Tướng người đàn bà tốt –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Cầm lên được thì phải bỏ xuống được, có những điều không buông bỏ nếu cứ giữ trong lòng sẽ chỉ khiến bạn thêm phiền muộn, đau khổ, buông bỏ được là cho mình cơ hội đón nhận hạnh phúc.
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Hướng kê giường Tuổi Kỷ Mùi 1979
Quẻ mệnh: Chấn Mộc:
– Năm sinh dương lịch: 1979
– Năm sinh âm lịch: Kỷ Mùi
– Quẻ mệnh: Chấn Mộc
– Ngũ hành: Thiên Thượng Hỏa (Lửa trên trời)
– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Bắc (Thiên Y); Đông (Phục Vị); Đông Nam (Diên Niên); Nam (Sinh Khí);
– Hướng xấu: Tây Bắc (Ngũ Quỷ); Đông Bắc (Lục Sát); Tây Nam (Hoạ Hại); Tây (Tuyệt Mệnh);

Phòng ngủ:
Con người luôn giành 30% cuộc đời mình cho việc ngủ, nên phòng ngủ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.
Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ mang mệnh Hỏa, Mộc sinh Hỏa, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Mộc, là hướng Đông; Đông Nam;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Xanh lá, đây là màu đại diện cho hành Mộc, rất tốt cho người hành Hỏa.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
Tiết Thanh Minh không chỉ là thời gian để chúng ta tưởng nhớ lại tổ tiên, mà còn là thời gian để điều chỉnh lại phong thủy, bởi vì phong thủy chia làm hai loại: phong thủy âm và phong thủy dương. Nếu như một người cảm thấy mọi chuyện đều không thuận lợi, thường xuyên gặp trắc trở, tiết Thanh Minh đi tảo mộ, cúng bái Tổ tiên sẽ có tác dụng điều chỉnh lại phong thủy, thay đổi vận thế sau này.

Tiết Thanh Minh đi tảo mộ không chỉ để chúng ta tưởng nhớ lại tổ tiên…
Tiết Thanh Minh đi tảo mộ cần chú ý những điều sau đây:
1. Không nên đi cúng tế ở nơi hẻo lánh, tốt nhất nên đi những con đường mà mọi người hay đi để tránh gặp nguy hiểm. Hơn nữa, theo quan niệm phong thủy, đi đến những nơi như vậy sẽ dễ nhiễm tà khí, nếu như thật sự cần đi thì nên đi cùng nhiều người.
2. Khi đi cúng tế và tảo mộ cần phải chân thành, trên đường đi nếu có mộ, dù đi hay đứng lại đều cần phải lễ độ cung kính. Trong quá trình tảo mộ không nên làm lộn xộn quá nhiều các mảnh đất vụn đá vụn để tránh ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
3. Mộ phần của tổ tiên cần phải được quét dọn cỏ dại, thêm đất mới và hoa tươi, đừng quên quét dọn cả phía sau mộ. Khi làm mới lại diện mạo của mộ phần, trong lòng nhất thiết phải thật cung kính.
4. Khi tảo mộ, không nên dẫm đạp lên mộ của nhà khác hoặc đá vào đồ cúng trên mộ của người khác, nếu không sẽ đem lại điều không may cho bản thân. Đặc biệt là những trẻ vị thành niên lại cần phải chú ý.
5. Nếu như con gái đi tảo mộ, tốt nhất là tránh trong thời kỳ hành kinh. Phụ nữ có thai cũng không nên đi tảo mộ.6. Những bạn có khí trường yếu, tốt nhất là về nhà bước qua chậu lửa hoặc rắc nước lá bưởi để xóa bỏ năng lượng xấu. Trong cuộc sống thường ngày chúng ta rất hay thấy có người đi tảo mộ về bị sốt hoặc cảm thấy không khỏe, cũng có thể dùng cách này để tránh.
7. Bởi vì tảo mộ cũng thường là khoảng thời gian người thân tụ tập lại với nhau, lúc này cần chú ý không được chụp ảnh tập thể ở xung quanh mộ.
8. Khi tảo mộ, cần chú ý sửa sang bốn phía của ngôi mộ. Thứ nhất là để tỏ lòng kính trọng với những người đã khuất, thứ hai là để xem xét tình hình của mộ. Nếu như xung quanh mộ có nước (nước có thể vào bên trong hoặc vũng nước rất sát mộ) sẽ có ảnh hưởng không tốt cho vận thế của của người đời sau.
9. Tiết Thanh Minh có một số cấm kỵ phong thủy thường gặp cần phải đặc biệt tuân thủ. Tiết Thanh Minh không nên mua giày (vì trong tiếng Trung giày và từ tà (tà khí) đọc giống nhau). Thêm vào đó, những ngày này âm khí rất nặng, do vậy không nên đi đêm, nếu như có việc cần đi phải đem theo một số vật tránh tà.
Theo Leo St (ifeng) (Khám phá)
Chúng ta thừa hiểu rằng năng lượng là một yếu tố thực. Chúng chuyển động bên trong cơ thể của chúng ta, trong các ngôi nhà và cả vũ trụ. Vì thế, không có gì là ngạc nhiên khi năng lượng cũng có mặt lợi và mặt hại. Bởi năng lượng không phải là một thứ gì đó để “chơi” mà không cần quan tâm đến kết quả.
Thực tế thì có rất nhiều yếu tố phong thủy bị hiểu sai và vận dụng sai gây ra những tác hại không mong muốn. Kiểm tra lại ngôi nhà của bạn để xem nó có phạm phải một trong những sai lầm sau đây không. Một điều tuyệt vời về phong thủy bạn nên biết, đó là bạn dễ dàng sửa chữa những sai lầm phong thủy một khi hiểu rõ về nó.
Sai lầm 1: Treo một chiếc gương đối diện với cửa ra vào để mang lại năng lượng tốt
Điều này có thể gây ra sự suy giảm về tài chính và các cơ hội kinh doanh liên quan. Cho dù là văn phòng hay nhà ở, một chiếc gương treo ở phía đối diện với cửa ra vào sẽ đẩy năng lượng ra ngoài. Về cơ bản là chặn đứng nguồn năng lượng đi vào nhà khi gặp chiếc gương. Bởi vì cửa ra vào là miệng của các chi, nhà ở hoặc văn phòng sẽ trở nên “nghèo đói” hoặc cạn kiệt năng lượng. Do đó, không nên treo một chiếc gương đối diện cửa ra vào.

Gương treo đối diện cửa ra vào thực chất là đẩy năng lượng
Sai lầm 2: Sơn cửa ra vào màu đỏ
Đỏ là một màu sắc mạnh mẽ, và nó có thể gây ra ảnh hưởng không tốt, thậm chí là thiệt hại nặng nề đối với một số không gian.

Điều này đặc biệt đúng với cánh cửa ở hướng Tây Bắc. Hướng Tây Bắc có mối liên hệ trực tiếp với bầu trời, tượng trưng cho người cha hoặc người đàn ông trụ cột của gia đình. Vì vậy, góc này không nên có các ngọn lửa hoặc màu đỏ. Nếu làm như vậy tức là tạo ra “ngọn lửa trên bầu trời”, có thể khiến người cha hoặc người đàn ông trụ cột gặp phải tai nạn nghiêm trọng, bệnh tật, phá sản, mất việc làm. Nếu cửa ra vào ở hướng Tây (tượng trưng cho trẻ em) hoặc hướng Tây Bắc (tượng trưng cho người cha/người đàn ông) thì bạn nên sơn cửa màu trắng, xám, vàng hoặc màu be.
Sai lầm 3: Treo một tấm gương phía sau bếp
Bếp nấu là một phần của yếu tố Hỏa và khi có quá nhiều lửa thì nó sẽ thiêu rụi ngôi nhà. Sai lầm này xuất phát từ việc vị trí đặt bếp nấu khiến bạn không thể quan sát phía sau lưng, không biết được mọi người đang làm gì, ra vào như thế nào sau lưng mình.

Cũng có một số ý kiến cho rằng việc đặt gương sau bếp nấu sẽ tăng gấp đôi sự giàu có của bạn vì gương nhân đôi số thức ăn bạn nấu trên bếp. Sự thật thì việc khuếch đại năng lượng của lửa quá mức là rất có hại.
Treo gương đối diện bàn ăn tăng sự sung túc, dư dả. Nếu bạn muốn tăng sự sung túc, dư dả bằng cách sử dụng gương, tốt nhất bạn nên treo nó ở phòng ăn hoặc khu vực bố trí bàn ăn. Thức ăn bày trên bàn được nhân đôi tốt hơn là những ngọn lửa trên bếp. Một điều bạn nên lưu tâm là đối với hai yêu tốt nước và lửa thì cần sử dụng một cách điều độ, đúng và đủ.
Sai lầm 4: Sử dụng gương bát quái hoặc gương phong thủy để đẩy năng lượng tiêu cực đi.
Gương bát quái thường được sử dụng để xua đuổi năng lượng tiêu cực, tạo ra một ngã ba ở cửa ra vào hoặc ngôi nhà hoặc chống lại năng lượng xấu đến từ các hướng không mong muốn. Những chiếc gương này sử dụng bát quái âm, phát ra nguồn năng lượng rất mạnh và có hại nên không được tùy tiện sử dụng. Bạn chỉ nên sử dụng gương bát quái nếu gặp trường hợp bất khả kháng và phải có lời khuyên của người am hiểu về phong thủy hoặc người tư vấn phong thủy.

Gương bát quái không nên sử dụng tùy tiện
Sai lầm 5: Mang cây xanh và nước vào trong phòng ngủ
Theo phong thủy, cây xanh và nước cần được sử dụng một cách hợp lý. Để cây xanh trong phòng ngủ sẽ gây hao tổn sức lực cho chủ nhân của căn phòng khi ngủ vì ban đêm cây nhả khí CO2. Đối với phòng ngủ của vợ chồng thì cây xanh còn làm giảm đi sự lãng mạn giữa hai người.

Về phần nước, nếu nước chuyển động (tiểu cảnh) sẽ gây ra sự thất thoát tiền bạc, các vấn đề về hô hấp, bệnh xoang, sự trầm cảm hoặc trạng trái tinh thần mê man cho người ở trong căn phòng đó.
Tránh để cây xanh và hoa cảnh, trừ khi một ai đó bị bệnh và không bao giờ mang nước vào trong phòng ngủ. Trong phòng ngủ của trẻ nhỏ, các bức tranh hoặc giấy dán tường có họa tiết về cảnh biển hoặc đại dương có thể gây ra bệnh tật và thiếu sáng kiến cho trẻ.
Sai lầm 6: Treo pha lê trên cửa ra vào và cửa sổ
Treo pha lê trên cửa ra vào hoặc cửa sổ được cho là lưu chuyển năng lượng nhưng thực chất là ngăn chặn dòng chảy năng lượng bên trong ngôi nhà.
Pha lê mang năng lượng của đất. Khi treo chúng lên một ô cửa thì nó mất đi ý nghĩa vốn có. Nó khiến cho người sống trong ngôi nhà đó thiếu tính quyết đoán, khó tiến về phía trước, sống lộn xộn và gặp các vấn đề về chuyển hóa như tăng cân. Nếu bạn chỉ treo một viên pha lê trên một ô cửa sổ nhất định thì nó lại trở thành một biểu tượng.
Cần phân biệt rõ việc treo chúng trên một hoặc hai cửa sổ trong nhà để đón ánh nắng là điều tốt. Nhưng treo pha lê ở tất cả các ô cửa trong nhà lại trở thành không tốt.

Lạm dụng phong thủy sẽ gây ảnh hưởng xấu
Sai lầm 7: Nhà vệ sinh luôn luôn xấu
Một điều chắc chắn là bất kỳ ngôi nhà nào cũng phải có hệ thống đường ống nước. Nhà vệ sinh không mang sắc thái đen hoặc trong theo phong thủy mà chúng có màu xám. Bồn cầu cần phải có nắp đậy và nhớ đóng cửa phòng vệ sinh sau khi sử dụng. Vì nhà vệ sinh nằm trong một khu vực nhất định của ngôi nhà, bạn nên quan tâm đến việc tăng cường các yếu tố trong góc phòng khách tương ứng với góc phòng vệ sinh.
Ví dụ, nếu phòng vệ sinh ở hướng Tây Nam thì bạn cần thêm các yếu tố có màu đỏ ở hướng này trong phòng khách.
(Theo Xzone)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất |
Hiện tượng: Đầu giường bị dầm ngang ép sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến chất lượng nghỉ ngơi của con người, dễ làm cho mất ngủ, tinh thần mơ mơ màng màng. Thời gian như vậy càng lâu thì tổn hại càng lớn.

Phương pháp hóa giải:
Phương pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là điều chỉnh đầu giường ra xa dầm ngang hoặc trên đầu giường đặt một chiếc tủ đầu giường có chiều rộng bằng dầm ngang để tránh lường sát. Nếu tạm thời chưa thể đặt tủ đầu giường thì trên hai đầu dầm ngang treo hai quả hồ lô đồng để giảm lường sát khí.
![]() |
| Không nên kê giường có tầm nhìn trực tiếp ra cửa |
Những căn phòng khiến bạn khó thoát khỏi “kiếp FA”| ► Xem thêm: Phong thủy nhà ở chuẩn giúp phát tài phát lộc, tránh tai ương |
| ► Theo dõi: Tử vi hàng ngày, tử vi hàng tuần của bạn được cập nhật nhanh chóng, chính xác |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
||
|
| ► ## gửi đến bạn đọc công cụ xem ngày tốt xấu chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
6000 năm trước đây, các nhà y học Ai Cập đưa ra ý kiến: Tim sản sinh ra tư duy. 4000 năm trước đây các học giả Babilon đã đưa ra ý kiến: Gan sản sinh ra tư duy. Lý luận y học phương Đông cho rằng:
![]()
– Tâm chủ thần minh (Tim làm chủ thì tinh thần minh mẫn).
– Gan làm chủ phát ra buồn giận.
– Mật làm chủ thì quyết đoán.
– Thận ẩn tinh thần.
– Mệnh môn là nguồn vô khí.
– Phổi là chủ của tiêu và giáng xuống.
– Tỳ thăng: thanh nhàn, không ô trọc.
– Ân không tốt là do ngủ không yên.
Tất cả đều có liên quan đến tư duy.
Ngũ hành biện chứng là sự khái quát quy luật tự nhiên của người phương Đông cổ, chủ yếu là ở Trung Hoa, đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi.
Người ta dùng 7 trạng thái tâm lý: Hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh theo nguyên tắc:
– Dùng tư bỏ ưu.
– Dùng khủng bỏ kinh.
Trong 5 loại trạng thái tâm lý: Nộ, hỷ, tư, bi, khủng thì nộ, hỷ, tư là 3 loại tình cảm chủ yếu.
Lạc cực sinh bi: nói rõ quan hệ của vui, giận với buồn,
SỢ.
Sợ và buồn là tình cảm xấu, rất bất lợi cho sự cân bằng tâm lý.
Gặp điều bi thương, nếu kéo dài thì sẽ suy yếu, đau đốn, phải tìm ra nguồn gốc để hòa giải.
Phải dùng giận, vui, suy nghĩ để trừ bỏ sợ và buồn, giữ cân bằng tâm lý.
Trong ba loại trạng thái tâm lý giận, vui và suy nghĩ thì suy nghĩ là quan trọng nhất.
Vui là trong âm có âm.
Giận là trong dương có dương.
Vui – giận là một cặp mâu thuẫn, cũng là tình cảm chủ yếu của con người. Sách Hoàng Đế nội kinh có chép: “Dương binh âm bí, tinh thần nãi trị” (dương bình thường âm bế tắc, phải chữa trị tinh thần). Bảy thủ tình cảm của con người không thể nào chia cắt được. Phải tự mình hoàn thiện, nhớ lại hôm qua, nhiệt tình với hôm nay,
nhìn ngày mai đầy triển vọng
thủy, vẫn còn một số điều cần lưu ý.
1. Pha lên không thích hợp để ngăn cách phòng
|
2. Chú ý với pha lê trong nhà vệ sinh
|
|
|
Về biện pháp xem bát tự luận lục thân, trong sách đoán mệnh có cách riêng của nó, theo lệ thường, cách xem là:
Ông tổ: xem ông tổ ở vị trí cung (trụ) năm, thường lấy thiên ấn là tổ phụ, thương quan là tổ mẫu
Bố mẹ:xem bố mẹ ở vị trí cung tháng, thông thường lấy thiên tài là bố, chính ấn là mẹ cả, thiên ấn là mẹ thứ. Nhưng cũng có người không phân chính, thiên.
Anh em:vị trí của anh em phụ vào cung tháng, lấy tỷ kiên là anh em. Còn về chị em, có sách không đề cập đến, có sách cho rằng xem như anh em.
Thê thiếp: xem vợ con ở vị trí chi ngày, sách nói lấy chính, thiên tài làm vợ.
Con cái:xem con cái ở vị trí cung giờ, lại lấy thiên quan (thất sát) là nam, chính quan là nữ.
Tại sao lại lấy thiên tài và Ấn là bố mẹ, tỷ kiên và kiếp tài là anh em, chính tài thiên tài là thê thiếp, thiên quan chính quan là con cái?
Ở đây bắt đầu từ vợ chồng, ví như nói đông phương Giáp Ất Mộc, giả thiết Giáp là dương Mộc, là anh, Ất là âm Mộc là em gái, bây giò Giáp Mộc đem Ất Mộc phối với Canh Kim là vợ, vĩ rằng người xưa cho rằng đàn bà cần phải nhu thuận mà nghe lời chồng, sống theo chồng, cho nên Canh Kim khắc Ất Mộc thì tự nhiên thành chồng của đàn bà. Cũng lý lẽ như vậy, Canh là dương Kim là khắc, Tân là âm Kim là em, Canh đem em Tân Kim phối với Bính Hoả khắc em làm vợ, Bính là dương Hoả là anh, Đinh là âm Hoả là em, Bính đem em Đinh Hoả gả cho Nhâm Thuỷ khắc với em làm vợ, Nhâm là dương thuỷ là anh Quý là âm thuỷ là em. Nhâm đem em Quý thuỷ gả cho Mậu Thổ khắc em làm vợ, Mậu là dương Thổ là anh, Kỷ là âm Thổ là em, Mậu đem em Kỷ Thổ gả cho Giáp Mộc khắc em làm vợ. Như vậy một dương can lấy một âm can bị khắc là vợ. Trong thuật ngữ mệnh lý học, bị khắc gọi là chính tài và thiên tài, cho nên chính tài, thiên tài trong bát tự trở thành một nhân tố quan trọng để thầy đoán mệnh xem về vợ. Nhưng dương can lấy âm can làm vợ trên thực tế không tuyệt đối như vậy, nếu như thiên can trụ ngày trong bát tự của một người lại hợp với âm can, thế thì đương nhiên người ấy có thể lấy dương can hoặc âm can làm vợ như Ất Mộc lấy Mậu, Kỷ Thổ làm thê thiếp là phải.
Lại nói tại sao lấy thiên tài và Ấn làm bố mẹ? Ở trường hợp thông thường, Canh Kim là do Kỷ Thổ sinh ra, trong đó Kỷ Thổ thuộc âm tính, cho nên là mẹ, sách đoán mệnh lấy sinh ra ta là chính ấn, thiên ấn, cho nên ấn trở thành mẹ. Ở đây, Kỷ Thổ sinh Canh Kim trong thiên can hợp với Giáp, vấn đề này đã đề cập ở chương trước rồi. Dương Mộc Giáp khắc âm Thổ Kỷ, tự nhiên Giáp sẽ thành chồng của Kỷ, nhưng với Canh mà nói, kẽ khắc ta là chính tài, thiên tài, bây giò Canh Kim khắc Giáp Mộc, dương với dương cực khắc, há chẳng phải là thiên tài sao? ở trên chúng tôi đã nói, chính tài, thiên tài ta khắc đều là thê thiếp, bây giờ bỗng nhiên lại đem thiên tài gọi là bố, chẳng phải hoang đường sao? Vì vậy, trong sách đoán mệnh lại có cách nói kết hợp cung năm để xem bố mẹ là để giải thoát trường hợp rắc rối này.
Thế thì thiên quan khắc ta là con trai, chính quan là con gái là theo căn cứ nào? Vốn là sau khi Ất Canh kết làm vợ chồng, Ất Mộc sinh ra Hoả Bính, Đinh, Bính Hoả khắc Canh Kim, dương khắc dương, cho nên Bính Hoả trở thành con trai của Canh Kim, Đinh Hoả khắc Canh Kim, âm khắc dương, cho nên Đinh Hoả trở thành con gái của Canh Kim
Lại nói về anh em, vì anh em là đồng loại, cho nên tỷ kiên Canh Kim của Canh Kim sẽ trở thành anh em, lý do dùng tên thuật ngữ những dụng thần nói trên để xem lục thân, ở Tư Bình trân xuyến đã khái quát như sau:
Chính ấn là mẹ, thân ra từ đấy, lấy cái sinh ta vậy, nếu thiên tài bị ta khắc chế, sao lại là bố? Thiên tài là chồng của mẹ, chính ấn là mẹ thì thiên tài là bố.
Chính tài là vợ, bị ta khắc chế, theo lẽ cương thường, vợ phải theo chồng, nêu quan sát thì khắc chế ta, sao lại là con cái? Quan sát do tài sinh ra, tài là thê thiếp thì quan sát là con cái vậy. Còn như tỷ kiên là anh em lý đương nhiên là vậy.
Cách xem lục thân nói ở trên không được Nhậm Thiết Tiều đời Thanh hoàn toàn tán đồng, lý do ông nêu lên là: Phép xem của Tử Bình lấy tài làm vợ. Tài là ta khắc người ta lấy tài để đối đãi ta, lý này không thuộc chính luận, lại lấy tài làm bố, đó là sự dối trá của người đời sau, nếu coi đây là lập luận đúng thì ông với vợ đồng tông, há không mất luân thường đạo lý sao? Tuy nói phận thiên, chính vẫn là miễn cưỡng, thiên, chính của tài, chẳng qua là phân biệt âm dương mà không thay đổi khí của nó, không phạm thượng, cần phân biệt mà tránh, nếu tài là bố, quan là con thì nhân luân bị diệt, không đặc biệt coi ông và vợ đồng tông thì hiển nhiên tổ đi sinh cháu, còn đạo lý nào nữa.
Cách xem lục thân nên định là: kẻ sinh ta là bố mẹ, là thiên, phản ấn thụ vậy, kẻ ta sinh là con, là thực thần, thiên quan vậy; kẻ ta khắc là thê thiếp, là thiên, chính tài vậy, kẻ khắc ta là quan quỹ là ông vậy, cùng với ta là anh em, là tỷ kiên kiếp tài vậy. Lẽ này danh chính ngôn thuận, là phép không thay đổi.
Bây giờ kết hợp với sách cổ tạo mệnh, phân tích như sau:
1. Ví dụ xuất thân từ quan gia
Năm Quan Quý Mão
Tháng Ấn Ất Sửu thương tài
Ngày Bính Tý quan quan
Giờ Thương Kỷ Sửu
Trụ ngày Bính Tý, năm tháng quan ấn thấu xuất mà đắc lộc, tài tinh tàng mà yên khố, cho nên xuất thân quan gia. Do thương quan không đủ, quan tinh thoái khí, nhật chủ suy nhược, toàn dựa vào Ất Mộc ấn thụ sinh Hoả vệ quan. Kết hợp hành vận, hơi vận ấn tuy phùng sinh, con người trôi nổi, Mậu thuỷ không thông căn, phá hoa khác thường, Dậu vận tài tinh hoại ấn, chịu phép mà chết.
2. Ví dụ về mẹ theo bố yểu
Năm Đinh Dậu thiên tài
Tháng Nhâm Tý
Ngày Đinh Mão
Giờ Ân thụ Giáp Thìn
Trụ ngày của mệnh: Đinh Mão sinh vào tháng đông, can tháng Nhâm Thuỷ là chính quan, chi tháng Quý Thuỷ là thất sát, quan sát khí vượng, bản thân suy nhược, cho nên lấy ấn thụ sinh ta Giáp Mộc là dụng thần. Bây giờ địa chi Mão đông phương hội Mộc, ấn vượng hữu khí, mà Tân Kim trong thiên tài Dậu ta khắc lại có một đôi, không gốc để leo, chính ấn là mẹ, thiên tài là bố cho nên mẹ trường thọ mà bố chết sớm.
3. Ví dụ lấy vợ hiền thục
Năm Thương, Quý Mão, Tài, Ấn
Tháng Tài, Ất Sửu Ấn, Kiếp, Thương
Ngày Canh Thân Ân, Kiếp, Thương
Giờ Quan, Đinh Sửu
Mệnh này hàn Kim toạ lộc, ấn thụ đương quyền đủ dùng Hoả chống hàn, kỵ can căn năm Quý Thuỷ khắc Đinh gây bệnh, toàn dựa vào can tháng Ất Mộc thông căn, tiết thuỷ sinh Hoả. Do hỉ thần là tài tinh, càng thích phùng hợp tài tinh, gọi là “tài đến cho ta”, cho nên vợ siêng năng mà tài can, sinh được 3 con, đều là người học khá.
4. Ví dụ lấy vợ đắc tài
Năm lang tỷ Đinh Mùi lang tỷ thực
Tháng lang Ất Tỵ kiếp thương thương
Ngày Đinh Dậu tài
Giờ sát Quý Mão lang
Đinh Hoả sinh vào đầu mùa hạ, trong tứ trụ lang sát đương quyền, nhất điểm Quý Thuỷ, chế túc vô lực, hay ở toạ Dậu Kim, xung Mão Mộc mà sinh Quý sát, cho nên tuy xuất thân bần hàn, nhưng nhất giao phát vận, thời đến vận chuyển, nhập học lại được vợ tài. Sau đó nhâm vận đăng khoa, năm Tân Sửu được bổ chức tri huyện, làm quan đến chức thái thú. Vì vậy, ngày sau không còn Dậu Kim xung Mão sinh Quý, không những vợ không còn tài mà danh cũng chẳng thành.
5. Ví dụ lấy vợghen tuông dữ tợn
Năm Ấn Ẩt Hợi Sát Ấn
Tháng Tài Canh Thìn Quan Ấn Thực
Ngày Bính Thân Thực Tài Sát
Giò sát Nhâm Thìn
Bính Hoả sinh vào cuối xuân, ấn thụ thông căn sinh vượng can giờ lại thấu Nhâm Thuỷ, cho nên lấy ấn thụ Ất Mộc làm dụng thần, nhưng xấu ở Canh tài hợp Ất hoá Kim, sinh sát phá ấn nên bói thấy vợ người ấy ghen tuông dữ tợn không hiền, không con mà tuyệt. Tất cả những điều ấy đều do tài tình hoại ấn mà gây nên nguy hại.
6. Ví dụ vợ gặp hình khắc
Năm thiên ấn, Quý Mão Ất Mộc tỷ kiên
Tháng tỷ kiên Ất Mão Ất Mộc tỷ kiên
Ngày Ất Mùi Đinh Hoả thực thần Ất Mộc tỷ kiên Kỷ Thổ thiên tài
Giờ Ấn thụ Nhâm Ngọ Đinh Hoả thực thần Kỷ Thổ thiên tài
Mệnh này, nhật chủ Ất Mộc, sinh vào tháng xuân, đắc lệnh thân vượng. Chi ngày thuỷ và chi giờ Ngọ hoà nhau, trong đó Kỷ Thổ là vợ là tài. Đáng tiếc trong tứ chi Ất Mộc trùng điệp, tỷ kiên thái quá, cho nên không cần vận hành tỷ kiếp, vợ cũng gặp khắc.
7. Ví dụ thực thương là con
Năm Ấn Đinh Dậu thương
Tháng Ấn Đinh Mùi quan kiếp Ân
Ngày Mậu Tuất Ân tỷ thương
Giờ Ấn Đinh Tỵ Ấn tỷ thực
Nhật nguyên Mậu Thổ, sinh vào cuối mùa hạ, tứ trụ ấn thụ trùng điệp, thuỷ khí không có, táo Thổ không thể tiết Hoả sinh Kim, lại lấy vận hội với chi giò chi năm Tỵ Dậu thành thực, thương Kim cục, nên được một con mà nuôi dưỡng nên người.
8. Ví dụ chuyển vận được con
Năm Tân Mão
Tháng Tân Mão
Ngày Giáp Thìn
Giờ Đinh Mão
Mệnh này, xuân Mộc hùng tráng, hỷ ở can giờ Đinh Hoả thấu lộ, thường vào can năm can tháng vô căn Tân Kim, nhưng đương vận hành Kỷ Sửu, thành ở tài, vì rằng Đinh Hoả tiết khí chức năng đắc dụng, cho nên không những không nuôi được con mà tài sản còn hao tổn. Sau đó một khi vận nhập Đinh Hợi, Bính thành, do nó thành mà đẩy Mộc thấu Hoả hoặc do Hoả thông căn mà phát huy, được liền 5 con, gia nghiệp đổi mới. Vì vậy, Nhậm Thiết Tiều tổng kết: phàm dụng thần của bát tự tức là tử tinh nếu dụng thần là Hoả, thì con hẳn ở vận Mộc Hoả mà có, hoặc Mộc Hoả đắc lưu niên mà có, nếu không phải Mộc Hoả ở niên vận mà có, hẳn con được mở ra, trong mệnh đa Mộc Hoả hoặc Mộc Hoả ở nhật chủ thì không đến hoặc không tiêu, thử nhiều lần đều nghiệm, Nhưng trong mệnh dụng thần không phải là thê tài tử lộc mà cùng thông thọ yểu, đều do một chữ dụng thần quyết định
9. Ví dụ về anh yêu em kính
Năm Đinh Hợi
Tháng Nhâm Dần
Ngày Bính Tý
Giờ Đinh Dậu
Bính Hoả sinh vào đầu màu xuân, gọi là “tướng Hoả có ngọn”, không coi là vượng. Lại xem tứ trụ ngũ hành, tuy nói can tháng Nhâm Thuỷ thông căn, Hợi Tý sát vượng không chế được nhưng tốt ở can chi năm tháng Đinh, Nhâm, Hợi, Dần đều có thể hợp mà hoá ấn, nếu nói chi giờ Dậu Kim tài tinh hoại ấn nhưng lại có can giờ trợ ích chế phục. Do Đinh kiếp là thần được hỷ được dụng trong cục, cho nên 7 người đồng bào, anh yêu em kính và đều là những nhà trí thức.
10. Ví dụ về anh em liên luỵ
Năm Quý Tỵ Tháng Mậu Ngọ
Ngày Bính Dần Giờ Canh Dần
Mệnh này không chỉ dương nhậm đương quyền, lại gặp sinh vượng và can năm can tháng, Mậu Quý hợp mà hoá Hoả, tài trong Canh Kim của trụ, kiếp đoạt mất hết, cho nên anh em 6 người, đều không thành người lao đao vất vả. Đối chiếu với mệnh này, Nhậm Thiết Tiều đã nói một cách cảm khái, ngày, năm, tháng của mệnh này đều náo động, đổi một giờ Nhâm Thìn, nhược sát không thể chế lẫn nhau, có 6 em, có người chết sớm, người khác không làm nên, đến nỗi lận đận phá gia”. Tiếp theo, ông tổng kết “Tóm lại, kiếp nhậm quá vượng, tài cung nguyên khí ngược lại ít với anh em, có mà như là không. Nhưng quan sát quá vượng cũng bị thương tổn. Phải làm cho thân tài cùng vượng, quan ấn thông căn, mối có tình yêu thương”.
Về xem bát tự luận lục thân, Nhan Chiêu Bác ở Đài Loan trong cuốn Tử Bình bát tự đại đột phá đã có những thành quả nghiên cứu như sau. Ông cho rằng yếu lĩnh xem cho ông tổ là: lấy Can Chi năm đối với Can ngày, nếu Can Chi năm là Hỷ thần của Can ngày thì ta bị nó ám, ngược lại thì không bị ám chịu đựng được. Ởcan là mình ám, ởchi là âm ám. Minh là ám của vật chất, âm là ám của phong thuỷ địa lý, lấy thiên ấn là tổ phụ, nếu thiên ấn là hỷ thần của can ngày thì tổ phụ có cảm tình tốt với ta, ngược lại tình cảm nhạt. Đồng thời nêu lên: lấy can năm đối với hai can khác và tứ chi, tra sức sinh tồn của can năm, nếu sức sinh tồn thấp thì thành tựu của tổ phụ thấp. Lấy chi năm đối với can năm, nếu chi năm là hỷ thần của can năm thì tổ phụ mẫu ân ái nhau.
Yếu lĩnh xem bố mẹ, trong cuốn Tử Bình bát tự đại đột phá cho rằng: lấy can chi tháng đối với can ngày, nếu can chi tháng là hỷ thần của can ngày thì ta bị nó ám; ngược lại không bị ám chịu đựng được. Lấy chính ấn là mẹ, thiên tài là bố, nếu là hỷ thần của can ngày thì tình cảm sâu nặng, ngược lại tình cảm nhạt. Lại xe, sức sinh tồn của chính ấn, thiên tài cao hay thấp. Lấy chi tháng đối với can tháng, nếu chi tháng là hỷ thần của can tháng thì bố mẹ ân ái nhau.
Còn về vợ chồng, sách Tử Bình bát tự đại đột phá phân tích: nói về mệnh của người, không thể tách rời vợ chồng, mà cách xem vợ chồng, sách nói tuy tạp, nhưng không sách nào có thể xa rời tổ tông của nó, liệt kê tứ trụ như sau: đầu tiên xem chi ngày là hỷ hay kỵ, thì vợ chồng giúp nhau nhiều ít đã biết được ba phần, sau đó xem đến tài, quan là thiện hay ác thì biết vợ chồng duyên sâu hay cạn, nếu chi ngày bị hình xung thì biết vợ chồng không ổn định, lại xem kiếp, thương có nặng quá không, có thể đoán lứa đôi có bi hình thương không, mà mệnh người có thương, nguyên, quan thì như ngựa vía sô lồng, có quan không thương, tuy có sắc dục nhưng tự kiềm chế được. Tuế vận dẫn sắc, trong nhà bị sóng gió, nội dung trong đó cần xem kỹ để đoán, nữ mệnh quan sát hôn tạp, hôn nhân dễ có người thứ 3 xen vào.
Còn xem có sinh con không, cách xem của Tử Bình bát tự đại đột phá là: lấy Can Chi giờ đối với Can ngày, nếu Can Chi giờ là Hỷ thần của Can ngày thì ta bị con ám, ngược lại thì không có ám. Lấy thực, thương làm con, nêu can ngày là hỷ thần thì tình cảm sâu nặng, ngược lại thì tình cảm nhạt nhẽo. Lại xem sức sinh tồn của ngày sinh cao thấp lấy can giờ đối với ba can khác, tứ chi, tra sức sinh tồn của can giờ, nếu sức sinh tồn cao thì con cái thành tựu cao, nếu sức sinh tồn thấp thì thành tựu của con cái thấp. Nếu ví dụ sau đây để chứng minh:
11. Xem ông tổ
Năm Giáp Dần Tháng Ất Hợi
Ngày Nhâm Tuất Giờ Bính Ngọ
Can năm Giáp, chi năm Dần không phải hỷ của ngày sinh Nhâm Thuỷ, minh ám, âm ám đều không có, thiên ấn, Canh Kim là hỷ của can ngày nhưng trong mệnh không thấy, có duyên nhạt với tổ phụ. Can năm Thân Mộc toạ ở Dần lộc, chi Nhâm Thuỷ tăng can thấu tương sinh, Bính Hoả thấu can, tổ phụ thành tựu cao, chi năm là lộc địa của can năm, tổ phụ mẫu ân ái nhau.
12. Xem bố mẹ
Năm Tân Mão Tháng Quý Tỵ
Ngày Ất Sửu Giờ Kỷ Mão
Can ngày Ất Mộc sinh tháng Tỵ, thương quan sinh tài nhược thân, Quý Thuỷ sinh Ất cùng điều hậu, Quý là hỷ thần của Ất, ngược lại Tỵ là kỵ nên có minh ám, không có âm ám. Thiên tài ngọn nhược, tình cảm nhạt với bố, chính ấn là hỷ nhưng trong mệnh khuyết nhược, sơ sơ xa xa. Quý Thuỷ sinh tháng Tỵ, dư khí ở Sửu, lại phùng Tân Kim Đinh sinh, duy chỉ Kỷ Thổ khắc chế, Tỵ Hoả bốc cao, sức sinh tồn của Quý Thuỷ không cao nên thành tựu của bố bình thường, chi tháng Tỵ không phải hỷ của Quý, tình cảm của bố không đẹp.
13. Xem bố mẹ
Năm Giáp Dần Tháng Ất Hợi
Ngày Nhâm Tuất Giờ Bính Ngọ
Can tháng Ất không phải là hỷ thần của can ngày Nhâm không bị nó ám, Hợi là lộc địa của Nhâm, duy Dần Hợi khắc Mộc, lúc đầu bị nó ám, về sau hư không. Chính ấn là hỷ, tàng ở khố, mẹ có tình cảm nhưng người yếu nhiều bệnh. Thiên tài là kỵ, cùng bố sống chung vô duyên. Can tháng Ất Mộc toạ trường sinh chi năm dương nhậm, Nhâm Thuỷ tương sinh, Bính Hoả điều hậu, bố có thành tựu cao, chi tháng Hợi là trường sinh của can tháng Ất, bố mẹ ái ân nhau.
14. Xem nhân duyên
Năm Đinh Mão Tháng Giáp Thìn
Ngày Bính Tuất Giờ Giáp Ngọ
Năm Ất Dậu và trụ ngày Bính Tuất thành một cấp thuận nhau về nhân duyên gọi là một cấp thuận nhau như trụ ngày Bính Tuất, theo thiên can Đinh vì sau Ất là Bính địa chi tương thuận sau Dậu là Tuất, coi là một cấp thuận nhau. Các can chi ngày khác cũng theo thế mà tính.
15. Xem nhân duyên(kết hôn)
Năm Giáp Tý Tháng Quý Dậu
Ngày Canh Tý Giờ Kỷ Mão
Ất Hợi đại vận, Ất Mùi ưu niên cùng chi giờ tam hợp tài địa, nhân duyên.
16. Xem nhân duyên (kết hôn)
Năm Canh Dần Tháng Đinh Hợi
Ngày Bính Tý Giờ Ất Mùi
Nguyên sát tinh của mệnh hợp với Dần, gặp lưu niên của Tỵ, Thân xung khai, nhân duyên tốt.
17. Xem kết hôn chậm
Năm Đinh Sửu Tháng Bính Ngọ
Ngày Tân Tỵ Giờ Nhâm Thìn
Bát tự chỉ có thiên tài tinh nhập khố, nên lấy vợ chậm
18. Xem kết hôn chậm
Năm Kỷ Sửu Tháng Quý Sửu
Ngày Mậu ngọ Giờ Quý Sửu
Tứ trụ không thấy quan sát, nên kết hôn chậm
19. Xem vợ chồng
Năm Ất Mùi Tháng Canh Thìn
Ngày Canh Tý Giờ Giáp Sửu
Chính tài, thiên tài đều lộ, trong hôn nhân dễ có người thứ ba chen vào
20. Xem vợ chồng
Năm Mậu Tuất Tháng Quý Sửu
Ngày Bính Ngọ Giờ Tân Mão
Phu tinh bị hợp, tình chồng không hướng về ta, chi ngày hỷ thần, có thể được chồng ám nhưng không đủ đẹp.
21. Xem vợ chồng
Năm Mậu Tý Tháng Mậu Ngọ
Ngày Nhâm Thân Giờ Nhâm Dần
Tý Ngọ xung, quan tinh bị tổn. Dần băng xung, phu quan xung ly, hôn nhân thất bại. Duy phu cung hỷ thần, có cách nói khác.
22. Xem con cái
Năm Giáp Dần Tháng Ất Hợi
Ngày Nhâm Tuất Giờ Bính Ngọ
Bính ngọ không phải hỷ thần của can ngày Nhâm Thuỷ, khó tiếp nhận tử ám, Thực thương là kỵ, con cái tuy đông, không ai được ưu đãi, tháng Hợi Bính Hoả, lệnh khí là tử, Nhâm Thuỷ tương khắc, Dần Ngọ Tuất tam hợp Hoả cục, ấn thụ tương sinh, Bính Hoả từ nhược chuyển vượng, sức sinh tồn cao thấp theo vận năm mà thay đổi, thành tựu của con cái cao thấp cũng theo đó mà lên xuống.
Về cách xem hoạ phúc cát hung, cùng thông thọ yểu cho lục thân, gần đây Lâm Huệ Tường trong cuối Nghiên cứu và phê phán về đoán mệnh đã khái quát như sau: “Với người thân thuộc, bản thân cường là tốt, gặp khắc họ thì gặp khắc tử, nếu như phùng sinh họ thì có hy vọng. Nếu phùng mà có thể khác được họ, cũng được cứu, người thiên tài vượng, bố trường thọ, người nhiều tỷ kiếp bố chết sớm, người chính ấn hữu lực mẹ thọ, tài nhiều phá ấn tức chủ khắc mẹ.
Ví dụ ngày sinh của bản thân là Giáp Mộc, tài (bố) là Mậu Kỷ, ấn (mẹ) là Nhâm Quý, Mậu Kỷ Thổ khắc Nhâm Quý Thuỷ, Thuỷ (mẹ) bị khắc chết. Người tỷ kiên tài nhiều thì anh em đông. Thấy tỷ kiên kiếp tài, bại tài đều sẽ khắc vợ và bố, nếu bản thân là Giáp Mộc, tỷ kiên, bại tài sẽ là Giáp Ất Mộc, thê thiếp là Chính tài, Thiên tài tức là Mậu Kỷ Thổ. Giáp Ất Mộc có thể khấc Mậu Kỷ Thổ, để thê thiếp bị khắc chết. Bố cũng là Thiên tài, cũng bị khắc. Tọa ở thê cung thì vợ tốt, thê tức là dụng thần nên được vợ hiền, thê tình nhiều chủ khắc thê, thê tinh lưỡng thấu, thiên chính tạp xuất thì có nhiều vợ. Địa chi mà can ngày toạ gặp hình xung sẽ khắc thê. Bản thân cường mà thê nhược, nên lấy người đàn bà có thể bố cứu thế nhược ấy, đó gọi là “lấy ép”. Quan sát nhiều tổn thương anh em chị em, ví dụ Canh Tân Kim của chính quan thiên quan quá nhiều thì tổn thương Giáp Ất Mộc của tỷ kiên, bại tài tức là tổn thương anh em chị em. Thương quan, thực thần nhiều sẽ tổn thương con cái, vì rằng Bính Đinh Hoả khắc Tân Canh Kim, tuyền ấn nhiều khắc tổ phụ mẫu (Nhâm Quý Thuỷ khắc Bính Đinh Hoả).
Phương pháp xem con cái, trước tiên phải tìm sao của con lại đối chiếu với địa chi của giờ, theo sinh vượng tử tuyệt mà đoán, cách đoán theo bài ca dưới đây:
Trường sinh tứ tử trung tuần bán
Mộc dục nhất song bảo cát tường
Quan đái lâm quan tam tử vị
Vượng trung ngủ tử tự thành hàng
Suy trung nhị tử bệnh trung nhất
Tử trung chí đa một Kỷ lang
Trừ phi thủ dưỡng tha nhân tử
Nhập mộ chi thời mệnh yểu vong
Thụ khí vỉ tuyệt nhất có tử
Thai trung đầu sản hữu cô nương
Dưỡng trung tam tử chỉ lưu nhất
Nam nữ cung trung tử tế trường
Ý trong bài ca nói, nếu như bản thân là Giáp, Tý thì sẽ là Canh (Canh là thiên quan của Giáp). Canh nếu gặp chi giờ Tỵ thì ở trạng thái trường sinh, có thể ở tuổi trung niên có 4 con, nếu gặp Ngọ thì ở trạng thái Mộc dục, có thể có 2 con, ở Quan đới, lam quan đều có 3 con, ở đế vượng có 5 con, ở suy có 2 con, ở bệnh có 1 con, ở trạng thái tử không có con, ở trạng thái gặp Mộc con sẽ chết sớm, ở tuyệt có 1 con, ở thai có con gái đầu, ở dưỡng sinh 3 con còn 1.
Tổng quát toàn bài, có thể hiểu như thế này, tức là trong tứ trụ nêu trụ năm là cát tường hoặc dụng thần, chứng tỏ gia cơ tổ tông mệnh chủ tương đối phong lưu; trụ tháng là hỷ thần hoặc dụng thần chứng tỏ mệnh chủ có ám tỷ bô mẹ, anh em hoà thuận, chứng tỏ vợ chồng hợp sức, tình yêu ngọt ngào, chi giờ là hỷ thần hoặc dụng thần chứng tỏ mệnh chủ con cái
làm nên. Ngược lại, nếu trụ năm là kỵ thần, chứng tỏ tổ tông mệnh chủ phá sản suy vi, trụ tháng là kỵ thân, chứng tỏ bố mẹ bị hình thường, anh em bất hoà; chi ngày là kỵ thần, chứng tỏ tình yêu vợ chồng không đẹp. Trụ giờ là kỵ thần, chứng tỏ con cái mệnh chủ khó nuôi hoặc không thành đạt, nhưng nếu kỵ thần ở năm, tháng, ngày, giờ bị khắc chế, lại có thể phùng hung hoá cát.
Nếu như từ dụng thần kết hợp với 12 cung để xem trong bát tự nếu lấy ấn thụ làm hỷ thần của bản thân, hoặc ấn thụ gặp đất của trường sinh chứng tỏ chủ nhân có phúc ấm rất dày và cả hai bố mẹ đều trường thọ, ấn thụ của chi tháng gặp đất tử tuyệt, hoặc ấn thụ lấy làm dụng thần bị phá, chứng tỏ bố mẹ không toàn hoặc khó được hưởng phúc ấm của bố mẹ; trong bát tự nếu tỷ kiên, kiếp tài là hỷ thần, dụng thần của bản thân, hoặc tỷ kiên toạ ở lộc địa, chứng tỏ anh em nên người, ngược lại, nếu tỷ kiên là kỵ thần, chứng tỏ anh em không phải không hoà mục thì cũng là tan tác. Trong bát tự nếu lấy tài là hỷ thần , dụng thần thì có sức sinh hoá, chứng tỏ vợ hiền mà giỏi giang, ngược lại nếu tài là kỵ thần hoặc xung hợp tranh phân, chứng tỏ vợ không phục tòng chồng, tình cảm vợ chồng không tốt, nữ mệnh lấy quan, sát là chồng, trong bát tự nếu quan tinh đắc dụng, chồng cao sang mà bản thân cũng cao sang, lấy thực, thương là con cái, trong bát tự nếu thực, thương là hỷ thần, dụng thần, chứng tỏ con cái hiều hiếu, có khả năng giữ phúc cho con, nếu thực, thương phung xung hoặc toạ ở cô thần quả tú, chứng tỏ con cái hiếm hoi, hoặc là trong mệnh khắc con.
Ngoài ra, khi xem bát tự luận lục thân, còn có thể kết hợp hành vận để xem. Trong đó bố mẹ kết hợp ấu vận, vợ chồng anh em kết hợp trung vận, con cái kết hợp hậu vận. Ví dụ trong mệnh lúc trẻ nhỏ có hồng vận, chứng tỏ cổ phúc ấm của bố mẹ; trung niên gặp hồng vận, chứng tỏ vợ chồng hiệp lực đồng tâm hoặc là anh em tài giỏi, cuối đời gặp hồng vận, chứng tỏ con cái nên người.
Cuối cùng xin nói mấy câu, đó là vấn đề lục thân tương khắc, nói về lục thân tương khắc, ở đây chúng ta phải làm rõ, nếu không sa vào mê tín sẽ gây nên vợ chồng, cha con, anh em bất hoà, có lúc còn gây nên hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ chị Tường Lâm trong chuyện của Lỗ Tấn, do chồng chị chết, con chết mà người ta đều nói chị mệnh cứng, khắc chồng khắc con, kết quả là do sức ép của dư luận xã hội và thói quen lâu đời mà chị Tường Lâm lúc ấy đang tràn đầy sức sống bị xã hội phong kiến ruồng bỏ, nghĩ đến đây chúng ta cảm thấy bất bình và phẫn nộ cho chị Tường Lâm. Thực ra người xưa nói là tương khắc, không có nghĩa là đem khắc an đến chết vì vậy Trần Tố Am đời Thanh đã nói rất đúng, ông nói: “thế tục tương truyền, mệnh bố hung thì có thể khắc con, mệnh con hung thì có thể khắc bố, mệnh chồng hung thì có thể khắc vợ, mệnh vợ hung thì có thể khắc chồng, dẫn đến người thân oán ghét nhau, lập luận này vô cùng sai lầm, nếu trong mệnh bố, sao con phá hoại, có thể đoán con không giỏi giang, không phải vì mệnh bố mà khắc con vậy. Trong mệnh chồng có sao của vợ phá hoại, có thể đoán là vợ không giỏi giang, không phải mệnh chồng mà khắc vợ vậy, trong mệnh vợ sao của chồng tử tuyệt, có thể đoán chồng không có lộc, không phải vì mệnh vợ mà khắc chồng vậy.
Đương nhiên, dụng tâm của Trần Tố Am tuy tốt, nhưng chỗ đứng của lập luận vẫn dựa vào thiên mệnh. Dù thế nào đi nữa, chúng ta không nên đứng trên lập trường ngày nay mà đòi hỏi người xưa.
Nguồn: Quang Tuệ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Chùa Cái Bầu hay còn gọi là Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm. Nơi đây là một trong 2 Thiền Viện ở tỉnh Quảng Ninh. Chính xác Chùa Cái Bầu tọa lạc tại thôn 1, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh do Ni sư Hạnh Mã trụ trì.
Đây là một ngôi chùa nằm rất xa khu dân cư, tựa sơn nhìn ra biển xanh. Tựa lưng vào núi, hướng mặt ra vịnh Bái Tử Long mênh mông sóng nước, Thiền viện Trúc lâm Giác Tâm được bao trùm bởi không khí thanh bình, tĩnh lặng khiến cho mỗi tiếng chuông chùa, mỗi tiếng tụng kinh gõ mõ như càng ngân vang hơn. Thiền viện được xây dựng trên nền ngôi Phúc Linh Tự (cách đây trên 700 năm), thờ các vị tướng nhà Trần trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông từ thế kỷ XIII.
Trải qua thời gian và những thăng trầm của lịch sử, chùa đã bị hư hỏng nặng. Năm 2007, chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác Tâm được khởi công xây dựng trên tổng diện tích 20 ha thuộc xã Hạ Long (Vân Đồn). Sau 2 năm, đến năm 2009, chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác tâm được khánh thành khang trang, xứng tầm với những giá trị lịch sử, văn hoá nơi đây.
Chùa Cái Bầu dấu ấn giống các ngôi chùa cổ về cả kiến trúc, trang trí, phù điêu, hoa văn trang trí, bậc thang… Hiện tại Chùa đã hoàn thành các hạng mục: thiền viện – Chánh điện cao 2 tầng rộng 6.000 m2, cổng tam quan, nhà tổ, lầu chuông, thất ở hòa thượng, nhà khách chư tăng- chư ni, bến bãi đỗ xe… Giai đoạn II chùa Cái Bầu sẽ được tiếp tục đầu tư gồm: Thất đường trụ trì, thất chuyên tu, thiền đường, nhà trưng bày trai đường và dựng 1 tượng Phật cao 50 m trên đỉnh núi sau Thiền Viện.
Chùa Cái Bầu không chỉ lạ về kiến trúc (đền kết hợp với chùa) mà nơi ở nơi đây không có chuyện đốt vàng mã, không có cảnh xô bồ bán hàng dong, bởi bất cứ ai đến nơi đây cũng chỉ lễ Phật bằng chính lòng thành kính của mình. Các du khách, phật tử thập phương đến chùa nếu muốn đều được phục vụ cơm chay miễn phí.
Chánh điện có tổng diện tích 6.000m2, gồm hai tầng; tầng trên đặt tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, phía sau là phù điêu bằng đồng mô tả lại quang cảnh của gốc cây Bồ đề, nơi Ngài giác ngộ. Hai bên là tượng của Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền Bồ Tát, tượng trưng cho trí tuệ và từ bi.
Trên bức tường quanh Chánh điện là các bức phù điêu tinh xảo bằng đồng, mô tả lại cuộc đời Đức Phật kể từ lúc Ngài đản sanh tại vườn Lâm Tì Ni cho đến khi nhập cõi Niết bàn.
Tầng dưới hiện nay là nhà tổ, thờ các chư vị tổ sư, Bồ Đề Đạt Ma khai sinh ra thiền phái Trúc Lâm, Phật hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa đại sư, Huyền Trang đại sư là các vị có công phát triển và duy trì thiền phái Trúc Lâm tại Việt Nam. Từ đây nhìn xuống, thấy vịnh Bái Tử Long mênh mông sóng nước trong không khí tĩnh lặng trong tiếng chuông chùa thanh tịnh, bao nhiêu muộn phiền, những toan lo của đời thường đều được xoá tan.
Chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác tâm được đánh giá là một công trình văn hoá tâm linh có kiến trúc và cảnh quan đẹp. Chùa được xây dựng trên núi cao khang trang, thoáng mát. Phong cảnh nơi đây thật sơn thuỷ hữu tình.
Từ trên chùa, du khách có thể phóng tầm mắt ra Vịnh Bái Tử Long để chiêm ngưỡng đảo núi đá chập chùng giữa biển cả bao la, những con thuyền rẽ sóng ra khơi và tận hưởng những làn gió mặn mòi từ khơi xa mang lại.
Quang cảnh trời nước tuyệt đẹp nơi đây sẽ đem lại cho du khách cảm giác bình yên, thanh thản, trải lòng với thiên nhiên khi vãn cảnh chùa. Thêm nữa, điều tạo cho du khách cảm giác ấn tượng đặc biệt khi đến đây, đó là tất cả những công trình kiến trúc xây dựng xung quanh chùa đều được bố trí khá tinh tế, hài hoà với cảnh trí xung quanh từ những con đường, bậc thang, những ngôi nhà lá, vườn cây… tất cả đều rất hài hoà.
Chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác tâm là một điểm đến du lịch hấp dẫn không thể thiếu trong hành trình của mỗi du khách khi đến huyện đảo Vân Đồn…
Văn Khấn cúng đầy tháng, cúng mụ được dùng khi đứa trẻ được đầy tháng. Ông bà ta xưa quan niệm rằng: Đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà chúa Đầu thai), Tiên Mụ mà trực tiếp là 12 bộ Tiên Nương (12 bà Mụ) nặn ra ban cho.
Vì vậy, khi đứa trẻ đầy cữ (đứa trẻ chào đời được 3 ngày), đầy tháng (đứa trẻ chào đời được một tháng), đầy năm; bố mẹ, ông bà đứa trẻ phải bày tiệc cứng Mụ để tạ ơn các bà Mụ và cầu xin các Mụ ban cho đứa trẻ mọi điều may mắn tốt lành.
Lễ cúng Mụ phải được làm cẩn thận chu đáo, với các lễ vật bao gồm:
– 12 đôi hài xanh giống hệt nhau và một đôi hài cũng màu xanh nhưng to hơn
– 12 nén vàng xanh giống nhau và một nén vàng xanh to hơn.
– 12 bộ váy áo đẹp màu xanh giống hệt nhau và một bộ váy áo xanh cắt giống 12 bộ kia nhưng to hơn.
– 12 miếng trầu cánh phượng giống hệt nhau và một miếng trầu têm cánh phượng to hơn.
– 12 bộ đồ chơi: Bát,đũa, thìa, chén cốc, con giống, xe cộ, nón, mũ… giống hệt nhau và một bộ giống như vậy nhưng to hơn (những đồ lễ này có thể bằng nhựa, bằng sành sứ).
– 12 con cua, 12 con ốc, 12 con tôm to nhỏ bằng nhau để sống (có thể đồ chín) là lễ vật dâng cúng 12 bà Mụ.Và mỗi loại một con to hơn hoặc nhiều con (ít nhất ba con) cũng để sống là lễ vật dâng cúng bà Mụ Chúa. (Các con này để vào bát to bày cúng, sau khi cúng xong thì đem cua, ốc thả ra ao, hồ; tôm có thể thụ lộc).
– Phẩm oản, bánh kẹo, hoa quả chia đều thành 12 phần giống nhau và một phần có đủ phẩm oản, bánh kẹo, hoa quả nhưng lớn hơn (hoặc nhiều hơn).
– Lễ mặn: Xôi, gà, cơm, canh, các món lễ mặn, rượu. . .
– Bát hương, lọ hoa tươi nhiều màu, tiền vàng, cốc nước thanh tịnh (bày ở mâm trên cùng lễ mặn).
Bày lễ:
Bày lễ cúng Mụ mang tính chất thành kính, văn hoá và nghệ thuật, thường bàn lễ cúng Mụ được bày (trình bày) một cách hài hoà, cân đối.
+ Tất cả lễ vật dâng bà Mụ chúa để ở chính giữa phía trên của hương án
+ Lễ vật dâng 12 bà Mụ chia thành 12 phần giống nhau
+ Mâm lễ mặn cùng hương, hoa nước để trên cùng
+ Mâm tôm, cua, ốc để phía dưới
Sau khi bày lễ xong, bố hoặc mẹ cháu bé thắp 3 nén hương, rồi bế cháu bé ra trước án khấn
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
– Con kính lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa.
– Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa.
– Con kính lạy Đệ tam Tiên Mụ đại tiên chúa.
– Con kính lạy Thập nhị bộ Tiên Nương
– Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương
Hôm nay là ngày…. Tháng….. năm….
Vợ chồng con là ………. sinh được con (trai, gái) đặt tên là ……..
Chúng con ngụ tại:……………………………
Nay nhân ngày đầy tháng (đẫy cữ,) chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trước án, trước bàn tọa chư vị Tôn thân kính cẩn tâu trình:
Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấng thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu tên là………… sinh ngày…… được mẹ tròn con vuông.
Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngoan, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô tai, vô ương vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được tươi đẹp, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng, kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quí. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo.
Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.
Nam mô a di Đà Phật (3 lần)
Tháng 7 âm lịch – tháng cô hồn được coi là một trong những dịp lễ tâm linh cực kì quan trọng của người phương Đông. Những truyền thuyết ma quỷ về tháng này được lưu truyền từ đời này qua đời khác, cùng với đó là những điều không nên làm trong tháng cô hồn.
| ► Tham khảo thêm: Những điều kiêng kỵ trong tháng cô hồn |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Hiện nay, việc chọn tuổi làm nhà có muôn vàn cách hiểu khác nhau gây ra nhiều sự lúng túng cho gia chủ.
Đối với những công việc lớn như xây dựng nhà cửa, việc chọn ngày lành tháng tốt cũng như lựa người hợp tuổi, hợp hướng trở thành một nhu cầu thiết yếu của nhiều gia đình. Hầu hết các trường hợp đều tính toán vận hạn theo kinh nghiệm dân gian. Hạn phụ thuộc vào số dư của tuổi. Chính cách tính này nên nhiều người cho rằng có thể vì làm nhà nên dẫn đến bị tai nạn, chết, hay đau ốm…
Hạn phụ thuộc vào số dư của tuổi
Chị Nguyễn Thị Ngần (Thanh Chương, Nghệ An) vẫn không tin vì làm nhà mà gia đình chị rơi vào cảnh bế tắc như bây giờ. Chị kể, năm 2003, là năm tuổi của chồng chị. Tuy nhiên, vì nhà cửa không yên ổn nên dù được cho là năm tuổi, vợ chồng chị vẫn quyết tâm làm nhà. Không ngờ, sau khi làm nhà xong anh bị tai nạn gãy chân. Chị mất việc làm, ở nhà chạy chợ. Cũng từ năm đó, gia đình chị như kiệt quệ về kinh tế. Tình cảm vợ chồng cũng gặp nhiều khó khăn. Trước khi làm nhà nhiều người khuyên, chồng chị hạn Kim Lâu nên không được làm nhà. “Tôi cũng đã nghe nói nhiều trường hợp làm nhà không được tuổi nên ảnh hưởng gia đình như chồng mất sau khi làm nhà hay gặp tai ương… Nhưng vì không mê tín nên tôi cho đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Thậm chí để yên tâm, khi làm lễ động thổ tôi lấy tuổi tôi làm chính trong nhà”, chị Ngần tâm sự. Đầu năm nay, anh Nguyễn Quốc Hải (Phan Bội Châu, Hải Phòng) lên kế hoạch xây nhà. Nhiều người quen lại bảo anh đừng làm vì năm nay không được tuổi. Tuy nhiên, vì nhu cần cần có chỗ ở, anh đã “mượn” tuổi ông chú ruột để làm nhà. Một khảo sát về cách tính tuổi làm nhà của 20 gia đình tại Trương Định (Hà Nội) cho thấy, 90% các gia đình tính toán vận hạn làm nhà theo kinh nghiệm dân gian, chỉ có 10% mời chuyên gia phong thủy tính tuổi, tính năm làm nhà hợp với gia chủ.. Theo TS Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng (UIA), ông cũng đã gặp những trường hợp người dân làm nhà sau đó cho rằng bị hạn dẫn đến những tai ương. Hầu hết các trường hợp này đều tính toán vận hạn theo kinh nghiệm dân gian. Cách tính tuổi làm nhà, hay còn gọi là cửu trạch. Cách tính cửa trạch được áp dụng như sau: Lấy tuổi âm của chủ nhà (thường là chồng) chia cho 9 được số dư. Số dư này sẽ ứng với các vận hạn hay mắn mắn khi làm nhà.Cụ thể, số dư 1 ứng với được phúc, dư 2 sẽ được đức, dư 3: bại (thất bại), dư 4: hư (hư hỏng, phải làm đi làm lại nhiều), dư 5: khốc (phải khóc lóc nhiều), dư 6: quỷ (bị quấy nhiễu bởi nhiều yếu tố), dư 7: tử (có khi chết người), dư 8: bảo (gặp nhiều của quý), dư 9: lộc (làm nhà sẽ có lộc).

Ông cha ta thường nói: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, theo phong tục nước mình thì những điều dưới đây đã được cha ông ta chiêm nghiệm và truyền dạy cho đời sau nên kiêng kị trong những ngày lễ tết và cả ngày thường.
Dưới đây là những điều kiêng kị cần biết trong phong thủy và tâm linh, những kinh nghiệm và kiêng kị trong dân gian mà bạn cần biết:

1, Khi đi trên đường nếu gặp tiền lẻ hay những vật dụng cá nhân của người khác thì không nên nhặt mang về. Bời vì một số thường thường giải hạn bằng cách vứt bỏ một vài vật dụng của cá nhân mình để đuổi cái xui xẻo của họ, nếu mình nhặt lấy thì sẽ lãnh phải chuyện xui xẻo.
2, Khi đi qua những nơi như sông suối hay ao hồ,.. không rõ nguồn gốc thì không được vứt đồ cá nhân của mình xuống. Thứ nhất vừa là xả rác thải, gây ô nhiễm nguồn nước. Thứ hai, những khu vực nguồn nước như vậy có thể có vong trú, nên rất dễ bị duyên âm theo. Vậy nên nếu bạn có vô tình bị rơi đồ thì cũng nên cố gắng lấy lại.
3, Không nên phơi quần áo vào ban đêm, đặc biệt là đồ lót, vì dễ mắc duyên âm. Ngoài ra quần áo phơi vào ban đêm thường có nhiều sương và các loại côn trùng có thể trú ngụ ảnh hưởng đến sức khỏe người mặc.
4, Vào ban đêm hạn chế soi gương hoặc soi mặt mình dưới nước.
5, Tuyệt đối không tiếp xúc với các loại bùa ngải, không uống các loại bùa mà các ‘thầy pháp” mang cho. Khi đi đường xa thì nên mang theo 1 củ tỏi để phòng thân và trừ tà.
6, Không tiết lộ ngày tháng năm sinh, giờ sinh cũng như tên tuổi cho người lạ biết.
7, Nhà có em bé thì không nên cho đi viếng mộ hay dự tang lễ. Kể cả những gia đình có tang thì không tiếp xúc với trẻ sơ sinh hoặc không đến nhà có bà bầu và trẻ nhỏ.
8, Trên đường tối tránh đùa giỡn, gọi to tên nhau và nhắc đến ma quỷ.

9, Phụ nữ có thai không nên đi ăn cưới và dự đám tang.
10, Không thề thốt hay hứa hẹn với người đã khuất nếu không thực hiện được.
11, Về khuya nên hạn chế may và soi gương, chảy tóc.
12, Vào nghĩa trang không nên bình phẩm, khen chê ảnh tên, mộ của người đã khuất.
13, Nếu trên đường khuya muộn, không nên trả lời khi có ai đó gọi tên mình.
14, Với các bạn nữ thì không được đến những nơi linh thiêng như chùa chiền, miếu mạo, không đi xem bói và không nên qua lại trước bàn thờ vào những ngày đèn đỏ.
15, Nên sửa hoặc không nên ngủ gần những nơi có máu người hoặc đồng vật bám lễ thân gỗ trong nhà.
16, Những ai đã lầm lỡ phá bỏ thai nhi thì nên đặt cho con mình một cái tên và đem lên chùa gửi.
17, Tuyệt đối không nên tắm ở những nơi hồ ao sông suối đã có người chết đuối, dễ bị vong bắt theo.
18, Lúc ngủ không nên quay chân ra cửa (đây là tư thế cho người chết), hoặc quay chân vào bàn thờ là bất kính.
19, Những ngày đầu tháng hay đầu năm thì không nên đi vay hay xuất một khoản tiền lớn, vì theo quan niệm thì tháng đó hoặc năm đó thất thu, không có được nhiều tiền.
Trên đây là một số điều kiêng kỵ mà bạn nên biết để tránh phải. Dù có những điều đã được qua khọc chứng minh, nhưng có những điều tâm linh mà ông cha ta đã dạy bảo thì chúng ta nên nghe theo và thực hiện.
Bạn có thể xem thêm: Những điều kiêng kị trong tháng cô hồn
Lông mày lem mí, tóc thô cứng, mặt bạnh, mũi hỉnh là cô độc, khắc sát nghèo hèn.
Mũi cong khoảng giữa, mũi có ngấn, lỗ mũi ngó trời mũi hỉnh là tướng đa dâm, hạ tiện, khốn khổ.
Trán có nhiều lằn, mắt lộ tròng trắng bệch là người gian dâm đại ác khắc chồng sát con, tán tài cơ cực.
Bụng teo ngực nẩy cũng là người có tướng nghèo hèn tham lam dâm đãng.
Tiếng nói như lửa reo hừng hực, mắt lộ gân đỏ lan tới con ngươi là tướng người hung ác thô bạo, hình phu sát tử. Môi trên như trùm xuống, môi dưới như đầy ra cũng đều là tướng người khắc sát bần bạc, ngu độn.
Hay đứng dựa cửa liếc dọc ngang, chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy, đang làm công việc, dừng tay châu mày thở ra, hay ca hát nho nhỏ, tự nhún nhẩy một mình, tóc hoe mà thưa lợt gần như lông măng tay, đều là những hình tướng đê tiện dâm đãng.
Miệng dụm như thổi, môi thâm mồm rộng, chơn mày dựng ngược, thấy cười mỉm, mắt nhìn như diều hâu, như cú dữ, đều là tướng hèn hạ, bạc ác.
Đi như chim se sẻ, ăn liếm láp như bò dê, nét mặt xanh đen, lông mày có góc xương lộ, hay tự nói lầm thầm, nói chuyện làm việc quên đầu quên đuôi, hơi khô giọng thổ, đều là các hiện trạng hình tưởng đàn bà âm trầm bạc ác, sâu độc nghiêng ngả, ghen tương như điên dại.
Đôi gò má ửng hồng, mắt như sao chớp, mát bóng như mở, miệng ngậm không kín răng, hạ mao như cỏ khô lưa thưa vàng úa, âm hộ chỉ có da bọc xương nhô lên, chớ không đầy thịt, ngủ say hay nói một mình hoặc kinh hoảng mớ la. Ngồi tựa như đứng, đứng giống như ngồi, mừng vui giận ghét không chừng đổi, hay lắc mình nghiêng đầu, liếc dọc nhìn ngang. Ấy là biểu lộ hình trạng tà dâm bạo ác không tốt.
Xem tướng tổng quát hình tướng phụ nữ bần bạc dâm ác theo TƯỚNG PHÁP DIỄN CA
Đàn bà khắc sát chồng con
Những chòm sao nào thu hút bạn khác giới nhất? Thiên Bình thu hút những người bạn khác giới bởi vẻ ngoài xinh đẹp, lịch sự, tính cách ôn hòa và khả năng nói chuyện thu hút. Còn những chòm sao khác thì sao? củ thể như thế nào hãy cùng khám phá trong bài viết sau nhé!
Nội dung





Cô Hoàng Thanh Hà, ở Thanh Trì, Hà Nội lo lắng khi nghe hàng xóm bàn tán về thông tin năm nay không nhuận tháng 9. "Gia đình dự định sẽ tổ chức đám cưới cho con trai đầu vào khoảng giữa tháng 10 âm lịch, nếu tháng 9 không nhuận, chúng tôi khó có thể chuẩn bị mọi việc tươm tất cho đám cưới", cô Hà lo lắng.
Với mong muốn sinh con vào tháng 12 âm lịch năm nay, chị Nguyễn Thúy Hòa ở Đống Đa, Hà Nội đứng ngồi không yên khi nghe mấy cô bạn hỏi nhau năm nay có tháng 9 nhuận âm lịch hay không. Hòa muốn sinh con năm Ngọ. Nếu không có thêm một tháng 9 nữa, thì con cô dự kiến chào đời năm Mùi.
"Chuyện con cái là lộc trời cho, nhưng về tâm linh tôi cũng muốn được thoải mái và đã có sự tính toán trước nên muốn sinh con trong năm, chứ không muốn đến năm sau", chị Hòa nói.
![]() |
Tháng 9 thứ hai của năm âm lịch tương ứng với ngày 24/10 dương lịch. |
Tại một số địa phương như Hà Nam, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, thông tin nói là năm nay không nhuận tháng 9 đã khiến không ít người làm nghề nông nghiệp, nhất là trồng hoa Tết lo lắng. Tin đồn cũng xuất hiện trên nhiều diễn đàn, mạng xã hội làm nhiều người hoang mang khi họ đã có kế hoạch trong công việc từ trước.
Tuy nhiên, theo khẳng định của các nhà khoa học thì thông tin trên chỉ là đồn đoán. "Trên thực tế năm 2014 nhuận tháng 9 là hoàn toàn đúng", ông Nguyễn Đức Phường, nhà nghiên cứu về thiên văn - vũ trụ khẳng định với VnExpress.
Ông Phường cho biết, hiện có hai cách tính lịch theo dương lịch và âm lịch, trong đó dương lịch là cách tính theo chu kỳ Trái đất quay quanh Mặt trời. Đây là loại lịch đang được thế giới chính thức sử dụng. Còn âm lịch tính theo chu kỳ Mặt trăng quay quanh Trái đất, chủ yếu được các nước phương Đông sử dụng.
"Mỗi lịch có ngày và tháng nhuận khác nhau", ông Phường nói. Với dương lịch, chu kỳ Trái đất quay quanh Mặt trời là 365+ 1/4 ngày. Nhưng theo quy ước thì mỗi năm chỉ có 365 ngày, nên năm dương lịch sẽ chênh với thời gian thực là 1/4 ngày. Điều này cũng có nghĩa sau 4 năm thì dương lịch sẽ dư một ngày và sẽ có một năm nhuận một ngày. Năm nhuận này theo quy ước rơi vào tháng hai (tức là tháng có 29 ngày).
Trong khi đó, một năm âm lịch có 354 ngày, và nếu so sánh với dương lịch (365 ngày) thì âm lịch ngắn hơn 11 ngày. "Như vậy cứ ba năm, âm lịch lại ngắn hơn dương lịch 33 ngày, tức là ba năm âm lịch sẽ nhuận một tháng chứ không nhuận một ngày như dương lịch", ông Phường cho biết.
Theo ông Phường, muốn tính năm âm lịch đó có tháng nhuận hay không chỉ cần làm phép toán đơn giản là, lấy năm dương lịch chia cho 19 nếu chia hết hoặc ra các số dư 3, 6, 9, 11, 14, 17 thì chắc chắn đúng. "Các nhà nghiên cứu thế giới đã có cách tính lịch rất chính xác từ cách đây hàng triệu năm về trước vì vậy không bao giờ có sự nhầm lẫn", ông Phường nhận định và khuyến cáo mọi người nên sử dụng dương lịch để theo dõi mùa màng và thời tiết.
Đồng quan điểm trên, ông Hoàng Trọng Hảo, làm việc ở tạp chí Toán Tuổi thơ cũng khẳng định, thông tin không có hai tháng 9 nhuận trong năm Giáp Ngọ 2014 là hoàn toàn bịa đặt.
![]() |
Năm nhuận tương ứng với tháng nhuận đã được các nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới tính toán từ trước. |
"Năm âm lịch nào nhuận và nhuận vào tháng nào đã được tính toán, không thể bỗng nhiên thay đổi", ông Hảo nói.
Hương Thu
Văn Xương, Văn Khúc: Xương Khúc tượng trưng cho tình cảm và trí tuệ. Xương Khúc rất xuất sắc trong những ngành học nào mình thích còn Hóa Khoa thì giỏi về nhiều môn. Xương Khúc thiên về chuyên khoa nên khó ai vượt nổi Xương Khúc trong chuyên môn sở trường. Vì nặng về tình cảm nên ngành học của Xương Khúc là văn chương, triết lý, thi ca, nhạc kịch, vốn là các bộ môn làm rung động mãnh liệt tâm hồn con người.
Thiên Khôi, Thiên Việt: biểu tượng cho học trò giỏi và đỗ đạt. Khôi Việt chỉ sự lỗi lạc, xuất chúng trong nhiều ngành. Khôi còn có nghĩa là đứng đầu, cầm đầu, vì thế có tinh thần ganh đua mãnh liệt để chiếm giải nhất, không chấp nhận nổi sự thua thiệt. Đức tính quý báu của Khôi Việt là óc lãnh tụ, sự mưu cơ, tài tổ chức, chí hướng chỉ huy, lãnh đạo vì vậy Khôi Việt hữu dụng cho xã hội trong khi Hóa Khoa và Xương Khúc thường đắc dụng cho học đường, cho ngành giáo dục thuần túy. Khôi Việt vừa là người có học vừa biết ứng dụng cái học vào trường đời, cũng bằng ý chí tranh thắng thi đua, vốn là động cơ thành công trong nhiều lãnh vực.
Long Trì, Phượng Các: bằng cấp của hai sao này rất cao, đặc biệt là khi đồng cung ở Mùi (với người tuổi Mão) hoặc ở Sửu (với người tuổi Dậu).
Thiên Hình: chỉ năng khiếu nhận xét tinh vi, phê phán phân minh, óc phân tích tỷ mỉ và sự lý luận sắc bén. Sao này đắc dụng cho người khảo cứu, cho luật gia, cho học trò, cho nhà phê bình nghệ thuật, văn chương. Văn của Thiên Hình lại khô khan, kỹ thuật, nhưng vô cùng chính xác.
Thái Tuế: sao này lanh lợi, nói giỏi, nhiều ý và nhất là nhiều lời, hoạt bát. Thái Tuế chỉ hợp với luật sư, công tố, ứng cử viên tranh cử, chính trị gia ...
Văn Tinh, Lưu Hà, Bác Sỹ: Văn Tinh chỉ sự ham học. Lưu Hà và Bác Sỹ chỉ sự hùng biện sự diễn đạt tư tưởng thâm thúy. Cả ba đều cần cho học trò, giáo sư, thuyết khách.
Hỏa Tinh, Linh Tinh đắc địa: Đi với Thái Dương sáng sủa, Hỏa Linh làm tăng thêm sự mẫn tiệp, có lợi cho sự học hỏi và khảo cứu, điều tra. Cả ba cùng là sao hỏa nên rất sắc bén, linh động.
Thiên Không: chỉ sự thông minh của hạng mưu sĩ, lưu manh, cắc cớ, gian xảo, dùng trí để hại, để phá, để diệt kẻ khác.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
![]() |
| Số 1 | Số 2 |
Mộc Trà (theo Buzz)