Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

7 sai lầm dễ mắc khiến âm khí nặng trong nhà

Ngôi nhà có âm khí nặng thì tinh thần, sức khỏe của người trong nhà cũng không thể tốt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Rất nhiều kiến thức phong thủy trong cuộc sống thường nhật mà chúng ta cần tìm hiểu để tránh mang đến những điều không may mắn. Trong ngôi nhà – nơi chúng ta đang ở càng cần chú ý đặc biệt đến âm khí, có những đồ dùng, vật dụng đang được đặt ở những vị trí không nên đặt mà chúng ta không hề hay biết. Điều đó dẫn đến âm khí càng ngày càng nặng và ảnh hưởng ít nhiều đến sự hưng thịnh của chính bản thân gia chủ. Đồ dùng, vật dụng hay chính ngôi nhà của bạn liệu đã đặt đúng vị trí?

1. Phòng ngủ đặt ở vị trí Ngũ Quỷ

Trong số những Thất tinh (5 ngôi sao) thì phòng ngủ của bạn lại được đặt đúng vị trí Ngũ Quỷ. Vị trí này cần chú ý vì là nơi phong thủy rối loạn, mang đến vận khí không tốt. Rất có thể bạn sẽ gặp phải những chuyện hoang đường, hay thậm chí là gặp những cơn ác mộng triền miên.

2. Nơi bạn đang sinh sống là nơi ẩm ướt, u ám, là nơi khiến bạn thường xuyên bị cảm lạnh, ho dai dẳng. Nếu đang ở một nơi như vậy thì bạn cần chú ý hơn, ám khí nơi này quá lớn.

3. Ở hướng Tây Nam nhà bạn có những ngôi nhà cao tầng hoặc những công trình kiến trúc có hình tròn, hình góc nhọn. Tà khí trong nhà sẽ rất nặng.

 7 sai lam de mac khien am khi nang trong nha - 2

4. Nhà rộng người ít, nhân khí không thắng âm khí. Thông thường diện tích bình quân trên đầu người phổ biến là 25m2/người. Diện tích này không nên quá lớn.

5. Cửa nhà, cửa sổ đối diện cây đại thụ, phần mộ, bị gương bát quái chiếu chính diện hoặc nhà gần sát bệnh viện, bãi rác hay tường nhà bị quấn đầy những cây leo chằng chịt… Những không gian này là những nơi âm khí nặng.

6. Trong nhà treo di ảnh của người đã mất quá lâu (từ nhiều đời trở về trước) cũng sẽ gây nên âm khí nặng cho ngôi nhà.

7. Trong phòng ngủ đặt bể cá cảnh, nuôi cá, không chỉ không khí ẩm ướt, âm khí nặng mà còn ảnh hưởng đến đường con cái.

 7 sai lam de mac khien am khi nang trong nha - 3
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 7 sai lầm dễ mắc khiến âm khí nặng trong nhà

Cách đặt tủ rượu trong phòng ăn như thế nào? –

Chất lượng cuộc sông đang ngày một nâng cao, việc trang hoàng cho phòng ăn một chiếc tủ rượu là điều mà nhiều gia đình lựa chọn. Tủ rượu và những chai rượu có hình dáng đẹp mắt có thể làm tăng sự sang trọng của căn phòng. Phòng ăn có một tủ rượu cao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

và dài, một bàn ăn thấp và phẵng, theo thuật phong thuỷ, chúng tượng trưng cho hình tượng của núi và nước, rất có lợi cho trạch vân.

20

Hãy dựa vào hình dáng và kích thước của từng loại tủ, để kê đặt sao cho hợp lý và đẹp mắt.

–   Xây hoặc đặt một chiếc tủ rượu kiểu tủ tường ngăn cách giữa phòng khách và phòng ăn, bạn sẽ tận dụng được mọi diện tích, mà vẫn không ảnh hưởng đến phong thuỷ cũng như vẻ đẹp riêng của hai căn phòng.

–   Với phòng ăn thấp và hẹp, bạn có thể gắn vào tường một giá kê rồi đặt lên đó các tấm kính thuỷ tinh, như vậy là bạn đã có một tủ rượu độc đáo, không chiếm diện tích mà còn cảm thấy không gian phòng như cao hơn.

–   Đặt một tủ rượu bằng gỗ nơi góc tôi hẹp dài của phòng ăn, bạn không chỉ tận dụng được không gian dư thừa mà còn mang theo hơi thở của thiên nhiên vào nhà qua chất liệu gỗ.

Tủ rượu được làm bằng chất liệu gì cũng thường được Ốp kính, gương ở mặt lưng để làm tăng thêm không gian ảo, vẻ đẹp của chai lọ, cốc tách bằng thủy tinh, pha lê, nhưng nếu tấm gương này quá to thì theo thuật phong thuỷ, nó sẽ mang lại điều không thuận lợi.

Phong thuỷ học cho rằng, không nên đặt tủ rượu cạnh bể cá cảnh vì hai vật đó, một có thủy khí nặng nề, một tụ thủy, đặt gần nhau sẽ khiến “dòng nước tràn lan”, rất bất lợi cho chủ nhà. Cách khắc phục là đặt một chậu cây cảnh cành lá xum xuê giữa bể cá và tủ rượu tạo nên vách ngăn giữa hai vật và có thể loại trừ được hơi nước.

Ngoài ra, kê tủ rượu ở vị trí cát lành của bản mệnh sẽ mang lại may mắn cho bạn. Gia chủ thuộc Đông Tứ mệnh, tủ rượu thích hợp kê ở Đông tứ phương: phía chính Đông, Đông Nam, chính Nam, chính Bắc của phòng ăn. Gia chủ thuộc Tây tứ mệnh thích hợp kê ở Tây tứ phương: phía Tây Nam, chính Tây, Tây Bắc, Đông Bắc của phòng ăn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách đặt tủ rượu trong phòng ăn như thế nào? –

Sao Trường Sinh

Hành: Thủy Loại: Thiện Tinh Đặc Tính: Phúc thọ, sinh khí, thịnh vượng. Tên gọi tắt thường gặp: Sinh Phụ Tinh. Sao chủ và cũng là ...
Sao Trường Sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: ThủyLoại: Thiện TinhĐặc Tính: Phúc thọ, sinh khí, thịnh vượng.Tên gọi tắt thường gặp: Sinh
Phụ Tinh. Sao chủ và cũng là sao thứ 1 trong 12 sao thuộc vòng sao Trường Sinh theo thứ tự: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

Ý Nghĩa Trường Sinh Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Trường Sinh cũng như Đế Vượng chỉ sự phong phú, người có tầm vóc, mập mạp, có sức khỏe tốt, có tư chất cơ thể tốt, có triển vọng sống lâu.
Tính Tình Phúc Thọ:
Trường Sinh là quí tinh, có nghĩa làđộ lượng, nhân từ, quảng đại, làm tăng thêm phúc thọ, tài lộc, con cái, có lợi ích cho sự sinh nở (như Long Phượng, Thai).
Ý Nghĩa Trường Sinh Với Các Sao Khác

  • Trường Sinh, Tử Vi, Thiên Phủ: Người bao dung, quảng đại, dễ tha thứ, không câu chấp. Nếu có quan chức lớn thì ân đức rộng.
  • Trường Sinh, Thiên Mã: Được vận hội may về nhiều mặt; công danh tiến đạt, tài lộc gia tăng, công việc thành tựu. Nếu đồng cung thì càng đẹp. Tuy nhiên, riêng ở Hợi, vốn bất lợi cho Mã nên vất vả, trắc trở, không lợi về danh, tài, quan.
  • Trường Sinh, Đế Vượng: Mập mạp, phong túc.
  • Trường Sinh có thể ví như một hệ số làm tăng ý nghĩa của các sao đi kèm, tốt cũng như xấu.
Ý Nghĩa Trường Sinh Ở Các Cung
Chỉ trừ phi ở cung Tật gặp nhiều sao xấu thì bệnh tật nhiều và lâu khỏi, ở các cung khác, Trường Sinh đem đến phúc thọ, tài lộc.
  • Ở cung Huynh Đệ thì anh em đông, sung túc.
  • Ở cung Tử Tức thì đông con.
  • Ở cung Tài Bạch thì dồi dào tiền bạc.
  • Ở cung Phúc Đức thì thọ.
Khi vào hạn thì gặp vận may. Tùy ý nghĩa sao đi kèm, Trường Sinh làm tăng thêm cái hay của cát tinh hoặc cái dở của sao xấu.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Trường Sinh

phòng khách hợp phong thủy đón tết

Phòng khách là một bộ phận chính của căn nhà, thêm vào đó phòng khách thường chiếm một vai trò quan trọng về mặt phong thủy.
phòng khách hợp phong thủy đón tết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Vì phong thủy xem việc hấp thụ dòng khí là điều chính yếu, mà phòng khách thường có vị trí ở phía trước nhà, là nơi đầu tiên tiếp nhận dòng khí (là dòng năng lượng tốt hoặc xấu), từ đó dòng khí mới phân bổ đi vào các phongcahạng mục khác trong nhà như phòng ngủ, phòng ăn, nhà bếp…
phong khach hop phong thuy don tet hinh anh
Bày trí phòng khách đón Tết

* Tầm quan trọng của phòng khách

Phòng khách cũng thường được thiết kế với một diện tích khá lớn nên là nơi được lựa chọn để bố trí và sắp xếp nhiều vật dụng gia đình, nhiều đồ vật trang trí… Cho dù chúng có thuộc về vật phẩm (các vật dụng sử dụng trong môn phong thủy có khả năng hấp thụ hoặc phát ra năng lượng ảnh hưởng tới những người sống quanh đó. Ví dụ: Tỳ hưu, kỳ lân, ngọc đá…) phong thủy hay không thì chúng đều có ảnh hưởng đến dòng khí chính trong căn nhà, cũng như có khả năng thu phát những luồng năng lượng xấu hoặc tốt.
Phòng khách là nơi đón tiếp khách, tạo ra ấn tượng của toàn bộ căn nhà lúc ban đầu, cũng là nơi các thành viên trong gia đình tập trung, thư giãn. Do đó phòng khách được phong thủy xếp vào một trong năm hạng mục trọng yếu trong căn nhà bao gồm: Phòng thờ, phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, phòng tắm và vệ sinh.

* Sắp xếp hợp lý

1. Nên

- Xét về tổng thể, phòng khách trước tiên phải đảm bảo yêu cầu về độ thông thoáng và ánh sáng. Nếu phòng khách chật hẹp hoặc bị sắp đặt quá nhiều đồ vật sẽ khiến dòng khí bị ách tắc. Ánh sáng đầy đủ và mạnh mẽ sẽ làm tăng cảm giác tích cực hoạt động. Ánh sáng có thể là từ nguồn tự nhiên trực tiếp từ mặt trời hoặc ánh sáng ban ngày hoặc nhân tạo. Ánh sáng tự nhiên bao giờ cũng coi là ưu tiên hàng đầu, đó chính là nguồn khí thiên nhiên khó thay thế. Mặt khác ánh sáng mặt trời cũng góp phần tiêu diệt bớt vi khuẩn, giảm độ ẩm, giữ có căn phòng được khô thoáng.

- Đối với yêu cầu về hình thể, do đặc thù của phòng khách là nơi tiếp khách nên cần có vị trí để ngồi nói chuyện, giao tiếp giữa chủ và khách. Có nhiều loại bàn ghế, tùy thuộc vào khung cảnh chung mà bài trí cho thích hợp, chẳng hạn như phòng khách lớn có thể dùng bộ salon có kích thước lớn hoặc ngược lại, hay như nhà có trần thấp thì cũng không nên dùng bàn ghế quá cao, thậm chí có thể bài trí bàn uống nước trà theo kiểu Nhật.

Tương quan giữa chủ và khách cũng nên được hình thành, thông thường đối với nhà và phòng khách đã có hướng phù hợp với chủ nhân thì vị trí ngồi của chủ nhân khi tiếp khách nên ở thế quay lưng ra phía sau nhà và hướng mặt ra phía trước cửa. Điều này sẽ luôn tạo được tấm lòng mến khách của chủ nhà mà những người quen có thể cảm nhận được. Đồng thời trong khi giao tiếp cũng dễ dàng nắm giữ thế chủ động.

Theo phái bát trạch, phòng khách nên được sắp xếp vào những phương vị tốt như Sinh khí, Diên niên, Thiên y.

- Phục vị tránh rơi vào vị trí của bốn cung xấu: Ngũ Qủy, Lục Sát, Họa Hại, Tuyệt Mệnh. Khi đã được bố trí ở bốn phương vị tốt là phù hợp với mệnh của chủ nhà thì việc trang trí sẽ trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều. Khi đặt ở bốn phương vị xấu hoặc không hợp với mệnh của chủ nhà thì việc trang trí sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

+ Khi phòng khách đặt ở một trong bốn phương vị xấu hoặc không hợp với mệnh của chủ nhà hoặc bị cả hai trường hợp trên thì nên có cách điều chỉnh và khắc phục. Những cách thông thường có thể áp dụng là chọn hướng ngồi của chủ và khách theo vị trí vượng khí cho chủ nhân, sử dụng các đồ vật và màu sắc thích hợp, trợ sinh cho mệnh chủ nhân, đặt các vật khí phong thủy có tác dụng tăng tiến tài lộc hoặc các vật trấn để tiêu giảm các dòng khí xấu.

2. Không nên

Phòng khách ngay bản thân tên gọi cũng cho thấy mục đích chính của nó là đón khách, tiếp khách… Do đó, ảnh hưởng khá nhiều đến công danh, tài lộc, các mối quan hệ làm ăn với bạn bè, đối tác, góp phần vào sự thăng tiến của chủ nhân, thúc đẩy hoặc suy giảm hình ảnh bộ mặt của chủ nhân với môi trường xã hội bên ngoài. Vậy cần quan tâm đến một số điều kiêng kỵ và cách giải quyết sau đây:

- Đối với những nhà mà điều kiện không cho phép dẫn đến phòng khách tối tăm, thiếu ánh sáng hoặc quá chật hẹp gây cảm giác khó chịu, về lâu dài ảnh hưởng đến sự cô đơn, buồn bã. Cách xử lý có thể kết hợp thêm ánh sáng nhân tạo như dùng đèn kết hợp với những gam màu ánh sáng và tranh ảnh với kích thước lớn và có độ sâu, có thể xem xét sử dụng thêm gương để tạo cảm giác mở rộng căn phòng, sự u ám sẽ được cải thiện.

- Tránh có cửa lớn thông nhau tạo gió lùa, hình thành luồng khí hung hãn. Ngoài ra cũng phải tránh những vật nặng nề ngay phía trên chỗ ngồi tạo cảm giác lo lắng, bất an.

- Cần hạn chế bài trí các đồ vật có quá nhiều góc cạnh, hoặc quá cứng cáp, tránh trang trí những hình thù kỳ dị, binh khí như đao kiếm, hoặc những tranh ảnh kích động bạo lực, dã thú. Có thể có sự bổ trợ kết hợp với các tranh ảnh đồ vật, màu sắc có dáng điệu, phong cách nhẹ nhàng, mềm mại để trung hòa bớt.

- Tránh sự bố trí sắp xếp chưa hợp lý dẫn đến cảm giác trống vắng lạnh lẽo. Điều này thường xảy ra khi chủ nhân sao nhãng chuyện quét dọn, lau chùi nhà cửa. Cần chú ý quan tâm thường xuyên sao cho tạo cảm giác ấm cúng thân mật.

- Vị trí ngồi nói chuyện tiếp khách, cũng như cách sắp xếp bàn ghế chưa phù hợp, gây cảm giác bất lợi đối với chủ nhân hoặc không an tâm về phía đối tác, hay tạo cảm giác nghi ngờ, sợ sệt… đều không có lợi. Những việc này thường gây ảnh hưởng đến công việc làm ăn của chủ nhà, đối với những người làm kinh doanh lại càng nên tránh vì không tạo tin tưởng cho khách hàng của mình.

- Có thể sử dụng cây cảnh, hoặc hồ nước nhỏ, hồ cá trong phòng khách, tuy nhiên cần tránh việc làm tăng cao độ ẩm trong nhà. Chỉ nên sử dụng đối với phòng khách có không gian rộng, thông thoáng, hợp với những chủ nhân mệnh Thủy, Mộc. Khi bày đặt nên tìm những vị trí để che chắn những góc cạnh sắc nhọn như góc tường, góc bàn để triệt tiêu luồng khí dữ.

- Hiện nay, nhiều nhà sử dụng phòng khách làm nơi bày đặt các trang thiết bị thông tin và giải trí như dàn nghe nhạc, vô tuyến truyền hình… Điều này cũng có thể chấp nhận được nếu như ta chưa có điều kiện làm phòng riêng cho khu vực giải trí. Tuy nhiên, cần xem xét cân đối với căn phòng tránh sự xắp xếp quá dày đặc có thể ảnh hưởng đến sức khỏe. Mặt khác những đồ vật này thường liên quan đến điện, điện tử nên có tính Hỏa, phù hợp hơn đối với người Mệnh Hỏa, Thổ. 

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: phòng khách hợp phong thủy đón tết

Tử Vi với thế cuộc nhân sinh

Bài viết của cụ Thiên Lương trình bày: "tử vi với thế cuộc nhân sinh" rất hữu ích. Một bài viết rất dễ hiểu.
Tử Vi với thế cuộc nhân sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Bài viết của cụ Thiên lương)

Có những cách nào trong Tử vi mới đáng mặt là công bộc cao cấp trong lập pháp, hành pháp và tư pháp?

Tử vi thường tình được xem là thuật coi số mạng theo các vì sao mà thánh nhân đã ấn định theo cách thức tốt xấu, hên xui tùy theo bốn yếu tố năm tháng ngày giờ sinh cho mỗi cá nhân.

Ngày nay đã được phổ cập đến quảng đại quần chúng.

Riêng đối với bậc thức giả không còn là khoa bói toán. Nó là một môn học có lý lẽ đương nhiên sẽ diễn biến lớp lang theo luật bù trừ. Có thể nói nếu tin ở thuyết nhân quả, nó là triết lý của một tôn giáo. Bốn yếu tố như trên vừa kể không thể dẫn dắt người đời đến một kết quả tuyệt đối, may ra chỉ phúc chủ lộc thầy (muốn sanh ra ở vào quảng thời gian nào cũng chỉ là một lá số trong 518.400 cách trình bày đã quy định, không thể ra ngoài con số 518.400 được xếp đặt).

Sự tốt xấu hên xui phải có, đến mức độ nào phải tùy thuộc vào nhân quả. Tính theo nhân số miền nam VN có 20 triệu dân. Đối với 518.400 lá số, có thể có trung bình 38 đến 40 người có chung một lá số giống in hệt nhau. Giờ nào sanh nhiều có thể đến số tối đa 100, và tối thiểu là 10. Vậy không thể có đến 10 ông Quốc trưởng và cũng không thể có 100 người ngày giờ đó trúng số độc đắc 5 triệu đồng. Trong số 100 hay 10 người nào đó có thể lấy Đại vận 10 năm một, sự hên xui rất trùng có lớp lang xếp đặt theo chu kỳ tính theo sinh khắc chế hóa của âm dương Ngũ hành.

Một người khi đắc thời tưởng cao sanh cũng chiều người, muốn tung hoành ngang dọc rất dễ theo ý muốn, nhưng mấy ai đã nghĩ đến trèo cao thì ngã đau. Cái phần của mình chỉ trong giới hạn nào mà thôi.

Tử vi đã đặt người ta vào trong một cái vòng Tràng sinh Lộc tồn, Thái tuế rất phân minh rõ rệt. Tại sao lại đặt Thái dương ở cuối vòng Tràng sinh? Lý lẽ theo sự biết của thế nhân là mỗi cá nhân do bào thai đúc kết, nuôi dưỡng lên rồi khôn lớn tranh đua với đời, lần hồi đến chỗ suy tàn bệnh tật, rốt cuộc chỉ còn nấm mồ theo thời gian cũng là hết tuyệt. Thánh nhân đặt Thai, Dưỡng ở cuối vòng để nối tiếp Tràng sinh có ý nghĩa luân hồi trong cái vòng khép kín nối nhau, cứ kiếp này sang kiếp khác luân chuyển.

Lộc tồn là cái mồi phú quý chỉ dành cho cá nhân nào đắc cách, có nghĩa là đã ở một cái kiếp nào với nhân quả của nó. Một khi đã Suy Bệnh Tử thì đừng hòng ngang bằng với Quan đới, Lâm quan, Đế vượng. Phúc đức cho ai ráng mà tu tỉnh với trạng thái, Thai, Dưỡng, Sinh. Còn trái nghịch lẽ âm dương hay không duyên kiếp, Lộc tồn chỉ là một béo như cá, đánh lừa đàn chuột lắt đánh hơi thấy ngon thơm, nhào đầu vào lưỡi câu, lồng bẫy đưa thân thể đến chỗ nằm trên thớt bị dao phanh thây bầm nát.

Vòng Thái tuế, Lộc tồn là hai thế âm dương phân tách tóm hợp của Tràng sinh, Kiếp người một khi nhập thế cuộc cùng với thời gian quy định (năm tháng ngày giờ) vị trí Mệnh, Thân sẽ quyết phần số phận.

Người Thiếu âm là phần số người chân thật, tưởng ai cũng như mình, không phải là cứ chịu thiệt thòi mãi mài, cũng có lúc nở mặt nở mày, nhưng phải biết tự an ủi để cho kiếp sống được an vui như một triết nhân không tham sân ai, có cố cho lắm cũng chẳng lấn là bao. Đành rằng định mệnh là một việc, cái Ta cũng phải có số phận hẩm hiu cái Ta, chịu khó một chút tất nhiên không phải luân phiên đói rách.

May mắn được sáng suốt (Thiếu dương) tinh khôn hơn người, nhưng không qua mắt được lý công bằng thiên nhiên. Vậy khôn phải ngoan, biết lẽ phải quấy lợi cho mình đừng hại đến ai, không phải chỉ có một mình mình mới đáng sống.

Người thất vọng (Tuế phá) gặp nhiều việc không vừa lòng, không phải mình quật khởi trái với lương tâm mà thành công như ý muốn được, mà cũng không phải cứ ngồi than thân trách phận, phân trần đem lại tốt đẹp cho mình.

Với ba hạng người trên vẫn có lúc đắc thiên thời gặp bước vinh hoa (Đại vận gặp Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ). Nhưng biết mình biết người là tri thiên mệnh, không đưa thân thế đến chỗ quá thất vọng để rồi làm những việc ngàn năm lưu giữ như ai bán nước cầu vinh chẳng hạn, trái với người được tượng đồng bia đá, thì vạn niên bia miệng khó quên con người phản bội.

Người Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ

Trên nấc thang danh dự người Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ không phải sinh ra đời là đắc ý ngay từ lúc nằm nôi cho đến khi nhập quan xuống đất, vẫn phải trải qua một thời gian tối đa là 30 năm (3 đại vận) không thì cũng 2 đại vận để đào luyện nên con người hữu dụng cho xã hội, cho đất nước.

Người Mệnh, Thân Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ vẫn là người đáng trọng, nhưng buồn phiền hco ai Mệnh Thân đồng cung tam hợp tuổi bị Không Kiếp cản mũi, nhất là thêm Tả Hữu, thật lòng tiếc cho ai cho đất nước, tấm thân đa tài mà bất hữu dụng thật lòng thương khóc cho ai, mặc dầu không ai thuê mướn mình, bị Phá quân Thìn Tuất thủ Mệnh đứng trong tam hợp Thái tuế. Nỗi oan ức nào mấy ai hiều thấu ra tay minh oan bào chữa.

Tưởng đó là bổn phận của những Bao công huyền bí.

Biết rằng trong một xã hội, một quốc gia, nếu đa số dân là Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ, hẳn rằng cái xã hội ấy, cái đất nước ấy không thể không tiến bộ, không phải là không sản xuất những vỹ nhân, khôg có những bản anh hùng ca trên một phương diện nào. Một thể chế đúng mức dân chủ chẳng hạn, từ vị Nguyên thủ quốc gia được phổ thông đầu phiếu bầu lên, rồi đến các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, người dân cầm lá phiếu đi bầu, nếu đa số trúng cử là người đứng trong tam hợp Thái tuế thì cái giai đoạn đó không thể không thịnh trị.

Một cái tốt đẹp hơn nữa, nếu những ông dân biểu, nghị sĩ (lập pháp), quan tòa (tư pháp) Tổng bộ trưởng (hành pháp) lại đang ở trong giai đoạn thiên thời đúng mức (Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ) nghĩa là người tam hợp Thái tuế lại gặp đại vận tam hợp Thái tuế.

Tử vi ngày nay đã được đại đa số quần chúng theo dõi, có quyền rộng rãi cầm phiếu bầu tùy ý. Ta hãy phân tách ai đâu là người xứng đáng có mặt trong giới nào: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Công bộc xứng đáng

Thái tuế là cái gì cao trọng nhất là người trong giới lập pháp mới xứng đáng địa vị bất khả xâm phạm. Quan phù là ngôi vị các ngài Thẩm phán cầm cán cân công lý, tính toán cân nhắc công tội xác đáng mới tuyên án. Các ông Tổng, Bộ trưởng là địa vị dành cho những ai là người quyết tâm lao đầu làm việc chánh nghĩa trượng phu của Bạch hổ.

Hẳn là chỉ có các ông Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ là dường cột của quốc gia, ta cũng không thể quên 9 vị trí kia khi vận hội đến, nhưng phải có điều kiện như Tuế phá, Điếu khách, Tang môn nên hiểu thân phận mình sẽ là các ông lập pháp đối lập rất hay để kiềm chế bớt cái phóng tay của mấy ông hành pháp quá trớn. Các ông Thiếu âm, Long đức, Trực phù gặp thiên thời tự biết an ủi cũng sẽ là những vị hành pháp nêu cao danh nghĩa liêm chính với đời. Còn các cung Thiếu dương, Phúc đức, Tử phù, đừng quá hóm hỉnh, như số đã quy định Tử đức là điểm chính yếu để mấy ông giữ thăng bằng của nền tư pháp.

Đã biết tam hợp Thái tuế gặp nhầm Không Kiếp chỉ là người hữu tâm mà không đắc dụng, trái lại 9 vị trí kia nếu có Không Kiếp, thật tình không biết mời mấy ông ngồi vào ngôi vị nào với đầu óc vị tha thương mại của mấy ông, nếu lại thêm đầy đủ cả Tả hữu.

KHHB 75-3-b-Diễm Chi


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử Vi với thế cuộc nhân sinh

Tìm hiểu đầy đủ về ý nghĩa ngày Tết nguyên đán

Tết nguyên đán là dịp lễ tết to nhất, quan trọng nhất của người dân Việt Nam ta. Ý nghĩa ngày tết nguyên đán cũng như nguồn gốc của ngày đặc biệt này, chúng ta sẽ cùng Phong thủy số tìm hiểu rõ hơn ngay sau đây.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tết nguyên đán là dịp lễ tết to nhất, quan trọng nhất của người dân Việt Nam ta. Đây là ngày lễ cổ truyền đánh dấu khoảnh khắc giao thời giữa năm mới và năm cũ, đánh dấu chu kỳ vận hành của vạn vật, đất trời. Ý nghĩa ngày tết nguyên đán cũng như nguồn gốc của ngày đặc biệt này, chúng ta sẽ cùng Phong thủy số tìm hiểu rõ hơn ngay sau đây.

Tìm hiểu đầy đủ về ý nghĩa ngày tết nguyên đán

Xem thêm:

+ Mâm cỗ cúng Tất niên gồm những món gì?

+ Những lời chúc năm mới hay

Tết Nguyên Đán Việt Nam hay còn gọi là ngày Tết Âm Lịch, Tết Cổ Truyền là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người dân Việt Nam. Đây được xem là dịp đặc biệt nhất trong năm, là khoảng khắc tất cả mọi người tìm về với gia đình, xum vầy bên mẹ cha, anh chị em, người thân...dù bất cứ ai, dù đi xa đến đâu đi chăng nữa, đến ngày Tết niềm mơ ước lớn lao nhất của họ vẫn là đoàn tụ bên gia đình. Không chỉ thế, dịp tết cổ truyền còn là dịp để con cháu tỏ lòng biết ơn đến ông bà tổ tiên, cầu mong cho một năm cũ qua đi, năm mới đến với nhiều niềm vui, hạnh phúc, sức khỏe và may mắn.

Trước khi tìm hiểu ý nghĩa ngày tết cổ truyền Việt Nam, chúng ta hãy cùng tìm hiểu trước về nguồn gốc của ngày này.

1.Nguồn gốc

Chịu ảnh  hưởng mạnh mẽ từ nền văn hóa Trung Hoa trong hơn 1 ngàn năm Bắc thuộc, ngày tết nguyên đán cũng là một trong những nét văn hóa được du nhập vào khoảng thời gian đó. Theo lịch sử Trung Hoa thì ngày tết nguyên đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và sau đó thay đổi theo từng thời kỳ. Tuy nhiên chiều đại cuối cùng thay đổi về ngày tết là thời nhà Hán, Hán Vũ Đế, từ đó đến nay, không có thêm bất cứ sự thay đổi nào. Ngày tết được  bắt đầu từ ngày mồng 1 tháng giêng và kéo dài cho đến hết ngày mồng 7 tháng giêng.

Có thể thấy ngày tết cổ truyền của Việt Nam được hình thành cũng như ảnh hưởng khá nhiều từ nền văn hóa trung hoa và nó được hình thành từ rất lâu trước đây, đến nay vẫn chưa có nhà sử học, nhà văn hóa học nào có thể xác định chính xác thời điểm ngày tết cổ truyền Việt Nam ra đời.

2.Ý nghĩa ngày tết nguyên đán

Tết nguyên đán không chỉ là dịp thể hiện sự giao cảm giữa con người và đất trời, không chỉ là dịp đánh dấu 1 sự chuyển giao của đất trời, đánh dấu thời khắc chuyển giao năm cũ và năm mới. Mà thiêng liêng hơn tất cả, đây còn là dịp đoàn viên của mọi gia đình.

Mỗi khi tết đến, dù bất cứ làm công việc gì, ở đâu, tất cả mọi người đều có một niềm ao ước, mong mỏi to lớn nhất đó là được về ăn tết cùng với gia đình, sum họp bên người thân, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi mộ của ông bà những người đã khuất. Đây cũng chính là cơ hội để thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn. Là dịp để mọi người hướng về nguồn cội, tình cảm gia đình... Đây chính là truyền thống tốt đẹp và bền vững của dân tộc ta.

: Những bài thơ chúc tết hay Tết 2017 Mâm cơm cúng ngày mùng 1 Tết
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu đầy đủ về ý nghĩa ngày Tết nguyên đán

Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Một bài viết trình bày bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi rất hay! Vương Đình Chi là một bậc thầy tử vi!
Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vương Đình Chi phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung Phúc đức), đạo "xu cát tị hung", và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực Hậu thiên, để đưa ra lời giải.

Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế Tiên thiên (Thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một con người, còn có "Địa vận" và "Nhân vận".

"Địa vận" có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được.

Nhưng, "Nhân vận" thì không phải là như vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng từ Cha Mẹ, Thầy, bạn bè,.v.v... lúc lâm sự, sẽ có những phản ứng khác nhau. Đạo "xu Cát tị Hung" (theo cát tránh hung) thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc Hậu thiên, thường có thể thay đổi vận thế Tiên thiên. Đây chính là Tinh hoa của Tử vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.

Cho nên, người nghiên cứu phải tìm hiểu rõ tính chất "hợp Cục nhập Cách" này của Tử Vi Đẩu Số, lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị vận thế Tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội (Địa vận) và chủ chương hành động của con người (Nhân vận) thuộc Hậu thiên.

Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc Hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán, thấy một người năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được, nếu anh ta không nghe lời khuyên, thì nhất định sẽ gặp họa lao ngục?

Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép "theo cát tránh hung" là sự thực như sau:

Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư ký ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1996 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên cô ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm, mới phát hiện có tế bào ung thư ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985, thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa đích thực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN THIÊN BÀN

1- Lấy bối cảnh văn hóa xã hội làm nên tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến "cách" luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi nói: "Nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của Lưu niên, nếu như cung Tử tức của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, mà các sao của Lưu niên lại không tốt, chủ về sinh đẻ có nguy cơ". Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình Chi bị hố, ông xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không? Lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: "Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi", Vương Đình Chi nhíu mày, người phụ nữ nói thêm: "Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con". Thực sự, Ông không biết có phương pháp gây tê toàn thân để sinh con. Chiếu theo lý, "gây tê toàn thân" cũng là có vấn đề rồi, nhưng lúc sinh con người phụ nữ không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng. Đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này, lúc mới sinh ra được các Bác sỹ dùng kỹ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về Tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là tai nạn, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một vận mệnh, Hậu thiên có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển vận thế Tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là "túc mệnh luận", tức chẳng thể luận đoán ra chuyện "không thể thay đổi được". Bởi vì khuynh hướng Tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm Hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán "sinh con khó dưỡng" không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: "Tham lang Liêm trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm", nếu cứ y như sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng nhắc. Vương Đình Chi kể: ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo có địa vị khá, cung mệnh là hai sao "Tham lang Liêm trinh" tọa thủ, nếu nói phóng đãng, tính chất cũng chính xác, bởi vì người này "có máu" nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu.

Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ "phóng đãng" để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ, những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm "lãng tử", lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. Nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, đo đó biến thành không phải là "phóng đãng".

Năm xưa, Vương Đình Chi học Đẩu Số với thầy là Huệ Lão, Huệ Lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay, ông nói: "Theo kinh nghiệp luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mỹ". Đương nhiên thời cổ đại không có giải phẫu thẩm mỹ, vì vậy Huệ Lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu, mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa, Huệ lão rất tán dương hai vị Đẩu Số gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại. Một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyền, với bộ Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu, tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi, có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyền. Như Thái âm ở cung Tai Ách, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản. Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao.

Do đó có thể thấy, phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy mới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

2- Quan sát toàn diện 12 cung

Kỹ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm "tam phương tứ chính", sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau, tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt với một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán "tam phương tứ chính" của cung mệnh, cung Thiên Di, cung Tài bạch, cung Quan lộc một cách thái quá, mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lý chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rời vào luận đoán vụn vặt. Vương Đình Chi cho bết kinh nghiệm rằng, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lý giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

3- Các bước luận đoán mệnh bàn

Học Tử Vi Đẩu Số, thực ra chỉ cần nắm vững 3 điều:

3.1- Phương pháp an sao
3.2- Tính chất cơ bản của tinh hệ
3.3- Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để đoán vận trình.

Tiết này sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích để tạo hứng thú cho người mới học luận đoán, bởi vì rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

3.1- Trước tiên xem cung Phụ Mẫu, rồi xem cung Điền trạch

Từ cung Phụ Mẫu và cung Điền Trạch, có thể luận đoán xuất thân của đương số, và mức độ được hưởng sự che trở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh, mới có thể quyết định đương số thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp "tay trắng làm nên", hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung Phụ Mẫu và cung Điền trạch đều tốt, nhưng khi trong vận bàn lại hiện rõ vận trình "tay trắng làm nên", điều này chứng minh gia đình của đương số rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại cung Phụ mẫu và cung Điền trạch đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán đương số có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

3.2- Đồng thời quan sát cung Mệnh và cung Phúc đức

Thông thường sao hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Còn sự hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thể luận nhất định đương số có một gia đình tốt. Trái lại, nếu cung Mệnh tốt, còn cung Phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý hôn nhân của đương số có thể không như ý, hay có khả năng đương số chỉ dựa vào may mắn mà giầu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của đương số chẳng cao thượng, hoặc cảnh ngộ của đương số tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

3.3- Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ đương số hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung Phu Thê, nghi ngờ đương số mắc bệnh mãn tính khó khỏi thì cần phải kiểm tra cung Tai Ách, nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung Mệnh và cung Phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Xin đưa ra một ví dụ thực tế:

- Nữ mệnh, cung mệnh Thiên cơ Thái âm, trong đó Thiên cơ hóa Khoa, Thái âm hóa Lộc tại cung Thân
- Hội Thiên đồng hóa Quyền ở cung Tài bạch tại Thìn, là "Hóa Lộc Hóa Khoa Hóa Quyền hội", trong Đẩu Số là một kết cấu tốt.
- Cung Phúc có Cự môn hóa Kị, hội hợp với Phu thê gặp Hồng Loan, Hàm trì, đối cung lại gặp Thiên diêu (tức cung Tài)
- Kết cấu tinh hệ này, biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp tinh hệ ở cung Phu Thê.
- Thái dương Lộc tồn tọa thủ cung Phu ở Ngọ, chồng chẳng nghèo, nhưng hội Cự môn hóa Kị ở cung Phúc tại Tuất, xấu nhất còn hội hợp Thiên lương, Thiên hình, thêm sao Hỏa tinh ở đối cung (tức cung Quan ở Tý), tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng
- Nhưng không có duyên vợ chồng có mấy loại tính chất. Ví dụ như Phu và Thê không cùng chí hướng, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, chồng có tình nhân bên ngoài, chồng mắc nhiều bệnh,.v.v... Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn, thì không có cách nào giải quyết được, mà càn phải xem Đại vận và Lưu niên.

3.4- Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của Đại hạn và Lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán, và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chỉ cần xem xét mỗi một Đại hạn của cung Phu Thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25 - 34 tuổi, cung Tuất biến thành cung Mệnh của Đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung Phu Thê của Đại hạn.

Sao Lộc tồn của Đại hạn bay vào cung Phu Thê (tức lưu Lộc, bởi vì Lộc tồn của Đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có lưu Kình và lưu Đà của Đại vận giáp cung (gọi tắt là vận Kình vận Đà).

Cung Phu thê của nguyên cục có hiện tượng giáp Kình giáp Đà, thấy khéo trùng hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy tất phải có lý lẽ của nó. Vả lại, cung Phu thê của Đại vận còn hội hợp Thiên đồng hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong Đại hạn này vợ chồng tất có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi 1983, cung Phu thê của Lưu niên có vấn đề lớn. Cung Phu thê của Lưu niên ở cung Dậu, "Tử vi Tham lang" tọa thủ, nhưng Tham lang hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có lưu Kình của Đại hạn đồng cung. Sát diệu hội hợp Đà la của cung Tị, lưu Kình của cung Sửu, cho tới các sao Vũ khúc, Phá quân, Liêm trinh, Thất sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này, có tính chất là "không có niềm vui gia đình", xấu nhất tức là "lưu Kình của Lưu niên" xung động "lưu Kình của Đại hạn", đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ "Tử vi Tham lang".

Do đó luận đoán sơ bộ là: sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn một tháng thì phát hiện người chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung Tai Ách của người chồng, thì thấy "Thiên cơ Thái âm" tọa thủ, có Linh tinh Đà la đồng cung, hội hợp Thiên lương và Xăn xương hóa Kị, đồng thời "tam phương tứ chính" lại có các sao Hàm trì, Hồng loan, Đại hao, còn có thêm Âm sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm từ Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kỳ trước hôn nhân, người chồng này đã rất trác táng. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị người chồng gặp một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí. Kết quả đầu năm Ất Sửu 1985, đôi vợ chồng nọ tìm đến Vương Đình Chi để cám ơn đã cữu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

3.5- Kỹ thuật quan sát tình hình Cát Hung của các cung

Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kỹ thuật.

Dưới đây, tôi xin trình bầy các kỹ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo

- Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.

Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tả phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp chiếu, đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân - Tý, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tý chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tý là cung Ngọ để "mượn sao an cung", mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành cách: "tứ sát kèm sát", tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên dù có oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là "tinh diệu hỗ hiệp".

Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:

Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tý 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tý có tinh hệ "Thiên phủ Vũ khúc", Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiện đang ở Đại vận Quý Mão.

Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tý, cung mệnh ở Tý có "Thiên Phủ Vũ khúc", hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách là "Lộc Văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Ở đây cần chú ý "cung Mệnh của lưu niên" (cung Tý), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra "cung Phúc đức của lưu niên" của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung Mệnh và cung Phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).

Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là "đào hoa" tụ về cung Phúc đức.

Trong tình hình này, Vương Đình Chi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yêu đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến Vương Đình Chi.

Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc Văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc: "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".

"Sao đôi" xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Khi luận đoán Đẩu Số, một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là "Kiến tinh tầm ngẫu". Đây là kỹ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu, mà Vương Đình Chi được truyền thừa.

Gọi là "Kiến tinh tầm ngẫu" (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều cặp "sao đôi", khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi, thì sức mạnh được tăng cường. Về điều này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút.

Ví dụ cổ nhân đưa ra nguyên tắc: "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên phủ thì phải xem Thiên tướng), "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Thiên tướng thì phải xem Thiên phủ), bởi vì Thiên Phủ và Thiên Tướng là cặp "sao đôi". Nhưng cổ nhân thích giữ "bí mật", cho nên thường thường chỉ nói sơ qua mà thôi.

Liệt kê một số cặp "sao đôi" để tham khảo:

+ Chính diệu:
- Thiên phủ và Thiên tướng
- Thái Dương và Thái Âm
- Thiên Đồng và Thiên Lương
- Liêm Trinh và Tham Lang

+ Phụ diệu:
- Tử Phụ và Hữu Bật
- Thiên Khôi và Thiên Việt

+ Tá diệu:
- Văn Xương và Văn Khúc
- Lộc Tôn và Thiên Mã

+ Tạp diệu:
- Hồng Loan và Thiên Hỷ
- Hàm trì và Đạo hao
- Long Trì và Phượng Các
- Ân Quang và Thiên Quý
- Tam Thai và Bát Tọa
- Cô Thần và Quả Tú
- Thiên Khốc và Thiên Hư
- Thiên Phúc và Thiên Thọ
- Đài Phụ và Phong Cáo.

Nhưng, như thế nào mới gọi là "sao đôi" xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc dưới đây để định.

- Loại tình huống có sức mạnh nhất là "sao đôi đồng cung". Ví dụ như tình huống "Thái dương Thái âm" đồng cung tại Sửu, cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

- Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là "sao đôi chiếu nhau", ví dụ ở hai cung Thìn và Tuất, thì Thái dương và Thái âm chiếu vào nhau, sự phát huy sức mạnh lẫn nhau của chúng cũng không thể xem thường.

- Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp "Song phi hồ điệp thức", tức là "sao đôi" chia ra ở hai bên "hợp cung", ví dụ lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc, đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp "sao đôi" Khốc Hư lấy tư cách "song phi hồ điệp" hội hợp với cung Ngọ (là bản cung), đối với cung Ngọ phải chịu sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên khốc và Thiên hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp "Song phi hồ điệp thức".

- Cuối cùng là hội hợp "Thiên tà thức" (kiểu đối lệch). Ví dụ lấy cung Tý làm "bản cung", tương hội với Văn khúc ở cung Thân, và Văn xương ở đối cung (cung Ngọ), đối với cung Tý là "bản cung" mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện "sao đôi" kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện "sao đôi" theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung => Đối nhau.=> Tam hợp hội chiếu => Một ở tam hợp một ở đối cung hội chiếu => Các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên khốc và Thiên hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là "bí truyền". Cho nên dựa theo sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

"Tá cung an sao", "Tinh diệu hỗ thiệp", "Kiến tinh tầm ngẫu", là Vương Đình Chi được sư phụ bí truyền, đây là ba kỹ thuật trọng yếu, dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng không chịu tiết lộ những bí truyền này.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN ĐỊA BÀN

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu. Về cách an, toàn bộ giống như Thiên bàn, trong đó thì phép an sao Tử Vi có khác.

Tử vi của "Thiên bàn" là lấy thiên can của Năm sinh và ngũ hành Dần thủ, để tìm Nạp âm của cung mệnh, rồi lấy Nạp âm ngũ hành để tra Cục số, thì xác định được cung vị của Tử Vi.

Tử Vi của "Địa bàn" cũng vậy, ta lấy thiên can của Năm sinh, và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm ngũ hành nạp âm của cung Mệnh, mà là tìm ngũ hành Nạp âm của cung Thân. Do đó "Địa bàn" lấy cung Thân làm chủ. Sau đó tra được nạp âm của cung Thân, chiếu theo phương pháp của "Thiên bàn", căn cứ ngũ hành Cục số, để tìm cung vị Tử vi.

Sau khi đã biết "Địa bàn", ta rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất Tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy, ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội, nhưng họ lại có những hành vi nhỏ mọn rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh tại "Địa bàn" rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở "Thiên bàn" tiên thiên lại không cao quý cho lắm.

Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn, hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao, và hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao ở cung mệnh ở "Thiên bàn" phần nhiều là sao xấu, nhưng ở "Địa bàn" lại có nhiều sao rất tốt cung hội chiếu.

Các sao của "Địa bàn" cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vương hay tử mộ, để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, người sinh giờ Tị, ngày 17 tháng 5, năm Quý Sửu, Vương Đình chi tôi chú giải như sau: (sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú )

Lục tiên sinh chủ trương dùng "Địa bàn" để tìm "căn nguyên tiên thiên". Đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời. Nhưng dùng "Địa bàn" để tính "giao thế thời" thì Lục tiên sinh hoàn toàn không có nhắc đến.

Theo Vương Đình Chi, thì mỗi giờ sinh của một người có thể chia thành "tam bàn" Thiên - Địa - Nhân. Điều này, cần phải căn cứ vào Tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong "giao thế thời".

Liên quan đến phương pháp an sao ở "Địa bàn" và "Nhân bàn", điều mà xưa nay vẫn được coi là "bí truyền", thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên, cứ theo phương pháp an sao của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là "Thiên bàn", rồi lấy cung Thân của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, dùng can chi của cung Thân để định Cục và Ngũ hành, an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một bàn khác, gọi là "Địa bàn".

Nếu không dùng cung Thân, thì lấy cung Phúc Đức của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, rồi dùng can chi của cung Phúc Đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là "Nhân bàn", nói một cách chính xác thì đây là "nhân bàn của địa bàn".

Nếu cung Mệnh và cung Thân đồng cung, thì "Thiên bàn" và "Địa bàn" hoàn toàn giống nhau. Nếu cung Thân và cung Phúc đức đồng cung, thì "địa bàn" và "nhân bàn của địa bàn" hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, "Thiên bàn" - "Địa bàn" - "Nhân bàn", chỉ có cung Mệnh là khác cung độ, trong đó 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN NHÂN BÀN

1- Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu

Nguyên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung "Thiên bàn", thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hương Tiên thiên). Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc Năm hạn nào cũng tốt ; người có cách cục xấu, chưa chắc Năm hạn nào cung xấu. Do đó cần phải mang tinh bàn "phi động" ra để nghiên cứu tỷ mỉ, xem vận thế của Mệnh tạo trong mỗi một Năm hạn. Đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. (Thuyết "phi động" người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi).

Đẩu số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một Đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung Mệnh đại hạn 10 năm. Rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của Đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ), bày lần lượt 11 cung còn lại, mà không cần chú ý đến tên gọi gốc của "Thiên bàn".

Giả thiết mệnh tạo là Dương nam, thuộc mộc tam cục, Mệnh lập tại Dần, xét Đại hạn Mậu Thìn 23 - 32 tuổi, cung mệnh của Đại hạn ở cung Mậu Thìn, tức là cung Phúc đức của Thiên bàn tại Thìn, thế là từ cung Mậu Thìn, bầy bố theo chiều nghịch

- Cung Đinh Mão là cung Huynh đệ của Đại hạn
- Cung Bính Dần là cung Phu thê của Đại hạn
- Cung Ất Sửu là cung Tử Tức của Đại hạn
...v.v...
- Cho đến cung Kỷ Tị là cung Phụ Mẫu của Đại hạn

Tới đây, có thể căn cứ vào tổ hợp sao của các cung, tham khảo những điều đã luận thuật ở chương trước để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn 23 - 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.

Tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là "Thiên bàn", hoặc Địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của Đại hạn, còn phải thêm vào các "Lưu diệu" thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu có mấy loại như dưới đây:

1)- Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Hóa Lộc, lưu Hóa Quyền, lưu Hóa Khoa, lưu Hóa Kị, lưu Lộc (lộc tồn), lưu Dương (kình dương), lưu Đà (đà la), lưu Khôi (thiên khôi), lưu Việt (thiên việt), lưu Xương (xăn xương), lưu Khúc (văn khúc)

2)- Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Mã (thiên mã)

Theo ví dụ trên:
- Cung mệnh của Đại hạn từ 23 - 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên can Mậu là can của cung mệnh Đại hạn
- Vì vậy trong Đại hạn này, căn cứ vào can Mậu, thì lưu hóa Lộc là Tham Lang, lưu hóa Quyền là Thái Âm, lưu hóa Khoa là Thái Dương (??? kiểm), lưu hóa Kị là Thiên Cơ, lưu Lộc ở cung Tị, lưu Dương ở cung Ngọ, lưu Đà ở cung Thìn.
- Lại vì Thìn là chi của cung mệnh Đại hạn, cho nên lưu Mã ở cung Dần.

Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất nên điền các "lưu diệu" vào một tinh bàn mới (Nhân bàn), còn đối với người đã thuộc phương pháp an sao, thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái thì biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán "Lưu niên", "Lưu nguyệt", "Lưu nhật", giả dụ như điền hết các Lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng đế sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng phương pháp an sao là rất quan trọng. Nếu không thì nên lập nhiều tinh bàn - tức là nhân bàn của từng thứ loại.

Khi luận đoán Lưu niên - Lưu nguyệt - Lưu nhật, thì có một nguyên tắc cần phải biết như sau:

1) Phàm có các Lưu diệu thì lấy Lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng (xin nhắc lại là nếu không xung thì không sinh ra tác dụng). Ví dụ như, tinh bàn gốc có Lộc tồn ở cung Tị, lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở phương vị tam phương tứ chính. Hay như Kinh dương gốc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Dậu, còn Đà là gốc ở cung Thìn, lưu Đà ở cung Mùi, cung không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình dương, Đà la, Lộc tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của Đại hạn, nhưng tác dụng không lớn. Trái lại, lưu Lộc, lưu Dương, lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

2)- Nếu các sao ở trong tin bàn gốc, xung hội với "Lưu diệu" ở tam phương tứ chính, thì sác mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Ví dụ như Lộc tồn nguyên cục ở tại cung Tị, lưu Lộc ở cung Hợi, nguyên cục "Lộc" và "Lưu Lộc" hai bên đối xứng. Hoặc như Kình dương ở cung Ngọ mà lưu Dương ở cung Tí, Đà la ở cung Thìn mà lưu Đà ở cung Tuất, như vậy nguyên cục và Lưu hai bên cũng đối xứng, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của Đại hạn, toàn bộ 6 sao trong đó 3 sao của nguyên cục và 3 sao "lưu" đều có tác dụng.

3)- Các sao xung động với "lưu diệu" thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất ; trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó ; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.

4)- Khi luận đoán Đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với "lưu diệu" của Đại hạn.

Lúc luận đoán Lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của Đại hạn với lưu diệu của lưu niên. Các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ trường hợp có hai "lưu diệu" đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Theo như ví dụ trên, lúc luận đoán Lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc ở cung Tị, không có Lộc Tồn của Đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của Lưu niên hội chiếu. Nên khi luận đoán Lưu niên, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Nhưng Kình dương, Đà là, Lộc tồn của đại hạn thì có Kình dương, Đà la, Lộc tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung đột, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán Lưu niên, chỉ cần xem xét Kình dương, Đà la, Lộc tồn của Đại hạn và Lưu niên.

Như tình huống ví dụ đã nói trên, Lộc tồn gốc tại cung Tị, Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, theo đó Lộc tồn gốc tuy không hội chiếu với Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, nhưng xung hội với Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc tồn của Đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc tồn gốc tại cung Tị, thì sao Lộc Tồn này, do đồng thời có lưu Lộc của Đại hạn ở Dậu và lưu Lộc của Lưu niên ở Hợi, tam phương hiệp trợ, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.

Lúc luận đoán Lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của Lưu nguyệt và lưu diệu của Lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của Đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh, các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (Thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Lúc luận đoán Lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường lưu diệu của Đại hạn, và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý gì thêm.

Các nguyên tắc kể trên rất quan trọng, khi luận đoán Đại hạn, Lưu niên, Lưu nguyệt, Lưu nhật, không được xem thường. Nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào luận đoán. Nhất là khi luận đoán Lưu nhật, trong tinh bàn đầy dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng Cát Hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ, thì sẽ không biết định tính chất Cát Hung của các sao hội hợp như thế nào.

2)- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên

Sau khi biết rõ các nguyên tắc thuật ở trên, và đã tìm hiểu về "tinh bàn phi động", cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất ta nên bắt đầu từ Đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.

Để tiện cho việc thuyết minh, tốt nhất tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế:

Mệnh bàn của một phụ nữ, âm nữ, kim tứ cục, mệnh chủ Văn khúc, Thân chủ Thiên đồng, mệnh lập tại cung Ất Mùi vô chính diệu gặp Tuần Không.

Điều đáng chú ý là cung Phu ở Tị có Thiên cơ, Hữu bật, Thiên mã đồng độ, hội tinh hệ Thiên đồng, Cự môn hóa Lộc ở cung Tân Sửu (Di), Thái âm ở cung Kỷ Hợi, cung Đinh Dậu vô chính diệu (Phúc), vì vậy mượn Thiên lương, và Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt, Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giầu sang.

Nhưng Thiên cơ ở cung Phu vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên mã đồng độ, tính chất hiếu động trôi nổi càng tăng. Cung Phu không ưa Tả phụ Hữu bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung Phu. Ngoài ra, Thái dương và Thiên lương, Thiên đồng và Cự môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung Phu, cho nên cung Phu trong mệnh bàn có thể nói là cát - hung lẫn lộn. Cát hay Hung thì ảnh hưởng của Đại vận là tất lớn.

Lúc vào Đại hạn Bính Thân từ 14 - 23 tuổi, cung Phu ở cung Giáp Ngọ, thấy Tử vi xung chiếu Tham lang ở Tý, gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn xương hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liêm trinh hóa Kị của Đại hạn ở đồng cung ; sao Văn xương là sao lễ nhạc, Liêm trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời ký tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình dương và Linh tinh ở cung Mậu Tuất lại xung khởi lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.

Đến đại hạn Đinh Dậu từ 24 - 33 tuổi, cung Phu của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên đồng và Cự môn ở đối cung để "nhập cung an sao" cho cung Mùi. Trong đại hạn Đinh Dậu thì Cự môn hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ "Kị xung Lộc", đồng thời có Thái âm hóa Lộc ở cung Kỷ Hợi, Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão hội chiếu. "Âm Dương Lộc Quyền" hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn, nhưng có lưu Dương của đại hạn ở cung Ất Mùi và Cự môn hóa Kị cùng thủ cung Phu của đại hạn, nên đã ngầm phục nguy cơ; thêm vào đó "Thái dương Thiên lương" có Thiên nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Kỷ Hợi lại có Địa kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.

Năm Mậu Ngọ 1978, cung Mệnh của lưu niên và cung Phu của lưu niên cùng hội hợp Tham lang hóa Lộc ở cung Canh Tý, lại thêm các sao "đào hoa" đồng độ, vì vậy chủ về "thành hôn mà không có nghi lễ chính thức". Tốt nhất ta xem tình huống cung Phu của lưu niên (cung Nhâm Thìn) có lưu Đà đồng độ, xung hội với Đà là của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.

Cho nên sau khi kết hôn năm Kỷ Mùi 1979, vào năm Quý Hợi 1983 cung Phu của lưu niên mượn tổ hợp "thái dương Thiên lương" và Thiên nguyệt ở cung Tân Mão, để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu, bị Kình dương của lưu niên ở cung Tân Sửu hội chiếu, dẫn động lưu Đà của đại hạn ở cung Quý Tị, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là do chồng sử dụng ma túy (bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh).

Lại xem cung Phúc (Kỷ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn hội chiếu, ở tinh bàn gốc lại có Địa không, Địa kiếp (Kỷ Hợi), thêm vào đó lại xung chiếu Thiên cơ, Thiên mã, Hữu bật từ cung Quý Tị, cho tới mượn phép "an sao nhập cung" của cung Tân Sửu là tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" cho cung Ất Mùi, và "Thái dương Thiên lương", đều là nhóm sao chủ về điều tiếng thị phi.

Còn trùng hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất bối rối khó xử.

Năm Giáp Tý 1984, "Vũ khúc Thiên tướng" ở cung Phúc (Canh Dần) bị Thái dương hóa Kị ở cung Tân Mão và Kình dương của lưu niên, cùng với Cự môn hóa Kị ở cung Tân Sửu và Đà la của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng "Hình Kị giáp ấn", "song Kị giáp", "Dương Đà giáp", mà còn là cách xấu "Linh Xương Đà Vũ". Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc tồn của đại hạn ở cung Giáp Ngọ, nên không chết.

Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhật định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.

Bây giờ ta xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Nữ mệnh, âm nữ, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa linh, mệnh nguyên cục ở cung Giáp Tý có Tham lang tọa thủ. Trong mệnh bàn, cung vị xấu nhất là cung Đinh Tị (tức cung Nô), cung vị này có Kình dương và Đà la giáp cung, trong cung có Thiên cơ hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách xấu "Kình Đà giáp Kị", mà Thiên cơ lại có Hỏa tinh đồng độ, cũng đồng dạng bị Kình Đà giáp cung, tính cứng rắn hình khắc, cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.

Có 3 cung vị bị cung Đinh Tị gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu, trong đó có cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh tinh của cung Ất Sửu, tức là bị 2 sao Hỏa tinh và Linh tinh cùng chiếu xạ theo kiểu "song phi hồ điệp"

Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 - 43 tuổi (Tử nữ). Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra "tam phương ức hiếp" mà nó bị ảnh hưởng, tức là vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.

Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần  tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Ta có thể lưu ý cung Bính Thìn (quan lộc), trong cung nguyên cục có Thất sát và Đà la tọa thủ ; lúc vào đại hạn Tân Dậu thì Đà là của nguyên cục tương xung với lưu Đà của đại hạn của cung Canh Thân (Tài bạch), do đó tính cứng rắn hình khắc được phát động, hơn nữa còn đối diện với lưu Dương của đại hạn ở cung Nhâm Tuất, tính cứng rắn hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung Tai Ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung Tai Ách hay không.

Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.

Đến đây, ta quay trở lại cung Đinh Tị (cung Nô) của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình đồng độ, lại có lưu Dương của đại hạn và lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình dương và Đà la của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ khúc hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất của đại hạn, tiếp theo là tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.

Rồi ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung Tai Ách, là năm bị Văn xương lưu Hóa Kị của cung Kỷ Mùi, và Thiên cơ hóa Kị của cung Đinh Tị hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung Tai Ách của lưu niên, có Tử vi và Kình dương đồng độ, Kình dương này bị Kình dương của đại hạn xung động, hội hợp với "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham lang hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa kiếp của cung Giáp Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao

Sau đây ta tiếp tục phân tích một tinh bàn của nam mệnh làm ví dụ. Dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa tinh.

Mệnh bàn nguyên cục:

- Cung mệnh lập tại cung Quý Hợi, có Thiên cơ (Hóa Kị) Hỏa tinh, Thiên tài, Thiên nguyệt, Lâm quan tọa thủ.
- Phụ mẫu lập tại cung Giáp Tý, có Tử vi ngộ Tiệt không, Vượng
- Phúc đức lập tại cung Ất Sửu, có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên không, Tiệt không, Suy
- Điền trạch lập tại cung Giáp Dần, có Phá quân, Thiên mã, Địa không, Cô thần, Nguyệt giải, Thiên vu, Âm sát, Bệnh
- Sự nghiệp lập tại cung Ất Mão, vô chính diệu, có Thiên quan, Thiên phúc, Hồng loan, Thiên hình, Tử.
- Giao hữu lập tại cung Bính Thìn, có Thiên phủ, Liêm trinh, Đà la, Hữu bật, Hoa cái, Mộ.
- Thiên di lập tại cung Đinh Tị, có Thái âm, Lộc tồn, Thiên thọ, Kiếp sát, Phá toái, Nguyệt đức, Tuyệt
- Tật Ách lập tại cung Mậu Ngọ, có sao Tham lang (Hóa Lộc) Kình dương, Bát tọa, Tuần không, Thiên khốc, Thiên hư, Thai
- Tài bạch lập tại cung Kỷ Mùi, có Thiên đồng, Cự môn, Linh tinh, Thiên việt, Tam thai, Long đức, Dưỡng
- Tử tức lập tại cung Canh Thân, có Vũ khúc, Thiên tướng, Địa kiếp, Tam thai, Phỉ liêm, Trường sinh
- Phu thê lập tại cung Tân Dậu, có Thái dương, (Khoa) Thiên lương, Thiên hỉ, Hàm trì, Thiên đức, Mộc dục.
- Huynh đệ lập tại cung Nhâm Tuất, có Thất sát, Tả phụ, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Quả tú, Giải thần, Quan đới.

Mệnh bàn này, điều khiến ta chú ý nhất là cung Mệnh có Thiên cơ hóa Kị đồng độ với Hỏa tinh, nhưng cung Di (Đinh Tị) lại là Thái âm hóa Quyền đồng độ với Lộc tồn, vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.

Nhưng Thái âm lạc hãm, hội Thái dương hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị tinh hệ "Thái dương Thiên lương" ở Dậu và Thiên cơ ở Hợi xung chiếu, cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn "Thiên đồng Cự môn", Linh tinh, Thiên việt của cung Mùi để "an sao nhập cung" cho cung Sửu. Vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa, tuy có thể phát tài, nhưng điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.

Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi vào đại hạn Giáp Dần, cung Di của đại hạn này là cung Canh Thân có Vũ khúc hóa Khoa, cung mệnh của đại hạn này là cung Giáp Dần có Thiên mã có lưu Lộc tồn của đại hạn, thành cách "Lộc Mã giao trì", lưu Lộc còn xung động Tham lang hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.

Nhưng cũng trong đại hạn này, cung Phụ mẫu của đại hạn (cung Ất Mão) vô chính diệu, phải mượn thái dương hóa Kị (vốn là hóa Khoa) và Thiên lương để theo phép "an sao nhập cung" cho cung Phụ mẫu, dẫn đến tình hình có lưu Dương và Thiên hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.

Năm Canh Thân 1980 cung mệnh của lưu niên này có Vũ khúc (đại hạn thì hóa Khoa, lưu niên thì hóa Quyền), có Thiên tướng và Lộc tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung Di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng "Lộc Mã giao trì", vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.

Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh lưu niên tới cung Tân Dậu có Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên lương, hội hợp Văn khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên đồng và Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái âm hóa Quyền và Lộc tồn của tinh bàn gốc. Ta nên chú ý cung Dậu, có lưu Dương lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên hình từ cung Mão và Kiếp sát từ cung Tị đến hội. Cho nên năm đó (1981), tuy có Lộc tồn của lưu niên xung khởi Lộc tồn của tinh bàn gốc, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.

Đến năm Ất Sửu, cung mệnh lưu niên là cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên đồng Cự môn" và Linh tinh, Thiên việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà la của đại hạn đồng độ, rồi lại hội hợp với Thái âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.

Tương lai đến năm Đinh Mão, cung mệnh lưu niên là cung Mão, vẫn là cung vô chính diệu, lại mượn Thái dương hóa Kị từ cung Dậu là đối cung, để "an sao nhập cung" cho cung Mão, lại hội hợp với Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên cơ hóa Kị, mà còn kèm theo Đà la của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa tinh, Linh tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên hình, Đại hao, Thiên nguyệt, nên cẩn thận, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.

Ghi chú về phép định Tiểu hạn

Tiểu hạn là chủ về Cát - Hung của một năm. Do phái Trung Châu không dùng Tiểu hạn, mà chỉ dùng Lưu niên để luận đoán, nên Tôi không trình bày phép định Tiểu hạn trong chương này.

3)- Cách luận đoán Lưu nguyệt

Dùng Đẩu Số để luận đoán Lộc Mệnh, không nên thường xuyên luận đoán cát - hung của lưu Nguyệt, bởi vì quá tỉ mỉ, bất kể cát hay hung cũng đều sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của mệnh tạo. Nhưng cũng có một số tình huống, thí dụ như năm đó dễ xảy ra tai nạn giao thông, thì tốt nhất là luận đoán lưu Nguyệt để trợ giúp thêm, xem vào tháng nào có hung hiểm để cố tránh đi xa bằng xe cộ. Bởi vì trên thực tế khó mà hoàn toàn không đi xa trong vòng một năm, cho nên luận đoán lưu Nguyệt để bổ trợ.

Đơn cử một ví dụ:
Mệnh tạo bị tai nạn giao thông, vì vậy mà gãy xương, Vương Đình Chi tôi căn cứ vào mệnh bàn để truy tìm điềm báo của sự cố: Âm nữ, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Cự môn, Thân chủ Thiên cơ. Mệnh lập tại cung Ngọ, có Cự môn (hóa Kị), Lộc tồn tọa thủ.

Vào tháng 5 năm Ất Mão 1975, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thân, có "Thiên đồng Thiên lương" đồng độ, có Địa không và Địa kiếp đối củng, hội hợp Thiên cơ, Hỏa tinh ở cung Nhâm Tý (vốn là hóa Khoa, đại vận thì hóa Kị), với Thái âm (hóa Lộc) Thiên hình đồng độ ở cung Giáp Thìn.

Cung Di của lưu niên ở Giáp Dần vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để "an sao nhập cung", biến thành Địa không và Địa kiếp đồng cung (cung Dần) hội hợp với Cự môn hóa Kị (còn gọi là "Kình Đà giáp Kị"), còn hội hợp với Thái dương lạc hãm ở cung Canh Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi 1971 và năm Quý Sửu 1973 đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (bạn đọc thử luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão 1975, cung mệnh của lưu niên ở cung Ất Mão, trùng hợp với tình hình Kình dương của lưu niên và Đà la của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải "giáp Kị", nhưng do Thiên phủ ở cung Mão không hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô tính diệu, nên mượn "Liêm trinh Tham lang" của cung Tị để an sao, hai sao lại bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn giáp cung. Ngoài ra, ở đối cung là cung Dậu có "Vũ khúc Thất sát", cung Mùi là Thiên tướng của "Hình Kị giáp ấn".

Điều xấu nhất là, cung Tai Ách của lưu Niên bay đến cung Tuất có Thái dương lạc hãm ở đây, tương chiếu Thái âm (vốn gốc hóa Lộc, lưu Niên thì hóa Kị), Đà la của đại hạn, Kình dương của lưu Niên và Thiên hình; hội hợp với "Thiên đồng Thiên lương", Đà la của lưu niên ở cung Dần, và hội hợp với Cự môn hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên cơ hóa Kị của đại hạn) và lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát - kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu Nguyệt.

Năm Mão, Đẩu Quân tại cung Hợi, tức tháng Giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng Năm thì cung mệnh của lưu Nguyệt đến cung Mão, tức là trùng với cung mệnh của lưu Niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng Giêng), tháng Năm thì can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung Di có Vũ khúc Hóa Kị (cung Dậu), cung mệnh của lưu Nguyệt lại có Kình Đà của lưu Niên giáp cung, hơn nữa Kình Đà của lưu Nguyệt còn xung khởi Đà la Kình dương của lưu Niên, xung khởi Đà la Kình dương của đại hạn, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung Tai Ách của lưu Nguyệt ở cung Tuất. Cung Tuất còn bị Đà la của lưu Nguyệt đối nhau với Thiên hình ở cung Thìn, còn bị Thái âm hóa Kị từ cung Thìn vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng 5 mà xuất hành sẽ có hung hiểm.

Vũ khúc hóa Kị và Thất sát đồng độ ở cung Di (Dậu) đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc Kim.

Từ ví dụ này có thể biết, muốn luận đoán lưu Nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu Niên, tiếp sau đó rồi tìm lưu Nguyệt, thì mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu Nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc "xu cát tị hung". Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Thêm một ví dụ về Cách luận đoán lưu nguyệt

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất 1982, dương nữ, Thổ ngũ cục, Mệnh chủ Lộc tồn, Thân chủ Văn xương.

- Mệnh lập tại cung Kỷ Dậu, có Vũ khúc (khóa Kị), Thất sát

- Năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng: có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sỹ chuyên khoa kiểm tra thật kỹ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may mà chưa ác hóa, có hy vọng trị khỏi.

- Cung Tai Ách mệnh bàn này là Thái âm tọa thủ tại cung Giáp Thìn, nhưng có tứ sát Linh tinh, Kình dương ở Điền trạch cư Tý tam phương ức hiếp, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung Tai Ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiện thị bệnh tật khi còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

- Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu Niên Nhâm Tuất Vũ khúc hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

- Hạn 2 tuổi của bé gái ở cung Tài bạch tại cung Ất Tị, là năm Quý Hợi, gặp Kình Đà của lưu Niên của tam phương hội chiếu tiểu hạn tại cung Ất Tị, trong cung Tị lại có Tham lang hóa thành sao Kị, còn hội hợp với tạp diệu Thiên hình ở Sửu, Kiếp sát, Đại hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

- Hạn 3 tuổi ở cung Tai ách tại Thìn, lưu Niên là năm Giáp Tý, trong hạn Thái âm tọa thủ mà có Thái dương hóa Kị tại Tuất vậy chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên lương và Hoa cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Đà của thiên bàn chưa bị Kình Đà của lưu Niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

- Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên thọ vây chiếu nên không có tai biến gì. Mệnh này rất khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến Tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền hành, nên đại hạn lúc 3 tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban

Phụ lục: phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con

Cách tính tuổi để khởi Đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho tới khi vào vận có một khoảng trống, phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ xung.

Tính hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi 3 cung. Các cung tính hạn từ khi sinh ra cho tới khi vào đại hạn như sau:

- Một tuổi ở cung Mệnh
- Hai tuổi ở cung Tài bạch
- Ba tuổi ở cung Tật ách
- Bốn tuổi ở cung Phu thê
- Năm tuổi ở cung Phúc đức
- Sáu tuổi ở cung Sự nghiệp (quan lộc)

Khi xem tính hạn cho trẻ con, chỉ xem "tam phương tứ chính" của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung Mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh xung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính hạn cho trẻ con.

4)- Cách luận đoán lưu nhật

Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán "tử kỳ" cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.

Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm "can chi" ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.

Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân,.v.v...

Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tý đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Ví dụ như lưu Nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can Tân để tra lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tý, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:

- Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.
- Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ
- Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ
- Phúc đức tại cung Canh Tý, có Tham lang, Văn khúc
- Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.
- Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì
- Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không
- Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư
- Tật ách tại cung Quý Tị, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan
- Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương
- Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp
- Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc
- Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt.

Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội.

Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tý và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của Tai ách là gì? Do Vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tai ách của lưu niên.

Cung Tai ách của lưu niên ở cung Quý Tị, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương Đà la đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với "Thái dương Thiên lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, tam phương ứng hiếp, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu Nguyệt.

Tháng Nhâm Dần thì Vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với lưu niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với lưu niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên, tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng [ví lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tý, cung mệnh của lưu Nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên Vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cung Tai ách của lưu nhật, là cung Sửu có "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.

5)- Cách luận đoán lưu thời

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.

Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tý ở cung Tý, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu,.v.v... đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ Thử độn như sau:

- Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý
- Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý
- Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý
- Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý
- Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tý

Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tý khởi giờ Canh Tý, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Xem tuổi vợ chồng là xem cái gì và xem thế nào cho đúng

Vợ chồng là duyên nợ của nhau, xem tuổi vợ chồng để biết mặt mạnh/yếu của 2 người, ưu điểm thì phát huy, nhược điểm thì sửa chữa, xem tuổi thế mới đúng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xưa nay những cặp đôi chuẩn bị thề nguyện thành vợ thành chồng đều muốn biết được khi về chung sống cùng nhau có hợp hay không, có tốt đẹp, may mắn không. Có người khi xem tuổi thấy bảo vợ chồng hợp tuổi, vợ giúp chồng, chồng giúp vợ mà thực tế chung sống với nhau được vài năm thì trăm đường khổ ai, vợ chồng không hòa hợp. Lại thấy cặp đôi kia, xem tuổi vợ chồng bảo hai tuổi này xung khắc, không hợp nhau, vậy mà thấy họ vẫn hạnh phúc viên mãn, con cái đầy đủ, ngoan hiền. Rồi lại không hiểu, hợp là hợp cái gì mà xung khắc là xung khắc cái gì, sao bản thân thấy toàn trái ngược cả.

xem tuổi vợ chồng

Con người là một thực thể sống phát triển nhất, tinh vi và phức tạp nhất. Các mối quan hệ giữa người với người cũng rất phức tạp, đặc biệt là giữa vợ chồng với nhau. Cuộc sống vợ chồng bao gồm nhiều mặt: cá nhân mỗi người, bao gồm tính cách, quan điểm cá nhân; tình yêu giữa hai người, sự tôn trọng lẫn nhau, trách nhiệm với gia đình chung, tình thương với con cái, hiếu nghĩa với cha mẹ hai bên v.v.v. Phức tạp như thế sao có thể tóm gọn được "hợp" hay "không hợp" trong một cụm từ quá ngắn và mơ hồ như vậy được?

Xem tuổi vợ chồng là xem cái gì?

Trước tiên, hai chữ "xem tuổi" chính là dựa vào "tuổi" của một người để phân tích mặt âm dương và ngũ hành của người đó. Theo triết học Phương Đông, con người khi vừa lọt lòng mẹ là thời điểm bắt đầu hấp thụ linh khí của trời đất. Thời điểm đó được biểu diễn là ngày, giờ, tháng năm sinh, còn được gọi là tứ trụ (4 yếu tố chính). Mỗi yếu tố này lại được biểu diễn bằng Thiên Can và Địa Chi. Thiên Can và Địa Chi của cả ngày giờ tháng năm sinh được gọi Bát Tự (2x4 =8 chữ). Can là trời, Chi là đất, con người sống giữa trời đất chính là Nhân. Can có Can âm, Can dương; Chi cũng có Chi âm, Chi dương; Can cũng có ngũ hành, Chi cũng có ngũ hành. Như vậy bản thể mỗi người chính là sự giao hòa âm và dương, giữa các ngũ hành với nhau. Các mối quan hệ sinh giữa chúng tạo nên những yếu tố mạnh yếu rất khác biệt ở mỗi người.

Nói về hai chữ "vợ chồng" nghĩa là từng cá nhân vợ và chồng và mối quan hệ chung giữa vợ chồng với nhau. Nam nữ về sống chung dưới một mái nhà, âm dương tương tác, ngũ hành sinh khắc mà tạo nên một bức tranh chung mới lạ, có phần riêng của mỗi người, có phần chung mới được nảy nở và khác biệt so với bức tranh đơn thể của mỗi người. Có những điều xấu sẽ giảm đi, nhưng cũng có thể là tăng thêm, điều tốt cũng vậy có khi bị suy giảm nhưng cũng có thể lại tăng lên. 

Vậy xem tuổi vợ chồng chính là dựa vào bốn yếu tố ngày giờ tháng năm sinh của hai vợ chồng mà biết được âm dương ngũ hành của từng người. Biết được các mối quan hệ tương tác ngũ hành giữa hai bản thể với nhau. Xa thì xem được các vòng đại vận của hai vợ chồng trong cuộc đời, gần thì biết được vận tháng, vận năm. Vận tốt thì biết đường mà đón, vận xấu thì biết cách mà tránh. 

Phân tích tuổi vợ chồng thì có nhiều phương thức, mỗi cái là một góc nhìn khác nhau, giống như anh nhìn trái, anh nhìn phải, người nhìn trên, người nhìn dưới. Cần phải có cái nhìn tổng thể mới mô tả đầy đủ và đúng đắn được. Nếu chỉ dựa đơn thuần một phương thức, ắt hẳn có cái nhìn phiến diện mà từ đó suy diễn sai lệch, nếu không gây hại thì cũng bỏ lỡ mất cái tốt cho mình.

Thiên Can tương xung là dựa vào nguyên lý ngũ hành sinh khắc mà suy diễn. Ví như Giáp là dương Mộc, Canh là dương Kim, hai cực cùng dấu ắt đẩy nhau, hành Kim khắc hành Mộc ắt sát phạt nhau. Can là đại diện cho Trời. Con người sống dưới gầm trời nên chịu ảnh hưởng của trời, chính là vận thế. Thuận thì tốt mà nghịch thì xấu. Khi trời khô hạn không mưa thì vạn vật héo mòn. Nhưng sẽ bừng tỉnh, tươi tốt khi trời cho mưa thuận gió hòa.

Địa Chi tương tác với nhau, tốt thì có Lục hợp, Tam hợp (trong trường hợp chỉ có 2 Địa Chi thì gọi là Bán Tam hợp); xấu thì có Lục xung, Lục hại, Tự hình. Chi là đại diện cho Đất. Cuộc sống thường nhật của con người diễn ra ở trên mặt đất, Địa Chi kết hợp tốt thì như người này tính tình phù hợp với người kia; Địa Chi kết hợp xấu như hai tính cách khác biệt, lắm lúc trái ngược nhau.

Can Chi kết hợp mà ra được những đặc tính đại diện cho tuổi của mỗi người. Năm hành có sự tương sinh, tương khắc với nhau; nhưng độ mạnh yếu lại khác nhau. Kim khắc Mộc, nhưng Kim quá yếu mà Mộc quá mạnh sao khắc được. Một chiếc đinh đóng vào gỗ cứng có lúc còn cong, gẫy đấy thôi. Ví như Canh Dần, Tân Mão là Tùng bách mộc, địa chi Dần, Mão là mộc mà thiên can Tân, Canh thuộc kim, tượng trưng cho khí của mùa thu, cây cối chịu sương tuyết mà vẫn cứng cáp. Mộc sống trong mùa đông, sương còn không thể làm thay đổi tiết tháo của chúng, huống hồ Kim sao có thể gây tổn thương cho Mộc này. 

Khoa Tử Vi có cung Phu thê để xem vợ, xem chồng, được dựa trên ngày tháng năm giờ sinh để dự đoán. Bằng cách xem mối tương quan qua lại giữa các sao trong cung Phu thê, cũng như các cung hội chiếu để dự đoán ra các yếu tố:

  • Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở ?.
  • Có sự hình khắc, tử biệt sinh ly không?
  • Có xung khắc nhau không ( những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già ?
  • Có mấy đời vợ chồng ? Đàn ông có mấy vợ không ?
  • Vợ hay chồng có tốt không ? (Vợ đẹp, ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện … )

Cũng như Tử vi, Tứ tụ nhờ vào ngày tháng năm sinh, giờ sinh mà lập nên lá số. Tứ trụ luận đoán hôn nhân của một người nhờ sự vượng suy, tương tác giữa các trụ năm tháng ngày giờ, kết hợp với lưu niên. Qua đó để biết một người có thuận lợi trong hôn nhân không, kết hôn sớm hay muộn, hay sống cô độc. Tự mình quyết định hôn nhân hay người trên mai mối, cuộc sống hôn nhân có tốt đẹp không, hay vợ chồng bất hòa xung khắc.

Xem tuổi vợ chồng thế nào cho đúng?

Vợ chồng là duyên nợ của nhau. Không có duyên đâu thể gặp nhau. Không có nợ đâu thể đến được với nhau. Tình yêu là nền tảng của hôn nhân, cuộc sống vợ chồng tốt đẹp thì tình yêu phải mạnh mẽ và bền vững. Đã yêu thương nhau thì chắc hẳn sẽ cũng nắm tay để vượt qua gian khó. Cũng bởi yêu thương nhau thì cũng sẽ cùng nhau hưởng thụ những lúc tốt đẹp. 

Coi tuổi vợ chồng chính là nhìn vào bức tranh toàn cảnh trong cuộc sống vợ chồng. Thấy bản thân mình có yếu điểm thì phải tìm cách khắc phục, ưu điểm thì tận dụng để phát huy. Thấy chồng hay vợ mình thiếu sót chỗ này thì cần phải cảm thông, đừng khó chịu mà hãy nên nhắc nhở để họ nhìn ra rồi cùng giúp nhau tốt hơn. Có câu "Nghiêm khắc với mình mà rộng lượng với người khác", người ngoài mình rộng lượng được thì huống hồ chi người mình yêu thương cả đời lại không thể rộng lượng sao?

Bức tranh đó không những phác họa sự mạnh yếu của từng người mà còn chỉ ra những thăng trầm trong cuộc sống. Đó là những vòng đại vận ảnh hưởng tới gia đình. Có năm vận thế tốt tươi, thuận lợi, chỉ cần chồng thuận, vợ hòa, cùng nhau nắm bắt cơ hội thì gia thế phát đạt, tiền tài sung túc, niềm vui tiếng cười tràn ngập. Nhưng có những năm người chồng hay người vợ vận thế không tốt, công việc không như ý, bệnh tật xâm chiếm thì phải cần sự yêu thương, che trở cũng như sự giúp sức của người kia để vượt qua. Điều này cần tình yêu, tình thương và trách nhiệm trong mối quan hệ vợ chồng. 

Xem tuổi vợ chồng như vậy mới thật là đúng đắn!

Bạn có thể sử dụng tiện ích Xem tuổi vợ chồng trực tuyến theo ngày giờ tháng năm sinh, đầy đủ, khoa học và tích cực cho mình.

Xem Tướng chấm net kết hợp nhiều phương pháp có giá trị cao của tinh hoa văn hóa phương Đông như Tử Vi, Tứ Trụ, Ngũ hành âm dương, Can Chi xung hợp để có được một bản vẽ mô tả được tuổi vợ chồng một cách đầy đủ, khoa học và tích cực nhất. Dựa vào những quan niệm nêu trên, Xem Tướng chấm net hy vọng cách tiếp cận mới mẻ này sẽ mang lại cho bạn một niềm tin tốt đẹp vào bản thân, vào người bạn đời và tổ ấm của hai người.

(Xem Tướng chấm net)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi vợ chồng là xem cái gì và xem thế nào cho đúng

Văn hóa dâng hương trong đời sống người Việt

Hương hỏa hay hương khói là khái niệm vô cùng quen thuộc đối với người Việt, gắn liền với văn hóa truyền thống dân gian cũng như mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc.
Văn hóa dâng hương trong đời sống người Việt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hương hỏa hay hương khói là khái niệm vô cùng quen thuộc đối với người Việt, gắn liền với văn hóa truyền thống dân gian cũng như mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc.

 
Van hoa dang huong trong doi song nguoi Viet hinh anh
 
Hương hỏa hay hương khói có thể hiểu theo hai cách: một là dùng để chỉ hình thức tế lễ tổ tiên, thần Phật, là tín ngưỡng tâm linh dân gian; hai là ám chỉ con nối dõi, hậu duệ hay người thừa kế, gắn với luân lý truyền thống gia đình. Hai cách hiểu này lại có sợi dây gắn kết với nhau khi mà con nối dõi sẽ là người chịu trách nhiệm thờ cúng ông bà tổ tiên, kế thừa hương hỏa gia đình.   Thắp hương là cách kính thiên tế thần, hồi tưởng tổ tiên, để cho tình cảm và tâm linh ngày thêm sâu đậm. Dâng hương lễ Phật cũng là một trong những cách thức thể hiện tôn giáo của bản thân. Dần dần, qua thời gian bồi đắp, đây không còn chỉ là một việc làm mang tính hình thức mà trở thành một hiện tượng văn hóa.    Mỗi khi có việc quan trọng, cần có sự chứng giám của trời đất (hình thức chứng giám tự thân cao nhất) thì người ta lại viện tới hương khói. Dâng hương tế trời soi tỏ lòng mình và tự giác nhắc nhở bản thân hoàn thành lời ước hẹn ấy. Điều này khác với sự chứng thực mang tính luật pháp vì thực chất, không ai bảo hộ cũng như chịu trách nhiệm giám sát nhưng lại có ý nghĩa tinh thần cực kì lớn.  

4 tác dụng cực tốt đối với sức khỏe của trầm hương Kiểu dâng hương lễ Phật chỉ phí hương đèn 3 lưu ý tuyệt đối không được quên khi sử dụng trầm hương Sử dụng trầm hương cải thiện phong thủy, tăng tài tiến lộc

Hay như khi tiến hành những việc bình thường nhưng thanh cao, tao nhã như đọc sách, đánh đàn người ta cũng dâng hương, với mong muốn tâm hồn thanh tịnh, không khí tươi mát để thần thanh khí sảng, hấp thụ được tinh hoa của học thuật. 
  Đôi khí, hương đại diện cho sự thanh nhã, phấn chấn, giống như thưởng trà, là một loại hưởng thụ mà chỉ có những bậc văn sĩ mới thấu hiểu.    Văn hóa dâng hương bắt nguồn từ xa xưa, trải qua dòng chảy lâu dài của thời gian đã trở nên lắng đọng, theo đó mà hương liệu cũng trở thành một phần của văn hóa. Trầm hương, đàn hương, long não và xạ hướng được xưng là tứ đại danh hương. Hương khí thanh nhã, khí mạch thanh thoát, thông suốt, có tác dụng dẫn dắt trí tuệ. Hương tro thanh thuần, vương vấn trong không gian, tươi mát trong không khí có thể khử trùng, ích não an thần, tốt cho giấc ngủ.   
Van hoa dang huong trong doi song nguoi Viet hinh anh
 
Với hơn một ngàn năm lịch sử, văn hóa dâng hương không chỉ mang tính chất tôn giáo như nhiều người lầm tưởng mà còn thẩm thấu tới tất cả các mặt trong đời sống, trở thành cuộc sống tinh thần đại chúng, một phương thức biểu đạt văn hóa và nguồn cội. Mỗi khi dâng nén hương trầm, hãy thành tâm trao gửi tâm hồn và tấm lòng của mình, lắng đọng cùng với những giá trị truyền thống tốt đẹp.
=> ## cung cấp công cụ Lấy lá số tử vi của mỗi người chuẩn xác

Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn hóa dâng hương trong đời sống người Việt

Tháng 4 này chòm sao nào sẽ gặp được chân mệnh thiên tử?

Mùa xuân trăm hoa đua nở, là mùa thích hợp bắt đầu 1 tình yêu. Tháng 4 này, chòm sao nào sẽ gặp được chân mệnh thiên tử,đến với tình yêu đích thực của đời mình
Tháng 4 này chòm sao nào sẽ gặp được chân mệnh thiên tử?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở, cũng là mùa thích hợp để bắt đầu một tình yêu. Vậy tháng 4 này, chòm sao nào sẽ may mắn gặp được chân mệnh thiên tử? Chòm sao nào sẽ có cơ hội đến với tình yêu đích thực của đời mình?   Tháng 3 với những gió rét mưa phùn ẩm ướt đã qua đi. Thời tiết tháng 4 trong lành, tươi sáng với những mảng màu xanh mát mắt của cây lá và sắc trời rực rỡ ánh nắng chan hòa. Đúng là “đi qua những ngày mưa, ta mới càng yêu thêm những ngày nắng”. 


Thang 4 nay chom sao nao se gap duoc chan menh thien tu hinh anh
 
Mưa gió đã qua rồi, một mùa hè rực rỡ lại chuẩn bị đến, các bạn có tò mò về chuyện tình duyên sắp tới của mình không? Tháng 4 này, trong số 12 cung hoàng đạo, chòm sao nào sẽ gặp được chân mệnh thiên tử? Sắp tới ai sẽ là người cùng bạn đi du lịch tới những vùng trời xanh, những miền cát trắng? Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ bật mí với các bạn bí mật nho nhỏ về vận đào hoa của 5 chòm sao may mắn trong tháng 4 này nhé.
 

No.5: Sư Tử

  Cuối cùng thì Sư Tử cũng đã đến ngày thoát kiếp FA cô đơn lạnh lẽo. Tuy chuyện tình cảm thời gian trước của chòm sao này không được thuận lợi cho mấy nhưng tháng 4 đến rồi, mọi chuyện đã thay đổi. 
 
Hãy luôn vui vẻ, lạc quan và chú ý ăn diện thật xinh đẹp nhé. Bởi trong tháng này, bạn sẽ gặp được người ấy của mình, rất có thể là thông qua bạn bè giới thiệu hoặc trong những buổi gặp gỡ bất ngờ với lũ bạn thân. Cố gắng nắm bắt cơ hội nhé.
 

No 4: Bạch Dương

  Mấy tháng tới đây chính là lúc vận đào hoa của Bạch Dương nở rộ. Nhờ sự ảnh hưởng của vận thế chòm sao mà tháng 4 này, mọi chuyện của bạn đều vô cùng suôn sẻ, thuận lợi. 
 
Sự may mắn này cũng giúp cho bạn cũng giúp bạn có nhiều cơ hội gặp gỡ và làm quen với nhiều đối tượng thích hợp và xuất sắc về nhiều mặt. Trong số đó chắc chắn có một người chính là tình yêu đích thực của bạn, hãy mở to mắt và lắng nghe nhịp đập trái tim mình.
 
Chòm sao này thích những người trong sáng dễ thương, đặc biệt nam cung Bạch Dương rất dễ đổ trước một cô nàng dịu dàng, bề ngoài mềm yếu mà bên trong mạnh mẽ đó.


Thang 4 nay chom sao nao se gap duoc chan menh thien tu hinh anh
 

No.3: Song Tử

  Bước sang tháng 4 này, vận đào hoa của Song Tử vô cùng xán lạn. Nét cuốn hút của bạn tỏa sáng rực rỡ, chỉ đi trên đường thôi cũng khiến bao ánh mắt ngước nhìn, còn có thể được anh chàng hay cô nàng không quen biết nào đó không kìm được lòng mà lại gần xin số điện thoại nữa.
 
Tuy nhiên, Song Tử đâu có dễ bị mềm lòng. Vốn là người thông minh, tỉnh táo, bạn biết đâu mới là người hợp với mình, ai mới xứng là chân mệnh thiên tử của cuộc đời.
 
Nếu bạn không muốn cô đơn, lạc lõng trong khi chúng bạn dập dìu đôi lứa thì tháng 4 này hãy chăm chỉ tham gia các hoạt động xã giao, năng nổ nhiệt tình giúp đỡ mọi người, khả năng gặp được người ấy của bạn sẽ càng cao đấy.

Xem thêm bài viết: Cung Song Tử hợp với cung nào trong 12 cung hoàng đạo?
 

No.2: Hổ Cáp

  Từ trước tới nay, đường tình duyên của chòm sao này không có gì nổi trội, tuy thi thoảng cũng gặp được người mình có cảm tình song mọi chuyện cuối cùng vẫn chẳng đâu vào đâu.
 
Nhưng tháng 4 loa kèn nở, vận đào hoa cuối cùng cũng đến gõ cửa nhà Hổ Cáp. Tình yêu đích thực của cuộc đời có thể sẽ đến với bạn trong tháng này. Đó có thể là một lần gặp gỡ tình cờ không ai mong đợi, từ cái nhìn đầu tiên ta bắt gặp ánh mắt nhau và đắm chìm trong biển tình yêu ấy. Ôi, nghĩ thôi cũng thấy lãng mạn rồi, mong đợi quá đi thôi!
 

No.1: Cự Giải

  Sắp tới, Cự Giải hẳn sẽ chìm trong biển đào hoa. Không chỉ tháng 4 này mà cả mấy tháng tới, bạn cũng sẽ gặp rất nhiều may mắn trong tình cảm. 
 
Thời điểm này, đừng quá rụt rè, thu mình Cự Giải nhé. Đã đến lúc bạn cởi mở và phóng khoáng hơn để mở rộng mối quan hệ của mình. Tuy nhiên, cũng phải làm rõ xem Cự Giải chỉ hạnh phúc khi ở bên những chòm sao nào? Đó là những người phóng khoáng và có chung suy nghĩ, nhiều ý tưởng với bạn. Chú ý hơn đến những người như thế nhé.

Bạn vốn hay nhút nhát, không dám thể hiện mình trước người khác giới, hãy thử thay đổi một chút nhé, bạn cũng có nhiều điểm tốt để thu hút đối phương mà. Đừng để chân mệnh thiên tử đến trước mặt mình mà lại đi lướt qua nhau.
 
Với những Cự Giải đã có đôi có cặp, những cám dỗ này chính là thử thách cho tình yêu của các bạn, hãy vững vàng giữ trái tim mình trong lồng ngực.
 
Hy Vũ

Bí kíp tìm chân mệnh thiên tử trong mùa hè Đi tìm người có sức hấp dẫn trời sinh với 12 chòm sao Tử vi tháng 4 của 12 cung hoàng đạo

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tháng 4 này chòm sao nào sẽ gặp được chân mệnh thiên tử?

Mệnh Đại Khê Thủy

Cổ thư biên: “Giáp Dần Ất Mão thì Dần là ranh giới Đông Bắc, Mão là chính đi về một hướng nên gọi bằng Đại Khê Thủy”.
Mệnh Đại Khê Thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đại Khê là dòng suối lớn, thác nước tung hoành trong rừng núi khác hẳn Giản Hạ Thủy là lạch nhỏ suối con. Bởi thế Đại Khê Thủy thủy khí lượng lớn, biến hóa đến mức gây sợ hãi, tuy không ngấm ngầm nhưng tâm cơ sâu rộng lan tràn ngập lụt.
Tuy nhiên lại không được xem như sông ngòi. Thác lũ khi gặp lòng sâu, hoặc hang hốc cũng chảy thành dòng, lấp đầy thành vũng. Bởi thế đôi khi bụng dạ hẹp hòi và tư tâm.

Người nạp âm Đại Khê Thủy nếu là một chiến lược gia tất có cái nhìn rộng rãi bao quát. Nếu Mệnh kém mà nạp âm Đại Khê Thủy lại trở nên con người mơ mộng ước vọng, hoài bão to tát mà thiếu khả năng hành động, vô dụng.
Giáp Dần Ất Mão hai chi đều thuộc Mộc, đều vững mạnh trước hung vận, nhưng Ất Mão ý nhị hơn, mềm dẻo hơn vì cả Ất lẫn Mão đều là âm Mộc.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mệnh Đại Khê Thủy

Đi tìm một nửa phù hợp với cô nàng Kim Ngưu (Phần 1)

Cô nàng Kim Ngưu vốn rất ấm áp và chăm chỉ, là mẫu người phụ nữ của gia đình, liệu anh chàng nào có khả năng
Đi tìm một nửa phù hợp với cô nàng Kim Ngưu (Phần 1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cô nàng Kim Ngưu vốn rất ấm áp và chăm chỉ, là mẫu người phụ nữ của gia đình, liệu anh chàng nào có khả năng "đốn gục" trái tim của những cô nàng này?

 

1. Bạch Dương
 

Mối quan hệ giữa cô nàng Kim Ngưu và chàng Bạch Dương không hề yên bình như vẻ bề ngoài.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là sự bù trừ lẫn nhau trong tính cách hai bạn. Phụ nữ Kim Ngưu cẩn trọng, thực tế có thể giúp Bạch Dương hạn chết bớt sự bốc đồng. Trong khi Bạch Dương sẽ giúp Kim Ngưu tận hưởng cuộc sống sôi động bên ngoài.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là một bên Bạch Dương hướng ngoại sôi động thì Kim Ngưu lại vui thích với các hoạt động gia đình nhiều hơn. Theo thời gian Bạch Dương sẽ cảm thấy nhàm chán với Kim Ngưu. Trong khi Kim Ngưu mệt mỏi vì luôn phải đuổi theo Bạch Dương.
 
Biện pháp cho mối quan hệ bền vững là hai bên nên nhường nhịn lẫn nhau. Bạch Dương nên dành nhiều thời gian bên Kim Ngưu hơn. Ngược lại Kim ngưu cũng cần tích cực đổi mới bản thân, bớt bảo thủ.

Di tim mot nua phu hop voi co nang Kim Nguu Phan 1 hinh anh
Ảnh minh họa

2. Kim Ngưu
 

Mối quan hệ giữa Kim Ngưu và Kim Ngưu khá dễ chịu và thoải mái.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là cả hai có rất nhiều điểm tương đồng, sở thích. Cả hai bạn đều thích dành thời gian cho gia đình và thích chăm sóc đối phương.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là sự bảo thủ của chính hai người. Khi một Kim Ngưu đã ra quyết định thì sẽ khó lòng thay đổi dù người kia có thuyết phục ra sao. Điều đó sẽ gây mâu thuẫn và sóng ngầm cho tình cảm.
 
Biện pháp giải quyết các vấn đề trong tình yêu giữa Kim Ngưu và Kim Ngưu là cả hai cần nói chuyện, chia sẻ để thấu hiểu nhau hơn. Như vậy sẽ giúp hai bên có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống.  

3. Song Tử
 

Mối quan hệ giữa cô nàng Kim Ngưu và chàng Song Tử sẽ có khá nhiều sóng gió.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là Song Tử sẽ nhận được nhiều sự chăm sóc từ Kim Ngưu. Cuộc sống của Kim Ngưu sẽ trở nên thú vị hơn với sự xuất hiện của Song Tử.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là Song Tử quá thiếu ổn định khiến cho nàng Kim Ngưu luôn cảm thấy bất an, không có cảm giác an toàn.
 
Biện pháp cho mối quan hệ này là Song Tử cần chung thủy hơn với Kim Ngưu. Ít nhất cũng đừng chọc tức cô nàng bằng sự đào hoa của mình một cách rõ ràng.
 

4. Cự Giải
 

Mối quan hệ giữa nàng Kim Ngưu và chàng Cự Giải sẽ là một tình yêu ấm áp, dịu dàng, đầy tình cảm.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là Kim Ngưu đủ khả năng chăm sóc, chiều chuộng sự thất thường của Cự Giải. Ngược lại Cự Giải cũng đem đến cho Kim Ngưu cảm giác về gia đình.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là đôi khi Kim Ngưu không đủ tinh tế, nhạy cảm để hiểu hết chiều sâu tâm hồn Cự Giải. Ngược lại Cự Giải quá yếu đuối không mang lại cảm giác vững chắc cho Kim Ngưu.
 
Biện pháp để mối quan hệ lâu dài là Kim Ngưu cần chú tâm đến những diễn biến tâm lý của Cự Giải nhiều hơn. Cự Giải cũng cần hạn chế sự thất thường của mình.

(Còn nữa)

ST

Đi tìm một nửa phù hợp nhất với cô nàng Bạch Dương (Phần 3) Đi tìm một nửa phù hợp nhất với cô nàng Bạch Dương (Phần 2) Đi tìm một nửa phù hợp nhất với cô nàng Bạch Dương (Phần 1)
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đi tìm một nửa phù hợp với cô nàng Kim Ngưu (Phần 1)

Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 có phải Tết Thanh Minh

Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 và tết Thanh Minh là hai dịp lễ có ý nghĩa quan trọng về văn hóa và tinh thần của người Việt. 2 ngày này có phải là 1?
Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 có phải Tết Thanh Minh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 và tết Thanh Minh là hai dịp lễ có ý nghĩa quan trọng về văn hóa và tinh thần của người Việt, ẩn chứa trong đó hồn dân tộc cùng sự tiếp nối các thế hệ trước sau. Đặc biệt, nếu ngày 3/3 trùng vào ngày đầu tiên của tiết Thanh Minh thì người ta gọi đó là “Thanh Minh đích thực”.


Tet Han Thuc mung 3 thang 3 co phai Tet Thanh Minh hinh anh
 

Tìm hiểu về Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 và Tết Thanh Minh


Nhiều người lầm tưởng tết Thanh Minh là một ngày nhưng thực chất đó là một tiết khí trong năm, kéo dài 15 ngày từ ngày 4 hoặc 5 tháng 4 đến 19 hoặc 20 tháng 4 dương lịch. Tiết Thanh Minh trời trong khí nhẹ, không còn những cơn mưa phùn mùa xuân, không còn cái âm u ẩm ướt nồm ẩm của tiết Xuân Phân, cả không gian phấn chấn và tươi mới.
  Ngay chính trong thời điểm cuối xuân đẹp đẽ như vậy, người Việt tổ chức lễ Thanh Minh tảo mộ. Ngày lễ để tưởng nhớ những người đã khuất, hướng về ông bà tổ tiên, tỏ lòng thành kính, trân trọng. Trong dịp này, người ta đi dọn dẹp mộ phần, tu bổ sửa sang những ngôi mộ cũ và làm cơm cúng mời người thân khuất núi về.   Cúng Thanh Minh có thể tổ chức tại mộ hoặc tại gia. Bữa cơm thanh tịnh, cùng lời văn khấn tết Thanh Minh rầm rì như  kết nối người sống và người đã xa, gắn bó người dương thế với người âm thế, tạo thành sợi dây tình cảm mạnh mẽ, có ý nghĩa lan tỏa để con cháu đời sau dẫu chưa từng một lần gặp mặt cũng có thể có những ấn tượng về cha ông, tổ tiên.   Với dân tộc Việt, Thanh Minh không phải là ngày lễ tổ chức rầm rộ nhưng nó âm thầm, bền bỉ với những giá trị văn hóa truyền thống, giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Vì vậy, không năm nào quên, cứ đến dịp này là người đi xa cũng như ở gần, nhất định về tham dự tết Thanh Minh.   Ngày đầu tiên của tết Thanh Minh có năm trùng với Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3, thì gọi là “tết Thanh Minh đích thực”. Tết Hàn Thực cũng như tết Thanh Minh, có nguồn gốc từ văn hóa Trung Quốc, sau quá trình du nhập sang nước ta đã có sự cải biến phù hợp để trở thành ngày lễ mang tinh thần văn hóa Việt.
Tet Han Thuc mung 3 thang 3 co phai Tet Thanh Minh hinh anh
 
Nếu người Trung Quốc coi đây là dịp tưởng nhớ Giới Tử Thôi – một trung thần thời nhà Tấn thì với người Việt, Hàn Thực cũng như bao dịp lễ khác, đều là ngày để hiếu kính tổ tiên, dâng lòng thành thơm thảo lên những bậc tiền nhân và là ngày con cháu quây quần, sum họp, nối tiếp truyền thống gia đình, truyền thống dân tộc.   Nét nổi bật nhất của văn hóa Việt là giá trị của gia đình, dù ngày lễ nào, tết nào cũng đều lấy gia đình là trung tâm, lấy việc người phương xa trở về nhà gặp mặt là điều không thể thiếu. Có thể ý nghĩa, cách thể hiện của mỗi dịp lễ tết là khác nhau nhưng điều này thì hoàn toàn giống nhau.   Tết Thanh Minh như vậy, tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 cũng là thế. Trong dịp này, bánh trôi bánh chay là món bánh truyền thống được làm để dâng cúng ông bà tổ tiên, có nơi cúng thành hoàng làng và sau đó là để mọi người cùng thưởng thức, tạo không khí đầm ấm, thân tình.   Bánh trôi bánh chay làm từ bột gạo nếp, nhân đỗ xanh, đường đen rồi rắc thêm chút vừng thơm bùi. Chiếc bánh trắng tròn, mềm mịm, đơn giản mà thanh tao, nhẹ nhàng mà tinh tế, là món ăn mang đậm đà hương vị quê hương, chứa đựng tình cảm, tâm hồn dân tộc. Ngay cả trong những dịp lễ lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương, lễ Phủ Giầy cũng dâng cúng bánh trôi, đủ thấy giá trị của loại bánh này.
Tet Han Thuc mung 3 thang 3 co phai Tet Thanh Minh hinh anh
 
Các dịp lễ của người Việt quanh năm đều thể hiện tròn một chữ “hiếu”. Hiếu với đất nước, hiếu với tổ tiên, hiếu với cha mẹ. Cái nghĩa của tết Thanh Minh và tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 cũng nằm trọn trong chữ hiếu ấy, chữ hiếu của những con người luôn dành tình dành nghĩa cho tiền nhân, dành công dành sức để bồi đắp, vun vén cho tinh hoa văn hóa truyền thống gia đình và dân tộc. Hãy nhớ, những dịp lễ bên gia đình, bên người thân là đẹp đẽ nhất, đáng trọng nhất trong đời.
Nên chọn hoa gì đi tảo mộ trong tiết Thanh minh? 9 điều kiêng kỵ chớ làm trong tiết Thanh Minh Tết Hàn Thực là ngày gì? Văn khấn Tết Hàn Thực (3/3 Âm lịch)

Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 có phải Tết Thanh Minh

Có được nốt ruồi phú quý này, cả đời không phải lo phiền

Bạn có biết trong số những nốt ruồi trên cơ thể, có những nốt ruồi phú quý vô cùng, mà người sở hữu những nốt ruồi đó trời định có số giàu sang phú quý
Có được nốt ruồi phú quý này, cả đời không phải lo phiền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn có biết trong số những nốt ruồi trên cơ thể, có những nốt ruồi phú quý, mà người sở hữu những nốt ruồi đó trời định có số giàu sang phú quý, phúc khí đầy nhà hay chưa? Hãy cùng Lịch ngày tốt khám phá bí mật đó nhé.   Trên cơ thể con người dù ít dù nhiều cũng sẽ có sự xuất hiện của nốt ruồi. Nhưng bạn đã biết ý nghĩa của những nốt ruồi đó là gì hay chưa. Theo y học, có nghiên cứu cho rằng những người sở hữu nhiều nốt ruồi sẽ gìn giữ được tuổi thanh xuân lâu dài hơn những người khác. Đôi khi, nốt ruồi cũng báo hiệu bệnh tật đến với bạn, đặc biệt là cò những nốt ruồi màu sắc xấu, bạn có nguy cơ mắc ung thư khá cao.   Vậy còn theo nhân tướng học, nốt ruồi có ý nghĩa gì? Từ xa xưa, ông cha ta đã tổng kết ra rất nhiều điều về tính cách, vận mệnh con người chỉ thông qua những nốt ruồi bé xíu trên cơ thể. Có nốt ruồi báo điềm hung, có nốt ruồi mang theo tin tốt.    Bạn đã biết những nốt ruồi phú quý, báo hiệu vận thế giàu sang an nhàn nằm ở đâu trên cơ thể hay chưa? Nếu bạn có những nốt ruồi ở vị trí dưới đây, chúc mừng bạn, cuộc đời này bạn không phải đại phú thì cũng là người đại quý, phúc khí đầy mình, may mắn muôn nơi.  

Nốt ruồi ở lòng bàn tay

  Xem tướng nốt ruồi, người có nốt ruồi ở vị trí này trời sinh thông minh đĩnh ngộ, đầu óc nhanh nhạy linh hoạt, có bản lĩnh kiếm tiền cao siêu hơn người, tài vận hanh thông, tiền bạc đầy nhà. Sự khéo léo giúp họ rất nhiều trong công việc, không chỉ trong chuyện đối nhân xử thế mà trong chuyện xử lý công việc, họ đều là người tài năng và được tán thưởng rất nhiều.


Co duoc not ruoi phu quy nay, ca doi khong phai lo phien hinh anh
 
  Họ không những có đầu óc kinh doanh mà còn rất giỏi chuyện tính toán đầu tư, tiền bạc trong tay họ như quả cầu tuyết càng lăn càng lớn. Nốt ruồi ở lòng bàn tay là nốt ruồi phú quý, người sở hữu nó trời định giàu sang, sự nghiệp lẫy lừng, tài lộc ùn ùn kéo tới.  

Nốt ruồi ở giữa lưng

  Nốt ruồi trên cơ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tài vận. Những người may mắn sở hữu nốt ruồi nằm giữa lưng có phúc khí vô cùng, họ làm chuyện gì cũng vô cùng thuận lợi, xuôi chèo mát mái. Dù đó là những chuyện vụn vặt hàng ngày hay chuyện đại sự ảnh hưởng đến vận thế cuộc đời thì người này đều dễ dàng, khéo léo hoàn thành một cách xuất sắc nhất.


Co duoc not ruoi phu quy nay, ca doi khong phai lo phien hinh anh
 

Có nốt ruồi phú quý ở vị trí này, họ có vận trình tốt đẹp tới mức khiến nhiều người phải nghi ngờ may mắn của họ từ đâu mà tới. Cuộc đời họ bằng phẳng yên bình, giàu có an nhàn, tài lộc đầy nhà.
 

Nốt ruồi ở lòng bàn chân

  Nốt ruồi ở vị trí này thể hiện cho quyền lực và phúc khí. Thông thường, người sở hữu nốt ruồi ở lòng bàn chân là những người sau này làm nên nghiệp lớn, là những người lãnh đạo xuất sắc, đức cao vọng trọng.


Co duoc not ruoi phu quy nay, ca doi khong phai lo phien hinh anh
 
  Dù là nơi thương trường hay chính trường, họ cũng là người cầm cân nảy mực, đóng vai trò quan trọng, quyết định đại cục. Bàn chân có nốt ruồi phú quý này, bạn là người có tố chất lãnh đạo, là người có quyền lực rất lớn trong tay, được nhiều người kính nể.

Mời bạn đọc thêm: Dự đoán công danh và tình yêu qua một số nốt ruồi tiêu biểu trên khuôn mặt.
 

Nốt ruồi trên ngón chân

  Những người trên ngón chân có nốt ruồi tính cách thường khá tiết kiệm, biết chăm lo vun vén cho gia đình. Phụ nữ là người đảm đang khéo léo, biết tích lũy tiền bạc để lo lắng cho gia đình. Đàn ông là người biết quản lý tài chính, giữ túi tiền ngày càng đầy lên, cũng có tài đầu tư sinh lời.


Co duoc not ruoi phu quy nay, ca doi khong phai lo phien hinh anh
 
  Người này luôn suy nghĩ tìm cách kiếm tiền, dồn mọi tâm sức để biến tiền bạc sinh sôi nảy nở, từ một thành mười, từ mười thành trăm. Niềm vui của họ trong cuộc sống chính là kiếm tiền, động lực để họ phấn đấu cũng chính là tiền bạc, chính vì thế mà người này muốn nghèo cũng khó.    Ý chí kiên cường, lại thêm đầu óc tư duy logic, kinh doanh nhanh nhạy nên họ làm gì cũng hết sức mình, suy nghĩ thật kĩ, lên kế hoạch chi tiết trước khi hành động. Đi theo con đường làm ăn buôn bán, người này làm đâu thắng đó, khả năng thành công cực kì lớn.

An An
 
Nốt ruồi Lệ Đường, yêu đương buồn khổ? Phụ nữ có nốt ruồi ở lông mày, là phúc hay là họa? Có 4 nốt ruồi này, cả đời sẽ hưởng tiền tài, phú quý và trường thọ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có được nốt ruồi phú quý này, cả đời không phải lo phiền

Giải nghĩa sao Tham lang trong lá số Tử vi

Trong tử vi Tham lang là ngôi sao thứ hai trong chòm Bắc đẩu, thuộc dương Mộc mà gốc là Thủy, chủ về phúc họa, dục vọng, có thể ban phúc cũng có thể giáng họa, cho nên thiện ác lẫn lộn. Mệnh nữ không nên có Tham lang tọa thủ cung Mệnh.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tham lang chỉ ưa đồng cung với Hỏa tinh hoặc Linh tinh, chủ về phát tài bất ngờ. Trong lá số tử vi Tham lang không ưa đồng cung với Đà la, chủ về:

- Vì sắc tình mà phá tài.

- Đời sống tình dục quá độ.

- Tính mạng gặp nguy khó.

Đặc biệt kỵ tại chỗ Dần có Tham lang và Đà la đồng cung, chủ về vì sắc tình mà gặp họa.

tử vi tuần mới tử vi trọn đời tử vi tháng 9/2014 tử vi tháng 9 năm 2014 tử vi tháng 10/2014 sao tham lang ở cung điền trạch sao tham lang ở cung tử tức sao tham lang ở cung thê sao tham lang ở cung phụ mẫu sao tham lang o cung phu sao tham lang ở cung nô bộc sao tham lang ở cung huynh đệ sao tham lang cung quan lộc sao tham lang cung phu thê sao tham lang lá số tử vi việt nam lá số tử vi trọn đời 2014 lá số tử vi trọn đời lá số tử vi online lá số tử vi năm 2015 lá số tử vi hồ chí minh lá số tử vi của bác hồ lá số tử vi 2015 lá số tử vi 2014 lá số tử vi

Tham lang tại chỗ Tý tọa Mệnh:

- Cả đời bôn ba vì tiền bạc.

- Nếu đồng cung vối Hỏa tinh, Linh tinh gọi là cách cục Hỏa Tham (nhưng cách cục Hỏa Tham chính thống chỉ Tham lang tại Thìn, Tuất đồng cung vối Hỏa, Linh, chủ cát lợi, có thể kinh doanh bất động sản).

- Không nên kinh doanh ngành chăn nuôi, nuôi trồng.

- Người sinh năm Mậu, Tham lang hóa lộc, là người thông minh, nhân duyên tốt, đặc biệt có sức hút với ngưòi khác giới. Giỏi việc giao tiếp, xã giao nhưng sẽ vì rượu mà lỡ chuyện. Nên kiêng rượu hoặc không lái xe, gây sự sau khi uống rượu.

- Người sinh năm Nhâm có Dương nhẫn đồng cung là cách cục Phiếm thủy đào hoa, vì sắc mà tranh chấp, gây họa. Mệnh nữ đề phòng gặp kẻ cường bạo hoặc lưu lạc phong trần, dễ bị thận hư do đời sống tình dục quá độ. Nếu có Thiên hình đồng cung đề phòng gặp họa hình ngục.

Dương nhẫn tại Tý, xung chiếu Tử vi ở cung đối diện chủ về người này muôn sự không toại ý.

Người sinh năm Nhâm có Vũ khúc ở cung Phúc đức hóa kỵ chủ về cả đời tâm tình u uất không vui hoặc thường phiền não vì tiền bạc. Duy chỉ có người sinh năm . Nhâm có Thiên lương hóa lộc, tại chỗ Mão đồng cung vối Thái dương tọa cung Quan lộc chủ về sự nghiệp phát nhanh.

Đại, tiểu hạn gặp Tham lang, Văn xương chủ về:

- Ngồi máy bay gặp sự cố dẫn đến tử vong.

- Từ cây cao ngã xuống mà qua đời.

- Khó có được kết cục bình yên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải nghĩa sao Tham lang trong lá số Tử vi

Tuổi Ngọ và tuổi Mùi có hợp nhau không? –

Có thể khẳng định, 2 con giáp này đến với nhau như một lẽ tất yếu. Giữa họ cũng có nhiều điểm khác biệt, nhưng thú vị là những điểm đó lại bổ sung cho nhau. Ngựa khá khó hiểu và bí ẩn, họ không thích cảm giác ràng buộc và cuộc sống gia đình, họ chỉ h
Tuổi Ngọ và tuổi Mùi có hợp nhau không? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Ngọ và tuổi Mùi có hợp nhau không? –

Lựa chọn hình dáng giường ngủ theo thuyết Ngũ hành –

Lựa chọn hình dáng của giường ngủ theo thuyết Ngũ hành là một trong những yếu tố quan trọng mang đến giấc ngủ ngon cho người sử dụng. Theo thuyết Ngũ hành, mỗi hình dáng đều gắn với 1 trong 5 yếu tố cơ bản của Ngũ hành. Khi chọn giường hợp phong thủ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lựa chọn hình dáng của giường ngủ theo thuyết Ngũ hành là một trong những yếu tố quan trọng mang đến giấc ngủ ngon cho người sử dụng.

Theo thuyết Ngũ hành, mỗi hình dáng đều gắn với 1 trong 5 yếu tố cơ bản của Ngũ hành. Khi chọn giường hợp phong thủy, bạn cũng nên quan tâm đến hình dáng của đầu giường. Bởi kiểu dáng đầu giường có thể kết hợp hài hòa với mệnh của người ngủ giúp mang lại vận khí tốt cho căn phòng. Ngược lại, nếu sử dụng những hình dáng đầu giường “khắc” với mệnh của người ngủ sẽ gây nên nhiều điều bất lợi về khí vận cho người ngủ trên giường.

giupong-ngu

Dựa vào thuyết Ngũ hành, chúng ta có thể chọn những kiểu dáng đầu giường cơ bản ứng với các yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ như sau:

Mệnh Kim ứng với hình tròn, hình bán nguyệt, hình cung

Mệnh Mộc ứng với hình chữ nhật

Mệnh Thủy ứng với hình sóng nước

Mệnh Hỏa ứng với hình nhọn, hình quả trám

Mệnh Thổ ứng với hình vuông

Sự kết hợp giữa hình dáng đầu giường với mệnh người ngủ theo thuyết Ngũ hành:

Khi bạn là mệnh Mộc, nên chọn hình dáng đầu giường hình chữ nhật hoặc hình sóng nước.

Khi bạn là mệnh Hỏa, nên chọn hình dáng đầu giường hình chữ nhật hoặc hình quả trám, hình nhọn.

Khi bạn là mệnh Thổ, nên chọn hình dáng đầu giường hình vuông hoặc hình quả trám, hình nhọn.

Khi bạn là mệnh Kim, nên chọn hình dáng đầu giường hình vuông hoặc hình tròn.

Khi bạn là mệnh Thủy, nên chọn hình dáng đầu giường hình tròn hoặc hình sóng nước.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lựa chọn hình dáng giường ngủ theo thuyết Ngũ hành –

Văn khấn trước khi lau dọn bàn thờ (23/12 ÂL)

Văn khấn trước khi lau dọn bàn thờ, vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm, người Việt có tục lệ, rút chân hương, sửa sang lại bàn thờ để chuẩn bị cúng lễ Tết
Văn khấn trước khi lau dọn bàn thờ (23/12 ÂL)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm, người Việt có tục lệ lau dọn bàn thờ, rút chân hương, sửa sang lại bàn thờ để chuẩn bị cúng lễ Tết. Tuy nhiên, trước khi thực hiện công việc này, gia chủ thường phải phải thắp hương và khấn xin phép tổ tiên.

Khi lau dọn bàn thờ, gia chủ nên dùng nước ấm, rượu hoặc nước gừng để lau chùi đồ thờ cúng và trước khi làm việc này thì cần phải thắp hương và cúng khấn xin phép gia tiên nhà mình.

Văn khấn:

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!

Con xin tấu lạy Chín phương Trời, Mười phương chư Phật, chư Phật Mười phương

Con xin tấu lạy vua cha Ngọc Hoàng thượng đế, Hoàng thiên hậu thổ, ngũ phương ngũ thổ, long mạch thổ, thần Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.

Tín chủ con là:………………
Ngụ tại:………………….

Con xin tấu lạy vong linh các cụ gia tiên cửu huyền thất tổ, bà tổ cô và các bà cô các đời, ông mãnh, cô bé đỏ, cậu bé đỏ dòng họ …. tại…… (địa chỉ nhà ở, quê).

Hôm nay là ngày 23 tháng Chạp năm … ,con xin phép được bao xái lại bàn thờ gia tiên để cho sạch sẽ để tiễn năm cũ,đón năm mới tới, mong chư vị Phật Thánh, các cụ gia tiên tiền tổ, bà tổ cô, ông mãnh, cô bé đỏ, cậu bé đỏ của họ … chấp thuận.

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!

Sau hơn nửa tuần nhang thì bạn có thể tiến hành vệ sinh bát nhang và ban thờ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn trước khi lau dọn bàn thờ (23/12 ÂL)

Làm ơn không cần báo đáp, không cầu mà tự được

Nước nuôi dưỡng tất cả các sinh linh, tưới tắm cho vạn vật, nó không tranh đấu vì quyền lợi, và cũng không cần sự báo đáp. Đây chính là sự khiêm nhường lớn nhất và đức hạnh cao cả nhất!
Làm ơn không cần báo đáp, không cầu mà tự được

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hàn Tín, vị tướng nổi tiếng tài giỏi thời nhà Hán không chỉ được biết đến là người có tâm đại nhẫn phi thường lớn, ông còn được người đời ca ngợi là một người “nhận ơn mà không quên ơn”.

Trong cuốn sách về những lời dạy của Chu Tử có dạy rằng: “Thi huệ vô niệm, thụ ân mạc vong” (Tạm dịch: Làm điều tốt không cần suy tính, mang ơn người đừng bao giờ quên.). Hàn Tín quả thực đã làm được đạo lý này! Hãy cùng tìm hiểu về đức tính này của ông qua điển tích sau:

Thuở thiếu niên, vị tướng nổi tiếng thời nhà Hán là Hàn Tín sống một cuộc sống vô cùng nghèo khổ cơ cực. Một ngày nọ, Hàn Tín không còn gì để ăn, ông không còn cách nào khác là ngồi ở bờ sông ngoại thành Hoài Dương và câu cá. Lúc ấy, có nhiều phụ nữ đang giặt giũ bên bờ sông. Trong số ấy, có một người phụ nữ để ý thấy rằng Hàn Tín trông có vẻ đói và xanh xao, dường như đã lâu lắm rồi không được ăn gì.

Bà liền chủ động mang thức ăn của mình tặng cho Hàn Tín. Cứ như thế, Hàn Tín đã được người phụ nữ kia tặng cho thức ăn trong suốt hơn 10 ngày liền. Lòng tốt của người phụ nữ ấy đã khiến Hàn Tín vô cùng cảm kích và xúc động sâu sắc. Cảm thấy ân huệ của người phụ nữ kia đối với mình nặng như ngọn núi, vì vậy Hàn Tín đã nói với người phụ nữ đã tặng cơm cho mình rằng: “Trong tương lai tôi nhất định sẽ tận tâm báo đáp ân huệ của bà!”.

Không ngờ, người phụ nữ kia trả lời thật với một giọng rất bình dị: “Một người đàn ông đích thực phải tự chăm lo được cho cuộc sống của bản thân. Tôi là vì thấy cậu đáng thương nên đã cho cậu thức ăn. Nếu tôi gặp người khác đang chịu khổ vì đói khát, tôi cũng sẽ làm như thế. Vì vậy tôi không cần cậu phải báo đáp gì cho tôi cả”.

Nhiều năm trôi qua, người phụ nữ kia đã không còn nhớ gì về việc mình đã tặng thức ăn cho Hàn Tín. Bà từ lâu đã quên bẵng đi chuyện nhỏ nhặt ấy rồi. Nhưng Hàn Tín thì không lúc nào quên ân huệ của bà.

Sau khi đã công thành danh toại, Hàn Tín trở lại quê hương. Việc đầu tiên mà ông làm là đi tìm người phụ nữ mà ông đã gặp trong thời trai trẻ và báo ơn bà bằng một lượng tiền vàng rất lớn.

Vạn lượng không so được với lòng từ tâm

Trên gian này, chỉ những người đại trí đại huệ mới hiểu được đạo lý “không cầu mà tự đắc”. Nếu một người nào đó có thể làm ơn mà không cầu được báo đáp thì người ấy đã vượt xa cảnh giới tư tưởng của một người bình thường.

Trong cuộc sống đời thường, nếu bạn có thể giữ vững được nguyên tắc làm người “làm ơn mà không cần đáp trả, nhận được ơn huệ mà không bao giờ quên” thì bạn nhất định sẽ tích được đại đức cho tương lai.

Nhân quả là có thật

Có một số người mặc dù cũng biết được rằng làm việc thiện là tốt, nhưng một khi làm việc thiện không nhận được sự báo đáp đã nhanh chóng trở nên nản chí, ngã lòng. Thậm chí họ còn nghi ngờ rằng, thế gian liệu có thực sự tồn tại thiên lý “thiện ác có báo”? Điều này đơn giản là bởi vì lòng nhân từ của họ không đủ trong sáng, thuần túy gây ra.

Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử viết: “Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, thử nãi khiêm hạ chi đức dã; cố giang hải sở dĩ năng vi bách cốc vương giả, dĩ kỳ thiện nhập vu vô chi gian, do thử khả tri bất ngôn chi giáo, vô vi chi ích dã”. Ý nói rằng, một người thực sự lương thiện thì giống như là nước.

Nước nuôi dưỡng tất cả các sinh linh, tưới tắm cho vạn vật, nó không tranh đấu vì quyền lợi, và cũng không cần sự báo đáp. Đây chính là sự khiêm nhường lớn nhất và đức hạnh cao cả nhất!

Làm ơn mà không cầu báo đáp quý giá nhất ở chỗ vô tư, không cầu lợi. Nếu mỗi người khi làm ơn đều có thể suy nghĩ được ở cảnh giới này: khẳng khái giúp tiền khi thấy người gặp nạn, gặp người đang bị khốn cùng thì sẵn sàng ra tay cứu giúp và sau đó không quan tâm rằng liệu người mà họ giúp có thể hoàn trả lại cho họ hay không, trong lòng hoàn toàn bảo trì được tâm thái thanh thản, không oán giận, không hối tiếc. Nếu có thể làm được như vậy, thì người ấy đã tích được đại đức và trong tương lai người ấy chắc chắn sẽ nhận được phúc báo vô cùng to lớn.

Theo Bài Học Cuộc Sống -Lịch Vạn Niên 365

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm ơn không cần báo đáp, không cầu mà tự được

Xem tướng trẻ em dễ nuôi, khó nuôi –

Trẻ em da hồng hào, đầu tròn, tai và miệng lớn, nôi hồng, … là tướng dễ nuôi. ngược lại trẻ em… Khi con chào đời, nhiều bậc cha mẹ hớn hở khoe ‘trộm vía’ con dễ nuôi, nhưng ngược lại, không ít phụ huynh ‘than vắn, thở dài’ con khó nuôi mà không hiểu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trẻ em da hồng hào, đầu tròn, tai và miệng lớn, nôi hồng, … là tướng dễ nuôi. ngược lại trẻ em…

Khi con chào đời, nhiều bậc cha mẹ hớn hở khoe ‘trộm vía’ con dễ nuôi, nhưng ngược lại, không ít phụ huynh ‘than vắn, thở dài’ con khó nuôi mà không hiểu nguyên nhân tại sao.
Dưới đây là các nét chính về tướng trẻ em dễ nuôi và khó nuôi, chị em xem và test thử xem sao nhé!

1 – Tướng trẻ em dễ nuôi:
Hầu hết trẻ em dễ nuôi và sống đến tuổi thành niên, trong hoàn cảnh bình thường đều có bảy nét tướng chính yếu sau:
– Mới sinh ra tóc dài tới sát lông mày.
– Đầu tròn trịa, da hồng hoặc ngăm đen.

xemtuongtre

Tướng trẻ dễ nuôi thường da hồng hoặc ngăm đen

– Lỗ mũi khi thở phát ra hơi đều và mạnh, lúc ngủ ngậm miệng.
– Mắt có thần, khi cất tiếng khóc mới đầu giọng cao, tiếng lớn có âm lượng.
– Con trai, hai bên tinh hoàn đàn hồi và có nhiều nếp xếp.
– Tai và miệng lớn.
– Mũi cao, môi hồng và dầy cân xứng.

2 – Tướng trẻ em khó nuôi:
– Da đầu trông có vẻ quá mỏng và căng.
– Lông mày quá lớn so với đầu và mũi quá thấp chỉ thấy có phần chuẩn đầu.
– Mắt thay vì có màu đen lại có màu nhạt như đậu đỏ.
– Tai nhỏ và quá mềm
– Không có bắp chân.

xemtuongtreem

– Khi cất tiếng khóc mới đầu rất lớn, về sau nhỏ dần.
– Thịt nhiều, bệu
– Môi mỏng như giấy và phía sau tai không có nhĩ căn nổi rõ.
– Đầu lớn, cổ quá nhỏ.
– Hai mắt lờ đờ không thần.
– Mắt lúc nào cũng ướt như khóc.
– Đầu nhỏ, nhọn.
– Bụng lớn, rốn nhỏ.
– Tóc vàng khè và thưa, ngắn.
– Chưa tới sáu tháng mà đã sớm mọc răng, trong khi lông mày hầu như không có.

Sự dễ nuôi và có khả năng sống đến tuổi thành niên hay khó nuôi hoặc yểu tử còn có thể căn cứ vào xương đầu để đoán định. Trong phần xương đầu của trẻ em ta cần đặc biệt lưu ý mấy khu vực sau đây:
– Xương chẩm (phía sau đầu, trên xương gáy)
– Sơn căn (phần giữa 2 mắt)
– Tỵ lương (sống mũi )
Xương chẩm nổi rõ và rộng, sơn căn có bề ngang và cao hơn mặt phẳng của lưỡng quyền, sống mũi ở ngay giữa khuôn mặt và không lệch là dấu hiệu bề ngoài về mặt hình thể cho biết đó là cát tướng. Ngược lại là yểu tướng.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng trẻ em dễ nuôi, khó nuôi –

Mơ thấy vàng –

Mơ thấy vàng thường là điềm liên quan đến vấn đề tài chính của bạn. Mơ thấy đi tìm vàng thường là điềm báo nếu muốn thay đổi hoàn cảnh tốt hơn thì mình phải tự nắm bắt lấy cơ hội. Mơ thấy nhặt được vàng hay đang nấu, đúc vàng thì thường là điềm báo m
Mơ thấy vàng –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy vàng –

Ý nghĩa chữ "Văn" và chữ "Thị" trong tên người

Ngày nay, các tên đệm như “Văn” dành cho nam và “Thị” dành cho nữ ngày càng ít dùng bởi có thể họ chưa hiểu hết ỹ nghĩa của những tên đệm đó. Mặt khác, ngày nay đã hình thành nhiều xu hướng đặt tên con mới nghe rất hay và lạ
Ý nghĩa chữ "Văn" và chữ "Thị" trong tên người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tại sao lại đặt tên đệm "Văn" trong tên đàn ông và tên "Thị" trong tên của phụ nữ

Ngày xưa, khi đặt tên con, các cụ thường đệm Văn cho con trai và Thị cho con gái giúp người khác phân biệt được giới tính của con người ngay trong cái tên gọi. Đây là một quan niệm từ thời phong kiến, rằng con trai lo việc văn chương đèn sách, con gái thì đảm đang việc chợ búa, nội trợ.

Ngày nay, các tên đệm như “Văn” dành cho nam và “Thị” dành cho nữ ngày càng ít dùng bởi có thể họ chưa hiểu hết ỹ nghĩa của những tên đệm đó. Mặt khác, ngày nay đã hình thành nhiều xu hướng đặt tên con mới nghe rất hay và lạ. Tuy nhiên, tùy theo quan điểm của mỗi người mà chọn tên khác nhau cho con. Miễn sao đừng ngược giới tính khiến trẻ sau này phải chịu nhiều phiền hà, rắc rối.

Những cái tên thời nay đã thể hiện rõ nét tính phóng khoáng trong cách đặt tên. Nhìn lại sự biến động của tên gọi người Việt từ trước đến nay, chúng ta nhận thấy một số cách đặt tên cũ gần như đã mất đi, thí dụ như cách đặt tên bằng những từ có âm thanh xa lạ, cách đặt tên bằng những từ chỉ các bộ phận cơ thể hay hoạt động sinh lý của con người, cách đặt tên bằng những từ chỉ dụng cụ sinh hoạt sản xuất hoặc các động vật… Duy chỉ có cách đặt tên vẫn còn duy trì được là đặt tên bằng từ Hán Việt có ý nghĩa tốt đẹp.

Thời trước đây khi sinh con thường hiếm khi nhớ ngày tháng năm sinh của con, chính vì thế nhiều khi đặt tên con theo tên chi của năm sinh, Ví dụ người sinh năm Mão gọi là Mão, sinh năm Tý gọi tên là Tý... Tuy nhiên, thời bây giờ cũng hiếm khi còn ai đặt như vậy nữa. Không những vậy, thời xưa các cụ cũng sinh khá nhiều con, còn dùng cả những con số để đặt cho các con, ví dụ như Anh Nhất, Anh Nhị, Anh Tam, Anh Tứ. ...Cô Ba, cô Tư, cô Năm,...

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa chữ "Văn" và chữ "Thị" trong tên người

Xem tướng bàn tay để đoán tính cách của chủ nhân –

Bàn tay cũng là một bộ phận được các nhà nhân tướng học rất lưu ý khi đánh giá một con người. 1. Bàn tay quá ngắn Bàn tay quá ngắn so với cánh tay dẫn đến sự mất cân đối, hoặc là bàn tay quá nhỏ trong khi thân hình lại to lớn. Người sở hữu bàn tay nh
Xem tướng bàn tay để đoán tính cách của chủ nhân –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng bàn tay để đoán tính cách của chủ nhân –

Phong thủy về ban công và tài vận của gia chủ - Phong thủy - Xem Tử Vi

Phong thủy về ban công và tài vận của gia chủ, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Phong thủy về ban công và tài vận của gia chủ, tu vi Phong thủy về ban công và tài vận của gia chủ, tu vi Phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy về ban công và tài vận của gia chủ

Trong một căn nhà thì sẽ có những phòng cực kỳ quan trọng cần sự chú ý của gia chủ khi sắp xếp. Tuy nhiên cũng có chỗ không quan trọng lắm nhưng cũng không thể làm cho qua loa được. Bởi lẽ một căn nhà xét về mặt phong thủy thì tất cả đều có liên quan tới gia chủ của chúng cho nên những lựa chọn cần chính xác và tốt nhất.

  Trong ngôi nhà, những người phụ nữ thường thích phòng có ban công bởi lẽ nó tạo cho họ cảm giác thư thái, gần gũi với thiên nhiên chứ không bị gò bó trong một không gian cố định. Vì thế nhiều bậc cha mẹ khi làm nhà vẫn luôn để ý tới bạn công. Xét về mặt phong thủy thì ban công của một ngôi nhà vẫn  ảnh hưởng về tài vận và sắc khí của gia chủ.   Trong phong thủy, ban công đại diện cho Minh đường. Một gia đình nếu có ban công trước phòng khách, có nghĩa là tài vận thuận , phong thủy cực tốt. Tại hướng này nếu gặp cát tinh, như năm 2015 hướng Đông, hướng Đông Bắc là hướng tốt, nếu ban công nằm ở phương vị của những cát tinh này thì đặc biệt chiêu tài.   Vì thế mỗi năm ban công lại có cát hung khác nhau, như ban công ở vị trí chính tài, năm này bạn nên thường xuyên ra ban công hóng gió hoặc ngắm cảnh, thậm chí là phải thường xuyên mở cửa chính hướng ra ban công đế hấp thu tài tinh ở hướng này.   Ví dụ, năm 2015 ban công nằm ở hướng mà Nhị hắc (Đông Nam), Ngũ hoàng (Tây) đến, năm này cửa số và cửa chính hướng ra ban công nên hạn chế mở, đồng thời nên đặt vật phong thủy để hóa giải. Vì thế dùng hay không dùng ban công, cần dựa vào việc lưu niên phi tinh của năm đó ảnh hưởng đến cát hung của ban công hay không để quyết định.   Điểm thứ hai phải lưu ý, đó là ban công đại diện cho Minh đường, từ ban công nhìn ra ngoài, phản ánh cát hung của một ngôi nhà. Những gì nhìn thấy từ ban công, tương đương với hướng tinh trong ngôi nhà.   Nhìn ra ngoài từ ban công, nếu bên trái có nhiều tòa nhà, có nghĩa là hướng Thanh long vượng. Bên phải có nhiều tòa nhà, có nghĩa là hướng Bạch hổ vượng. Nếu các tòa nhà bên phải cao hơn các tòa nhà bên trái, có nghĩa là Bạch hổ mạnh hơn Thanh long, chủ nữ giới ngang ngạnh và nhiều thị phi.   Trên đây là một số thông tin về cách chọn vị trí ban công và ảnh hưởng của nó tới tài vận gia chủ. Tuy nhiên người đọc vẫn có thể để lại chia sẻ của bản thân để giúp bài viết được đầy đủ và chính xác hơn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy về ban công và tài vận của gia chủ - Phong thủy - Xem Tử Vi

Điểm danh những con giáp lãng mạn vô đối - Tử vi - Xem Tử Vi

Điểm danh những con giáp lãng mạn vô đối, Tử vi, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Điểm danh những con giáp lãng mạn vô đối, tu vi Điểm danh những con giáp lãng mạn vô đối, tu vi Tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Điểm danh những con giáp lãng mạn vô đối

Mão, Mùi, Dậu, Thân... là những con giáp được biết đến bởi tâm hồn lãng mạn vô đối.

Tuổi Mão

Đa số những người cầm tinh con mèo đều có tính cách ôn hòa và tài xã giao “tuyệt cú mèo”. Họ chăm chỉ làm việc nhưng cũng không quên tạo tiếng cười sảng khoái, hài hước cho mọi người xung quanh. Tinh thần lạc quan của con giáp này phần nào giúp họ vượt qua mọi khó khăn trước mắt và “mơ mộng” về một tương lai tươi sáng.

Đặc biệt trong tình yêu, người tuổi Mão tôn sùng chủ nghĩa lãng mạn. Dù là tình đầu hay tình cuối, nó luôn đậm “chất Hàn Quốc”, vô cùng sướt mướt như những bộ phim dài tập.

Tuổi Mùi

Thuộc tuýp người không ngừng tìm kiếm cảm giác mới lạ trong cuộc sống, người tuổi Mùi sẵn sàng thức cả đêm để nghĩ ra ý tưởng tỏ tình hay tặng quà cho đối tượng mà họ đang “nhắm” đến.

Với con giáp này, tình yêu như một cuốn sách, tu vi mỗi ngày là một trang với nhiều sắc thái tình cảm khác nhau, nhưng có cùng chung một điểm đó là sự lãng mạn ngoài sức tưởng tượng. Điều đó giải thích tại sao phần lớn những anh chàng tuổi Mùi đều thích dùng nến và hoa để chinh phục trái tim nửa kia của mình.

Tuổi Thân

Người tuổi Thân không bao giờ thích sự ổn định. Với họ, cuộc sống là không ngừng biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Dù họ có suy nghĩ khá hiện thực, nhưng khi hành động lại thường “lãng mạn hóa” mọi chuyện.

Nếu bạn tinh ý sẽ thấy ngay, mỗi lời nói, cử chỉ của con giáp này đều như chứa đựng “chất thơ” trong đó. Được bên cạnh “gấu” tuổi Thân, cuộc sống của bạn biến hóa đa sắc và vô cùng lãng mạn.

Tuổi Dậu

Thoạt nghe có vẻ vô lý khi người tuổi Dậu cũng được “liệt” vào danh sách này. Tuy nhiên, nếu tiếp xúc với họ lâu ngày, bạn sẽ phát hiện tâm hồn lãng mạn, thậm chí có chút mộng mơ thái quá của con giáp này.

Người tuổi Dậu sẵn sàng sẻ chia mọi cung bậc tình cảm của mình với bạn bè, người thân. Tuy nhiên, đôi khi họ rụt rè không muốn nói ra vì sợ làm phiền người khác. Hãy yêu một cô nàng tuổi Dậu đi, hơn ai hết, bạn sẽ cảm nhận được sự lãng mạn như vô giới hạn của họ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh những con giáp lãng mạn vô đối - Tử vi - Xem Tử Vi

10 thuật ứng xử đơn giản của người xưa mà bạn nên học hỏi

Qua 10 câu chuyện về ứng xử, con người đã hiểu được cách xử lý ổn thỏa mà không gây thêm phiền phức. Qua đó, giữ mối quan hệ và phát triển tình cảm với nhau
10 thuật ứng xử đơn giản của người xưa mà bạn nên học hỏi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hay phải đối mặt với những khó khăn, mâu thuẫn một cách bất chợt. Làm sao để có thể xử lý ổn thỏa mà không gây thêm phiền phức? Dưới đây là 10 cách ứng xử đã được cổ nhân sử dụng, có lẽ nó hữu ích cho bạn!

1. Việc gấp, từ từ nói

Khi bạn gặp phải một chuyện gấp gáp, nếu có thể bình tĩnh suy nghĩ một chút, sau đó từ từ nói rõ ngọn ngành, sẽ khiến cho người nghe cảm thấy ổn định, từ đó tăng độ tin cậy của mọi người đối với bạn.

2. Việc nhỏ nói hài hước

Đặc biệt là một vài lời nhắc nhở có thiện ý, bạn nên dùng những câu nói đùa hài hước, sẽ khiến cho người không cảm thấy cứng nhắc, họ không những vui vẻ chấp nhận lời nhắc nhở của bạn mà còn tăng thêm thiện chí với bạn.

3. Việc chưa hiểu rõ, hãy nói một cách cẩn thận

Đối với những việc bạn chưa nắm rõ, nếu bạn không nói, người khác sẽ cảm thấy bạn giả dối, còn nếu bạn có thể diễn đạt một cách cẩn thận, sẽ khiến cho người nghe cảm thấy rằng bạn là người đáng tin cậy.

4. Việc chưa xảy ra, không nên ứng xử linh tinh

Mọi người ghét nhất ăn nói hàm hồ, nếu bạn chưa bao giờ phỏng đoán một cách tùy tiện hoặc nói những chuyện chưa xảy ra, bạn sẽ khiến cho mọi người cảm thấy rằng bạn là người trưởng thành, có tu dưỡng, cũng là một người làm việc chăm chỉ, có trách nhiệm.

5. Việc chưa làm, đừng nói lung tung

Tục ngữ có câu “Không có khoan kim cương, thì đừng mong ôm nghề đồ gốm”, bạn không nên hứa làm một việc gì đó mà bạn không chắc có thể làm được. Làm được điều này sẽ khiến cho người nghe cảm thấy bạn là một người “Nói là tin, làm là được”, và họ sẽ rất tin tưởng bạn.

6. Không nên nói những chuyện làm tổn thương người khác

Không được tùy tiện dùng lời nói làm tổn thương người khác đặc biệt là giữa những người thân. Như vậy mọi người sẽ cảm thấy bạn là người lương thiện, giúp cho việc duy trì và gia tăng tình cảm.

7. Đối với những việc đau lòng, bạn không nên gặp ai cũng nói

Khi ai đó bị tổn thương trong lòng, đều muốn thổ lộ với người khác, nhưng nếu cứ gặp ai bạn đều nói, sẽ khiến người nghe phải chịu một áp lực lớn, rất dễ sinh nghi ngờ và xa lánh bạn. Đồng thời, bạn sẽ để lại ấn tượng muốn trút bỏ đau khổ của bạn lên người khác.

8. Những việc của người khác thì nên cẩn thận trong lời nói

Giữa con người với con người cần phải có một khoảng cách an toàn, không nên bình luận hay nói ra những chuyện của người khác, sẽ mang lại cảm giác an toàn cho những người mà bạn giao tiếp.

9. Việc của bản thân, lắng nghe người khác nói như thế nào

Bạn nên lắng nghe cách nhìn của người khác khi nói về mình, điều đó có thể để lại ấn tượng khiêm tốn cho người khác, đồng thời biểu hiện rằng mình là một con người thấu tình đạt lý.

10. Chuyện của con cái, cần nói rõ ràng

Đặc biệt là khi con bạn còn ở thời kỳ thanh thiếu niên, chúng rất dễ bị kích động, bạn hãy dùng thái độ ôn hòa, vừa kiên định để nói với chúng một cách rõ ràng, điều đó có thể khiến cho con bạn có tình cảm tốt đối với bạn, coi bạn như một người bạn, đồng thời điều đó cũng có tác dụng thuyết phục.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 thuật ứng xử đơn giản của người xưa mà bạn nên học hỏi
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd