Mơ thấy bó hoa: Được người khác giới yêu thích –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Peridot còn được biết đến như olivine hay chrysolite, được tạo thành bởi magma trong tinh thể núi lửa. Nó thường có màu olive hoặc vàng xanh. Peridot được người Ai Cập dùng làm trang sức và chữa bệnh. Vậy cùng Tìm hiểu về ý nghĩa của đá Peridot.

Nội dung
Đá Peridot còn được biết đến như olivine hay chrysolite, được tạo thành bởi magma trong tinh thể núi lửa. Nó thường có màu olive hoặc vàng xanh.
Peridot được người Ai Cập dùng làm trang sức và chữa bệnh. Nó đã được khai thác làm tinh thể quý khoảng bốn nghìn năm theo Kinh thánh, nơi tên Do Thái của nó là pitdah, và được cho là một trong những loại tinh thể dùng trong bản khắc quan tài của các thầy tu Do Thái. Đá Peridot được dùng để xua đuổi tà ma trong thời Trung cổ.
Đá Peridot tương thích với chakra tim, nó có thể tẩy sạch trái tim khỏi sự đố kỵ, oán giận, cay đắng, ghét bỏ và lòng tham, để ta tha thứ và quên đi, đồng thời mở lòng ra với niềm vui và những mối quan hệ mới. Do khả năng giải phóng giận dữ và tội lỗi, nó rất tốt để giải độc gan và túi mật, nơi chất chứa những cảm xúc này.

Peridot cung cấp một tấm khiên bảo vệ ta khỏi bị người khác lấy mất năng lượng. Một tinh thể tái sinh và cung cấp năng lượng, nó có thể được sử dụng để hồi sức, chữa lãnh cảm và mệt mỏi. Thật thế, đá peridot là một liều thuốc tăng lực cho cả cơ thể, củng cố hệ miễn dịch và ngăn bệnh tái phát. Nó có thể chữa bệnh phổi nhờ vào khả năng thúc đẩy cơ thể loại thải niêm dịch của mình. Đá Peridot có thể tăng cường thị lực và chữa các vấn đề tiêu hóa và da liễu, đặc biệt là mụn cóc.
Peridot còn được biết đến như olivine hay chrysolite, được tạo thành bởi magma trong tinh thể núi lửa. Nó thường có màu olive hoặc vàng xanh.
Peridot được coi là viên đá của Mặt Trời. Peridot có màu xanh hi vọng kết hợp với vàng cao quý sẽ xua tan nỗi sợ hãi trong đêm và mang lại sự may mắn trong tình yêu, hạnh phúc bền chặt. Trang sức từ Peridot có thể vừa tăng vẻ đẹp vừa xua đuổi tà ma.
Thuở xưa người ta đã dùng đá Peridot làm bùa hộ mệnh bằng cách đục lỗ vào mảnh đá, luồn sợi lông con lừa qua lỗ ấy rồi đeo vào tay trái và coi đó như là bùa “hộ phù trừ xui”.Ngày nay, việc dùng đá này làm bùa hộ mệnh càng phổ biến, bởi khi được gắn trên trang sức nó sẽ khiến chủ nhân quyến rũ, quý phái và nổi bật mọi lúc, mọi nơi.

Mang màu xanh mát, Peridot được xếp vào đá quý tuổi tháng 8 – tượng trưng cho vẻ đẹp dịu dàng, thể hiện nét hiền hoà lãng mạn của người mang nó. Đặc biệt, với những người tuổi Thân, sử dụng bộ trang sức gắn đá quý Peridot sẽ có được sự may mắn, nó sẽ mang lại cho bạn niềm hạnh phúc, mãn nguyện trong cuộc sống. Ngoài ý nghĩa là bùa hộ mệnh, Peridot còn mang ý nghĩa ghi dấu ấn về thời gian – đây là viên đá kỷ niệm 16 năm ngày cưới.
Peridot có độ cứng 6,5 trên thang Mohs nên mềm hơn nhiều đá quý khác như: Kim Cương, Ruby, Emeral, … vì vậy khi cất giữ nữ trang peridot bạn nên cẩn thận, tránh cọ sát và làm rơi. Vệ sinh peridot với xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi tích tụ nhiều chất dơ hoặc dùng nước rửa trang sức chuyên dụng. Không nên rửa peridot bằng máy siêu âm.
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
Nhập hội cùng những con giáp quá coi trọng “nước sơn”
Bài viết của tác giả Phong Nguyên
Trong nhiều sách Tử Vi, cũng như trên tờ giai phẩm KHHB này đã có nhiều lần bàn về “MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU”; nhưng vì đề tài này rất bao la nên tôi tưởng không phải là vô ích khi đưa ra những chi tiết và kinh nghiệm dưới đây để qúy bạn tìm hiểu dễ dàng và chính xác hơn về Mệnh Vô Chính Diệu.
Thực vậy, từ trước đến nay, mỗi khi gặp trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu, chúng ta thường thường chỉ biết căn cứ vào những câu phú quen thuộc như:
– Mệnh Vô Chính Diệu phi yểu tắc bàn.
– Mệnh Vô Chính Diệu đắc tam không nhi phú qúy khả kỳ.
– Tam không độc thủ phú quý nan toàn.
– Xét xem phú qúy mấy người, Mệnh Vô Chính Diệu trong ngoài tam không …
Chứ làm gì có một hệ thống hoặc tài liệu chi tiết nào về trường hợp trên, đành rằng có những nhà tử-vi rất thông suốt về Mệnh Vô Chính Diệu nhưng rất tiếc các vị đó lại không chịu đem ra cống hiến. Vì vậy tôi mạo muội gom góp những chi tiết đã thâu lượm được và tạm chia làm hai phần:
– Những ưu khuyết điểm về Mệnh Vô Chính Diệu.
– Những điều phức tạp về Mệnh Vô Chính Diệu.
1-NHỮNG ƯU KHUYẾT ĐIỂM VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
A) Những khuyết điểm
Hầu hết các nhà tử-vi đều không khen những lá số có cách Vô Chính Diệu tại Mệnh vì cho rằng những cách này có nhiều khuyết điểm hơn là ưu điểm. Những khuyết điểm chính như sau:
1) Căn bản không vững
Căn bản ở đây không có nghĩa là khả năng hoặc tài năng mà chỉ có nghĩa là môi trường của mình. Mệnh Vô Chính Diệu (tức là không có chính tinh thủ mạng) bao giờ cũng phải tuỳ thuộc vào chính tinh ở cung xung chiếu, và khi đã phải tuỳ thuộc tức là không có căn bản vững, hoặc nói nôm na là không có gốc. Nếu không được cung xung chiếu có sao tốt lại phải hướng sang hai cung hợp chiếu (Tài và Quan) mà ảnh hưởng sẽ yếu hơn nhiều và do đó môi trường của Mệnh lại càng bấp bênh hơn nữa. Vì vậy, dù cho người Mệnh Vô Chính Diệu có tài năng, thông minh (do các yếu tố tử-vi khác cho hưởng) rất dễ bị thăng trầm về sự nghiệp khi gặp Đại tiểu hạn giao động mạnh, không khác gì căn nhà không có cửa bị cơn gió lốc thổi thốc vào làm tan tác cả căn nhà, trừ trường hợp có Tuần Triệt án ngữ thì đỡ hơn nhiều.
2- Khó đóng vai trò chính
Như trên đã nói, Mệnh Vô Chính Diệu không khác gì căn nhà không có cửa dễ bị ảnh hưởng của thời tiết cũng như ngoại cảnh. Do đó người Mệnh Vô Chính Diệu (dù Đắc Tam Không) không thể và không nên giữ vai trò chính trong bất cứ lĩnh vực, cảnh ngộ nào, từ xã hội, gia đình cho đến hôn nhân. Chính cụ Hoàng Hạc cũng đã nêu trên KHHB trước kia là gặp trường hợp này nên cam phận làm “phó” thì yên thân, nếu làm chính dễ bị mất chức. Riêng tôi, tôi còn nói thêm rằng ngay trong gia đình cũng vậy, người Mệnh Vô Chính Diệu cần phải là con thứ hoặc nếu chẳng may là con trưởng thì cần phải là con bà vợ sau của cha mình (tức là bà vợ chính không có con trai). Như thế mới có thể sống lâu hoặc mới có công danh khá được. Thậm chí đến vấn đề hôn nhân, người Mệnh Vô Chính Diệu nên chịu làm “kẻ đến sau” thì cuộc sống dễ thịnh vượng hơn, còn trường hợp vợ mình là chính chuyên thì đương nhiên bị thiệt thòi về sự nghiệp. Đó là một điểm “hận” lớn lao cho người Mệnh Vô Chính Diệu. Kể ra cũng chẳng có gì khó hiểu, vì khi căn nhà trống (vô chính diệu) thì ta cần có một cái vật gì đó che bớt cho khuất gió, tuy hơi trở ngại nhưng đỡ bị tan tác khi có gió mưa lớn. Về người cũng vậy, nếu có người khác “đứng mũi chịu sào” thì khi gặp trách nhiệm lớn lao mình làm phó đâu có chịu lỗi nhiều hoặc gánh vác nhiều, dù cho mình có nhiều khả năng chăng nữa. Còn về hôn nhân tuy không đặt vấn đề trách nhiệm nhưng phải có cái gì đó “án ngữ“ gián tiếp, ví như Tuần, Triệt vậy.
3) Khó phát sớm
Trừ một vài trường hợp đặc biệt, tôi nghiệm thấy các người mệnh vô chính diệu đều không phát khi còn trẻ, không khác gì một cái cây non khi mới nẩy mầm nơi đất xấu, phải trông cậy vào phân bón hoặc mưa nắng thuận hòa mới dần dần vươn cao, có hoa có lá. Vì vậy, nếu quý bạn có Mệnh Vô Chính Diệu cũng đừng bao giờ quá thất vọng khi thấy sự nghiệp, công danh của mình phát chậm, miễn là những đại vận từ trung vận trở đi không quá tệ. Nếu qúy bạn nào phát sớm trong trường hợp này tưởng cũng không nên qúa mừng và tự tin vì không khác gì “hoa sớm nở tối tàn” về công danh cũng như về tuổi thọ. Để cho dễ hiểu, tôi xin đơn cử một thí dụ: một đứa bé sơ sinh nếu ra đời non hoặc qúa yếu đuối ngay từ lúc lọt lòng mẹ, nếu cứ cho uống đủ các thứ thuốc bổ để mau mập mạp, khoẻ mạnh không thể đúng cách bằng nuôi nấng một cách điều độ cho khoẻ mạnh lần lần. So với Tử vi cũng vậy, nếu Mệnh Vô Chính Diệu mà gặp ngay Đại Hạn kế tiếp thật tốt rồi những đại hạn sau xấu thì không thể nào hay bằng đại hạn kế kém nhưng những đại hạn sau tốt đẹp, để cho mệnh đủ thời gian hấp thụ các sao thuộc các cung xung chiếu và hợp chiếu, như thế mới đủ khả năng sử dụng các đại hạn tốt một cách vững bền.
4) Nghị lực kém
Khuyết điểm sau chót của người Vô Chính Diệu tại Mệnh là khó lòng họ có can trường hoặc tinh thần dũng mãnh cương nghị, dù có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng vậy. Điều này cũng rất dể hiểu vì khi mình nhờ vả ai (tức là Mệnh nhờ các cung chiếu) thì mình phải chịu ảnh hưởng của người đó, nếu không muốn nói là lệ thuộc và khi đã ở cảnh ngộ như thế thì làm sao giữ vững được lập trường. Tuy nhiên, nếu Mệnh chịu ảnh hưởng của cung Tài Quan nhiều hơn thì việc lệ thuộc cũng nhẹ hơn nhiều, vì Tài Quan là các cung của cá nhân mình, thì chỉ ngại cung Thiên Di, nếu có các chính tinh dùng cho Mệnh được nhiều thì sự lệ thuộc vào ngoại giới sẽ mạnh mẽ hơn vì cung Thiên di tiêu biểu cho giới giao thiệp, bạn bè trong xã hội (Tôi sẽ bàn về cung Thiên Di trong một bài riêng biệt). Vậy quý bạn cần chú ý đến điểm này khi cân nhắc về nghị lực của người Mệnh Vô Chính Diệu.
Những ưu điểm
Chắc qúy bạn nào có Mệnh Vô Chính Diệu sau khi đọc những điểm trên đây đều thất vọng cho số phận của mình, nhưng thực ra con người Mệnh Vô Chính Diệu lại có những điểm độc đáo khác mà những người khác ít khi có.
1) Đa năng mẫn tiệp
Khi Mệnh đã “bỏ ngõ” tuy dể bị ảnh hưởng của các sao xấu bên ngoài nhưng cũng tiếp nhận dễ dàng những tinh hoa của các cách tốt chiếu về, nếu có. Do đó, người Mệnh Vô Chính Diệu (khi lớn tuổi) thành công dễ dàng nhưng tuần tự trong mọi lãnh vực do khả năng tìm hiểu, tò mò, kiên nhẫn của mình, mức độ thành công tùy theo các cách tốt trong tử vi. Vì thế, trong nhiều sách như cuốn Tử-Vi Đầu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang đều nói rằng người Mệnh Vô Chính Diệu khôn ngoan sắc sảo là thế. Nếu qúy bạn là Chủ nhân hay Giám đốc thì nên dùng người Mệnh Vô Chính Diệu vì họ rất chịu khó học hỏi, có lương tâm nhà nghề, có óc cầu tiến, nhưng đừng bao giờ dùng họ trong vai trò chủ chốt như đã nói trên để cho họ khỏi bị mất chức. Đến như Khổng Minh kia (cung Mệnh Vô Chính Diệu) tuy tài ba phi-thường như thế mà cũng đành phải chịu làm cố vấn, quân sư cho kẻ khác, chứ đâu có xưng vương đồ bá gì nổi …
2) Ít bị tai nạn
Tôi xin nói ngay là người Mệnh Vô Chính Diệu bớt được nhiều tai nạn chứ không phải là chẳng bao giờ bị tai nạn. Sở dĩ họ được điểm may như vậy là vì Mệnh Vô Chính Diệu khi gặp Đại tiểu hạn Sát Phá Liêm Tham và hung tinh đắc địa lại phát mạnh, trong khi Mệnh có chính tinh lại không hợp và có khi còn bị nguy hại. Như vậy là Mệnh VCD đã bớt đi một số yếu tố tai hại vì đã quen với hung tinh.
Vì theo nguyên tắc chỉ có hung tinh mới gây ra tai ương nhiều hơn các sao khác, vì các bại tinh chỉ gây thất bại hoặc bịnh hoạn chứ ít khi đem đến tai nạn như hung tinh. Như vậy kể ra cũng công bằng vì người Mệnh Vô Chính Diệu thường hay khổ về tinh thần thì ít ra cũng phải bớt được tai ương nhiều.
3) Dễ thích ứng với hoàn cảnh
Mệnh Vô Chính Diệu chẳng khác gì Mệnh trung lập, gặp đại vận nào cũng thích ứng được không bị cảnh “chéo cẳng ngỗng” như Mệnh có chính tinh, do đó đỡ bị gặp bước đường cùng (Đây tôi không nói về thọ yểu mà chỉ bàn đến công danh, sự nghiệp, vì lẽ tất nhiên gặp hạn xấu qúa thì phải chết). Thí dụ như hạn gặp Tuần, Triệt hoặc Thiên Không đối với Mệnh có chính tinh (nhất là sao Tử-Phủ) thì rất tai hại, bất lợi nhưng đối với Mệnh Vô Chính Diệu lại hay vì không khác gì nhà cửa đang trống trải bị gió thốc vào nay lại được lắp cửa ngõ đàng hoàng (tức là Tuần Triệt, Thiên Không) thì căn nhà yên ổn biết bao. Tôi đã được xem nhiều Lá số vô chính diệu, có người bị thăng trầm luôn luôn nhưng gặp hoàn cảnh nào cũng thích ứng được rồi dần dần ổn định
II- NHỮNG ĐIỂM PHỨC TẠP VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
Tôi có thâu thập được khá nhiều điểm phức tạp về cách giải đoán Mệnh Vô Chính Diệu, nhưng chỉ xin nêu ra những điểm chính và quan trọng (tôi không nhắc lại những điểm đã bàn tới trên KHHB) để qúy bạn đỡ bị lúng túng khi quyết đoán:
1) Đắc Tam Không
Thường thường các nhà tử vi đều chê rằng Mệnh Vô chính diệu chỉ tốt khi đắc tam Không (tức là có Tuần, Triệt, Địa không hoặc Thiên không tôi không bàn chứ “Không” ứng cho những sao nào kể trên vì có vị không công nhận Tuần là “Không”, có vị lại bảo rằng Thiên Không mới không phải là “Không” nhưng chưa có ai chứng minh được hợp lý), và cụ Song An Đỗ Văn Lưu (tác giả cuốn Tử vi chỉ nam) có nêu ra thêm là mạng Hỏa và Kim mới hợp với cách này nhất. Điểm này chỉ đúng khi đương số là con một, mà tôi đã bàn trên KHHB rồi. Ngoài ra, quý bạn còn phải phân biệt như sau:
- Nếu mạng có nhiều trung tinh rực rỡ quần tụ mà có một Không án ngữ và hai Không chiếu về thì đừng nên ham cách “Đắc tam không” nữa vì các trung tinh bị mất hiệu lực. Trong trường hợp này chỉ nên có Tam không ở 3 phương chiếu về là hơn, nếu không thì chẳng cần đủ 3 Không mới khỏi tai hại cho Mệnh.
- Khi nào Mệnh không chính tinh mà chỉ có toàn bại tinh hoặc bàng tinh không quan trọng mới cần có một “Không” án ngữ, nhưng lại có điểm thiệt thòi là các cách hay ở bên ngoài khó bổ túc cho Mệnh vì bị “Không” ngăn trở, thành ra chưa hẳn là hoàn toàn có lợi. Về trường hợp này nhiều vị cho rằng nên có Thiên không hoặc Địa không hơn là Tuần, Triệt vì hai sao Thiên Địa Không không ngăn trở sự xâm nhập hoặc ảnh hưởng của các sao bên ngoài.
2) Không đắc Tam Không
Trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu không đắc Tam Không, tức là chỉ có Nhất, Nhị Không (ít khi không đắc Không nào) chưa hẳn là kém Tam Không và cũng không ngại “phi yểu tắc bần”, vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.Chỉ có điểm cần nhất là cung Phúc Đức không được xấu vì Mệnh yếu sẵn rồi phải nhờ vào cung “gốc” là cung Phúc Đức để tránh vấn đề kém thọ trước đã rồi mới tính đến công danh, sự nghiệp qua các cung hợp chiếu và đại hạn. Tôi đã được xem nhiều lá số Mệnh Vô Chính Diệu chỉ có đắc Nhất Không mà vẫn phú quý và chẳng hề chết non, nhưng những lá số này không có cái nào có cung Phúc Đức xấu.
3) Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu hư không chi địa
Cách này chắc nhiều bạn đã biết và nhiều nhà tử vi cho rằng rất hay, nhưng chúng ta cũng cần phân biệt một vài trường hợp như sau để khỏi sai lạc nhiều:
– Khi Mạng vô chính diệu có nhiều sao xấu (như: Địa Kiếp, Hỏa Linh, Phục Binh…) thực ra không nên có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu vì như thế không khác gì “vạch áo cho người xem lưng” bao nhiêu sự xấu xa trong nhà mình đem phô ra hết, tuy vẫn thành công, phú qúy nhưng mọi người đều thấy rõ bộ mặt thực của mình, như vậy tưởng cũng chẳng lấy gì là hay. Trong trường hợp này thà đừng có Nhật Nguyệt hoặc nếu có thì hãm địa (tức là không sáng sủa) còn hay hơn để đỡ bị chê cười, nhục nhã.
– Nếu mạng vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ mà có Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu thì không còn được hưởng cách này nữa, hoặc nếu có được hưởng cũng chỉ là cái vỏ phú quý, đó là “giả cách” mà thôi.
– Nếu được đúng cách Nhật Nguyệt (tức là Mệnh không có Tuần, Triệt và cũng không có các sao xấu) thì nên có thêm Thiên Không hoặc Thiên Hư để khoảng chân không được thăm thẳm cho có nhiều chiều sâu cho mặt trời, mặt trăng chiếu, như thế công danh, phú qúy mới phi thường và óc thông minh mới siêu việt, nhưng vẫn phải đóng vai trò “phó” mới lâu bền được
4) Đại tiểu hạn
Đối với Mệnh Vô chính diệu, việc giải đoán Đại tiểu hạn khác hẳn đối với Mệnh có chính tinh thủ Mệnh. Vì Mệnh vô chính diệu có khả năng hấp thụ đủ mọi cách, từ cách Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng lương cho đến cách Sát Phá Liêm Tham cùng với hung tinh đắc địa, chẳng bao giờ không ”ăn khớp” với các cách này. Tuy nhiên, chỉ ngại đi đến Đại tiểu hạn cũng Vô chính diệu lại không có Không nào thì khác nào một cái nhà trống, không cửa ngõ lại ở trên một khu vực “đồng không mông quạnh”, làm sao chống lại được mưa gió hoặc bị ảnh hưởng của bên ngoài, như thế tức là làm ăn thất bại dễ dàng, sự nghiệp suy sụp mạnh mẽ.
Qua những điểm tôi trình bày trên đây, chắc hẳn qúy bạn đều nhận thấy rằng dù sao người có Mệnh Vô chính diệu vẫn chịu nhiều thiệt thòi, bất lợi, nhất là đối với ai ham công danh, quyền chức lớn, mặc dù họ có nhiều tài năng đôi khi xuất chúng, nhưng tài để phục vụ cho kẻ khác (nhiều khi kém mình) thì tưởng cũng là điều không hấp dẫn.Chỉ đối với ai có đầu óc triết lý, ưa sống về tinh thần, ưa nghiên cứu về lý số, biết an phận thời may ra mới hợp cách Mệnh Vô chính diệu, dù đắc Tam Không hay Không.
KHHB số 74C2
![]() |
| ► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác |
![]() |
| Ảnh minh họa |
7. Ngọ
Vào năm Tỵ, tài vận của người tuổi Ngọ tốt, nhưng cần chú ý sức khỏe.. Nên cẩn thận với bạn bè và các giấy tờ mang tính pháp luật. Tài vận 6 tháng đầu năm của người tuổi Ngọ khá tốt, đặc biệt là tháng 2, tháng này kiếm tiền thuận lợi, có thể đầu tư vào kinh doanh.
8. Mùi
Vào năm Tỵ, vận số người tuổi Mùi khá may mắn, sự nghiệp thuận lợi, có khả năng thăng tiến. Tài vận tốt, 7 tháng đầu năm đều có sự xuất hiện của sao “Dịch Mã”, các sao lành “Long Đức”, “Thiên Hỉ”, “Tử Vi” chiếu ở trên cao nên “Thành công ở bên ngoài, kiếm được tiền ở nơi xa”, trong đó tốt nhất là các tháng 2, 4 và 5.
9. Thân
Năm Tỵ, người tuổi Thân có quý nhân phù trợ, nhiều sao tốt chiếu mệnh, mọi chuyện “gặp dữ hóa lành”, tài vận có chiều hướng biến chuyển tốt đẹp. Nếu nỗ lực phấn đấu, đặc biệt là từ tháng 3 đến tháng 9 “dốc sức tiến lên” gặt hái thành công. Tháng 11 và 12 cũng là tháng tốt đẹp. Sự nghiệp trong năm Tỵ sẽ có nhiều đột phá mới. Cần lưu ý tháng 3 và tháng 7, có thể sẽ tổn thất về tiền bạc.
10. Dậu
Năm Tỵ có thể nói là “chẳng may hợp ý”, “hữu danh vô thực” đối với người tuổi Dậu. Năm này chỉ là năm bình thường đối với họ. Do có sự xuất hiện của hai sao là “Bạch Hổ” và “Phi Liêm” nên tài lợi không thuận, có biến động xấu. “Bạch Hổ” vào cung mệnh nên dễ gây tổn thương tới người trong gia đình. Tháng tương đối tốt cho tài vận vào năm Tỵ là tháng 8, song đáng tiếc là trong tháng này còn có sự xuất hiện của 3 sao dữ “Phục Thi”, “Kiếm Phong” và “Thiên Khốc”, có tiền của nhưng tâm tư không ổn định.
11. Tuất
Gặp được sao “Long Đức” nên có thể nói năm Tỵ là năm “đi đúng đường lối” của người tuổi Tuất, có được quyền lực. Thêm vào đó, có sao “Tử Vi” chiếu ở trên cao nên “mưu sự như ý”, là năm tài vận dồi dào. Cơ hội kiếm tiền nhiều nhất trong năm Tỵ là tháng 5. Năm Tỵ còn làm “rung động lòng người”, được người khác bảo vệ và che chở, mặc dù có chuyện kiện tụng, song vẫn có thể khống chế nên không làm hại tới người tuổi Tuất.
|
12. Hợi
Tài vận vào năm Tỵ của người tuổi Hợi khá tốt, đặc biệt có rất nhiều cơ hội phát tài vào tháng 2 và 5, song cũng cần lưu ý tháng 4 và 6 có thể khiến người tuổi Hợi “vô duyên vô cớ” tổn hao tiền của.
(Theo 12 con Giáp về tài vận)
Thực ra, về mặt phong thủy, không gian cư trú tại ngã ba có nhiều điểm cần xem xét chi tiết. Thứ nhất là sự tương quan giữa ngôi nhà và con đường đâm thẳng vào nhà. Nếu nhà lớn mà con đường đâm thẳng nhỏ hơn thì không đáng ngại (như các trung tâm thương mại rất hay nằm tại ngã ba, hoặc nhiều tòa dinh thự lớn khác cũng vậy). Ngược lại, nếu con đường rộng theo kiểu "nuốt chửng" ngôi nhà thì nên làm tường che chắn hoặc trồng rào cây xanh dạng bình phong để giảm tác động trực xung của luồng khí.
Thứ 2 là tương quan giữa con đường đâm thẳng và con đường chạy ngang (tức là đường mặt tiền của nhà). Nếu đường chắn ngang lớn hơn thì đường đâm thẳng sẽ giảm tác dụng. Ví dụ, nhà nằm trên các xa lộ hoặc đường vành đai có con lươn chắn giữa thì dù phía bên kia có đường nhánh nào đâm thẳng cũng khó tác động được vào nhà.
|
| Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn có vị trí đắc địa |
Thứ 4 là chiều dài của con đường đâm thẳng và chiều hướng lưu thông của xe cộ (giống như xem chiều nước chảy của dòng sông vậy). Đường đâm thẳng càng dài và lưu lượng xe cộ càng đông thì nguy cơ gây trực xung cho nhà ở ngã ba - xét một cách "hiện thực" nhất, là xác suất tai nạn giao thông - sẽ càng cao. Ngược lại, nếu đường nhỏ, ngắn thì sẽ giảm bớt hung khí, ít khả năng xảy ra tai nạn.
Có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên về phong thủy trong quy hoạch của người Pháp trước đây, nhưng nếu ta quan sát Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn hôm nay sẽ thấy: Nhà thờ Đức Bà tuy nằm ở vị trí gặp mặt đường Đồng Khởi hướng thẳng trước mặt, nhưng thực ra chiều lưu thông xe cộ lại hướng từ công trình xuôi về phía bờ sông (khắc xuất); thêm vào đó, phía trước lại có hẳn một quảng trường cây xanh, rất thoáng đãng, các công trình chung quanh không lấn át. Do đó ảnh hưởng của ngã ba không còn nữa.
Thứ 5, như 2 mặt của 1 vấn đề, có ngã ba xấu thì cũng có ngã ba tốt, vì chúng vốn là đường nhỏ không có xe lớn lưu thông và đầu đường là những công trình dân dụng sạch sẽ gọn gàng, không có công trình gây ô nhiễm. Những ngã ba như vậy thậm chí còn lợi hơn cả nhà bình thường, vì trước mặt nhà có khoảng rộng (minh đường giao tỏa) đảm bảo tầm nhìn và giao thông tốt hơn.
Như vậy, trên thực tế có rất nhiều công trình ở ngã ba mà vẫn an lành, thuận lợi cho việc ở cũng như kinh doanh, một phần là nhờ các mối tương quan nêu trên. Khi đô thị được chỉnh trang tốt, giảm ô nhiễm và có các khoảng xanh, lộ giới chặt chẽ thì hầu như không còn những ngã ba bất lợi nữa.
(Theo Thanhnien)
|
Tháng cô hồn và ngày lễ Vu Lan đều nằm vào tháng 7 âm lịch hàng năm. Không chỉ tại Việt Nam, Trung Quốc mà các nước Đông Á cũng rất phổ biến. Tháng cô hồi còn gọi là tháng xá tội vong nhân là một tín ngưỡng trong phong tục của những nước theo Đạo và Phật Giáo học.
Truyền thuyết dân gian cho rằng từ ngày 2/7 âm lịch đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở cổng Quỷ Môn quan và ma quỷ sẽ được thoát ra từ tứ phương.

Trong ngày này, các gia đình thường lên chùa là lễ Vu Lan hoặc đi tết báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên,.. và mỗi nhà đều làm một mâm cơm chay thắm hương lên bàn thờ Phật và bàn thờ người thân thể tỏ lòng báo hiếu.
Riêng mâm cúng cô hồn thì thường thực hiện vào lúc chiều tốt, vì người ta quan niệm rằng, lúc chiều tốt là khi giáp ranh giữa ánh sáng và bóng tối, là khi các cô hồn chưa siêu thoát hoạt động mạnh mất. Mân cúng cô hồn thường đặt ở ngoài sân hoặc tại cổng, không được cúng trong nhà.

Cúng các cô hồn trong tháng bất cứ ngày nào, thường là ngày mùng 2 và 16 âm lịch, để không bị cô hồn phá việc làm ăn hay mong có cuộc sống yên bình.
Thăm mộ người thân hoặc đi vãnh sanh đường trong chùa.
Hạn chế sát sinh các con vật
Nên ăn chay để tránh những điềm dữ
Là nhiều việc phúc đức trong tháng
Nên ăn nói nhã nhẵn vui vẻ, hạn chế các cuộc xung đột hay bạo lực
Nên đi chùa thắp nhanh cầu sức khỏe, bình an
Xem ngày tốt xuất hành trong tháng để công việc thuận lợi, may mắn hơn.
Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông sẽ thu hút sự chú ý của bọn ma quỷ, khi ngủ dễ bị chúng xâm nhập vào giấc ngủ quấy phá.
Người yếu bóng vía nên hạn chế đi đêm vì buổi đêm là thời gian mà quỷ hoạt động nhiều
Không được nhổ lông chân vào những ngày này vì” một sợi lông chân quản 3 con quỷ”, người có nhiều lông chân thì ma quỷ còn ít đến gần
Không tùy tiện đốt vàng mã, đồ giấy vì ma quỷ thấy thế sẽ bu đến
Không ăn vụng đồ cúng vì đồ đó dành cho mà quỷ, sẽ gặp tại hạo vào người
Không phơi quần áo vào ban đêm vì ma quỷ mà trông thấy sẽ mượn và để lại âm khí trong quần áo.
Khi đi chơi đêm không được gọi tên nhau, vì ma quỷ sẽ nhớ tên người đó.
Không hù dọa khiến người khác giật mình, khiến họ bị “hồn bay phách lạc” ma quỷ dễ xâm nhập
Cây đa là nơi hội tụ nhiều âm khí, hạn chế đến gần
Sưu tầm
Yếu tố gây động trong phong thủy âm trạch
Để giải đáp vấn đề này, trước hết chúng ta phải biết cơ chế cấu thành vận mệnh. “Mệnh” tức là Bát tự (tứ trụ), do Thiên can, Địa chi tạo thành, “Vận” tức là đại tiểu vận, lưu niên,..cũng do các Thiên can, Địa chi tạo thành, bởi vậy “Vận mệnh” đều do can chi tổ hợp mà thành, mà can chi là những ký hiệu đại diện của ngũ hành, vì thế vận mệnh thực chất là sự tổ hợp của ngũ hành. Vì vậy sự cát hung của vận mệnh suy cho cùng là ngũ hành của một người có cân bằng hay không hoặc có thuận nghịch hay không trong trạng thái thời gian và không gian nhất định. Do đó, muốn thay đổi vận mệnh, chỉ cần điều chỉnh được sức mạnh ngũ hành là có thể đạt được mục đích. Ví dụ ngũ hành của 10 Thiên can Giáp dương Mộc, Ất âm Mộc, Bính dương Hỏa, Đinh âm Hỏa, Mậu dương Thổ, Kỷ âm Thổ, Canh dương Kim, Tân âm Kim, Nhâm dương Thủy, Quý âm Thủy; Ngũ hành 12 Địa chị gồm Tý thủy - Ngọ hỏa - Mão mộc - Dậu kim; Thìn - Tuất - Sửu - Mùi thuộc thổ;...v.v..
Biểu đồ Bát Tự mẫu: Tỷ phú B: Giờ Thìn ngày 13/06/1928
| Giờ | Ngày | Tháng | Năm |
| Mậu Thìn | Giáp Thân | Mậu Ngọ | Mậu Thìn |
| Mậu Ất Quý | Canh Nhâm Mậu | Đinh Kỷ | Mậu Ất Quý |
| 1 | 08 – 17 tuổi | Kỷ Mùi | 5 | 48 – 57 tuổi | Quý Hợi |
| 2 | 18 – 27 tuổi | Canh Thân | 6 | 58 – 67 tuổi | Giáp Tý |
| 3 | 28 – 37 tuổi | Tân Dậu | 7 | 68 – 77 tuổi | Ất Sửu |
| 4 | 38 – 47 tuổi | Nhâm Tuất | 8 | 78 – 87 tuổi | Bính Dần |
![]() |
![]() |
Trong tử vi, Lục Thập Hoa Giáp được biết tới như một trong những cách lý giải vận mệnh con người tương đối đơn giản, dễ xem nên khá phổ biến và được nhiều người sử dụng.
| Số
|
Ngày tháng năm
|
Ngũ hành
|
Tuổi xung khắc
|
| 1
|
Giáp Tý
|
Vàng trong biển (Kim)
|
Mậu Ngọ, Nhâm Ngọ, Canh Dần, Canh Thân
|
| 2
|
Ất Sửu
|
-
|
Kỷ Mùi, Quí Mùi, Tân Mão, Tân Dậu
|
| 3
|
Bính Dần
|
Lửa trong lò (Hoả)
|
Giáp Thân, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
|
| 4
|
Ðinh Mão
|
- |
Ất Dậu, Quí Dậu, Quí Tị, Quí Hợi
|
| 5
|
Mậu Thìn
|
Gỗ trong rừng (Mộc)
|
Canh Tuất, Bính Tuất
|
| 6
|
Kỷ Tị
|
-
|
Tân Hợi, Đinh Hợi
|
| 7
|
Canh Ngọ
|
Ðất ven đường (Thổ)
|
Nhâm Tý, Bính Tý, Giáp Thân, Giáp Dần
|
| 8
|
Tân Mùi
|
-
|
Quí sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mão
|
| 9
|
Nhâm Thân
|
Sắt đầu kiếm (Kim)
|
Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân
|
| 10
|
Quí Dậu
|
-
|
Ðinh Mão, Tân Mão, Đinh Dậu
|
| 11
|
Giáp Tuất
|
Lửa trên đỉnh núi (Hoả)
|
Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất
|
| 12
|
Ất Hợi
|
-
|
Quí Tị, Tân Tị, Tân Hợi
|
| 13
|
Bính Tý
|
Nước dưới lạch (Thuỷ)
|
Canh Ngọ, Mậu Ngọ
|
| 14
|
Ðinh Sửu
|
-
|
Tân Mùi, Kỷ Mùi
|
| 15
|
Mậu Dần
|
Ðất đầu thành (Thổ)
|
Canh Thân, Giáp Thân
|
| 16
|
Kỷ Mão
|
-
|
Tân Dậu, Ất Dậu
|
| 17
|
Canh Thìn
|
Kim bạch lạp (Kim)
|
Giáp Tuất, Mậu Tuất, Giáp Thìn
|
| 18
|
Tân Tị
|
-
|
Ất Hợi, Kỷ Hợi, Ất Tị
|
| 19
|
Nhâm Ngọ
|
Gỗ dương liễu (Mộc)
|
Giáp Tý, Canh Tý, Bính Tuất, Bính Thìn
|
| 20
|
Quí Mùi
|
-
|
Ất Sửu, Tân Sửu, Đinh Hợi, Đinh Tị
|
| 21
|
Giáp Thân
|
Nước trong khe (Thuỷ)
|
Mậu Dần, Bính Dần, Canh Ngọ, Canh Tý
|
| 22
|
Ất Dậu
|
-
|
Kỷ Mão, Đinh Mão, Tân Mùi, Tân Sửu
|
| 23
|
Bính Tuất
|
Ðất trên mái nhà (Thổ)
|
Mậu Thìn, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
|
| 24
|
Ðinh Hợi
|
-
|
Kỷ Tị, Quí Tị, Quí Mùi, Quí Sửu
|
| 25
|
Mậu Tý
|
Lửa trong chớp (Hoả )
|
Bính Ngọ, Giáp Ngọ
|
| 26
|
Kỷ Sửu
|
-
|
Ðinh Mùi, Ất Mùi
|
| 27
|
Canh Dần
|
Gỗ tùng Bách (Mộc)
|
Nhâm Thân, Mậu Thân, Giáp Tý, Giáp Ngọ
|
| 28
|
Tân Mão
|
-
|
Quí Dậu, Kỷ Dậu, Ất Sửu, Ất Mùi
|
| 29
|
Nhâm Thìn
|
Nước giữa dòng (Thuỷ)
|
Bính Tuất, Giáp Tuất, Bính Dần
|
| 30
|
Quí Tị
|
-
|
Ðinh Hợi, Ất Hợi, Đinh Mão
|
| 31
|
Giáp Ngọ
|
Vàng trong cát (Kim)
|
Mậu Tý, Nhâm Tý, Canh Dần, Nhâm Dần
|
| 32
|
Ất Mùi
|
-
|
Kỷ Sửu, Quí Sửu, Tân Mão, Tân Dậu
|
| 33
|
Bính Thân
|
Lửa chân núi (Hoả)
|
Giáp Dần, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
|
| 34
|
Ðinh Dậu
|
-
|
Ất Mão, Quí Mão, Quí Tị, Quí Hợi
|
| 35
|
Mậu Tuất
|
Gỗ đồng bằng (Mộc)
|
Canh Thìn, Bính Thìn
|
| 36
|
Kỷ Hợi
|
-
|
Tân Tị, Đinh Tị.
|
| 37
|
Canh Tý
|
Ðất trên vách (Thổ)
|
Nhâm Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Thân, Giáp Dần
|
| 38
|
Tân Sửu
|
-
|
Quí Mùi, Đinh Mùi, Ất Dậu, Ất Mão
|
| 39
|
Nhâm Dần
|
Bạch kim (Kim)
|
Canh Thân, Bính Thân, Bính Dần
|
| 40
|
Quí Mão
|
-
|
Tân Dậu, Đinh Dậu, Đinh Mão
|
| 41
|
Giáp Thìn
|
Lửa đèn (Hoả)
|
Nhâm Tuất, Canh Tuất, Canh Thìn
|
| 42
|
Ất Tị
|
-
|
Quí Hợi, Tân Hợi, Tân Tị
|
| 43
|
Bính Ngọ
|
Nước trên trời (thuỷ)
|
Mậu Tý, Canh Tý
|
| 44
|
Ðinh Mùi
|
-
|
Kỷ Sửu, Tân Sửu
|
| 45
|
Mậu Thân
|
Ðất vườn rộng (Thổ)
|
Canh Dần, Giáp Dần
|
| 46
|
Kỷ Dậu
|
-
|
Tân Mão, Ất Mão
|
| 47
|
Canh Tuất
|
Vàng trang sức (Kim)
|
Giáp Thìn, Mậu Thìn, Giáp Tuất
|
| 48
|
Tân Hợi
|
-
|
Ất Tị, Kỷ Tị, Ất Hợi
|
| 49
|
Nhâm Tý
|
Gỗ dâu (Mộc)
|
Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Bính Tuất, Bính Thìn
|
| 50
|
Quí Sửu
|
-
|
Ất Mùi, Tân Mùi, Đinh Hợi, Đinh Tỵ
|
| 51
|
Giáp Dần
|
Nước giữa khe lớn (Thuỷ)
|
Mậu Thân, Bính Thân, Canh Ngọ, Canh Tý
|
| 52
|
Ất Mão
|
-
|
Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Tân Mùi, Tân Sửu
|
| 53
|
Bính Thìn
|
Ðất trong cát (Thổ)
|
Mậu Tuất, Nhâm Tuất, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
|
| 54
|
Ðinh Tị
|
-
|
Kỷ Hợi, Quí Hợi, Quí Sửu, Quí Mùi
|
| 55
|
Mậu Ngọ
|
Lửa trên trời (Hoả)
|
Bính Tý, Giáp Tý
|
| 56
|
Kỷ Mùi
|
-
|
Ðinh Sửu, Ất Sửu
|
| 57
|
Canh Thân
|
Gỗ thạch Lựu (Mộc)
|
Nhâm Dần, Mậu Dần, Giáp Tý, Giáp Ngọ
|
| 58
|
Tân Dậu
|
-
|
Quí Mão, Kỷ Mão, Ất Sửu, Ất Mùi
|
| 59
|
Nhâm Tuất
|
Nước giữa biển (Thuỷ)
|
Bính Thìn, Giáp Thìn, Bính Thân, Bính DDần
|
| 60
|
Quí Hợi
|
-
|
Ðinh Tị, Ất Tị, Đinh Mão, Đinh Dậu
|
| ► Khám phá: Tử vi trọn đời của bạn bằng công cụ xem bói tử vi chuẩn xác |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thùy Dung (##)
Bệnh về tuyến giáp trạng: Tuyến giáp trạng nằm trên khí quản ngay dưới sụn thanh quản.
Tuyến hoạt động yếu thì:
- Xương không phát triển (lùn không cân đối), ngu đần, cơ quan sinh dục yếu không phát triển.
- Ở người lớn sẽ bị bệnh niêm thủy chủng: nước tụ ở da nên mắt, lưỡi sưng, nhiệt độ cơ thể hạ, mạch chậm, bải hoải.
Khi quan sát móng tay mặc dù người bệnh không có triệu chứng nào khác. Sau đó lần lần các triệu chứng xuất hiện và những xét nghiệm chuyên khoa chứng minh là đúng.
Sách y học và sach của Pedro Castello chỉ cung cấp vài chi tiết sơ sài và có phần mâu thuẫn về móng tay của người bị bệnh nội khoa. Những chi tiết được đề cập phần lớn liên quan đến các bệnh về tuyến giáp trạng và não thùy. Tiến sĩ Charlotte Wolfe đã quả quyết cho rằng các bệnh này có liên hệ mật thiết đến móng tay. Theo Pedro Castello thì móng tay thiếu vẻ bóng và có vạch trên đó là triệu chứng của bệnh tuyến giáp trạng và bệnh niêm thủy thủng (Myxoedème) (kèm theo triệu chứng da đầu khô và ruing tóc). Những móng tay mỏng, dễ gãy, hình dạng như móng tay con nít là những móng tay bị yếu, phát triển rất chậm. Đôi khi chúng rất mềm và có dạng như cái quạt. Theo một tác giả khác thì móng tay loại như con nít kém phát triển là triệu chứng của cơ quan sinh dục bị suy nhược. Theo Hollander thì móng tay quá lớn là triệu chứng bệnh não thùy kém phát triển, nhưng tôi thì không nhận thấy vậy bao giờ. Tiến sĩ Charlotte Wolfe cho rằng (mà Pedro Castello cũng đồng ý như vậy) là não thùy và tuyến giáp trạng phát triển quá mức bình thường thì móng tay cũng phát triển nhanh theo, láng bóng và mọc ra rất nhanh.
Nếu tuyến giáp hoạt động mạnh tiết hydroxine vào máu và gay bệnh basedow hay nóng nảy, giận dữ, người gầy đi.
Bệnh não thùy là một tuyến nhỏ bằng hạt đậu xanh nằm trong mặt dưới não. Não thùy có những kích thích tố có nhiệm vụ giúp cơ thể tăng trưởng. Nếu tuyến hoạt động kém sẽ lùn (nhưng cân xứng), nếu tuyến hoạt động mạnh cơ thể tăng trưởng quá mức (khổng lồ), nếu sau khi trưởng thành mà tuyến phát triển thì đầu ngón tay, ngón chân sẽ to lớn dị thường, cằm và mũi cũng to (chứng đầu triển), ngoài ra tuyến giáp trạng còn giúp cơ thể giảm lượng nước tiểu (gay tái hấp thụ), tăng huyết áp… thần kinh. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy người bị bệnh tâm thần có móng tay phát triển quá mức nhưng chưa xác định được các đặc điểm của chúng. Nơi người bệnh tâm thần phân biệt thì móng tay dài và phát triển rất nay đủ. Còn những người bệnh loại tâm thần hưng trầm cảm thì có móng tay mang đủ sắc thái của sự phát triển quá mức bình thường. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có được một bản thống kê đủ.
Trường hợp người bị yếu thần kinh thì móng tay không phát triển quá mức mà có chiều hướng kém phát triển. Ít khi gặp nơi họ những móng tay phát triển nay đủ với vết trắng hình lưỡi liềm: tiến sĩ Charlotte Wolfe chỉ đếm được có 10% trong số 650 bàn tay đã nghiên cứu.
Những móng tay kém phát triển này đều nhỏ một cách khác thường mà ông tạm gọi là móng tay “thô sơ” và gặp chúng trong 25% những người bị yếu thần kinh. Theo Pedro Castello thì dạng móng tay này có mang tính di truyền và rất hiếm có. Sở dĩ chúng hiếm như vậy là vì Pedro Castello chỉ quan sát móng tay của người bị da liễu mà thôi.
Móng tay “sơ cấp” là một loại móng rộng và cụt, không có vết trắng hình lưỡi liềm, thường gặp nơi người bị yếu thần kinh. Thật khó mà cho rằng những móng này khác thường, nhưng chắc chắn là chúng phát triển không nay đủ. Những người bệnh thường bị đau thần kinh nhẹ cũng thường có loại móng này. Tôi nhận thấy là những người bị yếu thần kinh thường có móng tay phẳng hơn là cong.

Chúng ta không cho là quá đáng nếu bảo rằng móng tay phát triển khong nay đủ là một trong những nét đặc trưng nhất của bàn tay người bị yếu thần kinh. Móng tay hẹp, bóng có vết trắng hình lưỡi liềm to, đục, chứng tỏ tuyến giáp trạng phát triển quá mức. Loại này giống với móng tay của người bị lao phổi nhưng khác ở chỗ là khi nhing nghiêng thì trắc diện của nó phẳng chứ không cong, còn thân móng tay thì sạch và bóng. Người ta gặp hai loại móng tay này nơi bàn tay xương xẩu có ngón dài của những người vừa bị lao, vừa có tuyến giáp trạng phát triển quá mức bình thường. Những người này có móng dài và vết trắng hình lưỡi liềm to vì các biến hóa trong cơ thể gia tăng cường độ. Cần nên nhớ là người mắc bệnh này lại rất thông minh và bàn tay họ thuộc loại xương xẩu (xem hình).

Móng tay dài rất phát triển, bóng bề ngang rộng (khác với trường hợp trên) có vết trắng hình lưỡi liềm dài và rộng (hình) là triệu chứng của người có não thùy phát triển quá mức. Những loại móng tay như vậy thường gặp nơi những ngón tay rắn rỏi. Loại móng này hoàn toàn khác với móng người mang bệnh tuyến giáp trạng phát triển quá mức.
Đường cái đâm vào cửa chính sẽ ảnh hưởng rất lớn tới ngôi nhà. Đường cái chạy thẳng vào cửa nhà thường gọi là: “Ám tên tường hung” (nghĩa là mũi tên vô hình đâm thẳng vào ngực). Theo phong thủy, điều này không có lợi cho chủ nhà.
Trong thiết kế kiến trúc, thẩm mỹ, cửa chính là một thành phần rất quan trọng của căn nhà và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố phong thủy (trong dương trạch, cửa chính là yếu tố quan trọng nhất). Theo đó, cửa sẽ là nơi truyền dẫn luồng khí tới ngôi nhà, sau đó luồng khí được phân tán tới từng ngóc ngách của ngôi nhà và thoát ra ngoài bằng những ô thoáng đã được nghiên cứu một cách khoa học và chặt chẽ. Cửa chính còn là sự kết hợp giữa kiến trúc (hình dáng xấu, đẹp) và phong thủy (vị trí xấu, tốt).
![]() |
| Khi ngôi nhà bị đường cái đâm thẳng vào cửa chính, bạn nên trồng hoa, cây có màu sắc hợp với bản mệnh phía trước cửa với hình dạng uốn lượn sẽ rất tốt (ảnh minh họa) |
Một hiện tượng kiêng kỵ trong thuật phong thủy là đường cái đâm vào cửa chính. Đối với trường hợp gia đình bạn, con đường thẳng khi đâm vào chính hướng cửa thì vô tình đã mang theo luồng ác khí (sinh khí đi theo đường vòng, ác khí đi theo đường thẳng). Tuy nhiên, cũng không vì thế mà nhà bạn phải lo lắng. Phong thủy học cho rằng, vấn đề này bạn có thể hóa giải được. Nhưng để có thể áp dụng đúng nguyên tắc của khoa học phong thủy, cách tốt nhất là bạn cần có sự giúp đỡ của những người am hiểu về lĩnh vực này:
- Các cuốn sách cổ và người xưa cho rằng, gia đình bạn có thể dùng tấm bia đá (bùa) chôn sâu dưới lòng đất ngay trước cửa chính hay cũng có thể dùng lá bùa của người học phong thủy treo phía trên cửa. Bùa đá hay bia đá sẽ hóa giải được các điều xấu. Tuy nhiên, đây là việc không thể ứng dụng nhiều và không dễ thực hiện trong cuộc sống hiện đại.
- Trồng cây, hoa có màu sắc hợp với bản mệnh phía trước cửa theo hình dạng uốn lượn có thể rất tốt, có khi “biến hung thành cát” với điều kiện phải có khoảng không phía trước rộng tương đối để có thể tạo được một số hình theo quan niệm phong thủy.
- Để tạo tấm bình phong phía trước (gia chủ nên xây cao tương đối và cần có khoảng cách tới cửa chính một cách thích hợp) nhằm ngăn cản hoặc làm lệch hướng lưu chuyển của dòng khí đó.
- Gia chủ có thể chuyển đổi vị trí cửa chính sang cung vị khác để tránh hoàn toàn hướng con đường đâm tới.
- Ngoài ra, có thể biến cửa hiện tại (bị con đường chiếu tới) thành cửa giả, qua một khoảng rộng và có thể thiết kếí cửa trong khoảng chính vào nhà trong khoảng đó cũng có thể tránh được sự đâm thẳng của con đường.
- Chủ nhà có thể treo sáo trúc, chuông gió ở vị trí cửa ra vào có con đường đâm tới. Sáo trúc hay chuông gió được sử dụng và áp dụng rất rộng rãi. Chúng có công dụng báo động, đón lành tránh dữ và xua đi những luồng khí không tốt và chào mời những luồng khí trong lành dẫn đến ngôi nhà.
- Treo gương bát quái, gương cầu lồi phía trên cửa chính quay về hướng con đường đâm tới, gương bát quái, gương cầu lồi có tác dụng phản hồi những tà khí có chiều chiếu vào nó một cách mạnh mẽ.
- Chủ nhà có thể sử dụng tấm thảm hợp với cung bản mệnh để phía trong của cửa chính, tấm thảm có công dụng chọn lọc khí tốt trong thiên nhiên và tiếp thêm luồng khí lành này cho ngôi nhà của bạn.
Từ một số phương pháp mà thuật phong thủy thường sử dụng, chủ nhà có thể khéo léo kết hợp nhiều phương pháp. Đơn cử như chuyển dịch cửa, đồng thời treo chuông gió kết hợp trải tấm thảm... Với sự chỉ dẫn đúng cách của những người hiểu biết về phong thủy, gia chủ sẽ hóa giải được sự bất lợi mà con đường đem đến.
(Theo CafeLand)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
giải hung khí hộ hình khuyết vị thì có thể tham khảo các mục dưới đây:

– Hộ hình khuyết trung tâm vị
Hộ hình do hình dáng của toà nhà và ảnh hưởng thiết kế kiến trúc mà không có trung tâm vị. Sơ đồ cấu thành trung tâm của cây vườn là nét chấm phá tạo vườn, nếu Di Hoa Viên (Trung Quốc) không có Phật Hương các. Bắc Hải không có Bạch tháp. Nguyên lâm không có linh hồn thì trung tâm không thể thiếu.
– Họ hình khuyết Đông Bắc vị
Vị trí Đông Bắc của hộ hình không còn, lựa chọn những kiểu hộ hình này nếu khi bạn sửa chữa hay trang trí có thể tông thêm đồ trang trí là tốt nhất, dùng để bù đắp những di hoặc của góc khuyết.
– Hộ hình khuyết Tây Bắc vị
Lọai hộ hình này cũng giống như ở trên, chỉ là không có Tây Bắc vị, vậy nên khi trang trí, sửa chữa lại cần thêm động, bởi vì Tây Bắc vị của căn phòng không nên thiếu.
– Hộ hình khuyết Đông Nam vị
Những loại hộ hình này trên thực tế có rất nhiều, có một chút cảm giác thiếu hụt nhưng cũng không cần phải để ý lắm, nhưng nếu Đông Nam vị hoàn toàn khuyết thiếu, sự tình cùng không ít. Biện pháp giái quyết là ở vị trí thích hợp Đông Nam vị treo một bức tranh rồng hoặc rắn, tất nhiên cần đồng thời phải xem xét đến sự phương hại đối với những người khác trong nhà mới được.
– Hộ hình khuyết Tây nam vị
Trong trường hợp thông thường, Tây Nam vị khuyết rồi cũng không lo lắng gì, nếu các điều kiện khác đều thỏa mãn, chỉ thiếu một góc này thì có thể không cần tính đến.
– Hộ hình khuyết Bắc vị
Có thể khi sửa chữa nên tăng thêm để cải thiện.
– Hộ hình khuyết Nam vị
Hộ hình khuyết bộ phận Nam vị, thực ra không nên. Phương pháp giải quyết chính là đặt ở một bên hoặc treo những đồ trang trí hình ngựa, ở dưới cần đệm vài màu cà phê hoặc đặt một miếng hoàng ngọc cũng được.
ề huyết quang, kiện cáo, thị phi, làm ăn kinh doanh thua lỗ.
1. Tình huống nhà bị Xuyên tâm sát
– ề huyết quang, kiện cáo, thị phi, làm ăn kinh doanh thua lỗ. – Cách hóa giải nhà bị Xuyên tâm sát: 1. Treo 1 gương tiên thiên bát quái lõm bằng đồng trước cửa nhà đối diện với cây to hoặc trụ điện… chiếu tới ( Gương phải được khai quang cẩn thận và chọn ngày giờ treo lên đúng vị trí) với những dòng năng lượng màu xám trắng di chuyển theo hình xoắn ốc sẽ cắt các tia khí đen rơi xuống và thanh lọc các tia khí màu xám trắng bay vào nhà. 2. Trường hợp nhà có sân rộng thì đặt nhiều cây cảnh có tán lá rộng trước cửa nhà hoặc làm 1 đài phun nước trước cửa nhà (hạt nước và lá cây có tác dụng tách khí rất hiệu quả, làm cho các tia khí đen bị rơi xuống và các tia khí trắng tốt cho con người bay vào nhà). 3. Đặt 1 trụ thạch anh hoặc khối đá phong thủy trước cửa nhà để năng lượng của đá với những tia khúc xạ sẽ đẩy hết “tà khí” của “Xuyên tâm sát”, đồng thời mang lại may mắn cho ngôi nhà do năng lượng của đá phát ra. 4. Đặt một đôi “tỳ hưu” tại hai góc cửa chính nhìn ra ngoài (tỳ hưu phải được khai quang và chọn vị trí đặt, ngày giờ đặt cẩn thận thì mới có tác dụng) sẽ hóa giải “sát khí” và “chiêu tài” về cho gia chủ. 5. Treo 1 phù dơi trước cửa nhà để mang lại may mắn trong cuộc sống và đăc biệt là mang lại may mắn trong kinh doanh.
Thông thường tủ lạnh được kê ở gian bếp. Gian bếp là nơi vượng Hoả, Hoả khắc Kim, nên đặt tủ lạnh ở đây sẽ cân bằng tính hoả của gian bếp.
Đặt tủ lạnh ở vị trí nào trong nhà cũng ảnh hưởng đến phong thuỷ của nhà. Tủ lạnh thuộc hành Kim, nếu thành viên nào trong nhà muôn tăng thêm tính Kim thì dựa vào địa vị và giới tính để đặt tủ ở vị trí thuộc mệnh của thành viên đó.

– Chủ gia đình là nam muôn tăng thêm tính Kim, thì kê tủ lạnh ở góc phía Tây của gian bếp hoặc phòng khách.
– Nếu chủ gia đình là nữ, muôn tăng thêm tính Kim, thì đặt tủ lạnh ở phía Tây Nam của gian bếp hoăc phòng khách.
– Nếu là con trai cả của gia đình, muôn tăng thêm tính Kim, thì đặt tủ lạnh ở phía Đông của gian bếp hoặc phòng khách.
– Nếu là con gái cả của gia đình, muôn tăng thêm tính Kim, thì đặt tủ lạnh ở phía Đông Nam của gian bếp hoặc phòng khách.
– Nếu là con gái thứ của gia đình, muốn tăng thêm tính Kim, thì đặt ở phía Nam của gian bếp hoặc phòng khách.
– Nếu là con trai thứ của gia đình, muôn tăng thêm tính Kim, thì đặt ồ phía Bắc của gian bếp hoặc phòng khách.
Người thuộc hành Kim thì trong nhà nên kê một tủ lạnh lớn.
Ông cha ta thường có câu: “ Cả năm không bằng rằm tháng 7, cả thảy không bằng rằm tháng giêng”, Ngoài những ngày Tết Nguyên Đán thì ngày rằm tháng 7 là ngày lễ lớn thứ hai trong năm theo lịch âm. Trong tháng 7 âm lịch này thì ngoài tháng Cô hồn mà dân gian thường bảo thì còn là ngày Lễ Vu Lan báo hiếu. Những ngày này, các gia đình thường lên chùa làm lễ cầu siêu cho người đã khuất, đi tết ông bà cha mẹ để cầu mong họ được sống khỏe mạnh thì mọi người còn làm lễ cúng cô hồn. Vậy những bài văn khấn như thế nào, cách khấn như sao thì đúng với từng gia chủ, dưới đây là những bài văn khấn phổ biến mà bạn có thể quan tâm.
Xem thêm: Văn khấn tổ tiên tiết Trung Thu

Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con lạy Đức Phật Di Đà.
Con lạy Bồ Tát Quan Âm.
Con lạy Táo Phủ Thần quân Phúc đức chính thần.
Tiết tháng 7 sắp thu phân
Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà
Âm cung mở cửa ngục ra
Vong linh không cửa không nhà
Đại Thánh Khảo giáo A Nan Đà Tôn giả
Tiếp chúng sinh không mả, không mồ bốn phương
Gốc cây xó chợ đầu đường
Không nơi nương tựa đêm ngày lang thang
Quanh năm đói rét cơ hàn
Không manh áo mỏng, che làn heo may
Cô hồn Nam Bắc Đông Tây
Trẻ già trai gái về đây họp đoàn
Dù rằng chết uổng, chết oan
Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu
Chết tai nạn, chết ốm đau
Chết đâm chết chém, chết đánh nhau tiền tình
Chết bom đạn, chết đao binh
Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi
Chết vì sét đánh giữa trời
Nay nghe tín chủ thỉnh mời
Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau
Cơm canh cháo nẻ trầu cau
Tiền vàng quần áo đủ màu đỏ xanh
Gạo muối quả thực hoa đăng
Mang theo một chút để dành ngày mai
Phù hộ tín chủ lộc tài
An khang thịnh vượng hoà hài gia trung
Nhớ ngày xá tội vong nhân
Lại về tín chủ thành tâm thỉnh mời
Bây giờ nhận hưởng xong rồi
Dắt nhau già trẻ về nơi âm phần
Tín chủ thiêu hoá kim ngân
Cùng với quần áo đã được phân chia
Kính cáo Tôn thần
Chứng minh công đức
Cho tín chủ con
Tên là:....................................
Vợ/Chồng:...............................
Con trai:.................................
Con gái:..................................
Ngụ tại:...................................
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Nam mô A Di Đà Phật
Hướng dẫn cách sắm lễ cho việc cúng cô hồn, thần linh và gia tiên.
Mâm cúng tổ tiên, thần linh tại gia thường là cỗ mặn và hương hoa, vàng mã, trầu cau, đèn, nến... Bài văn khấn cung thần linh như sau:
Nam mô A Di Đà Phật
Kính lạy: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và chư vị thần linh cai quản xứ này.
Hôm nay là ngày rằm tháng 7 năm ....
Tín chủ chúng con tên là: … ngụ tại nhà số …., đường …., phường (xã) …., quận (huyện) …, tỉnh (thành phố) …. thành tâm sắm sửa hương hoa, lễ vật và các thứ cúng dâng, bày lên trước án.
Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim niên Đương cai Thái tuế Chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân và tất cả các vị thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin các ngài giáng lâm án tọa, soi xét chứng giám.
Nay gặp tiết Vu Lan, ngày vong nhân được xá tội, chúng con đội ơn Tam bảo, Phật trời phù hộ, thần linh các đấng chở che, công đức lớn lao nay không biết lấy gì đền đáp.
Do vậy, chúng con kính dâng lễ bạc, bày tỏ lòng thành, nguyện xin nạp thọ, phù hộ độ trì cho chúng con và cả gia đình chúng con, người người khỏe mạnh, già trẻ bình an hương về chính đạo, lộc tài vương tiến, gia đạo hưng long.
Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật
Kính lạy tổ tiên nội ngoại họ … và chư vị hương linh.
Hôm nay là rằm tháng Bảy năm ....
Gặp tiết Vu Lan vào dịp Trung nguyên, nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành ra chúng con, gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức. Vi vậy cho nên nghĩ, đức cù lao không báo, cảm công trời biển khó đền. Chúng con sửa sang lễ vật, hương hoa kim ngân và các thứ lễ bày dâng trước án linh tọa.
Chúng con thành tâm kính mời: Các cụ Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, cô dì tỷ muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ … (Dương. Nguyễn, Lê, Trần …)
Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng lâm linh sàng chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, bình an, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, hướng về chính đạo.
Tín chủ lại mời: Các vị vong linh y thảo phụ mộc, phảng phất ở đất này, nhân lễ Vu Lan giáng lâm linh tọa, chiêm ngưỡng tôn thần, hâm hưởng lễ vật, độ cho tín chủ muôn sự bình an, sở cầu như ý.
Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.
Trên đây là 3 bài văn khấn cho rằm tháng 7 phổ biến nhất, thường được sử dụng trong các dịp lễ Vu Lan, ngày cúng cô hồn và lễ cúng tổ tiên. Ông cha ta thường nói, có thờ có thiêng, có kiêng có lành, "mân cao cỗ đầy không bằng tấm lòng thành, từ bi. Tuy đây là một phong tục tâm linh của người Việt chúng ta, nhưng nó cũng thể hiện một nét văn hóa của dân tộc mình, đó là lòng hiếu thảo, biết ơn những người sinh thành, tấm lòng từ bi bác ái đối với mọi người.
| => Mật ngữ 12 chòm sao, Horoscope được cập nhật mới nhất |
![]() |
Điểm chết không được đụng tới khi yêu 12 chòm sao![]() |
Hành: KimLoại: Hung TinhĐặc Tính: Tật bệnh, buồn thảm, nguy khốn, gây rắc rối ngăn trở công việc.
Phụ tinh. Sao thứ 6 trong 12 sao thuộc vòng sao Thái Tuế theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Luôn có sao Nguyệt Đức đồng cung.
Sao Tử Phù chủ sự buồn thảm, nguy khốn. Đây là một hung tinh loại nhẹ, chỉ một ác lâm vừa phải có mức độ.
Sao Tử Phù thuộc Hỏa, chủ tang thương, gây rắc rối, ngăn trở mọi sự việc. Ngoài ra, còn có ý nghĩa sự chết, báo hiệu tang thương.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất |
Theo quan niệm phong thủy, trước khi quyết định xây nhà, gia chủ cần cân nhắc tuổi của mình. Không nên phạm vào các năm: Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai…

Các tuổi Kim Lâu: đặc biệt cấm kỵ, không được phạm
| 12 | 15 | 17 | 19 | 21 | 24 | 26 | 28 | 30 | 33 |
| 42 | 35 | 37 | 39 | 51 | 44 | 44 | 48 | 60 | 53 |
| 62 | 55 | 57 | 69 | 71 | 64 | 66 | – | – | 73 |
Các tuổi Hoang Ốc: nếu chỉ phạm riêng năm Hoang Ốc cũng có thể làm được
| 12 | 14 | 15 | 18 | 21 | 23 | 27 | 29 | 30 | 36 |
| 32 | 24 | 45 | 38 | 41 | 33 | 47 | 39 | 50 | 56 |
| 42 | 54 | 65 | 48 | 51 | 63 | 57 | 69 | 60 | 66 |
Các năm Tam Tai: nếu chỉ phạm riêng năm Tam Tai cũng có thể làm được
| Tuổi âm lịch của chủ nhà | Các năm Tam Tai cần tránh | ||||
| Thân | Tỵ | Thìn | Dần | Mão | Thìn |
| Dần | Ngọ | Tuất | Thân | Dậu | Tuất |
| Hợi | Mão | Mùi | Tỵ | Ngọ | Mùi |
| Tỵ | Dậu | Sửu | Hợi | Tý | Sửu |
Chý ý:
– Tuổi Kim Lâu đặc biệt cấm kỵ không nên phạm.
– Nếu chỉ phạm 1 trong các tuổi Hoang Ốc hoặc Tam Tai thì cũng có thể làm được.
– Nếu phạm 2 trong 3 yếu tố trên thì không nên làm.
– Nếu bất đắc dĩ phải làm thì nên dùng các biện pháp thay thế: mượn tuổi,…
| Năm sinh | Tuổi âm lịch | Ngũ hành | Quái số | Cung phi | Tứ trạch | |||
| Nam | Nữ | Nam | Nữ | Nam | Nữ | |||
| 1946 | Bính Tuất | Hỏa+ | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 1947 | Đinh Hợi | Hỏa- | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
| 1948 | Mậu Tý | Thổ+ | 7 | 8 | Đoài | Cấn | Tây | Tây |
| 1949 | Kỷ Sửu | Thổ- | 6 | 9 | Càn | Ly | Tây | Đông |
| 1950 | Canh Dần | Kim+ | 5 | 1 | Không | Khảm | Tây | Đông |
| 1951 | Tân Mão | Kim- | 4 | 2 | Tốn | Khôn | Đông | Tây |
| 1952 | Nhâm Thìn | Thủy+ | 3 | 3 | Chấn | Chấn | Đông | Đông |
| 1953 | Quý Tỵ | Thủy- | 2 | 4 | Khôn | Tốn | Tây | Đông |
| 1954 | Giáp Ngọ | Mộc+ | 1 | 5 | Khảm | Khôn | Đông | Tây |
| 1955 | Ất Mùi | Mộc- | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 1956 | Bính Thân | Hỏa+ | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
| 1957 | Đinh Dậu | Hỏa- | 7 | 8 | Đoài | Cấn | Tây | Tây |
| 1958 | Mậu Tuất | Thổ+ | 6 | 9 | Càn | Ly | Tây | Đông |
| 1959 | Kỷ Hợi | Thổ- | 5 | 1 | Khôn | Khảm | Tây | Đông |
| 1960 | Canh Tý | Kim+ | 4 | 2 | Tốn | Khôn | Đông | Tây |
| 1961 | Tân Sửu | Kim- | 3 | 3 | Chấn | Chấn | Đông | Đông |
| 1962 | Nhâm Dần | Thủy+ | 2 | 4 | Không | Tốn | Tây | Đông |
| 1963 | Quý Mão | Thủy- | 1 | 5 | Khảm | Khôn | Đông | Tây |
| 1964 | Giáp Thìn | Mộc+ | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 1965 | Ất Tỵ | Mộc- | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
| 1966 | Bính Ngọ | Hỏa+ | 7 | 8 | Đoài | Cấn | Tây | Tây |
| 1967 | Đinh Mùi | Hỏa- | 6 | 9 | Càn | Ly | Tây | Đông |
| 1968 | Mậu Thân | Thổ+ | 5 | 1 | Khôn | Khảm | Tây | Đông |
| 1969 | Kỷ Dậu | Thổ- | 4 | 2 | Tốn | Khôn | Đông | Tây |
| 1970 | Canh Tuất | Kim+ | 3 | 3 | Chấn | Chấn | Đông | Đông |
| 1971 | Tân Hợi | Kim- | 2 | 4 | Khôn | Tốn | Tây | Đông |
| 1972 | Nhâm Tý | Thủy+ | 1 | 5 | Khảm | Khôn | Đông | Tây |
| 1973 | Quý Sửu | Thủy- | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 1974 | Giáp Dần | Mộc+ | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
| 1975 | Ất Mão | Mộc- | 7 | 8 | Đoài | Cấn | Tây | Tây |
| 1976 | Bính Thìn | Hỏa+ | 6 | 9 | Càn | Ly | Tây | Đông |
| 1977 | Đinh Tỵ | Hỏa- | 5 | 1 | Khôn | Khảm | Tây | Đông |
| 1978 | Mậu Ngọ | Thổ+ | 4 | 2 | Tốn | Khôn | Đông | Tây |
| 1979 | Kỷ Mùi | Thổ- | 3 | 3 | Chấn | Chấn | Đông | Đông |
| 1980 | Canh Thân | Kim+ | 2 | 4 | Khôn | Tốn | Tây | Đông |
| 1981 | Tân Dậu | Kim- | 1 | 5 | Khảm | Khôn | Đông | Tây |
| 1982 | Nhâm Tuất | Thủy+ | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 1983 | Quý Hợi | Thủy- | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
| 1984 | Giáp Tý | Mộc+ | 7 | 8 | Đoài | Cấn | Tây | Tây |
| 1985 | Ất Sửu | Mộc- | 6 | 9 | Càn | Ly | Tây | Đông |
| 1986 | Bính Dần | Hỏa+ | 5 | 1 | Khôn | Khảm | Tây | Đông |
| 1987 | Đinh Mão | Hỏa- | 4 | 2 | Tốn | Khôn | Đông | Tây |
| 1988 | Mậu Thìn | Thổ+ | 3 | 3 | Chấn | Chấn | Đông | Đông |
| 1989 | Kỷ Tỵ | Thổ- | 2 | 4 | Khôn | Tốn | Tây | Đông |
| 1990 | Canh Ngọ | Kim+ | 1 | 5 | Khảm | Khôn | Đông | Tây |
| 1991 | Tân Mùi | Kim- | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 1992 | Nhâm Thân | Thủy+ | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
| 1993 | Quý Dậu | Thủy- | 7 | 8 | Đoài | Cấn | Tây | Tây |
| 1994 | Giáp Tuất | Mộc+ | 6 | 9 | Càn | Ly | Tây | Đông |
| 1995 | Ất Hợi | Mộc- | 5 | 1 | Khôn | Khảm | Tây | Đông |
| 1996 | Bính Tý | Hỏa+ | 4 | 2 | Tốn | Khôn | Đông | Tây |
| 1997 | Đinh Sửu | Hỏa- | 3 | 3 | Chấn | Chấn | Đông | Đông |
| 1998 | Mậu Dần | Thổ+ | 2 | 4 | Khôn | Tốn | Tây | Đông |
| 1999 | Kỷ Mão | Thổ- | 1 | 5 | Khảm | Khôn | Đông | Tây |
| 2000 | Canh Thìn | Kim+ | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 2001 | Tân Tỵ | Kim- | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
| 2002 | Nhâm Ngọ | Thủy+ | 7 | 8 | Đoài | Cấn | Tây | Tây |
| 2003 | Quý Mùi | Thủy- | 6 | 9 | Càn | Ly | Tây | Đông |
| 2004 | Giáp Thân | Mộc+ | 5 | 1 | Khôn | Khảm | Tây | Đông |
| 2005 | Ất Dậu | Mộc- | 4 | 2 | Tốn | Khôn | Đông | Tây |
| 2006 | Bính Tuất | Hỏa+ | 3 | 3 | Chấn | Chấn | Đông | Đông |
| 2007 | Đinh Hợi | Hỏa- | 2 | 4 | Khôn | Tốn | Tây | Đông |
| 2008 | Mậu Tý | Thổ+ | 1 | 5 | Khảm | Khôn | Đông | Tây |
| 2009 | Kỷ Sửu | Thổ- | 9 | 6 | Ly | Càn | Đông | Tây |
| 2010 | Canh Dần | Kim+ | 8 | 7 | Cấn | Đoài | Tây | Tây |
Tuổi theo ngũ hành, quái số, cung phi là những thông số giúp ta định vị được bản thân mình trong không gian vũ trụ và cũng giúp ta lựa chọn được vị trí tối ưu trong cuộc sống thường ngày.
Cụ thể: người mệnh Kim có tính cách, đặc điểm khác người mang mệnh Mộc. Mỗi người lại có con số huyền bí gọi là “Quái số”. Từ con số này có thể kiểm nghiệm và ứng dụng không gian sống của mình một cách có lợi nhất. Cung phi biểu thị cho tính cách.
Theo phong thủy có 2 nhóm hướng chính: Đông và Tây
– Đông gồm các hướng: chính Đông, chính Nam, chính Bắc và Đông Nam
– Tây gồm các hướng: chính Tây, Tây Bắc, Tây Nam và Đông Bắc.
Người tuổi Thân, Tý, Thìn không nên làm nhà ở phía Nam hướng ra phía Bắc.
Người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu không nên làm nhà ở phía Đông hướng ra phía Tây.
Người tuổi Dậu, Ngọ, Tuất không hợp với nhà phía Bắc hướng ra phía Nam.
Người tuổi Hợi, Mão, Mùi không hợp với nhà ở phía Tây.