Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Cô nàng tuổi Sửu chính là con giáp yêu không sợ nghèo khổ, sức mạnh tình yêu sẽ
Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Dẫu có phải “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”, cô nàng tuổi Sửu vẫn bằng lòng “nâng khăn sửa túi” cho nửa kia, miễn sao đó thực sự là tình yêu chân chính.
 


 
Những con giáp thích hợp ăn chay để tăng vận khí

1. Cô nàng tuổi Sửu
  Bản tính chân thành, biết tích lũy tiền bạc, chăm chỉ làm ăn nên các nàng tuổi Sửu chẳng hề lo sợ hay e ngại về cuộc sống nghèo khổ, nhất là khi đã có người tâm đầu ý hợp kề bên.   Khi đã yêu, con giáp này không cần phải đắn đo quá nhiều về mặt kinh tế của đối phương. Bởi với họ, tiền bạc chỉ là thứ phòng thân, người làm ra tiền chứ tiền chẳng thể làm ra người.   Dẫu có phải “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”, họ vẫn bằng lòng “nâng khăn sửa túi” cho nửa kia, miễn sao đó thực sự là tình yêu chân chính. Đây chính là con giáp yêu không sợ nghèo khổ, sức mạnh tình yêu sẽ "thổi bay" mọi nỗi sợ hãi, lo toan về vật chất.    
Lo dien 4 con giap yeu khong so ngheo kho hinh anh
 
2. Cô nàng tuổi Thân   Trong 12 con giáp, tuổi Thân thường ngày thông minh, lanh lợi, có tài ứng biến linh hoạt, xử lý khéo léo là thế, nhưng hễ rơi vào lưới tình, cô nàng tuổi Thân lại chẳng thể tỉnh táo được. Họ bất chấp tất cả để được bên cạnh người mình yêu thương, kể cả sau ngày phải trả giá bằng cuộc sống nghèo khó.   Trong suy nghĩ thường trực của con giáp này, tình yêu có sức mạnh vượt qua mọi sóng gió, trở ngại. Huống chi nghèo khó chỉ là thiếu đi đôi chút về mặt vật chất. Họ sẽ dùng sức mạnh tinh thần, khát vọng của trái tim để biến những điều tưởng như không thể thành có thể.    
Lo dien 4 con giap yeu khong so ngheo kho hinh anh 2
 
3. Cô nàng tuổi Hợi   Ai cũng biết những người tuổi Hợi có suy nghĩ lạc quan trong mọi hoàn cảnh. Nhất là trong tình yêu, dù phải cùng nhau trải qua muôn trùng sóng gió, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc vì bản thân mình dám làm, dám đương đầu thử thách.   Con giáp này luôn nghĩ theo kiểu “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Khi bản thân mỗi người dám làm dám chịu, cuộc sống mới thực sự trở nên ý nghĩa. Họ không hề nghèo khó, trái lại tâm hồn lại rất giàu niềm vui và hạnh phúc.   4. Cô nàng tuổi Mùi   Dịu dàng, lương thiện là ưu điểm trời cho của những cô nàng tuổi Mùi. Đây cũng là mẫu mẹ hiền vợ đảm lý tưởng trong gia đình. Bởi họ coi trọng tình cảm hơn vật chất, sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì người thân yêu.   Vậy nên, dù đời sống vật chất có khó khăn, nghèo khó, đó cũng chỉ là trạng thái tạm thời. Bởi niềm tin yêu, nỗ lực phấn đấu vì một gia đình hạnh phúc của họ cực mạnh, có thể biến những điều không thể thành hiện thực.   Ngân Hà   Điểm mặt con giáp phải đau đầu vì phú quý khi tới Tứ tuần
Mốc 40 tuổi là lúc con người đã được những thành tựu nhất định trong cuộc sống. Hãy điểm mặt những con giáp phải đau đầu vì phú quý khi đến tuổi Tứ tuần.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

5 nét tướng dễ phát tài trong năm 2015

Trán hẹp, trán ngiêng, hay cằm dài... về hình thức thì không đẹp, nhưng về tài vận thì sẽ may mắn và dễ phát tài vào năm nay lắm đó nha.
5 nét tướng dễ phát tài trong năm 2015

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Trán hẹp, thần sắc tươi sáng

Trán hẹp là người cẩn thận, làm việc rụt rè, có phần thiếu can đảm, thường tuột mất cơ hội phát tài, bởi vậy tài lực không nhiều. Nhưng năm Ất Mùi, mệnh Mộc, Mộc sinh Hỏa, trán thuộc Ly Cung, Mộc Hỏa tương sinh, có mệnh phú quý, nên vận mệnh năm nay sẽ có khởi sắc, đặc biệt là người có trán hẹp nhưng sáng sủa, 2015 nhất định là năm phát tài của họ.

2. Cánh mũi mỏng

Tài vận của một người nhiều hay ít đầu tiên phải nhìn mũi, bởi mũi là cung Tài Bạch, mũi lớn nhiều thịt thì tài phú càng lớn. Cánh mũi mỏng theo thời gian dài thì tài vận không tốt. Nhưng có thể nói năm 2015 sẽ là năm tốt lành về tài chính với những người có tướng này hơn bình thường bởi mũi thuộc Thổ Tinh, năm 2015 tài bạch cung mạnh, vì vậy 2015 tài vận của người có cánh mũi mỏng sẽ mạnh hơn, dễ phát tài.

0-6601-1420603988.jpg

3. Trán nghiêng

Người có trán nghiêng lệch hoặc đầu méo, tài vận cũng cực kỳ tốt trong năm 2015, sự nghiệp của họ sẽ thuận lợi trăm bề, tiền vào như nước.

4. Cằm dài

Cằm đại diện cho đường tiền tài của một người. Cằm tròn nhiều thịt, đầy đặn là người có phúc khí; cằm nhọn ít thịt là người phúc mỏng, tài vận không nhiều. Cằm là cung Khảm, tính Thủy, năm Mùi tính Thổ khắc với Thủy, khiến vận mệnh tại Khảm bất đồng, mọi chuyện đều phải cố gắng mới trở nên tích cực hơn. Do đó mà những người cằm dài trong năm nay nếu nỗ lực sẽ đạt được thành công, thu về so với những năm trước lớn hơn rất nhiều.

5. Ấn đường khí sắc tươi sáng, hồng hào

Ấn đường hay còn gọi là cung Mệnh, nằm giữa hai lông mày. Ấn đường thể hiện vui buồn, tài vận, đại vị của một người. Người có ấn đường sáng sủa thì cầu được ước thấy, tài vận dồi dào. Khí sắc Ấn đường thể hiện vận sự trong một thời gian nhất định, nếu nó hồng hào, tím sáng hay vàng rực rỡ thì năm nay vận sự sẽ lên, có thể phát tài, hoàn thành được nhiều tâm niệm đã giữ trong lòng bao lâu.

Kunie (Theo Astro)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 nét tướng dễ phát tài trong năm 2015

Quẻ Quan Thế Âm Đổng Trác Thu Lã Bố

Quẻ Quan Thế Âm Đổng Trác Thu Lã Bố có bắt nguồn như sau: Lã Bố là mãnh tướng thời Tam Quốc, khi còn trẻ dũng cảm
Quẻ Quan Thế Âm Đổng Trác Thu Lã Bố

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Bốn mốt trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Đổng Trác Thu Lã Bố (còn gọi là Đổng Trác Thu Phục Lã Bố). Quẻ Quan Thế Âm Đổng Trác Thu Lã Bố có bắt nguồn như sau:

Lã Bố là mãnh tướng thời Tam Quốc, khi còn trẻ dũng cảm, có sức khỏe, làm sai nha ở Tịnh Châu, sau được quan Thứ sử Đình Nguyên ở Kinh Châu chú ý đến, nhận làm con nuôi, đảm nhiệm chức Chủ bạ. Sau đó, Đình Nguyên và Đống Trác nảy sinh sự bất đồng về vấn đề phế truất vua, dẫn đến động chạm binh đao. Lã Bố dẫn quân ra chiến đấu, nhờ dũng cảm thiện chiến nên nhanh chóng chiến thắng, Đống Trác dẫn quân bỏ chạy, buộc phải lui quân hơn ba mươi dặm mớl hạ trại. Vì thế, Đống Trác nhận định Lã Bố là nhân tài hiếm có, bèn sai đồng hương của Lã Bố là Lý Túc đi thuyết khách.

Điểm yếu lớn nhất của Lã Bố khi ở dưới trướng Đình Nguyên là không có địa vị. Trong thời Tam Quốc, Chủ bạ không phải là chức quan chính thức của triều đình, mà là người tham mưu riêng mà các quan viên tự bỏ tiền ra nuôi, đây cũng là nguyên nhân mà Lã Bố bị mọi người cười nhạo là “gia nô”. Bởi vậy, những hứa hẹn mà Đống Trác dành cho Lã Bố có sức cám dỗ rất lớn. Sau khi về dưới trướng Đống Trác, Lã Bố được phong là Kỵ Đô úy Trung Lang tướng Đô Đình Hầu. Ngoài ra, Đống Trác là người hào hiệp, không bao giờ tiếc tiền của, lễ vật gặp mặt ông dành cho Lã Bố là “một nghìn lượng vàng, mấy chục hạt minh châu, một chiếc đai bằng vàng”, lại thêm con ngựa quý Hãn huyết (loài ngựa quý có mò hôi đỏ như máu) có thể “ngày đi ngàn dặm, đêm đi tám trăm dặm” rất nối tiếng, tức giống ngựa xích thố.

Vì thế, Lã Bố “vác đao lẻn vào, chém một nhát rơi đầu Đinh Nguyên”, rồi quy thuận Đống Trác, được Đống Trác nhận làm con nuôi, rất được Đống Trác yêu mến và tín nhiệm.
Đống Trác biết rằng mình đã gây nên quá nhiều thù oán, thường lo lắng bị người khác ngầm hãm hại, vì thế dùng Lã Bố làm thị vệ bên cạnh mình. Khi Đống Trác đi đâu vào ban đêm, Lã Bố luôn đi theo không rời. Một lần, Lã Bố không cấn thận đắc tội với Đống Trác, Đống Trác rất tức giận, tiện tay rút thanh đao ném về phía Lã Bố, may sao Lã Bố nhanh tay nhanh mắt, mới may mắn tránh được. Lã Bố lập tức tạ tộl xin lỗi Đống Trác, Đống Trác mới không truy cứu nữa. Nhưng từ đó, Lã Bố bắt đầu ôm hận trong lòng.

Một lần, do ngẫu nhiên, Đống Trác đã chú ý đến một tỳ nữ của Lã Bố, để tư thông với cô ta, Đống Trác mượn cớ tách Lã Bố ra, cho hắn đi phòng vệ Trung Các. Sau khi Lã Bố biết được thông tin này, lại càng khắc sâu thêm mối thù hận với Đống Trác. Sau khi nghe lén được thông tin quan Tư đồ Vương Doãn muốn mưu hại Đổng Trác, liền chủ động tố cáo những tội trạng của Đống Trác với phía Vương Doãn. Vương Doãn cho Lã Bố biết kế hoạch giết Đống Trác, lại yêu cầu Lã Bố làm nội ứng. Lúc bắt đầu hành động, Lã Bố vì có danh nghĩa cha con với Đống Trác nên vẫn còn do dự, Vương Doãn mới khuyên rằng: “Ngươi họ Lã, hắn họ Đống, không phải là cốt nhục thân thích. Huống chi Đống Trác hiện nay là quốc tặc mà ai ai bắt được cũng sẽ giết, lẽ nào ngươi vẫn nhận hắn làm cha sao? Lúc hắn ném thanh đao về phía ngươi, có coi ngươi là con không?” Dưới sự thuyết phục của Vương Doãn, cuối cùng Lã Bố cũng đồng ý.

Tất cả đã chuẩn bị xong xuôi, gặp đúng dịp hoàng đế bị bệnh nặng mới khỏi, các đại thần văn võ trong triều đình đều tập hợp ở điện Vị Ương, chúc mừng thiên tử long thể bình phục. Lã Bố mượn cơ hội này, sắp xếp bọn Kỵ Đô úy Lý Túc dẫn theo hơn mười thân binh, cải trang thành vệ sĩ, nấp ở hai bên cửa bên của cung điện. Đống Trác vừa đến cửa, liền bị bọn Lý Túc tập kích bất ngờ. Đống Trác hoảng sợ, vội vàng cầu cứu Lã Bố, Lã Bố y phục chỉnh tề ngồi cao chễm chệ, nói lớn: “Bọn ta vâng chiếu giết kẻ loạn thần tặc tử, ngươi chết cũng không hết tội!” Đống Trác trong cơn tuyệt vọng, dù cố gắng phản kháng, nhưng cũng không thế cứu vãn được sự việc, bị giết ngay tại chỗ, xử tội tru di tam tộc.

Quẻ Quan Thế Âm Đổng Trác Thu Lã Bố là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 41 !

Quẻ này là tượng nhận giặc làm con.
Những việc mong cầu cần nhận rõ chân thực, đề phòng giả mạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Đổng Trác Thu Lã Bố

Bố trí phong thủy nhà ống tốt để rước tài lộc vào nhà

Hiện nay, do đất chật người đông, đa số nhà ở trong đô thị đều theo dạng hình ống. Phong thủy nhà ống thường có nhiều điểm hạn chế, cần khắc phục.
Bố trí phong thủy nhà ống tốt để rước tài lộc vào nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện nay, do đất chật người đông, đa số nhà ở trong đô thị đều theo dạng hình ống. Phong thủy nhà ống thường có nhiều điểm hạn chế, cần khắc phục. 

Bo tri nha ong khong lo phong thuy hinh anh
 
Nhà ống càng dài, càng hẹp thì càng khó xoay xở. Đặc trưng của nhà ống là luôn bị kẹp giữa hai bức tường. Đặc biệt những ngôi nhà có nhà bên cạnh cao hơn sẽ hình thành loại trường khí mà phong thủy gọi là “vùng sơn xuyên”, từ đó dẫn đến nhiều luồng gió mạnh (gió hút, gió lùa), tạo thành vùng xoáy ảnh hưởng đến sức khỏe của người cư ngụ.
 
Để cải thiện phong thủy nhà ống, cần bố trí giếng trời hoặc sân trong để cân bằng âm dương, hút gió và lấy sáng.
 
Số lượng và kích thước giếng trời phụ thuộc vào chiều dài và chiều cao của nhà, nhưng tối thiểu cũng phải có một giếng trời giữa và một giếng trời sau. Bên cạnh đó, nhà ống nên được gia chủ bố trí thêm gương phản chiếu để giúp “ăn gian” diện tích và phản hồi lại các xung sát khi lên xuống cầu thang.
 
Cần tạo lối đi và dẫn gió theo kiểu uốn lượn, tránh tầm nhìn xuyên thấu từ ngoài vào nhà bằng cách dùng các bình phong hay chậu cây để che chắn. Có thể bố trí không gian sinh hoạt chung xen giữa các không gian riêng để tạo luồng di chuyển có hẹp có rộng, có mở có đóng về không gian.
 
Trong trường hợp nhà ống có hai mặt tiền, có thể thiết kế ban công trên lầu sao cho vừa có thể làm khoảng đệm, vừa ngăn nắng tốt nhưng cũng lấy được gió. Trường hợp này không cần làm giếng trời mà chỉ cần mở cửa sổ bên hông để tăng sự đối lưu với môi trường bên ngoài.
 
Phong thủy nhà ống kị nhất cửa hai nhà ống đối diện nhau. Trường hợp không thể đảo cửa thì nên dùng bình phong, tủ, chậu cây để che chắn. Nếu ngay từ ban đầu không bố trí hệ thống cửa cho hợp lý cho nhà ống thì sẽ ảnh hưởng đến các luồng phân bố khí trong nhà, ánh sáng và thông gió bị kém.
► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất

ST

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bố trí phong thủy nhà ống tốt để rước tài lộc vào nhà

Xem tướng pháp phụ nữ –

Phụ nữ có đào hoa sắc hay đào hoa nhãn thì rất xấu nhưng đàn ông thấy là khoái lắm. Hồng diện đa dâm thuỷ… 1. Nhất kiến khả kính , quý thọ nhi đa nam (vượng phu ích tử , vừa quý vừa thọ, sinh nhiều con trai ) 2. Nhất kiến khả trọng, trinh khiết nhi p

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phụ nữ có đào hoa sắc hay đào hoa nhãn thì rất xấu nhưng đàn ông thấy là khoái lắm. Hồng diện đa dâm thuỷ…

1. Nhất kiến khả kính , quý thọ nhi đa nam (vượng phu ích tử , vừa quý vừa thọ, sinh nhiều con trai )

2. Nhất kiến khả trọng, trinh khiết nhi phúc trạch (phúc thọ )

3. Nhất kiến khả hỷ , tà đãng nhi dị dụ (Tướng dâm )

4. Nhất kiến khả khinh, bần bạc nhi tiện yểu (vừa dâm vừa tiện, và nghèo hèn )
5. Nhất kiến khả uý, cương cường nhi khi tâm ( có uy, tính ngang bướng , gian ngoan )

6. Nhất kiến khả khủng, khác nhi ác cực (ác tướng, nên tránh xa )

xem_tuong_phu_nu

Đàn bà mà phạm vào 3 điều cấm kỵ sau đây là không tốt :
1. Diện sắc hữu xích bạc như hoả giả mệnh đoản tất vong ( mặt lúc nào cũng đỏ rực như lữa, chết bất đắc kỳ tử )-2. Diện sắc nộ biến thanh lam, giả độc hại chi nhân ( Khi giận mà mặt dổi xanh xám là tướng cực ác, tâm địa gian hiểm )-3. Diện sắc trần ai bần hạ yểu tử ( Mặt lúc nào cũng như đưa đám, tướng bần tiện yểu tử )
Ngoài ra đàn bà có đào hoa sắc hay đào hoa nhãn thì rất xấu nhưng đàn ông thấy là khoái lắm. Vậy mới có câu:
Hồng diện đa dâm thuỷ-Mi nùng đa âm mao
Nói chung đàn bà mặt mũi lúc nào cũng nên tươi tắn sáng sủa, và vui vẽ cũng như nói năng ôn hoà dịu dàng thì tốt …Theo các nhà tướng học thì khi xem tướng cho các bà thì trước tiên coi tướng mũi vì tướng mũi là cung Phu tinh chỉ về chồng, đại khái là mũi tốt thì tốt thì có chồng giỏi, mũi tốt thì phải có thế vững vàng ngay thẳng, tròn trịa và phối hộ đắc cách với trán + lưỡng quyền + cằm , nếu mà đắc cách như thế là rất tốt , vừa phúc hậu, vừa vượng phu ích tử, nếu mắt có liêm quang nữa thì sẽ rất nổi tiếng …

Tướng mắt:

1. Nhãn quang như thuỷ, nam nữ đa dâm ( mắt lúc nào cũng ướt, rất dâm )

2. Mục hồng ngữ kết hiếu sắc vô cùng ( mắt pha màu hồng , hiếu sắc )

3. Viên tiểu đoản thâm, kỳ tướng bất thiện ( mắt tròn và nhỏ, xấu, là tâm đia không tốt )

4. Đoản tiểu chủ ngu tiện ( mắt ngắn mà nhỏ, chủ hèn đần )

5. Xích Ngân xâm đồng, quan sự trùng trùng ( mắt nhiều tia đỏ, dể vướng vào lao lý )

6. Mục vĩ tương thuỳ , phu thê tương ly ( đuôi mắt cụp xuống, vợ chồng xung khắc , phân ly )

7. Mục xích tinh hoàng, tất chủ yểu vong ( mắt đỏ , con ngươi có sắc vàng , chết yểu )

8. Nhãn thâm định, thị phiếm tư lương, đới khấp phương phu tử bất cương ( mắt lúc nào cũng thâm quần lại ướt, làm khổ chồng con )

9. Lưỡng nhãn phù quang, song luân phún hoả, hung ác đại gian chi đồ ( mắt đỏ lại sáng quắc, háo sát tàn nhẫn, lạnh máu )

10. Thượng bạch đa tất gian, hạ bạch đa tất hình ( thượng ha tam bạch đều là mắt xấu, vừa dâm vừa gian và dể bị tù tội )

11. Nhãn nội đa mạch, nữ sát phu ( mắt bình thường có nhiều gân máu là tướng sát phu )

Tướng Miệng :

1. Khẩu dốc như cung, vị chí tam công (Góc miệng uốn cong lên như hai đầu cung, cực tốt )

2. Khẩu như hàm đan, bất thụ cơ hàn (Miệng đỏ như son một cách tự nhiên, phú quý )

3. Khẩu phương tứ tự, tín nghi chân ( Miệng như chữ Tứ, góc cạnh đều đặn đẹp, trung nghĩa và giàu )

4. Khẩu như súc năng, như suy hoả, tiêm nhi, phản tiêm nhị bạc hữu văn lý nhập khẩu( Miệng lúc nào cũng chu ra như đang thổi hơi , miệng dẩu ra, nghiêng lệch , chủ bần tiện )

5. Tung lý nhập khẩu ngã tử . ( nhiều văn nhập vào miệng, nghèo hèn )-Hai đường pháp lệnh chạy cong vào hai khoé miệng, đói khổ , chết vì đói )

6. Khẩu như suy hoả, cơ hàn độc toạ ( Miệng như thổi lữa chủ cơ hàn và cô độc )

7. Khẩu ư lộ sĩ ( miệng ráng ngậm mà vẫn thấy răng, bần tiện )

8. Thượng thần cai hạ, thần pháp bần hàn ( Trên dày , dưới mõng chủ bần hàn )

Hạ thần qua thượng, dả dối trá kiêu căng ( Dưới dày trên mõng, dối trá, gian sảo )

9 Vi tiếu khẩu ( miệng lúc nào cũng như có vẽ cười ) chủ ôn hậu

10. Chấn tĩnh chi khẩu ( Miệng lúc nào cũng như mím chặt ) chủ cương quyết

11. Lãnh tiếu chi khẩu ( Cười lạnh nhạt, nhếch mép ) thâm độc, ác tâm .

Tướng Tóc :

1. Mấn phát can táo ưu sầu chi lão ( Tóc khô là tướng u sầu suốt đời )

2. Mấn phát thô sơ tài thực vô sơ ( Tóc khô mà thưa thì tiền bạc suốt đời chẳng dư )

3. Nhĩ biên vô phát tâm hoài độc ( Tóc mai không có thì tâm địa không tốt )

4. Hắc như ti vinh quí chi tư ( Tóc óng mượt mềm mại như nhung và đen tuyền là phú quý )

5. Mấn phát loạn sinh giảo trá nhân tăng ( Tóc xấu mà lại rối lung tung tính tình sảo trá gian hiểm )

6. Phát trung xíng lý tất chư binh tử ( Tóc có vết đỏ một cách không bình thường là chết bất đắc kỳ tử )

7. Vị cập tứ thập nhi phát bạch, huyết suy nhi mệnh đoản ( Đàn bà mà tóc bạc sớm khi chưa qua khỏi tuổi 40 là huyết suy, yểu tử )

8. Phát phồn đa nhi khí sú giả chuân chuyên nhi bần tiện, phát như bồng quyền giả tính giảo nhi bần khổ( Tóc mà dựng đứng, tướng chỉ bần tiện chi nhân , tóc rậm mà còn có mùi hôi tự nhiên là tướng vừa hèn hạ vừa gian hiểm )

Tướng Cổ :Cổ của đàn bà cần phải hội đủ các điều kiện sau đây :

Phong : đều đặn trước sau-Viên : Tròn trặn ( Giàu )-Kiên : Cứng cáp vừa đủ-Thực : Chắc chắn vững vàng.Sách Tướng Lý Hành Chân ” viết :
1. Phì nhân cảnh đoản sưu nhân trường, Tự đắc thanh danh phan tứ phương (Người mập và thấp nười thì cổ ngắn mới hợp cách )

2. Cảnh tiểu ưng tri niên thọ tróc, túng nhiên phú quí mạc thương lượng (nếu mập mà cổ nhỏ thì yểu tử và nghèo hèn)

3. Đống lương bất chính tính tình thiên, phiêu bạt vô y tại vãn niên , Bỉ lận kinh doanh hưu vấn phúc, Tổng bả âm công tác phúc cơ

( Cổ cong queo , số khổ cực gian nan, phiêu bạt trôi nỗi , tính lại nhỏ nhen biển lận).

4. Xà cảnh đoan nhiên thị tiểu nhân, Khả lân nhất thế chí nan thân, Tương phùng phú giá đê đầu sàm, Trắc lập ân cần tiếu ngữ thân( Cổ rắn lắc lư không yên, tính dâm loạn, tiểu nhân, nịnh bợ, hay thấy sang bắt quàng làm họ )

5. Thân trường cảnh đoản bất vi cao, Điểu vũ yên năng tác phượng mao ( Mình dài cổ ngắn là tiện nhân, chẳng khác nào lấy chân chim sẽ gắn vào thân Phượng Hoàng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng pháp phụ nữ –

Điểm danh những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân

Tiết Lập Xuân là tiết khí đầu tiên trong năm vì thế để hưởng trọn xuân mới, hãy lưu ý những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân sau đây nhé !
Điểm danh những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tiết Lập Xuân là tiết khí đầu tiên trong năm, mang ý nghĩa xuân tới vạn vật thức tỉnh, hồi sinh. Đối với bất kì ai, đây cũng là khoảng thời gian tươi đẹp, tràn trề sức sống và hi vọng. Để hưởng trọn xuân mới, hãy lưu ý những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân.


Diem danh nhung cam ki phong thuy trong tiet Lap Xuan hinh anh
 
Tiết Lập Xuân là lúc có nhiều phong tục tập quán, mà nổi bật nhất là các lễ hội mùa xuân, lễ tế trời cầu nông nghiệp được mùa, lễ nghênh đón hoa xuân,… Thời gian này hầu như mọi người thường tận hưởng không khí náo nhiệt và dễ chịu đầu năm mà quên đi những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân. Hãy cùng tìm hiểu và nhớ kĩ để tránh mắc phải sai lầm đáng tiếc.   1. Truyền thống nhấn mạnh rằng, nếu ngày Lập Xuân mà khí trời sáng sủa, tất năm đó mùa màng bội thu, nếu trời âm u thì khả năng cao là thất bát mất mùa, rất không may mắn.    2. Lập Xuân kiêng cãi nhau, mắng người, chữa bệnh, cắt tóc, di chuyển. 3. Lập Xuân không nên ngủ quá nhiều vì những ngày này dương khí thịnh vượng hơn, cần đứng thẳng hoặc ngồi để đón tiếp thời khắc tốt đẹp. Người có thói quen ngủ trưa lâu cũng cần điều chỉnh thời gian ngủ cho hợp lý.   4. Một trong những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân là không cãi vã, tranh chấp thị phi, không nói lời tục tĩu. Cần giữ hòa khí, đón mừng ngày vui của trời đất. Nếu đầu năm đã cãi cọ, tranh giành, đấu khẩu thì cả năm không yên ổn, gặp nhiều phiền phức, tâm tính bất thường. Đây không chỉ là truyền thống, phong thủy mà còn là phong tục tốt, đức tính đẹp, cần phát huy.  
Diem danh nhung cam ki phong thuy trong tiet Lap Xuan hinh anh
 
5. Tiết Lập Xuân vạn vật sinh sôi, dương khí trong đất hưng vượng, nên hạn chế việc đi giày dép thường xuyên, cần có cơ hội đi chân không trên nền đất tự nhiên để hấp thu các ion dương, có lợi cho sức khỏe.
 
6. Trong các tiết khí hàng năm thì Lập Xuân là tiết khí giao thời, giao mùa và giao niên nên khí hỗn loạn, không thích hợp để di chuyển, chuyển đổi công việc, chuyển nhà hay có sự thay đổi lớn nào. Ngũ hành lưu chuyển, thiên địa nhân hòa hợp mới mang tới vận may, thiên địa chưa yên thì con người cũng sẽ bị ảnh hưởng.   7. Tục xưa truyền lại, tiết Lập Xuân con gái đi lấy chồng không về nhà mẹ đẻ, vì sẽ mang vận may từ nhà chồng về nhà mình. Tuy nhiên, ngày nay điều này chỉ còn mang tính chất tham khảo chứ không được áp dụng rộng rãi.   8. Tiết Lập Xuân cố gắng không cắt tóc vì theo những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân thì cắt tóc là điềm không may. Ngày xuân vạn vật đang nhú mầm, như con người đang hồi vượng, vươn lên lại cắt đi sẽ làm tổn hại thân thể, bất lợi sức khỏe, triệt đường phát triển.   9. Mệnh lý học cho rằng, ngày xuân khí lực trời đất chưa ổn định, dễ gây chuyện thị phi, tận lực tránh được càng nhiều càng tốt. Đặc biệt là người có cầm tinh vướng bệnh tai, cầm tinh tương xung với năm thì Lập Xuân nhất định phải thận trọng. Người mà năm trước kém may thì thời điểm này cũng không nên chủ quan.

Tiết Lập Xuân - khởi đầu thăng hoa, dưỡng sinh triệt để
Xuân mới khởi đầu mới, tiết Lập Xuân là tiết khí đầu tiên của năm, cũng là thời điểm tràn đầy mới mẻ, phấn khởi, đánh dấu sự chuyển mình rõ rệt của thời tiết
 
Trình Trình

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh những cấm kị phong thủy trong tiết Lập Xuân

Kiến giải vận trình của người sinh giờ Thìn

Giờ Thìn từ 7 giờ đến 9 giờ, đại diện cho sự mới mẻ, phấn chấn. Cùng xem vận trình của người sinh giờ Thìn dựa vào luận bát tự mệnh lý.
Kiến giải vận trình của người sinh giờ Thìn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

1. Tổng luận vận trình chung của người sinh giờ Thìn

  Vận trình của người sinh giờ Thìn thông minh linh hoạt, tiền vận có thể hiển đạt như tới trung vận sẽ tổn hao, hậu vận tốt đẹp trở lại, có thể an hưởng tuổi già.
 
Nam mệnh sinh giờ Thìn có vẻ ngoài đẹp, trưởng thành, lịch sự, biết cách thể hiện bản thân nhưng quan điểm tình yêu lại không để ý vẻ bề ngoài, thích người con gái thiện lương, hiếu thuận.   Nữ mệnh sinh giờ Thìn có vận trình tình cảm trầm ổn, thích lãng mạn, có tư tưởng truyền thống, biết thể hiện tình ý với người khác.
Kien giai van trinh cua nguoi sinh gio Thin hinh anh
 
Người sinh đầu giờ Thìn cha mẹ song toàn, 43 tuổi có tai họa bệnh tật, muốn tiêu trừ bệnh phải tín Phật, tích cực làm việc thiện để được che chở   Người sinh giữa giờ Thìn khắc mẹ, một đời vô công, những năm đầu vận trình trắc trở, càng về già phúc càng lớn.   Người sinh cuối giờ Thìn khắc cha, thông minh hiền lành, có khả năng thành công. Mệnh mang đào hoa, nên cưới người có tính tình cứng rắn mới tốt bằng không sẽ có trở ngại, tiền vận đảo điên, hậu vận vinh hoa.
Xem thêm bài viết: Coi số mệnh sướng khổ qua giờ sinh theo mùa
 

2. Tính cách người sinh giờ Thìn

  Xem vận trình của người sinh giờ Thìn cho biết người này tính cách lạc quan, quang minh. Sinh giờ Thìn – lúc sáng sớm, thời điểm mặt trời nhô lên có tiềm năng vô hạn, tiền đồ sáng sủa. Người này đại diện cho hi vọng, tượng trưng cho tương lai. Thông thường vì mười phần phấn chấn nên tính cách kích động, dễ mang tới phiền phức cho bản thân.   Người này phải trải qua trừng phạt mới tích lũy được kinh nghiệm, hoàn thân mình hơn. Cần không ngừng phấn đấu để trau dồi, dốc lòng phát huy nguồn năng lượng để chính mình tốt hơn và lan truyền không khí sôi nổi tới những người xung quanh.
Kien giai van trinh cua nguoi sinh gio Thin hinh anh
 
Sinh vào giờ Thìn có không gian tiến bộ, trường thành rất lớn, tiền đồ vô lượng. Họ không chỉ trời sinh động lực dồi dào mà còn có tư tưởng lạc quan, nếu có thể kiên trì với động lực ban đầu thì càng ngày càng leo cao hơn. Tuy quá trình vất vả, thậm chí nhiều lần thất bại nhưng thành công sẽ đến và càng vang dội hơn.   Trong con người tiềm tàng một con rồng, lặng lẽ ở đáy vực sâu hoàn thiện bản thân, đề cao mình, nghỉ ngơi dưỡng sức rồi thời cơ thích hợp sẽ hành động, thông qua mài dũa mà tiến lên, từng bước gặt hái được thành quả.  

3. Vận trình của người sinh giờ Thìn theo từng tuổi

 

Tuổi Tý

  Người tuổi Tý sinh vào giờ Thìn bát tự có Thìn Thổ khắc Tý Thủy nên một đời gập ghềnh, vất vả. Người này có chí lớn, có hoài bão lại tài hoa trí thức nhưng tổ nghiệp không có căn cơ, anh em không hỗ trợ nên sự nghiệp tuy có thời gian thành công nhưng cuối cùng khó khăn, không thể giữ vững thành quá, tạo thành nuối tiếc cả đời.
Xem thêm bài viết Xem giờ sinh phú quý cho người tuổi Tý
 

Tuổi Sửu

  Mọi việc đều không cát lợi, lưu luyến buồn phiền, âm khí trùng điệp. Hôn nhân hình khắc, sau khi cưới có nhiều trắc trở, nhiều điều không may. Một đời xui xẻo, làm việc không thuận lợi. Tuy rằng ăn no mặc ấm nhưng cũng không có tích trữ quá lớn.   Bạn nên chọn người hợp tuổi để kết hôn, quyết không thể xung đột, khắc tuổi với nhau. Thứ hai nhà nên ở hướng Đông để mặt trời chiếu rọi vào nhà lúc nào cũng có sinh khí để bù đắp những thiếu sót về giờ sinh.  

Tuổi Dần

  Người tuổi Dần sinh giờ Thìn số mệnh không có quan lộc nên thiếu quý nhân dẫn đường, một đời bôn ba lao lực, ít có ngày phát đạt. Đầu óc thông minh, phản ứng nhạy cảm, đầy bụng học vấn, thân thể khỏe mạnh, một đời không bệnh, tuy rằng tai hiểm không ít nhưng không có gì đáng ngại.   Phải rời bỏ quê quán mới có thể hoàn thành nghiệp lớn, càng không được sợ bôn ba, hết mình cố gắng. Sự nghiệp không thể ở cố hương, càng đi xa càng có lợi.  

Tuổi Mão

  Vận trình của người sinh giờ Thìn tuổi Mão báo rằng người này thông minh, có tài học, một đời nổi bật hơn người nhưng bôn ba lao lực. Cuối cùng thành công ít, thất bại nhiêu, nhược điểm lớn nhất là làm việc không chu đáo, tỉ mỉ, mù quáng tiến lên. Mãi tới tuổi trung niên mới rút được kinh nghiệm thì hối hận không kịp, rốt cuộc tỉnh ngộ may ra thành công.  

Tuổi Thìn

  Thông minh sáng suốt, dung mạo xinh đẹp, khôi ngô, vợ chồng hòa hợp, áo cơm sung túc, phàm mưu đắc ý, quan hệ xã giao vui vẻ. Bởi giờ sinh năm sinh đều là cầm tinh Thìn nên một đời hạnh phúc phong lưu, hôn nhân mỹ mãn. Sự nghiệp có quý nhân trợ giúp, trong gia đình có cha mẹ vợ chồng chống đỡ, một đời không hung hiểm tai nạn, nhân duyên cực tốt. Bất kể là quan lớn hiển quý hay bình dân bách tính đều vô cùng mến mộ.  

Tuổi Tị


Kien giai van trinh cua nguoi sinh gio Thin hinh anh
 
Tị Hỏa tương sinh Thìn Thổ, thuận buồm xuôi gió, nhiều niềm vui, không thích tự ái, tao nhã cao thượng, có nhiều bạn bè.  Sự nghiệp có quý nhân phù trợ, được cha mẹ nâng đỡ nên phát triển nhanh, áo cơm sung túc, giàu có.
Xem thêm bài viết Xem giờ sinh phú quý cho người tuổi Tỵ

Tuổi Ngọ

  Ngọ Hỏa tương sinh Thìn Thổ, ít thanh nhàn, chìm nổi bất định, cuộc đời cô quạnh, chuyện không như ý, lúc nào cũng có ngăn trở. Người này sống rất bình thản, không dựa vào cha mẹ anh chị em, chỉ có thể tự lực cánh sinh khai sáng sự nghiệp. Nhưng vì không có quý nhân nên lúc khó khăn sẽ rất gian nan.   Tuổi Ngọ tự lập từ nhỏ, chí hướng vững vàng, lúc nào cũng tu dưỡng bản thân , thích học những ngành kĩ thuật, có can đảm và đấu tranh, làm người 3 phần dựa vào số, 7 phần dựa vào sức.

Tuổi Mùi

  Người tuổi Mùi sinh giờ Thìn trong bát tự có Dịch Mã, rời xa quê hương để phát triển sự nghiệp. Sự nghiệp cũng không quá lớn, không nhiều tài nguyên nhưng có quý nhân trợ giúp nên tiến hành vẫn thuận lợi. Chuyện tình cảm có tranh chấp, phát sinh tình yêu ngoài luồng mà vướng thị phi.  

Tuổi Thân

  Thìn Thổ tương sinh Thân Kim, mọi việc đều cát lợi nhưng gặp Thiên La, có nhiều hiểm. Người này thông minh, bên ngoài có quý nhân nâng đỡ, sự nghiệp triển khi thuận lợi nhưng khó lâu dài, gặp nhiều rủi ro bất ngờ. Tính tình ngay thẳng, gặp chuyện sẽ không cân nhắc tỉ mỉ chu đáo, có phần mù quáng nên xuất hiện thất bại cũng là lẽ thường.  

Tuổi Dậu

  Vận trình của người sinh giờ Thìn tuổi Dậu có Thìn Thổ tương sinh Dậu Kim, tính tình đôn hậu, biết cách ăn nói, chức quyền chí cao, cuối cùng lại thất bại. Một đời hạnh phúc, cơm áp phong phú, tính cách dịu dàng, làm người thành thực, lời nói đi đôi với việc làm nhưng rất cố chấp, yêu là nói, người khác nói lời khó nghe là không thích. Bất luận trên đường hoạn lộ hoặc tài lộ đều có quý nhân nên phát triển thuận lợi.  

Tuổi Tuất

  Thìn Tuất gặp Tỷ Kiên, tài khố cần động, tính cách kiên cường chính trực, một đời trắc trở khó khăn. Người này tổ nghiệp héo tàn, không dựa vào người thân, tuổi trẻ dễ tai nạn, trung niên chuyển vận, tay trắng làm nên sự ngiệp. Tuổi già nghèo khó, cả đời làm việc phải cẩn thận.
Xem thêm bài viết Xem giờ sinh phú quý cho người tuổi Tuất
 

Tuổi Hợi

  Thìn Thổ khắc chế Hợi Thủy, vượng vận đáng quý, có tài nịnh hót, yêu hư vinh, thích xa hoa. Một đời vinh quang, hạnh phúc nhiều, tâm địa thiện lương, thích làm người khác vui, tổ nghiệp tốt, được người thân trợ giúp. Một thân anh tuấn phóng khoáng, được nhiều người khác phái yêu thích, thích được người khác nịnh nót, nói lời dễ nghe.
Kiến giải vận trình của người sinh giờ Mão Kiến giải vận trình của người sinh giờ Sửu Kiến giải vận trình của người sinh giờ Tý

Trần Hồng
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiến giải vận trình của người sinh giờ Thìn

Ý nghĩa sao Quan Phù - Lý luận thông mình và sắc bén

Sao Quan Phù thường hội chiếu với Thái Tuế, chỉ mọi sự liên quan đến pháp luật (kiện cáo, thị phi, cãi và biện hộ, bút chiến ...)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Quan Phù - Lý luận thông mình và sắc bén

Ý nghĩa sao Quan Phù - Lý luận thông mình và sắc bén

Hành: Hỏa

Loại: Phù Tinh, Hình Tinh

Đặc Tính: Lý luận, quan tụng, thông minh, sắc bén

Tên gọi tắt thường gặp: Phù

Phụ tinh. 1 trong 12 sao thuộc vòng sao Thái Tuế theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.

Sao Quan Phù khi đi với các sao tốt:

Biết xét đoán, lý luận. Quan Phù thường hội chiếu với Thái Tuế, chỉ mọi sự liên quan đến pháp luật (kiện cáo, thị phi, cãi và biện hộ, bút chiến ...). Đây là hai sao cần thiết cho nghề thẩm phán, luật sư. 

Hay giúp đỡ, phù hộ. Quan phù gặp sao tốt thì làm tốt thêm, như trường hợp gặp Xương Khúc Tuế thì lợi ích cho những việc liên quan đến pháp luật (kiện cáo, thị phi, cãi và biện hộ, bút chiến ...).

Sao Quan Phù khi đi với các sao xấu:

Hèn hạ, gian nịnh, phản bội 

Ưa trả thù, thích kiện tụng, câu chấp, đố kỵ 

Bị oán, bị báo thù, bị kiện, bị phản bội 

Có tinh thần ganh đua, cạnh tranh 

Sao Quan Phù là sao cạnh tranh, đố kỵ, nặng tinh thần báo phục, lắm khi sử dụng thủ đoạn để tranh thắng, khơi mào cho sự trả đũa của nạn nhân. Vì vậy, Quan Phù báo hiệu cho nghiệp chướng của việc báo oán, thù dai nếu tọa thủ ở Phúc, Mệnh, Thân.

Các Bộ Sao Xấu đi cùng sao Quan Phù:

Phù, Tuế, Đà, Kỵ: thị phi, kiện cáo, làm mất ăn mất ngủ vì cạnh tranh hơn thiệt; bị tai bay vạ gió.

Phù, Hình, Không, Kiếp: bị thù oán, bị mưu sát vì thù

Phù, Sát, Hổ, Hình: bị tù, bị vu cáo mang họa

Phù, Liêm, Tang, Hổ: bị tù tội, bị kiện cáo, bị tai nạn, tang tóc do sự báo thù, phản bội mà có. 

Phù, Phá, Hình: quan tụng, ly dị (nếu ở Phu Thê)

Ý Nghĩa sao Quan Phù Ở Cung Tài Bạch:

Hay bị kiện vì tiền bạc, bị phản bội vì tiền (lừa gạt) 

Sống vì nghề kiện (luật sư hay hộ giá viên ...) 

Ăn cá trên sự thi đua cạnh tranh như cá ngựa, đấu võ ...

Ý Nghĩa sao Quan Phù Ở Cung Nô Bộc:

Tôi tớ phản chủ

Tôi tớ lấy trộm của chủ 

Thường gặp bạn xấu

Ý Nghĩa sao Quan Phù Ở Cung Quan Lộc:

Học luật, hành nghề luật (thẩm phán, trạng sư ...) 

Cạnh tranh và hay bị cạnh tranh trong nghề nghiệp

Quan Phù Khi Vào Các Hạn:

Có kiện tụng, cạnh tranh, cãi vã. Thắng cuộc nếu có Khôi Việt, thất bại nếu ở cung tuyệt


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Quan Phù - Lý luận thông mình và sắc bén

Giải pháp cho giường ở dưới trần dốc

Đặt giường ngủ dưới trần dốc bị coi là xấu về mặt phong thủy. Khi nằm dưới đó, năng lượng của bạn liên tục bị đè ép và thui chột nặng nề.
Giải pháp cho giường ở dưới trần dốc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giường ngủ cần được đặt ở nơi thoáng khí, không bị đè nén hay bị các góc nhọn của đồ vật xung quanh chiếu vào. Thế nhưng khi nằm dưới trần nhà có xà ngang ép đỉnh hay trần nhà bị dốc, năng lượng của cơ thể bạn liên tục bị đè ép, thậm chí dần bị thui chột. Điều này ảnh hưởng xấu tới việc tái tạo sinh lực của cơ thể sau 1 đêm nghỉ ngơi và gây ra những bất ổn về tâm lý.

Theo thói quen, việc kê giường kiểu này càng xấu hơn khi đầu giường luôn được đặt ở sườn dốc thấp nhất. Như thế, toàn bộ sức nặng của mái dốc sẽ đè lên đầu bạn khi ngủ.

Sơn màu tường và mái dốc cùng 1 màu sáng để khắc phục  trần nhà dốc đè xuống giường

Tốt nhất là nên tránh kê giường ở khoảng không gian bất lợi này. Nếu không thì có thể xoay chuyển đầu giường ngược lại, tức là để chân giường ở vị trí thấp nhất của trần nhà.

Nếu không thể tránh được, bạn có thể áp dụng cách hóa giải dưới đây để giảm bớt tác hại của lực đè nén:

- Hãy sơn trần nhà với gam màu sáng. Tốt nhất là sơn cả trần nhà và tường cùng 1 màu.

- Có thể sáng tạo bằng cách vẽ tranh lên mái dốc. Hãy chọn những chủ đề hay hình ảnh có nguồn năng lượng đầy cảm hứng biểu thị sự mở rộng, tự do và cởi mở nhằm tạo sự cân bằng đối lập với nguồn năng lượng nặng nề của trần nhà dốc. Ví dụ như 1 bức tranh về bầu trời rộng mở, trong xanh và 1 chút mây trắng nhẹ.

Tuy nhiên, giải pháp trên chỉ có thể hóa giải bớt điều xấu chứ không phải là cách khắc phục mang lại hiệu quả trọn vẹn.

(Theo About.com)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải pháp cho giường ở dưới trần dốc

Luận cát, hung của sao Nhất Bạch khi kết hợp trong Cửu tinh

Bài viết dưới đây giới thiệu sâu về sao Nhất Bạch – sao ứng với sổ 1 trong Cửu tinh để bạn đọc hiểu rõ hơn khi xem phong thủy nhà ở. Luận cát, hung của sao
Luận cát, hung của sao Nhất Bạch khi kết hợp trong Cửu tinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Huyền Không Phi tinh với Cửu tinh là một trong những trường phái phong thủy có tính ứng dụng cao. Bài viết dưới đây giới thiệu sâu về sao Nhất Bạch – sao ứng với sổ 1 trong Cửu tinh để bạn đọc hiểu rõ hơn khi xem phong thủy nhà ở.


► Tham khảo thêm: Xem tuổi làm nhà hợp phong thủy và mệnh gia chủ

Luan cat, hung cua sao Nhat Bach khi ket hop trong Cuu tinh hinh anh
 
Sao Nhất Bạch là sao Tham Lang, hiệu Văn Xương, ngũ hành thuộc Thủy, màu trắng; mùa thu tiến, mùa đông vượng, mùa xuân tiết, mùa hạ tử. Kẻ sỹ gặp nó ắt được lộc của nó, người thường gặp nó nhất định tiền bạc sẽ vào nhà, đây là đệ nhất cát thần. Nhất Bạch lại là quan tinh, nếu nó đương vượng, hình thế Loan đầu bên ngoài lại có thủy phóng quang thì khoa cử đỗ đạt, danh lừng bốn bể, sinh con trai thông minh trí tuệ. Nó mà suy tử thì hại vợ, không thọ, cuộc đời trôi nổi lênh đênh, mắc nhiều bệnh tật về huyết, thận hư, hoặc thành kẻ nghiện ngập, trộm cướp.
 
Nhất Bạch gặp Nhất Bạch là tỵ hòa. Nếu vượng thì có lợi cho tài văn chương hoặc các công việc về văn. Nếu suy thì dễ bị bệnh về máu, nghiện ngập hoặc chìm đắm trong tửu sắc.
 
Nhất Bạch gặp Nhị Hắc là khắc nhập. Nếu vượng thì mẫu thân dễ mắc bệnh về tỳ vị hoặc đường ruột. Nếu suy thì chồng bị vợ nhục mạ hoặc lấn quyền, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về thận hoặc tiết niệu.
 
Nhất Bạch gặp Tam Bích là sinh xuất. Nếu vượng thì con trưởng được danh giá quyền quý, có lợi cho người thuộc mệnh Tam Mộc, nhân đinh tài bạch đều phát lớn. Nếu suy thì con cháu dòng trưởng suy bại, bị kiện cáo tù tội hoặc trộm cướp, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về gan,chân, hoặc bị ép phải dời đi nơi khác ở.
 
Sao Nhất Bạch gặp Tứ Lục là sinh xuất. Nếu vượng thì xuất người nổi tiếng trong khoa cử, quan vận hanh thông thuận lợi, ra ngoài gặp nhiều điều hay về văn nghiệp, tên tuổi nổi bật. Nếu suy thì cũng đỗ đạt nhưng quý mà không phú, hoặc vì mang tiến tài hoa mà chìm đắm trong chống nữ sắc sinh ra quan hệ nam nữ bất chính. Nếu hình thế Loan đầu bên ngoài có vật thuộc hành Thổ thì đường văn chương hư bại, không con nối dõi, hoặc con cái chết yểu.
 
Nhất Bạch gặp Ngũ Hoàng là khắc nhập. Nếu vượng thì được cả tài bạch lẫn sang quý (tức có địa vị, chức tước). Nếu suy thì nữ nhân trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về đường sinh dục; nặng thì thận suy kiệt, ngộ độc thức ăn, con thứ chết yểu.
 
Nhất gặp Lục Bạch là sinh nhập. Nếu vượng thì từ nhỏ đã được hưởng giàu sang, ngoài ra, nếu sơn Càn mà đắc Thủy (có sông nước) thì sự nghiệp văn chương có thể phát đến tám đời. Nếu suy thì thủy kim chủ về lạnh, dễ mắc các chứng bệnh về đầu, xương hoặc bị thương tật vì kim loại.
 
Nhất gặp Thất Xích là sinh nhập. Nếu vượng thì đào hoa, dễ tạo của cải. Nếu suy thì kim thủy đa tình, đam mê tửu sắc, hoặc vì tửu sắc mà bị kiện tụng thị phi, có khi vì tranh chấp mà sinh ra thù hằn gây gổ đến nổi phải mang thương tật.
 
Nhất Bạch gặp Bát  Bạch là khắc nhập. Nếu vượng thì trẻ con trong nhà có họa chết đuối, xuất hiện người có tài về viết lách. Nếu suy thì vợ mắc chứng vô sinh, có bệnh về tai, thiếu máu, hoặc có con chết non.
 
Sao Nhất Bạch gặp Cửu Tử là khắc xuất. Nếu vượng thì Thủy Hỏa đều có đủ, lợi lớn về tiền tài, nhân khẩu cũng thịnh vượng. Nếu suy thì dễ mắc các chứng bệnh về tim, vợ chồng bất hòa, anh em tranh chấp.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận cát, hung của sao Nhất Bạch khi kết hợp trong Cửu tinh

NGUỒN GỐC CỦA NHỊ THẬP BÁT TÚ

Hai mươi tám vì tinh tú và cách lý giải nguồn gốc của chúng theo quan niệm xưa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhị thập bát tú là 28 ngôi sao có thật trên bầu trời. Các nhà Thiên văn học đã phát hiện, quan sát, ghi chép về nó từ rất lâu, như vậy các sao này luân phiên theo chu kỳ, chi phối ảnh hưởng đến Trái đất, chứ không phải là những chuyện viển vông hoang đường, ảo tưởng.

Hai mươi tám sao này phân thành bốn chòm sao.

Thanh long (thuộc phương Đông): Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ

Bạch hổ (thuộc phương Tây): Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm

Chu tước (thuộc phương Nam): Tinh, Quỷ, Liễu, Tỉnh, Trương, Dực, Chẩn

Huyền Vũ (thuộc phương Bắc): Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích

Người Trung Quốc lý giải nguồn gốc của nhị thập bát tú bằng một câu chuyện rất ly kì hấp dẫn. Vào thời Thượng cổ, vua Trụ nhà Ân hoang dâm tàn bạo khiến triều chính thối nát, kỷ cương nghiêng đổ, khắp thiên hạ như vạc dầu sôi. Vũ vương nhà Chu dấy quân nhân nghĩa, trừng phạt kẻ có tội. Đúng lúc này, trên tiên giới diễn ra một cuộc đàm luận, gồm có hai nội dung, thứ nhất trong số các tiên có nhiều người chưa đủ đức hạnh, và tu luyện chưa đạt cảnh giới thượng thừa. Thứ hai, trời đất tam giới khi ấy còn thiếu các thần linh để cai quản các công việc. Chính vì lẽ đó, mấy vị đứng đầu trong chư tiên họp bàn, muốn nhân cuộc biến loạn này, giáng một số vị tiên xuống làm thần linh cai quản trong các lĩnh vực. Mấy vị đứng đầu thượng giới gồm có, Thái thượng Lão quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn (hai ông này đứng đầu Xiển giáo, tôn chỉ trong tu hành là chọn người có đức hạnh, cốt cách đặc biệt mới thu nhận làm đệ tử và truyền dậy), Thông Thiên Giáo Chủ, đứng đầu Triệt giáo (Phương châm của Triệt giáo là vạn vật chúng sinh đều bình đẳng, ông không phân biệt giữa người với người, hay vạn vật, chỉ cần có nhu cầu được học đạo thì ông sẽ dậy, học trò của ông rất đông, có nhiều người xuất thân từ động vật). Chính vì hay chủ trương đường lối của mấy vị lãnh đạo tiên giới đó đã dẫn đển mâu thuẫn về sao. Ba vị tổ sư này nghị luận và lập ra bảng phong thần, trong cuộc chiến Thương – Chu chiến tướng nào chết, mà có tên trong bảng phong thần thì sẽ về cai trị, thực hiện nhiệm vụ của thần đó. Trong số các thần này thì học trò Triệt giáo chiếm số lượng đông nhất. (nguyên nhân vì học trò của ông đông về số lượng, nhưng về chất lượng thì chưa thật sự đảm bảo).

Thông Thiên Giáo chủ lúc đầu đồng ý, chỉ định khoanh tay đứng nhìn, vô vi tu đạo, nhưng không ngờ, trong số đệ tử của ông xúi giục ông, khiến ông cũng nhảy vào cuộc chiến. Thái thượng Lão quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, và toàn bộ học trò Xiển giáo giúp đỡ bên nhà Chu, vì số trời của nhà Thương đã tận, và nhà Chu sẽ kế tiếp vai trò sứ mệnh của nhà Thương. Thông Thiên Giáo Chủ và toàn bộ học trò Triệt giáo giúp bên nhà Thương, vì cho rằng bên Xiển giáo phân biệt đối xử và khinh rẻ giáo phải của mình.

Thông Thiên Giáo Chủ lập ra trận Tru Tiên, nhằm cản bước Khương Tử Nha và Vũ Vương trên con đường tiến vào kinh đô Triều Ca để hỏi tội Trụ vương.  Trận Tru tiên được xây dựng bằng bốn thanh gươm phép Tru tiên, Lục tiên, Hãm tiên, Tuyệt tiên, thần tiên mà chưa có pháp lực cao cường rơi vào đều không toan mạng.  Trong trận Tru Tiên này, phe Xiển giáo thắng thế, tịch thu bốn thanh gươm phép này làm chiến lợi phẩm.

Thông Thiên Giáo chủ chưa chịu dừng lại, ông không trở về Bích Du cung mà tiếp tục lập trận khác thách thức quân Chu và Xiển giáo. Trận này là trận Vạn Tiên, có quy mô và mức độ khó hơn nhiều. Với sự giúp đỡ của hai vị giáo chủ Tây phương là Chuẩn Đề và Tiếp Dẫn, phe Xiển giáo và Khương Tử Nha lại một lần nữa phá xong trận này. Đáng lưu ý hơn, trong trận này, mấy vị Kim tiên trong Xiển giáo, quăng mấy thanh gươm phép lên trên trời, và đọc thần chú. Những thanh gươm này bay lung tung, loạn xạ, gặp phe đối phương là giết hại. Những vị đạo sĩ, học trò trong  Triệt giáo hầu hết là các loài vật tu luyện thành, cho nên sau khi chết hiện nguyên hình là các giống vật đó. Nhị thập bát tú là những học trò trong Triệt giáo thiệt mạng trong trận này, vốn họ đã có tên sẵn trong bảng Phong thần, chỉ đợi lúc lâm nạn thì hồn phách trở về cai quan địa vị của mình được giao phó.

Vì vậy, các ngôi sao trong nhị thập bát tú đều mang hình của một con vật, và tên người.  

Giác mộc giao, con giao long,  Bá Lâm

Cang kim long, con rồng, Lý Đạo Thông

Đê lạc thổ, tướng tinh con Lạc đà, Cao Bính

Phòng nhật thố, tướng tinh con Thỏ, Dao Công Bá

Tâm nguyệt hồ, tướng tinh con Chồn, Tô Nguyên

Vĩ hỏa hổ, con hổ, Châu Chiêu

Cơ thủy báo, con báo, Dương Chân

Đẩu mộc giải, con cua, Dương Tín

Ngưu kim ngưu, con trâu, Lý Hoằng

Nữ thổ bức, con dơi, Trịnh Nguyên

Hư nhật thử, con chuột, Châu Bảo

Nguy nguyệt yến, con chim én, Hầu Thái Ất

Thất trư hỏa, con lợn, Cao Chấn

Bích du thủy, con rái cá, Phương Tiết Thanh

Khuê mộc lang, con chó sói, Lý Hùng

Lâu kim cẩu, con chó, Trương Hùng

Vị thổ trĩ, con chim trĩ, Tống Canh

Mão nhật kê, con gà, Huỳnh Thương

Tất nguyệt ô, con quạ, Kim Thằng Dương

Chủy hỏa hầu, con khỉ, Phường Tuấn

Sâm thủy viên, con vượn, Tôn Tường

Tỉnh mộc can, con dê trừu, Thẩm Canh

Quỷ kim dương, Triệu Bạch Cao

Liễu thổ chương, con gấu ngựa, Ngô Khôn

Tinh nhật mã, con ngựa, Lữ Năng

Trương nguyệt lộc, con nai, Tiết Dụng

Dực hỏa xà, con rắn, Vương Giáo

Chẩn thủy dẫn, con giun, Hồ Đạo Nguyên.

                                                Nguồn gốc của Nhị thập bát tú

Hai ngôi nhị thập bát tú trong phim Tây du ký

Nhị thập bát tú, luôn phiên trực chiếu và tác động đến trái đất, nên nó ảnh hưởng tới các hiện tượng thiên văn, địa lý, người xưa dựa vào đó để đoán định việc mưa gió thiên tai, phục vụ cho cuộc sống và trong sản xuất nông nghiệp. Đoán các việc thịnh suy, hưng vượng của chế độ, thời đại, chính quyền…

Không những thế, hai mươi tám sao này còn được vận dụng trong việc lựa chọn các ngày tốt, ngày xấu, phù hợp với nội dung và mục tiêu công việc của mỗi cá nhân. Xưa Gia Cát Lượng lập Thất Tinh đàn để cầu gió Đông Nam, giúp Chu Du thắng trận Xích Bích. Đến khi bệnh nặng ông lập đàn tế sao cầu xin thêm tuổi thọ, nhưng việc này không thành.

Theo tiểu thuyết Phong thần thì ngoài 28 sao này, còn có nhiều các sao khác trong Tử vi đẩu số, như Khương Tử Nha cai quản sao Thiên cơ, thần của mưu trí, Khương hoàng hậu cai quản sao Thiên Phủ, chủ về tài sản, của cải, sao Tham lang do Đát Kỷ cai quản, là thần của tài hoa nghệ thuật, cầm kỳ thi họa, và dục vọng, tình ái… Các bậc trung thần nghĩa sỹ, trong thời loạn lạc khi mất đi được phong làm thần, các vị tiên chưa đủ đạo hạnh, pháp lực cũng tử trận trong cuộc chiến Chu – Thương mà giáng xuống làm thần. Cát thần luôn ban phước lành, của cải, sự may mắn và tuổi thọ. Hung thần trừng trị kẻ gian ác, gây nhiều tội ác. Tuy rằng cuộc chiến Chu – Thương, phe Triệt giáo tổn thất nặng nề, đệ tử bị tử nạn rất nhiều, nhưng so với tiên giới và vũ trụ, sự đóng góp của họ không phải nhỏ.

Đọc Phong thần, tìm hiểu về nhị thập bát tú, ta sẽ thấy được hai mặt âm dương sáng tốt rất rõ rệt, hai mặt này luôn cân bằng hài hòa, nếu bên nào mạnh hơn tất sẽ diễn ra một cuộc biến động, xáo trộn, thay đổi. Triết học Mác – Lê Nin quy nó về vấn đề mâu thuẫn, mặt đối lập, cặp phạm trù... Và trong quá trình phát triển song song, khi mâu thuẫn không thể dung hòa, cân bằng được, tất diễn ra cách mạng.

Ứng dụng của hai mươi tám sao trong thời kỳ hiện nay là dùng để chọn ngày tốt xấu rất là hữu ích và quan trọng.

Phong thủy số


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: NGUỒN GỐC CỦA NHỊ THẬP BÁT TÚ

Phán đoán nghèo hèn thọ yếu bệnh tật

Bậc đại nho Khổng Tử, khi sống từng long đong như con chó của nhà có tang, không thể đừng được, đành phải thốt lên, Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại trời. Đem Khổng Tử ví như con chó của nhà tang, vốn là lời của Cô bố Tử Khanh người nước Trịnh (theo sử ký - Khổng Tử thế gia) sau khi lén quan sát tướng mạo Khổng Tử, đã nói với học trò ông là Tử Công, về sau Tử Công đem đúng lời ấy nói lại với Khổng Tử, Khổng Tử đã không nổi giận mà còn cười: hình dạng (tướng người), là mạt hạng, nhưng bảo giống con chó nhà tang (ý muốn nói là thần sắc hoàng tốt).
Phán đoán nghèo hèn thọ yếu bệnh tật

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phải thôi, phải thôi! Do phấn đấu cả đời người mà chưa thi thố được tài năng về chính trị, cuối cùng Khổng Tử phải làm ông thầy dạy học, sau khi đã bươu đầu sứt trán, bất đắc dĩ phải cúi đầu nhận mệnh. “Không biết mệnh, không phải là nhà nho”, đó là ông tự vận vào mình sau khi bị nhiều lần thất bại, tâm tình ngày càng đi xuống, thế thì làm thế nào để “biết mệnh” được sớm? Thời Khổng Tử còn sống. Ngoài một số tướng thuật lẻ tẻ ra, đó là một việc không thể làm được, vì rằng lúc đó chỉ biết có mệnh mà không biết cách đoán mệnh.

Sau khi đã phát minh ra thuật đoán mệnh, do bởi tuân theo lời di huấn của bậc đại sư nho giáo, phần lớn là nghiên cứu dự đoán phú quý nghèo hèn, thọ yểu bệnh tật của một con người, tự nhiên đó là mục đích chủ yếu của thuật đoán mệnh.

Tại sao cũng một con người, sau khi sinh ra hoàn cảnh mỗi người lại khác nhau? Theo cách giải thích của nhà mệnh lý học. Tức là khi người đó mới thụ thai, khí âm dương giao lưu, chân tinh hoà hợp, nếu tiếp nhận được thanh khí thì có trí lực, tài năng, nếu tiếp nhận trọc khí thì sẽ ngu đần, có tài trí trong xã hội hẳn được lợi lộc nhiều, cho nên hoặc giàu hoặc thọ, nếu ngu đần làm ăn không phấn phát thì sẽ nghèo hèn mà chết yểu.

Nó phản ánh vào trong mệnh, tự nhiên sẽ hiện ra trong bát tự sao sinh của mỗi người.

Nói về cách tính tương lai của bản thân mệnh chủ, mỗi nhà mệnh lý học đều có một lô biện pháp của mình, đó là đoán phú quý nghèo hèn trước tiên phải xem can ngày trong mệnh của người đó có được lệnh hay không được lệnh, sau đó xem dụng thần có đắc lực hay không đắc lực, cuối cùng xem hành vận có thuận lợi hay không thuận lợi, nếu như can ngày đắc lệnh, dụng thân đắc lực, vận gặp tài quan, thường là phú nhiều phát phúc, đại cát đại lợi, ngược lại thì nghèo khó chao đảo, khổ không kể xiết.

Đoán sinh tử thọ yểu phải xem kỹ tuế vận và nguyên cục dụng thần là hỷ hay kỵ, nếu như tuế vận gặp kỵ thần trùm đấu, hỷ thần không cứu được, nếu nhẹ là hung, nặng thì chết. Nhưng cũng có cách nói. Lấy “tháng sinh mà định” (ngọc môn quan tập) rằng: thọ sinh lấy tháng sinh mà định, tháng sinh ở vào chỗ can chi nạp âm vượng, là ngũ hanh tương sinh không nghịch, giò Tỵ cùng thai, đều đắc số không cùng hình khắc, chủ thượng thọ. Ngoài ra trích thiên tuỷ có cách nói về phú quý nghèo hèn thọ yểu, có ảnh hưởng rất lớn:

1. Làm thế nào biết người ấy giàu, tài khí thông qua cửa ngõ

Thế nào gọi là tài khí thông qua cửa ngõ? Lưu Cơ chú giải rằng: tài liệu thân cường, quan tinh vệ tài, kỵ ấn mà tài có thể phá ấn, hỉ nhật mà tài có thể sinh quan, thương quan trọng tài thần lưu thông, tài thần trọng mà thương quan có hạn vô tài mà ám thành tài cục, tài bộ mà thương cùng lộ, đó đều là tài khí thông cửa ngõ, cho nên giàu. Nhậm Thiết Tiều thì nói bổ sung: tài diệu thân nhược không có quan, tất phải có thực, thương. Thân vượng tài vượng thì không có thực, thương, hẳn phải có quan có sát. Thân có ấn vượng thực, thương nhẹ, tài tinh đắc cục. Thân vượng quan suy ấn thụ nặng, tài tinh đương mệnh. Thân nhảy sang kiếp, không tài ấn mà có thực thương. Thân nhược tài trọng, không quan ấn mà có tỉ kiếp, đều là tài khí thông của ngõ. Do ở mệnh cục, cách luận tài cũng giống luận thê, cho nên có cách nói “thân tài thân thanh mà thân vượng thì vợ đẹp, tài thần trọc mà thân vượng thì giàu có, nếu đi sâu vào nghiên cứu thì thuyết của họ Nhậm có thể tham khảo được. Ông nói: nếu thân vượng có ấn, quan tinh tiết khí, tứ chi không thấy thực, thương đều là tài tinh sinh quan, không thực, thương thì tài tinh cũng nông, chủ thể đẹp nhưng tài mỏng. Thân vượng không có ấn, quan nhược phùng thương, đắc tài tinh hoá thương sinh quan, thì cũng thông căn quan cũng được giúp, không những thê đẹp mà phú dày, thân vượng quan nhược, thực, thương trung kiến, tài tinh không thông với quan, nhà tuy phú nhưng thê xấu. Thân vượng nguyên quan, thực, thương có khí, tài tinh không liền với kiếp, không ấn mà thê, tài đều đẹp, có ấn thì tài vượng mà thê tổn thương. Bốn điều đó cần nghiên cứu kỹ.

Bát tự của mệnh:

Năm Giáp Thân Tháng Bính Tý

Ngày Nhâm Dần Giờ Tân Hợi

Nhâm Thuỷ sinh vào tháng giữa đông, dương nhận đương quyền, xem bề ngoài, chi ngày Dần thực thần Giáp Mộc bị Thân Kim xung phá nhưng hay ở chỗ chi ngày chi giò Dần Hợi hợp cục, hai cái đó là đất của niên can trung hoà và nguyệt can Bính Mộc Hoả trường sinh, thêm vào Tý Thân hợp Thuỷ, Thân Kim không những không xung Dần Mộc và sau khi hợp Thuỷ Thực Thần Giáp Mộc ngược lại được sinh phú, cho nên nói tài khí thông với cửa ngõ, là mệnh của phú ông trăm vạn, phàm là mệnh của bậc cự phú, không phải là tài tinh nhiều ít, chỉ cần sinh hoá có tình, thì tài khí sẽ thông cửa ngõ. Nếu tài tinh lâm vượng địa chi nên kiến quan vì quan tinh có thể làm tiết bớt khí của tài tinh. Nếu như nhật chủ thất lệnh thì hẳn phải có tỷ kiếp tương trợ mới là đẹp và tốt.

Bát tự của mệnh:

Năm Nhâm Thân Tháng Bính Ngọ

Ngày Quý Hợi Giờ Mậu Ngọ

Quý Thuỷ sinh vào tháng giữa mùa hạ, lại gặp giờ Ngọ tháng theo trụ giờ thấu xuất Bính Hoả Mậu Thổ, khó tránh được tài quan quá vượng. Hay ở chỗ trụ ngày Quý Thuỷ đắc địa, càng hay hơn là can năm Nhâm chi tiết toạ trường sinh, thân vượng Nhậm được tài quan, thêm vào ngũ hành không có Mộc, Thuỷ không tiết mà Hoả không trợ, cho nên lấy can năm Nhâm Thuỷ làm dụng thần. Sau đó vận đi về Tây Bắc, Kim Thuỷ đắc địa tuy nói di sản của tổ tiên để lại không nhiều, tay trắng làm nên, trở thành người giàu có 4-5 chục vạn.

2. Làm thế nào biết được quý (sang) quan tinh có lý hội

Giải thích về quan tinh có lý hội, Lưu cơ cho rằng: “quan vượng thân vượng, ẩn thụ vệ quan kỵ kiếp nên quan có thê khử kiếp, hỉ kiếp mà quan có thể sinh ấn, tài thần vượng mà quan tinh thông đạt, quan tinh vượng mà tài thần có đốt, không quan mà ngầm thành quan cục, quan tinh tàng mà tài thần cũng tàng. Những cái đó đều làm quan tinh có lý hội, cho nên quý.

Nhậm Thiết Tiêu thì nói: Thân yếu quan nhược, tài có thể sinh quan. Quang vượng thân nhược, quan có thể sinh ấn. An vượng quan suy, tài có thể phá hỏng ấn. ấn suy quan vượng, tài tinh không hiện. Kiếp nặng Tài nhẹ, Quan có thể khử Kiếp. Tài tinh hoại ấn, quan có thể sinh ấn. Dùng quan quan tàng tài cũng tàng dùng ấn lộ, quan cũng lộ, các quan tinh có- lý hội cho nên quý hiển vậy. Trong mệnh cục do luận quan và luận con cách làm giống nhau, cho nên lại có cách nói! Quan tinh thanh mà thân vượng thì quý, quan tinh trọc (đục) mà thân vượng thì nhiều con về chỗ này, Nhậm Thiết Tiêu nói thêm: nếu thân Vượng, quan vượng ấn cũng vượng, cách cục rất nhanh mà thương, thực tứ trụ, chẳng lẫn chút nào, tài tinh lại không xuất hiện, tình của quan tinh dựa vào ấn, tình của ấn dựa vào nhật chủ, chỉ sinh được một người, cho nên có quan không có vậy. Dù thực thương có hơi tạp cũng bị ấn tinh khắc, can cũng gian nan. Nếu thân vượng, quan vượng, ấn vượng, thực thương ám tang, không thương tổn quan tinh, không bị ấn tinh khắc, tự nhiên quý mà đông con. Nếu thân vượng quan suy, thực thương có khí, có ấn mà tài có thể hoại ấn, không tìa mà ngầm thành tài cục, không quý mà đông con và giàu. Nếu thân vượng quan suy, thực thương vượng mà không tài, có con tất nghèo, nêu thân nhược quan vượng, thực thương vượng mà không có ấn, nghèo mà không có con, hoặc có ấn phùng tài cũng theo luận thuyết này.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Đinh Dậu Ất Tỵ

Tháng Bính Ngọ Giáp Thìn

Tháng Bính Ngọ Giáp Thìn

Đông phương

Ngày Mậu Dần Quý Mão Mộc địa

Giáp Mộc trong Dần là sát dụng thần

Giờ Đinh Tỵ Nhâm Dần

Tân Sửu Bắc phương

Canh Tý Thuỷ địa

Mệnh này được tạo nên, nhật chủ Mậu Thổ, sinh vào tháng Ngọ giữa mùa hạ, Hoả khí viêm thịnh, lại gặp Hoả của Bính Đinh can chi năm, tháng, giờ sinh phù, Thổ của Mậu Kỷ trợ thân có thể nói thân cực vượng. Vượng lắm nên chế nên tiết cho nên lấy Dần trong chi ngày chế Giáp Mộc của ta thất sát, hoặc trong chi năm tiết Tân Kim trong Dậu của ta, lấy làm dụng thần. Lại xem hành vận, sớm trong năm Dần Mão Thìn Hợp Mộc, vạn hành phương đông được Mộc chế khắc, giữa và cuối năm chuyển sang Bắc phương Tý Sửu Thuỷ Vận, Thuỷ vượng sinh sát, cho nên là mệnh quý và quá phú.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm sát Quý Mão Nhâm Tuất Tây phương

Tháng sát Quý Hợi quan ấn Tân Dậu Kim địa

Ngày Đinh Mão ấn Canh Thân

Kỷ Mùi Nam phương

Giờ Tân Hợi Mậu Ngọ Hoả địa

Đinh Tỵ

Trong cục quan sát nắm quyền, tựa hồ thương uý, tốt ở địa chi Hợi Mão cung ấn, lưu thông Thuỷ khí, cho nên quan tinh có được lý hội. Đầu vận Tân Dậu. Canh Thân sinh sát hoại ấn, công danh đau tranh. Kỷ Mùi nhất vận, đại vận địa chi Mùi sẽ cảm ứng với mệnh cục Mão suy: Đại vận thiên can thấu xuất thực thần Kỷ Thổ, cho nên vận trình đi lên. Từ đó về sau Mậu Ngọ, Đinh Tỵ, thương sát thấu ra Tỷ kiếp trợ Thân, nên con đường thi cử huy hoàng, do đó có thể thấy, có mệnh ấy thì được vận ấy, nếu không chỉ mãi là hàn nho.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm quan Quý Dậu Bính Thìn Đông phương

Ât Mão Mộc địa

Tháng kiếp Đinh Tỵ Giáp Canh

Ngày Bính Ngọ Quý Sửu Bắc Phương

Giờ sát Nhâm Thìn Nhâm Tý Thuỷ địa

Tân Hợi

Bính Hoả sinh vào tháng đầu mùa hạ, toạ lộc lâm vượng, lại gặp can tháng Đinh kiếp trợ thân, cho nên bản thân thuộc cường, tốt ở địa chi Kỷ Dậu cung Kim, tài có thể sinh quan, quan lại chế kiếp. Càng hay hơn là Can giờ thấu xuất Nhâm Thuỷ, giúp khởi can năm quý quan, trỏ thành tượng ký tế của trụ tháng trụ ngày, kết hợp đại vận, một khi tiền vào Bắc Phương Thuỷ Địa, đăng khoa phát giáp, danh lợi đều sáng.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Tài Giáp Ngọ sát ấn Đinh Mão

Tháng quan Bính Dần tài quan ấn Mậu Thìn

Ngày Tân Dậu tỉ Ky Tị

Giờ ấn ẩn tỉ thực Canh Ngọ

Tân Mùi Nhâm thân Quý Dậu

Mệnh này bản thân can ngày Tân Kim, can năm tài tinh, can tháng quan tinh, can giờ ấn tinh, đều thông căn lộc vượng. Canh Ngọ nhất vận, 5 năm trước canh vận đeo vào người, nên trong vận năm Quý Dậu đăng khoa phát Giáp, sau 5 năm Ngọ vận thì sát vượng bệnh phát, thân thuộc hình tang đi đến Tân vận, tỉ đến trợ thân ở năm Kỷ Mão phát giáp lên cao, sau đó vận đi đến Kim Thuỷ. Giúp Thân chế sát, tung cánh bay cao.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Ất Tỵ Canh Thìn

Tháng Tân Tỵ Kỷ Mão

Ngày Canh Thìn Mậu Dần

Giò Giáp Thân Đinh Sửu

Canh Kim ở vào ngày 5 lập hạ, Thổ đương lệnh mà Bính Hoả lại chưa nắm quyền, sinh canh Kim toạ thực, thêm vào chi Thìn, giờ Thân, sinh phù đều vượng, can tháng Tân kiếp, chi năm trường sinh là giúp, có thể thấy đấy là mệnh chưa sát ít. Phân tích trong mệnh tuy chi năm thấu xuất tài tinh nhưng tài tinh này vô căn mà gặp kiếp, cho nên có thê bói khi giao vào Đinh vận, do quan tinh nguyền thần phát lộ. Cho nên trong 2 năm Mậu Dần, Kỷ Mão tài tinh đắc địa. Thời hỉ dụng đều đến, khoa Giáp cùng đạt, sách nói: lấy sát hoá quyền, hiện rõ vẻ quý nơi cửa.

3. Sao biết người ấy nghèo

Tài thần Phân Bất gọi là “tài thần Bất Trân”, Nhậm Thiết Tiều cho rằng đại thể có 9 loại tình hình: một là tài năng mà thực, thương nhiều, hai là tài nhẹ hỉ thực, thương, mà ấn lườm tổn tài, ba là tài nhẹ kiếp nặng mà kỵ thấy thực thương, bốn là tài nhiều kiếp nhẹ mà quan tinh chế kiếp, năm là hỉ ấn mà tài tinh hoại ấn, sáu là kỵ ấn mà tài tinh sinh quan, bảy là hỉ tài mà tài hợp giảm thần mà hoá, tám là kỵ tài mà tài hợp gián thần hoá tài, chín là quan sát vượng dung ấn mà tài tinh đắc cục, đều là: phàm mệnh bại nghiệp phá gia, mới xem tựa hồ tốt đẹp, không tài quan đều đẹp thì can chi đều thanh không sát ấn tương sinh, thì tài làm vượng địa, không biết tài quan tuy có thể dưỡng mệnh vinh thân, đầu tiên nhật chỉ phải vượng tướng, mới có thể đảm đương tài phú, nếu thái quá bất cập, đều là bất trân, có thể tán có thể hao; rốt cục không thể phú quý được.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Quý Mão Quý Sửu

Tháng Giáp Dần Nhâm Tý

Ngày Đinh Tỵ Tân Hợi

Giò Kỷ Dậu Canh Tuất

Mệnh này Dậu tài tàng mà Quý sát lộ và sát ấn nối liền Bắc Phương, nhưng do sát can năm vô căn và tinh hoa của sát bị ấn thụ lấy mất, cho nên không dùng Quý Thuỷ làm dụng thần. Lại xem tài của Dậu Kim ở chi giờ, bên trên có Kỷ Thổ che trùm đầu, xem ra là đẹp nhưng mà toàn bộ cách cục Mộc vượng Thổ hư, tướng Hoả phùng sing, cho nên Kỷ Dậu không hội Kim thành tài, khiến cho tài tinh bất chân. Kết hợp đại vận khi giao Nhâm Tý, tiết Kim sinh Mộc, làm suy bại hết tổ nghiệp. Sau đó đi đến Quý vận, ấn gặp trường sinh, sẽ bị chết đói.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Nảm Tân Sửu Ất Mui

Tháng Bính Thân Giáp Ngọ

Ngày Qúy Tỵ Quý Tỵ

Giò Canh Thân Nhâm Thìn

Trong mệnh Bính tài tọa lộc, trong Sửu nhất sát độc thanh, xem ra tựa tốt đẹp, đáng tiếc trong cục ấn tinh qúa nặng, Sửu sát sinh ấn che tài, thêm vào Bính Tân Kim hợp mà hoá Thuỷ, biến tài thành kiếp, canh thân ở Tỵ, tài càng bất chân. Đầu hành vận, người Ất Mùi, Giáp Ngọ, Mộc Hoả đều vượng, thực thần sinh tài. Tổ nghiệp phong lưu. về sau một khi giao với Quý Tỵ, Tỵ cùng Thân Kim trong mệnh, đều hợp thành Thuỷ, khắp nơi Tỷ kiếp, bại tan như vôi, cuối cùng lâm cảnh ăn mày.

4. Sao biết người đó hèn

Quan tinh vẫn không thấy, Nhậm Thiết Tiều cho rằng quan tinh không thấy là do 3 tình huống, mức trên, mức giữa và mức dưới. Quan nhẹ, ấn nặng, thân vượng hoặc quan nặng ấn nhẹ, thân nhược, hoặc quan ấn bằng nhau, nhật chủ hưu tù, đây là quan tinh không thấy ở mức trên. Quan nhẹ, kiếp nặng, vô tài hoặc quan sát nặng vô ân, hoặc tài nhẹ kiếp nặng, quan phục, đó là quan tinh không thấy ở mức giữa.

Quan vượng hỉ ấn, tài tinh hoại ấn hoặc quan sát nặng vô ấn, thực thương cường chế hoặc quan nhiều kỵ tài, tài tinh đắc cục hoặc hỉ quan tinh mà quan tinh hợp với thần khác mà hoá thương, hoặc kỵ quan tinh, thần khác hợp quan tinh mà lại hoá quan, đó là quan tinh không thấy ở mức dưới.

Bát tự của mệnh:

Năm Đinh Sửu Tháng Nhâm Tý

Ngày Đinh Hợi Giờ Giáp Thìn

Đinh Hoả sinh vào giữa mùa Đông, Can tháng thấu xuất Nhâm Thuỷ, địa Chi Hợi Tý Sửu hội bắc phương Thuỷ cục, mà Thìn lại là đất ướt. Không thể không chế được Thuỷ mà còn làm mò Hoả, thêm vào nhật chủ hư nhược, Giáp Mộc khô héo, Mộc ướt không thể sinh ra ngọn lửa được. Cho nên quan tinh vượng cực bất chân, trở thành tượng trong và khô. Tốt ở trong cục không có Kim, khí thế thuần trong, là người học vấn thực sự, xử thế không câu nệ, lấy việc dạy học làm kế sinh sống hàng ngày, chịu phận thanh bần, đó gọi là “quan tinh không thấy ở mức cao”

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Bính Thìn Tân Mão

Tháng Canh Dần Nhâm Thìn

Ngày Bính Ngọ Quý Tỵ

Giờ Nhâm Thìn Giáp Ngọ

Ất Mùi

Mệnh này Canh tài lâm vào tuyệt địa, vô căn, khí quan tinh cũng không đủ, vận đi về đông nam đất của Mộc Hoả, cho nên lúc nhỏ chết cha, mẹ đi lấy người khác, mấy năm sau mẹ chết, chăn trâu sông qua ngày. Lúc mối lớn lên đi ở kiếm sống, về sau không may mù cả hai mắt, không làm thuê mà đi xin ăn để sống.

5. Sao biết người ấy cát

Hỉ thần là phù bật hỉ thần là dụng thần phù bật, thuộc về cát thần trong tứ trụ nếu như có hỉ thân dụng thần có thể cả đời cát nhiều hung ít. Ngược lại trong tứ trụ không có hỉ thần xuất hiện, tuy có dụng thần nêu tuế vận không gặp kỵ thần xung khắc thì thôi, nếu qủa gặp kỵ thần, phần lớn khó tránh hung tai.

Bát tự của mệnh:

Năm sát Giáp Tý Tháng ấn Bính Dần sát ấn tĩ

Ngày Mậu Dần Giờ Kỷ Mùi

Đầu xuân, đất lỏng cát vượng phùng tài, cho nên lấy chính ấn Bính Hoả là dụng thần. Chi năm tài tinh sỏ thích cách với quả ấn và tài sinh sát, sát sinh ấn, có sinh sinh không sạch, lại lấy giờ Mùi giúp bản thân làm hỉ thần, hơn nữa tứ chi thuần tuý, chủ tòng đắc nghi thần, cho nên sớm đăng khoa Giáp, cả đời chỉ cát không hung, làm tới chức quan sát. Cuối đòi về hưu, phu phụ song toàn, thọ đến 80, mấy đời con cháu đều thi cử đỗ đạt

Bát tự của mệnh:

Năm Bính Thân Tháng Kỷ Hợi

Ngày Canh Thìn Giờ Mậu Dần

Đây là hàn Kim hỉ Hoả, can năm Bính Hoả được chi giờ Dần Mộc tương sinh, thì Hoả có ngọn lửa, nhưng dụng tài sát đầu tiên phải thân ngày vượng, hiện tại can ngày Canh Kim hỉ phùng Kim trong chi năm là lộc và tam ấn can tháng Kỷ Thổ, can giờ Mậu Thổ, chi ngày Thìn Thổ đều sinh, thêm vào chi Hợi Thuỷ đương quyền, thân Kim tham sinh không xung Dần Mộc. Xem cả toàn cục, không Hoả thì Thổ đông Kim hàn, không Mộc thì Thuỷ vượng Hoả hư, cho nên cân nhắc lấy Hoả làm dụng thần, Mộc làm hỉ thần, cả hai Mộc Hoả không thể thiếu một. Trong đoàn viên trúng hỉ, dụng thần. Cho nên cả đòi không hung không hiểm, đăng khoa phát Giáp, quan chức lên cao, con cháu đều đẹp, thọ ngoài 80 tuổi.

6. Sao biết người ấy gặp hung

Kỵ thần theo Triển Thế Công nói: gọi là kỵ thần tức là thần làm tổn hại dụng thần. Kỵ thần trong bát tự là bệnh, hỷ bệnh không thuốc. Có bệnh có thuốc là cát, có bệnh không thuốc là hung, như người sinh tháng Dần, nếu không dùng Giáp Mộc mà dùng Mậu Thổ, thế thì Giáp Mộc khắc Thổ sẽ thành kỵ thần của đương lệnh. Lúc này trong mệnh cục của nhật chủ nêu có Hoả hoá Mộc, có Kim chế Mộc, Hoả Kim này sẽ thành hỉ thần, nếu từ đó về sau hành vận càng phù hỉ ức kỵ đều có thể chuyển hung thành cát. Ngược lại nếu trong mệnh trong vận không có Hoả hoá Mộc, không có Kim chế Mộc, trái lại có Thuỷ sinh Mộc, có Mộc nuôi Mộc thế thì tai hoạ nhiều bề, đến già cũng không cát, ngoài ra, tuế vận tuy chưa thể phù hỉ ức kỵ nhưng cũng không kết bè với kỵ thần thế thì suốt đời không hung không cát làng nhàng đến già. Vì thế Lưu Cơ nói: tài cung không có khí, dụng thần vô lực, chẳng qua không phát đạt được mà thôi, cũng không bị hình hung. Còn như kỵ thần quá nhiều, hoặc hình hoặc xung, tuế vận trợ giúp. Chuyển sang công kích thần trong cục không được chuẩn bị, lại không theo chủ, không tránh khỏi hình tang phá bại, phạm tội, đến già cũng không cát.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Ất Hợi Đinh Sửu

Tháng Mậu Dần Bính Tý

Ngày Bính Tý Ất Hợi

Giờ Giáp Ngọ Giáp Tuất

Mệnh này Bính Hoả sinh vào ngày tháng Dần. Trong cục Dần Hợi hoá Mộc, năm đi vào Giáp Ất đều thấu, ấn tinh quá thịnh vượng mà chi ngày Tý Thuỷ lại bị chi giờ Ngọ Hoả xung phá, cho nên đành lấy can tháng khiếm Thổ làm dụng thần. Lại nhìn khí thế trong cục. Giáp Ất Mộc vượng, ngược lại được Hợi Tý Thuỷ sinh, đó là nói kỵ thần triển thế công vậy. Kết hợp vận trình, vận đầu Đinh Sửu, trợ khởi dụng thần, xuất thân cự phú, vui sướng đầy nhà. Khi giao với Bính Tý, Hoả không thông căn, Thuỷ trợ kỵ thần, nếu bố mẹ không chết, thì liên tiếp gặp Hoả tai. Vận đến Ất Hợi, Thuỷ Mộc đều vượng kỵ thần mỏ rộng, lại gặp Hỏa tai, khắc tam thê tự tử, nhảy xuống nước mà chết.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Tân Tỵ Kỷ Sửu

Tháng Can Dần Mậu Tý

Ngày Bính Thìn Đinh Hợi

Giờ Kỷ Sửu Bính Tuất

Ất Dậu

Bính Hoả tuy sinh vào tháng Dần nhưng xem rộng toàn cục Thổ Kim đều vượng, cho nên lấy Bính Mộc làm dụng thần. Nhưng Dần là cây non đầu mùa xuân, kỵ thấy Canh Kim che đầu nên lấy Canh là kỵ thần trong cục. Hành vận lúc đầu giao với Kỷ Sửu, Mậu Tý, sinh Kim tiết Hỏa, cha mẹ đều mất, sống cô độc không chịu nổi Đinh Hợi, Bính Tuất, vì Hoả đến Dậu đất Phương Bắc, không thể khử hết kỵ thần, cho nên trải đủ phong sương, lập nên gia nghiệp vừa phải. Khi giao với Ất Dậu, Ất hợp với can tháng Canh Kim, Dậu hợp với chi ngày Thìn Thổ mà hoá Kim, kỵ thần đắc thế, hình thê khắc tử, gặp Thuỷ tai mà chết.

7. Sao biết người ấy thọ

Tính định nguyên thần dày gọi là “tính định” tức là 4 chi trong cục đắc địa, ngũ hành dừng đều, những gì hợp đều là gian thần, những gì hoá đều là dụng thần, những gì xung đều là kỵ thần, những gì lưu đều là hỉ thần. Khuyết nguyên không hãm, không thiên lệnh không bóp méo. Con người “tính định” không tham yêu đương, không làm việc cẩn thả, là người nhân hậu hoà bình, nhân đức đều đủ, cho nên nhiều phúc, nhiều thọ. Gọi là “nguyên thần dày” tức là 4 chi trong cung nhược, gặp tài, tài nhẹ, gặp thương, thân nhược có ấn thụ sinh thân, thân vượng có Thực, Thương, Thổ ra, những gì hỉ đều là thần của đề cương, những gì kỵ là vật thất lệnh, hơn nữa đề cương có tình với chi giờ, hành vận cũng hỷ dụng thần không dừng, cho nên phú và thọ.

Bát tự của mệnh:

Năm Tân Sửu Tháng Quý Tỵ

Ngày Giáp Tý Giờ Bính Dần

Mệnh này tứ trụ thông căn sinh vượng, đầu nguồn lưu thông, rất là đặc sắc. xem trước 4 chi, bản thân Giáp Mộc, quy lộc ở chi giờ, ấn thụ Quý Thuỷ lộc ở chi ngày, thực thần Bính Hoả, lộc ở chi tháng, quan tinh Tân Kim, chi toạ bại địa. Lại xem ngũ hành chi tháng Tỵ Hoả sinh chi năm Sửu Thổ. Chi năm Sửu Thổ sinh can năm Tân Kim, can năm Tân Kim sinh can tháng Quý Thuỷ, can tháng Quý Thuỷ sinh can ngày Giáp Mộc, can ngày Giáp Mộc sinh can giờ Bính Hoả, Bính Hoả lại toạ ở trường sinh địa, có thể nói là nguồn xa chảy ra. Vì vậy, người có mệnh chủ này nhân đức đều đủ, cương nhu giúp nhau, chức ở tam phẩm, giàu có trăm vạn, thọ đến trăm tuổi, chỉ chết vì già.

Bát tự của mệnh:

Năm Ất Mùi Tháng Mậu Dần

Ngày Ất Mão Giờ Canh Thìn

Đông phương này chĩa thẳng vào nhân thọ cách, do Hoả khí trong cách suy vi, tài thần suy nhược nguyên khí, Mộc thế quá vượng, quan tinh mỏng mảnh vô cấn, cho nên suốt đời lận đận, trọng nghĩa khinh tài sông nếp thanh bần, nhưng hay ở đông phương nhất khí, nhân thọ thành cách. Lưu Cơ nói rằng: “khí của Giáp Ất Dần Mão lớn, không gặp xung chiến tiết thương, thiên vượng phù phiếm, có được an nhàn nên thọ. Mộc thuộc nhân, nhân thì tho, ai cũng ứng nghiệm”. Vì vậy tuy cuộc sống thanh bần nhưng thọ đến 94 tuổi mới mất.

8. Sao biết người ấy yếu, khí đục thần khô

Gọi là “khí đục”, Nhậm Thiết Tiêu cho rằng: đục tức là nhược. Người khí đục, nhật chủ thất lệnh. Dụng thần nông mỏng, kỵ thần sâu nặng, đề cương cùng chi giờ không chiếu nhau, chi năm và chi ngày không hoà, hỉ xung mà không xung, kỵ hợp mà không hợp, hành vận vô tình với hỉ dụng thần, ngược lại kỵ thần kết bè đãng, tuy không thọ nhưng có con. Gọi là “thần khô”, Nhậm Thiết Tiêu nói tiếp: thần cây bách, thân nhược mà ẩn thụ quá nặng, thân vượng mà đều không khắc tiết. Nhưng trọng dụng ấn mà tài tinh hoại ấn, thân nhược vô ấn mà trùng điệp thực, thương hoặc Kim hàn Thuỷ lãnh mà Thổ ướt hoặc Hoả bốc Thổ táo mà Mộc Khô, đều chết yểu mà không con. Lưu Cơ đã khái quát chung rằng i mệnh khí nhờn thần khô rất dễ xem., An thụ quá vượng, nhật chủ không có cái gì đến, tài sát quá vượng, nhật chủ không chỗ dựa, kỵ thần và hỉ thần tạp mà đánh nhau, tứ trụ nghịch với dụng thần mà tuyệt. Xung mà không Hoà, vượng mà không bị kiềm chế, ướt mà trệ, táo trên mặt, tinh lưu khí tiết, tháng bỏ giò thoát, đó đều là người không thọ.

Bát tự của mệnh:

Năm Đinh Sửu Nhâm Dần Bắc Phương

kỷ Thổ thương quan

Tháng Ọuý Mão Canh Tý Thuỷ Địa

Ẩt Mộc ân thụ dụng thần

Giờ thực thần

Mậu Tuất Ất Hợi

Mậu Thổ

thực thần Mậu Tuất Tây Phương

Đinh Dậu Kim Địa

Mệnh này Nhật chủ Bính Hoả, sinh tháng Mão giữa mùa xuân, Ất Mộc sinh Hoả, vốn thuộc việc tốt, đáng tiếc Kỷ Thổ trong chi năm Sửu. Mậu Thổ trong chi ngày Tuất, can chi trụ ngày lưỡng trùng Mậu Thổ, thực thương trùng trùng, khiến cho tự mình tiết khí quá nhiều, nhìn xem toàn cục khi lấy Ất Mộc ấn thụ làm dụng thần, đã có thể sinh ra mà còn chế phục được Thổ thái quá. Lại xem đại vận, từ Nhâm Dần về sau, cả một dày Hợi, Tý, Sửu là Thuỷ địa. Thuỷ tuy có thể chế Hoả nhưng Thuỷ lại có thể sinh Mộc, vận ở bước này không thể tốt hơn vận Mộc từ đông phương trực tiếp đến, nhưng lại không miễn cưỡng nói rằng đi qua. Nhưng một hành vận đi vào Tuất Dậu Kim địa, tuy nói Kim là tài vận nhưng Kim có thể khắc Mộc, tài tinh phá ấn, dụng thần bị chế, thế thì khó lòng giữ mệnh.

Bát tự của mệnh: Đại Vận

Năm Ấn thụ Ất Sửu Tân Kim Giáp Thấn

Tháng Ân thụ Ât Dậu Tân Kim, tử Quý Mùi

Ngày Bính Thìn Nhâm Ngọ

Giờ Chính tài Tân Mão Tân Tỵ

Mệnh này Bính Hoả sinh ở tháng Dậu tử địa, không có căn khí, thêm vào can giờ thấu xuất chính tài Tân Kim, chi năm chi tháng, Sửu Dậu cũng ngầm chứa chính tài Tân Kim, có thể nói là tài đa thân nhược, với mệnh tài đa thân nhược mà không có tỉ kiếp trợ thân, tốt nhất lấy ấn làm dụng thần, vì rằng ấn, có thể sinh Thân, cho nên dụng thần ở đây sẽ áp tại Ất Mộc sinh ta vậy. Nhưng can năm dụng ở Ất Mộc, tuy cùng can ngày cạn giờ Thìn Mão thông căn nối liền, nhưng từ tọa chi của hai Ất Mộc mà xét, sẽ rơi vào tài tinh Tân Kim, có thể gọi là tài đa thân nhược, với mệnh tài đa thân nhược mà không có tỉ kiếp trợ thần, tốt nhất lấy ấn làm dụng thần. Vì rằng ấn có thể sinh ta vậy, nhưng can năm dụng ở Ất Mộc, tuy cùng can ngày can giờ Thìn Mão thông căn nối liền, nhưng từ toạ chi của hai Ất Mộc mà xét, sẽ rơi vào tài tinh Tân Kim, có thể gọi là tài tinh phá ấn, trên dưới vô tình, ở trường hợp này, bề ngoài xem ra dụng thần tuy nhiên, nhưng lại không phải trân dụng, hơn nữa không có Tỷ, kiếp, lộc, nhậm sở hỉ trong mệnh bắt nhau, không khỏi gặp cảnh gian nan. Tốt ở đại vận Quý Mùi, Nhâm Ngọ, Hoả đến trợ Thân, can ngày đắc địa nên có thể lấy vợ sinh con, nhưng khi giao vào vận Tân Tỵ can ngày Tân trong vận tước bỏ dụng thần Ất Mộc, tài có thể hoại ấn, địa chi trong vận cùng chi năm, chi tháng Sửu, Dậu trong mệnh cấu thành Kim cục, lại ra sức khắc chế thương tinh, ấn tinh chứa trong chi ngày chi giờ trong mệnh, chết yểu khó tránh ở kiếp tinh.

Về vấn đề sinh, tử, thọ, yểu trong Uyên Hải Tử Bình ở phần Cách cục sinh tử dẫn dụng có 7 điều, nêu lên để tham khảo

1. Phàm là cách cục, tự có định luận, giờ nói tóm tắt. Ấn thị kiến Tài hành tài vận lại kiêm tử tuyệt, tất xuống suối vàng, nếu có Tỷ kiên, có thể giải.

2. Chính quan gặp sát và thương quan hình xung phá hại, tuế vận song hành, tất tử,

3. Chính tài thiên tài gặp tỷ kiên chia nhau đoạt, kiếp tài dương nhận, lại gặp Tuế vận xung hợp, tất tử

4. Cách của thương quan, tài vượng thân nhược, quan sát gặp lại, hỗn tạp dương nhận. Lại gặp tuế vận, tất tử, nếu sống bị thương tật.

5. Giữ lộc, giữ quý, sang bằng lại gặp quan xung, nhận gặp tuế vận.

6. Lộc ngày quy giờ, hình xung phá hại, gặp thất sát, quan tinh, không vong, quan sát đại kỵ, tuế vận cùng vận tất tử.

7. Các cách khác đều kỵ sát và san bằng tuế vận cùng đến, tất tử, Gặp các hung thần ác sát, ấn thụ không vong, điếu khách, mộ, bệnh, tử cung chư sát, thập tử nhất sinh. Quan tinh thái tuế, tài nhiều thân nhược, nguyên phạm thất sát, thân được cứu thì cát, không được cứu thì hung, Kim nhiều yểu chết, Mộc thịnh bay trôi, Mộc vượng thì yểu, Thổ nhiều si ngây, Hoả nhiều ngu dốt. Thái quá bất cập, không để câu nệ mà phải quả đoán, cần phải lý hội để tìm ra sinh tử.

Ngoài ra Tam mệnh thông hội ở quyển 8 nói: “Ngày Đinh Hợi, giờ Ất Tỵ, ngày giờ đều xung, tổn thương vợ con, Tỵ, Dậu, Sửu, Than Ty, Thìn 2 cục Kim thuỷ, tài cung đắc dụng nên phú quý vậy. Tiếp theo còn nêu hai ví dụ về Bát tự của mệnh, một là Nhâm Thìn, Giáp Thìn, Đinh Hợi, Ất Tỵ, nói đó là mệnh nghèo chờ chồng, một là Đinh Hợi, Giáp Thìn, Ất Hợi, Ất Tỵ, đó là mệnh ăn mày. Trên thực tế, do tồn tại khách quan nhiều loại không chuẩn xác, cho nên Trần Tố Am trong khán phú quý cát thọ bần tiện hung yếu pháp đã ra sức cổ vũ khuyến khích tư tưởng làm điều thiện, báo ứng nhân quả của Phật giáo. Lập luận của ông có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng mệnh học của các thế hệ đời sau, cho nên chúng tôi đã trích dẫn sau đây:

Cách cục phú quý cát, nghèo hèn hung, lấy lẽ đã định tương đối chuẩn, nhưng dùng đoán mệnh cho người không ứng nghiệm hoàn toàn là do bản thân có thiện ác và gia tộc có thiện ác. Phúc thiện dâm là lẽ tất nhiên. Như người làm điều ác, mệnh quý đến nhất phẩm thì giảm xuống chỉ còn tứ, ngũ phẩm, mệnh đáng giàu trăm vạn thì giảm xuống còn 6 - 7 chục vạn, mệnh đáng thọ trăm tuổi thì giảm xuống còn 6 - 7 chục tuổi; mệnh đáng hưởng đủ ngũ phúc thì giảm xuống còn 1 - 2. Như người làm điều thiện, mệnh lẽ cực hèn mà được vinh hiển một phần, mệnh đáng cực nghèo, có được tài sản của kẻ trung lưu, mệnh đáng chết sớm mà thọ được mấy chục tuổi, mệnh đáng gặp nhiều hung mà tránh được vài ba. Lẽ đời kẻ làm điều ác sao được hưởng phúc? Người làm điều thiện sao lại gặp hoạ, há không biết phúc đã bị tổn, hoạ đã bị diệt sao? Người biết hoạ phúc sao không biết mệnh, biết thiện ác là âm của hoạ phúc thì là biết mệnh. Tuy vậy, biết thì có ích gì? Có thay đổi được không, xưa Viên Liễu Phàm tiên sinh gặp thầy pháp thuật đoán mệnh, nói đi thì chỉ dừng ở cống sĩ mà không có con. Do trình bày cặn kẽ lý lịch, lúc đầu cái gì cũng đúng, sau gặp vị cao tăng, hướng dẫn học tạo mệnh, tích được phép làm điều thiện và cầu khoa bảng, tích được phép làm điều thiện cầu con cái. Thiên số đã định, thi hai kỳ đỗ cao, điều pháp sư đoán không có gì không nghiệm, cho nên phàm muôn cầu phú quý cát thọ mà tránh nghèo hèn hung yêu thì phải biết tích thiện là cần, hàng ngày tự nhớ việc làm, phải luôn tâm niệm nhân đức, việc việc đều thiện, lâu sẽ được như ý muốn. Nếu cậy mệnh thiện mà dám làm điều ác, mong mệnh giúp đỡ mà không biết suy nghĩ lại, đó là loại người ngu nhất trong thiên hạ, là kẻ sĩ chẳng có ý chí gì.

Đoán mệnh, ngoài đoán giàu nghèo thọ yểu là chính ra, có sách đoán mệnh còn không quên đoán bệnh tật cho người. Muốn đoán bệnh tật trước tiên phải liên hệ ngũ hành với lục phủ, sau đó căn cứ nguyên lý sinh ngũ hành để phân tích. Theo lý luận của Ô y, sự tương phối của ngũ hành với ngũ tạng, lục phủ như sau:

Giáp mật (đỏm) Ất gan (can)

Bính tiểu tràng Đinh tâm

Mậu dạ dày (vị) Kỷ tì

Canh đại tràng Tân phổi (phế)

Nhâm bàng quang Quý thận, tâm bào lạc tam tiêu

Trong đó mật, dạ dày, đại tràng, tam tiêu, bàng quan thuộc lục phủ, tính chất thuộc dương, cho nên đều phối với dương can, gan, tâm, tỳ thận thuộc ngũ tạng, tâm bào lạc thì thuộc vào tâm, tính chất thuộc âm, cho nên đều phối với âm can, ca rằng:

Giáp đơm Ất can Bính tiêu tràng

Đinh tâm Mậu vị Kỷ tỳ hương

Canh thị đại tràng Tân thuộc phế

Nhâm hệ bàng thoát Quý thận tàng

Tam tiêu diệc hướng Nhâm trung ký

Bào lạc đồng quy nhập Quý phương

Lại nói rằng:

Giáp đầu Ất hạng Bính kiên cầu

Đinh tâm Mậu hiếp Kỷ thuộc phúc

Canh thị tề luân Tân vi cổ

Nhâm cảnh Quý túc nhất Thân phúc

Chú thích: hạng (gáy) kiến (vai) hiếp (sườn) phúc (bụng) tề (rốn) cổ (đùi) túc (chân) Nam Định.

Đồng thòi, người xưa còn liên hệ 12 địa chi với các bộ phận ở thân thể nhưng nó không quan trọng bằng liên hệ với ngũ tạng, cho nên thường không được coi trọng.

Bây giờ đem việc liên hệ 12 địa chi với các bộ phận ở thân thể, ghép thành bài ca như sau:

Tý thuộc bàng quang thuỷ đạo nhĩ

Sửu vi bào đồ cập tỳ dương

Dần dởm phát mạch tịnh lưỡng thủ

Mão bản thập chỉ nội can phương

Thìn Thổ vì tỳ thận hung loại

Tỵ nhi xĩ yết hạ cửu cang

Ngọ Hoả tinh thần tự nhãn mục

Mùi Thổ vị quản cách tích lương

Thân Kim đại tràng kinh lạc phế

Dậu trung tỉnh huyết tiểu trường tàng

Tuất Thổ mệnh môn thoái Hoả túc

Hợi thuỷ vi đầu cập thận nang

Chú thích: bào (tâm bào) đỗ (bụng) đởm (mật) lưỡng thủ (hai tay) thập chỉ (10 ngón) can (gan) hung (ngực) xĩ yết (răng yết hầu) cửu cang (hậu môn) nhãn mục (mắt) vị quản (dạ dày) cách (hoành cách mô) tích lương (cột sống) phế (phổi) thoái (đùi) Hoả (mắt cá) túc (chân)...

Khi xem cụ thể, lấy can chi ngày làm chính, kết hợp ngũ hành sinh khắc thái quá bất cập mà định. Ví dụ can ngày là Giáp, Ất Mộc. Trong bát tự tứ trụ xuất hiện Kim trong Canh, Tân, Thân, Dậu, Mộc sẽ bị khắc, có thể sẽ bị gan mật, kinh sợ, lao lực, tay chân tê cứng, gân cốt đau nhức, đầu váng mắt hoa, hoặc mồm méo mắt xếch, phải trái bị liệt hoặc quỵ ngã thành thương tật. Ví dụ can ngày sinh vẫn là Giáp, Ất Mộc, trong Bát tự tứ trụ xuất hiện Hoả nhiều trong Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ mà không có thuỷ đến trợ giúp, lúc này Mộc khí bị tiết quá nhiều, có thể bị nội nhiệt miệng khô, đòm suyễn khạc ra máu, trúng phong không nói được, phụ nữ kinh nguyệt không đều: mang thai bị sẩy, trẻ con kinh phong cấp mạn tính, ho thở khóc đêm, da xanh xám. Tại sao Mộc bị Kim chế hoặc Hoả tiết quá nhiều mà sinh ra những chứng bệnh này, trong y học cổ truyền đã nói và phân tích nhiều, ở đây không đi sâu bàn luận.

Về cách xem bệnh tật nói ở trên, Trần Tố Am có cách kiên giải độc đáo của ông: xưa phân ngũ hành, luận về bệnh tật của người, không gì không hợp lý nhưng Ngũ hành tạng phủ kinh lạc của con người đều đủ, nhưng trong trụ mệnh trong vận của con người, ngũ hành vị tất đã đủ đầy, phải lấy một hành nào đó để đoán bệnh thì chia đủ linh nghiệm. Phải xem ngày và cách cục của nó, nêu mạnh khoẻ, trung hoà hoặc Hoả thuận đều là mệnh không có bệnh, nếu yếu đuối, xô tạp hoặc rũ xuống đều là mệnh có bệnh. Lại xem khí thế của thần, hoặc thái quá, hoặc bất cập, rồi kết hợp xem ngũ hành trong trụ trong mệnh mà tính, tức là không có Mộc mà sinh Mộc, khắc Mộc, xem thần Mộc sinh Mộc khắc mà có thể đoán Mộc có bị bệnh hay không. Còn như can chi phôi với đầu, mắt, tay chân là ý muốn nói tìm biết tín hiệu. Nếu các bệnh đều thuộc về tâm thì theo luận thuyết của danh y, đâu phải ngũ hành? Phải trích mấy trăm loại sách thuốc để đưa vào mệnh vậy.

Để giản tiện dễ nhớ, lấy một phần bài phú cổ trích ra sau đây:

Gân cốt sưng đau, do Mộc bị Kim làm tổn thương, mắt mờ tối hẳn do Hoả bị thuỷ khắc; Thổ hư gặp Mộc vượng, tỳ bị tổn thương; Kim nhược gặp Hoả viêm là bị bệnh huyết lại nói:

Mộc gặp Kim khắc, bị tai nạn ở lưng sườn, Hoả bị Thuỷ làm tổn thương, tất bị tật mắt; tâm yếu thỏ dội thuộc về Kim Hoả tương hình; tỳ vị tổn thương do Thổ Thuỷ khắc nhau, chi Thuỷ can đều có Hoả bốc nên bụng đau tim bị che; chi Hoả can đầu có Thuỷ tích nên nội chướng mắt mờ; viêm trên (Hoả) đốt Thổ ướt nên đầu váng mắt hoa, nhuận dưới (Thuỷ) thuần ướt không Thổ chế, thận hư tai rè; đom đóm nháy (Hoả tinh) thừa vượng lâm li (Hoả phong); trong gió (trung phong) mất tiếng, thái bạch (Kim tinh) cứng sắc hợp Đoài Khôn (Kim Thổ) mất hồn mất vía.

Kết hợp với học thuật của các học giả Đài Loan thời nay, Từ Bình Bát tự đại đột phá cho rằng: phàm mệnh người, cường Kim phạt Mộc, Thổ nặng Mộc gãy, thuỷ nhiều Mộc trỗi. Hoả viêm Mộc bị đốt, Mộc nặng không tiết đều là gan mật có bệnh”, “phàm mệnh người, thuỷ nhiều Hoả tắt, Thổ nhiều Hoả mờ, Kim nhiều Hoả biến, Mộc nhiều Hoả tắc, Hoả nhiều không tiết, đều là bệnh tiểu tràng, bệnh tim”. “Phàm mệnh người, Mộc nặng Thổ lún, thuỷ nhiều Thổ hoang, Kim nhiều Thổ hư, Hoả nhiều Thổ cháy, Thổ vượng không tiết, đều là bệnh ở tỳ vị”, “phàm mệnh người , cường Hoả làm chảy Kim, Mộc rắn Kim bị thương, Thổ nhiều Kim bị vùi, thuỷ nhiều Kim bị chìm, Kim vượng không tiết, đều là đại tràng và phổi có bệnh” “Phàm mệnh người, Thổ nhiều thuỷ tắc, Kim nhiều thuỷ đục, Hoả nhiều thuỷ bốc hơi, Mộc nhiều thuỷ co lại, thuỷ vượng không tiết, đều là bàng quang và thận có bệnh.

Cách xem tật bệnh ở mệnh cục, học giả Đài Loan Lương Tâm Minh trong cuốn Hiện đại mệnh học còn tích cực để mắt tới việc nuôi dưỡng hậu thiên, đã nêu lên cách nói “tiên thiên hậu thiên điều hoà phù nhau bổ sung cho nhau. Trong sách Luận kiên khang cư gia chính quyết ông nói: thần điều hậu là thần dược, rất quan trọng trong mệnh cục. Mệnh chính cách sinh vào hạ lệnh viêm nhiệt, cần có thuỷ điều hậu tư nhuận, nếu không trong cục Hoả nhiệt quá táo sẽ không tốt. về mặt ăn uống, ăn chất mát thì tốt cho thân thể, những thức ăn táo nóng thì nên ăn ít. Mệnh chính cách sinh vào mùa đông lạnh, cần điều hoà cho ôn ấm, để lạnh quá sẽ không tốt, cho nên ăn chất nóng có lợi cho thân thể”.

Nguồn: Quang Tuệ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phán đoán nghèo hèn thọ yếu bệnh tật

Vận dụng triết lý ngũ hành trong Cuộc sống

Vận dụng triết lý tương sinh tương khắc của ngũ hành vào trong cuộc sống. Ứng dụng màu sắc ngũ hành để phối màu khi trang trí nhà cửa, vật dụng, quần áo hay trang sức cũng như phương tiện đi lại.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngũ hành với kim – mộc – thuỷ – hoả – thổ chứa những bí ẩn mà ngày nay, khi khoa học kỹ thuật càng hiện đại thì những ứng dụng của nó vào đời sống lại càng nhiều dưới các sắc thái khác nhau của nhịp sống mới. Chẳng phải là mê tín, nhưng những điều này làm cho cuộc sống trở nên thú vị hơn.

Mối quan hệ ngũ hành – cơ thể – sắc đẹp

Theo y học cổ truyền, các chức năng cơ thể con người chịu tác động khá lớn từ môi trường bên ngoài. Nếu thích nghi được với tất cả những sự thay đổi của môi trường thì cơ thể sẽ luôn đạt được sự cân bằng, còn ngược lại cân bằng bị phá vỡ sẽ sinh ra bệnh tật.

Trên nền tảng nhận thức cơ thể mỗi con người là một tiểu vũ trụ, phản ánh dòng chảy của tự nhiên, cơ thể sẽ đạt được trạng thái lý tưởng nhất như thuyết “thiên nhân hợp nhất” khi con người thích nghi hoàn toàn với mọi sự biến đổi của tự nhiên.

Theo y học cổ truyền, 5 yếu tố mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ là 5 vật chất cơ bản cấu thành nên hệ tự nhiên, gọi là ngũ hành.

  • Mộc: gỗ – ứng với mùa xuân, tuổi thơ. Trên cơ thể con người, mộc ứng với gan. 
  • Hoả: lửa – ứng với mùa hè, tuổi trẻ. Trên cơ thể con người, hoả ứng với tim.
  • Thổ: đất – ứng với mùa mưa, tuổi trưởng thành. Trên cơ thể con người, thổ ứng với dạ dày.
  • Kim: kim loại – ứng với mùa thu, tuổi trung niên. Trên cơ thể con người, kim ứng với phổi.
  • Thuỷ: nước – ứng với mùa đông, tuổi già. Trên cơ thể con người, thủy ứng với thận.

Sự thay đổi theo từng mùa sẽ liên quan mật thiết đến tính khí và cơ thể. Mùa xuân và mùa hè ngày dài hơn, khí vận tăng dần nên da trở nên mau mệt mỏi và cằn cỗi sau một ngày dài, rất mẫn cảm với các yếu tố gây kích ứng. Chăm sóc da là cần giữ cho da sạch sẽ, thông thoáng và cân bằng độ ẩm.

Vì vậy thời điểm này không thích hợp sử dụng những mỹ phẩm chứa nhiều chất dầu (vì chất dầu sẽ làm cản trở sự hô hấp của da). Những mỹ phẩm dạng gel trong có thể giúp hạn chế việc sử dụng chất dầu. Những mỹ phẩm chiết xuất từ thảo dược sẽ giúp bảo vệ da, giữ cho da sạch nên khi thoa đem lại cảm giác mát mẻ cho da. Những ngày xuân hè, làn da luôn có sắc diện hồng hào nên chỉ cần trang điểm nhẹ cũng làm đẹp cho con người.

Mùa thu đông ngày ngắn hơn, da dễ bị trạng thái trì trệ, chậm chạp của đêm dài làm mất đi vẻ tươi tắn, trẻ trung. Do thời tiết, da cũng dễ bị khô, bị dày lớp sừng tế bào chết. Do vậy cần bổ sung tối đa mỹ phẩm cung cấp chất tạo ẩm và chất dinh dưỡng nuôi da. Thường xuyên lấy đi lớp tế bào chết để da không bị lão hoá, không bị nhăn già. Mùa thu đông cần những tông màu trang điểm nóng và mạnh để làm ấm lên không khí chung quanh.

Ngũ hành với sắc màu đời sống

  • Màu sắc trang trí trong ngôi nhà luôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với người Việt Nam, vì chính màu sắc sẽ giúp mang lại cảm giác thoải mái, tự tin, lấy lại sự bình yên sau những giờ làm việc căng thẳng mệt mỏi ở bên ngoài.
  • Màu sắc của từng bộ phận trong và ngoài ngôi nhà phải được phối một cách hài hoà tương sinh, tương hợp với môi trường xung quanh, với tâm lý tình cảm, sở thích…
  • Màu sắc cũng được phân loại trong thuyết âm dương ngũ hành. Các màu nóng như đỏ – cam – vàng là “màu dương”. Các màu lạnh như xanh dương – xanh lá cây là “màu âm”.

Màu xanh tượng trưng cho mộc, màu hồng tượng trưng cho hỏa, màu vàng tượng trưng cho thổ, màu trắng tượng trưng cho kim và màu tối tượng trưng cho thủy. 

Ứng dụng tính tương sinh và tương khắc, những người thuộc mộc của ngũ hành, ngoài việc có thể chọn màu mộc (xanh) để sử dụng còn có thể dùng màu thủy (xanh đậm) vì thủy sinh mộc và kiêng dùng màu trắng vì trắng là màu của kim mà kim lại khắc mộc.

Chọn màu sắc theo lược đồ ngũ hành thì màu đỏ và màu xanh mang về thêm tài lộc; xanh lá, đỏ và vàng giúp cho danh phận; đỏ và trắng cho hôn nhân; vàng, trắng và đen cho trẻ con; đen và trắng là quý nhân giúp sức; trắng, đen và xanh lá cho nghề nghiệp; đen và xanh lá tăng thêm trí thức; đen, xanh lá và đỏ giúp ích cho phần gia đình. 

Ứng dụng phối màu

Các hành tương sinh và có thể phối hợp với nhau:

Thuỷ và Mộc = Đen và Xanh lục.

Mộc và Hoả = Xanh lục và Đỏ.

Hoả và Thổ = Đỏ và Vàng.

Thổ và Kim = Vàng và Trắng.

Kim và Thuỷ = Trắng và Đen.

Các hành tương khắc và không thể phối hợp:

Thổ và Thuỷ = Vàng và Đen.

Thuỷ và Hoả = Đen và Đỏ.

Hoả và Kim = Đỏ và Trắng.

Kim và Mộc = Trắng và Xanh lục.

Mộc và Thổ = Xanh lục và Vàng.

Tương tự như vậy khi phối màu từ 2 màu trở lên người ta cũng áp dụng các nguyên tắc tương sinh và tương khắc.

Ví dụ:

Phối hợp ba hành để có sự tương sinh là:

Kim – Thuỷ – Mộc = Trắng – Đen – Xanh lục.

Mộc – Hoả – Thổ = Xanh lục – Đỏ – Vàng.

Thổ – Kim – Thuỷ = Vàng – Trắng – Đen

Tính tương sinh của ngũ hành là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

Tính tương khắc của ngũ hành là: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận dụng triết lý ngũ hành trong Cuộc sống

Cây bồ đề trồng trước nhà tốt hay xấu? –

Cây bồ đề một trong những loại cây linh thiêng được nhiều người biết đến và có rất nhiều câu chuyện tâm linh về cây bồ đề. Đặc biệt bề các điển tích của phật giáo, thì cây Bồ đề đã đóng góp một vai trò rất quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật. Cây

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cây bồ đề một trong những loại cây linh thiêng được nhiều người biết đến và có rất nhiều câu chuyện tâm linh về cây bồ đề. Đặc biệt bề các điển tích của phật giáo, thì cây Bồ đề đã đóng góp một vai trò rất quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật. Cây bồ đề mọc trước nhà tốt hay xấu?

Tìm hiểu về cây bồ đề

Bồ đề hay còn gọi là cây giác ngộ, cây đề tên khoa học là Ficus religiosa đây một loại cây được cho là rất linh thiêng. Trong các điển tích của phạt giáo viết rằng, Đức Phật đã ngồi thiền dưới cây bồ đề, và từng bước ngộ ra được các giáo lý của Phật Giác. Chính vì thế, cây bồ đề được còn gọi là cây giác ngộ và được trồng nhiều trên thế giới, biểu tượng của một sự may mắn.

Về khoa học thì bồ đề có rất nhiều chất mang lại nhiều lợi ích. Nhựa cây bồ đề được sử dụng để chế biến nước hoa. Lá được dùng làm thực phẩm nuôi thú vật hay gia súc rất tốt, bởi vì lá chứa khoảng 9% chất đạm, 15.9 % chất xơ, 2.7 % chất béo, 68.3 % chất carbohydrates tổng cộng.

Cây bồ đề mọc trước nhà tốt hay xấu?

Cây bồ đề được tượng trưng là một sự may mắn, tốt lành, do vậy cây bồ đề mọc trước nhà là một điềm báo tốt cho gia đình bạn. Bạn có thể gặp được nhiều may mắn trong cuộc sống, có thể là việc làm thăng tiến, việc kinh doanh gặp nhiều thuận lợi.

Ở một số địa phương, nhiều gia đình còn trong cây bồ đề làm cây kiểng trước sân nhà để mong muốn gia đình gặp được nhiều may mắn trong cuộc sống.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cây bồ đề trồng trước nhà tốt hay xấu? –

Lai lịch cuốn Thần Khê Định Số của cụ Lê Qúy Đôn

Tìm hiểu về lai lịch cuốn Thần Khê Định Số của cụ Lê Qúy Đôn, trong cuốn sách này cụ đã để lại những bài phú hay nào hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lai lịch cuốn Thần Khê Định Số của cụ Lê Qúy Đôn

Lai lịch cuốn Thần Khê Định Số của cụ Lê Qúy Đôn

Lai lịch cuốn Thần Khê Định Số của cụ Lê Qúy Đôn

Về cuốn Thần Khê Định Số, tôi đã sử dụng cả phương pháp hối lộ và biên pháp mạnh mới có, và cũng có chút gian manh và một chút duyên cơ nữa. Hồi đó là năm 1925, tuổi tôi mới 14 và tôi thường chép những lá số cho chú tôi là thầy bói Lợn.

Chú tôi có đưa con là Khang, lúc đó nó 12 tuổi. Chúng tôi cùng học tại trường Tuấn Di tại xã sở tại. Do lệnh của cha tôi, tôi thường ra cửa hàng chú bói Lợn viết lá số viết lá số kiếm thêm tiền. Tiền công chép một lá số với lời giải đoán, bằng một tập vở là 10 xu, nhưng 10 xu khi ấy đủ ăn quà sáng 10 ngày. Dĩ nhiên tôi không thích lắm, vì tuổi trẻ là tuổi đánh bi, đánh đáo, bắt chuột đồng, câu cá, chứ không phải ngồi còm cọm viết số tử vi.

cũng không phải là tôi đã nghĩ tới bói toán và số tử vi, để đi tìm những cuốn như Thần Khê Định Số. Cho nên phải nghĩ là có duyên may. Nguyên do là bên cạnh nhà chú tôi, có ông Khóa Soạn, bán thuốc bắc.

Ông Khóa Soạn thèm cuốn Thần Khê Định Số

Ông Khóa Soạn ở sát vách nhà cụ bói Lợn. Ông thường sang bên nhà cụ bói Lợn nhắm rượu.

Nhiều khi, lúc trưa, cụ bói Lợn gọi vọng sang bên cạnh:

_Cụ Soạn ơi! Ngọ rồi, sang đây đưa cay

Ông Soạn sang uống rượu với vài hạt đậu phộng. Cụ bói lợn cười khà khà, khịt mũi và chề môi như cái mỏ vịt ngáp khi trời nắng gắt.

Tôi đã thầm nghĩ: "Cụ này cũng hiểm ra phết". Và không cần phải học bói, tôi cũng đoán được thế nào cụ Lợn cũng sắp sửa nhờ ông Khóa Soạn vừa nhai, vừa đọc các sách bói số để cụ Lợn nghe bao nhiêu điều trong sách.

Là một điều, là các sách dạy bói số, ông Soạn mượn về nhà để đọc, cụ Lợn cho mượn ngay, không cần ông Soạn phải hỏi tới hai câu. Duy có một cuốn ông Khóa Soạn hỏi mượn là không được, có những lần ông Khóa Soạn bỏ tiền mua rượu, đậu phộng, bánh da, cả bún chả, để thiết cụ Lợn và trong bữa rượu, các cụ nói chuyện thành hiền, chuyện bè bạn đối xử với nhau, tương thân, tương trợ đúng vẻ nho gia... Để rồi ông Soạn cất tiếng hỏi mượn xem cuốn sách kia, là rồi cụ lợn cũng chẳng còn tình bạn hay tánh thánh hiền nào, cụ Lợn từ chối phách.

Cuốn sách đặc biệt đó là cuốn Thần Khê Định số.

Cụ Lợn giải thích:

_Cụ thầy tôi đã trao phó cho tôi cuốn sách, trước khi cụ từ trần, cụ đã dặn tôi rằng cuốn Thần Khê Định Số đó là sách đắc truyền do chính Thần Khê Bảng Nhãn Lê Qúy Đôn biên khảo, cụ thầy tôi bảo phải giữ như của gia bảo, không thể cho ai biết.

Cụ Lợn lại nói thêm: 

_Cụ thầy tôi là cụ Các, đã dặn kỹ: "chỉ vì các con của tôi không đủ tài sử dụng nên mới trao sách cho trò".

Và cụ Lợn nói một câu giải thích thêm nữa rằng phải khổ công và tốn nhiều tiền biếu tôn sư rồi mới được cuốn sách.

Ông Soạn đành chịu.

Ông Soạn cố đoạt sách

Một bữa, đi qua nhà, tôi thấy ông Soạn nháy mắt và máy tôi vào nhà, ông Soạn đưa tôi vào mãi trong cùng vách rồi ghé tai tôi mà bảo:

_Anh Quang cùng học với thằng Khang phải không?

_Vâng!

_Nghe thằng Khang nói chuyện, nó sợ anh lắm phải không? Vì anh làm trùm ở trường...

Tôi hơi ngượng, vì quả có làm trùm ở trường thật.

Ông soạn móc túi đưa tôi đồng ván 20 xu và bảo:

_Tôi đưa anh tí tiền ăn quà, anh làm thế nào để cho thằng Khang lấy cuốn sách Thần Khê Định Số cho tôi mượn. Tôi sẽ thưởng anh một đồng.

Tôi giúp cụ Soạn ngay. Nhưng mất 10 xu cho thằng Khang cả 5 ngày mà không được, tôi đã định "thụi" nó thì nó nói:

_Để bữa nào thầy tớ say rượu, tớ sẽ lục tráp lấy sách cho mượn. Nhưng anh mượn sách để làm gì.

_Thì tao muốn biết xem sách đó có phải là sách bói gia truyền không?

Ông Soạn tốn thêm 2 đồng nữa để tôi đút lót cho thằng Khang, cuối cùng tôi nắm được cuốn Thần Khê Định Số trong tay, ông Soạn đọc để tôi chép ra quốc ngữ. Tôi ma lanh, viết tháu cho khó đọc và để lấy cớ về nha chép lại, để chép thêm bản nữa cho tôi. Thấy người lớn quý báu sách, tôi cũng a dua, chứ chẳng có mục đích gì cả.

Lai lịch cuốn Thần Khê Định Số

Cụ Khóa Soạn có kể cho tôi nghe về lai lịch cuốn Thần Khê Định Số.

Theo cụ, cuốn Thần Khê Định Số hoàn tất sau cuốn Phú Ma Thị, do chính tay cụ Lê Qúy Đôn tìm hiểu ở cuốn Trần Đoàn đẩu số, công với các kinh nghiệm riêng mà viết thành. Cụ Lê Qúy Đôn viết nên bộ Phú khi tuổi đã lớn, nên sách để lại cho gia đình, không truyền bá ra ngoài.

Sau khi thi đậu liền Tam Nguyên Đại Khoa, cụ Đôn tỏ ra mình có tài mọi bộ môn, nên học đủ thứ. Cụ học và chiêm nghiệm tử vi. thời đó, chúa Trịnh đã phải phán câu "Thiên hạ vô tri, vấn bảng Đôn" nghĩa là "ai có điều gì không biết hỏi cụ Bảng nhân Lê Qúy Đôn" để ca tụng cụ Bảng, và luôn luôn Lê Qúy Đôn đi đâu cũng tiền hô hậu ủng, kèm chiếc bảng đề năm chữ "vô chi vấn bảng Đôn", đủ tỏ ra ông ta kiêu ngạo tới chừng nào.

Một bữa, ông Lê Qúy Đôn đi kinh lý. Bỗng có cụ già quần nâu áo vải, đứng chắn ngang giữa đường. Toán tiền quân chặn hỏi "cụ kia có việc gì kêu cầu đến quan thượng?" cụ già râu tóc bạc trắng, tuy quần áo lam lũ, nhưng vẫn có vẻ tiên phong đạo cốt. Cụ nói:

_Lão có việc cần xin hỏi quan Bảng Nhãn.

Bảng Đôn ngồi kiệu đi tới, dõng dạc hỏi:

_Lão có điều chi muốn hỏi?

_Lão tứ cố vô thân ở Tổng có nhà phú hộ ra vế câu đối. Lão muốn nhờ quan Bảng đối cho vì lão đối không được. Quan Bảng có tấm biển "vô chi vấn bảng Đôn" tất là phải biết.

_Câu đối ra như thế nào?

Ông cụ đọc:

_Ba ba mà nấu nồi ba, tam tam như cửu hỏi là chín chưa?

Câu đối ra khá hóc búa và gồm những cuộc chơi chữ Nôm và chữ Hán độc đáo, con ba ba, nồi ba, ba lần ba là chín, chín lại nghĩa là nấu chín.

Bảng Đôn không đối được, bấm ngay quẻ độn. Quẻ độn chỉ ông già là vị Tiên ở núi Tản Viên hiện lên để cảnh cáo cái tánh kiêu ngạo của mình. Bảng Đôn toát mồ hôi, truyền dẹp tấm bảng, tạ lỗi với ông cụ, và từ đó chuyên tâm tìm hiểu về số mạng để tự an ủi về chỗ tài cao mà đỗ thấp của mình (không được đậu Trạng Nguyên).

Sự chuyên tâm của cụ Bảng Đôn còn nhắm vào chỗ giải quyết những cái khó khăn trong việc đoán số, những cái tưởng như phi lý, làm cho khoa tử vi mất đi sự chính xác. Như khi hai người sanh cùng giờ, một người giàu sang, một người nghèo hèn, là tại sao, và làm thế nào đoán cho chính xác được? cụ Bảng Đôn đã tìm hiểu tất cả. Và công trình tìm hiểu của cụ được tập chung lại trong bộ Định Khê Thần Số.

Chúng tôi sẽ thành tâm trình bày những câu phú chính trong Thần Khê Định Số để trình bày với quý bạn đọc, và những câu chuyện liên quan chứng minh rằng Phú Thần Khê Định Số đoán cho chính xác hơn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lai lịch cuốn Thần Khê Định Số của cụ Lê Qúy Đôn

Xem tướng ở bàn tay –

Cách xem thật đơn giản. Nếu bạn là nam: Hãy xem tay trái, ngược lại nếu bạn là nữ: Hãy quan sát bàn tay phải. Gò kim tinh (nằm dưới ngón tay cái): Tượng trưng cho sự sinh sản, cuộc sống. Gò kim tinh nằm ở phía dưới ngón tay cái, giữa đường sinh đạo v

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách xem thật đơn giản. Nếu bạn là nam: Hãy xem tay trái, ngược lại nếu bạn là nữ: Hãy quan sát bàn tay phải.

ban-tay-co-cac-go

Gò kim tinh (nằm dưới ngón tay cái):

Tượng trưng cho sự sinh sản, cuộc sống. Gò kim tinh nằm ở phía dưới ngón tay cái, giữa đường sinh đạo và ngón cái. Nếu nó phồng rõ và đầy đặn, thì đây là dấu hiệu một ước muốn chiều lòng, một nhu cầu thường trực các cuộc giao tiếp nhân văn (tình duyên, thân hữu, giao tiếp với người khác). Nếu gò kim tinh phẳng, cá nhân này gặp khó khăn trong việc tiếp xúc với người khác, anh ta không có sức hấp dẫn.

Gò hỏa tinh (Gò Hỏa Tinh âm nằm dưới gò thủy tinh, phần giữa, gần cạnh bàn tay và Gò Hỏa Tinh dương nằm giữa gò Kim Tinh và Mộc Tinh) :

Hỏa tinh là thần chiến tranh. Nó tượng trưng cho sự nồng nhiệt tình ái, tình bạn, cầu toàn, thậm chí cuồng tín, sự ghen tuông, sự bất khoan dung, sự tàn ác… gò hỏa tinh chiếm hai vị trí. Gò hỏa tinh thứ nhất (gọi là tích cực) nằm ở dưới đường sinh đạo gần ngón cái. Nếu nó phát triển và săn chắc, thì đó là dấu hiệu của uy quyền, của ý chí và lòng can đảm (tinh thần chỉ huy). Gò hỏa tinh thứ nhì (gọi là tiêu cực) nằm ở giữa đường tâm đạo và đường trí đạo ở phía bên kia bàn tay. Nếu nó phát triển và săn chắc, người có gò này không có tính bạo lực nhưng sự hăng say và sự can đảm của anh ta thiên về khía cạnh trí thức.

Gò thổ tinh (nằm dưới ngón giữa):

Đây là thần Chronos, tượng trưng cho thời gian và sự xây dựng. Gò thổ tinh nằm dưới ngón giữa. nếu nó đầy đặn rõ ràng, thì đây là dấu hiệu của sự cẩn thận thậm chí là sự nghi ngại trong các cuộc tiếp xúc với người khác. Con người này thích sự cô đơn, có tính nghiêm túc trong công việc và trong nghiên cứu. Không có gò thổ tinh là dấu hiệu của một bản chất hời hợt, dễ thay đổi, phù phiếm.

Gò thái dương (nằm dưới ngón đeo nhẫn):

Gò thái dương hay còn gọi là gò Apollon – nằm ở dưới ngón tay đeo nhẫn. Nếu nó đầy đặn thì đây là dấu hiệu của sự vinh quang, các năng khiếu thẩm mỹ. Người này có sở thích trong tất cả các lãnh vực, người ấy thích giao thiệp và rộng lượng. Không có gò thái dương là dấu hiệu ít có cơ hội thành công. Người này chỉ thích thi hành hơn là chỉ huy.

Gò thủy tinh (nằm dưới ngón út):

Thần của sự thông minh, và cũng là thần thương mại. Gò thủy tinh nằm dưới ngón út. Chúng ta chỉ có thể nghiên cứu gò này khi kết hợp với đường trí đạo. Nếu nó đầy đặn và đường trí đạo rõ ràng và dài thì đây là dấu hiệu của một sự thông minh lanh lợi, tài hùng biện, sự thích nghi, các mối quan hệ tốt đẹp với những người khác và một năng khiếu thương mại. Nếu đường trí đạo không dài và cũng không rõ ràng, thì người này vẫn giữ tính thương mại nhưng lại thiên về sự gian lận.

Gò thái âm (nằm dưới gò Hỏa Tinh, phần cuối, gần cạnh bàn tay và cổ tay):

Đây là dấu hiệu nữ tính điển hình. Gò thái âm nằm ở phía dưới bàn tay đối diện với gò kim tinh. Nếu nó rất đầy đặn, trí tưởng tượng lấn lướt hành động. Người này thích sự thay đổi, các cuộc du hành và không tôn trọng các qui tắc. Nếu gò thái âm phẳng, người ấy lại quá chú trọng đến chi tiết và sự thực hành đến độ trở nên lo âu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng ở bàn tay –

Tướng nốt ruồi đàn ông |

Nốt ruồi trên khuôn mặt đàn ông có ý nghĩa như thế nào? Nó cho ta biết những điều gì ? Nốt ruồi trên khuôn mặt của bạn như thế nào? Cùng xem và khám phá nhé. 1- Hại cha mẹ 2- Thích làm quan 3- Làm quan to 4- Chết vì tai nạn 5- Không hợp nghề võ 6- Số
Tướng nốt ruồi đàn ông |

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng nốt ruồi đàn ông |

Cổng làng ma ám với xe Exciter, những cái chết bí ẩn

Mặc dù mới xây đươc 4 năm nhưng cổng làng ma ám Nhĩ Thượng đã chứng kiến 25 vụ tai nạn với 6 cái chết thương tâm, hàng chục người phải vào viện.
Cổng làng ma ám với xe Exciter, những cái chết bí ẩn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mặc dù mới xây đươc 4 năm nhưng cổng làng Nhĩ Thượng đã chứng kiến 25 vụ tai nạn với 6 cái chết thương tâm, hàng chục người phải vào viện. Những cái chết cùng giờ, cùng địa điểm, cùng đi xe Exciter, vậy "bí ẩn" là gì?

 
► Mời các bạn đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật

Tai nạn cùng giờ, chết cùng địa điểm

  Đoạn đường dẫn vào cổng làng ma ám Nhĩ Thượng cách con đường chính lên huyện khoảng chừng 800m. Trên đoạn đường này không có nhà ở, dọc hai bên đường là ruộng lúa và một ít lăng mộ.Đến đầu năm 2012, đoạn đường được huyện đầu tư mở rộng và đổ nhựa, lòng đường rộng gần 5m.
Cong lang ma am voi xe Exciter, nhung cai chet bi an hinh anh
Cổng làng Nhĩ Thượng

 
Hoàn thành con đường mới được một tháng, thì trên đoạn đường này cách cổng làng khoảng 100m đã xảy ra một tai nạn lạ lùng. Một cán bộ trung tâm y tế dự phòng của huyện (quê xã Trung Giang), trên đường đi làm về lúc khoảng 7h tối thì tự gây tai nạn chết ngay tại chỗ. Không có ai đâm vào xe của người này. Người chạy xe tự trượt xe ngã xuống, đầu đập mạnh xuống nền đường dẫn đến tử vong.   Sau cái chết đó chưa được bao lâu thì đến lượt một người đàn ông quê xã Gio Hải khi đi tắt qua đoạn đường này về nhà thì gặp tai nạn chết. Ông Nguyễn Đức, người chứng kiến vụ này kể lại “ Lúc đó cũng khoảng chừng gần 7h tối, trời vẫn còn sáng vì mùa hè, tôi đang dắt con trâu dưới ruộng lên để lùa về nhà thì thấy anh ấy chạy xe máy hướng về cổng làng. Cách cổng làng khoảng 100m đang có một xe tải chạy cùng chiều. Anh ấy tự dưng loạng choạng tay lái rồi đâm thẳng vào sau xe ô tô”. Cú va chạm mạnh làm người đi xe máy văng khỏi xe, rơi xuống ruộng, chết tại chỗ.   Vài tháng sau “đến lượt” một nam thanh niên trong thôn, vừa tốt nghiệp cao đẳng, đang trên đường về quê sau thời gian xa nhà. Người mẹ đau đớn kể lại: “Nó nói với tôi qua điện thoại: “Mẹ ơi đợi cơm con, khoảng 30 phút nữa con sẽ về với mẹ”, thế nhưng nó mãi mãi không bao giờ về với tôi nữa, oan nghiệt quá”.   Sau hàng loạt những tai nạn bất thường, ai đi qua đoạn đường này cũng cố gắng chạy chậm và bình tĩnh. Thế nhưng vẫn không tránh khỏi những tai nạn quái gở, nặng thì vong mạng, nhẹ cũng nhập viện.   Hầu hết những vụ tai nạn đều gần như cùng giờ, cùng địa điểm. Ông Nguyễn Xuân Đông, Trưởng thôn Nhĩ Thượng thống kê: “Tính đến thời điểm này, hầu hết các vụ tai nạn đều xảy ra trong hai khoảng thời gian, là 12h trưa và 7h tối, đều cách cổng làng khoảng 100m. Mọi người dù có cẩn thận thế nào, khi đi qua cổng làng khoảng giờ trên đều ít nhiều cũng bị ngã xe.”.   “Biết chết mà vẫn không tránh được”, như tai nạn vào tháng 7/2014 mới đây. Một nữ cử nhân đại học sư phạm quê ở Vĩnh Thành (Vĩnh Linh) đi xe máy về làng Nhĩ Thượng để dự đám cưới người bà con. Tiệc cưới xong, cô định ra về lúc 12h trưa. Mọi người khuyên can hết lời, cô vẫn quyết đi để kịp giờ buổi dạy chiều. Qua cổng làng Nhỉ Thượng, cô bị tai nạn chết tại chỗ. Người ta không biết nguyên nhân thế nào, chỉ nghe tiếng “rầm”, khi dân làng chạy ra thì thiếu nữ đã tử vong.   Những người từng thoát chết nói gì?   Chẳng lẽ cổng làng lại có “ma”? Những người sống sót sau các vụ tai nạn thuật lại những gì? Pháp luật & Thời đại đã tìm gặp các nhân chứng.   Ông Nguyễn Mỹ, người thôn Nhĩ Thượng là một nạn nhân của vụ tai nạn cách cổng làng 50m. Ông Mỹ năm nay 74 tuổi, tuổi cao nhưng trước khi gặp nạn, sức vẫn còn lao động tốt. Một ngày cuối tháng 4/2014, ông đi gieo lúa về muộn, trên đường kéo xe kéo về nhà bị tai nạn phải nhập bệnh viện Huế. Ông kể lại: “Lúc đó trời đã chạng vạng, tôi vừa đi gieo lúa về, kéo xe sát mép đường, cách cổng làng khoảng 50m thì nghe một tiếng rầm, hai cành của xe kéo đánh mạnh vào lưng tôi. Tôi văng xuống ruộng, khi tỉnh lại đã thấy mình nằm trên giường bệnh viện”.   Người đụng ông Mỹ là anh Trần Hữu Cảnh, chạy xe máy đi cùng chiều. Anh Cảnh thuật lại: “Lúc đi đến đoạn đường trên thì đèn xe tôi tự dưng tắt phụt, sau đó tôi không còn điều khiển được tay lái, ông Mỹ đang di chuyển phía trước nhưng trước khi đâm đến, tôi lại tưởng đó là đống rơm người ta phơi bên đường. Ai dè khi lao tới nghe tiếng rầm rồi cảm giác đau lộng óc”. Ông Mỹ mất bốn tháng nằm điều trị ở bệnh viện Trung ương Huế.   Nhiều người thoát chết khác kể lại, lúc bị tai nạn đều hoàn toàn mất phương hướng giống như ai đang giữ tay lái xe mình. Em Nguyễn Văn Tiến từng bị ngã xe ở đây kể lại: “Khoảng hơn 12h trưa ngày 13/8/2013, em chạy xe máy đi mua thẻ điện thoại, đi qua cổng làng bỗng cảm giác như ai kéo tay lái xe về bên trái, em bình tĩnh quăng xe, nhảy xuống đường. Chiếc xe lao thẳng xuống ruộng. May số em còn lớn, chiếc xe hư hỏng nặng, nhưng người không bị gì”.   Người mê tín cho rằng cổng làng trước đây không hề có chuyện ma ở, từ ngày có con đường mới thì liên tiếp mới xảy ra những vụ tai nạn nên có thể “con đường mới được mở rộng đã đi qua trên xác thịt của ai đó nên họ phản đối, bắt phạt những người đi qua đây phải chết”.   Ông Nguyễn Mai, nhà gần cổng làng hoang mang: “Chẳng biết có ma thật hay “thần hồn nát thần tính” mà nhiều đêm người trong nhà tôi nghe thấy tiếng khóc lóc thảm thiết, gọi nhau văng vẳng. Từ khi những vụ tai nạn xảy ra, cứ tối đến nhà tôi không dám mở cửa”.   Tính đến thời điểm hiện tại cổng làng mới chưa được hai năm nhưng đã xảy hơn 25 vụ tai nạn lớn nhỏ khiến người đi đường qua đây bất an. “Nhiều vụ tai nạn rất vô lý. Nhiều người không tin chuyện “ma ám”, nhưng sự trùng lặp cứ diễn ra trước mặt liên tiếp như thế, ai cũng phải hoang mang”, một nhân chứng nói.   Một điều trùng lặp khác, rất nhiều nạn nhân trong những vụ tai nạn này đều chạy xe Yamaha Exciter. Hai người đàn ông đầu tiên tử vong tại đây đều chạy xe loại này. Rồi anh Trần Văn Long vừa mua chiếc xe Exciter về, xe mới chưa về tới nhà, khi đi qua đoạn đường này đã bị tai nạn. Anh Phạm Thái (ngụ xã Gio Thành) điều khiển chiếc Exciter kéo xe gỗ qua cổng làng thì xe gỗ lật ngửa giữa đường…   Người làng đã quá quen với cảnh tượng người thân của các nạn nhân đến cổng lảng gọi “hồn” về. Đặc biệt có một “pháp sư” càng gieo thêm nỗi hoang mang trong dư luận khi lắc đầu: “Gọi cũng vô ích, các oan hồn rủ nhau ở lại đó, nói: “Bây giờ dưới ni đông vui lắm, ở đây không muốn về nữa””.   Người làng hạn chế tai nạn bằng cách đến những khoảng thời gian 12h trưa và 7h tối, không ai đi qua cổng làng ma ám này. Ai chạy xe Exciter thì tuyệt nhiên không đi lỗi này, mà tìm đường vòng tránh “cửa tử”.   Những cũng chính từ những đặc điểm này, mà Pháp luật & Thời đại đã đặt ra một lý giải. Đoạn đường đẹp thẳng băng, không bị hạn chế tầm nhìn, những người qua đây đều “mát ga” (đặc biệt với loại xe côn tay khó điều khiển như Exciter), bất cẩn, không làm chủ được tốc độ, nên chuyện tai nạn là hoàn toàn có thể xảy ra, chứ không có “con ma” nào “trấn yểm” đoạn đường?

ST.

Tại sao mắt thường lại không nhìn thấy linh hồn hay quỷ thần? 5 điềm báo bạn sắp có tiền hoặc có tình Khám Chí Hòa - Trận đồ bát quái giam giữ linh hồn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cổng làng ma ám với xe Exciter, những cái chết bí ẩn

Những lý do khiến bạn muốn mua trúc phú quý theo phong thủy

Trồng trúc phú quý theo phong thủy sẽ bạn có thể hỗ trợ bạn theo mục đích của mình như: thu hút tài lộc, vận may về chuyện tình duyên, con cái...
Những lý do khiến bạn muốn mua trúc phú quý theo phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

    Bạn đã từng thấy cây phất dụ trúc (trúc phú quý) ở nhiều nơi từ nhà hàng, cửa hàng, khách sạn… và bị thu hút bởi vẻ ngoài nhỏ nhắn, dễ thương của loại cây này khi nó được trồng trong chiếc bình thủy tinh hoặc kim loại.   Trúc phú quý theo phong thủy được xem như là phương thức mạnh mẽ để thu hút sự sức khỏe, sự thịnh vượng cho gia chủ nhưng bạn đã thực sự hiểu lý do vì sao phất dụ trúc được coi là biểu tượng may mắn trong phong thủy.  

Tại sao cây phất dụ trúc được xem là may mắn?
 

Trong tiếng Anh, phất dụ trúc được gọi với cái tên "Lucky Bamboo" hay còn gọi là trúc phú quý - cây cũng như tên, trăm đường phú quý tức là theo phong thủy đó là loại cây mang lại may mắn với lý do:
 
- Đó là do cấu trúc rỗng của cây giúp thúc đẩy năng lượng lưu thông. Như vậy, phất dụ trúc giúp năng lượng trong nhà chuyển thông, luôn mới mẻ và hút thêm nhiều năng lượng dương mang lại cuộc sống thịnh vượng.
 
- Cũng chính cấu trúc rỗng (như chiếc ống) giúp cho dòng chảy năng lượng tích cực từ bên trong ra bên ngoài và làm dịu tâm trí, giúp bạn dễ tập trung hơn.
 
Ngoài ra, cây trúc phú quý có đầy đủ 5 yếu tố ngũ hành: 
 
Mộc: Cây phất dụ trúc tượng trưng cho yếu tố Mộc.
 
Thủy: Chúng ta cần phải thường xuyên thay nước cho bình trồng cây và đây là yếu tố Thủy.
 
Thổ: Đá, sỏi, đá sét để trong bình đại diện cho yếu tố Thổ.
 
Hỏa: Khi trồng loại cây này trong nhà nên treo dải ruy băng màu đỏ (tượng trưng cho Hỏa) để buộc thân bình hoặc thân cây.
 
Kim: Thông thường nên đặt một đồng xu bằng kim loại được cột ruy băng đỏ hoặc đặt đồng xu trong bình và đó là yếu tố thuộc hành Kim.
 
Với những đặc điểm trên của trúc phú quý không có nghĩa là bạn để cây ở đâu cũng mang lại may mắn. Có một số quy tắc trúc phú quý theo phong thủy về vị trí trồng cây bạn nên cân nhắc.

Bạn có thể tham khảo: Làm thế nào để cải thiện phong thủy tài lộc năm 2017?

 
 
Nhung ly do khien ban muon mua truc phu quy theo phong thuy hinh anh
 

Vị trí may mắn cho cây phất dụ trúc
 

Giống như bất cứ yếu tố phong thủy khác, vị trí của cây trúc phú quý rất quan trọng bởi vì nếu đặt đúng có thể  thu hút năng lượng tích cực vào trong nhà.   Hai khu vực quan trọng mà bạn có thể xác định vị trí hoặc đặt trúc phú quý theo phong thủy:
 
Hướng Đông: Khi đặt cây ở hướng Đông, cây phất dụ trúc hỗ trợ việc thu hút năng lượng đảm bảo cho các thành viên trong gia đình luôn được mạnh khỏe.
 
Hướng Đông Nam: Đông Nam là hướng tượng trưng cho tiền bạc và sự giàu có. Do đó, trồng cây phất dụ trúc ở đây sẽ giúp tăng cường tài chính, thu hút của cải về cho gia chủ.

Bạn có thể tham khảo: Mẹo phong thủy nhà cửa để tiền bạc ào ạt chạy vào túi.
 

Cách chăm sóc cây  

  Việc chăm sóc phất dụ trúc không phải là một công việc khó khăn nhưng bạn phải để ý chúng thường xuyên để tránh làm ảnh hưởng tới tài vận của gia đình.
 
Sau đây là danh sách những điều mà bạn nên làm và không nên làm khi chăm sóc phất dụ trúc tại nhà hoặc nơi làm việc.    
Nhung ly do khien ban muon mua truc phu quy theo phong thuy hinh anh 2
 

Chăm sóc phất dụ trúc - Nên làm  

  - Chọn một chiếc bình rộng hơn 5 cm so với vị trí của cây.
 
- Tô điểm cho chiếc bình bằng những viên đá sáng bóng hoặc sỏi. Việc này không khiến cho bình cây trở nên hấp dẫn hơn mà những viên đá này sẽ giúp giữ thẳng thân cây phất dụ trúc.
 
- Nên trồng cây ở trong nhà.
 
- Phất dụ trúc rất thích trồng bằng nước lọc hoặc nước cất. Hoặc nếu không có đủ điều kiện, bạn nên trồng bằng nước càng sạch càng tốt. Cắt lá vàng ngay lập tức.
 
- Thay nước ít nhất 15 ngày/1 lần.
 
- Nếu bạn chú ý chăm sóc chúng bạn sẽ có những kết quả xứng đáng. Bạn nên đặt trúc phú quý vào vị trí tài vận của mình để vận thế bản thân thịnh vượng. Ví dụ: Người mệnh âm tướng Thổ, ngũ hành hỉ Hỏa, Thổ mà Hỏa lại thuộc hướng chính Nam, Thổ thuộc hướng Tây Nam và Đông Bắc. Do vậy có thể đặt những cây phát tài vào các vị trí trên để mang đến tài lộc và may mắn cho ngôi nhà.
 

Chăm sóc phất dụ trúc – Không nên 

  - Không được tưới nước lên cả cây. Khi tưới nước không nên tưới quá nhiều nếu không cũng sẽ làm cho lá trúc sớm biến thành màu vàng. Không nên đổ nước quá nhiều vào trong bình (nước khoảng 1/3 bình là đủ).
 
- Phất dụ trúc không thể chịu được ánh nắng trực tiếp vì chúng quá mạnh, dưới ánh nắng mặt trời vì như vậy dễ khiến lá trúc mất đi màu xanh tươi mới vốn có của nó. Vì vậy nên tránh để cây ở nơi có ánh sáng trực tiếp chiếu vào. Đây là cây chịu râm tốt, cũng sống và phát triển được ở những nơi bán râm, có nắng một phần, cây thường phát triển thẳng đứng lá xanh quanh năm. 
- Tại vị trí trồng cây nên tránh sự lộn xộn, bụi bẩn và bất cứ điều gì tiêu cực xung quanh.
 

Con số may mắn với số cành trúc phú quý theo phong thủy:


Cây mang nhiều ý nghĩa to lớn, lọc không khí, lọc bụi bẩn trong môi trường nước. Mang lại tài lộc vận may cho người trồng. Ngoài ra có thể dùng cây này để làm quà tặng cho bạn bè đồng nghiệp. Muốn tặng trúc phú quý theo phong thủy bạn phải hiểu ý nghĩa số cành trồng trong bình. Theo phong thủy, từng con số khác nhau tượng trưng cho những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
   Một cành: Bình trồng một cành thường được chọn làm quà tặng của các doanh nhân. Cành có hoa trắng thơm và đẹp khiến người được tặng rất thích và trân trọng. Trồng trúc phú quý trong nước giống như là trời với nước hợp làm một, mọi sự đều thuận lợi, tốt lành. Nếu trồng trúc trong nước thì một cành là tốt nhất vì như vậy không chỉ có thể phát tài mà còn bảo đảm cành trúc này không bị các cành khác hấp thụ hết nước. 
 
Hai cành: Hai cành phất dụ trúc ghép vào trong bình được cho là sẽ tăng gấp đôi sự may mắn và đây là hình ảnh cặp đôi gắn liền với tình yêu. Vì thế, bình có hai cành trúc phú quý được xem là một món quà phong thủy cho tình yêu - hôn nhân lý tưởng cho những người đang tìm kiếm tình yêu hoặc những đôi mới cưới.
 
Ba cành: Nếu bạn đang tìm kiếm hạnh phúc, cuộc sống lâu dài và thịnh vượng thì nên chọn bình trồng ba cành trúc phú quý.
 
Bốn cành: Tránh trồng bốn cành vì điều này được xem là xui xẻo.
 
Năm cành: Thông thường trồng trúc phú quý với ý nghĩa để công việc học tập hoặc sự nghiệp tài vận trở nên thuận lợi hơn. Nên trồng 5 cành (4 cành dài và 1 cành ngắn) ở vị trí thịnh vượng trong phòng.

Năm cành phất dụ trúc làm phong phú thêm năm khu vực chính của cuộc sống của bạn bao gồm: cảm xúc, trực giác, tinh thần, thể chất và thần kinh. Đây là một trong những yếu tố cần thiết cho gia đình của bạn với mục đích cơ thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt, sự nghiệp hành thông và tài chính dồi dào.

 
Sáu cành: con số này được xem là thu hút sự may mắn, thịnh vượng và cơ hội vàng để đạt được sự giàu có và tiền bạc như mong đợi.
 
Bảy cành: Nếu sức khỏe là những gì bạn mong đợi thì nên trồng bảy cành phất dụ trúc chụm lại trong một chiếc bình.
 
Tám cành: Tám được xem là sức tăng trưởng và do đó tám cành trúc phú quý được coi là mang lại tốt lành cho sự phát triển, thăng tiến. Con số này còn mang lại may mắn cho ai muốn trở thành cha mẹ và muốn cải thiện về vấn đề sinh nở.
 
Chín cành: Nó tượng trưng cho may mắn và phước lành mang đến người nhận.
 
Mười cành: Như là món quà với mong muốn một người nào đó là rất hạnh phúc và hài lòng trong cuộc sống.
 
Hai mốt cành: Đây là số cành ý nghĩa nhất với mong muốn những điều tuyệt vời nhất sẽ ghé thăm người được nhận quà. Chúng sẽ mang lại sự thịnh vượng cũng như sức khỏe cho các thành viên gia đình của người trồng cây này trong nhà.

HaTra

Phong thủy nhà ở hạn chế tình trạng ngoại tình, vợ chồng nên biết Trúc phú quý - bày đúng vị trí rước quý khí vào nhà

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lý do khiến bạn muốn mua trúc phú quý theo phong thủy

Đặt tủ lạnh đúng phong thủy mang lại giàu sang

Người thuộc mệnh Thủy nếu sự nghiệp thiếu thuận lợi, nên kê tủ lạnh ở nơi làm việc. Trong đó có thể để nước, bia, nước đá để sự nghiệp được thăng tiến và tài vận hanh thông.
Đặt tủ lạnh đúng phong thủy mang lại giàu sang

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy gọi tủ lạnh là "Tài khố" (Kho của). Do đó, nên thường xuyên để thức ăn đầy trong tủ lạnh. Kỵ để tủ trống rỗng, vì như vậy sẽ tượng trưng cho sự nghèo đói, túng thiếu...

Ngoài tác dụng lưu trữ và quản quản đồ ăn, tủ lạnh có tác dụng phong thủy vô cùng to lớn. Biết cách bài trí tủ lạnh hợp phong thủy sẽ mang lại tài lộc cho gia chủ. Rất nhiều người không để ý nhưng tủ lạnh có liên quan mật thiết đến sự giàu có và sức khỏe của cả gia đình.

1. Không để tủ lạnh trống rỗng

Tủ lạnh có liên quan chặt chẽ với chế độ ăn uống, sức khỏe của gia đình. Nếu có nhiều thức ăn, nó tượng trưng cho sự trù phú trong khẩu phần ăn của gia đình. Nếu tủ lạnh trống, nó biểu hiện tình hình tài chính của gia đình sẽ bị hao hụt. Do vậy, hãy luôn giữ cho tủ lạnh đầy ắp thức ăn.

2. Thường xuyên làm sạch tủ lạnh

Trong phong thủy tủ lạnh liên quan chặt chẽ đến may mắn thịnh vượng của các thành viên trong gia đình. Vì vậy, để tránh ô uế, bạn nên thường xuyên loại bỏ hết các thực phẩm đã hết hạn sử dụng, thực phẩm ôi thiu. Một khi tủ lạnh đã gọn gàng, tài chính của gia đình sẽ khởi sắc.

3. Cấm để tủ lạnh đối diện cửa bếp

- Tủ lạnh thuộc Kim. Người thiếu Kim nên đặt tủ lạnh trong nhà. Còn bình thường nên đặt tủ lạnh ở nhà bếp, vì đây là nơi vượng Hỏa. Tủ lạnh đặt trong bếp có thể làm dịu tính Hỏa.

- Người thuộc mệnh Thủy nếu sự nghiệp thiếu thuận lợi, nên kê tủ lạnh ở nơi làm việc. Trong đó có thể để nước, bia, nước đá để sự nghiệp được thăng tiến và tài vận hanh thông. Ngoài ra người mệnh thủy cũng có thể kê thêm một chiếc tủ lạnh khác trong phòng khách để hỗ trợ cho mệnh của mình.

 - Những người mệnh Mộc không nên kê tủ lạnh ở gần. Những người mệnh này nên kê tủ lạnh ở chỗ khuất của ngôi nhà. Trong các quán bar, người ta thường kê tủ lạnh trong tủ gỗ. Đối với những người không hợp với kim, đây là một cách tuyệt vời để hóa giải ảnh hưởng xấu từ tủ lạnh.

Vì vậy, tốt nhất bạn nên đặt tủ lạnh ở nơi thông thoáng, cách bếp nấu khoảng 2 m. Cách bố trí này sẽ giúp tiết kiệm thời gian đi lại trong lúc chế biến thức ăn.

Bất kể gia đình đặt tủ lạnh trong phòng khách hay nhà bếp, không để nó đối mặt với cửa ra vào. Những dòng năng lượng (khí) sẽ đụng độ với nhau và có khả năng gây bất ổn với sự giàu có, thậm chí dẫn đến phá sản.

Tủ lạnh thuộc yếu tố kim, trong khi bếp thuộc lửa. theo thuyết ngũ hành, chúng kị nhau. Do đó, nếu có thể thì nên đặt chúng càng cách xa nhau càng tốt. Đặt chúng đối diện với nhau cũng sẽ gây ra tranh cãi và bất hòa giữa những thành viên trong gia đình.

Cách đặt tủ lạnh trong phong thủy

4. Không đặt các thiết bị điện tử trên nóc tủ lạnh

Chưa tính đến yếu tố an toàn trong gia đình, không nên đặt lò nướng, lò vi sóng, máy ép trái cây hoặc các thiết bị điện tử khác trên nóc tủ lạnh. Chúng sẽ phát ra các luồng không khí điện từ mạnh mẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người trong gia đình.

5. Không đặt tủ lạnh trong phòng ngủ

Ngày nay, mọi người có xu hướng để thêm một chiếc tủ lạnh nhỏ trong phòng ngủ. Các chuyên gia khuyên mọi người nên để tủ lạnh ra khỏi phòng ngủ bởi nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của mọi người. Sức khỏe suy giảm khiến con người thay đổi tính cách – tư duy cực đoan, kì lạ trong hành động.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt tủ lạnh đúng phong thủy mang lại giàu sang

Cách chọn Smartphone hợp theo phong thủy –

Chiếc điện thoại mang màu sắc thời trang vừa phù hợp với phong thủy sẽ mang đến những điều thuận lợi trong cuộc sống tình cảm và cả công việc. Chiếc điện thoại mang màu sắc thời trang vừa phù hợp với xu hướng công nghệ hiện đại, vừa hài hòa với thuộc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chiếc điện thoại mang màu sắc thời trang vừa phù hợp với phong thủy sẽ mang đến những điều thuận lợi trong cuộc sống tình cảm và cả công việc.

Chiếc điện thoại mang màu sắc thời trang vừa phù hợp với xu hướng công nghệ hiện đại, vừa hài hòa với thuộc tính ngũ hành riêng của người dùng mang đến những điều thuận lợi trong cuộc sống tình cảm và cả công việc.

1-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

Cách chọn điện thoại theo phong thủy
Người mạng Hỏa gặp thuận lợi với màu xanh lá cây hoặc màu đỏ. Mộc sinh Hỏa nên màu xanh, màu bản mệnh của Mộc sẽ hoàn toàn hỗ trợ cho người dùng. Ngoài ra, người mạng Hỏa cũng có thể lựa chọn cho mình sắc đỏ, hồng, màu bản mệnh của Hỏa. Một chiếc điện thoại màu xanh lá cây sẽ là lựa chọn tốt nhất.

2-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

Màu hồng cũng là lựa chọn tuyệt vời cho những cô nàng trẻ trung.

3-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

Ngoài gam màu đen tượng trưng cho hành Thủy, những người mang cung mạng này có thể diện thêm màu trắng, màu bản mệnh của hành Kim. Sự kết hợp giữa đen và trắng không chỉ mang tới cho người dùng vẻ cá tính, sành điệu và thanh lịch, mà còn giúp gặp không ít may mắn trong cuộc sống.

4-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

Đối với mạng Kim đừng ngại diện màu vàng tươi sáng bởi chúng đại diện cho hành Thổ, mà theo quan niệm Á Đông xưa thì Thổ sinh Kim. Ngoài ra, màu trắng cũng sẽ là sự lựa chọn hoàn hảo cho bạn vì chúng vốn là gam màu bản mệnh của hành Kim.

5-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

Những gam màu xanh tượng trưng cho hành Mộc cũng là gam màu tương thích nhất với những người mạng này. Bên cạnh đó, xanh đen, đen… màu bản mệnh của Thủy cũng là ý kiến không tồi bởi theo tử vi, hành Thủy và hành Mộc có mỗi quan hệ tương sinh với nhau.

6-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

7-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

Người mạng Thổ có thể diện màu đỏ, hồng (Hỏa sinh Thổ), đồng thời cũng có thể tự do diện màu vàng, vàng đất, màu bản mệnh của hành Thổ để đem lại may mắn cho mình.

8-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

9-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

10-cach-chon-dien-thoai-theo-phong-thuy

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách chọn Smartphone hợp theo phong thủy –

Dự đoán hôn nhân nữ giới qua tướng lông mày

Theo Mệnh lí học, ngoài tướng mũi và tướng mắt trên khuôn mặt, tướng lông mày cũng hé lộ phần nào tính cách cũng như đời sống hôn nhân của người phụ nữ.
Dự đoán hôn nhân nữ giới qua tướng lông mày

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  1. Lông mày mọc không đều, chỗ đậm chỗ nhạt
 
Phụ nữ có tướng mày với đường chân mày đậm còn đuôi mày nhạt hoặc toàn bộ lông mày mọc không đều thường có tính cách phóng khoáng, thích tự do tự tại và ghét bị ràng buộc bởi cuộc sống hôn nhân. Ngoài ra, người này có số đào hoa, nhiều người theo đuổi ngay cả khi đã lập gia đình.
 
2. Lông mày đậm, đen và dày
 
Nếu sở hữu dáng lông mày này, bạn là cô gái bướng bỉnh và hiếu thắng. Cái tôi của bạn quá cao nên đôi khi tự mình gây ra điều phiền muộn, mâu thuẫn với người trong gia đình.
 
Những phụ nữ có lông mày đậm lại đen và dày thường có đời sống hôn nhân không ổn định. Nếu không hạ bớt lòng kiêu ngạo của mình, hôn nhân của bạn sẽ vô cùng mệt mỏi và nặng nề. 

3. Dáng lông mày xếch về phía đuôi mắt

Du doan hon nhan nu gioi qua tuong long may hinh anh
Người phụ nữ có tướng mày này không giỏi nội trợ nhưng được chồng hết mực yêu thương

Bản thân người phụ nữ có tướng lông mày này tinh tế và khéo léo. Khi lập gia đình, họ được người chồng đầy bản lĩnh hết mực yêu thương mình. Dù thông thường nữ giới có tướng mày này không giỏi việc nội trợ nhưng lại được chồng hỗ trợ nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao. Cuộc sống hôn nhân của người này vì thế mà luôn hòa hợp và hạnh phúc.
 
4. Lông mày mảnh và cong

Những cô gái có đôi mày này thường lấy được người chồng hiền lành, biết chăm chút cho gia đình và được nhiều người quý mến. Theo đó, đời sống hôn nhân của người này khá tốt đẹp và hạnh phúc.
 
5. Lông mày mảnh và nhọn dần

Đây là tướng mày phú quý. Nữ giới có đôi mày mảnh và nhọn dần làm việc cẩn trọng, biết tùy cơ ứng biến linh hoạt và cách phân tích vấn đề nhạy bén. Công việc của người này nhờ đó mà vô cùng thuận lợi.

Du doan hon nhan nu gioi qua tuong long may hinh anh 2
Cuộc sống gia đình của nữ giới có đôi mày này vô cùng hòa hợp và êm ấm

Hơn thế, người phụ nữ này còn có cách đối nhân xử thế khéo léo, tấm lòng bao dung, sẵn sàng tha thứ cho người khác. Sau này họ sẽ lấy được đức lang quân biết tôn trọng họ. Do đó, cuộc sống gia đình của người này luôn hòa hợp và êm ấm.

6. Dáng lông mày cong, không ngay ngắn

Tình yêu, cuộc sống hôn nhân của người phụ nữ cũng tương tự như đôi lông mày vừa cong lại không ngay ngắn này, gặp nhiều thăng trầm, lúc thuận lợi khi lại khó khăn cách trở.
 
Tuy nhiên, người này khá chung thủy trong tình yêu. Khi gặp được ý chung nhân đích thực của đời mình, họ sẽ có cuộc sống hôn nhân êm đềm và khá yên bình.
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dự đoán hôn nhân nữ giới qua tướng lông mày

Luận về sao Thái Âm

Tử vi đẩu số Toàn thư khi luận về sao Thái âm bao giờ cũng dựa trên 3 cơ sở :
Luận về sao Thái Âm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

a - Đứng đúng chỗ hay không? Miếu hay hãm địa?

b - Sinh ban ngày hay ban đêm?

c - Sinh vào thượng tuần, trung tuần hay hạ tuần trong tháng?


Thái âm đóng Hợi Tí Sửu tốt nhất; Thân Dậu Tuất thứ nhì; ở Dần Mão Thìn thì gọi là thất huy (mất vẻ sáng); ở Tỵ Ngọ Mùi là lạc hãm. Trong chỗ tốt nhất thì Hợi tốt hơn cả, cổ nhân đặt thành cách:”Nguyệt lãng thiên môn”

 


Sinh ban ngày hay ban đêm chia theo 2 nhóm giờ như sau:


1. Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi.

2. Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu.


Về thượng tuần hay hạ tuần thì từ 1 đến rằm là thượng tuần, từ 16 đến ba mươi là hạ tuần. Thượng tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi tròn. Hạ tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi khuyết. Tròn tốt, khuyết xấu. Người sinh hôm rằm trăng tròn tới cực điểm lại không đẹp bằng người sinh ngày 13, 14.


Về Thái âm trong những câu luận đáng có một câu đáng chú ý là: “Thái âm tại Mệnh Thân cung tuỳ nương cải giá” – nghĩa là bỏ chồng về nhà mẹ đẻ? Điều này không phải cứ Thái âm là áp dụng. Còn phải tuỳ Thái âm có rơi vào hãm địa không đã. Nếu Thái âm ở Tỵ, lại sinh vào hạ tuần mà sinh vào ban ngày nữa thì lời luận đoán trên rất đúng về cái việc “tuỳ nương cải giá”, còn thêm sát tinh phụ hội thì lại càng đúng hơn, nhất là Hoả Tinh.


Cổ nhân còn viết: “Thái âm thủ mệnh bất lợi cho những người thân thuộc về phái nữ, vào số trai mẹ mất sớm, về cuối đời goá vợ, xa chị em gái; vào số gái cũng thế, ngoài ra còn ảnh hưởng đến cả bản thân nữa”. Điều này cũng chỉ có thể áp dụng qua tình trạng Thái âm lạc hãm, sinh thượng tuần, hạ tuần và sinh ban ngày ban đêm.


Thái âm vào cung Thân, ảnh hưởng còn nghiêm trọng hơn so với Thái Âm đóng Mệnh. Với trường hợp Thái âm tại Tỵ mà gặp Thái Dương Thiên Lương ở Dậu, rồi bên cạnh Thái Âm còn gặp sát tinh hội tụ nữa, ảnh hưởng nặng nề hẳn.


Với thời đại ngày nay, chuyện “tuỳ nương cải giá” không như ngày xưa nên khi nói về hậu quả của sự việc ấy phải rộng rãi hơn. nhiều hướng và nhiều ý nghĩa khác nữa. Nguyên tắc của Tử vi sao hay có cặp đôi thấy Thái Âm thì trước tiên hãy xem thế đứng của Thái Dương.


Trong bản số chỉ có 2 cung Thái Dương Thái Âm đứng một chỗ là Sửu và Mùi. Nếu tốt cả hai cùng tốt, mà xấu thì cả hai cùng xấu. Các sao đi cặp, hễ các sao xung chiếu bị ảnh hưởng tốt xấu đều phản xạ qua sao bên kia.


Nhật Nguyệt ở Sửu Mùi thì ở Mùi tốt hơn ở Sửu. Tại sao? Vì Thái Dương ảnh hưởng mạnh hơn Thái âm mà Mùi cung thì Thái Dương không bị “thất huy” như ở Sửu mới có sức trợ giúp Thái âm. Cho nên Nhật Nguyệt ở Sửu, cuộc đời khó hiển đạt và lên xuống thất thường, còn Nhật Nguyệt ở Mùi thì an định hơn.

Nhật Nguyệt đồng cung mang nhiều khuyết điểm, vì cổ ca viết: Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hội, tịnh minh nghĩa là, Nhật Nguyệt đóng Mệnh không bằng chiếu Mệnh hoặc đứng hai chỗ cùng sáng như Thái Âm Hợi, Thái Dương Mão hoặc Thái Âm Tuất, Thái Dương Thìn.


Phú nói:


Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi

Tam phương vô cát phản vi hung.


Vậy thì cách Nhật Nguyệt Sửu Mùi cần những sao tốt khác trợ lực mới đáng kể.


Thái âm gặp Cự Môn Hoá Kị bị nhiều phiền luỵ. Như trường hợp Mệnh VCD gặp Nhật đóng ở cung Thân, Nguyệt đóng ở cung Ngọ thì lúc ấy bên cạnh Nhật có Cự mà lại thêm Kị thì phá mất cái tốt của việc hợp chiếu. Thái Âm cũng không ưa Thiên Lương, trong trường hợp Thái Âm đóng ở Tỵ mà Dương Lương từ Dậu chiếu sang thường đưa đến tình trạng vợ chồng ly tán. Trường hợp Mệnh Cự Môn Thái Dương mà cung Phu thê có Đồng Âm gặp Hoá Kị duyên cũng khó bền.


Về Thái Âm cổ nhân còn tìm thấy cách “Minh châu xuất hải” (hòn ngọc sáng rực ngoài biển khơi). Cách này đòi hỏi Mệnh VCD tại Mùi, Thái Âm đóng Hợi, Thái Dương đóng Mão. Sách viết: “Nhật Mão Nguyệt Hợi Mệnh Mùi cung. Minh châu xuất hải vị tam công” (Thái Dương Mão, Thái Âm Mùi, Mệnh lập Mùi là cách minh châu xuất hải chức vị cao, quyền thế). Nhưng cách “Minh châu xuất hải” vẫn phải cần Tả Hữu đứng cùng Nhật Nguyệt mới toàn bích, thiếu Tả Hữu mà gặp thêm hung sát tinh thì chỉ bình thường.


Luận về Thái Dương Thái Âm còn phải chú ý đến các cách giáp mệnh. Như Thiên Phủ thủ Mệnh ở Sửu, Nguyệt tại Dần, Nhật tại Tí; Thiên Phủ Mùi, Nguyệt ở Thân, Nhật giáp từ cung Ngọ.


Rồi đến Nhật Nguyệt hiệp Mệnh như Tham Vũ ở Sửu và Mùi. Tham Vũ Sửu thì Thái Âm Tí, Thái Dương Dần. Tham Vũ Mùi thì Thái Âm Ngọ, Thái Dương Thân. Mệnh lập Sửu vẫn tốt hơn Mệnh lập Mùi. Hiệp với giáp vào cung vợ chồng không mấy tốt, nếu kèm theo hung sát tinh đưa đến tình trạng hôn nhân có biến.


Trường hợp Thiên Phủ ở cái thế kho lủng, kho rỗng, kho lộ mà giáp hiệp càng gây khó khăn hơn. Thái Âm là âm thủy chủ về điền sản, tiền bạc.

Thái Âm thủ Mệnh nữ hay nam đều có khuynh hướng về hưởng thụ. Công việc gì cần nhẫn nại gian khổ không thể giao cho người Thái Âm. Thái Âm vào nữ mạng sinh ban đêm là người đàn bà có nhan sắc, có cả Xương Khúc nữa càng mặn mà. Thái Âm trên khả năng thông tuệ nhưng lại thiếu nhẫn nại để mà học cao đến mức hiển đạt về học vấn.

Thái Âm hãm độc tọa thủ Mệnh vào nam mạng thì nội tâm đa nghi. Vì Thái Âm chủ về điền sản nên đắc địa vào cung điền trạch rất tốt. Thái Âm đắc địa thủ mệnh số trai dễ gần cận phái nữ không ồn ào mà âm thầm nhưng khi thành gia thất rồi, vợ nắm quyền.

Thái Âm nữ mạng đắc địa, đa tình lãng mạn, thiện lương nhưng thiếu chủ kiến, có tâm sự u uẩn phải bộc bạch ra mới yên, với bản chất qúy thủy (nước trong) nên bao giờ cũng thích làm dáng, ăn ngon mặc đẹp.

Thái Âm hãm thủ mệnh lại đứng cùng Văn Khúc hãm nữa chỉ thành tựu như một nghệ nhân tầm thường với cuộc sống phiêu bạt, kiếm chẳng đủ miệng ăn. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư còn ghi một câu: Thái Âm cư Tí, thủy chừng quế ngạc, Bính Đinh nhân dạ sinh phú quí trung lương (Thái Âm đóng Tí như giọt sương mai đọng trên hoa quế, người tuổi Bính Đinh sinh vào ban đêm giàu sang, tâm địa trung lương vì tuổi Bính tuổi Đinh đều có gặp Lộc Quyền hay Lộc Tồn mà nên vậy)

Sau đây là những câu phú liên quan đến Thái Âm:

- Nguyệt diệu Thiên Lương nữ dâm bằng

(Thái Âm gặp Thiên Lương đàn bà đa dâm và nghèo. Câu này chỉ vào trường hợp Thái Âm ở Mão hay Tỵ, hội chiếu Thiên Lương từ Mùi hoặc Dậu, Thái Âm hãm mới kể)

- Nữ mệnh dung nhan mỹ tú, ái ngộ Nguyệt Lương

(Người đàn bà có nhan sắc là bởi Thái Âm Thiên Lương. Về nhan sắc thì Thái Âm hãm hay đắc địa như nhau, duy Thái Âm đắc địa dung nhan phúc hậu hơn)

- Nữ mệnh kị Nguyệt ngộ Đà

(Đàn bà rất kị Thái Âm gặp Đà La. Tại sao? Vì ưa loạn dâm. Thái Âm vốn dĩ đa tình lại có Đà La tượng trưng sinh thực khí của đàn bà tức kể như nữ tính quá phần mạnh mà loạn)

- Nguyệt tại Hợi cung minh châu xuất hải tu cần Quyền Kỵ Khúc Xương hạn đáo

(Nguyệt ở Hợi là cách minh châu xuất hải, để phấn phát còn cần gặp vận Khúc Xương Quyền Kỵ)

- Âm Dương lạc hãm tu cần không diệu tối kị sát tinh

(Âm Dương đứng không đúng chỗ cần gặp Tuần Triệt, Địa Không ngại gặp sát tinh hãm hại)

- Thái Âm Dương Đà tất chủ nhân ly tài tán.

(Sao Thái Âm gặp Kình Dương Đà La thì nhân ly tài tán. Đây là nói về Thái Âm hãm thôi)

- Âm Tang Hồng Nhẫn Kỵ Riêu, tân liên hàm tiếu, hạn phùng Xương Vũ dâm tứ xuân tình liên xuất phát. (Thái Âm có Hồng Loan, Kình Dương, Riêu Kỵ người đàn bà đẹp như đoá sen mới nở, nhưng hạn gặp Văn Xương, Văn Khúc tất sa ngã vì tình)

- Thanh kỳ Ngọc Thỏ tuy lạc hãm nhi bất bần

(Mệnh có sao Thái Âm dù không đắc địa, không bao giờ túng quẫn)

- Âm Dương lạc hãm gia Hình Kỵ Phu Thê ly biệt

(Cung phối Nhật hay Nguyệt hãm mà thêm Hình Kỵ vợ chồng không sống đời với nhau)

 - Nguyệt phùng Đà Kị Hổ Tang, thân mẫu thần trái nan toàn thọ mệnh

(Thái Âm gặp Đà La, Hóa Kị, Tang Hổ thì mẹ mất sớm)

- Thái Âm đồng Văn Khúc ư Thê cung thiềm cung triết quế

(Thê cung có Thái Âm đứng cùng Văn Khúc như lên cung trăng bẻ cành quế, lấy vợ đẹp và giàu sang. Nếu là Phu cung thì không được như vậy, tuy vẫn gọi là tốt)

- Duyên lành phò mã ngôi cao

Thái Âm đắc địa đóng vào Thê cung

- Vợ giàu của cải vô ngần

Thái Âm phùng Khúc Lộc Ấn Mã đồng

- Âm Dương Tuần Triệt tại tiền

Mẹ cha định đã chơi tiên chưa nảo

(Phải Âm Dương đắc địa mới kể)

- Âm Dương hội chiếu Mệnh Quan

Quyền cao chức trọng mọi đàng hanh thông.

- Nguyệt miếu vượng trùng phùng Xương Khúc

Việt Khôi Hóa Quyền Lộc Đào Hồng

Thiên Hỉ Tả Hữu song song

Giàu sang hổ dễ ai hòng giám tranh

- Thái Âm lạc hãm phải lo

Kỵ lâm thường thấy tay vò đăm chiêu

- Nguyệt gặp Long Trì ở cùng

Tuy xấu nhưng cũng được phần ấm thân

- Thiên Cơ với Nguyệt cùng ngồi

Ở cung hãm địa ấy người dâm bôn

(Cơ và Thái Âm ở Dần, đẹp nhưng lãng mạn)

Về hai sao Thái Dương và Thái Âm còn có một luận đoán đáng kể mà không thấy ở các sách Tử Vi chính thống như sau:

Nam mạng Thái Âm thủ mệnh trên cử chỉ thái độ hao hao như nữ tử, trái lại nữ mạng Thái Dương thủ thì tính quyết liệt, động tĩnh nhiều nét nam tử

Nam mạng Thái Dương thường xung động Thái Âm ở cung đối chiếu thường có khuynh hướng tà dâm, đổi lại nữ mạng Thái Âm thủ xung động Thái Dương thường là thủy tính dương hoa (lẳng.lãng mạn) nhiều ít cũng còn phải tùy thuộc cung Phúc Đức. Nam mạng Thái Âm thủ ưa thân cận với nữ phái, ngược lại nữ mạng Thái Dương thủ thích giao du với nam phái.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về sao Thái Âm

Hóa giải mệnh con khắc cha mẹ –

Câu hỏi: Em sinh 06/04/1980, chồng em sinh 20/01/1981( đều tính theo năm dương lịch). Hai con trai của chúng em, một đứa sinh 22/03/2005, một đứa sinh 25/09/2007. Cho em hỏi là có phải mệnh của vợ chồng em không hợp với hai con của chúng em không ạ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Câu hỏi:
Em sinh 06/04/1980, chồng em sinh 20/01/1981( đều tính theo năm dương lịch). Hai  con trai  của chúng em, một đứa sinh 22/03/2005, một đứa sinh 25/09/2007. Cho em hỏi là có phải mệnh của vợ chồng em không hợp với hai con của chúng em không ạ? Có cách nào hóa giải được không ạ?

be-tuoi-rong

Trả lời: Để biết tuổi của vợ chồng & các thành viên trong gia đình có hợp nhau không thì phải căn cứ vào cung. Trường hợp của gia đình em thì người chồng mang cung Khôn & vợ mang cung Tốn. Tuổi của hai vợ chồng phạm vào ngũ quỉ : hay tranh luận, lời qua tiếng lại với nhau…. dù là chuyện rất nhỏ, nhưng sẽ ở với nhau trọn đời. Sinh 02 bé trai 2005, cung Khôn  & 2007 mang cung tốn : không hóa giải được xung khắc của hai vợ chồng.Vì vậy, hai em nên hạn chế & nhường nhịn nhau trong lời ăn tiếng nói. Đồng thời, tham gia thường xuyên hơn với công tác từ thiện, đi chùa lễ phật, cúng dường tam bảo, phóng sanh…..nhằm duy trì & tăng trưởng thêm phước ( đức năng thắng số), ngoài ra cũng nên xem lại phong thủy nhà ở & nơi làm việc để có được địa lợi tốt. Khi đã có được thiên thời & địa lợi  tự khắc cuộc sống sẽ may mắn & hạnh thông.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải mệnh con khắc cha mẹ –

Người tuổi nào càng kết hôn càng muộn càng hạnh phúc

Với tính cá tính mạnh mẽ hay tính cách khác người, những con giáp này nếu kết hôn sớm sẽ gặp nhiều trắc trở.
Người tuổi nào càng kết hôn càng muộn càng hạnh phúc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


  

► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không

1. Người tuổi Hợi
 
Đa phần người tuổi Hợi đều đề cao tự do, cái tôi cá nhân, thích cuộc sống bay nhảy và trải nghiệm những điều thú vị. Họ ghét bị bó buộc trong không gian chật hẹp hay các mối quan hệ rắc rối. Với họ, cuộc sống gia đình không chỉ do hai người quyết định mà còn liên quan đến đại gia đình hai bên.

Nguoi tuoi nao cang ket hon cang muon cang hanh phuc hinh anh
Người tuổi Hợi

Do đó, để đi đến quyết định kết hôn, người tuổi Hợi đã phải trải qua một quá trình dài suy xét và cân nhắc về những điều phải đánh đổi. Tuy nhiên, khi họ đã quyết định gắn bó lâu dài với ai đó, chắc chắn họ sẽ là người chồng hoặc người vợ gương mẫu, chung thủy nên cuộc sống sau hôn nhân thường viên mãn, hạnh phúc.
 
2. Người tuổi Ngọ
 
Với cá tính mạnh mẽ, độc lập và coi mình là trung tâm vũ trụ, người tuổi Ngọ sẽ khó hòa hợp với cuộc sống gia đình khi còn non nớt, trẻ tuổi. Điều đó lí giải tại sao người tuổi Ngọ kết hôn muộn càng hạnh phúc và tỉ lệ li hôn giảm đáng kể so với khi lập gia đình sớm.

Nguoi tuoi nao cang ket hon cang muon cang hanh phuc hinh anh 2
Người tuổi Ngọ

Ngoài ra, khi đã chín chắn về mặt tuổi tác, người tuổi Ngọ sẽ biết cách kiểm soát cảm xúc cũng như cái tôi cá nhân của mình, nên cuộc sống sau hôn nhân mới yên ấm, hài hòa. 
 
3. Người tuổi Mão
Vốn là con giáp hay thay đổi, không dễ bị ràng buộc bởi người hay vấn đề nào đó, người tuổi Mão sẽ không dễ dàng hoặc tùy tiện lựa chọn đối tượng kết hôn, trừ khi tình yêu ấy đã thực sự sâu đậm và đáng để họ phải đánh đổi sự tự do, bay nhảy cá nhân. 

Nguoi tuoi nao cang ket hon cang muon cang hanh phuc hinh anh 3
Người tuổi Mão

Ngoài ra, người tuổi Mão khá lí tính, sống hiện thực, không mơ mộng hão huyền nên đến khi nhận thấy bản thân đủ chín chắn và chịu trách nhiệm với cuộc sống gia đình, họ mới quyết định kết hôn. Thông thường, con giáp này kết hôn càng muộn thì hôn nhân càng mĩ mãn và gặp nhiều may mắn.
4. Người tuổi Sửu
 
Chăm chỉ, nhiệt tình, chu đáo là những điểm nổi bật ở người tuổi Sửu. Với tính cách này, dù kết hôn sớm hay muộn, gia đình vẫn trong ấm ngoài êm, không có quá nhiều sóng gió.

Nguoi tuoi nao cang ket hon cang muon cang hanh phuc hinh anh 4
Tuổi Sửu

Tuy nhiên đôi lúc cái tôi cũng như tham vọng trong sự nghiệp của họ quá lớn đến mức có thể hi sinh tình cảm riêng tư để thỏa mãn khát khao thành công. Nếu kết hôn muộn, người tuổi Sửu đã có sự nghiệp vững vàng trong tay, họ sẽ cân bằng đời sống tình cảm và công việc, nên cuộc sống hôn nhân sẽ hài hòa và hạnh phúc hơn.
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Người tuổi nào càng kết hôn càng muộn càng hạnh phúc

Cách gây tai họa và các sao họa (phần 1)

Tìm hiểu về các cách gây tai họa, và những sao gây họa trong khoa tử vi. luận giải lá số tử vi quá các cách (phần 1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách gây tai họa và các sao họa (phần 1)

Cách gây tai họa và các sao họa (phần 1)

Tìm hiểu về các cách gây tai họa, và những sao gây họa trong khoa tử vi:

1. Cách họa qua các sao:

a. Sát tinh: gây họa nặng nhất. Sát tinh làm cho mất mạng, chấm dứt luôn sự nghiệp, tài sản, gia đạo, ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực. Đối với công danh, sát tinh tiêu diệt quý cách, chấm dứt cơ nghiệp. Đối với tài sản, sát tinh tiêu diệt phú cách. Sự hiện diện của sát tinh ở những cung chỉ phú quý có nghĩa là đương số vừa nghèo, vừa hèn tức là không có tài sản, không có chức phận. Đối với gia đạo, sự hiện diện của sát tinh ở Phu Thê báo hiệu cho sự sát phu, sát thê, sự gián đoạn vợ chồng dưới hình thức ly hôn, ly thân hoặc vợ chồng phải sống xa cách nhau lâu năm, chưa kể các trường hợp bị ruồng bỏ vì ngoại tình hoặc đâm chém nhau vì xung đột hay khảo của. Đối với con cái, sát tinh là dấu hiệu sự sát con, con cái không vẹn toàn, sinh nhiều nuôi ít, hoặc bị tàn tật hoặc thuộc thành phần côn đồ, du đãng, gây phiền nhiễu cho cha mẹ, phá tán tài sản, ăn hết di sản lại còn mắc nợ, tạo nợ cho cha mẹ. Được xem là sát tinh có 8 sao: Địa Kiếp, Địa Không, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Không, Kiếp Sát. Càng hội tụ nhiều, càng bị hãm địa nhiều, những tai biến và thiệt hại kể trên càng dễ xảy ra sớm, mau, nặng nề. Sát tinh tụ hội ở cung nào thì cung đó bị ảnh hưởng nhiều nhất.

b. Hình tinh: tạo ra hình ngục, ảnh hưởng đến tự do cá nhân, kiện cáo di lụy đến uy tín cá nhân. Gặp hình tinh, trong trường hợp là nạn nhân, đương số sẽ bị giam cầm, tra tấn, đói khát, hành hạ thể xác và tinh thần, có thể bị đau ốm hay tật nguyền trong thời gian bị bắt giữ, có thể bị đầy ải ở chỗ rừng thiêng nước độc hoặc bị cầm cố ở xà lim chật hẹp, dơ dáy. Mức độ nhẹ hơn, hình tinh là dấu hiệu của sự kiện tụng, sự điều tra. Trong trường hợp này, uy tín, tài sản có thể bị hao hụt, chưa kể những lo lắng cạnh tranh, thù hằn phải gánh chịu. Hình tinh là các sao: Thiên Hình, Quan Phù, Thiên La, Địa Võng, Thái Tuế, Quan Phủ, Liêm Trinh (chỉ hình ngục, quan tụng một cách trực tiếp).

c. Bại, hao tinh: làm cho lụn bại, hao tán chẳng hạn như bị bệnh nan y, bị giáng chức, mất của, hao tài, tang khó, thân nhân đau ốm, tai nạn, vợ chồng nghi kỵ, anh em bất hòa, nhân tình ruồng bỏ. Hao bại tinh gồm có: Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư. Sát tinh và hình tinh nhất định góp phần tăng cường hiệu lực cho hao, bại tinh hoặc là nguyên nhân, hoặc là hậu quả của hao bại tinh.

d. ám tinh: là những sao gây trở ngại, trục trặc. ứng dụng cho cá nhân, ám tinh có thể là vài tính nết đặc biệt kìm hãm sự tiến thủ của con người về mặt công danh tài lộc. Trường hợp đương số là nạn nhân, ám tinh tượng trưng cho tiểu nhân, đố kỵ, phá hoại, ganh ghét làm cản trở bước tiến của mình. ứng dụng cho công danh, ám tinh chỉ sự cạnh tranh trong quan trường, sự trục trặc về thủ tục, hoàn cảnh bất lợi cho thăng tiến. Các hình thái này cũng ứng dụng cho tài lộc. ứng dụng cho gia đạo, ám tinh là sự cản trở hôn nhân, sự phá hoại hôn nhân hoặc là sự xâm nhập của một người thứ ba vào đời sống vợ chồng, sự bắt ghen, sự gièm pha, chim vợ/chồng người khác ... ám tinh gồm các sao: Hóa Kỵ, Cự Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên Không Phá Quân, Thái Tuế, Tử Phù, Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt, Cô Thần, Quả Tú, Tuế Phá, Thiên Thương, Thiên Sứ.

e. Sao trợ họa: Hầu hết sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đều hỗ trợ cho nhau để gây tác hại dây chuyền. Những sao trực tiếp trợ họa bao gồm: Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền, Quan Đới làm xấu thêm, nặng hơn. Riêng sao Thiên Tài thì làm xấu ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm miếu, vượng địa.

2. Họa cho cá nhân:

a. Họa của phái nam:

+ Họa đến tính mạng hoặc cơ thể:

Không, Kiếp, Binh, Hỏa, Linh: tai nạn binh lửa. Có khi không cần phải hội đủ cả 5, chỉ cần 3 cũng đủ (tối thiểu phải có Địa Không hoặc Địa Kiếp và Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh). Kiếp Không chỉ các tai nạn bất khả kháng, dữ dằn, nặng nề, thủ phạm rất lợi hại và hung bạo, hành động bất ngờ và nhanh chóng. Phục Binh chỉ sự ám hại, phục kích, thường có tòng phạm giúp đỡ. Hỏa hay Linh chỉ họa lửa như phỏng lửa, chết cháy, bị bom, bị đạn, bị chất nổ ... Nếu có thêm sát tinh, hình tinh, hao bại tinh khác thì càng dễ chết. Nếu gặp trợ họa như Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền thì họa hại càng khó tránh. May ra gặp được nhiều sao giải mạnh mẽ hội tụ trong bối cảnh Phúc, Mệnh, Thân tốt mới khỏi, có thể chỉ bị thương.

Phi, Việt: hội với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp Hỏa, hai sao này chỉ lằn tên mũi đạn, đặc biệt là sao Phi Liêm. Bộ sao này thường ứng cho các tai nạn trên phi cơ hoặc họa về điện hay bị sét đánh.

Lưu Hà hoặc Cự, Kỵ: đi với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp, Lưu Hà chỉ họa ở dưới nước.

Kình, Đà: ám chỉ thương phế nhưng đi với Không, Kiếp vẫn có thể chết. Thương phế thường xảy ra cho tay chân. Đi với Hỏa, Linh thì phỏng ở tay chân.

Hình, Kiếp Sát: chỉ tai nạn nói chung, cụ thể là thương tích có thể đi đến mổ, cưa. Đi với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp, có thể chết vì binh đao hay vì bị mổ xẻ.

Quan Đới: đi với sát tinh chỉ cái chết bất đắc, chết mau chóng.

Tử, Tuyệt: chỉ cái chết nếu đi chung với sát tinh.

La, Võng: gặp sao tốt thì thành hung, từ đó góp phần gây họa vào các hạn xấu.

Thương, Sứ: chỉ dùng để xem hạn. Đi với sát tinh, Thương Sứ tác họa, không hẳn là họa binh đao.

Tướng, Hình - Tướng, Tuần hay Triệt: tác họa rất thảm khốc, cụ thể như chết trận, rớt máy bay, bị phục kích, thông thường chết nát thây có khi không tìm ra xác. Bộ sao này đóng ở Phúc, Mệnh, Thân, Tật hoặc Hạn đều nguy hại như nahu, không kém gì Không Kiếp Binh Hỏa Linh kể trên.

Mã, Hình: báo hiệu điềm bất tường, tai họa thảm thương.

Tướng, Binh, Tử, Tuyệt: chỉ họa binh đao hay họa chiến tranh.

Mã, Tuần hay Triệt hay Kình, Đà: chỉ thương tích tay chân do binh đao hay tai nạn.

Kình, Đà, Tuần hay Triệt hoặc Không, Kiếp: như trên.

Kiếp, Hình, Quan Đới: chết bất đắc, do mổ xẻ hoặc binh đao.

Sát, Hình hay sát tinh: bị ám sát, bị ám hại, tử trận.

Hỏa hay Linh, Kiếp, Không: tai họa rất dễ xảy ra, nhất là khi nhập hạn gặp phải.

Sát, Liêm ở Sửu Mùi - Sát, Hỏa, Hao - Phá, Hỏa, Hao - Sát (hay Phá), Việt, Hình: báo hiệu tai nạn binh đao.

+ Họa ngục hình, quan tụng hại đến tự do và uy tín cá nhân:

Thiên Hình: trừ phi đắc địa, trừ phi đương số hành nghề cảnh sát, thẩm phán, tình báo, trạng sư, Thiên Hình bao giờ cũng có nghĩa hình tù. Số tốt lắm thì Hình ứng về sự điều tra của cảnh sát, của tòa án, của giám sát viện hay của cơ quan an ninh tình báo. Trong trường hợp hành nghề thẩm phán, luật sư, cảnh sát, tình báo, tố tụng, Hình chỉ nghề nghiệp, chức vụ, quyền hành bắt giam hay xét xử người khác hoặc kiện thưa kẻ khác. Đi với cát tinh, hao bại tinh, ám tinh, hình tinh khác, Hình càng có nghĩa kiện và tù và bao giờ đương số cũng là nạn nhân. Có thêm sát tinh, tù tội nặng thêm, hình ngục khó thoát, làm cho tán mạng hay tán tài vì hình ngục. Đi với hao bại tinh, đương số khốn quẫn về tinh thần lẫn vật chất như lo sợ hoang mang, chán nản, tuyệt vọng, trốn tránh, mai danh ẩn tích mà lúc nào cũng sợ bị bắt, hoặc phải nuôi chí trả thù mà khổ sở. Cũng có thể hao bại tinh có nghĩa là trong thời gian thọ hình, đương số phải chịu nhiều cực hình như tra tấn, bỏ đói, hành hạ, đầy ải, mắc bệnh nan y.

Liêm Trinh hãm địa: chỉ sự bắt bớ, giam cầm, ở tù. Dù hành nghề gì mà Mệnh, Thân, Quan có Liêm hãm thì vẫn có thể bị hình tù như thường. Do đó, Liêm Trinh hãm địa ác hiểm hơn Thiên Hình nên đi với sát tinh rất dễ bị tù, bị kiện: Liêm, Kình, Đà, Linh, Hỏa - Liêm Hổ - Liêm, Kiếp, Hình ở Mão, Dậu - Liêm, Tham ở Tỵ và Hợi - Liêm, Kình - Liêm, Cự, Kỵ. Tuy nhiên, trường hợp Liêm Tham ở Tỵ và Hợi có Hóa Kỵ hay Tuần, Triệt đồng cung sẽ hóa giải hình tù của Liêm.

Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: chỉ bị kiện, bị điều tra, bị chỉ trích, bị vu cáo, bị nói xấu. Đi với sát tinh, khó tránh tù hay thanh toán vì tư thù, thưa kiện rất lôi thôi. Quan tụng liên hệ đến ba sao này thường là tội lường gạt, bội tín, quỵt nợ, sang đoạt. Quan Phù, Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự lợi dụng lòng tin, sự xé lẻ, rã đám. Thái Tuế chỉ khẩu thiệt, cãi vã, chửi bới, chỉ trích, bút chiến, công kích.

Thiên La, Địa Võng: chỉ sự bắt bớ, giam cầm hoặc tối thiểu cũng gây trở ngại cho công việc, kìm hãm sự thăng tiến. Hình tụng, kiện tụng chỉ có khi La Võng đi kèm với sát hay hình tinh trong cục diện Mệnh, Thân xấu.

Hóa Kỵ: có nghĩa kiện tụng. Chất của Hóa Kỵ là ganh ghét, ích kỷ, đố kỵ, nói cấu, vu khống để hãm hại người khác một cách tiểu nhân, nhỏ mọn. Quan tụng của Hóa Kỵ tương tự như Thái Tuế. Đi với Thái Tuế, Hóa Kỵ luôn nói xấu thiên hạ, ngồi lê đôi mách, đưa đến đôi co, đối chất, kiện thưa vì ngôn ngữ bất cẩn.

Đà La: chỉ sự ngoan cố, ngỗ ngược, bướng bỉnh, hẹp hòi, câu chấp và có ý nghĩa kiện tụng. Đặc biệt đi với Kỵ, Tuế thì quan tụng rất rõ. Có Đà La, thua kiện cũng không đầu hàng, còn tìm cách chống án, chạy chọt, vận động cho được phần hơn.

 

Cự Môn hãm địa (ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ): có ý nghĩa kiện cáo, nhất là đi chung với Hóa Kỵ, Thiên Hình hoặc sát tinh, ý nghĩa giống như Hóa Kỵ.

Cách kiện tụng và ngục hình còn do một số bộ sao dưới đây quảng diễn: Xương, Khúc ở Tỵ và Hợi - Xương, Khúc, Phá ở Dần - Nhật, Nguyệt, Riêu, Đà, Kỵ - Binh, Kỵ, Hình - Binh, Phù, Hình.

+ Họa sắc dục:

Nếu cung Phúc có Tang Môn, Đào Hoa, Hồng Loan và Thai thì dòng họ có người chết vì thượng mã phong. Nếu 4 sao đó đóng ở Mệnh, Thân hoặc Tật thì họa đó xảy ra cho mình.

Họa bị đánh đập vì đam mê tửu sắc có ba bộ sao: Tham, Đà ở Tý - Tham, Đà ở Dần - Tham, Vũ đồng cung gặp Phá.

Đau khổ vì tình: Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư, Lưu Tang, Lưu Hổ, Lưu Khốc, Lưu Hư.

Ngăn trở ái tình: Phục Binh, Hóa Kỵ, Cự Môn, Thiên Không, Kình Dương, Đà La hãm địa, Tuần, Triệt.

Sao chỉ sự phản bội: Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế.

Sao chỉ sự xui xẻo: Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình

Sao thay cũ đổi mới: Thiên Mã, Thiên Đồng, Đại Hao, Tiểu Hao, Thai.

b. Họa của phái nữ:

 Họa trinh tiết:

Thai, Phục, Kiếp hay Không: chỉ sự hiếp dâm, có thể là hiếp tập thể.

Thai, Phục - Thai, Kiếp hay Không - Riêu, Phục - Riêu, Không, Kiếp - Tham, Phục - Tham, Không, Kiếp - Đào, Phục - Đào, Không, Kiếp - Đào Riêu, Không, Kiếp - Đào, Thai, Không, Kiếp: thất trinh thất tiết.

Đào, Riêu: lăng loàn, đàn bà ngoại tình, có khi không phải với một người. Hồng Loan, Riêu cũng có nghĩa tương tự.

Đào, Thai: tiền dâm hậu thú.

Đào, Thai, Riêu: gái giang hồ.

Cự, Kỵ hay Tham, Kỵ: ám chỉ sự mất trinh, sự bất hạnh trong tình ái.

Thai, Hình, Hỏa, Tang, Hổ, Kiếp: chỉ sự hiếp dâm đi liền với án mạng, tượng trưng cho sự thanh toán vì tình, sự trả thù của tình nhân ác độc.

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách gây tai họa và các sao họa (phần 1)

Hà Nội - phong thủy vạn nơi có một

Thủ đô Hà Nội đã một nghìn năm tuổi. Vì sao hơn ngàn năm trước Lý Công Uẩn khi rời đô đã chọn đất này? Chẳng phải vì phong thủy Hà Nội có những điều mà không
Hà Nội - phong thủy vạn nơi có một

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

nơi đâu có, hợp làm “kinh đô muôn đời” sao.

 
Ha Noi - phong thuy van noi co mot hinh anh
 
Trong Chiếu rời đô, Lý Thái tổ đã viết: Đó là nơi rồng cuộn, hổ ngồi (“long bàn hổ cứ” không hẳn là rồng chầu, hổ phục như một số dịch giả đã viết). Nếu tại trung tâm thành phố nhìn theo hướng Bắc – Nam sẽ thấy bên trái – Thanh Long, dòng sông Hồng cuộn khúc; bên phải – Bạch Hổ, núi Ba Vì an toạ uy nghi.
 
Theo thuyết phong thuỷ thì bên trái – Thanh Long phát văn, bên phải – Bạch Hổ phát võ. Thời bình thủ đô ở gần phía sông Hồng để tập trung phát triển đất nước, thời chiến có thể lui về chân núi Ba Vì để dụng võ là một kế sách hợp lý và sáng suốt.
 
Theo dòng lịch sử từ xa xưa đến nay, thuở Vua Hùng dựng nước đóng đô ở Việt Trì, An Dương Vương đóng đô ở Đông Anh, Nhà Đinh và Tiền Lê ở Hoa Lư, Nhà Hồ ở Thanh Hoá, Nhà Mạc ở Cao Bằng, Nhà Nguyễn ở Huế, Chế độ Mỹ – Nguỵ ở Sài Gòn, chưa nơi nào có cả sơn lẫn thuỷ đủ sức mạnh để làm chủ địa hình Việt Nam. Chỉ có Hà Nội – Nơi địa linh mới xứng tầm làm đế đô của muôn đời.
 
“Thăng Long đệ nhất đại huyết mạch, Đế vương quý địa : Đại Việt hữu chi địa (nước Đại Việt có một ngôi đất). Thăng Long thành tối hùng (Thăng Long tối hùng mạnh). Tam hồng dẫn hậu mạch (ba con sông lớn dẫn hậu mạch là sông Thao, sông Lô, sông Đà). Song ngư trĩ tiền phương (hai con cá dẫn đường, chính là bãi Phúc Xá ngoài sông Hồng). Tản lĩnh trấn Kiền vị (núi Tản Linh trấn tại phương Kiền – Tây Bắc). Đảo sơn đương Cấn cung (núi Tam Đảo giữ phương Cấn – Đông Bắc). Thiên phong hồi Bạch Hổ (nghìn ngọn núi dãy Phanxiphang quay về Bạch Hổ – Dãy núi Ba Vì). Vạn thủy nhiễu Thanh Long (muôn dòng nước từ ba con sông Thao, Lô, Đà đều tụ lại, chảy về nhiễu Thanh Long – Dòng sông Hồng). Ngoại thế cực trường viễn (thế bên ngoài rất rộng và xa, tất cả cá núi non cả 3 dãy núi Ba Vì, Tam Đảo, Huyền Đinh đều chầu về). Nội thế tối sung dong (thế bên trong rất mạnh mẽ, đầy đặn). Tô giang chiếu hậu hữu (sông Tô Lịch chiếu từ phía sau, bên phải). Nùng sơn cư chính cung (núi Nùng đóng tại chính cung). Chúng sơn giai củng hướng (tất cả núi non đều hướng về rất đẹp). Vạn thủy tận chiều tông (là nơi tận cùng, hợp lưu của mọi dòng nước từ thượng nguồn dẫn khí mạch về). Vị cư cửu trùng nội (là nơi ở của vua chúa - cửu trùng, đất làm kinh đô). Ức niên bảo tộ long (có thể bền vững tới 10 vạn năm). Cầu kỳ Hổ bất bức (nhưng cần phải di dịch để Bạch Hổ không bức cận huyệt). Mạc nhược trung chi đồng (cùng đó, đừng tìm huyệt ở chi giữa)”. Ngần ấy điều đủ nói về thế phong thủy “vạn nơi có một” của đất Hà Nội.      
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hà Nội - phong thủy vạn nơi có một
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd