Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Những ngày tốt để khởi sự việc chăn nuôi (như mua giống thả chuồng; mua cá thả ao v.v…) –

Giáp Tý Giáp Thìn Ất Sửu Ất Mùi Bính Thìn Nhâm Tý Nhâm Tuất Quý Mùi Quý Sửu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

heo-htd_ede9b

  1. Giáp Tý
  2. Giáp Thìn
  3. Ất Sửu
  4. Ất Mùi
  5. Bính Thìn
  6. Nhâm Tý
  7. Nhâm Tuất
  8. Quý Mùi
  9. Quý Sửu


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những ngày tốt để khởi sự việc chăn nuôi (như mua giống thả chuồng; mua cá thả ao v.v…) –

Tiền thuê cửa hàng cao hay thấp quyết định giá trị đầu tư cửa hàng –

Quả thật, nhà đầu tư đầu tư vào cửa hàng cửa hiệu đó phần lớn là vì tiền thuê dự kiến tương lai tốt đẹp ở mức độ cao. Họ có thể dùng phương thức thu lấy tiền thuê cửa hàng rồi từng bước thu lợi khoản tiền mua cửa hàng, hoặc khi ở mức độ tiền thuê cửa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

hàng tương đối cao thuận lợi chuyển nhượng cừa hàng để lấy lãi. Tiền thuê cửa hàng không thể nói là không quan trọng. Nhưng nếu đơn thuần cho rằng những cửa hàng có giá tiền thuê cao đáng để đầu tư, những cửa hàng có giá tiền thuê thấp không có giá trị đầu tư thì thật là có sự thiên lệch lớn, ở đây, nhà đầu tư nên tránh những sai lầm đối với tiền thuê thường thấy dưới đây:

372013173059698

Đầu tiên, tiền thuế cao không nhất thiết đáng để đầu tư, tiền thuế thấp cùng không nhất thiết là “cửa hàng rác rười”. Tiền thuê đắt thì giá bán cũng đắt, yêu cầu hiệu quả kinh doanh càng cao, vì thế mà rủi ro cũng lớn, cần cân nhắc tổng hợp rồi quyết định. Mã các cửa hàng có tiền thuế thấp giá bán cũng thấp, yêu cầu của ngành nghề cũng thấp, để thuê, tuy lợi nhuận không cao, nhưng rủi ro thấp, nếu lựa chọn hợp lý thì hiệu quả vẫn cao.

Thứ hai, mức độ cao thấp khác nhau của tiền thuế không phải là do bản thân cửa hàng quyết định, mà phần lớn là những nhân tố ngoài quyết định như: môi trường kinh doanh, vị trí địa lý, định vị ngành nghề, lượng khách lớn nhở, không khí kinh doanh, mức độ cạnh tranh… Cho nên nói sự thay đổi của tiền thuê cũng là sự nắm bắt nhanh nhất, khó nhất, chúng ta quyết không thể dùng mức độ tiền thuê hiện tại mà cân nhắc giá trị đầu tư cửa hàng, nhất định phải đo đếm một cách toàn diện những nhân tố ảnh hưởng, hơn nữa tính toán những nhân tố có lợi lâu dài, tất nhiên tốt nhất là đến các cơ quan tư vấn đầu tư để được thẩm định và tư vấn chính xác.

Thứ ba, khi thuê cửa hàng, ngành kinh doanh có tiền thuê cao lại không nhất thiết là chủ ngành kinh doanh thích hợp nhất. Nếu đưa tiền thuê cửa hàng cao cho ngành nghề không chịu được mức tiền thuê đó, ví dụ như cửa hàng hoạt động lĩnh vực đơn giản là ngành ăn uống, vậy cho dù tạm thời có thể lấy được hoàn vốn, thời gian dài hộ kinh doanh không chịu được gánh nặng mà phải thoái lui, dẫn đến vị trí cửa hàng bỏ không, ảnh hương đến lợi nhuận lâu dài của các nhà đầu tư. Cho nên, khi thuê một cửa hàng không phải tìm ra hộ thuê thích hợp nhất, mà là hộ đưa ra giá cao nhất.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiền thuê cửa hàng cao hay thấp quyết định giá trị đầu tư cửa hàng –

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Sang năm 2016 là năm Bính Thân. Vậy những người tuổi Thân như thế nào? Lịch sử Việt Nam ghi nhận rất nhiều bậc vĩ nhân tuổi thân trong đó có cả Nguyễn Trãi (sinh năm Canh Thân – 1380). Nào chúng ta cùng tìm hiểu họ là những ai?
Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Canh Thân

1./ Nguyễn Trãi (1380-1442): hiệu là Ức Trai là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Ông là một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa, một nhà văn, một nhà thơ mang tầm cỡ kiệt xuất, vĩ đại

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới và tổ chức kỷ niệm 600 năm năm sinh của ông.

Nguyễn Trãi gốc làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sinh ra ở Thăng Long, sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây.

Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và có công lớn trong việc phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc ngoại xâm và lập lên triều Hậu Lê.

Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án oan Lệ Chi Viên nổi tiếng trong lịch sử.

Tháng 7 năm 1464, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng NguyễnTrãi tước Tán Trù Bá

Hiện nay, ở Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương) có khu lưu niệm Nguyễn Trãi và gia tộc của ông. Các thế hệ giàu lòng ngưỡng mộ đối với tổ tiên, từ khắp mọi miền của đất nước, đã không ngớt kéo về Côn Sơn để tưởng nhớ Nguyễn Trãi - người con quang vinh của lịch sử nước nhà.

2./Lương Thế Vinh (1460–1497): Trạng nguyên, làm quan triều Lê Thánh Tông.

Danh sĩ Lương Thế Vinh tự Cảnh Nghị, hiệu Thụy Hiên, người quê xã Cao Hương, huyện Thiên Bản, tỉnh Nam Định nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Năm Quý Mùi 1463, ông đỗ trạng nguyên khi mới 23 tuổi.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Đền thờ Lương Thế Vinh xã Cao Hương, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ông làm quan đến Thừa chỉ ở Viện Hàn lâm, có chân trong Tao đàn Nhị thập bát tú thời ấy. Bình sinh hiếu học, đọc rộng các sách, ông có soạn nhiều sách về đạo Phật và quyển Toán pháp đại thành. Các sĩ phu và nhân dân cảm phục tài đức ông, tục gọi ông là Trạng Lường (biểu dương ông về khoa toán pháp).

Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực. Ngay đối với vua, ông cũng hay châm biếm khôi hài, không chịu câu thúc. Ông thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan.

Khi ông mất, được phong làm Phúc thần, nơi đình Cao Hương còn có bức vẽ chân dung ông.

3./ Phạm Vĩ Khiêm (1740-1787): Tên là Phạm Nguyễn Du, danh sĩ thời Lê Mạt.

4./Nguyễn Tri Phương (1800-1873): một đại danh thần Việt Nam thời nhà Nguyễn.

Nguyễn Tri Phương tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu là Đồng Xuyên, sinh ngày 21 tháng 7 năm Canh Thân 1800, quê làng Đường Long (Chí Long), xã Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc. Nhà nghèo lại không xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập ông đã làm nên công nghiệp lớn.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm Quý Mùi (1823), ra làm quan cho triều Nguyễn. Ông từng giữ các vị trí quan trọng trong triều đình và được chép công trạng vào bia đá ở Võ miếu (Huế).

Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873).

Trong trận chiến bảo vệ thành Hà Nội tháng 11 năm 1873, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa"Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà.

5./Mai Xuân Thưởng (1860-1887): Lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Bình Định.

Mai Xuân Thưởng lúc nhỏ tên là Phạm Văn Siêu, là sĩ phu và là lãnh tụ phong trào kháng Pháp cuối thế kỷ 19 ở Bình Định (Việt Nam).

Mai Xuân Thưởng là người thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1884, ông đỗ cử nhân ở trường thi Bình Định. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông đứng ra chiêu mộ nghĩa quân phối hợp với nghĩa quân của Tổng đốc Đào Doãn Địch ốm chết, Mai Xuân Thưởng được tôn làm nguyên soái.

Tháng 9 năm Aát Dậu (1885), ông làm lễ tế cờ tại Lộc Đổng, rồi xuất quân diệt giặc, thanh thế của nghĩa quân lan rộng, lừng lẫy. Những trận đánh ở Cẩm Vân, Thủ Thiện đã gây cho địch nhiều tổn thất.

Không bắt được Mai Xuân Thưởng, thực dân Pháp đã bắt giam mẹ ông. Vì chữ hiếu theo quan niệm của người xưa, ông đã ra nộp mình tại đình Phú Phong. Khi được khuyên ra hàng, ông khẳng khái trả lời: "Chỉ có đoạn đầu tướng quân, chứ không có hàng đầu tướng quân!"

Bọn giặc giải ông về thành Bình Định và xử chém vào ngày rằm tháng tư năm Đinh Hợi (1887). Năm đó, ông 27 tuổi.

>> Đã có TỬ VI 2016 mới nhất. Xem ngay!

>> Đã có LỊCH VẠN NIÊN 2016 mới nhất. Xem ngay!

Tuổi Giáp Thân

1./Đồng Kiên Cương (1284-1330): Vị tổ thứ hai trong Trúc Lâm tam tổ

Đồng Kiên Cương sinh ngày 7 tháng 5 niên hiệu Thiệu Bảo thứ 4, tức năm 1284, quê ở làng Cửu La, huyện Chí Linh, lộ Lạng Giang (nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). sau này đi tu mới đổi pháp hiệu là Pháp Loa.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Là một người lãnh đạo sáng suốt, dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng Pháp Loa đã đưa Thiền phái Trúc Lâm phát triển tới một đỉnh cao mới. Ông cũng là người tổ chức ấn hành Đại Tạng Kinh, một cuốn sách quan trọng của Phật giáo tại Việt Nam…

Ông mất ngày 3 tháng 3 năm 1330, thọ 42 tuổi. Sau khi được tin Pháp Loa viên tịch, Thượng hoàng Trần Minh Tông ngự bút truy tặng ngài là Tịnh Trí Đại Tôn Giả.

Mặc dù qua đời khá sớm nhưng trong suốt 24 năm ròng rã, Pháp Loa đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà thầy mình là Trần Nhân Tông giao phó, trở thành vị tổ nổi tiếng của dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

2./Nguyễn Đức Đạt (1824 -1887): Tức Thám Đạt, vị thầy học danh tiếng, quê Nghệ An.

Nguyễn Đức Đạt, tự Khoát Như, sinh năm 1824 tại làng Hoành Sơn, xã Nam Hoa Thượng, tổng Trung Cần, nay là xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn. Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng: cha là Nguyễn Đức Diện đỗ cử nhân năm 1824, con là Nguyễn Đức Hiển đỗ cử nhân năm 1912 và cháu là Nguyễn Đức Vân đỗ phó bảng năm 1906.

Từ thuở nhỏ Nguyễn Đức Đạt nổi tiếng thông minh, học giỏi và uyên bác về nhiều mặt. Ông đỗ cử nhân khoa Đinh Mùi (1847) đến khoa thi Quý Mão đời Tự Đức (1853), ông cùng Nguyễn Văn Giao, người làng Trung Cần đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh tức Thám hoa.

Buổi đầu Nguyễn Đức Đạt được bổ làm quan ở Viện Tập Hiện làm thị giảng rồi bổ làm Cấp sự trung. Được một thời gian ông xin triều đình về quê mở trường dạy học và phụng dưỡng cha mẹ già. Nghe tiếng về trình độ học vấn và đức độ của ông, sĩ tử gần xa đến xin học rất đông. Trường học không đủ chỗ ngồi, những buổi bình văn, thầy Đạt phải chuyển trường lên núi Nam Sơn, cách nhà khoảng 500m.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Thám Đạt, đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục, khoa cử triều Nguyễn

Nguyễn Đức Đạt đã có những phân tích, kiến giải khác thường, khá tích cực so với thời đại về Đạo Nho và có đóng gớp nhiều vào sự nghiệp giáo dục nước ta thời Nguyễn

3./Nguyễn Văn Tường (1824-1886): Phụ chính đại thần khi Tự Đức mất. Bị Pháp đày đi Tahiti.

Nguyễn Văn Tường là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn. Ông xuất thân từ một gia đình lao động nghèo thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1850, ông đậu cử nhân, được nhận chức huấn đạo (phụ trách việc dạy và học) tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1853, huyện Thành Hóa, thuộc tỉnh Quảng Trị được thành lập. Ông được bổ làm tri huyện ở đó cho đến 9 năm sau. Tại đây, ông đã xây dựng được một căn cứ địa tốt cho Huế. Ông lại chứng tỏ là một người rất có tâm và tài trong việc đoàn kết người Thượng với người Kinh.

Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu (ngày 4 tháng 7, bước sang ngày 5 tháng 7 năm 1885) ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công một cách bất ngờ vào Sứ quán Pháp bên kia sông Hương và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Sau một thời gian ngắn ông bị Pháp bắt và đưa đi lưu đày. Ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng.

4./Dương Bá Trạc (1884-1944): Tham gia phong trào Duy Tân, tác giả Nét mực tình.

Dương Bá Trạc, biệt hiệu Tuyết Huy, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1884, quê làng Phú Thị, nay thuộc xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông là con Dương Trọng Phổ (1862-1927), một nhà Nho có tư tưởng tiến bộ, là anh ruột Dương Quảng Hàm (1898-1946) và Dương Tụ Quán (1902 -1969), cả hai đều là nhà giáo tiến bộ thời cận đại.

Là người rất thông minh, mới 16 tuổi, Trạc đã thi đỗ cử nhân (khoa năm Canh Tý 1900)

Đỗ đạt rồi, Trạc không ra làm quan như thói thường. Ông ôm khát vọng thức tỉnh quốc dân khỏi cơn mê nô lệ, chống sự đô hộ của thực dân đế quốc. Ông từng cùng Phan Châu Trinh đi diễn thuyết nhiều nơi, cổ động chủ nghĩa duy tâm tự cường, cùng Tăng Bạt Hổ lên thăm Đề Thám ở Nhã Nam, đi suốt từ Bắc vào Nam để gặp gỡ bạn bè, chiêu mộ đồng chí.

Cả đời bôn ba, trong lòng ôm mối hận chưa thỏa được chí cứu nước, Dương Bá Trạc sinh bệnh và mất ngày 11 tháng 12 năm 1944 tại Singapore,

5./ Hồ Biểu Chánh (1884-1958): là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20.

Hồ Biểu Chánh, tên thật là, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên, tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ. Ông là một công chức thanh liêm thời Pháp thuộc, làm Chủ quận (Quận trưởng) nhiều quận ở Nam Kỳ thuộc Pháp.

Với bút danh Hồ Biểu Chánh, ông viết nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, khảo luận, phê bình, kịch, và đã xuất bản hơn sáu mươi tiểu thuyết. Ông được xem là một trong những nhà văn góp phần khai phóng văn học miền Nam đầu thế kỷ 20.

Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi.

>> Xem VẬN HẠN 2016 mới nhất!

>> Xem TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhât!

Tuổi Bính Thân

1./Hứa Tam Tỉnh (1476-?): Tức Trạng Ngọt

Ông là văn thần đời vua Lê Uy Mục, quê làng Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Ông đẹp trai, nổi tiếng văn học, đi thi khoa Mậu thìn 1508, ông đỗ bảng nhãn, 32 tuổi. Bấy giờ, vị trạng nguyên khoa này là Nguyễn Giản Thanh, tướng mạo kém ông. Khi các vị tân khoa vào chầu, nhà vua khen tướng mạo ông và gọi đùa là "Mạo Trạng nguyên" (Trạng nguyên dáng đẹp).

Khi làm chức Thị thư, khoảng năm Quí dậu 1513, ông sung chức Phó sứ, sang nhà Minh. Về sau, ông lại làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư bộ Lại, tước Đôn giáo Hầu. Rồi cùng Nguyễn Văn Thái đi sứ nhà Minh, cầu phong cho họ Mạc. Lúc về, được tặng Thiếu bảo, lãnh việc dạy con vua Mạc.

2./Nguyễn Đôn Tiết (1836-?): Phó bảng, tham gia phong trào Cần Vương đánh Pháp.

Nguyễn Đôn Tiết là người làng Thọ Vực, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Năm Kỷ Mão (1879), ông đỗ Phó bảng, làm Tri phủ một thời gian. Sau tháng 7 năm 1885, hưởng ứng dụ Cần vương, ông về quê chiêu mộ quân rồi tham gia chiến đấu trong cuộc khởi nghĩa ở Ba Đình (thuộc Nga Sơn, Thanh Hóa).

Tháng 3 năm 1886, ông bị quân Pháp bắt được, đày đi Côn Đảo, rồi mất tại đấy (1887), hưởng dương 51 tuổi.

3./Hoàng Ngọc Phách (1896-1973): Nhà giáo, tác giả cuốn Tố Tâm.

Quê ở làng Đông Thái xã Yên Đường (nay là xã Tùng Ảnh) tổng Việt Yên, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, hiệu là Song An.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Suốt 20 năm dạy học dưới chế độ thực dân do có liên quan xa gần đến phong trào yêu nước trong các trường đại học ông luôn bị chuyển đến hết nơi này đến nơi khác.

Năm 1935 về dạy học tại Bắc Ninh nhiều lần giữ chức Giám đốc học khu Bắc Ninh cho đến tận Tổng khởi nghĩa. Cách mạng tháng Tám thành công ông giữ những trọng trách trong ngành giáo dục, sau ngày hoà bình lập lại ông công tác ở Ban tu thư Bộ giáo dục, tham gia sưu tầm biên soạn các công trình về văn học cổ điển, cận đại dân gian Việt Nam.

Lịch sử văn học Việt Nam đã chọn Hoàng Ngọc Phách làm người thể hiện những bước chuyển về chất ấy - người mở cánh cửa đầu tiên cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Với tác phẩm “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách đã tạo nên một cuộc cách tân lớn trong nghệ thuật.

Hoàng Ngọc Phách không chỉ là một nhà văn có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học và sự trưởng thành của khoa học xã hội mà ông còn là một nhà giáo thế hệ của những người khai sinh ra nền giáo dục của chế độ mới.

4./Hồ Tùng Mậu (1896-1951): Chiến sĩ yêu nước hoạt động cách mạng nhiệt thành.

Hồ Tùng Mậu tên khai sinh là Hồ Bá Cự, khi xuất dương sang Thái Lan hoạt động mới mang tên Hồ Tùng Mậu và trở thành tên gọi chính thức đến khi qua đời.

Ông  người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa cử, truyền thống yêu nước.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Hoàn cảnh gia đình, quê hương, xã hội đã sớm hun đúc tinh thần yêu nước cách mạng, căm thù đế quốc. Cuối tháng 4/1920, Hồ Bá Cự từ giã vợ, con nhỏ sang Thái Lan, rồi 3 tháng sau được sang Trung Quốc tìm gặp các nhà cách mạng tìm gặp các nhà cách mạng Xứ Nghệ đang hoạt động ở đây là Phan Bội Châu, Hồ Ngọc Lãm v.v... Tại đây, Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn lập ra Tâm Tâm xã, tập hợp số thanh niên hăng hái kiên quyết cùng chí hướng, hy sinh quyền lợi cá nhân, cùng nhau mưu đồ giải phóng dân tộc.

Sau khởi nghĩa ông được giao nhiều nhiệm vụ: Phụ trách trường quân chính Nhượng Bạn, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Liên khu IV, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ, Tổng thanh tra Ban thanh tra Chính phủ, Hội trưởng Hội Việt Hoa hữu nghị. Ở bất kỳ địa vị công tác nào, ông đều hăng hái, nhiệt tình và phát động được cán bộ, nhân dân tham gia. Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc tháng 2/1951, Hồ Tùng Mậu được bầu làm uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương và vẫn giữ các công tác cũ.

Ngày 23/7/1951 trên đường công tác , ông hy sinh do bị máy bay Pháp ném bom.

5./Phạm Hồng Thái (1896-1924): Tham gia hoạt động phong trào Đông Du và là người đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương.

Phạm Hồng Thái tên thật là Phạm Thành Tích, quê Nghệ An, là con quan Huấn đạo Phạm Thành Mỹ.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Là một người yêu nước, sớm tham gia các phong trào dân chủ, năm 1918 ông cùng với một nhóm thanh niên có tâm huyết theo Vương Thúc Oánh (thành viên Việt Nam Quang phục Hội) vượt biên qua Xiêm (Thái Lan) rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 4 năm 1924, ông gia nhập Tâm Tâm Xã do Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn thành lập.

Chiều tối ngày 19 tháng 6 năm 1924, Phạm Hồng Thái đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương Meclanh. Vụ đặt bom thành công, bom nổ nhưng Mec-lanh thoát chết, chỉ bị thương. Bị cảnh sát phát hiện và truy đuổi ráo riết, Phạm Hồng Thái nhanh chóng thoát ra ngoài, nhảy xuống sông Châu Giang định bơi sang bên kia bờ. Nhưng dòng nước xoáy làm Phạm Hồng Thái không đến được điểm hẹn, ông đã anh dũng hy sinh. Sự kiện này đã được báo chí Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới đưa tin nhiều ngày liền với tên gọi “Tiếng bom Sa Điện”.

Nhân dân Quảng Châu cho đó là hành vi nghĩa liệt, đưa thi thể Phạm Hồng Thái mai táng ở chân đồi Bạch Vân. Sau này mộ Liệt sỹ Phạm Hồng Thái được chuyển về xây tại Nghĩa trang Trung ương Hoàng Hoa Cương, bên cạnh các Liệt sĩ Trung Quốc, mộ chí ghi “Việt Nam Phạm Hồng Thái Liệt sĩ chi mộ”

6./Khải Hưng (1896-1947): nhân vật trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn với nhiều cuốn tiểu thuyết xuất sắc.

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, bút hiệu khác Nhị Linh, sinh năm 1896 tại làng Cổ Am, phủ Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Thuở nhỏ học chữ nho, rồi theo Tây học (lycée Albert Sarraut, có nơi ghi Paul Bert). Sau khi đậu tú tài Pháp, ban triết, Khái Hưng dậy ở tư thục Thăng Long, ở đây ông gặp Nhất Linh và thành lập nhóm Tự Lực Văn Đoàn với nhiều cuốn tiểu thuyết xuất sắc mở ra cả một phong trào sau này.

7./Vũ Đình Long (1896-1960):

Ông Vũ Đình Long là người làng Mục Xá, xã Cao Dương,huyện Thanh Oai, Hà Nội. Ông là người khai sinh ra nền kịch nói Việt Nam bằng vở kịch Chén thuốc độc (1921).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông là một người suốt đời phấn đấu cho một nền đạo đức trong sáng, giữ vững thuần phong mỹ tục của dân tộc. Ông là người có công lớn trong việc chấn hưng và phát triển nền văn học nước nhà. Ông mở Nhà xuất bản Tân Dân để tạo điều kiện cho các nhà văn phát triển tài năng. Dưới con mắt tinh đời của ông, nhiều nhà văn đã được khích lệ và trở thành những nhà văn lớn của Việt Nam. Nhà xuất bản Tân Dân là một nhà xuất bản lớn vào loại nhất của Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8.1945.

Ông là người sống trong sạch, không vụ tiền tài, tiền công diễn các vở kịch của ông thời ấy, ông không nhận mà là để góp phần công đức nuôi dưỡng các trẻ em mồ côi.

>> Xem bói 12 CUNG HOÀNG ĐẠO 2016 mới nhất!

>> Xem bói 12 CON GIÁP 2016 mới nhất!

Tuổi Mậu Thân

1./ Nguyễn Ưng Lịch (1872-1943): Tức vua Hàm Nghi.

Hàm Nghi là vị vua thứ tám triều Nguyễn, con của Kiến thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, em ruột vua Kiến Phúc.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1883 và 1884, triều đình Huế kí các Hiệp ước Hacmăng (Harmand) và Patơnôt (Patenôtre) đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chuyển sang một bước ngoặt.

Ngày 5.7.1885, Tôn Thất Thuyết thuộc phái chủ chiến bất ngờ tiến công quân Pháp ở Huế nhưng thất bại. Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi rút lên miền núi các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, ra chiếu Cần vương kêu gọi nhân dân ra sức giúp vua, cứu nước, được nhân dân cả nước tích cực hưởng ứng.

Ngày 1.1.1888, Hàm Nghi bị Trương Quang Ngọc phản bội, bắt và giao cho Pháp. Hàm Nghi bị đưa đi an trí ở Angiêri. Hàm Nghi vẫn giữ lối sống truyền thống của đất nước và dân tộc Việt Nam.

2./Thiếu Sơn (1908-1978):

Thiếu Sơn tên thật là Lê Sĩ Quý. Ông là nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học Việt Nam. Ông sinh tại Hải Dương trong một gia đình có truyền thống Nho học.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Cả cuộc đời ông tham gia nghệ thuật, bắt đầu viết cho Nam Phong tạp chí và sau này còn viết cho nhiều báo khác nữa, như: Tiểu thuyết thứ Bảy, Đại Việt tạp chí, Nam Kỳ tuần báo... Với ngòi bút của mình ông đấu tranh không mệt mỏi chống Pháp, chống Mỹ đến nỗi hai lần bị bắt giam và đày ra nhà tù Côn Đảo (1972)

Năm 1973, ông được tự do và trở ra Bắc rồi sang Pháp để vận động Việt kiều ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cuối năm 1975, ông trở về nước, đoàn tụ với gia đình.

Tuy đau yếu luôn, nhưng ông vẫn viết bài cho báo Đại đoàn kết và Sài Gòn giải phóng, cho đến khi ông bị tai biến mạch máu não rồi qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 70 tuổi.

3./ Ngô Gia Tự (1908-1935): Nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông sinh ra ở làng Tam Sơn, phủ Từ Sơn (nay là xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh. Ngô Gia Tự là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, bất khuất, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ngay từ trẻ ông đã tham gia hoạt động cách mạng và là một trong những người đặt nền móng, tham gia thành lập Đảng Cộng sản. Sau Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Ngô Gia Tự làm bí thư Chấp uỷ Lâm thời Nam Kỳ.

Tháng 6.1930, ông bị bắt tại Sài Gòn, bị toà đại hình ở Sài Gòn kết án khổ sai chung thân (5.1933) và đày ra Côn Đảo (giữa 1933).

Đầu 1935, ông vượt ngục Côn Đảo để về đất liền nhưng thuyền bị đắm trên biển. Ngô Gia Tự cùng với tất cả các đồng chí vượt biển đã hi sinh.

4./ Nguyễn Đức Cảnh (1908-1932): Một chiến sĩ, một nhà hoạt động cách mạng kiên trung của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Đức Cảnh sinh ngày 2/2/1908 tại thôn Diêm Điền, xã Thái Hà, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Cùng với Ngô Gia Tự, ông là một trong bảy người tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở nước ta. Ông là người trực tiếp tổ chức, thành lập và chỉ đạo các hoạt động của Đảng ở Hải Phòng trong những năm đầu tiên.

Cuối năm 1930 phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân Nghệ Tĩnh phát triển rầm rộ rộng khắp, nhằm tăng cường đội ngũ lãnh đạo cho phong trào miền Trung, Nguyễn Đức Cảnh được điều vào Trung kỳ chỉ đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Tháng 4/1931 trên đường đi công tác trở về cơ sở Nguyễn Đức Cảnh giặc bắt, tại làng Yên Dũng Hạ, cách thành Vinh chừng vài cây số.

Ngày 17/11/1931 Nguyễn Đức Cảnh và Hồ Ngọc Lân bị đưa xuống Hải Phòng thi hành án tử hình.

5./Đoàn Trần Nghiệp (1908-1930):  bí danh Ký Con, là nhà cách mạng Việt Nam, đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng.

Đoàn Trần Nghiệp sinh năm 1908 tại phố Hàng Sơn, Hà Nội. Ông quê ở làng Khúc Thủy, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

Đoàn Trần Nghiệp gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng từ rất sớm và hoạt đông rất năng nổ. Ông từng tham gia ám sát chuyên trừng trị các tên thực dân, kẻ phản bội. Sau khi cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân đảng không thành, ông và các đồng chí của mình bị thực dân Pháp truy nã ráo riết.

Tháng 6 năm 1930, ông bị mật thám bắt ở Nam Định và bị đưa về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Khi được ký giả người Pháp Louis Roubaud phỏng vấn ông nói mục đích của ông là “ đánh đuổi người Pháp ra khỏi xứ An Nam”. Sau đó, Đoàn Trần Nghiệp bị kết án tử hình.

Cuối tháng 12 năm 1930, Đoàn Trần Nghiệp, tức Ký Con bình thản cùng 6 đồng chí bước lên máy chém tại cổng trước nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.

6./Hải Triều (1908-1954): nhà văn có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn chương Việt Nam.

Hải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh ở làng An Cựu ở ngoại thành Huế, quê ở xã Lê Lợi, huyện An Dương, Hải Phòng. Lớn lên, ông học ở trường Quốc Học Huế, sau đó bị đuổi khỏi trường do tham gia các phong trào thanh niên yêu nước.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1927, ông tham gia đảng Tân Việt sau đó vào hoạt động ở Sài Gòn. Ông bắt đầu tham gia viết báo với bút danh Nam Xích Tử. Ông hoạt động cách mạng rất hang hái và bị Pháp bắt năm 1930.

Đến năm 1932 ra tù, Nguyễn Khoa Văn mở hiệu sách báo Hương Giang ở Huế và đồng thời bắt đầu viết cho báo Đông Phương dưới bút danh mới - Hải Triều. Ông bắt đầu gây tiếng vang qua những cuộc tranh luận của Phan Khôi trên các báo Đông Phương, Phụ nữ tân tiến...: "Duy vật hay duy tâm", "Nước ta có chế độ phong kiến hay không". Ông hoạt động sôi nổi trong thời kì Mặt Trận Dân Chủ (1936-1939), viết bài cho các báo Nhành lúa, Dân, Đời mới, Kiến văn, Tiếng vang, Hồn trẻ, Tin tức, Tin mới... đặc biệt qua cuộc bút chiến về "Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh" (kéo dài từ 1935 - 1939) với Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư...

7./ Nguyễn Văn Huyên (1908-1975): một Giáo sư, tiến sỹ, nhà sử học, nhà dân tộc học, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Ông cũng là người giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam trong suốt 28 năm.

Ông sinh ngày 16 tháng 11 năm 1905 tại Hà Nội, nguyên quán tại xã Kim Chung, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội).

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 18 tuổi, ông và người em trai là Nguyễn Văn Hưởng được gia đình cho đi Pháp du học. Năm 1934 ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne, Paris. Năm 1935 ông trở về nước, khước từ làm quan, dạy học tại Trường Bưởi (trường Bảo hộ).

Sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Giám đốc Đại học vụ, Bộ Quốc gia giáo dục kiêm Giám đốc Viện Bác cổ.

Tháng 11 năm 1946, ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục) của Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ chức vụ này trong 29 năm cho đến khi mất vào tháng 10 năm 1975 dù không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khoá 2 đến khoá 7, ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông qua đời ngày 19 tháng 10 năm 1975 tại Hà Nội.

Tuổi Nhâm Thân

1./Đàm Văn Lễ (1452-1505): Tiến sĩ làm quan triều Lê Thánh Tông.

Đàm Văn Lễ tự là Hoằng Kính, người xã Lam Sơn, huyện Quế Dương, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Từ nhỏ ông đã nổi tiếng là thần đồng, thi Hương đỗ giải nguyên.

Năm 1469, mới 18 tuổi, ông đi thi lần đầu đã đỗ Đồng tiến sĩ. Sau đó ông ra làm quan cho triều Lê và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình.

Ông nổi tiếng là đại thần cương trực, trung trinh. Năm 1504, Lê Hiến Tông bệnh nặng. Nguyễn Kính phi là mẹ hoàng tử Lê Tuấn muốn con mình thay thái tử Thuần, nên mang vàng hối hộ ông. Đàm Văn Lễ không nhận rồi cùng Ngự sử Nguyễn Công Bật tuân theo di chiếu lập thái tử Thuần làm vua, tức là vua Lê Túc Tông sau này.

Ông mất năm 1502, thọ 53 tuổi.

2./Đào Duy Từ (1572-1639):  nhà chính trị quân sự lỗi lạc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, người thầy, bậc khai quốc công thần số một của chín đời chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn.

Đào Duy Từ làm quan với chúa Nguyễn Phúc Nguyên từ năm 1627 đến năm 1634, trong vòng tám năm (từ năm ông 54 tuổi đến năm 62 tuổi) ông đã kịp làm được năm việc lớn: (1) Giữ vững cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chặn được quân Trịnh ở Đàng Ngoài;

(2) Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh, nước lớn lên, người nhiều ra

(3) Xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân, đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn lưu truyền chín chúa mười ba đời vua

(4) Tác phẩm "Hổ trướng khu cơ"; nhã nhạc cung đình Huế, vũ khúc tuồng Sơn Hậu là những kiệt tác và di sản văn hóa vô giá cùng với giai thoại, ca dao, thơ văn truyền đời trong tâm thức dân tộc

(5) Đào Duy Từ là người thầy đức độ, tài năng, bậc kỳ tài muôn thuở, người khai sinh một dòng họ lớn với nhiều hiền tài và di sản.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Năm 1932, vua Bảo Đại sắc phong Đào Duy Từ làm Thần Hoàng làng Lạc Giao, đất "Hoàng triều cương thổ" ở Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk. Ông mất năm 1639 thọ 67 tuổi.

3./Nguyễn Tông Khuê (1692-1766): Tiến sĩ thời Lê, nổi tiếng là một trong Trường An tứ hổ.

Ông còn được gọi là Nguyễn Tông Quai, hiệu Thư Hiên, quê ở Phúc Khê, huyện Ngự Thiên, nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Năm Tân sửu 1721 ông đỗ tiến sĩ lúc 29 tuổi. Thầy học là cụ Thám hoa Vũ Thạch vẫn thường khen ngợi tài ông. Quả nhiên về sau ông nổi tiếng văn chương, vượt xa đồng bạn, làm quan đến Thị lang bộ Hộ, tước Ngọ Đình Hầu. Ông hai lần đi sứ nhà Thanh. Lần đầu làm Phó sứ (1742), lần sau làm Chánh sứ (1748).

Tính ông khảng khái, cương trực, nên về sau bị Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc bức hại, giáng xuống chức Thị giảng rồi truất về làng.

Ông cùng với Đoàn Trác Luân, Ngô Tuấn Cảnh và Nguyễn Bá Lân là bốn danh sĩ được đương thời xưng tặng là "Trường An tứ hổ" (Bốn con cọp ở kinh đô).

Năm Bính tuất 1766 ông mất, thọ 74 tuổi.

4./Phan Chu Trinh (1872-1926): Ông là nhà thơ, nhà văn, và là chí sĩ thời cận đại trong lịch sử Việt Nam và là người chủ trì vận động Duy Tân dân chủ.

Phan Châu Trinh còn được gọi Phan Chu Trinh, hiệu là Tây Hồ, Hy Mã, tự là Tử Cán, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam.

Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Ông nổi tiếng học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang, và Phạm Liệu.

Năm sau 1901, triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời gian này ông ở nhà dạy học đến năm 1903 thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.

Là một người yêu nước nồng nàn, nhìn đất nước lầm than, ông bôn ba khắp đất nước tổ chức các buổi diễn thuyết dân chủ và là người chủ trì vận động phong trào Duy Tân với mong muốn thay đổi suy nghĩ, thay đổi tình trạng đất nước.

Tiếc thay đại cuộc chưa thành, bệnh tình của Phan Chu Trinh mỗi ngày một thêm trầm trọng. Ngày 24 tháng 3 năm 1926 (nhằm ngày 12 tháng 2 âm lịch) nhà cách mạng ái quốc Phan Chu Trinh đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ được 55 tuổi.

Ngày 4-4-1926 khắp từ Nam chí Bắc đều tự động làm lễ bãi khóa và làm lễ quốc táng nhà chí sĩ Phan Chu Trinh rất trọng thể để chứng tọ tấm lòng ngưỡng mộ và mến tiếc nhà cách mạng đã suốt đời vì dân vì nước.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các vĩ nhân tuổi thân trong lịch sử Việt Nam

Mơ thấy gốm sứ: Gia đình hạnh phúc, tình yêu phong phú –

Giấc mơ có hình ảnh gốm sứ, mang ý nghĩa hạnh phúc và tình yêu. Gốm sứ trong mơ, dự báo gia đình bạn hạnh phúc mỹ mãn, ngọt ngào và đầm ấm. Nếu mơ thấy gốm sứ màu trắng, tượng trưng tình yêu trong sáng; mơ thấy gốm sứ nhiều màu, dự báo cuộc sống phon
Mơ thấy gốm sứ: Gia đình hạnh phúc, tình yêu phong phú –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy gốm sứ: Gia đình hạnh phúc, tình yêu phong phú –

Vận trình tử vi trọn đời Giáp Tý nữ mang chi tiết

Giáp Tý nam mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao, cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, lựa chọn vợ chồng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giáp Tý nữ mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao. Cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, việc lựa chọn vợ chồng thế nào được trình bày chi tiết trong lá số tử vi trọn đời này.

Sanh năm: 1924, 1984 và 2044
Cung CHẤN
Mạng HẢI TRUNG KIM (vàng dưới biển)
Xương CON CHUỘT
Tướng tinh CON CHÓ SÓI

Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng

Giáp Tý số mạng như vầy
Dời đổi nhà cửa sau này mới yên
Anh em giàu có chẳng mong
Tự tay lập nghiệp chẳng trông cậy nhờ
Lương duyên trắc trở buổi đầu
Phải quen nhau trước mới hầu lập gia.

xem bói tử vi tuổi Tý

CUỘC SỐNG

Cuộc đời có nhiều may mắn, thường nắm lấy thành công nhiều hơn là thất bại. Cuộc sống có thể đầy đủ và cuộc đời càng lúc càng lên cao hơn, cho đến ngày cuối của cuộc đời thì tuổi Giáp Tý vẫn nắm được phần chắc của cuộc sống đầy đủ hoàn toàn về vật chất.

Tóm lại: cuộc đời của tuổi Giáp Tý nhiều may mắn và tạo được nhiều cơ hội tiền bạc, nắm vững phần sự nghiệp lẫn công danh.

Tuổi Giáp Tý cuộc sống được ở vào phần trung bình. Số hưởng thọ từ 59 đến 68 tuổi là mức tối đa, nhưng nếu ăn ở hiền hòa có phúc đức thì được gia tăng niên kỷ, gian ác thì sẽ bị giảm kỷ, đó là luật định của tạo hóa.

TÌNH DUYÊN

Về vấn đề tình duyên, tuổi Giáp Tý có nhiều trường hợp đặc biệt về tuổi nhỏ. Cuộc sống về vấn đề tình duyên, bắt đầu có hạnh phúc hay đầy đủ về tình thương yêu, nhưng theo sự nghiên cứu về khoa học chiết tự và huyền bí thì tuổi Giáp Tý cũng có ba trường hợp về vấn đề tình duyên như sau:

Nếu bạn sanh vào những tháng nầy, thì cuộc đời có ba lần thay đổi về vấn đề tình duyên và hạnh phúc, đó là bạn sanh vào tháng Giêng Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng nầy thì cuộc đời hai lần thay đổi về tình duyên và hạnh phúc, đó là bạn sanh vào những tháng: 2, 5, 9, 10 và 11 Âm lịch. Nhưng nếu bạn sanh vào những tháng nầy thì cuộc đời bạn được hoàn toàn hạnh phúc, đó là bạn sanh vào những tháng: 3, 4, 7, 8 và 12 Âm lịch.

Trên đây là những diễn tiến về tình duyên của bạn trong cuộc đời, bạn nên nhớ lại mình sanh vào tháng nào để biết được cuộc đời, và đó là số mạng của bạn vậy.

GIA ĐẠO, CÔNG DANH

Công danh vẫn ở vào mức độ bình thường. Phần gia đạo có nhiều rối rắm về tuổi nhỏ, nhưng vào hậu vận và trung vận thì được êm ái, phần con cái có nhiều kết quả mong muốn và đầy đủ đàng hoàng.

Sự nghiệp bắt đầu vững chắc từ năm 30 tuổi. Tiền tài đều đặn và có thể lên cao vào hậu vận, có thể thành công to về tiền bạc vào thời kỳ 40 tuổi trở đi.

NHỮNG TUỔI HẠP LÀM ĂN

S au đây là sự làm ăn của bạn, phải cần chọn lựa người có hạp với phần tuổi mình thì công việc làm ăn mới mong phát triển được đầy đủ và dồi dào. Tuổi Giáp Tý rất hạp với những tuổi nầy trong mọi sự làm ăn hay mọi khía cạnh trên cuộc đời. Đó là tuổi Giáp Tý hợp với những tuổi nầy: Giáp Tý, Bính Dần, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ. Những tuổi này hạp với tuổi Giáp Tý trong mọi việc trong suốt cuộc đời.

LỰA CHỌN VỢ, CHỒNG

Trong sự lựa chọn vợ chồng, bạn cũng cần nên lựa những tuổi hạp với tuổi mình mới có thể xây dựng được nhiều dịp may mắn trong cuộc đời, mới có thể phát triển được sự giàu sang, phú quý và trong cuộc đời bạn cần lựa chọn những tuổi nầy mà kết duyên thì chắc chắn cuộc sống sẽ trở nên hoàn toàn êm đẹp, những tuổi nầy rất hạp về tình duyên lẫn tiền tài và sự nghiệp, đó là các tuổi: Giáp Tý, Bính Dần, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Nhâm Thân, Quý Hợi. Những tuổi nầy là những tuổi có thể kết hôn mới có thể phát triển mạnh về nghề nghiệp.

Nếu bạn kết duyên với những tuổi nầy, bạn chỉ tạo được cuộc sống trung bình mà thôi, đó là bạn kết hôn với các tuổi: Mậu Thìn, Nhâm Tuất, Bính Thìn. Những tuổi nầy chỉ hạp về đường tình duyên mà không hạp về đường tài lộc.

Nếu bạn kết hôn với những tuổi nầy, cuộc sống bạn có thể gặp nhiều nguy cơ, không tạo được cơ hội để phát triển nghề nghiệp, tài lộc yếu kém, trong cuộc đời khó tạo được một sự sống êm đẹp và đầy đủ, suốt đời phải sống trong sự nghèo túng liên miên, đó là bạn kết duyên với các tuổi: Tân Mùi, Đinh Sửu. Những tuổi này kết hôn rất khó làm ăn.

Những năm nầy bạn kết duyên phải chịu cảnh xa vắng và hay đau buồn vì việc tình duyên và hạnh phúc, vì là những năm xung khắc với tuổi: 16, 17, 22, 23, 28 và 39 tuổi. Những năm mà bạn ở vào số tuổi này kỵ kết hôn.

Nếu bạn sanh vào những tháng nầy, cuộc sống bạn đa phu, nghĩa là trong cuộc đời thay đổi nhiều lần về tình duyên và hạnh phúc, đó là bạn sanh vào những tháng: 1, 5, 6, 9, 11 và 12 Âm lịch. Nếu sanh vào những tháng nầy chắc chắn trong cuộc đời bạn nhiều lần thay đổi về vấn đề tình duyên và hạnh phúc hay phải có nhiều chồng.

NHỮNG TUỔI ĐẠI KỴ

Trong cuộc đời nhứt là những tuổi nầy, bạn nên đề phòng và cẩn thận, không nên giao dịch làm ăn, hay kết duyên, vì những tuổi nầy rất đại kỵ với tuổi bạn, có thể xảy ra tuyệt mạng hay biệt ly vào giữa cuộc đời, đó là các tuổi: Đinh Mão, Quý Dậu, Kỷ Mão và Tân Dậu. Nếu gặp tuổi nầy mà kết duyên hay làm ăn thì cuộc đời sẽ có nhiều thương đau, khó mà có thể thành công hoặc có hạnh phúc được.

Gặp tuổi kỵ trong gia đình nên cúng sao hạn cho cả hai tuổi. Về tình duyên không nên làm lễ hôn nhơn linh đình hay ra mắt bà con thân tộc. Về việc làm ăn không nên giao dịch về tiền bạc.

NHỮNG NĂM KHÓ KHĂN NHẤT

Bạn có những năm bạn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, những năm nầy bạn không tạo được nhiều sự may mắn, đó là những năm bạn ở vào số tuổi: 19, 24, 31 và 38 tuổi. Những năm này khó tạo được tiền bạc cũng như tất cả mọi khía cạnh khác.

NGÀY GIỜ XUẤT HÀNH HẠP NHẤT

Tuổi Giáp Tý có những ngày, giờ xuất hành hạp nhứt, đó là những ngày lẻ, giờ lẻ và tháng lẻ. Xuất hành vào những ngày, giờ và tháng nói trên, bạn gặp được nhiều sự may mắn trong vấn đề tiền bạc cũng như về mọi khía cạnh khác. Không sợ sự thất bại.

VẬN TRÌNH TỬ VI TỪNG NĂM

Từ 18 đến 22 tuổi: Năm 18 tuổi, về mặt tình cảm rất vượng, nhưng tất cả những câu chuyện tình duyên xảy ra trong năm này đều bị thất bại. Năm 19 tuổi, có thể thi đậu hoặc có một tin vui. Năm 20 tuổi, sẽ gặp được người yêu lý tưởng trong khoảng thời gian từ 20 đến 22 tuổi. Trong những năm nầy nên luôn cẩn thận về vấn đề tình cảm, đề phòng những lời đường mật không thành thật của những người khác phái có ý lừa gạt.

Từ 23 đến 28 tuổi: Đây là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời bạn; nếu đã lập gia đình, thì bạn đã gặp được một người chồng tốt; Nếu chưa có gia đình, chắc chắn trong khoảng thời gian nầy bạn sẽ gặp được người chồng lý tưởng, tài lộc đều hòa, trên mức trung bình.

Từ 29 đến 32 tuổi: Trong khoảng thời gian nầy bạn nên giữ gìn cẩn thận về bổn mạng và hãy nên làm nhiều điều thiện, phước đức để đức cho những đứa con được sanh ra trong khoảng thời gian nầy. Năm 31 tuổi, thể nào cũng có đau bịnh khá nặng.

Từ 33 đến 38 tuổi: Đây là những năm mà tuổi Giáp Tý vượng phát nhất trong cuộc đời tất cả về mọi mặt tình cảm, gia đạo cũng như con cái và tài lộc, làm gì cũng thành công. Bạn nên lợi dụng những năm nầy để xây dựng hạnh phúc của đời bạn.

Từ 39 đến 42 tuổi: Trong khoảng thời gian nầy ngoài vấn đề tình cảm gia đình, bạn nên cố tránh giao thiệp mật thiết với người khác phái, coi chừng có chuyện lộn xộn. Năm 41, tuổi kỵ mùa Hạ, kỵ đi xa. Năm 42 tuổi, kỵ hùn hạp làm ăn, nhất là với người khác phái và ít tuổi hơn mình.

Từ 43 đến 50 tuổi: Năm 43 tuổi có nhiều việc buồn phiền, năm nầy làm ăn lớn sẽ bị thất bại, cuộc sống có nhiều việc lo âu vào những tháng năm, bảy và chín. Năm 44 tuổi khá hay, tài lộc dồi dào, công việc làm ăn có nhiều thắng lợi vào những tháng 4, 7 và 10 Âm lịch. Năm 45 tuổi, xấu vào tháng Giêng; Hai, Ba có tài lộc; Tháng Sáu, Bảy không nên đi xa hay xuất phát tiền bạc; ngoài ra, những tháng khác trung bình. Năm 46 và 47, hai năm đầy đủ làm ăn có nhiều kết quả, tình cảm vượng phát mạnh. Năm 48 và 49 tuổi, nên cẩn thận về tiền bạc. Vào năm 48 tuổi, kỵ tháng 9. Năm 49 tuổi, nhiều tai hại nên cữ vào tháng 4. Năm 50 tuổi, đầy triển vọng về tiền bạc cũng như về tình cảm.

Từ 51 đến 55 tuổi: Năm 51 tuổi, khá hay đẹp về tài lộc và tình cảm, có phát triển về nghề nghiệp. Năm 52 tuổi, có thể gặp nhiều may mắn vào tháng 8 trở đi. Năm 53 tuổi, bình thường không có gì xảy ra trong cuộc đời, trừ bịnh hoạn nhỏ nhặt. Năm 54 và 55, hai năm này gia đình êm ấm, tài lộc điều hòa, mọi việc làm ăn đều có thể phát triển được.

Từ 56 đến 60 tuổi: Năm 56 tuổi, có nhiều hay đẹp. Năm 57 lo lắng cho bản thân, tình cảm vượng phát, tiền bạc dễ chịu. Năm 58 và 59 đầy đủ và hai năm nầy không được tốt về phần tài lộc và phần mạng số. Cẩn thận việc xuất hành rất có tai hại nhứt là tháng 6 năm 58 và tháng 10 năm 59 tuổi. Năm 60 tuổi được đầy đủ, gia đình tròn vẹn và hạnh phúc. Năm này phần bản thân không có việc gì quan trọng xảy ra.

Vận trình tử vi trọn đời 12 con giáp chi tiết

Xem bói tử vi tuổi Tý

Xem tử vi năm mới


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận trình tử vi trọn đời Giáp Tý nữ mang chi tiết

Xem bói bàn chân - bóc mẽ con người thật của bạn

Chân là cột trụ chống đỡ thân mình. Chân cần thon, có dáng vóc vuông dài, thanh lịch mềm mại là người phú quí, nếu chân nhỏ cụt, mỏng và dáng thô và cứng ngắc, đó là người bần tiện.
Xem bói bàn chân - bóc mẽ con người thật của bạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tướng bàn chân cũng là một phần trong nhân tướng học. Chúng ta hãy cũng xem bói bàn chân nhé

Dưới đây là một số cách cục quen thuộc của bàn chân

Chân là cột trụ chống đỡ thân mình. Chân cần thon, có dáng vóc vuông dài, thanh lịch mềm mại là người phú quí, nếu chân nhỏ cụt, mỏng và dáng thô và cứng ngắc, đó là người bần tiện.

Xem bói bàn chân nứt nẻ

Gót chân nức nẻ là hạ tiện, dày mà rộng lớn bề ngang quá cũng nghèo khổ chớ không sang. Dưới gót có lằng như cái xoáy là có danh vọng lớn. Lòng bàn chân bằng như miếng gỗ là nghèo hèn cực khổ tới già.

Xem bói bàn chân

Lòng bàn chân khuyết như chiếc thuyền úp, hay mặt trăng lưỡi liềm nằm giữa là người phú quí.

Ngón chơn dài, hơi thon nhọn là người trung nghĩa thuần hậu. Dưới bàn chân có nút ruồi là có uy quyền. Chân mà dẹp mỏng là hèn, chân thon nhỏ mà dầy cao là sang quí.

Xem bói bàn chân to và loe


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói bàn chân - bóc mẽ con người thật của bạn

Chu dịch và Kinh dịch

Tác giả: Lương Trâm - Thứ nhất là khác nhau về hình thức, bói dịch dùng thi thơ để giảng còn Chu dịch dùng văn xuôi để giảng. - Thứ hai là bói dịch có nhiều lọai gồm:8 Quẻ ba hào như Liên Sơn dịch đời Hạ có quẻ đầu là Cấn, Qui tàng dịch đời Thương có quẻ đầu là Khôn.32 Quẻ năm hào như “Tam Bửu Hiệp nhứt” người Việt hay thường sử dụng64 Quẻ sáu hào “ Bói dịch cổ truyền” người Việt hay thường sử dụng. Khác với bói dịch, Chu dịch chỉ có một lọai là 64 quẻ sáu hào, được ghi chép có hệ thống dạng kinh điển, còn dùng để nghiên cứu, không như những sách bói “diệc” chỉ dùng cho việc chiêm bói được lưu hành trong dân chúng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trước hết xin nói về cách trình bày của các lọai bói dịch người Việt hay sử dụng:

Quẻ năm hào:

Ví dụ: quẻ Giá sắc

Nội dung: Dịch nghĩa:
Thả thủ quân tử phận.              Quân tử nên giữ phận
Vật dụng tiểu nhân ngôn.          Chớ nghe lời tiểu nhân
Phàm sự giai đương cẩn             Mỗi việc nên cẩn thận
Tác phước bảo an nhiên            Làm lành vậy mới yên

Quẻ sáu hào:

Ví dụ: Phong Sơn Tiệm ( Hồng nhạn phi cao)

Ý nghĩa: Chim Hồng nhạn được sổ lồng bay xa.
Tiến từ từ bay lên mây trong sự thông đạt thong dong.
Không có gì cản trở.
Nhưng không thể bay vụt từ trong lồng lên mây ngay được.
Giải đoán: Vận khí thịnh đạt dần dần. Công việc mỗi ngày đều phát triển đều đặn. Không gặp trở ngại. Thành quả rất to lớn so với lúc khởi sự.
Lời khuyên: Giữ tiết hạnh thanh cao. Ung dung không vội vả.
Phụ chú : Giải trừ mọi tai ương. Tuy tiến chậm nhưng rất yên ổn.
Hào 1 : trung bình, tiến hơi chậm
Hào 2 : rất tốt
Hào 3 : trung bình
Hào 4 : tốt
Hào 5 : tốt
Hào 6 : rất tốt, đại cát
Ứng hạp : Tuổi Bính : Thìn, Ngọ, Thân
Tuổi Tân : Mão, Tỵ, Mùi
Tháng 1
Hành thổ

Lời giảng của của quẻ này viết theo văn xuôi nhưng được ngắt ra 4 đọan, có lẽ vào đời Tần bị cấm thi thơ, các lọai sách đều phải chép lại bằng văn xuôi.
Tiếp đến là cách trình bày quẻ trong Kinh Dịch : Quẻ Phong Sơn tiệm ( xin không trích giảng hào từ)
Thóan từ: Tiệm, nữ qui cát, lợi trinh.
Dịch: Tiến lần lần, như con gái về nhà chồng, tốt; giữ đạo chính thì lợi.
Giảng: Quẻ này là Tốn ( cây), dưới là Cấn( núi). Trên núi có cây, có cái tượng dưới thấp lần lần lên cao, nên đặt là Tiệm.
Tiến mà lần lần, không nóng nảy, vẫn tỉnh như nội quái cấn, vẫn hòa thuận như ngọai quái Tốn thì không bị vấp váp, không bị khốn cùng.
Hào từ:
- Sơ lục: Hồng tiệm vu can, tiểu nhân lệ, hữu ngôn vô cửu.
Dịch: Hào âm 1, con chim Hồng tiến đến bờ nước, nhỏ dại cho là nguy, than thở nhưng không có lỗi.
- Lục nhị: Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.
Dịch: Hào 2 âm, chim hồng tiến đến phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi, tốt
- Cửu tam: Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung lợi ngự khẩu.
Dịch: Hào 3 dương, chim hồng tiến tới đất bằng, chồng đi xa không về, vợ có mang không nuôi, xấu, đuổi cướp thì có lợi.
- Lục tứ: Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắ kỳ giốc, vô cửu.
Dịch: Hào 4 âm, chim hồng nhảy lên cây, may tìm được cành thẳng mà đậu, không có lỗi.
- Cửu ngũ: Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dụng, chung mạc chi thắng, cát.
Dịch: Hào năm dương, chim hồng lên gò cao, vợ ba năm không sinh đẻ, nhưng cuối cùng không có gì thắng nổi điều chính, tốt.
- Thượng cửu: Hồng tiệm vu qui, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát.
Dịch: Hào trên cùng dương, chim hồng bay bổng ở đường mây. Lông nó có thể dùng làm đồ trang sức, tốt.

Hai loại dịch trên mặc dù có khác nhau về hình thức, nhưng nhìn chung tất cả đều có đặc điểm là có hào âm,hào dương. Âm dương được hình thành do sự vận động của vũ trụ. Sự vận động này thuận theo chiều hướng sinh của ngũ hành hình thành bát quái. Đó là học thuyết Âm dương- Ngũ hành của người xưa.

1/ Thuyết Âm dương - Ngũ hành:

a - Sự hình thành Âm dương:
Thái cực vận động sinh ra lưỡng nghi, tức là hai khí : Âm và Dương. Phần dương thì động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên sinh ra khí dương và nơi tích lũy nhiều khí dương là bầu trời được ký hiệu là ( ). Dương được sinh ra từ cực Bắc và bên trái chủ dương.
Phần âm thì tỉnh, lạnh, tối, đục, nặng, chìm xuống dưới sinh ra khí âm và nơi tích lũy nhiều khí âm là đất được ký hiệu là ( ) . Âm được sinh ra từ cực Nam và bên phải chủ âm.



Hình Lưỡng Nghi


Âm dương có sự liên hệ thần bí, đó là sự hấp dẫn lưỡng tính thần kỳ. Theo Lôi Đạc, trong tác phẩm Mỗi ngày 10 phút với Chu Dịch, nhà ảo thuật Trung quốc nổi tiếng là Tàng quốc Chân đã phát hiện điều này khi đem hai con thạch sùng đực, cái ném mạnh xuống đất. Khi đuôi của hai con thạch sùng bị đứt, chúng nhảy nhót trên mặt đất, rồi hai chiếc đuôi ngày càng gần lại với nhau, dựa sát vảo nhau sau đó bám chặt lấy nhau thành hình “bánh quấn thừng: Thế nhưng dùng hai con thạch sùng cùng giống thì không thấy có hiệu ứng này. Một thử nghiệm khác nữa là bắt vài con thạch sùng có bốn chân, phân biệt đực – cái, chặt đuôi và lột da chúng ra, sau khi đốt cháy nghiền thành bột, đổ vào hai cây nến rỗng ruột, đặt trên bàn cách nhau 30 cm, châm lửa trên hai cây nến đó. Điều kỳ dị đã xuất hiện, hai ngọn lửa hấp dẫn nhau, dần dần dựa sát vào nhau, cuối cùng dính lại tạo thành một tuyến lửa nằm ngang như chiếc cầu vồng được đặt tên là “cầu lửa”.

Qua phát hiện đó có thể thấy được tuy âm dương là hai yếu tố tương phản nhau nhưng trong mọi vật hai yếu tố âm dương luôn dung hòa lẫn nhau, tương giao cùng nhau, bổ túc cho nhau, liên kết với nhau rất mật thiết. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh thành của muôn vật, tất cả sự biến hóa trong vũ trụ đều có thể giải thích bằng hiện tượng chuyển biến của âm dương. Âm trưởng thì dương sẽ tiêu, dương trưởng thì âm sẽ tiêu, âm tăng đến chỗ cực thịnh thì dương sẽ phát sinh và âm sẽ phải thóai dần, khi dương tăng đến chỗ cực thịnh thì âm sẽ phát sinh và dương sẽ thóai dần, đó là lẽ tuần hòan của âm dương trong trời đất như : Mùa đông âm khí nhiều khí hậu lạnh. Cuối đông âm khí thịnh, dương khí bắt đầu phát sinh. Qua xuân dương khí mới phát sinh còn non, khí hậu ấm áp dần dần. Đến mùa hạ dương khí tăng trưởng, khí hậu nóng. Cuối hạ dương khí cực thịnh khí hậu nóng bức và âm khí sẽ phát sinh. Qua mùa thu âm khí mới phát sinh còn non khí hậu mát, âm khí dần dần tăng trưởng lại bước qua đông.... cứ như thế mà tiếp diễn ; hoặc cũng như chuyển biến âm dương trong ngày đêm : từ nửa đêm – sáng sớm – giữa trưa – buổi chiều – lại nửa đêm. Sự âm tiêu dương trưởng và dương tiêu âm trưởng tiếp diễn nhau rất cần thiết để điều hòa sự tuần hòan của trời đất, nếu dương cực thịnh mãi mà âm khí không phát sinh hoặc ngược lại thì trời đất bất hòa và sự sinh hóa của của muôn vật sẽ rối lọan như : chỉ có đêm mà không có ngày hay ngược lại, thời tiết nóng mãi hoặc lạnh mãi đều bất lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật. Mặt khác, trong sự chuyển hóa để tương giao với nhau, dương khí có khuynh hướng thăng cao lên tức ly tâm, âm khí có khuynh hướng giáng xuống thức hướng tâm. Đó là dương thăng, âm giáng.

Ví dụ: không khí nóng có khuynh hướng bay lên cao, không khí lạnh có khuynh hướng hạ xuống thấp. Sự kiện không khí vùng lạnh thay thế vùng nóng sẽ sinh ra gió.
Sự vận động của âm dương sẽ sinh ra 4 khí gọi là tứ tượng : Thái âm – Thiếu dương – Thái dương – Thiếu âm

Hình Tứ Tượng

Từ bốn khí này giao hòa thăng giáng với nhau, tạo ra sự đối kháng, chuyển dịch. Đây chính là động lực phát triển cũa sự vật, hiện tượng, con người. Động lực ấy thể hiện ra 8 dạng thức trong không gian, đó là bát quái. Bát quái với 5 thuộc tính ngũ hành đã tạo ra vũ trụ, vạn vật, trong đó có con người với hành vi của họ.
Bát quái với tính chất gắn liền với bầu trời xin được tạm gọi là “Thiên Bát Quái”
Bát quái có tính chất gắn liền với trái đất xin được tạm gọi là “ Địa Bát Quái”

b- Ngũ hành:
Ngũ hành được cho là 5 dạng vật chất gồm :
- Hành Thủy tượng trưng cho nước
- Hành Mộc tượng trưng cho cây cối
- Hành Hỏa tượng trưng cho lửa
- Hành Thổ tượng trưng cho đất
- Hành kim tượng trưng cho kim lọai.

Căn cứ vào tính chất các hành trên có sự sinh, khắc với nhau
Ngũ hành tương sinh :
Thủy sinh Mộc
- Mộc sinh Hỏa
- Hỏa sinh Thổ
- Thổ sinh Kim
- Kim sinh Thủy
Ngũ hành tương khắc :
- Thủy khắc Hỏa
- Hỏa khắc Kim
- Kim khắc Mộc
- Mộc khắc Thổ
- Thổ khắc Thủy
Năm hành trên được xếp thành các phương vị trên Hà Đồ, Lạc Thư.

c/ Thuyết Thiên Địa Nhân:

Thuyết Thiên Địa nhân nói lên sự chi phối của trời đất đối với con người.
- Thiên: Thiên can là tọa độ không gian được thể hiện ở 10 vị trí: Giáp , Ất , Bính , Đinh , Mậu , Kỷ , Canh , Tân , Nhâm , Quí. Thiên là khỏang không gian bao la, trong Thiên có ba yếu tố hợp thành là Nhật ( mặt trời) ; Nguyệt ( mặt trăng) ; Tinh ( các vì tinh tú). Vạn vật con người chuyển dịch trong không gian theo 10 thiên can, được Nhật, Nguyệt, Tinh chiếu vào tác động ảnh hưởng suốt cả cuộc đời, do vậy yếu tố năm, tháng, ngày, giờ sinh được người xưa cho là có thể quyết định được vận mệnh của từng người.
- Địa: Địa chi là tọa độ thời gian được thể hiện ở 12 vị trí thời gian trong năm , tháng, ngày, giờ gồm : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Địa được cấu thành bởi 3 yếu tố thủy , hỏa , phong. Từ yếu tố địa , người xưa hình thành nên môn địa lý phong thủy dùng để xem xét sự vận động hài hòa của thủy hỏa phong, nếu mất cân bằng trong vận động của ba yếu tố này ở một địa điểm mà một người đang sinh sống thì người đó sẽ gặp trở ngại và tai họa.
Tóm lại, nói Thiên Địa Nhân là nói con người luôn luôn bị chi phối bởi Thiên và Địa, ba yếu tố này tương tác lẫn nhau, con người muốn tồn tại, sinh sống bình thường phải có sự cân bằng giữa bản thân với thiên địa. Không gian Dịch là không gian Thiên Địa Nhân, là thế giới của âm dương giao hòa, chuyển hóa cho nhau, thế giới giữa hai mặt đối lập tồn tại và bổ xung cho nhau nên khi nắm bắt được chuyển động đó người xưa đã lập ra mô hình trạng thái không gian gọi là âm, dương ( lưỡng nghi). Âm, dương vận động sinh ra bốn khí gọi là tứ tượng, lại tiếp tục vận động thành ra bát quái

2/ Hà đồ – Lạc thư:

Hà đồ – Lạc thư đã được người Trung hoa xem như nguồn gốc của bát quái có nghĩa là sự hình thành của bát quái phải được gợi ý của Hà đồ – Lạc thư, thánh nhân mới dựa vào đó mà phỏng theo. Hình dạng của Hà đồ – Lạc thư ra sao không ai biết được , chỉ nghe nói đến từ cháu của Không Tử là Khổng An Quốc nhưng mãi đến đời Tống hai đồ hình đó mới thấy phổ biến.
Căn cứ vào “ Dịch học Tượng số luận” của Hòang Tông Nghi thì Trần Đòan đã truyền cho Chủng Phóng, Chủng Phóng truyền cho Lý Khái, Lý Khái truyền cho Hứa Kiên, Hứa Kiên truyền cho Phạm Ngọc Xương, Ngọc Xương truyền cho lưu Mục. Lưu Mục căn cứ vào Hà đồ-Lạc Thư trước tác ra “ Dịch số câu ẩn đồ”, bức đồ của ông mới được đông đảo người biết đến. Cho đến nay người ta cũng chưa hiểu được, vào đời Tống, vị đạo sĩ ở Hoa Sơn là Trần Đòan đã lấy ở đâu ra được những hình Hà đồ-Lạc Thư ấy.
Sau khi Hà đồ-Lạc Thư ra đời, một bộ phận trong học phái này chia rẽ. Một số người không tin vào những thứ này, nhà Đại văn học Âu Dương Tu cho rằng : “đầu độc sai lầm vào những người học giả, gây tác hại đâu có nhỏ”. Cuộc tranh luận này kéo dài tới cuối đời Thanh, Dân quốc, thậm chí đến sau ngày giải phóng.

a - Hà đồ: Theo ghi chép của người Trung Hoa, Hà đồ là vật mà Hòang Đế được trời ban cho từ sông Hòang Hà, trên lưng con long mã, đồ hình có 5 cặp số được sắp xếp như sau: 1 với 6 ở dưới là số sinh thành của thủy ở phía Bắc
2 với 7 ở trên là số sinh thành của hỏa ở phía Nam.
3 với 8 ở bên trái là số sinh thành của mộc ở phương Đông
4 với 9 ở bên phải là số sinh thành của kim ở phương Tây
5 với 10 là số sinh thành của thổ ở trung ương.
Hà đồ là bức đồ đầu tiên của kinh dịch, sự vận hành của nó theo chiều hướng sinh của ngũ hành. Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông.

Hình Hà Đồ

b - Lạc thư: Theo truyền thuyết Lạc thư do thần qui mang trên lưng nên có tượng con rùa đầu đội 9, đuôi mang 1, bên trái mai mang 3, bên phải mai mang 7, vai bên trái mang 4, vai bên phải mang 2, chân trái mang 8, chân phải mang 6, giữa lưng mang 5.

Hình Lạc Thư

Theo các nhà nghiên cứu thì Lạc thư là một dạng Cửu tinh Đồ, là Cửu trù Hồng Phạm, nếu đọc theo chiều nghịch kim đồng hồ là biểu đồ phương vị ngũ hành được vận hành theo hướng khắc.
Do vậy, theo thiển nghĩ, bát quái phải được dựa vào Hà đồ để thiết lập vì ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới được sinh hóa, nói lên sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo dịch.
Thử vẽ Bát quái:

1/ Thiên Bát quái: ( biểu đồ tiết khí)

Bốn mùa

Từ 4 mùa âm dương lại biến đổi thành 8 tiết khí dựa trên cơ sở 2 cụm tứ tượng, bắt đầu từ điểm cực âm. Theo lẽ tự nhiên, cực âm sẽ sinh dương, cụm tứ tượng bên trái sẽ được sinh dương, khi dương thịnh đến điểm cực dương cụm tứ tượng bên phải sẽ được sinh âm, từ đó có được hệ thống bát quái gắn liền với trời như thời tiết, gió mưa, là biểu đồ bát tiết.

Xem xét biểu đồ trên, có thể thấy các tiết khí chuyển biến theo hướng sinh, bắt đầu từ điểm cực âm theo chiều thuận kim đồng hồ: Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông. Hướng sinh trên thuận theo lẽ tự nhiên thành ra tám tiết khí:



- Khôn : cực âm ( ) tiết đông chí - dương thủy- vị trí số 1
- Chấn : bắt đầu sinh dương ( ) tiết lập xuân - âm mộc- vi trí số 8
- Ly : âm tiêu dương trưởng ( ) tiết xuân phân - dương mộc - vị trí số 3
- Đòai : dương thịnh ( ) tiết lập hạ - âm hỏa - vị trí số 2
- Kiền : cực dương ( ) tiết hạ chí - dương hỏa - vị trí số 7
- Tốn : bắt đầu sinh âm ( ) tiết lập thu - âm kim - vị trí số 4
- Khảm : dương tiêu âm trưởng ( ) tiết thu phân-dương kim-vị trí số 9
- Cấn : âm thịnh ( ) tiết lập đông - âm thủy - vị trí số 6

Thứ tự của bát quái trên thuận theo hướng sinh là : Khôn, Chấn, Ly , Đòai , Kiền , Tốn , Khảm , Cấn, được hiểu như một hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trời như: thời tiết, khí tượng , gió mưa.... Hệ thống này được Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Bát Quái. Tuy vậy , người Trung hoa không dùng Tiên thiên bát quái để giải thích thời tiết mà dùng để giải thích về địa lý, phương hướng như sau:

- Khôn : là đất nên ở phương Bắc, vì phương bắc giá lạnh nên thuộc thủy
- Chấn : ở Đông bắc vì gió từ Tây nam thổi qua đông bắc gây tiếng động, hoặc sáng (ly) tối (khảm) cọ sát nhau sinh ra sấm.
- Ly : là mặt trời nên ở phương đông,vì mặt trời mọc ở phương đông
- Đòai : ở Đông nam vì phía Đông nam Trung hoa nhiều đầm hồ
- Kiền : là trời nên ở phương nam, phương nam nóng thuộc hỏa
- Tốn : ở Tây nam là nơi nóng (nam) và lạnh (tây) xô xát sinh ra gió
- Khảm : là mặt trăng nên ở phương Tây, vì mặt trăng hiện ra ở phương tây
- Cấn : ở Tây bắc vì tây bắc Trung hoa có nhiều đồi núi.

2/ Địa bát quái: (biểu đồ địa lý phương hướng)

Về Địa bát quái, hiện nay chưa rõ được kết cấu như thế nào nhưng cũng xin đề xuất đồ hình để tham khảo.

Ví dụ: Địa Bát Quái


Hậu Thiên bát quái

Địa Bát quái, được hiểu như hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trái đất như : địa lý, phương hướng , được sắp xếp một cách hợp lý như sau :
- Cấn , hành thổ mượn vị trí số 1, có ba hào : âm+âm+dương= dương thổ
- Chấn ở vị trí số 8 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm= dương mộc
- Tốn ở vị trí số 3 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm = âm mộc
- Ly ở vị trí số 2 thuộc hỏa, có ba hào : dương+âm=dương = âm hỏa
- Khôn hành thổ mượn vị trí số 7, có ba hào : âm+âm+âm = âm thổ
- Đòai ở vị trí số 4 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+âm = âm kim
- Kiền ở vị trí số 9 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+dương = dương kim
- Khảm ở vị trí số 6 thuộc thủy, có ba hào : dương+âm+dương = dương thủy

So sánh với Hậu thiên bát quái của Văn Vương:
- Cấn mượn vị trí số 8 thuôc thổ
- Chấn ở vị trí số 3 thuộc mộc
- Tốn ở vị trí số 2 thuộc hỏa
- Ly ở vị trí số 7 thuộc hỏa
- Khôn mượn vị trí số 4 thuộc thổ
- Đòai ở vị trí số 9 thuộc kim
- Kiền ở vị trí số 6 thuộc thủy
- Khảm ở vị trí số 1 thuộc thủy

Xét theo bát quái phong thủy thì Tốn phải thuộc mộc và Kiền phải thuộc kim, như vậy Hậu thiên bát quái xem ra có vấn đề. Hệ thống này chỉ đúng khi đứng ngòai Hà đồ, tuy nhiên âm dương ngũ hành khi tách rời nhau sẽ không còn ý nghĩa, do vậy suy cho cùng vẫn là sai. Một điểm sai nữa là người Trung hoa không dùng hệ thống bát quái này để giải thích về địa lý mà gọi đó là Bát tiết bát quái :

- Cấn: Tiết lập xuân,
- Chấn: Tiết xuân phân
- Tốn: Tiết lập hạ
- Ly: tiết hạ chí
- Khôn: tiết lập thu.
- Đòai: tiết thu phân
- Kiền: tiết lập đông
- Khảm: tiết đông chí

Có lẽ để thuyết minh cho vấn đề sai lệch về các hành của hệ thống này, thuyết quái truyện viết: “ Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Thuyết ngôn hồ Đòai. Chiến hồ Càn. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn."

Thuyết quái truyện cũng có lời giải thích cho đọan văn khó hiểu trên: “Vạn vật xuất ở Chấn , Chấn thuộc phương đông. Gọn gàng ở Tốn, Tốn thuộc đông nam, gọn gàng là muốn nói muôn vật đều sạch sẽ. Ly là sáng, vạn vật cùng thấy nhau, là quẻ ở phương Nam, đấng thánh nhân quay về phương nam mà nghe thiên hạ, hướng vào nơi ánh sáng mà trị là tượng ở đấy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi dưỡng ở đó, cho nên nói là làm việc ở Khôn. Đòai là chính thu, vạn vật đều vui vẻ, nên nói vui vẻ là nói ở Đòai. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ ở tây bắc, đó là nói về âm dương xô xát vậy. Khảm là nước, là quẻ ở chính Bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều ở đó nên nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, nơi muôn vật thành ở lúc cuối và lúc đầu, nên nói thành là nói Cấn”.
Lời giải thích trên khi đọc xong lại càng thấy khó hiểu, nên xin được đề xuất lời giải thích khác như sau:

- Đế xuất hồ Chấn: là mặt trời mọc ở phương đông.
Vấn đề chính là đây. Theo tôi, vị trí mặt trời mọc là vị trí bước qua số 1 của Hà Đồ, là qua cực Bắc đã sinh dương, về thời khắc thì vào giờ Dậu nên Chấn phải ở vị trí số 8 thuộc mộc. Đối với người tạo ra Hậu thiên bát quái thì Chấn phải ở vị trí số 3 thuộc mộc là nơi mặt trời ló dạng, về thời khắc thì vào giờ Mẹo.
- Tề hồ Tốn : do mang Chấn đặt vào vị trí số 3 , là chỗ của Tốn, nên phải sắp xếp lại vị trí của Tốn.
- Tương kiến hồ Ly : Tốn bị bỏ ra phải vào vị trí số 2 thuộc hỏa, là vị trí của Ly, nên nói là gặp nhau ở cung Ly.
- Trí dịch hồ Khôn : dể Ly có chỗ phải suy tính dời Khôn đi.
- Thuyết (duyệt) ngôn hồ Đòai : Khôn được dời vào vị trí số 4 thì Đòai phải vào vị trí của Càn ở số 9 thuộc kim, đến Đòai thì thuyết phục được.
- Chiến hồ Càn : tranh cãi ở Càn. Khi Đòai vào vị trí của Càn thì Càn phải dời vào chỗ của Khảm số 6 thuộc thủy mà Càn thì thuộc kim.
- Lao hồ Khảm : mặc dù Càn thuộc kim nhưng vì muốn thực hiện việc chỉnh sửa trên nên phải ép Càn vào ở vị trí của Khảm nên nói là lao hồ Khảm
- Thành ngôn hồ Cấn : đến cung Cấn thì kết luận, đã quyết định xong.

Đọan văn khó hiểu trên có lẽ ghi lại sự tranh cãi giữa Hoa tộc và người đại diện cho Hoa Hạ là Cộng công. Cộng công được biết như là một chức quan trông coi về khoa học kỹ thuật ở thời ấy. Theo ghi chép của Trung Hoa, giữa cháu nội Hòang đế là Chuyên Húc và Cộng Công vào thời ấy đã có sự bất đồng ý kiến về khoa học kỹ thuật qua truyện kể về Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu như sau:

Cộng Công là người có công lao rất lớn trong phát triển nông nghiệp của Trung hoa được dân chúng tôn là Thủy sư tức thần nước. Con của ông là Hậu thổ cũng có năng lực trong nghề nông được dân chúng tôn là Xã thần tức thần đất, là các thần quản về thủy lợi. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình đất ở 9 châu họ đã thống nhất là phải sửa bằng đất đai, tuy nhiên ý đồ này không được Chuyên Húc đồng ý. Cộng công vì giận mà húc đầu vào núi Bát Chu.

Bát Chu là núi Côn Lôn, ngọn núi có những quái thạch nhọn hoắt, cao chạm tầng mây. Sau cú húc mạnh của Cộng Công, quả núi này lập tức gảy gập ngay, đất đá lở xuống ầm ầm, cây cối ngã nghiêng, trời đất mù mịt, tưởng như xảy ra động đất, bầu trời nghiêng ngã. Thì ra theo lời đồn đại, núi này chính là cây cột chống trời, cột trời sụp thì dây chằng đất đứt rời từng khúc, do đó phía Đông nam sụp xuống lấp bằng chỗ trũng khiến cho sông ngòi đều theo dòng chảy về phía đông rồi đổ vào biển đông. Bầu trời khi đó nghiêng về phía Tây Bắc cho nên các vì tinh tú , mặt trời, mặt trăng ngày ngày đều mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây....

Phân tích câu truyện trên có thể suy ra : núi ( Cấn) Bát Chu sụp xuống làm dây chằng đất (Khôn) đứt rời, có nghĩa trục Khôn-Cấn trở lại là trục thẳng ; phía Đông nam (Tốn) sụp xuống , bầu trời nghiêng về phía Tây Bắc (Càn), có nghĩa là trục Tốn Càn trở lại là trục ngang, các vị trí đó là Càn-Khôn-Cấn-Tốn trong tư nam thời Xuân thu chiến quốc. Cuối cùng là mặt trời lại mọc ở phương Đông là vị trí số 8 trên Hà đồ.

Nhưng tại sao Cộng Công lại phải húc đầu vào núi Bát Chu?

Bởi vì núi là tượng Cấn. Liên Sơn Dịch của Hoa hạ lấy quẻ đầu là Cấn. Nói là Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu có nghĩa là muốn sửa bái quái của tộc Chu cho đúng với vị trí ban đầu. Sự bất đồng này có lẽ cũng nghiêm trọng, vì sau đó những người tộc Hạ sống trên đất Tề thường lo sợ về chuyện bị “trời sập”.

Tư Mã Thiên cho rằng Hậu Thiên bát quái là sản phẩm của Văn Vương có lẽ do trong các quẻ bói mà người Việt đang dùng có một số quẻ đã đề cập đến những vấn đề liên quan đếnVăn Vương như:
Quẻ “Vị thủy phong hiền” còn gọi là Sơn Lôi di :
Khương Tử Nha là bậc đại hiền.
Ngồi câu cá chờ thời bên bờ sông Vị thủy.
Vua Văn Vương nghe tiếng đích thân đến tận nơi thỉnh ra giúp nước.
Rước về tôn làm thường phụ.
Quẻ “ Phượng minh Kỳ sơn”- Thiên trạch lý :
Phượng hòang bất thần xuất hiện ở núi Kỳ sơn cất tiếng gáy.
Báo hiệu điềm lành.
Vua Văn Vương ra đời.
Tạo dựng một thời đại thái bình thạnh trị.

Quẻ “Trảm tướng phong thần” - Thủy trạch tiết :
Đời nhà Thương có vua trụ bạo ngược.
Khương Tử Nha vì đại nghĩa diệt được Trụ vương.
Muốn cho óan khí của quân thù tiêu tán để quốc thái dân an.
Nên đã lên “Vạn phong Sơn” cầu siêu, phong thần cho tướng sĩ tử trận.

Về nguồn gốc Kinh dịch, một số nhà nghiên cứu cho rằng Kinh dịch không thực sự là của Trung quốc. Ông Hondanariyouki nhận xét “ Ở Chu dịch, các từ thóan tượng đều lấy tên từ các lọai muông thú phương nam (chim hồng). Thêm vào đó, ở Chu dịch có “phi long”; “tiềm long” càng khiến cho người ta cảm thấy Chu dịch là trước tác của người nước Sở viết ra, và ra đời sau khi Trung quốc đã mở đường giao thông về phía nam Kinh Sở”.
Nói về các tộc người đã từng sinh sống trên đất Trung Hoa, Theo ##/img/www.uglychinese.org thì trên đất Trung Hoa thời xa xưa đã có họ Suiren (Tọai Nhân), sau đó họ You Chao (Hữu sào) đã thay thế họ Tọai nhân, tiếp nữa là họ Fuxi ( Phục Hy) và Nuwa (Nữ Oa) đã thay thế họ Hữu sào, sau cùng là họ Shennong (Thần nông) đã thay thế họ Phục Hy.
Theo truyền thuyết cũng như thuyết quái truyện của kinh dịch thì họ Tọai nhân đã phát minh ra “lửa” ; họ Phục Hy đã phát minh ra “cái lưới” và chữ viết dưới dạng “thắt nút kết thằng” (chữ Khoa Đẩu?) để ghi việc, đã biết trồng trọt chăn nuôi; họ Thần Nông phát minh ra “cái cày”, mở chợ lập làng, tìm ra cây thuốc. Đó chính là Tam Hòang. Ngòai ra không thấy đề cập đến Hữu Sào đã phát minh ra những gì.

Gần đây khảo cổ học đã khai quật được một dụng cụ làm ra lửa ở Chiết Giang có niên đại cách đây hơn 8000 năm, cho thấy rằng họ Tọai Nhân là người Hòa Bình ở di chỉ Hemudu ở bờ nam sông Trường Giang có lẽ đã di cư lên phía Bắc đến di chỉ Dawenkou ở Sơn Đông khỏang 4300 tr.cn khi vùng này bị ngập mặn do nước biển dâng. Họ Tọai Nhân đã bị họ Hữu Sào, tổ tiên của người Hàn Quốc đến thay thế vào khỏang 3898 tr.cn. Họ Hữu sào lại bị họ Fuxi, có lẽ là tổ tiên của tộc Khương cũng được gọi là Viêm Đế từ phía Tây đến thay thế. Khảo sát kỹ có thể thấy được ngòai họ Khương ra Tộc Khương còn có họ Phù, những cái tên có liên quan như Phù sai (Fu chai), Phù nam......v.v . Phục Hy và Nữ Oa được cho là hai anh em do đó có thể Tộc Khương sau khi đến Trung Hoa đã kết lại với nhóm tiền Đông Nam Á để phát triển nông nghiệp. Ở Việt Nam có câu ví: bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng.

Ở Trung Hoa vào thời Phục Hy, người xưa có lẽ đã hiểu được qui luật âm dương và sự vận động của nó, đã thuận theo những qui luật ấy để phát triển nông nghiệp. Trong kinh dịch cũng có đề cập đến Phục Hy đã trông trời, trông đất, trông vạn vật mà vẽ quái, thời diểm này có thể là họ Phục Hy không chỉ vẽ quái mà ít nhất đã biết đến tứ tượng tức là bốn mùa để theo đó mà trồng trọt. Khi Thần Nông đến thì Phục Hy bị thay thế vì họ Thần Nông đã phát minh ra cái cày và phương thức tát nước vào ruộng để cải tiến và phát triển nền nông nghiệp của Phục Hy và Nữ Oa. Họ Thần Nông đã từng vượt biển nên ắt phải có kiến thức về thiên văn khí tượng và địa lý phương hướng, ắt họ phải là chủ nhân của Hà đồ.
Với các chi tiết đã trình bày trên, tôi cho rằng học thuyết Âm dương ngũ hành và thuyết Thiên Địa Nhân có nhiều hy vọng là của người tiền Việt nam. Nó được ra đời không nhằm mục đích chiêm bói mà trước tiên để tiên đóan thời tiết và xác định phương hướng nhằm phục vụ cho nghề đi biển và nghề nông , các vì sao được quan tâm trước tiên là sao Bắc Cực và sao Bắc đẩu.

“Bói diệc” là lọai sách bói được phổ biến trong dân gian tương tự như nông lịch đã được giải thích sẵn, ai xem cũng hiểu. Kinh dịch của người Trung quốc, được dựa vào quẻ bói diệc, được kết hợp với những ghi chép của các ẩn sĩ ở Giang nam thời ấy để sọan thảo ra dưới hình thức một lọai sách triết , trong bộ kinh dịch này yếu tố tương quan giữa con người với trời đất không được thể hiện đầy đủ như trong các sách bói cổ truyền người Việt thường sử dụng.

Một điều rõ ràng là việc sáng tạo ra học thuyết Âm dương Ngũ hành, Thiên Địa Nhân không phải từ trí tuệ của một người mà là trí tuệ của nhiều người được tích lũy từ thời đại này sang thời đại khác do đó trong những ghi chép của người xưa cũng không thấy khẳng định ai là chủ nhân của học thuyết này. Việc cho rằng 64 quẻ dịch là do Văn Vương sáng tạo ra và Khổng Tử biên sọan thực chất là một sự gán ghép có lựa chọn. Khổng Tử là một người đã từng nghiên cứu kinh dịch, những tài liệu ấy Khổng tử lấy từ đâu ra thì không nghe nói đến, chỉ biết rằng trước kia Khổng Tử chưa thực sự nghiên cứu bói dịch cho đến khi ông bói được quẻ “Lữ” và mời một người họ Thương Cù trong dân gian để giải quẻ cho ông. Thương Cù thị nói: “Tiểu hanh, cố bào thánh trí, nan đắc thánh vị” ý nghĩa là ôm ấp có hùng tâm xây dựng sửa sang đất nước nhưng không giành được quyền vị. Tức thì Khổng Tử rớt nước mắt, ngộ cảm thấy rằng đường đạo của mình khó được thi hành, từ đó mới bắt đầu nghiên cứu dịch. Tuy nhiên việc bắt đầu nghiên cứu dịch và việc hòan thành bộ Kinh dịch là hai việc hòan tòan khác nhau. Theo tôi, những phát minh ở đất Trung hoa đều đã có từ xa xưa nhưng việc người thời sau tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh trước chỉ ở chừng mực nào đó. Ví dụ như lịch pháp nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng mở đầu cho một năm, khi nhà Ân Thương lên thay, lấy tháng Sửu làm tháng mở đầu cho một năm, đời Chu lấy tháng Tý làm tháng đầu năm, nhà Tần lấy tháng Hợi làm tháng đầu năm. Đến thời Hán các biến cố như nhật thực , nguyệt thực, hạn hán lũ lụt đều xảy ra khác với thời điểm được ghi trong lịch. Đúng vào lúc Tư mã Thiên đến Giang nam tìm sử liệu được một cụ già ở đất Thương ngô tặng cho bộ sách trúc giản vớt được trên sông Tương. Đó chính là bộ “nhật thư” bí truyền của người Hạ . Hán vũ đế đã theo lời tấu của Tư mã Thiên, truyền chiêu mộ ẩn sĩ ở miền Giang nam để điều chỉnh lịch theo phương pháp của nhà Hạ, sau khi hoàn thành đặt tên là lịch Thái sơ.

Để giải thích, Chu Hy viết: “Về cách tính thời gian nên theo nhà Hạ, nghĩa là nên lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu cho bốn mùa. Hàng năm lấy thời kỳ vạn vật sinh sôi nảy nở phồn thịnh làm kỳ mở đầu cho bốn mùa. Cách tính của nhà Hạ giản tiện hơn cả vì thế nên theo… trời mở đầu cung Tý, đất mở đầu cung Sửu, người mở đầu cung Dần. Tam đại lần lượt thay đổi mà noi theo. Nhà Hạ coi cung Dần là nhân chính phù hợp với người nên lấy kiến dần chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Ân coi cung Sửu là Địa chính phù hợp với đất nên lấy kiến Sửu chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Chu coi cung Tý là Thiên chính phù hợp với trời nên lấy kiến Tý chi nguyệt làm chính nguyệt. Tính tháng năm dịnh bốn mùa cốt để cho dân tiện làm ăn sinh sống, tiện hoàn thành mọi việc. Vì vậy khi tính năm tháng, định bốn mùa nên lấy sự phù hợp với người làm đầu mối. Chính vì vậy mà nhà Hạ lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu của một năm”

Ngoài ra không thấy Chu Hy giải thích vì sao nhà Tần lại lấy kiến Hợi chi nguyệt làm chính nguyệt.
Như vậy đã thấy rằng việc tiếp thu tinh hoa của tộc Hạ chỉ bắt đầu vào thời Hán.Thời điểm ấy tinh hoa của Trung hoa phát ra ào ạt nhờ vào chủ trương chiêu hiền đãi sĩ của Hán Cao tổ. Vào thời này, những nhân tài Việt trên đất Hoa ban đầu sống như những ẩn sĩ. Sĩ là một từ để chỉ tầng lớp tri thức ở Trung quốc. Ẩn sĩ là những người có tri thức, hoàn toàn vượt ra ngoài vòng chính trị, có thái độ bất hợp tác và phản kháng chính quyền đương thời, họ là những nhân sĩ tinh anh sáng tạo văn hóa, giáo hóa quần chúng. Thấy được tác dụng tiềm ẩn trong lớp nhân sĩ, Hán Cao tổ Lưu Bang khi lên ngôi được 11 năm đã có chiếu viết :
“Các bậc đế vương nổi tiếng chưa ai cao hơn Văn vương, những bậc bá chủ chưa ai cao hơn Tề Hoàn đều chiêu hiền đãi sĩ mà thành danh. Kẻ hiền gỉả, bậc trí nhân trong thiên hạ ngày nay có ai được như người xưa… nay ta lấy sự linh thiêng cùa trời đất, cùng với hiền sĩ đại phu trở thành người một nhà, định đọat thiên hạ. Muốn tông miếu tổ tiên trường tồn mà không bị diệt vong, hiền nhân đã cùng ta sao ta có thể hưởng lợi một mình. Hiền sĩ đại phu có khả năng làm việc cùng ta, ta có thể tôn hiển họ”.

Như vậy đã có một số người Việt vì muốn cho tông miếu tổ tiên được trường tồn, không bị diệt vong đã ở lại trên đất của ông cha mình nay gọi là nước Trung quốc. Một điểm đặc biệt là trong nhóm dân tộc thiểu số ở Trung hoa không có tên dân tộc Việt. Nếu ai đó hỏi rằng :
- Vậy thì dân tộc Việt đã biến đi đâu ?
- Họ không biến đi đâu cả, họ đã trở thành người Hán.
- Họ đã trở thành người Hán, như vậy có phải tinh hoa của dân tộc họ cũng đã trở thành tinh hoa của Trung quốc?
- Đúng vậy!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chu dịch và Kinh dịch

Xếp hạng độ lơ đễnh của 12 chòm sao

Xếp hạng tính cách của 12 chòm sao, xem ai là người lơ đãng, cẩu thả nhất nào!
Xếp hạng độ lơ đễnh của 12 chòm sao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xếp hạng tính cách của 12 chòm sao, xem ai là người lơ đãng, cẩu thả nhất nào!


Xep hang do lo denh cua 12 chom sao hinh anh 2
 
Hạng 1: Nhân Mã   Trời sinh bản tính của Nhân Mã là vô tâm, vô tư, làm gì cũng ngó đông ngó tây, ra ngoài nhất định phải quên thứ gì mới được.   Hạng 2: Song Tử   Vì hay làm nhiều việc một lúc nên đôi khi Song Tử không tránh khỏi việc đi ngang về tắt, nhầm cái này, lẫn cái kia.   Hạng 3: Song Ngư   Nổi danh mơ hồ mờ mịt, Song Ngư thường tự mình quên béng mất những chuyện quan trọng.   Hạng 4: Bạch Dương   Theo tính cách của 12 chòm sao, Bạch Dương là người mà làm việc thường không quá nghĩ ngợi, nhất thời xúc động, nông nổi bồng bột nên lơ đễnh là đương nhiên.   Tiết lộ câu chuyện khởi nguồn thú vị của 12 con giáp
Cùng với sự tiến triển của lịch sử quan niệm tín ngưỡng dân gian dần dung hòa với khái niệm tương sinh tương khắc trong 12 con giáp. Mỗi chi

Hạng 5: Cự Giải
  Bình thường thì Cự Giải khá cẩn trọng, nhưng mỗi khi gặp chuyện là cua lại phản ứng đặc biệt khác thường, cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn.   Hạng 6: Thiên Bình   Đôi lúc chòm sao Thiên Bình cũng có điểm lơ đãng, để xảy ra một số lỗi lầm nho nhỏ.   Hạng 7: Thủy Bình   Nếu đang nói chuyện mà thấy Thủy Bình nói sai, nói vu vơ thì đích thị là trong đầu họ đang nghĩ tới chuyện khác.   Hạng 8: Kim Ngưu   Nguyên nhân khiến Kim Ngưu làm việc không đến nơi đến chốn chỉ có thể là do động tác quá chậm chạp.   Hạng 9: Sư Tử   Lúc Sư Tử không cẩn thận chỉ có là đang được khen, đắc ý quá mà quên hết cả.  
Xep hang do lo denh cua 12 chom sao hinh anh 2
 
Hạng 10: Ma Kết
  Mọi sự đều nằm trong tầm kiểm soát, đã được lên kế hoạch tỉ mỉ từ trước, không xảy ra sai sót quá lớn.   Hạng 11: Xử Nữ   Chòm sao cẩn thận nổi danh như Xử Nữ thì hiếm có khi nào bắt được lỗi.   Hạng 12: Bọ Cạp   Không bao giờ cho phép bản thân gặp sai lầm nên chòm sao Bọ Cạp cực kì kĩ lưỡng trong từng đường đi nước bước, xứng danh “thiên hạ đệ nhất cẩn trọng”.   Trình Trình
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xếp hạng độ lơ đễnh của 12 chòm sao

Đặc tính của sao Thái Dương

Thái Dương vốn là mặt trời, đóng ở các cung ban ngày (từ Dần đến Ngọ) thì rất hợp vị, có môi trường để phát huy ánh sáng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính của sao Thái Dương

Đặc tính của sao Thái Dương

Tìm hiểu về đặc tính của sao Thái Dương trong tử vi đẩu số

Tên sao Đẩu phận Âm dương ngũ hành Hóa Chủ Tứ hóa
Thái dương Trung thiên đẩu Dương hỏa Qúy Quan lộc Giáp: kị, Canh: Lộc, Tân: Quyền

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thái Dương thuộc âm hỏa, là chính tinh và cát tinh của trung thiên Đẩu, hóa khí là quyền quý, chủ chính của cung quan lộc.

Sao Thái Dương chủ về mắt, cá tính, về xử sự, chủ về hoạt động giao tế, có tính công bằng, bác ái, ngay thẳng.

Sao thái Dương thuộc dương hỏa, là tinh hoa của mặt trời, là chuẩn mực của tạo hóa, trong số chủ về cao quý, sau đó là giàu có, văn võ song toàn (nếu gặp sao Thiên Hình sẽ hiển quý về nghiệp võ), ưa gặp sao Tả Phù và Hữu Bật để được trợ giúp, gặp Lộc Tồn là có tước lộc cao, gặp Thái Âm sẽ tương sinh, gặp các cát tinh sẽ được may mắn cát tường, gặp sát tinh sẽ vất vả phí sức. Nếu đóng tại cung Thân, cung Mệnh, lại miếu vượng, là sao tốt trong mệnh số, là then chốt của quan lộc, đứng sau Hóa Lộc, Hóa Quyền, tốt nhất là cung quan lộc.

Vầng Thái Dương mỗi ngày mọc ở Đông và lặn ở Tây, nên trong mệnh bàn, sao Thái Dương cũng sẽ biến đổi trong từng cung vị thứ tự như sau: tại cung Dần và cung Mão là mới mọc (sơ thăng); tại cung Thìn và cung Tỵ là lên điện (thăng điện); tại cung Ngọ là mặt trời giữa trời (Nhật lệ trung thiên), chủ về đại phú, đại quý; tại cung Mùi và cung Thân là nghiêng bóng (thiên viên), làm việc siêng năng, sau lười biếng; tại cung Dậu là lặn về Tây (tây một), quý mà không hiển, đẹp mà rỗng tuếch; tại cung Tuất, Hợi, Tí, Sửu là mất sáng (thất uy), nếu gặp Cự Môn, Phá Quân, chủ về một đời bần hàn và vất vả, tính cách khó gần gũi, dễ gặp chuyện thị phi.

Sao Thái Dương chủ về quan lộc, vì vậy nên ở cung quan lộc, đặc biệt là khi xuất hiện một mình tại cung Ngọ, là thế "Nhật lệ trung thiên" (mặt trời giữa trời), khí thế mạnh mẽ, sự nghiệp lẫy lừng, ắt là bậc lãnh đạo, thành tựu nhất định phi phàm.

Sao Thái Dương ưa đồng cung, hoặc hội chiếu với lục cát tinh, đặc biệt ưa gặp các sao Tam Thai và Bát Tọa giúp tăng thêm hào quang của Thái Dương. Cũng rất ưa đồng cung với các sao Ân Quang, Thiên Qúy, phần nhiều chủ nhận được ân huệ đặc biệt, vinh hiển. Nếu sao Thái Dương ở cùng một cung với đế tinh, Tả Phù và Hữu Bật, tuy hảm nhưng vẫn được cho là quý.

Sao Thái Dương nếu miếu địa, vượng địa mà gặp sát tinh xâm phạm, chỉ gây ảnh hưởng tới người thân là nam giới, còn về biểu hiện của bản thân thì chỉ tăng thêm vất vả chứ không bị giảm quý. Ánh sáng của sao Thái Dương cũng không sợ Thiên La và Địa Võng hạn chế độ sáng, nhưng cũng khó tránh vất vả. Sao Thái Dương tuy không sợ lục cát tinh, nhưng trừ trường hợp ở cung Mão ra, đều không thích sao Hóa Kị, đặc biệt khi ở cung vị lạc hãm sẽ rất bất lợi về mắt.

Sao Thái Dương không ngừng vận chuyển, gặp Tả Phù và Hữu Bật sẽ phò trợ cho quân chủ, gặp Lộc Tồn sẽ trợ phúc, ở các cung nhập miếu thì cát; lạc hãm mà gặp hung tinh thì vất vả. Nếu đóng tại cung Thân và cung Mệnh, chủ về tính tình trung hậu, rộng lượng không chấp nhặt. Nếu miếu, vượng địa gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền thì tăng thêm hiển quý. Nếu nhận được các sao tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt tam hợp chiếu hai cung tài bạch và quan lộc thì chủ về phú quý tột đỉnh, thêm tứ sát cũng chủ về no ăn, ấm mặc, Phụ nữ thì chủ về vượng phu ích tử, càng đucợ nhiều phong tặng.

Sao Thái Dương có tính động nếu đóng tại cung mệnh thì không đời không mấy được thanh nhàn, hơn nữa vì sao Thái Dương chủ sự sang quý chứ không chủ về giàu có, nên hiển quý mà thanh cao, dù gặp được sao Lộc Tồn nhưng cũng phải vất vả mới kiếm được tiền bạc.

Nếu sao Thái Dương, Thái Âm giáp (kèm hai bên) Thiên Phủ hoặc Vũ Khúc, Tham Lang ở cung mệnh tại Sửu, Mùi, là cách cục "Nhật Nguyệt giáp mệnh", chủ về một đời giàu có (nếu giáp Vũ Khúc, Tham Lang thì phát muộn). Sao Thái Dương nằm ở cung mệnh tại cung Ngọ, là cách cục "Kim sán quang huy" (hào quang vàng chói lọi; hay còn gọi là cách cục "Nhật lệ trung thiên" mặt trời giữa trời), tài năng xuất chúng, thành tựu phi thường. Nếu sao Thái Dương và Sao Thiên Lương ở cung mệnh tại Mão, tam hợp hội chiếu với sao Thái Âm tại cung hợi, nếu sinh vào ban ngày sẽ là cách cục "Nhật chiếu lôi môn"(mặt trời rọi cửa sấm, hay còn gọi là cách cục "Nhật xuất phù tang" mặt trời mọc ở phương đông), có tài lãnh đọa lỗi lạc. Nếu cung mệnh đóng tại cung Mùi, sao Thái Dương tại Mão, sao Thái Âm tại Hợi, sao Thiên Đồng và sao Cự Môn ở cung Sửu hội chiếu, là cách cục "Minh châu xuất hải" (Ngọc châu ra khỏi biển), vững bước đường mây. Nếu cung mệnh đóng tại cung Sửu hoặc cung Mùi, sao Thái Dương, Thái Âm miếu địa, vượng địa ở cung tam hợp chiếu; hoặc Thái Dương ở cung Thìn, Tị, Thái Âm ở cung Tuất, Dậu, là cách cục "Nhật Nguyệt tịnh minh" (mặt trăng và mặt trời cùng sáng, hay còn gọi là cách cục "Đan trì quế trì" bậc son thềm quế), đường công danh sớm rộng mở. Nếu cung mệnh đóng tại Sửu, Mùi, mà Thái Dương và Thái Âm cùng đến hoặc đối cung chiếu về, cách cục "Nhật Nguyệt đồng lâm" sẽ làm quan lớn. Nếu Thái Dương, Thái Âm đều ở cung điền trạch, hoặc ở cung tam hợp hội chiếu cung điền trạch, là cách cục "Nhật Nguyệt chiếu bích" (mặt trăng và mặt trời chiếu vách), sẽ có rất nhiều đất đai. Nếu Thái Dương đồng cung với Cự Môn tại cung Dần, Thân là cách cục "Cự Nhật đồng cung", chủ về khổ trước sau thành tựu. Nếu các sao Thái Dương, Thiên Lương, Văn Xương, Lộc Tồn hội tụ tại các cung mệnh, quan, tài, thiên tam vương tứ chính, là cách cục "Dương, Lương, Xương, Lộc", chức tước tiền tài đều đẹp. Nếu sao Thái Dương miếu địa cùng với Văn Xương ở cung quan lộc, là cách cục "Hoàn điện thủ ban" (quan đứng đầu ở điện rồng), phú quý toàn mỹ. Nếu sao Thái Âm tại cung Thìn, Mão mà sao Thái Dương tại cung Tuất, Hợi, lạc hãm thủ mệnh, là cách cục "Nhật Nguyệt phản bối" (mặt trời và mặt trăng trở mặt), là mệnh vất vả lao nhọc, ít duyên với cha mẹ. Nếu sao Thái Dương, Thái Âm lạc hãm tại cung tật ách, là cách cục "Nhật Nguyệt tật ách", chủ về thân thể có khuyết tật.

Ca Quyết:

Thái Dương nguyên thuộc hỏa; Chính phủ Quan Lộc tinh 

Nhược cư thân mệnh vị; Bẩm tính tối thông minh

Từ ái lượng khoan đại; Phúc thọ hưởng hà linh 

Nhược dữ Thái âm hội; Sâu phát qui vô luận 

Hữu huy chiếu Thân mệnh; Bình bộ nhập kim môn 

Cự Môn bất tương phạm; Thăng điện thừa quân ân

Thiên viên phùng ám độ; Bần tiện bất khả ngôn

Nam nhân tắc khắc phụ; Nữ mệnh phu bất toàn

Hỏa Linh phùng nhược định; Dương Đà nhãn mục hôn 

Nhị hạn nhược trí thử; Tất định mại điền viên.

Nghĩa là:

Sao Thái Dương thuộc hành hỏa, là Quan Lộc tinh, ở cung Thân Mệnh bẩm tính thông minh, từ ái và khoan hậu đại phúc, đại thọ. Nếu có thêm Thái Âm hội tụ phát quí vô cùng. Ánh sáng Thái Dương chiếu vào Thân mệnh dễ đi đến cửa vàng cung điện. Gặp Cự Môn nơi hãm địa lại bần tiện vô tả, nữ mệnh chồng không vẹn toàn. Tứ Sát, Dương Đà, Hỏa Linh vây hãm thì bị đau mắt, hạn Thái Dương có Tứ Sát xung phá bán hết gia nghiệp. 

Những câu phú về sao Thái Dương ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư gồm có: 

Thái dương miếu địa Ngọ, Mão vượng địa Dần, Thìn, Tị hãm Tuất, Hợi, Tý. 

Nhật chiếu lôi môn, Tý Thìn, Mão địa trú nhân sinh, phú quí thanh dương. (Thái dương đứng trong cung Tý, Thìn, Mão, Dậu là mặt trời chiếu cửa sấm, người sinh ban ngày phú quí nổi danh). 

Thái Dương cư Ngọ, Canh Tân Đinh Kỷ nhân phú quí song toàn. (Thái Dương ở Ngọ cung, người tuổi Canh Tân Đinh Kỷ, phú quí song toàn). 

Thái Dương, Văn Xương tại Quan Lộc, hoàng điện triều ban. (Sao Thái Dương gặp Văn Xương tại cung Quan Lộc làm quan trong triều đình. Văn Khúc cũng vậy). 

Thái Dương, Hoá Kỵ thị phi nhật hữu mục hoàn thương. (Gặp Hoá Kỵ, mắt hư đau bất ngờ). 

Nhật lạc Mùi, Thân tại mệnh vị vi nhãn tiền cần hậu lãn. (Mệnh đóng cung Thân, Mùi có sao Thái Dương con người chóng chán, trước chăm chỉ sau lười biếng). 

Nữ mệnh đoan chính Thái Dương tinh, tảo phối hiền phu tín khả bằng. (Số đàn bà, Thái Dương thủ mệnh đắc định là người đoan chính, sớm lấy chồng hiền).

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính của sao Thái Dương

Mặt sưng vù, chảy dịch vì thẩm mỹ cho đúng phong thủy

Không ít bệnh nhân bị tai biến khi tiến hành thẩm mỹ, đặc biệt là thẩm mỹ theo phong thuỷ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Thẩm mỹ để đổi đời

Xu thế phẫu thuật thẩm mỹ ngày càng nở rộ, không chỉ ở các thành phố lớn mà các tỉnh lẻ khác cũng bắt đầu có nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ. Đặc biệt là việc thẩm mỹ cho hợp phong thủy. Thẩm mỹ hợp phong thủy không chỉ xảy ra ở nữ giới mà ngay cả nam giới cũng rất thích thú.

Gương mặt bị coi là không hợp với tướng số chủ nhân, chị Vũ Thùy Linh trú tại Hải Phòng kiên quyết thẩm mỹ bởi vì từ khi ra trường đã 3 năm cô không thể tìm được công việc ưng ý. Lý do cô tin là do khuôn mặt không tương xứng với tướng số của mình. Mắt của Linh hai bên không cân, một bên mí lót, một bên hai mí. Còn mũi lại tẹt, nên Linh coi đó là gương mặt này “phản chủ”, khiến công việc của Linh luôn trắc trở.

Phẫu thuật thẩm mỹ cũng có thể gây tai biến bất cứ lúc nào

Linh quyết định đi tạo mí và nâng mũi với mong muốn thay đổi phong thủy, tướng mạo, hòng có một công việc mong muốn. Tổng chi phí hết hơn 30 triệu đồng, Linh khá hài lòng với gương mặt của mình.

Còn trường hợp của Bùi Đức Hoàng trú tại Sơn Tây, Hà Nội thì khác. Hoàng cho biết cậu luôn tự ti với gương mặt không cân với cái mũi nhỏ, lỗ mũi như đầu tăm, mắt híp híp, rãnh tai phẳng. Điều này khiến Hoàng làm đến đâu đều thua lỗ đến đó.

Để đổi đời, Hoàng quyết định đi tái tạo lại gương mặt mình. Dù ý kiến của Hoàng bị mọi người phản đối bởi gương mặt cha mẹ sinh ra như nào không nên thay đổi nhưng Hoàng đã tìm hiểu rất kỹ và cậu quyết định phẫu thuật thu gọn cánh mũi, sửa đôi mắt híp và tạo dái tai dày và to để tạo ra một hình tướng vương giả.

Sau phẫu thuật, Hoàng tin rằng mọi thứ của mình đều ổn. Hoàng không ngần ngại mà chia sẻ bí mật của mình lên các trang mạng xã hội của nhóm thì thầm dao kéo.

phẫu thuật thẩm mỹ

Cẩn trọng tai biến

Phẫu thuật thay đổi tướng mạo thành công như Hoàng và Linh không phải hiếm nhưng cũng có nhiều người bị tai biến vì muốn có ca phẫu thuật như ý.

Trường hợp của chị Nguyễn T. H trú tại Hà Nội vừa phải vào bệnh viện Đại học Y cấp cứu vì má sưng, chảy dịch, nguy cơ nhiễm trùng máu rất cao.

Chị H. cho biết trước đó chị đi coi bói, thầy bảo nếu chị có một lúm đồng tiền bên trái chắc chắn chị sẽ rất giàu. Nghe thấy thế, chị về tìm hiểu và biết ở một số nơi phẫu thuật tạo lúm đồng tiền. Chị H. không ngần ngại chi tiền đi tạo lúm đồng tiền. Niềm hi vọng gương mặt tròn có thêm má lúm đồng tiền làm điểm nhấn sẽ giúp chị H thành công hơn trong cuộc sống. Nào ngờ, sau 1 tháng phẫu thuật chị bị viêm vết mổ má lúm khiến nửa mặt sưng vù lên.

TS.BS. Nguyễn Huy Thọ, Nguyên chủ nhiệm khoa Phẫu thuật hàm mặt và Tạo hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho biết, trào lưu đi sửa tướng xuất phát từ quan niệm của người Á Đông. Bởi theo quan niệm này, chiếc mũi, nốt ruồi, khuôn mặt, khóe miệng là những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá vận mệnh của mỗi người.

Nếu với đàn ông, đầu mũi to, miệng rộng biểu hiện dồi dào về tiền tài và sức khỏe thì với phụ nữ lại bị coi là “hao tán tiền của”, ảnh hưởng đến chồng con. “Không ít cô gái trẻ đến với chúng tôi vì muốn cải thiện đôi mắt một mí vì thiếu một cái rãnh sâu để hứng tài lộc; hoặc sửa lại hàng cung mày rậm, gò má cao vì mẹ chồng tương lai cho rằng đó là tướng không tốt. Cũng có khi chị em đến thẩm mỹ chỉ đơn giản vì muốn có chiếc rốn “hứng tiền” và cũng “đẹp mắt” khi đi tắm biển”.

TS Thọ cũng gặp không ít trường hợp bị tai biến phẫu thuật thẩm mỹ. Phẫu thuật thẩm mỹ dù là thẩm mỹ nhưng nó cũng phải tuân thủ các quy định của phẫu thuật nói chung và phải được phẫu thuật ở các cơ sở uy tín, không nên đến các cơ sở có điều kiện chật hẹp, phòng vô trùng không đảm bảo, tay nghề phẫu thuật viên cũng phải chú ý.

Theo TS Thọ phẫu thuật dù là “chỉnh tướng, đổi vận” hay vì mục đích gì thì “cái đẹp và an toàn vẫn phải được đặt lên hàng đầu. Có những bệnh nhân họ đòi hỏi phẫu thuật theo đúng tướng mạo và họ chấp nhận đánh đổi bằng mọi giá. Đây là quan niệm sai lầm nguy hiểm cho chính người muốn đổi đời nhờ phẫu thuật thẩm mỹ theo tướng số.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mặt sưng vù, chảy dịch vì thẩm mỹ cho đúng phong thủy

Thập tiện: 10 loại địa hình xấu

Thập tiện là một trong 10 bí quyết của Cửu Ca về 10 kiểu địa hình xấu rất kỵ trong việc an táng.
Thập tiện: 10 loại địa hình xấu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thập tiện là một trong 10 bí quyết của Cửu Ca về 10 kiểu địa hình xấu, rất kỵ trong việc an táng.

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

1. Nhất tiện, bát phong xúy huyệt: Bát phong là gió từ 8 hướng thổi vào huyệt làm khí tiêu tán.

2. Nhị tiện, Chu Tước tiêu sách: là gò Chu Tước trước mộ vô tình, không triều bái, không nhảy múa.

3. Tam tiện, Thanh Long phi khứ: chỉ gò Thanh Long không ôm huyệt mộ có thế bay đi.

4. Tứ tiện, Thủy Khẩu phân lưu: nước ở cửa sông chảy đi không bao huyệt mộ.

5. Ngũ tiện, bãi đầu kiều vĩ: Bãi đầu là chỉ các núi không hướng về huyệt mộ; kiều vĩ là cong đuôi, ý chỉ dòng nước chảy đi không bao bọc huyệt mộ.

6. Lục tiện, tiền hậu xuyên phong: Tiền hậu chỉ gò Chu Tước, gò Huyền Vũ nhỏ và thấp hoặc không có gió thổi tản khí huyệt mộ.

7. Thất tiện, sơn phi thủy tẩu: chỉ núi không triều, nước không ôm huyệt.

8. Bát tiện, tả hữu giai không: không có gò Thanh Long, gò Bạch Hổ.

9. Cửu tiện, sơn băng thủy liệt: núi đổ, nước cạn.

10. Thập tiện, hữu chủ vô khách: Hữu chủ là có huyệt mộ; vô khách là không có án sơn, triều sơn.

(Theo Bí ẩn thi vận)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thập tiện: 10 loại địa hình xấu

CÁT - HUNG VỀ NỐT RUỒI TRÊN KHUÔN MẶT

Nốt ruồi ở các vị trí khác nhau trên khuôn mặt. Có nốt ruồi nhìn rất duyên, nhưng có những nốt ruồi trông khá vô duyên. Có người thông qua thâm mỹ, đã tẩy những nốt ruồi trên khuôn mặt. Theo tướng học, nốt ruồi cũng là một điểm đặc biệt để dự đoán cát - hung, may - rủi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cùng một vị trí nốt ruồi trên khuôn mặt của đàn ông, phụ nữ nhưng lại mang ý nghĩa tốt xấu khác nhau, đối với người kia đó là nốt ruồi tốt nhưng đối với người này lại là nốt ruồi xấu. Việc xem bói nốt ruồi giúp bạn, biết được ý nghĩa của các nốt ruồi trên cơ thể cũng như việc xóa bỏ đi các nốt ruồi mang ý nghĩa xấu.

Cát - hung về nốt ruồi trên khuôn mặt

Nốt ruồi trên chóp mũi

Đây là nốt ruồi tượng trưng cho tiền tài, cơm áo và sắc dục, người có nốt ruồi trên chóp mũi là người thiếu năng quản lý tiền tài, dù có thu nhập cao cũng sẽ tiêu hết sạch, thường tiêu tiền vượt tầm dự liệu của mình. Khi mua vật dụng thường mua những thứ đắt, nhưng không thiết thực, ham muốn vật chất của những người này thường cao hơn người bình thường. Về phương diện sức khỏe, người này thường dễ mắc các chứng bệnh về dạ dày, đường ruột, hệ tiêu hóa có vấn đề. Nam thì thường tiêu tiền vào việc tửu sắc, hướng thụ.

Nốt ruồi ở hai bên cánh mũi

Nếu có nốt ruồi ở hai bên cánh mũi, nam ở bên trái, nữ ở bên phải, chủ về người đó yếu kém trong việc tích lũy tài sản, đầu tư buôn bán thường thua lỗ, đánh bạc thì thua nhiều, được ít, thường có tính “được ăn cả, ngã về không”. Tức là với số tiền lớn, họ thường sử dụng trong việc đầu cơ mạo hiểm, kiếm tiền theo kiểu trong nháy mắt, tức là họ có thể kiếm tiền theo cách bạo phát, trong vòng vài ngày, được một khoản tiền lớn. Nhưng nếu thất bại là họ cũng phá sản. Mẫu người này nên tính kiểu ăn chắc mặc bền, tăng trưởng chậm, nhưng bền vững mới tốt, nếu không trước sau gì cũng sẽ trắng tay. Nếu nốt ruồi này càng lớn, thì mức độ mạo hiểm càng tăng. Những người có nốt ruồi như thế này nên đề phòng các bệnh đường hô hấp, dễ mắc chứng phong thấp.

Nốt ruồi dưới khóe mép (nam tả nữ hữu)

Đây là nốt ruồi lắm mồm, dễ va chạm những chuyện thị phi, cãi cọ. Người có nốt ruồi như thế thường rất thích bàn chuyện phiếm về người khác, không giữa được bí mật, trong lúc nói chuyện dễ mắc lỗi với người khác, mà không tự hay biết, ít bạn bè, dù có bạn cũng chỉ là bạn thích bàn tán, soi mói chuyện của người khác. Người có nốt ruồi ở khóe mép, thì khi nói nhiều, nhưng trong lòng vẫn trống trải cô đơn, trong công việc thường gặp trắc trở đột ngột, khó đoán trước được. Nếu là nốt ruồi tốt ở đây thì có tài ăn nói, thích hợp với các công việc diễn thuyết, ngoại giao tiếp thị hàng hóa.

Nốt ruồi ở môi

Đây là nốt ruồi sắc dục của cả nam lẫn nữ. Người có nốt ruồi này dễ bị tranh chấp, phiền phức về vấn đề tình cảm trai gái, hay có những mối tình tay ba, tay bốn. Người có nốt ruồi ở đây, dục vọng rất mạnh, trong tình yêu họ sẽ chủ động tìm đối tượng hợp với lòng mình, khéo léo bộc lộ tâm tư tình cảm và những cảm xúc nội tâm, không thích bị gò bó trong lễ giáo truyền thống, trong tình yêu không thích chiếm hữu lâu dài mà chỉ thích “mỳ ăn liền”, nhưng lại là đối tượng dễ bị tổn thương trong tình cảm.

Môi dưới có nốt ruồi

Người có nốt ruồi ở môi dưới khéo léo che đậy dục vọng của mình, bị động trong tình cảm, dễ bị bạn trai thất vọng, vì thông thường bạn trai luôn ở thế chủ động, bộc bạch cảm xúc nhưng nếu là nữ có nốt ruồi này thường tỏ ra “bất động”. Có thể rung cảm trước một bạn trai thực sự nhưng lại phản khách làm chủ, thích chủ động để được người khác yêu thương.

>>> Xem bói tình yêu của hai người qua ngày tháng năm sinh và họ tên, xem mức độ tương sinh tương hợp của hai bạn là bao nhiêu?

Vùng địa các (ở giữa cằm) có nốt ruồi

Đây là nốt ruồi chứng tỏ người đó có sự thay đổi lớn về môi trường sống, không những thay đổi về môi trường sống mà thay đổi cả cuộc sống, nghề nghiệp cũng thay đổi lớn, cá nhân người này bị thay đổi, sống bôn ba đây đó, sống vùng này chưa lâu lại chuyển đi nơi khác, giả sử môi trường sống của người này chậm đi thì họ không chịu được và hay mắc các bệnh về tim mạch.

Cung Thiên di có nốt ruồi (ở góc trán)

Hai bên góc trán là cung Thiên di, người có nốt ruồi ở đây là dấu hiệu của sự thay đổi nhà cửa, công việc và nơi làm việc, thậm chí địa vị xã hội của người này cũng bị thay đổi. Người có nốt ruồi ở đây trước hết ta cần biết là nốt ruồi có màu sắc xấu hay tốt thì đó là dấu hiệu của người suốt đời phải dời chỗ ở nhiều lần, mới tới chỗ này chưa được bao lâu thì lại phải dời đi nơi khác, hoặc công việc cũng thế, mới làm ở chỗ này rồi lại chuyển chỗ khác. Những người buôn bán, hoặc làm công việc hiện đại đều có nôt ruồi như thế. Nếu là nốt ruồi tốt, chứng tỏ sau mỗi lần chuyển chỗ ở hoặc nơi làm việc họ được thăng cấp, tăng lương, kinh doanh đạt kết quả tốt, còn không thì đó là dấu hiệu của sự phiền toái, bất lợi cho mỗi lần thay đổi nhà ở, công việc, và mỗi lần như vậy lại đặt ra những thách thức mới, phải tốn nhiều tiền bạc và công sức mới có thu hoạch tốt.

Nốt ruồi ở gian môn (khóe mắt)

Phần ở khóe mắt là gian môn (chú ý khác với giang môn, là phần hậu môn, phần cuối của ruột già), nam giới đuôi mắt có nhiều nếp nhăn rẻ quạt, chủ về vợ chồng dễ có vấn đề về tình cảm, hơn nữa, cơ quan sinh dục của vợ dễ mắc các chứng bệnh. Nói chung, người có nốt ruồi này thì tình cảm vợ chồng không tốt, hay bị kẻ thứ ba xen vào tình cảm vợ chồng. Người có nốt ruồi ở đây quan niệm về tình dục cũng phóng túng, nếu là trai chưa vợ, gái chưa chồng dễ gặp phải các mối tình tay ba, thường gặp nhiều phiền phức nhất là vấn đề tình cảm trong cuộc sống.

Nốt ruồi trong lòng mắt

Nốt ruồi trong mắt khi nhìn kỹ mới thấy. Người có nốt ruồi như thế bất luận là nam hay nữ thì dục tính của họ đều mạnh hơn so với người khác, hơn nữa là người không kiềm chế được sự dụ dỗ tình cảm của người khác nên thường có mối quan hệ tình dục với người khác, nốt ruồi càng ở gần đầu mắt thì người đó càng tích cực, chủ động trong việc móc nối quan hệ tình dục với đối phương. Bất luận đối phương là người đã có gia đình hay chưa, em gái bạn, vợ bạn, chỉ cần đối tượng thích thì nhất định sẽ “gan dạ” làm những việc vượt qua quy tắc, người có nốt ruồi gần đuôi mắt chứng tỏ người đó không chủ động bày tỏ tình cảm, tình dục, nhưng vẫn không thể khống chế được sự dụ dỗ của người khác, dù mình đã có chồng, hoặc có vợ, chỉ cần có sự dụ dỗ là sẽ sa vào mối quan hệ nhăng nhít đó.

Cung điền trạch có nốt ruồi (cung điền trạch: chỗ giữa lông mày và mắt)

Nếu có nốt ruồi xấu ở cung điền trạch, chứng tỏ người đó dễ có chuyện bất hòa với anh chị em ruột do tranh chấp tài sản, ruộng vườn của tổ tiên, cha mẹ để lại, nếu nốt ruồi năm ở gần lông mày và là nốt ruồi tốt thì đó là dấu hiệu được thừa hưởng của cải, tài sản, đất đai, ruộng vườn từ cha mẹ, tổ tiên, đồng thời trong họ hàng gia tộc cũng ủng hộ mạnh mẽ. Nếu cuối đuôi mắt trong cung điền trạch có nốt ruồi xấu, chứng tỏ đối thủ tranh chấp tài sản chính là anh em thân thích trong nhà.

Nốt ruồi ở phần trên của đầu lông mày

Người có nốt ruồi này chứng tỏ là người có tài ăn nói, bạn hữu khắp thiên hạ, cấp trên trọng dụng, bạn bè, đồng nghiệp ủng hộ, giúp đỡ, lông mày phải của nam, trái của nữ có nốt ruồi như thế nhưng xấu, thì dễ bị bạn bè thân thích làm liên lụy, phiền toái, trên lông mày trái của nam, phải của nữ có nốt ruồi như thế thì không được sự ủng hộ từ phía cấp trên, bạn bè, đồng nghiệp, hay gặp phải những chuyện thị phi, thậm chí cấp dưới lộng quyền, quyền lực không vững chắc.

Ấn đường có nốt ruồi (ấn đường là phần giữa hai chân lông mày)

Người có nốt ruồi này là người thực hiện ước mơ của mình quá muộn, nếu ấn đường hẹp, lại có nốt ruồi, thì bất luận là tốt hay xấu, người đó luôn có cảm giác sinh ra không gặp thời hoặc cơ hội không mỉm cười với mình. Cả tình yêu lẫn công việc đều để lỡ cơ hội, nếu là gái thì lại càng trắc trở nhân duyên. Nếu nốt ruồi nằm lệch ra hai bên và là nốt ruồi tốt thì người đó thuận lợi công việc, cả đời đắc chí.

Ngọa tàm có nốt ruồi (bụng mắt)

Phần hơi thủng lên phía dưới bụng mắt có nốt ruồi, là người có tính dục rất mạnh, nếu là nốt ruồi xấu và là đàn ông thì chứng tỏ có vấn đề ở bộ máy sinh dục vì lối sống buông thả, bừa bãi trong quan hệ tình dục, bất kể là nam hay nữ có nốt ruồi ở vị trí này đếu có nguy cơ làm chuyện trái với đạo lý, và khuôn phép khi không được đáp ứng nhu cầu tình dục. Ở lệ đường (tức hình bán nguyệt ở dưới phần ngọa tàm), có nốt ruồi, chứng tỏ người đó dễ rơi lệ trong vấn đề tình cảm, dễ buồn khổ, bi lụy vì con cái hoặc dễ buồn bã vì mối bất hòa trong gia đình.

Xương lưỡng quyền có nốt ruồi

Người có xương lưỡng quyền lộ, phần lớn là người tích cực phấn đấu tiến lên, là người có cơ hội thành công trong sự nghiệp của mình. Người có nốt ruồi tốt ở đây chứng tỏ có thể gánh vác những công việc có quyền lực cao, lãnh đạo thuộc hạ tốt, nhưng cuộc sống thường nhật lại hay gây xích mích với người khác hoặc người khác đó kỵ, bất mãn vì người này có biểu hiện tham vọng quyền lực quá lộ liễu, nếu ở đây có nốt ruồi xấu đó là dấu hiệu bị thất nghiệp do xích mích với cấp trên, hoặc nguy cơ tranh đoạt quyền lực với người khác, cũng có thể tiền đồ của mình bị ngăn trở vì sự phê bình, của đồng nghiệp

Xương quai hàm có nốt ruồi

Xương quai hàm đầy đặn và có nốt ruồi tốt chứng tỏ người đó có ý chí kiên định, làm việc rất vững tâm, không bị dao động, bất luận gặp phải những khó khăn trở ngại gì người này đều coi đó là thử thách phải vượt qua, nỗ lực quyết tâm, xem thường trở ngại, người này thường muốn khắc phục những khó khăn để chứng minh năng lực và phương pháp giải quyết công việc của mình là chính xác, đúng đắn, chứ không nhất định là vì kinh tế hoặc địa vị. Xương quai hàm lộ, có hình tam giác hoặc bát giác và nốt ruồi xấu là người cực kỳ cố chấp, mục đích làm việc không phải để chứng minh khả năng và phương pháp, mà là sự tư lợi vun vén cá nhân, không cần quan tâm tới những người xung quanh mình.

Vùng thực lộc có nốt ruồi ( Thực lộc là vùng hai bên nhân trung )

Thực lộc là vùng nói lên cơm áo của mỗi người, phần này có màu sắc sáng sủa, tươi hồng lại có thêm nốt ruồi tốt chứng tỏ người đó suốt đời không phải lo lắng, bận tâm tới chuyện cơm áo gạo tiền. Dù bị cấp trên phạt tiền lương, thiếu thốn thất thoát, cũng gặp may mắn do người khác đưa lại, nhân tố khác tạo ra, hay gặp may mắn về tiền bạc và tài sản.

Nếu vùng Thực lộc xanh xám, lại có nốt ruồi xấu, chứng tỏ người đó luôn bôn ba, bận rộn, vất vả vì miếng cơm, manh áo. Công việc cuộc sống gặp nhiều trắc trở, khó có cơ hội được hưởng thụ.

Xem thêm các vị trí nốt ruồi trên cơ thể đàn ông tại đây.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: CÁT - HUNG VỀ NỐT RUỒI TRÊN KHUÔN MẶT

Cửa thông luôn

Trong Phong Thủy cửa thông luôn là cần thiết. Đặt cửa thất cách gây hậu quả xấu và sự lục đục trong nhà chủ nhân. Cửa thông luôn ngay hàng với nhà thường là tốt và mở ra hông xếp lên nhau. Tuy nhiên tránh làm phòng tắm cửa đôi. Điều này làm người nhà nhà mắc bệnh dọc theo đường giữa cột sống và giữa vùng bụng truớc (theo mạch Nhâm, Đốc) từ đó sức khỏe và tiền bạc đội nón ra đi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các chữa: Treo gương trên hai cánh cửa nhìn ra lối đi.

Nếu cánh cửa chính đối thẳng với cửa hậu thì vượng khí vào rồi ra đi quá nhanh khiến cho nhiều cơ hội đến rồi tuột khỏi tầm tay người trong nhà. Khoảng cách hai cửa này càng ngắn thì càng làm cho hoàn cảnh thêm khó khăn – mà khoảng cách càng xa thì càng tốt hơn vì điều này tạo cơ hội cho sự vận hành của khí.

Cách chữa: treo khánh, cây kiểng hoặc thủy tinh cầu nhằm tán khí và rải cơ may đều khắp trong nhà

Nắm vặn cửa đụng nhau như nghiến răng óc thể gây xung đột trong nhà.

Cách chữa: để chữa hết lời qua tiến lại thì hoặc là sơn một chấm đỏ ngang tầm mắt trên nhai cánh cửa hay làm cách thế này cột một băng lụa đỏ dài khỏang 50cm đến 80cm vào từng nắm vặn cửa rồi cắt đi nửa băng.

Hãy coi chừng cửa đối diện thông luôn cho hơi lệch đi một chút. Nó có thể gây trở ngại cho sức khỏe, sự nghiệp và gia đình. Cách xếp đặt nguy hiểm này coi như “vết cắn trộm” và làm lây tính các này sang người trong nhà. Góc các khung cửa sắc như dao cũng ảnh hưởng xấu đến người nhà.

Cách chữa: treo một vật dùng trang hoàng ngay tầm mắt, nơi bắt mắt ở khung cửa.

Nếu một cửa ra vào lớn hơn cửa đối diện, nó có thể tốt hơn hay xấu tùy theo trường hợp. Tốt nếu cửa lớn mở vào phòng rộng như phòng ngủ hay phòng khách. Còn cửa nhỏ hơn cho nhà kho hay phòng tắm. Nhưng nếu cửa lớn hơn mở vào nhà bếp hay nhà kho và cửa nhỏ hơn mở ra phòng ngủ thì xấu vì như người Trung Hoa nói rằng: “lớn nuốt nhỏ”. Khí của nhà bếp, phòng tắm hay nhà kho sẽ tràn ngập khí phòng ngủ, như thế sinh họat ở nhà sẽ giảm sút đi. Ví dụ cửa ra vào lớn hơn mỡ ra phòng tắm làm phí thì giờ và thường gây ra những bệnh ở vùng bụng. Người nhà này có thể bị những rối lọan về tiêu hóa hay bàng quang, hay đi khỏi nhà và tốn nhiều thì giờ sửa sọan ra đi. Nếu cửa lớn hơn mở ra nhà kho, người trong nhà sẽ có khuynh hướng để thì giờ lo trang điểm. Nếu cửa lớn hơn mỡ ra nhà bếp, người ở nhà sẽ bị ám ảnh với nấu nướng, đồ ăn và đồ uống.

Cách chữa: Treo một cái gương rọi lên cửa lớn hơn để chiếu vào phòng ngủ, như thế cả hai cửa ra đường như dẫn đến phòng ngủ.

Để cho nhà cửa và văn phòng có sự hòa điệu, một tình trạng khác cần tránh là một hành lang nhỏ có nhiều cửa ra vào. Mỗi cửa biểu hiện cho một cái mồm khác nhau với tiếng nói riêng của nó. Để tránh cho nguời nhà khỏi cãi cọ tai tiếng ta treo những gương soi trên cửa ra vào hay đặt đèn cho sáng sủa hoặc treo khánh trên cao.

Một cửa ra vào ở cuối hành lang dài sẽ làm sức khỏe người nhà nguy hiểm, lại thêm các chứng rắc rối về đường tiêu hóa sẽ gây ra vì dòng khí di chuyển nhanh, thổi tuột trên tuờng làm cho người nhà cảm thất bứt rứt khong yên tác động vào thần kinh và sự tiêu hóa của người ta và làm cho họ dễ nổi giận.

Một cửa ra vào ở cuối hành lang cũng gây nên tử vong và có thể cản trở dịp may mắn, thăng tiến trong nghề nghiệp làm ăn.

Cách chữa: treo gương soi trên cửa đó hay trên tường để chuyển hướng dòng khí mạnh và để tạo tầm nhìn dài hơn, nhờ thế người trong nhà có ấn tựong và hy vọng vào sự thăng tiến. Không treo gương thì họ sẽ không có đường tiến. hành lang phải gây thoáng cho khí vận hành và thóang cho tương lai người ở đó.

Theo tập quán người Trung Hoa tránh đặt ba cửa ra vào và cửa sổ hay nhiều hơn nửa trong một loạt nối tiếp nhau (cửa sổ thì tưong đối không có vấn đề như cửa ra vào). Những sự dị đoan cho rằng khí bay thành hàng thẳng; vì thế màn che đựơc dùng để cản lai các ảnh hưởng độc hại.

Căn bản thì dãy ô cửa sắp thành hàng thẳng; vì thế màn che được dùng để cản lại các ảnh hưởng độc hại. Căn bản thì dãy ô cửa sấp thành hàng tạo ra đường lưu chuyển khí quá nhanh. Do cản trở khí của người trong nhà, làm hại sức khỏe, sự tưong quan cá nhân và hòa hợp nội tại của họ. những người này có thể bị đưa dọc theo mạch nhân và đốc, vùng bụng và lưng, thông thường thì có những vấn đề trong hệ tiêu hóa và ruột non.

Dòng khí lưu chuyển nhanh cũng có thể làm thành một hàng rào chắn vô hình và gây ra các liên hệ căng thẳng ở nhà hay ở nơi làm việc để chặn đứng dòng khí lưu chuểyn quá nhanh hãy treo khánh hay trái thủy tinh cầu để làm tán khí.

Kích thước cửa là điều quan trọng. một cửa ra vào phải tương đương vừa cỡ so với căn nhà hay kích thước từng buồng. Một cửa tương đối nhỏ sẽ họat động như một cái mồm hay một rốn hơi nhỏ mà nó không đủ chỗ cho khí tốt đi vào và luân chuyển vì thế nó làm giảm sút sức khỏe, thịnh vượng và hạnh phúc của người trong nhà.

Cách chữa: treo một ấm gường bên trên hay cả hai mặt cửa ra vào để tạo ra chiều cao rộng hơn.

Nếu một cửa ra vào quá rộng ở trong nhà hay trong phòng thì khí sẽ tràn ngập vào phòng cho nên của cải và dịp may có vào bao nhiêu đi nữa thì người trong nhà đó cũng không thể giữ đựơc của

Cách chữa: Sơn phản màu sậm phòng tiền sảnh như đen, xanh sậm, nâu, tím v.v... hay đặt một vật nặng nơi cửa vào nhưng không gần cửa quá.

Tỉ lệ cửa ra vào và cửa số thì cũng được xem xét kỹ vì nó ảnh hưởng đến họat động trong gia đình. Cửa ra vào đại diện cho miệng mồm của cha mẹ. Cửa sổ cho tiếng nói của các con. Nếu cửa sổ nhiều hơn cửa ra vào với tỉ lệ ba trên một thì sẽ gây ra tranh cãi vì quá nhiều ý kiến, con cái hay cãi lời cha mẹ. Tương tự như thế nếu cửa sổ tỏa rộng hơn cửa ra vào thì trẻ con có khuynh hướng coi thường sự chỉ bảo, kỷ luật của cha mẹ. một cửa sổ lớn rộng với những ô nhỏ thì được.

Cách chữa: để tạo sự hòa hợp trong gia đình treo một cái chuông hay khánh nhạc gần cửa ra vào như thế khi mở cửa thì tiếng nói của cha mẹ sẽ được nghe thấy rõ ràng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cửa thông luôn

Tuổi Tỵ và tuổi Mùi hợp nhau không? –

Có thể nói, trong tất cả các mối quan hệ giữa hai “hành tinh” này thì họ kết hợp ăn ý nhất trong tình yêu. Tâm hồn họ gặp nhau ở chỗ, họ cùng rất nhạy cảm. Cả hai con giáp này đều cần giao tiếp với những người năng động hơn để cho cuộc sống thêm sôi
Tuổi Tỵ và tuổi Mùi hợp nhau không? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Tỵ và tuổi Mùi hợp nhau không? –

Mơ thấy có thai là điềm lành hay dữ?

Ngủ mơ thấy mình có thai là điềm lành hay dữ, với những người bình thường thì khi ngủ mơ thấy mình có thai mang điềm báo gì, có giải mã được không?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngủ mơ là một hành động vô thứ mà ai cũng từng gặp phải, nhiều người thường không nhớ mình mơ gì những đối với nhiều người, giấc mơ đó có thể là ác mộng, in hằn trong tâm trí họ. Để giải mã được giấc mơ của mình thì họ phải cố gắng ghi lại chính xác những gì đã trải qua, mới hiểu được ý nghĩa sâu xa trong giấc mơ của họ.

Mơ thấy có thai là điềm lành hay dữ?

Xem thêm: Giải mã giấc mơ khi ngủ mơ thấy cá, thú

Để giải mã được giấc mơ có thai, bơi trong giấc mơ của bạn có nhiều hoạt động khác nhau nên được Phong thủy số phân chia ra như sau:

Nếu bạn kết hôn chưa lâu, luôn mong ngóng có một đứa con thì cũng có thể do áp lực cuộc sống và gia đình lên bản thân bạn quá nhiều khiến bạn bị mộng mị trong giấc mơ.

Thông thường những giấc mơ mình mang thai khá tốt đẹp, điềm báo này báo hiệu cho bạn sắp gặp may mắn và hạnh phúc.

Giải mã điềm báo ngủ mơ thấy mình mang bầu với người khác điều này có nghĩa rằng: Những dự định của bạn đã bị rẽ sang hướng khác so với mục tiêu ban đầu bạn đề ra.

Giải mã điềm báo ngủ mơ thấy giới tính thai nhi:

Nếu bạn ngủ mơ thấy mình mang thai và biết rõ đó là con trai hay con gái thì điều này thể hiện bạn đang quan tâm nhiều tới giới tính của đứa con của mình.

Nếu như con trai ngủ mơ thấy mình đang mang bầu thì rõ ràng họ đang mất tự tin và năng lực của bản thân có thể là do ảnh hưởng từ công việc, từ địa vị của họ.

Nếu ngủ mơ thấy mình mang thai nhưng em bé đã chết trong bụng thì điềm báo rằng kế hoạch của bạn đang có nguy cơ bị thất bại, hoặc không đạt được kết quả mà bạn mong muốn.

Nếu bạn ngủ mơ thấy một người nào đó có thai thì cho thấy bạn đang có một mối quan hệ khá tốt đẹp và thân mật với người này.

Nếu ngủ mơ thấy mình mang thai, nhưng bạn lại lo lắng hoang mang vì chưa thực sự đón nhận điều này. Điềm báo này có ý nghĩa rằng bạn đang lo sơ về việc làm của mình, không dám chịu trách nhiệm với sai lầm mà mình đã gây ra.

Ngủ mơ thấy người yêu của bạn đang mang bầu, điều này cho thấy tình cảm của hai bạn đã chín muồi, có thể tiến tới hôn nhân. Tuy nhiên, cũng có thể do hai người đã nếm trái cấm và chưa muốn kết hôn thì có thể điều bạn lo sợ hàng ngày ảnh hướng tới tâm lí của bạn khi ngủ dẫn đến giấc mơ này.

Xem thêm: Gieo quẻ bói Kiều


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy có thai là điềm lành hay dữ?

Quẻ Quan Âm Nhân Quý Ngộ Chủ

Quẻ Quan Âm Nhân Quý Ngộ Chủ có bắt nguồn như sau: Tiết Nhân Quý (614 - 683) là hậu duệ của vị tướng tài Tiết An Đô thời kỳ Nam Bắc Triều
Quẻ Quan Âm Nhân Quý Ngộ Chủ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Sáu trong quẻ Quan Âm, mang tên Nhân Quý Ngộ Chủ (còn gọi là quẻ Nhân Quý Gặp Chủ). Quẻ Quan Âm Nhân Quý Ngộ Chủ có bắt nguồn như sau:

Tiết Nhân Quý (614 – 683) là hậu duệ của vị tướng tài Tiết An Đô thời kỳ Nam Bắc Triều, là người của gia tộc họ Tiết ở Hà Đông, nhưng đến đời Nhân Quý thì gia tộc đã sa sút. Cha của Nhân Quý mất sớm, tuy từ nhỏ gia cảnh nghèo khó, nhưng Nhân Quý rất chịu khó tập luyện văn võ, bẩm sinh sức khỏe hơn người, sức ăn cũng lớn.

Tiết Nhân Quý sinh ra trong thời loạn, chăm chỉ làm nông để sinh sống, chưa có gì nổi tiếng. Đến năm ba mươi tuổi, Nhân Quý muốn di dời phần mộ tổ tiên, để mong đem đến vận tốt, nhưng vợ của Nhân Quý nói rằng: “Người có tài năng cần phải biết nắm bắt thời cơ. Nay hoàng đế ngự giá thân chinh đến Liêu Đông, chính là lúc cần có tướng mạnh, chàng có tài năng lớn, sao chàng không tòng quân để lập công danh? Đợi đến khi chàng phú quý trở về quê hương, thì cải táng cha mẹ cũng chưa muộn!” Tiết Nhân Quý nghe có lý, bèn từ biệt vợ, xin gia nhập quân đội, bắt đầu chặng đường suốt bốn mươi năm tung hoành nơi sa trường đầy kỳ tích.

Năm Trinh Quán thứ 19 (năm 643), Đường Thái Tông xuất phát từ Lạc Dương, đem quân đánh Cao Cú Lệ . Tháng ba năm ấy, ở chiến trường An Địa thuộc Liêu Đông, tướng lĩnh Lưu Quân Cùng của quân đội nhà Đường bị quân địch bao vây, không có cách nào thoát thân, cũng không ai có thể giải cứu. Trong thời khắc nguy nan đó, Tiết Nhân Quý đơn thương độc mã, dũng cảm đương đầu với gian nguy, lấy đầu tướng lĩnh của Cao Cú Lệ, lại đem treo lên mình ngựa, quân địch nhìn thấy khiếp sợ, liền thoái lui, Lưu Quân Cùng được giải cứu. Sau việc đó, Tiết Nhân Quý trở nên nổi danh trong quân đội.

Sau đó không lâu, trong trận chiến An Thị (nay là thôn Thành Tử, xã Nam Doanh, huyện Hải Thành, tỉnh Liêu Ninh), Tiết Nhân Quý đã phát huy được tài năng võ nghệ của mình. Qua trận chiến này, ông đã trở thành vị tướng mạnh nhất của nhà Đường lúc đó. Tháng tư năm Trinh Quán thứ 19, đội quân tiên phong của nhà Đường tiến đánh Cao Cú Lệ, liên tiếp đánh bại quân đội của Cao Cú Lệ. Tháng sáu, quân đội nhà Đường tiến đến An Thị, quan Mạc ly chi sai đại tướng Cao Diên Thọ và  Cao Huệ Chân thống lĩnh hai mươi lăm vạn đại quân đóng đòn trên núi, chống lại quân đội nhà Đường. Sau khi Đường Thái Tông thị sát địa hình, lệnh cho các tướng chia nhau tiến đánh.

Tiết Nhân Quý thân mang áo bào trắng khác hẳn với các binh sĩ khác, tay cầm phương thiên họa kích, lưng đeo hai cây cung, một mình một ngựa xung trận, thâm nhập vào hàng ngũ hai mươi lăm vạn quân trong trận địa của địch, làm rối loạn trận thế của kẻ địch, khiến cho quân địch không có cách nào ứng chiến. Cao Diên Thọ, Cao Huệ Chân nhiều lần muốn chấn chỉnh lại hàng ngũ tố chức để phản kích, nhưng đều bị Tiết Nhân Quý tấn công khiến cho hàng ngũ rối loạn. Quân đội nhà Đường ồ ạt tiến lên, quân Cao Cú Lệ đại bại. Lúc này, Lý Thế Dân ở xa quan sát trận đánh, trông thấy vị tướng trẻ mặc áo bào trắng chiến đấu vô cùng dũng mãnh giữa biển người, cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Sau trận chiến, Lý Thế Dân lập tức triệu kiến Tiết Nhân Quý, ban cho hai con ngựa, bốn mươi tấm lụa, cho mười tù binh làm người hầu, lại thăng chức làm tướng quân du kích, Quả Nghị Đô úy của phủ Vân Tuyền.

Sau đó quân đội nhà Đường đánh mãi mà không thắng, lại gặp phải mùa đông mưa tuyết lớn, lương thực và cỏ không đủ, bèn lui quân. Giữa đường, Lý Thế Dân nói với Tiết Nhân Quý rằng: “Các tướng lĩnh của trẫm đều đã già rồi, nay gặp chiến sự đã không thể đảm nhận nối trọng trách này nữa, trẫm muốn lựa chọn một vị tướng quân trẻ tuổi có tài, không ai có thể hơn được khanh. Chuyến chinh phạt lần này, cho dù có thu phục được Liêu Đông trẫm cũng không vui, mà điều vui nhất chính là có được nhân tài như khanh!”

Câu nói “Trẫm không vui vì có được Liêu Đông, mà vui vì có được khanh” đã trở thành một câu nói nối tiếng; dùng hàng trăm vạn dặm lãnh thổ của vùng đất Liêu Đông rộng lớn để đánh giá về Tiết Nhân Quý, đủ để thấy được tài năng của ông. Sau khi Đường Thái Tông qua đời, con trai là Đường Cao Tông tiếp tục trọng dụng Tiết Nhân Quý, khiến ông trờ thành vị tướng nổi tiếng một thời.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm Nhân Quý Ngộ Chủ

Cảm giác khi sắp chết sẽ như thế nào?

Ngoại trừ những cái chết đột ngột, ai cũng phải trải qua quy luật đời người sinh lão bệnh tử. Cảm giác khi sắp chết, bạn sẽ phải trải qua nhiều cảm giác đau khổ
Cảm giác khi sắp chết sẽ như thế nào?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngoại trừ những cái chết đột ngột, ai cũng phải trải qua quy luật đời người sinh lão bệnh tử. Cảm giác khi sắp chết sẽ là những đau khổ tột cùng.

  Cảm giác khi sắp chết sẽ có rất nhiều khổ đau cùng cực, những cảm giác này gây ra bởi những nguyên nhân như sau:   1. Vào lúc địa đại hòa nhập hay tan biến vào trong thủy đại, thân thể trở nên nặng nề và thân không thể tự nương nhờ thân.   2. Vào lúc thủy đại hòa nhập vào trong hỏa đại, miệng và mũi khô khan, ngưng nói bí lời.   3. Vào lúc hỏa đại hòa nhập vào trong phong đại, thân nhiệt biến mất.   4. Vào lúc phong đại hòa nhập vào trong thức đại, bạn chỉ có thể thở ra khò khè và hít vào nấc nghẹn.
Khi sap chet, ban se co cam giac nhu the nao hinh anh
Ảnh minh họa
Vào lúc đó, cảm giác khi sắp chết sẽ như đang bị đè nặng bởi một ngọn núi rất lớn, đang bị sập bẫy trong bóng tối, đang bị buông rơi vào vô tận của hư không. Nếu tâm bạn nghe nhận và niệm được câu Phật hiệu một cách thanh tịnh, toàn thể bầu trời sẽ tự nhiên tươi sáng rực rỡ như một tấm gấm trải rộng. Những bóng tối và sự đè nặng trong tâm tức khắc liền tan biến. Hơn thế nữa, hình tướng của Phật A Di Đà tự nhiên hiện ra ở trong tâm của bạn, cùng với những ánh quang minh sáng diệu vô thượng như trăm nghìn ánh mặt trời chiếu sáng cùng một lúc. Quang minh sáng rực, nhưng minh diệu lạ thường, nó không làm bạn chói mắt khó chịu; ngược lại, nó làm cho bạn tươi tỉnh, sáng suốt và rỗng lặng lạ thường. Tự nhiên bạn không còn cái cảm giác khổ đau gây ra bởi do thân tứ đại của bạn đang phân ly nữa. Đây chính là thành quả của năng lực niệm Phật của bạn (Tự lực) cùng năng lực tiếp dẫn của Phật A Di Đà (Tha lực).   Vào lúc này tính giác viên minh của bạn sẽ nhắc nhở bạn: Đừng bị tán loạn! Đừng xúc động! Không lâu nữa Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn bạn về cõi Cực Lạc. Bạn phải ráng giữ cho tâm của bạn luôn rỗng lặng, thanh thản và tiếp tục niệm Phật không ngừng, ngay cả khi gặp được Đức Phật A Di Đà xuất hiện. Tại sao vậy? Vì nếu bạn giữ được tâm rỗng lặng như hư không, không xúc động vì vui mừng theo thói tục của thế gian chúng sanh, khi gặp Phật, bạn sẽ sanh về cõi Cực Lạc với phẩm vị rất là cao. Vì ngay lúc này với sự trợ lực của Phật A Di Đà, bạn đã đạt được Niệm Phật Tam Muội hay Nhất Tâm Bất Loạn. Nếu bạn còn có cái niệm vui mừng xúc động khi gặp Phật, phẩm vị vãng sanh của bạn bị hạ thấp xuống, vì tâm bạn vẫn còn dính mắc vọng niệm của người phàm phu.
Khi sap chet, ban se co cam giac nhu the nao hinh anh
Ảnh minh họa
Khi bạn thấy Phật A Di Đà xuất hiện, bạn cũng đồng thấy vô số Phật, Bồ-tát và Thánh Chúng đồng xuất hiện để nhiếp thọ tiếp dẫn bạn. Hình tướng và dung mạo của các vị Phật ở cõi Tây Phương, cũng giống hệt như Phật A Di Đà. Hình tướng và dung mạo của các Bồ-tát cũng đồng giống hệt như Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, không có tướng sai khác. Bạn cũng được nghe tiếng của thánh chúng niệm Phật vang động cả bầu trời với những âm thanh vi diệu hòa nhã và tùy hỷ.   Nên lưu ý, trước khi gặp Phật, ma chướng (nghiệp chướng) cùng sinh của bạn sẽ loạn động cái tâm của bạn làm cho chánh niệm của bạn bị sụp đổ, bạn muốn niệm Phật cũng rất là khó khăn hay chẳng thể niệm được; nó phát ra những âm thanh chói tai, uy mãnh và làm mê mờ bạn. Ở vào thời điểm này, bạn hãy tuệ tri điều này:   1. Cái cảm giác đang bị đè ép xuống bởi một ngọn núi, không phải là bạn đang bị đè ép xuống bởi một ngọn núi. Đó là khi các đại của bạn đang hòa nhập. Hãy đừng sợ hãi chuyện đó!   2. Cái cảm giác đang bị sập bẫy trong bóng tối, không phải là đang bị sập bẫy trong bóng tối. Đó là khi năm quan năng của bạn đang hoà nhập!   3. Cái cảm giác đang bị buông rơi vào trong vô tận của hư không, không phải là bạn đang bị buông rơi. Đó là tâm của bạn không có cái gì để nương nhờ, bởi thân và tâm của bạn đã ly biệt và hơi thở của bạn đã ngừng lại.   Vậy bạn phải cố gắng nương vào câu Phật hiệu không gián đoạn để tâm của bạn không bị mê mờ bởi những cảm giác hư vọng này. Tất cả những quang cảnh, các hình tướng, các âm thanh, ánh sáng đều là của chính bạn, đều là do tâm của bạn ảnh hiện bởi do nghiệp lực chiêu cảm. Hãy đừng nghi hoặc gì về điều đó.   Nếu bạn cứ cảm thấy nghi hoặc, bạn sẽ bị ném trở vào trong sinh tử luân chuyển. Hãy quyết định sáng tỏ hơn để thấy đó chỉ là chuyện tự diễn-hiện, và nếu bạn nương nhờ an trú vào câu Phật hiệu (nó cũng chính là tính viên minh trong chân không diệu hữu quang minh biến chiếu), trong tính chân không diệu hữu quang minh biến chiếu đó bạn sẽ chứng đạt ba thân – Pháp thân, Báo thân, Ứng Hoá thân – và trở thành giác ngộ. Ngay lúc đó dù nếu bạn có bị ném vào trong sinh tử luân chuyển, bạn cũng sẽ không đi vào đó.   Bạn nên biết rằng A Di Đà Phật chính là vị Phật bảo hộ và cũng là tự tánh hiện hữu của bạn để duy trì tâm bạn với chánh niệm không bị tán loạn. Từ thời điểm này, điều rất quan trọng là ở trạng thái không mong cầu và sợ hãi gì cả, không chấp và thủ đối với tất cả các đối tượng và quan năng của sáu thức, cũng như đối với những dẫn dụ mê đắm, hạnh phúc và sầu muộn. Và từ bây giờ trở đi, nếu bạn đã đạt “tịnh chỉ an định”, bạn sẽ có thể bắt đầu có khả năng đảm lĩnh bản tính ở trong trung hữu và trở thành giác ngộ. Thế nên điểm tối yếu cho sinh mệnh của tuệ mệnh là chấp trì câu hồng danh A Di Đà Phật liên tục, không gián đoạn, không tán loạn từ chính thời điểm này.   Ma chướng cùng sinh là tập khí hiện tại đưa đến vô minh, nghi hoặc và do dự của bạn. Nên vào lúc ở tử địa, bất cứ hiện tượng dễ sợ nào xuất hiện, thí dụ như những âm thanh, những màu sắc và những ánh sáng, hãy đừng bị mê đắm dẫn dụ, hãy đừng nghi hoặc và hãy đừng sợ hãi. Nếu bạn bị rơi vào nghi hoặc dù chỉ một thời điểm, bạn sẽ lang thang trong cõi sinh tử luân chuyển, vì thế nên hãy đạt được “tịnh chỉ an định” hoàn toàn, không thay đổi và không bị chấm dứt bất thình lình.   Ở thời điểm này, những lối dẫn vào tử cung (cửa ngõ tái sinh) hiện ra như những cung điện cõi trời. Hãy đừng bị tham luyến đối với chúng. Hãy tin chắc chắn vào điều nhận biết sáng tỏ thấu suốt đó. Hãy tự tại, không mong cầu và sợ hãi! Vào thời điểm đó, tính giác viên minh trong sáng thấu suốt của chính bạn (tự lực) cùng với quang minh tiếp dẫn của Phật A Di Đà (tha lực) sẽ là cộng lực cứu độ bạn.   Khi đạt được Pháp thân giống như hư không cho lợi ích chính mình, bạn sẽ thành tựu lợi ích cho tất cả hữu tình trong tận hư không vô lượng pháp giới. Bạn có thể hoá hiện các thứ báo thân và ứng hoá thân làm lợi ích cho tất cả hữu tình trong tận hư không vô lượng pháp giới, và lúc ấy tâm của bạn sẽ lan tỏa vạn hữu vô tận xứ.   Kết Luận:   Do vì tâm của chúng ta quá xa rời với giác ngộ và tỉnh thức, do vì nghiệp chướng và tội ác của chúng ta quá nhiều đến không thể tính kể, phước báu thì quá nhỏ bé như hạt mè. Do vì tập khí tham, sân, si, mạn, nghi của chúng ta quá nặng nề tạo thành một màn vô minh dầy đặc bao trùm che phủ Như Lai tánh thường chiếu.   Cho nên, ngay trong cuộc sống hiện tại chúng ta phải gặp nhiều ngang trái khổ đau, gặp nhiễm các thứ hồ đồ lộn xộn; cho đến lúc lâm chung, chúng ta không biết nơi nào để đi, chỗ nào để đến, phó mặc cho nghiệp lực dẫn dắt tiếp tục lang thang trôi trong sáu nẻo luân hồi sanh tử.   Nay nhờ chút phước mọn sót lại, chúng ta gặp được pháp môn niệm Phật quảng đại thù thắng của Phật A Di Đà do Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tự trao truyền chỉ dạy. Những người có đại tín thành, đại nguyện lực, tinh tấn dõng mãnh, và thông tuệ, những người luôn nhớ đến thầy của họ là Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật, những người luôn tín nhiệm vào Phật A Di Đà, những người thân tâm nỗ lực trong thực hành, những người có tâm an tịnh, và có khả năng buông bỏ các mối quan tâm đối với thế giới này.   Ðây là những người được tất cả các Đức Như Lai đồng thanh khen ngợi; vì họ, ở trong đời trước, đã từng gặp Phật quá khứ quy y, chiêm bái, cúng dường và họ cũng đã từng được Phật thọ ký Bồ Đề.   Những người tin nhận và chân thật tinh tấn tu tập giáo pháp này là những người được thừa hưởng của cải vô tận của các Đức Như Lai trong mười phương ba đời. Tại sao? Vì giáo pháp này đều được tất cả các Đức Như Lai trong mười Phương Thế Giới, mà mỗi Thế Giới lại có vô số vô lượng các Đức Như Lai nhiều như cát của sông Hằng, đồng thanh khen ngợi và tán thán không thể nghĩ bàn, không có sai khác.

►Lịch ngày tốt gửi đến quý độc giả kho: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp đáng suy ngẫm

ST.

15 cách tránh tà khí xâm nhập bạn nên biết Âm binh có thực sự đáng sợ như mọi người vẫn nghĩ? Lý giải nguyên nhân vì sao có người liên tiếp gặp xui xẻo

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cảm giác khi sắp chết sẽ như thế nào?

Một số phương pháp trấn trạch an gia trong phong thủy

Ở khu vực giữa nhà, nếu có dấu hiệu hung hại hoặc đã từng xảy ra chuyện chẳng lành, theo các chuyên gia phong thủy đặt những vật mang ý nghĩa
Một số phương pháp trấn trạch an gia trong phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ở khu vực giữa nhà, nếu có dấu hiệu hung hại hoặc đã từng xảy ra chuyện chẳng lành, theo các chuyên gia phong thủy đặt những vật mang ý nghĩa trấn trạch, điều này có tác dụng biến nguy thành an, gặp dữ hóa lành.

Mot so phuong phap tran trach an gia trong phong thuy hinh anh
Ảnh minh họa
  Phù trấn pháp
 
Cách thông dụng nhất là dùng “Phù trấn pháp”, vật này được lấy từ nhựa của những loại cậy như đào, lê, hạnh… hoặc tờ giấy có vẽ bùa, vẽ các biểu tượng như hình dáng con người, các bộ phận trong cơ thể người rồi treo phía trước cửa chính hoặc đặt ở vị trí giữa nhà hoặc chôn dưới đất để trấn họa. Ví dụ như là Ngũ nhạc trấn trạch phù, gồm 5 phù là Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung có tác dụng xua đuổi hung thần tà quỷ tác quái, phòng khi gia đình gặp chuyện bất an.
 
Trong quá trình sửa chữa nhà ở, nếu không may phạm thổ hung thần, đứt long mạch… thì có thể sử dụng trấn trạch Thập nhị Giáp thổ phủ thần sát phù để hóa giải.
 
Tùy theo mục đích sử dụng mà chúng ta có thể dùng các loại phù khác nhau: Tam giáo cứu trạch thần phù, Dư đồ dự trấn thần phù, trấn trạch trúng tà khí yêu quỷ tác quái thần phù, bảo trư không tai phù chờ…

Ý nghĩ biểu tượng Chó trong phong thủy
Chó là loài động vật được thuần dưỡng từ khá sớm và trở thành người bạn trung thành của con người. Trong phong thủy chó mang ý nghĩa trấn trạch, bình an.
Mai vật pháp
 
phương pháp dùng gỗ bạch dương, khắc thành hình người hoặc súc vật rồi chôn dưới đất. Cũng có thể dùng đất trộn với bùn nhão rồi nặn thành hình người, đất không phải đất bình thường, đất phải được lấy ở những khu đất lâu đời, ở những ngôi mộ cổ, nước thì không phải nước bình thường, mà là nước giếng. Có khi chôn con chuột, vó ngựa, 1 ít da rắn, một ít tiết heo hoặc xương hổ, chôn sâu 1,2 tấc.   Trí kính pháp
 
Có loại An bạch hổ gương, những gia đình sống ở nhà cao tầng, cạnh đền chùa, miếu mạo, cột cờ… có thể treo trước cửa sẽ có tác dụng trấn trạch đại cát.

=> Xem ngày tốt xấu để tiến hành các việc đại sự

Phương Thùy

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Một số phương pháp trấn trạch an gia trong phong thủy

Ngón chân nói lên số phận của các nàng

Các ngón chân của bạn cao, thấp hơn hay bằng với ngón trỏ? Chúng sẽ nói lên tính cách và số phận của bạn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Ngón chân cái thấp hơn ngón trỏ


Người có ngón chân trỏ cao hơn tất cả các ngón còn lại cả đời không phải lo cơm ăn áo mặc, là người độc lập, giỏi kiếm tiền, không chấp nhận sự an phận, bình thường. Nói chung có thể họ không quá mức giàu có nhưng sẽ không bao giờ phải lo lắng về cái ăn cái mặc.Đây là cô gái tràn đầy sức sống, nghị lực, rất cá tính và mạnh mẽ. Sẽ rất khó nếu bạn muốn cô ấy trở thành một nàng ngoan hiền.

2. Ngón cái và ngón trỏ bằng nhau

Sở hữu đặc điểm này thì nàng rất thực tế, không ỉ lại vào đối phương, tùy thời điểm nàng cũng sẽ trở thành cô gái ngoan hiền. Bình thường họ cũng rất độc lập, luôn tự tìm cách giải quyết vấn đề của mình, không phụ thuộc vào phái mạnh, nhưng cũng không vì thế mà từ chối sự giúp đỡ.


3. Ngón cái cao hơn ngón trỏ

 


Phần lớn các cô gái đều có bàn chân như vậy, đều rất dịu dàng hiền lành, biết cách khống chế cảm xúc của bản thân.

 

Theo ione.vnepress


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngón chân nói lên số phận của các nàng

Ứng dụng của Bát Quái

Nhìn chung, nói về Phong Thủy ở Việt Nam, thì học thuyết Bát Trạch đã ăn sâu vào tư tưởng của con người Việt Nam. Câu nói cửa miệng điển hình của học thuyết này là: “Tôi tuổi này…hợp hướng nào?”.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhìn chung, nói về Phong Thủy ở Việt Nam, thì học thuyết Bát Trạch đã ăn sâu vào tư tưởng của con người Việt Nam. Câu nói cửa miệng điển hình của học thuyết này là: “Tôi tuổi này…hợp hướng nào?”. Nền tảng luận đoán của Bát Trạch dựa trên sự tương hợp hay xung khắc giữa 2 nhóm Đông – Tây tứ trạch. Bát là tám, Trạch là nhà.

phong-thuy-bat-trach

Như vậy Bát Trạch là gồm 8 loại nhà được chia thành 2 nhóm, 4 loại nhà Đông và 4 loại nhà Tây. Dựa theo năm sinh mà cũng phân thành 8 loại người được chia thành 2 nhóm, 4 loại người Đông và 4 loại người Tây. Điều kiện lý tưởng nhất là người Đông ở nhà Đông, người Tây ở nhà Tây. Ngược lại thì là không tốt.

Những điều trên tuy có thể chưa phải là kiến thức Phong Thủy toàn vẹn, nhưng Bát Trạch chính là một trong những cách áp dụng Bát Quái rất hữu hiệu của người xưa.

Bát Quái không chỉ dừng lại trong Phong Thủy mà còn được sử dụng trong tất cả mọi lĩnh vực của nền cổ học phương Đông. Bát Quái còn dùng để diễn tả ngoại cảnh, hiện tượng, sự vật… ứng dụng trong võ thuật, trong y học, trong lịch thời gian, và thậm chí là trong mối quan hệ gia đình.

Cơ bản Bát Quái gồm tám quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.

Được ứng dụng lại như sau:

  • Càn: bố Khôn: mẹ
  • Chấn: anh trưởng Tốn: chị trưởng
  • Khảm: anh kế Ly: chị kế
  • Cấn: em trai út Đoài: em gái út

Thông thường mối quan hệ trong gia đình sẽ như sau:

  •  Bố (Càn) rất thương cô con gái rượu (con út – Đoài).
  •  Mẹ (Khôn) rất thương đứa con trai út (Cấn).
  •  Cô em kế mới lớn (Ly) thì rất nghe lời người anh cả năng động (Chấn). [chê bố mẹ già không hiểu tâm lýmới của con trẻ]
  •  Vậy nên chị (Tốn) bảo ban được cho em kế (Khảm). [chê bố mẹ già không năng động như con trẻ]

Khéo nhìn lại một chút, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy đây chính là mối quan hệ tốt đẹp nhất trong Bát Trạch. Mối quan hệ Sinh Khí.

(Càn – Đoài, Khôn – Cấn, Ly – Chấn, Tốn – Khảm.)

Tương tự, sẽ dễ dàng ta nhận thấy trong gia đình:

- Bố (Càn) sẽ rất nhức đầu với thói đỏng đảnh của cô ba (Ly).

- Mẹ (Khôn) sẽ không vui vì sự ù lỳ của anh ba (Khảm).

- Chị cả (Tốn) không hài lòng sự ỷ lại của em út (Cấn) vì được mẹ (Khôn) che chở.

- Anh cả (Chấn) khó mà huấn dụ cô út (Đoài) vì được bố (Càn) bảo bọc.

Đây chính là mối quan hệ Tuyệt Mạng, loại quan hệ xấu nhất trong tương quan Bát Trạch. (Càn – Ly, Khôn – Khảm, Tốn – Cấn, Chấn – Đoài).

Tương tự như vậy cho các mối quan hệ khác…

Qua những điều trên, hẵn các bạn thấy được sự quy luật áp dụng của Bát Trạch vận hành một cách rất “con người” ra sao. Chứ không phải chỉ là những công thức hoặc câu khẩu quyết từ chương mà chúng ta học thuộc lòng.

Hẵn sẽ có những người rất tinh ý và thắc mắc rằng: quy luật Bát Trạch vận hành theo con người, hay mối quan hệ của con người vận hành theo quy luật Bát Trạch… Thật ra mà nói, yếu tố con người – Nhân – là một phần không thể tách rời của bộ ba Thiên, Địa, Nhân. Do vậy không phải là con người vận hành theo quy luật Bát Trạch hay quy luật Bát trạch vận hành theo con người mà hai điều này đều vận hành theo một quy luật chung thống nhất, quy luật của Bát Quái.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ứng dụng của Bát Quái

Tết Đinh Dậu: Chọn bạn du lịch hợp phong thuỷ để cả năm may mắn

Chọn bạn du lịch hợp phong thủy hứa hẹn một năm mới vạn sự hanh thông. Đầu xuân, hãy chọn một người bạn du lịch hợp tuổi, hợp mệnh để cả năm may mắn.
Tết Đinh Dậu: Chọn bạn du lịch hợp phong thuỷ để cả năm may mắn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đầu năm, mọi người nô nức lên kế hoạch để du xuân. Xu hướng du lịch đầu năm cũng trở nên khá phổ biến thời gian gần đây. Việc chọn bạn du lịch hợp phong thủy được nhiều người quan tâm, bởi nếu như chuyến đi đầu tiên của năm được suôn sẻ hứa hẹn một năm mới vạn sự hanh thông.


Tet Dinh Dau Chon ban du lich hop phong thuy de ca nam may man hinh anh
 
Theo quan niệm về âm dương ngũ hành, người thuộc mệnh nào thì nên đi với bạn đồng hành thuộc mệnh bổ trợ cho mình (tương sinh), và tránh kết hợp với những người thuộc mệnh xung đột (tương khắc). Chọn được người phù hợp, chuyến đi sẽ gặp nhiều thuận lợi còn nếu gặp người xung khắc, cuộc vui sẽ trở nên trắc trở, nhiều sự cố, thậm chí là bất hòa.  

Người mệnh Thổ

  Người mệnh Thổ có tính cách ôn hòa và thực tế, tuy nhiên hay lo lắng và đa nghĩ. Vậy nên, khi đi du lịch, họ tính toán hết các khả năng có thể xảy ra và quản lý chi tiêu khá tốt. Bạn cũng là một người bạn đồng hành hòa nhã và không thích tranh cãi.   Bạn tốt nhất nên đi cùng người mệnh Hỏa để gặp mọi điều thuận lợi, hanh thông. Gặp người mệnh Kim, Thổ cũng được giúp đỡ rất nhiều khiến chuyến đi có nhiều trải nghiệm thoải mái.   Nếu đi cùng người mệnh Thủy có thể sẽ gặp xung khắc hoặc đi chung với người mệnh Mộc có thể sẽ gặp những trục trặc khiến chuyến đi bớt vui.   Ví dụ, bạn sinh năm 1976, 1977, 1990, 1991 (mệnh Thổ) thì nên đi cùng người sinh năm 1978, 1979, 1986, 1987, 1994, 1995 (mệnh Hỏa).

Xem thêm: Mệnh Thổ hợp màu gì?
 

Người mệnh Hỏa

  Người mệnh Hỏa nhiệt tình, thân thiện nên khi đi chung với họ, bạn đồng hành cảm thấy rất thoải mái. Tuy nhiên họ cũng hơi bốc đồng và thẳng tính nên nếu gặp điều không vừa lòng có thể sẽ nói ngay khiến không khí chuyến đi bị ảnh hưởng.   Để tránh điều không hay, theo quan niệm dân gian, người mệnh Hỏa nên đi cùng người mệnh Mộc hoặc Thổ sẽ hỗ trợ được nhau, hơn nữa gặp dữ hóa lành, được nhiều người giúp đỡ.   Trái lại, nếu đi cùng người mệnh Thủy hoặc Kim sẽ nhiều khả năng xảy ra cãi vã, gặp phải sự cố khiến cả 2 không hài lòng về nhau.   Ví dụ, nếu bạn sinh năm 1978, 1979, 1986, 1987, 1994, 1995 (mệnh Hỏa) thì nên đi cùng người sinh năm 1980, 1981, 1988, 1989 (mệnh Mộc).

 

Người mệnh Mộc

  Người mệnh Mộc có khả năng đưa ra quyết định rất tốt cho chuyến đi, họ sáng tạo và rất chủ động nên sẽ là người bạn đường đáng tin cậy trong các chuyến đi.   Người mệnh Mộc tốt nhất nên đi cùng người mệnh Hỏa sẽ khiến cả chuyến đi ngập tràn niềm vui và những trải nghiệm thú vị. Đi cùng người mệnh Thủy cũng là gợi ý rất hay bởi có thể hỗ trợ nhau.   Ngược lại, bạn không nên đi cùng người có mệnh Kim, người thuộc mệnh này thích ra quyết định khiến mệnh Mộc không thoải mái. Đi cùng người mệnh Thổ cũng có thể gặp một vài trục trặc nhỏ.   Ví dụ bạn sinh năm 1980, 1981, 1988, 1989 (mệnh Mộc) thì nên đi cùng người sinh năm 1978, 1979, 1986, 1987, 1994, 1995 (mệnh Hỏa).

Xem thêm: Mệnh Mộc hợp màu gì?
 

Người mệnh Kim

  Người mệnh Kim cương quyết, thích gọn gàng, sạch sẽ và quy củ. Họ thích là người lên kế hoạch chu đáo tỉ mỉ, thường muốn là người dẫn đầu của một nhóm du lịch. Bạn sẽ rất phù hợp với những người thích tuân thủ còn nếu gặp người có cá tính giống bạn rất dễ xảy ra đối đầu vì không ai chịu ai.   Người mệnh Kim tốt nhất nên đi với người mệnh Thổ sẽ tạo thành cặp bài trùng ăn ý, mọi thứ suôn sẻ. Nếu đi với mệnh Thủy cũng khá ổn vì sẽ tương trợ lẫn nhau.   Bạn không nên đi cùng người mệnh Hỏa bởi sẽ dễ xảy ra bất đồng, đi chung với mệnh Mộc cũng không phải là ý kiến hoàn hảo.   Ví dụ, nếu bạn sinh năm 1970, 1971, 1984, 1985, 1992, 1993 (mệnh Kim) thì theo quan niệm phong thủy, tốt nhất nên đi cùng người sinh năm 1976, 1977, 1990, 1991 (mệnh Thổ).

Xem thêm: Mệnh Kim hợp màu gì?

 

Người mệnh Thủy

  Người mệnh Thủy thường sáng tạo, khôn ngoan, nhạy cảm, biết cách thuyết phục người khác, tạo cảm giác dễ gần, thân thiện. Người mạng Thủy có khả năng giao tiếp và thuyết phục tốt, thích khám phá văn hóa, trò chuyện với con người ở những nơi đi qua.   Để có chuyến du xuân suôn sẻ, người mệnh Thủy nên đi cùng người mệnh Kim, có thể cùng nhau đưa ra ý tưởng hay ho và trải nghiệm thú vị. Bạn cũng có thể đi cùng người mệnh Mộc để có chuyến đi trọn vẹn.   Trái lại, bạn rất có thể sẽ bất hòa với mệnh Thổ vì cả hai đều quá quan tâm đến kế hoạch của mình, tương tự với người mệnh Hỏa, có thể xảy ra cãi vã.   Ví dụ bạn sinh năm 1974, 1975, 1982, 1983 (mệnh Thủy) thì nên đi cùng người sinh năm 1970, 1971, 1984, 1985, 1992, 1993 (mệnh Kim).

Đi chùa đầu năm vào những ngày này thì cả năm tiền bạc rủng rỉnh, tình duyên viên mãn Mẹo phong thủy đầu năm mới giúp tiền vào như nước
Theo Ngoisao

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tết Đinh Dậu: Chọn bạn du lịch hợp phong thuỷ để cả năm may mắn

Giải mã giấc mơ về bùa chú

Mơ thấy bùa mang ý nghĩa dự báo cả điều lành lẫn những lời cảnh báo để bạn chủ động tìm cách hóa giải và phòng tránh.
Giải mã giấc mơ về bùa chú

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

Giai ma giac mo ve bua chu hinh anh
Ảnh minh họa
 
Nếu mơ thấy thầy bùa vào nhà nhưng bạn không tiếp là điềm báo sắp có chuyện vui từ phương xa đưa về; hoặc sắp nhận được tin tức của người thân mà bấy lâu bạn mong ngóng.   Bạn sắp thoát được một tai nạn nào đó nếu trong giấc mơ gần đây bạn thấy mình vẽ bùa cho người khác.    Sự may mắn sẽ run rủi cho bạn gặp được người tri kỷ như mong đợi nếu trong giấc mơ bạn thấy mình xé bùa vứt đi.   Tuy vậy, một số giấc mơ liên quan đến bùa lại là lời cảnh báo hữu ích cho chủ nhân của nó. Nếu bạn chiêm bao thấy mình nhờ thầy vẽ bùa là điềm báo sắp có chuyện không hay khiến bạn buồn bực.   Tương tự, nếu bạn thấy cảnh đưa thầy bùa vào nhà và tiếp đãi nồng hậu trong giấc mơ thì bạn cần đề phòng những bất trắc có thể ập đến.    Nếu phải dán bùa trước cửa trong một giấc mơ gần đây thì bạn cần tránh những xích mích nhỏ với người thân. Đây là điều cần thiết để đảm bảo cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được êm ấm.

Nếu mơ thấy mình mang một lá bùa thì điều này có nghĩa là bạn cần phải được bảo vệ hơn, bạn cần biết cách phát huy sức mạnh của mình.

Theo Khám phá bí ẩn những giấc mơ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ về bùa chú

Điềm báo giấc mơ về những cánh hoa bồ công anh

Những cánh hoa bồ công anh tuy là rất mỏng manh trước gió nhưng trong giấc mơ, có thể chúng sẽ mang lại niềm vui to lớn cho bạn đó.
Điềm báo giấc mơ về những cánh hoa bồ công anh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Diem bao giac mo ve nhung canh hoa bo cong anh hinh anh
Ảnh minh họa

Nếu trong giấc mơ của bạn nằm mơ thấy những bông hoa bồ công anh đang bay trong gió, điều này cho thấy bạn đang có một môi trường sống rất dễ chịu và vui vẻ. Bạn cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình.

Ngoài ra, giấc mơ này cũng cho thấy tiềm thức của bạn đang cố gắng đưa bạn trở về lại thời thơ ấu và những kỷ niệm trong quá khứ.
  Nằm mơ thấy mình đang thổi những cánh hoa bồ công anh, điều này ám chỉ đến những khoảnh khắc chỉ thoáng qua. Bạn đang cố gắng để lấy lại một khoảng thời gian đẹp đẽ nào đó đã trôi qua trong cuộc sống của mình.   Nếu bạn nằm mơ thấy mình đang ăn hoa bồ công anh, đây là lời nhắc nhở bạn cần phải chăm sóc tốt hơn về sức khỏe của mình.

Thấy những cây bồ công anh trong mơ, báo trước tương lai bạn sẽ đầy những niềm vui. Mơ thấy bạn đang ăn cây này, nghĩa là bạn cần chăm sóc tốt hơn sức khỏe của bản thân hoặc sẽ bị bệnh nặng.

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điềm báo giấc mơ về những cánh hoa bồ công anh

Tài mệnh chuyên tập

Cổ nhân vân: Tài vi dưỡng mệnh chi nguyên,quan vi dựng thân chi vốn. Rất nhiều người hội quan tâm chính mình cảđời có hay không có cũng đủ đích tài phú, hoặc tiến hành vu loạinào sự nghiệp lấy mưu tài.
Tài mệnh chuyên tập

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tòng mệnh lý học đích góc độ xem, này đó đều là tiên thiên cũng nhất định tốt. Vốn chương lễ chủ yếu nghiên cứu tài phú đích cái nhìn cùng đủ loại lấy tài phương pháp, từ đó chúng ta có thể chứng kiến manh phái mệnh lý đích cao diệu.

Đệ nhất lễ, tài phú cái nhìn

Manh phái mệnh lý nói xem tài phú, cũng không gần chỉ nhìn tài tinh, bát tự trung khác đích thần tại đặc biệt dưới tình huống cũng có thể làm tài luận. Cụ thể mà nói có dưới vài loại tình hình, phân biệt trạch lệ mà nói.

Một, lộc thần làm tài

" Lộc" Chính là y lộc, ăn uống, hưởng thụ chờ ý tứ, cổ đại còn nghĩ nó coi như bổng lộc, vốn là chính mình đích hưởng dụng hoặc giữ lấy gì đó, có thể lý giải vi tài phú. Mệnh trung chiếm lộc, không có thương thực tiết thời, hoặc bát tự không có tài thời, lộc có thể làm tài xem. Giáp lộc tại dần, ất lộc tại mão, bính mậu lộc tại tị, đinh kỷ lộc tại ngọ, canh lộc tại thân, tân lộc tại dậu, nhâm lộc tại hợi, quý lộc tại tử. Lộc vốn là có sẵn chi phúc, ngoài điều kiện vốn là ấn sinh lộc. Lộc cũng vi thân thể, biểu khổ cực ý, lấy lộc lấy tài, khổ cực cầu tài.( Chú: Lấy lộc làm tài, hỉ ấn, kị thương thực kiếp tài.)

Càn: Quý Đinh Đinh bính

Mão tị tị ngọ

Đại vận: Bính ất giáp quý nhâm

Thìn mão dần sửu tử

Này tạo mộc hỏa cường thế. Đinh hỏa cùng bính hỏa bất đồng, bính hỏa qua vượng sợ đốt diệt, đinh hỏa chỉ là một loại quang, cố không sợ ngoài vượng.( Tích Thiên Tủy) thì có đinh hỏa" Vượng mà không gắt, suy mà không kiệt" Chi luận. Cố đây là [một người/cái] rất không tệ bát tự. Lấy lộc thần ngọ hỏa vi dụng, lấy lộc làm tài xem. Nguyên nhân ngọ ngồi rồi bính, cố tị cũng là đinh chính mình đích, cố vi ấn sinh lộc, lấy lộc làm tài, hưởng thụ chi mệnh, chuyện gì cũng không cần can, dựa vào lão bà nuôi sống, lão bà rất có khả năng, có2000 vạn. Dần vận chính mình cũng trải qua, sau khi sẽ thấy không cứng rắn. Hành giáp dần vận, sinh trợ giúp ngọ lộc, cho thấy này vận được tài; nguyên nhân vốn là vận trung chi ấn, không phải vốn cục trung chi ấn, có thể suy đoán hắn mặc dù không có quan vị, nhưng có quyền lực, xác nhận xí nghiệp chi quan. Thực tế này vận trung tố một đại công ti đích phó tổng, có ngàn vạn lần chi có nhiều. Hành tới quý sửu vận, sửu ngọ hại, lộc thương, không hề tiến hành kinh doanh.

Nhàn chú: Ngọ lộc làm tài xem, thời lộc vi về lộc; nguyên nhân mão sinh tị, quý mão mang tượng, nói rõ có quyền nhưng không có quan! Tẩu quý sửu vận hưởng lão bà chi phúc, nguyên nhân tị vi lão bà, ngọ cũng mà khi lão bà( Tị= bính), tẩu sửu vận, tị sửu củng tài, cho nên hưởng lão bà phúc.

Càn: Đinh bính canh đinh ất giáp quý nhâm

Mùi ngọ thân sửu tị thìn mão dần

Này tạo bát tự không có tài, lấy lộc làm tài phú xem. Lão bà hưởng phúc, mãn bàn quan sát, lấy lộc làm tài, khổ cực cầu tài. Thời thượng sửu vi lộc khố, tại môn hộ hộ lộc, không sợ vượng quan sát chi khắc( Thân nhập sửu mộ). Người này rất có khả năng, mướn xe làm cho vận chuyển kiếm tiền, nguyên nhân thân vi truyền tống chủ xe. Quý mão vận tài tinh hợp lộc, phát tài mười năm. Quý mão vận hảo, lộc chế trụ rồi tài đích đại vận cũng vi được tài. Cố lấy lộc làm tài cùng lấy tài làm tài không mâu thuẫn. Giáp tý vận khí mậu dần năm dưỡng xe bồi rồi sáu vạn. Nhâm vận còn có thể, dần vận phá hủy, được đường nước tiểu bệnh, không thể làm sống. Dần vận cũng có tổn hại huynh đệ đích tượng, tượng bính tuất năm sẽ không hảo, tỉ kiếp lâm tuyệt thêm gặp xung. Lấy lộc làm tài phú thời, lộc thần chế tài tinh có thể phát tài. Cùng hắn cùng một ngày sinh đích song bào thai đệ đệ nguyên nhân sinh vu dần thời, giáp tuất năm chết thê tử. Này tạo sửu là kim khố có thể dưỡng kim, thê không thấy hung.

Nhàn chú: Canh kim ngay cả thể dụng kim thủy, bính ngọ vi kị, không cần, đinh mùi vô dụng! Ngồi lộc nhất định phải dụng! Thân vi lộc vi xe, nhập sửu khố tố công! Sửu vi khắc ở thời thượng vi xe, chạy trốn thoát vận chuyển đích! Quan sát khắc chi, thân thể bất hảo! Lộc thần hợp tài hoặc chế tài cũng vi được tài! Quý mão vận phát tài, nhâm dần vận, thân dần xung, dần sinh ngọ hỏa quan rồi, cho nên, vi con gái dùng tiền! Nguyên nhân hỏa vượng rồi, phá hủy thân, không sinh thủy rồi, cho nên, được đường nước tiểu bệnh( Thận)! Quan sát không có nguyên thần cũng làm nữ nhi xem! Khác bính vi thất sát, sửu ngọ hại biến thành rồi nữ nhi! Mùi tài vi nhân, ứng vãn nên tử đích!

Lộc tác dụng thần sợ nhất thấy kiếp tài, kiếp tài có phân lộc ý. Như sau lệ nhân tiện chúc này một loại:

Khôn: Mậu bính kỷ kỷ

Ngọ thìn mùi tị

ất giáp

mão dần

Kỷ lộc tại ngọ không có ở đây mùi, ngọ lộc kề sát kiếp tài, sinh rồi kiếp, nói rõ nàng tổ thượng có tổ sản cũng sẽ phân cho các huynh đệ, cùng nàng vô duyên. Lấy ngọ lộc làm tài phú, ngày giỗ tiết lộc. Giáp dần vận dần mộc sinh hỏa lấy cát xem. Nhưng gặp canh thìn năm, thìn thổ kiếp tài tiết lộc vi hung, này năm bị trộm đạo phá tài, cũng may gặp đại vận cát, phá án sau khi truy quay về bộ phận tài vật.

Nhàn chú: Bát tự không có tài, không có thực thương, năm lộc làm tài. Ngọ sinh rồi kiếp, tổ sản phân cho rồi huynh đệ. Ngọ thêm sinh rồi thìn, thìn đỉnh bính cũng vi kiếp, bính= mậu, mà mang tượng! Mậu ngọ cũng vì thế tượng! Giáp dần vận giáp kỷ hợp, quan giúp nàng, nguyên nhân dần sinh rồi lộc, giáp= dần, cho nên, quan phương vốn là giúp nàng đích! Nhưng canh thìn năm, thìn cướp tài! Chưa vào thìn mộ, hôn không được tốt, giáp vận kết, dần vận cách? Tỉ kiếp tránh phu!

 Càn: Quý mậu kỷ giáp 

Mão ngọ dậu tuất 

đinh bính ất giáp

tị thìn mão dần

Này mệnh nguyệt lệnh chiếm lộc, cùng thời chi củng lộc cục. Nhưng thấy dậu kim thực thần, thực thương có thể phá hư lộc. Cũng may này lộc có thể khắc thực thần, khứ thực thần vi cát. Hành ất mão vận bắt đầu phát tài, đến nay đã thành mấy trăm vạn phú ông.

( Dụng kiếp, vốn là phú mệnh. Ngồi chi thực làm thê xem, mặc, bất tử tức cách, thực tế vi phát tài sau khi cách, thứ hai hôn tiểu hắn mười mấy tuổi, lớn lên xinh đẹp, lấy tuất trung tân xem. Nguyên lai rất nghèo, ất mão vận xung chế dậu, giáp dần vận hội vượng rồi ấn cục, phát tài20 năm. Quý sửu vận bất hảo, đinh sửu năm phá tài, vốn là vì huynh đệ đảm bảo30 vạn nguyên, huynh đệ cấp không được, hắn hoàn lại đích ngân hàng. Hắn lấy3 vạn nguyên lập nghiệp, vốn là tiếp nhận [một người/cái] tự động cánh cửa thị trường( Nguyên lai là phía nam người tố đích, nguyên nhân tố không nổi nữa, giá thấp chuyển làm cho, hắn tiếp nhận sau khi thị trường bắt đầu hỏa bạo, quá mấy ngàn vạn).) cấp trên ghi chép phá tài bộ phận cùng nguyên tư liệu có xuất nhập. Nguyên tư liệu như sau:

Kiếp tài mậu vi kị thần, cho nên hắn đích tiền từng bị một biểu huynh đệ đã lừa gạt hai lần. Trong đó mậu dần năm, mậu thổ tới rồi, vì huynh đệ tổn hại qua tài. Canh thìn năm vừa là kiếp tài năm phần, vì huynh đệ đảm bảo đích30 vạn thải khoản hữu khứ vô hồi, ngân hàng tìm hắn hoàn lại khoản, cho hắn chọc rất nhiều phiền toái.

Nhàn chú: Kỷ giáp hợp, thời hạ thú nhất định phải dụng; mão ngọ thú thành xu thế, chế rồi thương quan, như năm tháng thủy ẩm ướt thổ vượng thì phản cục! Nội thực thần tố xí nghiệp đích, cái này mệnh trong quý vi tài, ngọ cũng vi tài, dậu cũng là tài! Ất mão vận, mão xung dậu, giàu to rồi tài! Nhưng mão ngọ phá vi huynh phá tài! Tị đến, tỉ kiếp đến, tỉ kiếp phân lộc! Tị đến mậu đến, bính thìn vận bất hảo, thìn sinh rồi dậu, vọt thú, thìn vận phản cục, bính mậu [một người/cái] tượng, tiểu hài tử thời, đem lộc làm tài xem! Huynh đệ nhiều! Ất mão vận bính tử vận phát tài, hôn bất hảo! Tiểu lão bà tài25-26 tuổi, nam mệnh tỉ kiếp nhiều tìm tiểu đích! Dậu làm vợ, thú trung tân vi tiểu đích, nguyên nhân vốn là thú mặc dậu, cho nên, có tiểu đích sau khi tái ly hôn đích! Rất khó tài cách điệu!

Càn: Quý mậu canh nhâm

Mùi ngọ thân ngọ

Đại vận: Đinh bính ất giáp quý nhâm

Tị thìn mão dần sửu tử

Này tạo bát tự không có tài, lộc làm tài phú xem, hành quý sửu vận phát tài( Bảo vệ rồi thân lộc thêm khai tài khố).92 năm,93 năm bắt đầu khởi bước làm cho dược phẩm( Bảo kiện phẩm),95 năm,96 năm phát đại tài, tòng nghèo quang trứng trở thành ngàn vạn lần phú ông. Vì sao tại95 năm sau phát? Bởi vậy tạo canh sinh vu hạ qua nhiệt, ất hợi tiến vào hàn đích lưu niên, hối hỏa hộ kim. Có người hội hỏi: Sửu vận lộc thần nhập mộ, vì sao hội phát? Này nguyên nhân mệnh trung có ngọ mùi, sửu mùi xung, mộ khố bị mở ra mà sẽ không mộ kim.2000 canh thìn năm đã hành hết sửu vận, sẽ không tái phát tài, lúc này phát tài đã qua ngàn vạn lần, trí biệt thự, tiểu xe an hưởng lúc tuổi già.

Nhàn chú: Lưỡng ngọ kẹp chế thân, chế bất tử. Bát tự không có tài, mà thực thương nhược, lấy thân lộc làm tài xem! Tẩu đại vận sửu vận thời, thân nhập sửu mộ, sửu vọt mùi tài khố, tài khố rốt cục cùng chủ vị liên lạc thượng rồi, mùi vi dược chi tượng. Phát tài ngàn vạn lần!

Nhị, thương thực làm tài

Bát tự không có tài tinh, đã có thương thực tinh, lấy thương thực làm tài phú xem; bát tự có tài, thương thực vốn là ngoài nguyên thần, có thể làm đầu tư chi tài. Thương quan vi mưu vi, kinh doanh chi tài; thực thần vi tư tưởng, não lực chi tài. Thiên can đích thực biểu tư tưởng, địa chi đích thực biểu xí nghiệp.

Khôn: Ất mậu quý ất 

Mão tử sửu mão 

kỷ canh tân nhâm quý

sửu dần mão thìn tị

Nội thực thần, năm thời vây quanh kết cấu, quy mô rất lớn, trước mắt tài30 tuổi hơn, đã rất phú. Tân mão vận năm thứ nhất canh thìn năm mấy ngàn nguyên khởi bước, bây giờ có bảy, tám trăm vạn. Nhâm thìn vận bất hảo, muốn đánh quan tòa, trôi qua cũng rất lợi hại rồi. Quý tị đại vận rất lợi hại.

Nhàn chú: Mậu quý hợp, tử sửu hợp vốn là nhật chủ quản lý khống chế ý! Tân mão vận tài đến, nhưng canh thìn năm ứng không được tốt, vì sao tốt lắm không rõ; nhâm thìn vận, bất hảo, là nguyên nhân thìn mặc mão tài chi cố!

Khôn: Kỷ mậu nhâm quý

Dậu thìn thân mão

kỷ canh tân nhâm quý

tị ngọ mùi thân dậu

Bát tự không có tài, lấy thương quan làm tài phú tinh. Mão mộc tại thời thượng, mão thân hợp, bị ngồi chi hợp chế, vốn là chế dụng tổ hợp, hợp lại thì có tài rồi. Tiến hành phòng ốc khai phát cùng mướn, hiện hành tân mùi vận, thương quan cục hội vượng, tài vận tốt đẹp. Hôn nhân bất hảo, có phó cung. Đầu phu đánh cuộc thiếu1000 vạn nguyên làm cho nàng hoàn lại. Nhị phu cũng bất hảo. Chính mình có chuyện quan trọng, lão công đều là phế vật. Mùi vận tố phòng địa sản, chỉ làm cánh cửa mặt, không cái đại lâu. Bây giờ vi nhâm thân vận, hoàn lại tố phòng địa sản, nhưng nghĩ muốn làm cho siêu thị, còn không có biến thành. Năm tháng không làm công, cố lão công vốn là phế vật.

Nhàn chú: Thân hợp mão đến chế mão, mậu quý hợp, quý mão mang tượng, phải nói mậu cũng có chút công? Mậu thìn một trụ mang sát tượng, thêm thân thìn bán hợp, nhưng nguyên nhân thìn mão hại, phá hủy, không làm quan rồi! Thìn vi lão công, lão công đến phá hư tài! Thêm thìn dậu hợp, mà kỷ dậu cũng là mang tượng, nơi này kỷ vốn là lão công; khác mượn thân phu cung xem, dậu là phó cung cũng là lão công! Mặc phu tinh, hôn không đẹp, lưỡng hôn! [hai người/cái] lão công cũng phá của nàng tài! Thân khắc ở thời thượng vi phòng ở, thân hợp mão tài chi tượng chính là lấy phòng ở cầu tài! Ấn nhiều chỗ lộ vẻ, nhiều chỗ có phòng! Quý vi trụ hộ, hợp mậu, mà mậu thìn một trụ cũng vi phòng ở~

 Càn: Giáp mậu quý kỷ

Thìn thìn mão mùi

kỷ canh tân nhâm quý

tị ngọ mùi thân dậu

Này tạo không có khí thế, chủ vị chi mão hại chế quan tinh thìn thổ( Thìn thổ thổ tính chất vốn nhược, thân mình thêm dưỡng giáp mộc, cố mộc có thể chế chi), thương thực chế quan chi cục, mệnh có quan chức. Bát tự không có tài, lấy thương thực làm tài phú xem. Thực thần vốn là tài chi nguyên thần, cũng chính là tài phú chi ngọn nguồn, ngân hàng không thể nghi ngờ, cố vốn là một quản lý ngân hàng đích quan viên.

Nhàn chú: Nguyên lai thời thìn sai lầm rồi, xác nhận mùi thời không phải giờ Mẹo! Giáp kỷ hợp mậu quý hợp, mão mộc thực thần hại chế rồi thìn quan, mùi vi thực thương khố hợp mão, hợp nguyệt thượng quan vi quản lý khống chế, thực thương khố thêm vi ngân hàng chi tượng, sinh tài đích địa phương! Cho nên, vi ngân hàng quan! Nhâm thân vận, mão thân hợp, mão có công, tài vận tốt đẹp! Tới rồi quý dậu vận, nguyên cục vốn là hại chế tố công, nhưng dậu hợp rồi thìn, vọt mão, phản cục rồi! Thấy thìn vi lao ngục! Ngồi lao!

Càn: Canh ất quý canh   khổng tường hi?

Thìn dậu mão thân

Nhật chủ ngồi thực thần, mão thân hợp, ất canh hợp, đem thực thần chế sạch sẽ rồi. Chính mình đích thực thần bị ấn cấp chế sạch sẽ rồi, ấn tỏ vẻ quyền lực, thực thần làm tài phú, cho nên cái này mệnh vốn là chưởng quản cự tài chính là nhân vật. Từng đảm nhiệm Quốc Dân Đảng trung ương ngân hàng hành trường, tài chính bộ trưởng, hắn bản thân cũng là cự phú. Chế tài chi nguyên thần đích tài phú cấp bậc tỉ chế tài nên đại.

( Rất nguyên xã hội đen lão Nhị Tứ Mao Tử)

Càn: Nhâm kỷ tân kỷ

Tử dậu dậu sửu

Đại vận: Canh tân nhâm quý

Tuất hợi tử sửu

Này tạo kim thủy thương quan không gặp tài quan, thương quan làm tài phú xem. Tử sửu hợp, tử hợp đến sửu vị, hợp bán mà chế. Hành nhâm vận tẩu hắc đạo phát tài mấy ngàn vạn; tử vận cũng phát, nhưng ngồi lao rồi, tân tị năm bị chộp, nhâm ngọ năm phán ở tù chung thân. Ngồi lao đích nguyên nhân là phản cục rồi, thủy nhiều kim trầm cũng đúng. Nguyên nhân nguyên cục vốn là sửu cố định tử thủy, tử vận thủy rất vượng rồi, đem sửu xung đi, phản cục rồi.( Có thương quan gặp quan đích ý tứ)

Nhàn chú: Nguyên cục hợp, ngọ xung phản rồi, thấy sửu dậu vi lao ngục, kim thấy thủy trầm cũng là lao ngục! Khác tân dậu thấy sửu vi xã hội đen!

( nguyên xã hội đen lão Đại Tam Ma Hổ)

Càn: Mậu bính giáp quý

Thân thìn dần dậu

Cũng là lấy lộc làm tài, kỷ mùi vận quá, canh thân vận bị chộp, ất dậu năm hợi nguyệt bị xử bắn. Nguyên cục bính thực tại nguyệt thượng hư thấu, hỉ đọc sách, nhất là hỉ tư trì thông giám, trí nhớ lực vượt xa người thường, có thể nhớ kỹ1000 nhiều một điện thoại. Dần thân xung cùng pháp luật đối kháng rồi. Sống mộc bị thương chỉ sợ sinh, cả đời sẽ chết. Nhàn chú: Bính tại nguyệt thượng vì nước học, vi tiếng Trung! Nơi này giáp dần ngay cả thể, không thể phá hư. Kim thủy âm chế rồi dương, vi đen tài? Cũng chết ở này cấp trên!

Quyết: Giáp dần nhật chủ nếu như vốn là sống mộc nói trí nhớ lực vượt xa người thường.

Càn: Nhâm ất ất giáp

Tử tị tị thân

bính đinh mậu kỷ

ngọ mùi thân dậu

Này tạo chủ vị thương quan hợp quan chế chi, nhưng nguyên nhân niên thượng tử thủy ấn phá hư thương quan, thương quan không có khí thế, cho nên chế chi hiệu suất không cao, bản thân văn hóa không cao( Nguyên nhân ấn tố kị thần), cũng không có thể làm quan, thương quan làm tài phú xem. Cho nên khai điếm việc buôn bán, hành mậu thân vận, tị thân hợp đến vị, tài vận không sai. Ước chừng mở [bốn người/cái] cánh cửa mặt, hợp rồi bốn lần chi cố. Tố trang phục sinh ý.

Nhàn chú: Tị thân chế rồi, nhưng quan ấn một nhà, nhâm tử không có chế, cho nên, không làm quan! Nơi này tị vi tài, thân chế vô cùng cũng vi tài! Nơi này nguyên cục vi nội thực thần cách, nhưng ngọ mùi thân đại vận tị thấu thiên can rồi, không làm xí nghiệp, tố cánh cửa mặt! Thực vi tài, tử âm mộc ất sinh chi, vốn là vi mở cửa mặt tố trang phục sinh ý đích!

Khôn: Bính nhâm tân kỷ

Thân thìn dậu hợi

Này tạo vi đại xí nghiệp nhà, nhật chủ ngồi lộc, thời thượng thương quan mang tài, thương quan làm tài phú xem( Nội thương quan mang tài nhập mộ thêm hợp quay về chủ vị). Nhập nguyệt lệnh thìn mộ, thìn nơi này chính là quản lý tài phú đích ý tứ, thìn hợp đến chính mình đích lộc, biểu hiện chính mình có được như vậy đích quyền lực. Cho nên hắn vốn là một khổng lồ xí nghiệp đích tổng giám đốc. Hành đinh hợi vận thương quan hợp sát, thương quan đến vị, đang lúc quyền. Vốn là Trung Quốc công nghệ phẩm công ty tổng giám đốc. Đinh hợi vận tốt lắm, bính làm đối tượng, Thái Hư rồi, thìn ấn hợp rồi dậu, làm phu xem, thìn rơi không vong, cố cùng phu không có ở đây cùng nhau, hàng năm bên ngoài, phu vốn là trú ngoại đích quan ngoại giao. Thân không phải phu thê phó cung, vốn là tỉ kiếp. Nguyên lai đàm đích đối tượng theo người khác tốt lắm, bính Thái Hư đích duyên cớ.

Nhàn chú: Hợi thấy ẩm ướt thổ, thủy nhiều nhập mộ, thìn dậu hợp, thìn hợp đến chủ vị, thêm thìn vi ấn chủ quyền, chủ quản lý khống chế! Bính tân hợp, thân vi [người/cái kia] xí nghiệp, tại niên thượng vi phương xa vi ngoại xí; thìn vi thương quan( Nhâm thấu) khố, vi nhà xưởng, nhâm thìn vi chính mình đích xí nghiệp( Tại nguyệt lệnh vì nước có, rất lớn đích). Hợi gắn liền với thời gian thượng( Nửa chủ vị) vi nội thực thương vi xí nghiệp, nhưng hợi nguyên thân thấu tại nguyệt lệnh nhâm rồi, cho nên, thêm tố tiêu thụ! Bính không làm quan, nguyên nhân nhâm vọt, cũng không vi lão công vi hôn tiền bạn trai! Lộc hợp ấn không vi đào hoa( Lộc hợp tài quan sát thương thực vi đào hoa); hợi vi thương quan vốn vi nhân, nhưng hợi thân mặc, sinh nữ; khẩu quyết: Hợp niên thượng đích quan, chính mình vi lão Đại.

Nói rõ bát tự quẻ thật lệ:

Bính nhâm nhâm đinh

Tuất thìn thìn mùi

Đáng nhật Trần phúc như tiền bao ở xe mất, hỏi về có thể không tìm về, lấy mất thời gian khởi bát tự. Tiền bao xem tài khố, bính nhâm xung, thìn tuất xung, vốn là mất ý. Nhưng tuất trung đinh thấu đến lúc đó can hợp rồi trở về, đinh ngồi xuống chưa vào đến thìn trung. Tiền bao nội có2000 nguyên, sau khi đích sĩ tài xế trả lại cảnh sát, cảnh sát tìm được mất chủ, mất chủ vi biểu cảm tạ chi tâm, cho tài xế500 nguyên. Mậu giờ Thân tiền bao tìm trở về. Tiền bao vi màu đỏ.

Nhàn chú: Nhâm đinh hợp, chưa vào thìn khố; thú trung đinh thấu tại thời thượng, đinh mùi mang tượng, cũng chẳng khác thú cũng vào thìn khố( Nhật chi đích), tài không mất chi tượng; nội chế ngoại kết cấu, vọt tài khố; nguyệt thượng thìn vọt tài khố, đâu tiền, thìn vi xe thấy thú vi dịch mã, vi ngồi xe điệu đích! [bốn người/cái] thổ toàn bộ nhập thìn khố, vi4*500=2000, bính tịch thu, bính thú mang tượng vi500 cấp tài xế rồi! Thú vì tiền bao, bính vi hỏa hồng sắc! Mùi hình rồi thú, không phải tân đích, có thể03 năm mua đích?

Tam, quan sát làm tài

Có hai loại tình huống quan sát làm tài:

Thứ nhất: Quan thống tài hoặc tài thống quan, quan sát làm tài phú xem;

Thứ hai: Quan sát có chế, nhưng chế phục không tốt lắm, quan sát có thể làm tài phú xem. Quan sát làm tài phú nhìn lên, ngoài tài phú cấp bậc hội rất cao.

Cái gì vốn là quan sát thống tài hoặc tài thống quan sát? Manh phái lý luận cho rằng, mệnh cục trung quan( Hoặc là sát) nhiều tài ít, tài có thể thống quan( Hoặc là sát); mệnh cục trung tài nhiều quan( Hoặc là sát) ít, quan( Hoặc là sát) có thể thống tài, mặc kệ tài thống quan sát hoặc quan sát thống tài, quan sát cũng làm tài phú xem. Còn có loại tình huống vốn là can tài chi quan( Hoặc là sát), làm quan sát mang tài tượng, quan sát có thể thống tài.

( Chú: Ít chỉ chỉ có một, mà tài quan phải tương liên rồi, tức tài sinh quan rồi, lúc này mới vi tài thống quan hoặc quan thống tài. Mà chích luận nguyên cục, đại vận xuất hiện không tính.)

Càn: Bính canh đinh tân

Ngọ dần hợi hợi

Thời thượng tài thống quan rồi, quan làm tài xem, không lo quan xem. Canh không tính thống lĩnh, hư thấu rồi làm tài hoa nói. Dần khắc ở nguyệt làm đơn vị, quan hợp đích ấn, cho nên có quyền lực. Quyền lực đích chủ yếu nguyên nhân là ấn. Bính tân hợp, kiếp tài hợp tài, không xấu tài thống quan.

Nhàn chú: Ấn hóa sát hợp đến chủ vị, chủ có quan; tân hợi mang tượng, tài ít quan nhiều vốn là vị: Tài thống quan, nơi này quan không chế tẫn quan cũng làm tài xem!

Càn: Đinh nhâm đinh tân

Mùi tử tị hợi

Đại vận: Quý nhâm tân canh kỷ mậu

      Hợi tuất dậu thân mùi ngọ

Tài thống quan, hợi bị tân thống lĩnh rồi. Hợi chính là tài, mượn tượng, nhâm tử cũng là tài. Chỉ huy, tỏ vẻ quan cùng tài đều là tài phú. Tẩu đinh mùi vận một chế tài nhân tiện phát tài rồi.

Chú ý: Phải cùng nhật chủ có liên quan hệ, nếu không cũng vô tình nghĩa.

Quan sát chế vô cùng làm tài xem lệ.

Khôn: Giáp mậu bính giáp

Ngọ thìn ngọ ngọ

Đại vận: Đinh bính ất giáp quý nhâm

      Mão dần sửu tử hợi tuất

Quan sát nấp trong khố trung, chế không tịnh, làm tài xem. Tử vận nhân tiện giàu to rồi, quý hợi vận cũng phát. Nguyên nhân thủy dẫn ra tới. Ngàn vạn lần phú ông.

( Chú: Vấn đề: Thủy làm tài xem, mộ vu thìn trung thời, nếu gặp thân dậu vận sinh thủy, có hay không cũng có thể phát tài?)

Nhàn chú: Này tạo vốn là chế không được lão tử, đem con mình chế rồi! Có tứ lạng bạt thiên cân chi công hiệu!" Thủy làm tài xem, mộ vu thìn trung thời, nếu gặp thân dậu vận sinh thủy, có hay không cũng có thể phát tài?" Nọ vậy cũng phải xem có công vô công? Có công là có thể phát tài!

Càn: Ất kỷ nhâm tân

Tị sửu thìn sửu

Đại vận: Mậu đinh bính ất giáp

      Tử hợi tuất dậu thân

Này tạo ẩm ướt thổ quan sát thành xu thế, một vị tài tinh bị quan sát tiết tẫn, tị hỏa tài tinh cùng quan tinh sửu thổ tướng củng, quan nhiều mà tài tinh ít, tài có thể thống quan, tất cả sửu thổ quan tinh nơi này cũng mà khi tài phú xem. Nguyên nhân sửu nhập thìn mộ, đều quy về chính mình, cho nên hắn sẽ có cự phú. Hành tuất vận, xung khai thìn mộ, phát tài kể ra triệu.

Nhàn chú: Tị tài sinh rồi sửu quan, song sửu vào chủ vị thìn khố, mộ dụng tố công. Quan sát làm tài xem, cấp bậc nên đại gấp đôi. Nơi này ất tị vốn là mang tượng, ất cũng mà khi tài xem! Tẩu thú vận xung khai thìn khố, phát5 năm tài, có5 triệu tư sản!

Càn: Giáp bính bính mậu

Thìn ngọ thìn tuất

Đại vận: Đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý

      Mùi thân dậu tuất hợi tử sửu

Này tạo hỏa cùng táo thổ có xu thế, thìn tuất xung, tỉ kiếp khố chế quan khố, nhưng cục trung lưỡng thìn một tuất, xung chế bất quá, niên thượng thìn không có chế, nhật chi thìn hay là có chế đích, tỉ kiếp thực thương chế quan sát khố, chế quan sát không sạch sẽ, quan sát làm tài phú xem. Hành vận tới kỷ dậu chi dậu vận, dậu cùng niên thượng thìn tướng hợp, hợp bán [một người/cái] thìn, chủ yếu là nguyên nhân thiên địa hợp bán rồi, đem muốn dồn gì đó hợp bán rồi, cát, không cần phải xen vào hắn rồi, chỉ cần chế mặt trời lên cao đích thìn là được, nhật chi chi thìn bị tuất xung chế tố công lớn, này vận phát tài kể ra triệu( Chế rồi quan sát khố, cố Tài Đại), kinh doanh địa sản. Hạ bước vận tuất tới rồi, rất tốt, có thể phát [mấy người/cái] triệu. Trước tố địa sản, sau khi tố bó củi gia công, vốn là Á Châu lớn nhất đích bó củi gia công xí nghiệp, thìn trung có mộc, tuất loại địa sản, dương mộc sinh hỏa vi tố nhà đều đích. Kỷ dậu vận vừa lúc phá hủy giáp thìn mộc, chém thụ tố nhà đều rồi.

Càn: Kỷ giáp bính canh

Hợi tuất dần dần

Đại vận: Quý nhâm tân canh kỷ mậu

      Dậu thân mùi ngọ tị thìn

Này tạo mộc hỏa có xu thế, cục trung hợi thủy sát tinh cô nhược, bị kỷ thổ cùng tuất thổ chế, dần hợi hợp, thủy bị mộc hợp, chế chi không hoàn toàn, thất sát làm tài phú xem( Mộc hỏa thế muốn dồn kim thủy, tuất khắc thủy lực lượng tiểu, kỷ hợi tự hợp chỉ là hợp hợi trung giáp, cho nên thủy không có chế, cố quan chế không được, dần hợi hợp, trở lại chủ vị rồi, vi chiếm được). Hành canh ngọ vận, ngọ vốn là kỷ, ngọ hợi ám hợp, dần ngọ tuất tam hợp tỉ kiếp cục, tỉ kiếp chế quan sát rồi, dựa vào [mấy người/cái] huynh đệ dựng nghiệp bằng hai bàn tay trắng, thành cự phú. Nếu nên lấy canh kim xem tài phú, thì vô luận như thế nào xem không được phú mệnh. Kỷ tị vận, kỷ tạm được, tị vận bất hảo, tị vận dần tị hại, tị vi tỉ kiếp, huynh đệ trung có một muốn chết, trước mắt hắn đích [một người/cái] huynh đệ có nghiêm trọng đích đường nước tiểu bệnh. Đến lúc đó gia sản nên phân hóa, tị hợi một xung, cái này cục nhân tiện phá hủy. Thủy chế quá nhiều rồi. Muốn chết đích huynh đệ vốn là chúc con chó đích, nguyên nhân tị vốn là tòng tuất trung xuất vi đích.

 Càn: Bính tân đinh nhâm

Ngọ mão mão tử

Đại vận: Nhâm quý giáp ất bính đinh mậu

      Thìn tị mậu mùi thân dậu tuất

Này tạo cũng là quan sát nhiều mà tài ít, quan sát làm tài phú xem. Bính tân hợp, tài bị bính kiếp hợp, ngồi xuống ngọ cùng đinh làm một nhà, kiếp tài được tài, nhưng này công tiểu. Thời thượng nhâm tử làm tài phú xem, nguyên cục khó khăn chế, nhưng hành giáp ngọ vận, xung chế tử thủy, chế chi được tài, này công trọng đại, phát tài ngàn vạn lần. Nhàn chú: Ngọ= đinh, mà bính hợp rồi tân, đinh nhâm hợp, như vậy tài quan nhân tiện gián tiếp liên hệ rồi! Quan sát chế vô cùng làm tài xem! Tỉ kiếp hợp rồi tài, hôn không thuận, thêm ngọ mão phá, tử mão phá, tinh cung cũng không tốt lắm~ tới cận không có hôn, chỉ là vi phụ nữ dùng tiền! Ngọ vận phát tài, mùi vận cũng phát tài, nguyên nhân mùi mặc tử có công, nơi này quan làm phụ xem, phụ hoàn lại kiện tại!

Càn: Tân canh bính đinh

Mão tử thân dậu

Này tạo mãn cục tài tinh, nguyệt lệnh tử thủy quan tinh một vị, vốn là tài nhiều quan ít, quan có thể thống tài, quan có thể làm tài phú xem. Chế quan có thể được tài, hành ất mùi vận, hại ngã quan tinh, phát tài mấy trăm vạn. Nhàn chú: Canh tử mang tượng, thân tử sinh hợp, này đây quan thống tài rồi! Nhật chủ hợp tài, thân nhược tài nhiều, nhưng như tài có công rồi cũng có tài, phú mệnh! Ất mùi vận phát tài rồi, mùi vận mùi mặc tử, chế rồi tử thủy, chẳng khác dắt ở lỗ mũi trâu! Cũng= chế rồi tài! Ất vận mở cửa chẩn,( Chính mình trước kia vốn là một không tốt lắm thầy thuốc) mùi vận tố phòng địa sản! Tìm một mang con mình tới lão bà, hôn sau khi thêm sinh rồi [một người/cái] con mình. Thân vi lão bà, tân vi tình nhân! Canh tử mang tượng, canh= thân, mão trước phá tử= phá thân, cho nên, lão bà vốn là nhị thủ đích, không phải vừa ráp xong! Tử thấy tài vi nhân, canh tử mang tượng bán hợp thê cung, mang theo con mình giá lại đây! Dậu vi tài hay là nhân! Xem ra này mệnh trung đầy đất vốn là nhân!

Càn: Quý bính mậu giáp

Mão thìn thân tử

Này tạo thân tử thìn hợp thành tài cục. Niên thượng quan tinh mang tài tượng, thời thượng tài tinh mang quan tượng, tỏ vẻ cái gì đây? Thứ nhất, tỏ vẻ niên thượng quan tinh làm tài phú xem; thứ hai tỏ vẻ thời thượng chi tài là đực nhà chi tài, không hoàn toàn vốn là chính mình đích tài. Mão thân chi hợp, chủ vị chi thực thần hợp chế quan tinh, tỏ vẻ chính mình vốn là tài phú đích quản lý người. Tống thượng phán đoán, người này vốn là một nhà đại xí nghiệp giám đốc người, thực tế đúng là.

Nhàn chú: Quý mão cùng giáp tý cũng mang tượng, nguyệt lệnh vi công nhà đích tài; mão thân hợp kéo quay về chủ vị!

Càn: Ất ất mậu giáp

Tị dậu tử dần

Này tạo chỉ có ngồi chi một vị tài tinh, nhưng lại quan sát trọng nhiều, tài thống quan sát, quan sát làm tài phú xem. Thời thượng giáp dần vốn là chủ vị chi sát, tỏ vẻ chính mình đích tài phú. Hành tới ngọ vận, xung khứ tử thủy, rời xa thông dần mộc, phát tài kể ra triệu.

Nhàn chú: Chủ vị đích tử tài sinh rồi dần mộc, tài thống quan! Ngọ vận vọt tử thủy, mộc biến tử mộc, xác nhận tố phòng sản phát đích?

Càn: Mậu giáp mậu đinh 

Tử dần thìn tị  

ất bính đinh mậu kỷ

mão thìn tị ngọ mùi

Này tạo chủ vị thìn trung chi tài, củng đến niên thượng tử, tử thêm sinh sát tinh giáp dần, nơi này cũng không vốn là tài nhiều sát ít, cũng không phải sát nhiều tài ít, vốn là tài sát tương đương, nhưng tài sát tương liên, mà thất sát tinh tại nguyệt lệnh tân vị, cũng có thể tỏ vẻ tài phú, chỉ là biểu đạt này tài không phải chính mình đích tiền, mà là công nhà chi tài. Hành mậu ngọ vận, xung khứ tử thủy, rời xa thông dần mộc, chính mình vốn là giám đốc, chưởng quản kinh doanh, phi thường cảnh tượng; đến kỷ mùi vận, kỷ vận vừa đến, giáp kỷ hợp, chẳng khác giáp mộc quan phương chi tài bị người khác hợp đi, kết quả kinh doanh trung bị lừa gạt, công nhà tổn thất thảm trọng, chính mình tham rồi quan tòa, phá tài thêm thất trách. Nhàn chú: Tử thủy sinh rồi dần mộc, dần quan cũng vi tài! Kỷ vận kiếp tài hợp rồi quan= hợp đi tài. Tham là bởi vì vi thìn hợp rồi tử thủy!

Càn: Ất canh đinh tân

Tị thìn mùi hợi

Xem này tạo cũng không mỗ một phương đích khí thế, cũng không có chế cục, nhưng chúng ta cẩn thận phân tích bát tự, đã có công lớn. Đầu tiên là tài nhiều quan ít, quan thêm mang tài tượng, vốn là quan thống tài, nơi này đích quan tinh tỏ vẻ rất lớn đích tài phú; lại nhìn hợi nhập thìn mộ, nguyệt lệnh chi quan mộ tỏ vẻ một thật lớn đích tài phú tập đoàn; cái này thìn mộ như thế nào cùng chủ vị phát sinh liên hệ đây? Lại nhìn thìn thổ mang canh kim tài tinh, mà có ất canh hợp, canh kim bị ất mộc viện khống chế; ất mộc vừa lúc nhập mộ vu chủ vị chi mùi, mà có hợi mùi củng chi, cho nên cục trung cả tài phú cũng tại chính mình đích trong khống chế. Thực tế hắn là một nhà khổng lồ thượng thị công ty chủ tịch, chưởng quản hơn mười triệu tài phú. Nhàn chú: Ất tị, tân hợi mang tượng tài quan tương sinh, ất nhập mùi vốn là mấu chốt, tị sinh rồi thìn, mùi hợi bán hợp nhập thìn mộ.

 Càn: Quý bính bính giáp

Mão thìn ngọ ngọ

ất giáp quý nhâm tân canh

mão dần sửu tử hợi thú

Này tạo mộc hỏa có xu thế, ý tại khứ quan tinh quý thủy, nhưng cục trung quý thủy cao thấu không có chế, thêm thìn trung chi thủy không có tuất xung, mộ không ra, cho nên chế thủy chế bất hảo. Quan sát chế bất hảo có thể làm tài phú xem, cho nên người này chích phát tài sẽ không làm quan. Hành vận tẩu nhâm tử thủy vận, dẫn ra thìn trung chi thủy bị được chế, kinh doanh giả bộ hoàng tài liệu, phát tài mấy trăm vạn. Nhàn chú: Chế rồi con mình, phát tài! Mão vi kiến tài. Mão ngọ phá vi tỉ kiếp phá ấn, mão tại niên thượng vi đùi phải! Sửu vận phản cục, sửu mặc ngọ; hợi tử vận phát tài!

Càn: Bính canh canh bính 

Thân tử tuất tuất 

tân nhâm quý giáp ất bính

sửu dần mão thìn tị ngọ

Canh thân tử kim thủy gắn bó một đảng, quan sát( Khố) cũng lợi hại, nhị đảng đối kháng, quan sát khẳng định chế không sạch sẽ. Nguyên cục sát nhập chủ vị, muốn dồn phục, nhưng nguyên cục tuy có thân tử chi thủy cục, kim thủy khí thế còn có, nhưng tuất không có hình xung, sát tinh không có chế, không được tốt lắm mệnh. Nhưng hành vận tới giáp thìn vận( Chi thìn vận), thu về thủy cục, xung chế sát khố( Mở quan sát khố), vi chế sát lấy tài, kết doanh địa sản, phát tài ngàn vạn lần. Ất tị vận lại không được rồi, canh thân cũng ngay cả thể rồi, cho nên không thể chế thân, như không có canh tử tương liên, chế rồi thân nhật chủ cũng không sự tình, nhưng lục thân bất hảo.

Nhàn chú: Tài quan lâm khô
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tài mệnh chuyên tập

Đàn ông lấy vợ tuổi nào hưởng phú quý suốt đời

Đàn ông lấy vợ tuổi nào thì được hưởng phú quý suốt đời? Xem tuổi vợ nên lấy để tình duyên và tài lộc đều thuận lợi.
Đàn ông lấy vợ tuổi nào hưởng phú quý suốt đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Người phụ nữ, người vợ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong gia đình. Ngoài quán xuyến việc nhà, họ còn là trợ thủ đắc lực, là chuyên gia tư vấn và là bạn đồng hành giúp chồng thành đạt, hưởng vinh hoa phú quý trọn đời.

  Cùng ## tìm hiểu đáp án thú vị cho câu hỏi: "Đàn ông lấy vợ tuổi nào thì được hưởng phú quý suốt đời?" dưới đây nhé!

12 con giáp đón tin vui gì trong nửa cuối năm 2016? (P2) 12 con giáp đón tin vui gì trong 6 tháng cuối năm 2016? (P1) 3 con giáp sinh ra đã mang mệnh phú quý hơn người
1. Lấy vợ tuổi Hợi
   Được trời phú cho những vận may về tài chính, người tuổi Hợi kiếm tiền không mấy khó khăn. Khi còn một thân một mình, con giáp này tiêu xài phóng khoáng tới mức làm bao nhiêu tiêu bấy nhiêu, tận hưởng tối đa thành quả đạt được.   Nhưng một khi đã yên bề gia thất, họ biết cách vun vén khéo léo, thậm chí chăm chỉ làm việc hơn nữa, xông pha thương trường để làm giàu cùng ông xã.   Thêm nữa, sở hữu trí tuệ thông minh, cô nàng tuổi Hợi học một biết mười, nhanh chóng nắm bắt được kĩ năng kinh doanh, giúp cả sự nghiệp của bản thân và người chồng phát đạt, thu về thành quả đáng nể.   Cái duyên với tài chính của người tuổi Hợi “lây” cả sang cho chồng. Chính vì thế, kinh tế gia đình ngày càng khởi sắc, tăng trưởng theo cấp số nhân. 
Dan ong lay vo tuoi nao huong phu quy suot doi hinh anh 2
 
2. Lấy vợ tuổi Tuất   Thời “trẻ trâu”, cô nàng tuổi Tuất cũng thích ngao du đó đây, tự lực cánh sinh đi tìm “vùng đất hứa” để phát triển sự nghiệp. Bất chất mọi gian khó, trở ngại, họ vẫn bình thản đối đầu, thật ngạc nhiên, thành quả mà con giáp này gặt hái được rất bất ngờ.   Khi bước vào cuộc sống hôn nhân, nhất là khi đã có con, cô vợ tuổi Tuất càng làm việc chăm chỉ và hết lòng hết dạ vun vén cho gia đình. Thay vì đao to búa lớn, họ chỉ âm thầm lặng lẽ phấn đấu. Chính nhờ “nhân tố bí ẩn” này, các ông chồng mới vững gan bền chí lăn lộn trên thương trường vì đại nghiệp.   Sở hữu tài năng kinh doanh nhạy bén, lại có thêm cái đầu lạnh, không bao giờ đầu tư mù quáng hay nhẹ dạ vì tình yêu mà chi tiền vô cớ, cô vợ tuổi Tuất liên tục kiếm được những “đồng tiền khôn”, một vốn bốn lời, đầu tư bao giờ cũng có lãi lâu dài. Bởi thế cho nên, tài chính sẽ đi lên theo chiều hướng tốt, phát triển nhịp nhàng và ổn định, rất bền vững.  
Dan ong lay vo tuoi nao huong phu quy suot doi hinh anh 2
 
3. Lấy vợ tuổi Dần   Trong 12 con giáp, tính khí của cô nàng tuổi Dần có vẻ mạnh mẽ và kiên cường nhất. Bản thân họ cũng có niềm đam mê bất tận với tài chính nên không ngừng phấn đấu và theo đuổi những mục tiêu mang tính thực tế cao như mua nhà, mua xe, sắm đồ hiệu…   Trong tình cảm, các quý cô tuổi Dần thẳng thắn, yêu ghét rõ ràng. Họ không ngại ngần bộc bạch và chia sẻ tham vọng chính đáng của mình trước mặt đối phương. Với họ, sống trong giàu có và danh vọng để cách tốt nhất để được người khác ngưỡng mộ.   Ngoài việc đầu tư có chọn lọc, tính toán kĩ càng, con giáp này cũng khá “mát tay” trong kinh doanh. Số tiền họ kiếm được không phải là ít. Cộng thêm với thói quen tích lũy tiền bạc, giảm chi phí thừa thãi của bản thân để lo cho gia đình, nguồn tài chính của gia đình họ ổn định và phát triển bền vững, đời con cháu sau này cũng được thơm lây.   Lấy được người vợ đảm, khả năng làm việc cũng ngang ngửa như chồng, càng khiến ông xã của các cô nàng tuổi Dần phấn đấu kiếm tiền chăm chỉ, miệt mài hơn. Vợ chồng “song kiếm hợp bích”, kiềm tiền làm giàu chỉ là chuyện nhỏ.
Dan ong lay vo tuoi nao huong phu quy suot doi hinh anh 2
 
4. Lấy vợ tuổi Mão   Tính tình điềm tĩnh, ôn hòa, phong thái cư xử khéo léo, đĩnh đạc, cô nàng tuổi Mão luôn tạo cảm giác an toàn, từ nhỏ đã chẳng bao giờ khiến bố mẹ phải lo lắng, phiền lòng. Tuy nhiên, sức khỏe của con giáp này không lý tưởng cho lắm, hay mắc bệnh vặt nên cũng tốn kém đôi chút trong việc lo thuốc thang.   Thiên sinh cho con gái tuổi Mão đôi chút sự lười nhác và khá tùy tiện. Đây là nhược điểm nhưng đồng thời cũng có mặt tốt. Như vậy, họ rất dễ sống, dễ thích nghi và chịu khó thay đổi cho phù hợp với yêu cầu công việc mà chẳng mấy khi phàn nàn, đòi hỏi.
 
Khi còn trẻ, con giáp này cũng không tích lũy được nhiều, bởi bản thân họ không quá mưu cầu tài chính. Với họ, cuộc sống là do mình làm chủ, sống sao cho thoải mái, vui vẻ là được, mải mê kiếm tiền sẽ khó mà cảm nhận được những hạnh phúc bình dị quanh ta.   Nhưng khi đã kết hôn, tài chính chi phối rất nhiều tới hạnh phúc gia đình, người tuổi Mão sẽ nỗ lực giúp chồng “gọi” tiền về. Họ chủ động vun vén, cắt giảm các khoản chi tiêu không cần thiết. Bên cạnh đó không ngừng nghĩ ra những cách thức làm ăn mới của bản thân cũng như trở thành quân sư thông thái, vạch đường chỉ nước cho chồng làm giàu.
► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không

Hoàng Lam

5 con giáp có sự nghiệp thành công rực rỡ nửa cuối năm 2016
Trong nửa cuối năm Bính Thân, cung Lộc tự của người tuổi Sửu xuất hiện Chính ấn trợ lực để sự nghiệp gặt hái được nhiều thành công rực rỡ, giúp bạn nắm thực

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đàn ông lấy vợ tuổi nào hưởng phú quý suốt đời

Gói bánh chưng trong khung cảnh đậm chất dân gian Việt

Cảnh gói, luộc bánh chưng trên sân nhà chùa đẹp nên thơ khi màu xanh của lá dong, màu vàng của đỗ xanh nổi bật cùng sắc đỏ hồng của hoa đào, cam cảnh cùng mái ngói cổ kính.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là một buổi gói bánh chưng nhân chay tại chùa Đại Phúc, Đại Mỗ, Từ Liêm (Hà Nội). 
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 2
Các Phật tử giúp nhà sư trụ trì đầy đủ các công đoạn từ đãi đỗ, vo gạo cho đến luộc bánh.
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 3
Nhà chùa gói khoảng 300 chiếc, dự kiến chủ yếu để vào ngày mùng 1 Tết sẽ phát cho những người đến lễ được mang lộc về nhân dịp đầu xuân. 
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 4
Cảnh gói bánh chưng diễn ra trong một khung cảnh đẹp, đậm nét văn hóa truyền thống người Việt.
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 5
Bộ phận rửa và tước lá dong làm việc phía sau sân chùa.
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 6
Các Phật tử chủ yếu là người trong làng Ngọc Trục, nay thuộc phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm.
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 7
Hàng năm nhà chùa đều làm công việc này mỗi khi Tết đến.
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 8
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 9
Bánh chỉ có gạo và đỗ xanh, không có thịt bên trong.
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 10
Gói đến đâu luộc trước đến đấy, mỗi nồi hơn trăm chiếc.
Goi banh chung trong khung canh dam chat dan gian Viet hinh anh 11
Ngay trong buổi chiều đã vớt được mẻ bánh đầu tiên. Toàn bộ bánh sẽ được đưa lên thắp hương để tán lộc cho khách vãn cảnh chùa ngày mùng 1 Tết.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Gói bánh chưng trong khung cảnh đậm chất dân gian Việt

Bàn tay tầm thường, bàn tay hình nón và bàn tay vuông

NHỮNG MẪU BÀN TAY VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NÓ."Một chỉ tay hay một ấn tượng tốt, không có nghĩa gì cả, mà phải trọn một bàn tay mới là mấu chốt của cuộc đời".Đó là câu mở đầu của bác sĩ J.Ranald cho quyển "KHÁM PHÁ NHỮNG BÍ MẬT CỦA BÀN TAY" này.
Bàn tay tầm thường, bàn tay hình nón và bàn tay vuông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

BÀN TAY TẦM THƯỜNG
Bàn tay tầm thường là bàn tay của những người kém về văn hoá, sống một cuộc đời có thể nói là mộc mạc, thiếu thông minh, cũng như rất chậm hiểu.

Loại bàn tay này có kiểu dáng thô kệch, dày cộm. Ngón to và ngắn, so với lòng bàn tay dường như những ngón ấy không thể nảy nở được, hay nói một cách khác, nó có vẻ sần sượng, móng chè bè ra.

Đây là loại bàn tay của những người suốt đời làm lụng nặng nhọc. Người có bàn tay này không khi nào biết tự vấn, cũng không hề có một sáng gì. Gần như không thiết gì đến vẻ đẹp, vẻ đẹp không làm lay chuyển được họ.

Tuy nhiên họ rất giàu về tình cảm gia đình và lúc nào cũng đặt nặng vấn đề tin tưởng ở vùng thiêng liêng.

Đừng lầm tưởng họ là những người hung bạo, trái lại chính người của bàn tay này lại là những người nhân từ và bản tính rất tốt, không có tánh ganh tị, rất mau nguôi giận và ít chịu oán hờn.

BÀN TAY HÌNH NÓN

Bàn tay hình nón, hay bàn tay hình tam giác cũng thế, nó lớn ở dưới lòng bàn tay và thon thon ở các ngón, thông thường gọi là ngón tay mũi viết. Đầu ngón tay tròn trịa và nhỏ, cũng có khi nhọn, trông có vẻ mỏng mảnh.

Bàn tay mũi viết rất dễ cảm nhưng âm thầm. Nếu lòng bàn tay ướt và mềm mại, là người dồi dào thầm kín, chỉ tiết lộ với người thân thiết bằng lời mà không bao giờ bằng hành động.

Bàn tay mũi viết còn là bàn tay mau hiểu, sáng suốt và ưa tìm tòi, thường thường khám phà một việc gì rất mau. Sáng chói ở xã hội và thích sống chung với những người khác, ưa hoạt động xã hội, thích được nhiều người biết và ưa được hoan nghinh. Về tình ái là người nhẹ dạ non lòng, rất giàu nhân ái đến có thể dễ bị lừa.

Bàn tay mũi viết rất thích sang trọng và huy hoàng, dễ bị tâng bốc và luỵ vì sự tang tụng.

Bàn tay này cũng có thể gọi là bàn tay "mỹ thuật", đa số nhà làm mỹ thuật, thi sĩ, điêu khắc, hoạ sĩ, nhạc sĩ đều có bàn tay này.

Một trường hợp đặc biệt là bàn tay mũi viết có được những đặc điểm thiết thực nhứt của nó, nghĩa là người của bàn tay mũi viết không mộng mơ mà thực tế, khi bàn tay này có những chỉ sâu, đậm và sắc sảo, tuyệt nhiên không có màu sắc mượt ướt như những bàn tay mũi viết khác.

Trường hợp bàn tay mũi viết loại này là trường hợp lừng lẫy nhứt trong cuộc đời của người "mỹ thuật", trái hẳn với những sự mềm yếu của bàn tay mũi viết ướt át.

BÀN TAY VUÔNG

Bàn tay vuông là bàn tay thực tế, ngược lại của bàn tay mũi viết một cách rõ rệt, Từ lòng bàn tay, các ngón tay và những đầu ngón đều có một hình thức như nhau, nghĩa là vuông hay chữ nhật. Muốn phân tích rõ ràng hình dáng của bàn tay nên chận ngang cườm tay và dưới phần cuối các ngón tay, lòng bàn tay từ đó sẽ có một hình vuông hay hình chữ nhật không sai, các ngón tay hầu như bằng với chiều đứng của lòng bàn tay.

Bàn tay vuông là bàn tay của người thực tế, có ngăn nắp, lúc nào cũng sắp xếp cuộc đời thật cẩn thận. Nếu trong lòng tay hay ở các ngón mà không có một ấn tượng gì, hay một chỉ nào phản lại, thì bàn tay vuông là bàn tay thành công trong cuộc đời nhưng rất chậm và tuần tự, do chính sự mẫn cán mà không do bất ngờ. Về phương diện xã hội, bàn tay vuông là bàn tay hay cãi vã, chấp trách, ít rõ ràng, nhưng lương thiện quá mức, đối xử với kẻ tuỳ thuộc rất khoan dung, đối với người trên trước thật thẳng thắn. Bàn tay vuông là bàn tay của người thừa hành có hiệu quả, và người ban hành rất cương quyết.

Điểm kém nhất của bàn tay vuông là không bao giờ chịu thưởng thức mỹ thuật, hay ít ra món mỹ thuật ấy đem lại quyền lợi gì, người bàn tay vuông mới chịu nhìn nhận mỹ thuật. Bàn tay vuông lại ưa chống đối với tiến bộ xã hôi, chế nhạo những phát minh khoa học và cũng xem thường sự huyền bí nữa.

Tóm lại, bàn tay vuông lúc nào cũng tự tin ở mình, lương thiện và ngăn nắp, nhưng say mê lợi lộc, ngay cả tình yêu, bàn tay vuông cũng đặt trên phương diện thực tế: lợi trước, yêu sau. Có thể nói đó là bàn tay khó cám dỗ.

Trích KHÁM PHÁ NHỮNG BÍ MẬT CỦA BÀN TAY
_ Bác sĩ Joef Ranald_


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bàn tay tầm thường, bàn tay hình nón và bàn tay vuông
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd