Cứ mỗi dịp đầu năm, mọi người lại có xu hướng quan tâm sát sao về vấn đề làm sao để kiếm được nhiều tiền hơn trong năm mới và cách bài trí phong thủy nào có thể khiến tài lộc thịnh vượng hơn. Vậy, trong năm 2014 này, cách trang trí nhà cửa nào sẽ giú
Cùng ## khám phá phong thủy nhà ở và tìm hiểu một số lời khuyên để bài trí ngôi nhà thuận phong thủy, thu hút thêm nhiều tiền bạc và may mắn trong năm 2014 như sau:
1. Bạn không nên đặt dàn âm thanh, bể cá hoặc treo một chiếc đồng hồ lớn ở hướng Nam của ngôi nhà trong năm 2014, bởi vì đây là hướng của sao Mộc trong năm nay. Bạn nên đặt những món đồ sáng sủa và sạch sẽ ở hướng này.
2. Bạn nên đặt bể cá ở hướng Tây Nam hoặc hướng Bắc. Nếu cả hai hướng này đều bất tiện thì tốt hơn hết là đặt nó ở hướng Tây.
3. Bạn nên bố trí tủ giày ở hướng Đông Bắc hoặc Đông Nam trong nhà. Nếu tủ giày được đặt ở hướng Bắc hoặc Tây Nam từ trước thì nên có sự di chuyển trong năm 2014 bởi vì đây là hai hướng tốt lành của năm. Bạn cần phải rất cẩn thận với mùi hôi của những đôi giày, do đó, bạn cần phải thay đổi vị trí và giữ cho tủ giày luôn sạch sẽ và không ám mùi hôi.
4. Nếu bạn có két sắt, tủ bảo hiểm, tiền mặt hoặc các giấy tờ có giá trị như chứng khoán ở nhà thì nên đặt chúng ở hướng Tây Nam, bởi vì đây là vị trí của ngôi sao Nhất Bạch – ngôi sao được coi là mang lại chiến thắng và thành công trong sự nghiệp.
5. Bạn nên kê giường ngủ ở hướng chủ về tài lộc năm 2014 để gặp nhiều thuận lợi về tài chính hơn. Đó là hướng Tây và Tây Nam. Bạn có thể kê giường ngủ ở vị trí tài chính để cải thiện tử vi về sự giàu có của cá nhân, bởi vì, chúng ta dành phần lớn thời gian trong ngày để ngủ.
6. Không quan trọng những thay đổi gì có thể xảy ra trong năm, vị trí tài lộc cố định không thể bị thay đổi. Có một nguyên tắc phong thủy là các góc chéo đối diện với cửa nói chung của ngôi nhà là vị trí tài chính có định. Bạn có thể thực hiện một số sắp xếp ở đây để tạo ra sự may mắn về tài lộc. Bạn cũng nên trưng bày một số cây xanh, đá quý, tượng thần tài lộc ở đây để thu hút sự may mắn.
7. Mọi năng lượng, kể cả sự lãng mạn sẽ “chảy” vào nhà bạn qua cửa chính, vì vậy hãy mở rộng cửa thường xuyên hơn để đón nhận tình yêu. Nếu bạn muốn tìm những điều mới mẻ thì hãy loại bỏ năng lượng trì trệ bằng cách dọn dẹp đống lộn xộn gần cửa nhà và chuẩn bị sẵn sàng chào đón may mắn gõ cửa.
8. Khu vực sự nghiệp trong nhà bạn liên quan đến cửa ra vào, vì vậy nếu cửa bị chặn, bạn sẽ gặp trở ngại trong con đường sự nghiệp. Đống lộn xộn, những cây cối um tùm làm giảm năng lượng và ngăn chặn dòng chảy tiền bạc. Đảm bảo cửa trước của bạn được mở thông thoáng và không có rác thải ở gần đó. Và nếu cánh cửa bị kẹt mỗi khi bạn mở, bạn đã bị lấy đi một ít năng lượng, hãy chữa ngay để cửa mở được nhẹ nhàng và dễ dàng.
9. Đồ dùng bị hỏng sẽ làm nảy sinh khó khăn trong công việc, vì vậy hãy đảm bảm mọi thứ luôn hoạt động. Ngoài ra, chú ý tới những hỏng hóc có thể làm giảm nguồn năng lượng tích cực của bạn.
10. Khu vực ăn uống là một phần quan trọng trong nhà, đảm bảo dòng chảy năng lượng tốt nhất cho ngôi nhà của bạn. Cố gắng giữ cho nó luôn gọn gàng, sạch sẽ. Trong phong thủy, bếu nấu tượng trưng cho sức khỏe, do đó, để nó dính bẩn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người trong gia đình bạn.
11. Giữ cho bàn làm việc luôn sạch sẽ. Các loại giấy tờ, hóa đơn ngổn ngang trên bàn tượng trưng cho sự cản trở bước đường thăng tiến trong công việc cũng như sự nghiệp của bạn.
Đồ đạc dành cho phòng làm việc ở nhà - nhất là bàn ghế - có thể tác động mạnh đến khả năng thành công và thịnh vượng. Khi đặt phòng làm việc, có thể bạn muốn sử dụng đồ có sẵn trong nhà hay tiết kiệm bằng cách sử dụng đồ cũ. Tuy nhiên, cả hai cách n
Đồ đạc dành cho phòng làm việc ở nhà – nhất là bàn ghế – có thể tác động mạnh đến khả năng thành công và thịnh vượng. Khi đặt phòng làm việc, có thể bạn muốn sử dụng đồ có sẵn trong nhà hay tiết kiệm bằng cách sử dụng đồ cũ. Tuy nhiên, cả hai cách này đều không phải là ý tưởng hay.
Khoa học lao động – sự tác động của hình dáng, kích thước và các đặc điểm thiết kế khác của bàn ghế và ánh sáng đối với con người – là điều rất quan trọng phải tính đến trong mọi không gian làm việc. Sử dụng chiếc ghế thừa trong phòng bếp chắc chắn sẽ tiết kiệm hơn nhiều so với mua một chiếc ghế văn phòng “phong cách quản trị” mới, nhưng nếu chiếc ghế đó không đem lại cảm giác thoái mái, bạn sẽ khó hoàn thành công việc. Thêm vào đó, một chiếc đèn ngủ không thể đủ chiếu sáng không gian làm việc.
Phải đặc biệt lưu ý đồ văn phòng cũ, vì chúng thường có khí xấu của người sứ dụng trước. Đừng bao giờ mua đồ cũ của một công ty bị phá sản, dù giá rất rẻ – chúng sẽ chất đây năng lượng thất bại, lo âu và thất vọng vào phòng làm việc của bạn. Còn nếu bạn biết chắc là người sử dụng trước đã kiếm được rất nhiều tiền một cách hợp pháp và có dạo đức thì đừng do dự, hãy mua ngay đồ vật ấy. Tất cà năng lượng thành công đó cũng sẽ giúp bạn thịnh vượng.
Đồ dùng lại của gia đình sẽ có năng lượng tốt hay xấu với bạn, tùy thuộc vào đặc tính của các mối quan hệ trong gia đình. Ví dụ, nếu bạn có quan hệ tốt với người bố và xem ông là mẫu hình, thì việc dùng lại bàn ghế của ông có thể giúp bạn cảm thấy được chăm sóc, giúp đỡ và khích lệ.
Nói chung, bàn làm việc kích cỡ to mang lại không gian năng lượng cho tư duy và phát triển. Tuy nhiên, quá nhiều đồ có kích cỡ to trong một căn phòng quá nhỏ sẽ chặn đứng khí và công việc mới vào phòng.
Nếu không thể kê bàn làm việc ở vị trí chỉ huy (nhìn ra cửa, nhưng không kê ngang cửa, có bức tường chống đở phía sau lưng), hãy dùng gương để phản chiếu các hình ảnh từ cửa. Hãy lưu ý là bàn làm việc ở vị trí chỉ huy chỉ giúp ích khi bạn có thể ra vào ghế ngồi một cách thoái mái, nếu không bạn sẽ có cảm giác bị lâm vào đường cùng” do tình hình công việc.
Cánh mày râu hiện nay thường đi tập thể hình để có cơ ngực săn chắc, ngoài mục đích rèn luyện sức khỏe, gìn giữ vóc dáng, thì việc cải thiện hình thể liệu có thể thay đổi được vận mệnh hay không?
Người đàn ông có vận mệnh tốt:
– Hai 2 bên ngực cân đối, bề ngang rộng hơn chiều dày, có hình thùng bẹt, thịt cơ ngực rắn chắc thì chủ về sự phú quý. – Ngực phẳng và rộng: là người tinh thần ổn định, vững vàng. – Ngực mọc lông đen nhánh: chủ về sự nổi danh. – Ngực phẳng, rộng và đầy: là người có trí tuệ, cuộc đời được hưởng phúc, lộc, thọ. – Ngực đầy đặn: là người có trí tuệ và trọng chữ tín.
Ảnh minh họa
Người đàn ông có vận mệnh xấu: – Ngực vẹo nghiêng, khuyết hãm: là người trí tuệ kém, bụng dạ hẹp hòi. – Ngực tối kỵ gồ nhọn như ức con gà: là tướng lười, hung dữ, hiếu sắc tham dâm. – Ngực dô, ngắn, hẹp, bé, mỏng: nghèo khổ. – Ngực dô ra trước: là người trí lực kém. – Ngực lõm mà nghiêng: chủ về sự nghèo khổ. – Ngực hẹp như bị bó lại: chủ về sự ngu độn. – Xương ngực dô như que củi: chủ về sự bần khổ. – Ngực lõm như rãnh nước: chủ bần hàn, độc ác. – Ngực hẹp mà dài: là người cuộc đời mưu sự khó thành. – Ngực cao thấp không đều: chủ về sự ngu muội, độc ác. – Nam giới ngực dô cao: chủ về sự ngu si; nữ thì chủ về tính dục mạnh.
► Xem bói 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn
Theo Xem tướng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Theo Phật gia, con người sống trên đời cứ mải miết đắm mê nhặt nhạnh thật nhiều của cải mà không để ý rằng một khi nhắm mắt chẳng thể nào mang theo được.
Con người sống trên đời cứ mải miết đắm mê nhặt nhạnh thật nhiều của cải mà không để ý rằng một khi nhắm mắt xuôi tay chẳng thể nào mang theo được. Mà cái đi theo người ta đó là chữ Nghiệp báo ứng cho đời sau. Biết được vậy khi còn sống nên xả bỏ dục vọng, tìm giải thoát mọi muộn phiền thế tục.
Thuở xưa có hai anh em cha mẹ mất sớm, để lại một gia sản to lớn. Không hiếu dưỡng được song thân, họ rất buồn tiếc…
Thời gian vùn vụt trôi, hai anh em từ chí hướng đến ý thích khác biệt nhau rất xa. Người anh thì mến đạo nghĩa, thường làm việc thiện như bố thí của cải, do đó gia sản càng ngày càng tổn giảm; còn người em thì mê tài sản, trổ tài mánh lới làm các thứ kinh doanh, nên gia sản càng ngày càng tăng thêm. Vì thế, người em rất bất mãn đời sống của anh mình. Một hôm, không chịu đựng được nữa, người em gọi anh ra lên mặt dạy dỗ:
“Anh em chúng ta bất hạnh nên cha mẹ mất sớm. Cha mẹ để lại gia tài cho chúng ta, chúng ta làm con, thì phải nhớ nghĩ đến từ tâm của cha mẹ, mau mau nỗ lực làm ăn buôn bán để giữ gìn và phát triển cái vốn gia sản sẵn có ấy khiến hương hồn của cha mẹ ở cõi trời được an ủi, thế mới đúng đạo làm con.
Đằng này, anh từ sáng tới tối cứ lo chạy theo mấy ông sa môn xuất gia để nghe kinh Phật, không lẽ mấy ông ấy có thể cho anh áo quần tiền tài hay sao? Gia đình anh càng ngày càng nghèo khó, tài sản càng ngày càng hao hụt, không những có lỗi với hương hồn cha mẹ mà còn làm cho làng xóm chê cười”.
Người anh ôn tồn trả lời: “Những gì chú nói, anh đã biết rõ hết, nhưng đó chỉ là những ý nghĩ thiển cận của thế tục. Chú nghĩ rằng mình phải bảo trì và khuếch trương sản nghiệp của cha mẹ mới là tận hiếu. Nhưng anh thì hoàn toàn không nghĩ như chú. Làm như thế chẳng qua chỉ cho chú có thêm điều kiện hưởng thụ, chứ vong hồn cha mẹ được lợi ích gì trong đó?
Còn anh thì lại lo giữ ngũ giới một cách nghiêm chỉnh, chuyên cần thực hành mười điều thiện, cúng dường Tam Bảo, lấy đạo cả mà cứu cha mẹ, khiến hương hồn cha mẹ được xa lìa nẻo khổ mà sinh về đường thiện, dần dần tiến đến chỗ giải thoát vĩnh hằng, đây mới là con đường báo hiếu chân chính.
Đạo và đời vốn tương phản nhau, cái mà đạo cho là sung sướng và quý giá thì đời lại chê là thấp hèn. Những gì chú cho là khoái lạc hôm nay, chính là gốc rễ của phiền não về sau. Anh không muốn đuổi theo những khoái lạc huyễn ảo như thế, cái khoái lạc mà người có trí huệ mong cầu là cái khoái lạc vĩnh hằng kìa!”
Người em nghe anh nói, cảm thấy mình không có lý lẽ để tranh cãi nhưng trong tâm thì không phục, bèn nén giận cúi đầu.
Người anh biết em mình không thể nói một lần mà hiểu, bèn phát biểu tâm chí muốn cầu học đạo của mình. Người em biết anh mình tâm đã cương quyết hướng về đạo nên im lặng, nén hận mà bỏ đi. Không lâu sau, người anh muốn cho việc học đạo của mình được chuyên tâm nên lìa bỏ gia đình, khoác y ôm bình bát làm sa môn, ngày đêm tinh tiến tu thiền, cẩn thận từng lời nói từng ý nghĩ, về sau chứng được quả A La Hán.
Người em nghe tin này, không những không vui mừng mà lòng phiền não giận hờn anh càng gia tăng thêm. Người này từ sáng đến tối lo làm ăn để tăng trưởng sự nghiệp cho đến mức đầu óc choáng váng, còn việc nhân sinh giải thoát thì không mảy may chú ý.
Cuối cùng, gia tài ức triệu nọ cũng không kéo dài được, đời sống vốn có giới hạn. Quả thật là chết đi không đem theo được bất cứ vật gì, chỉ có cái nghiệp là theo sát bên thân.
Trong lúc sống người em quá ư tham dục nên bị đọa xuống kiếp súc sinh, đầu thai làm trâu. Con trâu sinh ra mạnh khoẻ mập mạp, liền bị một người nhà buôn mua về kéo xe muối.
Kéo xe trèo dốc đường dài, lao khổ không phút nào ngừng nghỉ, con trâu mất sức, gầy mòn, mỗi lần lên dốc thở phì phò mà vẫn bị roi vọt, trông thật là thê thảm, thương tâm. Vừa đúng lúc ấy, người anh đi ngang dùng đạo nhãn quán sát con trâu, biết đây là em mình nên nói để khai mở trí huệ cho em:
“Chú một đời khổ cực, gia tài sản nghiệp chú gom góp được tính ra không biết bao nhiêu mà kể, bây giờ gia tài ấy đâu rồi? Trước kia, chú nói đạo cả là vô dụng vì không đem lại quần áo ăn uống, tiền tài mới đáng quý vì nó giúp chú thỏa mãn được mọi dục lạc. Bây giờ đạo cả lại làm cho anh giải thoát được luân hồi, chứng được quả thánh, còn tiền tài mà chú quý trọng tại sao lại không cứu chú thoát kiếp trâu mà sinh về nẻo thiện?”
Nói xong, người anh vận dụng thần thông khiến con trâu kiếp trước của mình. Con trâu tuy không nói được nhưng đau khổ rơi nước mắt, biết mình kiếp trước thấy đượcc có được thân người nhưng lại làm nhiều điều bất thiện, tham lam, ganh ghét, không tin Phật pháp, khinh chê thánh chúng, không nghe lời khuyên bảo thiện lành của anh, cho đến nỗi bây giờ đọa làm thân trâu, hối tiếc thì đã quá muộn.
Người anh biết em mình đã có tâm niệm hối hận và tự trách liền xin người chủ mua lại con trâu này, và đem mối quan hệ giữa mình và con trâu kể cho người chủ nghe. Người chủ trâu nghe xong tóc gáy dựng đứng rùng mình ghê sợ, không đòi tiền mà đem trâu dâng tặng cho người anh. Người anh dắt trâu về chùa phóng sinh, và dạy nó niệm Phật. Không lâu sau, con trâu chết đi, sinh lên cõi trời Đao Lợi.
Về sau, người chủ con trâu nghĩ đến vấn đề sinh tử luân hồi, cũng xả bỏ tất cả chuyên tâm tìm học đạo, cuối cùng được mãn nguyện, chứng được thánh quả, giải thoát phiền não.
Trong mỗi tứ trụ, can ngày được gọi là Nhật Can, nó đại diện cho người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là ngôi nhà của người có tứ trụ đó). Hành của can ngày được gọi là hành của Thân (Thân còn được gọi là Nhật Chủ) của người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là thân thể của người có tứ trụ đó).
Trong mỗi tứ trụ, can ngày được gọi là Nhật Can, nó đại diện cho người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là ngôi nhà của người có tứ trụ đó). Hành của can ngày được gọi là hành của Thân (Thân còn được gọi là Nhật Chủ) của người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là thân thể của người có tứ trụ đó). Qua đó chúng ta có thể so sánh hành của Thân với 4 hành còn lại (sau khi đã xét khả năng tác động giữa các can chi trong tứ trụ với nhau) để xem hành của Thân là mạnh hay yếu (thường được gọi là Thân vượng hay nhược). Đây là một khâu vô cùng quan trọng cho việc dự đoán vận mệnh của con người.
II - Mười thần của tứ trụ
1 - Mười thần Nhật Chủ chính là tôi, bản thân tôi, hành của Thân chính là hành của tôi, cho nên quan hệ của nó với các hành khác như sau : a - Cái sinh ra tôi chính là mẹ, mẹ kế người ta gọi là: Chính ấn (1), thiên ấn (2). b - Cái tôi sinh ra là con cái, người ta gọi là : Thực thần (3), thương quan (4) . c - Cái khắc tôi tức là tôi bị khống chế, người ta gọi là : Chính quan (5), thiên quan (6) đều là sếp, cấp trên của tôi. d - Cái tôi khắc là cái bị tôi khống chế, người ta gọi là : Chính tài là tiền hay là vợ của tôi (7), thiên tài là tiền hay là cha của tôi (8). e - Cái ngang tôi là anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, người ta gọi là : Ngang vai, thường gọi tắt là tỷ (9) và kiếp tài, gọi tắt là kiếp (10). Đó chính là mười thần có liên quan với tôi trong tứ trụ.
Ví dụ : Nếu Tứ Trụ của tôi có can ngày (tức Nhật Can) là Tân mà Tân mang hành Kim thì Thân của tôi là hành Kim, vì vậy ta có : Mậu (Thổ) sinh cho Tân (tôi) được gọi là chính ấn (vì can dương sinh cho can âm nên gọi là chính), thường được gọi là Ấn. Kỷ (Thổ) sinh cho Tân được gọi là thiên ấn (vì can âm sinh cho can âm nên gọi là thiên), thường được gọi là Kiêu. Tân sinh cho Nhâm (Thủy), vì vậy Nhâm được gọi là Thương Quan và sinh cho Quý (Thủy), vì vậy Quý được gọi là Thực Thần. Bính (Hỏa) khắc Tân, vì vậy Bính được gọi là chính quan, thường được gọi là Quan, Đinh (Hỏa) khắc Tân, vì vậy Đinh được gọi là thiên quan, thường được gọi là Sát. Tân khắc Giáp (Mộc), vì vậy Giáp được gọi là Chính Tài, Tân khắc Ất (Mộc), vì vậy Ất được gọi là Thiên Tài. Tân gặp can Tân được gọi là ngang vai, thường được gọi là Tỷ, Tân gặp Canh thường được gọi là Kiếp. Cách để xác định mười thần của Nhật Chủ trong các Tứ Trụ khác cũng tương tự như vậy.
2 – Tương sinh của 10 thần
Ví dụ:Một tứ trụ có Nhật Can (can ngày) là Tân (hay Canh) vì Tân mang hành Kim nên Thân của người này mang hành Kim, thì ta có sơ đồ tương sinh của mười thần như sau:
Qua sơ đồ ta thấy sự tương sinh của 10 thần hoàn toàn giống như sự tương sinh của ngũ hành.
3 – Tương khắc của 10 thần Mười thần là tài, quan, ấn, thực, thương….. của các can lộ hay tàng trong các địa chi trong tứ trụ. Mối quan hệ sinh khắc giữa chúng chính là mối quan hệ sinh khắc của ngũ hành. Mười thần nghiêng về phân tích người và sự việc, còn ngũ hành nghiêng về phân tích mức độ khí chất bẩm sinh của con người. Cả hai cái bổ xung cho nhau, không được xem nhẹ bên nào.
Ví dụ : Giả sử hành của chính quan của 1 tứ trụ là Mộc, chính quan đại diện cho chức vụ, quyền lực, thi cử,…. , vì vậy khi nó bị hành của thương quan là Kim khắc quá mạnh dễ bị mất chức, mất quyền, thi trượt,…… . Còn theo ngũ hành thì Mộc đại diện cho đầu, mặt, vai, tay, chân, gan, mật, thần kinh,… khi bị Kim khắc quá mạnh thì những bộ phận này dễ bị tổn thương. Trong trường hợp Mộc (hay chính quan) không bị khắc nhưng nếu có quá nhiều Mộc trong tứ trụ thì khi gặp tuế vận (đại vận và lưu niên) có nhiều Mộc hay có nhiều các hóa cục Mộc thì người đó cũng dễ bị các tai họa như vậy.
Nếu Tân (hay Canh) là Nhật Can thì ta có sơ đồ tương khắc của 10 thần của nó như sau :
Qua sơ đồ trên ta nhận thấy sự tương khắc của mười thần hoàn toàn tương tự như sự tương khắc của ngũ hành (tương khắc cách 1 ngôi).
Khi xét các thần trong tứ trụ và giữa tứ trụ với tuế vận ta phải căn cứ vào sự vượng suy của các thần (tức hành của nó), nếu thần nào quá vượng thì cần được xì hơi là tốt (tức là nó cần được sinh cho các thần khác), còn ngược lại nếu sinh hay giúp đỡ thêm cho nó thì dễ có tai họa. Tương tự nếu thần nào quá yếu thì nó cần được sinh hay được phù trợ cho vượng lên và dĩ nhiên nó rất sợ bị khắc. Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể biết thần đó là mạnh hay yếu? Muốn biết, chúng ta phải dựa vào bảng sinh vượng tử tuyệt để xem nó có vượng hay nhược ở tuế vận, cũng như xem nó có xuất hiện nhiều hay ít ở trong tứ trụ và ở tuế vận (bởi vì nếu thần đó là nhược nhưng có nhiều thì nó cũng có thể trở thành mạnh).
4 - Tính chất của mười thần . Mười thần trong tứ trụ đại diện cho công năng, chức vụ, quyền lực, tình cảm, tính cách, nghề nghiệp,…..như sau :
1 - Chính quan là cái khắc tôi, đại diện cho quan chức tốt, chính trực trong chính quyền điều hành xã hội, mà con người phải tuân theo pháp luật nhà nước, nói chung chính quan được coi là cát thần, nhất là khi Thân vượng. Công năng của chính quan trong mệnh là bảo vệ tài, áp chế Thân, khống chế tỷ và kiếp. Thân vượng tài nhược thì nên có chính quan để bảo vệ tài. Thân vượng mà ấn nhược thì chính quan sẽ sinh ấn và chế ngự Thân cho bớt vượng. Thân vượng kiếp nhiều thì chính quan sẽ khắc chế kiếp. Trong mệnh chính quan đại diện cho chức vụ, học vị, thi cử, bầu cử, danh dự, …. . Với nam Chính quan còn đại diện cho tình cảm với con gái. Vì nam lấy tài làm vợ, tài sinh quan và sát là con, nên nam lấy quan làm con gái, sát làm con trai (vì âm, dương khác với nhật can là con gái, giống là con trai). Tâm tính của chính quan : chính trực, có tinh thần trách nhiệm, đoan trang nghiêm túc, làm việc có đầu có đuôi. Nhưng dễ bảo thủ cứng nhắc, thậm chí là người không kiên nghị.
2 - Thất sát (thiên quan) là cái khắc tôi, nó thường đại diện cho quan lại xấu trong chính quyền. Trong mệnh thất sát chuyên tấn công lại Thân, cho nên Thân dễ bị tổn thương, khi đó cần có thực thương tới để khắc chế thất sát thì lại trở thành tốt (nghĩa là bắt quan xấu phải phục vụ cho mình “thất sát hóa thành quyền bính“). Nói chung khi Thân nhược thất sát được coi là hung thần. Công năng của thất sát làm tổn hao tài, sinh ấn, công phá Thân, khắc chế tỷ kiếp. Trong mệnh thất sát đại diện cho chức vụ về quân cảnh, hoặc nghề tư pháp, thi cử, bầu cử … Với nam thất sát còn đại diện cho tình cảm với con trai. Tâm tính của thất sát, hào hiệp, năng động, uy nghiêm, nhanh nhẹn ... .Nhưng dễ bị kích động, thậm chí dễ trở thành người ngang ngược, trụy lạc …
3 – Chính ấn là cái sinh ra tôi, khi Thân nhược thường được coi là cát thần, ấn có nghĩa là con dấu, đại diện cho chức vụ, quyền lợi, học hành, nghề nghiệp, học thuật, sự nghiệp, danh dự, địa vị, phúc thọ …. Chính ấn là sao thuộc về học thuật và còn đại diện cho tình cảm của mẹ đẻ. Công năng của chính ấn, sinh Thân, xì hơi quan sát, chống lại thực thương. Tâm tính của chính ấn, thông minh, nhân từ, không tham danh lợi, chịu đựng nhưng ít khi tiến thủ, thậm chí còn chậm chạp, trì trệ....
4 – Thiên ấn (Kiêu) là cái sinh phù tôi, đại diện cho quyền uy trong nghề nghiệp như nghệ thuật, nghệ sĩ, y học, luật sư, tôn giáo, kỹ thuật, nghề tự do, những thành tích trong dịch vụ.... Nó còn đại diện cho tình cảm của dì ghẻ. Công năng của thiên ấn sinh Thân, xì hơi quan sát để sinh cho Thân, chống lại thực thương. Mệnh có thiên ấn có thể phù trợ cho Thân nhược. Nhưng gặp thực thần là mệnh lao dịch, vất vả. Thiên ấn quá nhiều thì đó là người phúc bạc, bất hạnh, tật bệnh hoặc con cái khó khăn khi đó chỉ có thiên tài mới có thể giải được các hạn này. Người mà tứ trụ có Thân vượng, còn có kiêu, tài và quan tất là người phú quý. Mệnh có thiên ấn lại còn gặp quan sát hỗn tạp (có cả chính quan và thiên quan, không tính Quan và Sát là tạp khí) là người thắng lợi nhiều mà thất bại cũng lắm. Nói chung khi Thân vượng thiên ấn được coi là hung thần. Tâm tính của thiên ấn, tinh thông tay nghề, phản ứng nhanh nhậy, nhiều tài nghệ, nhưng dễ cô độc, thiếu tính người, thậm chí ích kỷ, ghẻ lạnh...
5 – Ngang vai là ngang tôi (là can có cùng cùng hành và cùng dấu với Nhật Can), gọi tắt là tỷ. Đại diện cho tay chân cấp dưới, bạn bè, đồng nghiệp, cùng phe phái, tranh lợi, đoạt tài, khắc vợ, khắc cha ,… Nữ đại diện cho tình chị em, nam đại biểu cho tình anh em. Công năng của ngang vai có thể giúp Thân khi Thân nhược, cũng như tài nhiều (của cải nhiều) nhờ ngang vai giúp Thân để khỏi mất của. Nhưng Thân vượng lại có ngang vai nhiều mà không bị chế ngự là tay chân cấp dưới không hòa thuận, hoặc kết hôn muộn, tính tình thô bạo, cứng nhắc, cố chấp, không hòa hợp với cộng đồng, khắc cha, khắc vợ, làm nhiều mà không gặp tiền của. Tâm tính của ngang vai, chắc chắn, cương nghị, mạo hiểm, dũng cảm, có chí tiến thủ, nhưng dễ cô độc, ít hòa nhập, thậm chí cô lập, đơn côi. Nói chung khi thân vượng ngang vai được coi là hung thần (vì lúc đó nó tranh đoạt tài với Thân).
6 - Kiếp tài cũng là ngang tôi (là can cùng hành nhưng khác dấu với Nhật Can), gọi tắt là kiếp. Nó đại diện cho tay chân cấp dưới, bạn bè, tranh lợi đoạt tài, khắc vợ, khắc cha, lang thang.... Thân vượng mà có nhiều kiếp cũng giống như ngang vai ở trên. Nữ đại diện cho tình anh em, nam đại diện cho tình chị em.... Công năng của kiếp cũng giống như của ngang vai. Tâm tính của kiếp tài là nhiệt tình, thẳng thắn, ý chí kiên nhẫn, phấn đấu bất khuất, nhưng dễ thiên về mù quáng, thiếu lý trí, thậm chí manh động, liều lĩnh....
7 - Thực thần là cái mà nhật can sinh ra (cùng dấu với Nhật Can). Đại diện cho phúc thọ, người béo, có lộc. Nữ đại diện cho tình cảm với con gái. Công năng của thực thần làm xì hơi Thân, sinh tài, đối địch với thất sát, làm quan bị tổn thương. Khi gặp sát thì có thể chế phục làm cho Thân được yên ổn không có tai họa, nên nói chung được xem là cát thần. Tâm tính của thực thần, ôn hòa, rộng rãi với mọi người, hiền lành, thân mật, ra vẻ tốt bề ngoài nhưng trong không thực bụng, thậm chí nhút nhát, giả tạo. Can chi đều có thực thần thì phúc lộc dồi dào, nhưng không thích hợp cho người công chức mà thích hợp với những người làm nghề tự do. Mệnh nữ có thực thần là hay khinh rẻ chồng. Thực và sát cùng một trụ là người có dịp nắm quyền bính nhưng dễ bị vất vả, lao khổ, tai ách và ít con. Can có thực thần, chi có ngang vai là chủ về người có thân thích, bạn hữu hoặc tay chân giúp đỡ. Can là thực thần, chi là kiếp tài là chủ về người phúc đức giầu có, khi gặp điều xấu vẫn có lợi. Thực thần có cả kiếp tài, thiên ấn đi kèm là người dễ đoản thọ (?). Người tài nhiều thì diễm phúc ít. Thực thần lâm trường sinh vượng địa hoặc cát thần thì phúc lộc nhiều, phần nhiều là người phúc lộc thọ toàn diện. Thực thần lâm tử, tuyệt, suy thì phúc ít, bạc mệnh. Thực thần lâm mộ địa là người dễ chết yểu (?).
8 – Thương quan cũng là cái nhật can sinh ra (nhưng khác dấu với Nhật Can). Đại diện cho bị mất chức, bỏ học, thôi việc, mất quyền, mất ngôi, không chúng tuyển, không thi đỗ, không lợi cho người nhà và chồng. Nữ đại diện cho tình cảm với con trai. Công năng của thương quan làm xì hơi Thân, sinh tài, đối địch với thất sát, làm thương tổn quan. Sợ nhất là “thương quan gặp quan là họa trăm đường ập đến“. Nói chung thương quan được xem là hung thần, nhất là khi Thân nhược. Tâm tính thông minh, hoạt bát, tài hoa dồi dào, hiếu thắng, nhưng dễ tùy tiện, thiếu sự kiềm chế ràng buộc, thậm chí tự do vô chính phủ.... Người thương quan lộ rõ (lộ và vượng) tâm tính thanh cao hiên ngang, dám chửi mắng cả quỷ thần. Nhật Can vượng thì lại càng hung hăng hơn, loại người này tính xấu. Những người bề trên cũng không dám đụng đến nó, kẻ tiểu nhân thì càng sợ mà lánh cho xa. Nhưng thương quan vượng mà Thân nhược thì tính tình vẫn là thương quan, chỉ có điều không ghê gớm đến như thế. Thương quan trong tứ trụ nếu có Thân vượng thì nó là hỷ dụng thần khi hành đến vận tài phú quý tự nhiên đến.
9 – Chính tài là cái bị Thân khắc (có dấu khác với Nhật Can) là cái nuôi sống tôi. Đại diện cho tài lộc, sản nghiệp, tài vận, tiền lương. Còn đại diện cho vợ cả (với nam). Công năng là sinh quan và sát, xì hơi thực thương, áp chế kiêu thần làm hại chính ấn. Nói chung chính tài được coi là cát thần. Tâm tính cần cù, tiết kịêm, chắc chắn, thật thà, nhưng dễ thiên về cẩu thả, thiếu tính tiến thủ, thậm chí trở thành nhu nhược, không có tài năng.... Người Thân vượng, tài vượng là bậc phú ông trong thiên hạ, nếu có cả chính quan là phú quý song toàn, nam thì được vợ hiền nội trợ tốt. Ngược lại người Thân nhược mà tài vượng thì không những nghèo mà cầu tài rất khó khăn, trong nhà vợ nắm quyền hành. Tài nhiều thường không lợi cho đường học hành, là người dốt nát. Địa chi tàng tài là tài phong phú, tài thấu ra là người khảng khái. Tài có kho (ví dụ : nếu ất là tài thì kho là dần và mão hay tàng trong các chi Thổ) khi gặp xung tất sẽ phát tài (như tài là Ất, Mậu hay Quý tàng trong Thìn khi gặp Tuất ở tuế vận xung Thìn). Thân vượng có chính tài còn gặp thực thần là được vợ hiền giúp đỡ. Chính tài và kiếp tài cùng xuất hiện trong tứ trụ thì trong cuộc đời dễ gặp phải tiểu nhân nên tài dễ bị tổn thất.
10 – Thiên tài cũng là cái bị Thân khắc (nhưng cùng dấu với Nhật Can) cũng là cái nuôi sống tôi. Đại diện cho của riêng, trúng thưởng, phát tài nhanh, đánh bạc, tình cảm với cha. Với nam còn đại diện cho tình cảm với vợ lẽ. Công năng của thiên tài: sinh quan sát, xì hơi thực thương, áp chế kiêu thần, làm hại chính ấn. Nói chung thiên tài được coi là cát thần. Tâm tính của thiên tài, khảng khái, trọng tình cảm, thông minh, nhậy bén, lạc quan, phóng khoáng, nhưng dễ thiên về ba hoa, bề ngoài, thiếu sự kiềm chế, thậm chí là người phù phiếm.... Thiên tài đại diện cho cha hoặc vợ lẽ, hoặc nguồn của cải bằng nghề phụ. Thân vượng, tài vượng, quan vượng thì danh lợi đều có, phú quý song toàn. Thiên tài thấu can thì kỵ nhất gặp tỷ và kiếp, vì như thế vừa khắc cha lại làm tổn hại vợ (với nam). Can chi đều có thiên tài là người xa quê lập nghiệp trở lên giầu có, tình duyên tốt đẹp, của cải nhiều. Thiên tài được lệnh (vượng ở tháng sinh) là cha con hoặc thê thiếp hòa thuận, được của nhờ cha hoặc nhờ vợ, cha và vợ đều sống lâu, vinh hiển (?). Thiên tài lâm mộc dục là người háo sắc phong lưu. Thiên tài lâm mộ địa là cha hoặc vợ dễ chết sớm (?). Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Người 30 năm đoán chính xác bầu cử tổng thống Mỹ chọn Trump
Chủ nhật, 25/9/2016 | 20:40 GMT+7 Giáo sư Allan Lichtman, người 30 năm dự đoán đúng tổng thống Mỹ đắc cử, tin Donald Trump sẽ giành chiến thắng trong cuộc đua vào Nhà Trắng.
Giáo sư, nhà sử học Allan Lichtman cho rằng ứng viên tổng thống đảng Cộng hòa Donald Trump sẽ giành thắng lợi sít sao trong cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới và trở thành người lãnh đạo nước Mỹ, theo Esquire. Từ năm 1984 tới nay, ông Lichtman, đến từ Đại học American ở Washington, đã dự đoán đúng tất cả các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ.
"Dựa trên 13 điểm mấu chốt, tôi đoán chiến thắng sẽ thuộc về Donald Trump", Lichtman nói. Ông sử dụng những dữ liệu lịch sử, thiết lập nên một hệ thống mệnh đề đúng/sai, đặt tên là "Chìa khóa vào Nhà Trắng", để đưa ra lựa chọn. Mỗi điểm mấu chốt là một yếu tố giúp xác định liệu đảng cầm quyền sẽ thua hay thắng trong cuộc bầu cử.
Lichtman xây dựng hệ thống trên bằng cách theo dõi, quan sát tất cả các kỳ bầu cử tổng thống Mỹ từ năm 1860 đến 1980. Ông sau đó sử dụng công cụ này dự đoán chính xác kết quả của cả 8 kỳ gần đây nhất.
Theo phân tích của ông, 6 trong 13 điểm mấu chốt đều ra kết quả có lợi cho ứng viên Trump, vì thế nhà tài phiệt New York nhiều khả năng sẽ đắc cử thành tổng thống Mỹ.
Khi bày trí căn phòng, bạn nên để ý vài chi tiết dưới đây nếu không muốn sống mãi kiếp FA nhé. 1. Đồ vật gợi nhớ tình cũ Việc lưu giữ đồ vật của tình cũ không những khiến bạn khó quên quá khứ mà còn nhắc bạn nhớ về người ta với những so sánh khập kh
Khi bày trí căn phòng, bạn nên để ý vài chi tiết dưới đây nếu không muốn sống mãi kiếp FA nhé.
1. Đồ vật gợi nhớ tình cũ
Việc lưu giữ đồ vật của tình cũ không những khiến bạn khó quên quá khứ mà còn nhắc bạn nhớ về người ta với những so sánh khập khiễng. Kết quả, nó ảnh hưởng đến mối tình hiện tại, nó khiến người mới nhận ra bạn vẫn chưa sẵn sàng để bước vào cánh cửa khác. Hãy nhớ, chuyện đã qua đừng bới nó lại.
2. Đồ vật đơn độc, không có đôi
Khi bước vào tình yêu, đồ vật đơn lẻ như ghế đơn, giường đơn hoặc những thứ gợi lên sự cô độc rất cần thay thế bằng vật dụng có đôi có cặp. Điều đó sẽ giúp bạn tiến xa và có khả năng tiến tới hôn nhân dễ dàng hơn.
3. Đồ vật quá cá tính
Hiện người trẻ rất thích phơi bày sự cá tính và nói lên cái tôi của bản thân qua cách bài trí căn phòng, điều đó thật sự đáng báo động. Việc bài trí quá lố, thể hiện cá tính quá mức sẽ khiến bạn trở nên cô độc, người khác khó tiếp cận và tạo khoảng cách nhất định trong tình yêu.
. Đồ vật thể hiện sự trẻ con
Các bạn nữ rất thích bài trí căn phòng đầy ắp búp bê và thú nhồi bông. Những đồ vật này tuy dễ thương nhưng nếu quá nhiều sẽ khiến đối phương có cảm giác bạn chưa trưởng thành, còn trẻ con và thiếu thực tế.
5. Đồ vật tạo nên áp lực tinh thần
Những đồ vật có góc cạnh hoặc sắc bén nên hạn chế bài trí trong căn phòng, nó vô tình khiến chủ nhân cảm thấy nặng nề về mặt tâm lý, cũng như khiến người đang yêu cảm thấy áp lực về chuyện tình cảm.
Thần sát trong mệnh cục của Tứ trụ , trong các sách cổ, có sách khẳngđịnh, cũng có sách phủ định. Theo kiểm nghiệm trong dự đoán thực tế có thểkhẳng định thần sát có vai trò của nó, có cái tác dụng lớn như kình dương dùngđể đoán việc xấu rất chuẩn. Còn những thần sát khác như hoa cái, thiên y, trạchmã, đào hoa, v.v là dùng bàn về khác như hoa cái, thiên y, trạch mã, đào hoa, v.v. làdùng để bàn về tính cách của con người và nghề nghiệp rất hay. Còn trong dựđoán cát hung cho một đời người thì tác dụng của những thần sát này không nổi bật như kình dương, thiên đức,nguyệt đức.
Thần sát phần nhiều lấy địa chi làm căn cứ, nên nó có thể làm tăng thêm lực hình, xung, hợp , hại. Thầy Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn sách “Chu dịch dự đoán học” và “Dự đoán theo Tứ trụ” đã thu hút những tinh hoa của các hiền nhân để đi đến những kiến giải độc đáo trong thực tiễn dự đoán. Vì vậy ở đây không bàn chi tiết nữa, mà giống như cuốn sách “Nhập môn chu dịch dự đoán học”, ở đây cũng chỉ đưa ra những phương pháp ghi nhớ các quy luật một cách nhanh nhất để giới thiệu cho mọi người.
1. CÁT THẦN VÀ HUNG SÁT
Cái gọi là cát thần thực ra không phải là nói trong Tứ trụ cát thần càng nhiều càng tốt, hay cái gọi là hung sát cũng không phải là nói trong Tứ trụ không có là tốt. Rất nhiều thần sát luôn luôn có cát, có hung. Từ kinh nghiệm đã tổng kết được ta thấy người có nhiều thần sát là mệnh cục tương đối phức tạp, nhưng nếu tổ hợp Tứ trụ tốt lại phối với thần sát thì người đó thường là những người siêu quần xuất chúng. Còn nói chung đối với người dân bình thường thì thần sát không nhiều, thần sát càng ít thì việc dự đoán càng đơn giản. Đương nhiên mọi việc không bao giờ là tuyệt đối, cũng như người hung sát nhiều chưa chắc đã gặp xấu, mấu chốt của vấn đề là phải xem các tổ hợp của Tứ trụ và tổ hợp của tuế vận là hỉ hay là kị.
Ngoài ra thần sát hoặc cát hoặc hung cũng không phải là tuyệt đối, mà chỉ có thể nói rằng một thần nào đo lấy cát làm chính, một sát nào đó lấy hung làm chính. Cát thần mà gặp phải hình xung khắc hại thì cũng như không có, hung sát mà bị chế hợp không đủ sức để làm hại thì cũng chẳng còn gì đáng gọi là kị. Nói chung các thiên can và các địa chi đóng địa chi đóng dưới nó gặp phải cát thần hay hung sát nhờ đó mà trở thành vượng hay suy. Phải xem các can chi đó bị hình hợp , xung khắc hay không để xem nó tác dụng hay không có tác dụng. Trong mệnh cục gặp được cát thần thì cả cuộc đời thuận lợi trọn vẹn, trong vận, trong năm gặp được cát thần thì đã tốt càng thêm tốt. Trong Tứ trụ kị gặp hung thần vì như thế cả cuộc đời hay bị tai hoạ, trong vận, trong năm gặp phải hung thần thì hung càng thêm hung.
Chương này chỉ giới thiệu những cát thần và hung sát có tác dụng nổi bật, còn những thần, sát khác ít có tác dụng hoặc ít gặp thì không bàn đến. Cách tra thần, sát rất nhiều. Độc giả tự tìm cách nhớ thuận tiện cho mình là được .
2. THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC
Lấy tháng sinh để tra các thiên can hoặc địa chi trong Tứ trụ .
1. Thiên đức quý nhân.
Tháng tí thấy tị, tháng sửu thấy canh, tháng dần thấy đinh, tháng mão thấy thân, tháng thìn thấy nhâm, tháng tị thấy tân, tháng ngọ thấy hợi, tháng mùi thấy giáp, tháng thân thấy quý, tháng dậu thấy dần, tháng tuất thấy bính, tháng hợi thấy ất.
Phàm người tháng sinh tra thấy các can chi trong Tứ trụ như ở trên là có thiên đức quý nhân.
Cách tra thiên đức quý nhân của người sinh vào tháng tí, ngọ, mão, dậu là từ ngôi trường sinh của ngũ hành mà ra. Ngoài ra còn có cách gọi tháng tí gặp quẻ tốn thìn là thủy đức, vì nguồn xuất thuỷ quy mộ về cung tốn ; tháng mão gặp quẻ khôn mùi là mộc đức, vì nguồn xuất mộc quy mộc về cung khôn ; tháng ngọ gặp quẻ càn tuất là hoả đực, vì nguồn xuất hỏa quy mộ về cung càn ; tháng dậu gặp quẻ cấn sửu là kim đức, vì nguồn xuất kim quy mộ về cung cấn, tức là lấy ngũ hành dương vượng, chính ngôi phối với mộ, tức là quẻ của bản cung mà ra. Thiên đức chỉ dùng địa chi , không dùng thiên can, cho nên lấy bốn quẻ trên. Trong kiểm thực tế lấy chính ngôi trường sinh để xác định tháng tí, ngọ, mão, dậu còn chia ra thành tị, hợi, thân, dần là khá chuẩn. Độc giả có thể căn cứ vào thiên, nguyệt đức của những người sinh vào bốn tháng trên, xem xét quá trình gặp hung hóa cát của họ để kiểm nghiệm.
2. Nguyệt đức quý nhân
Lấy chi tháng làm chủ để tra các thiên can trong Tứ trụ .
Sinh các tháng dần, ngọ, tuất thấy bính ;
Sinh các tháng thân , tí, thìn thấy nhâm ;
Sinh các tháng hợi, mão, mùi thấy giáp ;
Sinh các tháng tị, dậu, sửu thấy canh ;
Phương pháp nhớ cách tra nguyệt đức là căn cứ vào khí của tam hợp , ví dụ dần, ngọ, tuất thuộc hỏa thì lấy bính hỏa làm đức ; thân, tí, thìn thuộc thuỷ thì lấy nhâm thuỷ làm đức ; tí, dậu, sửu thuộc kim thì lấy canh kim làm đức ; hợi, mão, mùi thuộc mộc thì lấy giáp mộc làm đức để quy nạp. Phàm các tháng trong cục gặp can dương vượng khí đều là gặp nguyệt đức .
Hai quý nhân thiên đức và nguyệt đức đều chủ về người có cuộc đời không nguy hiểm. Thiên đức quý nhân là cát tinh phúc tường, tính tình nhân từ đôn hậu, cuộc đời phúc nhiều, ít nguy hiểm, gặp hung hóa thành cát, hóa hiểm thành an, như là có thần bảo hộ. Nguyệt đức quý nhân là cát tinh phúc thọ. Trong Tứ trụ có cả thiên, nguyệt đức là người có năng lực gặp hung hóa các rất mạnh, gặp được cát thần thì càng thêm tốt, gặp phải hung thần cũng bớt xấu rất nhiều, nhưng gặp phải xung khắc thì vô dụng.
3. THIÊN ẤT QUÝ NHÂN
Cách tra là lấy can ngày hoặc can năm làm chủ để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Can ngày, năm là giáp, mậu thấy sửu, mùi ;
Can ngày, năm là ất, kỷ thấy tí, thân ;
Can ngày, năm là canh , tân thấy dần , ngọ ;
Can ngày, năm là nhâm , quý thấy mão , tị ;
Người mà trong Tứ trụ tra được như trên là có thiên ất quý nhân. Cát tinh này chủ về thông minh, trí tuệ, là thần gặp hung hóa cát. Nếu hợp hóa thành dụng thần, hoặc hỉ thần là rất tốt, rất kị gặp hình, xung, khắc, hại, suy, bệnh, tử, tuyệt. Người mà thân vượng thì phúc đức càng tăng thêm, cuộc đời ít bệnh tật, người mà thân nhược thì bệnh nhiều hoặc giảm phúc quý.
Thiên ất quý nhân là ngôi sao ở phía trái sao tử vi trong thiên thể, là chủ tể của muôn thần. Trụ năm hoặc trụ tháng gặp được hai quý nhân là có ý phân âm dương để trị, hàm ý trong ngoài có khác nhau. Thìn, tuất là vị trí của sao khôi canh, cho nên quý nhân không đến.
4. LỘC THIÊN CAN
Lấy can ngày làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Phàm can ngày mà gặp lộc trên chi năm gọi là tuế lộc, trên chi tháng là kiến lộc, trên chi ngày là chuyên lộc, tọa lộc, trên chi giờ là quy lộc. Thần lộc vượng mà gặp địa chi kiếp tài, không gặp phải hình xung, khắc, phá là chủ về công danh thuận lợi. Thân vượng mà lộc nhiều nên bị khắc cho xì hơi, thân nhược mà lộc vượng lại không bị phá đều là quý mệnh. Lộc kị bị xung phá , ví dụ giáp lộc là dần, gặp thân là bị phá , mão lộc kị gặp dậu, tị lộc kị gặp hợi, ngọ lộc kị gặp tí. Vì quan viên gặp phải thì mất quan mất chức, nghèo khổ hư danh, người thường gặp phải thì phải cơm áo không no, bôn ba vất vả.
Ngày giáp lộc ở dần ; ngày ất lộc ở mão.
Ngày bính, mậu lộc ở tị ; ngày đinh, kỷ lộc ở mão.
Ngày canh lộc ở thân ; ngày tân lộc ở dậu .
Ngày nhâm lộc ở hợi ; ngày quý lộc ở tý.
Lộc nhờ có thế lực mà được hưởng thì được gọi là lộc, là cát thần. Lộc là khí của bốn mùa, tuỳ theo ngũ hành vượng, trong đó bính lộc ở tị, đinh lộc ở ngọ, mậu lộc ở tị, kỉ gửi ở ngọ, hỏa sinh thổ là tí nhờ mẹ mà được hưởng lộc, thìn, tuất là khôi canh là chỗ ác địa, kém cỏi cho nên lộc thần không gửi. Sửu mùi là cửa xuất nhập của thiên ất quý nhân cho nên lộc lánh xa, do đó không có lộc. Cách nhớ thập can lộc chỉ cần nhớ can ngày, bản khí của nó là địa chi là được . Ví dụ dần mộc tàng can của bản khí là giáp mộc.
5. VĂN XƯƠNG
Cách tra là lấy can ngày, can năm làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Can ngày, năm giáp thấy tị ;
Can ngày, năm ất thấy ngọ ;
Can ngày, năm bính, mậu thấy thân ;
Can ngày, năm đinh, tị thấy dậu ;
Can ngày, năm canh thấy hợi ;
Can ngày, năm tân thấy tí ;
Can ngày, năm nhâm thấy dần ;
Can ngày, năm hợi thấy mão ;
Những người trong Tứ trụ tra thấy như trên gọi là có sao văn xương.
Sao văn xương nhập mệnh thì thông minh hơn người . Trong Tứ trụ kiêm có học đường thì chủ về học tập ưu tú, khí chất nho nhã, và còn có tác dụng gặp xung hoá cát.
Sao văn xương là thực thần lâm quan, là chỗ trường sinh. Ví dụ giáp lấy bính làm thực thần, bính lâm quan ở tị cho nên giáp lấy tị làm văn xương. Căn cứ nguồn gốc của sao văn xương ta có thể tìm ra cách nhớ.
Chọn năm sinh con không còn là chuyện xưa nay hiếm hiên nay với các ông bố bà mẹ hiện đại. Với những tư tưởng cải tiến, việc lựa chọn năm sinh tháng đẻ cho con cái mình dựa theo Khoa Học Phong Thủy Ngũ Hành giúp cho các bậc cha mẹ tự tin hơn để sinh
con và giúp con cái mình có những bước tiến vững chắc đầu đời.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Ngũ Hành
Ngũ Hành của bản mệnh là yếu tố đầu tiên được xem xét đến khi chọn năm sinh con. Quy luật tương sinh tương khắc của Ngũ Hành rất đơn giản và dễ nhớ:
Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc – Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ – Thổ sinh Kim Kim khắc Mộc – Mộc khắc Thổ – Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa – Hỏa khắc Kim Như vậy, khi sinh con cần lựa chọn năm sinh để con không khắc với bố mẹ và ngược lại. Ví dụ: Bố mệnh Kim, mẹ mệnh Hỏa thì có thể chọn con sinh năm có bản mệnh Thổ là hợp tương sinh nhất.
Thông thường con khắc bố mẹ gọi là Tiểu Hung, bố mẹ khắc con là Đại Hung, nếu không tránh được Hung thì nên chọn Tiểu Hung sẽ đỡ xấu rất nhiều.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Thiên Can
Thiên Can (hay còn gọi là Can) là cách đánh số theo chu kỳ 10 năm (Thập Can) của người Trung Hoa cổ. Can cũng phối hợp được với Ngũ Hành và Âm Dương:
Can
Năm
Hành
Âm – Dương
Giáp
Cuối cùng là 4 (94,04,14…)
Mộc
Dương
Ất
Cuối cùng là 5 (95,05,15…)
Mộc
Âm
Bính
Cuối cùng là 6 (96,06,16…)
Hỏa
Dương
Đinh
Cuối cùng là 7 (97,07,17…)
Hỏa
Âm
Mậu
Cuối cùng là 8 (98,08,18…)
Thổ
Dương
Kỷ
Cuối cùng là 9 (99,09,19…)
Thổ
Âm
Canh
Cuối cùng là 0 (00,10,20…)
Kim
Dương
Tân
Cuối cùng là 1 (01,11,21…)
Kim
Âm
Nhâm
Cuối cùng là 2 (02,12,22…)
Thủy
Dương
Quý
Cuối cùng là 3 (03,13,23…)
Thủy
Âm
Trong Thiên Can có 4 cặp tương xung (xấu) và 5 cặp tương hóa (tốt), làm cơ sở để lựa chọn năm sinh phù hợp:
4 cặp tương xung (xấu)
5 cặp tương hóa (tốt)
Giáp xung Canh
Ất xung Tân
Bính xung Nhâm
Đinh xung Quý
Giáp – Kỷ hoá Thổ
Át – Canh hoá Kim
Bính – Tân hoá Thuỷ
Đinh – Nhâm hoá Mộc
Mậu – Quý hoá Hoả
Như vậy, chọn năm sinh của con sẽ có thể dùng Thiên Can để so với bố mẹ dựa vào các cặp tương xung và tương hóa. Nếu Thiên Can của con và bố mẹ có tương hóa mà không có tương xung là tốt, ngược lại là không tốt. Ví dụ: Bố sinh năm 1979 (Kỷ Mùi), mẹ sinh 1981 (Tân Dậu), con sinh 2010 (Canh Dần) thì bố mẹ và con không có tương xung cũng như tương hóa và ở mức bình thường.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Địa Chi
Địa Chi (hay còn gọi là Chi) là cách đánh số theo chu kỳ 12 năm (Thập Nhị Chi) và nói đơn giản là 12 con giáp cho các năm. Chi từng được dùng để chỉ phương hướng, bốn mùa, ngày, tháng, năm, giờ ngày xưa và Chi gắn liền với văn hóa phương Đông.
Khi xem hợp – xung theo Chi, có các nguyên tắc cơ bản sau:
Tương hình (12 Địa Chi có 8 Chi nằm trong 3 loại chống đối)
Lục xung (6 cặp tương xung)
Tương hại (6 cặp tương hại)
Lục hợp (các Địa Chi hợp Ngũ Hành)
Tam hợp (các nhóm hợp nhau)
Tương hình
Lục xung
Tương hại
Tý chống Mão;
Dần, Tỵ, Thân chống nhau;
Sửu, Mùi, Tuất chống nhau.
Hai loại tự hình: Thìn chống Thìn, Ngọ chống Ngọ.
Dậu và Hợi không chống gì cả.
Tý xung Ngọ (+Thuỷ xung + Hoả)
Dần xung Thân (+ Mộc xung + Kim)
Mão xung Dậu (-Mộc xung -Kim)
Thìn xung Tuất (+Thổ xung +Thổ)
Tỵ xung Hợi (-Hoả xung -Thuỷ)
Tý hại Mùi
Sửu hại Ngọ
Dần hại Tỵ
Mão hại Thìn
Thân hại Hợi
Dậu hại Tuất.
Thông thường để đơn giản trong Tương Hình, Lục Xung, người ta thường ghép thành 3 bộ xung nhau gọi là Tứ Hành Xung:
Dần – Thân – Tỵ – Hợi
Tí – Dậu – Mão – Ngọ
Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
Tuy nhiên cũng không hoàn toàn chính xác. Ví dụ: Dần và Hợi không xung, Mão và Ngọ không xung, Ngọ và Dậu không xung, Tí và Dậu không xung, Thìn và Mùi không xung, Thìn và Sửu không xung.
Lục hợp
Tam hợp
Tý-Sửu hợp Thổ
Dần-Hợi hợp Mộc
Mão-Tuất hợp Hoả
Thìn-Dậu hợp Kim
Thân-Tỵ hợp Thuỷ
Ngọ-Mùi: Thái dương hợp Thái âm.
Thân-Tí-Thìn hoá Thuỷ cục
Hợi-Mão-Mùi hoá Mộc cục
Dần-Ngọ-Tuất hoá Hoả cục
Tỵ-Dậu-Sửu hoá Kim cục.
Như vậy, nếu dựa theo Địa Chi, việc chọn năm sinh, tuổi sinh cần chọn Lục Hợp, Tam Hợp và tránh Hình, Xung, Hại. Ví dụ: Bố tuổi Dần thì tránh con tuổi Thân, Tỵ, Hợi sẽ tránh được Xung của Địa Chi.
Nói tóm lại, lựa chọn năm sinh con để hợp tuổi bố mẹ có thể dựa vào Ngũ Hành, Thiên Can hoặc Địa Chi, cũng có thể dựa vào cả 3 yếu tố trên và lựa chọn phương án tốt nhất. Tuy nhiên, các yếu tố này cũng chỉ là một phần trong cuộc đời con người, cũng có nhiều trường hợp bố mẹ khó chọn được 1 dải năm để sinh con hợp tuổi do vậy không nên nhất thiết phải chọn năm để sinh, còn rất nhiều yếu tố khác như môi trường, xã hội, gia đình… hay kể cả về lý số cũng còn yếu tố Tử Vi để xem hung cát.
Mua nhà là đại sự, cần xem xét kĩ lưỡng về phong thủy để chọn được nơi ở tốt, vận khí cát. Dưới đây là 5 yếu tố phong thủy khi mua nhà cần phải hết sức lưu ý.
Mua nhà là đại sự, cần xem xét kĩ lưỡng về phong thủy để chọn được nơi ở tốt, vận khí cát, mang tới may mắn cho chủ nhân. Dưới đây là 5 yếu tố phong thủy khi mua nhà cần phải hết sức lưu ý.
Xem thêm video clip: Top 3 con giáp tiêu tiền không phải nghĩ trong tháng 7
► Lichngaytot.com gửi tới bạn đọc công cụ xem hướng nhà và tra cứu thước lỗ ban chuẩn xác
1. Cấu tạoMột ngôi nhà được coi là có phong thủy cát khi mà có cấu tạo hợp lý, ngược lại sẽ là rất hung nếu ngôi nhà bố trí phạm phải các vấn đề cấm kị. Nhà khuyết góc thì vợ chồng bất lợi; nhà tọa Bắc hướng Nam thì phạm quỷ môn, bất lợi sức khỏe; nhà có phòng ngủ đối diện phòng vệ sinh hoặc phòng bếp thì quan hệ trong nhà không hòa hợp; trong nhà có xà ngang áp đỉnh thì sự nghiệp lụi tàn. Vì thế, yếu tố phong thủy khi mua nhà cần xem xét đầu tiên chính là cấu tạo. Hiểu đúng câu Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài kẻo chọn phải nhà phong thủy xấuPhong thủy quanh ngôi nhà thế nào mới hút nhiều tài lộc?Mua nhà không xem phong thủy, tiền thì mất mà tật vẫn mang 2. Vị tríPhong thủy truyền thống tin rằng, vị trí ngôi là là yếu tố cực kì quan trọng quyết định đến vận thế. Vị trí nhà tốt thì trợ giúp quan hệ gia đình càng thêm hài hòa, sự nghiệp rạng rỡ, còn vị trí xấu thì mang tới thất vận. Lưu ý phong thủy khi mua nhà là tránh bên cạnh trạm xăng, cầu vượt, đường sắt, ngã tư đường vì đều phạm sát.3. HướngHướng nhà không thể không quan tâm, nhất định phải hợp với tuổi của gia chủ. Hướng nhà tọa Nam hướng Bắc hầu như thích hợp với tất cả mọi người, vừa sáng sủa lại thoáng đãng, đón nắng tránh gió, có lợi cho tài vận.
4. Diện tíchMua nhà ở không phải càng lớn thì càng tốt, phong thủy học chỉ ra nhà quá lớn hoặc quá nhỏ thì đều xấu. Nhà rộng người ít thì âm thịnh dương suy, chủ ám bệnh dây dưa, âm linh sống nhờ. Nhà hẹp người đông tất dương nhiều âm ít, chủ tính tình táo bạo, quan tai thị phi nhiều.5. Số tầngNgười Việt kị số 4 vì là số tử, tượng trưng cho điềm xấu nên nhà không nên xây 4 tầng, cũng không nên ở tầng 4. Lựa chọn số tầng hay tầng nhà nên căn cứ vào ngũ hành bản mệnh, có thể chọn tầng tương ứng với ngũ hành của chính mình hoặc ngũ hành tương sinh với ngũ hành bản mệnh. Lỗi phong thủy phòng ngủ “tử hình” hôn nhân3 nguyên tắc phong thủy phải nằm lòng năm 2016Tip mua nhà chuẩn phong thuỷ 2016Thái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Những tác dụng của muối trong phong thủy không thể ngờ tới
Là một món quen thuộc với mọi gia đình, thế những tác dụng của muối trong phong thủy có thể sẽ khiến bạn không thể ngờ tới.Cùng Lichngaytot tìm hiểu vì sao nhé
Là một món quen thuộc với mọi gia đình, thế nhưng có thể bạn sẽ vô cùng ngỡ ngàng bởi những tác dụng của muối trong phong thủy. Cùng điểm qua một số cách sử dụng muối để cải thiện phong thủy cho gia đình nhé.
1. Thu hút thịnh vượng và cải thiện sức khỏe
Trong phong thủy nhà ở, đặt nước muối ở vị trí của sao Tam Bích và sao Ngũ Hoàng mang ý nghĩa rất tốt lành. Nếu muốn thu hút tài lộc, cải thiện khả năng tài chính, nên đặt một bát nước muối ở cung Tài Lộc (phía Đông Nam) ngôi nhà. Nếu muốn sử dụng muối để cải thiện phong thủy về đường sức khỏe thì đặt ở cung Gia Đạo (hướng Đông). Cho tiền xu vào trong bát nước muối và đặt ở những nơi có năng lượng không tốt sẽ hấp thụ năng lượng tiêu cực, nước muối cải thiện sự thịnh vượng của ngôi nhà và một số lĩnh vực trong cuộc sống. Cách thức làm nước muối phong thủy không hề khó. Chọn một chiếc bát hoặc ly thủy tinh đẹp, rửa sạch, phơi khô rồi đổ muối tinh đầy ¾. Tới ngày tốt, đặt 6 đồng xu xếp theo hình vòng tròn vào bát, mặt dương ngửa lên trên. Cho nước vào và đặt bát lên một miếng vải lót. Không che miệng bát. Để yên bát nước ở cùng một vị trí trong một năm, tránh xê dịch hay động chạm đến. Nếu dịch chuyển, sự tích tụ năng lượng tiêu cực vào bát nước có thể sẽ bị phá vỡ. Sau một năm thì làm lễ và bỏ chiếc bát đó đi.
2. Làm sạch không gian sống
Pha chút muối vào nước, dùng nước ấy lau sàn nhà và sau đó thắp hương. Với tác dụng của muối trong cải thiện phong thủy sẽ giúp "nạp sinh khí mới" cho môi trường trong nhà, làm không gian sạch sẽ để chào đón nguồn năng lượng tích cực đến.
3. Chống lại năng lượng tiêu cực, đem lại may mắn
Muối trong phong thủy mang ý nghĩa may mắn, tốt lành. Muối cải thiện phong thủy xấu, bài trừ năng lượng không tốt và làm thanh sạch nguồn khí. Bởi vậy, nên người Việt có tục “đầu năm mua muối” với mong muốn một năm thuận lợi, nhiều vận may và dồi dào sức khỏe. ST Vì sao nhà nào cũng đặt một bát nước muối trong nhà đúng ngày mùng 1 Tết?Để muối, đất, bạc, gỗ, diêm trong ví có thực sự mang lại may mắn? Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Những cuộc “trò chuyện cha con” dưới đây không chỉ khiến cho người ta bội phục tự đáy lòng, mà cũng sẽ khiến cho các bậc làm cha làm mẹ phải suy nghĩ lại về phương thức giáo dục của bản thân mình, từ đó xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với con cái.
Câu chuyện thứ nhất
Khi con trai được hai tuổi. Một ngày nào đó, đầu đụng phải góc bàn, đầu sưng một cục, khóc òa lên. Hơn một phút sau, tôi đi đến chiếc bàn, lớn tiếng hỏi:
“Cái bàn à, là ai đã đụng mày đau thế? Khóc lóc thương tâm thế kia?”
Con trai ngừng khóc, nước mắt lưng tròng nhìn tôi. Tôi sờ sờ cái bàn, hỏi con trai rằng:
“Là ai vậy? Là ai đã đụng đau chiếc bàn?”
“Con, ba ơi, là con đụng!”
“Ồ, là con đụng à, vậy còn không mau nghiêng mình với chiếc bàn, nói tiếng xin lỗi đi!”.
Con trai nuốt nước mắt, cúi mình, nói: “Xin lỗi”.
Từ đó, con trai đã học được tính có trách nhiệm và đảm đương!
Câu chuyện thứ hai
Con trai ba tuổi. Vô cớ khóc lớn, tôi hỏi:
“Sao vậy, chỗ nào không khỏe hả con?”
“Không có”.
“Vậy sao lại khóc!”
“Con chỉ muốn khóc thôi!”. (Rõ ràng làm nũng).
“Được thôi, con muốn khóc thì ba không có ý kiến, nhưng con khóc ở đây không thích hợp lắm, sẽ làm phiền mọi người nói chuyện, ba tìm một chỗ cho con, con một mình khóc cho đã, khóc đủ rồi mới gọi mọi người”.
Nói xong đem nhốt con ở phòng rửa tay: “Khóc xong rồi hãy gõ cửa”.
2 phút sau, con trai đạp cửa: “Ba ơi, ba ơi, con đã khóc đủ rồi!”
“Tốt, khóc xong rồi à? Khóc xong rồi thì đi ra đi”.
Kể từ hôm đó, con trai mãi cho đến 18 tuổi, không còn học thói thao túng và trút giận lên người khác!
Câu chuyện thứ ba
Con trai 5 tuổi. Chập tối, dẫn con đi bộ đi ngang qua cây cầu nhỏ, dưới cầu nước trong thấy được cả đáy, nước chảy cuồn cuộn. Con trai ngẩng đầu nhìn tôi:
“Ba ơi, con sông đẹp quá, con muốn nhảy xuống bơi”. Tôi có phần sửng sốt.
“Được thôi, ba sẽ cùng con nhảy xuống. Nhưng chúng ta hãy về nhà trước đã, thay quần áo một chút”.
Về nhà, con trai thay quần áo xong, nhìn thấy một chậu nước ở trước mặt, ngơ ngác không hiểu.
“Con trai, xuống nước bơi cần phải vùi đầu vào trong nước, điều này con không hiểu sao?”. Con trai gật đầu.
“Vậy thì bây giờ chúng ta hãy tập luyện trước một chút, xem thử con có thể vùi được bao lâu”. Tôi nhìn đồng hồ.
“Bắt đầu!”. Con trai vùi mặt vào trong nước, hào khí ngất trời? Chỉ được 10 giây:
“Úi chà, ba ơi, sặc nước rồi, khó chịu thật”.
“Vậy sao? Chờ một chút nhảy xuống sông, có thể sẽ càng khó chịu hơn nhiều đấy”.
“Ba ơi, chúng ta có thể không đi nhảy xuống nước nữa được không?”.
“Được thôi, không đi thì không đi nữa”.
Từ đó, con trai đã học được tính cẩn thận và không lỗ mãng, suy nghĩ cho kỹ rồi mới làm.
Câu chuyện thứ tư
Con trai 6 tuổi, ham ăn. Một buổi tối nọ, tan học đi ngang qua McDonald’s, dừng bước:
“Ba ơi, McDonald’s kìa!”. (Thèm chảy cả nước miếng).
“Ừm, McDonald’s! Muốn ăn không?”.
“Muốn ăn!”
“Con trai, một người muốn ăn liền ăn ngay, gọi là ‘cẩu hùng’ ( gấu chó), thèm ăn mà lại có thể không ăn, thì gọi là anh hùng”.
Rồi hỏi tiếp: “Con trai, con muốn làm anh hùng hay cẩu hùng đây?”.
“Ba, con đương nhiên muốn làm anh hùng!”.
“Tốt! Vậy anh hùng, khi muốn ăn McDonald sẽ thế nào đây?”.
“Có thể không ăn!”. (Rất kiên định!)
“Quá xuất sắc, anh hùng! Về nhà thôi”
Con trai chảy nước miếng, theo tôi về nhà.
Từ đó về sau, con đã học được những gì nên làm và những gì không nên lắm, chống lại được cám dỗ.
Câu chuyện thứ năm
Con trai 8 tuổi, nghịch ngợm, đánh nhau với bạn học lớn. Vết bầm tím khắp người, về đến nhà, khóc lớn không thôi.
“Ấm ức không?”.
“Ấm ức!”. Con trai vừa khóc vừa trả lời.
“Tức giận không?”.
“Tức giận!”. Con trai khóc to lên.
“Con dự tính sẽ làm thế nào?”. Hỏi tiếp: “Con cần ba làm gì cho con nào?”.
“Ba, con muốn tìm một viên gạch, ngay mai sẽ đập cậu ta từ phía sau!”.
“Ừm, ba thấy được! Ba ngày mai sẽ chuẩn bị cục gạch cho con”. Hỏi tiếp: “Còn gì nữa không?”.
“Ba, ba tìm một con dao cho con, con ngày mai sẽ đâm hắn ta từ phía sau!”.
“Được! Cái này càng hả giận hơn, ba bây giờ đi chuẩn bị một chút”. Tôi đi lên lầu.
Nghĩ rằng được ủng hộ, con trai dần dần bình tĩnh lại. Khoảng 20 phút sau, tôi từ trên lầu dọn xuống một đống lớn quần áo và chăn mền?
“Con trai, con đã quyết định chưa? Là dùng gạch, hay là dùng dao đây?”.
“Nhưng mà, ba ơi, ba dọn nhiều quần áo và chăn mền như vậy để làm gì vậy?”. Con trai nghi hoặc.
“Con trai, là như vậy: nếu như con dùng gạch đập hắn ta, như vậy cảnh sát sẽ bắt chúng ta đi, ở trong tù đại khái chỉ cần ở một tháng, chúng ta chỉ mang một số áo ngắn chăn mong là được rồi; nếu như con dùng dao đâm hắn ta, thế thì chúng ta ở trong tù ít nhất 3 năm không trở về được, chúng ta cần phải mang nhiều thêm một số quần áo chăn bông, bốn mùa đều phải mang đủ?”.
“Vì vậy, con trai con đã quyết định chưa? Ba đồng ý ủng hộ con!”.
“Phải như vậy sao?”. Con trai sững sờ.
“Chính là như vậy, pháp luật chính là quy định như vậy mà!”.
“Ba, vậy thì chúng ta không làm nữa nha?”.
“Con trai, con không phải là rất căm phẫn sao?”.
“Hây, hây, ba ơi, con đã không tức giận nữa rồi, thật ra con cũng có sao đâu”.
“Tốt, ba ủng hộ con!”.
Từ đó, con trai đã học được lựa chọn và trả giá.
Câu chuyện thứ sáu
Con trai 9 tuổi, năm lớp 4, môn toán không đạt, sầu não không vui.
“Sao thế? Thi không đạt, còn làm mặt nặng nhẹ với ba mẹ sao”
“Bởi vì cô giáo dạy toán rất đáng ghét, học lớp của bà ấy không thích nghe”.
“Ồ, đáng ghét như thế nào?”, tôi cảm thấy rất hứng thú.
“??, ??” , con trai nói rất nhiều, “nói tóm lại cô ấy cũng không thích con”
“Ồ, người khác thích con, thì con thích họ, người khác không thích con, thì con lại ghét họ. Điều này nói rõ rằng con là người chủ động hay là người bị động đây?”.
“Là người bị động ạ!”, con trai trả lời.
“Là người mạnh, hay là người yếu, là đại nhân, hay là tiểu nhân?”, tôi tiếp tục hỏi.
“Là kẻ yếu, là tiểu nhân!”, con trai sợ hãi.
“Vậy còn muốn làm đại nhân hay là tiểu nhân?”.
“Làm đại nhân! Ba ơi, con đã hiểu rồi: vô luận là cô giáo có thích con hay không, con đều có thể thích cô ấy, kính trọng, chủ động hưởng ứng cô ấy, làm một kẻ mạnh”.
Hôm sau, vui vẻ đến trường, từ đó môn toán đạt được kết quả ưu tú. Và đã biết được thế nào là đại nhân, thế nào là tiểu nhân.
Con trai, sau này khi con lớn lên, có lẽ, con sẽ nhớ đến hôm nay, nhớ đến bà nội, nhớ đến mẹ, nhớ đến ba đã dụng tâm vất vả thế nào.
Câu chuyện thứ bảy
Con trai 10 tuổi, chơi trò chơi. Mẹ nhắc nhở nhiều lần, con không chịu sửa.
“Con trai, nghe nói con mỗi ngày đều chơi cái này?”, tôi chỉ vào máy tính.
“Vâng”, con trai gật đầu thừa nhận.
“Mỗi lần sau khi chơi xong, con cảm thấy thế nào?”.
“Mờ mịt, trống trải, không còn hơi sức, tự trách, xem thường bản thân mình?”.
“Vậy tại sao lại còn chơi vậy? Không kiềm chế nổi bản thân, phải không?”.
“Đúng vậy, ba ơi”, con trai rất bất lực.
“Được rồi! Ba sẽ giúp con!”. Tôi ôm máy tính đến, đưa cho con một cái chùy nhỏ, “con trai, hãy đập nó!”.
“Ba ơi!”, con trai ngẩn người ra.
“Đập nó đi, ba có thể không có máy tính, nhưng không thể không có con được!”. Con trai rơi nước mắt, đích thân đập vào máy tính!
Từ đó, con trai hiểu được cái gì gọi là nguyên tắc.
Xưa kia Mạnh mẫu chọn hàng xóm để dạy dỗ con, một lần con trốn học bỏ về nhà chơi, vì để cảnh tỉnh con đã tự mình chặt đứt khung cửi.
Câu chuyện thứ tám
Con trai 11 tuổi, tôi cùng với vợ phải đi xa một thời gian dài, mỗi ngày đều gọi điện cho mẹ già, hỏi thăm. Một ngày kia, con trai nhận điện thoại:
“Ba ơi, chào ba!”, con trai rất lấy làm vui mừng.
“Ừm, chào con! Bà nội đâu rồi? Gọi bà nội nghe điện đi”.
“Ba ơi, sao mỗi ngày ba chỉ gọi điện thoại cho bà nội thôi vậy?”.
“Điều này có gì lạ đâu? Bởi vì đó là mẹ của ba mà!”.
“Vậy còn con? Con cũng rất nhớ ba mẹ!”.
“Vậy con hãy gọi điện cho mẹ con đi!”.
“Vâng!”.
Từ đó, cứ 6 giờ mỗi ngày, vợ tôi đều có thể nhận được lời hỏi thăm của con, bất kể mưa gió, đến nay đã 8 năm rồi!.
Đôi khi, sự thấu hiểu và cảm thông từ cha mẹ dành cho con cái là quan trọng.
Câu chuyện thứ 9
Con trai 12 tuổi, năm lớp 6, bài tập nặng nề, tính tình nóng nảy, con trai tan học về vừa bước vào cửa.“Tiểu tử thối, hôm qua có phải con đã làm vỡ cái đĩa của ta?”, em gái của tôi bắt đầu vặn hỏi.
“Không có, cô ơi, con không có!”, con trai nét mặt nghi hoặc.
“Ta đã tận mắt nhìn thấy con làm vỡ, còn chối nữa à!”, bà nội của nhóc lại làm chứng kiên quyết khẳng định.
“Con không có mà! Mọi người đổ oan cho con?”, con trai khóc òa lên, nằm vật xuống đất.
Khoảng 5 phút, tôi đi ra khỏi phòng nghiêm giọng rằng:
“Sao thế? Sao lại nổi điên ở đây!”.
“Ba ơi, cô và bà nội đổ oan cho con!”.
“Đổ oan? Đổ oan cho con thì sao! Đổ oan thì con lại nằm vật xuống đất sao? Thật là thứ không ra gì mà! Con có phải trang nam tử hán hay không?”.
Con trai ngừng khóc, đứng dậy, cúi gầm mặt xuống:
“Ba ơi, mọi người đổ oan cho con”.
“Nam tử hán đại trượng phu, dẫu cho trời có đổ sụp xuống, cũng không thể ngã xuống được! Huống hồ là một cái đĩa nhỏ bé? Thật không ra gì cả!”.
Tôi tiếp tục: “Một đời này của người ta, phải trải qua biết bao sóng gió, bị oan ức, khinh thường, phản bội, bán đứng? Con liền chịu ngã xuống sao? Đó là đồ hèn nhát!”.
Con trai ưỡn ngực, ngẩng đầu lên:
“Ba ơi, con đã hiểu rồi, bây giờ con nên làm thế nào?”
“Bây giờ? Hãy tự hỏi chính bản thân con đi, con có nhiều thời gian lắm đó?”.
“Không có, con có rất nhiều bài tập cần phải làm”.
“Vậy còn không mau đi làm bài tập đi! Hãy nhớ kỹ, dẫu cho núi lở đất sụp đi nữa, cũng đừng quản nó, hãy làm xong việc của mình trước đã!”.
Con trai nhấc cặp lên, cúi chào bà nội và cô, rồi ung dung đi vào trong phòng.
Ba người chúng tôi bật cười.
“Sủng nhục bất kinh, khán đình tiền hoa khai hoa lạc; khứ lưu vô ý, vọng thiên không vân quyển vân thư (Không quan tâm thiệt hơn, nhìn hoa nở hoa tàn trước sân; đi ở chẳng buồn, nhìn bàu trời mây cuộn mây tan)”. Con trai à, sau khi con trưởng thành, nhìn thấy câu đối này, có lẽ, con sẽ nhớ đến hôm nay, nhớ đến dụng tâm vất vả của bà nội, cô cô, và của ba.
Câu chuyện thứ mười
Con trai mười ba tuổi, kỳ học thứ nhất, thành tích bình thường. Một ngày kia, nó bỗng hỏi:
“Ba ơi, đi học có ích gì không vậy? Thành tích thi cử có tác dụng gì không?”.
“Tại sao lại hỏi như vậy?”, tôi ngẩn ra.
“Mấy ngày trước có rất nhiều các chú các dì đến nhà, ba luôn nói với họ rằng giáo dục bây giờ là giáo dục tồi tệ nhất trong suốt 5000 năm qua mà”, con trai nhanh nhảu đáp.
Ài, thì ra con trai đã ở bên cạnh lắng nghe được chuyện đàm luận trên trời dưới đất của tôi với chúng bạn.
“Không sai, học hành, thi cử thật ra không có tác dụng gì cả”
“Thế thì tại sao con vẫn cần phải đi học những thứ vô dụng này đây?”.
“Đó là vì con còn nhỏ, trước hết phải làm một số thứ vô dụng trước đã, để thử bản sự của con. Nếu như con ngày cả những thứ vô dụng này đều làm không được tốt, như vậy sau khi lớn lên, những thứ hữu dụng chắc chắn cũng sẽ không làm được. Vì vậy, đi học tuy vô ích, nhưng con vẫn cần phải học nó cho tốt”
“Ồ, ba ơi, con có bản sự để học tốt nó!”.
Từ đó, con trai luôn đạt được những thành tích ưu tú.
Con trai à, thật ra đời người cũng là hư ảo không thật, nhưng cuộc sống này vẫn cần phải sống cho tốt, tinh thần trong đạo lấy giả làm thật cần chúng ta dùng cả một đời để thể hội.
Câu chuyện thứ mười một
Con trai 13 tuổi rưỡi, đi chơi ở nhà người thân trở về. Người mặc đồ hiệu, đầu tóc mới lạ, hả hê vô cùng:
“Mẹ ơi, con có bảnh không? Anh trai nhà bác hai mua quần áo, giày dép cho con, nhãn hiệu XX, rất đắt tiền đó; bà nội ơi, bà xem mẫu tóc của cháu này, anh ấy đẫn con đi hớt đó, phía trước rất là dài, ha ha, có mốt không này?”.
Nó giống như một con bướm, bay đi bay lại khắp nhà.
Tôi nhìn mà chẳng thèm để mắt đến?
Hai ngày sau, con trai đứng trước tấm gương, tự mình ngây ngất. Tôi lặng lẽ, đứng ở đằng sau:
“Có mệt không vậy, con trai?”.
“Ba ơi, dọa con giật cả mình!”.
“Ha ha, có mệt không, lúc nào cũng phải mệt tâm; luôn lo lắng, thật là không đáng; luôn phải suy đoán, người khác thấy thế nào. Sao phải khổ vậy, người sống ở đó, bị quần áo đầu tóc làm cho mệt mỏi, thật là ngốc lắm thay?”.
“Ba, ba cười nhạo con rồi”, con trai mặt đỏ ửng.
“Ba trả lại cho con sự nhẹ nhàng tự tại, con thấy sao?”.
“Dạ”, con trai đi thay quần áo, đầu tóc để bình thường trở lại. “Ba ơi, thật là nhẹ nhàng, thật là thoải mái!”.
Từ đó, con trai biết được thế nào là đẹp, thế nào là xấu.
Tủ bếp, tủ lạnh... hợp phong thủy sẽ khiến gian bếp tràn đầy năng lượng, tạo cho bạn cảm giác thoải mái. Khi lắp đặt các vận dụng trong nhà bếp, bạn cần chú ý đến độ an toàn và tính tiện dụng. Đồng thời, bạn cũng đừng quên vấn đề phong thủy của các vật dụng này.
Theo quan niệm phong thủy, bếp là nơi tích tụ rất nhiều năng lượng dương của gia đình. Gian bếp còn biểu hiện cho sự ấm no, đủ đầy. Do đó, việc hiểu và sắp đặt các đồ dùng đúng hướng phong thủy rất quan trọng.
Máy hút khói, tủ lạnh Máy hút khói được xem như lá phổi của nhà bếp. Máy hút không khí bụi bặm, hơi dầu mỡ ra ngoài và tạo sự đối lưu không khí, giúp không khí trong lành từ ngoài vào. Nên đặt máy và bếp nấu cùng hướng để tạo ra sự hài hòa phong thủy.
Tủ lạnh là nơi tích tụ nhiều khí lạnh. Mặc dù chúng vẫn tỏa nhiệt nhưng không đáng kể. Theo đó, bạn phải chọn đúng hướng để đặt tủ lạnh sao cho đáp ứng được hai yêu cầu. Thứ nhất là thuận tiện khi sử dụng. Thứ hai là hợp với hướng điều hòa phong thủy.
Đặt tủ lạnh theo hướng bắc là thích hợp nhất vì hướng này tượng trưng cho mùa đông lạnh giá, năng lượng dạng sóng lượn. Hơn nữa, hướng này đại diện cho nước. Khi không chọn được hướng này vì sẽ khiến không gian bất tiện, hãy đặt tủ lạnh theo hướng hợp với tuổi của bạn.
Bồn rửa bát, tủ nướng Tủ nướng (các loại tủ sử dụng nhiệt lượng): Các sản phẩm này tỏa ra một nhiệt lượng rất lớn để làm chín đồ ăn, đồng thời đa phần chúng được làm từ kim loại. Vì thế, bạn nên chú ý đến hướng phong thủy hòa hợp. Các loại tủ này không nên làm âm để dễ dàng thay đổi vị trí và toả nhiệt ra môi trường bên ngoài.
Nên đặt các vật dụng này ở hướng nam vì đây là hướng sinh nhiệt lượng rất lớn, nơi chốn của mặt trời, lửa và các vật sắc nhọn. Nguồn nhiệt lượng này luôn luôn được nuôi dưỡng và sinh ra liên tục.
Bồn rửa thường được đặt ôm sát tường và bố trí gần bếp để tạo thuận lợi cho bạn khi làm bếp. Tuy nhiên, nếu được đặt đúng hướng gió tây, nó sẽ làm bạn thấy thoải mái hơn.
Nếu bồn rửa bát nhà bạn không nằm cạnh cửa sổ thì phía trên giá tủ phải đủ sáng để năng lượng rọi vào vị trí này được kích hoạt khi bạn đứng rửa. Nên xoay về hướng tây nam nếu bồn rửa bằng đá, còn bồn bằng kim loại như inox thì đặt về hướng tây bắc.
Tủ bếp, bếp nấu Tủ bếp thường thiết kế bằng gỗ, thuộc hướng đông hay đông nam. Theo đó, các kệ tủ treo cũng nên kê theo hướng này để phát huy được yếu tố phong thủy mạnh nhất, tạo ra sự sạch sẽ và an toàn khi sử dụng.
Hướng đông nam cũng thích hợp cho các vật dụng có hình chữ nhật như tủ bếp. Năng lượng tiềm ẩn bên trong tủ tượng trưng cho sự dồi dào của thực phẩm, sự sung túc và đầy đủ cho mọi thành viên của gia đình. Bạn cũng nên chú ý sự liên thông về chất liệu giữa tủ treo và tủ đứng bên dưới để tạo ra quá trình cộng hưởng năng lượng chung trong bếp.
Bếp nấu chính là trái tim của căn bếp, nơi làm chín thức ăn, sử dụng rất nhiều năng lượng. Nguồn năng lượng này có thể từ ga hay từ bếp điện. Vì thế, bạn nên bố trí phích cắm bếp điện hay thùng ga hướng về phía hợp với tuổi của bạn. Mỗi chủ nhà đều có một hướng tốt phù hợp với tuổi. Đây cũng chính là hướng lấy năng lượng cho bếp.
(Theo Xzone) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Khánh Linh (##)
Nếu bạn đặt một con ó vào một chiếc lồng,với kích thước khoảng 2m x 2,5m, và hoàn toàn không có nóc, tức là phần trên được mở toang; thì cho dù vẫn có khả năng bay lên, nhưng con chim này sẽ hoàn toàn trở thành một ... tù nhân.
Lý do là một con chim ó luôn bắt đầu bay từ mặt đất lên,với đoạn "chạy đà" khoảng 3 - 4m.
Không có quãng đường để chạy, thì theo thói quen, chú chim thậm chí chẳng buồn cố gắng thử bay lên, mà chấp nhận bị cầm tù suốt đời, trong một "nhà giam" nhỏ chẳng hề có mái! Chuyện về con Dơi
Một cơn dơi bình thường luôn bay ra ngoài vào buổi tối. Nó là một sinh vật nhanh nhẹn, linh lợi đến mức ấn tượng.
Tuy nhiên, nó không thể cất cánh từ một địa điểm bằng phẳng. Nếu nó được đặt trên sàn hoặc một mặt phẳng, thì tất cả những gì nó có thể làm là lê bước loanh quanh một cách vô vọng, và tất nhiên, một cách đau khổ.
Cho đến khi nó tìm được một độ cao nào đó, chỉ cần là một góc nâng nhỏ thôi, để từ đó, nó có thể tung mình vào không trung. Và, ngay lập tức,nó bay lên như một tia chớp. Chuyện về loài Ong Nghệ
Một con ong nghệ, nếu bị thả vào một cái cốc lớn không có nắp, cũng sẽ ở đó cho đến chết, trừ phi chúng ta lôi nó ra.
Nó không bao giờ nhìn thấy đường thoát ở phía trên, mà cứ khăng khăng cố gắng tìm cách nào đó thoát ra qua các mặt bên, hoặc qua... đáy cốc. Nó sẽ tìm một con đường ở nơi mà không có con đường nào tồn tại, cho đến khi nó hoàn toàn tự hủy hoại mình.
Câu chuyện về Con Người
Theo rất nhiều cách, chúng ta cũng giống như con chim ó, con dơi và con ong nghệ. Chúng ta vật lộn với tất cả các rắc rối và tuyệt vọng của mình, mà không bao giờ nhận ra rằng rất có thể một giải pháp ở rất gần,chỉ cần chúng ta nhìn lên cao hơn - hay nhìn hướng tới phía trước.
Nhìn ngược lại có thể khiến bạn buồn bã. Nhìn quanh có thể khiến bạn lo lắng. Hãy nhìn lên cao, và nhìn tới trước,đó là cách sống lạc quan. Và tinh thần tích cực, nhiều hy vọng sẽ giúp bạn tìm ra giải pháp trong hầu hết các trường hợp.
Có một tác giả đã viết: "Khi không có giải pháp nào xuất hiện ngay trước mắt, thì con người rất dễ kết luận rằng không có giải pháp nào cả. Nhưng thực tế đã chứng minh, từ lần này sang lần khác, rằng giả thuyết đó là sai lầm."
Chỉ cần bạn nhìn lên cao hơn, rộng hơn tình huống hiện tại, rất có thể bạn sẽ thấy một lối đi ngay trước mắt mình.
Sống đơn giản, yêu thật lòng, quan tâm sâu sắc, hướng đến phía trước. Đó là bài học cuộc sống sâu sắc Chuyện về loài Ó, con Dơi, Ong Nghệ, Con Người
Mơ thấy sông: Bạn đã nhận thức được dòng chảy tình cảm của mình –
Một dòng sông trong mơ cho thấy người nằm mơ đã nhận thức được dòng chảy tình cảm của bản thân mình. Nếu mơ thấy mình đang ở trong lòng sông, có thể đoán là bạn đã cảm giác được tính dục và đời sống cảm quan của bản thân. Hầu như mỗi người chúng ta
Phong Thủy Ngũ Hành là cơ sở hàng đầu để các bậc cha mẹ tham khảo đặt tên cho con cái của mình giúp các bé có được con đường đời thuận lợi trong tương lai. Đặt tên cho con theo ngũ hành chính là tuân theo quy luật tương sinh, tương khắc. Con người là
thuộc mệnh trời, do đó cái tên cũng phải hợp với mệnh trời. Âm dương ngũ hành chính là các hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Đặt tên cho con theo ngũ hành năm 2014: tên theo Hành Kim
Hành Kim chỉ về mùa Thu và sức mạnh. Đại diện cho thể rắn và khả năng chứa đựng. Mặt khác, Kim còn là vật dẫn. Khi tích cực, Kim là sự truyền đạt thông tin, ý tưởng sắc sảo và sự công minh. Khi tiêu cực, Kim có thể là sự hủy hoại, là hiểm họa và phiền muộn. Kim có thể là một món hàng xinh xắn và quý giá mà cũng có thể là đao kiếm.
Tích cực: Mạnh mẽ, có trực giác và lôi cuốn. Tiêu cực: Cứng nhắc, sầu muộn và nghiêm nghị.
Danh sách tên cho con Thuộc Hành Kim bao gồm:
Đoan Ân Dạ Mỹ Ái Nguyên Thắng Nhi Ngân Kính Khanh Chung Điếu Nghĩa Câu Xuyến Tiền Thiết Đĩnh Luyện Hân Tâm Phong Vi Vân Doãn Lục Phượng Thế Thăng Nhâm Tâm Văn Kiến Hiện
Đặt tên cho con theo ngũ hành: tên thuộc Hành Mộc
Mỗi bé có những ngày giờ và năm sinh khác nhau, do vậy khi đặt tên các bậc phụ huynh cũng phải cần lưu ý một số điều. Đối với những bé thuộc Hành Mộc. Bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này.
Mộc chỉ mùa xuân, sự tăng trưởng và đời sống cây cỏ. Tích cực: Có bản tính nghệ sỹ, làm việc nhiệt thành. Tiêu cực: Thiếu kiên nhẫn, dễ nổi giận, thường bỏ ngang công việc. Ngũ hành Đặt tên thuộc Hành Mộc
Tổng hợp tên cho con thuộc Hành Mộc
Khôi Tùng Hương Kiện Trà Bản Đà Thư Lê Cúc Lan Bách Lam Lý Trượng Sửu Nguyễn Quỳnh Huệ Xuân Lâm Hạnh Kỷ Phương Đỗ Tòng Nhị Quý Giá Thôn Thúc Phần Mai Thảo Bách Quan Lâu Chu Can Nam Đào Liễu Lâm Quảng Sài Vu Đông Tích Trúc Nhân Sâm Cung Vị Tiêu Chử Nha Đệ Ba Nhạ Kỳ Thị Bính Giao Phúc Phước Sa Hộ Chi Bình
Đó là những cái tên thật ý nghĩa để các bạn có thể lựa chọn và đặt tên phong thủy hành Hỏa cho bé. Những cái tên này sẽ đơn giản hóa cho các mẹ mỗi khi phải bỏ nhiều thời gian để lựa chọn một cái tên phù hợp với con yêu của mình.
Đặt tên cho bé sinh năm 2014: tên thuộc hành Hỏa
Chúng ta sẽ tiếp tục đi tìm hiểu và lựa chọn những cái tên phù hợp cho các bé thuộc Hành Hỏa.
Khái niệm Hành Hỏa chỉ mùa hè, lửa và sức nóng. Hỏa có thể đem lại ánh sáng, hơi ấm và hạnh phúc, hoặc có thể tuôn trào, bùng nổ và sự bạo tàn. Ở khía cạnh tích cực, Hỏa tiêu biểu cho danh dự và sự công bằng. Ở khía cạnh tiêu cực, Hỏa tượng trưng cho tính gây hấn và chiến tranh.
Tích cực: Người có óc canh tân, khôi hài và đam mê. Tiêu cực: Nóng vội, lợi dụng người khác và không mấy quan tâm đến cảm xúc
Sau đây là các tên thuộc Hành Hỏa
Đan Thước Huy Đoạn Kim Đài Lô Quang Dung Ly Cẩm Huân Đăng Lưu Yên Bội Hoán Hạ Cao Thiêu Ánh Luyện Hồng Điểm Trần Thanh Noãn Bính Tiết Hùng Đức Ngọ Kháng Nhiên Hiệp Thái Nhật Linh Nhiệt Huân Dương Minh Huyền Chiếu Lãm Thu Sáng Cẩn Nam Vĩ
Đặt tên cho con thuộc Hành Thủy
Con bạn sinh ra thuộc mệnh Hành Thủy? Bạn đang phân vân không biết lựa chọn cái tên nào sao cho phù hợp? Trước tiên để đặt tìm được một cái tên phù hợp cho con thì bạn cần biết Hành Thủy là gì?
Hành Thủy chỉ về mùa đông và nước nói chung, cơn mưa lất phất hay mưa bão. Chỉ bản ngã, nghệ thuật và vẻ đẹp. Thủy có liên quan đến mọi thứ. Khi tích cực, Thủy thể hiện tính nuôi dưỡng, hỗ trợ một cách hiểu biết. Khi tiêu cực, Thủy biểu hiện ở sự hao mòn và kiệt quệ. Kết hợp với cảm xúc, Thủy gợi cho thấy nỗi sợ hãi, sự lo lắng và stress.
Tên cho bé thuộc Hành Thủy
Tích cực: Có khuynh hướng nghệ thuật, thích kết bạn và biết cảm thông. Tiêu cực: Nhạy cảm, mau thay đổi và gây phiền nhiễu.
Các tên hay cho bé thuộc Hành Thủy
Lệ Hồ Kiều Thương Quang Cương Đồng Thủy Biển Tuyên Trọng Toàn Sáng Danh Giang Trí Hoàn Luân Loan Khoáng Hậu Hà Võ Giao Kiện Cung Vạn Lại Sương Vũ Hợi Giới Hưng Hoa Lữ Hải Bùi Dư Nhậm Quân Xá Lã Khê Mãn Kháng Nhâm Băng Huyên Nga Trạch Hàn Phục Triệu Quyết Tuyên Tín Nhuận Thấp Phu Tiến Liệt Hợp Nhân Băng Mặc Hội Tiên Lưu Hiệp Đoàn Vu Di Vọng Uyên Nhung Khương Kỷ Khuê Giáp Tự Đạo Hoàn Khanh Cấn Tráng Như Tôn Khải Tịch Bách Quyết Khoa Phi An Khánh Ngạn Bá Trinh
Cách đặt tên cho bé theo hành Thổ trong ngũ hành
Đặt tên con theo hành Thổ: Hành Thổ chỉ về môi trường ươm trồng, nuôi dưỡng và phát triển, nơi sinh ký tử quy của mọi sinh vật. Thổ nuôi dưỡng, hỗ trợ và tương tác với từng Hành khác. Khi tích cực, Thổ biểu thị lòng công bằng, trí khôn ngoan và bản năng; Khi tiêu cực, Thổ tạo ra sự ngột ngạt hoặc biểu thị tính hay lo về những khó khăn không tồn tại.
Tích cực: Trung thành, nhẫn nại và có thể tin cậy. Tiêu cực: Có khuynh hướng thành kiến.
Sau đây là các tên thuộc hành thổ
Cát Kiệt Quân Kỳ Diệp Lập Sơn Thạc Trung Cơ Đinh Thảo Ngọc Trân Diệu Viên Vĩnh Huấn Bảo Anh San Liệt Giáp Nghị Châu Lạc Tự Kiên Thân Đặng Châm Lý Địa Đại Bát Trưởng Nghiễn Chân Nghiêm Bằng Bạch Long Nham Côn Hoàng Công Thạch Độ Bích Điền Thành Thông Hòa Khuê
Đặt tên theo ngũ hành cho con cũng không hẳn là một điều quá khó khăn đối với bạn. Tuy nhiên, các bạn cũng phải lưu ý sự linh hoạt khi đặt tên cho bé nhé.
Trong tử vi, không vong là vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến vận thế của con người, tuy nhiên hiện nay các đa phần các sách mệnh lý đều chưa có cách lý
Trong tử vi, không vong là vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến vận thế của con người, tuy nhiên hiện nay đa phần các sách mệnh lý chưa có cách lý giải thấu đáo.
Trong các sách mệnh lý, cách dùng không vong vẫn chưa được lý giải triệt để, thậm chí còn nhiều sai sót, ví dụ từ tuần Giáp Tý đến Quý Dậu, trụ Giáp Tý có không vong Tuất, Hợi, trong khi đó Ất Sửu cũng có không vong Tuất Hợi, đồng thời cũng không phân rõ can Âm Dương. Thực chất cách dùng đúng chính là nên theo can Dương không Âm, can Âm không Dương. Nếu trụ ngày Giáp Tý có Tuất là "Không", Ất Sửu sẽ có "Vong" là Hợi. Hoặc là "Không" sẽ khiến "Vong" thành "lệch Không vong", "Vong" để "Không" thành "Lệch Không vong". Nói cách khác, Dương "Không", Âm "Vong" sẽ trở thành "Chính Không vong", mọi sự phát sinh sẽ đều gắn với bản thân. Trong khi đó, Dương "Vong", Âm "Không" trở thành "Lệch Không vong", các việc xảy ra sẽ có mối liên quan chặt chẽ với người thân. Một số lưu ý phong thủy nhà ở nhỏ nhưng hiệu quả Phong thủy nhà ở cát thì vận khí hưng vượng, muốn vậy, hãy nhớ kĩ những lưu ý phong thủy quan trọng dưới đây. "Không", "Vong" có thể ảnh hưởng đến độ cân bằng của khí trường Ngũ hành, từ có thành không. "Không" và "Vong" ngụ ý khiến vận mệnh trở về điểm xuất phát, có thể làm cho người có quan điểm nhận thiên chức sinh mệnh trên thế giới này, kiểm điểm lại phương thức sống của bản thân. Điều này sẽ ảnh hưởng đến con người, có tốt mà cũng có xấu. Tuy nhiên, nghiên cứu chi tiết thì "Không", "Vong" không liên quan đến cát hung, có các điểm giống nhau.Không vong có thể khiến vận thế đang tốt rơi vào trạng thái ngưng trệ, mất hết những điều đã có. Những việc như khởi nghiệp, kết hôn, điều chuyển, buôn bán đều không đem lại kết quả tốt, khiến con người thương tâm, mất đi ý chí, xuất hiện nhiều suy nghĩ tiêu cực. Điều này thể hiện gián tiếp tại phạm vi liên quan tới công danh, vật chất; trực tiếp đến tinh thần.
Ý nghĩa nghi thức tắm Phật hướng về tháng lễ Phật Đản sinh Vậy nên, có tín ngưỡng kiên định (đặc biệt đối với người sùng giáo), tính cách tốt (hiền hậu, đại trung đại nghĩa), khi gặp phải "Không", "Vong" đa phần thấu hiểu triệt để, dễ có linh cảm hoặc có năng lượng tâm linh thần bí có thể cảm ứng. Ngược lại, nếu là người có nhiều dục vọng về danh lợi, vật chất thì khi gặp "Không", "Vong" thường mất đi sự linh hoạt, thân thể và tâm tính mất đi sự cân bằng, dẫn đến các khổ nạn của đời người như: bệnh tật, đau thương, tinh thần suy sụp, phát sinh chuyện ngoài dự kiến, ly hôn, ly thân, tuyệt giao, bất hòa, nợ nần, phá sản, giáng chức, cách chức, bị phản bội, chết,… Ngoài ra, các vấn đề của đời sống con người như sự nghiệp, gia đình, tài sản, công việc, sức khỏe, quan hệ ngoại giao, thọ mệnh đều xuất hiện yếu tố tiêu cực. Chỉ cần giao lưu tinh thần với người theo tôn giáo, người tinh thông linh tính, nhà mệnh tướng, nhà phong thủy, nhà tiên tri, nhà thơ mới có thể đem đến ảnh hưởng tích cực.
Cách giải thích trên vừa mang đạo lý, lại có tính triết lý, không vong trong Chu dịch có quan hệ đối ứng với hư không trong Phật giáo, đạo giáo, nhà tôn giáo, nhà dịch học đều cho không vong là cát, ví dụ như Hoa Cái gặp Không, là tăng là đạo, mặc dù người tu hành trong con mắt của người trần thế là biểu hiện của vận mệnh không tốt, tuy nhiên nếu đứng từ góc độ của Phật giáo thì lại có cách nhìn nhận khác, bởi vậy không vong trong bát tự xuất hiện nhất định có sự khác biệt nhỏ trong nội hàm. Dung mạo và khí chất theo quan điểm Phật giáo Thông thường đẩy mạnh vận mệnh là vấn đề cần coi trọng hiện thực, vậy nên tuế vận tự thuật khi gặp hiện tượng "Không", "Vong" cũng là dấu hiệu thực tế đối với nhân sinh con người.
=> ## cung cấp công cụ xem tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh của bạn chuẩn xác
Nhà gần chợ, sân bay, lò rèn, công trường,...thường gặp ở các thành phố hiện nay. Những ngôi nhà xung quanh ồn ã như vậy trong phong thủy bị coi như phạm phải "Thanh sát".
Trong phong thủy, một số loại sát khí tạo nên do cách bài trí nội thất có thể dễ dàng hóa giải. Ví dụ như phạm mũi tên độc do góc tủ thì chỉ cần điều chỉnh vị trí tủ và giường ngủ, hay như phá bỏ cây khô chết để trồng cây mới. Tuy nhinê, một số hung sát do miô trường xung quanh tạo nên đôi khi làm chủ nhà lúng túng trong cách hóa giải như nhà gần sây bay, nghĩa trang, chùa chiền,...
Một trong những loại sát khí tạo ra do môi trường xung quanh thường gặp nhất ở đô thị lớn là "Thanh sát". Thanh sát xảy ra khi gia đình thường xuyên phải chịu đựng tiếng ồn lớn từ những căn nhà kế bên do xây dựng, lò rèn, xưởng cơ khí, hàng sửa xe,...Những người sống trong ngôi nhà bị thanh sát sẽ rơi vào tình trạng tâm tình bất ổn, lòng dạ bồn chồn, khó có thể làm được việc lớn.
Để hóa giải tình trạng này, trước hết cần giảm bớt tiếng ồn trong nhà bằng cách xây phòng cách âm, đóng chặt cửa nẻo khi ra vào. Tiếng ồn giảm bớt cũng giúp tâm trạng bình ổn hơn. Hoặc bạn có thể mở những bản nhạc dịu nhẹ mà mình ưa thích để át đi tiếng chát chúa xung quanh.
Trong phong thủy, chuông gió được sử dụng làm vật khắc chế những nguồn năng lượng xấu đồng thời nó có vai trò cực kỳ to lớn trong việc phát tán, luân chuyển năng lượng tích cực trong nhà. Do vậy, khi vị trí của ngôi nhà phạm thanh sát, các dòng năng lượng tiêu cực xung quanh sẽ bị xua tan bởi những cây chuông gió treo ở cửa ra vào, cửa sổ hay bốn góc nhà. Âm thanh leng keng do chúng tạo ra luôn khiến tinh thần cảm thấy dễ chịu.
Tuy vậy, nếu tiếng ồn quá lớn diễn ra trong thời gian dài và vào thời điểm gia đình cần nghỉ ngơi thì không nên chịu đựng mà phải ý kiến với hàng xóm hoặc báo chính quyền.
Những lời chúc tết hay tặng đồng nghiệp và sếp nơi công sở 2017
Những lời chúc tết hay nhất nơi công sở để bạn dành tặng sếp và các đồng nghiệp của mình, lời chúc năm mới, câu chúc tết hay, thơ chúc tết chốn văn phòng
Những lời chúc tết hay nhất nơi công sở để bạn dành tặng sếp và các đồng nghiệp của mình.
Mỗi độ tết đến là văn phòng, công sở lại càng tất bật làm việc để chuẩn bị cho quyết toán cuối năm, chốt hợp đồng, chạy tiến độ dự án v.v.v Hòa với cuộc sống nhộn nhịp hằng ngày chốn văn phòng công sở không thể thiếu được những hoạt động tập thể nhằm nâng cao tinh thần cho mọi người. Tranh ảnh được bày, băng rôn được treo và không thể thiếu được những khúc ca vui, bài thơ hay và những câu chúc tết của các đồng nghiệp dành cho nhau cũng như dành tặng sếp của mình.
Sau một năm vất vả, hãy dành tặng người đồng đội của mình những lời chúc tết hay nhất, ý nghĩa nhất thể hiện tâm ý của bản thân với người chiến hữu bên cạnh bạn.
Các lời chúc tết được phân thành nhóm:
Lời chúc tết tặng sếp
Câu chúc tết tặng đồng nghiệp
Những lời chúc tết hay dành tặng sếp
Những lời chúc năm mới đầy ý nghĩa để bạn tỏ thành ý của mình với sếp của bạn. Vừa là động lực, vừa là sự cổ vũ, vừa là tâm ý đối với công sức dẫn dắt của sếp với mọi người trong công ty.
Nam nhi thỏa chí anh hào Một năm tài lộc lại cao chất chồng Xuân vui Tết ấm quây quần Xin kính chúc sếp thành công mỗi ngày.
—–
Tiền vào như nước trùng trùng Tiền ra nhỏ giọt ngừng ngay tức thì Tết xuân chúc sếp đôi lời Một năm thuận lợi bại vơi thành đầy.
—–
Anh tài lại gặp vận hên Làm ăn tiến tới phất lên bất ngờ Chúc người cầm lái xuôi đò Tiến con thuyền đến bến bờ thành công.
Một năm thuận lợi an nhàn. Một năm tiến tới lộc vàng về tay. Một năm vững trãi như cây. Chúc sếp rủng rỉnh những ngày Tết vui!
Xuân sang lộc biếc trong ngoài. Sức khỏe cường tráng dẻo dai mỗi ngày. Tài cao, chí lớn thêm may. Chúc sếp năm mới tầm tay bạc vàng!
Chúc mừng năm mới Sếp nhà ta Có mấy chút thơ đọc gọi là Mừng cho Sếp được hên năm mới Rạng rỡ công danh sự nghiệp thành Hạnh phúc tiền tài luôn tấp nập Gia đình trẻ nhỏ tiếng cười vui Sức khỏe dồi dào, tăng gia mạnh Buôn bán kinh doanh, lợi nhuận nhiều.
Lo toan công việc cả năm Tết này chúc sếp an nhàn thảnh thơi Lộc tài, phú quý sánh đôi Thuận buồm, xuôi gió để rồi bội thu.
Chúc người thuyền trưởng mát tay Xuôi con thuyền lái về ngay sang giàu Tài cao, chí lớn đương đầu Vượt qua biển cả về mau an nhàn.
Bôn ba sóng gió bao ngày Hôm nay gặt hái nặng tay bạc vàng Chúc sếp thuận lợi, bình an Chúc cho sức khỏe lan tràn mãi xuân.
Lao tâm khổ tứ bao ngày Xuân nay lộc đã biếc đây trong ngoài Chúc sếp sức khỏe dẻo dai Công thành danh toại xuân hoài hoài vui!
Năm qua Tết đã đến rồi Em xin chúc sếp với đôi câu này Tiền tài nặng ví nặng tay Gia đình thịnh vượng, vui vầy, ấm êm Đối ngoại thuận dưới, thuận trên Đánh đâu cũng thắng, cũng bền sức dai.
Vinh quang trong những nhọc nhằn Vững tay chèo lái bao năm con thuyền Chúc cho biển lặng gió êm Chúc cho thắng lợi cao thêm mỗi ngày.
Ra đường vấp được chữ son Làm ăn buôn bán vấp hòn hên hên Thăng quan tiến chức cao thêm Em xin chúc sếp trẻ hơn mỗi ngày.
Lộc xuân nở biếc quanh nhà Nâng ly chúc sếp thuận hòa gió mưa Chúc người đi sớm về trưa Lộc tài rủng rỉnh, suốt mùa gặp hên.
Tết đến pháo nổ giòn tai Chúc sếp phát lộc, phát tài, phát xuân Trong ngoài thuận lợi xa gần Hợp đồng dễ trúng, mười phân vẹn mười.
Một năm hỳ hục làm ăn Ngẩng đầu Tết đã ùn ùn đến chân Mừng ngày đông đã sang Xuân Em kính chúc sếp muôn phần bội thu.
Tưng bừng pháo nổ rượu say Tưng bừng vui với những ngày bội thu Chúc cho chí lớn được mùa Đầu xuân chúc sếp sớm trưa yên bình!
Trong nhà phú quý lộc cộc Ngoài sân lộc lộc chung vui Chúc sếp một năm sức khỏe Làm ăn phát đạt êm xuôi.
Năm qua Tết đến Chúc sếp an vui Nhà cao cửa rộng Đầu óc thảnh thơi.
Công thành danh toại. Đối ngoại thuận xuôi. Chúc sếp năm mới May mắn, An vui!
Chúc sếp năm mới, thật giàu có, thật bình an, thật hiên ngang, thật may mắn, thật khỏe khoắn, thật anh tài, thật dẻo dai, thật phú quý
Chúc sếp năm mới, đánh nhanh thắng gấp, thuế doanh nghiệp thấp, kế hoạch cực chất, làm ăn thật phất, tiếng tăm chất ngất, hạnh phúc viên mãn nhất, tiền bạc tha hồ mà cất.
Năm mới chúc sếp: Khỏe tựa siêu nhân, con đàn cháu đống như Lạc Long Quân, được lòng dân như Võ Nguyên Giáp, lộc về như thác, tài đến như sông, phú quý chất chồng, cả năm đại thắng!
Những câu chúc tết dành tặng đồng nghiệp
Tuyển chọn những câu chúc tết lời chúc tết hay nơi công sở để bạn dành tặng người chiến hữu, bạn bè, đồng nghiệp của mình một năm mới đầy niềm vui, hạnh phúc và tiền tài dạt dào. Thể hiện tình cảm, tình anh em, đồng chí trong các dự án hay công việc hằng ngày.
Cả năm nhìn mãi mặt nhau Nghỉ vài ngày Tết thấy lâu quá trời Đồng nghiệp chúc bạn của tôi Làm ăn phát đạt đổi đời sang năm.
Ai xui tớ cậu chung đò Cùng nhau hợp tác lò dò tin vui Xuân sang tài lộc sánh đôi Chúc cho sự nghiệp tiến xuôi không ngừng.
Tết nay chúc cậu một năm an hòa Công việc thuận lợi gần xa Xuân sang nhiều lộc, giàu ra mỗi ngày.
Nhà cao thì lại thêm cao Làm ăn thuận lợi thăng sao mỗi ngày Một năm may mắn tràn đầy Một năm sức khỏe, phúc dầy dầy hơn.
Một năm mưa thuận gió hòa Tết chúc đồng nghiệp trẻ ra mỗi ngày Làm ăn tiến tới, gặp may Giàu sang, sung túc 360 ngày an vui!
Đầu năm sung túc thuận hòa Cuối năm rủng rỉnh đồng ra đồng vào Thành công mỗi lúc thêm cao Bạc vàng núi núi lại cao chất chồng.
Đông qua thuận lợi bình an Tết đến lộc đỏ, lộc vàng bén chân Buôn Đông, bán Bắc đều thông Mùng 1 lại có quý nhân xông nhà.
La đà đón ngọn gió xuân Chúc người đồng nghiệp Tết đầm ấm vui Phát tài, phát lộc, êm xuôi Một năm rủng rỉnh cả đôi bạc vàng.
Cung chúc tân xuân nhiều may mắn Con đường danh vọng mãi thênh thang Lộc tài trọn vẹn đều như ý Sung túc một năm với an nhàn.
Chúc anh/chị luôn mạnh khỏe Cuộc sống đầy vui vẻ Luôn thấy mình còn trẻ Doanh số thừa có lẻ Trong nhà có tiếng trẻ Mừng năm mới vui vẻ
Tôi ông như ghế với bàn Một đôi ăn khớp chẳng ai sánh bằng Chúc ông năm mới phát tài Giàu sang, như ý, xuôi ngoài, thuận trong.
Công danh gõ cửa ông kìa Lộc tài thẽ thọt song thưa muốn vào Dậy đi mở cửa xem nào Tôi mang lời chúc chen vào xuân đây!
Cầu cho công việc êm xuôi Ông, tôi đều được một đôi lộc tài Chúc ông sức khỏe dẻo dai Thăng quan phút chốc để ai cũng thèm.
Bỗng đâu chung một công ty Bỗng đâu ta lại cùng đi một đò Chúc cho công việc thuận hòa Chúc cho tài lộc nở ra mỗi ngày
Nhờ có cậu ở cạnh bên Mà tớ đã tiến được lên từng này Năm mới chúc cậu gặp may Gia đình thịnh vượng vui vầy sớm hôm.
Lộc xuân đã biếc trên cành Gió xuân đã ấm trong lành sớm trưa Chúc người mát mái xuôi đò Bình an, vững lái cả kho bạc vàng.
Còng lưng cõng lộc, cõng tiền Mỏi vai mà gánh tình duyên bất ngờ Tay cầm xế xịn tít mù Một tay lại có doanh thu ầm ầm Chúc mừng năm mới đại đại thành công!
Chúc mừng năm mới, sang tựa phượng hoàng, phú quý vinh quang, bạc vàng đầy hũ, ngồi chơi cũng đủ, gia chủ phát tài, lộc trong lộc ngoài, sức khỏe dẻo dai, tương tai sáng láng.
Tiền đấy túi, Tim đầy tình, xăng đầu bình, gạo đầy lu, muối đầy hũ, vàng đầy tủ, sức khỏe đầy đủ, happy new year!
Cách xem ngày, cách cục và can chi hóa hợp hình xung
Bắt tay vào xem mệnh, theo quy tắc thông thường của nhà mệnh lý học là đầu tiên xem can ngày vì rằng nó đại biểu cho một thiên can của bản thân, các địa chi của giờ, ngày, tháng, năm đều xoay quanh thiên can này để luận định cát, hung, nên, kỵ. Can ngày có sự khác nhau về được thời và không được thời, nếu can ngày gặp vượng, tướng của chi tháng thì là đắc tài, nếu gặp chi tháng ở hưu, tù, tử thì là không được thời.
Ví dụ Can ngày là Giáp Mộc, Mộc sinh vào xuân, Thuỷ có thể sinh Mộc cho nên chi tháng nếu gặp tháng xuân thì thuộc về vượng. Gặp về mùa Đông, coi là tướng đều thuộc gặp thời. Nếu như Can ngày Giáp Mộc không sinh vào tháng đông xuân, mà chỉ sinh vào tháng Mộc có thể sinh Hoả, Hoả sinh Mộc vào tháng hạ, tháng Mộc có thể khắc Thổ, Thổ vượng Mộc tù tức là vào tháng 3, 6, 9, 12, thậm chí sinh vào tháng thu Kim có thể khắc Mộc, Kim thịnh Mộc tử, đều thuộc vào không gặp thời. Gặp thời thì bản thân cường vượng, không gặp thời thì bản thân suy nhược, về mối quan hệ cua Ngũ hành với Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử của bốn mùa trong năm, ở trên đã nói kỹ rồi, cứ địa là hiểu. Ngoài ra, quan sát mối quan hệ Can ngày và Can tháng, còn có lợi cho việc nhận định cách cục Bát tự của một coi người. Sau khi xem mối quan hệ của Can ngày và Chi tháng, lại xem ô dưới Can ngày thuộc về Địa Chi nào, Địa Chi này đối với Can ngày mà nói, nó ở vào trạng thái nào trong 12 cung ký sinh, là Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Đế vượng hay là Suy, Bệnh, Tử, mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng? Ngoài ra không được quên xem Can Chi của Can chi giờ và trụ tháng ở bên phải trái sát ngay Can Chi của chi ngày, còn như Can Chi của trụ năm, những Âm Dương ngũ hành đại biểu cho những Can Chi này với Can Chi ngày của bản thân mà nói thì tình hình sinh khắc phù ức như thế nào.
Cách xem này, nói đúng ra trên cơ sở lấy Can ngày làm chủ, lấy Chi năm làm gốc, có thể biết được thịnh suy của cuộc đời. Lấy trụ tháng làm mầm giống, có thể biết được người thân khác của bố mẹ không, anh em có tốt hay không tốt, lấy trụ Nhật chủ làm bản thân, Chi ngày làm vợ, có thể biết vợ có hiền thục hay không, lấy trụ giờ làm hoa quả, có thể biết con cái có hưng vượng hay không.
Ở đây điều quan trọng là: chúng ta không thể nào được quên, căn cứ vào nhu cầu sinh khắc phù ức của Ngũ hành Can ngày lấy ra Dụng thần, sau đó lại xem Dụng thần này thích cái gì, kỵ cái gì. Có như vậy mối suy xét được toàn diện để luận đoán. Bây giờ đem cách xem Can, cách cục và Can Chi Hợp Hoá hình Xung trong mệnh phân tích cụ thể như sau:
1. Trước tiên xem xét Can ngày cường nhược
Can ngày có nhiều cách gọi tên, như gọi là chủ, mệnh chủ, thân chủ, nhật nguyên, nhật thần. Trong Bát tự của một con người, địa vị của Can ngày được cân nhắc nặng nhẹ rất kỵ vì Can ngày đại biểu cho bản thân con người. Vì vậy từ điểm này xuất phát, đầu tiên phải đoán định Can ngày của bản thân một người suy vượng cường nhược như thế nào, trở thành điều kiện đầu tiên của xem mệnh.
Phương pháp đoán định Can ngày của một người cường nhược chủ yếu có 3 điểm.
Thứ 1, xem can ngày ở tháng sinh có được lệnh hay không được lệnh. Ví dụ Can ngày Giáp, Ất gặp Chi tháng Dần, Mão, Bính, Đinh gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, Mậu, Kỷ gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, hoặc Thìn, Tuất, Sửu Mùi, Canh Tân gặp Chi tháng Thân, Dậu, Nhâm Quý gặp Chi tháng Hợi Tý, đều ở vào trạng thái được lệnh sinh vượng tốt nhất, cho nên Can ngày này cường ngược lại, Can ngày sinh trong nguyệt lệnh nếu như ở trạng thái hoặc Hưu, hoặc Tù, hoặc Tử, như vậy là nhược.
Thứ 2, Can ngày trong tứ trụ được trợ giúp nhiều hay ít. Ví dụ Can ngày thuộc Giáp, Ất, Mộc nếu trong tứ trụ được Thuỷ Mộc trợ giúp nhiều thì là vượng mà đắc thế, ngược lại Can ngày Giáp, Ất Mộc không được thuỷ Mộc trong tứ trụ trợ giúp, thậm chí gặp phải Kim chế Hoả tiết, thì là nhược mà không đắc thế.
Thứ 3, đem Can ngày bản thân đối chiếu với Chi tứ trụ nếu gặp Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Lâm quan (lộc), Đế vượng hoặc Mộ khố thì là đắc địa đắc khí, bản thân tự nhiên cường vượng, ngược lại là thất địa thất khí, cường vượng không vươn lên được. Ba cái đắc lệnh, đắc địa, đắc thế tập trung vào một người, Can ngày ở vào trạng thái cực nhược. Lại còn phân ra vượng, cường, trung, suy, nhược. Vượng là Can ngày ở vào trạng thái cực vượng, cường là Can ngày ở vào trạng thái tương đối cường, trung là Can ngày ở vào trạng thái trung hoà, suy là Can ngày ở vào trạng thái tương đối suy, nhược là Can ngày ở vào trạng thái cực nhược, về nguyên tắc phù ức vượng, cường, suy nhược của Can ngày, đại thể là cực vượng thì nên tiết, cường thì nên khắc, suy thì nên phù, nhược thì nên ức. Xem ví dụ dưới đây:
Mệnh có ngày sinh cực vượng:
Tháng thương cung Ất Mão Ất Mộc đế vượng Năm Tỷ kiên Giáp Dần lộc
Ngày Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục
Giờ Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục
Mệnh này được tạo nên, Can ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Mão trọng xuân, ở trạng thái hưng phấn, cho nên đắc lệnh. Giáp Mộc trong tứ trụ, sinh ra nó có 2 Chi ngày và Chi giờ đều là Quý Thuỷ, coi là An thụ (Chính ấn), nó có Can năm, Can giò đều là Giáp Mộc đồng loại, coi là Tỉ kiên và Ất Mộc trong Chi tháng Mão coi là Kiếp tài, cho nên đắc thế.
Giáp Lộc đến Dần, Chi năm Dần là Lộc của Giáp, với Chi tháng Mão ở Giáp thì ở vào trạng thái thiếu Đế vượng nên lấy là đắc địa, mệnh Giáp Mộc này đắc lệnh, đắc thế, đắc địa, được 3 cái đắc nên Nhật chủ cực thịnh.
Mệnh của Nhật chủ tương đối vượng:
Mệnh của Nhật chủ cực nhược: Mệnh này được tạo nên, Can ngày Kỷ Thổ sinh vào tháng Tý tức mùa đông tuyệt địa, không đắc lệnh. Do Chi ngày Chi giờ là Tỵ Hoả, là quê Đế vượng của Can ngày Kỷ Thổ mà Chi năm Mậu Thổ lại là dưỡng địa của Kỷ Thổ cho nên đắc địa. Cộng vào Can Chi tứ trụ Tỉ Kiếp trùng trùng, có Ấn sinh phù cho nên đắc thế. Nhìn vào toàn cục của mệnh là đắc địa, đắc thế. Từ nhược chuyển cường, cho nên lấy Can tháng chính quan Giáp Mộc làm Dụng thần, đó là thân cường kham nhậm tài quan mà sách mệnh học nói.
Mệnh mà nhật chủ tương đối nhược: Mệnh này được tạo nên, Căn ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Thân đầu thú Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh Giáp Mộc trong tứ trụ, trụ tháng Canh Thân và Chỉ năm, Chỉ tháng Thân Kim đều là Thất sát khắc nó, còn Chi ngày Chi giờ Đinh Hoả lại ra sức tiết nó, thêm vào lại có Tỷ, Kiếp trợ giúp cho nên thất lệnh. Giáp Mộc trong địa Chi giờ, ngày, năm, tháng đều ở vào trạng thái Tử Tuyệt cho nên thất địa. Thất lệnh, thất thế, thất địa, cả ba đều mất sạch, cho nên là mệnh của Nhật chủ cực nhược.
Mệnh mà nhật chủ trung hoà:Năm Tháng Ngày Giờ Mệnh này được tạo nên, Nhật chủ Mậu Thổ, sinh vào tháng Thìn Quan đái, Thìn lại là Thổ và ngày sinh lại đúng vào thời tiết Thổ vượng trước Lập hạ 18 ngày, cho nên đắc lệnh. Nhưng Mậu Thổ tuy đắc lệnh, nhưng địa Chi Dần Mão Thìn sẽ thành Đông phương Mộc cục mà Can Chi năm Mậu Thổ ra thiếu Ấn, Tỷ trợ giúp, nên phải xem khắp toàn cục. Bị Mộc thế cường vượng chế ước, mệnh chủ ở vào thế nhược tương đối
Năm kiếp tài Giáp Dần đế vượng
Tháng thiên ấn Quý Dậu tuyệt
Ngày Ất Hợi tử
Giờ thương quan Bính Tý bệnh
Mệnh này được tạo nên nhật chủ Ất Mộc, sinh vào tháng Dậu giữa thu Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh. Ất Mộc trong tứ trụ, được can tháng, chi ngày chi giờ và trụ năm Thuỷ Mộc trợ giúp nên là đắc thế. Ất Mộc tuy trong chi tháng chi ngày ở vào đất tuyệt, bệnh nhưng chi năm đế vượng đắc khí, cho nên trung hoà.
Tổng hợp lại thất thời, đắc thế, địa khí trung hoà, cho nên mệnh này nhật chủ trung hoà hoặc thiên về cường một chút. Nhìn chung về tình hình nhật chủ cường nhược. Trần Tố Am trong sách Cách xem nhật chủ đã nói lên chủ trương của mình:
“Sách cũ nói về cường nhược của nhật chủ hoặc chuyên chủ thích nhấn mạnh về cường nhược, nếu cường quá thì phải ức mạnh, nếu nhược quá thì phải phù nhiều, thuyết này là “có bài thuốc chữa bệnh là quý”, như vậy là thiên kiến. Hễ nhật chủ rất quý trung hoà, tự nhiên cát nhiều hung ít, chỉ có thể phải ức cường phù nhược thì còn gì tác dụng. Các tác dụng là như ngày Mộc cường thì dùng Kim khắc, dùng Hoả tiết, ngày Mộc nhược dùng thuỷ để sinh, dùng Mộc trợ giúp, nếu đắc Thổ mà sát thế của nó, cũng phải ức, mượn Thổ để bồi bổ gốc của nó, cho nên phải phù, rốt cục quy về trung hoà mà thôi. Sách cũ nói nhật chủ nam giới không hiềm can cường, nhưng cường quá cũng phải ức, nhật chủ nữ giới không hiềm can nhược, nhưng nhược quá cũng hỏng. Còn về chi của nhật chủ, tương đối thân thiết, nhưng cát thần toạ ở tài quan cũng cần được tứ trụ thấu xuất phù trợ, hung thần toạ thương kiếp, tứ trụ cũng phải phạt mà khử đi.
Xem cách cục trong mệnh.
Trong mệnh lý học tứ trụ, xem cách cục cũng là một khâu quan trọng không thể xem thường, tuy nhiên về khâu này lại có cách xem khác nhau, có nhà mệnh lý học cho rằng vứt bỏ cách cục đi cũng có thể xem được mệnh, nhưng trong phần lớn trường hợp, xem cách cục vẫn tốt hơn nhiều so với bỏ cách cục. Theo cách nói của sách đoán mệnh, có sự khác nhau giữa chính cách và biến cách, chính cách có chính quan, thất sát, chính tài, thiên tài, chính ấn, thiên ấn, thực thần, thương quan tất cả 8 loại, nếu bỏ đi chính thiên của hai cách tài, ấn vẫn còn 6 loại, còn như biến cách thì thiên biến vạn hoá, khó mà lần mò được.
Thế thì làm thế nào xem cách được cụ thể? Đầu tiên dùng nguyên tắc “chi tháng tàng can” để xem cách cục. Gọi là “chi tháng tàng can” có nghĩa là thiên can nào ẩn chứa trong địa chi của tháng (như đã trình bày ở phần mở đầu và các phần trên đây). Khi áp dụng nguyên tắc này, đầu tiên phải xem thiên can ẩn chứa trong chi tháng, nguyên khí của nó có thấu đến can tháng, can năm, can giờ không, nếu có ví dụ như can tháng Dần thấu (tàng) Giáp, can tháng Mão thấu Ất, can tháng Thìn thấu Dậu, can tháng Tỵ thấu Bính, can tháng Ngọ thấu Đinh, can tháng Mùi thấu Kỷ, can tháng Thân thấu Canh, can tháng Dậu thấy Tân, can tháng Tuất thấu Mậu, can tháng Hợi thấu Nhâm, can tháng Tý thấu Quý, can tháng Sửu thấu Kỷ, đều có thể căn cứ vào thiên can tìm ra này mà xem môi quan hệ sinh khắc của nó với thiên can nhật chủ, lấy làm cách cục. Nếu như Chi tháng thấu ra là chính tài thì là chính tài cách, nếu Chi tháng thấu ra là thiên tài thì thiên tài cách,Chi tháng thấu ra là chính quan thì là chính quan cách, Chi tháng thấu ra là thiên quan thì là thiên quan cách; Chi tháng thấu ra là ấn thụ thì là ấn thụ cách, Chi tháng thấu ra là thiên ấn thì là thiên ấn cách, Chi tháng thấu ra là thương quan thì là thương quan cách, Chi tháng thấu ra là thực thần thì là thực thần cách.
Ngoài ra trong chi những tháng Tý, mão, Dậu chỉ hàm chứa một thiên can nguyên khí, nếu như nguyên khí này không thấu ra ở năm, tháng, giờ, cũng có thể căn cứ mối quan hệ của chi tháng can ngày mà lấy làm cách cục. Thứ 3, nếu như thiên can của nguyên khí can ẩn chứa trong chi tháng không thấy ra ở năm, tháng, giờ, thế thì lại xem những thiên can khác ẩn chứa trong chi tháng có thấu ra không, ví dụ nguyên khí của chi tháng Dần là Giáp Mộc, nhưng nếu ở Giáp Mộc không có thiên can thấu ra mà Bính Hoả hoặc Mậu Thổ ẩn tàng trong đó có thấu ra thì cũng có thể căn cứ mỗi quan hệ giữa
Bính Hoả hoặc Mậu Thổ với thiên can trụ ngày mà lấy làm cách cục. Còn như nên lấy Bính Hoả hoặc lấy Mậu Thổ thì phải xem lực lượng của hai cái mạnh nhiều hay ít. Thứ 4, nếu như nguyên khí của chi tháng và một trong những ngũ hành ẩn tàng không thấu ra thiên can, thế thì phải căn cứ vào các can ẩn chứa trong chi tháng, so sánh sự cường nhược thịnh suy giữa chúng nó, chọn lấy một cái tương đối đắc lực hơn, sau đó lại căn cứ vào mối quan hệ giữa thiên can này với thiên can khác mới lấy làm cách cục. Ngoài ra, nếu mối quan hệ giữa can ẩn tàng trong chi tháng với trụ ngày thuộc về tỉ, kiếp, lộc, nhận thì thông thường không lấy làm cách cục chính thức mà phải đặc biệt lấy làm biến cách. Ví dụ ngày Giáp tháng Dần, ngày Ất tháng Mão, ngày Bính tháng Tỵ, ngày Đinh tháng Ngọ, ngày Mậu tháng Tỵ, ngày Kỷ tháng Ngọ, ngày Canh tháng Thân, ngày Tân tháng Dậu, ngày Nhâm tháng Hợi, ngày Quý tháng Tý, do Giáp Lộc ở Dần, Ât Lộc ở Tỵ, Đinh Lộc ở Ngọ, Mậu Lộc ở Tỵ, Kỷ Lộc ở Ngọ, Canh Lộc ở Thân, Tân Lộc ở Dậu, Nhâm Lộc ở Hợi, Quý Lộc ở Tý (xem nội dung các phần trên đây), cho nên có thể mở ra cách chính cách khác, lấy làm biến cách kiến lộc, biện pháp xem cách cục nói trên, không thể không lấy ví dụ để nói rõ, để hiểu được tận nguồn gốc.
Ví dụ: Mệnh chọn:
Năm Tân Sửu
Tháng chính cung Mậu Tuất, Mậu
Thổ, Tân Kim, Đinh Hỏa
Ngày Qúy Mùi
Giờ Nhâm Tý
Mệnh này sinh vào ngày Quý, chi tháng Tuất chứa Mậu Thổ, Tân Kim, Đinh Hoả, trong đó Mậu Thổ thấu ra can tháng, Tân Kim thấu ra can năm, do nguyên khí của Tuất là Mậu Thổ nên lấy Mậu Thổ để định cách cục. về Quý Thuỷ mà nói, Mậu Thổ khắc chính quan của nó, cho nên cách cục của mệnh này là chính quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Kỷ Tỵ
Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,
Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ
Ngày Bính Thìn
Giờ Kỷ Sửu
Mệnh này sinh vào ngày Bính mà chi tháng Thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó nguyên khí của Thân Canh Kim có thể thấu ra 3 trụ năm, tháng, giờ, mà chỉ có Nhâm Thuỷ thấu ra can tháng, cho nên căn cứ giữa Bính Hoả và Nhâm Thuỷ dương nọ khắc dương ta là Thiên quan, lấy cách cục là thiên quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Giáp Thìn
Tháng Bính Tý chính quan
Ngày Bính Thân
Giờ Kỷ Hợi
Mệnh này sinh vào ngày Bính mà trong chi tháng Tý tàng chứa Quý Thuỷ, vì rằng 3 chi Tý, Mão, Dậu chỉ tàng có nguyên khí cho nên căn cứ điều 2 ở nguyên tắc lấy cách, theo mối quan hệ hình thành chính quan giữa Quý Thuỷ và Bính Hoả, nên lấy chính quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Giáp Dần
Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,
Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ
Ngày Nhâm Thân
Giò Ất Tỵ
Mệnh này sinh vào ngày Nhâm mà trong chi tháng thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó Nhâm Thuỷ tuy thấu ra can tháng nhưng do giữa can tháng và can ngày hình thành quan hệ Tỷ kiên, cho nên không lấy làm cách, lại thấy Canh Kim Mậu Thổ trong Thân, do Canh Kim thuộc nguyên khí của chi thân, sức mạnh rõ ràng vượt qua Mậu Thổ, cho nên lấy quan hệ thiên ân giữa Canh Kim và Nhâm Thuỷ, định cách cục là thiên ấn cách.
Trong mệnh còn có nhiều loại cách cục khác, chúng tôi sẽ có một thiên chuyên nói về vấn đề này.
2. Ba lần xem hình xung hợp hoá của Can Chỉ
Hình xung hợp hoá giữa thiên can và thiên can, địa chi và địa chi trong Bát Tự, có ảnh hưởng tới âm dương ngũ hành trong mệnh cục, cho nên các nhà mệnh lý học cũng rất coi trọng, cách xem đại thể là:
Hai Can tương hợp, quý Thổ đắc trung. Ví như Giáp Kỷ hợp Thổ địa Chi cả hai đều hưởng sinh vượng , đó là được trung mà không thiên. Nếu như Giáp quá mạnh, Kỷ quá nhu, như vậy một bên thái quá, một bên bất cập, sẽ không trung hoà. Dương đắc âm hợp, âm đắc dương hợp, sách đoán mệnh nói: thiên can hợp, dương đắc âm hợp, phúc đến chậm, âm đắc dương hợp, phúc đến nhanh, ví như dương ở Giáp đắc âm ở Kỷ hợp thành tài, âm ở Kỷ đắc dương ở Giáp hợp thành quan, tuy đều là phúc nhưng cái trước phúc chậm, cái sau phúc nhanh khác nhau. Lại có người cho rằng, trong mệnh hợp nhiều thì tính thích dầm lạc, cho nên nữ mệnh tối kỵ hợp nhiều, nhưng với Giáp Kỷ và Ất Canh hợp nhau, lại không kỵ với nữ mệnh.
Hai can tranh hợp, Ảm Dương thiên khố, nếu như gặp hai thiên can hợp với một thiên can, trong sách đoán mệnh gọi là âm dương thiên khô, ví như trong hai giáp hợp một kỷ, hoặc hai kỷ hợp một giáp khác nào chồng nhiều vợ ít, hoặc vợ nhiều chồng ít cũng vậy. Khó tránh bất đồng xung khắc cho nên không phải là chuyện tốt.
Can ngày hợp hoá, thông báo thừa vượng. Đây là nói can ngày hợp với thiên can năm, tháng, giờ, phải sinh vào ngày mà ngũ hành bản can sinh vượng, như vậy là vượng mà có gốc. Ví như Thân Kỷ hợp mà hoá Thổ, phải sinh vào tháng Thổ vượng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ất Canh hợp mà hoá Kim, phải sinh vào tháng, Kim vượng Tỵ, Dậu, Sửu hoặc Thân, Bính Tân hợp mà hoá Thuỷ, phải sinh vào tháng Thuỷ vượng Thân, Tý, Thìn hoặc Hợi, Đinh Nhâm hợp mà hoá Mộc, phải sinh vào tháng Mộc vượng, Hợi, Mão, Mùi hoặc Dần, Mậu Quý hợp mà hoá Hoả, phải sinh vào tháng Hoả vượng Dần, Ngọ, Tuất hoặc Tỵ, nếu không thì không thể nói là hoá.
Gián cách càng xa, tuy hợp khó hoá. Thiên can hoá hợp, ngoài phải kết hợp tháng sinh ra, còn phải xem vị trí xa gần. Nếu can năm thuộc Ất, can giờ thuộc Canh, hai can gián cách xa, sức hợp đơn mỏng, thì cũng không hẳn là hoá.
Thiên Can tương hợp, có cát có hung. Sau khi thiên can hợp với nhau rồi, phần lớn bản thân hãy còn 6-7 phần lực lượng ví như Ất Canh hợp Kim, Kim tuy bị hợp nhưng tính chất bản thân vân còn tồn tại quá nửa. Thiên can sau khi tương hợp là cát hay là hung, phải căn cứ tình hình cụ thể mà định. Trong tình hình chung, hợp lại không phải là việc xấu nhưng một khi nếu hỉ thần hoặc dụng thần của can ngày bị hợp thì chủ hung thần loạn ý, tình hình không tốt nữa.
Địa Chi lục hợp phân biệt đối xử. Tức là nói, địa chi mà mệnh cục hỉ sau khi bị lục hợp mất thì phải giảm cát, địa chi phải kỵ sau khi bị hợp sẽ bị giảm hung. Ngoài ra địa chi hợp cục sẽ loại bỏ hình xung không cát. Tình hình cụ thê phải được phân tích cụ thể. Ví như mệnh cục thích Tý. Trong địa chi có Sửu hợp mà hoá Thổ sẽ giảm phần trăm cát, ngược lại mệnh cục kỵ Tý nhưng gặp Ngọ xung, lúc này nếu có Mùi đi hợp Ngọ, như vậy sẽ giải được tương xung giữa Tý Ngọ. Điều cần chú ý ở đây là, địa chi lục hợp phải gắn chặt với nhau,như chi ngày và chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa, ngoài ra, địa chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa. Ngoài ra, địa chi nếu là nhị Mão hợp nhất Tuất hoặc nhị Tuất hợp nhất Mão, nhị Dần hợp nhất Hợi, hoặc nhị Hợi hợp nhất Dần, được gọi là ghen ghét mà hợp.
Địa chi tam hợp, luận cát luận hung, ở địa chi Thân, Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão, Mùi, hợp Mộc, Dần Ngọ Tuất hợp Hoả, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim, trong cục tam hợp này nếu hợp cục đem hỷ đến cho mệnh là cát, đem kỵ đến là hung. Ví như mệnh cục hỷ Thuỷ mà trong địa chi xuất hiện Thân Tý Thìn tam hợp Thủy cục thì gọi là hung. Ngoài ra nếu địa chi xuất hiện Thân Tý hoặc Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão hoặc Mão Mùi hợp Mộc, Dần Ngọ hoặc Ngọ Tuất hợp Hoả, Tý Dậu hoặc Dậu Sửu hợp Kim thông thường gọi đó là hợp cục, bán hợp cục lấy sát liền là hay. Nhưng dù cho tam hợp cục hay là bán hợp cục đều sợ phùng, tạo thành phá cục.
Địa Chi tam hội, xem hội cát hung. Ở địa chi Dần Mão Thìn hội đông phương Mộc, Tý Ngọ Mùi hội đông nam Hoả, Thân Mùi Tuất hội Tây phương Kim, Hợi Tý Sửu hội bắc phương Sửu, trong tam hội phương hướng cũng như địa chi tam hợp cục, nếu hội cục trong mệnh hỷ thì cát, mà kỵ thì hung, ví như mệnh cục hỉ Thuỷ, trong địa chi xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ thì gọi là cát, ngược lại mệnh cục kỵ Thuỷ, trong địa chi lại chỉ xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ, thế thì gọi là hung, về lực lượng, nếu uy lực của phương hướng địa chi tam hội lớn hơn tam hợp cục mà uy lực tam hợp cục lại lớn hơn lục hợp, vì vậy nếu trong tứ chi tam hợp cục hoặc tam hội phương hướng đồng thời xuất hiện, thông thường bỏ hợp lấy hội
Địa Chi lục xung, bản khí là trọng. Địa chi trong mệnh tương xung, lấy bản khí làm trọng, ví như Dần Thân tương xung bản khí của Dần là Giáp Mộc, bản khí của Thân là Canh Kim, cho nên hai cái đó tương xung, đầu tiên thể hiện ở Giáp Mộc và Canh Kim xung khắc, trong trường hợp thông thường vẫn là Thân Kim thắng mà Dần Mộc bại. Nhưng nếu như thời mệnh gặp Hoả vượng Kim suy, hoặc Thuỷ vượng Hoả suy, lại có thể tạo thành Dần Hoả thắng mà Thân Kim bại hoặc Thân Thuỷ thắng mà Dần Hoả bại. về cát hung nếu địa chi mà mệnh cục hỷ bị xung bại thì hung, địa chi mà mệnh cục kỵ bị xung bại thì cát. Điều cần bổ sung ở đây là, địa chi tương xung phải ở sát liền kề nhau mới coi là xung, nếu xa cách chỉ coi là giao động chút ít. Lục xung và tam hợp cục cùng xuất hiện, do lực lượng của tam hợp lớn hơn lục xung, cho nên lấy hợp cục. Nhưng nếu bán hợp cục có lúc phùng xung, cũng có thể giải bỏ hợp đi. Ví nhu giò Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giờ Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giò Tỵ bán hợp nhưng chi ngày Hợi và chi giò Tỵ tương xung thì giải bỏ bán hợp cũng chi tháng Dậu và chi giờ Tỵ.
Địa Chi Hình Hại, động giao chút ít. Địa chi Tý hình Mão, Mão hình Tý vốn là Thuỷ Mộc tương sinh, Tỵ hình Thân, Tỵ Thân vốn hợp, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, đều là Thổ đồng loại, còn như Thân hình Dần, Mùi hình Sửu, không phải là tương xung mà thôi. Cũng vậy, địa chi tương hại cũng giống như địa chi tương hình, ảnh hưởng không lớn, chỉ là động giao chút ít mà thôi.
Hình xung hoá hợp của can chi nói trên, sách Trích thiên thuỷ còn có cách nói: chi dương động và cường, lành dữ hiện lên nhanh, chi âm tĩnh và chuyên, lành dữ phải qua năm. Trong 12 địa chi thì Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ là dương, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là âm nhưng phần lớn các nhà tinh mệnh học lại lấy Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương, lấy Sửu Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là âm. Do chi dương tính động mà cường, cho nên nghiệm số cát hung thường hiện nhanh, chi âm tính tình mà nhược nên hoạ phúc thường đến chậm, ngoài ra, Trích thiên Thuỷ còn nói: “sinh phương sợ động khố nên khai, bại địa phùng xung cần tính kỹ”. Dần, Thân, Tỵ, Hợi, là sinh phương. Bảo rằng sinh phương sợ động là vì, nếu có xung động, dễ dẫn tới kết cục lưỡng bại đều bị thương, như Dần, Thân phùng xung, Canh Kim trong Thân tuy khắc Giáp Mộc trong Dần nhưng Bính Hoả trong Dần không hẳn khắc được Canh Kim trong Thân, Nhâm Thuỷ trong Thân tuy khắc Bính Hoả trong Dần nhưng Mậu Thổ trong Dần không hẳn khắc được Nhâm Thuỷ trong Thân. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là “tứ khố”, thông thường trong khố chứa đựng Ấn thụ tài quan của ngày, nên xung thì khai, nhưng vẫn phải xem tình hình cụ thể, không thể nói chung chung, Tý, Ngọ, Mão, Dậu là địa chi của “Tứ bại” do khí nó tàng chứa chuyên mà không tạp, cho nên nếu phùng xung, phải tính kỹ nên hoặc không nên, không được câu nệ.
Do tình hình “tứ sinh” “tứ khổ” “tứ bại” phùng xung, Nhậm Thiết Tiểu trong trích thiên tuỷ đã nêu ví dụ nói:
Ví dụ: sinh phương phùng xung
Năm Quý Tỵ Tháng Quý Hợi
Ngày Giáp Thân Giờ Nhâm Thân
Đại vận Nhâm Tuất
Tân Dậu Canh Thân
Kỷ Mùi Mậu Ngọ Đinh Tỵ
Giáp Mộc can ngày sinh vào đầu mùa đông tháng Hợi, Mộc lạnh thích Hoả nhưng tứ trụ Nhâm Quý Thuỷ tràn, không có Thổ chế ước, Nhâm Thuỷ trong Hợi lại xung Bính Hoả trong Tỵ là tai hoạ, xem ra tựa hồ không đẹp. Nhưng hay ở chỗ Dần Hợi hợp Mộc khiến cho Kỷ Hoả ở tuyệt địa phùng sinh mà được hung phát. Kết hợp hành vận, tuổi trẻ vận nhập Tây Phương Kim địa, sinh Thuỷ chế Thuỷ, cho phong sương đầy tràn, lâu chảy không ngừng, sau tuổi 40 vận lâm nam phương Hoả Thổ, trợ giúp dụng thần, bỏ ấn lấy tài, cho nên nguồn tài sung mãn, lấy thiếp sinh con, qua đó thì thấy, ấn tuy tác dụng phùng tài. Gây hoạ không nhỏ: không dùng tài đến, phát lúc lớn nhất.
Ví dụ: sinh phương phùng xung
Năm Giáp Dần Tháng Nhâm Thân
Ngày Quý Tỵ Giờ Quý Hợi
Đại vận Quý Dậu
Giáp Tuất Ất Hợi Bính Tý
Đinh Sửu Mậu Dần Kỷ Mão
Canh Thìn
Nước mùa thu thêm nguồn, Thân Kim đương lệnh, Thuỷ trọng Mộc tù phùng xung, không đủ để dùng, Hoả tuy hưu mà ở sát chi ngày, khí dư của thu chưa tắt, dụng thần phải ở Tỵ Hoả, xấu ở Tỵ, Hợi Tỷ hàng xóm phùng xung, các kiếp phân tranh, cho nên đây khắc tam thê, không con, vận lại đi đến bắc phương Thuỷ địa, dẫn tới phá hao khác thường. Đến Mậu Dần, Kỷ Mão vận chuyển đông phương, thích dụng hợp nên, đã được no ấn. Canh vận chế thương sinh kiếp, lại gặp năm Dậu, Hỉ, dụng hai thương, không lộc.
Ví dụ: đại bại phùng xung
Năm thương. Tân Mão. quan
Tháng Ấn. Đinh Dậu. thương
Ngày Mậu Tý. tài
Giờ tỉ. Mậu Ngọ. ấn. kiếp
Đại vận Bính Thân
Ất Mùi Giáp Ngọ Quý Tỵ
Nhâm Thìn Tân Mão
Ở thương quan dụng ấn “này”, hỉ thần tức quan tinh, không như dân gian thường nói “Thổ Kim thương quan kỵ quan khẩn”. Chi tháng Dậu trong cục xung chi năm Mão, dẫn tới ấn tinh Đinh Hoả ở tháng mất đi thần sinh trợ, chi ngày Tý xung chi giờ Ngọ làm cho Đinh Hoả trong Ngọ, khó được hưởng cái của thương quan cho. Từ đó có thể biết, do địa chi Kim vượng Thuỷ sinh, Mộc Hoả xung khắc đến hết, cho nên thiên can Hoả Thổ hư thoát, không có rễ để cắm, quan sát cả đời mệnh chủ, học hành không đến nơi, kinh doanh trục trặc, lại thiên can trung vận, Kim Thuỷ nhất khí, không tránh khỏi có chí mà khó triển khai. Tuy nhiên tốt ở Thuỷ không thấu can, là người nho nhã phong lưu, giỏi về thư pháp nhưng không hề làm cho mệnh chủ nhờ đó mà thoát khỏi tù túng. Từ đó có thể thấy, hễ thương quan đeo ấn, hỉ thần dụng thần ở Mộc Hoả, thông thường đều kỵ gặp Kim Thuỷ.
Ví dụ: Địa Chi toàn là tứ khố
Năm Tân Mùi Tháng Tân Sửu
Ngày Mậu Thìn Giờ Nhân Tuất
Đại vận Canh Tý
Kỷ Hợi Bính Thân
Mậu Tuất Đinh Dậu Ất Mùi
Mệnh này đẹp, không phải ở các chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, đề tứ khố mà là Tân Kim nguyên thần thấu xuất trong chi tháng Mùi, thương quan Thổ tú, tiết ra tinh anh của cường Thổ, cộng thêm Mộc Hoả của tứ trụ, ẩn mà không thấy, cho nên mệnh cục thuần thanh không hỗn tạp. kết hợp hành vận, đến Dậu vận giò Tân Kim đắc địa học thi đỗ cao, sau đó vận đi về nam Phương, Mộc Hoả cùng vượng, dụng thần Tân Kim bị làm tổn hại, cho nên không tiến lên phát tích được.
Ví dụ địa chi toàn tứ khố
Năm Mậu Thìn Tháng Nhâm Tuất
Ngày Tân Mùi Giờ Kỷ Sửu
Mệnh này được tạo nên bởi Tân Kim nhật nguyên, toàn cục ẩn thụ, Nhâm Thuỷ thương tận, không đủ để dùng. Nếu thấy Ất Mộc tàng chứa ở chị Mùi, chị Thìn để dùng, chỉ đợi vận đến dẫn đi là có thể phá ấn nhưng hai khố Sửu Tuất song song xung phá khố Mùi khố Thìn, chém phạt Ất Mộc, cuối cùng dẫn tới khắc thê không còn, từ đó mà bàn, cách nói tứ khố phải xung khai, mấu chốt toàn ở thiên cần điều chỉnh mà được nên, càng cần dụng thần có lực, sau đó tuế vận phụ giúp mới có thể sống được bình yên, vận may đi thăng, nếu không sẽ không tốt.
Nguồn: Quang Tuệ Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Có nhiều người quan niệm rằng mơ thấy máu là giấc mơ dữ, báo trước những điều xấu có thể sắp xảy ra. Tuy nhiên, không phải giấc mơ nào về máu cũng là như vậy. Chẳng hạn, nếu bạn mơ thấy máu chảy ra nhiều là giấc mơ lành báo rằng chuyện làm ăn của bạn
Tướng cổ, lưng, eo có liên quan gì đến tính cách, số phận con người ?
Dân gian có câu "nhất dáng, nhì da, thứ ba khuôn mặt" như thế đủ biết cái dáng người quan trọng đến dường nào. Nhưng dáng lại mang tính tổng thể, do nhiều bộ phận cấu thành trong đó có tướng cổ, lưng, eo...
Vậy nên sau khi xem xét tướng mặt, tướng tay, chân thì cũng cần phải quan sát các bộ phận cổ lưng eo... Riêng với phụ nữ thì mông và nhũ hoa cũng là những "bộ vị" rất đặc trưng cho cái gọi là nữ tính.
Tướng cổ
Theo quan điểm của Á đông thì phẩn cổ là “Thiên trụ”, tức là cây cột chống đỡ toàn thể ngôi nhà, thân hình con người, cho nên phải có cổ dài cổ ngắn để phối hợp với người béo kẻ gầy, có nhỏ lớn để phối hợp với người cao, kẻ thấp. Xét một cách tổng quát thì cổ nảy nở, tròn đầy, cứng mạnh là tướng tốt, chủ về phú quý, thọ trường, cổ mảnh dẻ nghiêng lệch chủ về chết yểu. Người mập cổ không nên dài, người gầy cổ không được ngắn, nếu ngược lại với tổng tắc đó, con người sẽ gặp nhiều điều không may.
Sách có câu: "Người gầy cổ ngắn gặp tai ương/ Người mập cổ gầy tất yểu vong". Tuy nhiên, sự dài ngắn cũng phải trong giới hạn nào đó. Nếu cổ dài như cổ cò, ngắn như cổ lợn thì lại bất hợp cách.
Một điểm cần lưu ý là dù cổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn đều không nên lộ hầu vì lộ hầu chủ về gian truân, trì trệ. Riêng cổ của phụ nữ thì phải cao và tròn (cổ kiêu ba ngấn), phải cân xứng với thân thể. Đàn bà đại kỵ cổ thấp ngắn và lòi xương, vì cổ nhân cho rằng đó là tướng hình phu khắc tử, cô độc góa bụa.
Người cổ có gân nổi ra là tính khí thô bạo. Xương cổ lồi lên là tính nóng nảy cộc cằn. Người gầy gân nổi bao quanh cổ là bần cùng. Người béo mà gân nổi bao quanh cổ lộ xương thì chết bất đắc kỳ tử ở quê xa xứ lạ. Cổ tròn da trắng xương cổ không lộ ra là người giàu sang, cổ tròn da dày như cổ gà, có nhiều lằn tròn là người thông minh tài trí. Vai và lưng đều khuôn phò sau cổ như nâng đỡ là tướng phát quan, cổ có nhiều lằn quấn vòng theo là nghèo nhưng rất thanh cao và sống lâu, nếu có nhiều mụn cóc nốt ruồi là hèn hạ, đói rách.
Về thế cổ, thì nếu cổ như hướng về phía trước (nhưng không được quá lộ liễu), chủ về tính nết hòa ái phong nhã, còn nếu như hướng về sau chủ về tính nhu nhược, hay gặp sóng gió bất ngờ. Cổ tròn dài như cổ hạc dễ phát nhưng chung cuộc không được an lành. Nếu cổ mập và cả đầu tương xứng như chim yến thì là tướng đại phú quí.
Tướng lưng
Tục ngữ có câu: “Tốt mặt chẳng bằng tốt mình”, với ý ngực và lưng là chủ của mình. Tướng lưng tốt (người sang giàu) phải hội đủ các điều kiện là đầy đặn, rắn chắc, cân xứng, nở nang. Có như thế thì nội tạng ổn, ít tai họa, được hưởng phúc lộc. Trái lại lưng mỏng, thế yếu, lưng cong... đều là các loại tướng xấu, nội tạng không ổn định, tinh thần suy nhược. Những người như vậy nếu Ngũ quan, tức tướng mặt, có tốt cũng khó mà phát huy ưu điểm của mình để đưa đến thành công trong thực tế. Với phụ nữ, lưng đầy đặn được coi là tướng vượng phu ích tử, tốt cho chồng con.
Dưới cái nhìn Á đông, lưng thẳng dài, to lớn, đầy đặn là người có tài năng. Lưng rộng và gồ lên như lưng rùa là thuộc loại phúc tướng. Lưng nhô lên như lưng cá là người thành đạt về công danh. Lưng nổi như tháp 3 tầng, chủ vinh hoa, phú quý và trường thọ. Lưng dày, rộng, phẳng thì cuộc đời được hưởng phúc, nếu có họa cũng sẽ qua khỏi. Lưng vuông, dài là người thông minh, tài giỏi, gia đình hạnh phúc. Lưng tròn như cánh quạt xòe là quý tướng.
Những tướng lưng xấu: Lưng có rãnh và còng như lưng con tôm thì kém thông minh, bần tiện. Lưng lệch lẹo, nhỏ bản, cuộc đời cực khổ, chết yểu. Lưng bẹt, mỏng, lõm thì cả đời nghèo hèn. Lưng mỏng, lệch, lõm là tướng bần hàn, cô độc. Lưng co ngắn là người ít học, bần tiện. Lưng lõm như rãnh nước, cả đời nghèo khổ.
Tướng eo lưng
Tướng mạo về eo lưng cho rằng: Eo lưng của con người như núi của bụng, là vật để dựa, chỉ việc yên tĩnh và nguy hại. Phía trước của eo lưng là bụng liên quan mật thiết với nhau. Sách “Thần tướng toàn biên” nói rằng: “Eo lưng là thành quách của bụng. Mọi sự an nguy của bụng đều dựa vào eo lưng cả”. Bởi vậy trong tướng học eo lưng phải “tròn trịa, ngay, thẳng, rộng, dày”. Kẻ có eo lưng như vậy là có phúc lộc.
Ngược lại, eo lưng hẹp, lép, mảnh mai là tướng kẻ đa thành đa bại, thân thể suy nhược. Eo lưng rộng rãi bằng phẳng tuơng ứng với mông là tướng tốt nhất, chủ về thọ. Eo lưng cong, hõm xuống, hẹp lệch không tương xứng với mông là tướng hạ cách, chủ vế tính nết nhu nhược, khó thành đạt.
Đàn ông tối kị eo thắt đáy lưng ong, đàn bà nếu eo lưng quá nhỏ và bó lại ở phần giữa, đường tử tức có rất nhiều điểm bất lợi. Viên Liễu Trang, nhà tướng học lừng danh có nói: “Đàn bà thân nhẹ, thắt đáy lưng ong, nhan sắc mĩ miều, lấy làm thiếp thì được chứ chẳng nên lấy làm vợ chính thức” vì lẽ kể trên. Như vậy, câu ca “Đàn bà thắt đáy lưng ong/ Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con” có lẽ chỉ là câu của đấng mày râu nịnh khéo phụ nữ, chứ theo quan niệm tướng mệnh của cổ nhân thì lại hoàn toàn trái ngược.
Tướng rốn, mông và nhũ hoa
Sách nói rốn là nguồn gốc của gân và tạng. Do đó hình dạng tướng mạo của bụng và rốn có quan hệ đến việc sống lâu, chết yểu, hiểu biết hoặc kém thông minh. Rốn cũng là mảnh đất tập hợp của các mạch trong con người (huyệt Thần khuyết). Rốn cần phải sâu, rốn sâu là giàu có, nhất là rốn phải ngửa lên mới thật là giàu sang. Dân gian có câu: “Rốn sâu có phước có lộc, rốn cạn chịu nạn chịu nghèo”.
Rốn rộng vành lớn lỗ là danh tiếng lẫy lừng. Rốn nhỏ mà bọc hẹp là đau khổ. Rốn cần trên nhỏ dưới lớn, đại kỵ trên lớn dưới nhỏ. Nếu rốn hướng về phía dưới thì có phúc và hiểu biết; hướng về phía trên thì nghèo; thấp thì tư lự và suy nghĩ sâu xa; cao thì trí lực kém; cạn mà nhô lên thì không có tướng làm quan, làm tướng. Đàn ông lồi rốn là nghèo mà thọ. Đàn bà lồi rốn là đần và ương ngạnh. Vì vậy phụ nữ bất kỳ gầy mập, đều phải cần có mông lớn eo lớn, lỗ rốn sâu là tốt. Lỗ rốn mà có ít sợi lông, nhứt định sinh con quí tử.
Theo quan niệm của Nhân tướng học, mông là nền tảng của đời người nên cần phải tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là cong. Đối với phụ nữ, mông lớn tròn trịa cân xứng và rắn chắc, vừa đẹp và vừa đam mê luyến ái, chí tình, hào phóng và rất độ lượng, vượng tử.
Nếu quá to là người tính nóng nảy, không chịu nhún nhường người khác. Nếu nhỏ vừa đủ nhưng chắc và cân xứng với eo, nhiều dục tính song kém phúc lộc. Người có mông nhỏ thường ưa sống nội tâm tính cách lúc nóng như lửa, lúc lại lạnh như băng, đầu óc minh mẫn, khả năng phán đoán linh hoạt và tư tưởng sắc bén. Phụ nữ thiếu mông (mông beo) thì lúc thanh xuân bạc về đường tình, mà rỗng về của cải. Khi trở về già hoặc trung niên thì chồng con chết, hoặc ly tán cô độc, mọi việc đều thất bại.
Tướng người phụ nữ nhỏ bé mà cũng không có mông thì tuy học vấn cao nhưng thành công ít, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phụ nữ mập tròn mà không có mông thì hiếm muộn về đường con cái, cuộc sống dễ trở nên cô độc, buồn nản. Về màu sắc của da mông, giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt nhiều.
Nhũ hoa của phụ nữ là căn bản của hậu duệ, tức là cái nguồn gốc để lưu lại đời đời về sau. Sách “Quan nhân ư vi” viết: “Đôi nhũ hoa là tinh hoa của vận mạch, xem nhan sắc đen trắng, to nhỏ có thể biết con cháu nhiều ít và hiền hay ngu”. Nhũ hoa phải chắc, đầy, quả hồng và núm đen, nhiều con (Nhũ đầu hắc đại tử tôn mãn đường). Có nốt ruồi ở vú tất sinh quý tử. Nhũ đầu trắng bệch chúi xuống, nhũ đầu nhỏ và nhọn, hiếm con cái. Nhũ đầu vàng trắng, đẻ con khó nuôi. Nhũ đầu lép, y lực bất túc. Đầu nhũ hoa hướng thượng, đa tử tôn. Đầu nhũ hoa trắng bệch, tướng nô bộc.
Đối với người tuổi Thìn, đặc biệt là người đàn ông thì hôn nhân là việc rất quan trọng, hôn nhân có tốt đẹp thì họ mới có thể yên tâm làm việc, xây dựng sự nghiệp.
Có nhiều cách để hâm nóng đời sống tình cảm vợ chồng
Có rất nhiều cách để “giữ lửa” cho hôn nhân, ví dụ như có thể thay đổi cách sống của mình, từ bỏ một vài thói quen xấu, bao dung hơn, quan tâm nhiều hơn với đối phương, cố gắng làm thỏa mãn mọi nguyện vọng của chàng/nàng, đồng thời thể thiện tình cảm một cách chân thành nhất, dành cho đối phương những lời có cánh, giữ hòa khí trong gia đình… có như vậy, nhất định cuộc sống cũng như sự nghiệp sẽ thuận buồm xuôi gió. Ngoài những cách trên thì bạn cũng có thể áp dụng một vài phương pháp phong thủy có tác dụng thúc đẩy vận đào hoa, tăng cường tình cảm vợ chồng.
Người tuổi Tý: Thử di chuyển một vài món đồ trong nhà
Nếu hôn nhân không như ý, người tuổi Tý có thể xem lại cách bày biện, bố cục của một vài món đồ trang trí trong nhà để có cảm giác thay đổi, cuộc sống sinh hoạt lúc nào cũng mới lạ khiến tinh thần tốt dần lên, thần khí tốt thì cách nhìn nhận mọi thứ cũng sẽ tốt lên. Tóm lại, tinh thần vui vẻ thì bầu không khí gia đình hài hòa, hôn nhân nhất định sẽ ngày càng bền vững.
Người tuổi Sửu: Đeo một vài món đồ trang sức
Trong 12 con giáp, người tuổi Sửu thuộc tuýp người trầm mặc, ít nói, nhiều khi trong lòng có điều muốn nói nhưng lại không thể nói ra, khi giao tiếp, những người này tỏ ra thiếu tự tin, không dám thể hiện bản thân mình, lúc nào cũng có cảm giác thiếu an toàn, e dè trong vấn đề tình duyên, sợ mình gặp phải người không như ý. Nếu có món đồ gì có thể giúp họ tự tin hơn thì đó chính là đồ trang sức, có thể là chiếc vòng có hình Phật đã được khai quang, họ sẽ cảm thấy bản thân như được tiếp thêm sức mạnh, cảm giác tự ti dần mất đi và mạnh dạn hơn trong cuộc sống hôn nhân.
Người tuổi Dần: Lấy cương thắng nhu, nên nuôi cá
Người tuổi Dần bản tính kiên cường, độc lập, có lập trường vững vàng, tính khó mạnh mẽ, năng lực phán đoán tốt nhưng vì những người này quá mức “sắc sảo” nên thường khiến người khác phải chú ý và sinh lòng đố kỵ, chơi xấu, phải đối phó với quá nhiều “tiểu nhân” khiến tinh thần của người tuổi Dần lúc nào cũng trong trạng thái căng thẳng. Để tâm thái an bình thì người tuổi Dần có thể nghĩ tới việc nuôi cá, đây là hoạt động giải trí có tác dụng giải tỏa tinh thần. Ngoài ra, hoạt động này còn có tác dụng thay đổi phong thủy nhà ở, khiến người tuổi Dần bớt nóng nảy, tính cách nhu thuận hơn, có tác dụng rất tốt trong việc thúc đẩy vận trình tình cảm.
Nuôi cá cũng là một phương pháp phong thủy cải thiện vận đào hoa
Người tuổi Mão: Thay đổi môi trường sống
Người tuổi Mão nên thay đổi cảnh quan nơi ở của mình một chút, trước cửa nhà hoặc cửa phòng ngủ vợ chồng cần có yếu tố Thủy (nước), Thủy đại diện cho tài vận và cũng có tác dụng “giữ lửa” cho hôn nhân, khiến lòng người tĩnh lại, khi đối mặt với khó khăn, đôi bên có sự đồng lòng, chuyển nguy thành an, các cụ ngày xưa có câu “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”. Bởi vậy, nếu người tuổi Mão muốn hâm nóng tình cảm vợ chồng thì nên thay đổi phong thủy nhà ở của mình trước.
Người tuổi Thìn: Phong thủy nhà ở thay đổi đời sống hôn nhân
Đối với người tuổi Thìn, đặc biệt là người đàn ông thì hôn nhân là việc rất quan trọng, hôn nhân có tốt đẹp thì họ mới có thể yên tâm làm việc, xây dựng sự nghiệp, vì vậy việc đảm bảo hạnh phúc hôn nhân luôn là mối quan tâm hàng đầu. Liên quan tới phong thủy, người tuổi Thìn nên bài trí cho không gian sinh hoạt nhà mình có sự thông thoáng, có nhiều cửa sổ, đón nhiều dương khí và cũng là để tầm mắt không bị cản trở, bó hẹp, việc này không chỉ ảnh hưởng tới vận thế mà còn có tác dụng to lớn trong việc thúc đẩy đào hoa vợ chồng.
Người tuổi Tị: Vật phẩm phong thủy có thể thay đổi vận thế.
Người tuổi Tị bản tính hào hiệp, không câu nệ nhưng nếu hôn nhân không hoàn hảo thì sẽ trở thành chướng ngại vật trên con đường thăng tiến sự nghiệp. Nếu muốn hôn nhân bền vững thì người tuổi Tị có thể trưng bày một vài vật phẩm phong thủy trong nhà, cụ thể là những vật biểu tượng, những linh vật có khả năng tăng cường sinh khí cho bản mệnh, như vậy sinh hoạt vợ chồng chắc chắn sẽ thuận lợi hơn.
Người tuổi Ngọ: Chọn nơi ở có nhiều nước và cây xanh
Người tuổi Ngọ có lối sống khá buông thả, không bao giờ có một khuôn mẫu chuẩn nào, cuộc sống phóng khoáng nhưng đôi lúc hơi quá đề cao bản thân mà không quan tâm tới cảm giác của người xung quanh, nếu trong cuộc sống hôn nhân mà vẫn như vậy thì sẽ khiến cho mối quan hệ đôi bên xuất hiện rạn nứt. Nếu không chủ động thay đổi, bù đắp thì người tuổi Ngọ sẽ khiến cho vết rạn nứt càng ngày càng lớn. Khi tính cách của hai người quá mạnh mẽ thì nên chọn nơi có nước có nhiều cây xanh để ở, như vậy môi trường xung quanh sẽ làm dịu bớt tính khí của một người, khiến tâm tình vui vẻ thoải mái, đồng thời trái tim cũng sẽ mềm đi nhiều, biết quý trọng đối phương hơn. Vậy nên, muốn hôn nhân bền chặt thì người tuổi Ngọ nên lưu ý điều này.
Người tuổi Mùi: Thay đổi phương vị giường ngủ
Với người tuổi Mùi, phương vị giường ngủ có ảnh hưởng đặc biệt tới quan hệ vợ chồng, nếu giường ngủ kê ở vị trí không tốt sẽ ảnh hưởng tới tâm thế của vợ hoặc chồng, hơn nữa, cảm giác khi sinh hoạt cũng không hề thoải mái. Người tuổi Mùi là người theo đuổi chủ nghĩa hoàn mỹ, luôn lấy mình làm trung tâm, mọi việc phải theo ý muốn cảu mình nên việc kê giường tất nhiên không thể không chú ý. Vậy nên, muốn thay đổi vận trình tình cảm thì có thể cùng đối phương thảo luận và tìm ra vị trí đặt giường mà cả đôi bên cảm thấy thuận tiện nhất, hài lòng nhất.
Người tuổi Thân: Đặt gương trên cửa
Trên cửa chính có treo một chiếc gương, một mặt là có thể “chiếu yêu, trừ tà”, một mặt là để giữ bản thân, tinh thần luôn tỉnh táo. Đối với người tuổi Thân, đôi khi biết rõ thứ mình muốn nhưng không biết làm thế nào để có lợi cho mình nhất. Trong cuộc sống hôn hân cũng vậy, bản mệnh không biết cách làm hài lòng đối phương, khiến mâu thuẫn sản sinh, hôn nhân xuất hiện nhiều khúc chiết. Vậy nên, người tuổi Thân nên treo một chiếc gương trên cửa chính để hóa giải tà khí, thúc đẩy hôn nhân của chính mình.
Người tuổi Dậu: Có thể đeo trang sức hạt châu
Người tuổi Dậu muốn thay đổi tình hình hôn nhân của mình thì có thể đeo trang sức hạt châu. Người tuổi Dậu cá tính cực đoan, trong đời sống vợ chồng nhiều khi gia trưởng khiến đối phương cảm thấy không thoải mái, khi bạn nổi nóng, đối phương có thể im lặng và chịu đựng nhưng về lâu về dài thì hạnh phúc sẽ dần rạn nứt, khoảng cách vợ chồng ngày một gia tăng, nếu như không khéo vun vén thì họa chia ly tiềm tàng. Người tuổi Dậu nên đeo trang sức hạt châu, vừa có tác dụng mang lại vận may, vừa có tác dụng giảm bớt tính khí hung hăng khiến tâm tình trở nên ôn hòa hơn, tình cảm vợ chồng sẽ được hâm nóng lại.
Nên đặt cây xanh trong phòng ngủ để thúc đẩy tình cảm vợ chồng
Người tuổi Tuất: Có thể nuôi cá
Cá có thể mang lại vận may cho chủ nhân, cũng có thể giảm bớt u uất khí trong nhà, khiến tình cảm gia đình ấm áp, hòa thuận. Trong nhà có nuôi cá, vô hình trung khiến mọi người trong gia đình có cảm giác yêu thương nhau hơn, hòa hoãn bầu không khí căng thẳng giữa vợ chồng. Hơn nữa, cá là loại vật nuôi nhỏ, vô cùng đáng yêu, người tuổi Tuất sẽ có kha khá đề tài tán gẫu với đối phương về điều này, giảm thiểu tối đa xung đột giữa hai người, muốn thay đổi tình cảm hôn nhân thì nhất định phải nuôi cá. Người tuổi Tuất cũng khá nóng tính, nuôi cá còn là phương pháp rèn luyện sự nhẫn nại, kiềm chế sự nóng nảy của bản thân, tác dụng phong thủy thúc đẩy vận đào hoa rất tốt.
Người tuổi Hợi: Đặt cây xanh trong phòng ngủ
Nếu hôn nhân không như ý muốn thì nguyên nhân không gì khác chính là do người tuổi Hợi quá đề cao bản thân, mọi việc lấy mình làm trung tâm, không chủ động quan tâm nới nửa kia, lâu dần, “đồng sàng nhưng dị mộng”, ở bên nhau mà không biết nói gì với nhau. Để cải thiện tình trạng này thì trong phòng ngủ nên đặt một chút cây xanh, vừa có thể cải thiện tâm trạng, vừa có tác dụng phong thủy, khiến khoảng cách vợ chồng ngắn lại, có thể nói, cây xanh chính là “ông tơ bà nguyệt” se duyên lại cho hai người. Lichngaytot.com Thúc vận đào hoa nhờ những chi tiết nhỏ trên bàn làm việcẤm tình đôi lứa với 6 vật phẩm phong thủy vượng nhân duyênĐừng quên địa điểm kị phong thủy đối với “chuyện ấy”Vợ chồng mệnh gì kết hợp với nhau thì đại cát đại lợi? Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Quỳnh Mai (##)
Đây là điển cố thứ Mười trong quẻ Quan Âm, mang tên Bàng Quyên Quan Trận (còn gọi là quẻ Bàng Quyên Xem Trận). Quẻ Quan Âm Bàng Quyên Quan Trận có bắt nguồn như sau:
Ngụy Huệ Vương học theo Tần Hiếu Công, muốn tìm một nhân tài giống như Thương Ưởng. Bàng Quyên bèn đến cầu kiến Ngụy Huệ Vương, tâu với Ngụy Huệ Vương về đạo lý nước giàu binh mạnh, Ngụy Huệ Vương nghe xong rất vui mừng, bèn bái Bàng Quyên làm đại tướng. Trước tiên, Bàng Quyên ra tay từ những nước nhỏ lân cận, thắng liền mấy trận, sau đó, đánh bại cả nước lớn là nước Tề. Ngụy Huệ Vương lại càng thêm tín nhiệm Bàng Quyên.
Sau đó Ngụy Huệ Vương nghe thấy danh tiếng của Tôn Tẩn, biết Tôn Tẩn là hậu duệ của đại tướng nước Ngô là Tôn Vũ, có bộ “Tôn Tử binh pháp” do tố tiên truyền lại, bèn nói với Bàng Quyên ý muốn trọng dụng Tôn Tấn. Bàng Quyên trong lòng đố kị, bèn giả vờ mời Tôn Tấn đến nước Ngụy cùng làm việc với mình, rồi bày ra cạm bẫy, trước mặt Ngụy Huệ Vương đã vu cho Tôn Tẩn tư thông với nước Tề. Ngụy Huệ Vương vô cùng giận dữ, lập tức khép tội Tôn Tẩn, khoét bỏ hai xương bánh chè, khiến Tôn Tẩn vĩnh viễn thành người tàn phế. Sau đó sứ giả của nước Tề đến kinh đô của nước Ngụy là Đại Lương (nay ở phía tây bắc của thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam), lập kế hoạch ngầm đưa Tôn Tẩn về nước Tề. Tướng quân Điền Kỵ của nước Tề vốn từ lâu đã ngưỡng mộ tài danh của Tôn Tẩn, nên đã tiến cử với Tề Uy Vương. Tề Uy Vương bèn bàn luận với Tôn Tẩn về binh pháp, sau đó phong Tôn Tẩn làm quân sư.
Vào năm 341 trước Công nguyên, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên liên kết với nước Triệu dẫn quân đánh nước Hàn, bao vây kinh đô của nước Hàn là Tân Trịnh. Vệ Chiêu Hầu cầu cứu nước Tề. Nước Tề phong Điền Kỵ, Điền Anh, Điền Phán làm tướng, Tôn Tẩn là quân sư, chỉ huy quân đội tiến vào đất Ngụy. Bàng Quyên nghe tin, liền bỏ Hàn mà trở về. Ngụy Huệ Vương rất giận nước Tề đã can dự vào đại sự của nước mình, bèn dốc đại binh đón đánh quân Tề, vẫn dùng Bàng Quyên làm tướng, thái tử Thân làm thượng tướng quân, đi theo quân đội tham gia chỉ huy, thề quyết chiến với quân Tề.
Tôn Tẩn thấy quân Ngụy khí thế hung hãn, bèn quyết định dùng kế sách “dục cầm cố túng” (muốn bắt nên thả), dụ Bàng Quyên cắn câu. Tôn Tẩn nói với Điền Kỵ rằng: “Thế lực của quân đội tam Tấn (ba nước Ngụy, Triệu, Hàn) rất hung hãn, xưa nay đều coi thường quân Tề, quân Tề chúng ta hãy ra vẻ yếu ớt để thuận theo thời thế là tốt nhất”. Điền Kỵ nghe theo, lệnh cho quân Tề tiến vào trong lãnh thố của nước Ngụy. Ngày đầu tiên đóng trại, đế lại vết tích số lượng bếp nấu của mười vạn quân, ngày thứ hai giảm xuống còn lại số lượng bếp của năm vạn quân, ngày thứ ba lại tiếp tục giảm xuống còn số lượng bếp của ba vạn quân.
Bàng Quyên quan sát quân Tề ba ngày, thấy số lượng bếp nấu của quân Tề ngày càng giảm xuống, thì hết sức vui mừng, đế lại bộ binh ở phía sau từ từ hành quân, còn tự mình thống lĩnh độl quân tinh nhuệ, trang bị nhẹ đuối gấp theo quân Tề.
Tôn Tẩn suy đoán rằng, đến lúc hoàng hôn, Bàng Quyên chắc chắn sẽ đuối đến Mã Lăng (nay ở phía đông nan huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc). Vùng đất này đường sá nhỏ hẹp, địa thế hiếm trở kẹp giữa hai núi, có thế mai phục, bèn chặt một cây gỗ lớn, cạo sạch vỏ, viết lên đó dòng chữ “Bàng Quyên sẽ chết dưới cây này”. Lại lệnh cho những quân sĩ giỏi bắn tên mai phục ở bên đường, và dặn dò binh sĩ rằng: “Nếu thấy ánh lửa thì đồng loạt bắn tên”.
Quả nhiên, vào lúc sẩm tối, Bàng Quyên thống lĩnh quân Ngụy đuối đến trước cây gỗ lớn, thấy có dòng chữ, bèn cao hứng đốt đuốc sol đế đọc. Bất ngờ hai bên đường, hàng vạn mũl tên đồng loạt bắn ra, tên bắn như mưa, quân Ngụy rối loạn, chết và bị thương la liệt, Bàng Quyên cũng bị trọng thương. Bàng Quyên tự biết vận nguy khó thoát, lớn tiếng than rằng: “Một lần không thận trọng, đã giúp tên nhãi ranh ấy được thành danh!” Nói rồi rút kiếm tự vẫn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Những điều nên tránh trong phong thủy nhà ở - Phong thủy - Xem Tử Vi
Những điều nên tránh trong phong thủy nhà ở, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Những điều nên tránh trong phong thủy nhà ở, tu vi Những điều nên tránh trong phong thủy nhà ở, tu vi Phong thủy
Ai cũng cầu mong sức khỏe, tài lộc, may mắn, tiền bạc, hạnh phúc và tình yêu trong cuộc sống. Điều đó lý giải vì sao ngày nay nhiều người coi trọng phong thủy với mong muốn có những nguồn năng lượng tốt bổ trợ và thay đổi vận mệnh tốt lên của mình.
Những lọ hoa héo khiến căn nhà vừa xấu vừa làm người khác đánh giá chủ nhà không chăm chút cho gia đình – Phong thủy trong cuộc sống, công việc đang là xu hướng được rất nhiều người đi theo. Nếu biết vận dụng thuật phong thủy tốt, gia chủ sẽ nhận được những nguồn khí bổ trợ tốt. Tuy nhiên, cũng có những việc làm không thuận với phong thủy, khiến họ chưa nhận được nguồn năng lượng tích cực. Dưới đây là 7 điều nên tránh làm trong phong thủy:
Kê một bên giường quá sát với tường
Đây được coi là sai lầm phổ biến nhất trong cách bày trí phòng ngủ của rất nhiều người. Việc chiếc giường bị kê quá sát với tường nhà hoặc nằm trong một góc phòng sẽ phong tỏa mọi nguồn năng lượng thịnh vượng khi bạn đang say ngủ. Chúng ta ngủ hằng ngày là để thư giãn, tĩnh dưỡng và trẻ hóa, và việc kê sai giường sẽ khiến quá trình ấy thu giảm đáng kể. Vị trí giường ở góc nhà sẽ khiến chủ nhân khó thoát ra khỏi giường khi có những tình huống bất ngờ xảy ra. Thêm vào đó, một chiếc giường không thoáng cả hai bên sẽ là trở ngại lớn cho các cặp vợ chồng, dễ gây cho họ những mối bất hòa không đáng có.
Để hành lang tối và cửa ra vào không sinh động
Một sai lầm đáng kể đến từ việc trang trí ngôi nhà đó là để hành lang tối, không có đèn thắp sáng, cộng với việc gia chủ để mặc cửa ra vào bị rợp bóng cây hoặc kém màu sắc tươi tắn, sinh động. Bố trí cửa ra vào đầy đủ ánh sáng, quang đãng, sinh động sẽ giúp ngôi nhà thu hút được những nguồn năng lượng tốt, mang đến niềm hạnh phúc, vui vẻ cho các thành viên trong gia đình và khách ghé thăm. Thêm vào đó, tuyệt đối không để hành lang gợi lên cảm giảm tối sâu hun hút. Hãy lắp đặt hệ thống ánh sáng vừa đủ, trang trí các bức tranh nghệ thuật hoặc đặt chậu cây cảnh… để hành lang mang màu sắc tươi tắn, đáng yêu.
Đặt tivi trong phòng ngủ
Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu gia đình bạn đang đặt một chiếc tivi trong phòng ngủ. Đó được xem là kẻ giết chết các mối quan hệ vợ chồng một cách thầm lặng. Tivi, đồ điện tử hay máy chơi game là những đồ vật khiến vợ chồng dễ xa cách nhau tại chính căn phòng ngủ của bạn. Hãy nhớ, xem phong thuy phòng ngủ là không gian riêng tư, nghỉ ngơi đầy lãng mạn của mỗi người, mỗi cặp vợ chồng, vì thế, hãy cố gắng để chúng không bị tác động bởi các đồ vật khác.
Để hệ thống ống nước rò rỉ
Mặc dù rất ít người coi trọng và lưu tâm, nhưng để hệ thống ống nước nhà bạn rò rỉ mà không sửa chữa ngay, đồng nghĩa với việc năng lực tài chính, năng lượng cá nhân, thậm chí là sức khỏe của gia chủ đang có vấn đề. Nếu chủ nhân ngôi nhà không có kinh nghiệm thì hãy gọi ngay đội sửa chữa đến càng sớm càng tốt. Tuy nó là một vấn đề nhỏ nhưng để lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của gia đình bạn và làm tiêu tan những nguồn khí tích cực của ngôi nhà.
Bày trí những bức tranh không phù hợp
Nếu chủ nhân ngôi nhà là người yêu thích các bức tranh nghệ thuật liên quan đến chiến tranh, tôn giáo, đồ cổ kỳ lạ thì hãy treo chúng ở một gian phòng riêng. Bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của các thành viên còn lại của gia đình và khách ghé thăm. Trong các gian phòng khách, phòng ngủ, phòng trẻ… bạn nên treo những bức tranh sinh động, màu sắc hài hòa, tươi tắn, đáng yêu để mang đến cảm giác chào đón, nồng hậu, vui vẻ cho mọi người.
Lắp các tấm gương lớn đối diện nhau
Trong phong thủy, việc lắp hai tấm gương đối diện nhau ở hai bên bức tường là điều tối kỵ. Bởi khi đó, vùng không gian ở giữa hai gương sẽ là những nguồn năng lượng phản xạ, đối lập nhau, khiến cho gia chủ và người thân gặp phải nguồn khí không có lợi. Thay vào đó, gia chủ có thể đặt những chậu cây cảnh nhỏ xinh, đặt những bình thủy sinh để tô điểm cho ngôi nhà mà vẫn khiến không gian sâu rộng, tươi mát.
Để cây cảnh đã chết trong nhà hoặc ngoài sân
Nếu không muốn người khác hiểu rằng nguồn sinh khí trong căn nhà bạn đang héo mòn và chết dần thì tuyệt đối không được để cây cảnh, chậu hoa, bình hoa đã héo úa và chết trong nhà hoặc ngoài sân. Điều lưu tâm cơ bản nhất của chủ nhân ngôi nhà là luôn tạo cho căn nhà mang vẻ sức sống, tươi mới. Do đó, hãy nên chú ý đến các loại cây trồng trong nhà bạn. Chăm sóc chúng thật tốt, rửa bụi bẩn, thay nước và thay hoa đều đặn. Hãy để hoa, cây cảnh mang sức sống, sự tươi mới và sinh động theo đúng nghĩa của nó.
Giấc mơ về vua thể hiện bạn đang có nhiều nỗ lực và tham vọng. Mơ thấy bạn được tôn lên làm vua thể hiện bạn mong muốn, hoặc vừa được thăng cấp, tiến xa hơn người xung quanh hoặc bạn đồng nghiệp. Mơ thấy bị vua khiển trách có thể là dấu hiệu bạn đan