Tướng người háo sắc –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Ghế sofa là một trong những đồ nội thất thiết yếu nhất trong phòng khách của mỗi gia đình. Ngoài chức năng chính của mình, nó còn ảnh hưởng nhiều đến phong thủy của ngôi nhà. Đồ nội thất càng lớn thì ảnh hưởng càng lớn đến các nguồn năng lượng trong nhà. Vì vậy, khi bày sopha trong phòng khách cần chú ý đến vị trí để tránh cản trở phong thủy hoạt động.
1. Sopha phải dựa vào tường
Nếu không có tường dựa đằng sau, nhiều người sẽ có cảm giác bất an, bồn chồn khi đằng sau lưng mình trống trải. Đây là lời khuyên quan trọng nhất cần lưu ý vì bởi vị trí của ghế sofa với một bức tường vững chắc tương tự như có quý nhân hỗ trợ cho cuộc sống và sự nghiệp của bạn. Ngoài ra, đằng sau lưng không phòng bị cũng giống như "giơ lưng ra cho người ta chém", dẫn đến nhiều kẻ tiểu nhân thích chơi xấu đằng sau lưng bạn.
Nếu trong phòng khách không có vị trí nào đặt được sopha sát tường, bạn có thể đặt một tấm bình phong hoặc tủ hỗ trợ.
Chú ý không bao giờ đặt bể nước, như bể cá, ở vị trí đằng sau ghế sopha. Trạng thái này theo phong thủy gọi là "Bội thủy nhất chiến" - quay lưng vào sông mà đánh trận, cực kì nguy hiểm và ngu ngốc.
2. Tránh ngồi dưới xà ngang
Xà ngang là một trong những thiết kế khó chịu nhất trong nhà đối với phong thủy. Chúng tạo ra các luồng khí đè nén và tạo áp lực xuống phía dưới. Trong mọi trường hợp, gia đình không nên kê sopha hoặc giường ngủ dưới xà ngang. Để khắc phục vấn đề này, ngoài việc di chuyển ghế sopha ra vị trí khác, bạn có thể treo chuông gió để hóa giải sát khí.
3. Hình dạng của sopha
Hình dạng của ghế sopha không ảnh hưởng nhiều đến phong thủy. Tuy nhiên các chuyên gia khuyên nên chọn sopha hình chữ "U" bởi hình dáng "tàng phong tụ khí" tốt cho phong thủy.
4. Tránh sử dụng đồ "second-hand"
Nguyên tắc quan trọng trong phong thủy là hạn chế xài lại đồ cũ. Mọi người sẽ không muốn mang về một món đồ cũ mà không biết chủ cũ gặp vận may hay rủi khi sử dụng.
5. Thay sopha đã hỏng
Đừng keo kiệt! Hãy thay đổi một bộ mới nếu thấy chúng hư hỏng vì nó sẽ ảnh hưởng đến khí trường của ngôi nhà.
6. Không để gương phía sau sofa
Nhiều gia đình hay bày gương to trong nhà để làm cho căn phòng nhìn rộng rãi hơn. Tuy nhiên, hãy chọn vị trí khác, tránh vị trí phía sau ghế sopha. Trong phong thủy, gương thường được cho rằng sẽ nhân đôi những gì nó phản chiếu. Tuy nhiên, bạn sẽ không biết những gì nó đang nhân đôi là tốt hay xấu với mình.
7. Không để đèn chùm trên ghế sopha
Nhiều gia đình hay treo đèn chùm phía trên ghế sopha để tăng cường ánh sáng cho góc sinh hoạt. Tuy nhiên, ánh sáng trực tiếp chiếu nhiều lên mặt có thể gây chóng mặt và bồn chồn.
![]() |
Đeo đá hồ ly phong thủy vừa giữ chồng tốt lại tăng tài lộc![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thùy Dung (##)
Phi tinh và Loan đầu (loan đầu đây là nói về hình thể bên ngoài, không liên quan tới phái Loan đầu) là 2 yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau trong việc quyết định cát, hung của 1 căn nhà, còn thiết kế bên trong cũng có tác dụng nhưng yếu hơn, nên chỉ là phụ thuộc mà thôi. Cũng giống như 1 căn nhà tuy phía trước có biển lớn, phía sau có núi cao, 2 bên Long, Hổ hùng tráng bảo vệ. Nhưng nếu phi tinh lại gặp phải cách vượng khí của Sơn tinh tới phía trước, Vượng khí của Hướng tinh tới phía sau thì vẫn bị cách “Thượng Sơn, Hạ Thuỷ” mà gia nghiệp suy bại thê thảm. Nếu những căn nhà đã bị như thế thì dù thiết kế bên trong có hoàn mỹ tới đâu cũng không thể làm thay đổi cục diện xấu của căn nhà. Ngược lại, 1 nhà tuy phía trước có núi cao, còn phía sau có biển lớn, tuy đối với phái Loan đầu là cục diện thất bại, nhưng nếu có vượng khí của Sơn tinh tới phía trước, vượng khí của hướng tinh tới phía sau thì vẫn có thể phát phúc 1 thời. Cho nên mới nói Loan đầu phụ thuộc vào Phi tinh, Phi tinh phụ thuộc vào Loan đầu là vậy.

Về sự tương quan giữa vận-sơn-hướng tinh trong cùng 1 cung thì cũng đã có nhiều sách vở đề cập tới, thậm chí còn chia ra thành tỷ lệ phần trăm giữa 3 sao này để cứu xét. Nhưng có lẽ các tác giả đó 1 là không muốn tiết lộ những gì họ biết, 2 là vì không hiểu rõ tính chất vượng, suy hay “thất, đắc” của những phi tinh nên mới bày vẽ đủ cách tính toán mà thôi. Nhưng thực chất là vì toạ và hướng là 2 phương vị quan trọng quyết định vận khí của 1 căn nhà, nên Sơn tinh và Hướng tinh mới có tầm quan trọng đặc biệt, và cũng vì vậy mà khi lấy trạch vận cho 1 căn nhà thì người ta mới lấy những Vận tinh tới TOẠ VÀ HƯỚNG nhập trung cung xoay chuyển để xác định những phương vị sinh, vượng, suy, tử của Sơn tinh và Hướng tinh mà thôi. Chứ không ai lấy hết Vận tinh chung quanh nhà đem nhập trung cung xoay chuyển làm gì, dù là phía trước của căn nhà đó có thuỷ hoặc cửa ra vào hay không? Hoặc phía sau có núi hoặc nhà cao che chắn hay không? Điều này cho thấy 2 phương toạ và hướng có tác động quyết định lên vận khí của 1 căn nhà, và do đó, sức mạnh của Sơn và Hướng tinh mới có tầm quan trong đặc biệt hơn Vận tinh. Riêng Vận tinh chỉ là vị trí cố định của phi tinh trong từng Vận, nên tác dụng rất yếu, chỉ có khả năng phối hợp với Sơn và (hoặc) Hướng tinh để làm tăng thêm sự tốt, xấu mà thôi, chứ không thể có khả năng chi phối hay giảm thiểu, hoặc làm thay đổi tính chất của Sơn, Hướng tinh cùng vị trí với nó. Còn sự tương tác giữa Sơn tinh và Hướng tinh, trên thực tế phải tuỳ thuộc vào sự “đắc cách” hay “thất cách” của chúng mới có thể biết được sao nào nắm quyền chủ chốt tại khu vực đó. Muốn biềt được điều này thì phải nắm vững những nguyên lý về “Thu Sơn, Xuất Sát” mới không bị lầm lẫn hoặc rối trí trong việc xét đoán những ảnh hưởng của phi tinh trong cùng 1 cung. Biết rằng khí sinh, vượng của Sơn tinh cần phải đóng trên những chỗ cao. Nếu được như thế thì tức là Sơn tinh đã đắc cách, uy lực của nó đương nhiên được phát huy tới mức tối đa, cho nên chẳng những nó có đủ sức để chi phối cả Vận tinh và Hướng tinh tại đó, mà nếu gặp trường hợp Hướng tinh tại đây lại là khí suy, tử thì mọi hung khí của Hướng tinh đều được nó hoá giải. Cho nên đây chính là trường hợp “dùng Sơn thần xuất sát của Thuỷ thần”, hay còn được gọi tắt là “Xuất Sát”.
Ngược lại, khí sinh, vượng của Hướng tinh cần phải đóng tại những nơi có Thuỷ như sông, hồ, ao, biển, hoặc những nơi có cửa nẻo ra, vào nhà. Nếu được như thế là Hướng tinh đã “đắc cách”, nên uy lực của nó đủ để khống chế cả Vận tinh lẫn Sơn tinh tại đây. Nếu trong trường hợp Sơn tinh là khí suy, tử thì sẽ được Hướng tinh hoá giải, làm mất hết hung khí, nên đây là trường hợp “dùng Thuỷ thần để thu sát của Sơn thần”, hay còn được gọi tắt là “Thu Sơn”.
Trường hợp 1 khu vực có cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh đều là khí sinh, vượng: nếu khu vực này có núi hay nhà cao thì Sơn tinh nắm quyền, chi phối Vận tinh và Hướng tinh. Nếu khu vực này có Thuỷ thì Hướng tinh nắm quyền, chi phối Vận tinh và Sơn tinh. Nếu khu vực này không có núi, cũng không có Thuỷ, tức là cả Sơn tinh lẫn Hướng tinh đều không có hiệu lực. Đây là cục diện ngang hoà, không có sao nào chi phối nhau cả, và cũng không có ảnh hưởng gì tới vận khí căn nhà.
Trường hợp 1 khu vực có cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh đều là khí suy, tử: nếu khu vực này có núi hay nhà cao thì Sơn tinh đó đắc thế, nên nhà sẽ bị tai hoạ do đối tượng ứng với Sơn tinh đó gây ra. Lấy thí dụ như nhà trong vận 8, nơi phía ĐÔNG có Sơn tinh 7, hướng tinh 3. Nếu khu vực đó có núi hay nhà cao thì nhà sẽ bị tai hoạ do Sơn tinh số 7 này mang tới. Vì số 7 thất vận chủ kẻ tiểu nhân hay trộm cướp, nên nhà này dễ bị kẻ tiểu nhân hãm hại, hay trộm cuớp đến phá nhà. Trong trường hợp này, Sơn tinh sẽ khống chế Vận tinh và Hướng tinh. Còn Hướng tinh thất vận lại nằm trên cao nên vô lực. Ngược lại, nếu khu vực đó không có núi, nhưng lại có Thuỷ thì nhà sẽ bị tai hoạ hay thất tán tiền bạc do Hướng tinh đó đem tới. Trong trường hợp này, Hướng tinh đã khống chế cả Vận tinh và Sơn tinh. Còn Sơn tinh vừa là khí suy, tử, vừa đóng tại nơi thấp, trũng nên vô lực.
Cho nên sự tương tác giữa những Sơn tinh và Hướng tinh trong cùng 1 cung là tuỳ thuộc vào sự thất, đắc của chúng mà thôi. Nói “thất, đắc” không phải là nói thất vận hay đắc vận, mà là ám chỉ chúng có đóng tại những nơi phù hợp hay không mà thôi. Sơn tinh nếu đóng trên núi cao là “đắc cách”, sẽ có đủ uy lực sai khiến Thuỷ thần (tức Hướng tinh). Hướng tinh nếu đóng tại những nơi có Thuỷ là “đắc cách”, sẽ có đủ uy lực mà điều động Sơn tinh. Nhưng cũng phải phân ra nếu khí sinh, vượng của Sơn, Hướng tinh mà “đắc cách” thì sẽ chủ đại phúc lộc, còn nếu khí suy, tử của Sơn, Hướng tinh mà “đắc cách” thì sẽ chủ đại hoạ. Còn nếu khí sinh, vượng của Sơn, Hướng tinh mà “thất cách”, tức là Sơn tinh gặp Thuỷ, Hướng tinh gặp núi thì đã thuộc vào cách “Thượng Sơn, Hạ Thuỷ” rồi. Cho nên khí sinh, vượng của Sơn, Hướng tinh cần phải “đắc cách” , còn khí suy, tử thì cần phải “thất cách”. Có như thế thì mới bảo đảm phúc lộc lâu dài và tránh được mọi tai hoạ.
Còn vấn đề dùng Ngũ hành sinh-khắc để luận ảnh hưởng của các sao, cũng như sự phối hợp giữa chúng mà tạo thành những số “hợp thập”, số Tiên thiên hay Hậu thiên, Phản ngâm, Phục ngâm… chỉ là phụ và sau khi đã biết được tình trạng “thất, đắc” của Sơn tinh và Hướng tinh mà thôi.
Thế nào là vượng và thế nào là suy ?
Vượng là khi được đắc cách (dĩ nhiên phải là sao vượng, sinh hoặc tiến khí trong vận đó) như sơn vượng thì có núi cao. Nhà cao, cây cao….Hoặc hướng vượng thì có thủy, trống thoáng hoặc có đường đi.
Suy là khi bị thất cách. Như sao sơn vượng, sinh hoặc tiến khí mà lại gặp thủy. Hay sao hướng vượng, sinh hoặc tiến khí lại gặp sơn. Sao sơn là tử khí mà lại gặp núi hoặc sao hướng là tử khí mà lại gặp thủy.
Lấy thí dụ như nhà trong vận 8, nhưng có Hướng tinh số 2 đắc thuỷ của hồ tắm lớn. Đây là trường hợp tử khí đắc cách, nên trong nhà này vừa bị hao tài, vừa bị bệnh tật liên miên, lại còn xuất hiện quả phụ. Cho nên đàn ông trong nhà đó dễ bị vắn số. Đó là chưa kể nếu nơi đó lại có sơn tinh 3, tạo thành thế “ĐẤU NGƯU SÁT”, nên gia đình sẽ bị mắc khẩu thiệt, quan tụng liên miên. Hoặc nếu nơi đó có sơn tinh hay vận tinh 7, kết hợp với hướng tinh 2 tạo thành cặp 2-7 Hoả tiên thiên thì nhà này dễ bị xung đột hoặc trong nhà có người mắc bệnh đau tim. Vào những năm có niên tinh 9, 7, 2 chiếu tới khu vực này thì bệnh tim càng nặng, có thể chết người. Nếu khu vực này mà lại nằm tại phía ĐÔNG hoặc ĐÔNG NAM thì vào những năm có niên tinh 4, 3 chiếu tới thì còn gặp hoả hoạn mà sản nghiệp tiêu tan nữa. Cho nên nếu khí suy tử mà đắc cách thì ngoài vấn đề phá tài, tổn đinh thì còn bị những tai hoạ, bệnh tật khác nữa, chứ không phải chỉ là làm ăn lụn bại (trường hợp Hướng tinh “Thượng Sơn”) hoặc nhân số giảm thiểu (trường hợp Sơn tinh “Hạ thuỷ”) như các trường hợp vượng tinh thất cách, tức là mức độ tai hoạ còn nguy hiểm và trầm trọng hơn.
Vấn đề khảo sát các sao Vận-Sơn-Hướng (nhất là Sơn và Hướng) thì trước hết cần phải xét đến thời vận, xem chúng là sinh, vượng hay suy, tử. Sau đó mới xét tới hình thế Loan đầu xem chúng có đắc cách hay không ?
Như Sơn tinh vượng cần gặp núi hay nhà cao, Hướng tinh vượng cần có thuỷ hoặc cửa ra vào… Nếu chúng được như vậy thì dù ngũ hành có bị xung khắc cũng vẫn không có tai hoạ gì cả. Chỉ khi chúng đều là khí suy, tử, hoặc không đắc cách thì mới xét đến ngũ hành sinh, khắc để đoán biết hung hoạ mà thôi. Lấy thí dụ :cung KHẢM có các sao 7-8-3 (theo thứ tự Sơn-Vận-Hướng). Nếu là trong vận 7, sơn tinh 7 là vượng khí, nên nếu khu vực này có nhà cao thì chủ vượng nhân đinh, lại hoá sát của Hướng tinh số 3, chứ không có vấn đề khắc chế gì cả. Nhưng qua vận 8, sơn tinh 7 biến thành suy khí, khắc chế Hướng tinh 3, nên nhà này dễ bị trộm cướp hay tai hoạ hình thương, hay có bệnh về thần kinh… Chỉ có khi xét tới niên, nguyệt, nhật thời tinh thì mới dùng đến nguyên lý ngũ hành sinh, khắc làm chủ yếu. Còn giữa vận-sơn-hướng khi xét đến sự sinh, khắc thì chủ yếu là giữa Hướng tinh và Sơn tinh, còn vận tinh chỉ có thể phụ hoạ thêm vào cái sinh hoặc khắc giữa 2 sao đó mà thôi.
1. Nhất Bạch
Nhất Bạch là sao Tham Lang, hiệu Văn Xương, ngũ hanh thuộc thủy, màu trắng; mùa thu tiến, mùa đông vượng, mùa xuân tiết, mùa hạ tử . Kẻ sỹ gặp nó ắt được lộc của nó, người thường gặp nó nhất định tiền bạc sẽ vào nhà, đây là đệ nhất cát thần . Bị khắc sát thì như Trang Tử gõ chậu mà chôn vợ . Nhất Bạch lại là quan tinh, nếu nó đương vượng, hình thế Loan Đầu bên ngoài lại có thủy phóng quang thì khoa cử đổ đại, danh lừng bốn bể, sinh con trai thông minh trí tuệ . Nó mà suy tử thì hại vợ, không thọ, cuộc đời trôi nổi lênh đênh, màng nhiều bệnh tật về huyết, thận hư, hoặc thành kẻ nghiện ngập, trộm cướp.
Nhất gặp Nhất là tỵ hòa. Nếu vượng thì có lợi cho tài văn chương hoặc các công việc về văn. Nếu suy thì dễ bị bệnh về máu, nghiện ngập hoặc chìm đắm trong tửu sắc
Nhất gặp Nhị là khắc nhập. Nếu vượng thì mẫu thân dễ mắc bệnh về tỳ vị hoặc đường ruột . Nếu suy thì chồng bị vợ nhục mạ hoặc lấn quyền, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về thận hoặc tiết niệu
Nhất gặp Tam là sinh xuất. Nếu vượng thì con trưởng được danh giá quyền quý, có lợi cho người thuộc mệnh Tam mộc, nhân đinh tài bạch đều phát lớn . Nếu suy thì con cháu dòng trưởng suy bại, bị kiện cáo tù tội hoặc trộm cướp, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về gan,chân, hoặc bị ép phải dời đi nơi khác ở
Nhất gặp Tứ là sinh xuất. Nếu vượng thì xuất người nổi tiếng trong khoa cử, quan vận hanh thông thuận lợi, ra ngoài gặp nhiều điều hay về văn nghiệp, tên tuổi nổi bật . Nếu suy thì cũng đỗ đạt nhưng quý mà không phú, hoặc vì mang tiến tài hoa mà chìm đắm trong chống nữ sắc sinh ra quan hệ nam nữ bất chính . Nếu hình thế loan đầu bên ngoài có vật thuộc hành thổ thì đường văn chương hư bại, không con nối dõi, hoặc con cái chết yểu
Nhất gặp Ngũ là khắc nhập. Nếu vượng thì được cả tài bạch lẫn sang quý (tức có địa vị chức tước). Nếu suy thì nữ nhân trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về đường sinh dục; nặng thì thận suy kiệt, ngộ độc thức ăn, con thứ chết yểu
Nhất gặp Lục là sinh nhập. Nếu vượng thì từ nhỏ đã được hưởng giàu sang, ngoài ra, nếu sơn Kiền mà đắc thủy (có sông nước) thì sự nghiệp văng chương có thể phát đên tám đời . Nếu suy thì thủy kim chủ về lạnh, dễ mắc các chứng bệnh về đầu, xương hoặc bị thương tật vì kim loại
Nhất gặp Thất là sinh nhập. Nếu vượng thì đào hoa, dễ tạo của cải . Nếu suy thì kim thủy đa tình, đam mê tửu sắc, hoặc vì tửu sắc mà bị kiện tụng thị phi, có khi vì tranh chấp mà sinh ra thù hằn gây gỗ đến nổi phải mang thương tật
Nhất gặp Bát là khắc nhập. Nếu vượng thì trẻ con trong nhà có họa chết đuối, xuất hiện người có tài về viết lách . Nếu suy thì vợ mắc chứng vô sinh, có bệnh về tai, thiếu máu, hoặc có con chết non
Nhất gặp Cửu là khắc xuất. Nếu vượng thì thủy hóa đều có đủ, lợi lớn về tiền tài, nhân khẩu cũng thịnh vượng . Nếu suy thì dễ mắc các chứng bệnh về tim, vợ chồng bất hòa, anh em tranh chấp
2. Nhị Hắc
Nhị Hắc là sao Cự Môn, cũng là bệnh phù. Nếu vượng thì giau có, nhà cửa ruộng vườn thên than, nhân khẩu hưng vượng, lại phát quý về binh nghiệp . Khi nó suy tử thì vợ đoạt quyền chồng, tính tình nhỏ nhen, thâm hiểu, keo kiệt, khó sinh đẻ, có bệnh về bụng, trong nhà thường phát sinh bệnh tật liên miên
Nhị gặp Nhất là khắc xuất. Nếu vượng thì giàu có về điền sản, gia cảnh hưng vượng, nhân khẩu đông, mẫu thân khỏe mạnh sống lâu. Nếu suy thì vợ khắc chồng, đàn ông mất ở tuổi trung niên, quả phụ làm chủ gia đình, người nhà thường mắc cách chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột hay thận
Nhị gặp Nhị là tỵ hòa. Nếu vượng thì giàu có, ruộng đất nhiều, có quyền thế, lợi về binh nghiệp. Nếu suy thì ham mê nữ sắc, dâm đãng, khí lực suy yếu, mẹ già nhiều bệnh tật, người trong nhà thường xảy ra nhiều chuyện xấu, ra ngoài dễ gặp tiểu nhân ngầm hại
Nhị gặp Tam là khắc nhập. Nếu vượng thì vợ ngắm quyền, gia tài tích lũy do làm việc bất chính, nhưng con trưởng chẳng ra gì. Nếu suy thì đàn ông vì dâm đãng mà gia đình tan nát, đàn bà dễ mắc các chứng về đường tiêu hóa . Nhị Tam sóng đôi còn gọi là “đâu ngưu sát” nên vợ chồng thường bất hòa, chống đối nhau. Người trong nhà chỉ ham an chơi nên ruộng vường bỏ hoang, con cháu dễ thành trộm vặt
Nhị gặp Tứ là khắc nhập. Nếu vượng thì con dâu nắm quyền, gia đình hưng vượng, nhiều nhân đinh. Nếu suy thì chọ dâu ức hiếp em chồng, nam giới hiếu sắc . Có mẹ già cô khổ, hoặc xuất gia làm ni. Người trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột, đau cách tay. Gia cảnh buồn tẻ vắng lặng, ra ngoài thường gặp những việc tai tiếng quấn vào thân, hoặc mắc bệnh thương hàn
Nhị gặp Ngũ là tỵ hòa. Nếu vượng thì tạo dựng cơ nghiệp dễ dàng, tài vận tốt, hưng thịnh nhất là về địa sản. Nếu suy thì phát sinh đủ thứ bệnh, vợ đau yếu nặng, dễ thành người góa vợ . Đặc biệt người nhà thường mắc các chứng về tỳ vị, đường ruột mãn tính
Nhị gặp Lục là sinh xuất. Nếu vượng thì gia cảnh bình yên, con cái thuận hòa, gia nghiệp hưng thịnh, nhiều khả năng hành nghề y cứu đời, hoặc trở thành người có quyền trong nghiệp võ. Nếu suy thì cha già lắm bệnh, trong nhà có người đi tu, cha con thù oán nhau, chủ khách tranh chấp, thường gặp việc tai tiếng thị phi, người nhà thường mắc bệnh đau dầu hay điên loạn
Nhị gặp Thất là sinh xuất. Nếu vượng thì trở thành cự phú bằng tiền của bất chính hoặc bất ngờ (hoạnh tài), nhiều con cái. Nếu suy thì mẹ và con gái thường nghịch nhau, vợ kế không hiền thục . Ngoài ra dễ có hỏa tai hoặc bị chứng bạch đới cấp tính, kiết lỵ; đàn ông thường hay bị phụ nữ quấy rầy hoặc vì tranh chấp thị phi mà bị đâm chém
Nhị gặp Bát là tỵ hòa. Nếu vượng thì giàu có, ruộng đất không thấy bờ. Nếu suy thì hay mắc bệnh nhẹ, đàn bà thường bỏ nhà đi tu
Nhị gặp Cửu là sinh nhập. Nếu vượng thì văn chương chử nghĩa bề bề, đất đai tiền của tích tụ lớn. Nếu suy thì việc đen tối ập đến ngay, chủ về chuyện nam nữ ám muội, tiền của ra đi nhanh chóng, vả lại còn xuất hiện người chồng ngu đân . Hóa nóng thổ (đất) khô nên dễ sinh ra chứng bạch đới cấp tính . Khi âm quá nhiều nên nhiều đời có quả phụ . Thổ tổn thương mắt, con cháu ắt có người mù lòa
3. Tam Bích
Tam Bích là sao Lộc Tồn, tính thích đấu đá nên còn gọi là Xi Vưu. Nếu vượng thì tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia tộc, cơ nghiệp vững vàng . Con cái dòng trưởng đại hưng vượng. Nếu suy tử thì người nhà dễ bị điên hoặc hen suyễn, chân tàn tật, khoác vợ, kiện tụng thị phi hoặc trở thành trộm cướp
Tam gặp Nhất là sinh nhập. Nếu vượng thì con trưởng được quyền quý, đinh tài đều đại phát, thi cử đổ đạt. Nếu suy thì con cháu ngành trưởng lụn bại, tính khí ngỗ ngáo, có thể dẩn tới họa quan tụng; hoặc vì bấtt hòa với xóm giềng mà phải dọn nhà đi xa. Việc làm phần lớn không thuận lợi, hơn nữa còn dễ bị thương tật ở tai chân.
Tam gặp Nhị là khắc xuất. Nếu vượng thì được giàu có về nhà cửa ruộng vườn, con trưởng tài đinh đại phát. Nếu suy thì dễ có sát khí chống đối nhau. Gia đạo bất hòa, vợ chồng không êm ấm. Thường vì tranh chấp với cấp trên mà gặp điều tai tiếng . Dễ mắc chứng đau dạ dày, khó tiêu hóa, hoặc vì đánh nhau mà chân bị thương tật; nói chung là gia đình gặp nhiều vất vả, trở ngại mà vẫn thất bại tan vở
Tam gặp Tam là tỵ hòa. Nếu vượng thì thanh danh hiển hách, hưng gia lập nghiệp, tiền của tương đối khá giả. Nếu suy thì trong nhà sinh ra trộm cướp hoặc bị trộm cướp, dễ bị thương tật ở chân tay, hoặc vì đánh nhau với người mà bị tù tội.
Tam gặp Tứ là tỵ hòa. Nếu vượng thì Tam và Tứ là chính phối, sinh nhiều quý tử, sự nghiệp và tài vận phát triển hanh thông. Nếu suy thì trong nhà sinh ra trộm cắp hoặc ăn xin, thường mắc chứng dị ứng hoặc bị thương ở tay chân, đau gan, đau mật. Nếu gặp Thái Tuế e rằng kiếp nạn vì tình hoặc bị rắn cắn
Tam gặp Ngũ là khắc xuất. Nếu vượng thì tiền tài khá giả và quyền quý, có thể làm quan to. Nếu suy thì dễ bị các chứng độc như bọ cạp, rắn, rết cắn; tâm tư uất kết dễ mắc bệnh gan, hoặc thương tật ở chân.
Tam gặp Lục là khắc nhập. Nếu vượng thì quan trường lao đao vất vả nhưng sự nghiệp ắt thành, trở thành người phụ tá đắc lực cho cấp trên. Nếu suy thì bị quan tụng hoặc tai họa binh đao, dễ bị thương tật ở chân tay do kim loại gây nên; đôi khi mắc bệnh gan, gia đạo thường xảy ra tranh chấp.
Tam gặp Thất là khắc nhập. Nếu vượng thì nguồn tiền của tăng tiến, có chức quyền ca/ văn lẫn võ. Nếu suy thì nó là “Xuyên Tâm Sát”, thường mắc các chứng bệnh ở tay chân, gan mật; hoặc bị quan tụng thị phi. Nếu phương Đoài bị khắc phá thì gan bị thương tổn hoặc mắc chứng thổ huyết. Trong nhà có kẻ đam mê tửu sắc, bị trộm cướp trèo tường khoét vách phá hoại danh tiết con gái trong gia đình, chốn phòng the không hòa thuận, các tai họa thường là con trưởng chịu
Tam gặp Bát là khắc xuất. Nếu vượng thì xuất hiện văn tài bậc nhất, lại phát cả tài lẩn đinh. Nếu suy thì con thứ gặp nhiều tai họa, dễ bị thương gân cốt hoặc bị chó cắn. Anh em trong nhà bất hòa hoặc vì tranh giành gia sản mà gây ra kiện tụng
Tam gặp Cửu là sinh xuất. Nếu vượng thì phát như sấm dậy, con cháu thông minh, văng tài hiếm thấy, hưởng giàu sang được nhiều năm. Nếu suy thì tai tiếng thị phi chồng chất liên tiếp, thường mắc các chứng đau mắt, đau dầu; ngoài ra con dễ gặp hỏa hoạn.
4. Tứ Lục
Tứ Lục là sao Văn Khúc . Nếu vượng thì tai văn chương lừng danh, khoa cử đổ đạt, con gái dung mạo đoan trang và lấy được con nhà quyền quý . Nếu suy tử thì phụ nhân dâm loạn; đàng ông đam mê tửu sắc, gia sản phá bại phải lang thang phiêu bạt
Tứ gặp Nhất là sinh nhập. Nếu vượng thì một đời danh giá, đại lợi về văn tài, học hành thì cử đổ đạt. Con cái thông minh, thành tích thường đứng đầu, nghề nghiệp vừa ý, tài vận thuận lợi. Nếu suy thì dễ mắc bệnh trúng phong, hoặc vì dâm đãng tửu sắc mà hư bại, gây ra tiếng xấu bên ngoài . Hoặc vợ vô sinh, có con thì cũng chết yểu.
Tứ gặp Nhị là khắc xuất. Nếu vượng thì tương đối giàu sang, vợ nắm quyền trong nhà, con cái đông. Nếu suy thì vợ ngỗ nghịch khắc mẹ chồng và ức hiếp em chồng. Không khí gia đình nặng nề, không vui; người nhà thường hoảng loạn, dễ mắc chứng đau dạ dày; bị chó dại cắn . Mẹ chồng nàng dâu, chị dâu em chồng thường hay xích mích, mẹ già gặp tai ương. Sự nghiệp suy bại, gia phong càng lúc càng xấu đi, hoặc có người xuất gia làm ni.
Tứ gặp Tam là tỵ hòa. Nếu vượng thì âm dương phối hợp đúng phép, gia đạo êm ấm, con cái thuận hòa, sự nghiệp thuận lợi, tương đối giàu sang. Nếu suy thì vợ chồng hay cải vả xích mích, người nhà thường có ý làm tăng ni, xuất hiện kẻ sống lang thang chẳng ra gì. Thường mang bệnh dị ứng hoặc có tật ở tay chân
Tứ gặp Tứ là tỵ hòa. Nếu vượng thì hai sao Văn Khúc cùng đến, con cháu thành tích nổi bật, có tinh mừng về thi cử. Đại lợi về tài văn chương, làm quan văn khá nổi tiếng. Nếu suy thì phiêu bạn khắp nơi, hoặc trở thành tăng ni. Đàn ông xa nhà bôn ba, sống nơi chân trời gốc bể. Người nhà dễ bị bệnh phong; quả phụ làm chủ gia đình
Tứ gặp Ngũ là khắc xuất. Nếu vượng thì có tài văn chương, giàu có, sự nghiệp thuận lợi. Nếu suy thì ham ăn ham uống, ruộng vườn bỏ hoang, cảnh nhà ảm đạm, buồn tẻ; nữ chủ nhân thường hay đau ốm, có ý hướng xuất gia, khó sinh và khó nuôi con cái, gia đạo lụn bại.
Tứ gặp Lục là khắc nhập. Nếu vượng thì quan binh không dám đụng đến, được mọi người đối đãi tử tế, gia đạo êm ấm, tài lộc có đủ. Nếu suy thì cha chồng ngược đãi con dâu, dễ khiến con dâu phải bỏ nhà ra đi. Người trong nhà thường tranh chấp nhau; dễ mắc bệnh gan, mật và thương tật ở tay. Tứ Lục sóng đôi là tượng “Dịch Mã”, nên người nhà dễ phảI tha hương, rày đây mai đó; nặng thì có thể bị đày.
Tứ gặp Thất là khắc nhập. Nếu vượng thì vợ nắm quyền hành, táo bạo hơn người nhưng tích lũy được nhiều tiên của. Nếu suy thì nam nữ đa dâm, con cháu học hành chẳng ra gì; dễ bị bệnh thổ huyết mà chết yểu. Ra ngoài thị gặp nhiều thị phi; mẹ chồng nàng dâu bất hòa . Dễ phạm kiếp sát đào hoa
Tứ gặp Bát là khắc xuất. Nếu vượng thì vợ hiền dạy con thảo, của cải chất thành núi. Nếu suy thì người nhà có người ở trong rừng núi sâu làm ẩn sĩ, hoặc vào chùa làm sư. Con cháu nhiều bệnh tật, học hành không giỏi giang; dễ mắc bệnh viêm mũi, bệnh phong hoặc bị rắn hay chó cắn.
Tứ gặp Cửu là sinh xuất. Nếu vượng thì hợp với kim Tiên Thiên, được tài lẫn quý, xuất hiện kẻ sĩ văn chương nổi tiếng. Nếu suy thì thường bị đau mắt hoặc bị hỏa tai. Đàn ông dễ rơi vào cảnh ngộ vi gian dâm mà gia sản lụn bại
5. Ngũ Hoàng
Ngũ Hoàng là sao Liêm Trinh, là đại sát tinh Mậu Kỷ . Nếu vượng thì tài đinh đại phát . Nếu suy thì bất kể nó được sinh hay bị khắc đều rất xấu . Vì vậy nó nên tịnh mà không nên động . Nếu gặp lúc sao Thái Tuế tới thì tính hung càng phát ra mạnh, tức tổi đinh hao tài lớn, nhẹ thì ốm đau, nặng thì hao vài người . Cuộc này nên tránh không nên phạm
Ngũ gặp Nhất là khắc xuất. Nếu vượng thì tài đinh đại phát, nhưng con giữa không phát. Nếu suy thì con giửa lại chịu tai ương hoặc đau ốm nặng, đặc biệt là bệnh về đường tiết niệu, bệnh phụ khoa. Ngoài ra còn thường bị các bệnh về tai, hắc lào. Người nhà bệnh hoạn luôn.
Ngũ gặp Nhị là tỵ hòa. Nếu vượng thì thì tài đinh đại phát, người mẹ nắm quyền trong nhà. Nếu suy thì phát đủ thứ bệnh, nhất là cha mẹ. Chủ yếu là bệnh về dạ dày và đường ruột . Gặp lúc sao Thái Tuế tới thì cha bệnh nặng, mẹ dễ thành quả phụ.
Ngũ gặp Tam khắc nhập. Nếu vượng thì tài đinh đại phát, con trưởng được thừa hưởng phúc lộc. Nếu suy thì thường mắc các chứng bệnh về gan, tụy, mụn nhọt, ghẻ lở ở chân tay hoặc chổ kín. Con trai phản nghịch, trong nhà có người bị thương tật ở chân, gia đạo không yên ấm.
Ngũ gặp Tứ khắc nhập. Nếu vượng thì có tài vănt hơ và giàu có, sự nghiệp thuận lợi. Nếu suy thì con trai lêu lỏng ăn chơi, ruộng vườn bỏ hoang; phụ nhân có nhọ độc ở vú, phái nam thường bị sởi. Nhà cửa ảm đạm buồn tẻ, con dâu có ý xuất gia làm ni, gia phong suy bại.
Ngũ gặp Ngũ là tỵ hòa. Nếu vượng thì đinh tài đều vượng, gia nghiệp phồn thịnh. Nếu suy thì khó thoát hung sát hoành hành, dễ bị chứng bạch đới cấp tính. Nhẹ thì bị nhọt độc, nặng thì hao người.
Ngũ gặp Lục sinh xuất. Nếu vượng thì tiền tài tương đối khá giả, con cái hiếu thuận, nhưng chủ nhân không hưởng được. Nếu suy thì chủ nhân mang bệnh, nhẹ thì đau đầu, đau xương, nặng thì thập tử nhất sinh, ra ngoài dễ bị thương tổn. Hoạn lộ gặp nhiều khó khăn, thậm chí có thể bị tổn thất.
Ngũ gặp Thất sinh xuất. Nếu vượng thì giàu có sung túc, gia nghiệp hưng vượng. Nếu suy thì tranh chấp thị phi, chuyện rắc rối xảy ra thường xuyên, hoặc vì tửu sắc mà phá hết gia sản, có khi gây nên tai họa dẫn tới tù tội. Thiếu nữ trong nhà thường đau ốm . Có người bệnh răng, miệng, họng, hoặc bị thương bởi búa rìu.
Ngũ gặp Bát là tỵ hòa. Nếu vượng thì giàu có, ruộng vườn mênh mông, con cái tốt lành gặp nhiều thuận lợi. Nếu suy thì con trai nhỏ thường đau yếu, trung niên đau mỏi gân cốt. Khí vận của gia đạo suy giảm.
Ngũ gặp Cửu là sinh nhập. Nếu vượng thì con cái thông minh, tài vận tốt. Nếu suy thì sinh con ngu đần, người nhà mắc chứng đau mắt, đau đầu hay trong lòng buồn phiền. Gặp lúc Thái Tuế tới dễ mắc chứng bạch đới cấp tính.
6. Lục Bạch
Lục Bạch là sao Vũ Khúc, là cát tinh. Nếu vượng thì quyền uy chấn động bốn phương, làm võ tướng thì công trạng hiển hách, gia đình giàu có, nhiều nhân đinh. Nếu suy tử thì sống cô độc hoặc chết trong binh đau; Người nhà thường góa vợ, có nhiều quả phụ.
Lục gặp Nhất là sinh xuất. Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, tiền của dồi dào, con cái học hành đỗ đạt. Nếu suy thì quan lộc tuy không giảm nhưng người nhà thường mắc chứng đau đầu, hoặc gặp tai nạn sông nước.
Lục gặp Nhị là sinh nhập. Nếu vượng thì phát lớn, giàu có nhiều vàng bạc ngọc quý, cuộc sống bình yên, xuất hiện người hành nghề y cứu đời. Nếu suy thì tham lam vô độ, bủn xỉn, hoặc xuất gia đi tu, vợ chồng bất hòa chia cách. Người nhà thường mắc các chứng về đầu, xương, dạ dày, đường ruột.
Lục gặp Tam khắc xuất. Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều hanh thông, quyền uy hơn người. Nếu suy thì dễ gặp nạn binh đao, bị thương, cha con bất hòa, có tang tóc.
Lục gặp Tứ khắc xuất. Nếu vượng thì giàu có, thành công trên thương trường, nhất là lãnh vực buôn báng đường xa, hoặc được làm quan võ. Nếu suy thì khắc vợ hoặc bị khổ sai, có khi người vợ không chịu đựng nổi, phải bỏ mà đi. Người nhà thường đau tay, đau đầu hoặc bị tê liệt.
Lục gặp Ngũ là sinh nhập. Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều tốt, nhưng có tiểu nhân ngầm hại. Nếu suy thì tiểu nhân chống đối, làm hao tổn tinh thần hoặc mất chức. Chủ nhân nhiều bệnh tật, thường là bệnh đau đầu, tinh thần bất ổn có thể làm điều sai quấy.
Lục gặp Lục tỵ hòa. Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, quyền chức cao. Nếu suy thì gặp nhiều rắc rối, khó thoát thân, có khi phải ngầm di chuyển chỗ ở; hoặc bị hung đồ truy đuổi mà phải trốn chạy, của cải tổn thất, dễ bị tai nạn trên đường.
Lục gặp Thất tỵ hòa. Nếu vượng thì làm văn quan hay võ chức đều có quyền lớn trong tay, tài lộc thuận lợi. Nếu suy thì dễ bị thương vì đao kiếm, hoặc vì tranh chấp mà bị tổn thương. Nhà có thể bị trộm cướp, hoặc vì xích mích mà gặp rắc rối . Già trẻ đều không yên, thường mắc bệnh đau đầu, đau miệng, đau họng.
Lục gặp Bát là sinh nhập. Nếu vượng thì có văn chức, võ quyền, công danh và bổng lộc đều có, con cháu được thừa hưởng gia nghiệp hưng thịnh. Nếu suy thì tuy quan lộc không giảm nhưng người nhà phần nhiều mắc bệnh đau đầu, đau xương.
Lục gặp Cửu là khắc nhập. Nếu vượng thì hỏa chiếu thiên môn nên đinh tài đều vượng, chủ nhân quyền cao chức trọng lại sống thọ. Người nhà xuất hiện võ tướng tài ba. Nếu suy thì hỏa đốt thiên môn, người nhà sinh con bất hiếu. Con cháu dòng trưởng sa sút, gặp hỏa khắc kim thì dễ bị bệnh thổ huyết . Hỏa thiêu dốt thiên môn nên trong nhà dễ sinh nghịch tử; hỏa thịnh thì dễ gặp tai ương.
7. Thất Xích
Thất Xích là sao Phá Quân, còn gọi là tặc tinh. Nếu vượng thì phát về võ quyền, đinh tài đều vượng . Nếu suy thì trong nhà xuất hiện trộm cướp hoặc có người chết trận, bị giam cầm . Gia đạo không yên, có thể vì hỏa tai mà tổn đinh hoặc xuất hiện người ham mể tửu sắc.
Thất là hung tinh vì vậy nên tịnh mà không nên động . Động thì điều xấu càng nhiều, nhất là nhà ở đầu phố hay ngã ba thì nguy hại càng lớn. Nếu sao Thất Xích tương ứng với hình thế Loan Đầu thì sẻ các biểu hiện như:
a. Bên ngoài có sa hình dạng hồ lô thì trong nhà có người hành nghề y
b. Bên ngoài có sa hình dạng con dao thì có con làm nghề đồ tể
c. Bên ngoài có sa hình dạng cái kềm thì trong nhà có người làm thợ thủ công
d. Bên ngoài có sa hình dạng cờ trống thì trong nhà dễ có người phản nghịch
e. Bên ngoài có sa thủy hình dạng thập thò hoặc phình ra bên hông thì trong nhà dễ có kẻ làm trộm cướp
f. Bên ngoài có sa xung chiếu thẳng tới gặp Nhất Lục bay đến thì trong nhà dễ có người thổ huyết nặng
Thất gặp Nhất là sinh xuất. Nếu vượng thì võ chức thăng tiến, con cái đào hoa. Nếu suy thì thủy kim đều lạnh nên con cháu ham mê tửu sắc, tiêu phá tiền của hoặc vong ơn bội nghĩa. Gặp lúc Thái Tuế bay tới thì có điều nọ tiếng kia, hoặc bị cướp, bị bệnh ở bụng dưới, thổ huyết, thương tật, hay bị tù đày mà phá sản.
Thất gặp Nhị là sinh nhập. Nếu vượng thì tài sản ruộng vườn thêm nhiều, thăng quan tiến chức, phụ nhân sang quý . Nếu gặp được số Nhị Thất bát quái Tiên Thiên thì trong nhà luôn có đèn chiếu sáng, hưng vượng nhộn nhịp. Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn, phụ nữ trong nhà bất hòa, người nhà dễ bị ngộ độc thức ăn, có bệnh về răng miệng hay kiết lị.
Thất gặp Tam khắc xuất. Nếu vượng thì làm văn thần võ tướng, quyền cao chức trọng, trong nhà xuất hiện người có tài văn thao võ lược, bốn phương kính phục, con cháu giỏi giang hơn người. Nếu suy thì đối xử thô bạo với mọi người, con cái hống hách lộng hành. Gia đạo bị xuyên tâm sát dễ gặp binh đao, trộm cướp . Trong nhà cãi cọ, kiện cáo lẫn nhau; gia đình bất hòa, con cái ly tán . Người nhà dễ mắc bệnh thổ huyết, bị thương tật hoặc quan tai.
Thất gặp Tứ khắc xuất. Nếu vượng thì phụ nhân sang cả quyền thế, quan lộc đều có, đồng thời gặp vận đào hoa. Nếu suy thì phụ nữ làm chủ nhân, gặp kiếp đào hoa nên nam nữ ham dâm, trong nhà bất hòa, mẹ chồng nàng dâu không hòa thuận. Dễ bị bệnh thổ huyết hoặc chết yếu.
Thất gặp Ngũ là sinh nhập. Nếu vượng thì giàu có, ruộng vườn của cải đại phát. Nếu suy thì có bệnh ở miệng, ung nhọt. Thường tranh chấp nên dễ bị kiện tụng hoặc gặp rắc rối vì đào hoa.
Thất gặp Lục tỵ hòa. Nếu vượng thì văn võ toàn tài, quan lộc đều có. Nếu suy thì có tranh chấp ở chốn quan trường, gia đạo bất hòa, dễ bị thương tật vì đao kiếm hoặc tai nạn xe cộ. Dễ bị bệnh tật ở miệng, đau đầu, viêm nhọt.
Thất gặp Thất tỵ hòa. Nếu vượng thì của cải và quyền bính đều được quý nhân phù trợ nhưng kiếm tiền bất nghĩa. Nếu suy thì dễ gặp trộm cướp hoặc hỏa hoạn; thường hay bị tranh chấp. Trai gái vì ham mê tửu sắc nên dễ bị quan tai.
Thất gặp Bát là sinh nhập. Nếu vượng thì thăng quan tiến chức liên tiếp, tài vận hanh thông, trở nên giàu có, gia đình hòa thuận, con cháu khỏe mạnh và phát triển thuận lợi. Nếu suy thì tiền tài tổn thất, ra đi nhanh chóng. Dễ bị tật ở miệng hoặc con nhỏ lắm bệnh tật.
Thất gặp Cửu là khắc nhập. Nếu vượng thì hỏa chiếu sảnh đường, gia đạo hưng vượng. Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn. Phương vị Thất Cửu nếu có Nhất Bạch bay đến thì dể gặp hỏa tai. Nếu phương vị Thất Cửu là ở hướng mà động thì gặp hỏa hoạn . Thất Cửu ở phương vị sơn gặp Nhị Hắc thì hung sát càn nặng, dù không động cũng gây nên hỏa hoạn . Nếu Loan Đầu bên ngoài có nhiều màu đỏ thì khó tránh khỏi hỏa tai.
8. Bát Bạch
Bát Bạch là sao Tả Phụ, là cát tinh. Nếu vượng thì trung hiếu, phú quý dài lâu, con cháu được hưởng phúc lộc tổ tiên. Nếu suy tử thì có tổn thương nhỏ hoặc bị bệnh dịch.
Bát gặp Nhất là khắc xuất. Nếu vượng thì đại lợi về văn chương học hành, văn chức thăng tiến, đặc biệt thuận lợi về kinh doanh địa sản. Nếu suy thì dễ mắc bệnh thiếu máu, bệnh về tai; anh em trong nhà bất hòa, bạn bè phản bội, hoặc phụ nữ không sinh đẻ, trẻ con chết đuối.
Bát gặp Nhị là tỵ hòa. Nếu vượng thì giàu có nhờ địa sản. Nếu suy thì dễ mắc bệnh đau dạ dày, đường ruột, hoặc bị chó cắn. Nếu Loan Đầu bên ngoài có dải núi chạy đi thì có thể xa rời quê hương đất tổ, xuất gia làm tăng ni hoặc chết ở đất khách quê người.
Bát gặp Tam khắc nhập. Nếu vượng thì địa sản (nhà cửa, ruộng vườn) dồi dào, quyền lực tăng tiến lên đột ngột, nhờ đước số của Tiên Tiên bát quái nên việc hợp tác rất tốt. Nếu suy thì của cải thất thoát, chức quyền giảm sút. Trong nhà có người bị thương nhẹ ở tay chân hoặc có bệnh gan, dạ dày.
Bát gặp Tứ khắc nhập. Nếu vượng thì vợ nắm quyền, giàu có về ruộng vườn và nhà cửa. Nếu suy thì có tổn thương nhỏ, vợ lấn quyền chồng, gia đạo bất hòa. Ra ngoài dễ gặp tai nạn xe thuyền, hoặc làm ẩn sĩ ở chốn núi rừng.
Bát gặp Ngũ là tỵ hòa. Nếu vượng thì tài lộc phát đạt, vận thế hanh thôn. Nếu suy thì hao tài tổn sức, dễ bị bệnh nhẹ, vận thế trở ngại. Dễ mắc bệnh đau bao tử, đường ruột, hoặc ngộ độc thức ăn.
Bát gặp Lục sinh xuất. Nếu vượng thì dễ trở thành quan văn, nhiều quyền thế, phú quý và phúc đức tăng cao. Nếu suy thì thì vẫn giàu sang nhưng cha con bất hòa, dễ mắc bệnh đau đầu, nhức xương.
Bát gặp Thất sinh xuất. Nếu vượng thì văn chức võ quyền đều có, tài lộc sung túc, vợ chồng hòa thuận, con cái an khang. Nếu suy thì tài sản dễ tiêu tán, vợ chồng mâu thuẩn bất hòa, con cháu tổn thất.
Bát gặp Bát là tỵ hòa. Nếu vượng thì có lợi về văng chương, học hành; phát về ruộng vườn, nhà cửa; giàu sang phú quý đều có, sự nghiệp hưng vượng. Nếu suy thì sự nghiệp suy tàn, của cải thất tán. Thường mắc bệnh nhức xương đau vai.
Bát gặp Cửu là sinh nhập. Nếu vượng thì tin vui đến dồn dập; giàu có không ai sánh kịp, có địa vị trong triều đình. Nếu suy thì mắt mũi lắm tật bệnh, bụng nhiệt, đại tiện ra máu, hoặc bị hỏa hoạn.
9. Cửu Tử
Cửu Tử là sao Hữu Bật . Nếu vượng thì văn chương lừng lẫy, vinh hiển đột ngột, con cháu dòng giữa được hưởng phú quý . Nếu suy thì bị hỏa tai, hoặc tai họa ở chốn
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Con người và những vật thể liên quan đến con người có Tên Gọi Riêng.
Số phận là Tự điều chỉnh & Điều khiển được.
* Cách tự điều chỉnh số phận.
* Chỉnh sửa số phận nơi người khác.
1. Thuyết Nhất Nguyên Hoàn Chỉnh (lý thuyết Âm Dương).
2. Nguyên lý Chủ - Vị.
3. 64 quẻ Chu Dịch.
4. Biện chứng pháp duy vật.
1. Qui tắc thứ nhất: VẬN ĐỘNG HOÀN HẢO
Vật chất vận động theo Tính Thật là chúng vận động và tồn tại trong trạng thái hoàn hảo.
2. Qui tắc thứ hai: VẬN ĐỘNG TỰ GÂY SÓNG GIÓ
Vật chất vận động theoTính Giả là chúng vận động và tồn tại trong trạng thái hoàn hảo rắc rối.
3. Qui tắc thứ ba: VẬN ĐÔNG TỰ HỦY
Vật chất vận động song hành Tính Thật & Tính Giảlà chúng vận động và tồn tại trong trạng thái cân bằng.
4. Qui tắc thứ tư: VẬN ĐỘNG NÚT XẢ
Vật chất vận động xả, khi 1 trong 3 cơ chế kia hoạt động.
Hệ quả:
Nguyên tắc lập quẻ: sử dụng nguyên lý Chủ - Vị.
Ví dụ: Dương Kiện Toàn
Dương: 5 ký âm
Kiện: 5 ký âm
Toàn: 5 ký âm
Dương : Kiện Toàn = 5:10
5:10 ~ 5/(10-8) ~ 5/2 ~ Phong Trạch Trung Phu
Bài viết tiếp dưới đây sẽ trình bày về Xem người qua tên gọi
Xem Người Qua Tên GọiMột số khái niệm:
1. Qui tắc thứ nhất: VẬN ĐỘNG HOÀN HẢO
Cá nhân vận động Tính Cách Thật trong suốt cuộc đời, hoặc trong một giai đoạn nhất định là cá nhân có số phận, vận hạn hoàn hảo.
2. Qui tắc thứ hai: VẬN ĐỘNG TỰ GÂY SÓNG GIÓ
Cá nhân vận động Tính Cách Giả trong suốt cuộc đời, hoặc trong một giai đoạn nhất định là cá nhân tự tạo số phận, vận hạn hoàn hảo rắc rối.
3. Qui tắc thứ ba: VẬN ĐỘNG TỰ HỦY
Cá nhân vận động song hành Tính Cách Thật & Tính Cách Giả trong suốt cuộc đời, hoặc trong một giai đoạn nhất định là cá nhân có số phận, vận hạn ổn định.
4. Qui tắc thứ tư: VẬN ĐỘNG NÚT XẢ
Cá nhân vận động xả, khi 1 trong 3 cơ chế kia vận động.
Hệ quả:
Thái quá, cực đoan hay mất cân bằng đều thể hiện tình trạng mất cân bằng tâm sinh lý, tất sẽ dẫn đến bệnh tật, tác động xấu đến thể trạng và tuổi thọ.
• Tên gọi: Nguyễn Huệ
• Nguyễn : 7 ký âm
• Huệ : 4 ký âm
• Nguyễn Huệ: 7/4
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Đại Quá >< Di ~ Trung Phu
Cứng rắn >< Nhàn nhã ~ Chia sẻ
Nhận xét
Căn cứ vào sử liệu, ta có thể phỏng đoán mà cho rằng cuộc đời của Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ vận động theo qui tắc thứ hai: Vận Động Tự Gây Sóng Gió với Đại Quá - Cứng rắn. Với cơ chế này, ngài đã có được thành công nhưng bền vững kém. Và Ngài đã qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, 40 tuổi, cho thấy vận động Nút xả - Chia sẻ nơi Ngài hoạt động kém.
• Tên gọi: Nguyễn Du
• Nguyễn : 7 ký âm
• Du : 2 ký âm
• Nguyễn Du: 7/2
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Trạch Sơn Hàm >< Sơn Trạch Tổn ~ Phong Lôi Ích
Tình cảm trai gái >< Hy sinh ~ Độ lượng
• Tên gọi: Trịnh Công Sơn
• Trịnh : 6 ký âm
• Công : 4 ký âm
• Sơn : 3 ký âm
• Trịnh Công Sơn: 6/7
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Hỏa Trạch Khuê >< Thủy Sơn Kiển ~ Hỏa Phong Đỉnh
Đa nghi >< Tin người ~ Quyết đoán
Nhận xét
Nguyễn Du là người con, người em trong một gia đình danh gia thế tộc thời Lê Mạt. Tên ông khi viết bằng chữ Nho, tính theo nét là Thủy Sơn Kiển. Hơn 100 năm sau, một thiên tài trong lĩnh vực âm nhạc Việt Nam xuất hiện; Tên của ông được tính ra là Thủy Sơn Kiển, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Hai ông đều thông minh đĩnh ngộ, thế nhưng việc học hành thì y như nhau, tàng tàng… Nguyễn Du chỉ chịu đi thi Hương, thi đỗ Tam Trường xong rồi về, không muốn thi Hội, thi Đình. Trịnh Công Sơn chỉ học đến Cao Đẳng Sư Phạm rồi đi làm thầy giáo cấp tiểu học. Hai ông đều thích nhàn du, ẩn dật, không thích chốn quan trường. Đại Nam Liệt Truyện viết: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì...''. Trịnh Công Sơn cũng không khác. Thiên tài dạng Thủy Sơn Kiển cách nhau hơn 100 năm, xem ra không khác gì nhau lắm.
• Tên gọi: Napoleon Bonaparte
• Napoleon: 8 ký âm
• Bonaparte: 9 ký âm – 8 = 1
• Napoleon Bonaparte: 8/1 (trừ đi 8, khi con số lớn hơn 8 )
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Thiên Địa Bĩ >< Địa Thiên Thái ~ Thiên Địa Bĩ
Nóng nảy >< Hiền lành ~ Nóng nảy
Nhận xét
Nguyễn Huệ và Napoleon Bonaparte sống cùng thời, tuy cách nhau 1/4 quả đất, nhưng tài năng quân sự đều thuộc hạng phi thường. Ta thấy: Napoleon Bonaparte vận động theo qui tắc thứ hai: Vận Động Tự Gây Sóng Gió với Bĩ - Nóng nảy. Sự nghiệp của ông lẫy lừng nhưng bền vững kém.
• Tên gọi: Albert Einstein
• Albert: 6 ký âm
• Einstein: 8 ký âm
• Albert Einstein: 6/8
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Hỏa Thiên Đại Hữu >< Thủy Địa Tỉ ~ Hỏa Thiên Đại Hữu
Cởi mở >< Đơn độc ~ Cởi mở
Nhận xét
Albert Einstein, người “Khổng lồ” của thế kỷ 20 và có lẻ còn tiếp tục ở thế kỷ 21. Ông là nhà khoa học vĩ đại với 1 cây viết. Với cây viết, ông đã tạo ra một thuyết tương đối, lúc ban đầu … không ai hiểu. Cuộc đời sáng tạo của ông là cuộc hành trình đơn độc. Ông đã sống theo qui tắc thứ nhất: Vận Động Hoàn Hảo với Tỉ - Đơn độc. Albert Einstein còn là nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, cho thấy vận động Nút Xả - Đại Hữu - Cởi mở nơi ông hoạt động rất tốt.
Albert Einstein có cuộc đời thật hoàn hảo.
• Tên gọi: Phan Châu Trinh
• Phan : 4 ký âm
• Châu : 4 ký âm
• Trinh : 5 ký âm
• Phan / Châu Trinh: 4/4+5 ~ 4/9 ~ 4/1
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Phong Địa Quán >< Lôi Thiên Đại Tráng ~ Trạch Địa Tụy
Nhẹ nhàng >< Đối đầu ~ Dễ dãi, dễ chịu
Nhận xét
Phan Châu Trinh thuở nhỏ không thích học chữ. Đến khi 10 tuổi được cha truyền thụ võ nghệ. Do cha mất sớm, ông được người anh rước thầy về dạy chữ. Sự đời ngẫu nhiên đã chọn cho ông hướng đi theo nghiệp bút nghiên. Như vậy, cuộc đời sau này của ông đã vận động theo qui tắc thứ hai: Vận Động Tự Gây Sóng Gió với Quán - Nhẹ nhàng. Sự nghiệp nơi ông được dân tộc Việt Nam đánh giá cao và ngưỡng mộ. Ông bệnh nặng và qua đời ở tuổi 55.
• Tên gọi: Barack Hussein Obama II
• Barack Hussein: 6+7= 13 ký âm
• Obama II: 5+2 = 7 ký âm
• Barack Hussein Obama II : 13/7 ~ 5/7
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Lôi Trạch Qui Muội >< Phong Sơn Tiệm ~ Sơn Phong Cổ
Lệ thuộc >< Hợp tác ~ Sửa lỗi
Nhận xét
Cơ cấu chính quyền của Tổng Thống Mỹ Barack Obama cho thấy tinh thần chủ đạo là hợp tác, dùng người tài không nhất thiết người đó thuộc đảng nào. Slogan: “Change” trong quá trình tranh cử, và cái cách thể hiện trong các chính sách đề nghị của vị Tổng Thống này hoàn toàn khớp với vận động theo qui tắc thứ nhất: Vận Động Hoàn Hảo với Tiệm - Hợp tác. Vận động Nút Xả nơi tên gọi cũng cho thấy một chi tiết khá “Cao bồi”: vị tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ này luôn sẵn lòng tỏ thái độ hợp tác với tất cả các quốc gia, bác bỏ khả năng này, quốc gia ấy sẽ phải chịu đựng vị TT Hoa Kỳ ra tay “sửa lỗi”.
• Tên gọi: William Henry Gates III (Bill Gates)
• William Henry : 7+5= 12 ký âm
• Gates III : 5+3 = 8 ký âm
• William Henry Gates III : 12/8 ~ 4/8
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Phong Thiên Tiểu Súc >< Lôi Địa Dự ~ Trạch Thiên Quải
Cẩn trọng >< Nhạy bén ~ Phá hủy
Nhận xét
Trong suốt thời gian nắm quyền lực tối cao ở “Vương quốc” Microsoft, ông được các giới đánh giá là một tay “Phá hủy” kinh người. Ông luôn sẵn lòng “nuốt trộng” bất kỳ ai ngáng đường, dù chỉ là vô tình. Bill Gate vận động theo qui tắc thứ nhất: Vận Động Hoàn Hảo với Dự - Nhạy bén.
• Tên gọi: Nelson Rolihlahla Mandela
• Nelson : 6 ký âm
• Rolihlahla Mandela : 10+7 = 17 ký âm
• Nelson Rolihlahla Mandela : 6/17 ~ 6/1
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Hỏa Địa Tấn >< Thủy Thiên Nhu ~ Hỏa Địa Tấn
Không nhượng bộ >< Mềm mỏng ~ Không nhượng bộ
Nhận xét
Ở thời trai trẻ, vị Tổng Thống da đen lừng lẫy này đi theo xu hướng đấu tranh vũ trang chống nạn phân biệt chủng tộc của chính quyền da trắng Nam Phi. Thời gian ở trong tù, ông đã thay đổi chủ kiến. Mãn hạn tù năm 1990, ông chuyển hướng sang hòa giải và thương lượng. Ông đã thành công và trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên (1994 – 1999) trong một cuộc bỏ phiếu Đại Nghị.
Ông đã từ bỏ Vận Động Tự Gây Sóng Gió, chuyển sang Vận Động Hoàn Hảo, và đã thành công tốt đẹp ở cuối đời.
• Tên gọi: Mohandas Karamchand Gandhi
• Mohandas : 8 ký âm
• Karamchand Gandhi : 10+6 = 16 ký âm
• Mohandas Karamchand Gandhi : 8/16 ~ 8/8
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Thuần Càn >< Thuần Khôn ~ Thuần Càn
Đi đầu >< Hỗ trợ mềm mỏng ~ Đi đầu
Nhận xét
Hai quẻ Càn & Khôn có hàm ý khá rộng. Cả hai đều là mạnh mẽ và đi đầu. Điểm khác biệt là: quẻ Càn bước ra khởi động, quẻ Khôn đứng phía sau hỗ trợ; Để dễ hình dung, ta lấy câu: “Lệnh ông. Cồng bà” để mô tả sự khác biệt ở hai quẻ này. Thánh Gandhi của Ấn Độ đã vận động theo qui tắc thứ nhất: Vận Động Hoàn Hảo với Thuần Khôn - Hỗ trợ mềm mỏng; và Vận động Nút Xả - Thuần Càn - Đi đầu hoạt động rất tốt.
• Tên gọi: Aldolf Hitler
• Aldolf : 6 ký âm
• Hitler: 6 ký âm
• Aldolf Hitler: 6/6
Ta có:
Tính Cách Giả >< Tính Cách Thật ~ Vận Động Nút Xả
Thuần Ly >< Thuần Khảm ~ Thuần Ly
Phấn chấn >< Lạnh lùng ~ Phấn chấn
Nhân xét
Quẻ Ly, thoán từ ghi: Súc tẫn ngưu, nghĩa là nuôi con bò cái, hàm ý: Chăm lo, gìn giữ nòi giống. Hitler có tài hùng biện và đưa ra thuyết dân tộc thượng đẳng Arial. Ông ta vận động theo qui tắc Tự Gây Sóng Gió ở cấp độ cực đoan, với hành động tuyệt mạng mấy triệu người Do Thái trong các lò thiêu xác.
10 trường hợp điển hình trên được chọn từ các nhân vật nổi tiếng ở trong nước & nước ngoài. Những nhân vật được đa phần mọi người đều biết đến. Mục đích là để minh chứng qua thực tế về tính khả dụng của Chu Dịch Tướng Học.
Tính khả dụng của Chu Dịch Tướng Học không chỉ ở mức minh họa các nhân vật lịch sử. Qua đó, chúng ta có thể nhìn thấy được những khía cạnh khác, những nét khác của họ mà vì lý do này khác đã không được ghi nhận lại.
Xây dựng nhân vật lịch sử phù hợp với từng thời đại, chúng ta không thể không nghĩ đến việc ươm trồng con trẻ cho tương lai. Việc áp 04 qui tắc vận động cũng không khó khăn lắm. Ta có thể đem so thử lên những người thân, những người xung quanh đã hoặc đang trưởng thành. Thấy được và an tâm, lúc ấy áp dụng cho con trẻ vẫn chưa muộn.
Việc đề nghị áp dụng tính khả dụng trong việc gầy dựng con người của Chu Dịch Tướng Học hoàn toàn không phủ nhận hay so sánh với Tâm lý học trong dạy dỗ con trẻ. Ta thấy tính khả dụng ở đây chỉ là nhằm tạo nên một con đường để đi. Còn khi đi trên con đường đó sẽ cần phải nhận thêm những tính cách gì, những tri thức nào, điều ấy tùy thuộc vào môi trường sống ở mỗi con trẻ.
Cuộc sống là muôn hình đa dạng, đôi khi cái ta muốn cho con trẻ, có khả năng bị tác động mạnh, bất ngờ ngoài ý muốn từ môi trường xung quanh. Những điều xấu chẳng hạn, có thể vô tình chuyển con trẻ qua Vận Động Tự Gây Sóng Gió. Trong trường hợp xảy ra ngoài ý muốn ấy, ta vẫn có thể an tâm hơn, khi nắm chắc cơ chế Vận Động Nút Xả của con trẻ mà đồng hành cùng với chúng.
Vì thế, xây dựng cơ chế Vận Động Nút Xả cho con trẻ là điều đầu tiên chúng ta nên xem xét đến. Nó giúp con trẻ xả thoát được những xung đột tâm lý không đáng có trong thế giới đầy tính phức tạp của người lớn, mà chúng buộc phải sống trong đó.
Vận Đông Hoàn Hảo là sự lựa chọn tiếp theo. Bình thường, con trẻ đã có sẵn và thường xuyên thể hiện Tính Cách Thật. Việc nắm được Tính Cách Thật và gìn giữ Tính Cách Thật ấy là một điều không khó khăn lắm.
Hiệu chỉnh lần thứ nhất.
Saigon, ngày 3 tháng 3 năm 2011
Dương Kiện Toàn
![]() |
![]() |
| ► Xem ngày tốt xấu để tiến hành các việc đại sự |
Trong tử vi Canh Dần là mãnh hổ chôn rừng xanh, tính cách uy nghi, chí khí ngang tàng, làm việc bình hòa, ngoài cương trong nhu.
Tùng bách Mộc ngang tàng đứng trong sương tuyết, cao vút tầng mây che phủ mặt đất, gió lay giống như tấu lên khúc nhạc, hiên ngang trong gió mưa. Mộc này tàng ẩn dưới Kim, vị trí ở Chính Đông, là cực vượng.
Mộc Canh Dần sống trong mùa đông, tuyết sương còn không thể làm thay đổi tiết tháo của chúng, huống hồ Kim có thể khắc chúng hay sao?

Ưa nhất sơn làm cơ sở, Thủy thấm ướt, rất ưa Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy, Đinh Sửu có núi, có thể làm cơ sở.
Nạp âm có Bình địa Mộc, lại được ốc thượng Thổ, ắt trở thành mệnh quan cao.
Rất kỵ nạp âm có Hỏa, ví dụ như Đinh Mão Lư trung Hỏa, lại thêm Kỷ Tỵ Đại lâm Mộc, trở thành Khôi phi yên diệt cách, cuối đời phá bại. Cũng rất kỵ Mậu Tý, Kỷ Dậu Tích lịch hỏa, chủ về yểu thọ.
Nạp âm không có Thủy, nên đề phòng đoản mệnh, hoặc cả đời không có thành tựu.
Giáp Tuất, Ât Hợi Sơn đầu Hỏa, Đinh Dậu Sơn hạ Hỏa; Mậu Tý, Kỷ Mùi Thiên thượng Hỏa, Giáp Thìn Phúc đăng Hỏa đều không thể phạm.
Rất kỵ Địa chi của các trụ khác có Dần, Ngọ, Tuất, đề phòng gặp họa hỏa hoạn.
Nạp âm không ưa Mậu Thân, Kỷ Dậu Đại dịch Thổ, phạm phải chủ về cả đời thiếu tiền, hơn nữa đoản mệnh. Nếu như lại có Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy, hung lại càng thêm hung.
Mộc này ưa nhất có Quý Dậu Kiếm phong Kim để tu sửa, lại thêm Canh Tý, Tân Sửu Bích thượng Thổ, ắt quý hiển. Riêng không ưa Nhâm Thân Kiếm phong Kim, bởi vì Dần, Thân phạm xung.
Mậu Thìn, Kỷ Tỵ Đại lâm Mộc mang phong, Nhấm Ngọ, Quý Mùi Dương liễu Mộc mang Hỏa, cho nên không ưa gặp nhau.
Tân Dậu Thạch lựu Mộc mang Kim, có thể trợ giúp Mộc này, chủ cát lợi.
Đối với tử vi người sinh Mộc này tốt nhất sinh vào mùa đông, trải qua sự gian khổ ắt sẽ vinh hiển, giống như hoa mai vàng ắt phải trải qua sương gió mối có thể tỏa hương.
Canh lộc tại Thân, Dần mã cũng tại Thân, lộc mã đồng cung, nên sớm xa nhà đi làm ăn xa, tương lai sẽ áo gấm vinh quy.
Địa chi của các trụ khác không ưa có Dần, lộc hình mã hình, không nên kinh doanh.
Địa chi của các trụ khác không thể có Tỵ, Thân, phạm tam hình, e rằng yểu vong. Mệnh nữ lưu lạc phong trần.
Canh Dần không vong tại Ngọ, Mùi, Địa chi của các trụ khác không thể gặp Ngọ, Mùi.
Gặp năm Dần, năm Thân, trong nhà không yên ổn. Nếu bản thân không bị thương hại thì người nhà cũng khó tránh điềm hung.
Thời chi có Tuất, nên theo tôn giáo.
Địa chi của các trụ khác có Mão, cả đời tiều tụy.
Mệnh nam chủ về kết hôn 2 lần, mệnh nữ chuyện tình cảm nhiều buồn phiền.
Bạn đời không nên lấy người sinh năm Bính, Đinh. Nên tìm ngưòi sinh năm Giáp, Ất.
Địa chi của các trụ khác có Tỵ, thân thể có thương tật. Ví dụ như trẻ nhỏ bị bại liệt, trúng gió, hoặc bị bệnh tiểu đường mà tứ chi thương tổn.
Đây là điển cố thứ Hai trong quẻ Quan Âm, mang tên Tô Tần Bất Đệ. Quẻ Quan Âm Tô Tần Bất Đệ có bắt nguồn như sau:
Tô Tần (337 – 284 trước CN), tự là Quý Tử, là người làng Thừa Hiên, thuộc Lạc Dương nước Vệ thời kỳ Chiến Quốc (nay là thôn Thái Bình, Đông Giao, Lạc Dương, Hà Nam), ià người thuộc phái Tung hoành gia nối tiếng, đưa ra kế “hợp tung” (liên kết các nước khác để đối phó với nước Tần), nối tiếng sánh ngang với Trương Nghi.
Tô Tần xuất thân trong một gia đình nông dân thuần túy. ông là em út trong năm anh em, cho nên có tự là Quý Tử (em út), các anh trai của ông là Tô Đại, Tô Lệ, Tô Tịch, Tô Cưu, đều là những người thuộc phái Tung hoành rất nối tiếng. Lúc này đang ở vào thời kỳ Chiến Quốc, các nước tranh đấu kịch liệt, người tài giỏi gặp được cơ hội tốt, rất nhiều người thuộc phái Tung hoành đi du thuyết ớ các nước chư hầu, nhờ tài ăn nói mà có được công danh phú quý, trở thành khanh tướng, quyền hành lấn át cả bậc quân chủ, thanh danh chấn động thiên hạ. Tô Tần rất ngưỡng mộ những người đó, lại thêm sự ảnh hưởng của người anh cả đối với ông, cho nên từ nhỏ đã lập chí đi theo con đường này. ông một mình đi đến nước Tề, xỉn làm học trò một bậc đại sư của phái Tung hoành là Quỷ Cốc Tử, học hỏi thuật Tung hoành.
Sau khi học thành, Tô Tần lần lượt đi du thuyết ớ các nước Chu, Tần, Triệu, nhưng đều không được trọng dụng, gặp cản trở nên phải quay về, cảm thấy rất xấu hổ. Sau khi Tô Tần trớ về nhà, vợ và chị dâu đều không nhìn mặt, chế nhạo ông không lo sự nghiệp, không chịu làm nông buôn bán, cho rằng với tài năng của ông mà muốn đạt được thành công là điều không thể. Tô Tần nghe xong, không những không nản lòng nhụt chí, mà ngược lại đóng cửa không ra ngoài, khố công đọc sách, ông ngày đêm nghiền ngẫm các thiên “Âm phù”, “Sủy tình”, “Ma ý”, nghiền ngẫm các phương pháp để tác động đến bậc quân chủ. Nửa đêm đọc sách buồn ngủ, ông lấy cái dùi tự đâm vào đùi mình, máu chảy đầy chân. Điển cố này đã được ghi trong “Tam tự kinh”, trờ thành tấm gương về ý chí quyết tâm học tập.
Trời cao không phụ người có chí, sau một năm, học vấn của Tô Tần đã có bước tiến lớn, khả năng suy đoán ý nghĩ người khác cũng được nâng cao rất nhiều, Tô Tần lại một lần nữa lên đường đi du thuyết các nước.
Tô Tần tiếp tục đi du thuyết nước Tần, nhưng vẫn không được trọng dụng. Đúng lúc Yên Chiêu Vương chiêu nạp người hiền tài trong thiên hạ, vì thế Tô Tần vào nước Yên, rất được Yên Chiêu Vương tín nhiệm. Sau đó, Tô Tần lại thuyết phục sáu nước là Triệu, Vệ, Ngụy, Tề, sở thực hiện hiệp ước liên kết hợp tung, Tô Tần là người đứng đầu “Tung ước”, làm tướng của sáu nước.
Vào cuối thời kỳ Chiến Quốc Tô Tần có tiếng tăm rất lớn, trong “Tuần Tử” thiên “Thần đạo” đã đặt ngang hàng “Tô Tần nước Tề” với “Châu Hầu nước sở” và “Trương Nghi nước Tần”. Thời Tây Hán, Tô Tần vẫn được người đời khen ngợi, như trong “Sử ký” phần “Trâu Dương truyện” đã ca ngợi ông có thể trở thành trung thần của nước Yên. Trong “Hoài Nam Tử” cũng có nhiều chỗ nhắc đến ông, đều khẳng định ông rất giỏi quyền mưu. Tư Mã Thiên cho rằng Tô Tần đã thể hiện được tài trí hơn người trong quá trình “hợp tung sáu nước”.
Trước khi tiến hành xin xăm nên tìm hiểu qua bài viết Hướng dẫn cách xin quẻ Quan Âm để biết thêm lịch sử ra đời của bộ thẻ và nghi thức xin quẻ
| ► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh |
![]() |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên phủ là dương thổ, là ngôi sao thứ nhất trong chòm Nam Đẩu. Tại Đẩu chưởng quản phúc và quyền, tại Số nắm giữ tài và lộc, hóa khí là lệnh, tức là nền tảng của phú và quý, còn gọi là lộc khố, có khả năng giải trừ tai ách, kéo dài tuổi thọ. Lộc khố của sao Thiên phủ chủ về tiền tài có được từ quan tước, bổng lộc, mà không phải tiền tài có được do tích lũy, nên không thích hợp theo sự nghiệp kinh doanh, chỉ được lợi khi đường sự nghiệp có được sự định hướng theo một thể chế ổn định.
Sao Thiên phủ là kho chứa của trời, lại đứng đầu các sao trong chòm Nam Đẩu, gồm đủ chí tuệ và tài năng, thích điều khiển chỉ huy người khác, mà không thích bị người khác quản chế. Có năng lực lãnh đạo, nhưng khá bảo thủ, thiếu sáng tạo thường chỉ biết thuận theo nếp cũ. Có khả năng thích ứng với sự biến đổi của môi trường xung quanh, nhưng có phần thiếu tính độc lập. Chỉ phát triển tuần tự từng bước trong điều kiện ổn định, thường an phận, thiếu xung lực, nên sao này hợp với nữ mệnh hơn.
Đánh giá về tính chất cát hung của sao Thiên phủ, cần phải quan sát trạng thái miếu hãm của sao Thiên tướng, là sao nắm giữ quan ấn, tức là "phùng Phủ khán Tướng", "phùng Tài khán Ấn" (gặp Thiên phủ xem Thiên tướng). Nếu sao Thiên tướng nhập miếu, thì tuy sao Thiên phủ chỉ có độ sáng trung bình cũng là cát lợi. Ngược lại, nếu sao Thiên tướng ở cung bình, cho dù sao Thiên phủ nhập miếu thì cũng không phát huy được khả năng. Qua đó có thể thấy được rằng sao Thiên phủ thiếu tính độc lập.
Sao Thiên phủ có khả năng giải trừ tai ách, có thể biến Kình dương, Đà la thành tùy tùng, có thể biến Hỏa tinh, Linh tinh trở thành phúc. Nếu gặp sao Tử vi, có thể tăng cường khả năng quản lý, khả năng lãnh đạo. Nếu gặp sao Thái dương, Văn xương, Văn khúc hội chiếu, sẽ có địa vị cao. Nếu gặp các sao Tử vi, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa, chủ về phú quý song toàn. Nếu gặp sao Lộc tồn, Vũ khúc, ắt sẽ thành bậc đại phú. Nếu gặp cung Không vong, hoặc bị cung Không vong hội chiếu, dễ trở nên cô độc. Nếu đứng một mình, chủ về có dã tâm rình rập chiếm đoạt. Sao Thiên phủ kỵ bị bốn sát tinh Kình Đà Hỏa Linh xung phá, sẽ tổn hại đến giầu sang. Nếu gặp các sao Địa không, Địa kiếp, thì không nên theo nghề kinh doanh để tránh phí công vô ích. Sao Thiên phủ nằm tại cung Tài bạch và Điền trạch, chủ về tiền của dồi dào, có vận thiên tài (của ngoài luồng), có tài quản lý tiền của. Cung Nô bộc và cung Phụ mẫu là vị trí gặp hãm, vô dụng. Cung Huynh đệ là cung vị bình thường.
Sao Tử vi và sao Thiên phủ cùng trấn mệnh tại Dần, Thân, hoặc nằm tại Tị, Hợi (cung Sinh) hội chiếu cung Mệnh, là cách "Tử Phủ đồng cung", chủ về một đời giầu có.
Sao Tử vi, hoặc sao Thiên phủ miếu vượng, đóng tại cung mệnh, cung vị tam phương tứ chính có cát tinh hội chiếu, là cách "Tử Phủ triều viên", chủ về bổng lộc cực hậu.
Sao Thiên phủ trấn mệnh tại Tuất, Thìn, không bị sát tinh xung phá, là cách "Thiên phủ triều viên", cũng là mệnh giầu sang phú quý.
Sao Thiên phủ (hoặc Thiên tướng) trấn tại cung mệnh, sao Thiên tướng (hoặc Thiên phủ) nằm tại cung Tài bạch hội chiếu, không bị sát tinh xung phá, là cách "Phủ Tướng triều viên", chủ về phú quý song toàn.
Sao Thiên phủ trấn mệnh tại cung Sửu, Mùi, nhập miếu, lại có Thái âm và Thái dương kèm hai bên, là cách "Nhật Nguyệt giáp mệnh" chủ về một đời giầu có.
SAO THIÊN PHỦ TỌA THỦ CUNG MỆNH
Dung mạo và tính cách
Người có sao Thiên phủ ở cung Mệnh, nữ có thân hình đày đặn, nam trức tuổi trung niên có thân hình vừa phải, sau trung niên thì thân hình to béo, bụng phệ. Mặt vuông, hồng hào, răng trắng, thần mắt hoạt bát, tướng mạo thành tú, tinh thần dồi dào.
Tính tình ôn hòa, nhanh nhẹn thanh tú, khí chất tao nhã, lãng mạn đa tình, có năng lực học, học rộng biết nhiều, nhân duyên tiết hạnh.
Bảo thủ cẩn trọng, an phận thủ thường, tính tình lạc quan nhưng tính sáng tạo ít, giữ được tâm trạng bình tĩnh khi gặp nguy hiểm, thích ứng trong mọi hoàn cảnh, coi trọng thực tế, quý trọng tiền tài, coi trọng danh lợi, tự tin, tự phụ khi trẻ, lớn dần thì tính tự phụ sẽ bớt đi, sống hiện thực nhưng thiếu nhẫn nại, thích sỹ diện, thích phóng đại, thích phô trương.
Bên ngoài thì nhu bên trong thì cương, ngôn ngữ thân thiện, thích giúp đỡ người khác, tham vọng về quyền lực, không thích bị người khác quản thúc, thích mắng người khác, cao ngạo có chút ích kỷ. Thích ứng rất tốt với sự thay đổi của môi trường, mức độ yêu thích sự vật tăng tiến dần, thích tiến bộ một cách ổn định, giỏi sử lý các sự việc phức tạp, tuy nhiên thiếu nhiệt huyết nên thiếu nhẫn nại. Thường khi việc chưa đến thì lên kế hoạch chi tiết nhưng khi việc đến thì lại không làm như vậy. Cả đời chìm đắm vào hoan lạc, tửu thực, sau trung niên dễ phát phì, nên đề phòng bệnh tim, cao huyết áp, nên vận động vừa phải.
Mệnh nữ thông minh xinh đẹp, thanh tú, thanh tao. khéo léo, có lý trí, thích ăn diện, có quan điểm thẩm mỹ đặc biệt, thích chăm sóc gia đình thích bố trí nhà cửa, phần lớn không thích thay đổi, không thích biến động, tốt cho chồng, con.
Suy đoán mệnh lý
| Thiên phủ + 2 |
Thiên phủ + 3 Vũ khúc + 3 |
Thiên phủ + 4 |
Thiên phủ + 2 Tử vi + 3 |
| Thiên phủ + 4 Liêm trinh + 1 |
Thiên phủ + |
||
| Thiên phủ + 2 |
Thiên phủ + 4 Liêm trinh + 1 |
||
| Thiên phủ + 4 Tử vi + 3 |
Thiên phủ + 4 |
Thiên phủ + 4 Vũ khúc + 3 |
Thiên phủ + 2 |
Độ sáng của sao Thiên phủ tọa thủ 12 cung
Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Thiên phủ. Mối quan hệ của chúng như sau:
- Miếu = + 4
- Vượng = + 3
- Địa = + 2
- Lợi = + 1
- Bình hòa = 0
- Không đắc địa = - 1
- Hãm địa = - 2
Sao Thiên phủ là tài khố ở trên trời, chủ về Tài bạch và Điền trạch, đứng đầu các sao thuộc chòm Nam Đẩu, như sao Tử vi đứng đầu Bắc Đẩu, đều là sao mang tính thủ lĩnh. Nhưng sao Tử vi lại là vua của tất cả các vua, truyền lệnh cho tất cả các sao, còn sao Thiên phủ giống như quân vương trấn giữ biên cương, chỉ quản lý 7 sao, gồm Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân, tính chất và ý nghĩa của Tử vi và Thiên phủ đều không giống nhau.
Sao Thiên phủ tuy có năng lực lãnh đạo nhưng thường phiến diện, trách nhiệm và áp lực không lớn, cũng thoải mái dễ chịu hơn, có thể thích ứng với mọi hoàn cảnh mà không bị bó buộc, ít sáng tạo lại không độc lập tự chủ như sao Tử vi. Khi Thiên phủ đơn thủ một mình, thì không có tư tưởng và hành vi độc lập như sao Tử vi, ngược lại, vì là chủ của Tài Khố nên nhiều ham muốn.
Sao Thiên phủ sở dĩ không mang tính độc lập như sao Tử vi, là do sao Thiên phủ là chủ của Tài Khố, sao Thiên tướng là quan giữ Ấn, cả hai sao này đều là phò tá của sao Tử vi, trong mệnh bàn thì dựa vào mức độ miếu - hãm của sao Thiên tướng để phán đoán cát - hung của hệ sao Thiên phủ, đây là "Gặp Thiên phủ thì xem Thiên tướng", "Gặp Tài xem Ấn". Nếu sao Thiên tướng là thế miếu, vượng, thì sao Thiên phủ tuy là thế bình nhưng cũng vẫn là cát lợi. Ngược lại, nếu sao Thiên tướng là thế bình, sao Thiên phủ tuy là thế miếu, vượng, thì vẫn thiếu năng lực thực tế.
Tuy Thiên phủ là Tài Khố, thuộc về của cải từ bổng lộc mà không phải của cải do tích lũy, hơn nữa với bản tính bảo thủ cẩn thận, thiếu tinh thần mạo hiểm đột phá, lại hay suy nghĩ nhiều, do đó không thích hợp theo con đường kinh doanh. Sao Thiên phủ cũng chủ vê quan tước, thích hợp với nơi công bộc cửa quan. Là mệnh nữ thì thích ổn định, nếu gặp Tử vi ở tam phương tứ chính là mệnh nữ phú quý.
Sao Thiên phủ và sao Thiên tướng luôn hội chiếu ở tại tam phương, là hai sao ổn định nhất trong Tử Vi Đẩu Số. Sao Thiên phủ có bản tính bảo thủ, yên ổn, cẩn trọng, tự tin, bình tĩnh khi gặp nguy, lại cai quản tài khố, đóng vai trò "thủ", "định" trong mệnh bàn, đặc sắc này làm cho người có sao Thiên phủ tọa ở cung Mệnh phần lớn có hiện tượng sau đây:
1. Cá tính bảo thủ, chuyên tâm, biết khiêm nhường, khả năng thích ứng tốt, cẩn thận trong công việc, làm việc tiến thủ, không lùi bước, không dễ thay đổi công việc, không chủ động xen vào việc riêng của người khác, cũng không chủ động tham gia vào các quan hệ xã giao ngoài công việc.
2. Có thực lực, cả đời nỗ lực làm việc, ít chủ động sáng tạo tương lai, phần lớn do sự thay đổi hoàn cảnh mà phát triển theo, tuần tự phát triển, ổn định thăng tiến.
3. Đối nhân xử thế theo nguyên tắc nhất định, ăn nói cẩn thận, mọi việc đều làm theo tuần tự, cẩn thận. Nếu hoàn cảnh vượt quá phạm vi của mình, thường dùng sách lược "thủ" (thủ thân), do đó cả đời rất ít khi có sóng gió hay họa hoạn lớn, do cẩn trọng nên coi trọng tình cảm, luôn luôn mong muốn duy trì tình thân, tình yêu, tình bạn lâu bền.
4. Biết tích lũy nhưng không tính toán, thường tự nhiên tích trữ được tài khố.
5. thường làm việc trực tiếp hoặc gián tiếp, là những công việc phải trông giữ, hoặc bảo tồn, những công việc có tính quản lý. Sự mở đầu, sáng tạo, phấn đấu và biến hóa mà Sát - Phá - Tham mang lại cho cuộc đời, có thể nhờ nó để chuyển biến vận mệnh, nhưng phải biết tăng lực dốc sức và nghỉ ngơi đúng chế độ để tái hồi, bảo tồn, dưỡng sức là điều bất kỳ ai đều cần.
Sao Thiên phủ vốn có tính ổn định, nó có vai trò "định" (ổn định) tinh thần trong mệnh bàn, không chịu sự chi phối của thế giới bên ngoài, nghỉ ngơi vừa phải, động não thích hợp để có nhiều kế hoạch và tư duy hơn. Sao Thiên tướng luôn ở thế tam phương hội chiếu với Thiên phủ, để hoàn thành sứ mệnh ở vai trò "cân bằng", giúp mức độ ổn định được gia tăng.
Sao Thiên phủ chủ về tài lộc, ruộng vườn, có sự ảnh hưởng tới mức độ tốt xấu của môi trường sống. Khi Thiên phủ nhập đại hạn, tiểu hạn hoặc lưu niên sẽ có cơ hội tăng thêm tài sản hoặc tài phú.
Hai sao Thiên phủ và Thiên tướng đều có cơ hội đồng cung với ba sao Tử vi, Vũ khúc, Liêm trinh, sự "ổn định" và "cân bằng" của Thiên phủ và Thiên tướng có tác dụng cân bằng cảm xúc, làm giảm áp lực của sao Tử vi tôn quý, sao Vũ khúc không ngừng sáng tạo, và sao Liêm trinh bị giam hãm làm cho khuyết điểm của chúng không bị lộ ra.
Sao Thiên phủ có tính chất "thủ" (giữ), "ổn định", "tài khố", làm cho người có sao Thiên phủ tọa mệnh cả đời ổn định, ít sóng gió, tự làm tự ăn, trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể thích ứng với mọi công việc. Chỉ cần không làm cho tính chất "thủ" của sao Thiên phủ biến thành chỉ biết có mình, mà có tinh thần tích cực đoàn kết, san sẽ lẫn nhau, mang đặc tính "tự túc" của bản thân mở rộng ra đại gia đình, mở rộng ra đoàn thể và xã hội, mà vẫn giữ bản tính cẩn thận, nỗ lực hướng tới mục tiêu, thêm nữa khi tránh được tính độc đoán, thì có thể mang lại thành công trong lĩnh vực kinh tế tài chính, giao thông vận chuyển, du lịch.
Sao Thiên phủ thích đồng cung với Lộc tồn, Vũ khúc, chủ về sung túc. Sao Thiên phủ hội hợp với sao Thái dương, Văn xương, Văn khúc chủ về hiển quý. Sao Thiên phủ thích đồng cung với lục Cát tinh để có được cơ hội thành công lớn, đặc biệt thích Tả phụ, Hữu bật giáp mệnh, thì có thể từ từ phát triển từng bước lên cao.
Sao Thiên phủ kỵ gặp Không vong sẽ có hiện tượng cô lập. Sao tài Thiên phủ rất hiếm độc tọa, dễ dẫn đến ham muốn, nếu gặp lục Sát tinh như Kình dương, Đà là, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, thì chủ về không còn tự biết giữ mình nữa, mà chuyển sang tính đầu cơ, từ đó dễ gặp bất lợi. Thiên phủ gặp Địa không và Địa kiếp không nên kinh doanh để tránh tiền tài đến rồi lại đi, cuối cùng chỉ là tay trắng.
Sao Thiên phủ trong thuyết ngũ hành thuộc dương thổ, ở trên trời là chủ tinh của chòm Nam Đẩu, là phủ là kho của tiền tài. Đồng độ với sao Tử vi, nếu được Tả phụ, Hữu bật, Thiên tướng, Vũ khúc, Van xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt hội chiếu, thì gọi là quân thần tương hội, chủ về đại phú đại quý.
Thiên phủ ở Tuất là thượng cách, có cát diệu phụ tinh phù trì là bậc nguyên thủ trong quân đội, lãnh đạo, trưởng quan các bộ môn. Trong thương nghiệp thường chủ về người đứng đầu sáng lập sự nghiệp, người có danh tiếng trong giới thương mại.
Trong phương diện kỹ thuật hoặc nghệ thuật, cũng chủ về người có kiến thức đặc biệt, giỏi phát minh, có sở trường đặc biệt hơn hẳn người ta, một đời lừng danh.
Nhưng cần chú ý, phải có Tả phụ Hữu bật và cát tinh phù trợ; hoặc Thiên khôi, Thiên việt giáp cung mệnh, mới là thượng cách.
Ở Tị và Hợi, thì Tử vi và Thiên phủ đối diện nhau, có cát tinh phù trợ hoặc đồng độ, là đại phú đại quý hay đại thọ, hoặc đột nhiên được quý nhân đề bạt, nhẹ bước trên con đường sự nghiệp
Ở Dần và Thân, không có cát tinh trợ lực, là người sống lý tưởng thanh cao hoặc là bậc thầy của nhiều người, hoặc sống bằng nghề dạy học.
Thiên phủ an mệnh ở Thìn hoặc Tuất, hội chiếu sao Tả phụ không bằng đồng độ, là cách cục đặc biệt, vừa phú vừa quý, nhưng phải gặp được Lộc tồn mới đúng cách. Bởi vì thiên phủ nhập mệnh ở Tuất, thì Tử vị ở Ngọ miếu địa, mà Thái dương cũng sẽ ở trên cung mặt trời mọc ở phương Đông, còn Thái âm sẽ đến cung vị trăng sáng ở cửa trời, nếu có thể được cát tinh phụ diệu đồng độ, mà không bị sát diệu xung phá, đương nhiên không phải mệnh khanh hầu thì cũng là mệnh danh tài tướng soái. Có sát diệu xung phá, cũng chủ về tay cự phách trong giới thương nghiệp, gặp Địa không, Địa kiếp thì chủ về thành tựu từ lý tưởng hư ảo.
Thiên Phủ miếu ở Tý, Sửu, Dần, Thìn, Mùi, Tuất.
Thiên phủ Hãm ở Dậu.
Thiên phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, thuộc dương thổ, chủ về hiền năng, là tiền bạc của kho phủ.
Do là chủ tinh, nên Thiên phủ cũng có năng lực lãnh đạo, nhưng tài lãnh đạo này lại theo khuynh hướng thủ thành, thiếu tính khai sáng. Đây giống như người giữ kho bạc, chức trách là "quản lý tài chính", "bảo vệ tài chính",..., mà không có chức năng "kiếm tiền", cho nên tính lý ở đây đòi hỏi và yêu cầu về sự cẩn thận rất cao, khi làm việc thường có biểu hiện tỉ mỉ, mà không được rộng rãi như Tử vi, cũng không phóng khoáng như Thái dương. Cũng là chủ tinh trong 14 chính tinh, nhưng có sự phân biệt, cần chú ý.
Vì vậy, người Thiên phủ thủ mệnh, chỉ thích hợp phát triển ở phương diện đã có sẵn, thiếu cái nhìn bao quát, cũng không có kiến giải riêng, không có lập trường riêng, thường bộ lộ là một chủ quản xứng đáng với chức trách được giao phó. Do có tính chất "kho phủ", nên người có Thiên phủ thủ mệnh khá "thương tiền", cẩn thận, vững vàng, luôn luôn cố tìm đến sự ổn định. "Kho phủ" không có năng lực "kiếm tiền", chỉ có chức năng chuyên về "giữ tiêng" và "sử dụng" tiền bạc. Do đó Thiên phủ rất ưa thích gặp Lộc, bất kể là tam phương hội chiếu với Lộc tồn hay Hóa Lộc, đều có thể làm tăng cách cục chiếm lợi, trở thành giầu có.
Khi tam phương hội tụ Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, sẽ khai mở cho Thiên phủ có thêm tính lý kiến giải riêng, đồng thời cũng làm tăng khí thế lãnh đạo của người Thiên phủ thủ mệnh.
Khi Tả phụ, Hữu bật giáp cung, hay Long trì Phượng các giáp cung, chủ về người đủ sức đảm nhiệm chức vụ cao, vững vàng giỏi tính toán, cẩn thận lại trung thực có đầu có cuối.
Người có Thiên phủ thủ mệnh không ưa gặp Tứ sát, nếu không gặp Lộc mà chỉ gặp tứ Sát, thì không thích hợp với tính chất "kho tiền", khó tránh giở thủ đoạn gian xảo để kiếm tiền.
Giả dụ Thiên phủ gặp tứ sát, đồng thời còn hội hợp với Xương Khúc, có thể là người giầu có thành nhã, bởi vì Xương Khúc chủ về giỏi văn bút, kiêm giỏi biện luận, tuy hơi xảo quyệt, nhưng cũng không mất đi phong thái văn nhân nho sỹ. Nhưng nếu Văn xương hoặc Văn khúc Hóa Kị, thì đây là tinh hệ Thiên phủ gặp sát tinh, hội hợp với Xương Khúc. cấu tạo càng lớn thì càng giảm sắc. Người này dễ trở thành hàn nho, bụng đầy lời oán trách, tự cho mình có tài mà không gặp thời.
Thông thường, Thiên phủ không nên độc tọa, cô độc thì dễ trở thành người: nhìn thấy đồng tiền thì lòng mưu toan. Nếu độc tọa mà không có sao cát, hội tứ sát, thì biến thành xảo trá, mưu mô quỷ quyệt. Cũng không nên gặp sao Không, chủ về sống cô lập không có cứu viện. Nếu Thiên phủ độc tọa, gặp sao Không và Thiên diêu, chủ về người âm mưu thủ đoạn.
Thiên phủ và Thiên tướng là cặp "sao đôi" quan trọng trong Tử Vi Đẩu Số, cho nên cổ nhân có thuyết "Phùng Phủ tầm Tướng", "Phùng Tướng tầm Phủ"
Do là "sao đôi", cho nên "Phủ Tướng triều viên" có thể thành cách cục, còn cách "Tử Phủ triều viên" là cách rất khiên cưỡng. Tức là do Thiên phủ và Thiên tướng có quan hệ "sao đôi", còn Tử vi và Thiên phủ không phải là quan hệ "sao đôi". Nghiên cứu thêm về "Kiến tinh tầm ngẫu".
Nữ mệnh Thiên phủ, thông thường đều chủ về trung hậu hiền từ, thông minh, khéo léo, đặc tính nổi bật là thích giúp người. Nếu hội sao cát, đặc biệt là Tả Hữu, sẽ có oai nghi của bậc nam tử, cũng có thể phú quý. Gặp các sao tứ sát, hình kiếp, thì chồng con bất toàn, đời sống hôn hân trắc trở.
Nguồn: http://tuvitinhquyet.blogspot.com
Theo tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam Rằm tháng bảy - Tiết Trung Nguyên là tiết của dịp ”Xá tội vong nhân” nơi Âm Phủ. Người xưa cho rằng: Ngày Rằm tháng bảy hàng năm thì mọi tội nhân cõi Âm, trong đó có những vong linh của gia đình, họ tộc mình đang bị giam cầm nơi địa ngục được xá tội và ra khỏi Âm Phủ lên Dương Gian.
Bởi vậy, các gia đình ở Dương Gian làm cỗ bàn, vàng mã cúng gia tiên, cầu siêu độ trì cho họ.
Ngoài cúng gia tiên ngày ”Xá tội vong nhân” mọi nhà còn bầy lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà để cúng cô hồn, ma đói là những vong linh ”không nơi nương tựa”.
Ngày Rằm tháng Bảy theo tục xưa, mọi gia đình đều sắm hai lễ để cúng
- Lễ cúng gia tiên gồm: Hương, hoa, rượu, xôi và mâm cỗ mặn với nhiều món ăn được chế biến cẩn thận, trình bày đẹp, vàng mã, quần áo, hài giấy…
- Lễ cúng chúng sinh gồm các lễ vật: Bánh đa, bỏng, ngô, khoai lang luộc, trứng luộc, kẹo bánh, xôi chè và cháo hoa. Vàng mã, tiền giấy, quần áo chúng sinh…
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư vị Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Tổ tiên nội ngoại và chư vị Hương linh
Tín chủ (chúng) con là:.............................
Ngụ tại:.........................................................
Hôm nay là ngày Rằm tháng Bảy năm ..........., chúng con nhớ đến Tổ tiên ông bà cha mẹ đã sinh thành ra chúng con gây dựng cơ nghiệp, xây đắp nền nhân, khiến nay chúng con được hưởng âm đức.
Chúng con cảm nghĩ ơn đức cù lao khôn báo, cảm công trời biển khó đền nên tín chủ con sửa sang lễ vật, hương hoa, trà quả, kim ngân, vàng bạc, thắp nén tâm hương, thành tâm kính lên các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá Thúc, Đệ Huynh, Cô Dì, Tỷ Muội và tất cả hương hồn trong nội tộc, ngoại tộc của họ............., cúi xin các vị thương xót cháu con, linh thiêng hiện về, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho con cháu mạnh khỏe bình an, lộc tài vượng tiến, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long, hướng về chính giáo.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Thêm vào đó, do theo ngũ hành thì Dần thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ, cho nên cung Dần cũng là vị trí cung Trường sinh trong 12 sao Trường Sinh của cục Ngũ hành. Ba cung còn lại, Thân là Trường Sinh của Thủy, Tỵ là Trường Sinh của Kim, Hợi là Trường Sinh của Mộc, cho nên Tứ Mã chi địa cũng được gọi là Tứ Sinh chi địa.

Ngựa là động vật chạy suốt
Do ngựa là động vật chạy nhảy xuốt ngày, nên Tứ Mã chi địa tượng trưng cho vận mệnh bận rộn, vất vả. Nếu cung Mệnh ở Tứ Mã chi địa, thì vận mệnh cả đời có nhiều biến động, dễ chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh và các nhân tố khác. Cũng tức là chỉ có trong sự biến động không ngừng mới có thể tăng cường được vượng thế, bởi vậy trong bất kỳ chuyện gì cũng cần khéo léo, không cần quá cố chấp bảo thủ. Về công việc, phù hợp với những công việc thoải mái, nhẹ nhàng, cũng có thể làm công việc có lợi nhuận cao.
Ngoài ra, nếu nam có cung Mệnh ở cung Hợi là “yếu địa”, nứ có cung Mệnh ở cung Dần là “sơn đầu”, sẽ có đại phúc đại lợi.
Nguồn Sưu tầm
Trước khi cô dâu về nhà chồng luôn có những thủ tục cơ bản theo đúng phong tục cưới hỏi Việt Nam. Xem những thủ tục trước khi cô dâu về nhà chồng.
Khi nhà trai bắt đầu đến đón dâu thì cô dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ gia tiên, khấu đầu làm lễ, tự khấn lạy xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp, cầm sắt giao hoà.
Cũng có thể nhờ gia trưởng khấn hộ cho có bài bản. Lễ xong, hai người đưa hộp trầu, bao thuốc, đi mời chào thân nhân, khách, bạn khắp một lượt, người nhà sau, những đám cưới có tổ chức thường đã có sự sắp xếp vị trí sẵn. Trong khi chào mời, cô dâu phải giới thiệu cho chú rể biết mối quan hệ để biết cách xưng hô.
Sau cùng, trước khi bước ra cửa để về nhà chồng là lễ tạ cha mẹ: Cha mẹ ngồi sẵn một phía ở cửa chính, nếu ông bà nội ngoại còn thượng tại có đến dự thì ông bà cũng ngồi chung một phía, nhưng ở ghế cao hơn.
Đối với ông bà cũng có những động tác tương tự.
Khí formaldehyde và benzen vốn được sinh ra từ những thứ rất quen thuộc, như khói thuốc hay tấm cách nhiệt. Những khí này khá độc và có khả năng gây ung thư cho người. Khả năng thanh lọc khí của loài cọ cảnh là rất tốt, đặc biệt là với 2 loại khí độc trên. Một điểm nữa, theo phong thuỷ, cây này còn mang ý nghĩa giữ của sinh tài, rất thuận lợi cho gia chủ.
Trông có vẻ nhỏ nhắn nhưng cọ cảnh lại thanh lọc khí formaldehyde và benzen rất tốt
Hay còn là phất dụ thơm, phát tài. Đây là loài thực vật nở hoa, có lá mọc như hình những chiếc nơ. Khí toluen có trong keo dán, nhựa, sơn, nhựa, keo,… thường gây đau đầu, dễ mất thăng bằng và khí CO2 sẽ được cây này hấp thụ rất tốt.
Cây Thiết mộc lan
Chắc hẳn bạn đã không còn xa lạ với loài cây mọng nước này. Chúng không chỉ để trang trí mà còn rất có lợi với sức khoẻ của các thành viên trong nhà, đặc biệt là người già. Vào ban đêm, lượng ion thiên nhiên vô cùng cần thiết với các tế bào trong cơ thể con người sẽ được cây này nhả ra một lượng rất lớn. Bên cạnh đó, loài cây này còn có ý nghĩa phong thuỷ là xua đuổi những điều không may và cả tà ma.
Những chậu xương rồng xinh xắn lại dễ chăm sóc
Nhìn bề ngoài trông cây này có vẻ rất bắt mắt với thân dài, phần cuối của thân có điểm xuyết rất nhiều hoa li ti trắng có hình ngôi sao rất thú vị. Loài cây có nguồn gốc Nam Phi ngoài tác dụng làm cảnh còn là một "chuyên gia" hút độc tố trong không khí rất "cừ khôi".
Bạn có thể đặt cây dây nhện ở mọi không gian, ngay cả phòng tắm
Bạn sẽ có thể bất ngờ khi hoa cúc có tên trong danh sách này! Đừng quá ngạc nhiên khi biết loài hoa quen thuộc này còn có tác dụng lọc sạch không khí trong nhà. Tác dụng tốt nhất của nó đó là loại bỏ chất hoá học benzen - vốn được dùng rất nhiều trong hồ dán, sơn, bột giặt, nhựa...Vị trí lý tưởng để đặt hoa cúc trong nhà đó là gần cửa sổ.
Loài hoa và cũng là cây cảnh có thể hút khí độc hiệu quả mà lại rất dễ tìm
Với màu xanh vô cùng đẹp mắt và có thể thích nghi dễ dàng với mọi môi trường, bên cạnh việc trang trí, giúp phát huy sự sáng tạo trong quá trình làm việc, dương xỉ còn là một loại cây có thể hút được khí aldehyde formic.
Treo dương xỉ trong phòng khách có thể làm sáng bừng không gian
Loài cây này rất phổ biến ở cả Châu Mỹ và châu Phi. Nhờ hình dáng ngộ nghĩnh của mình với phiến lá dẹt, thân mập mạp, nên cũng rất được ưa chuộng khi du nhập vào Việt Nam. Lợi thế của cây này đó là có tuổi thọ cao, thích hợp đặt trong bếp hoặc gần bình gas vì nó có khả năng loại bỏ khí độc rất tốt như Formaldehyde, Xylene, Carbon monoxide,...
Vẻ ngoài của cây mẫu tử khá lạ mắt
Hay còn gọi là nha đam. Cây này có lá màu xanh lục, mọc sát nhau, không có cuống và có răng cưa thôi, mép dày. Các chị em đã rất quen thuộc với loài cây này vì nó có tác dụng làm đẹp cho da và chế biến thức ăn. Tuy nhiên, loài cây này còn có thể lọc sạch khí bẩn trong nhà và các khí Cacbondioxitm, Cacbonic và Aldehyde formic.
Cây lô hội có nhiều công dụng hơn bạn nghĩ
Gần đây giới sành chơi thường sắm cho mình một con Tỳ Hưu để mang trên người hoặc đặt trong nhà. Tỳ Hưu có thể được làm nhẫn đeo tay, mặt dây hoặc để trong người với mong muốn mang lại may mắn và lợi lộc. Hoặc đặt trong nhà để tránh tà khí và sinh lợi. Thế nhưng Tỳ Hưu là gì? Và tác dụng của nó ra sao thì chắc ít người biết được.
Nguồn gốc của Tỳ Hưu
Truyền thuyết về Tỳ Hưu được xuất phát từ chin loại con của Rồng. Rồng sinh ra chín con, là chín loài thần thú nhưng không phải là rồng. Chín loài ấy, có 2 thuyết khác nhau, với thứ tự cũng khác nhau:

Thuyết 1: Tỳ hưu – Nhai xế – Trào phong – Bồ lao – Toan nghê – Bí hí – Bệ ngạn – Phụ hí – Si vẫn.
Thuyết 2: Bí hí – Si vẫn – Bồ lao – Bệ ngạn – Thao thiết – Công phúc – Nhai xế – Toan nghê – Tiêu đồ
Đặc điểm của các loài này được cho là như sau:
1. Tỳ Hưu (Tu Lỳ):
Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu một sừng là giống cực kỳ hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái, ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Loại Tỳ Hưu hai sừng là loài chuyên hút vàng bạc, châu báu trong trời đất nên được cho là con vật giữ tài lộc hay còn gọi là Thiên Lộc. Khi đó Tỳ Hưu có đặc điểm miệng to, ngực to, mông to nhưng không có hậu môn (chỉ để hút vào mà không làm mất đi cái gì). Nếu thỉnh một cặp Tỳ Hưu thì con cái là Tỳ, con đực là Hưu. Tu Lỳ là kiện tác của Tỳ Hưu, với tư thế cuộn tròn, lưỡi cong, răng sắc đón lộc và giữ của. Khi mua Tỳ Hưu rất dễ bị nhầm thành Chó Trời , không hề có tác dụng tốt cho gia chủ. Tỳ Hưu cũng có đặc điểm là thích âm nhạc, có tài thẩm âm. Vì thế nên Tỳ Hưu thường được khắc trên đầu cây đàn hồ cầm, nguyệt cầm, tì bà.
2. Nhai Xế (Nhai tí):
Loài mình rồng, đầu chó sói, cương liệt hung dữ, khát máu hiếu sát, thích chém giết chiến trận. Vì thế Nhai Xế được khắc ở thân vũ khí: ngậm lưỡi phủ, lưỡi gươm đao, trên vỏ gươm, chuôi cầm khí giới để thêm phần sát khí.
3. Trào Phong:
Có thân phượng, có thể hóa thành chim, đặc điểm thích sự nguy hiểm, nhìn ra vọng rộng. Do đó Trào Phong được tạc ngồi trên nóc nhà, đầu mái nhà nhìn về phía xa.
4. Bồ Lao:
Thích tiếng động lớn, âm thanh vang dội, vì thế quai chuông khắc hình Bồ Lao hai đầu quay ra hai bên ôm chặt quả chuông.
5. Toan Nghê:
Hình thù giống sư tử, thích khói lửa, mùi thơm, nuốt khói phun sương. Do đó Toan Nghê được khắc trên các lư hương, đỉnh trầm, ngồi trầm mặc trên đỉnh hay bám hai bên.
6. Bí Hí còn gọi là Quy Phu:
Giống con rùa, thích mang nặng, có thể cõng được tam sơn ngũ nhạc không bao giờ mỏi. Vì thế Bí Hí cõng bia, trụ đá, nhiều người nhầm với rùa.
7. Bệ Ngạn (Bệ hãn) còn gọi là Hiến chương:
Như con hổ, thích nghe phán xử, phân định; vì thế Bệ Ngạn được tạc ở công đường, nhà ngục, trên các tấm biển công đường.
8. Phụ Hí:
Mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời văn hay chữ tốt. Vì thế Phụ hí tạc trên đỉnh hoặc hai bên thân bia đá.
9. Si Vẫn (Li vẫn, Si vĩ):
Miệng trơn họng to, rất thích nuốt các vật lớn, lại có thể phun nước làm mưa. Vì thế Si Vẫn được tạc trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn, khác với Trào Phong là đầu quay vào trong, nuốt lấy xà nhà hoặc bờ nóc.
10. Thao Thiết:
Thích ăn uống, càng nhiều đồ ăn càng tốt. Vì thế được khắc trên các vạc lớn, lại tượng trưng cho việc thu lấy tài lộc giống Tì Hưu.
11. Công Phúc (Bát phúc, Bát hạ):
Thích nước, nên được khắc tạc ở chân cầu, đê đập, cống nước để canh giữ.
12. Tiêu Đồ (Thúc đồ, Phô thủ):
Đầu giống sư tử, thích sự kín đáo yên tĩnh. Vì thế được tạc ngoài cửa, ngụ ý giữ yên cho ngôi nhà. Đầu Phô Thủ ngậm thêm cái vòng để khách đến dùng nó mà gõ.
Tương Truyền về Tỳ Hưu
Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.
Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.
Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.
Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy.Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.
Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.
Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.
Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.
Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.
Truyền thuyết về loài Tỳ Hưu
Liên quan tới con vật linh thiêng Tỳ Hưu có nhiều truyền thuyết đáng để ta phải lưu ý. Nó có thể làm mất một triều đại hoặc làm bại một gia đình.
Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân
Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường. Thời vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người”. Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổ tiếng “Những gì nhà vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có thì vua chưa chắc đã có”.
Đến khi Hòa Thân bị giết quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có. Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua. Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là ngọc phỉ thúy xanh lý mát rượi, trong khi vua chỉ dám tạc bằng bạch ngọc. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn vua.
Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.
Chuyện Tỳ Hưu với nhà Thanh
Trước khi quân đội nhà Thanh nhập quan ải tiến chiếm giang sơn Đại Minh (hồi đó còn là Mãn Châu – tộc Nữ Chân dòng Đại Kim) đã nghiên cứu rất kĩ về văn hóa, phong thủy, biết rằng nhà Đại Minh long mạch đế vương còn thịnh lắm, nếu không phá được phong thủy của Bắc Kinh thì không thể nào chiếm chọn Trung Nguyên được, mà có chiếm được cũng không thể giữ được vì Trung Nguyên rộng lớn, Mãn Châu sẽ nhanh chóng bị nuốt chửng và bị đồng hóa. Trong truyền thuyết, Lưu Bá Ôn đã từng để lại lời dặn cho nhà Minh rằng muốn Đại Minh trường tồn thì phải giữ gìn đặt con Tỳ Hưu trên lầu thành Đức Thắng Môn, mặt ngoảnh về phía Vạn Lý trường thành để trấn áp dân Hung Nô, dân Nữ Chân. Chừng nào mặt Tỳ Hưu còn ngoảnh về phương ấy thì Đại Minh còn.
Mãn Châu biết được truyền thuyết ấy, biết được Sùng Chinh rất tin tưởng vào con Tỳ Hưu này, nên nghĩ ra 1 kế, cho 1 đại sư về phong thủy của mình, lập kế chiếm được lòng tin tưởng của Sùng Chinh, sau đó mới xui Sùng Chinh xoay lại con Tỳ Hưu vào, hướng về nội đô. Vận khí nhà Minh đã hết , Sùng Chinh đã nghe lời xui khiến, và giặc giã nổi lên khắp nơi, đầu tiên là Sấm Vương Lý Tự Thành (cũng là 1 anh hùng áo vải), và sau đó là sự cố Ngô Tam Quế mở ải Sơn Hải Quan, dẫn quân Thanh nhập quan ải. Nhà Minh tuyệt diệt, Sùng Chinh phải tự tay chém Trường Bình công chúa rồi treo cổ tự vẫn.
Tác dụng của Tỳ Hưu
Theo kinh nghiệm hàng ngàn năm của các đại sư phong thủy Trung quốc, Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh ,nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành.
Vật liệu tạo hình con Tỳ Hưu này rất nhiều : Làm bằng gỗ, làm bằng đá, làm bằng ngọc, làm bằng sứ, làm bằng đồng…Về hình dáng Tỳ Hưu hiện đang lưu hành từ trước đến nay, vẫn là loại Tỳ Hưu trên đầu có một cái sừng, có bờm, có một số con có hai cánh, lông đuôi có tua. Tỳ Hưu còn có tên gọi khác là Thiên Lộc.
Nếu có dịp ta đi du lịch đến Bắc Kinh, ta sẽ thấy các cửa hàng lớn đều bày bán Tỳ Hưu với đủ vóc dáng và chủng loại, từ con nhỏ xíu như ngón tay cái, đến con lớn có chiều cao trên 0,3 mét.Con Tỳ Hưu ở xứ sỡ này rất được trân trọng như một bảo vật, và được Bộ VHTT TQ cấp phép lưu hành. Về tác dụng của Tỳ Hưu trong phong thủy thì có nhiều tác dụng :
- Về màu sắc : Tỳ Hưu màu đen thì có tác dụng chiêu tài, phát lộc. Tỳ Hưu màu trắng thì có tác dụng bảo trợ sức khỏe. Tỳ Hưu màu xanh thì có tác dụng may mắn trong công danh.
- Ngoài các tác dụng cá biệt như trên, Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, ta đặt Tỳ Hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như : Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sanh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của ta.
- Tỳ Hưu còn có tác dụng mang lại điều tốt lành : Như nhiều tài lộc, nhất là ở các sòng bạc tại TQ ta đều thấy họ chưng Tỳ Hưu, nhưng được bảo vệ rất kỹ, vì sợ mất trộm, sẽ gây ra nhiều điều xúi quẩy cho họ. Tỳ hưu ngoài việc có tác dụng chiêu tài lộc không liêm chính như trên, Tỳ Hưu cũng còn có tác dụng chiêu tài lộc liêm chính, nên những người kinh doanh cũng đặt Tỳ Hưu ở nhà và ở công ty…
Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương. Tất nhiên khi đặt bất cứ vật phẩm phong thủy nào, điều cần phải nhớ là: Xem ngày giờ tốt để đặt.
-Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy, khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ : Mang đến những điều bất lợi cho những thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.
Nếu ở phương vị Ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai con Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giải sát khí của Ngũ hoàng đại sát.
Thiết kế kiến trúc hiện đại phần lớn tập trung nhà vệ sinh và phòng tắm vào làm một gian, bởi vậy xin được đem 2 vế hợp nhất để đàm luận về phong thuỷ.
Theo lý luận phong thuỷ truyền thống, đối với cát hung nghi kị của nhà vệ sinh, ngoài chỉ ra phương pháp tránh hung, thì những điều khác rất ít được nhắc đến, bởi vậy mà sinh ra rất nhiều cách nói. Rốt cuộc nhà vệ sinh nhà tắm có những điểm nào cần được chú ý?

– Nhà vệ sinh không nên nằm ở hướng Tây Nam, Đông Bắc hoặc Nam.
– Không nên đặt ở trung tâm căn nhà.
– Không nên sửa thành phòng ngủ.
– Không nên đặt ở hướng hung, nên đặt ở hướng cát.
– Địa điểm nhà vệ sinh nên ở chỗ khuất.
– Nên duy trì sạch sẽ vệ sinh.
– Nên duy trì không khí lưu thông.
Hướng nhà không nên cùng hướng bồn cầu
Ví dụ cửa chính căn nhà hướng Nam, thế thì hướng của bồn cầu không được hướng Nam, không thì dễ sinh bệnh cho chủ nhà. Trước mắt chưa có cuộc điều tra rõ ràng về vấn đề này, nhưng tránh được thì nên tránh.

Nhà vệ sinh không nên nằm ở cuối hành lang
Nếu như nhà bạn có hành lang tương đối dài, cần chú ý sao cho nhà vệ sinh nằm ở bên cạnh hành lang chứ không được để ở cuối hành lang, nếu không phạm phải tướng đại hung, có hại cho sức khoẻ con người.
Nhà vệ sinh phải có cửa sổ, tốt nhất là đủ ánh sáng, không khí lưu thông.
Nguyên nhân rất đơn giản, nhà vệ sinh là nơi thường xuyên ẩm thấp dễ gây nên ẩm mốc, đồng thời cũng là nơi chúng ta thường dùng để tẩy rửa tạp chất và xú uế. Do vậy nhà vệ sinh nhất thiết phải có cửa sổ hoặc cửa thông gió, đủ ánh sáng và không khí lưu không để cho mùi hôi bay đi, duy trì không khí trong sạch.

Nhà vệ sinh của biệt thự:
Thường thì khi thiết kế người ta thường nhớ đến sự phối hợp giữa các gian phòng trong cùng một tầng mà lại quên mất mối quan hệ giữa các tầng. Nếu như nhà vệ sinh nằm trên phòng ngủ thì trạch tướng vô cùng nguy hại, sức khoẻ người ở sẽ giảm sút.
Theo nguyên lí “gia tướng học” Hồng Kông cổ truyền, thì nền nhà vệ sinh không được cao hơn phòng ngủ. Ngũ hành gia cho rằng, nước chảy xuống dưới, làm ẩm kết cấu bên dưới, về lâu dài phòng ngủ bị ẩm thấp, dễ phát sinh các bệnh hệ thống nội tiết. Nếu như nhất quyết phải đặt trên lầu, thì bạn nên thiết kế kéo rộng khoảng cách với phòng ngủ.
Trong hôn nhân, có người chồng có lợi cho vợ, có người vợ lại lợi cho chồng, ngược lại cũng có người chồng khắc vợ và vợ khắc chồng. Cho nên sách "Tam mệnh thông hội" khi bàn về mệnh nam nữ có nói: "mệnh nam nên vượng, vượng thì phúc, suy thì tai hại. Mệnh nữ nên suy, suy thì phúc, vượng thì tai hại". Nhu là gốc là phúc, cương là hình phạt, là tai hại. Ðiều đó phù hợp với sự cương nhu của âm dương. Nếu nữ cương và vượng, nam nhu, suy đó gọi là âm dương sai lệch, ngược với quy luật âm dương, đương nhiên là có hại.
Ðối với mệnh nữ cổ xưa có bàn riêng. Mệnh nữ theo chồng, chồng quý thì vợ cũng quý, chồng nghèo thì vợ cũng nghèo. Tức là nói: chồng phát tài thì vợ con tất giàu, chồng thăng quan tiến chức thì vợ con vinh hiển, chồng rủi ro thì vợ con cũng khó sống qua ngày. Ðiều này rất phù hợp trong thực tiễn. Cho nên khi xem mệnh nữ trước hết phải xem sao chồng ra sao để xác định là sang trọng hay hèn kém. Chồng là quý mệnh thì vợ cũng là quý mệnh, nếu không thì làm sao lấy được chồng cao sang.
Chương này không những sẽ bàn về hôn nhân mà còn bàn về phương pháp xác đinh mệnh nam nữ phối hôn được tốt nhất cung cấp cho mọi người tham khảo.
Kiếp tài đóng ở ngày, chủ về vợ nội trợ tốt, hoặc nhờ vợ mà phát tài.
Tài tinh đóng ở ngày lại là tướng tinh thì nhất định vợ là con nhà phú quý.
Chính ấn, thiên ấn đóng ở ngày là vợ hiền và thông minh.
Ấn địa đóng ở ngày là vợ béo, còn mình gầy nhỏ.
Quý nhân đóng ở ngày là vợ hiền lành, đẹp, có danh tiếng.
Chính tài, thiên tài đóng ở ngày lại không bị khắc phá là nhờ vợ mà được của.
Can ngày vượng, chính tài, thiên tài cũng vượng là người giàu và nhiều vợ.
Chi ngày là tí ngọ mão dậu thì vợ đẹp, là dần thân tị hợi thì vợ đôn hậu, là thìn tuất sửu mùi thì vợ bình thường.
Ngày gặp lộc thần, giờ gặp quy thần thì vợ được quốc phong.
Mệnh nam lấy vượng làm phúc, suy là hại.
Quý nhân và lộc đều có ở trụ giờ là người rể vinh hiển, làm rạng rỡ tổ tông.
Thiên tài đều vượng mà được ngôi là vợ lẽ át vợ cả ; chính tài vượng là vợ cả không dung thứ vợ lẽ.
Tài mệnh có khí là vợ cả, vợ lẽ hoà thuận nhau và được nhờ vợ.
Mã nhập cung thê là được người vợ đảm đang.
Lộc nhập cung thê là được ăn lộc của vợ.
Ngày giờ đều có lộc mã là vợ hiền, con quý.
Vận nam hợp với tài là vợ sớm.
Ðại vận, lưu niên tam hợp tài là có tin mừng về cưới hỏi.
Nam gặp tài nhiều và thân nhược là chồng hay nghe lời vợ.
Hàm trì lâm nhật là nhờ vợ mà giàu.
Trong chi tàng phục tài là thiên vị vợ lẽ.
Sao vợ rõ là vợ chồng hỗ trợ nhau.
Tài tinh được ngôi là nhờ vợ mà giàu.
Tài vượng thân cường là phú quý mà nhiều vợ.
Trong Tứ trụ tài làm dụng thần thì vợ hiền đẹp, nội trợ giỏi.
Trụ ngày có mã tinh mà không bị xung phá là lấy được vợ đẹp.
Trong Tứ trụ có thiên tài là yêu vợ lẽ hơn vợ cả.
Thê tài gặp vượng, trên trụ năm lại gặp quý nhân lộc mã là vợ lấy được chồng chức cao.
Trong Tứ trụ có quý nhân lộc mã là vợ hiền nội trợ tốt.
Tài rõ thân vượng là vợ đẹp.
Nam gặp tài nhiều, thân yếu, là rời quê hương lấy vợ đẹp.
Thực thần nếu gặp ấn thì tiền tài ngày càng nhiều.
Thương quan bị chế khắc thì vợ là người có nghĩa khí.
Thương quan trùm lên ấn thì trước là tì thiếp sau thành vợ.
Tỉ kiếp vượng lại có thực thương sinh tài thì gặp vợ hiền.
Tài tinh đóng ở trường sinh không bị xung khắc là vợ thọ.
Trụ ngày đóng ở chính quan thì vợ đoan trang, hiền dịu.
2. MỆNH NỮChính quan hoặc thất sát là chồng, chi ngày là sao chồng.
Xem mệnh nữ trước hết phải xem sao chồng để xác định chồng sang hay nghèo hèn, chồng sang vợ mới sang.
Sao chồng đóng ở ngày làm dụng thần, chủ về chồng đại quý, vợ chồng hòa thuận.
Trụ ngày có quý nhân trạch mã thì lấy được chồng thông minh, hiền đẹp.
Tài đắc địa thì lợi chồng, thực thần đắc địa thì lợi cho con. Lợi cho chồng thì suốt đời được hưởng phúc, lợi cho con thì về sau mới hạnh phúc.
Sao chồng minh vượng, sao con trường sinh thì có ích cho chồng con.
Mệnh nữ có một quan hay một sát rõ là tốt. Có cả quan và sát là kém. Mệnh nữ không có sát, có một quý là vợ lấn át chồng.
Quan gặp tài là chồng thì vinh hoa nhưng khắc con.
Mệnh nữ không có sát nhưng lại có thiên đức, nguyệt đức và tài quan đắc địa thì được cả hai nước phong sắc.
Quan cùng với đào hoa nhất định là có chồng tốt làm trong triều đình.
Mệnh nữ lấy nhu làm phúc, lấy cương làm hại, lấy trong làm kỳ diệu, lấy đục làm thấp hèn.
Tài nhập tài thì chồng sang nhưng khắc con.
Thương quan không gặp quan là người phụ nữ trinh tiết.
Quan rõ là chồng vinh hoa, vàng bạc đầy nhà.
Tài mệnh có khí thì sống mão với chồng đến già.
Sự phú quý hay bần tiện của mệnh nữ toàn dựa vào chồng con.
Mệnh nữ nếu gặp phu tinh vượng thịnh thì con tuấn tú, thông minh, chồng vinh hiển.
Mệnh nữ phạm thương thì sẽ khắc sự hôn nhân, vận nhập tài thì tốt.
Chuyên lộc thực thần tất sẽ được vua phong hiệu.
Ngôi chồng bị tạp khí thì rất cần người vợ tốt.
Thương quan đoạt phu tinh, hoặc hoá sát thì có lợi cho chồng về mặt của cải.
Nếu cô loan nhập phu tinh thì tất nhiều con cái.
Can chi dương mà vượng là người thay chồng trong kinh doanh.
Tài vượng sinh quan, thực thần lại không bị thương là chồng vinh hiển, con phú quý.
Quan, thực, lộc vượng lại được ấn thụ trợ giúp là hậu vận mở rộng.
Nếu ấn thụ không bị tài làm tổn thương, còn gặp thiên đức, nguyệt đức trên trụ ngày thì người phụ nữ đó được hưởng của cải của cha mẹ, chủ động tìm được chồng, sinh con hiền quý, phúc đức ngày càng tăng, người đôn hậu, gặp điều xấu cũng dễ vượt qua, hay được khen thưởng.
Người thiên quan có sự kiềm chế là không dâm loạn, tuy lấn quyền chồng nhưng là để xây dựng gia đình thịnh vượng.
Mệnh nữ sinh vào tý, ngọ, mão, dậu thì lấy chồng tý, ngọ, mão dậu là tốt.
Năm là bố chồng, thai là mẹ chồng, tháng là chị em dâu, ngày là chồng và mình, giờ là con cái.
Gặp vong kiếp và kình dương, hay thiên ấn gặp lộc mã thì sắc đẹp hơn người .
Người lục hợp là chủ về tính hiền đức. Dung mạo đẹp đẽ.
Nữ có quý nhân trạch mã, phần nhiều sinh con hiền, hiếu thảo, thai sản dễ dàng.
Người tài vượng sinh quan cách rất hiếm gặp : người gặp cả tài và quan là vô cùng kì diệu, người đó chồng vinh hiển, còn quý nhờ tài vượng, trinh khiết hiền lương ngũ phúc đều có cả.
Người trong Tứ trụ có tài lại còn hành tài vận là chủ về nhà chồng giàu, con phú quý.
Người có quan vượng lại tại cũng vượng là lấy được chồng hiền chồng tót. Người thất sát gặp trường sinh là lấy chồng phú quý.
Người có đủ tài quan ấn thụ là lấy chồng thịnh vượng.
Thực thần thái quá lại không gặp phu tinh là người vợ trinh khiết.
Thiên đức, nguyệt đức gặp ấn là người làm vợ cho quan chức cao sang, được hai nước phong tặng.
Quan sát không hỗn tạp lẫn nhau, lại còn có ấn phù là chồng sẽ đăng khóa.
Ấn vượng quan yếu là chồng tự tìm đến mình.
Thương quan bị thương tổn nặng, hoặc không có quan nhưng có tài là đi làm vợ lec.
Sát gặp mộ là lấy được chồng sang trọng.
Sát mạnh quan yếu là sẽ li hôn, tái giá lấy được chồng tốt.
Tài tinh có khí lại gặp quan là lợi chồng tột bậc.
Quan mạnh thương yếu là giúp chồng xây dưng cơ đồ.
Quan, sát vượng làm dụng thần là chủ về chồng phú quý.
Quan, sát yếu, có tài sinh quan là giúp đỡ chồng được nhiều.
Quan, sat đóng ở trường sinh, không bị xung khắc là chồng trường thọ.
Người cô loan nhật phạm, chưa có con, khi gặp được quan tinh thì sẽ sinh được đứa con kỳ diệu.
Người bính hoả bị chế ngự thì nhan sắc đẹp như ngọ: giáp bị kim khắc thì đẹp như hoa.
Nhật đóng ở đào hoa là vợ chồng đều đẹp, phong lưu, tài nghệ.
Thương quan bị thương tổn nặng, có hợp là lấy vợ, lấy chồng không cần cưới.
Thất sát bị chế ngự lại được tam tài là cao sang tột bực.
Thực thần đơn độc là cuộc sống yêu hòa, có con, thọ.
Trụ ngày tương sinh cho nhau là vợ chồng đằm thắm, can sinh chi là chồng yêu vợ, chi sinh can là vợ yêu chông.
Ðông kim đóng ở cục là vợ chồng đều có ý chí, tiếng thơm bay xa.
Hợp quý tài là nhà đầy châu báu. Tỉ trước tài là nghèo trước giàu sau.
Thiên đức, nguyệt đức không bị những cái khắc làm nhiễu loạn thì người đó áo gấm mũ vàng.
Vợ chồng trụ năm tương sinh hoặc thiên hợp địa hợp thì bách niên giai lão.
Thực thần sinh vượng muốn có con phải cầu tự.
Nạp âm trên khắc dưới là có phúc, dưới khắc trên thì không nên.
Nhật đóng ở trường sinh thì lấy được vợ đẹp.
Nhật nguyên bính tí là nam lấy vợ đẹp, nữ gặp chồng đẹp .
Nam nhật nguyên mậu ngọ là được các cô thích, nữ nhật nguyên mậu ngọ là được các bạn trai ưa.
Nhật đóng ở tài kho là giàu.
Bảy ngôi trong Tứ trụ đều được tương sinh là vợ chồng bách niên giai lão.
Tài vượng sinh quan là vợ chồng quấn quít với nhau, chồng xướng vợ tuỳ.
Ví dụ 1. Khôn tạ
Giáp tuất Kỉ tị Canh tí Ðinh hợi
Ví dụ này tài, quan, ấn đều có, người đó là cán bộ nghiên cứu, chồng là cán bộ cao cấp. Ứng với câu : Tài quan ấn thụ, tất vượng phu.
Ví dụ 2. Càn tạo :
Tân mão Kỉ hợi Tân mùi Kỉ sửu
Người này nguyên nhà rất nghèo, về sau điều lên công tác ở phía nam nên giàu và thăng chức. Như thế là vì : " Nhật đóng ở tài kho, người đó sẽ giàu".
Ví dụ 3. Càn tạo:
Ðinh sửu Nhâm tíNhâm ngọ Canh tí
Người này từ bé đã nghèo xơ xác, tuy công tác lâu năm nhưng vì lương thấp, con đông nên vẫn nghèo. Sau khi cải cách mở cửa được mười năm thì trở nên giàu, nhà cửa đầy đủ mọi thứ, giàu nhất vùng. Ðó là vì " nhật đóng ở tài tinh, giau lên nhờ vợ".
Ví dụ 4. Khôn tạo :
Bính tuất Tân sửu Ðinh mùi Mão dần
Tứ trụ này chồng là cán bộ cao cấp, bản thân thì vốn không phải con nhà nhàn hạ. Như thế là vì trong Tứ trụ có "nhất sát thanh thấu", "sát gặp mộ địa, tất lấy chồng phú quý".
Ví dụ 5. Càn tạo:
Tân tị Bính thân Quý mão Giáp dần
Tứ trụ này nhật đóng quý nhân, nên " vợ hiền lại đẹp, có uy vọng".
Ví dụ 6. Càn tạo:
Ðinh sửu Tân hợi Nhâm tuất Ất tị
Tháng 4 năm 1991, khi tôi giảng bài ở Singapore, một thương gia Inđônêxia giàu có nhờ đoán. Ðoán việc nào đúng việc đó. Khi nói về hôn nhân, căn cứ theo " thương quan trùm ấn là người có vợ ban đầu là người giúp việc sau thành vợ", tôi nói : Ông có hai vợ. Người vợ thứ hai, khi đầu là người giúp việc, hơn nữa vợ hai vừa trẻ vừa đẹp. Ông ta gật đầu lia lịa và nói : "Không sai chút nào".
![]() |
![]() |
Hướng kê giường Tuổi Canh Tuất 1970
Năm sinh dương lịch: 1970
– Năm sinh âm lịch: Canh Tuất
– Quẻ mệnh: Chấn Mộc
– Ngũ hành: Thoa Xuyến Kim (Vàng trang sức)
– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạchh
– Hướng tốt: Bắc (Thiên Y); Đông (Phục Vị); Đông Nam (Diên Niên); Nam (Sinh Khí);
– Hướng xấu: Tây Bắc (Ngũ Quỷ); Đông Bắc (Lục Sát); Tây Nam (Hoạ Hại); Tây (Tuyệt Mệnh);

Phòng ngủ:
Con người luôn giành 30% cuộc đời mình cho việc ngủ, nên phòng ngủ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.
Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ mang mệnh Kim, Thổ sinh Kim, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Thổ, là hướng Đông Bắc; Tây Nam;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Vàng, Nâu, đây là màu đại diện cho hành Thổ, rất tốt cho người hành Kim.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
![]() |
Bát tự mang đào hoa - cả đời hấp dẫn người khác phái| ► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
Ngoài việc xem xét về giá cả, vị trí, diện tích, điều kiện đường xá, tiện nghi trong và ngoài, một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua, đó là phong thủy của ngôi nhà đó tốt hay xấu.
1. Lịch sử của ngôi nhà
Chọn mua một ngôi nhà mới là lựa chọn tốt nhất. Nếu mua lại, người bán nhà vừa mới được thăng chức, trúng xổ số, và chuyển đến một ngôi nhà mới khang trang hơn là rất may mắn, tốt về phong thủy và tạo ra những năng lượng tích cực.
Nhà được bán từ một người mới ly hôn, bị tịch thu nhà, hay mắc một loại bệnh nguy hiểm thực sự không tốt. Mua một ngôi nhà như thế, có nghĩa là bạn đã mua những rắc rối vào mình. Có thể, những yếu tố về địa hình hay thế đất đã tạo nên khó khăn cho gia chủ.
2. Thế đất và hình dáng của khu đất
Ngôi nhà nằm bên cạnh một ngọn đồi là không tốt trong phong thủy, nhưng nếu ngọn đồi, hay tòa nhà cao tầng ở đằng sau ngôi nhà thì lại rất tốt.
Hình dáng đẹp nhất của khu đất là hình vuông, hình chữ nhật. Đằng sau rộng hơn và cao hơn đằng trước là điều tốt lành. Ngược lại, đằng sau hẹp hơn, thấp hơn, sẽ tạo ra sự mất mát, khó khăn.
3. Sự bố trí từ phòng ngủ cho tới phòng tắm
Nhìn vào sự bố trí từ phòng ngủ cho tới phòng tắm, chúng ta có thể đánh giá sự tốt, xấu của phong thủy ngôi nhà. Phòng ngủ bên trên gara, bếp, phòng giặt khô, hay không gian trống phía dưới; phòng tắm bên trên phòng ăn hoặc bếp; phòng ngủ chung tường với toa lét là những điều không tốt. Điều này có thể gây ra ốm đau, bệnh tật cho những người sống trong đó.
4. Phía đối diện ngôi nhà
Ngôi nhà đối diện với mảnh đất mở về phía trước rất tốt, có ý nghĩa mở ra một tương lai tươi sáng. Chúng ta có thể lấy ví dụ như Nhà Trắng ở Washington với bãi cỏ rộng ở mặt trước, hay tòa nhà Biltmore ở Asheville, Cazolina. Ngược lại, nếu căn nhà bị choáng ngợp bởi cây cối cũng không tốt. Nếu có cây lớn trước nhà, hay cây bụi sát nhà, trong phong thủy, nghĩa là, chặn mọi cơ hội tốt đẹp đến với gia chủ. Bạn có thể di dời những cây này tới trồng ở vị trí khác.
5. Bên trái, bên phải nhà
Hãy để ý xem có ngôi nhà nào bên cạnh mái nhọn, có một góc nhọn chĩa về nhà bạn không, nếu có thì không nên mua. Nếu ngôi nhà, hoặc mảnh đất bên trái cao hơn thì rất tốt, vì nó đang khai thác năng lượng của con Rồng (Thanh Long Bạch Hổ). Còn may mắn hơn nữa, nếu nhà bên trái nhìn ra hướng Đông.
6. Hướng tiếp cận và các ngõ cụt
Nếu đường đi đâm thẳng vào nhà, hay đường lái xe thẳng, dài, đâm thẳng vào nhà là điều rất tối kị, nhưng bạn vẫn có thể hóa giải bằng cách trồng cây hoặc treo gương. Tuy nhiên, nếu nhà có hai con đường song song, một phía trước, và một phía sau thì không thể hóa giải được (hai đường thẳng song song tán khí).
7. Hướng Tây Nam và hướng Tây Bắc
Đây là hai hướng quan trọng của ngôi nhà. Tây Nam là hướng của Trời, Tây Bắc là hướng của Mẹ. Hướng Tây Bắc không bao giờ được phép có ngọn lửa (bếp ga, lò sưởi) bởi dương khí ở những hướng này rất mạnh. Nếu có, hãy chuyển vị trí của chúng bởi điều này cũng rất tối kị, gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho người cư ngụ trong nhà.
Tây Nam là hướng của người phụ nữ, người mẹ trong gia đình. Nếu ở hướng này có một cái kho, hay một phòng tắm, chủ nhà sẽ gặp khó khăn trong hôn nhân, hoặc bất hạnh.
Valentine có bao nhiêu ngày là thắc mắc chung của khá nhiều người. Ở Việt Nam, ngày valentine đỏ 14/2 là ngày phổ biến và được biết đến rộng rãi hơn cả. Tuy nhiên trên thế giới người ta còn có ngày valentine trắng, valentine đen. Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu điều này rõ hơn trong bài chia sẻ sau đây.

Valentine đỏ 14/2 hỏi có lẽ mọi người đều biết bởi đây là ngày tình nhân truyền thống, ngày mà mọi đôi yêu nhau trên thế giới đều mong chờ. Đây là dịp để những người yêu nhau bày tỏ tình cảm của mình với nửa còn lại, họ thường tặng nhau chocolate, hoa hồng đỏ bên cạnh đó là những tấm thiệp, những món quà chan chứa tình yêu thương.
Bên cạnh ngày valentine đỏ còn có ngày valentine trắng, tuy nhiên không có quá nhiều người biết được ý nghĩa của ngày này. Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì? ngày valentine trắng là ngày nào?
Valentine trắng rơi vào ngày 14/3, sau tròn 1 tháng kể từ ngày valentine đỏ. Valentine trắng còn biết đến với cái tên phổ biến hơn đó là White valentine.
Ý nghĩa ngày valentine trắng là gì? Trong tình yêu, dường như nó luôn mới mẻ theo từng ngày, người ta dường như yêu nhau hơn sau khi trải qua một thời gian dài gắn bó bên nhau vì vậy dường như một ngày valentine có lẽ là không đủ.
Bởi vậy, tại đất nước mặt trời mọc, một ngày valentine trắng đã được ra đời và nhanh chóng được nhiều người đón nhận.
Ngày này có ý nghĩa là ngày các bạn nam đáp lại tình cảm, tình yêu của các bạn nữ, người đã trao quà, trao tình yêu cho mình trước đó 1 tháng. Valentine trắng cũng như valentine đỏ, những món quà có thể là chocolate trắng hoặc đen, trang sức hoặc cũng có thể là một vài món đồ chip màu trắng... hay chỉ đơn giản là một bông hồng, đơn giản là 2 người yêu nhau có thể ở bên nhau, như vậy là đã đủ rồi.
Xem thêm: Ý nghĩa của hiện tượng nháy mắt trái, giật mắt phải
Một vài điều về ngày valentine mà không phải ai cũng biết:
+ Ngoài ngày valentine trắng, đỏ, còn có ngày valentine đen rơi vào ngày 14/4. Màu đen thường tạo cho người ta cảm giác không tốt, tuy nhiên lại không phải như bạn nghĩ đâu nhé. Valentine đen khá nổi tiếng ở Hàn Quốc, vào ngày này các bạn trẻ những người chưa tìm được một nửa của mình hay những người tôn thờ chủ nghĩa độc thân thường tôt chức một bữa tiệc thật sôi nổi. Họ tự thưởng những món quà cho chính bản thân mình, họ tự khiến cho cuộc sống độc thân của mình thật vui vẻ.
+ Hoa hồng đỏ là loài hoa yêu thích của nữ thần tình yêu, đó là lý do tại sao vào ngày valentine người ta thường tặng nhau một bó hoa hồng đỏ thắm với tất cả tình cảm.
+ Cứ vào dịp valentine, thành phố verona tại ý, nơi mà Romeo và Juliet sinh sống, nơi đây sẽ nhận được hơn 1000 bức thư gửi tới Juliet
Trên đây là ý nghĩa về các ngày valentine mà Phong thủy số đã tổng hợp được. Hãy tham khảo để bổ sung thêm kiến thức về các thông tin xung quanh trong cuộc sống của mình nhé.
Khi bạn tò mò không biết mình sinh trong khoảng thời gian mấy giờ, bạn hỏi ông bà, tuy nhiên ông bà nói bạn sinh giờ sửu. Thực sự thì bạn không biết giờ sửu là mấy giờ, chính xác là giờ nào. Để trả lời câu hỏi, thắc mắc của đại đa số người trẻ này. Cùng Phong thủy số tìm hiểu nhé.

Xem thêm những bài viết hữu ích khác:
+ Giờ Thân là mấy giờ?
+ Giờ Thìn là mấy giờ?
Giờ sửu là mấy giờ? Hãy cùng tìm hiểu về cách tính giờ theo 12 con giáp của các cụ ta ngày xưa sau đây:
Được biết, niên lịch cổ truyền Á Đông đã xuất hiện từ đời Hoàng Đế bên Tàu, khoảng 2637 năm trước Thiên Chúa năm 61.
Bảng giờ trong 1 ngày dựa vào 12 con giáp của các cụ xưa tính như sau:
| Giờ |
Thời Gian |
Giờ |
Thời Gian |
| Tý (chuột) |
Tính từ 23 giờ đến 1 giờ sáng |
Ngọ (ngựa) |
Tính từ 11 giờ đến 13 giờ trưa |
| Sửu (trâu) |
Tính từ 1 giờ đến 3 giờ sáng |
Mùi (Dê) |
Tính từ 13 giờ đến15 giờ xế trưa |
| Dần (hổ) |
Tính từ 3 giờ đến 5 giờ sáng |
Thân (khỉ) |
Tính từ 15 giờ đến 17 giờ chiều |
| Mão – Mẹo (mèo) |
Tính từ 5 giờ đến 7 giờ sáng |
Dậu (gà) |
Tính từ 17 giờ đến 19 giờ tối |
| Thìn (rồng) |
Tính từ 7 giờ đến 9 giờ sáng |
Tuất (chó) |
Tính từ 19 giờ đến 21 giờ tối |
| Tỵ (rắn) |
Tính từ 9 giờ đến 11 giờ sáng |
Hợi (heo, lợn) |
Tính từ 21 giờ đến 23 giờ khuya |
Nhìn bảng trên, chúng ta sẽ nhanh chóng có được câu trả lời cho câu hỏi “giờ sửu là mấy giờ”. Giờ sửu nằm trong khoảng thời gian từ 1 giờ sáng đến 3 giờ sáng.
Ngoài tính giờ, các cụ ngày xưa còn chia thành các canh, chắc hẳn các bạn đều biết câu nói của Bác Hồ
“Một canh… hai canh… lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn canh năm vừa chọp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”
| Tên Canh |
Thời Gian |
| Canh 1 |
Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất (chó) |
| Canh 2 |
Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi (heo, lợn) |
| Canh 3 |
Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý (chuột) |
| Canh 4 |
Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu (trâu) |
| Canh 5 |
Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần (hổ) |
Bên trên là một vài hướng dẫn về cách xem giờ, xem canh theo 12 con giáp mà các cụ ta từ xưa đến nay vẫn áp dụng. Hãy tìm hiểu và bổ sung thêm kiến thức của mình về cách tính lịch để biết được giờ sửu là mấy giờ, giờ tý là mấy giờ nhé.
![]() |
![]() |
| => Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn |
– Sự tương phối giữa bản mệnh nam nữ với 5 yếu tố ngũ hành, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sẽ tạo ra mối nhân duyên hữu hảo, vợ chồng đại cát đại lợi, hôn nhân gắn kết bền lâu.
![]() |
![]() |
![]() |
6 lỗi phong thủy ngầm phá hoại hôn nhân