Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Những bệnh về tai, mũi, họng

Về mặt cơ thể, Long Trì chỉ mũi, Phượng Các chỉ tai, Phá Toái chỉ cuống họng. Những bộ sao liên hệ gồm có:
Những bệnh về tai, mũi, họng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Phượng, Kình, Đà
Bệnh ở tai, cứng tai, lãng tai, sớm lãng tai, điếc.
- Trì, Khốc, Hư
Bệnh lở mũi, như thối cuống mũi, có Thiên Hình là có nổ, có Hỏa Tinh, Linh Tinh là có đốt.
- Lâm Quan, Địa Kiếp
Bệnh yết hầu thịt dư ở cổ họng.
- Phá toái, Hình hay Hư, Khốc
Đau cuống họng (như bị amydale), tiếng khàn rè.
- Riêu
Đau răng, hay hư trăng sớm rụng răng.
Sát Tinh, hình tinh, hao bại tinh ám tinh vẫn có thể đi chung với các sao trên.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những bệnh về tai, mũi, họng

Những phát ngôn cực hay và hài của teen Việt

Những phát ngôn cực hay và hài của teen Việt. Có lẽ như trong suốt cuộc đời của mỗi con người, có lẽ lứa tuổi được gọi là “teen” là lứa tuổi hồn nhiên nhất
Những phát ngôn cực hay và hài của teen Việt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những phát ngôn cực hay và hài của teen Việt. Có lẽ như trong suốt cuộc đời của mỗi con người, có lẽ lứa tuổi được gọi là “teen” là lứa tuổi hồn nhiên nhất, đẹp nhất của mỗi người. Nó gắn liền với thời áo trắng cắp sách đến trường, gắn liền với những trò chơi tinh nghịch của tuổi thơ… Nếu ước được thời gian quay trở lại có lẽ tôi sẽ ước trở lại lứa tuổi” teen” các bạn ạ.

“Tuổi học trò hồn nhiên nhiều thơ mộng. Cười hồn nhiên và vui cùng đám bạn.. ” Và với lứa tuổi này cũng có những phát ngôn cực hay và cực hài của teen Việt sau đây nhé:

Những phát ngôn cực hay và hài của teen Việt

1. Hồn nhiên như con điên.

2. Già như trái cà

3. Đuối như trái chuối

4. Thơ ngây như làn mây.

5. Sành điệu như củ kiệu

6. Ngây thơ như bò đeo nơ.

7. Hãy cho tôi một điểm tựa … tôi đuối quá!!!

8. Ngu như con cóc, ngốc như con milu.

9. Mập đẹp, ốm dễ thương, cao sang, lùn quý phái, bình thường thấy ghê.

10. Thà nhịn đói chứ không nhịn nói.

11. Muốn nhanh thì cứ phải từ từ.

12. Luôn luôn lắng nghe lâu lâu mới hiểu.

13. Chuẩn không cần chỉnh.

14. Thà chết chứ ko chịu hy sinh

15. Tôi từng có nhiều ham muốn. Ham muốn nhất bây giờ là bỏ được các ham muốn khác

16. Cao nhân tắt thở vô phương trị.

17. Xấu mà biết phấn đấu.

18. Xấu xấu nhưng kết cấu nó hài hoà.

19. Nhìn vào tấm gương sáng,rọi vào đó mới thấy thân xác hoang tàn … nhưng đẹp trai.

20. Có tiền thì đi xe hơi uống bia ôm, hết tiền thì đi xe ôm uống bia hơi.

21. Thứ 7 máu chảy về tim, lim dim đi tìm chỗ ngủ.

22. Đừng tự hào vì nghèo mà học giỏi, Hãy tự hỏi vì sao giỏi mà vẫn nghèo.

23. Dân thường chơi đẹp, đè bẹp dân chơi

24. Tắt điện sản xuất … tương lai.

25. Chả biết gì về điện mà đòi xài cầu chì.

26. Sống đơn giản cho đời thanh thản. Cứ hồn nhiên rồi sẽ bình yên

27. Tôi yêu Việt Nam “đồng”

28. Nhớ đến em anh vững vàng tay lái. Nhớ đến mẹ anh nhẹ nhàng tay ga

29. Số lượng gái cua được tỉ lệ thuận với dung tích xilanh xe bạn chạy.

31. Ngu như cái lu 5 xu

32. Nói cẩn thận không ân hận cả đời

33. Lạnh lùng như con thạch sùng!

35. Khuyến khích sáng tạo – Ba xạo thì tán

36. Bực mình sinh sự – Bụng bự sinh con

37. Thích thì chiều … anh liều … em té

38. Ngó lên mình chẳng bằng ai – Ngó xuống thì cũng chẳng ai hơn mình

39. Thất tình tự tử đu dây điện – Điện giật tê tê chết từ từ

40. Yêu cho đến chết, lết vẫn yêu

41. Trẻ con bắt đầu hư khi chúng bắt đầu hiểu người lớn

42. Ngu dốt + Nhiệt tình = Phá hoại

43. Phong độ là nhất thời, đẳng cấp mới là mãi mãi

44. Cua gái là một nghệ thuật, người cua gái là một nghệ nhân

45. Cho không lấy – Thấy không thèm – Lơ là xẹt

46. Tiền là giấy – Thấy là lấy

47. Bầu ơi thương lấy bí cùng – Mai sau có lúc nấu chung một nồi

48. Bình tỉnh, tự tin, đừng cay cú – Âm thầm, chịu đựng, trả thù sau

49. Trông bạn quen quen, hình như tớ … chưa gặp bao giờ

50. Tôi có thể cưỡng lại tất cả … trừ sự cám dỗ

51. Trình độ có hạn – thủ đoạn có thừa

52. Yêu nhiều thì ốm, ôm nhiều thì yếu

53. Khổ quá, sướng không chịu nổi

54. Xấu không chịu được … Mãi về sau mới chịu được

55. Tiền túng – Tình tan – Tư tưởng tồi tàn – Tiến tới tự tử

56. Mình là số 2 – Không ai số 1

57. Ngu không phải cái tội mà cái tội là không biết mình ngu

58. Đời là bể khổ mà chúng sanh thì … không biết bơi

60. Chống cự là bụng bự

61. Quay đầu là bờ…Ai ngờ là Thái Bình Dương

62. Dù bạn không đẹp nhưng người khác vẫn mắc ói

63. Đẹp từng héc-tô-mét

64. Nhanh…ih…pa…Gấp…lém…ồi… >”<

65. Nam vô tửu như cờ vô phong – Nữ vô phòng cờ vô phong cũng phất

66. Ở đâu có vỉa hè, ở đó có trà đá

67. Sống là phải cho đi ! Hãy cho đi tất cả những gì bạn có, để rồi hối hận nhận ra rằng đòi lại sẽ rất khó

68. Tăng lấy, giảm mua, tích cực xài ké

69. Không được “ấy” dù chỉ một lần

70. Người đẹp có lông, bông hồng có gai

71. Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi tham gia chat, blog, các diễn đàn, SMS… “Mấy bợng đừn diếc xai trính tã nge”

72. Không bao giờ bán đứng bạn bè … khi chưa được giá

73. Nhớ đến Em Anh vững vàng tay lái – Nhớ đến Mẹ Anh nhè nhẹ tay ga – An toàn là bạn – Tai nạn là vào hòm

74. Số lượng gái cua được tỉ lệ thuận với dung tích xi-lanh xe bạn chạy

75. Khi tôi ăn, cả quán dõi theo từng động tác. Tự tin – Gắp nhanh – Phong cách. Tôi thích cơm bụi. Cơm bụi rất lôi cuốn. Lôi cuốn là phải ăn nhanh. Ăn nhanh là sạch sẽ. Tôi là … Sinh viên nghèo!

76. Khi tôi chạy, mọi người dõi theo từng bước chạy của tôi. Mạnh mẽ – Tự tin – Thần tốc. Chạy rất lôi cuốn. Lôi cuốn là phải chạy nhanh. Chạy nhanh thì mới thoát chết. Tôi là … Cướp

77. Chúng ta không thể chống lại những thằng ngu vì chúng quá đông

78. Còn thời lên ngựa bắn cung – Hết thời xuống ngựa lấy thun bắn ruồi

79. Còn nói còn tát

80. Dân thường chơi đẹp … đè bẹp dân chơi

81. Cười người hôm trước, hôm sau … cười tiếp.

82. Chúng ta rồi cũng sẽ già, sẽ lên nóc tủ ngắm con gà khỏa thân

83. Vì nước đeo ba lô phía sau. Vì tình đeo ba lô phía trước

84. Mập đẹp – Ốm dễ thương – Lòi xương dễ mến

85. Hổ báo nhất trường mẫu giáo

86. Lúc trước em xinh lém, bi giờ đỡ nhìu zòi

87. Ăn chơi không sợ mưa rơi, chỉ sợ mưa rơi làm ướt áo dân chơi.

Để thư giãn sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc bạn có thể tham khảo những câu nói hài hước nhất mà xemboituong.com tổng hợp được sau đây nhé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những phát ngôn cực hay và hài của teen Việt

Cách xem ngày, cách cục và can chi hóa hợp hình xung

Bắt tay vào xem mệnh, theo quy tắc thông thường của nhà mệnh lý học là đầu tiên xem can ngày vì rằng nó đại biểu cho một thiên can của bản thân, các địa chi của giờ, ngày, tháng, năm đều xoay quanh thiên can này để luận định cát, hung, nên, kỵ. Can ngày có sự khác nhau về được thời và không được thời, nếu can ngày gặp vượng, tướng của chi tháng thì là đắc tài, nếu gặp chi tháng ở hưu, tù, tử thì là không được thời.
Cách xem ngày, cách cục và can chi hóa hợp hình xung

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Ví dụ Can ngày là Giáp Mộc, Mộc sinh vào xuân, Thuỷ có thể sinh Mộc cho nên chi tháng nếu gặp tháng xuân thì thuộc về vượng. Gặp về mùa Đông, coi là tướng đều thuộc gặp thời. Nếu như Can ngày Giáp Mộc không sinh vào tháng đông xuân, mà chỉ sinh vào tháng Mộc có thể sinh Hoả, Hoả sinh Mộc vào tháng hạ, tháng Mộc có thể khắc Thổ, Thổ vượng Mộc tù tức là vào tháng 3, 6, 9, 12, thậm chí sinh vào tháng thu Kim có thể khắc Mộc, Kim thịnh Mộc tử, đều thuộc vào không gặp thời. Gặp thời thì bản thân cường vượng, không gặp thời thì bản thân suy nhược, về mối quan hệ cua Ngũ hành với Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử của bốn mùa trong năm, ở trên đã nói kỹ rồi, cứ địa là hiểu. Ngoài ra, quan sát mối quan hệ Can ngày và Can tháng, còn có lợi cho việc nhận định cách cục Bát tự của một coi người. Sau khi xem mối quan hệ của Can ngày và Chi tháng, lại xem ô dưới Can ngày thuộc về Địa Chi nào, Địa Chi này đối với Can ngày mà nói, nó ở vào trạng thái nào trong 12 cung ký sinh, là Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Đế vượng hay là Suy, Bệnh, Tử, mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng? Ngoài ra không được quên xem Can Chi của Can chi giờ và trụ tháng ở bên phải trái sát ngay Can Chi của chi ngày, còn như Can Chi của trụ năm, những Âm Dương ngũ hành đại biểu cho những Can Chi này với Can Chi ngày của bản thân mà nói thì tình hình sinh khắc phù ức như thế nào.

Cách xem này, nói đúng ra trên cơ sở lấy Can ngày làm chủ, lấy Chi năm làm gốc, có thể biết được thịnh suy của cuộc đời. Lấy trụ tháng làm mầm giống, có thể biết được người thân khác của bố mẹ không, anh em có tốt hay không tốt, lấy trụ Nhật chủ làm bản thân, Chi ngày làm vợ, có thể biết vợ có hiền thục hay không, lấy trụ giờ làm hoa quả, có thể biết con cái có hưng vượng hay không.

Ở đây điều quan trọng là: chúng ta không thể nào được quên, căn cứ vào nhu cầu sinh khắc phù ức của Ngũ hành Can ngày lấy ra Dụng thần, sau đó lại xem Dụng thần này thích cái gì, kỵ cái gì. Có như vậy mối suy xét được toàn diện để luận đoán. Bây giờ đem cách xem Can, cách cục và Can Chi Hợp Hoá hình Xung trong mệnh phân tích cụ thể như sau:

1. Trước tiên xem xét Can ngày cường nhược

Can ngày có nhiều cách gọi tên, như gọi là chủ, mệnh chủ, thân chủ, nhật nguyên, nhật thần. Trong Bát tự của một con người, địa vị của Can ngày được cân nhắc nặng nhẹ rất kỵ vì Can ngày đại biểu cho bản thân con người. Vì vậy từ điểm này xuất phát, đầu tiên phải đoán định Can ngày của bản thân một người suy vượng cường nhược như thế nào, trở thành điều kiện đầu tiên của xem mệnh.

Phương pháp đoán định Can ngày của một người cường nhược chủ yếu có 3 điểm.

Thứ 1, xem can ngày ở tháng sinh có được lệnh hay không được lệnh. Ví dụ Can ngày Giáp, Ất gặp Chi tháng Dần, Mão, Bính, Đinh gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, Mậu, Kỷ gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, hoặc Thìn, Tuất, Sửu Mùi, Canh Tân gặp Chi tháng Thân, Dậu, Nhâm Quý gặp Chi tháng Hợi Tý, đều ở vào trạng thái được lệnh sinh vượng tốt nhất, cho nên Can ngày này cường ngược lại, Can ngày sinh trong nguyệt lệnh nếu như ở trạng thái hoặc Hưu, hoặc Tù, hoặc Tử, như vậy là nhược.

Thứ 2, Can ngày trong tứ trụ được trợ giúp nhiều hay ít. Ví dụ Can ngày thuộc Giáp, Ất, Mộc nếu trong tứ trụ được Thuỷ Mộc trợ giúp nhiều thì là vượng mà đắc thế, ngược lại Can ngày Giáp, Ất Mộc không được thuỷ Mộc trong tứ trụ trợ giúp, thậm chí gặp phải Kim chế Hoả tiết, thì là nhược mà không đắc thế.

Thứ 3, đem Can ngày bản thân đối chiếu với Chi tứ trụ nếu gặp Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Lâm quan (lộc), Đế vượng hoặc Mộ khố thì là đắc địa đắc khí, bản thân tự nhiên cường vượng, ngược lại là thất địa thất khí, cường vượng không vươn lên được. Ba cái đắc lệnh, đắc địa, đắc thế tập trung vào một người, Can ngày ở vào trạng thái cực nhược. Lại còn phân ra vượng, cường, trung, suy, nhược. Vượng là Can ngày ở vào trạng thái cực vượng, cường là Can ngày ở vào trạng thái tương đối cường, trung là Can ngày ở vào trạng thái trung hoà, suy là Can ngày ở vào trạng thái tương đối suy, nhược là Can ngày ở vào trạng thái cực nhược, về nguyên tắc phù ức vượng, cường, suy nhược của Can ngày, đại thể là cực vượng thì nên tiết, cường thì nên khắc, suy thì nên phù, nhược thì nên ức. Xem ví dụ dưới đây:

Mệnh có ngày sinh cực vượng:

Tháng thương cung Ất Mão Ất Mộc đế vượng Năm Tỷ kiên Giáp Dần lộc

Ngày Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục

Giờ Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục

Mệnh này được tạo nên, Can ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Mão trọng xuân, ở trạng thái hưng phấn, cho nên đắc lệnh. Giáp Mộc trong tứ trụ, sinh ra nó có 2 Chi ngày và Chi giờ đều là Quý Thuỷ, coi là An thụ (Chính ấn), nó có Can năm, Can giò đều là Giáp Mộc đồng loại, coi là Tỉ kiên và Ất Mộc trong Chi tháng Mão coi là Kiếp tài, cho nên đắc thế.

Giáp Lộc đến Dần, Chi năm Dần là Lộc của Giáp, với Chi tháng Mão ở Giáp thì ở vào trạng thái thiếu Đế vượng nên lấy là đắc địa, mệnh Giáp Mộc này đắc lệnh, đắc thế, đắc địa, được 3 cái đắc nên Nhật chủ cực thịnh.

Mệnh của Nhật chủ tương đối vượng:

Mệnh của Nhật chủ cực nhược: Mệnh này được tạo nên, Can ngày Kỷ Thổ sinh vào tháng Tý tức mùa đông tuyệt địa, không đắc lệnh. Do Chi ngày Chi giờ là Tỵ Hoả, là quê Đế vượng của Can ngày Kỷ Thổ mà Chi năm Mậu Thổ lại là dưỡng địa của Kỷ Thổ cho nên đắc địa. Cộng vào Can Chi tứ trụ Tỉ Kiếp trùng trùng, có Ấn sinh phù cho nên đắc thế. Nhìn vào toàn cục của mệnh là đắc địa, đắc thế. Từ nhược chuyển cường, cho nên lấy Can tháng chính quan Giáp Mộc làm Dụng thần, đó là thân cường kham nhậm tài quan mà sách mệnh học nói.

Mệnh mà nhật chủ tương đối nhược: Mệnh này được tạo nên, Căn ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Thân đầu thú Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh Giáp Mộc trong tứ trụ, trụ tháng Canh Thân và Chỉ năm, Chỉ tháng Thân Kim đều là Thất sát khắc nó, còn Chi ngày Chi giờ Đinh Hoả lại ra sức tiết nó, thêm vào lại có Tỷ, Kiếp trợ giúp cho nên thất lệnh. Giáp Mộc trong địa Chi giờ, ngày, năm, tháng đều ở vào trạng thái Tử Tuyệt cho nên thất địa. Thất lệnh, thất thế, thất địa, cả ba đều mất sạch, cho nên là mệnh của Nhật chủ cực nhược.

Mệnh mà nhật chủ trung hoà:Năm Tháng Ngày Giờ Mệnh này được tạo nên, Nhật chủ Mậu Thổ, sinh vào tháng Thìn Quan đái, Thìn lại là Thổ và ngày sinh lại đúng vào thời tiết Thổ vượng trước Lập hạ 18 ngày, cho nên đắc lệnh. Nhưng Mậu Thổ tuy đắc lệnh, nhưng địa Chi Dần Mão Thìn sẽ thành Đông phương Mộc cục mà Can Chi năm Mậu Thổ ra thiếu Ấn, Tỷ trợ giúp, nên phải xem khắp toàn cục. Bị Mộc thế cường vượng chế ước, mệnh chủ ở vào thế nhược tương đối

Năm kiếp tài Giáp Dần đế vượng

Tháng thiên ấn Quý Dậu tuyệt

Ngày Ất Hợi tử

Giờ thương quan Bính Tý bệnh

Mệnh này được tạo nên nhật chủ Ất Mộc, sinh vào tháng Dậu giữa thu Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh. Ất Mộc trong tứ trụ, được can tháng, chi ngày chi giờ và trụ năm Thuỷ Mộc trợ giúp nên là đắc thế. Ất Mộc tuy trong chi tháng chi ngày ở vào đất tuyệt, bệnh nhưng chi năm đế vượng đắc khí, cho nên trung hoà.

Tổng hợp lại thất thời, đắc thế, địa khí trung hoà, cho nên mệnh này nhật chủ trung hoà hoặc thiên về cường một chút. Nhìn chung về tình hình nhật chủ cường nhược. Trần Tố Am trong sách Cách xem nhật chủ đã nói lên chủ trương của mình:

“Sách cũ nói về cường nhược của nhật chủ hoặc chuyên chủ thích nhấn mạnh về cường nhược, nếu cường quá thì phải ức mạnh, nếu nhược quá thì phải phù nhiều, thuyết này là “có bài thuốc chữa bệnh là quý”, như vậy là thiên kiến. Hễ nhật chủ rất quý trung hoà, tự nhiên cát nhiều hung ít, chỉ có thể phải ức cường phù nhược thì còn gì tác dụng. Các tác dụng là như ngày Mộc cường thì dùng Kim khắc, dùng Hoả tiết, ngày Mộc nhược dùng thuỷ để sinh, dùng Mộc trợ giúp, nếu đắc Thổ mà sát thế của nó, cũng phải ức, mượn Thổ để bồi bổ gốc của nó, cho nên phải phù, rốt cục quy về trung hoà mà thôi. Sách cũ nói nhật chủ nam giới không hiềm can cường, nhưng cường quá cũng phải ức, nhật chủ nữ giới không hiềm can nhược, nhưng nhược quá cũng hỏng. Còn về chi của nhật chủ, tương đối thân thiết, nhưng cát thần toạ ở tài quan cũng cần được tứ trụ thấu xuất phù trợ, hung thần toạ thương kiếp, tứ trụ cũng phải phạt mà khử đi.

Xem cách cục trong mệnh.

Trong mệnh lý học tứ trụ, xem cách cục cũng là một khâu quan trọng không thể xem thường, tuy nhiên về khâu này lại có cách xem khác nhau, có nhà mệnh lý học cho rằng vứt bỏ cách cục đi cũng có thể xem được mệnh, nhưng trong phần lớn trường hợp, xem cách cục vẫn tốt hơn nhiều so với bỏ cách cục. Theo cách nói của sách đoán mệnh, có sự khác nhau giữa chính cách và biến cách, chính cách có chính quan, thất sát, chính tài, thiên tài, chính ấn, thiên ấn, thực thần, thương quan tất cả 8 loại, nếu bỏ đi chính thiên của hai cách tài, ấn vẫn còn 6 loại, còn như biến cách thì thiên biến vạn hoá, khó mà lần mò được.

Thế thì làm thế nào xem cách được cụ thể? Đầu tiên dùng nguyên tắc “chi tháng tàng can” để xem cách cục. Gọi là “chi tháng tàng can” có nghĩa là thiên can nào ẩn chứa trong địa chi của tháng (như đã trình bày ở phần mở đầu và các phần trên đây). Khi áp dụng nguyên tắc này, đầu tiên phải xem thiên can ẩn chứa trong chi tháng, nguyên khí của nó có thấu đến can tháng, can năm, can giờ không, nếu có ví dụ như can tháng Dần thấu (tàng) Giáp, can tháng Mão thấu Ất, can tháng Thìn thấu Dậu, can tháng Tỵ thấu Bính, can tháng Ngọ thấu Đinh, can tháng Mùi thấu Kỷ, can tháng Thân thấu Canh, can tháng Dậu thấy Tân, can tháng Tuất thấu Mậu, can tháng Hợi thấu Nhâm, can tháng Tý thấu Quý, can tháng Sửu thấu Kỷ, đều có thể căn cứ vào thiên can tìm ra này mà xem môi quan hệ sinh khắc của nó với thiên can nhật chủ, lấy làm cách cục. Nếu như Chi tháng thấu ra là chính tài thì là chính tài cách, nếu Chi tháng thấu ra là thiên tài thì thiên tài cách,Chi tháng thấu ra là chính quan thì là chính quan cách, Chi tháng thấu ra là thiên quan thì là thiên quan cách; Chi tháng thấu ra là ấn thụ thì là ấn thụ cách, Chi tháng thấu ra là thiên ấn thì là thiên ấn cách, Chi tháng thấu ra là thương quan thì là thương quan cách, Chi tháng thấu ra là thực thần thì là thực thần cách.

Ngoài ra trong chi những tháng Tý, mão, Dậu chỉ hàm chứa một thiên can nguyên khí, nếu như nguyên khí này không thấu ra ở năm, tháng, giờ, cũng có thể căn cứ mối quan hệ của chi tháng can ngày mà lấy làm cách cục. Thứ 3, nếu như thiên can của nguyên khí can ẩn chứa trong chi tháng không thấy ra ở năm, tháng, giờ, thế thì lại xem những thiên can khác ẩn chứa trong chi tháng có thấu ra không, ví dụ nguyên khí của chi tháng Dần là Giáp Mộc, nhưng nếu ở Giáp Mộc không có thiên can thấu ra mà Bính Hoả hoặc Mậu Thổ ẩn tàng trong đó có thấu ra thì cũng có thể căn cứ mỗi quan hệ giữa

Bính Hoả hoặc Mậu Thổ với thiên can trụ ngày mà lấy làm cách cục. Còn như nên lấy Bính Hoả hoặc lấy Mậu Thổ thì phải xem lực lượng của hai cái mạnh nhiều hay ít. Thứ 4, nếu như nguyên khí của chi tháng và một trong những ngũ hành ẩn tàng không thấu ra thiên can, thế thì phải căn cứ vào các can ẩn chứa trong chi tháng, so sánh sự cường nhược thịnh suy giữa chúng nó, chọn lấy một cái tương đối đắc lực hơn, sau đó lại căn cứ vào mối quan hệ giữa thiên can này với thiên can khác mới lấy làm cách cục. Ngoài ra, nếu mối quan hệ giữa can ẩn tàng trong chi tháng với trụ ngày thuộc về tỉ, kiếp, lộc, nhận thì thông thường không lấy làm cách cục chính thức mà phải đặc biệt lấy làm biến cách. Ví dụ ngày Giáp tháng Dần, ngày Ất tháng Mão, ngày Bính tháng Tỵ, ngày Đinh tháng Ngọ, ngày Mậu tháng Tỵ, ngày Kỷ tháng Ngọ, ngày Canh tháng Thân, ngày Tân tháng Dậu, ngày Nhâm tháng Hợi, ngày Quý tháng Tý, do Giáp Lộc ở Dần, Ât Lộc ở Tỵ, Đinh Lộc ở Ngọ, Mậu Lộc ở Tỵ, Kỷ Lộc ở Ngọ, Canh Lộc ở Thân, Tân Lộc ở Dậu, Nhâm Lộc ở Hợi, Quý Lộc ở Tý (xem nội dung các phần trên đây), cho nên có thể mở ra cách chính cách khác, lấy làm biến cách kiến lộc, biện pháp xem cách cục nói trên, không thể không lấy ví dụ để nói rõ, để hiểu được tận nguồn gốc.

Ví dụ: Mệnh chọn:

Năm Tân Sửu

Tháng chính cung Mậu Tuất, Mậu

Thổ, Tân Kim, Đinh Hỏa

Ngày Qúy Mùi

Giờ Nhâm Tý

Mệnh này sinh vào ngày Quý, chi tháng Tuất chứa Mậu Thổ, Tân Kim, Đinh Hoả, trong đó Mậu Thổ thấu ra can tháng, Tân Kim thấu ra can năm, do nguyên khí của Tuất là Mậu Thổ nên lấy Mậu Thổ để định cách cục. về Quý Thuỷ mà nói, Mậu Thổ khắc chính quan của nó, cho nên cách cục của mệnh này là chính quan cách.

Mệnh chọn:

Năm Kỷ Tỵ

Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,

Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ

Ngày Bính Thìn

Giờ Kỷ Sửu

Mệnh này sinh vào ngày Bính mà chi tháng Thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó nguyên khí của Thân Canh Kim có thể thấu ra 3 trụ năm, tháng, giờ, mà chỉ có Nhâm Thuỷ thấu ra can tháng, cho nên căn cứ giữa Bính Hoả và Nhâm Thuỷ dương nọ khắc dương ta là Thiên quan, lấy cách cục là thiên quan cách.

Mệnh chọn:

Năm Giáp Thìn

Tháng Bính Tý chính quan

Ngày Bính Thân

Giờ Kỷ Hợi

Mệnh này sinh vào ngày Bính mà trong chi tháng Tý tàng chứa Quý Thuỷ, vì rằng 3 chi Tý, Mão, Dậu chỉ tàng có nguyên khí cho nên căn cứ điều 2 ở nguyên tắc lấy cách, theo mối quan hệ hình thành chính quan giữa Quý Thuỷ và Bính Hoả, nên lấy chính quan cách.

Mệnh chọn:

Năm Giáp Dần

Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,

Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ

Ngày Nhâm Thân

Giò Ất Tỵ

Mệnh này sinh vào ngày Nhâm mà trong chi tháng thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó Nhâm Thuỷ tuy thấu ra can tháng nhưng do giữa can tháng và can ngày hình thành quan hệ Tỷ kiên, cho nên không lấy làm cách, lại thấy Canh Kim Mậu Thổ trong Thân, do Canh Kim thuộc nguyên khí của chi thân, sức mạnh rõ ràng vượt qua Mậu Thổ, cho nên lấy quan hệ thiên ân giữa Canh Kim và Nhâm Thuỷ, định cách cục là thiên ấn cách.

Trong mệnh còn có nhiều loại cách cục khác, chúng tôi sẽ có một thiên chuyên nói về vấn đề này.

2. Ba lần xem hình xung hợp hoá của Can Chỉ

Hình xung hợp hoá giữa thiên can và thiên can, địa chi và địa chi trong Bát Tự, có ảnh hưởng tới âm dương ngũ hành trong mệnh cục, cho nên các nhà mệnh lý học cũng rất coi trọng, cách xem đại thể là:

Hai Can tương hợp, quý Thổ đắc trung. Ví như Giáp Kỷ hợp Thổ địa Chi cả hai đều hưởng sinh vượng , đó là được trung mà không thiên. Nếu như Giáp quá mạnh, Kỷ quá nhu, như vậy một bên thái quá, một bên bất cập, sẽ không trung hoà. Dương đắc âm hợp, âm đắc dương hợp, sách đoán mệnh nói: thiên can hợp, dương đắc âm hợp, phúc đến chậm, âm đắc dương hợp, phúc đến nhanh, ví như dương ở Giáp đắc âm ở Kỷ hợp thành tài, âm ở Kỷ đắc dương ở Giáp hợp thành quan, tuy đều là phúc nhưng cái trước phúc chậm, cái sau phúc nhanh khác nhau. Lại có người cho rằng, trong mệnh hợp nhiều thì tính thích dầm lạc, cho nên nữ mệnh tối kỵ hợp nhiều, nhưng với Giáp Kỷ và Ất Canh hợp nhau, lại không kỵ với nữ mệnh.

Hai can tranh hợp, Ảm Dương thiên khố, nếu như gặp hai thiên can hợp với một thiên can, trong sách đoán mệnh gọi là âm dương thiên khô, ví như trong hai giáp hợp một kỷ, hoặc hai kỷ hợp một giáp khác nào chồng nhiều vợ ít, hoặc vợ nhiều chồng ít cũng vậy. Khó tránh bất đồng xung khắc cho nên không phải là chuyện tốt.

Can ngày hợp hoá, thông báo thừa vượng. Đây là nói can ngày hợp với thiên can năm, tháng, giờ, phải sinh vào ngày mà ngũ hành bản can sinh vượng, như vậy là vượng mà có gốc. Ví như Thân Kỷ hợp mà hoá Thổ, phải sinh vào tháng Thổ vượng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ất Canh hợp mà hoá Kim, phải sinh vào tháng, Kim vượng Tỵ, Dậu, Sửu hoặc Thân, Bính Tân hợp mà hoá Thuỷ, phải sinh vào tháng Thuỷ vượng Thân, Tý, Thìn hoặc Hợi, Đinh Nhâm hợp mà hoá Mộc, phải sinh vào tháng Mộc vượng, Hợi, Mão, Mùi hoặc Dần, Mậu Quý hợp mà hoá Hoả, phải sinh vào tháng Hoả vượng Dần, Ngọ, Tuất hoặc Tỵ, nếu không thì không thể nói là hoá.

Gián cách càng xa, tuy hợp khó hoá. Thiên can hoá hợp, ngoài phải kết hợp tháng sinh ra, còn phải xem vị trí xa gần. Nếu can năm thuộc Ất, can giờ thuộc Canh, hai can gián cách xa, sức hợp đơn mỏng, thì cũng không hẳn là hoá.

Thiên Can tương hợp, có cát có hung. Sau khi thiên can hợp với nhau rồi, phần lớn bản thân hãy còn 6-7 phần lực lượng ví như Ất Canh hợp Kim, Kim tuy bị hợp nhưng tính chất bản thân vân còn tồn tại quá nửa. Thiên can sau khi tương hợp là cát hay là hung, phải căn cứ tình hình cụ thể mà định. Trong tình hình chung, hợp lại không phải là việc xấu nhưng một khi nếu hỉ thần hoặc dụng thần của can ngày bị hợp thì chủ hung thần loạn ý, tình hình không tốt nữa.

Địa Chi lục hợp phân biệt đối xử. Tức là nói, địa chi mà mệnh cục hỉ sau khi bị lục hợp mất thì phải giảm cát, địa chi phải kỵ sau khi bị hợp sẽ bị giảm hung. Ngoài ra địa chi hợp cục sẽ loại bỏ hình xung không cát. Tình hình cụ thê phải được phân tích cụ thể. Ví như mệnh cục thích Tý. Trong địa chi có Sửu hợp mà hoá Thổ sẽ giảm phần trăm cát, ngược lại mệnh cục kỵ Tý nhưng gặp Ngọ xung, lúc này nếu có Mùi đi hợp Ngọ, như vậy sẽ giải được tương xung giữa Tý Ngọ. Điều cần chú ý ở đây là, địa chi lục hợp phải gắn chặt với nhau,như chi ngày và chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa, ngoài ra, địa chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa. Ngoài ra, địa chi nếu là nhị Mão hợp nhất Tuất hoặc nhị Tuất hợp nhất Mão, nhị Dần hợp nhất Hợi, hoặc nhị Hợi hợp nhất Dần, được gọi là ghen ghét mà hợp.

Địa chi tam hợp, luận cát luận hung, ở địa chi Thân, Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão, Mùi, hợp Mộc, Dần Ngọ Tuất hợp Hoả, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim, trong cục tam hợp này nếu hợp cục đem hỷ đến cho mệnh là cát, đem kỵ đến là hung. Ví như mệnh cục hỷ Thuỷ mà trong địa chi xuất hiện Thân Tý Thìn tam hợp Thủy cục thì gọi là hung. Ngoài ra nếu địa chi xuất hiện Thân Tý hoặc Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão hoặc Mão Mùi hợp Mộc, Dần Ngọ hoặc Ngọ Tuất hợp Hoả, Tý Dậu hoặc Dậu Sửu hợp Kim thông thường gọi đó là hợp cục, bán hợp cục lấy sát liền là hay. Nhưng dù cho tam hợp cục hay là bán hợp cục đều sợ phùng, tạo thành phá cục.

Địa Chi tam hội, xem hội cát hung. Ở địa chi Dần Mão Thìn hội đông phương Mộc, Tý Ngọ Mùi hội đông nam Hoả, Thân Mùi Tuất hội Tây phương Kim, Hợi Tý Sửu hội bắc phương Sửu, trong tam hội phương hướng cũng như địa chi tam hợp cục, nếu hội cục trong mệnh hỷ thì cát, mà kỵ thì hung, ví như mệnh cục hỉ Thuỷ, trong địa chi xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ thì gọi là cát, ngược lại mệnh cục kỵ Thuỷ, trong địa chi lại chỉ xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ, thế thì gọi là hung, về lực lượng, nếu uy lực của phương hướng địa chi tam hội lớn hơn tam hợp cục mà uy lực tam hợp cục lại lớn hơn lục hợp, vì vậy nếu trong tứ chi tam hợp cục hoặc tam hội phương hướng đồng thời xuất hiện, thông thường bỏ hợp lấy hội

Địa Chi lục xung, bản khí là trọng. Địa chi trong mệnh tương xung, lấy bản khí làm trọng, ví như Dần Thân tương xung bản khí của Dần là Giáp Mộc, bản khí của Thân là Canh Kim, cho nên hai cái đó tương xung, đầu tiên thể hiện ở Giáp Mộc và Canh Kim xung khắc, trong trường hợp thông thường vẫn là Thân Kim thắng mà Dần Mộc bại. Nhưng nếu như thời mệnh gặp Hoả vượng Kim suy, hoặc Thuỷ vượng Hoả suy, lại có thể tạo thành Dần Hoả thắng mà Thân Kim bại hoặc Thân Thuỷ thắng mà Dần Hoả bại. về cát hung nếu địa chi mà mệnh cục hỷ bị xung bại thì hung, địa chi mà mệnh cục kỵ bị xung bại thì cát. Điều cần bổ sung ở đây là, địa chi tương xung phải ở sát liền kề nhau mới coi là xung, nếu xa cách chỉ coi là giao động chút ít. Lục xung và tam hợp cục cùng xuất hiện, do lực lượng của tam hợp lớn hơn lục xung, cho nên lấy hợp cục. Nhưng nếu bán hợp cục có lúc phùng xung, cũng có thể giải bỏ hợp đi. Ví nhu giò Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giờ Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giò Tỵ bán hợp nhưng chi ngày Hợi và chi giò Tỵ tương xung thì giải bỏ bán hợp cũng chi tháng Dậu và chi giờ Tỵ.

Địa Chi Hình Hại, động giao chút ít. Địa chi Tý hình Mão, Mão hình Tý vốn là Thuỷ Mộc tương sinh, Tỵ hình Thân, Tỵ Thân vốn hợp, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, đều là Thổ đồng loại, còn như Thân hình Dần, Mùi hình Sửu, không phải là tương xung mà thôi. Cũng vậy, địa chi tương hại cũng giống như địa chi tương hình, ảnh hưởng không lớn, chỉ là động giao chút ít mà thôi.

Hình xung hoá hợp của can chi nói trên, sách Trích thiên thuỷ còn có cách nói: chi dương động và cường, lành dữ hiện lên nhanh, chi âm tĩnh và chuyên, lành dữ phải qua năm. Trong 12 địa chi thì Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ là dương, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là âm nhưng phần lớn các nhà tinh mệnh học lại lấy Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương, lấy Sửu Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là âm. Do chi dương tính động mà cường, cho nên nghiệm số cát hung thường hiện nhanh, chi âm tính tình mà nhược nên hoạ phúc thường đến chậm, ngoài ra, Trích thiên Thuỷ còn nói: “sinh phương sợ động khố nên khai, bại địa phùng xung cần tính kỹ”. Dần, Thân, Tỵ, Hợi, là sinh phương. Bảo rằng sinh phương sợ động là vì, nếu có xung động, dễ dẫn tới kết cục lưỡng bại đều bị thương, như Dần, Thân phùng xung, Canh Kim trong Thân tuy khắc Giáp Mộc trong Dần nhưng Bính Hoả trong Dần không hẳn khắc được Canh Kim trong Thân, Nhâm Thuỷ trong Thân tuy khắc Bính Hoả trong Dần nhưng Mậu Thổ trong Dần không hẳn khắc được Nhâm Thuỷ trong Thân. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là “tứ khố”, thông thường trong khố chứa đựng Ấn thụ tài quan của ngày, nên xung thì khai, nhưng vẫn phải xem tình hình cụ thể, không thể nói chung chung, Tý, Ngọ, Mão, Dậu là địa chi của “Tứ bại” do khí nó tàng chứa chuyên mà không tạp, cho nên nếu phùng xung, phải tính kỹ nên hoặc không nên, không được câu nệ.

Do tình hình “tứ sinh” “tứ khổ” “tứ bại” phùng xung, Nhậm Thiết Tiểu trong trích thiên tuỷ đã nêu ví dụ nói:

Ví dụ: sinh phương phùng xung

Năm Quý Tỵ Tháng Quý Hợi

Ngày Giáp Thân Giờ Nhâm Thân

Đại vận Nhâm Tuất

Tân Dậu Canh Thân

Kỷ Mùi Mậu Ngọ Đinh Tỵ

Giáp Mộc can ngày sinh vào đầu mùa đông tháng Hợi, Mộc lạnh thích Hoả nhưng tứ trụ Nhâm Quý Thuỷ tràn, không có Thổ chế ước, Nhâm Thuỷ trong Hợi lại xung Bính Hoả trong Tỵ là tai hoạ, xem ra tựa hồ không đẹp. Nhưng hay ở chỗ Dần Hợi hợp Mộc khiến cho Kỷ Hoả ở tuyệt địa phùng sinh mà được hung phát. Kết hợp hành vận, tuổi trẻ vận nhập Tây Phương Kim địa, sinh Thuỷ chế Thuỷ, cho phong sương đầy tràn, lâu chảy không ngừng, sau tuổi 40 vận lâm nam phương Hoả Thổ, trợ giúp dụng thần, bỏ ấn lấy tài, cho nên nguồn tài sung mãn, lấy thiếp sinh con, qua đó thì thấy, ấn tuy tác dụng phùng tài. Gây hoạ không nhỏ: không dùng tài đến, phát lúc lớn nhất.

Ví dụ: sinh phương phùng xung

Năm Giáp Dần Tháng Nhâm Thân

Ngày Quý Tỵ Giờ Quý Hợi

Đại vận Quý Dậu

Giáp Tuất Ất Hợi Bính Tý

Đinh Sửu Mậu Dần Kỷ Mão

Canh Thìn

Nước mùa thu thêm nguồn, Thân Kim đương lệnh, Thuỷ trọng Mộc tù phùng xung, không đủ để dùng, Hoả tuy hưu mà ở sát chi ngày, khí dư của thu chưa tắt, dụng thần phải ở Tỵ Hoả, xấu ở Tỵ, Hợi Tỷ hàng xóm phùng xung, các kiếp phân tranh, cho nên đây khắc tam thê, không con, vận lại đi đến bắc phương Thuỷ địa, dẫn tới phá hao khác thường. Đến Mậu Dần, Kỷ Mão vận chuyển đông phương, thích dụng hợp nên, đã được no ấn. Canh vận chế thương sinh kiếp, lại gặp năm Dậu, Hỉ, dụng hai thương, không lộc.

Ví dụ: đại bại phùng xung

Năm thương. Tân Mão. quan

Tháng Ấn. Đinh Dậu. thương

Ngày Mậu Tý. tài

Giờ tỉ. Mậu Ngọ. ấn. kiếp

Đại vận Bính Thân

Ất Mùi Giáp Ngọ Quý Tỵ

Nhâm Thìn Tân Mão

Ở thương quan dụng ấn “này”, hỉ thần tức quan tinh, không như dân gian thường nói “Thổ Kim thương quan kỵ quan khẩn”. Chi tháng Dậu trong cục xung chi năm Mão, dẫn tới ấn tinh Đinh Hoả ở tháng mất đi thần sinh trợ, chi ngày Tý xung chi giờ Ngọ làm cho Đinh Hoả trong Ngọ, khó được hưởng cái của thương quan cho. Từ đó có thể biết, do địa chi Kim vượng Thuỷ sinh, Mộc Hoả xung khắc đến hết, cho nên thiên can Hoả Thổ hư thoát, không có rễ để cắm, quan sát cả đời mệnh chủ, học hành không đến nơi, kinh doanh trục trặc, lại thiên can trung vận, Kim Thuỷ nhất khí, không tránh khỏi có chí mà khó triển khai. Tuy nhiên tốt ở Thuỷ không thấu can, là người nho nhã phong lưu, giỏi về thư pháp nhưng không hề làm cho mệnh chủ nhờ đó mà thoát khỏi tù túng. Từ đó có thể thấy, hễ thương quan đeo ấn, hỉ thần dụng thần ở Mộc Hoả, thông thường đều kỵ gặp Kim Thuỷ.

Ví dụ: Địa Chi toàn là tứ khố

Năm Tân Mùi Tháng Tân Sửu

Ngày Mậu Thìn Giờ Nhân Tuất

Đại vận Canh Tý

Kỷ Hợi Bính Thân

Mậu Tuất Đinh Dậu Ất Mùi

Mệnh này đẹp, không phải ở các chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, đề tứ khố mà là Tân Kim nguyên thần thấu xuất trong chi tháng Mùi, thương quan Thổ tú, tiết ra tinh anh của cường Thổ, cộng thêm Mộc Hoả của tứ trụ, ẩn mà không thấy, cho nên mệnh cục thuần thanh không hỗn tạp. kết hợp hành vận, đến Dậu vận giò Tân Kim đắc địa học thi đỗ cao, sau đó vận đi về nam Phương, Mộc Hoả cùng vượng, dụng thần Tân Kim bị làm tổn hại, cho nên không tiến lên phát tích được.

Ví dụ địa chi toàn tứ khố

Năm Mậu Thìn Tháng Nhâm Tuất

Ngày Tân Mùi Giờ Kỷ Sửu

Mệnh này được tạo nên bởi Tân Kim nhật nguyên, toàn cục ẩn thụ, Nhâm Thuỷ thương tận, không đủ để dùng. Nếu thấy Ất Mộc tàng chứa ở chị Mùi, chị Thìn để dùng, chỉ đợi vận đến dẫn đi là có thể phá ấn nhưng hai khố Sửu Tuất song song xung phá khố Mùi khố Thìn, chém phạt Ất Mộc, cuối cùng dẫn tới khắc thê không còn, từ đó mà bàn, cách nói tứ khố phải xung khai, mấu chốt toàn ở thiên cần điều chỉnh mà được nên, càng cần dụng thần có lực, sau đó tuế vận phụ giúp mới có thể sống được bình yên, vận may đi thăng, nếu không sẽ không tốt.

Nguồn: Quang Tuệ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xem ngày, cách cục và can chi hóa hợp hình xung

Hai Sao Địa Không và Địa Kiếp

Một bài viết sưu tầm về hai sao Địa Không và Địa Kiếp
Hai Sao Địa Không và Địa Kiếp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Địa không và Địa kiếp - Toàn thư

Sao Địa Không

Thuộc tính ngũ hành của sao Địa Không là âm hỏa, là sát tinh thứ hai trong chòm Trung Thiên Đẩu, và cũng là một trong sáu Sát tinh, chủ về không vong, nhiều tai nạn (đa tai), tương đối bất lợi đối với tiền tài. Sao Địa Không thật ra không phải ngay từ lúc sinh ra đã không có gì, mà chủ về được rồi lại mất, vất vả mà vô ích. Trong cuộc đời, thường là đang lúc ăn nên làm ra, đột nhiên gặp phải tai họa (tai họa gì?) khiến nửa đường đứt gánh, mất cả chì lẫn chài. Vận hạn gặp sao Địa Không, cần phải chú ý những gì đã có, không thể mạo hiểm để tránh nguy cơ phá sản, sập tiệp.

Sao Địa Không nằm một mình tại cung Mệnh, chủ về tính cách khác người, đa biến, thường không giỏi ăn nói nhưng đầu óc thông minh linh hoạt, nhân sinh quan độc đáo khác người, hành sự kỳ dị lạ thường. Dù là mệnh nam hay mệnh nữ, có gia hội cát tinh hay không, đều chủ về tuổi thơ vất vả, thất học, không nơi nương tựa, nghèo khó cơ cực, thân thể yếu nhiều bệnh hoặc thường gặp tai ương, một đời biến động đa đoan, thường lênh đênh phiêu bạt nên không tụ tài.

Sao Địa Kiếp

Thuộc tính ngũ hành của dao Địa Kiếp là dương hỏa, là sát tinh thứ nhất trong chòm Trung Thiên Đẩu, là một trong sát Sát tinh, chủ về kiếp sát, phá tán, là ngôi sao bất lợi với tiền tài nhất trong sáu Sát tinh, đồng thời cũng rất bất lợi cho đường tình duyên. Kiếp nạn của sao Địa Kiếp là kiếp tài (cướp của), không phải từ lúc sinh ra đã như vậy, mà phần lớn là được tài trước rồi mới phá sản, mất mát, thậm chí mất nhiều hơn được, khiến nợ nần chồng chất, gây ảnh hưởng đến đời sống thường ngày, khiến cho cả vật chất lẫn tinh thần đều chịu nhiều áp lực, có thể còn bị vướng vào kiện tụng lao lý. Về đường tình duyên cũng gặp nhiều kiếp nạn, nên, có thể coi sao Địa Kiếp là vua của các Sát tinh, khiến cuộc đời tựa như con thuyền trong bão, bấp bệnh không thể ổn định.

Nếu sao Địa Kiếp đứng một mình tại cung Mệnh, chủ về một đời thăng trầm bất ổn, tâm tính cũng không có nguyên tắc, có lối suy nghĩ và nhân sinh quan độc đáo khác người, thông minh linh hoạt, hành vi kỳ quặc lập dị, không theo lệ thường, không giỏi ăn nói, không thể tụ tài. Nếu đại hạn và tiểu hạn gặp phải, chắc chắn sẽ phá sản.

Địa không và Địa kiếp - Tam Hợp phái

Hợi thượng khởi Tý thuận an Kiếp

Nghịch khứ tiện thị Địa không hương.

Địa Không thuộc âm hỏa, Địa Kiếp thuộc dương hỏa.

Cổ nhân nói: "Địa không thủ mệnh, chủ về làm việc không tưởng, thành bại đa đoan" (Tác sự hư không, thành bại đa đoan). Địa Kiếp thủ mệnh, chủ về làm việc qua loa, sơ sài, không theo chính đạo. Thực ra có các thuyết này, là vì người có Địa Không thủ mệnh ưa ảo tưởng, cách suy nghĩ của họ, người khác không hiểu được; người có Địa Kiếp thủ mệnh thì thích làm trái với truyền thống, trái với xu thế phát triển của xã hội, hành vi của họ người ta cũng không hiểu được.

Địa Không chủ về tinh thần. Địa Kiếp chủ về vật chất. Cho nên, trắc trở do Địa không mang lại, sẽ đả kích về mặt tinh thần nhiều hơn là tổn thất vật chất. Còn trắc trở do Địa kiếp mang lại sẽ tổn thất về vật chất lớn hơn, đối với sự đả kích về tinh thần.

Địa Không thủ mệnh, ưa gặp tinh hệ chính diệu có sắc thái hành động, như tinh hệ "Vũ khúc Thất sát", hay Tham Lang ở cung vượng, hay Phá quân hóa Lộc, hoặc tinh hệ "Tử vi Thất sát", còn được gặp Cát tinh, tức là chủ về biến những điều không tưởng thành hành động, nhờ vậy có thể tiêu trừ khuyết điểm do Địa Không mang lại.

Nếu Địa Không cùng ở một cung với tinh hệ "Thiên cơ Cự môn", phần nhiều là người không tưởng, hoặc lý tưởng quá cao, mà không thể biến thành hành động thực tế, thế là có biểu hiện "làm việc trồi sụt thất thường", hoặc "làm việc giả dối".

Hỏa trống (không) thì phát, kim rỗng (không) thì kêu, cho nên Địa Không ưa gặp Hỏa tinh ở hai cung Tị hoặc Ngọ, chủ về phát đột ngột, cũng ưa gặp các sao thuộc kim ở hai cung Thân hoặc Dậu chủ về danh vọng. Tuy nhiên, không nên gặp thêm các Sát tinh còn lại và chính diệu hóa thành sao Kị.

Cung Tật Ách có Địa Không bay đến, phần nhiều chủ về mắc bệnh hiếm gặp. Vương Đình Chi từng gặp một trường hợp Thiên Lương thủ cung Tật Ách, gặp Hỏa Linh và Địa Không đồng độ, bị mắc bệnh viêm não.

Địa Kiếp tuy chủ về tổn thất vật chất, nhưng di chứng nhẹ hơn Địa Không. Ví dụ như thất bại của Địa Kiếp giống như mua được một món đồ cỏ quý giá, nhưng khi đến tay thì bị vỡ, tuy có thể sửa chữa, nhưng bản thân thấy không còn thích nữa, còn thất bại của Địa Không thì giống như muốn mua một món đồ cổ, thì lại bị người ta nhanh chân mua trước, cứ tiếc mãi.

Xét từ góc độ tinh thần, thì sự đả kích của Địa Không là khá nặng. Còn nhìn từ góc độ vật chất, thì sự tổn thất của Địa Kiếp là khá lớn. Do đó có thể biết, Địa Không thì không nên ở cung Phúc đức, cung Phu thê, cung Tử tức, đối với Địa Kiếp thì không nên ở cung Mệnh, cung Quan lộc, cung Tài bạch.

Địa Kiếp thủ mệnh, thích hợp với hành động thiết thực, nên khởi nghiệp trong ngành công nghệ, từ đó có thể sáng lập sự nghiệp mới, cũng chủ về có thể phát đạt. Địa Kiếp ưa hai cung Thìn hoặc Tuất, do nhập "Thiên la Địa võng" nên có khuynh hướng khá thực tế.

Không Kiếp giáp mệnh, chủ về cuộc đời gặp nhiều trắc trở, gập ghềnh, bất đắc chí

Không Kiếp đồng độ thủ mệnh, hoặc đối xung, phần nhiều chủ về lúc còn nhỏ tuổi bất lợi, không được cha mẹ che trở, hay đau yếu, nghèo khó, hoặc nhiều tai ách. Cần xem xét các tổ hợp sao của các cung mà định tính chất.

Không Kiếp thủ mệnh, hoặc giáp mệnh, cổ nhân cho rằng lợi về xuất gia. Ở thời hiện đại, có thể là người thích nghiên cứu các môn học ít người lưu tâm.

Địa không Địa kiếp chia ra ở cung Phu Thê và cung Mệnh, chủ về vợ chồng có tính cách không hợp nhau, hôn nhân có nỗi khổ khó nói, phần nhiều đều đau khổ trong lòng.

Địa không là Hung thì chủ về nhiều tai họa, là Cát thì chủ về độ lượng. Địa không ưa các sao Cát, ưa hai hành Kim Hỏa, miếu ở hai cung Hỏa Kim. Kị các sao Hung, chỉ không kị Hỏa tinh, Linh tinh, hãm ở cung Thủy Mộc.

Địa kiếp chủ phá tán, thất bại. Địa kiếp ưa nhất ở hai cung Thìn Tuất, ở các cung còn lại đều không Cát.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hai Sao Địa Không và Địa Kiếp

Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn tiềm ẩn cả niềm vui và nỗi lo lắng

Giải mã giấc mơ, những gì chúng ta mơ thấy khi ngủ có thể tiết lộ sự thật thú vị về cuộc sống. Mơ thấy nếp nhăn hé lộ nhiều điều sẽ xảy đến trong tương lai.
Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn tiềm ẩn cả niềm vui và nỗi lo lắng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những gì chúng ta mơ thấy khi ngủ có thể tiết lộ sự thật thú vị về cuộc sống. Nó cho ta biết mình thực sự là ai, những điều cần thiết và cả những thứ ta tin tưởng.  

1. Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn là điềm báo tốt lành

 

- Vốn chẳng ai ưa thích những nếp nhăn, nhưng sự xuất hiện của nó trong mơ lại được mọi người chào đón. Đa phần những giấc mơ về nếp nhăn trên khuôn mặt biểu thị rằng bạn đang sở hữu sức mạnh hoặc cơ thể khỏe mạnh. Vậy mới nói chúng ta có thể hiểu đời hiểu người qua nếp nhăn trên mặt.   - Những giấc mơ của phụ nữ đã lập gia đình với những nếp nhăn gợi lên rằng chồng cô sẽ yêu cô nhiều hơn.  
Giai ma giac mo Mo thay nep nhan tiem an ca niem vui va noi lo lang hinh anh
 
- Những người phụ nữ chưa lập gia đình nằm mơ thấy những nếp nhăn trên khuôn mặt báo hiệu rằng mọi người khen ngợi về sự trẻ trung và vẻ đẹp của cô ấy.   - Những người đàn ông chưa lập gia đình nằm mơ thấy những nếp nhăn trên khuôn mặt có nghĩa là anh ấy rất hấp dẫn và sẽ có nhiều cô gái xinh đẹp sẵn sàng kết hôn với anh ta.   - Giấc mơ của bệnh nhân khi đối mặt với nếp nhăn có nghĩa là cơ thể của họ sẽ sớm phục hồi.  

2. Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn là biểu hiện của sự lo lắng

 
Giai ma giac mo Mo thay nep nhan tiem an ca niem vui va noi lo lang hinh anh
 
Bên cạnh những mặt tích cực như trên thì giấc mơ về cơ thể, về nếp nhăn cũng biểu hiện một số lo lắng.   - Giải mã giấc mơ, một khả năng khác khi mơ thấy những nếp nhăn là bạn đang gặp áp lực hoặc bị quá tải bởi rất nhiều công việc gia đình.   - Khi nằm mơ về khuôn mặt của một ai đó có nếp nhăn, nó báo hiệu rằng bạn đang lo lắng về điều gì đó.   - Nếu bạn nhìn thấy một vầng trán nhăn nheo trong giấc mơ, điều này tượng trưng cho nỗi lo lắng và gánh nặng mà bạn đang có. Giấc mơ này báo hiệu, bạn cần phải có những suy nghĩ sâu sắc hơn trong cuộc sống.   - Giấc mơ về da nhăn là cảm giác về việc nhận ra những người khác có kinh nghiệm cao hơn bản thân mình và điều này đôi khi làm bạn cảm thấy thiếu tự tin trong cuộc sống.   - Mơ thấy nếp nhăn còn phản ánh cảm giác buồn bã, thất vọng về việc bản thân lạc hậu, nhàm chán và kém hấp dẫn, trong khi những người khác có nhiều niềm vui hoặc hấp dẫn hơn.   - Trong mơ thấy làn da của chính mình trở nên nhăn nheo chứng tỏ bản thân bạn đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, nghiêm túc, khôn ngoan hơn và già dặn hơn. Nhưng chính vì thế mà bạn kém hấp dẫn hơn trước.  
Giai ma giac mo Mo thay nep nhan tiem an ca niem vui va noi lo lang hinh anh
 
- Khi mơ về bàn tay nhăn nheo, đó là biểu hiện cho cảm xúc hụt hẫng, thất vọng khi thấy người khác hơn mình. Đồng thời, nó cũng phản ánh sự buồn bực với những gì bạn không thể thực hiện được trong quá khứ.    Bên cạnh đó, giấc mơ về một bàn tay nhăn có thể phản ánh sự ghen tuông, sự thiếu trung thực với người khác. 

Chúng ta không chỉ biết được ý nghĩa giấc mơ nếp nhăn mà còn có thể biết đích xác vận mệnh giàu nghèo qua những nếp nhăn.
  Thủy Nguyễn
Giải mã giấc mơ ngủ kép Giải mã giấc mơ về chúa sơn lâm Giải mã giấc mơ: Mơ thấy quạ, diều hâu, kền kền và một số loại chim khác


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn tiềm ẩn cả niềm vui và nỗi lo lắng

Điểm dị biệt giữa Kình Dương và Đà La

Bài viết của tác giả Ân Quang về điểm dị biệt giữa Kình Dương và Đà La. Đây là một bài phân tích rất hay!
Điểm dị biệt giữa Kình Dương và Đà La

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài của Ân Quang

Tôi xin tiếp tục loạt bài nói về Ý nghĩa Kình Dương và Đà La. Trong tử vi không có vị sao nào giống nhau, Văn Xương không thể nào giống y như Văn Khúc. Linh Tinh phải khác Hỏa Tinh. Kình Dương cũng không thể giống Đà La. Muốn tìm hiểu sự dị biệt này thì phải xét đến Ý nghĩa tên các vị sao. Mà muốn tìm hiểu Ý nghĩa các vị sao thì phải tìm hiểu cách viết tên các vị sao ấy bằng chữ Hán.

Tử-Vi và chữ Hán

Bài này có vẻ hơi khô khan, nặng nề đối với một vài bạn mới nhập môn Tử-Vi, nhưng tôi cũng xin viết ra, mong rằng đó sẽ là khởi điểm cho một điều hướng nghiên cứu mới có Ý thức, có quan niệm rõ ràng hơn. Chứ không phải chỉ mơ hồ, nhìn vào một cung nào đó, thấy một lô các sao Dương Đà Không Kiếp, Hỏa Linh, Hình Kị, Phục Binh, Tang Hổ … nghe một tràng những tên gọi rùng rợn … rồi kết luận là cung đó xấu lắm, hạn đến đó xấu lắm.

Đoán như vậy là dựa vào sức “nhạy cảm”. Nghe một tràng những tên gọi ghê tai, rồi rùng mình, đóan rằng xấu.

Đó là phương pháp lưng chừng. Lúc thì dựa vào một vài công thức nghe có vẻ khoa học. Lúc nào kẹt qúa thì lại buông thả theo trực giác mường tượng như cách phát âm tên vị sao để luận đoán (như dựa vào cách phát âm Trực-Phù mà đóan là đánh trống, bắn súng ….)

Phương pháp này không đưa người nghiên cứu vào con đường lập luận mạch lạc, hướng đến chân trời Lý Học, mà đặt người nghiên cứu vào tình trạng mờ mờ ảo ảo; lúc thì dùng lý trí phán đóan, lúc lại buông xuôi nhờ trực giác, nhờ thần linh mách bảo. Mục đích của Khoa Học Huyền Bí là đem những vấn đề Huyền Bí ra trước ánh sáng Khoa Học, chứ không phải là xô đẩy Khoa Học rơi vào tình trạng hỗn độn, mờ ảo huyền bí.

Tử-vi là một khoa học phát xuất từ Trung Hoa.

Để có một quan niệm rõ rệt về công dụng của Tử-Vi để đi tìm một đường lối nghiên cứu đúng đắn, mạch lạc, cần phải gác qua một bên những sở thích, những thành kiến, những nhân sinh quan riêng của mình, để tìm hiểu cái vũ trụ quan, cái nhân sinh quan của Trung Hoa vào thời mà Tử-Vi phát sinh và trưởng thành. Và dĩ nhiên là cần tìm hiểu Ý nghĩa chữ Hán để biết điểm dị biệt giữa các vị sao.

Khốn nỗi, lấy tiêu chuẩn nào để bảo đảm rằng cuốn sách chữ Hán mà chúng ta đang cầm trong tay, là một cuốn sách chân truyền. Chằng lẽ, cứ thấy một cuốn sách Tử-Vi bằng chữ Hán có vẻ cũ cũ, xưa xưa truyền lại từ nhiều đời trước, trong đó có một số bài phú thâm thúy, một vài cách luận giải khác lạ hay hay rối chóa mắt suy tôn gía trị tòan bộ sách, hãnh diện rằng mình có trong tay một bảo vật, tự mãn rằng sách đó chân truyền từ đời Nhà Tống, đời Trần Đòan, đời cụ Lê Qúi Đôn. Rồi thôi! Không cần xét lại những điểm tối nghĩa hay sao. Lỡ trong sách ấy có một vài đọan “tam sao thất bản” thì sao? Có lẽ cũng chỉ vì thế mà không những, không có phát minh, cải tiến trong Tử-Vi, trái lại khoa này càng ngày càng bị thất truyền.

Một vài vị nghiên cứu Tử-Vi khá lâu có tìm gặp tôi bàn luận và mong mỏi có một nền Tử-Vi Việt Nam, chẳng lẽ mình cứ mãi mãi lệ thuộc vào văn hóa Trung Hoa hay sao? Thỉnh thỏang lại nghe đồn có nhà Tử-Vi tài ba này, nhà Tử-Vi siêu việt nọ, mà rốt cuộc không thấy ai làm gì cho một nền Tử-Vi Việt Nam. Có lúc lại thấy có dư luận hướng về Tử-Vi Trung Hoa Đài Loan. Có người lại đón cả thầy Tử-Vi bên Trung Hoa Hồng Kông về xem.

Tôi xin thưa rằng tôi không đi ngược lại ý nghĩa xây dựng một khoa Tử-Vi Việt Nam. Nhưng tôi thiển nghĩ rằng tìm hiểu những nguyên lý cũ, những điểm tối nghĩa cũ còn chưa xong, mà vội xây dựng một cái gì khác lên trên thì e rằng thiếu căn bản. Nền nhà bên dưới chưa hòan tòan chắc chắn mà vội xây một cái nhà khác lên bên trên thì e rằng dễ sụp đổ.

Tôi thiển nghĩ làm việc gì cũng cần có từng giai đọan. Hiện nay thì cần làm sáng tỏ những nguyên lý cũ, giải quyết những điểm tối nghĩa cũ lần lần sẽ tính đến những sự cải tiến khác, thì việc làm sẽ được chắc chắn hơn.

Nếu cứ vội vã thông qua, không tìm hiểu kỹ những điểm căn bản, mà xây dựng một cái gì khác lên bên trên thì dễ tạo nên một sự rối lọan một sự sụp đỗ mới.

Nếu cứ vội vã thông qua Đà cũng như Kình, Kình cũng như Đà, Hỏa cũng như Linh, Linh cũng như Hỏa, thì người nghiên cứu dễ vô tình trở thành một tay “thợ Tử-Vi”, một chuyên viên “Cơ-Khí Tử-Vi”. Lối giải đoán như vậy chỉ có thể thỏa mãn một vài hiếu kỳ, thắc mắc cấp thời, chỉ đưa người nghiên cứu vào vòng làm việc thiếu ý thức sâu xa, không thể áp dụng Lý Học một cách mạch lạc. Làm việc như vậy, người nghiên cứu rất dễ hiểu lầm các câu phú như những công thức máy móc và không sao chế hóa được khi gặp trường hợp công thức này chống ngược lại công thức kia.

Chính vì thế mà trong giai đọan sơ khởi chúng ta phải tìm hiểu chữ Hán, để tìm hiểu, để giải quyết những điểm tối nghĩa cũ.

Đến đây tôi cũng xin thưa thực rằng số vốn chữ Hán của tôi không có gì uyên thâm. Chỉ học lại chút ít của các cụ trong họ hàng. Số vốn chữ Hán thì ít mà khát vọng tìm hiểu, tra cứu lại nhiều. Thế cho nên cứ có một điểm nào đó hơi tối nghĩa một chút là tôi liền thắc mắc, tra cứu, so sánh, đối chiếu các tài liệu, tìm tòi hỏi các cụ đi trước, cân nhắc các lời luận giải. Vì thế mà tôi thấy có nhiều trường hợp thất truyền hoặc tam sao thất bản.

Tôi buộc lòng phải viết hơi dài dòng, kể qua một vài trường hợp tam sao thất bản để quý bạn Tử-Vi có thể nhận định dễ dàng những điểm tế nhị của bộ sao Kình, Đà.

Một vài trường hợp tam sao thất bản

Có nhiều nguyên nhân khiến cho có sự tam sao thất bản”, nhưng tôi trộm nghĩ là có bốn nguyên nhân đáng kể sau đây:

– Vì chữ Hán, nhòe một nét có thể đọc thành chữ khác
– Về chữ Hán có nhiều chữ đồng âm, nghe người khác đọc rồi chép lại sau và chép sai chữ.
– Người trước viết tắt để cho tiện (hoặc có ẩn Ý dấu nghề chăng?). Người sau chép lại, vì không hiểu thấu ý nghĩa sâu xa, nên chỉ biết nhìn vào chữ viết tắt mà chép lại, thành ra tối nghĩa.
– Cũng có thể là vì người chép lại, không hiểu hết Ý nghĩa của người trước đã thêm ý riêng của mình vào.

Tôi xin kể vài thí dụ:

Như câu “ Liêm Trinh, sát bất gia, thanh danh viễn bá” thì chữ Bá, viết với bộ Thủ có nghĩa là gieo rắc ra xa. Thế mà có sách lại chép ”Liêm Trinh, sát bất gia, thanh danh viễn phan” có lẽ bộ Thủ đã bị nhòe, người đọc tưởng là bộ Thủy, đã chép lại là chữ Phan, có nghĩa là Họ Phan, hay là …. Nước vo gạo.

Như câu “Quan phù, Thái Tuế, Công Dã hữu hy tiết chi ưu”. Gặp Quan Phù, Thái Tuế thì có thể như chàng Công Dã có sự ưu phiền về giây xích trói buộc.

Thế mà sách chép lại là Công Trị, rồi mới đây lại có một cuốn sách Tử-Vi đã (vô tình hay cố Ý) xếp chữ lại là Công Trự. Từ Công Dã, biến thành Công Trị, rồi nói đến Công Trự!

Công Dã đây là họ Công Dã (có ghi trong tài liệu “Bá gia tánh sách”) và có liên hệ đền điển tích anh thợ săn Công Dã Tràng. Vì vậy cung có câu phú diễn nôm:

Dã Tràng không tội phải tù.
Trong năm Thái Tuế, Quan Phù đi qua

Họ Công Dã, chữ Dã viết với bộ Băng, có một chấm, người đọc vì không hiểu họ Công Dã, tưởng chữ giả là chữ Trị, viết với bộ Thủy có hai chấm.

Ở đây tôi cũng xin mở ngoặc nói thêm là mỗi câu phú chữ Nôm hay chữ Hán không phải là một công thức hay là một cái đinh ốc trong bộ máy Tử-Vi. Các câu phú chữ Nôm hay chữ Hán do cổ nhân lập ra, chỉ là cách đặt câu có vần, cho chúng ta dễ nhớ về một trong nhiều tính cách mà một vị Sao có thể đem lại.

Mỗi vị sao trong Tử-Vi không phải là cái đinh ốc của một bộ máy mà là một khí lực biến hóa vô lường. Như chúng ta đã biết Tử-Vi không đi ra ngòai căn bản Dịch Lý, mà Dịch lý thì cát biến hung, hung biến cát. Một vị sao có thể có nhiều ảnh hưởng tương phản tùy theo vị trí miếu, hãm … hoặc tùy theo ảnh hưởng trợ lực của một vị sao khác. Không thể vội gán cho mỗi câu phú một gía trị công thức máy móc. Vì vậy mà cần hiểu ý nghĩa, hiểu những ảnh hưởng tương phản của một vị sao, để có thể luận giải chế hóa khi gặp hai, ba câu phú, hai, ba công thức đối chọi nhau.

Trở lại với câu chuyện chữ Hán. Có sách chép câu: “Mệnh trung ngộ Kiếp, Tham như lãng l ý hành thuyền” dịch đại ý là Mệnh có Địa Kiếp, Tham Lang thì bấp bênh như đi thuyền trên sóng.

Có sách lại chép là: ”Mệnh trung ngộ Kiếp, kháp như lãng lý hành thuyền” cho rằng “kháp như” là giống y như “đi thuyền trên sóng”

Có sách lại chép là: “Mệnh trung ngộ Kiếp hợp như lãng lý hành thuyền” cũng dịch tổng quát là Mệnh có Địa Kiếp lại thêm Sát Kỵ, thì như đi thuyền trên sóng.

Mỗi người một ý; lý đều xuôi tai. Thôi thì đành chiêm nghiệm vậy. Thật là …. “ lắc lư còn tàu đi”.

Lại như nói về Văn tinh ám củng Cổ Nghị, duẩn hỉ đăng khoa.

Có sách chép là: ”Văn tinh ám củng Mãi Nghị, duẩn hỉ đăng khoa”.

Có sách chép là: ”Văn tinh ám củng Giả Nghị, duẩn hỉ đăng khoa”

Vậy thì cái ông đó là ai? Cổ Nghị, Mãi Nghị hay Giả Nghị?

Ông này qua đời đã lâu lắm rồi. Tôi có hỏi một vài cụ để tìm lời dẫn giải thì cũng thấy mơ hồ. Bí kế phải tìm đến học giả Đào Duy Anh và Cụ Thiều Chữu qua hai bộ Tự Điển thì thấy giải thích rằng chữ Cổ có nghĩa là cửa hàng, buôn bán ngay tại tại cửa tiệm là Cổ. Chữ Cổ này cũng có một âm là Giả, họ Giả, Học giả Đào Duy Anh giải thích rõ thêm là Giả Nghị, tên một học giả có tiếng đời Hán, từng làm quan Đại trung đại phu (200-168 trước Kỷ Nguyên).

Vẫn biết rằng chữ Hán là một phức âm tự, viết cùng một cách nhưng có thể đọc nhiều cách khác nhau như chữ Tử là con, có thể đọc là TÝ (địa chi là TÝ) tùy trường hợp, hoặc có trường hợp đọc trệch đi một chút như Vũ và Võ, Huỳnh và Hòang. Nhưng tên riêng của một học giả mà có đến ba cách phát âm khác nhau qúa như: Cổ Nghị, Mãi Nghị hay Giả Nghị. Mãi Nghị thì chắc là chỉ có một cách đọc đúng.

Lại như cách đóan có sao Thiên Cơ hoặc Vũ Khúc ở cung Giải thì “Cưỡng bao đa tai” là có chửa ngòai dạ con.

Tôi có gặp cách đoán “Cưỡng bao đa tai” này trong một cuốn sách Tử Vi xuất bản tại Đài Loan. Chữ Cưỡng và chữ Bao đều viết có bộ y là áo. Chữ Cưỡng chỉ về cái túi vải (xưa còn gọi là cái địu) để đeo trẻ nhỏ sau lưng. Chữ Bao chỉ về cái tã lót. Chữ Cưỡng Bao là chỉ về thời gian còn bé nhỏ, còn dùng tã lót, còn được đeo ở sau lưng. Chữ “Cưỡng bao đa tai” là nói rằng lúc còn bé nhỏ như vậy dễ có lắm tai ách. Còn chữ Cưỡng Bao viết như thế nào (bằng chữ Hán) để có thể hiểu là “có chửa ngòai dạ con” thì tôi đã cố công tra cứu mà chưa tìm ra được.

Lại như câu ca để tìm Cục cho nhanh: ” Bính, Tân, đê, liễu, ba, ngân, trúc”. Nói rằng chữ Trúc là ứng vào Hỏa Cục, nhưng chữ Trúc lại viết trên có bộ Trúc, dưới có bộ Mộc (như chữ kiến trúc) thì sao lại ứng vào Hỏa Cục được. Nếu nói rằng bộ Mộc đó là ám chỉ, Mộc sẽ sinh được Hỏa thì đó là giải thích loanh quanh, thêm phần phức tạp. Tôi thiển nghĩ đó là chữ Chúc. Chúc là cái đuốc, viết với bộ Hỏa, ứng vào Hỏa Cục thì dễ hiểu hơn. Có lẽ đây là do sự phát âm lẫn lộn TR và CH của một vài điạ phương tại miền Bắc. Một người đọc một người chép, cho nên thay vì dùng chữ Chúc là đuốc có bộ Hỏa, để ứng vào Hỏa Cục, thì lại dùng chữ Trúc có bộ Mộc.

Đến như cách viết tên các vị sao bằng chữ Hán thì lại có lắm sự phức tạp, mơ hồ. Tôi xin tạm lấy một thí dụ như chữ Phi Liêm. Người thì viết chữ Phi là bay. Người thì viết chữ Phi là không. Người lại viết chữ Phi có bộ Trùng bên dưới. Theo cụ Thiều Chữu thì viết chữ Phi có bộ Trùng bên dưới là chữ Phi, tên một loài sâu. Lại có một lòai sâu tên là Phi Liêm (cả hai chữ đều có bộ Trùng)

Dường như không mấy ai đặt vấn đề tra cứu luận giải để có một quan niệm rõ rệt về ngôi Phi Liêm nằm trong vòng Thiên can (một trong ba vòng quan trọng của Tử-Vi: Thiên can, Cục và Địa chi). Phần đông chỉ thích một công thức giản dị, đỡ mất thời giờ: Phi Liêm chủ thế này, chủ thế nọ.

Cách viết tên một vị sao bằng chữ Hán đem lại rất nhiều ý nghĩa. Cần phải xét kỹ, không thể thản nhiên tự mãn rằng sách này sách chân truyền, có nhiều bài phú cao siêu, không được khởi ý thắc mắc, phải sùng kính sách xưa, cứ mặc nhiên chấp nhận tên các vị sao như vậy đi.

Ngay trong cách viết, ngay trong tên gọi mà còn mơ hồ thì đến khi luận giải chắc là phải làm việc lưng chừng; khi thì dùng lý trí phán đóan; lúc thì tưởng tượng ra một hình ảnh nào đó, hoặc lại buống xuôi nhờ trực giác, nhờ thần linh. Quan niệm căn bản còn lỏng lẻo thì làm sao có thể suy luận mạch lạc.

Tôi luôn luôn dành nhiều sự cảm phục đối với quÝ vị đã dày công sưu tầm tài liệu bằng chữ Hán để sọan sách Tử-Vi. Đó qủa là một công trình lớn lao nặng nề và qúy vị đã tiến được một bước đường rất dài trong việc rọi thêm tia sáng để chấn chỉnh khoa Tử-Vi.

Tôi chỉ muốn nêu lên một vài điểm tối nghĩa như kể trên để giúp qúy bạn Tử-Vi để nhận định rằng chính bộ sao Kình Đà cũng nằm trong trường hợp đó.

Ý nghĩa Kình & Đà. Dương Nhẫn, Dương & La

Tôi đã gặp nhiều tài liệu Tử-Vi đứng đắn, nhưng trong đó vẫn có nhiều sách viết khác nhau. Có tìm hiểu kỹ cách viết thì mới có thể đạt đến cái tinh thần của bộ sao Kình Đà. Từ đó mới có thể tiến đến chỗ luận giải có ý thức, có quan niệm rõ ràng, chứ không phải chỉ áp dụng công thức, thiếu suy luận phân minh, rồi có khi vô tình rơi vào trường hợp đóan đúng nhờ “nhạy cảm”, “linh cảm”. Nếu như vậy thì là đi từ ánh sáng Khoa Học vào trong Huyền Bí, chứ không phải là nghiên cứu những vấn đề Huyền Bí một cách khoa học.

Có đạt đến cái tinh thần thì mới xét đến điểm dị biệt giữa Kình và Đà, Dương và La thì mới có thể chiêm nghiệm, mới hiểu được trường hợp người tuổi Dương Nữ, âm Nam an Kình Đà khác với người tuổi Dương Nam, âm Nữ. Điều này cụ Ba La có tiết lộ sơ sơ với cụ Thiên Lương (KHHB số B2 ra ngày 19/02/1973). Đây không phải là quan điểm, phương pháp của riêng Cụ Ba La, mà là của phần lớn các cụ thuộc thế hệ trước. Vì vậy, chúng ta mới thấy trong các sách Tử-Vi xuất bản trước đây trên hai mươi, ba mươi năm, các tác giả có thu nhập tài liệu để luận về Kinh Dương ở Dần Thân Tỵ Hợi; còn Đà La ở TÝ Ngọ Mão Dậu, chỉ vì diễn không hết lý, trình bày không mạch lạc cho nên mới có sự mâu thuẫn giữa chương giữa cuốn sách luận về ảnh hưởng Kình Dương ở Dần Thân Tỵ Hợi, và chương đầu cuốn sách chỉ dẫn an sao.

Tôi thiển nghĩ rằng cụ Ba La, cụ Song An hoặc một số các cụ xưa kia không đến nỗi hẹp hòi dấu nghề. Có lẽ đó là do quan niệm thời ấy, chỉ nói sơ qua một số nguyên lý, một số nguyên tắc người đi sau chịu khó ra sức suy gẫm, tìm hiểu, nếu thành công thì sẽ thấu đáo hơn, thấm thía hơn. Ráng tu thì đắc đạo. Không ai đắc đạo dùm mình. Không ai làm cho mình đắc đạo được. Chỉ cần biết một số nguyên lý rồi dựa vào đó mà hành động. Nếu các Cụ có chỉ dạy sẵn, thì người đi sau lại có thể lười suy nghĩ, không cố gắng tìm hiểu sâu xa, hoặc có thể là vì thấy đáp số dễ qúa mà không quý trọng lời chỉ dẫn, còn hỏi tới hỏi lui, mất thì giờ của các cụ mà chẳng có lợi gì cho đôi bên.

Nay, xin đi vào Kình hay Đà – Dương hay La – Dương Nhẫn hóa Hình – Hóa Kị

Tất cả các tài liệu Tử-Vi xưa mà tôi gặp đều viết chữ Kình với bộ Thủ bên dưới ngụ ý chống lên, chỏi lên, giơ lên, dậy lên.

Kình Dương nhập miếu thì phú qúy thanh dương – Dương đây là tỏ ra, bốc lên. Ngộ nhận là chữ thanh danh thì cũng có nghĩa nhưng không sát với tinh thần của Kình Dương.

Trong tinh thần Dịch Lý, cát biến hung, nếu gặp cách xấu, thì Kình bị đảo, và có thể hình dung một cái gì khó vươn lên, ráng sức làm mà người khác hưởng (Lý Quảng)

Trong ngụ ý chống lên, vươn lên dậy lên mà cũng có quan niệm luận Kình Dương là Dương Tinh hạp với người Dương hơn (tác giả Đắc Lộc đã thu thập quan niệm này trong cuốn Tự Điển Tử-Vi xuất bản tại Hà Nội năm 1952).

Cũng trong cái khí lực đó chống lên, hồi lên này mà khi hãm thì Kình hóa Hình, là Nhẫn (cũng có âm là Nhận) là mũi nhọn của dao là cái gai. Khi xấu thì Kình hóa Hình là mũi (Nhẫn) lại gặp Thiên Hình nữa thì có thể độc lắm. Bởi thế mới có câu phú:

Hạn bởi gặp Nhẫn Hình Đà Hổ
Phải ngừa loài hùm chó mới yên.

Nếu chữ Kình đã được các sách Tử-Vi viết một cách thống nhất, thì chữ Dương đã có lắm cách viết khác nhau cũng có cách viết tối nghĩa mơ hồ.

Sau đây là là những cách viết chữ Dương mà tôi đã gặp trong một số tài liệu Tử-Vi.

– Chữ Dương viết với bộ Phụ, là Khí Dương cũng có nghĩa là tỏ ra.

– Chữ Dương viết với bộ Thủ, có nghĩa là giơ lên, bốc lên, dậy lên.

Viết chữ Dương với bộ Phụ hay bộ Thủ, ngó gần giống nhau, cách viết có hơi cầu kỳ.

– Còn một chữ Dương nữa mà tôi cũng đã gặp trong một số đáng kể tài liệu Tử-Vi. Chữ Dương là con Dê!. Cách viết thì có giản dị hơn, nhưng ý nghĩa thì thật mơ hồ. Chữ Dương là con Dê này trong cổ tự Trung Hoa cũng dùng như chữ Tường có nghĩa là điềm tốt lành. Nhưng đó cũng chỉ là một cách viết tắt chứ không có Ý nghĩa xúc tích.

Nhất là có tài liệu còn viết chữ Dương Nhẫn với cách viết chữ Dương là con Dê; Nhẫn là mũi dao. Vậy thì đó là Mũi Dao con Dê hay mũi dao tốt lành. Viết chữ Dương với bộ Thủ hay bộ Phụ có Ý nghĩa hơn, hạp với chữ Kình hơn.

Có lẽ viết chữ Dương là Dê, chỉ, chỉ là dựa vào cách phát âm, viết tạm cho tiện, cho gọn, lâu ngày thành thói quen, cũng như chữ “Không” ngày nay thành ra “O”.

Viết chữ Dương là con Dê (dù có luận rằng nghĩa như chữ Tường ngày xưa) thì thật là thiếu ý nghĩa.

Điều quan trọng trong Khoa học là những quan niệm sáng tỏ, mạch lạc làm sao cho Khoa học càng ngày càng tiến thêm, chứ không phải là nhiều người hay ít người viết như thế, Việt hay không Việt, Hán hay không Hán, chân truyền hay không chân truyền.

Khi đã hiểu Kình là ngụ ý cái gì chống lên, bốc lên …. Dương là dậy lên, tỏ ra … rồi xét đến Đà La, thì mới thấy được cái tiểu dị giữa Kình & Đà.

Chữ Đà có người viết với bộ Thủ, có người viết với bộ Phụ.

– Viết với bộ Thủ có nghĩa là kéo lại, kéo ra, kéo đến; ngụ Ý một cái Lực chuyển động theo chiều ngang (trong khí đó Kình ngụ ý một cái Lực chuyển động theo chiều thẳng đứng)

– Viết với bộ Phụ thì có nghĩa là chỗ đất gập ghềnh, hiểm trở.

– Chữ La là cái lưỡi và cũng có nghĩa là dăng rộng ra, dăng bày ra cũng có thể ngụ ý một cái gì bao la, bát ngát theo chiều ngang.

– La mà hãm thì không phát triển rộng ra, có khi mình lại bị gói vào trong lưỡi, mình bị động, bị che đi.

Đà mà hãm thì kéo co nhiều chuyện vướng mắc lôi thôi. Đà La mà hãm thì hóa thành Kị, nhiều chuyện trắc trở, mờ ám, che lấp.

Đà La mà nhập miếu thì có thể kéo rộng, mở rộng bao la, lan rộng ra, giăng rộng ra (theo chiều ngang).

Người xưa đã có quan niệm về Thiên, Nhân, Địa. Mà trong lá số Tử-Vi thì “Thiên” đây là Thiên Can (đầu mối trên trời) thể hiện qua vòng Lộc Tồn. “Nhân” thì đã thể hiện qua Vòng Tràng Sinh, vòng Cục, Cục đây là cuộc diện chứ không phải cục đá hay cục đất, “Địa” thể hiện qua vòng Địa Chi (ngành dưới đất) vòng Thái Tuế. Tôi sẽ xin nói thêm về các vòng này.

Trong thế giới hữu hình, trong hiện tượng giới, thì lúc nào cũng có sự đối tỷ, tương đối, có âm, có Dương, có cương có nhu, có nóng có lạnh, có trên dưới, trong ngòai, có cái bộc lộ, có cái tiềm tàng.

Ở một người ham họat động thì Kình Dương là hùng dũng hăng hái bộc lộ ra ngòai, hướng ngọai nhiều hơn, giải quyết bằng sức mạnh hoặc mau chóng hơn. Vì vậy ngôi Lực Sĩ luôn luôn đi chung với Kình Dương. Sự xếp đặt, viết tên Lực Sĩ vào chung với Kình Dương để nhắc nhở rằng đây là một lực hướng ngoại nhiều hơn.

Ở một người ham họat động thì Đà La là sự hăng hái nội tâm, hướng nội giải quyết bằng Tâm nhiều hơn băng Lực vì thế mà có lời luận là thâm trầm. Vì thế mà an đúng tiền Kình hậu Đà thì Kình bao giờ cũng đi với Lực. Đà La hướng về chiều ngang kín đáo, hướng nội, cho nên mới có quan niệm Đà La là âm Tinh.

Ở một người đa tình thì Kình Dương là tình nồng cháy ào ạt bộc lộc cấp bách. Đà La là tình âm ỷ tầm ngẩm tầm ngầm, nung nấu lâu dài, vì thế mới có quan niệm cho Đà La là dâm tinh (đây phải xét theo các sao khác đi cùng với Đà La mà luận)

Ở một người bướng bỉnh thì Kình Dương là ngang bướng chống trả ra mặt, mà Đà La là bướng ngầm kiên trì, chờ ngày thực hiện ý chí.

Kình là chống lên, Đà là kéo. Hạn có Kình Đà, tốt thì cũng có sự kéo co, lùng nhùng, trong phạm vi tốt, xấu thì cũng lại cũng có sự chống lên, kéo lại trong phạm vi xấu.

Gặp cách xấu thì Kình Dương là Nhẫn, là mũi dao, là cái gai xóc đến bất ngờ. Đà La là đa đoan lăng xăng vướng víu như mắc lưới.

Còn nhiều điểm tối hỷ nữa, nhưng tôi thiết tưởng rằng những dòng trình bày kể trên đã tạm đủ để đưa ra một Ý tưởng suy gẫm vấn đề. Tôi chỉ cố gắng trình bày một cách vô tư những gì mà tôi đã tra cứu, sưu tầm, học hỏi được.

Trong kỳ tới tôi sẽ trình bày vì đâu lại có câu chuyện Lộc tồn ở Thìn Tuất Sửu Mùi cũng là quan niệm về Mệnh chủ, Thân chủ, Lưu niên văn tinh

KHHB số 40


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm dị biệt giữa Kình Dương và Đà La

Những chú ý khi chuyển nhà nhập trạch đặt bát hương

Dương trạch có ảnh hưởng rất lớn tới vận mệnh, sức khỏe, tài vận và sự nghiệp của tất cả mọi thành viên trong gia đình. Vì vậy, khi làm lễ nhập trạch cần phải chọn năm, tháng tốt. Những việc dựng cột, đổ móng thì chọn theo Nên-Kỵ của ngày. Về việc di chuyển trong nhà cũ, năm tháng thiếu thì phải chọn phương hướng tốt sau đó mới tới chọn năm tháng tốt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Những điều lưu ý
 
- Khi chọn ngày để làm lễ nhập trạch, cần chọn ngày không xung với tuổi của gia chủ, không phạm Tam Sát, không phạm Ngũ Hoàng. 
 
- Về cách thức đặt bát hương thì có thể tham khảo thêm các sách như Ngọc Hạp Ký, Thông Thư…
 
- Khi chuyển nhà thì phải đích thân gia chủ chuyển đồ sang nhà mới, có thể nhờ người khác trợ giúp nhưng phải tự tay cầm bài vị, bát hương cúng gia thần, tổ tiên và các thành viên khác trong gia đình.
 
- Thời gian chuyển nhà tốt nhất là vào buổi sáng, không nên tiến hành vào buổi trưa hoặc lúc mặt trời sắp lặn, đặc biệt cấm kỵ việc chuyển nhà vào buổi tối.
 
- Khi nhập trạch phải đặt bát hương, bài vị tổ tiên trước khi sắp xếp các đồ dùng, vật dụng khác trong nhà.

Nhung chu y khi chuyen nha nhap trach dat bat huong hinh anh 2
Ảnh minh họa

2. Những điều cấm kỵ
 
- Những người phụ nữ có thai không nên dọn nhà, nếu không sẽ phạm phải tội “Thần thai”. Trong trường hợp bất khả kháng thì người ấy có thể dùng một cái chổi mới mua, chưa sử dụng để quét hết các đồ vật trong nhà trước khi chuyển chúng đi.
 
- Người tuổi Dần không nên tham gia vào việc dọn nhà.
 
- Ngày nhập trạch chủ yếu là để lấy ngày tốt, gia chủ chưa chính thức về ở ngay, nhất thiết phải ngủ qua đêm tại nhà mới.

3. Nghi lễ nhập trạch

Trước hết, gia chủ cần mang theo một chiếc chiếu đang dùng, một bếp lửa (không dùng bếp điện, bếp từ, bếp hồng ngoại… vì nó sinh nhiệt nhưng không có ngọn lửa), một cái chổi mới, lễ vật… để vào nhà mới. Những thành viên khác trong nhà đi theo sau và mang theo tiền của.
 
Sau đó, sắp lễ vật lên mâm theo hướng hợp với gia chủ. Đích thân gia chủ thắp tạm nén nhang, cắm nhang vào lư hương để xin nhập trạch và xin phép Thần linh rước vong linh Gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng.
 
Kế đến, gia chủ sẽ châm bếp và đun nước với mục đích khai bếp và pha trà dâng thần linh, gia tiên.
 
Sau khi khấn thần linh xong, gia chủ làm lễ cáo yết gia tiên trước rồi mới được phép sắp xếp đồ đạc trong nhà.
 
Khi đã dọn xong đồ đạc, để gia trang được bình an, cả nhà phải tổ chức lễ bái tạ thần Phật, các vị thánh thần và tổ tiên…
 
T.H
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chú ý khi chuyển nhà nhập trạch đặt bát hương

Những điều kiêng kỵ về đặt cửa ở lối đi –

Có một số phòng khách ở giữa lại có một lối đi, nhìn từ góc độ phong thủy, nếu xuất hiện hai trường hợp sau thì cần thiết đặt cửa ở lối đi. Tận cùng lối đi là nhà vệ sinh Có một số ngôi nhà, phía tận cùng lối đi là nhà vệ sinh, không những gây phản c

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có một số phòng khách ở giữa lại có một lối đi, nhìn từ góc độ phong thủy, nếu xuất hiện hai trường hợp sau thì cần thiết đặt cửa ở lối đi.

250

Tận cùng lối đi là nhà vệ sinh

Có một số ngôi nhà, phía tận cùng lối đi là nhà vệ sinh, không những gây phản cảm mà về phong thủy bị coi là không tốt. Sau khi đặt cửa lối đi, ngồi trong phòng khách không gặp phải tình huống ngại ngùng là nhìn thấy người qua lại nhà vệ sinh, hơn nữa lại tránh được uế khí từ nhà vệ sinh bay vào phòng khách.

Cửa trực xông phòng ngủ

Có một số ngôi nhà thiết kô không hợp lý, có thể xuất hiện tình trạng cửa ra vào chính và cửa phòng ngủ nằm trên một đường thẳng, hơn nữa có một số nhà cửa ra vào, cửa phòng và cửa trong phòng cùng nằm trên một đường thẳng, trường hợp như vậy có thể sử dụng phương pháp đặt cửa để cho vương khí và tài khí không bị mất đi.

Đặt cửa lối đi còn có một số điểm lợi sau:

  1. Bảo vệ sự riêng tư: Sự phóng khóang và bí mật của phòng khách và phòng ngủ rõ ràng là riêng biệt, có cửa ngăn cách sẽ làm cho khách đến chơi không thể can thiệp vào lĩnh vực đời sống riêng tư trong phòng ngủ.
  2. Bảo vệ sự yên tĩnh: Sau khi đặt cửa lối đi, những âm thanh nói chuyện và sự náo nhiệt trong phòng khách không bị truyền vào trong phòng ngủ làm phiền đến người đang nghi ngơi.
  3. Tiết kiệm nguồn năng lượng: Đặt cửa lối đi, khi người nhà hoạt động trong phòng khách chỉ cần đóng cửa lại, khí lạnh sẽ không thể vào phòng ngủ, như vậy là có thể tiết kiệm sự tiêu hao nguồn năng lượng không cần thiết.
  4. Làm đẹp ngôi nhà: Nhiều nhà có phòng khách sắp xếp rất gọn gàng, đẹp mắt, nhưng lối đi và phòng ngủ lại bừa bộn, lộn xộn. Nếu lối đi có cửa chắn lại thì “cái xấu sẽ được cho đi”.
  5. Tiết kiệm không gian: Ở đô thị hiện đại ngày nay thì “tấc đất là tấc vàng’’, cuối lối đi đặt một tủ đựng đồ linh tinh sẽ tiết kiệm được không ít không gian, hơn nữa cửa lối đi vừa hay có thể dùng tủ đồ đó để che đi khuyết điểm.

Đặt cửa ở lối đi nên “hạ thực thượng hư”, lý tưởng nhất là nửa phía dưới là gỗ, nửa phía trên là kính, bởi vì như vậy là vừa có cái gốc kiên cố mà lại không nhìn xuyên qua được. Nếu dùng cửa toàn gỗ, kín quá không thông gió, làm giảm cảm giác thông suốt của phòng khách. Nhưng nếu dùng cửa toàn kính thì làm cho phòng khách quá thông suốt mà lại mất đi tính kín đáo, vì thế không lý tưởng, đặc biệt là nhà có trẻ nhỏ, kính là chất liệu rất đễ vỡ không nên dùng. Ngoài ra, khung cửa lối đi không được chon hình bầu dục, bời hình bầu dục giống như hình ngôi mộ, như vậy là không tốt lành cho ngôi nhà.

Nếu gặp phải hai trường hợp sau thì lối đi không nên đặt cửa:

1. Phòng quá nhỏ không nên đặt cửa

Phòng khách có diện tích nhỏ thì khó đặt cửa ở lối đi, bởi vì thêm vào lối đi phòng khách nhìn vào thấy sâu hơn một chút, nếu lắp cửa thì sẽ gây cảm giác chật hẹp.

2. Phòng ít cửa sổ không nên đặt cửa

Lối đi mà đặt cửa sẽ làm cho không khí trong phòng khách trờ nên ngưng trệ, bởi vì phòng khách ít cửa sổ, không khí bên ngoài rất khó lọt vào phòng, nếu lại lắp thêm cửa thì không khí trong phòng khách không được trao đổi với các phòng khác, như vậy đương nhiên là không khoa học.

Ngoài ra, những năm gần đây phong cách Châu âu đang thịnh hành, cùng có một số nhà sử dụng cột trụ kiểu phương Tây để trang trí trong nhà ở, hai bên cửa vào lắp hai cột, như vậy cũng không có gì là sai, nhưng nếu xuất hiện hai trường hợp sau thì cần phải thận trọng.

1. Phòng nhỏ cửa hẹp không được lắp cột trụ

Nếu diện tích phòng khách nhỏ, lối đi lại chật hẹp, bỗng nhiên cửa lối đi xuất hiện hai cột trụ sẽ làm cho phòng khách càng trở nên nhỏ hẹp hơn, cửa lối đi sẽ trở nên chật chội.

2. Cột trụ hình nến tuyệt đối không được sừ dụng

Có một số người thích sừ dụng cột trụ tròn hình nến, nếu là màu khác thì được, còn nếu là màu trắng thì là đại kỵ. Bời vì như vậy giống như hai cây nến trắng cắm ờ hai bên lối vào phòng ngủ. Trong phong tục truyền thống Trung Quốc, nên trắng chỉ dùng trong tang lễ, vì thế nếu phòng khách sử dụng cột trụ hình nến trắng, khằng định là hung chứ không cát, cần cố gắng tháo dỡ đi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều kiêng kỵ về đặt cửa ở lối đi –

Kiêng kỵ vào cửa thấy bếp –

Hiện tượng: Vào cửa thấy bếp Chúng ta bước từ bên ngoài qua cứa chính vào nhà tức thì nhìn thấy bếp hoặc cửa bếp. Chúng ta đều biết bếp được coi là kho của cải, vì thế vào cửa nhìn thấy bếp sẽ ảnh hưởng không tốt tới việc học tập, công tác của các th

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện tượng: Vào cửa thấy bếp

images

Chúng ta bước từ bên ngoài qua cứa chính vào nhà tức thì nhìn thấy bếp hoặc cửa bếp. Chúng ta đều biết bếp được coi là kho của cải, vì thế vào cửa nhìn thấy bếp sẽ ảnh hưởng không tốt tới việc học tập, công tác của các thành viên trong gia đình.

Điều nên biết

Long quy (rùa hoá rồng) là loài kết hợp bởi hai con vật rồng và rùa tạo thành con vật cát tường, mang lại điềm lành  mình linh quy, đầu thần long. Long tượng trưng cho sự vươn cao. Quy tượng trưng cho sự trường thọ. Vật này có thể dùng đề trấn trạch, tránh tà, hỏa sát. Cũng có thể dùng đẻ tăng duyên, hỏa giải miệng lưỡi thị phi, hóa sát khi do âm khí sinh ra. Có thể đặt tại nơi có thủy khí tương đối nặng, cũng có thể đặt ở diện sát. Ngoài ra còn có thể phối hợp bày đặt cùng tam sát phương theo mỗi năm để đạt dược hiệu quả là nhanh chóng thu được tiền tài, của cải. Đây chính là cái gọi là “đấu tam sát tốc phát” (đấu lại tam sát, nhanh chóng phát tài).


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiêng kỵ vào cửa thấy bếp –

Ngũ hành Thủy - Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thủy

Nạp âm của ngũ hành Thủy có 6 đại diện là Giản Hạ Thủy, Đại Giản Thủy, Đại Hải Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Tỉnh Tuyền Thủy. Xem ý nghĩa các nạp âm
Ngũ hành Thủy - Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nạp âm của ngũ hành Thủy có 6 đại diện là Giản Hạ Thủy, Đại Giản Thủy, Đại Hải Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Tỉnh Tuyền Thủy.


Ngu hanh Thuy - Tong hop y nghia cac nap am cua ngu hanh Thuy hinh anh
 
Đại Hải Thủy, Thiên Hà Thủy lưu Nhị ban bất dữ Thổ vi cửu Ngoại giả đô lai toàn kỵ Thổ Phùng chi y lộc tất nan cầu.
Ngũ hành Thủy vượng thì thành đầm lầy, sông nước. Thủy sinh Mộc, Mộc nhiều thì Thủy mất đi, Thủy mạnh thì Mộc sinh tồn mà phát huy hết thế mạnh của nó. Thủy khắc Hỏa, Hỏa nhiều thì Thủy khô kiệt, Hỏa yếu thì gặp Thủy tất diệt. Thủy sinh Kim, Kim nhiều thì Thủy đục, Kim sinh Thủy, Thủy nhiều thì Kim chìm. 
 

1. Giản Hạ Thủy - Nước khe suối

Đào Tông Ngại viết: "Bính Tý, Đinh Sửu là Giản Hạ Thủy, Thủy vượng tại Tý, tang tại Sửu, vượng tương phản với tang nên không thể tung hoành trên sông lớn nên thành nước khe hẹp".
 Giản Hạ Thủy không phải là sông lớn nhưng lại hình thành nên sông, nơi tụ hội những dòng chảy nhỏ mà thành, khi mưa xuống nước bằng chảy siết vùng lên thành sóng lớn. Nước từ Nam chí Bắc cùng tụ hội, bản thân cũng không chia phương hướng mà chảy lúc Đông lúc Bắc thật bất định. Giản Hạ Thủy thanh tịnh, chỉ vang mà không vọng, róc rách đêm ngày, nhìn mà không bắt được nông sâu. 
 

2. Đại Giản Thủy - Nước suối lớn


Đào Tông Ngại viết: "Giáp Dần, Ất Mão là Đại Hải Thủy, Dần là Đông Bắc, Mão là chính Đông, nước chảy chính Đông tất thuận, xuyên qua khe chảy thành dòng lớn tụ lại thành khe nước to nên gọi là Nước suối lớn”. 
Đại Hải Thuỷ toạ Đông Bắc và chính Đông, nước sông chảy theo hướng Đông, trăm sông đổ ra biển lớn nên thuận theo tự nhiên.
Đại Hải Thuỷ thượng trên núi cao, thế nước mạnh, đổ dồn dập thành sóng lớn, bao trùm vạn dặm phủ khắp giang sơn. Dòng nước mạnh mẽ lúc rẽ phải lúc quặt trái biến đổi khó lường hướng trực tiếp ra biển vì thế Đại Hải Thuỷ mang tính chất đa biến, cá tính trầm mặc và có lúc rất hiện thực vô tình.
 

3. Trường Lưu Thủy - Nước sông dài


Đào Tông Ngại viết: "Nhâm Thìn, Quý Tỵ là Trường Lưu Thủy, Thìn là kho nước, Tỵ là Kim nơi sinh sôi nảy nở, Kim sinh thì Thủy tính tất tồn tại, kho Thủy làm trường sinh Kim nên nguồn nước mãi mãi không dừng thì gọi là Nước sông dài”. 
Trường Lưu Thủy trong Ngũ hành Thủy xuất hiện từ đầu nguồn nên dòng chảy đẹp đẽ giống như một người không có dã tâm, tất cả đều phơi bày hết dưới ánh sáng. Trường Lưu Thủy dường như cái gì cũng muốn nhưng lại không cần nhiều thứ cao cấp, luôn dễ dàng tự thỏa mãn.
 

4. Thiên Hà thủy - Nước trên trời


Đào Tông Ngại viết: "Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên Hà Thủy; có Bính Đinh thuộc hành Hỏa, Ngọ là đất vượng Hỏa mà nạp âm vẫn thuộc Thủy, Thủy tự Hỏa mà ra thì chỉ có ngân hà mới có nên gọi là Nước trên trời".
 Thiên Hà Thủy bắt nguồn từ phía Nam là đất vượng Hỏa, Thủy sinh từ Hỏa thì chỉ có sông trên trời mới có. Hệ ngân hà là hệ sao của thái dương nơi các vì tinh tú tụ hội xung quanh, có một tầng mây khói che phủ khiến hành tinh nằm giữa sản sinh Hỏa vượng, cũng tương thích với nghiên cứu của khoa học hiện đại và nước sông ngân hà này thời cổ đại đã được coi là vùng đất của lửa.
 
Thiên Hà Thủy này do chảy từ sông ngân hà nên có thể vươn khắp năm châu bốn bể, phân bố nghìn dặm, là cam lộ của trời đất, sinh ra vạn vật. 
Thiên Hà Thủy chảy từ vùng đất sinh ra lửa. Ngọn lửa cháy bập bùng đó nhìn thì nhiệt tình ấm áp nhưng khi chảy xuống hạ giới lại vô cùng lạnh lùng ác độc. Nếu không cẩn thận sẽ bị vẻ về ngoài đẹp đẽ đó đốt cháy thành tro bụi.
 

5. Tỉnh Tuyền Thủy - Nước trong giếng


Đào Tông Ngại viết: "Giáp Thân, Ất Dậu là Tỉnh Tuyền Thủy, Kim lâm quan, Thân Dậu đều vượng, Kim tất vượng, nhờ có Thổ mà sinh ra Thủy nhưng sức mạnh không lớn nên gọi là Nước trong giếng". Nước trong giếng sức mạnh tiêu điều nhưng không bao giờ mất đi, có thể dùng bất cứ lúc nào, hết lại đầy; nếu như không sử dụng thì lúc nào cũng sóng sánh đầy nhựa sống nên khó mà biết được sức mạnh của nó.
 
Tỉnh Tuyền Thủy vốn trong xanh, mát lạnh là nguồn sống của vạn vật dân cư. Vì nước nằm sâu trong lòng đất, không bao giờ bị sóng gió thời tiết ảnh hưởng, cũng không bị nước từ bên ngoài xâm chiếm tấn công nên lúc nào cũng yên bình lặng lẽ. Tỉnh Tuyền Thủy luôn yên bình, dùng mắt thường không thể đoán biết được nông sâu, giống như một vị quan chức lạnh lùng khó đoán biết thái độ vậy.
 

6. Đại Hải Thủy - Nước biển lớn


Đào Tông Ngại viết: "Nhâm Tuất, Quý Hợi là Đại Hải Thủy, nước nhỏ giọt đem Tuất tới Hợi, nước nhỏ giọt từ từ tạo nên sức mạnh hùng hậu, mà Hợi còn là căn của sông nước nên gọi là Nước biển lớn". 
Đại Hải Thủy trong Ngũ hành Thủy là nơi tụ hội của trăm nghìn con sông, nơi tụ hội của Thủy nên Thủy thế hưng vượng, tượng khí hùng vĩ, khí thế oai phong tự cổ chí kim. 
Đại Hải Thủy còn là nơi thu hút mọi ánh sáng của nhật nguyệt, có thanh có đục, Nhâm Tuất còn có Thổ khí nên đục, Quý Hợi can chi thuần Thủy lại có nạp âm là Thủy nên thanh tịnh.
 
Mỗi khi biển bằng dậy sóng lại kích thích mây vần sóng vũ có thể nhấn chìm cả một con thuyền to, Đại Hải Thủy chính là có thể nhấn chìm hàng nghìn con thuyền lớn nhỏ nhưng cũng vô cùng bao dung độ lượng. Vừa thân quen lại vừa xa cách, không loại trừ những gì kì dị khác lạ nhưng cũng không tỏ vẻ tâm tư luôn thông suốt. Phàm gặp chuyện gì cũng chuyện to hóa nhỏ không hề mang tâm địa, tính dung hòa cực lớn chính là Đại Hải Thủy.
► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ: Xem phong thủy chuẩn xác để đón lành tránh dữ

Màu sắc phù hợp nhất với người mệnh Thủy
Lichngaytot.com

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngũ hành Thủy - Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thủy

Các lễ hội diễn ra trong ngày 18 tháng 6 âm lịch - Hội Đền Lảnh Giang

Hội Đền Lảnh Giang được tổ chức vào ngày 18 tháng 6 âm lịch tại thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội diễn ra trong ngày 18 tháng 6 âm lịch - Hội Đền Lảnh Giang

Các lễ hội diễn ra trong ngày 18 tháng 6 âm lịch - Hội Đền Lảnh Giang

Hội Đền Lảnh Giang

Thời gian: tổ chức vào ngày 18 tới ngày 25 tháng 6 âm lịch.

Địa điểm: thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn tam vị đại vương thời Hùng Duệ Vương có công đánh Thục thờ Tiên Dung.

Nội dung: Hàng năm, cứ vào dịp đầu tháng 6 (âm lịch), người dân thôn Yên Lạc lại nô nức chuẩn bị cho lễ hội đền Lảnh Giang, một lễ hội đã có truyền thống từ rất lâu đời. Nét độc đáo trong lễ hội đền Lảnh Giang là sự phục dựng lại các diễn xướng dân gian hầu thánh, tái hiện huyền tích các vị thánh đền Lảnh Giang

Phần lễ có hoạt động rước kiệu trên triền đê sông Lảnh với sự tham gia của đông đảo người dân địa phương và du khách đến tham quan. Mở đầu là lễ rước kiệu từ đền Lảnh Giang vào đền thờ Mẫu Tiên Dung. Sau đó làm lễ tại đền thờ Mẫu Tiên Dung và rước kệu về lại đền Lảnh Giang. Đoàn nghi lễ rước kiệu kéo dài hơn 2 cây số trên triền đê sông Lảnh cùng với tiếng trống trầm hùng và tiếng kèn đồng rộn rã khiến cho không khí buổi rước kiệu càng trở nên uy nghiêm và náo nhiệt.

Phần hội được tổ chức phong phú đa dạng với các trò chơi dân gian truyền thống như múa rồng, múa lân, múa sư tử, biểu diễn võ thuật, đánh gậy, chọi gà, đánh tổ tôm, bắt vịt dưới nước… cùng các hoạt động văn nghệ như chiếu chèo sân đền… 

Bên cạnh các trò chơi truyền thống, còn có các hoạt động văn hoá thể thao khác như thi đấu cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền, bóng đá và các tối giao lưu văn nghệ giữa các thôn trong xã và giữa các xã trong huyện làm tăng thêm không khí tưng bừng của ngày hội.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội diễn ra trong ngày 18 tháng 6 âm lịch - Hội Đền Lảnh Giang

Các lễ hội ngày 6 tháng 2 Âm Lịch - Hội Ngọc Xuyên

Lễ hội Ngọc Xuyên được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch tại xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 6 tháng 2 Âm Lịch - Hội Ngọc Xuyên

Các lễ hội ngày 6 tháng 2 Âm Lịch - Hội Ngọc Xuyên

Hội Ngọc Xuyên

Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch.

Địa điểm: xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Đối tượng suy tôn: Nhằm suy tôn Thánh Cả là Lạc Long Quân, và vị Thánh Hai là ông tổ nghề đồng Nguyễn Công Truyền.

Nội dung: Trong lễ hội diễn ra tục tế Thần. Đặc biệt trong đó thú vị nhất và thu hút nhiều khách tham quan và người dân là trò "rồng lột" (nhằm diễn lại công alo của Đức Thánh Cả).


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 6 tháng 2 Âm Lịch - Hội Ngọc Xuyên

Nghi lễ trừ tà thời khởi thủy và nỗi hoài nghi tâm linh

Các nghi thức trừ tà xuất hiện từ cách đây hàng triệu năm, trên khắp thế giới, cho thấy niềm tin vào ma quỷ của con người đã hình thành từ lâu và ngày càng
Nghi lễ trừ tà thời khởi thủy và nỗi hoài nghi tâm linh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

phát triển, chứ không có dấu hiệu biến mất theo thời gian hay tiến bộ khoa học.


► Đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật

Nghi le tru ta thoi khoi thuy va noi hoai nghi tam linh hinh anh
 
Ở vùng Lưỡng Hà thời cổ đại, người ta tin rằng nghi lễ trừ tà có thể giúp trị bệnh và tất cả các loại bệnh tật đều là do những linh thể đen tối tiến nhập vào cơ thể một người và trú ngụ ở đó. Các phiến đá Assyria có đề cập đến việc niệm các câu thần chú và đọc kinh hướng đến các vị Thần, cũng như trực tiếp thách thức ma quỷ. Những linh mục thành Babylon thời cổ đại đã tiến hành nghi thức trừ tà bằng cách phá hủy một tấm bia bằng gốm hay sáp có in hình tượng một con quỷ.
 
Trong Ấn Độ giáo, các kinh sách cổ gọi là Vệ Đà được biên soạn từ năm 1000 TCN, trong đó có đề cập đến các linh hồn quỷ dữ quấy nhiễu đến công việc của các vị thần Ấn Độ giáo và gây hại cho chúng sinh. Các vị thần đã ra tay trừ tà, xua đuổi ma quỷ bằng phép thuật để trừ hại cho dân.
 
Các câu chuyện từ thời Ba Tư cổ đại, có niên đại khoảng năm 600 TCN, cung cấp bằng chứng cho thấy nhà tiên tri Zoroaster, người sáng lập Hỏa giáo, đã thực hiện các nghi thức trừ tà bao gồm việc cầu nguyện, tiến hành nghi lễ, và sử dụng nước thánh.
 
Trong Công giáo, có rất nhiều ví dụ về việc Chúa Giê-su tiến hành các nghi thức trừ tà, và một đệ tử chân chính phải có khả năng xua đuổi tà ma. Trong một điển tích nổi tiếng, Chúa Giê-su đã gặp một người điên và ra lệnh cho những linh hồn xú uế rời khỏi anh ta; các linh hồn này sau đó đã tiến nhập vào một đàn lợn, chúng nhảy xuống một bờ vực rồi rơi xuống nước chết đuối.
 
Thời Trung cổ, nghi lễ trừ tà này được hồi sinh khi các bệnh tâm lý được quy là do ma nhập. Những cách thức man rợ nhằm chữa trị các chứng bệnh tâm thần chủ yếu được giao phó cho các giáo sĩ, và họ đã trừ tà cho bệnh nhân thông qua một loạt các biện pháp gây ra những đau đớn kinh khiếp về thể xác, như quất roi.
 
Qua nhiều thế kỷ, các nghi thức trừ tà thường dùng đến việc tụng kinh, ra lệnh ma quỷ tự trục xuất, xông hơi, nước thánh, cây lê lư, sự ăn năn, muối, và hoa hồng. 
 
Tuy nhiên, nghi thức trừ tà bị nhiều người hoài nghi. Rất nhiều nhà khoa học tin rằng cái gọi là việc bị ma ám chỉ là một dạng bệnh lý tâm thần, như rối loạn tâm căn, hưng cảm, rối loạn tâm thần, hội chứng Tourette, tâm thần phân liệt hoặc rối loạn nhân cách. Những người không tin vào các nghi thức này cho rằng ảo tưởng về hiệu quả của trừ tà đối với những người có triệu chứng bị ma nhập là do sự gợi ý, hay hiệu ứng placebo (giả dược), vốn cũng đã được viện dẫn để giải thích các hiện tượng như chữa bệnh bằng đức tin.
 
Liệu hiện tượng bị ma nhập là thật hay chỉ đơn giản là kết quả của sự mất cân bằng y học hay tâm lý thì vẫn là một câu hỏi được tranh luận rất sôi nổi. Tuy nhiên, có thể chắc chắn rằng niềm tin vào hiện tượng ma nhập và các nghi thức trừ tà hầu như không thay đổi kể từ thời khai thủy của nền văn minh nhân loại và vẫn tồn tại cho đến ngày nay.   ST
 
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghi lễ trừ tà thời khởi thủy và nỗi hoài nghi tâm linh

Phong thủy tăng cường sự giàu có cho gia chủ

Theo phong thủy, sự giàu có không đơn thuần chỉ về tiền bạc, mà gồm cả tài chính, sức khỏe và các mối quan hệ hòa hợp trong gia đình.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vấn đề tài chính làm bạn mệt mỏi và căng thẳng, cộng thêm những cơ hội tốt đẹp cứ vụt qua trong tiếc nuối. Nguyên nhân có thể là do năng lượng giàu có của bạn bị chặn lại. Phong thủy là cách tuyệt vời để kích hoạt các kênh năng lượng, do đó, bạn có thể thu hút thêm sự thịnh vượng đến với cuộc sống. Điều này rất dễ thực hiện, chỉ áp dụng những lời khuyên đơn giản sau đây cho từng khu vực trong nhà.

Chào đón sự thịnh vượng

Tại lối vào chính của ngôi nhà, treo 3 đồng tiền xu được nối với nhau bởi dây ruy băng màu đỏ lên tay nắm cửa. Chiều dài dây ruy băng thích hợp là từ 22 - 40 cm và số 3 tượng trưng cho sự giàu có trong phong thủy. Bạn có thể tìm mua xâu tiền xu ở hầu hết các cửa hàng bán đồ phong thủy, thờ cúng.

Đảm bảo rằng khi mở cửa chính ra không bắt gặp bất kỳ vật cản nào phía trước. Bí quyết này cũng đúng với tất cả các cánh cửa khác trong nhà. Tra dầu vào bản lề cửa kêu cót két, lau sạch cửa kính và cân nhắc việc sơn màu cánh cửa. Màu đỏ là màu sắc tốt đẹp cho sự thịnh vượng.

Bạn cũng nên tìm mua tượng cóc ba chân (hay còn gọi là Thiềm thừ) để bày trong nhà. Cóc ba chân có rất nhiều kiểu dáng, có thể ngậm hoặc không ngậm tiền xu trong miệng và cõng thêm biểu tượng khác trên lưng. Vật phẩm phong thủy đáng yêu này có khả năng thu hút sự may mắn.

 phong thuy tang cuong su giau co cho gia chu - 1

Luôn giữ cho hành lang đủ ánh sáng, sạch sẽ và gọn gàng. Nên trang trí những chậu hoa cảnh dọc hành lang, hoa có màu đỏ là lựa chọn tốt nhất và nhóm chúng thành từng cụm 3 cây một.

Làm mới lại các phòng

Phong thủy đòi hỏi mọi thứ phải được tổ chức chặt chẽ và sạch sẽ, hãy lên kế hoạch làm mới lại tổng thể ngôi nhà một lượt. Loại bỏ những thứ cũ rích, không còn giá trị sử dụng hoặc đã lâu không dùng đến sẽ giúp bạn mời gọi cái mới. Thiết lập vị trí đặc biệt cho những đồ vật thường có xu hướng xuất hiện rải rác trong nhà, như vậy, bạn có thể giữ cho không gian sống luôn trật tự. Đừng quên rằng chính sự lộn xộn sẽ cản trở nguồn năng lượng tích cực tiếp cận ngôi nhà của bạn.

Bạn có thể làm mới nguồn năng lượng của mọi căn phòng chỉ đơn giản bằng cách bố trí lại đồ nội thất. Có một nguyên tắc phong thủy đúng với bất kỳ không gian nào, đó là "Ít hơn là nhiều hơn". Quá nhiều đồ nội thất, đồ linh tinh... sẽ mang đến cảm giác gò bó, chật chội và ngăn cản dòng chảy của cơ hội mới.

Cây xanh tươi tốt, đặc biệt là các loài cây lá tròn rất lý tưởng để trưng bày ở cả bên trong lẫn bên ngoài ngôi nhà. Bởi vì hình dáng lá tròn giống hệt với đồng tiền xu.

Nếu bạn làm việc tại nhà, treo một chiếc chuông gió trên trần nhà, ngay phía trên khu vực làm việc để "lôi kéo" nguồn khí tốt lành, trí tuệ và thành công.

Tiếp sức cho khu vực giàu có

Bên trong nhà hoặc căn hộ của bạn, xác định rõ khu vực Đông Nam. Đây là khu vực tài lộc, là nơi tuyệt vời để đặt bàn thờ hoặc các vật phẩm phong thủy tài lộc đặc biệt. Đặt một vài đồng tiền xu trên bàn thờ hoặc thiết kế một đài phun nước tại đây để giữ cho dòng chảy của sự giàu có, thịnh vượng được thông suốt. Nhóm các đồ vật thành bộ ba, ví dụ như bộ 3 cây nến... để tăng cường vận may.

 phong thuy tang cuong su giau co cho gia chu - 2

Xem xét đặt một bể cá ở khu vực Đông Nam và mỗi khi cho cá ăn, hãy nghĩ tới sự giàu có, dư thừa sẽ đến với bạn.

Trường hợp khu vực Đông Nam trong nhà đón được ánh sáng lúc bình minh hoặc hoàng hôn, bạn nên đặt chậu hoa cảnh có màu đỏ hoặc tím ở đây. Đỏ và tím là 2 màu sắc có liên quan trực tiếp tới sự giàu có.

Phòng tắm và phòng bếp

Bếp nấu là đồ vật quan trọng nhất trong phòng bếp. Lý do là bởi, quan niệm phong thủy truyền thống cho rằng nó gắn kết chặt chẽ với sự giàu có. Bếp nấu phải được vệ sinh hàng ngày, thuận tiện khi sử dụng.

Các bậc thầy phong thủy tin tưởng nước có thể cuốn trôi tiền tài, đòi hỏi bạn phải dành sự chú ý đặc biệt đến tất cả yếu tố nước hiện diện xung quanh. Mỗi khi không sử dụng chậu rửa, đậy kín nắp cống thoát nước để ngăn năng lượng thoát ra ngoài. Tương tự, tập thói quen đậy nắp bồn cầu xuống khi không dùng tới. Gam màu đất như màu vàng sáng, màu be... đại diện cho đập ngăn nước, rất phù hợp dùng cho tường hoặc sàn phòng bếp, phòng tắm hoặc phòng giặt.

Ngoại thất

Khu vực giàu có trong sân vườn nhà bạn cũng nằm ở hướng Đông Nam. Thiết kế một thác nước để tạo ra dòng chảy tiền bạc, của cải mạnh mẽ hơn. Chuông gió, cối xay gió, cánh quạt... hay thứ gì xoay tròn được cũng giúp thu hút thêm nguồn khí tích cực. Trồng một vài khóm hoa lâu năm màu đỏ hoặc tím. Đối với bàn ghế, ghi nhớ quy tắc bộ ba, chẳng hạn như sắp xếp 3 chiếc ghế ngồi sát nhau...


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy tăng cường sự giàu có cho gia chủ

Xem màu sắc của phòng ngủ –

Theo phong thủy học, mỗi mệnh trong Ngũ hành đều có màu tiêu biểu khác nhau. Mỗi màu sắc lại có tính tương sinh, tương khắc. Đây cũng là những nguyên tắc giúp chọn được những màu phù hợp trong nội thất, đặc biệt là phòng ngủ. Người thuộc Mộc, phòng n

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo phong thủy học, mỗi mệnh trong Ngũ hành đều có màu tiêu biểu khác nhau. Mỗi màu sắc lại có tính tương sinh, tương khắc. Đây cũng là những nguyên tắc giúp chọn được những màu phù hợp trong nội thất, đặc biệt là phòng ngủ.

mau-sac-phong-ngu

Người thuộc Mộc, phòng ngủ nên màu xanh (lục nhạt) là chính vì màu xanh là bản sắc của Mộc. Còn trong trường hợp gia chủ mệnh Hỏa, phòng ngủ nên màu hồng (màu hồng nhạt) là chính, vì màu hồng là bản Sắc của Hỏa. Tương tự với các mệnh khác như Thổ, Kim, Thủy.

Ngoài ra, Ngũ hành có tính tương sinh, tương khắc, giúp bạn chọn được những màu tốt và tránh những màu xấu. Tính tương sinh của Ngũ hành là Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Vì thế, nhũng ngưòi thuộc hành Mộc, ngoài việc có thể chọn màu mộc (xanh) để trang trí phòng ngủ, còn có thể dùng màu đen, vì Thủy sinh Mộc.

Hiện tượng tương khắc của Ngũ hành theo nguyên tắc Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Vì thế người thuộc mệnh Mộc kiêng dùng màu trắng, vì trắng là màu của Kim, mà Kim lại khắc Mộc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem màu sắc của phòng ngủ –

Phật độ mệnh cho tuổi của bạn là ai

Mỗi Phật bản mệnh đều có rất nhiều công đức đặc thù khác nhau, tu hành theo Phật bản mệnh có thể đạt được những công đức tương ứng.
Phật độ mệnh cho tuổi của bạn là ai

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nguồn gốc Phật độ mệnh được nhắc trong sách “Pháp uyển châu lâm”, có viết: “Bên ngoài cõi Diêm Phù Đề, bên trong bốn biển, có mười hai loài thú, được Bồ tát giáo hóa. Khi cõi người mới sinh ra, Bồ tát dặn những loài thú này bảo vệ, nhận được lợi ích, nên 12 con giáp cũng dựa vào đó để đặt ra…”.

Phật độ mệnh được phân định theo tuổi, tức là căn cứ vào năm sinh của bạn để phân định, không thay đổi theo năm. Bất kỳ vị Phật nào độ mệnh, theo quan niệm dân gian, đều mang lại điều tốt lành cho bạn, ngầm bảo hộ bạn trong cuộc sống. Biết Phật nào độ mệnh cho mình sẽ tốt hơn khi vãn cảnh chùa lễ Phật, hướng về vị đó kêu cầu, lễ tạ. Phật độ không phân biệt sang hèn, vì thế vị nào độ mệnh cho mình cũng tốt. Nếu muốn cầu bình an, may mắn, hạnh phúc, bạn nên đeo vòng hoặc dây có hình tượng Phật sẽ phù hộ cho con giáp của mình.

Phật bản mệnh được phân định theo tuổi (con giáp) như sau:

Người sinh năm Tý sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Quan âm nghìn tay – vị thần tượng trưng cho sự nhân ái, từ bi.

Ngài sẽ giúp bạn vượt qua được mọi khó khăn trong cuộc sống, có đủ ý chí và niềm tin để chiến thắng mọi bệnh tật. Khi vận may của bạn tìm đến, Ngài sẽ góp sức để vận thế của bạn thêm huy hoàng, xán lạn. Ngược lại, nếu bạn đang gặp vận rủi, Ngài sẽ giúp bạn hóa giải mọi khó khăn, vượt qua các trở ngại một cách thuận lợi để có cuộc sống bình an, hạnh phúc và may mắn. Bạn nên ít đi đường vòng, luôn tâm niệm và làm theo những lời Phật dạy để tránh gặp phải những trở ngại lớn, khiến bạn phải ân hận đến suốt đời.

Người sinh năm Sửu, Dần sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Hư Không Tạng Bồ tát còn gọi là Khố tàng Kim Cương – vị thần tượng trưng cho sự thành thực và giàu có.

Ngài sẽ giúp bạn vượt qua mọi khó khăn, hóa giải mọi nguy cơ mà bạn gặp phải trong cuộc sống, nhất là những nguy cơ liên quan đến chuyện phá sản hoặc hao tài tốn của. Ngoài ra, Ngài cũng giúp cho đường tài vận của bạn thêm hanh thông, thuận lợi, có thể làm ra và tích lũy được nhiều của cải; đi đến đâu cũng được quý nhân phù trợ, tránh xa những kẻ tiểu nhân hãm hại, cuộc đời luôn được bình an, hạnh phúc.

Người sinh năm Mão sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Văn Thù Bồ tát – tượng trưng cho trí tuệ lớn.
Ngài sẽ giúp trí tuệ của bạn sẽ không ngừng được khai phá, sự giác ngộ được nâng cao. Đặc biệt, với sự giúp sức của Ngài, trẻ sinh năm Mão sẽ luôn đạt được thành tích tốt trong học tập; những người đang là công chức sẽ nhận được rất nhiều lộc; thương gia tuổi Mão sẽ luôn gặp may mắn, có nhiều tiền của, phúc lộc. Bên cạnh đó, Ngài còn giúp người sinh năm Mão phát huy được năng lực sáng tạo và sức mạnh tiềm tàng trong con người họ để vượt lên mọi đối thủ trong tất cả các cuộc cạnh tranh, xây dựng được một sự nghiệp huy hoàng, bền vững.

Người sinh năm Thìn, Tỵ sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Phổ Hiền Bồ tát – vị thần tượng trưng cho lễ nghi, sự đức độ và tự nguyện.

Ngài sẽ giúp bạn thực hiện được những nguyện vọng lớn lao nhất của mình, thoát khỏi cạm bẫy của những kẻ tiểu nhân, gia tăng thêm uy quyền lãnh đạo, vượt lên mọi trở ngại để có cuộc sống hạnh phúc, mỹ mãn.

Người sinh năm Ngọ sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Đại Thế chí Bồ tát – vị thần mang lại ánh sáng của trí tuệ.

Ngài sẽ giúp bạn luôn thuận buồm xuôi gió, thành công trong sự nghiệp. Phật quang phổ chiếu – ánh sáng của nhà phật chiếu đến khắp nơi sẽ giúp bạn được “gặp hung hóa cát”, luôn cát tường, may mắn như ý nguyện, đi trên những con đường sáng, phát huy được hết trí tuệ của mình để đạt đến một thế giới lý tưởng.

Người sinh năm Mùi, Thân sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Như Lai đại nhật – vị thần tượng trưng cho ánh sáng và trí tuệ.

Ngài sẽ mang lại cho bạn sức mạnh của ánh sáng và tri thức, giúp bạn vượt qua mọi khổ đau, bi ai trong cuộc sống, nắm bắt được những nét tinh hoa của vạn vật, dũng cảm tiến lên phía trước để đến với chân trời của ánh sáng và niềm vui.

Người sinh năm Dậu sẽ nhận được sự phù hộ, độ trì của Phật Bất động Minh vương – tượng trưng cho lý tính.

Ngài sẽ giúp bạn luôn phân biệt được mọi sự đúng sai trên đường đời, có thể nắm bắt được mọi cơ hội, tận dụng tốt trí tuệ của mình, thích ứng tốt với mọi hoàn cảnh để xây dựng được một sự nghiệp thành công. Bên cạnh đó, gia đình bạn cũng luôn có hạnh phúc, may mắn, cát tường, như ý.

Người sinh năm Tuất, Hợi sẽ được phù hộ bởi Phật A di đà – tượng trưng của sáng suốt vô lượng, thọ mệnh vô lượng, trí tuệ thông thiên địa.

Ngài sẽ giúp bạn giải trừ mọi phiền não, nhọc nhằn vất vả, có khả năng sáng tạo, đem lại lợi ích cho cả gia đình và xã hội, góp công xây dựng sự nghiệp nhà Phật, từ bi hỉ xả cho chúng sinh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phật độ mệnh cho tuổi của bạn là ai

Cách xem tướng các ngón tay trong bàn tay –

Cách xem tướng. Ngón cái là ngón quyết định ý chí, lý chí và chiều hướng ảnh hưởng của bàn tay. Đốt một dài: Ích kỷ, Ngón cái mỏng: Thông minh, … Cách xem tướng ngón Cái Ngón cái cong về phía sau (nếu cong quá): Lười, hay tìm vui ở mọi nơi. Nữ giới k
Cách xem tướng các ngón tay trong bàn tay –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xem tướng các ngón tay trong bàn tay –

“Phát sốt” với tiền lì xì cực độc dành riêng cho năm Bính Thân

Hàng loạt những tờ tiền lì xì độc đáo với hình con Khỉ, linh vật phong thủy hay số serie tứ quý 8... đã được bung ra thị trường nhằm phục
“Phát sốt” với tiền lì xì cực độc dành riêng cho năm Bính Thân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– vụ tết Bính Thân.


Bộ tiền giấy lì xì có tên "Long phụng sum vầy", mang ý nghĩa phong thủy về sự quây quần, đoàn tụ, hạnh phúc sum vầy và phúc lộc song toàn. Đây là tờ tiền 5 Đồng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, được in vào năm 1955.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh
 
Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 2
 
Một loại tiền giấy khác cũng có tên "Long phụng sum vầy", mang ý nghĩa về sự đầm ấm và no đủ.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 11
 
Bộ tiền Tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng tượng trưng cho sự quyền lực, may mắn, sức khỏe, sắc đẹp và sự vĩnh cửu.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 4
 
Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 5
 
Dòng tiền USD seri tứ quý 6, 8, 9 cũng được săn lùng ở khắp nơi, mang ý nghĩa về sự may mắn và phát lộc.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 6
 
Tờ 1 USD Bính Thân với số seri tứ quý 8 và hình ảnh con khỉ ôm trái đào tiên mang ý nghĩa may mắn, trường thọ. Tờ 2 USD hình con khỉ vàng cũng mang ý nghĩa biểu trưng tương tự. Ngoài ra, còn có tờ 2 USD in hình hoa sen Việt Nam và hình ảnh hồ Gươm rất độc đáo.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 7
 
Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 8
 
Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 9
 
Những tờ tiền của Cộng Hòa Maldives mang tên "Tiền thuận buồm xuôi gió", dùng để lì xì cho người thân, bạn bè kèm theo lời chúc một năm thuận lợi, tấn tài tấn lộc.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 10
 
Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 11
 
Ngoài dòng tiền giấy, tiền xu Úc mạ vàng hoặc mạ bạc in hình con khỉ kèm theo hộp nhung cũng khá độc đáo, dùng để mừng tuổi đầu xuân dành riêng cho Tết của người châu Á.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 12
 
Tiền 5000 Costa Rica hình con khỉ tuyệt đẹp, mang ý nghĩa về sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 13
 
Bộ tiền 12 con giáp độc lạ của Numismas cũng hút sự quan tâm của rất nhiều người. Mọi người mua vừa để lì xì đầu năm, kèm theo những lời chúc về sự thịnh vượng, phát tài phát lộc.

Phat sot voi tien li xi cuc doc danh rieng cho Tet Binh Than hinh anh 14

An Khánh

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: “Phát sốt” với tiền lì xì cực độc dành riêng cho năm Bính Thân

Chọn hướng và giờ xuất hành để đón năm mới nhiều tài lộc

Hướng và giờ xuất hành ngày Tết được người Việt rất coi trọng trong ngày đầu năm mới.
Chọn hướng và giờ xuất hành để đón năm mới nhiều tài lộc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dân gian ta có câu: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Cho nên vào dịp đầu năm mới, trước khi xuất hành, người Việt thường rất cầu kì trong việc chọn ngày,giờ, phương hướng phù hợp để mong gặp được các quý thần.


Xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, Tài thần, Hỉ thần. Thậm chí, đối với người đang đi tìm “một nửa”, hướng xuất hành đầu năm cũng được coi là giúp họ cầu duyên như ý. Tại miền Bắc, nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phúc.

Chon huong va gio xuat hanh de don nam moi nhieu tai loc hinh anh
Ảnh minh họa
 
Mọi người thường chọn giờ Hoàng đạo vào lúc sớm để xuất hành. Có hai hướng để xuất hành là hướng Tài Thần và Hỷ Thần. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thích xuất hành về hướng Hỷ Thần, là vị Thần mang lại nhiều may mắn và niềm vui. Với những ai chú trọng đến tài lộc sẽ thường chọn hướng Tài Thần.

Cùng với việc chọn ngày giờ, phương hướng phù hợp để xuất hành, người Việt cũng có quan niệm rằng mùng 5 là ngày nguyệt kỵ, không thích hợp cho xuất hành. Chẳng vậy mà ca dao Việt Nam có câu: "Mồng năm, mười bốn, hăm ba. Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn".

Người Việt Nam cũng thường tin rằng đầu năm bước chân ra khỏi nhà, nếu gặp nam giới thì sẽ được may mắn cả năm, đầu xuôi đuôi lọt, còn gặp phụ nữ thì sẽ “nặng vía”, xui xẻo, làm mọi việc sẽ gặp nhiều trắc trở.

Nếu nhà ai có tang thì không nên đi xông nhà hay đi mừng tuổi người khác để tránh cho người khác không bị xui như mình. Cũng như vậy, phụ nữ có thai thường kiêng không đi đâu trong những ngày đầu năm mới vì tục ngữ có câu "sinh dữ, tử lành".

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn hướng và giờ xuất hành để đón năm mới nhiều tài lộc

Chị em mê mẩn với đèn xông tinh dầu - phụ kiện trang trí nhà vừa đẹp vừa thơm

Đèn xông tinh dầu là sự kết hợp hoàn hảo giữa đèn chiếu sáng và máy xông tinh dầu, mang đến cho không gian nhỏ sự ấm áp, hương thơm dễ chịu và là phụ kiện trang trí bắt mắt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đèn xông tinh dầu đang là sản phẩm được các chị em phụ nữ tìm kiếm để sử dụng trong ngôi nhà nhỏ của mình. Loại đèn này không chỉ mang lại hương thơm, cảm giác ấm áp cho mùa đông mà còn trở thành một phụ kiện trang trí cho không gian sống thêm đẹp và ấn tượng.
  Đèn xông tinh dầu - sự kết hợp hoàn hảo giữa đèn chiếu sáng và máy xông tinh dầu. 
Đèn xông tinh dầu là sự kết hợp hoàn hảo giữa đèn chiếu sáng và máy xông tinh dầu. Bạn có thể đặt nó ở bất cứ đâu trong ngôi nhà, đặc biệt là phòng ngủ, phòng làm việc,... Ánh sáng dịu nhẹ, mùi hương thoang thoảng giúp thanh lọc không khí, xua đuổi côn trùng và đặc biệt an toàn với sức khỏe người sử dụng. So với lọ nước xịt phòng quen thuộc thì lựa chọn này đem lại cảm giác tự nhiên, dễ chịu hơn rất nhiều. 
 
đẻn 3
 
Loại đèn này không chỉ mang lại hương thơm, cảm giác ấm áp cho mùa đông...     ... mà còn trở thành một phụ kiện trang trí cho không gian sống thêm đẹp và ấn tượng.
Đèn xông tinh dầu có cấu tạo gồm hai phần: phần bên dưới là vị trí của hệ thống chiếu sáng, phần bên trên là nơi nhỏ các giọt tinh dầu (khoảng 5-7 giọt vào nước ấm). Về chất liệu, đèn xông tinh dầu có thể chiều lòng cả những chị em khó tính nhất bởi độ phong phú của mình. Người yêu nét mộc mạc giản dị có thể chọn mẫu đèn bằng gốm sứ hoặc gỗ (phần đĩa trên bằng thủy tinh), người thích sự lấp lánh sang trọng sẽ chọn cho mình loại bằng pha lê nhiều màu hay thủy tinh đẹp mắt, phong cách vintage với đèn bằng kim loại đồng, sắt. Hoa văn của đèn có thể được vẽ, in chìm, khắc nổi,…với các hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, chữ thư pháp, hoa lá, chim muông từ đơn giản đến cầu kỳ, nổi bật.
    Đèn xông tinh dầu được tạo nên từ nhiều vật liệu như gốm sứ, gỗ, thủy tinh, pha lê...
 Với nhiều kiểu dáng từ đơn giản, ngộ nghĩnh đến sang trọng, quý phái.
Bên cạnh chức năng của một chiếc đèn chiếu sáng, sưởi ấm, đèn xông tinh dầu còn là điểm nhấn thu hút cho căn phòng nhỏ của bạn. So với các loại đèn thông thường, mẫu sản phẩm này đa năng và ấn tượng hơn rất nhiều. Ngay cả khi không sử dụng tinh dầu, bạn cũng có thể sắp xếp chúng trang trí nơi phòng khách, hành lang hay các bậc cầu thang cho không gian huyền ảo và lấp lánh.        
đèn 1
Đèn xông tinh dầu mang lại sự ấm áp, hương thơm và vẻ đẹp huyền ảo cho không gian.

Hiện nay, trên thị trường có hai loại chính là: loại xông tinh dầu nến và loại xông tinh dầu điện. Loại thứ nhất khá đơn giản, chi phí rẻ, nến tạo lửa được sử dụng là mẫu tealight, không mùi, hình tròn, nhiều màu. Tuy nhiên, loại thứ hai lại được ưa chuộng hơn bởi sự đa dạng về mẫu mã cũng như tính an toàn và thuận tiện. Với bóng đèn, bạn sẽ không lo lắng về vấn đề lửa khi nhà có trẻ nhỏ, nó vẫn hoạt động an toàn ngay cả khi bạn đi vắng.  Xông tinh dầu nến có cấu tạo đơn giản và cách sử dụng dễ dàng.  Bạn có thể chọn cho mình mẫu xông tinh dầu bằng nến tealight thông dụng.  đen 2
Hoặc sử dụng mẫu đèn xông tinh dầu cho cảm giác sang trọng và an toàn.

Tinh dầu có rất nhiều loại để cho bạn lựa chọn theo sở thích. Chẳng hạn như một số loại đang được ưa chuộng hiện nay như: Tinh dầu chanh sảng khoái, tinh dầu bạc hà, tinh dầu khuynh diệp giúp giảm đau đầu, tinh dầu cam, tinh dầu bưởi hương nhẹ nhàng, tinh dầu hoa hồng, hoa ly thơm ngát, tinh dầu oải hương lãng mạn, tinh dầu quế, gừng, sả giúp xua tan mệt mỏi, căng thẳng, khử trùng không khí hiệu quả, vân vân… Các loại tinh dầu này được đóng thành từng chai nhỏ, với các dung tích 10ml, 20ml, 30ml, 50ml và 100ml, giá thành dao động từ 70.000 - 350.000 đồng/ lọ.  Tinh dầu giúp chủ nhân thư thái, xua tan mọi căng thẳng cho cảm giác dễ chịu.

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều nhà sản xuất cũng như nhập khẩu đèn xông tinh dầu. Nổi bật phải kể đến các mặt hàng thủ công của làng nghề gốm sứ Bát Tràng, với mẫu mã tinh tế, đường nét sắc sảo. Bên cạnh hàng Việt Nam có có các cửa hàng nhập khẩu đèn Đài Loan, Trung Quốc với kiểu dáng sang trọng. Bạn cần lựa chọn các hãng uy tín cả về đèn xông lẫn tinh dầu để đảm bảo an toàn sức khỏe, tránh mua tinh dầu trôi nổi không rõ nguồn gốc xuất xứ. Những mẫu đèn xông tinh dầu có giá từ vài trăm ngàn đến hàng chục triệu đồng tùy vào kiểu dáng, kích thước, chất liệu và giá trị thẩm mỹ. 

Bạn có thể mua đèn xông tinh dầu tại các cửa hàng chuyên kinh doanh nội thất, phụ kiện trang trí nhà ở hoặc tham khảo trên các trang web bán hàng online uy tín trong và ngoài nước.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chị em mê mẩn với đèn xông tinh dầu - phụ kiện trang trí nhà vừa đẹp vừa thơm

Tài lộc của người tuổi Tỵ theo từng tháng - P1

Tài lộc của người tuổi Tỵ trong tháng Ngọ có chiều hướng đi lên. Mọi khó khăn của tháng trước dần mất đi, thu nhập có phần tăng lên.
Tài lộc của người tuổi Tỵ theo từng tháng - P1

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tháng 1

Tài lộc của người tuổi Tỵ tháng Dần không được tốt. Họ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách trong công việc và cuộc sống. Điều quan trọng đối với họ lúc này là cần bình tĩnh và thận trọng, nỗ lực vượt qua giai đoạn sóng gió. Cuối tháng, tài lộc có sự chuyển biến tốt lên.

Tháng 2

Tháng Mão, người tuổi Tỵ có sao tốt chiếu mệnh nên tài lộc khả quan, công việc tiến triển thuận lợi. Hơn nữa, người này còn có quý nhân phù trợ, nếu biết nắm bắt thời cơ sẽ đạt thành công lớn. Vào tháng này, người tuổi Tỵ nên có thành ý tốt với mọi người, mở rộng các mối quan hệ kinh doanh, có thêm dũng khí để vững bước trên con đường sự nghiệp. Nguồn thu chính và phụ của người này trong tháng rất tốt.

Tháng 3

Vận thế của người tuổi Tỵ trong tháng Thìn có chiều hướng đi xuống so với tháng trước. Tuy nhiên, họ vẫn thu được thành công trong những hợp tác kinh doanh nhỏ lẻ. Nếu biết nắm bắt tình hình, khôn khéo xử trí mọi việc, người tuổi Tỵ vẫn có những nguồn thu ngoài dự kiến. Để tránh bỏ lỡ thời cơ, người này nên đầu tư vào những dự án mình đã nắm vững, tăng cường mở rộng mối quan hệ với cấp trên nhằm tạo lập vị thế vững chắc hơn.

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Tháng 4

Vận thế của người tuổi Tỵ trong tháng Tỵ gặp khá nhiều trắc trở. Do có sao dữ chiếu mệnh nên họ khó có thể vươn lên, mặc dù đã cố gắng hết sức. Tháng này, họ không nên đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào bởi sẽ không thu lại được lợi nhuận. Họ cũng cần cẩn trọng trong vấn đề tài chính để tránh bị "rò rỉ" nguồn thu, cân bằng lại chi tiêu trong gia đình phòng khi khó khăn.

Tháng 5

Tài lộc trong tháng Ngọ của người tuổi Tỵ có chiều hướng đi lên. Mọi khó khăn của tháng trước dần mất đi, thu nhập có phần tăng lên. Tháng này, người tuổi Tỵ phải biết lượng sức mình, tránh đảm nhận những việc vượt quá khả năng kẻo mang thêm gánh nặng vào bản thân. Mặc dù tài lộc tháng này tốt nhưng người tuổi Tỵ cần cảnh giác trước mọi cám dỗ, phải biết dừng lại đúng lúc, đề phòng bất chắc.

Tháng 6

Tháng Mùi, người tuổi Tỵ có sao tốt chiếu mệnh nên có nhiều tài lộc, sự nghiệp phát triển mạnh. Họ thu được nhiều lợi nhuận trong kinh doanh, nguồn thu chính và bên ngoài tăng gấp nhiều lần so với những tháng trước. Vào thời gian này, tuổi Tỵ nên vững vàng tiến bước, dẫn đầu trào lưu, thể hiện hết khả năng và thế mạnh của mình để đạt được nhiều thành công hơn nữa. Họ cũng không nên lãng phí trong chi tiêu, cần tích trữ tiền của để phòng những lúc khó khăn.

(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tài lộc của người tuổi Tỵ theo từng tháng - P1

Xem tử vi trọn đời của người sinh ngày Đinh Mùi

Tử vi của người sinh ngày Đinh Mùi có điều gì đặc biệt? Hãy cùng ## cùng tìm hiểu.
Xem tử vi trọn đời của người sinh ngày Đinh Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi của người sinh ngày Đinh Mùi có điều gì đặc biệt? Hãy cùng ## tìm hiểu.

 
Xem tu vi tron doi cua nguoi sinh ngay Dinh Mui hinh anh
 
Xem tử vi thấy trụ ngày Đinh Mùi lấy Đinh Hỏa làm chủ, hợp với tính chất của Mùi Thổ, Ất Mộc, Kỷ Thổ, Đinh Hỏa, tính cách trọng lễ nghĩa, giữ chữ tín, được Hồng Diệm tinh chiếu mệnh nên có tính phong lưu. Chủ ngày Đinh Mùi tương hợp với chủ ngày Nhâm Ngọ hoặc thuộc Thân Kim.   Tử vi của người sinh ngày Đinh Mùi tiền vận khó khăn, từ trung vận bắt đầu ổn định và phát đạt. Nghề nghiệp phù hợp nhất là công an, giáo viên, phân tích tài chính, pháp luật. Người sinh ngày Đinh Mùi tài giỏi nhanh nhạy, làm việc nỗ lực hết mình, nhưng cần chú ý tránh kiêu căng, nếu không sẽ khó kết bạn với đồng nghiệp. 
3 “nàng giáp” giúp chồng phát tài dễ như trở bàn tay
Người ta thường nói “Phía sau mỗi người đàn ông thành đạt là một người phụ nữ giỏi giang”. Điều này khá đúng với những cô nàng dưới đây. Họ không những đảm
Bên cạnh đó, người sinh ngày Đinh Mùi nên thận trọng, tránh để chuyện tình cảm ảnh hưởng đến bản thân, đau khổ vì tình, vì bạn trai/bạn gái mà tiêu tốn nhiều tài sản. Khi có sự cách trở về mặt địa lý giữa hai người, hôn nhân và duyên phận sẽ có sự thay đổi, hợp ly khó định.    Nữ mệnh sinh ngày Đinh Mùi có quan niệm rạch ròi về chuyện tiền bạc, nhân duyên tốt, là mẹ hiền vợ đảm, tuy nhiên cần lưu ý các mối quan hệ bên ngoài của chồng, đặc biệt phòng điềm xấu cô quả từ trung vận do chồng có thể gặp tai nạn. Nam mệnh sinh ngày Đinh Mùi hay thay đổi công việc, gia đình hòa hợp, thuận về đường con cái.   Mệnh chủ của người Đinh Mùi tính cách nóng vội, hay nổi giận. Nếu sinh từ tháng Ngọ đến tháng Mùi, là ngày hè nóng bức thì tâm hồn tự do, có chút hống hách tự cao, nghiêm trọng hơn thì nghĩ gì nói nấy, phóng túng không kiêng sợ, thuộc tuýp người dễ bị kích động, thích chạy theo trào lưu. Người sinh vào thu đông, nhận được Mùi Thổ có tác dụng hộ chủ, là người thật thà, có năng lực, cần cù chịu khó.   Người sinh ngày Đinh Mùi thích hợp kết hôn với những người sinh các ngày: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân, Ất Sửu, Ất Hợi, Ất Dậu, Bính Dần, Bính Thìn, Bính Tý, Đinh Sửu, Đinh Hợi, Đinh Mão, Mậu Ngọ, Mậu Thìn, Mậu Tý, Mậu Dần, Kỷ Mão, Kỷ Hợi, Kỷ Dậu, Kỷ Tỵ, Canh Thìn, Canh Tuất, Canh Ngọ, Tân Tỵ, Tân Sửu, Tân Mùi, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn, Nhâm Thân, Quý Tỵ, Quý Sửu, Quý Dậu.  
► Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn

Chi Nguyễn (Theo Azg168)

Xem thêm Clip Ứng dụng phong thủy cho ngôi nhà thêm phúc


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi trọn đời của người sinh ngày Đinh Mùi

TẢN MẠN NHỮNG ĐIỀU GHI CHÉP VỀ VUA LÊ THÁI TỔ

Sự tích phát vinh hiển, đế vương nhờ địa huyệt phong thủy của Vua Thái tổ triều Hậu Lê, cho thấy ngoài nhân mệnh, sự nỗ lực cá nhân, thời cuộc thì phong thủy rất quan trọng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

TẢN MẠN NHỮNG ĐIỀU GHI CHÉP VỀ LÊ THÁI TỔ

Những ghi chép về vua Lê Thái Tổ

Xưa nay, mỗi một vị đế vương lên ngôi lập ra triều đại mới thường đi liền với những câu chuyện ly kỳ đầy màu sắc huyền ảo. Những câu chuyện trên có thật, hoặc cũng có thể được thêu dệt, thêm bớt, vì mục đích chính trị, khẳng định ông vua đó là chân mệnh thiên tử.

Thế kỷ XV của nước ta là một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng cũng đầy hào quang lấp lánh. Bởi vì thời kỳ đó, nhân dân ta chịu ách áp bức đô hộ của triều Minh – Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo tài tình của người anh hùng dân tộc, vua Thái Tổ, Lê Lợi, cùng với tinh thần xả thân vì nền độc lập dân tộc của nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân ta đã đập tan ách thống trị của giặc Minh tàn bạo. Thật đúng là:

“Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc”

             Bình Ngô Đại cáo - Nguyễn Trãi.

Cũng như bao ông vua lập quốc khác trong lịch sử, những câu chuyện nhuốm đầy màu sắc tâm linh huyền ảo về xuất thân, sự nghiệp của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi vẫn thường được lưu truyền, như thanh gương thần, lưỡi khắc chữ thuận thiên, chuôi gươm nạm ngọc, có sức mạnh vô song, hay câu chuyện vợ vua nhặt được quả ấn báu, rồi chuyện trả gươm trên hồ Gươm, chuyện vua bị truy đuổi mà được Hồ Ly phu nhân cứu cho thoát nạn…

Trong tất cả những câu chuyện trên, đều khẳng định vua có chân mệnh đế vương, là người có sứ mệnh cao cả thiên liêng cứu vớt sinh linh ra khỏi bùn lầy tăm tối của nô lệ, áp bức, dã man.

Sách lịch sử ghi lại gốc gác xuất thân của Vua như sau: Tổ tiên bốn đời tức là tằng tổ của Vua tên húy là Hối, họ Lê. Một ngày ông Hối đi chơi qua vùng đất Lam Sơn thấy khu đất này thủy tú, sơn kỳ, cỏ cây hiền hòa, cây cối tốt tươi, chim muông quy tụ rất đông. Ông Hối cho rằng “ đất lành, chim đậu”, nên dọn nhà đến khu đất Lam Sơn này ở.

Kể từ khi chuyển nhà, cuộc sống của ông ngày một giàu có, ruộng nương nhiều, gia súc đông, lương thực dồi dào, bạc vàng của cải tích lũy rồi trở nên giàu có thịnh vượng nhất vùng. Không chỉ thịnh vượng về của cải con cháu ông càng ngày càng đông đúc, quy tụ, nhân đinh trong họ xuất hiện nhiều bậc hiền tài, kiệt xuất.

Ông Hối cũng là người nhân ái, thường xuyên cứu giúp những người khó khăn hoạn nạn trong vùng, đối với gia đinh, nô bộc ông cũng đối xử rất tử tế, nên nhân dân trong vùng kẻ trên người dưới, nam phụ lão ấu đều hết sức kính trọng ông.

Từ đó trở đi ông làm nhiệm vụ coi xét một vùng. Đến đời của Vua thì vẫn nối tiếp chức vụ ấy. Vua lớn lên làm chức phụ đạo sách Khả Lam, bọn tướng tá nhà Minh muốn ông làm quan nhưng ông nghĩ: “Làm kẻ trượng phu phải trừ nạn lập công, sao lại chịu làm tôi tớ cho người ta cưỡng bức”. Từ chối làm quan, ông cùng họ hàng thân thuộc và bạn bè siêng năng việc cầy cuốc, rèn luyện thao lược binh pháp, nung nấu hùng tâm tráng trí.

Bấy giờ Vua sai người cày ruộng ở đất Chiêu Nghi, người tá điền này gặp một nhà sư. Nhà sư than rằng: - Đất quý như thế này mà chẳng có ai để trao cho !

Người tá điền lấy làm lạ vội chạy về báo lại với Vua. Vua vội chạy tới, sau khi thi lễ. Hòa thượng đó mới nói:

  • Bần đạo từ đất Ai Lao đến đây, họ Trịnh, đạo hiệu Bạch Thạch. Thấy ngài dung mạo khác thường, ắt làm nên nghiệp cả.

Vua quỳ xuống hỏi  rằng:

  • Mạch đất trong nước sang hèn ra sao, xin thầy chỉ rõ cho !.

Vị hòa thượng nói:

  • Trong động Chiêu Nghi, xứ Phật Hoàng có một thửa đất, rộng chừng nửa sào, có hình như quả quốc ấn. Bên tả có Thái Thất là núi Chí Linh ở mường Giao Lão. Trong núi ấy có gò Tiên Bạn và gò Chiêu Sơn ở xã An Khoái là án. Phía trước có nước Long Sơn. Phía trong có nước Long Hồ, hình xoáy như ruột ốc. Bên hữu có nước hồ bao quanh phía ngoài chân núi tựa như chuỗi hạt.  

    Đất ấy, đàn ông thì quý không thể nói được, nhưng đàn bà thì hẳn là sẽ phải thất tiết. Tôi e rằng con cháu ngài về sau nó không ở cùng với nhau. Ngôi bấu tất có khi trung hưng. Mệnh trời có thể biết trước được (Bây giờ) nếu có được thầy giỏi, đem hài cốt đi cải táng thì vẫn có thể phấn phát được dăm trăm năm.

Vua lậy tạ rồi chọn ngày, đưa hài cốt của phụ thân mình tới đó táng. Sau này, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành được thắng lợi, lên ngôi vua. Thật ứng với Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa. Sau này, họ Mạc cướp ngôi vua Lê, gặp được đám trung thần triều Lê là Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm mới trung hưng được cơ đồ.

Thời kỳ còn chiến tranh với giặc Minh, có lần bọn giặc đào lấy hài cốt của thân phụ ngài để ép Vua xuất hiện. Tướng tá của Vua lén giành lại được, bí mật táng lại chỗ cũ.

Xét trên lá Tử vi của Ngài thì cung Phúc đức có bộ Tướng quân, Quốc ấn, Thiên mã…Lại kèm Địa không, Địa kiếp đắc, ngộ Tuần, có lẽ ứng đúng vào huyệt đất ở động Chiêu Nghi, sản sinh ra anh hùng, có võ nghiệp lẫy lừng, đời đời vinh hiển.

Nay nghiệm ra và sâu chuỗi móc nối sự việc lại mới thấy chuyện trên đây là có cơ sở, chứ không phải huyễn hoặc, hoang đường.

Xem thêm tử vi trọn đời tại Phong thủy số.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: TẢN MẠN NHỮNG ĐIỀU GHI CHÉP VỀ VUA LÊ THÁI TỔ

Những con giáp có tình yêu dễ bị ‘đứt gánh’ –

Vị trí quán quân trong “lĩnh vực” này thuộc về tuổi Thìn. Theo sát nút là tuổi Tuất, tuổi Sửu, tuổi Ngọ và tuổi Dần. Quán quân: Tuổi Thìn Nguyên nhân “đứt gánh giữa đường” trong tình yêu: Quá chú trọng đến bản thân mà không quan tâm đến cảm giác của

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vị trí quán quân trong “lĩnh vực” này thuộc về tuổi Thìn. Theo sát nút là tuổi Tuất, tuổi Sửu, tuổi Ngọ và tuổi Dần.

Quán quân: Tuổi Thìn

Nguyên nhân “đứt gánh giữa đường” trong tình yêu: Quá chú trọng đến bản thân mà không quan tâm đến cảm giác của đối phương.

Bản tính trời sinh của người tuổi Thìn là tự tin, thậm chí có đôi chút tự cao tự đại, dễ gây bất hòa với mọi người. Hơn thế họ còn khá nóng tính, không kiên trì và nhưng lại thích nắm quyền lực trong tay.

thin-6602-1399355378

Trong tình yêu, những tính cách này của người tuổi Thìn sẽ gây ra không ít phiền toái chẳng hạn như tranh cãi, gây mâu thuẫn hoặc gò ép đối phương phải nghe theo ý kiến của mình. Nếu không sửa đổi bản tính, tuổi Thìn chỉ có thể yêu nửa vời hoặc bị “đứt gánh giữa đường”.

Á quân: Tuổi Tuất

Nguyên nhân chủ yếu: Quá coi trọng sự nghiệp mà dành ít thời gian quan tâm tới nửa kia.

Tính cách kiên trì của người tuổi này sẽ khiến họ thực hiện tốt công việc được giao mà không có chuyện bỏ dở giữa chừng. Với họ, công việc là tất cả những gì tốt đẹp nhất trên cuộc đời này, nếu không làm việc, họ sẽ không thấy mình được sống.

tuat-1462-1399355379

Vì quá coi trọng sự nghiệp nên người tuổi Tuất có thể hy sinh cả tình yêu của mình nếu như phải chọn một trong hai điều này. Điều này khiến đối phương cảm thấy buồn tủi vì không dành được sự quan tâm nhiệt tình từ người yêu của mình.

No3: Tuổi Sửu

Nguyên nhân chủ yếu: Tính cách bảo thủ, không biết cách tạo sự lãng mạn.

Tính cách cố chấp và có phần bảo thủ, không linh hoạt của người tuổi Sửu chính là rào cản khiến họ khó có được một tình yêu lãng mạn, tuyệt vời.

suu-5054-1399355379

Hơn thế, lòng tự trọng của người tuổi Sửu quá cao nên sẽ không có chuyện họ chủ động tỏ tình hay thổ lộ nỗi lòng, sự quan tâm của mình cho đối phương biết. Họ cứ âm thầm đợi chờ, không chủ động tạo sự lãng mạn nào cả, chờ cho đến khi đối phương tự gật đầu đồng ý là coi như xong. Thái độ nửa vời này của người tuổi Sửu sẽ khiến đối phương cảm thấy khó chịu và ức chế.

No4: Tuổi Ngọ

Nguyên nhân chủ yếu: Không quan tâm tới vẻ ngoài nên không biết cách làm đẹp.

Người tuổi này thường mong muốn có được cuộc sống bình yên và thoải mái. Tính tình thì cố chấp và không dễ thay đổi bản tính của tuổi Ngọ khiến họ khó tiếp thu những điều mới lạ mà cứ bảo thủ những gì mà mình cho là đúng.

ngo-1831-1399355379

Ngay trong chuyện ăn mặc cũng vậy. Họ cho rằng mặc sao cho thoải mái là được chứ không cần phải câu lệ chuyện xinh đẹp hay phô trương trước mặt người khác. Điều đó khiến họ “mất điểm” trong mắt đối phương. Đó cũng là một trong những lý do chủ yếu khiến mối tình của họ không đi đến tận đích cuối cùng.

No5: Tuổi Dần

Nguyên nhân chủ yếu: Tham vọng và tính chiếm hữu quá cao, khiến đối phương cảm thấy ngột ngạt và khó nhẫn nhịn được.

Vốn ghen tuông vô đối, người tuổi Dần khó mà tin tưởng tuyệt đối vào người khác. Ngoài ra, vì quá yêu và yêu một cách chân thành, cuồng nhiệt đối phương nên tuổi Dần luôn muốn người ấy phải kè kè bên mình hoặc phải biết đích xác “tung tích” của nửa kia đang làm gì và ở đâu.

dan-4359-1399355379

Điều đó khiến đối phương cảm thấy ngột ngạt, khó chịu vì bị gò ép và không tin tưởng. Đôi lúc nửa kia sẽ cảm giác như không thể nhẫn nhịn được nữa mà nghĩ tới chuyện chia tay. Tình duyên của tuổi Dần theo đó mà sẽ bị đặt dấu chấm hết vô cùng bi thương.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp có tình yêu dễ bị ‘đứt gánh’ –

Bốn thứ che tâm

Say đắm lợi danh, rõ ràng là đi ngược với đạo giải thoát. Người tu mà vướng vào lợi danh càng nhiều thì che tâm - tâm trí bị che phủ và u ám càng nặng
Bốn thứ che tâm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tu Phật, dù tại gia hay xuất gia, dù tu theo bất cứ pháp môn nào thì tâm tịnh và trí sáng là mục tiêu quan trọng cần phải đạt được trong đời sống tu hành. Tuy nhiên trong thực tiễn, dù đã hết sức cố gắng nhưng tâm mình thì lúc tịnh lúc không, trí mình thì khi sáng khi tối.

Chúng ta thường quy kết mọi thứ cho cái nghiệp của mình. Thì đúng là tất cả đều do nghiệp, nghiệp từ quá khứ xa cho đến quá khứ gần, nghiệp đang tạo ra trong hiện tại, nghiệp sắp tạo ở tương lai làm cho tâm trí mê mờ. Nhưng cụ thể thì do những nghiệp gì? Thế Tôn dạy, do “tham, sân, si, lợi” che lấp tâm trí của chúng ta.

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Nay mặt trời, mặt trăng có bốn thứ che lấp nặng nề khiến không phóng được ánh sáng. Bốn loại nào? Mây, gió bụi, khói và A-tu-la, khiến mặt trời, mặt trăng bị che không phóng ánh sáng được. Đó là, này Tỳ-kheo, mặt trời, mặt trăng có bốn thứ che đậy, khiến mặt trời, mặt trăng không phóng ánh sáng lớn được. Đây cũng như thế, Tỳ-kheo có bốn kết che đậy tâm người không được cởi mở. Thế nào là bốn? Dục kết che đậy tâm người không được khai mở, sân nhuế, ngu si và lợi dưỡng che đậy tâm người không khai mở được.

Đó là, này Tỳ-kheo, có bốn kết che đậy tâm người không khai mở được. Hãy cầu phương tiện diệt bốn kết này. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm Thanh văn, VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.52)

Trong bốn món kết “tham, sân, si, lợi” che tâm mà Thế Tôn đã dạy, thì ba độc (tham, sân, si) là căn bản phiền não, là bản chất của chúng sanh, sanh ra nơi đời là đã sẵn có trong tâm và bị chúng chi phối nặng nề. Để xua tan sự che phủ ba độc, phải dùng đến ánh sáng tuệ giác của “vô tham, vô sân, vô si”. Nhưng đây không phải là chuyện dễ làm, nhất là đối với hạng người phước mỏng nghiệp dày như chúng ta.

Còn món kết sau cùng, đó là lợi, tuy không phải là căn bản phiền não nhưng cũng rất khó dứt trừ. Dân gian thường nói, thấy lợi thì tối mắt, chính là đã thừa hưởng sâu sắc ý pháp này của Phật. Cũng vì chút lợi danh mà nhắm mắt làm càn, vong ân bội nghĩa, gây ra biết bao đổ vỡ và khổ đau. Để không bị lợi danh che mắt, chúng ta cần thường xuyên giác tỉnh, vận dụng tuệ giác vô thường để quán chiếu lợi danh như huyễn, có đó rồi không đó, nhằm giữ tâm thư thái, nhẹ nhàng.

Phương châm của người học Phật là “duy tuệ thị nghiệp”, phải thành tựu tuệ giác. Sở dĩ chúng ta dụng công tu hành đã lâu mà tuệ giác không hiển lộ chính vì tâm còn bị bụi mờ “tham, sân, si, lợi” che phủ. Khoan nói đến tham sân si, vì chỉ riêng một món “lợi” thôi mà đã gây đảo điên thế sự. Không chỉ người đời, mà ngay cả người tu nếu không khéo cũng rơi vào chướng nạn này. Vậy nên, hãy bắt đầu từ việc dễ nhất, xả bỏ lợi danh để từng bước khai mở tuệ giác, tự tại thong dong.

Say đắm lợi danh, rõ ràng là đi ngược với đạo giải thoát. Người tu mà vướng vào lợi danh càng nhiều thì tâm trí bị che phủ và u ám càng nặng, vì như Thế Tôn đã dạy, “bốn kết che đậy tâm người không khai mở được”. Từ xa xưa, Thế Tôn đã từng tha thiết: “Này các Tỳ-kheo, hãy cầu phương tiện diệt bốn kết này”. Đến tận ngày nay, nhìn vào hiện trạng tu học của bốn chúng đệ tử, lời dạy của Ngài vẫn còn cấp thiết, đồng vọng quanh ta.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bốn thứ che tâm

Tên người và số phận

Sinh ra đời ai cũng được đặt tên để làm giấy khai sinh rồi từ đó làm căn cứ cho hàng loạt giấy tờ khác. Theo bạn thì số phận của mỗi người chúng ta được ràng buộc bởi điều gì, có phải do cái tên cha mẹ đặt không?
Tên người và số phận

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết này đề cập đến những tên người cụ thể trong những sự kiện cụ thể đã được đăng báo trong năm 2012. Vì tên người ở Việt Nam rất dễ bị trùng, ví dụ như Nguyễn Thị Lan chẳng hạn, ở nước ta có cả chục ngàn người mang tên này, nên trước hết, tôi thành thật xin lỗi những độc giả và các bậc tiền nhân có tên trùng với những nhân vật sẽ được nêu sau đây.

Khi đặt tên cho con, đại đa số mỗi cái tên đều mang một ý nghĩa nhất định theo suy nghĩ của các bậc làm cha làm mẹ. Các bậc phụ huynh mong muốn cái tên ấy sẽ giúp đứa bé lớn lên thành đạt, thông minh, độ lượng, có lòng nhân ái, mạnh khỏe, làm điều tốt… Hoặc ngược lại, đứa bé ấy là kết quả của một mối tình ngang trái cho nên nó được đặt tên Hận, ví dụ Ân Hận, Trường Hận… Hoặc vì quá nghèo không có tiền mua điện thoại di động nên người dân tộc thiểu số ở một ngôi làng thuộc miền Trung rủ nhau đặt tên con là Đinh Nokia, Đinh Samsung, Đinh Motorola… Hoặc có một thai phụ nọ không kịp đến bệnh viện đành sinh con trên xe taxi nên đặt tên Rớt cho đứa bé. Cũng có bậc phụ huynh, không hiểu rơi vào tình cảnh như thế nào lại đặt tên con là Xỉn, rất “gần gũi” với Lưu Linh.

Cũng có người tin cái tên sẽ vận với số phận nên tìm cách đổi tên, thậm chí đổi luôn ngày sinh tháng đẻ với mong muốn thay đổi cuộc đời theo chiều hướng khá hơn, hoặc chỉ nhằm tránh sự xui rủi cứ bám miết theo mình. Thế nhưng, sự đời lại không đơn giản một khi có cái tên sáng sủa thì phần số sẽ sáng theo hoặc gặp vận may. Xin đơn cử những trường hợp sau đây để cùng chiêm nghiệm.

Nhân từ và dã thú

Người mang tên Nhân Từ thường có sự khoan dung, độ lượng, bác ái và sẽ không bao giờ làm điều ác, về lý thuyết là vậy. Thế nhưng có một gã 29 tuổi, tên Nguyễn Nhân Từ, nhà ở đường Lê Đức Thọ, P.1, Q.Gò Vấp (TP.HCM) đã thượng cẳng chân hạ cẳng tay với đứa bé mới 3 tuổi tên Nguyễn Hoàng Anh (con riêng của vợ) đến mức phải nhập viện trong tình trạng đa chấn thương. Bác sĩ chẩn đoán bé Hoàng Anh bị chấn thương tinh hoàn hai bên, vỡ gan gây chảy máu ổ bụng. Một đứa bé 3 tuổi thì có biết sân si, thù hằn với ai đâu, sao phải lãnh hậu quả như vậy?

Yêu người và giết người

Đó là trường hợp của một anh chàng 22 tuổi, quê ở Bến Tre, mang một cái tên rất nhân bản: Trần Nguyễn Ái Nhân (ái nhân tức là yêu người). Số là Ái Nhân đến nhà một người bạn ở khu phố 6, P.Phú Khương, TP.Bến Tre nhậu. Trong lúc chén tạc chén thù với các “chiến hữu”, Ái Nhân toàn nói chuyện bạo lực, choảng nhau nên được Trần Đại Phương Tính (quê ở Lâm Đồng) khuyên đừng nói chuyện đó, mất vui. Đó là một lời khuyên có lý. Thế nhưng không biết suy nghĩ thế nào, Ái Nhân chộp con dao gọt trái cây đâm một nhát vào cổ khiến Phương Tính tử vong.

Thái bình và bạo lực

Cũng na ná như trường hợp “yêu người” nói trên, một thanh niên tên Nguyễn Thái Bình, 22 tuổi, quê ở Bình Phước, quen biết và đem lòng yêu thương cô gái Hồ Thị Thu, 19 tuổi cùng quê. Khi Thái Bình ngỏ lời yêu thì bị Thu từ chối. Tức giận và sốc nặng trước sự phũ phàng, Thái Bình mang chai xăng tạt vào người cô Hồ Thị Thu rồi lạnh lùng bật quẹt gas... Kết cục của “mối tình rực lửa”: cô Thu bị thương tật 55%, kẻ si tình dại dột lãnh án 10 năm tù giam về tội giết người.

Võ Đông Sơ và Heineken

Tôi có một đồng nghiệp quê ở Đồng Nai, lần nào cũng vậy, hễ hát karaoke là thế nào anh ta cũng ca bài vọng cổ Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà. Mặc dù không phải dân miền Tây nhưng phải thú thật anh ta hát bài này khá mùi. Theo tuồng tích thì Võ Đông Sơ là một chiến binh xông pha ngoài trận mạc và anh dũng hy sinh ở chốn binh đao, vĩnh biệt tình yêu lý tưởng với nàng Bạch Thu Hà đang mòn mỏi ngóng chờ nơi hậu tuyến. Võ Đông Sơ trong cải lương là nhân vật không có thật, chỉ là hình tượng. Có một Võ Đông Sơ ngoài đời bằng xương bằng thịt, nhưng không phải xông pha ngoài chiến trường mà dính dáng đến… bia bọt.

Trưa 18.5.2012, sau nhiều ngày theo dõi, công an đã bắt quả tang Võ Đông Sơ (41 tuổi, quê ở Long An) đang chất 23 két bia Heineken giả lên xe tải trước nhà không số, đường Nguyễn Văn Thời, xã Quy Đức, H.Bình Chánh, TP.HCM. Theo lời khai của Võ Đông Sơ, anh ta cùng đồng bọn lùng mua chai bia thật và nắp bia Heineken đã qua sử dụng, sau đó lấy 1/3 nước bia Heineken thật trộn với 2/3 bia Sài Gòn xanh để cho ra lò bia chai Heineken giả, mang đi bỏ mối cho các quán nhậu. Võ Đông Sơ trong cải lương nếu có sống dậy nhìn thấy cảnh này chắc cũng... cắn lưỡi chết phức cho xong.

Hồ Quý Ly báo thù

Nếu ai đã từng học lịch sử Việt Nam thì đều biết Hồ Quý Ly, một vị vua đầu thế kỷ 15, đặt tên nước là Đại Ngu, trị vì được 7 năm (1400 - 1407), cùng thời với nhà Minh bên Trung Hoa. Hồ Quý Ly có 2 người con trai được sử sách ghi nhận là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương. Có ý kiến cho rằng Hồ Quý Ly là nghịch thần, kẻ tiếm ngôi nhà Trần. Nhưng cũng có ý kiến nhận xét ông là nhà cải cách, mang hoài bão xây dựng đất nước thái bình. Thế kỷ 21 cũng có một Hồ Quý Ly.

Rạng sáng một ngày đầu năm 2012, cảnh sát giao thông TP.Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) phát hiện hai người điều khiển xe máy biển số 72L9-5424 chở theo... 3 con dao nên tiến hành kiểm tra. Hai người này còn rất trẻ: Lê Minh Sang, 14 tuổi và Hồ Quý Ly, 16 tuổi. Công an hỏi đêm hôm khuya khoắt mang dao đi đâu? Hồ Quý Ly khai do mâu thuẫn với nhóm thanh niên nọ nên mang dao đi trả thù. CSGT sau đó đã bàn giao hai kẻ “muốn báo thù” cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an Vũng Tàu tiếp tục làm rõ.

Nguyễn Công Trứ lãnh án

Chúng ta đều biết Nguyễn Công Trứ là một nhân vật lịch sử, từng giữ chức thượng thư (bộ trưởng) và tổng đốc dưới thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19. Ngay từ thuở hàn vi, còn rất trẻ thế nhưng ông đã có hoài bão, nuôi lý tưởng lớn của các bậc trượng phu:

Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông

Ấy vậy mà, có một kẻ cũng mang tên Nguyễn Công Trứ mới 15 tuổi đầu, đang học lớp 10 ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định chẳng những chưa giúp ích gì cho gia đình mà do cần tiền chơi game nên bịt mặt như ninja, lẻn vào nhà bà bác ruột trộm tài sản. Bị phát hiện, Nguyễn Công Trứ đã dùng dao đâm chết bác ruột của mình. Không giống tiền nhân “đứng trong trời đất”, Nguyễn Công Trứ hậu sanh phải ngồi tù 10 năm. Than ôi!

Tên và tâm

Có thể khẳng định một điều: cái tên không quyết định bạn sẽ trở thành người như thế nào. Nói cách khác, số mạng của một con người không phụ thuộc vào Tiền hoặc cái Tên trong giấy khai sinh hay thẻ chứng minh nhân dân. Cái Tâm và Tài mới quyết định. Muốn thành đạt và có cái tâm trong sáng, người ấy phải sống trong một môi trường giáo dục tốt, với gia đình làm nền tảng, ý thức được hành vi bản thân và yêu thương đồng loại, bất chấp mình đã và đang mang một cái tên bình dị, chân quê hoặc “chẳng giống ai” đi chăng nữa. Còn ngược lại, cho dù bạn mang một cái tên đẹp như thơ hay hoành tráng như dũng sĩ mà không được giáo dục đàng hoàng thì hậu quả khó lường, thậm chí là bi kịch.

Chuyện gia đình tôi

Nhà tôi có 4 anh em, 2 trai 2 gái, tôi là anh cả. Cô em út tên Đoàn Thị Hoàng Oanh, nay đã 45 tuổi. Sau này ba tôi mới tâm sự là hồi thập niên 1960, ông rất ngưỡng mộ giọng hát của ca sĩ Hoàng Oanh nên đặt tên này cho đứa con út. Không biết ba tôi có mong muốn con mình  lớn lên trở thành ca sĩ hay không chứ thú thật, ca sĩ Hoàng Oanh hát hay bao nhiêu thì cô em út của tôi…hát dở bấy nhiêu.

Nếu cô ấy đi dự thi đại loại như Vietnam Idol hay Giọng hát Việt có lẽ rớt ngay từ vòng... gửi xe, chắc cú luôn!


Trích từ: vn.news.yahoo.com


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tên người và số phận

Tướng phụ nữ sinh con trai |

Trong đời sống hiện đại, việc xác định giới tính thai nhi qua siêu âm rất dễ dàng. Tuy nhiên, theo nhân tướng học, muốn biết sinh trai hay gái mọi người có thể dựa vào khí sắc, tướng mặt, dáng đi để nhận biết. 1. Nữ mặt quá nhọn, cộng thêm tai nhỏ k
Tướng phụ nữ sinh con trai |

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phụ nữ sinh con trai |
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd