Làng giải trí Hoa ngữ vừa nhận tin vui Chương Tử Di hạ sinh con gái đầu lòng tại Mỹ. Cùng xem bát tự của con gái Chương Tử Di để đoán biết vận mệnh tiểu công
Bát tự của con gái Chương Tử Di sinh ngày Bính Tý hoặc Đinh Sửu (do múi giờ ở Mỹ và Trung Quốc chênh lệch), tháng Mậu Tý, năm Ất Mùi. Đại vận gồm 4 tuổi Kỷ Sửu, 14 tuổi Canh Dần, 24 tuổi Tân Mão, 34 tuổi Nhâm Dần, 44 tuổi Quý Tỵ, 54 tuổi Giáp Ngọ. Đứa bé sinh ngày Bính Tý, thuộc Chính Quan vận mệnh, là Thân nhược khắc chế hỗn tạp mệnh cách. Nếu sinh vào giờ thuộc ngũ hành Kim như Mậu Tý, Kỷ Sửu, Nhâm Thìn, Quý Tỵ hoặc chiều ngày Bính Thân, Đinh Dậu, Kỷ Hợi thì dựa vào Quan Sát nhược thế luận mệnh. Kim Thủy đại vận khá tốt hoặc âm Thổ đại vận cũng không kị. Bát tự này không thực sự lý tưởng, khắc với mẹ vì sinh năm Ất Mùi, hình thành phá cục. Người này phát ở hậu vận, sau năm 44 tuổi mới gặp may mắn. Nếu dựa vào bát tự giờ sinh mang Mộc Hỏa luận mệnh, như Canh Dần, Tân Mão, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Mậu Tuất là bát tự Thân nhược khắc chế. Sau khi sinh ra sẽ liên lụy cha mẹ, nhưng sau khi mẹ 40 tuổi lại giúp ích khá tốt. Từ năm 14 tuổi đến năm 34 tuổi là giai đoạn an nhàn, vận thế vững vàng. Luận bát tự biết người có số đứng trên muôn người Hãy cùng ## luận bát tự xem số lãnh đạo để biết mình có nằm trong số những người đứng đầu không nhé. Nếu con gái Chương Tử Di sinh ngày Đinh Sửu thì bát tự âm khí thịnh, Đinh Sửu nhụt chí, rất cần năng lượng dương để hỗ trợ nguyên khí ngày chống lại khí xấu của tháng sinh, năm sinh. Nói cách khác, phải sinh vào giờ Ất Tỵ hoặc Bính Ngọ mới cường khí. Sinh vào giờ Thân, giờ Dậu chủ có tài. Sinh giờ Canh Tý, Tân Hợi, Tân Sửu cũng phi thường có phúc, chủ may mắn. Nếu sinh vào giờ Mộc khí hỗn tạp thì cha mẹ bất hòa, hoặc có thể thiếu cha khuyết mẹ. Cha mẹ li hôn, hôn nhân không ổn định hay cha mẹ mất sớm. Có khi là cha mẹ không thân, hoặc là Ất Mộc vi thiên thần mà xa rời cha mẹ. Chủ phụ nữ duyên phận mỏng, không được cha chăm sóc. Nếu sinh ngày Bính Tý thì cùng giờ sinh ấy, lại được cha mẹ yêu thương, quan hệ với cha mẹ thân thiết hoặc ỷ lại vào cha mẹ. Vẫn là Ất Mộc vi kị nhưng lại duyên bạc với mẹ, hoặc là con gái và mẹ không hợp nhau. Theo bát tự của Uông Phong – chồng Chương Tử Di, đại vận có điểm không tốt lành. Mà phía trước là Kỷ Sửu đại vận năm đứa trẻ 14 tuổi. Nếu bát tự của đứa trẻ có chút trợ giúp thì có thể hóa giải việc cha mẹ bất hòa. Ngược lại, bát tự của đứa bé tự thân nhược Thân thì trong Kỷ Sửu đại vận sẽ tăng thêm bất lợi cho tình cảm của cha mẹ, hoặc gây ra tin tức bất lợi cho cha mẹ.
► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả công cụ bói tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình
Trần Hồng (Theo 14944) Xem Clip Đồ gốm phong thủy cho người sành chơi Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Tứ Tượng là bốn đặc trưng chỉ âm dương tiêu trưởng trong Kinh Dịch, Tức là Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm và Thiếu Âm. Trong dương trạch phong thủy, nghĩa là mở rộng của Tứ Tượng chỉ tứ phương, tức đông, tây, nam, bắc.
Tứ Tượng Tề Đoàn: là chỉ dương trạch có đầy đủ: tả thanh long, Hữu bạch hổ, tiền Thu Tước, hậu Huyền Vũ.
Tứ tượng là bốn thánh thú trong các chòm sao Trung Hoa cổ đại:
Thanh Long thuộc phương Đông
Bạch Hổ thuộc phương Tây
Chu Tước thuộc phương Nam
Huyền Vũ thuộc phương Bắc
Mỗi thánh thú cai quản một phương và tượng trưng cho một mùa, chúng có những đặc điểm và nguồn gốc riêng. Chúng được miêu tả đầy sinh động trong thần thoại và trí tưởng tượng của người Trung Hoa, và cả trong Manga và Anime của Nhật.
Tứ tượng được đặt cho những cái tên loài người tương ứng khi Đạo giáo trở nên phổ biến. Thanh Long có tên là Mạnh Chương (孟章), Chu Tước là Lăng Quang (陵光), Bạch Hổ là Giám Binh (監兵), và Huyền Vũ là Chấp Minh (執明).
Tai là một trong những vị trí quan trọng trên gương mặt, trong nhân tướng học gọi là Thám thính quan. Thông qua tai sẽ biết được vận thé, gia đình, học vấn, tính tình của một người…hoặc thậm chí là kết cục cuối đời sẽ ra sao. Nhưng bỗng dưng lại có t
Chùa Vạn Đức được xây với kỹ thuật hiện đại. Toàn thể ngôi chùa được đúc bằng bê-tông, tường gạch, móng cọc nhồi. Nền chùa và các bệ thờ đều dán đá granit
Chùa Vạn Đức tọa lạc số 23/4 đường Tô Ngọc Vân, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
Chùa Vạn Đức có lịch sử từ một ngôi nhà xưa do thí chủ Nguyễn Thị Hương hiến cúng. Sau khi tiếp nhận, Hòa thượng đã xây dựng lại thành chùa và đặt hiệu là “Vạn Đức tự”. Kể từ đó, chùa được mở rộng vào các năm 1964, 1989, 1993 và từ năm 2003 đến năm 2005, đại trùng tu toàn bộ ngôi chùa, trở thành như ngày nay. Chùa nằm trên khu đất rộng, kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên.
Kiến trúc chùa gồm cổng tam quan, chánh điện và đài Liên hoa. Tam quan xây ba tầng, mái lợp ngói lưu ly màu xanh, trên các đầu đao có gắn hoa văn hình hoa sen cách điệu, nóc gắn hình “lưỡng long chầu Pháp luân”. Qua khỏi tam quan là khoảng sân rộng trồng các loại cây kiểng, bonsai, tạo cảm giác mát mẻ và thanh tịnh.
Bên trái sân chùa có cội bồ đề rợp mát. Đối diện cội bồ đề là một ao sen, giữa có đài Liên hoa vọt lên khỏi mặt nước, bên trong tôn trí tượng Quan Thế Âm Bồ tát. Phía sau sân chùa là những hàng cau cảnh và những bụi trúc xanh um, trông giống như một bức tranh thủy mặc sống động…
màu xám. Cửa và cầu thang trong chùa đều làm bằng thép trắng. Hoa văn trang trí được đúc bằng xi-măng. Nền chùa là những mảnh gạch men, vừa mang tính truyền thống nhưng lại tân kỳ.
Tòa chánh điện của chùa cao 43,5m, đây là ngôi chùa có chánh điện cao nhất hiện nay, nhìn từ xa trông giống như một ngọn tháp chín tầng và hai tháp nhỏ năm tầng nhưng bên trong chỉ có hai tầng chính. Tầng trên là nội điện thờ Phật, có nhiều ô cửa sổ, bên ngoài có lan can, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca và Tam thế Phật. Xung quanh có bốn lớp lan can giống như những tầng mây trắng, và mỗi vì sao là những ô cửa gió có hình chữ “Phật”. Hai bên lan can là hai cầu thang dẫn lên nội điện. Nổi bật trên nền kiến trúc nội điện là bức phù điêu cội bồ đề và phong cảnh sông Ni Liên Thiền.
Tầng dưới là giảng đường, dùng làm nơi thuyết pháp cho Phật tử; sát vách giữa thờ Tổ sư Đạt Ma tạc bằng đá cẩm thạch màu trắng toát và linh vị Hòa thượng Thiện Quang (1895-1953), bổn sư của Hòa thượng viện chủ.
Chánh điện chùa
Kiến trúc sư Đỗ Thành Phương phải mất thời gian khá dài để hoàn thành bản vẽ về công trình độc đáo này, đồng thời phải mất 2 năm với hơn 60 thợ xây mới thực hiện xong phần chánh điện.
Chùa Vạn Đức là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo có quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại. Chùa Vạn Đức không chỉ là nơi lễ phật mà còn là nơi tham quan lý thú cho mọi người đến đây.
Lịch vạn niên là loại lịch dùng cho nhiều năm, soạn theo chu kỳ năm tháng ngày giờ hàng can hàng chi, cứ 60 năm quay lại một vòng, lịch vạn niên dựa vào thuyết âm dương ngũ hành sinh khắc chế hoá lẫn nhau, kết hợp với thập can, thập nhị chi, cửu cung, bát quái và nhiều cơ sở lý luận khác thuộc khoa học cổ đại phương Đông như thập nhị trực (Kiến Trừ thập nhị khách), Nhị thập bát tú, 12 cung Hoàng đạo, Hắc đạo... để tính ngày giờ tốt xấu.
Cuốn lịch Vạn niên thông dụng ở nước ta dưới triều Nguyễn là cuốn “Ngọc hạp thông thư”. Sở dĩ gọi là thông dụng, vì rải rác qua các tủ sách của các nhà Nho còn sót lại, chúng tôi tìm được các bản viết tay, quyển thì rách đầu, quyển thì mất đuôi, quyển thì bị xé giữa, mặc dầu viết tay, mặc dầu sưu tầm ở các địa phương cách xa nhau (Bắc Thái, Hải Hưng, Hà Nội,Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên...) nhưng nội dung vẫn thống nhất.
Có thể nói, Ngọc hạp Thông Thư là cuốn sách gối đầu giường của các cụ nhà Nho nước ta thời trước: Động đến việc gì lớn hay nhỏ trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, chài lưới, săn bắn, trong lễ nghi tế tự, giao dịch, trong mọi mặt sinh hoạt gia đình, họ hàng, làng xóm, các cụ đều mở lịch ra chọn ngày lành,tránh ngày dữ.
Ngoài ra, trước năm 1945, ở nước ta cũng lưu hành một số sách khác như Vạn bảo toàn thư, Đổng công tuyển trạch nhật, Chư gia tuyển trach nhật in ấn ở Trung Quốc đưa sang, hay cuốn Tăng bổ tuyển trach thông thư quảng ngọc hạp ký in ở Việt Nam dưới các triều đại nhà Nguyễn. Tất cả những cuốn trên đều dùng nội dung lịch vạn niên, nhưng pha trộn thêm nhiều tà thuyết, trong đó có những tà thuyết đã bị bác bỏ từ thời vua Khang Hy triều nhà Thanh.
Dưới triều Nguyễn (1802-1945) có Khâm định Vạn niên thư (triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu trị, Tự Đức) và Đại Nam hiệp kỷ lịch (Từ triều Thành Thái1900 trở về sau). Đó là những cuốn lịch có tính pháp định, do toà Khâm thiên giám soạn, đệ trình nhà Vua và do nhà vua ban cho thần dân hàng năm. Ngọc hạp thông thư tức cuốn lịch vạn niên chúng tôi đề cập ở đây cũng do Khâm Thiên giám ban hành, cũng có chung cơ sở lý luận thuộc thiên văn học cổ dại nhưng không phái là Khâm định Vạn niên thư.
Lịch Vạn niên dùng để chọn ngày tốt ngày xấu còn phải dựa vào một loạt “thần sát” của thuật chiêm tinh cổ đại.
Lịch vạn niên cũng khác với Lịch vạn sự của từng năm, nhất là các cuốn gọi là “Lịch vạn sự” lưu hành trên thương trường nước ta những năm gần đây.
Bạn mơ thấy mình đang chải tóc, dự báo vấn đề sẽ được giải quyết. Mơ thấy chải tóc, cho thấy trong lòng bạn khá hỗn loạn, bao chuyện nhỏ nhặt đan xen, chẳng biết đầu đuôi. Nếu mơ thấy chải tóc thuận chiều không rối, nghĩa là tất cả mọi vấn đề sẽ đượ
Việc được đi học, được đào tạo bài bảng ở trường lớp là niềm tự hào của bản thân. Hầu như ai lớn lên cũng được cắp sách đến trường, được vào các lớp học từ bé đến lớn. Đi học là chuyện bình thường diễn ra đối với mỗi người, nhưng khi ngủ nằm mơ thấy
Ý nghĩa sao Thái Âm - Tượng trưng cho người mẹ và vợ
Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh
Tính: Âm
Hành: Thủy
Loại: Phúc Tinh, Phú Tinh
Đặc Tính: Điền trạch, tiền bạc, đôi mắt, mẹ, vợ
Tên gọi tắt thường gặp: Nguyệt
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 2 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Vị Trí Ở Các Cung của sao Thái Âm:
Miếu địa: Cung Dậu, Tuất, Hợi.
Vượng địa: Cung Thân, Tý.
Đắc địa: Cung Sửu, Mùi.
Hãm địa: Cung Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo:
Cung Mệnh có sao Thái Âm miếu, vượng hay đắc địa thì thân hình to lớn, cao, da trắng, mặt tròn, mắt sáng. Còn Thái Âm hãm địa thì thân hình nhỏ, hơi cao, mặt dài, mắt kém.
Tính Tình:
Thái Âm ở các cung miếu địa, vượng địa, đắc địa là người thông minh, hòa nhã, từ tâm, thích văn chương, mỹ thuật.
Thái Âm ở cung hãm địa là người có tính ương ngạnh, từ thiện, không tham danh lợi.
Công Danh Tài Lộc
Thái Âm là phú tinh nên có nhiều ý nghĩa tài lộc nhất. Nếu đắc địa, vượng địa và miếu địa, và tùy sự hội chiếu với Thái Dương và cát tinh khác, người có Thái Âm sáng sẽ có:
Dồi dào tiền bạc, điền sản.
Có khoa bảng cao, hay ít ra rất lịch lãm, biết nhiều.
Có danh tiếng, quý hiển.
Thái Âm đóng ở cung Tài, hay Điền thì tốt nhất. Thái Âm sáng mà bị Tuần Triệt coi như bị hãm địa, trừ phi ở Sửu Mùi thì tốt.
Nếu hãm địa, thì:
Công danh, trắc trở, không quý hiển được.
Lập nghiệp phương xa, bôn ba.
Khoa bảng dở dang.
Bất đắc chí.
Khó kiếm tiền, nghèo khổ, vất vả.
Các trường hợp này cũng xảy ra nếu Thái Âm miếu, vượng hay đắc địa mà gặp nhiều sao mờ ám, nhất là sát tinh Riêu, Đà, Kỵ, Hình.
Nếu Nguyệt hãm địa ở cung Âm thì cũng hưởng được lợi ích của luật âm tương hợp: Tuy không quý hiển nhưng cũng đủ ăn và ít phiền muộn. Nếu được nhiều cát tinh hội chiếu, thì sẽ được quý hiển, có danh vọng, tài lộc.
Cũng như đối với Thái Dương, Thái Âm ở Sửu Mùi gặp Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng hay, sẽ được vừa phú, vừa quý như được miếu địa. Tại hai cung này, Thái Âm còn sáng hơn cả Thái Dương đồng cung, vì tọa thủ nơi cung Âm hợp vị. Danh tài càng về già càng hiển đạt vì Thái Âm sáng ăn về hậu vận.
Phúc Thọ Tai Họa
Tai nạn và bệnh tật xảy ra đối với các trường hợp Thái Âm hãm địa hoặc Thái Âm gặp các sao như Kình, Đà, Không, Kiếp, Riêu, Hình, Kỵ bị tật về mắt hay chân tay, đau bụng, gặp tai họa khủng khiếp, yểu tử, hoặc phải bỏ làng tha hương lập nghiệp mới sống lâu được. Riêng phái nữ còn chịu thêm bất hạnh về gia đạo như muộn gia đình, lấy kế, lấy lẽ, cô đơn, khắc chồng, xa cha mẹ.
Những Bộ Sao Tốt khi đi với sao Thái Âm:
Thái Âm và Thái Dương.
Thái Âm sáng gặp Lộc Tồn: Rất giàu có, triệu phú. Trong trường hợp này, Thái Âm có giá trị như sao Vũ Khúc sáng sủa, chủ về tài lộc.
Thái Âm đắc địa gặp Hóa Kỵ: Càng rực rỡ thêm.
Thái Âm sáng gặp Tam Hóa: Rất tốt đẹp, vừa giàu, vừa sang, vừa có khoa bảng.
Thái Âm sáng gặp Xương Khúc: Rất thông minh, lịch duyệt, từng trải, lịch lãm, tài hoa.
Thái Âm, Thiên Đồng gặp Kình ở Ngọ: Rất có nhiều uy quyền.
Thái Âm sáng gặp Đào, Hồng: Rất phương phi, đẹp đẽ, được người khác phải mến chuộng tôn thờ. Đây là bộ sao của minh tinh, tài tử nổi danh. Tuy nhiên, bộ sao này có thể có nhiều bất lợi về tình duyên, có thể đưa đến sự sa ngã, trụy lạc, lăng loàn.
Những Bộ Sao Xấu khi đi với sao Thái Âm:
Thái Âm hãm gặp tam ám (Riêu, Đà, Kỵ): Bất hiển, bị tật mắt, lao khổ, nghèo, họa vô đơn chí, hao tài, bị tai họa liên tiếp, ly tán, bệnh hoạn triền miên. Phụ nữ có thể hiếm con.
Thái Âm hãm gặp sát tinh: Lang thang nay đây mai đó, lao khổ.
Thái Âm hãm gặp Tam Không: Phú quý nhưng không bền.
Thái Âm Thiên Đồng ở Tý gặp Hổ Khốc Riêu Tang: Người nữ có sắc đẹp nhưng bạc mệnh, đa truân, suốt đời phải khóc chồng, góa bụa.
Ngoài những bộ sao tốt xấu nói trên, cung Mệnh có Nhật sáng sủa tọa thủ rất tốt, nhưng còn kém hơn cung Mệnh được Nhật sáng sủa hội chiếu với Nguyệt. Nếu giáp Nhật, Nguyệt sáng cũng phú hay quý.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phụ Mẫu
Thái Dương, Thái Âm đều sáng sủa: Cha mẹ sống thọ.
Thái Dương, Thái Âm gặp Tuần Triệt: Cha mẹ mất sớm, có sự chắp nối, hoặc mình không ở gần.
Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung: Cha mẹ khá giả, nhưng hay bất hòa, khắc khẩu, không được ở gần một trong hai người.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phúc Đức
Thái Âm ở cung Dậu, Tuất, Hợi: Được hưởng phúc trọn đời, sung sướng và sống lâu. Trong họ có nhiều người quý hiển và giàu sang.
Thái Âm ở cung Mão, Thìn, Tỵ: Phúc đức rất kém, tuổi thọ bị giảm, mồ côi, hoặc phải ở nhờ nơi người thân, cha mẹ xa cách, chắp nối, lại hay đau bệnh, nghèo nàn, có nhiều sự khổ tâm, làm ăn chật vật, túng thiếu. Số phải ly hương. Trong gia tộc có người cô đơn, nghèo, làm nghề cực nhọc, tha phương cầu thực, duyên nợ vất vả, hay đau yếu, có tật nguyền, hoặc hay gặp tai nạn. Người nữ, con gái vất vả về chồng con.
Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung: Được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng danh giá. Nên lập nghiệp ở xa quê hương bản quán.
Nhật Nguyệt đồng cung: Được hưởng phúc, nhưng phải ly hương, vất vả một thời gian mới yên ổn. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán.
Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung tại Dần: Phúc đức không được tốt, chịu cảnh mồ côi, hoặc phải ở nhờ nơi người thân, hoặc lúc bé đã phải xa nhà, ly hương. Trong gia tộc, người nữ, con gái hay trắc trở về chồng con, hoặc có người cô độc, tật nguyền.
Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung tại Thân: Được hưởng phúc, sống lâu. Trong gia tộc có người làm nên sự nghiệp. Người nữ cuộc đời luôn luôn khá giả hơn người nam.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Điền Trạch
Nguyệt sáng: Điền sản rất nhiều.
Nguyệt hãm: Ít của, không có của.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Quan Lộc
Thái Âm đơn thủ tại Dậu, Hợi: Công danh danh hiển đạt.
Thái Âm đơn thủ tại Tuất: Có tài, công danh hiển đạt nhưng thường bị nhiều người ghen ghét hay bị bó buộc vào nhưng công việc không hợp với chí hướng.
Thái Âm tại Mão: Công danh muộn màng, có tài ăn nói, văn chương lỗi lạc.
Thái Âm đơn thủ tại Thìn, Tỵ: Gặp nhiều trở ngại trên đường công danh, có tài nhưng không gặp thời, công danh lận đận. Lúc thiếu thời vất vả, đến khi nhiều tuổi thì mới xứng ý toại lòng. tuy vậy, vẫn được nhiều người kính trọng có đức độ và có tài văn chương.
Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung tại Tý: Công danh hiển hách, có nhiều tài năng khéo léo, nghề tinh xảo, đặc biệt, thông minh, mưu trí. Là số tay trắng làm giàu, càng lớn tuổi thì càng khá giả.
Thái Âm đồng cung với Thiên Đồng tại Ngọ: Chuyên về kỹ nghệ hay doanh thương.
Thái Âm, Thái Dương đồng cung tại Sửu, Mùi: Công danh bất hiển vì Âm Dương hổn hợp. Nhưng nếu có Tuần, Triệt thì lại tốt.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Nô Bộc
Nhật Nguyệt đắc địa: Tôi tớ lạm quyền, có học trò giỏi, người phò tá đắc lực.
Nguyệt hãm địa: Tôi tớ ra vào luôn, không ở lâu bền.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Thiên Di
Nhật, Nguyệt sáng gặp Tam Hóa: Được nhiều người quý trọng tôn phục, giúp đỡ, hậu thuẫn.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tật Ách
Nguyệt hãm gặp sát tinh: Gặp nhiều bệnh hoạn triền miên ở mắt, thần kinh, khí huyết, kinh nguyệt.
Nguyệt, Trì, Sát: Hay đau bụng.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tài Bạch
Nguyệt sáng gặp Sinh, Vượng: Rất giàu có, kiếm tiền rất dễ dàng và phong phú.
Nguyệt sáng gặp Vũ chiếu: Giàu có lớn.
Nguyệt Tuất, Nhật Thìn: Đại phú.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tử Tức
Nguyệt Thai Hỏa: Có con cầu tự mới nuôi được.
Nhật Nguyệt Thai: Có con sinh đôi.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phu Thê
Nguyệt, Nhật miếu, vượng địa: Sớm có gia đình.
Nguyệt Xương Khúc: Vợ đẹp, có học (giai nhân).
Nguyệt, Quyền ở Thân: Sợ vợ.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Huynh Đệ
Nhật Nguyệt giáp Thai: Có anh chị em song sinh.
Thái Âm Khi Vào Các Hạn
Nguyệt sáng: Tài lộc dồi dào, có mua nhà, đất, ruộng vườn, gặp việc hên, sanh con.
Nguyệt mờ: Hao tài, đau yếu (mắt, bụng, thần kinh) bị kiện vì tài sản, bị lương tâm cắn rứt, sức khỏe của mẹ, vợ bị kém.
Mơ thấy người khác chết đi sống lại dự báo bạn sắp có sự thay đổi trong công việc và trong tình yêu. Mơ thấy bản thân chết rồi sống lại, báo hiệu bạn sắp được nhận quà hay sắp có được những thứ mà bạn mơ thấy trong mơ, bạn sẽ sống vui vẻ. Người đã kế
Vài bước đơn giản cho ban công thành thiên đường êm ái
Nếu nhà bạn có những ban công còn bỏ ngỏ hãy tham khảo những ý tưởng trang trí dưới đây, chúng sẽ giúp bạn biến ban công trở thành thiên đường của những phút thư giãn cuối tuần.
1. Những chiếc ghế phù hợp Thật tuyệt vời nếu được cùng các thành viên trong gia đình ngồi nghỉ ngơi, tán gẫu ở ban công vào những buổi tối đẹp trời. Để có một cuộc trò chuyện vui vẻ dài lâu, bạn cần có một chỗ ngồi thoải mái. Trước tiên bạn cần xem xét diện tích ban công nhà mình để biết nên lựa chọn loại sofa dài hoặc những chiếc ghế đơn linh động. Những chiếc ghế chất liệu mây, cói hay thép không gỉ sẽ vô cùng phù hợp với không gian ngoài trời này. Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng ghế gỗ với những miếng nệm rời, dễ cất gọn sau khi sử dụng để tránh mưa nắng.Bố trí chỗ ngồi thoải mái để ban công thành nơi tụ họp của gia đình mỗi tối đẹp trời.Những chiếc ô giúp bạn không lo ngại thời tiết. Những chiếc ghế bằng thép không gỉ, mây rất hợp để sử dụng ngoài trời. Ghế treo phù hợp với ban công nhỏ. 2. Chọn nền sàn phù hợp Không thể phủ nhận rằng việc bề mặt sàn có tác động khá lớn đến việc bạn có muốn sử dụng không gian đó hay không. Dù không phải là phần không gian chủ đạo trong nhà, nhưng khu vực ban công cũng không ngoại lệ. Bởi thế, thay vì sử dụng nền xi măng đơn điệu, hãy tô điểm cho ban công bằng loại sàn quen thuộc. Gạch lát sáng màu đem lại cảm giác hiện đại và rất “đô thị”. Gạch lát họa tiết màu sắc thì đem lại cảm giác ấm áp và hơi “tây”, còn sàn gỗ thì đem lại cảm giác mộc mạc nhưng sang trọng, đặc biệt phù hợp với những người yêu thích phong cách vintage.Sàn bằng gỗ luôn đem lại cảm giác ấm áp, gần gũi. Sàn gạch men sạch sẽ và hiện đại.3. Phủ xanh ban công Ý tưởng trang trí ban công được nhiều người sử dụng nhất chính là sử dụng cây xanh. Quả thật với cách làm này không gian này sẽ mềm mại và gần gũi với thiên nhiên hơn nhiều. Bạn có thể lựa chọn cho mình các giỏ hoa treo rực rỡ, hoặc nếu ban công nhà bạn được chắn bằng lưới mắt cáo thì các loại cây leo mát mắt là lựa chọn không tồi. Một ý tưởng khác là bạn có thể trồng rau xanh hoặc các loại thảo dược vào chậu nhỏ bày xung quanh ban công. Không chỉ xanh mát mà bạn còn có ngay các loại thực phẩm sạch cho gia đình.Trang trí ban công bằng các loại cây xanh vừa đẹp vừa mát nhà.Cây leo rất phù hợp với những ban công có rào chắn. 4. Dành chỗ cho đồ trang trí Đối với những không gian bên ngoài như ban công thì một tiểu cảnh hay chiếc đèn treo bằng giỏ mây hay chai lọ tận dụng đồ cũ sẽ là ý tưởng trang trí vừa đẹp mắt lại vừa tiết kiệm. Những món đồ tuy nhỏ nhưng lại có tác dụng khiến ban công nhà bạn bắt mắt, nhẹ nhàng và gần gũi với thiên nhiên hơn. Những kệ nhỏ trưng bày đồ trang trí sẽ giúp ban công nhà bạn sống động hơn. Một tiểu cảnh hồ nước cũng là gợi ý không tồi để trang trí ban công. Thậm chí bạn còn có thể tận dụng những món đồ cũ làm thành đồ trang trí độc đáo cho riêng mình, ví dụ như sử dụng chiếc lồng cũ làm chụp đèn như ảnh.
(Theo TTVN) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (##)
Ý nghĩa sao Địa Không - Là một sao xấu chủ tai nạn, bần hàn
Hành: Hỏa
Loại: Sát Tinh
Đặc Tính: Trở ngại, thất bại, bần hàn, tai nạn, tác hại, gian xảo, kích động
Tên gọi tắt thường gặp: Không
Là một phụ tinh, thuộc bộ sao đôi Địa Không và Địa Kiếp. Phân loại theo tính chất là Sát Tinh, Hung Tinh.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Cũng là 1 trong 4 sao của cách Hình Riêu Không Kiếp (Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp).
Khi đóng trong cung không có chính tinh gọi là cách hung hoặc sát tinh độc thủ.
Khi có sao Địa Kiếp trong cùng một Cung Tỵ hoặc Cung Hợi gọi là cách Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi.
Khi một trong các Cung Tý, Cung Tuất, Cung Thìn, Cung Ngọ có sao Địa Không thì tại Cung Hợi hoặc Cung Tỵ thuộc cách giáp Không Kiếp.
Vị Trí Ở Các Cung của sao Địa Không:
Đắc Địa: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Hãm Địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Mệnh:
Tướng Mạo: Sao Địa Không ở Mệnh thì thân hình thô xấu, da kém vẻ tươi nhuận.
Tính Tình: Địa Không đắc địa: Có mưu trí, thâm trầm và lợi hại, rất can đảm, táo bạo, dám nói, dám làm, kín đáo, bí mật, hay giấu diếm, hay suy xét, mưu trí cao thâm, thủ đoạn. Những đặc tính này đúng cho cả phái nam và nữ.
Địa Không hãm địa: Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.
Công Danh Tài Lộc
Sao Địa Không cho dù đắc địa cũng không bảo đảm trọn vẹn và lâu dài công danh và tài lộc. Sự nghiệp sẽ hoạch phát nhưng hoạch phá nghĩa là tiến đạt rất nhanh chóng song tàn lụi cũng lẹ. Uy quyền và tiền bạc phải gặp nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy; nếu có phú quý lớn thì hoặc không hưởng được lâu, hoặc phải có lần phá sản, lụn bại.
Nếu hãm địa, nhất định phải cực kỳ nghèo khổ, vất vả, không có sự nghiệp và sinh kế để nuôi thân. Sao Địa Không giáp Mệnh cũng liên lụy ít nhiều đến bản thân, công danh, tài lộc như phải vất vả, tha phương lập nghiệp, bị mưu hại, trộm cắp.
Phúc Thọ Tai Họa
Đắc địa: Cuộc đời phải vất vả cực nhọc, tuy tai họa tiềm tàng, nhưng không mấy hung hiểm. Dù sao, phải chịu nhiều cảnh thăng trầm, khi vinh, khi nhục. Nếu gặp phải sát tinh, thì sự phá hoại dễ dàng phát tác mau chóng.
Hãm địa: Địa Không ví như một nghiệp chướng bám vào vận mệnh con người, có ảnh hưởng đa diện và nặng nề, cụ thể như:
Bị tật nguyền vĩnh viễn, bệnh nặng.
Hung họa nhiều và nặng nề.
Nghèo khổ, cô độc, vô sản, phải đi xa làm ăn.
Yểu mạng.
Những Bộ Sao Tốt khi đi với sao Địa Không:
Sao Địa Không đắc địa gặp Thiên Tướng, Thiên Mã, Hóa Khoa: Những sao này thủ Mệnh là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly.
Sao Địa Không đắc địa với phi thường cách: Phi thường cách hoặc gồm Tử Phủ, Vũ, Tướng đắc địa, hoặc gồm Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ. Đây là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, để danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế.
Những Bộ Sao Xấu khi đi với sao Địa Không:
Sao Địa Không với Thiên Hình, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: Nếu cùng đắc địa cả thì phú quý được một thời. Nếu cùng hãm địa cả thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu.
Sao Địa Không, Thiên Cơ (hay Hỏa): Bị hỏa tai như cháy nhà, phỏng lửa.
Sao Địa Không, Tham Lang đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội.
Địa Không (Kiếp) Phục Binh, Thiên Hình, Hóa Kỵ: Gian phi, trộm cướp, du đãng.
Sao Địa Không, Trực Phù, Thiên Khốc, Điếu Khách, Cự Môn, Nhật: Cách này biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.
Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phúc Đức
Sao Địa Không đắc địa, thì hưởng lộc một thời.
Sao Địa Không hãm địa, chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện, dòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì một bệnh nan y.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Điền Trạch
Sao Địa Không đắc địa, có điền sản một dạo, nhưng phải mua đi bán lại luôn.
Sao Địa Không hãm địa, vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập ...) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Quan Lộc
Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật.
Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến.
Bị mất chức ít nhất một lần.
Nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi, hoặc phải lên voi xuống chó.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Nô Bộc
Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ.
Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt.
Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Thiên Di
Ra ngoài làm ăn vất vả, phải bon chen, đôi khi có sựï gây gỗ, bực mình.
Công danh vất vả, làm ăn lúc được lúc không, làm nghề cực nhọc.
Tình cảm bạc bẽo, có số ly hương, đi xa, mồ côi, nếu không thì gia đạo cũng ly tán, xa cách.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tật Ách
Sát tinh này có rất nhiều đặc tính bệnh lý, hầu hết là rất nặng. Nó gây thương tàn cho bộ phận cơ thể đi kèm, dù sao đó chỉ xung chiếu hay bàng chiếu. Cuộc đời hay gặp tai nạn, trắc trở, bệnh khó chữa, có ám tật.
Địa Không, Thiên Đồng: Ruột dư phải mổ, hay bệnh thận phải mổ, bệnh mật có sạn.
Địa Không, Đế Vượng: Gãy xương sống, sái xương sống.
Địa Không, Hỷ Thần: Bệnh trĩ kinh niên hay bệnh mụn nhọt lớn ở mông.
Địa Không, Thai: Bào thai chết trong bụng mẹ, mẹ cố ý phá thai.
Địa Không, Hóa Kỵ: Ngộ độc bị phục độc.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tài Bạch
Địa Không nếu đắc địa: thì hoạch phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, oa trữ, buôn bán đồ quốc cấm).
Địa Không nếu hãm địa: Vô sản, bần nông.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tử Tức
Không con, hiếm muộn, ít con, phải ở xa con cái.
Sát con rất nhiều.
Con du đãng, đĩ điếm không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy.
Con phá sản nghiệp cha mẹ.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phu Thê
Có những ý nghĩa sau:
Sát phu, sát thê, góa bụa bất ngờ.
Có thể không có gia đình.
Nếu có gia đình thì sát hay phải xa cách nhau lâu dài vì tai nạn xảy ra cho một trong hai người.
Phải hai, ba lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Huynh Đệ
Có những ý nghĩa sau:
Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán.
Có anh chị em dị bào, có người đau ốm bệnh tật, có tật nguyền, hoặc đoản thọ, chết yểu.
Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Địa Không bấy giờ giáp Mệnh).
Địa Không Khi Vào Các Hạn
Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ, nhưng phải làm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt, hoặc phải đi xa.
10 câu nói hay và nổi tiếng nhất của Tào Tháo. Tào Tháo – tên ông thường dùng để mô tả cho sự dối trá, vô liêm sỉ nhưng không thể phủ nhận tài năng của Tào Tháo. Sau đây là 10 câu nói nổi tiếng của ông vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.
Tào Tháo sinh năm 155 và mất năm 220, tự là Mạnh Đức. Ông là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất cuối thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đặt cơ sở vững chắc cho thế lực quân sự cát cứ ở miền Bắc Trung Quốc, lập nên chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc và trở thành đối trọng lớn nhất với nhà Thục (do Lưu Bị đứng đầu) và nhà Ngô (do Tôn Quyền đứng đầu). Trong lịch sử gần 2000 năm qua, hình tượng về Tào Tháo vẫn là một chủ đề gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử Trung Quốc, hầu hết đều bị ảnh hưởng tiêu cực do tác phẩm “Tam Quốc diễn nghĩa”.
Tuy người đời thường lấy tên ông để mô tả cho sự dối trá, vô liêm sỉ, bất nhân, bất nghĩa nhưng không thể phủ nhận tài năng của con người này. Và những câu nói của ông dù đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử vẫn được lưu truyền và để lại rất nhiều bài học cho hậu thế sau này.
Các bạn hãy cùng mình điểm lại 10 câu nói nổi tiếng nhất của Tào Tháo được lịch sử ghi chép lại dưới đây nhé.
10 câu nói hay và nổi tiếng nhất của Tào Tháo
Nghe giai thoại rằng Tào Tháo hỏi Tư Mã Ý:
“Tại sao lòng bàn chân trắng hơn mặt và tay?”
Ý nghĩ hoài không biết trả lời làm sao. Tháo lại bảo:
“vì lòng bàn chân nó biết giấu mặt.”
Lòng bàn chân ai cũng có phần lõm vào, có thể giấu được cái gì đó. Vậy nên ở đời đừng để người ta nhìn rõ hết ruột gan. Ám chỉ Tào Tháo biết Ý có lòng riêng nên cảnh cáo
Người đời đều nói ta là gian hùng nhưng không làm được gì một kẻ gian hùng như ta, các ngươi tự khoe mình là quân tử nhưng đều thua trong tay một kẻ gian hùng như ta. Nếu cái giá của việc làm quân tử là bị lăng nhục, bị giẫm đạp, bị tiêu diệt, thậm chí là bị giết thì ta làm một kẻ gian hùng có thể thực hiện được hoài bão của mình. Từ trước tới nay gian xảo như trung hiền, trá ngụy tựa chân thật, trung nghĩa và gian ác đều không thể nhìn thấy được dựa trên biểu hiện bên ngoài. Có thể trước nay các ngươi đã nhìn nhầm Tào Tháo ta bây giờ lại nhìn nhầm nhưng ta vẫn là ta. Trươc đây ta vốn không sợ người khác nhìn lầm ta.
Người xưa rất coi trong đạo đức làm người, mọi điều giáo huấn đề đề cao những tấm gương đạo đức nổi tiếng về hiếu thảo, trung thực, khiêm tốn của con người
Người xưa rất coi trọng về đạo đức làm người. Những câu chuyện về tấm gương đạo đức, bài học giáo huấn luôn được lưu truyền trong dân gian nhằm gìn giữ nền tảng đạo đức cho xã hội. Câu chuyện của ba nhân vật dưới đây sẽ giúp chúng ta cảm nhận được phần nào quan niệm về “đạo đức” của người xưa.
1. Nghệ nhân điêu khắc băng không có người nối nghiệp
Kinh thành có một người có thể dùng những tảng băng điêu khắc ra đủ loại hình tượng người, muôn hình vạn trạng, yểu điệu thướt tha lay động lòng người, vô cùng đẹp đẽ.
Trong những ngày giá rét, hình nhân băng có thể giữ được mấy ngày mà không tan chảy. Người đến đây tham quan luôn tấp nập không ngừng.
Một ngày nọ, nghệ nhân điêu khắc này hét giá hô to giữa đám đông: “Ai đưa ra được ba đấu gạo kê, ta sẽ đem kỹ thuật của môn này truyền cho người ấy“.
Ông hô liên tục mười lần, nhưng không một ai hưởng ứng. Cuối cùng, có người nói với ông rằng: “Kỹ thuật này của ông, tuy rằng rất tinh xảo; hình dáng tướng mạo cũng rất sinh động, nhưng không hề lưu giữ được chút giá trị nào. Chỉ cần hễ trời nóng lên, tượng băng lập tức tan chảy ngay. Không ai bỏ tiền ra đi học cái kỹ năng không giải quyết được bất kể vấn đề thực tế nào này đâu. Ông nên buông bỏ suy nghĩ đó đi!”
Lời bàn:
Những thứ dù đẹp đẽ và đặc sắc đến đâu nhưng không bền vững thì nó cũng như “băng tan thành nước”, mau chóng mất đi mà không hề để lại giá trị thực tế nào.
2. Người lái thuyền mất hồn mất vía
Một người đàn ông nọ học lái thuyền từ một vị thuyền phu. Ngay từ lúc bắt đầu, vô luận là tiến thoái nhanh chậm, hay là xoay qua trái phải, anh ta đều rất nghiêm túc nghe theo sự chỉ huy của thuyền phu.
Một ngày nọ, người đàn ông này tự mình lái thuyền, ở khu vực nước chảy êm, đã thử một chút, phát hiện rằng bản thân mình đã học vững kỹ thuật lái thuyền, đạt đến trình độ thuần thục muốn sao được vậy.
Thế là, ông ta đã chia tay vị thuyền phu, tự mình lái thuyền, xông thẳng ra dòng nước nguy hiểm.
Lúc thuyền mất kiểm soát ở trong xoáy nước, người đàn ông này hốt hoảng nhìn quanh, mất hết hồn vía. Chẳng những mái chèo trong tay rơi mất, ngay cả thuyền cũng bị nước cuốn trôi không còn dấu vết.
Lời bàn:
Tính kiêu căng, sự nóng vội trong công việc cũng như học tập sẽ chỉ khiến bạn chuốc lấy thất bại mà thôi.
3. Kế hoạch hối cải của kẻ trộm gà
Mạnh Tử nói:
Có một người, mỗi ngày bắt trộm một con gà của hàng xóm, có người khuyên bảo y rằng: “Đây không phải hành vi của người đứng đắn, nhà người hãy mau mau sửa sai hướng thiện mới đúng”.
Người ăn trộm gà nói: “Tôi đã có một kế hoạch, chính là lần lần giảm thiểu số lần bắt trộm gà. Sau này mỗi tháng chỉ bắt trộm một con gà. Đợi đến sang năm, ngay cả một con gà cũng không trộm nữa. Thế nào?”.
Lời bàn:
Nếu như người ta đã biết việc làm của bản thân mình là không đúng; vậy thì nên lập tức dừng lại, cớ sao lại còn phải chờ đến năm sau?
Chỉ cần bạn tìm kiếm trên mạng, bạn sẽ thấy hàng câu chuyện có được tình yêu nhờ bỏ bùa mê thuốc lú.
1./ Bùa yêu – Những câu chuyện có thật.
Một anh chàng đẹp trai, trắng trẻo, khoẻ mạnh, quê ở một tỉnh đồng bằng. Vì không đỗ đại học, nên anh theo người bà con đi làm phụ hồ, nay Hoà Bình, mai Lạng Sơn, Tuyên Quang. Sau hai năm dãi dầu mưa nắng, chàng trai đã thực sự trở thành người đàn ông cứng cáp, nhanh nhẹn, là niềm mơ ước của bao cô gái, nhất là những cô gái cùng làng.
Ở nhà, bố mẹ chàng trai cũng đã để ý giúp anh vài đám, định bụng cho anh đi làm ăn vài năm, kiếm chút tiền, sửa lại cái nhà rồi mới cưới vợ cho anh. Mỗi lần anh về chơi, các cô gái cùng xóm chủ động sang nhà anh chơi, không ít cô còn bạo dạn ngỏ lời trước, anh chỉ cười và ậm ừ cho qua chuyện. Mọi người khen anh là hiền lành, chịu khó, dễ thương.
Đùng một cái anh đòi cưới vợ, là một cô gái người dân tộc thiểu số, hơn anh 2 tuổi, mới chỉ học hết lớp năm. Gia đình ngăn cản, anh tỏ ra bực tức và bỏ nhà lên chung sống với cô gái đó. Đến nay đã gần 10 năm, chàng trai hạnh phúc bên vợ, chăm chỉ làm ăn, ngoan ngoãn, chung tình và đặc biệt rất nghe lời vợ. Vợ cho phép Tết về quê 3 ngày, thế là đúng 3 ngày anh lại xách túi ra đi. Có năm, gia đình làm thượng thọ cho ông nội, nên chàng trai cố ở lại thêm một hôm, nhưng đến đêm, chàng thấy ruột gan nóng như có lửa đốt, phải bỏ nhà đi ngay. Gia đình nói anh bị cô gái người dân tộc “bỏ bùa yêu”.
Một anh sinh viên tình nguyện lên miền núi giúp đỡ bà con vài tháng, gặp cô gái đẹp người đẹp nết, anh đem lòng yêu mến. Cô gái cũng thương anh, trao cho anh tất cả, đến mức cô đã có thai. Hè hết, anh xin phép về thành phố tiếp tục học, hứa sẽ quay trở lại cưới cô gái. Nhưng rồi anh định “đánh bài chuồn”. Nào ngờ hai tháng sau chàng sinh viên ấy hoá điên, gia đình đưa đi bệnh viện, chữa mãi chẳng khỏi, đành cho anh bỏ học, nhốt ở nhà. Ngày ngày anh ngồi trong phòng, nhìn qua cửa sổ, hát véo von một mình bài hát không rõ lời, mọi người bảo đó là bài hát tiếng dân tộc. Người ta bảo anh bị cô gái “bỏ bùa yêu”, nếu có ý định phản bội sẽ hoá điên. Nghe đâu gia đình định đưa anh lên núi tìm cô gái đã yêu thương anh và xin được cưới cô.
Hay câu chuyện về gia đình cô Bảy, hai vợ chồng cô làm ăn buôn bán khấm khá hơn nhiều so với nhiều nhà trong vùng. Gia đình đang êm ấm, bỗng dưng một ngày không hiểu sao chú Bảy dở chứng đi cặp bồ với một cô gái trẻ hơn cô Bảy. Cô này đã bỏ chồng và đã có con riêng. Tài sản của gia đình bị chú Bảy mang đi cho cô bồ trẻ không biết là bao nhiêu lần. Cô Bảy dù biết chuyện song không có cách nào để ngăn sự việc lại.
Một lần tình cờ tâm sự cùng mẹ đẻ, bà liền bảo rằng bùa yêu sẽ có thể giúp chồng cô bỏ được cô bồ trẻ và quay về nhà. Thế là bà mẹ cho cô con gái địa chỉ nơi làm bùa yêu nhà thầy Mo người dân tộc Thái.
Cô Bảy liền đi xin bùa mang về và thực hiện. Đúng hai tuần sau đó chú Bảy đột nhiên chia tay cô bồ trẻ về nhà. Từ đó cho tới hiện nay, chú Bảy không hề đả động tới việc bồ bịch bên ngoài, gia đình yên ấm.
Áo - Một vật dụng hay bị "yểm" bùa yêu
Còn một chuyện về một phụ nữ ở Thái Bình làm buôn bán và ở góa vì chồng bị chết sớm. Cô này không có ngoại hình ưa nhìn cho lắm. Cô có tình cảm với một anh chàng trai tân, có điều kiện ở Vinh. Mặc dù có tình cảm song cũng chỉ là thứ tình cảm đơn phương từ phía cô. Trong một lần đi làm ăn, cô tình cờ biết đến một “bùa yêu” và làm theo. Kỳ diệu thay, đúng một tuần sau thì anh bạn ở trên Vinh chủ động hẹn gặp cô. Mặc dù trước đó, chỉ có cô là người chủ động. Mối quan hệ hai người tốt dần lên, tới mức hai người thường xuyên đi lại hai gia đình. Tôi nghĩ sớm muộn cũng cưới nhau mà thôi.
Bước cuối cùng của bùa yêu là cô này phải mang chiếc áo đã được yểm bùa cho anh chàng mặc vào. Cấm kỵ là chiếc áo đã được yểm bùa trước khi anh chàng mặc không được: đưa qua háng, đưa dưới dây phơi quần áo, ngồi lên, đi vệ sinh mang theo... Khi mang áo đi gặp anh chàng, cô đã quên mất để quên trong cốp xe. Phạm phải cấm kỵ là ngồi lên áo. Ngay sau đó mối quan hệ đổ vỡ chỉ vì cô đã quên lời dặn khi xin bùa.
>> Xem BÓI NGÀY SINH mới nhất 2016 nào!
>> Xem BÓI BÀI mới nhất 2016 nào!
2/ Bùa yêu là gì?
Nhiều người bảo bùa yêu có thật, có người nói chính chị gái, em trai, chú ruột, bác họ của họ đã bị “bỏ bùa yêu”, nhưng chưa ai chỉ ra được bùa yêu là cái gì, làm ra sao, tại sao nó lại có sức mạnh ghê gớm đến mức bắt trái tim vào khuôn khổ. Người ta nói làm “Bùa yêu” là một bí quyết, không ai được tiết lộ, nếu tiết lộ sẽ mất thiêng, chính vì thế ngành sản xuất bùa yêu mới không phát triển. Giá có bùa yêu thật bày bán và có hiệu nghiệm, chắc chắn những người làm ra nó sẽ thành tỉ phú trong một thời gian ngắn, bởi “khách hàng” khá đông.
Ông Tám - huyện Hướng Hoá, người rất am tường về các tập tục, bùa ngải của đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Trị, với kinh nghiệm của mình, ông cho biết, “bùa yêu” chỉ có 2 dạng.
Dạng thứ nhất: Dùng thuốc để ép người khác phải yêu mình.
Cái này chỉ có tác dụng tức thời, tối đa là vài tháng. Thuốc có dạng bột cực mịn, được chế ra tự một loại vỏ cây mà chỉ người trong nghề mới biết. Người bỏ bùa kiểu này thường cho thuốc vào áo, sau đó rũ áo này trước mặt người muốn bỏ bùa, hoặc nhờ người đó giặt hộ chiếc áo ấy. Khi ngửi hoặc hít loại bột này, hay chỉ đơn giản là giặt áo, nạn nhân sẽ lập tức trở nên không tỉnh táo, làm việc theo sự sai khiến của chủ nhân chiếc áo. Chính vì vậy, người nào có bùa yêu thường rất kiêng kỵ nhờ mẹ hoặc chị/em gái trong nhà giặt áo. Với loại này, khi “thuốc” yêu không còn tác dụng nữa, nạn nhân sẽ trở nên căm ghét tận xương tủy người đã bỏ bùa mình.
Hình minh họa
Dạng thứ hai: Chỉ dùng ánh mắt, mùi hương.
Dạng này ít người gặp hơn. Cái này đòi hỏi người bỏ bùa phải có nội công thâm hậu (?!), bởi chỉ cần dùng ánh mắt, hoặc mùi hương là họ có thể “thôi miên” nạn nhân đi theo lôi kéo, đề nghị của mình (?!). Tuy nhiên, theo ông Tám, người có “phép thuật” bỏ “bùa yêu” loại này ở Quảng Trị còn rất ít.
Đúng là thật khó để xác định bùa yêu là gì. Vậy chúng ta cùng đi tìm hiểu một số bùa yêu cụ thể đã được những người dùng kể lại nhé!
3./ Một số bùa yêu và cách dùng
Đầu tiên là một cô gái tên MH, vì để níu kéo tình yêu của mình mà đã lặn lội từ Sài Gòn lên Phú Thọ để xin bùa. Sau khi tốn vài triệu tiền lễ, Thầy bày cách cho là:
- Lấy ảnh chụp cá nhân của anh bồ, một cái áo hoặc cái quần anh bồ hay mặc, một lọn hay nhúm tóc của anh bồ đưa cho thầy.
- Để ảnh của cô gái vào một góc kín trong phòng anh bồ mà phải đảm bảo tuyệt đối bí mật, không ai biết.
Và cô gái rất thành tâm làm theo lời chỉ dẫn của thầy. Không biết vị thầy kia đã chế tạo bùa yêu và thi pháp như thế nào mà đùng cái 3, 4 tháng sau, cô gái lên xe hoa và đồng chí chồng chính là anh chàng bị "bùa yêu" đó.
Câu chuyện thứ 2, là chuyện ông thầy xem bói có tiếng ở Hà Nội. Khách của ông thầy đến 2/3 là những phụ nữ đến nhờ tìm chồng, tìm con bỏ đi với gái, chơi bời hoặc đi bụi.... Thầy bảo mang đến chỗ thầy (mang bí mật) một cái quần hoặc áo hoặc dép của người cần tìm, một bức ảnh chụp cá nhân. Sau đó thầy làm lễ cho, sau vài ngày thì chồng hoặc con sẽ về nhà đoàn tụ, phí cũng không đắt, chỉ vài trăm thôi. Những người hàng xóm xung quanh cũng chả rõ hiệu quả đến đâu nhưng nhà thầy lúc nào cũng rất đông khách.
Chuyện kể trên thực hư thế nào không rõ, nhưng câu chuyện sau đây được cho là có thật. Có cô gái tên Hiền rất thích chàng trai tên Minh, nhưng anh chàng vừa đẹp trai, vừa có tài này có vẻ “lửng lơ con cá vàng”. Hiền đã phải chủ động gọi điện, hẹn hò, mua quà cho chàng trai mà vẫn chưa được chàng để ý. Bực mình, Hiền rủ chàng trai đi nhà nghỉ để tâm sự, chủ động đưa chàng vào bẫy. Hy vọng sau một đêm “làm tiên ông”, Minh sẽ phải yêu thương cô. Vậy mà chàng vẫn trơ như đá. Nghe người mách bảo trên Bắc Giang có ông thầy, có khả năng làm “bùa mê thuốc lú” giỏi có tiếng, thế là Hiền lặn lội lên gặp “thầy”.
Hiền đã nhiều lầ chủ động, tạo cơ hôi nhưng Minh vẫn trơ như đá
(Hình minh họa)
- Lần đầu đến nhà thầy bói, nên thầy bảo về nhà lừa lúc Minh không để ý, hãy nhổ một bãi nước bọt vào cốc nước để anh ấy uống, bảo đảm anh ta sẽ chết mê chết mệt ngay. Vậy mà từ bữa đó, Minh uống đến cả chục lần nước bọt của Hiền mà anh vẫn trơ như đá.
- Buồn bã vì chuyện vẫn chưa thành, Hiền lại đến gặp thầy. Thầy bảo con và nó có duyên nợ với nhau, sớm muộn cũng thành vợ thành chồng. Nhưng hiện nay đang có kẻ ám, thành ra nó chưa mặn mà với con. Muốn cho nhanh, chỉ có cách làm lễ “giải ám”. Thầy dặn về nhà sắm lễ vật, tiền lễ và kiếm một nhúm tóc, 2 mẩu móng tay của chàng trai mang đến, thầy sẽ giúp. Vất vả mãi mới kiếm được những thứ kia từ chỗ ông chủ quán Minh hay cắt, Hiền đến gặp thầy, rồi đưa thầy làm lễ. Làm xong, thầy gói hai thứ kia bảo Hiền mang về đặt dưới gối của mình, thế nào cũng đến lúc Minh để ý đến cô.
Nhưng cả tháng trời không thấy Minh đến chơi, buồn quá cô gọi điện hẹn anh đi uống nước. Nhìn thấy mái tóc Minh dài ngang vai, có đến mấy tháng chưa cắt, Hiền biết mình bị lão chủ quán cắt tóc lừa, lấy tóc và móng tay của ai đó đưa cho cô. Không biết bùa mê có tác dụng không nhưng cô thấy may mắn vì không thấy ai tìm đến mình. Nếu không lại xuất hiện ông già nào mà cô đã lấy tóc và móng tay của ông đưa thầy làm bùa, đến tán tỉnh, đòi yêu cô thì chết.
- Đến lần thứ ba, thầy cho Hiền một tờ giấy xanh đỏ, có vẽ ngoằn ngoèo cái gì đó mà thầy bảo đấy là bùa yêu. Thầy dặn phải đốt lên, cho vào cốc nước cho “nó” uống, nó sẽ theo con, xách dép cho con suốt đời. Vậy là hôm ấy Minh đến chơi, Hiền pha cà phê đen cho anh uống. Nhân lúc Minh vào nhà vệ sinh, Hiền lén đổ gói tàn tro vào cốc cà phê đen đá của anh. Nhưng chưa kịp ngoáy cho tan hết, Minh đã ra. Nhìn thấy cảnh Hiền đang dốc nốt chỗ tàn tro vào cốc nước của mình thì anh sợ quá, bỏ đi thẳng.
Vậy là ba lần dùng bùa yêu không thành, ba lần Hiền đều thất bại.
"Đốt bùa yêu lấy tro cho người kia uống. nó sẽ theo con, xách dép cho con suốt đời"
Còn đây là “thang thuốc” của một bùa yêu hoàn chỉnh.
Tác giả của bùa yêu là cam đoan là đã có rất nhiều người dùng và thành công. Nhưng lá bùa yêu dành riêng cho bất kỳ ai tuổi con hổ, bất luận nam hay nữ .
- Chọn đêm trăng rằm ,chờ lúc mây phủ trăng bắt đầu vẽ bùa vào một mảnh vải đen, vẽ một hơi thật nhanh, có thể vẽ sẳn tại nhà, lúc đem ra tế luyện thì dùng nhang theo số tuổi của mình mà đồ lại bùa, nhớ nín hơi khi đồ bùa, khi thở ra là cất nhang lên.
- Nên vái số lần câu thần chú theo số tuổi của mình,tính theo tuổi âm lịch. Khi vẽ bùa, sắp lễ vật tế cúng gồm: 1 bó hoa tươi, 1 bát nước trong, 1 chén muối hột, 1 chén nổ rang, 3 tép trầu cau, 1 nắm xôi đậu.
- Sau khi tế lễ, cúng bùa xong cần đem lá bùa về lót trong gối ngủ, đọc thần chú liên tục cho đến lúc ngủ quên, trong ba đêm đầu như vậy…. những ngày về sau có thể niệm ít hơn, song muốn cho bùa hay thì nên niệm hàng đêm .
- Bùa này đặc biệt hợp với những đối tác tình cảm có tuổi Mão (con mèo), tuổi Tý (con chuột), tuổi Tuất (con chó), tuổi Ngọ (con ngựa) và tuổi Sửu (con trâu).
- Cấm kỵ khi dùng bùa là không dùng những thứ liên quan tới hổ như: cao hổ hay thịt hổ, kể cả đeo vuốt hổ…. cũng không được ăn thịt lươn, tê tê, các loại thịt rùa, ba ba, cua đinh ….và cuối cùng là không ăn thịt chó. (?!)
- Không nên dùng bùa với hai đối tác cùng một lúc ….và với đối tượng là chư tăng hay chư ni bùa sẽ mất hiệu quả ngay sau đó .
Dưới đây là bài thần chú đi kèm khi dùng bùa:
“Om phí ắc khu .
Phí ắc sãm min thoonl
ốm kha la sà nê môn.
ề hí ề hị ….tên tuổi …thứ mấy trong nhà ….
bờ chau bờ chi chuôôc” (?!)
>> Đã có TỬ VI 2016 mới nhất. Xem ngay nhé!
>> Đã có LÁ SỐ TỬ VI 2016 của 12 CUNG HOÀNG ĐẠO mới nhất. Xem ngay nhé!
4./ Kết quả của việc sử dụng bùa yêu:
- Quay lại với câu chuyện của cô gái MH bên trên – người đã sử dụng bùa yêu đạt được kết quả như ý nguyện. Sau đám cưới, một thời gian trôi qua, MH sụt sùi kể là buồn lắm, vợ chồng đánh chửi nhau suốt ngày, chồng cặp bồ ở ngoài, giờ cứ trông con thế thôi, vẫn phải cố gắng đi làm vì k muốn mang tiếng ăn bám chồng, gia đình chồng thì cực kỳ coi thường cô, đối xử với cô k tốt... Mọi người biết chuyện trước kia MH xin bùa, cứ hay hỏi nhau: "Sao hồi ấy nó không xin luôn bùa đời đời kiếp kiếp yêu nhau nhỉ?" .
- Còn một trường hợp khác, cô gái dùng bùa yêu để lấy bằng được một anh chàng, mà lần này nghe nói là bùa yêu đó trói suốt đời đến khi một trong hai người chết cơ. Thời gian đầu mới cưới thì hạnh phúc lắm. Nhưng được một vài năm thì anh chàng đó bắt đầu chày bửa, bỏ việc, suốt ngày rượu chè, cờ bạc, gái gú, chị kia muốn bỏ lắm nhưng không bỏ được vì anh ta ăn vạ như kiểu Chí Phèo ấy. Chị kia chán lắm rồi, mà không biết làm thế nào, bây giờ thì ân hận vì dại dột của tuổi trẻ mà phải trả giá cả cuộc dời.
- Nhiều người còn cho rằng, bùa yêu thì có, nhưng dùng bùa yêu phải cẩn thận, vì không may có thể làm cho đối tượng của mình bị điên, hoặc nhẹ hơn là bị tâm thần (đã có trường hợp này xảy ra). Thế nên suy nghĩ thật kỹ, không lẽ vì mình yêu người đó mà đành đoạn để người ấy phải chịu như thế ... vì mình.
Quan điểm này cũng trùng với quan điểm về “bùa yêu” ở nước ngoài. Sách nước ngoài gọi là “love spell”. Trong đó có ghi rất nhiều cách để làm bùa yêu. Nhưng phần cảnh báo thì viết rất dài, rất chi tiết về những tác hại của việc dùng loại bùa này. Trong đó nó giải thích rằng bùa yêu ko phải có tác dụng với tất cả mọi người, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó nhấn mạnh nếu một người cố tình dùng bùa yêu để ép buộc một ng khác yêu mình thì hậu quả (quả báo) sẽ đến nhiều gấp ba lần. Vì tình yêu là “free will” mà. Một khi đã tác động vào cái “free will” của một người và bắt người đó yêu mình, trong khi theo lẽ ng ta sẽ yêu một ng khác, thì coi như mình đã làm sai lệch cái “natural order of things” rồi – nghĩa là mình làm sai lệch quy luật tự nhiên ấy. Thế nên phải nhận lấy hậu quả.
5./ Các nhà khoa học, nhà nhiên cứu văn hóa nói gì?
Bùa yêu xuất phát từ mục đích tốt ( ?!)
Xung quanh vấn đề này, ông Bùi Huy Vọng, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, phong tục tập quán dân tộc Mường đạt giải thưởng của hội Văn nghệ dân gian Việt Nam nhận định:
Bùa yêu là một sự thật có trong văn hóa người Mường. Nhưng các thầy làm bùa luôn phải xuất phát từ mục đích tốt chứ không phải muốn làm thế nào cũng được. Nó giống như một lời nguyền thiêng liêng mà bất cứ kẻ nào cố tình làm trái, làm bậy đều sẽ phải trả giá đắt. Ngày xưa, chỉ có con nhà nghèo hoặc quá xấu không có điều kiện lấy được chồng/vợ mới phải cầu đến bùa yêu. Và họ cũng không thể làm cho một người phản bội vợ/chồng của mình để đi yêu một người khác, điều đó là cấm kỵ.
Hình minh họa
Việc làm bùa yêu và giải bùa yêu là có thực (?!)
Ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người cho hay:
Trước đây bản thân ông đã từng nghiên cứu về một vị thầy lang chuyên chữa bệnh bằng cách cho người ta sử dụng miếng giấy nhỏ, trên miếng giấy đó ông ta đã tích một loại năng lượng riêng để đặt vào chỗ đau của người bị bệnh. Sau khi sử dụng, người bệnh tự nhiên khỏi và trở lại cuộc sống bình thường.
Xét về khoa học, miếng giấy ông tích năng lượng chỉ là vật mang thông tin. Khi người ta đốt miếng giấy đó và cho vào cốc nước thì lúc này cốc nước đó chính là năng lượng đã được tích và người ta uống cốc nước đó sẽ khỏi bệnh. Theo lý giải của những nhà khoa học hiện đại, nước bây giờ không phải là nước đơn tuần nữa mà nó là một chùm phân H2O n lần và chùm phân này có thể bị thay đổi hình thù theo thông tin đưa vào.
Như vậy, không chỉ qua giấy, nước mà người ta có thể truyền năng lượng vào bất cứ đồ vật, con vật, quả chuối, quả cam để làm thuật bùa ngải: giữ người yêu, trói chồng…Tuy nhiên, năng lượng đó có thể là năng lượng tốt hoặc năng lượng xấu.
Năng lượng tốt tức loại năng lượng đó khi sử dụng có thể làm cho người ta khỏi bệnh, giúp cho vợ giữ được chồng, làm cho gia đình họ hạnh phúc hơn xưa …còn năng lượng xấu là sẽ làm cho họ lú lẫn về lý trí, ý thức và bị dẫn dụ theo ý muốn của người đưa năng lượng đó vào.
Việc có thể vừa làm, vừa giải bùa yêu là có thực. Tuy nhiên đó nghiên cứu và lý giải theo dân gian còn để nghiên cứu, tìm hiểu chi tiết về việc làm bùa yêu hay giải bùa yêu thì tôi vẫn chưa gặp ngoài đời thực mà chỉ gặp những ông thầy lang có khả năng chữa hóc xương, gãy tay, gãy chân…
Bùa yêu là có thật nhưng nó chỉ mang lại tình yêu hời hợt (?!).
Một vị thầy thuốc Đông y, chuyên nghiên cứu về cây cỏ và những được liệu chuyên dùng để bỏ bùa thì cho biết ba lát gừng mà mà vị thầy lang ở xóm M (Tân Sơn, Phú Thọ), dùng làm bùa yêu, thực chất là loại gừng bình thường dùng để ăn hàng ngày và nó chưa hề được pha lẫn với một loại hợp chất nào khác. Còn việc trong những lát gừng này chứa những câu thần chú, bùa ngải để trói người chồng là có thực hay không thì chỉ có người có khả năng siêu nhiên đó mới biết được. (?!)
Theo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh thì việc sử dụng bùa yêu là có thực, tuy nhiên nó không quá thần kỳ và bí ẩn như người ta vẫn truyền tai nhau. Thậm chí bùa yêu chỉ là cách điều khiển theo ý muốn của các vị thầy lang và chưa hẳn mang lại tình yêu thực sự khi vợ chồng đã có mầm mống ly hôn.
Cũng theo họ, các loại bùa ngải, bùa yêu chủ yếu được làm bằng thảo dược, cây cỏ có tác dụng kích thích giác quan, điều khiển ý thức khiến người bị bỏ bùa nảy sinh ham muốn với đối tượng đã “bỏ bùa” mình. Chính vì thế, họ sẽ hành động theo sự kích thích của loại thảo dược đã được yểm chất đó, thứ đó vào.
Như vậy, theo lý giải của các nhà nghiên cứu, Đông y, nhà khoa học thì bức màn về thuật bùa yêu đã phần nào được sáng tỏ. Tuy nhiên, bản chất sự việc đều có hai mặt của nó và chúng ta nên cẩn thận, sáng suốt để không bị lôi kéo vào những thứ ma thuật mê tín đó. Những câu chuyện đồn thổi về việc bỏ vợ, bỏ chồng để đến với người thứ 2 và được người vợ, người chồng đó thuyết phục quay trở về vẫn diễn ra trong đời sống thường ngày mà không nhất thiết phải nhờ tới bất cứ loại “bùa yêu” nào.
Bùa yêu - Nếu có tác dụng thì chỉ mang lại tình yêu hời hợt
(Hình minh họa)
6./ Và tác dụng thực sự của bùa yêu mang tên : “Chung thủy”
Viết đến đây chúng tôi chợt nhớ lại chuyện cô gái khiếm thị tên Phương Lan ở TP Hồ Chí Minh. Bị mù từ nhỏ, cô chăm chỉ học, giỏi tiếng Anh, lại còn theo học ngành tâm lý học từ xa của một trường đại học bên Mỹ. Cô đâu có bỏ bùa mê cho ai, vậy mà một chàng sinh viên tên là Goerge đã mê cô như điếu đổ dù chưa biết mặt. Theo đuổi suốt 8 năm, cô gái Phương Lan mới chấp nhận “lên máy bay hoa” về nhà chồng. Trong ngày cưới, chàng trai Mỹ luôn luôn gọi vợ bằng biệt danh do anh đặt cho, đó là “Phương Lan dũng cảm”. Vậy bùa yêu của Phương Lan có thể chính là gương mặt đôn hậu, nụ cười dễ thương và lòng dũng cảm, ý chí vượt khó, lòng tự trọng.
Hay chuyện anh sinh viên Việt Nam tên là Phạm Ngọc Cảnh, du học ở Triều Tiên hơn ba mươi năm về trước đem lòng yêu một cô cán bộ ở nhà máy, nơi anh đến thực tập. Chàng trai có bỏ bùa yêu gì đâu mà bắt cô gái Triều Tiên chờ đợi suốt 31 năm trời, mặc dù hai người chỉ thỉnh thoảng nhận được thông tin do anh Cảnh gửi cho mẹ... cô gái. Họ gọi nhau là “đồng chí”. Chàng trai đã thành danh trong sự nghiệp, có lúc làm “to to”, lấy ai chẳng được.
Vậy mà vì tình yêu ấy, chàng kiên trì hoạt động trọng Hội hữu nghị Việt - Triều. Mãi đến năm 2002, họ mới chính thức nên duyên vợ chồng, khi chàng sinh viên đã đến tuổi nghỉ hưu và cô gái đã là bà già lục tuần. Bùa yêu của cô gái Ry Yong Hui chính là lòng chung thuỷ.
Vâng, “bùa yêu” là có thật, khi một ai đã vướng vào, sẽ chung thuỷ dài lâu. Nhưng đó không phải là thứ “bùa mê thuốc lú”, nó là tấm lòng son sắt thuỷ chung, là tình yêu không vụ lợi, là tấm lòng độ lượng, bao dung, sự dũng cảm, kiên trì, là lối sống đẹp, cử chỉ tao nhã. Muốn được yêu, bạn trước hết phải trở thành người đáng yêu. Còn không, dù có bất cứ thứ bùa ngải nào cũng vô tác dụng...
Còn đây là một thang thuốc làm “bùa yêu” đang được lan truyền trên mạng.
Chúng tôi xin đưa ra để kết thúc bài viết này. Thuốc này có kết quả nhanh lắm. Tự tay làm và uống. Không sợ phải hàng dỏm .Thuốc này có 10 vị thôi . Cũng dễ kiếm, bỏ ra chừng một buổi ngồi yên lặng suy nghĩ là có thể tìm đủ:
1.Bụng dạ tốt một khúc
2.Tâm từ bi một miếng
3.Ôn nhu nửa lạng
4.Đạo lý ba phân
5.Tín hạnh cho nhiều
6.Trung trực một cục
7.Hiếu thuận mười phân
8.Chân thật một cái
9.Âm chất dùng tròn
(tức Thiện Tâm phải lớn, làm việc tốt cho trọn cho tận tâm để đức tích được nhiều)
10.Phương tiện nhiều ít chẳng ngại
Cách phục dụng:
Cho 10 vị thuốc ấy vào trong''cái nồi lòng rộng''mà sao cháy sem sém, đừng sao nóng quá, cũng đừng cho khô quá, bớt ba phần lửa. Đoạn đổ thêm vào vị thuốc ''bình đẳng'' đã nghiền tán nhỏ. Dùng ''tâm tư'' làm bột, thấm với ''lục ba la mật'' mà vò thành viên lớn bằng hột bồ đề, mỗi ngày ba lần, chẳng luận giờ nào, dùng ''nước hoà khí'' mà uống thuốc... Nếu theo y đó mà uống thì bệnh nào mà chẳng dứt.
Đặc biệt khi dùng thuốc trên thì phải kiên thật kỹ 7 món sau tránh gây phản tác dụng:
Xoáy tức là chỉ tóc trên đỉnh đầu tóc xoáy thành một trung tâm. Nói chung mỗi người chỉ có một xoáy, hơn nữa hướng của xoáy thuận chiều kim đồng hồ. Nhưng cũng có người có ba xoáy, hai xoáy hoặc xoáy trước trán và xoáy ngược với chiều kim đồng hồ. Ng
ười có ba xoáy có đặc điểm tính cách sau. Ba xoáy ười có ba xoáy có đặc điểm tính cách sau. – Làm việc có kế hoạch, chu đáo: Người có ba xoáy có khả nǎng phản ứng nhanh, có kế hoạch và chu đáo. Họ có nǎng lực thực tế rất mạnh. – Lòng tự tin mạnh: Người có ba xoáy lòng tự tin rất mạnh, tính khoáng đạt. Nhưng cũng vì thế mà dễ độc đoán chuyên quyền, có lúc gây ra thất bại không đáng có. – Thích riêng rẽ: Người có ba xoáy thường không hiểu người khác, cũng không biết động viên lòng nhiệt tình làm việc của người khác. Có lúc thích riêng rẽ. Hai xoáy Hai xoáy là chỉ người sau đỉnh đầu có hai xoáy. Người có hai xoáy có đặc điểm tính cách như sau. – Tính cách cứng rắn: Nói chung người hai xoáy có tố chất dũng cảm. Tuy cuộc đời gập ghềnh nhưng cũng không khuất phục được ý chí phấn đấu của họ. – Sức sống mạnh mẽ: Tính cách người hai xoáy là cởi mở, có sức sống mạnh mẽ. Nói chung thường sống thân ái với người khác. Xoáy trước trán Xoáy trước trán là chỉ chân tóc trước trán có xoáy. Người như thế có những đặc điểm tính cách sau. – Ham tò mò: Người xoáy trước trán rất thích tò mò. Họ có dũng khí và tinh thần khai phá mở đường. Nhưng nhược điểm là quá tự tin nên dễ gặp thất bại không đáng có. – Tình cảm mềm yếu: Người xoáy trước trán có tình cảm mềm yếu và dễ thương cảm. Nếu chú ý giữ gìn lời nói và việc làm thì cũng dễ thành đạt. Xoáy trái chiều Nói chung xoáy thường thuận theo chiều kim đồng hồ, nhưng có người lại ngược chiều kim đồng hồ. Người đó có đặc điểm tính cách dưới đây. – Tính khí thất thường: Người xoáy hướng trái chiều tính khí không ổn định. Cho dù trong công tác hay giao thiệp thường mắc phải tật hay thay đổi ý kiến. Trong công tác họ rất ít khi hoàn thành công việc được một cách trọn vẹn. – Không có chính kiến: Người xoáy hướng trái không có chính kiến, thường phụ hoạ theo người khác, hơn nữa còn hay chia rẽ với người khác. Đó chủ yếu là vì tính cách không bình tĩn
Đây là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
ÐÂY LÀ LỜI PHẬT
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.
Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Những gì là mười điều?
Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .
Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .
Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.
ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.
Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Tết Hàn Thực là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. "Hàn Thực" nghĩa là "thức ăn lạnh".
Hàng năm vào ngày này, nhiều gia đình cho xay bột, đồ đỗ xanh, làm bánh trôi, bánh chay, nấu xôi chè lễ Phật và cúng gia tiên, có lẽ đó cũng là một cách tưởng niệm người thân trong những ngày tháng cuối xuân, chứ ít người biết đến hai chữ "Hàn Thực" gắn với một điển tích ở Trung Quốc, được biết tới nhiều qua tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc. Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn nên phải bỏ nước lưu vong sống cảnh nay trú nước Tề, mai ở nước Sở.
Bấy giờ, có một hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo phò vua đã giúp đỡ nhiều mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn kiệt, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong, hỏi ra mới biết đem lòng cảm kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò vua Tấn Văn Công trong vòng mười chín năm trời, cùng nhau nếm mật nằm gai, khổ luyện thành tài. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi vương, trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công khi tòng vong, nhưng lại quên mất Giới Tử Thôi.
Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình theo vua phò vua là chuyện nên làm, ông cho rằng những việc đó đâu có gì đáng nói. Vì thế, ông về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm Tử Thôi. Nhưng vì là người không tham danh vọng, Tử Thôi nhất quyết không quay về lĩnh thưởng, Tấn Văn Công ra lệnh đốt rừng (muốn thúc ép Tử Thôi quay về).
Không ngờ Tử Thôi quyết chí, hai mẹ con cùng chịu chết cháy trong rừng. Vua đau lòng, thương xót nên đã lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ nguội nấu sẵn tưởng niệm Giới Tử Thôi. Cũng từ đó, ngày mùng 3/3 âm lịch hằng năm được coi là ngày Tết Hàn thực, nhằm tưởng nhớ đến công ơn dưỡng dục của những người đã khuất. Vào những ngày này, người dân đều ăn đồ nấu chín để nguội với tấm lòng thành kính nhất.
Tết hàn thực ngày bao nhiêu?
Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng Tết Hàn thực của người Việt vẫn mang những sắc thái riêng, mang đậm chất Việt. Vào ngày này người Việt không kiêng lửa, vẫn nấu nướng bình thường. Điều đặc biệt, người Việt còn sáng tạo nên bánh trôi, bánh chay với ý nghĩa tượng trưng đó là những thức ăn nguội - hàn thực. Như thế rõ ràng Tết Hàn thực của ta mang màu sắc dân tộc riêng, trường tồn trong quá trình dựng nước và giữ nước. Hai thứ bánh trôi và chay đều làm từ bột gạo nếp thơm. Bánh trôi nặn viên nhỏ, ngoài trắng, trong nhân đường đỏ, thả luộc trong nồi nước sôi, khi bánh nổi lên mặt nước vớt ra vừa chín tới vì thế bà Hồ Xuân Hương viết : Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bẩy nổi ba chìm với nước non. Còn bánh chay thì nặn tròn dẹt, không nhân, đặt lên đĩa nhỏ, khi ăn đổ nước đường lên trên.
Tết Hàn thực của người Việt không liên hệ tới Giới Tử Thôi mà những món ăn ngày này làm ra đều được cúng gia tiên với ý nghĩa con cháu đều hướng về tổ tiên, nguồn cội. Và cũng trong dịp này, dù ai đi đâu, ở đâu đến ngày mùng 3/3 âm lịch cũng cố gắng về với gia đình để được đi tảo mộ, để cùng nhau ngồi bên mâm cơm sum họp gia đình. Ngày nay, cứ mỗi dịp tết Hàn thực về, người dân mọi vùng quê đều làm bánh trôi, bánh chay. Còn ở thị thành, ngày xuân đi du ngoạn, khách cũng được hưởng hương vị bánh trôi, bánh chay từ các quán hàng. Giữa thủ đô Hà Nội, trong những phố cổ du khách có dịp được tận hưởng hương vị bánh trôi bánh chay mà tưởng đến chuyện xưa nhiều điều thú vị.
Ý nghĩa Tết hàn thực ở Việt Nam
Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng Tết Hàn thực của người Việt vẫn mang những sắc thái riêng, mang đậm chất Việt. Vào ngày này người Việt không kiêng lửa, vẫn nấu nướng bình thường. Điều đặc biệt, người Việt còn sáng tạo nên bánh trôi, bánh chay với ý nghĩa tượng trưng đó là những thức ăn nguội - hàn thực.
Hướng về cội nguồn Tết Hàn thực của người Việt chủ yếu mang ý nghĩa hướng về cội nguồn, tưởng nhớ công lao của những người đã khuất. Chẳng hạn người Việt có lệ dâng bánh trôi lễ Hai Bà Trưng vào ngày mùng 6/3 ở Hà Tây. Tiếp đó, ngày giỗ tổ Hùng vương mùng 10/3 người Việt từ khắp mọi miền tổ quốc về đền Hùng, Phú Thọ thắp hương và dâng cúng những đĩa bánh trôi bánh chay, tưởng nhớ cội nguồn… Như thế, rõ ràng tết Hàn thực của ta mang màu sắc dân tộc riêng, trường tồn trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Truyền thống dân tộc Bánh trôi bánh chay là đặc trưng của ngày lễ này. Từ xa xưa bánh trôi bánh chay đã đi vào thơ ca dân tộc như những món ăn đặc trưng phổ biến của người Việt. Hai thứ bánh trôi và chay đều làm từ bột gạo nếp thơm. Bánh trôi nặn viên nhỏ, ngoài trắng, trong nhân đường đỏ, thả luộc trong nồi nước sôi, khi bánh nổi lên mặt nước vớt ra vừa chín tới. Còn bánh chay thì nặn tròn dẹt, không nhân, đặt lên đĩa nhỏ, khi ăn đổ nước đường lên trên. Ôn lại chuyện xưa.
Vào những ngày này, cùng người thân thưởng thức một đĩa bánh trôi, bánh chay ta như cảm nhận được nhân tình thế thái. Nhiều người còn truyền tai nhau rằng, ăn bánh trôi bánh chay vào ngày này để ôn lại những chuyện xưa cũ, chuyện một thời đã xa của dân tộc ta.
Tóc trên đầu không những có thể bảo vệ da đầu, mà những sợi tóc đen óng mượt còn có thể tô điểm cho cả đầu, mặt của con người, làm cho mặt con người ta trở nên rạng rỡ, xinh đẹp thêm lên và càng hiện rõ thần sắc tinh anh lanh lợi của người.
Tóc trên đầu không những có thể bảo vệ da đầu, mà những sợi tóc đen óng mượt còn có thể tô điểm cho cả đầu, mặt của con người, làm cho mặt con người ta trở nên rạng rỡ, xinh đẹp thêm lên và càng hiện rõ thần sắc tinh anh lanh lợi của người. Điều quan trọng hơn là tóc còn có thể phản ánh trạng thái sức khoẻ của con người. Thông qua quan sát sự biến hoá nhỏ bé của tóc trên đầu, người ta có thể biết được bệnh.
Tóc trên đầu chủ yếu là do chất anbumin sừng cấu thành. Trong tóc có hơn 20 loại axít amin (amimo acid (S)), còn có cả hơn 10 loại nguyên tố vi lượng như kẽm, đồng, sắt ... nữa. Theo các báo đưa tin thì việc xác định hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong tóc có thể chẩn đoán được rất nhiều bệnh. Tóc cũng như các cơ quan khác trong cơ thể con người luôn luôn đổi mới, thay thế. Tóc của mỗi người có khoảng 10 vạn sợi. Cuộc đời mỗi sợi tóc ước khoảng 3 đến 4 năm. Tốc độ mọc dài ra mỗi ngày của một sợi tóc là 0,3 đến 0,4 milimét. Trong trường hợp bình thường, tất cả mọi sợi tóc không phải đều là mọc đồng bộ như nhau, ước tính khoảng trên 90% số tóc sinh trưởng, còn gần 10% số tóc lại bị rụng một cách tự nhiên. Người thành niên có khoảng 60 sợi tóc rụng trong mỗi ngày. Vì rằng số tóc rụng và số tóc sinh trưởng luôn giữ ở mức cân đối vơớinhau, cho nên không thấy có hiện tượng rụng tóc rõ rệt. Nhưng nếu số tóc rụng nhiều hơn số tóc sinh trưởng thì sẽ hình thành tình trạng mái tóc thưa, thậm chí có trường hợp rụng hết cả tóc. Hiện nay khoa học đã biết nguyên nhân của rụng tóc có rất nhiều, có nguyên nhân có tính chất sinh lý như người có chửa, người đẻ con bị rụng tóc, lại có cả nguyên nhân có tính chất bệnh lý do chủ yếu là mắc các chứng bệnh như thương hàn, viêm phổi, thiếu máu, ung thư ... Ngoài ra còn do cả nhân tố di truyền nữa.
Thực ra thì cổ nhân của chúng ta từ xa xưa cũng đã nhận thức được sự sinh trưởng và rụng tóc đều có quan hệ mật thiết đối với sức khoẻ. Y học dân tộc cho rằng sự thịnh suy của thận khí có thể hiện ra ở tóc, đó chính là "kỳ hoa tại phát" (tinh hoa của người ta là ở nơi tóc). Thận khí là một động lực thúc đẩy những hoạt động cơ năng như phát dục, trưởng thành và sinh đẻ. Khí thận khí đầy đủ, thì tinh lực của cơ thể dồi dào, lông tóc sinh trưởng khoẻ, xanh tốt. Ngược lại, nếu thận khí suy thoái quá sớm thì sẽ làm cho con người ta già trước tuổi, tóc rụng và râu tóc bạc sớm.
"Y thuật" có viết: "Nhìn vào màu tóc khô ráp hay óng ả có thể quan sát được bệnh của tạng phủ". Nhìn tóc biết được bệnh, chủ yếu là thông qua nhìn sự thay đổi về chất, về màu sắc của tóc để khám biết các bệnh có trong cơ thể và sự biến đổi, phát triển của nó.
Kinh nghiệm chứng minh rằng tất cả những trường hợp sau đây thì đều cần phải nêu ra ở phần đầu hoặc các phần khác có thể có bệnh tiềm ẩn, cần phải cảnh giác.
Tóc bạc quá sớm. Nếu thanh niên mà bạc tóc thì phải kiểm tra xem là do các nhân tố như di truyền, có vấn đề về mặt tinh thần, hay là do bị bệnh gây nên. Các bệnh như bệnh lao, bệnh về dạ dày và ruột, bệnh thiếu máu, bệnh xơ cứng động mạch ... đều có thể làm cho tóc bạc sớm.
Tóc quá đen hoặc tóc dần dần đen sẫm lại. Các nhà khoa học trên thế giới phát hiện tóc đen là màu sắc đặc biệt của những người thuộc giống da vàng. Nhưng tóc mà đen quá hoặc từ trước đến giờ không đen lắm, bây giờ bỗng đột nhiên dần dần đen nhánh lại, như vậy có khuynh hướng là bị mắc chứng ung thư.
Tóc rụng không bình thường, có thể nghĩ đến là trong cơ thể có khả năng thiếu kẽm. Tóc giòn, yếu, dễ gẫy, có thể nghĩ đến khả năng có bệnh ở tuyến giáp trạng. Y học dân tộc cho rằng tóc của người thành niên thưa thớt, trông khô cứng, màu vàng khè thì như vậy phần lớn thuộc về thận có khuyết tật, khí huyết hư suy gây ra.
Nam giới khi mà thấy tóc rụng nhiều quá mức thì phải nghĩ đến khả năng có bệnh về thận. Nữ giới tóc rụng cả hoặc lác đác rụng nhiều thì phải nghĩ đến khả năng mắc bệnh viêm thận. Khi thấy tóc rụng ở trên đỉnh đầu thường phải nghĩ đến khả năng do bị viêm kết tràng, viêm túi mật gây nên.
Rụng tóc có kèm thêm với cả các lông trong toàn thân thưa thớt, thì thường thường là biểu hiện của một số bệnh về nội tiết.
Mỗi ngày số tóc rụng tới trên mười sợi, thậm chí rụng hàng mảng tóc, đó là triệu chứng báo trước bị bệnh hói đầu, cần phải cảnh giác, tìm nguyên nhân gây bệnh để phòng trị sớm.
Nam giới sau khi lớn phổng, nếu thấy tóc cứ mọc lùi về sau, đầu tóc óng nhẫy, nhiều gầu, da đầu bị ngứa thì phải đề phòng hói đầu do thừa mỡ.
Bất kể là nam hay nữ, khi chải và gội đầu, phát hiện thấy tóc dễ gẫy rụng, trong da đầu tìm thấy những vết chấm, vằn, những cái bớt to bằng hạt đậu nành, nhưng lại không đau, không ngứa, thì phải đề phòng bệnh rụng tóc do vết chấm vằn, tục gọi là "bệnh trọc đầu".
"Nhìn tóc biết bệnh" chủ yếu thích hợp với những người ở độ tuổi thanh thiếu niên và trung niên. Còn về những người già, do tuyến mỡ ở da đã suy thoái, sự phân tiết ở da giảm đi, không đủ để làm mượt tóc, do vậy tóc trở nên khô khẳng và mất tính mượt mà, óng ả. Đó là một hiện tượng suy lão tự nhiên, không thuộc trạng thái có bệnh. Khi gặp những trường hợp nói trên, người già có thể không cần phải băn khoăn suy nghĩ nhiều.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Đây là quẻ Quan Âm thứ 78 được xây dựng trên điển cố: Lâm Đồng cứu giá hay cứu giá ở Lâm Đồng.
Quẻ thượng cát thuộc cung Ngọ. Mọi việc đang gặp khó khăn ắt tìm được hướng giải quyết. Muốn có tiền bạc hay cơ đồ thì cần có sự chỉ dẫn của quý nhân.
Thử quái binh thiện dụng sự chi tượng. Phàm sự binh ổn đại cát dã.
Điển cố quẻ Quan Âm: Lâm Đồng Cứu Giá
Đời vua Tùy Văn Đế, Đường Vương là Lý Uyên vào triều yết kiến. Thái tử lúc này là Dương Quảng, nhìn thấy vợ của Lý Uyên là Đậu Thái Chân rất xinh đẹp, liền giở trò trêu ghẹo. Lý Uyên biết được, tức giận nhưng không dám nói, lại sợ Dương Quảng sẽ mưu hại mình, bèn mượn cớ từ quan, chuẩn bị trở về quê hương ở Thái Nguyên. Dương Quảng không cam lòng, sai quân lính đi truy sát, mấy lần đều không ra tay được, vì thế Dương Quảng đích thân dẫn quân sĩ, lấy than bôi lên mặt, cải trang thành bọn cướp đường, định giết Lý Uyên ở Lâm Đồng.
Hôm đó, Lý Uyên cùng gia quyến đến sườn Thực Thụ trên núi Lâm Đồng, thì vừa giữa trưa. Hai người con trai của Lý Uyên là Lý Đạo Tông và Lý Kiến Thành đi vào trong rừng, bỗng thấy trong rừng có tiếng hô lớn, chỉ thấy vô số tên cướp mặt mũi đen nhẻm, tay cầm thương cầm búa chặn đường, quát lớn: “Con đường này là do ta mở, cây cối này là do ta chặt, muốn đi qua đường này phải trả tiền mãi lộ!” Lý Kiến Thành kinh hãi, quay ngựa chạy về. Còn Lý Đạo Tông quát rằng: “Bọn chó đáng chết, nhà ta là Lý phủ ở Lũng Tây, dám đến cản đường sao!” Nói rồi rút đao ra chém liền. Lý Kiến Thành chạy về nói với cha là Lý Uyên rằng: “Cha, không xong rồi! Phía trước có bọn cướp rất mạnh.” Lý Uyên gọi gia tướng lấy cây Phương thiên họa kích, lại lệnh cho Lý Kiến Thành bảo vệ gia quyến, định đi lên phía trước xem xét. Nào ngờ phía sau cũng có bọn cướp tiến đến.
Thực do ý trời, lúc đó Tần Quỳnh (? – 638) cũng vừa đi tới, do đi đường mệt mỏi, định đến nghỉ chân trong miếu Ngũ Viên. Bỗng nghe tiếng sát khí vang trời, lấy làm lạ, bèn thúc ngựa chạy đến giữa núi, thì thấy dưới chân núi khói bụi mù mịt, tiếng hô giết vang dậy. Tần Quỳnh ghìm ngựa quan sát kỹ, thì thấy vô số kẻ cướp đang vây một tốp quan binh, đang đánh nhau chí mạng. Tần Quỳnh vội thúc ngựa lao theo thế núi phi xuống, quát lớn: “Bọn giặc chó chớ cậy sức mạnh, hãy xem cái giản của ta đây!” Nghe tiếng quát sấm sét, bọn cướp hết sức kinh hãi, nhưng nhìn lại thấy chỉ có một người, thì không thèm để tâm, dăm ba tên cướp chạy đến đối địch với Tần Quỳnh. Tần Quỳnh vung cây giản lên, mấy tên cướp chết ngay lập tức.
Bọn cướp thấy vậy toan bỏ chạy, Tần Quỳnh thấy tên cướp che mặt bằng tấm lụa xanh có vẻ như tên cầm đầu, liền nhằm vào mặt đâm một nhát. May là Dương Quảng nhanh tay nhanh mắt né được, cây giản chỉ đâm trúng vai. Dương Quảng đau quá thét lên một tiếng lớn, thúc ngựa bỏ chạy.
Tần Quỳnh bắt được một tên tra hỏi: “Các ngươi là giặc cướp phương nào, sao dám cướp người nhà quan?” Người đó biết Tần Quỳnh uy mãnh, vội nói: “Xin ông tha mạng! Chỉ vì thái tử Lý Quảng và Đường Công Lý Uyên bất hòa, muốn sát hại ông ấy. Người mà ông vừa làm bị thương, chính là Đông cung thái tử. Xin ông tha mạng!” Tần Thúc Bảo kinh hãi toát mồ hôi, liền nghĩ: Đây là chỗ thị phi, lúc này mà không đi, thì còn đợi lúc nào. Bèn nhảy lên ngựa, chạy về phía trước.
Lý Uyên thấy vị hảo hán ra tay giúp đỡ, giúp người nhà mình thoát khỏi miệng hùm, liền thúc ngựa chạy lên để tạ ơn, không dè người này lại thúc ngựa chạy mất. Chạy được hơn mười dặm, Tần Quỳnh thấy Lý Uyên cứ đuổi theo không chịu dừng, chỉ có cách quay đầu lại nói: “Đường Công đừng đuối nữa, tiểu nhân họ Tần tên Lượng!” Rồi thúc ngựa chạy như bay.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Văn khấn tạ Thần linh Thổ địa (Từ 15-30 tháng Chạp)
Văn khấn tạ Thần linh Thổ địa (Từ 15-30 tháng Chạp). Lễ tạ Thần linh Thổ địa nơi mình sinh sống đã phù hộ cho gia đình một năm an khang, thịnh vượng. Lễ tạ được thực hiện vào thời gian cuối năm, từ ngày Rằm tháng Chạp trở đi.
Lễ tạ Thần linh Thổ địa nơi mình sinh sống đã phù hộ cho gia đình một năm an khang, thịnh vượng. Lễ tạ được thực hiện vào thời gian cuối năm, từ ngày Rằm tháng Chạp trở đi.
2. Sắm lễ:
(Áp dụng cho gia đình có ban thờ gồm 3 lư hương thờ: Quan Đương Xứ Thổ Địa Chính Thần, Hội đồng gia tiên và Bà Cô Tổ dòng họ.)
- Hương thơm - Hoa tươi (hoa hồng đỏ) 10 bông chia ra 2 lọ để 2 bên - 3 lá trầu, 3 quả cau râu dài đẹp - 2 đĩa hoa quả để 2 bên - Xôi trắng 2 đĩa to - Gà luộc 1 con (Gà giò hoặc gà trống thiến) hoặc là một cái chân giò lợn (chân trước) luộc, chân trái hay phải đều được. - Rượu trắng 0,5 lít + Chén đựng rượu 3 cái - 10 lon bia + 6 lon nước ngọt bày ở hai bên ban thờ - 1 bao thuốc lá + 1 gói chè - 1 đĩa bánh kẹo đầy - Một đôi nến hoặc đèn thờ.
Lễ vàng mã:
- 5 con ngựa 5 màu (đỏ, xanh, trắng, vàng, tím), kèm theo 5 bộ mũ, áo, hia, cờ lệnh, kiếm, roi, trên lưng mỗi con đặt 10 lễ tiền vàng. - 1 con ngựa đỏ to cũng kèm theo mũ, áo, hia, cờ, roi, kiếm. - 1 cây vàng hoa đỏ ( 1000 vàng ) - 1 đĩa đựng 50 lễ vàng tiền (để dâng gia tiên)
3. Văn khấn:
Nam Mô A Di Đà Phật!
Con kính lạy: - Quan đương xứ thổ địa chính thần - Thổ địa Ngũ phương Long mạch Tôn thần,
Hôm nay là ngày…tháng…năm…, nhằm tiết ….. Chúng con là:...............
Thành tâm sắm sanh phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi, trình cáo Chư vị Tôn Thần về việc lễ tạ thần linh Thổ Địa .
Gia đình chúng con nhờ có duyên lành mà đến an cư lạc nghiệp nơi này. Đội ơn thần linh Thổ địa che chở, ban ân, đất này được phong thủy yên lành, khí sung, mạch vượng, bốn mùa không hạn ách tai bay, tám tiết có điềm lành tiếp ứng. Trong ngoài ấm êm, toàn gia mạnh khỏe.
Nay nhằm ngày lành tháng tốt, gia đình chúng con sắm sửa lễ tạ mong báo đáp ân thâm, tỏ lòng tôn kính. Cúi xin Chư vị Tôn Thần lai giáng án tiền, nhận hưởng lễ vật, chứng minh tâm đức.
Cung kính nghĩ rằng thần linh Thổ địa sẽ tùy duyên ứng biến phù hộ cho gia đình chúng con được an cư, đạt được những điều mong ước, cho nhà cao cửa rộng, cho tăng tài tiến lộc, cho nhân vật hưng long. Âm dữ dương đồng, dốc lòng cầu khấn, cúi xin soi tận, ý khẩn tâm thành.
Kính thỉnh Bản gia tiên tổ liệt vị chân linh đồng lai hâm hưởng.
Cẩn cáo!
(Tùy theo điều kiện gia đình mà sắm lễ vật cho chu đáo)
Hướng bếp hợp người sinh năm 1950: - Năm sinh dương lịch: 1950 - Năm sinh âm lịch: Canh Dần - Quẻ mệnh: Khôn Thổ - Ngũ hành: Tùng Bách Mộc (Gỗ tùng bách) - Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Tây Bắc (Diên Niên); Đông B
Mua nhà là đại sự, cần xem xét kĩ lưỡng về phong thủy để chọn được nơi ở tốt, vận khí cát. Dưới đây là 5 yếu tố phong thủy khi mua nhà cần phải hết sức lưu ý.
Mua nhà là đại sự, cần xem xét kĩ lưỡng về phong thủy để chọn được nơi ở tốt, vận khí cát, mang tới may mắn cho chủ nhân. Dưới đây là 5 yếu tố phong thủy khi mua nhà cần phải hết sức lưu ý.
Xem thêm video clip: Top 3 con giáp tiêu tiền không phải nghĩ trong tháng 7
► Lichngaytot.com gửi tới bạn đọc công cụ xem hướng nhà và tra cứu thước lỗ ban chuẩn xác
1. Cấu tạoMột ngôi nhà được coi là có phong thủy cát khi mà có cấu tạo hợp lý, ngược lại sẽ là rất hung nếu ngôi nhà bố trí phạm phải các vấn đề cấm kị. Nhà khuyết góc thì vợ chồng bất lợi; nhà tọa Bắc hướng Nam thì phạm quỷ môn, bất lợi sức khỏe; nhà có phòng ngủ đối diện phòng vệ sinh hoặc phòng bếp thì quan hệ trong nhà không hòa hợp; trong nhà có xà ngang áp đỉnh thì sự nghiệp lụi tàn. Vì thế, yếu tố phong thủy khi mua nhà cần xem xét đầu tiên chính là cấu tạo. Hiểu đúng câu Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài kẻo chọn phải nhà phong thủy xấuPhong thủy quanh ngôi nhà thế nào mới hút nhiều tài lộc?Mua nhà không xem phong thủy, tiền thì mất mà tật vẫn mang 2. Vị tríPhong thủy truyền thống tin rằng, vị trí ngôi là là yếu tố cực kì quan trọng quyết định đến vận thế. Vị trí nhà tốt thì trợ giúp quan hệ gia đình càng thêm hài hòa, sự nghiệp rạng rỡ, còn vị trí xấu thì mang tới thất vận. Lưu ý phong thủy khi mua nhà là tránh bên cạnh trạm xăng, cầu vượt, đường sắt, ngã tư đường vì đều phạm sát.3. HướngHướng nhà không thể không quan tâm, nhất định phải hợp với tuổi của gia chủ. Hướng nhà tọa Nam hướng Bắc hầu như thích hợp với tất cả mọi người, vừa sáng sủa lại thoáng đãng, đón nắng tránh gió, có lợi cho tài vận.
4. Diện tíchMua nhà ở không phải càng lớn thì càng tốt, phong thủy học chỉ ra nhà quá lớn hoặc quá nhỏ thì đều xấu. Nhà rộng người ít thì âm thịnh dương suy, chủ ám bệnh dây dưa, âm linh sống nhờ. Nhà hẹp người đông tất dương nhiều âm ít, chủ tính tình táo bạo, quan tai thị phi nhiều.5. Số tầngNgười Việt kị số 4 vì là số tử, tượng trưng cho điềm xấu nên nhà không nên xây 4 tầng, cũng không nên ở tầng 4. Lựa chọn số tầng hay tầng nhà nên căn cứ vào ngũ hành bản mệnh, có thể chọn tầng tương ứng với ngũ hành của chính mình hoặc ngũ hành tương sinh với ngũ hành bản mệnh. Lỗi phong thủy phòng ngủ “tử hình” hôn nhân3 nguyên tắc phong thủy phải nằm lòng năm 2016Tip mua nhà chuẩn phong thuỷ 2016Thái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Người xưa cho rằng mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh. Nếu năm nào sao xấu chiếu mệnh nên dâng sao giải hạn cầu bình an, mọi tai ách sẽ qua...
Người xưa cho rằng: mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh, tất cả có 9 ngôi sao, cứ 9 năm lại luân phiên trở lại. Cùng một tuổi, cùng một năm đàn ông và đàn bà lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Trong 9 ngôi sao có sao tốt, có sao xấu, năm nào sao xấu chiếu mệnh con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật. . . gọi là vận hạn.
1. Ý nghĩa của làm lễ dâng sao giải hạn
Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạn vào đầu năm (là tốt nhất) hoặc hàng tháng tại chùa (là tốt nhất) hay tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.
Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày như sau:
Sao Thái Dương: Ngày 27 hàng tháng Sao Thái Âm: Ngày 26 hàng tháng Sao Mộc Đức: Ngày 25 hàng tháng Sao Vân Hán: Ngày 29 hàng tháng Sao Thổ Tú: Ngày 19 hàng tháng Sao Thái Bạch: Ngày 15 hàng tháng Sao Thuỷ Diệu: Ngày 21 hàng tháng Sao La Hầu: Ngày 8 hàng tháng Sao Kế Đô: Ngày 18 hàng tháng
2. Sắm lễ dâng sao giải hạn: Sao Mộc Đức
Lễ cúng dâng sao Mộc Đức tiến hành vào ngày 25 hàng tháng, thắp 20 ngọn nến xếp.
Mộc Đức là sao tốt nhưng không tốt cho những người vượng hoả.
Lễ vật gồm có: Hương, hoa, phẩm oản; Tiền vàng; Bài vị màu xanh; Mũ xanh; 36 đồng tiền;
Hướng về chính Đông để làm lễ.
3. Văn khấn dâng sao giải hạn: Sao Mộc Đức
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.
- Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cực Tử Vi Tràng Sinh Đại đế.
- Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.
- Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.
- Con kính lạy Đức Đông phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh quân.
- Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.
Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….
Hôm nay là ngày…… tháng………năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiên lập linh án tại (địa chỉ)……………………………………………………………để làm lễ giải hạn sao Mộc Đức chiếu mệnh.
Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.
Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Con gái có trán nhìn thẳng thì cân đối nhưng nhìn ngang thì hơi lõm là người thiếu quyết đoán, không có chủ kiến, ít nói, thường tự cô lập bản thân. Họ không có lập trường trong hôn nhân, tình yêu, bởi vậy dễ bị người khác điều khiển, đối phương nói một là một hai là hai nên nhiều khi bị tổn thương. Nhìn chung khi yêu, tuýp người này thường trở nên mù quáng, sẵn sàng làm tất cả vì đối phương.
2. Lông mày mảnh, mắt nhỏ
Người sở hữu lông mày mảnh và đôi mắt nhỏ thường nhu hòa, làm việc gì cũng từ tốn. Họ hướng nội, thích sự yên tĩnh. Khi yêu ai, họ luôn lấy kết hôn làm mục tiêu - kiểu người của gia đình, sẽ là người mẹ tốt, vợ hiền. Khi yêu họ luôn luôn hy sinh vì nửa kia, lấy nửa kia làm trung tâm thế giới của mình.
3. Tai mỏng, ít thịt
Người con gái tai không nhiều thịt, mềm, mỏng, trông bộ dáng có phần yếu đuố thường dễ bị đau yếu, thiếu tự tin, không có lập trường riêng, thiếu quyết đoán. Trong thế giới của họ, nửa kia chính là cả cả bầu trời và là trung tâm của mọi trung tâm.
4. Hàm trên nhô ra so với hàm dưới
Con gái có hàm trên nhô ra so với hàm dưới thường yếu đuối và tiêu cực, làm việc bị người khác hoặc những thứ xung quanh ảnh hưởng, đẽo cầy giữa đường. Thay vì tự lên kế hoạch, họ thích người khác sắp xếp rồi giao việc cho mình. Trong tình yêu họ có thể hy sinh hết mình vì nửa kia. Bởi vậy một khi rơi vào vòng xoáy của tình yêu, họ sẵn sàng thuận theo ý kiến của đối phương dù thật tâm họ không muốn như vậy.
Học cách nhìn thấu tâm tính một người, không phải để phán xét người ta, mà là để bản thân mình biết cách đối nhân xử thế, thiết lập quan hệ phù hợp với người đó, có thể thân thiết hay chỉ để xã giao.
Dưới đây là 4 cách nhìn thấu tâm tính người khác cổ nhân truyền "cực chuẩn" Dùng thời gian để hiểu tính cách Cách dùng thời gian để "nhìn người" là cách nhìn người lâu dài, có quá trính chứ không đưa ra kết luận vội vàng ngay lần đầu gặp mặt. Người xưa có câu: “Thức lâu mới biết đêm dài, chơi lâu mới biết là người cố nhân”. Dù là thời khắc quá khứ hay hiện tại thì điều đó vẫn đúng. Đừng để định kiến làm lu mờ đầu óc, hãy để thời gian trả lời tất cả.
Khi dùng thời gian để nhìn người, bạn nên tập trung vào một số điểm sau:
Người không thật lòng: Ban đầu rất nhiệt tình, thân thiện nhưng sau đó lại tỏ ra thờ ơ. Người nói dối: Cây kim trong bọc thì cũng có ngay lòi ra, nói dỗi mãi cuối cùng cũng bị lộ sơ hở. Kẻ nói suông: Một lần, hai lần rồi ba lần. Khi nào bạn cũng thấy họ nói nhưng chẳng bao giờ họ làm. Thế thì tốt nhất lánh xa vì những người này chỉ được cái ba hoa, khoác lác.
Dùng tiền tài để thử thách con người Phàm là con người, sinh ra ai cũng có máu tham lam, tham quyền, tham lợi. Dùng tiền để thử lòng người là cách được nhiều người xưa hay dùng. Gia Cát Lượng cho rằng, một người liêm khiết thường có những đặc điểm như: Trung thành vô hạn, làm việc liêm khiết vô tư, thấu hiểu nỗi khổ của dân chúng, chú trọng tiết kiệm, không hám giàu sang, không mê tửu sắc, tự khép mình vào kỷ luật.
Ảnh minh họa
Dùng đánh giá của người khác để nhìn nhận con người Tuy rằng cách dùng thời gian nhìn người là đúng đắn nhất, nhưng không phải lúc nào ta cũng có đủ thời gian để nhìn nhận một người. Trong trường hợp này, ta cần vận dụng các mối quan hệ xung quanh người đó, từ gia đình, bạn bè, quan hệ xã hội. Cân nhắc để đưa ra đánh giá con người đó thế nào.
Dùng mưu kế của mình nhìn thấu đối phương Cách này được rất nhiều các bậc tiền bối xưa ưa chuộng. Tức là dùng chính mưu kế của mình để đấu trí đối phương, xem đối phương xử lý như nào. Từ đó đưa ra đánh giá về con người, về khả năng của người đó.
7 Cách Dùng Người Của Gia Cát Lượng – Khổng Minh
1. Đem điều phải lẽ trái hỏi họ để biết “chí hướng”
2. Lấy lý luận dồn họ vào thế bí để biết “biến thái”
3. Lấy mưu trí trị họ để trông thấy “kiến thức”
4. Nói cho họ những nỗi khó khăn để xét “đức dũng”
5. Cho họ uống rượu say để dò “tâm tính”
6. Đưa họ vào lợi lộc để biết tấm lòng “liêm chính”
7. Hẹn công việc với họ để đo “chữ tín”
Theo Phunutoday Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
EXPLAIN not possible on query: UPDATE `tho_extensions`
SET `params` = '{\"mediaversion\":\"06d57cfed8d61eb2d4ce5a88f210b5c8\"}'
WHERE `type` = 'library' AND `element` = 'joomla'