hướng Tây có đường đi là tốt. Con cháu làm vinh hiển.
1.1. Giờ “Phúc tinh” tốt cho mọi vỉệc Ngày Giáp: giờ Dần Ngày Ất: giờ Hợi, Sửu Ngày Bính: giờ Tý, Sửu Ngày Đinh: giờ Dậu Ngày Mậu: giờ Thân Ngày Kỷ: giờ Mùi Ngày Canh: giờ Ngọ Ngày Tân: giờ Tý Ngày Nhâm: giờ Thìn Ngày Quý: giờ Mão 1.2. Giờ Phật lộc
Ngày 17/07/2016 là bắt đầu của ngày Sơ Phục, ngày Tam Phục Thiên chính thức bắt đầu. Trong ngày lục tà này, 12 con giáp nên chú ý những chiêu khai vận, nghi
Ngày 17/07/2016 là bắt đầu của ngày Sơ Phục, ngày Tam Phục Thiên chính thức bắt đầu. Trong ngày này, 12 con giáp nên chú ý những chiêu khai vận, nghi kị, cát hung để vận trình được suôn sẻ, hanh thông.
Ảnh minh họa
Tuổi Tý
Nên làm trong ngày lục tà: Cầu phúc, kết hôn, sửa nhà, nhập trạch, đóng giường, di chuyển, an táng. Không nên: Đóng thuyền, đi thuyền, cất nóc, xây nhà, nhập liệm, thăng chức, xuất hành, cầu tài. Hướng: Ngọ (Canh Ngọ) Sát: Nam Thực bổ: Cà rốt, thịt vịtNgười tuổi Sửu
Nên: Hiến tế, cầu phúc, sửa nhà, sửa bếp, cưới gả, khai trương, xuất hành, di chuyển, an táng, cầu tự, nhập trạch, cầu tài, giao dịch, đóng giường.Không nên: Không có việc gì phải kiêng kị Hướng: Mùi (Tân Mùi) Sát: Đông Thực bổ: Chanh, thịt chóTuổi Dần Nên: Thăng chức, gặp khách quý, xuất hành, cầu tài, cưới gả, khai trương, nhập trạch, an táng, di chuyển, sửa nhà. Không nên: Đi thuyền, hiến tế, cầu phúc, cầu tự, dâng hương trong ngày lục tà.Hướng: Thân (Nhâm Thân) Sát: Bắc Thực bổ: Rau dền, canh gàTuổi Mão
Nên: Khai trương, nhập trạch, sửa nhà, di chuyển, đóng giường, sửa bếp, cầu tự, cưới gả, an táng, gặp khách quý.Không: Hiến tế, cầu phúc, thăng quan, xuất hành, cầu tài Hướng: Dậu (Quý Dậu) Sát: Tây Thực bổ: Khổ qua - quả mướp đắng, cá chạch
Ảnh minh họa
Tuổi Thìn Nên: Gặp khách quý, hiến tế, cầu phúc, cưới gả, nhập trạch, an táng.Không nên: Sửa nhà, động thổ, thăng chức, xuất hành, cầu tài, di chuyển, kiện tụng. Hướng: Tuất (Giáp Tuất) Sát: Nam Thực bồ: Cà chua, ba baTuổi Tị Nên: Cầu phúc, cưới gả, nhập trạch, khai trương, di chuyển, an táng. Không nên: Thăng chức, xuất hành, sửa nhà, ra quân, cầu tài. Hướng: Hợi (Ất Hợi) Sát: ĐôngThực bổ: Đậu xanh, hải sảnTuổi Ngọ
Nên: Cầu tự, sửa nhà, sửa bếp, gặp khách quý, cưới gả, khai trương, nhập trạch, an táng. Không nên: Hiến tế, cầu phúc, khai quang, thăng chức, xuất hành, cầu tài, đi thuyền.Hướng: Tý (Bính Tý) Sát: BắcThực bổ: Dứa, trà hoa cúcTuổi Mùi Nên: Cầu tự, cưới gả, nhập trạch, di chuyển, an táng. Không nên: Hiến tế, cầu phúc, khai quang, thăng chức, xuất hành, cầu tài, đi thuyền, sửa nhà, ra quân.Hướng: Sửu (Đinh Sửu) Sát: TâyThực bổ: Rau cần, cá
Ảnh minh họa
Tuổi Thân Nên: Cầu phúc, cưới gả, nhập trạch, đóng giường, di chuyển, cầu tự, hiến tế, xuất hành, khai trương. Không nên: Khai quang, sửa nhà, an táng. Hướng: Dần (mậu Dần) Sát: NamThực bổ: Bầu dục, thịt dêTuổi Dậu Nên: Khai trương, nhập trạch, sửa nhà, di chuyển, đóng giường, sửa bếp, cầu phúc, cưới gả, an táng, hiến tế, xuất hành, thăng chức, cầu tài. Không nên: Không có việc gì phải kiêng cữ.Hướng: Mão (Kỷ Mão) Sát: Đông Thực bổ: Quả đào, mìTuổi Tuất Nên: Cưới gả, an táng, hiến tế, cầu phúc, cầu t ự, khai trương, giao dịch, đóng giường. Không nên: Cất nóc, xây nhà, nhập liệm, thăng chức, xuất hành, cầu tài, sửa nhà, di chuyển, kiện tụng, gặp khách quý. Hướng: Thìn (Canh Thìn) Sát: BắcThực bổ: Sữa và các chế phẩm từ gạoTuổi Hợi Vào ngày lục tà, người tuổi Hợi nên: Thăng chức, xuất hành, cầu tài, gặp khách quý, cưới gả, di chuyển, cầu tự, khai trương, giao dịch, đóng giường. Không nên: Hiến tế, cầu phúc, khai quang, sửa nhà, an táng. Hướng: Tị (Tân Tị) Sát: Tây Thực bổ: củ sen, thịt lợn
► Xem ngày tốt xấu chuẩn xác theo Lịch vạn sự
Phương ThùyLuận Giải Tam Phục Thiên, ngày Lục Tà xâm chiếm âm dương đất trời Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
Thế giới nội tâm của các cô cậu tuổi Tỵ vô cùng nhạy cảm nên họ rất hay nghĩ ngợi lung tung rồi đoán già đoán non mọi việc. Thậm chí sự việc đã rõ như ban ngày rồi mà con giáp này vẫn trầm ngâm nghĩ ngợi điều gì đó sâu xa.
Chính lối suy nghĩ và cách làm đó khiến người tuổi Tỵ luôn trong trạng thái mệt phờ râu, áp lực và lo lắng. Vì thế, họ chọn cách đi du lịch một mình nhằm mục đích “triệt tiêu” tâm trạng muộn phiền đó rồi nhanh chóng quay lại với cuộc sống thường nhật, nơi mà bạn bè đang chờ đợi họ.
Tuổi Mão
Thực ra những người cầm tinh con Mèo khá nhạy cảm với thời cuộc và hay dùng cách nhìn bi quan của mình để nhìn nhận, đánh giá sự việc. Vì vậy, chỉ cần một sự việc nhỏ cũng có sức ảnh hưởng cực lớn đối với tâm trạng, tinh thần của người tuổi Mão.
Khi cảm thấy bản thân mình bị “dòng đời xô đẩy”, khó làm chủ được mọi tình huống, con giáp này sẽ xách ba lô lên đi du lịch một mình. Với họ, đó chỉ đơn giản là cách xả stress mà thôi, không có bất cứ bí mật ẩn giấu nào đâu nhé.
Tuổi Dần
Bản thân người cầm tinh con Hổ rất thích đi du lịch đó đây để được trải nghiệm những điều thú vị và mới mẻ trong cuộc sống. Bất kể thời tiết tốt xấu, giá thành đắt rẻ, hành trình vất vả gian nan… con giáp này đã quyết là sẽ làm tới cùng. Đặc biệt, họ rất thích tới những nơi huyền bí, ít người lui tới để tự mình khám phá.
Ngoài ra, lý do mà người tuổi Dần thích đi du lịch một mình là không phải gò bó theo một lịch trình cụ thể nào đó. Khi có hứng thì đi bất kể ngày đêm, nhưng lúc mệt mỏi thì phải ngủ cho thật đã. Họ chúa ghét bị người khác sắp đặt mọi chuyện hay phải chờ đợi ai đó làm lỡ dở chuyến hành trình đầy mạo hiểm của mình.
1. Nốt ruồi trên đỉnh đầu Nốt ruồi mọc ở chính giữa đỉnh đầu được gọi là Phúc tinh. Người có nốt ruồi này không chỉ vận đào hoa phát triển, nhân duyên tốt đẹp mà làm việc gì cũng như ý, tâm nghĩ sự thành. 2. Nốt ruồi ở đuôi mày Người có nốt ruồi ở đuôi mày, đặc biệt là nữ giới thường có số đào hoa, được nhiều người theo đuổi và tỏ ý ngưỡng mộ.
Ảnh minh họa
3. Nốt ruồi ở trong lông mày
Nếu có nốt ruồi mọc trong lông mày mà thoạt nhìn thì không thấy, phải vạch ra mới nhìn rõ thì gọi là “ngọc lẫn trong cỏ” (tức là nốt ruồi quý). Đây là nốt ruồi nhân duyên tốt, báo hiệu người này đang được nhiều người yêu đơn phương. 4. Nốt ruồi trong lòng bàn tay Người xưa quan niệm rằng, nốt ruồi trong lòng bàn tay là dấu hiệu của tiền duyên kiếp trước còn luân hồi sang kiếp này. Theo đó, tình duyên của người này tuy lúc đầu có chút bất lợi, nhưng tìm được đúng ý chung nhân còn vương vấn ở kiếp trước. 5. Nốt ruồi ở nách Người có nốt ruồi ở nách thường có số đào hoa. Tuy nhiên, đây là vận đào hoa tốt, dễ tìm được nửa kia phù hợp. Đồng thời, các mối quan hệ trong gia đình, xã hội cũng thuận lợi. Từ đó thúc đẩy công việc phát triển, cuộc sống hài hòa, yên bình. 6. Bên trái hoặc bên phải rốn có nốt ruồi Người có nốt ruồi ở bên trái hoặc phải rốn cũng có số đào hoa, được nhiều người yêu mến. Mối nhân duyên tốt đẹp nên cuộc sống yên bình, không phải trải qua nhiều sóng gió. 7. Nốt ruồi trên ngực Trong Nhân tướng học, nốt ruồi trên ngực nữ giới thể hiện sự sung túc, đủ đầy về vật chất và nhân duyên tốt. Người này dễ nổi danh trong thiên hạ, được nhiều người mến mộ. Tuy nhiên, không vì có số đào hoa mà người này tỏ ra kiêu căng hay kén chọn. Do đó, tình duyên của họ thuận lợi và sớm tìm được ý chung nhân. 8. Nốt ruồi ở khóe miệng (mép) Nếu ở khóe miệng (hay còn gọi là mép) có nốt ruồi, hoặc nốt ruồi nằm đúng vị trí này trên đường Pháp lệnh được coi là “phúc chí” (tức nốt ruồi may mắn). Dù là nam hay nữ, nếu có nốt ruồi này đều tốt, thường xuyên được đi đây đó du hí, thưởng thức cao lương mĩ vị của nhiều nơi khác nhau. Vì được đi nhiều, tiếp xúc rộng rãi nên mối nhân duyên cũng tốt đẹp. 9. Nốt ruồi ở tai Người có nốt ruồi ở tai thường phải chủ động trong tình cảm, bởi đối phương khá nhút nhát. Không những thế, họ sẵn sàng bất chấp tất cả để có thể chinh phục trái tim đối phương. 10. Nốt ruồi trên gò má Nốt ruồi này biểu thị bạn có thể thực hiện được lí tưởng của mình. Bằng thái độ tích cực và tình cảm chân thành, bạn sẽ dễ dàng chinh phục được trái tim đối phương.
Tuy nhiên, khi hai bên đã chính thức nói lời yêu thương thì bạn lại ít dành thời gian quan tâm, chia sẻ với nửa kia. Điều đó dễ khiến tình cảm bị rạn nứt. Tâm Nhân (Theo MGSP) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Kênh đào là công trình xây dựng nhân tạo, nó biểu thị của sự khếng chế tình cảm. Ngoài ra, hình ảnh kênh đào trong mơ còn cho thấy người nằm mơ đã thêm thắt quá nhiều khó khăn để ức chế tính sáng tạo của mình. Người nằm mơ cần đi sâu tìm hiểu chính b
1. Con gái mơ gặp anh chàng đẹp trai, phong độ ngời ngời, đây là tín hiệu cho thấy bạn sắp có người theo đuổi. Ngoài ra, giấc mơ này còn thể hiện sự mong muốn cháy bỏng của bạn về một tình yêu chân thành và sâu đậm.
2. Trong giấc mơ, bạn biết được đối phương là một hot boy điển trai nhưng lại không nhìn rõ khuôn mặt và dáng người anh ta ra sao. Chúc mừng bạn nhé, đây là điềm báo bạn sẽ được hạnh phúc bên người yêu trong tương lai.
Giấc mơ này còn cho thấy bạn đang lo lắng và tỏ ra trách móc đối phương vì đã không dành nhiều thời gian bên mình. Bạn mong muốn người ấy có thể bên bạn mọi lúc mọi nơi để bạn có cảm giác được yêu thương, chăm sóc và không phải nhớ nhung quá nhiều.
3. Nếu trong mơ bạn thấy mình và một anh chàng đẹp trai nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí là to tiếng cãi vã. Điều này tiết lộ tâm trạng đầy áp lực và thiếu tự tin để bày tỏ tình cảm với đối phương. Bạn lo rằng người ấy sẽ không thích mình hoặc đã có ý chung nhân nào đó.
4. Nếu nữ giới chưa có người yêu mơ thấy mình gặp hot boy hay bạch mã hoàng tử mà mình thần tượng bấy lâu, rất có khả năng bạn sẽ có người yêu trong thời gian ngắn nữa thôi. Tuy nhiên, tình yêu này có kéo dài hay không lại phụ thuộc khá nhiều vào đối phương. Hai bạn cần phải cùng nhìn về một hướng, biết chia sẻ và suy nghĩ cho nhau thì mới có thể kéo dài mối tình này.
Mr.Bull
Giải mã giấc mơ: Mơ thấy tàu thuyền
Mơ thấy tàu thuyền bị đốt cháy, điều này có nghĩa là hàng loạt “cây si” đang muốn kết thân và chờ đợi tình cảm của bạn.
Phòng ngủ là không gian nghỉ ngơi riềng tốt nhất sau một ngàv làm việc mệt nhọc căng thẳng, nó cần sự yên tĩnh và ấm cúng, khi tu sửa phải cân nhắc kỹ một cách tổng thể từ việc chọn vật liệu, màu sắc, bố cục đèn cho đến bài trí đồ đạc trong phòng. (1
Phòng ngủ là không gian nghỉ ngơi riềng tốt nhất sau một ngàv làm việc mệt nhọc căng thẳng, nó cần sự yên tĩnh và ấm cúng, khi tu sửa phải cân nhắc kỹ một cách tổng thể từ việc chọn vật liệu, màu sắc, bố cục đèn cho đến bài trí đồ đạc trong phòng.
(1) Chọn vật liệu
– Nên chọn loại vật liệu có tính hút và cách âm tốt, nếu là vải thì phải mềm mịn, đẹp mắt, có khả năng giữ ấm và hút âm thanh tốt. Chẳng hạn nên chọn dùng đá Đại lý, đá Hoa cương, gạch nung v.v… Những vật liệu cứng và gây cảm giác lạnh không thích hợp với phòng ngủ.
– Rèm che cửa sổnên chọn loại làm bằng vải hoặc mành che riềm hoa văn có khả năng che ánh sáng, chống nóng, giữ ấm và cách âm. – Nếu phòng ngủ có cả phòng vệ sinh bên trong thì phải xem xét đến đặc tính kỵ ẩm ướt của thảm nền và gỗ lát nền, nền phòng ngủ phải cao hơn so với nền phòng vệ sinh một chút, hoặc giữa chúng phải có vách ngăn cửa bằng đá hoặc gạch để tránh không khí ẩm ướt vào phòng ngủ.
(2) Thiết kế đèn chiếu sáng
Phòng ngủ là nơi để ngủ nghỉ, ngoài việc phải bố trí nguồn ánh sáng êm dịu dễ ngủ ra, quan trọng hơn còn phải có đèn chiếu sáng làm sao có thể hoá giải được áp lực căng thẳng trong sinh hoạt. Vì vậy, ánh sáng trong phòng ngủ vẫn phải lây đặc tính êm dịu làm chính. Đèn trong phòng ngủ có các loại đèn trần chiếu sáng tổng thể, đèn ngủ, đèn sáng đêm. Đèn trần nên lắp ở vị trí không gây kích thích đến mắt; đèn ngủ ánh sáng phải êm dịu tạo không khí lãng mạn; đèn chiếu sáng ban đêm tạo cám giác sáng khoái và thông thoáng.
(3) Thiết kế màu sắc
Màu sắc cho phòng ngủ nên tránh chọn màu gây kích thích mắt, thường chọn màu trung gian tạo cảm giác ấm áp, ôn hoà và yên ổn như màu trắng sữa, màu phấn hồng, màu vàng gạo.
(4) Bố cục bài trí
Có một chiếc giường ấm êm là van đề hết sức quan trọng, 1/3 thời gian đời người sống ở trên giường, ngủ được xem là việc rất quan trọng, vì vậy mà việc bài trí giường ngủ ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng giấc ngủ của mồi người, hãy đặt giường ở góc phòng và tựa vào tường, đầu giường tựa vào một bên vách tường. Đồ dùng và ga phủ giường tối thiểu phải cách nhau 70cm để tiện cho đi lại, đồ đạc kê đặt gọn gàng và tiện lợi khi sử dụng. Ánh sáng trong phòng ngủ không nên quá mạnh, giường không được đặt gần với nơi có ánh sáng mạnh, nếu không sẽ làm tinh thần bất an. Vì vậy, giường không được đặt ngay dưới cứửa sổ, và nên dùng rèm che cửa sổ để giảm độ sáng. Những đồ dùng có “hình tam giác” không nên bài trí trong phòng quá nhiều. Tranh treo đầu giường nên dùng các loại mang phong cảnh tự nhiên, cỏ hoa cây lá, không treo tranh hình hổ báo, muông thú; tránh treo hoa lan, hoa đoạn đới, không treo đèn loại lớn, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của chủ.
Sự vượt trội hơn người của những phụ nữ có tướng mũi diều hâu thường đưa đến sự thành công vẻ vang cho họ. Mũi giữ vai trò rất quan trọng trên khuôn mặt con người phụ nữ. Dù cho tai mắt miệng có hài hòa đẹp đến bao nhiêu mà mũi xấu xí lệch lạc thì kh
Tháng 7 âm lịch – tháng cô hồn được coi là một trong những dịp lễ tâm linh cực kì quan trọng của người phương Đông. Những truyền thuyết ma quỷ về tháng này được lưu truyền từ đời này qua đời khác, cùng với đó là những điều không nên làm trong tháng cô hồn.
► Tham khảo thêm: Những điều kiêng kỵ trong tháng cô hồn
Tháng 7 âm lịch – tháng quỷ lễ tương truyền là thời gian cửa địa ngục mở, các linh hồn vất vưởng quay trở lại trần gian. Vì thế, làm gì cũng phải hết sức chú ý kẻo phạm tâm linh. Dưới đây là những điều không nên làm trong tháng cô hồn, nhớ kĩ đừng quên.
1. Cắm đũa vào bát khi ăn cơm
Đũa cắm vào bát cơm là hình thức tế bái dành cho người đã khuất nên bình thường việc này cũng đã phải cấm kị huống chi là trong tháng cô hồn. Nếu không may mà làm như vậy thì thần linh, quỷ quái sẽ hiểu nhầm rằng đang cúng cơm cho chúng mà ghé thăm.
2. Đi dã ngoại vào buổi tối
Tháng 7 theo lịch âm là tháng quỷ môn rộng mở, cô hồn dã quỷ đều du đãng bên ngoài, nhất là vào ngày Rằm tháng Bảy – ngày chính tử, âm khí cực thịnh. Vì vậy, không nên dã ngoại, cắm trại, ngủ qua đêm ở bên ngoài. Nếu vạn bất đắc dĩ phải ra ngoài thì tránh gọi to tên nhau kẻo phát sinh chuyện không tốt.
3. Phơi quần áo qua đêm
Một trong những điều tuyệt đối không nên làm trong tháng cô hồn chính là không phơi quần áo qua đêm ở bên ngoài, nhất là quần áo của trẻ nhỏ kẻo âm khí của cô hồn dã quỷ ám vào gây bệnh tật, ốm đau.
4. Quên cúng tế tổ tiên
Rằm tháng 7 nhất thiết phải làm lễ tế bái tổ tiên và cúng xá tội vong nhân. Cúng tổ tiên để ghi nhớ nguồn cội, cung cấp thêm phẩm sức cho người thân nơi hoàng tuyền. Cúng xá tội vong nhân để cấp dưỡng cho quỷ đói, những linh hồn vất vưởng, chết đường chết chợ không quấy nhiễu gia đình mình.
5. Cử chỉ thô lỗ, bất kính
Dù là cúng tổ tiên hay cúng vong hồn đều phải lễ lạt đầy đủ, thái độ thành kính, không thể vui vẻ ra mặt, cười nói đùa giỡn, cử chỉ lỗ mãng, phá phách. Như vậy sẽ khiến các vong hồn nổi giận, quở phạt. Hãy ghi nhớ điều không nên làm trong tháng cô hồn này.
6. Ăn đồ cúng cô hồn
Đồ dùng để cúng cô hồn là cung cấp cho quỷ đói, người sống không nên ăn.Chớ nhầm lẫn giữa lễ Vu Lan và lễ cúng Cô hồnNghiệp báo và tinh thần vị tha của Phật giáo trong tục cúng cô hồnHóa giải xui xẻo dồn dập ập tới không chỉ trong tháng cô hồn Tâm Lan Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Trong công trình làm sang tỏ khoa lý học tử vi, những lúc gần đây người ta không thể quên tên của những loạt bài “Thần Kê định số”, của nguồn gốc khoa tử vi, của hình tượng của Nhật Nguyệt và những tác giả thâm lý vô cầu Võ Văn Châu, Vi Nhật, Phong Nguyên trên KHHB của năm cũ Giáp Dần 1974. Trước thềm xuân niên tuế Ất Mão, kẻ viết xin khai bút gọi là chút đóng góp (trong muôn một và đa diện của khoa Tử vi) với tâm ý: 1 ngày nào đó tử vi trở thành 1 học khoa của sinh hoạt đại học (trên các lĩnh vực nhân văn và quản trị). Chiều hướng trên có thể là 1 tham vọng, một khi những ai dấn than vào tử vi để hủ hóa thêm cho ngành này (bằng thái độ tự tôn, thành kiến, cố chấp, bảo thủ), mà cũng có thể là cao vọng khả chấp, một khi mọi giới thức giả trong vị thế và lãnh vực của mình, áp dụng tử vi trong sự cảnh giác: vừa nghiệm lý, vừa khai phóng. Có nghiệm lý mới thấy rõ hậu quả của bản số và thế tương quan cơ cấu giữa các tinh đẩu. Có khai phóng mới cập nhật hóa được những dữ hiện xưa trong hình thái hiện hữu, bới cung cách cổ điển vẫn tồn tại ẩn kín trong văn hóa kim thời. Bài viết kỳ này xin triển khai “Mười Liên Đới Cơ Cấu của Tử Vi” – gọi là mở ngõ và gợi ý cho lĩnh vực xã hội học…
CHÍNH BẤT NHƯ CHIẾU: THẠCH TRUNG ẨN NGỌC
Tử vi có tất cả 14 chính diệu, được coi là các giới tinh “đỡ đầu cho cung trấn đóng và ai cũng phải nhìn nhận cặp Thái Dương – Thái Âm chủ về sự soi sang. Trực chiếu (hay còn gọi là xung chiếu thì mạnh mẽ hơn là tam hợp chiếu. Đại vận vào ngay cung của Nhật Nguyệt (vị thế sáng sủa) bị lòa sáng làm đẹp và không tốt bằng Đại vận ở cung được Nhật Nguyệt chiếu. thế nên khi Cự môn (là cửa thành, cửa nhà quan: nếu đóng ở Ngọ thì nên gọi là ngọ môn, cho chính danh nơi vua ở, và bên trong hẳn phải chất chứa bao điều bí mật về tài sản, về phong cách), đóng ở cung Tý luôn có Thái Dương ở cung Thìn rọi sang (tam hợp chiếu). Đèn chiếu tới cửa, nhưng cửa cài, then đóng, làm sao thấy được gì ở trong? Vậy cần phải có những yếu tố mở ngỏ (nội công thì ngoại kích mới hữu hiệu) nằm vùng ngay tại cung của Cự Môn, như Tuần Triệt, Song Hao, Kình Dương – nỗ lực làm sao cho cửa thành được mở ra, lúc ấy, đèn trời (Thái Dương) mới tỏa rạng ở cung của Cự môn, phơi bày cả 1 kho tang mà Cao chu Thần tướng cao hứng ngâm vịnh: "Kho trời chung mà vô tận của mình riêng".
Biện chứng tương tự cho trường hợp Cự Môn ở cung Ngọ (ngọ môn – khó khăn lắm mới mở được cửa nhà vua), luôn luôn có Thái Dương ở cung Tuất (lâm vào vị thế kém sang), nhưng nếu Thái Dương (ở Tuất) gặp Hóa Kị hay Thiên tài, hoặc giả được đám sao Đào hồng Linh Hỏa hội nhập (nhị hợp, tam hợp….) tiếp sức cho sao anh rọi sáng cung Ngọ, đồng thời Cự môn tại Ngọ bị Tuần Triệt, Song Hao, Kình đục phá thì rồi núi cũng phải lở huống chi chỉ là cửa thành? Mà khi cửa nhà vua bật mở tung, chắc chắn đèn trời Thái Dương còn được chói rạng hơn (vì trân châu, hột xoàn của kho vua lấp lánh). Thành ra “thạch trung ẩn ngọc” chỉ là 1 cách nói tượng trưng của người xưa (ý tại ngôn ngoại). Trong chiều hướng biện giải này, lá số của vị nguyên thủ quốc gia (đăng trong Tử vi Tổng hợp của ông Nguyễn Phát Lộc) có cách “Thạch trung ẩn ngọc” đặc biệt (tạm gọi là đệ tam cách) là Thái Dương ở Tị rọi sang (ngon lành) cho Cự Môn ở hợi (có Tuần, Đại Hao, Không Kiếp), hiệu lực của đệ tam cách chưa biết nghiệm lý ra sao? Có điều chắc chắn: Những bản số nào thuộc cách Cự môn tại Ngọ thiếu thời tân khổ lắm (đục cửa nhà vua tất nhiên phải vất vả)., qua trung niên và hậu vận lại phong túc, vẻ vang tột cùng
VÒNG THÁI TUẾ: CHÌA KHÓA CỦA QUẢN TRỊ HỌC
Căn bản của tử vi thuyết Thiên Lương là vòng Thái Tuế. Cho đến nay, tuy có nhiều gười hâm mộ sự phát kiến của cụ nhưng rất ít người hiểu rõ những hiệu lực nền tảng của vòng sao chất chứa mệnh tính này, thành ra ngộ nhận 1 cách bất thuận lợi cho khoa tử vi (chứ không phải cho người phát kiến) như tác giả 1 cuốn sách tử vi mới phát hành vào đầu năm 1975
Vòng Thái Tuế là tam giác liên kết 3 cung mạng năm sinh của tuổi (Ví dụ sinh năm Mão thì vòng Thái tuế là tam giác nối 3 cung Hợi Mão Mùi). Vòng này thiết lập ra để đối chiếu tính cách sinh khắc với tam giác của 3 cung Mệnh Quan Tài (được coi là vòng tha nhân, đã trình bày ở bài “10 điều tâm niệm khi đoán số tử vi”. Cụ Thiên Lương gọi vòng Thái tếu là vòng Thiên thời, để tìm xem đại vận nào tốt nhất trong đời (ông Trần VIệt Sơn đã khai triển nhiều lần). Nhưng có 1 khía cạnh tối quan trọng của vòng Thái tuế mà ít người lưu tâm là tính chất phẩm hạnh và tác phong của bản số tử vi. Một cách dễ hiểu hơn, người viết xin đặt tên cho vòng Thái Tuế là “Vòng Quản Trị” (Cycle of managerial functions), để góp phần hệ thống hóa mô thức điều hành xã hội trên thuật hướng vương đạo của tiền nhân. Mô thức phân quyền của Montesquieu tiên sinh nếu lồng vào Vòng Quản trị của khoa tử vi, sẽ diễn tiến như sau:
3 đỉnh của tam giác vòng quản trị là Thái Tuế - Quan Phù – Bạch hổ, mỗi đỉnh là 1 cục bộ của chủ quyền quốc gia: Lập pháp – Hành Pháp và Tư Pháp. Ý nghĩa dân chủ của thể chế chính trị tiến bộ là hình thái phân quyền để chủ quyền quốc gia được lành mạnh và quốc dân phú cường. hình thái học của khảo hướng phân quyền là như thế, nhưng động lực thực hiện được phân quyền tốt đẹp thuộc khoa quản trị học. Dùng người đúng chỗ là ưu điểm của nhà lãnh đạo, áp dụng vào mô thức vòng quản trị của tử vi, ta có ngay sự sắp xếp thích nghi:
Người có cung Mệnh, Thân nằm trên đỉnh Bạch Hổ chủ về cái mạnh bạo, mẫn cán và anh hung của kẻ dám làm những điều chính đáng tốt lành. Quyền Hành pháp trao cho người Bạch Hổ là hành pháp mạnh nhưng không chuyên quyền quá đà
Người có cung Mệnh, Thân nằm trên đỉnh Quan Phù chủ về sự tính toán minh bạch, tham khảo rạch ròi kẻ tóc chân tơ của người ngay chính cẩn thận. Quyền Tư pháp nằm trong tay những người Quan Phù thì luật pháp được phê sử công minh và thích hợp với sở cầu của xã hội
Người có cung Mệnh, Thân nằm trên đỉnh Thái Tuế chủ sự trầm mặc, đoan chính, có tác phong nghiêm nghị và lý luận, luôn luôn đường hoàng và tự tín. Quyền Lập pháp trao cho người Thái Tuế là an ninh tinh thần của dân chúng, luật pháp được thượng tôn, cán cân công lý được duy trì nghiêm cẩn
ĐỊA KIẾP CHỈ ĐỐI VỚI THIÊN LƯƠNG
Phép đối ngẫu của cổ văn chương Việt Hoa đối âm, đối tiếng và đối nghĩa. Trọng bộ Lục bại tinh của tử vi có đôi sao Địa Kiếp – Địa Không được an theo giờ sinh, xuất phát từ cung Hợi theo chiều Âm Dương (là căn bản của thuật số huyền học Đông phương). Sự hiệu nghiệm của 2 sao này đã quá rõ rang: Chúng đóng ở cung nào là y như có chuyện lình xình ở cung đó; chiến lược của phản trắc tính Không Kiếp không thể phủ nhận, tất yếu sự hiện hữu là 1 mặc nhiên. Nhưng có vị trí giả đề nghị hủy giải sao Địa Không vì cho rằng tính lý không hạp đôi với Địa Kiếp và thay vào đó bằng sao Thiên Không. Kẻ viết vốn rất ngưỡng mộ sự canh cải, để phục hồi giá trị cho khoa nhân văn tử vi, nhưng không thể vì định kiến chỉ nam ấy mà quên giá trị nghiệm lý của cơ cấu các sao trên lá số. Xin trình làng 2 lý do:
Phép đối ngẫu Địa Kiếp (2 âm trắc) đối âm với Thiên Lương (2 âm bằng). Địa Kiếp là thực tự hợp với Thiên Lương (cũng là thực tự của cổ văn). Quan trọng hơn là xét đối nghĩa: Địa Kiếp chỉ quân ăn cướp ở dưới trần thế, thì Thiên Lương chỉ bậc hảo thiện ở trên trời. Trong khi Thiên Không chỉ có thể coi là hư tự của cổ văn và càng vô nghĩa khi phải đối với Địa Kiếp? Vậy thì càng không nên xét việc hủy thể Địa Không bằng đối luận
Vai trò của Thiên Không: trong phép an sao Thái Tuế có sự định chuẩn rõ rang: trước Thái Tuế là Thiên Không và sau Thái Tuế là Quán sách:
”Tuế tiền nhất vị thị thiên thiếu Hậu nhất vị quán sách, Trực phù
(Thiên Không và Thiếu Dương ở cung đằng trước Thái Tuế và Quán Sách, Trực Phù ở cung đàng sau Thái Tuế). Người rành luật “bi sắc tư phong” (lý thừa trừ) của Vòng Thái Tuế, càng không thể phủ nhận sự đóng góp của sao Thiên Không khi nó luôn xuất hiện với “tam giác thiên tả” là Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức (1 hệ phái thoát ly của vòng Thái Tuế), để thử thách người đời. Bởi vì vào đại vận của tam giác thiên tả, đương số lọt ngay vào sự bảo bọc của bộ sao tứ đức (Phúc Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Long Đức) hợp chiếu, chưa kể các phúc tinh khác như Quan Phúc, Quang Quý, Khóa Khoa, luôn luôn là như vậy mà tại sao cứ vào Đại vận hay Tiểu vận này, thiên hạ long đong lận đận khôn cùng? Sự kiện này chỉ có thể hiểu được khi có bộ mặt Thiên Không phá đám, khuấy đảo và dụ dỗ đám hư tinh Đào hồng vào chỗ tuyệt lộ.
Vậy thì xin trả cái gì của César cho César để tử vi khỏi mất mát cái chính lý của nó
LUẬN VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG NGỘ
Khoa lý học Đông Á coi lẽ Âm Dương như định lý biến dịch, và lấy ngũ hành làm hệ luận sinh khắc. Chu trình Ngũ hành sinh và Ngũ hành khắc đều là 1 chu trình khép kín. Ai nấy đều thông lý rõ rang và không có gì thắc mắc. Nhưng trường hợp đồng hành của Ngũ hành thì thật là phức tạp, nhiều ý kiến trái ngược: tốt có và xấu cũng có. Theo sách hồng Vũ cẩm Thư của Dương Quân Tùng (Trung Hoa) thì trường hợp Ngũ hành tương ngộ tạo ra 3 hình thái: Thắng – hòa và bại như sau:
Đồng hành Mộc: thắng, tươi tốt
Đồng hành Kim: thắng, phong phú
Đồng hành Thổ: hòa, vừa phải
Đồng hành Hỏa: bại, khẩu thiệt
Đồng hành Thủy: thái quá
Việc này đem áp dụng vào công dụng lý đoán các sao và các cung trên tính cách bản hành nhất là Đại vận của Thái Tuế sẽ thấy rõ hiệu lực của mức độ thành- bại mỗi người.
Ví dụ: người mạng Thổ nhập hạn Thái Tuế ở cung Mùi (Thổ) không thể thoải mái, vẻ vang bằng người mạng Kim mà lại nhập hạn Thái tuế ở cung Thân hay Dậu (Kim).
Xem hướng nhà theo tuổi: Nữ tuổi Dần nên và không nên làm nhà the
Xem hướng nhà theo tuổi là việc cần thiết để có nơi ở phù hợp với bản mệnh. Xin hướng dẫn xem hướng nhà tốt xấu cho phụ nữ tuổi Dần, mời bạn đọc tham khảo.
Xem hướng nhà theo tuổi là việc cần thiết để có nơi ở phù hợp với bản mệnh, mang lại may mắn, hành thông và nhiều phúc khí cho bản thân cùng gia đình. Xin hướng dẫn xem hướng nhà tốt xấu cho phụ nữ tuổi Dần, mời bạn đọc tham khảo.
Phụ nữ đứng chủ gia đình là người sẽ quyết định ngôi nhà nên đặt ở hướng nào thì tốt. Hướng tốt, hợp phong thủy chính là khởi đầu tốt đẹp mà bất cứ người nào cũng mong muốn. Phụ nữ tuổi Dần hãy dựa theo những gợi ý xem hướng nhà theo tuổi để ưu tiên chọn hướng đẹp, hợp với hoàn cảnh thực tiễn.
1. Tuổi Canh Dần 2010 – mệnh Đoài
- Hướng tốt: Hướng Tây Bắc - Sinh khí: Nhà này lúc đầu rất tốt, tài lộc nhân đinh đều vượng, nhưng do hướng nhà khắc sao Mộc tinh nên về sau sa sút, kinh tế kém, nhiều khó khăn. Hướng Đông Bắc - Diên niên: Nhà này giàu sang phú quý, nhân khẩu tăng, sức khỏe mọi người tốt, gia đình hạnh phúc, con cái thông minh và thành công trong cuộc sống. Mọi người đều có tuổi thọ cao.Hướng Tây Nam – Thiên y: Nhà này lúc đầu phát đạt nhanh, giàu có, nhưng về sau nam giới tổn thọ, phụ nữ nắm quyền trong gia đình, khó có con trai nối dõi.- Hướng xấu: Hướng Đông – Tuyệt mệnh: Nhà này không hưng vượng, nhân đinh thiệt hại, nhà thường lo buồn, kinh tế sa sút.Hướng Đông Nam – Lục sát: Nhà này sống không thuận lợi. Phụ nữ dễ xích mích, bị bệnh, chịu cô quả, bị thương, trưởng nữ dễ bị tổn thương. Làm ăn kinh doanh sa sút, khó phát triển.Hướng Bắc – Họa hại: Nhà này lúc đầu cũng có của nhưng không giàu có, về sau càng nghèo khó. Thiếu nữ dễ bị tổn thương, nhất là khi sinh nở.Hướng Nam – Ngũ quỷ: Nhà này lắm chuyện thị phi, anh em bất hòa, kinh tế suy bại dần, thiếu nữ trong nhà dễ bị tổn thương, bệnh tật. Xem thêm bài viết 12 con giáp mua nhà năm nào được tuổi, hướng nhà nào phát tài phát lộc?
2. Tuổi Mậu Dần 1998 – mệnh Tốn
- Hướng tốt: Hướng Bắc – Sinh khí: Nhà này được công danh phú quý song toàn, có danh có tiếng. Con cái ngoan hiền thành đạt có công danh hiển hách.Hướng Đông – Diên niên: Nhà này giàu có, thăng tiến, công danh hiển đạt, con trai và con gái đều phát triển.Hướng Nam – Thiên y: Xem hướng nhà theo tuổi, nhà này những năm đầu được phú quý. Người trong nhà sống lương thiện, nữ giới phát triển, nam giới vận khí kém.- Hướng xấu:Hướng Đông – Phục vị: Nhà này âm vượng, dương suy, nên nam giới trong nhà kém hơn nữ giới. Nhà này lúc đầu khá giả, tăng nhân đinh. Nhưng về sau nhân đinh kém dần, con trai dễ đoản thọ. Phụ nữ nắm quyền trong gia đình và nuôi con.Hướng Đông Bắc – Tuyệt mệnh: Nhà này rất xấu, kinh tế suy bại, nhà thiệt nhân đinh, nữ giới bệnh tật khó chữa. Phụ nữ khó nuôi con.Hướng Tây – Lục sát: Nhà này lúc đầu làm ăn cũng có của, nhưng về sau sa sút. Âm thịnh dương suy nên nam giới dễ đoản thọ, trưởng nữ trong nhà hay ốm đau và thương tật.Hướng Tây Bắc – Họa hại: Xem hướng nhà tốt xấu cho phụ nữ tuổi Dần, nhà này lúc đầu có tài lộc, nhưng về sau suy. Nhiều tai họa xảy ra, phụ nữ đặc biệt là trưởng nữ dễ bị tổn thương, khó sinh đẻ.Hướng Tây Nam – Ngũ quỷ: Người trong nhà hay bị đau ốm, bệnh tật; tài sản suy bại, nhiều chuyện thị phi, người mẹ gánh chịu nhiều bệnh tật và tổn thọ.
3. Tuổi Bính Dần 1986 – mệnh Khảm
- Hướng tốt:Hướng Đông Nam – Sinh khí: Nhà này phú quý; con cái đều thông minh, hiển đạt; vợ chồng hòa thuận, con cái hiếu thảo; hạnh phúc lâu bền; trường thọ.- Hướng xấu:Hướng Nam – Diên niên: Ban đầu căn nhà có vẻ phát sinh thuận lợi, nhưng sau gia sản suy dần, con cháu vận khí kém, nhất là người tuổi trung nam.Hướng Đông – Thiên y: Nhà này lúc đầu hưng vượng, nhưng về sau kém dần, nhân khẩu không tăng. Gia đình hòa thuận, sống nhân nghĩa, phụ nữ sẽ kém hơn nam giới, người phụ nữ dễ bị bệnh.Hướng Bắc – Phục vị: Nhà này lúc đầu phát đạt, giàu có. Nhưng do nhà thuần dương nên âm suy, vợ con sức khỏe kém.Hướng Tây Nam – Tuyệt mệnh: Nhà này dễ thiệt hại nhân đinh, nhiều chuyện thị phi, nhà ở bất an, gia sản suy bại.Hướng Bắc – Lục sát: Nhà này lúc đầu có của ăn của để, nhưng sau bị sa sút, làm ăn thất bại, kinh tế khó khăn. Do nhà thuần dương, âm suy nên phụ nữ dễ bị suy yếu.Hướng Tây – Họa hại: Nhà này nhiều chuyện thị phi trai gái, cờ bạc, gia sản suy bại, làm ăn kinh doanh hay gặp trắc trở và thất bại.Hướng Đông Bắc – Ngũ quỷ: Nhà này nhiều chuyện thị phi, anh em bất hòa, hay tranh chấp kiện tụng. Về kinh tế thường nghèo khó, không giàu. Xem thêm bài viết Mua nhà phải biết: Nhà hướng Tây Nam có tốt không?
4. Tuổi Giáp Dần 1974 – mệnh Đoài
- Hướng tốt: Hướng Tây Bắc - Sinh khí: Nhà này lúc đầu rất tốt, tài lộc nhân đinh đều vượng, nhưng do hướng nhà khắc sao Mộc tinh nên về sau sa sút, kinh tế kém, nhiều khó khăn. Hướng Đông Bắc - Diên niên: Nhà này giàu sang phú quý, nhân khẩu tăng, sức khỏe mọi người tốt, gia đình hạnh phúc, con cái thông minh và thành công trong cuộc sống. Mọi người đều có tuổi thọ cao.Hướng Tây Nam – Thiên y: Nhà này lúc đầu phát đạt nhanh, giàu có, nhưng về sau nam giới tổn thọ, phụ nữ nắm quyền trong gia đình, khó có con trai nối dõi.- Hướng xấu: Hướng Đông – Tuyệt mệnh: Nhà này không hưng vượng, nhân đinh thiệt hại, nhà thường lo buồn, kinh tế sa sút.Hướng Đông Nam – Lục sát: Nhà này sống không thuận lợi. Phụ nữ dễ xích mích, bị bệnh, chịu cô quả, bị thương, trưởng nữ dễ bị tổn thương. Làm ăn kinh doanh sa sút, khó phát triển.Hướng Bắc – Họa hại: Nhà này lúc đầu cũng có của nhưng không giàu có, về sau càng nghèo khó. Thiếu nữ dễ bị tổn thương, nhất là khi sinh nở.Hướng Nam – Ngũ quỷ: Nhà này lắm chuyện thị phi, anh em bất hòa, kinh tế suy bại dần, thiếu nữ trong nhà dễ bị tổn thương, bệnh tật.
5. Tuổi Nhâm Dần 1962 – mệnh Tốn
- Hướng tốt: Hướng Bắc – Sinh khí: Nhà này được công danh phú quý song toàn, có danh có tiếng. Con cái ngoan hiền thành đạt có công danh hiển hách.Hướng Đông – Diên niên: Nhà này giàu có, thăng tiến, công danh hiển đạt, con trai và con gái đều phát triển.Hướng Nam – Thiên y: Xem hướng làm nhà, nhà này những năm đầu được phú quý. Người trong nhà sống lương thiện, nữ giới phát triển, nam giới vận khí kém.- Hướng xấu:Hướng Đông – Phục vị: Nhà này âm vượng, dương suy, nên nam giới trong nhà kém hơn nữ giới. Nhà này lúc đầu khá giả, tăng nhân đinh. Nhưng về sau nhân đinh kém dần, con trai dễ đoản thọ. Phụ nữ nắm quyền trong gia đình và nuôi con.Hướng Đông Bắc – Tuyệt mệnh: Nhà này rất xấu, kinh tế suy bại, nhà thiệt nhân đinh, nữ giới bệnh tật khó chữa. Phụ nữ khó nuôi con.Hướng Tây – Lục sát: Nhà này lúc đầu làm ăn cũng có của, nhưng về sau sa sút. Âm thịnh dương suy nên nam giới dễ đoản thọ, trưởng nữ trong nhà hay ốm đau và thương tật.Hướng Tây Bắc – Họa hại: Xem hướng nhà cho phụ nữ tuổi Dần, nhà này lúc đầu có tài lộc, nhưng về sau suy. Nhiều tai họa xảy ra, phụ nữ đặc biệt là trưởng nữ dễ bị tổn thương, khó sinh đẻ.Hướng Tây Nam – Ngũ quỷ: Người trong nhà hay bị đau ốm, bệnh tật; tài sản suy bại, nhiều chuyện thị phi, người mẹ gánh chịu nhiều bệnh tật và tổn thọ.
Xem thêm bài viết Mua nhà phải biết: Nhà hướng Tây Bắc có tốt không?
6. Tuổi Canh Dần 1950 – mệnh Khảm
- Hướng tốt:Hướng Đông Nam – Sinh khí: Nhà này phú quý; con cái đều thông minh, hiển đạt; vợ chồng hòa thuận, con cái hiếu thảo; hạnh phúc lâu bền; trường thọ.- Hướng xấu:Hướng Nam – Diên niên: Ban đầu căn nhà có vẻ phát sinh thuận lợi, nhưng sau gia sản suy dần, con cháu vận khí kém, nhất là người tuổi trung nam.Hướng Đông – Thiên y: Nhà này lúc đầu hưng vượng, nhưng về sau kém dần, nhân khẩu không tăng. Gia đình hòa thuận, sống nhân nghĩa, phụ nữ sẽ kém hơn nam giới, người phụ nữ dễ bị bệnh.Hướng Bắc – Phục vị: Nhà này lúc đầu phát đạt, giàu có. Nhưng do nhà thuần dương nên âm suy, vợ con sức khỏe kém.Hướng Tây Nam – Tuyệt mệnh: Nhà này dễ thiệt hại nhân đinh, nhiều chuyện thị phi, nhà ở bất an, gia sản suy bại.Hướng Bắc – Lục sát: Nhà này lúc đầu có của ăn của để, nhưng sau bị sa sút, làm ăn thất bại, kinh tế khó khăn. Do nhà thuần dương, âm suy nên phụ nữ dễ bị suy yếu.Hướng Tây – Họa hại: Nhà này nhiều chuyện thị phi trai gái, cờ bạc, gia sản suy bại, làm ăn kinh doanh hay gặp trắc trở và thất bại.Hướng Đông Bắc – Ngũ quỷ: Nhà này nhiều chuyện thị phi, anh em bất hòa, hay tranh chấp kiện tụng. Về kinh tế thường nghèo khó, không giàu.Giải đáp những thắc mắc thường gặp để xác định hướng nhà tốtXem hướng nhà theo tuổi: Nam tuổi Dần nên và không nên làm nhà theo hướng nào?Những điều không thể không biết để chọn hướng nhà hợp phong thủy Thái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Cưới Hỏi / Giỗ Tết Tế Lễ / Giao Thiệp /Đạo Hiếu / Lễ Tang / Sinh Dưỡng / Chọn Ngày Giờ
Phong tục có thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật. Trong truyền thống văn hoá của dân tộc ta, có nhiều thuần phong mỹ tục cần cho đạo lý làm người, kỷ cương xã hội.
Một cuộc cách mạng có thể thay đổi chính thể nhanh chóng, tiếp theo sau hàng loạt hệ thống pháp luật được thay đổi. Phong tục cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội, nhưng dai dẳng hơn và có quy luật riêng của nó, không dễ gì một sớm một chiều đã được mọi người, mọi nhà, mọi tầng lớp tuân theo. Vì tục hay thì nhiều người bắt chước nhau làm, tục dở nhiều người cũng sẽ bắt chước nhau bỏ dần.
Bản thân các phong tục cũng nằm trong cuộc đấu tranh xã hội đã, đang và sẽ tiếp diễn mãi giữa cái cũ và cái mới. Ngay như quan niệm về thẩm mỹ cũng luôn biến đổi. Ví dụ, cái búi tóc của nam giới rõ ràng là lạc hậu song cũng phải qua quá trình đấu tranh lâu dài mới mất đi, nhưng bộ răng đen của nữ giới ngày xưa được ca tụng là đẹp, là duyên dáng, mấy năm sau Cách mạng Tháng Tám chẳng ai bắt buộc gò ép mà tự nhiên biến mất nhường chỗ cho hàm răng trắng.
Phong trào xây dựng nếp sống văn hoá mới hiện nay, không phải chỉ đơn thuần dựa vào ý nghĩ chủ quan mà phải biết vận dụng thuần phong mỹ tục vào nếp sống, nếp suy nghĩ, hành động, cách đối nhân xử thế, hợp với trào lưu tiến hoá. Có những phong tục cổ truyền xuất xứ từ kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc sống thời xưa, đến nay không hợp thời nữa, trở thành đồi phong bại tục, ta cũng cần nghiên cứu để biết nguyên do, từ đó mới vận dụng cho thích hợp với hiện tại và tương lai, hoặc tìm những phong tục hay để bổ kết mà loại trừ dần những cái dở.
Tất nhiên, bản chất mỗi cá nhân cũng phải sống, giao tiếp, hoà nhập với cộng đồng xã hội, những kiểu cách rởm, trái với phong tục, bản sắc dân tộc, trái với con mắt của đông đảo quần chúng sẽ tự đào thải và bị loại trừ dần. Suy rộng ra phong tục cũng vậy, phục hồi và phát huy thuần phong tục, chắc chắn sẽ được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ, hoan nghênh; phục hồi làm sống lại những đồi phong bại tục sẽ bị xã hội lên án.
Những nội dung trình bày dưới dạng hỏi đáp trong cuốn sách này chỉ nhằm giải đáp phần nào xuất xứ của các phong tục đã tồn tại ở nước ta, để các bạn tham khảo, tự phân tích, cái nào hay nên theo, cái nào dở nên bỏ, cái nào còn hạn chế những xét thấy chưa thể bỏ ngay thì tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà châm chước vận dụng cho thích hợp...
Bản thân tác giả cũng mong góp được một phần nhỏ trong cuộc đấu tranh nói trên. Rất mong nhận được sự thông cảm, ủng hộ cũng như sự góp ý chân tình của đông đảo bạn đọc gần xa.
Phương vị nuôi cá phát tài phát lộc cho 12 con giáp (P1) Bể cá không chỉ có tác dụng làm cảnh mà còn cải thiện sinh khí, vận khí, mang lại tài lộc trong phong thủy. Mỗi con giáp khác nhau có phương vị nuôi cá tương Trong phong thủy, số lượng cá nuôi khác nhau tương ứng với ngũ hành và mang ý nghĩa không giống nhau. Nhưng nhìn chung, người ta thích nuôi cá theo số 1, 4, 6 và 9 vì ý nghĩa cát tường.
1 con cá: thuộc hành Thủy, làm tăng sức mạnh của Thủy. Thủy lại thúc vượng tài khí, được coi là cát tường.
4 con cá: thuộc hành Kim, có thể vượng Thủy, Thủy khí gia tăng thì tài khí ắt vượng.
6 con cá: thuộc hành Thủy, có thể tăng Thủy khí, sinh vượng tài nên tốt.
9 con cá: thuộc hành Kim, có thể sinh Thủy khí, thúc vượng tài khí nên rất tốt.
Phương vị nuôi cá phát tài phát lộc cho 12 con giáp cụ thể như sau:
Tuổi Ngọ
Ngọ Hỏa, Hỏa khắc Kim sinh Tài. Ngọ khắc Thân, Dậu nên có thể nuôi cá ở hướng Tây Nam và Tây (2 hướng đặc trưng của tuổi Thân và Dậu).
Vì đào hoa vị của Dần Ngọ Tuất ở Mão, Mão hướng Đông nên đây cũng là phương vị lí tưởng để người tuổi Ngọ nuôi cá.
Phương vị nuôi cá phát tài phát lộc của người tuổi Ngọ: Tây Nam, Tây và Đông.
Tuổi Mùi
Mùi Thổ, Thổ khắc Thủy sinh tài. Mùi khắc Tý, Hợi nên có thể nuôi hay đặt bể cá ở hướng Bắc và Tây Bắc.
Bên cạnh đó, đào hoa vị của Hợi Mão Mùi ở Tý, Tý hướng Bắc.
Do đó, phương v ị nuôi cá của người tuổi Mùi: Bắc, Tây Bắc
Tuổi Thân
Thân Kim, Kim khắc Mộc sinh tài. Thân khắc Dần, Mão nên có thể nuôi cá ở hai hướng đặc trưng của những con giáp này là Đông Bắc và Đông.
Đào hoa vị của Thân Tý Thìn ở Dậu, Dậu hướng Tây, nên đây cũng là vị trí tốt để người tuổi Thân nuôi cá.
Phương vị nuôi cá của người tuổi Thân: Đông Bắc, Đông và Tây.
Tuổi Dậu
Dậu Kim, Kim khắc Mộc sinh Tài. Dậu khắc Dần, Mão nên có thể nuôi cá ở hướng Đông Bắc và Đông.
Vì đào hoa vị của Tỵ Dậu Sửu ở Ngọ, Ngọ hướng Nam nên đây cũng là phương vị nuôi cá phù hợp dành cho người tuổi Dậu.
Phương vị nuôi cá của người tuổi Dậu: Đông Bắc, Đông và Nam.
Tuổi Tuất
Tuất Thổ, Thổ khắc Thủy sinh tài. Tuất khắc Tý, Hợi, nên có thể nuôi cá ở hai phương vị tương ứng là Bắc và Tây Bắc.
Dần Ngọ Tuất có đào hoa vị ở Mão, Mão hướng Đông. Do đó, đây cũng là vị trí nuôi cá lí tưởng dành cho người tuổi Tuất.
Phương vị nuôi cá của người tuổi Tuất: Bắc, Tây Bắc và Đông.
Trưng biểu tượng phong thủy để sự nghiệp thăng tiến không ngừng Ngoài ý nghĩa về dòng chảy tài lộc, Thủy còn giúp khơi nguồn cảm hứng và sáng tạo trong công việc. Tuổi Hợi
Hợi Thủy, Thủy khắc Hỏa sinh tài. Hợi khắc Tỵ, Ngọ nên có thể nuôi hay đặt bể cá ở hai hướng tương ứng là Đông Nam và Nam.
Vì đào hoa vị của Hợi Mão Mùi ở Tý, Tý hướng Bắc. Đây cũng là vị trí phù hợp để bạn nuôi hay đặt bể cá.
Phương vị nuôi cá của người tuổi Hợi: Đông Nam, Nam và Bắc.
► Tham khảo thêm: Những vật phẩm phong thủy giúp phát tài, phát lộc
1 – Tướng người ngay thẳng Tướng tổng quát của nhân viên giúp việc ngay thẳng là Ngũ quan đoan chính, Nhất là mũi cần đặc biệt chú ý. Mũi ngay ngắn nhưng hếch hoặc Chuẩn đầu như mỏ chim ưng là tướng người nguỵ quân tử dù cho Ngũ quan ngay thẳng.
Trong trường hợp Mũi không có dạng mỏ chim, Ngũ đoan quan chính, ta vẫn phải dè dặt nếu chưa quan sát kỹ càng ánh mắt và ngôn ngữ, Kẻ mà ánh mắt nhìn thẳng, ăn nói không ba hoa rườm rà mới là người tâm địa ngay thẳng, thiện lương thực sự.
2 – Tâm tướng người ngu đần
Cặp lông mày đậm và lan xuống bờ mắt, Mắt ngắn và nhỏ, môi vẩu, răng khếp khểnh, cử chỉ châm lụt, cứng nhắc như cây gỗ mục nói năng hàm hồ.
3 – Tướng người ngang bướng
Các bộ vị giúp ta quan sát được tính người ngang bướng là lông mày và mắt. Lông mày thô đậm hoặc nghịch loạn, hoặc xương chân mày quá cao, quá thấp, mắt lồi hoặc tròn lốn hoặc lòng trắng hơi vàng đều là các chỉ dấu khá chính xác.
4 – Tướng người háo sắc
Loại tướng người háo sắc được biểu lộ ở phần ngoại biểu như hai mắt mục thần si dại như người ngái ngủ ( tuý nhãn ) hoặc ánh mắt ướt át, hoặc có dạng thức của Đào – hao – nhãn, trang phục chau chuốt quá đáng, mỗi khi nhìn thấy phụ nữ có chút nhan sắc hấp dẫn thì ánh mắt đưa đẩy, nói cười đon đả cầu thân dù rằng mới chỉ hội kiến lần đầu v.v… đều là những dấu hiệu bề ngoài của kẻ háo sắc
5 – Tướng người giao tế giỏi
Mày thanh, Mắt sáng, Môi mỏng, Răng đều, nói năng hoạt bát, sắc mặt tươi tỉnh dễ thân cận v.v… đều biểu hiện của sự giao tế khéo léo. Loại người này có thể tốt hay xấu tuỳ theo mục đích mà họ đeo đuổi. Nếu có thiện ý, không mưu cầu tư lợi, loại này sẽ giúp được nhiều việc cho thượng cấp. Trái lại, nếu chỉ nhằm tư lợi, sử dụng tài hoạt bát để dèm pha khéo léo bạn đồng sự, lấy lòng thượng cấp, thì khi có cơ hội, kẻ đó sẽ là một kẻ bạc nghĩa. Muốn phân biệt tốt xấu, phải xem lỹ tác phong, quan sát ánh mắt khi đối thoại.
6 – Tướng người dễ phản phúc
Dấu hiệu bề ngoài là cặp mắt lồi và đỏ, nhìn người, tia mắt thường nhướng lên hoặc nhìn xuống, hay liếc xéo nhìn trộm chứ không bao giờ nhìn trực diện thượng cấp, Lông mày thưa thớt, Lưỡng quyền nổi ngang hoặc gồ cao không tương xứng với khuôn mặt, Trán có loạn văn, Sống mũi nghiêng lệch cong queo, Mang tai nẩy nở bất thường, tác phong giảo hoạt. Càng có nhiều các đặc trưng nói trên càng dễ quyết đoán. Tuy nhiên, chỉ cần một hai dấu hiệu rõ rệt cũng đủ khiến ta phải đề phòng tránh hậu hoạn
7 – Tướng người phục tùng
Mục quang ôn hoà, Mũi không lệch, Quyền không cao, không ham ăn uống, du hí, không ngại khó, không bao giờ tỏ vẻ oán hận ai đều là các dấu hiệu của sự phục tùng thượng cấp một cách ngay tình. Đây là mẫu người thừa hành lý tưởng cho các công việc thông thường
8 – Tướng người ích kỷ tư lợi
Ích kỷ tư lợi là thiên tính của con người, nhưng tướng người ích kỷ và tư lợi nói ở đây là loại người chỉ biết có mình, bất chấp tha nhân hậu quả. Dấu hiệu bề ngoài kẻ đó là - Đi đứng thường lao đầu về phía trước, đầu cúi thấp hoặc thường ngó trở lui - Cặp mắt trắng nhiều, đen ít - Mũi nếu hình dạng nhỏ thì lệch, còn nếu lớn thì cặp xuống như mỏ chim ưng - Bình thường nếu sai việc nhỏ thì tỏ ra siêng năng, ngoài mặt ra vẻ thành khẩn nếu việc đó khiến chủ nhân hay thượng cấp tin cậy thêm vào khả năng mình.
9 – Tướng người có tinh thần trách nhiệm
Đa số những người có tinh thần trách nhiệm đều có mặt mũi sáng sủa, Mục quang thuộc loại “ tàng nhi bất hối hoặc cương nhi bất cô” ( nghĩa là mục quang sáng nhưng vẻ sáng không quá lộ liễu, Nhìn qua ánh mắt khiến người phải kính nể nhưng không gây ra sự uý kỵ mất cảm tình ), Mũi của loại người này có thể lớn hoặc nhỏ, nhưng nếu kơn 1 thì phải cao, nếu nhỏ thì phải không lộ khổng và phối hợp tương xứng với Lưỡng quyền, ngôn ngữ của loại người có tinh thần trách nghiệm là khi làm việc thì chuyên tâm, không khinh xuất, thần khí trầm ổn.
Ngược lại, kẻ làm việc ( dù việc đo rất thích hợp với đương sự hoặc làm việc không bị cưỡng bách ) thiếu tinh thần trách nhiệm thì lông mày thô và quăn queo, mục thần lúc nào cũng như kinh hãi, Mũi và Lưỡng quyền cao rộng, tác phong lỗ mãng, cư xử thô bỉ.
10 – Tướng người cơ trí, ứng biến linh hoạt
Loại người này có đặc điểm dễ nhận thấy là mi thanh, mục tú, cặp mắt sáng sủa linh hoạt, đen trắng phân minh, sống mũi thẳng như ống trúc và không lệch lạc ( loại tiêm-đồng-tỵ ) phối hợp thích nghi với lưỡng quyền, Trán rộng và cân xứng, mục quang thuộc loại “ Phát nhi bất lộ, Nộ nhi bất tranh”, âm thanh trong sáng ấm cúng.
Đây là loại tướng người có thể giao phó các trọng trách . Đi xa thêm chút nữa nếu có thêm Sơn căn cao , địa các đầy đặn , vững vác không vát không gồ thì chẳng những kẻ đó đủ khả năng đảm nhận trọng trách một cách hữu hiệu mà còn duy trì trường cửu được địa vị quan trọng . Nếu Sơn căn thấp , địa các không đầy đặn và triều củng thì tuy có khả năng đảm nhận trọng trách , nhưng vì mạng vận vãn niên không tốt nên không thể ở lâu trong nhiệm vụ quan trọng , bởi lẽ địa các chủ về vãn vận .
Ngược lại , những kẻ mắt vượn , nhìn vật mà hếch mặt lên trời , cử chỉ khắc bạc trí trá , nói nhiều mà âm điệu thô trọc thì giao cho việc nhỏ có thể chu toàn, nhưng chấp chường đại quyền sẽ làm hư việc lớn. (Còn tiếp).
Phòng khách nhỏ nhưng bạn lại mua sofa quá lớn. Ảnh minh họa: Pinterest.
Đồ đạc nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng của chủ nhà chứ không chỉ để ngắm. Một chiếc sofa sành điệu, hợp mốt sẽ vô dụng nếu bạn không cảm thấy thoải mái khi ngồi. Nếu bộ ghế đắt tiền thì đó là một sai lầm quá tốn kém. Bạn cần kiểm tra kỹ nội thất trước khi mua. Bạn có thể nằm, ngồi... sử dụng chúng như nhu cầu thực tế.
2. Màu sơn không phù hợp
Quá nhiều mảng màu nóng khiến phòng khách bí bức. Ảnh minh họa: Livingimpressive.
Trong nhà bạn có những món đồ nội thất tuyệt đẹp nhưng màu tường không ăn khớp sẽ làm hỏng tất cả. Điều này không có nghĩa bạn phải sử dụng những màu sắc đơn điệu, không hợp sở thích. Bạn cần sơn thử trên phạm vi nhỏ và đánh giá màu sắc của tường vào các thời điểm khác nhau trong nhà.
3. Bộ đèn trần quá hoành tráng
Đèn chùm to ấn tượng nhưng khiến trần bị thấp đi. Ảnh minh họa: NFOE.
Theo About, nếu muốn căn phòng nặng nề, trần nhà có vẻ thấp hơn, bạn hãy mua những chiếc đèn chùm, bộ đèn phòng ăn diêm dúa, nặng nề. Nếu bạn vẫn muốn có một chiếc đèn ấn tượng thì nên chọn thiết kế đơn giản, bố trí ở không gian thoáng.
4. Thảm sai kích cỡ
Thảm nên đủ chỗ kê trọn vẹn các món đồ chính. Ảnh minh họa: Emily Anderson.
Bạn có thể trải thảm kín phòng hoặc một phần khu vực kê bàn trà. Tuy nhiên, bạn đừng để tình trạng, một phần bàn kê trên thảm, phần còn lại nằm bên ngoài. Chiếc thảm phù hợp cần đủ chỗ kê những món đồ quan trọng trong nhà. Nếu thảm quá nhỏ, bạn nên bỏ chúng đi cho nhà đỡ lộn xộn.
5. Nội thất theo quá nhiều phong cách
Bạn không nên mua đồ theo ngẫu hứng. Ảnh minh họa: Decor4all.
Một trong những cách dễ nhất để biến phòng khách thành thảm họa là mua sắm theo mốt. Từng món đồ có thể rất đẹp, đáng yêu nhưng khi ghép vào tổng thể lại không phù hợp. Nếu thích đồ thời thượng, bạn nên lựa chọn những thứ nhỏ, rẻ để không phải hối tiếc khi xu hướng đó qua đi.
Tình yêu và cuộc sống hôn nhân của người tuổi Tý nhóm máu A những nét riêng đáng trân trọng. Những người này sống khá nội tâm, ít nói và rụt rè. Bởi vậy
Tình yêu và cuộc sống hôn nhân của người tuổi Tý nhóm máu A những nét riêng đáng trân trọng. Những người này sống khá nội tâm, ít nói và rụt rè. Bởi vậy tình yêu của họ cũng thể hiện sự thầm lặng nhưng lại rất dịu dàng và thánh thiện.
Người tuổi Tý thuộc nhóm máu A thường không chủ động theo đuổi tình yêu và lại càng không thể hiện tình cảm của mình khi đang ở trước mặt đối tượng. Cách họ bày tỏ tình cảm chỉ đơn giản bằng những cái nhìn chăm chú. Họ rất mong đối phương có thể nhận ra tình cảm của họ.
Sau khi kết hôn, nữ giới tuổi Tý thuộc nhóm máu này sẽ trở thành những người phụ nữ đảm đang, chiều chồng, thương con hết mực.
Nam
giới là người rất yêu thương và tôn trọng vợ.
Bản thân những người này luôn ý thức xây dựng nền móng vững chắc cho cuộc sống tương lai. Họ luôn sát cánh bên người bạn đời chung tay trong mọi công việc.
Các bài viết sau cùng chủ đề người tuổi Tý, có thể bạn quan tâm:
Tuổi Tý nhóm máu A: Tâm hồn thanh cao, coi trọng hạnh phúcTính cách ảnh hưởng đến sự nghiệp của người tuổi TýGiải mã số đào hoa của người tuổi Tý
EXPLAIN not possible on query: INSERT INTO `tho_session`
(`session_id`,`guest`,`time`,`userid`,`username`,`client_id`) VALUES
(X'3439656338633438336239303966343335363864363966336130633163386537', 1, 1783784134, 0, '', 0)
EXPLAIN not possible on query: UPDATE `tho_extensions`
SET `params` = '{\"mediaversion\":\"48bcdcd735c685330a002f47b7702356\"}'
WHERE `type` = 'library' AND `element` = 'joomla'
Query Time: 1.06 ms After last query: 26.30 msQuery memory: 0.027 MB Memory before query: 8.412 MBRows returned: 28
SELECT `id`,`name`,`rules`,`parent_id`
FROM `tho_assets`
WHERE `name` IN ('root.1','com_admin','com_ajax','com_associations','com_cache','com_categories','com_checkin','com_config','com_content','com_cpanel','com_finder','com_installer','com_jce','com_joomlaupdate','com_languages','com_login','com_mailto','com_media','com_menus','com_messages','com_modules','com_plugins','com_postinstall','com_redirect','com_search','com_tags','com_templates','com_users','com_wrapper')
Query Time: 1246.07 ms After last query: 2.45 msQuery memory: 1.413 MB Memory before query: 9.345 MBRows returned: 39
SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating,
COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 15:35:34') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 15:35:34')
ORDERBY c.lft, RAND() , a.created LIMIT 13554, 39
Query Time: 1.32 ms After last query: 2.43 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.699 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9773 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.11 ms After last query: 0.17 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.721 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9393 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.742 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16427 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.764 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10311 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.786 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10147 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.10 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.808 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 13200 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 10.831 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 11059 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.854 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6090 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.875 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6404 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.897 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 14598 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.919 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5896 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.941 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10591 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.962 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 7703 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 10.984 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9951 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.006 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 447 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.027 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 3717 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.049 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15378 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.19 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.071 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4027 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.12 ms After last query: 0.22 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.093 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15399 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.14 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.114 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 2232 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.13 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.136 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 301 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.158 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4505 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.186 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12288 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.209 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12062 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.09 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.231 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10708 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.253 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6124 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.274 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 6914 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.296 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4208 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.318 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16454 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.340 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12895 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.10 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.361 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 12785 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.383 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10183 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.08 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.405 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 10818 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.427 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 15943 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.448 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 9630 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.06 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.470 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 1020 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.12 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.492 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 4132 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.10 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.513 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 16974 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 1.07 ms After last query: 0.11 msQuery memory: 0.024 MB Memory before query: 11.535 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.article' AND `m`.`content_item_id` = 5863 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
Query Time: 102.27 ms After last query: 1.26 msQuery memory: 0.025 MB Memory before query: 11.626 MBRows returned: 1
SELECTCOUNT(*)
FROMtho_contentAS a
LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid
LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by
LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by
LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id
LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
WHERE a.access IN (1,1) AND c.access IN (1,1) AND c.published = 1 AND a.state = 1 AND a.catid = 17 AND (a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_up <= '2026-07-11 15:35:34') AND (a.publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR a.publish_down >= '2026-07-11 15:35:34')
Query Time: 1.24 ms After last query: 0.37 msQuery memory: 0.023 MB Memory before query: 11.630 MBRows returned: 0
SELECT `m`.`tag_id`,`t`.* FROM `tho_contentitem_tag_map` AS m
INNERJOIN `tho_tags` AS t ON `m`.`tag_id` = `t`.`id`
WHERE `m`.`type_alias` = 'com_content.category' AND `m`.`content_item_id` = 17 AND `t`.`published` = 1 AND t.access IN (1,1)
1 × SELECT a.id, a.title, a.alias, a.introtext, a.fulltext, a.checked_out, a.checked_out_time, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, CASEWHEN c.published = 2 AND a.state > 0 THEN 2 WHEN c.published != 1 THEN 0 ELSE a.state END as state, CASEWHEN a.modified = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.modified END as modified, a.modified_by, uam.name as modified_by_name, CASEWHEN a.publish_up = '0000-00-00 00:00:00' THEN a.created ELSE a.publish_up END as publish_up,a.publish_down, a.images, a.urls, a.attribs, a.metadata, a.metakey, a.metadesc, a.access, a.hits, a.xreference, a.featured, a.language, LENGTH(a.fulltext) AS readmore, a.ordering,c.title AS category_title, c.path AS category_route, c.access AS category_access, c.alias AS category_alias,c.published, c.published AS parents_published, c.lft, CASEWHEN a.created_by_alias > ' ' THEN a.created_by_alias ELSE ua.name ENDAS author,ua.email AS author_email,parent.title as parent_title, parent.id as parent_id, parent.path as parent_route, parent.alias as parent_alias,COALESCE(NULLIF(ROUND(v.rating_sum / v.rating_count, 0), 0), 0) AS rating, COALESCE(NULLIF(v.rating_count, 0), 0) as rating_count FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECTCOUNT(*) FROMtho_contentAS a LEFTJOINtho_categoriesAS c ON c.id = a.catid LEFTJOINtho_usersAS ua ON ua.id = a.created_by LEFTJOINtho_usersAS uam ON uam.id = a.modified_by LEFTJOINtho_categories as parent ON parent.id = c.parent_id LEFTJOINtho_content_ratingAS v ON a.id = v.content_id
1 × SELECT c.id, c.asset_id, c.access, c.alias, c.checked_out, c.checked_out_time, c.created_time, c.created_user_id, c.description, c.extension, c.hits, c.language, c.level, c.lft, c.metadata, c.metadesc, c.metakey, c.modified_time, c.note, c.params, c.parent_id, c.path, c.published, c.rgt, c.title, c.modified_user_id, c.version, CASEWHENCHAR_LENGTH(c.alias) != 0 THENCONCAT_WS(':', c.id, c.alias) ELSE c.id END as slug FROM `tho_categories` AS `s` INNERJOIN `tho_categories` AS `c` ON (s.lft <= c.lft AND c.lft < s.rgt) OR (c.lft < s.lft AND s.rgt < c.rgt)