Tướng phụ nữ phong trần |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
13. Cát cước sát
Thông thường thì nhà ở gần nơi có phong cảnh núi non, sông nước tươi đẹp đương nhiên là tốt, thế nhưng nếu quá gần với sông biển lại phạm phải cát cước sát. Như vậy có thể làm cho vận trạch không lâu bền, tài khí khó tụ. Muốn hoá giả cát cước sát thì hãy đặt túi gấm ngân nguyên tại vị trí vượng trong nhà, hoặc đặt một mâm hình con rồng ở cửa số gần nước.

14. Liêm trinh sát
Theo phong thủy học, nếu như nhà xây cất có thể tựa được vào núi sẽ hình thành bố cục phong thuỷ lưng có núi tựa, sẽ có lợi. Nhưng nếu núi tựa sau nhà quá cao lớn, đá mọc lởm chởm, trên núi không có cỏ cây sinh sống thì không chắc đã tốt, như vậy là phạm vào liêm trinh sát, với người cấp trên hoặc tiền bối ở những nơi này dễ tự gây khó cho mình, cấp dưới, con cháu cũng bị liên lụy theo. Gặp liêm trinh sát, cách hoá giải là thường xuyên kéo rèm cửa số, đồng thời ở trên mỗi cửa sổ ở hướng phạm sát mỗi nơi đặt một xâu tiền đồng bạch ngọc lục đế hoặc dùng túi gấm ngân nguyên để hoá giải, nghiêm trọng có thể bài trí thêm một đôi hình thú dữ để hoá giải.
15. Phản quang sát
Nhà ở lâu ngày bị tia sáng phản xạ từ gương kính của nhà lớn gần nhà mình vào là phạm vào phản quang sát. Phản quang sát làm cho các thành viên trong gia đình dễ bị va chạm gây thương tích. Muốn hoá giải thì nên cố gắng thường xuyên kéo rèm cửa sổ kín lại, đồng thời thay kính phản quang kia, thêm nữa là dùng đồng tiền bạch ngọc lục đế.
16. Đao sát
Nhà ở đối diện với những biển hiệu hoặc vật thể hình thù giống lưỡi dao là phạm đao sát, thành viên trong nhà vì nó mà dễ sinh bệnh tật, kinh doanh dễ bị phá sản, nếu muốn hoá giải có thể sứ dụng rùa phong thủy, kết hợp với một xâu tiền đồng bạch ngọc lục đế, túi gấm ngân nguyên.
17. Thương sát và ám tiễn sát
Tại đầu mút của các con đường hình chữ đinh hoặc cuối ngõ cụt thường được gọi là nơi lộ xung, nhìn thẳng đường này giống như một khẩu súng trường dang chĩa nòng bắn, nếu cửa nhà ở bị nòng súng nhằm đúng vào gọi là thương sát, nếu nòng súng nhằm vào sau nhà hoặc mặt bên của nhà thì gọi là ám tiễn sát. Bất luận là thương sát hay ám tiễn sát đều không tốt cho trạch vận, thành viên trong nhà như vậy dễ gặp tai nạn đổ máu, nếu mở cửa hàng kinh doanh buôn bán thì tài vận không tụ về. Muôn hoá giải hai loại sát này có thể bài trí rùa phong thủy kết hợp thêm với một xâu tiền đồng bạch ngọc lục đế, hoặc dùng một đôi tượng tì hưu hay một đôi tượng sư tử đồng.
18. Thụ chàng sát
Nghe tên sát này là biết có liên quan đến cây cối. Trước cửa nhà có cây to gọi là thụ chàng sát, nhà mà phạm phải sát này thì các thành viên trong nhà dễ gặp tai nạn xe cộ, cơ thể yếu đuối, công danh trắc trở. Muốn hoá giải thụ chàng sát chỉ cần đốn bỏ cây đó đi là được. Tuy nhiên, trong các tình hình sau thì không cần chặt bỏ cây: nếu phía trước có dao sát, thương sát, ám tiễn sát, mà trước cửa lại có cây to tươi tốt thì cây đó là vô sát, ngược lại nó còn có tác dụng hoá sát, chặt bỏ cây đó đi sẽ phá hỏng chức năng của nó.
Khi chuyên gia về ngôn ngữ, các “thầy” chuyên về kinh sách, cung, mệnh… vào cuộc thì người ta sẵn sàng bỏ tiền để tìm đến những phương pháp đặt tên “khoa học” để đặt tên cho con.
Trước đây, ở Việt Nam, đời sống khó khăn, dân trí còn hạn chế, các cụ thường có cách đặt tên con rất đơn giản như tên đệm thì nam “Văn”, nữ “Thị” hoặc gọi con bằng những cái tên rất chân chất, xấu xí như Tí, Dậu, Hĩm, Út, Cu… Người xưa cho rằng làm như thế thì ma quỷ cũng thấy xấu mà để cho đứa trẻ được yên, vì vậy bố mẹ sẽ nuôi con một cách dễ dàng hơn.

Hiện nay quan niệm đó đã thay đổi rất nhiều. Việc đặt tên đứa con mới ra đời giờ là chuyện trọng đại của cả gia đình. Trọng trách thường được giao cho người lớn tuổi, có uy thế, “nhiều chữ” nhất trong dòng họ. Mọi người thích chọn những cái tên Hán tự “rất kêu”, nhiều ý nghĩa như Hùng, Dũng, Đức, Khuê, Dung, Phương, Hương, Huyền…
Để cái tên thêm hay, những chữ đệm trước tên cũng được chú trọng, thậm chí có những người có tới 2, 3 chữ đệm cho thẩm mỹ, sang trọng. Những cái tên có cả họ cha lẫn họ mẹ cũng đã được xếp cạnh nhau (dù nghe rất trúc trắc, trục trặc) để tôn trọng hai bên nội ngoại.
Ngoài ra, xu hướng đặt tên theo kiểu phi giới tính, kiểu “chữ cái đầu” còn được coi là “mốt” với những đứa trẻ thuộc thế hệ từ 8x, 9x vì cha mẹ mong muốn tên chúng luôn đứng ở “đầu sổ” trong tất cả các danh sách ở trường học hay “trường đời”…
Gần đây hơn, trong xã hội có “bước ngoặt” mới trong cách đặt tên con. Khi chuyên gia về ngôn ngữ, các “thầy” chuyên về kinh sách, cung, mệnh… vào cuộc thì người ta sẵn sàng bỏ tiền để tìm đến những phương pháp đặt tên “khoa học” để đặt tên cho con.
Không biết họ tin vào “cái tên nhàn hạ, sung sướng, may mắn” này đến đâu nhưng rõ ràng đó là những ước mong, kỳ vọng đầu tiên đặt lên vai đứa trẻ. Người ta cũng dần bỏ qua những gì thuộc về “ý nghĩa” của cái tên mà thay thế vào đó là theo sở thích hoặc những khác biệt…
Đã không hiếm những đứa trẻ “thuần Việt” nhưng lại mang những cái tên rất lạ với người Việt như Tú Lynh, Hồng Kông, Bê La… Không chỉ ở Việt Nam, tại Mỹ, những chuyển biến về xu hướng đặt tên cho con theo cách đặc trưng, khác biệt như thế này cũng rất rõ nét.
Theo các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học bang Georgia (Mỹ), những năm 1950, tại đây trung bình một lớp học sẽ có ít nhất 1 bé trai tên là James (tên phổ biến nhất trong giai đoạn này). Còn ước tính đến năm 2013, trong 6 lớp học mới tìm được 1 học sinh tên Jacob, cho dù đây là một trong những tên phổ biến nhất trong năm 2007 ở Mỹ dành cho con trai.
Về hiện tượng trên, nhà nghiên cứu Jean Twenge của trường Đại học San Diego (Mỹ) chia sẻ trên trang tin Live Science rằng: Lời giải thích hợp lý nhất cho hiện tượng phổ biến này là sự thay đổi suy nghĩ, sự kỳ vọng của các bậc cha mẹ trẻ về vai trò của con cái ngày càng nhiều hơn. Giờ đây, nhiều người muốn con mình phải thật đặc biệt, phải duy nhất và khác hẳn với bạn bè cùng trang lứa. Tuy nhiên, không ít người cũng tỏ ra quan ngại rằng những kỳ vọng trong cách đặt tên này có thể là bước khởi đầu, là gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân thời hiện đại mà các bậc cha mẹ trẻ đã vô tình đặt lên cuộc đời con trẻ.
Đi lễ chùa theo phong trào
Đi lễ chùa (gọi chung cho việc người dân đến các chốn tâm linh: Chùa, đình, miếu...) là nét đẹp nhưng nhiều người đang quá mê tín và hiểu sai ý nghĩa của nét văn hóa này, ông có chia sẻ gì?
Đi lễ chùa là nét đẹp, đặc biệt là dịp đầu năm mới, đó cũng là điều tốt, hướng tới điều thiện của nhiều người. Ngoài cầu cho bản thân, gia đình và người thân những điều tốt đẹp, may mắn thì họ còn cầu cho "quốc thái dân an" là điều rất tốt đẹp. Hiện nay, có rất nhiều chùa chiền, đình, miếu mạo... với rất nhiều lễ hội trong năm, và tập trung vào dịp đầu năm mới âm lịch, tuy nhiên, ở nhiều nơi vẫn còn diễn ra cảnh bát nháo, lộn xộn. Nếu không uốn nắn, sắp xếp lại thì rất đáng phải phê phán. Phần cũng do người dân hiểu sai, làm lệch lạc đi hoạt động tín ngưỡng này. Ví như chuyện cầu trúng số, thăng chức, cầu vàng bạc... Bên cạnh đó, không ít nơi các con đường dẫn vào đình, chùa lại có rất nhiều thịt thú rừng treo bán cho người hành hương là hết sức phản cảm, không chấp nhận được.
Hiện nay, nhiều người đi lễ chùa theo phong trào, thực ra thì họ chẳng biết là mình đang vái, lạy ai, cầu điều đó có phù hợp hay không?
Đúng vậy, rất nhiều người hiện nay đến các đình, chùa, miếu... để cầu may mắn đầu năm mới. Khi đến những nơi này họ còn mang theo lễ vật, nhang đèn, hoa trái... để thờ, cúng. Tuy nhiên, rất nhiều người lại không biết mình đang cúng ai, thờ ai và cầu điều đó có phù hợp hay không. Họ chỉ đi vì nghe theo người này, người kia nói chỗ đó "linh lắm", rồi đi theo dạng phong trào. Tôi lấy ví dụ, mỗi năm có hàng triệu người đến miếu Bà Chúa Xứ (An Giang) và núi Bà Đen (Tây Ninh) để cầu may mắn trong dịp đầu năm mới. Thế nhưng có trên 90% người đến đây không biết Bà ở các nơi này là ai.
Nhiều thứ đang bị hiểu sai dẫn đến người dân làm sai, ông có thể nói thêm về chuyện này?
Ở miền Bắc có rất nhiều lễ hội tại các đình, chùa, miếu... và người dân hiểu đúng về các lễ hội ấy. Tuy nhiên, họ lại làm sai. Ví như chen lấn, giẫm đạp lên nhau ở đền Trần để tranh giành ấn. Còn ở miền Nam, nhiều nơi hình như hiểu sai việc thờ cúng và dẫn tới không ít người dân cũng làm sai. Ví dụ như ở Ngày hội tắm bà (rửa tượng) tại miếu Bà Chúa Xứ thì nhiều nhà nghiên cứu, chứ không riêng gì tôi cũng phải lắc đầu chào thua. Bởi, tượng Bà ở đây thực ra là một hình người phụ nữ được đẽo rất tinh xảo và đẹp mắt bằng đá. Tượng Bà là của Ấn Độ giáo (Hindu). Thuở ban đầu tượng này xuất hiện ở lưng chừng núi Sam trong dãy Thất Sơn (Bảy núi – An Giang), thấy pho tượng đẹp, linh thiêng lại xuất hiện nơi nhiều giai thoại như vùng này, một số người đã thỉnh tượng từ núi Sam xuống chân núi.
Từ đó, câu chuyện đó càng về sau càng được thần thoại thêm tạo nên sự linh thiêng bí ẩn về ngôi miếu này. Về nguồn gốc, có tài liệu cho rằng, pho tượng đó là của vương quốc Phù Nam, với nền văn hóa Óc Eo. Bản thân pho tượng này vốn không mặc gì cả, thế nhưng cho tới thời điểm này, pho tượng lại được tô son, điểm phấn rất lòe loẹt. Chưa hết, người ta lại còn khoác lên pho tượng những bộ y phục hết sức lộng lẫy do người "cúng". Hiện nay, bất cứ ai tới miếu Bà Chúa Xứ đều có thể nhìn thấy một pho tượng Bà lộng lẫy như một nhân vật trong một vở tuồng hát, kể cả trang phục.
Chính từ cách hiểu sai như trên nên nhiều người cũng "cúng" sai. Tôi được biết có nhiều người đã bỏ ra rất nhiều tiền, thậm chí tới vài ba cây vàng để may y phục cho Bà như là lễ vật cúng trong Ngày hội tắm Bà. Đến nay, tại miếu Bà Chúa Xứ cũng có tới vài ba cái tủ đựng áo mũ của Bà do người dân khắp nơi may tặng.
Cần hiểu đúng để không thành mê tín
Còn chuyện chùa ông, chùa bà ở TP.HCM thì sao thưa ông?
Có nhiều ngôi chùa mang tên chùa ông, chùa bà đang tọa lạc tại TP.HCM, thế nhưng nhiều người cũng không biết ông, bà ở trong các ngôi chùa ấy là ai, ở đâu tới? Thực ra chùa bà là thờ Thiên Hậu. Bà này có nguồn gốc ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tích về bà vốn là một cô gái dệt vải, có cha và anh là những ngư dân đánh bắt cá trên biển. Một hôm, khi cô đang dệt thì bỗng thấy đầu choáng, mắt mờ dần. Trong cơn choáng đầu ấy, cô nghe thấy tiếng cha kêu cứu và hình dung ra cảnh cha đưa tay lên khỏi mặt nước. Lúc đó, trước khung cửi, vô thức cô đưa tay ra chụp lấy cánh tay ấy, thấy cô con gái cứ nhắm mắt nhưng lại đưa tay chụp trong hư không, bà mẹ thấy lạ mới gọi. Sau mấy tiếng thì cô mới bừng tỉnh và bật ngửa người về phía sau.
Trong lúc đó, người cha chới với, chìm dần xuống biển và chết. Còn anh trai vớ được vào mạn thuyền và sống sót trở về, đồng thời có kể lại câu chuyện cha sắp được cứu khi có bàn tay ai đó nắm kéo lên nhưng lại buông ra. Nếu như người mẹ không kêu thì cô đã cứu được cha của mình. Câu chuyện này được lan truyền nhanh chóng tại Quảng Đông và lan rộng ra cả Trung Quốc. Còn chùa ông, đó là thờ ông Bổn đầu công Trịnh Hòa, người có công tìm đường giao thương buôn bán cho Trung Quốc. Đến thời Mãn Thanh có nhiều người chạy sang Việt Nam và mang theo ông, bà để thờ cúng. Hiện nay, khu vực nào có đông người Hoa sinh sống thường có chùa ông, chùa bà.
Ông có thể kể một câu chuyện mang yếu tố tâm linh làm cho người ta tin nhưng không bị thổi phồng?
Trước đây, vận chuyển hàng hóa từ các tỉnh miền Tây lên Sài Gòn chủ yếu bằng đường thủy. Dù đi ngã nào thì muốn lên Sài Gòn và xuôi về miền Tây, các ghe thuyền cũng phải qua ngã ba Cái Bè (Tiền Giang). Tại đây có một chợ nổi rất nổi tiếng còn tồn tại đến ngày nay. Cũng tại khu vực này có một ngôi miếu thờ bà Thiên Y A Na và được cho là rất linh thiêng. Thời trước, mỗi khi mùa nước nổi (lũ lụt) tại ngã ba này thường xuyên xảy ra nạn chìm ghe thuyền vì sóng to, làm chết rất nhiều người. Một hôm có một chiếc ghe chở nhiều người qua đây cũng bị sóng to đánh chìm. Cả đoàn người trên thuyền tưởng đã chịu chung số phận với nhiều người phải bỏ mạng tại đây, thế nhưng khi chiếc thuyền đang chìm thì như có một bàn tay nâng dần lên khỏi mặt nước và được đẩy vào bờ.
Một người phụ nữ trong đoàn người nói trên kể lại rằng, khi thuyền sắp chìm thì có nghe tiếng của ai đó nói rằng, những người trên đoàn thuyền này không ai làm điều ác, nên không phải chết và được cứu. Sau đó, người ta cũng tìm hiểu và được biết, trên chiếc thuyền hôm đó còn có một người miền ngoài (miền Trung) đang đi tìm nơi sinh sống và xuôi xuống vùng này. Ông là người theo đạo và mang theo bên mình một pho tượng Vishnu nên cả đoàn mới được cứu.
Đó là câu chuyện còn được dân thương hồ truyền lại, và cho tới ngày nay, mỗi khi thuyền ghe chạy ngang đoạn sông này họ đều ghé vào đốt nhang cầu may mắn. Tuy nhiên, nhà chức trách địa phương và những người qua lại nơi đây đã không thần thánh quá lố câu chuyện này để nhiều người lạm dụng nó.
Nguồn: Sưu tầm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Thư (##)
| ► ## cung cấp thông tin giúp bạn xem chỉ tay để đoán biết vận mệnh của mình |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Sở hữu đường chỉ tay chữ M, bạn vô cùng đặc biệt
Hội Làng Bùi
Thời gian: tổ chức vào ngày 28 tháng 1 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Châm Khê (xưa kia có tên là làng Bùi Xá), xã Phong Khê, huyện Yên Phong, thành phố Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Nhằm suy tôn đức Phật.
Nội dung: Các hoạt động chính của lễ hội làng Bùi là lễ Phật, rước nước và hát quan họ trên thuyền. Các thuyền quan họ trở các liền anh, liền chị từng cặp một hát đối giao duyên bằng những làn điệu dân ca ngọt ngào tha thiết làm say đắm lòng người.
Bạn muốn biết tuổi Canh Ngọ hợp làm ăn với tuổi nào, người sinh năm 1990 hợp làm ăn với tuổi nào, tuổi hợp làm ăn với Canh Ngọ,... Dưới đây Phong thủy số sẽ giới thiệu tới bạn các tuổi hợp làm ăn với tuổi Canh Ngọ.

Xem thêm những bài viết liên quan
+ Tuổi Kỵ Tỵ hợp làm ăn với tuổi nào?
+ Tuổi Mậu Thìn hợp làm ăn với tuổi nào?
+ Tuổi Đinh Mão hợp làm ăn với tuổi nào?
Tuổi Canh Ngọ, sinh năm 1990, năm con ngựa, cung mệnh Ly, mạng cốt tinh Thổ.
Tính tình của người tuổi Canh Ngọ: Tài năng lại thông minh nên rất dễ thành công. Nóng tính những dễ tha thứ, hay giúp đỡ người khác. Ham hoạt động, thích tự do nên dễ thích ứng với công việc.
Nghề hợp với tuổi Canh Ngọ: Nếu làm nghề kinh doanh sẽ nhanh chóng phát tài, thịnh đạt.
Tuổi hợp làm ăn với Canh Ngọ gồm Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Tuất, Ất Hợi ( thuộc hành Hỏa) khi kết hợp lam ăn với Canh Ngọ sẽ được thuận lợi, thịnh vượng.
Những người có mệnh Kim khá hợp tuổi làm ăn với Canh Ngọ, đó là các tuổi Nhâm Thân, Quý Dận, Ất Sửu, Giáp Tý, Nhâm Dần, Quý Mão, Canh Tuất, Tân Hợi. Với những tuổi này thì người tuổi Canh Ngọ thường gặp thua thiệt khi kết hợp làm ăn, nên họ thường là trợ lí hoặc cấp dưới của những người mệnh Kim thì công việc mới thuận buồm xuôi gió.
Những người có mệnh Thổ khi thì có tuổi hợp làm ăn với Canh Ngọ, đó là các tuổi Bình Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi. Khi kết hợp làm ăn với những người tuổi này thì công việc bình hòa, không ai hại ai, cùng nhau bàn bạc làm ăn.
Những người có mệnh Thủy thì hợp làm ăn với những người sinh năm 1990. Những tuổi hợp mệnh Thủy gồm Giáp Dần, Ất Mão, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Bính Tý, Đinh Sửu thì khi kết hợp làm ăn thì người tuổi Canh Ngọ có điều kiện để phát triển, tiến lên.
Những tuổi mà người sinh năm 1990 không nên kết hợp làm ăn là Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Canh Thân, Tân Dậu (thuộc hành Mộc) khi kết hợp làm ăn thì công việc dễ bị tiểu nhân hại và thua thiệt nhiều.
Màu hợp với tuổi Canh Ngọ: Màu nâu, hồng, đỏ, tím, vàng, vàng nhạt.
Hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Canh Ngọ: Đối với nam giới nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng Bắc, đối với nữ giới tuổi Canh Ngọ nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng chính Tây.
Thời gian: tổ chức vào ngày 20 tháng 7 và ngày 10 tháng 10 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Võng La, xã Võng La, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn ba vị đại vương là: Cung Mạc, Linh Khôn và Minh Chiêu (là những người có công giúp vua Hùng thứ 8 đánh giặc).
Nội dung: Theo các cụ, hội làng xưa được tổ chức một năm hai lần. Tháng bảy và tháng mười. Hội tháng bảy từ ngày 19 đến ngày 21, chính hội là ngày 20. Đó là hội tưởng niệm công đức bà mẹ đã sinh ra ba anh hùng. Hội có trò vui nhất là thi bơi chải như để nhắc nhở nghề chài lưới của làng.
Thuyền thi đấu được làm bằng một cây gỗ to đục rỗng, thuyền độc mộc. Đầu thuyền chạm rồng, đuôi thuyền vuốt lại như đuôi tôm. Mỗi thuyền có 7 người gồm 6 tay bơi và 1 lái mặc gọn ghẽ. Trước cuộc đua, các lái lên đình lễ cáo thánh. Mỗi thuyền đại diện một giáp và xếp thành hàng ngang chờ lệnh xuất phát. Tiếng trống vừa nổi lên các tay bơi ra sức thi tài, tiếng hò reo của nhân dân cổ vũ cho đội của mình náo nhiệt cả một khúc sông. Thuyền đoạt giải nhất thì sung sướng đã đem lại danh dự cho phe giáp mình và thấy xứng đáng là con cháu của người mẹ đã sinh ra ba vị thành hoàng làng. Người thua cuộc cũng yên tâm là mình đã đem hết sức đua tài để giữ gìn truyền thống thượng võ của làng.
“Bơi Đăm, rước Giá, hội Thày,
Vui thì vui vậy không tày Chài bơi”
Hội tháng mười mở ra từ mồng 10 tới 13 mà chính hội là ngày 11. Ngày 10, mở hội là lễ mộc dục.
Lễ rước nước cử hành từ đình. Đám rước đi trong tiếng nhạc trầm hùng. Tới bờ sông có thuyền rồng chờ sẵn, chỉ có người khiêng kiệu nồi choé, chủ thuyền và quan tế được lên thuyền, ra giữa lòng sông lấy nước vào choé rồi bơi quay vào bờ. Đám rước đi đến chùa Chài. Trong khi đó ở đình cũng đã tổ chức một đám rước khác mang kiệu ở đình xuống chùa để rước nước về đình làm lễ mộc dục. Đám rước này vui vẻ náo nhiệt. Đi đầu là múa sênh tiền, múa lân, tiếp đến là đội cờ thần, rồi phường bát âm với sáo nhị, kèn trống tấu nhạc râm ran… sau nữa là kiệu bát cống rồi tới quan tế và nhân dân. Lúc này cả vùng quê ven sông Hồng rộn trong tiếng nhạc, tiếng trống hội. Tới chùa làm lễ nhận choé nước rước về đình làm lễ mộc dục. Sáng ngày 11 có tổ chức tế lễ từ sáng tới trưa để dân làng tưởng nhớ công đức các thánh.
Hội làng Chài hàng năm đó là dịp hội tụ con dân các dòng họ, phe giáp đồng đua tài trong tinh thần tưởng nhớ tổ tiên và cùng hợp quần chung sống trong tình thương yêu đùm bọc nhau, đúng như bốn chữ lớn trên bức đại tự ở đình thắm nét: “Đồng tôn hợp khánh”, ý nói con cháu cùng sống trong niềm vui chung, sự đoàn kết toàn dân mới có sức mạnh chiến thắng thiên nhiên và giặc ngoại xâm.
Uống nước nhớ nguồn, hội thi bơi chải tuy ngày nay chưa khôi phục được song dưới luỹ tre làng các cụ già vẫn ru cháu bằng câu ca nghe sao đầm ấm mà bình dị biết bao.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Nhắc đến mỹ nhân thời Tam Quốc, đa phần mọi người chỉ biết đến Điêu Thuyền. Nhưng trên thực tế, ngoài Điêu Thuyền còn có Nhị Kiều và một mỹ nhân khác vô cùng nổi tiếng, tài năng vẹn toàn tên là Chân Thị. Đây mới chính là mỹ nhân có nhan sắc quyến rũ, mê hoặc nhất thời Tam Quốc.
Tuy nhiên, trong ba người này, chỉ có Điêu Thuyền được xếp vào tứ đại mỹ nhân cổ đại của Trung Quốc, điều này cho thấy nhan sắc của Điêu Thuyền trội hơn hai người còn lại. Nhưng chỉ căn cứ vào nhan sắc bề ngoài mà nói Điêu Thuyền chính là Tam Quốc đệ nhất mỹ nhân thì hơi quá lời.
Thứ nhất, trong tứ đại mỹ nhân, Dương Quý phi, Tây Thi và Vương Chiêu Quân đều có danh phận rõ ràng và đều là người được các quân vương sủng ái nhất mực. Chỉ có duy nhất Điêu Thuyền thì ở với Đổng Trác hay Lã Bố cũng chỉ là mối quan hệ sống chung, chứ không hề có danh phận. Hai người đàn ông của đời nàng cũng không làm nên đế nghiệp, mà chỉ là những phàm phu tục tử đầy dã tâm. Nếu nói rằng, đàn ông chính là thước đo giá trị của phụ nữ, thì ngoài nhan sắc và tài năng của bản thân người phụ nữ đó, người đàn ông bên cạnh họ cũng vô cùng quan trọng. Điều này đối với Điêu Thuyền đã là một điểm trừ.
Thứ hai, vẻ đẹp của Điêu Thuyền chỉ là nhan sắc bề ngoài cộng thêm chút tài ca kỹ, nhưng vì Đổng Trác và Lã Bố đều là những người thô tục nên cũng chỉ cần có thế là đủ tạo ra cuộc tranh cướp khiến mất mạng. Hơn nữa, nếu nói Điêu Thuyền đẹp cũng chỉ là hư cấu chứ không có được bằng chứng xác thực của lịch sử để có thể đối chứng khảo sát.
Chính vì thế, nếu xét về mọi mặt thì thời Tam Quốc mỹ nhân tên Chân Thị mới chính là đệ nhất mỹ nhân. Nhan sắc và tài năng của nàng đã làm điêu đứng nhiều trái tim đa tình những anh hùng hào kiệt và văn nhân nổi tiếng trên văn đàn thời đấy giờ, trong đó có Viên Hy con trai thứ của Viên Thiệu, Tào Tháo và hai con trai là Tào Phi và Tào Thực.
Chân Thị sinh năm 182 sau công nguyên, tức năm thứ 5 Linh Đế Quang Hòa (nay thuộc Chính Định, Hà Bắc). Cha nàng tên Chân Dật, từng làm thượng thái huyện lệnh, vì thế nàng cũng xuất thân dòng dõi con nhà quan. Đáng tiếc năm nàng lên ba, cha nàng bệnh chết. Tuy còn bé nhưng nàng đã hiểu được nỗi đau mất cha, khiến cả nhà vô cùng kinh ngạc. Đến năm 9 tuổi, nàng tự học đọc sách và viết chữ, thông thường chỉ cần xem qua đã nhớ. Tuổi nhỏ nhưng đã lập trí làm hiền nữ, đồng thời rất hiểu đạo lý. Chính vì thế, sau này nàng có thể trở thành hoàng hậu cũng hoàn toàn không phải là việc ngẫu nhiên.
Khi đến tuổi cập kê, nhan sắc và tài năng của nàng đã vang xa khắp thiên hạ. Viên Thiệu đã cưới nàng cho con trai thứ hai là Viên Hy. Viên Thiệu và Tào Tháo cũng như là Chu Du và Gia Cát Lượng, nếu không có kẻ này kẻ kia tất sẽ là thiên hạ vô địch. Nhưng đáng tiếc, cha con nhà Viên Thiệu bại dưới tay Tào Tháo. Từ đó cuộc đời Chân Thị sang một ngã rẽ khác.
Tào Tháo vốn nổi tiếng háo sắc, từ lâu đã nghe và biết đến người con dâu tài năng và xinh đẹp của Viên Thiệu. Vì thế, trước khi tiêu diệt Thiệu gia ông ta đã tính toán tìm cách làm thế nào để có thể giành được Chân Thị. Đáng tiếc con trai Tào Phi của ông ta còn háo sắc hơn, nên khi quân Tào tấn công vào Nghiệp thành, Tào Phi đã dẫn một đám binh mã xông vào phủ Thiệu gia.
Lúc này Viên Hy không ở nhà, Chân Thị và mẹ chồng Lưu Thị trở thành bia đỡ đạn. Hai người đàn bà không còn chỗ nào trốn đành ở nhà đợi chết. Nhưng khi Tào Phi dẫn binh mã xông vào, thấy nhan sắc của nàng đã ngây dại. Cuối cùng Tào Phi đã nhanh chân hơn cha một bước, cướp được nàng Chân Thị làm vợ. Sau này Tào Tháo biết chuyện chỉ biết than trời, nhưng không có cách nào khác đành thuận theo ý trời.
Sau khi ở với Tào Phi, Chân Thị chỉ được hưởng hạnh phúc trong vài năm ngắn ngủi. Nàng sinh cho Tào Phi một trai một gái. Người con trai sau này chính là Ngụy Minh Đế Tào Duệ. Tục ngữ có câu: Đàn ông đi nhầm đường, đàn bà gả nhầm chỗ. Chân Thị lấy nhầm người nên đã bất hạnh. Tào Phi háo sắc đa dâm, đã có được Chân Thị mỹ nhân lại tham lam muốn có thêm Quách mỹ nhân. Có được Quách mỹ nhân, lại mơ tưởng muốn có công chúa của Hán Hiến Đế. Đến đám tiểu thiếp của cha để lại ông ta cũng không buông tha.
Chân thị vốn hơn Tào Phi 5 tuổi, do đã từng sinh nở, cộng với thời gian trôi đi, nhan sắc cũng sẽ phải tàn phai. Tào Thực là kẻ thích mới nới cũ nên dần dần hết mực sủng ái Quách phi trẻ đẹp. Quách phi là người lươn lẹo nham hiểm, gió chiều nào xoay chiều đó chứ không thẳng thắn như Chân Thị. Vì bị lạnh nhạt do thất sủng, tâm trạng Chân Thị càng chất chứa đầy ấm ức, oán tránh. Nỗi lòng này nàng đã chọn cách bày tỏ qua thơ.
Sau khi đọc được bài thơ của Chân Thị, Tào Phi tức giận lôi đình, cộng thêm những lời xúc xiểm của Quách phi, ông ta đã kiên quyết ban cho nàng Chân Thị một cốc rượu độc. Sau khi nàng chết, còn bị lấy tóc phủ mặt, miệng nhét đầy đường, dụng ý để nàng không còn mặt mũi nào mà nhìn mặt ai chốn âm gian, có nổi khổ cũng không thể nói được với ai.
Hai năm sau Tào Thực đến Lạc Dương bái kiến Tào Phi ca ca, trong lúc uống rượu Tào Phi đã đưa cho Tào Thực di vật của Chân Thị. Vốn là người bao nhiêu năm vẫn âm thầm yêu người chị dâu tài năng, xinh đẹp của mình nên khi nhận lấy di vật của Chân Thị, Tào Thực nước mắt lưng tròng. Trên đường quay về qua Lạc Thủy, cảm xúc dâng trào ông đã viết bài thơ nổi tiếng “Lạc Thần Phú”. Mãi đến sau khi Tào Phi chết, con trai nàng là Tào Duệ nối ngôi mới truy phong cho nàng là Văn Chiêu hoàng hậu, nhưng đáng tiếc rằng danh tiếng hoàng hậu được khôi phục nhưng sinh mạng đã mãi mãi tan trong cát bụi. Ảnh minh họa chân dung hai anh em Tào Phi và Tào Thực.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Trúc Loan (##)
Hướng bếp hợp người sinh năm 1949:

– Năm sinh dương lịch: 1949
– Năm sinh âm lịch: Kỷ Sửu
– Quẻ mệnh: Càn Kim
– Ngũ hành: Thích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);
– Hướng xấu: Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);
Trong trường hợp này, có thể đặt bếp tọa các hướng Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh); , nhìn về các hướng tốt Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);
Ngoài ra, bếp nên tránh đặt gần chậu rửa, tủ lạnh, tránh có cửa sổ phía sau, tránh giáp các diện tường hướng Tây.
Chậu rửa, cũng như khu phụ, được hiểu là nơi xả trôi nước, tức là xả trôi những điều không may mắn, nên đặt tại các hướng xấu như hướng Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);
Cửa của bếp nấu không được để thẳng với cửa chính của nhà, hoặc nhìn thẳng vào cửa phòng ngủ, người nằm ngủ sẽ gặp tai ương tật ách.
Những câu hỏi Tết Đoan Ngọ là ngày gì? Nguồn gốc, ý nghĩa của ngày Tết Đoan Ngọ với người dân Việt Nam ta như thế nào?... là những thắc mắc nhiều người quan tâm. Theo sách Phong Thổ ký thì Tết Đoan Ngọ còn gọi là Tết Đoan Dương. Đoan nghĩa là mở đầu, Ngọ là giữa trưa, Đoan Ngọ là bắt đầu lúc giữa trưa; còn Dương là mặt trời, là khí dương Đoan Dương nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh. Sở dĩ Tết này được gọi là Tết Đoan Ngọ, chính vì tháng 5 âm lịch là tháng bắt đầu nắng to, khi dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa. Theo địa bàn thì phương Nam là chính Ngọ, mà Ngọ là ngôi dương, cho nên tết này là Tết Đoan Dương. Hơn nữa, tháng Năm cũng lại là tháng Ngọ trong một năm.
![]() |
![]() |
| ► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Ngày nay, người đàn bà đã ra ngoài xã hội, đã có vai trò và vị trí không thua kém gì người đàn ông. Nhưng dù sao, đối với quan niệm của người Á Đông chúng ta thì không phải vì vậy mà sự quan trọng của cung Phu Thê bị giảm đi. Trong thực tế hai chữ “gia đạo” lúc nào cũng là nền tảng của cuộc sống con người trong bất cứ thời đại nào hay xã hội nào. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ ràng và đậm nét trong mẫu người Thân cư Phu Thê.
Những người sanh vào giờ Tỵ (từ 9am tới 11am) hoặc giờ Hợi (từ 9pm tới 11 pm) thì Thân sẽ nằm vào cung Phu Thê. Người ta cho rằng rằng ông có Thân cư Phu Thê là số được nhờ vợ và nể vợ. Đàn bà có Thân cư Phu Thê là số nhờ chồng và nể sợ chồng. Điều này không đúng, chúng ta sẽ bàn đến sau.
Mẫu người Thân cư Phu Thê có nhiều nét đặc biệt, nhất là trên lãnh vực tình cảm. Người Thân cư Phu Thê thường gặp người chồng/vợ mình trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Họ gặp nhau và có tình cảm với nhau như đã quen biết nhau từ kiếp trước, nay lại gặp nhau để xây tiếp lâu đài tình ái còn đang dang dở, hoặc trả tiếp cho xong cái duyên nợ chưa tròn, tùy theo lá số của mỗi người.
Từ nét đặc biệt đó mà người Thân cư Phu Thê có một cuộc sống ràng buộc nhau rất mật thiết. Sự ràng buộc chặt chẽ này có thể do từ tình cảm tốt đẹp mà họ có được, nhưng cũng có thể là vì hoàn cảnh mà họ phải chịu trói buộc với nhau. Hình ảnh bị trói buộc với nhau vì hoàn cảnh điển hình nhất mà chúng ta đã thấy trong thời gian trước đây đó là hình ảnh của cựu Tổng Thống Bill Clinton. Dù đang gặp một hoàn cảnh đắng cay, hay có thể nói là “còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi”. Nhưng họ vẫn ở bên nhau, xuất hiện bên nhau trên truyền hình, trước công chúng đễ diễn tiếp cho xong vở tuồng mà họ phải diễn.
Nói một cách khác, trong lĩnh vực tình cảm, người Thân cư Phu Thê thường có một cuộc sống khăng khít với nhau, cho dù trong những trường hợp cuộc sống không được hạnh phúc hay gặp những hoàn cảnh ngang trái, dường như có một sợi dây vô hình nào đó cứ buộc chặt họ lại với nhau, không chia ly dễ dàng như những người khác.
Ngoài sự ràng buộc trong vấn đề tình cảm, người Thân cư Phu Thê còn có sự ràng buộc trong lãnh vực nghề nghiệp. Hầu hết họ và vợ/chồng của họ là những người làm cùng ngành nghề hay cùng chung một cơ sở thương mại với nhau. Có thể không cùng nghề nghiệp nhưng công việc của hai người luôn có sự liên hệ và hợp tác hỗ trợ cho nhau.
Ngoài ra, người Thân cư Phu Thê thường có thêm một nghề tay trái nữa. Nghề tay trái này lúc đầu chỉ như một cái thú tiêu khiển của đương số, hoặc cũng có thể như một nghiệp mà họ phải theo đuổi. Dần dần có thể trở thành một lãnh vực sinh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của họ. Cũng có một số người thành công, thành danh bởi nghề tay trái này hơn là nghành nghề chính của họ. Bây giờ chúng ta có thể trở lại với hai nghi vấn mà chúng ta đã đề cập lúc mở đầu:
1. Có phải những người Thân cư Phu Thê là có số nhờ chồng/vợ hay không ?
Đối với người Á Đông chúng ta thì chuyện “xuất giá tòng phu” là một quan niệm bình thường. Do đó, nếu một người đàn bà có số Thân cư Phu Thê mà cuộc đời phải nương tựa vào chồng của mình thì đó là một điều hợp tình hợp lý. Nhưng đối với nam giới, nhất là trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, một người đàn ông có Thân cư Phu Thê là bị phán ngay là số nhờ vợ thì cũng tội nghiệp cho đương số.
Để giải đoán cho phân minh, chúng ta phải cân nhắc giữa cung Phu Thê và cung Mệnh của đương sự. Chẳng hạn, người có Thân cư Phu Thê, nếu Mệnh của đương số yếu hơn cung Phu Thê (Mệnh nhược Thê cường) có nghĩa là người vợ của đương số có khả năng hơn chồng về mọi mặt từ trong nhà cho đến những giao tiếp ngoài xã hội. Như vậy chúng ta có thể nghĩ rằng những gì tạo dựng nên trong cuộc sống chung của hai người thì phần lớn đều do tay của người vợ. Đối với người đàn bà có Thân cư Phu Thê, vì bối cảnh xã hội ngày nay có khác, hai chữ “tòng phu” không còn nữa cho nên chúng ta cũng phải cân nhắc như vậy.
Ngược lại nếu cung Mệnh của đương số tốt đẹp, sáng sủa hơn cung Phu Thê (Mệnh cường, Thê nhược) thì đây không phải là số nhờ chồng/vợ.
Trường hợp này thông thường thì hai người cùng làm chung một ngành nghề hay cùng chung một cơ sở làm ăn, họ cùng góp sức tạo dựng với nhau trong cuộc sống chung, dĩ nhiên họ cũng có những sự ràng buộc chặt chẽ với nhau như đã bàn ở trên.
2. Có phải người Thân cư Phu Thê là số nể, sợ vợ/chồng hay không ?
Để trả lời vấn đề này, chúng ta cũng phải cân nhắc vấn đề mạnh và yếu giữa cung Mệnh và cung Phu Thê của đương số. Nếu Mệnh nhược Phu cường thì phải nể, sợ chồng là điều đương nhiên rồi. Chẳng hạn, lá số của một ông chồng có bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương thủ Mệnh, là bộ sao tiêu biểu cho văn cách nhưng cung Phu Thê lại có bộ sao Sát Phá Liêm Tham là biểu tượng cho võ cách. Trường hợp này việc điều hành từ trong ra ngoài cũng nhu vai trò chánh yếu trong gia đình đều do người vợ một tay thao túng hết.
Điều này chúng ta cũng thấy rõ những đấng mày râu tuy cung Mệnh không thua kém gì cung Phu Thê nhưng cung Phu Thê lại có các sao như Thái Âm, Hóa Quyền tọa thủ hoặc hợp chiếu thì đấy cũng là hội viên cùng hội với Thúc Sinh rồi.
Vào dịp cuối năm hoặc vào ngày thanh minh thì người ta thường tổ chức cải táng mộ phần. Vậy nên lưu ý những điều nào, nên chọn ngày tốt cải táng như thế nào? Dưới đay Phong thủy số sẽ giới thiệu tới bạn một số lưu ý khi thực hiện cải táng, bốc mộ:

1. Kiểm tra mộ phần:
Việc đầu tiên cần làm khi muốn cải táng mộ, sửa sang mộ phần là cần kiểm tra tình trạng của ngôi mộ đó như thế nào? Đã đủ thời gian cải táng chưa? Mộ có gặp phải vấn đề phạm trùng hay kết mộ không?
Mộ Kết là mộ như thế nào? Mộ kết là mô đã thụ được linh khí của đất trời, long mạch tụ khí lại, giúp cho con cháu trong gia đình, dòng họ làm ăn thuận lợi, gia đình thuận hòa, khỏe mạnh. Cách để kiểm tra mộ kết thường bằng phương pháp cảm xạ, ngoại cảm, cảm nhân trường khí mà ngôi mộ tỏa ra. Hoặc có thể quan sát bằng mắt thường thì sẽ nhận thấy ngôi mộ đó ngày càng nở ra do tích tụ được linh khí của long mạch. Trên ngôi mộ đó thường cỏ mọc rất nhanh và tươi tốt. Người xưa thường xác định mộ kết bằng cách để những cành cây, cành hoa, tuy không được cắm xuống đất nhưng những cành hoa này vẫn ra nhánh mới và xanh tốt. Hoặc khi quan sát những viên đá quanh bia mộ thì những viên đá này luôn bóng loáng thì chắc chắn những mộ này là một kết.
Khi gặp phải những mộ kết này thì tốt nhất là để nguyên không nên dịch chuyển, sẽ có thể sẽ gây vô vàn rắc rối trong cuộc sống của cả dòng họ. Nếu bắt cuộc phải di chuyển vì một lí do nào đó thì phải sử dụng những phương thức của Huyền môn và Phong thủy rất phức tạp mới được di dời.
Thông thường những ngôi mộ kết là kết từ chân tới đầu, cũng có một vài ngôi mộ do kết cấu của Long mạch thì bị kết từ đầu tới chân, hoặc có các dạng kết như kết mạng nhện, kết tơ hồng, kết bang, kết chu sa,… Mộ kết thường có các màu như xám đến trắng, hồng hoặc đỏ như chu sa là loại mạnh nhất. Thông thường, người ta thường nhầm lẫn giữa mộ kết và mộ bị phạm trùng. Biểu hiện rõ nhất của mộ bị phạm trùng là những ngôi mộ này chộn tới cả chục năm những xác còn gần như nguyên vẹn, không phân hủy hết, người ta thường phải lấy dao róc thịt mới lấy được xương cốt.
2. Chọn thời gian cải táng.
Thông thường thời gian cải mộ tốt nhất là từ cuối Thu đến trước ngày Đông chí của năm. Không ai cải táng hay quy tập mộ đầu năm cũng như sau ngày đông chí. Theo phong tục nước mình thì người mất sau 3 năm, đến lúc con cháu mãn tang thì mới tiến hành cải táng. Tuy nhiên, trong cuộc sống ngày này, việc tiếp xúc với hóa chất nhiều, khiến xác người mất sau 3 năm thường chưa phân hủy hết. Nên thời gian cải táng thường để tới 4 đến 5 năm để tránh hiện tượng trên. Năm tiến hành cải táng mộ cần phải chọn theo năm tuổi của người mất, tránh những năm xung sát với tuổi. Và việc chọn ngày tốt cải táng, an táng là điều quan trọng khi một gia đình có nhu cầu cải táng mộ phần.
3. Chọn vị trí khi đặt mộ mới.
Khi đã lựa chọn được ngày tốt tiến hạnh cải táng bốc mộ thì những người trong gia đình sẽ lựa chọn một huyệt đất mới để chuyển hài cốt sang. Khi lựa chọn huyệt đất mới nên lưu ý những điều sau đây:
Huyệt mộ là nơi chưa từng bị chôn cất, đào xới. Khí đất huyệt tương đối tốt, đất rắn chắc tốt tươi.
Không nên chọn những vùng đất huyệt mộ là nơi có nhiều rác rưởi hoặc có nguồn ngước thải ô nhiễm.
Với những vùng nghĩa trang có quy tập nhiều mộ, tránh bị các mộ xung quanh lấn chiếm, hoặc nằm án ngữ ngay trước phần mộ của mình. Nên chọn phía trước rộng thoáng, nhìn ra ao hồ hay sông suối là tốt nhất.
4. Những nghi thức cần thiết khi tiến hành cải táng, bốc mộc.
Sau khi chọn được ngày đẹp để bốc mộ, cải táng thì người nhà phải làm một cái lễ ở nhà để trình báo Tổ tiên, tại nơi bốc mộ cũng phải làm một cái lễ gọi là Quan Thần Linh sở tại. Thông thường sắm lễ bao gồm một bộ đồi Quan Thân linh có đầy đủ áo, mũ ủng, ngựa và 1000 vàng hoa màu đỏ, giấy tiền vàng bạc, trầu cau rượu thuốc đèn nến, gạo muối.
Vật dụng cần thiết cho bốc mộ là một cái tiểu sành, một cái quách, một miếng vải đỏ, một tấm ni lông, vài chai rượu nặng và nước vang, xô, chậu. Phần lớn công việc bốc mộ diễn ra vào lúc nửa đêm về sáng. Những việc này thường rất linh thiêng và nguy hiểm nên hầu hết người bốc mộ là người thân trong gia đình, dòng họ và chủ yếu là trai tráng.
Nói đến quy luật tương khắc là nói đến sự khống chế của hành này tới hành kia, làm cho hành bị khống chế sẽ suy yếu, bị huỷ diệt. Còn nói đến quy luật tương hòa của Ngũ hành là nói đến sự hòa hợp vì cùng tính chất của 2, 3 hoặc 4 hành. Ví dụ: Thổ hòa Thổ, Kim hòa Kim, Thủy hòa Thủy, Mộc hòa Mộc, Hỏa hòa Hỏa.
Chữ tương ở đây có nghĩa chỉ sự liên quan giữa Ngũ hành. Chữ hòa ở đây có nghĩa là chỉ sự thích hợp để duy trì và tồn tại. Chính vì có sự hòa hợp về đặc tính đó nên quy luật tương hòa được xem như là tốt cho các hành đó.
Cũng như quy luật Ngũ hành tương sinh - Ngũ hành tương khắc, ở quy luật Ngũ hành tương hòa này, người nghiên cứu không thể bỏ qua quy luật Âm - Dương của Ngũ hành.

Tính chất trong Âm (-) có Dương (+), trong Dương (+) có Âm (-), Âm (-) cực sinh Dương (+), Dương (+) cực sinh Âm (-) của dịch lý nên khi 2 hành tương hòa, nếu có một Âm (-) và một Dương (+) thì sự phù hợp và phù trợ nhau sẽ rất đắc lực.
Ví dụ: Dương Thổ và Âm Thổ, Dương Thủy và Âm Thủy, Dương Hỏa và Âm Hỏa, Dương Kim và Âm Kim, Dương Mộc và Âm Mộc.
Nhưng, nếu 2 hành tương hòa đó cùng khí Âm (-) hoặc cùng khí Dương (+) thì sự hòa hợp đó trở thành vô nghĩa. Ví dụ: Dương Thổ và Dương Thổ, Âm Thủy và Âm Thủy, Dương Mộc và Dương Mộc... Trong trường hợp này, sự tương hòa về đặc tính của các hành đó không tốt mà cũng không xấu.
Khi tìm hiểu về nguyên lý Ngũ hành tương hòa, bạn đọc cũng không thể bỏ qua yếu tố nạp âm Ngũ hành, để hiểu rõ thực ra sự tương hòa đó có tồn tại hay không?
Khi nhắc đến quy luật tương hòa của Ngũ hành, tại sao lại có câu: Lưỡng Hỏa thì Hỏa diệt, lưỡng Thủy thì Thủy kiệt ... ?
Đây chính là sự phức tạp nhưng khá tinh tế và linh hoạt của cổ nhân khi lấy Âm Dương Ngũ hành làm căn bản cho sự vận động không ngừng của vũ trụ. Rõ ràng sự đồng tính chất của Ngũ hành, chưa hẳn đã là điều tốt đẹp mà còn phụ thuộc vào sự hòa hợp, thuận lý Âm Dương của Ngũ hành, tức lý tính của Ngũ hành. Đây cũng chính là nguyên tắc bất di bất dịch khi tìm hiểu về nguyên lý chuyển dịch của Ngũ hành.
Lấy 2 tuổi có bản mệnh là Đại Hải Thủy với Giản Hạ Thủy làm ví dụ.
Đại Hải Thủy có nghĩa là nước biển rộng mênh mông, là nơi dung nạp mọi nguồn nước từ sông, suối đổ về. Trong khi Giản Hạ Thủy chỉ là nước dưới khe suối, như vậy, sự kết hợp giữa 2 hành Thủy này tưởng rằng được tương hòa nhưng thực chất là gần như tương khắc, bởi Đại Hải Thủy đã hút hết nước của Giản Hạ Thủy, làm cho Giản Hạ Thủy bị suy yếu, thậm chí bị cạn kiệt.
Hay như Sơn Hạ Hỏa là lửa chân núi rất sợ Tính Lịch Hỏa (lửa sấm sét) vì nếu có sự kết hợp giữa 2 loại Hỏa này thì Sơn Hạ Hỏa sẽ bị Tính Lịch Hỏa tiêu diệt ánh sáng. Đây chính là ví dụ của cách “lưỡng Hỏa thì Hỏa diệt”.
Tóm lại, khi tìm hiểu về Ngũ hành tương hòa, người đọc nhất thiết cũng phải tuân thủ nguyên tắc 3 yếu tố:
Cả 3 yếu tố trên đều phải được cân nhắc và chú trọng như nhau, không coi nhẹ bất cứ yếu tố nào, cho dù yếu tố thứ 3 có thể coi là yếu tố quan trọng, có giá trị gần như quyết định nguyên lý tương sinh - tương khắc và tương hòa của Ngũ hành trong khá nhiều trường hợp. Tuy nhiên, tùy theo từng trường hợp, người luận giải phải uyển chuyển, linh hoạt để có lời kết luận xác đáng.
(Trích trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến, nxb Thanh Hóa)

Bài viết được tác giả gửi đến trang nhà Xem Tướng chấm net, tháng 9 năm 2015
Một số sách của tác giả Đặng Xuân Xuyến đã xuất bản như:
Ông bà ta thường nói: "Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi" để chứng tỏ sức mạnh xua đuổi tà khí của hai loại vật phẩm này. Dùng muối để hóa giải những nguồn năng lượng tiêu cực trong gia đình là một vũ khí phong thủy hữu hiệu từ nghìn đời nay.
Tác dụng của muối trong phong thủyVào những ngày Tết Nguyên đán, bạn nên thay một lọ nước muối mới cho gia đình. Khi mùa đông và năm cũ kết thúc, mùa xuân và năm mới chính thức bắt đầu là lúc đổ bỏ hết tà khí của quá khứ để hướng tới hiện tại và tương lai.
Trong nhiều nền văn hóa cổ đại, bao gồm cả Việt Nam, Trung Quốc, muối được xem là có tính chất làm sạch và đã được sử dụng bởi các giáo phái, tôn giáo khác nhau. Muối giúp xua đuổi ma quỷ và năng lượng tiêu cực.
Trong phong thủy, tinh thể muối kết hợp với nước càng làm gia tăng tác dụng. Thêm vào đó, những đồng tiền kim loại tạo nên các phản ứng giúp tẩy rửa và tiêu tán chi năng lượng tiêu cực.
Làm thế nào để dùng muối hóa giải?
Khi đầu năm mới đến, gia chủ có thể rắc muối biển ở từng phòng và trước cửa nhà để xua tà khí, đón vận may. Ngoài ra, cầm một nắm muối và ném qua vai trái của mình. Bạn nên nhớ đừng nhầm lẫn vì ném qua vai phải còn mang lại gấp đôi xui xẻo. Tắm nước muối cũng giúp da dẻ sạch sẽ, thanh lọc cơ thể giúp tinh thần sảng khoái hơn.

Sau khi cả người và nhà đều được thanh lọc sạch sẽ, bạn chuẩn bị một bát nước muối phong thủy để xua tà khí cho suốt cả một năm sau đó. Đầu tiên, cho muối vào đầy 3/4 bát hoặc ly thủy tinh rồi đặt 6 đồng xu xếp theo hình vòng tròn vào bát. Bạn chú ý đặt mặt dương của xu ngửa lên trên. Cho nước từ từ vào và đặt bát lên một miếng vải lót. Trong suốt một năm, không che miệng bát và để yên tại cùng một vị trí, không xê dịch hay động chạm. Nếu bị dịch chuyển, năng lượng tiêu cực đã tích tụ sẽ bị tan vỡ. Đến ngày cuối năm, bạn hãy đổ bát nước muối đựng xu đó đi.

Đặt bát nước muối ở cung Tài lộc (Đông Nam) nếu muốn giàu có, hoặc ở cung Gia đạo (hướng Đông) nếu muốn cải thiện sức khỏe.

Bát nước muối trước và sau một năm
Theo Đông Đông (Fengshui) (Khám Phá
Con cái của Tào Tháo, cả nam lẫn nữ đều rất đông. Tuy nhiên, do tư tưởng trọng nam khinh nữ, cả đời Tào Tháo sinh được mấy người con gái thì không thấy sử sách ghi chép rõ.
Tuy nhiên, việc Tào Tháo lợi dụng những cuộc hôn nhân của con gái để duy trì và củng cố quyền lực của mình, đem rất nhiều con gái của mình gả cho các vương công, đại thần, thậm chí là… hoàng đế được sử sách ghi chép khá đầy đủ.
Từ những gì được ghi chép trong các sách "Tam Quốc chí" của Trần Thọ và "Hậu Hán thư" của Phạm Diệp, chúng ta có thể biết rằng, chí ít Tào Tháo có 7 cô con gái, bao gồm: Tào Hiến, Tào Tiết, Tào Hoa, Thanh Hòa Trương Công chúa, An Dương Công chúa, Kim Hương Công chúa và Lâm Phần Công chúa.
Trong đó, câu chuyện ba nguời con gái của Tào Tháo cùng lấy một chồng là câu chuyện được sử sách nhắc tới nhiều nhất.

Tào Tháo trên phim
Theo sử sách chép lại vào năm Kiến An thứ 18, tức năm 213, Tào Tháo đem ba cô con gái của mình là Tào Hiến, Tào Hoa, Tào Tiết cùng gả cho Hán Hiến Đế Lưu Hiệp làm phi tử.
Những cô gái có phụ thân là vương thất là một hạnh phúc những cũng là một bi kịch. Là con gái của Ngụy vương Tào Tháo, các nàng công chúa cũng không hạnh phúc hơn ai.
Những nàng công chúa của Tào Tháo đều là người có tài sắc và cá tính riêng. Vì muốn củng cố vị trí quyền lực của mình, Tào Tháo đã dùng con gái mình thành "lễ vật" để kết thân với hoàng thượng.
Năm thứ 18 Kiến An tức năm 213, Tào Tháo đã gả trưởng nữ Tào Hiến, Tào Tiết và Tào Hoa vào cung phong làm phu nhân hầu hạ Hán Hiến Đế Lưu Hiệp.
Đến năm 214, Tào Hiến được phong làm quý nhân nhưng bất hạnh không có con.
Sau khi Tào Hiến qua đời được hợp táng cùng với Hán Hiến Đế và được truy phong làm Hiếu Hiến Tào hoàng hậu. Tào Hoa cũng trở thành phi tần trong cung của Hán Hiến Đế.
Nàng thứ hai Tào Tiết được phong làm hoàng hậu. Hán Hiến Đế vốn đã có vị hoàng hậu tên là Phục Thọ.
Phục Thọ vì bất mãn với Tào Tháo nên đã viết thư mật báo cho cha mình là Phục Hoàn không ngờ bị phát hiện. Tào Tháo đã ép Hán Hiến Đế phế Phục Thọ và lập Tào Tiết làm hoàng hậu.
Chính vì thế, tuy là hoàng đế bù nhìn nhưng vì chuyện này mà Hán Hiến Đế Lưu Hiệp rất ghét Tào hoàng hậu.
Tào Tháo cũng chả để ý đến điều đó. Mục đích đã đạt được, con gái đã gả cho Lưu Hiệp thì giờ là người nhà họ Lưu, chết cũng là ma nhà họ Lưu.
Cuộc đời Tào hoàng hậu chưa bao giờ được hưởng hạnh phúc thật sự.
Năm 215, Tào Tiết được phong thành hoàng hậu. Tuy là con gái họ Tào nhưng Tào Tiết rất trung thành với Hán Hiến Đế, vì cơ nghiệp họ Lưu.
Không biết nhiều về hoạt động của Tào Tiết trong thời gian làm hoàng hậu, nhưng rõ ràng thời điểm đó Hán Hiến Đế hoàn toàn mất quyền lực, cha bà là Tào Tháo nắm toàn bộ quyền lực.
Năm 220, Tào Tháo mất, anh bà là Tào Phi lên nối ngôi Ngụy vương. Tháng 10 năm đó, Tào Phi cướp ngôi Hán Hiến Đế, kết thúc triều đại nhà Hán, lập ra triều Tào Ngụy.
Khi sai người tới hỏi bà để lấy ngọc tỷ truyền quốc. Tào hoàng hậu nhất định không chịu đưa. Sau vì bị ép quá, Tào hoàng hậu vứt ngọc tỷ xuống lầu, khóc mắng Tào Phi:
Trời không phù hộ cho nhà ngươi đâu!
Năm 214, có người tố cáo việc hoàng hậu Phục Thọ cùng cha là Phục Hoàn mưu giết Tào Tháo.
Tào Tháo bắt giết cha con Phục hoàng hậu, rồi ép Hiến Đế lập một trong ba vị Tào quý nhân, con gái mình làm hoàng hậu mới.
Hán Hiến Đế không biết quyết định chọn ai bèn chỉ định Tào Tiết là người ở giữa làm hoàng hậu.
Cũng vì Tào Tiết không hợp tác với anh trai nên nàng và Tào Phi xung khắc với nhau vì thế cuộc sống càng ngày càng trở nên khó khăn, thê thảm.
Hán Hiến Đế bị phế làm Sơn Dương công. Tào Tiết trở thành Sơn Dương công phu nhân. Năm 226, Tào Phi mất, con là Tào Tuấn, tức cháu gọi Tào Tiết bằng cô, lên kế vị.
Năm 234, Sơn Dương công Lưu Hiệp mất. 26 năm sau, vào năm 260, Sơn Dương công phu nhân Tào Tiết qua đời, an táng với Hán Hiến Đế tại Thiền lăng với thụy hiệu là Hiến Mục hoàng hậu với nghi lễ nhà Hán.
Nhưng cũng còn vớt vát chút thể diện cuối cùng, khi Tào Tiết qua đời, Tào Phi vẫn lấy thân phận và lễ nghi của Hán triều hoàng hậu để tổ chức tang lễ cho em gái và cho hợp táng cùng với Hán Hiến Đế.
Cả đời Tào Tiết chả bao giờ được sống vui vẻ. Còn sống thì bị chồng ghẻ lạnh, căm ghét. Huynh trưởng cũng không ủng hộ vì nàng đã không chịu hợp tác.
Người đời thì chửi nàng là gian tế của Tào Tháo. Một tài nữ cành vàng lá ngọc mà phải sống đầy bi thảm.
So với các khoa khác, tử vi xuất hiện tương đối chậm, nhưng đã mở đường cho một học thuật riêng bằng lý số theo một hướng đặc thù. Tử vi có khả năng vạch ra và dự báo những bước đường đời của con người và chỉ dẫn con người những cách xử thế tối ưu để thành đạt, hoặc ít ra cũng chủ động trước những hiểm hoạ sắp xảy ra.
Xuất phát từ quan điểm “Thiên nhân tương dữ” trong triết học Trung Quốc, Tử vi quan niệm con người là một phần của thế giới tự nhiên, thống nhất với tự nhiên, “là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ”. Bởi vậy, khi con người sinh ra ở một thời điểm nhất định thì tính cách tương ứng – từ tính cách ấy mà tạo nên số phận. Trần Đoàn đã quy nạp được hầu hết tính cách của con người vào 110 sao, xây dựng một phương pháp nghiên cứu con người và số phận con người. Quy luật của vũ trụ đã được diễn đạt thành quy luật của đời người. Trước đây, Kinh Dịch và Tử vi thường bị người ta quy là mê tín dị đoan. Bởi lẽ, người ta không hiểu được sự phong phú của nó đến nhường nào, thêm vào đó một số người lợi dụng tử vi để kiếm tiền, đã xuyên tạc bản chất của tử vi.
Tử vi đẩu số là phương pháp dự trắc về vận mệnh con người quan trọng nhất trong Mệnh lý học phương Đông. Phương pháp này lấy NĂM, THÁNG, NGÀY và GIỜ SINH để xác định vị trí 12 CUNG, tạo ra LÁ SỐ TỬ VI.
12 CUNG là thuật ngữ thiên văn học để đánh dấu 12 lần gặp gỡ giữa quỹ đạo vận hành của Mặt trời và Mặt trăng trong một năm. 12 Cung cũng nói lên nội dung và nhân tố chính liên quan tới vận mệnh của cuộc đời một con người.
12 CUNG gồm: Mệnh, Huynh đệ (anh em), Phu thê (vợ chồng), Tật ách (bệnh tật), Thiên di (xuất ngoại), Nô bộc, Tài bạch (của cải), Điền trạch (đất đai), Phụ mẫu (cha mẹ), Quan lộc (sự nghiệp), Phúc đức , Tử nữ (con cái). Ngoài ra còn cung Thân (dự đoán tương lai của đời người), cung này tương phối cùng các Cung khác chứ không có vị trí riêng. Trong đó, MỆNH là Cung quan trọng nhất, vì Mệnh tốt, xấu gần như được phản ánh tại cung này.
Vai trò của Cung Mệnh và cung Thân :
Đầu tiên phải đả phá cách nhìn nhận "Nửa đời trước ứng với Mệnh, nửa đời sau ứng với Thân” ; ” Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt ” … Mà chúng ta phải nhìn nhận rằng Mệnh và Thân là một cặp Thể Dụng tương hổ với nhau . Mệnh và thân đều phản ảnh suốt cả cuộc đời con người chứ không có sự phân chia vai trò trước sau. Mệnh là thể, Thân là Dụng. Và bài toán Mệnh Thân là Bài toán đầu tiên và cơ bản nhất. Nếu nhìn nhận và giải quyết rõ ràng, kỹ lưỡng thì chúng ta đã nắm được 80% tính chất số mệnh của con người . Có lẽ đầu tiên người sáng chế ra môn tử vi chỉ để làm bài toán này, còn chuyện vận hạn là nhu cầu phát sinh sau đó.
Do vậy khi đoán cung Mệnh tức là đoán tổng quát tính chất của đương số, kết hợp cung Thân để coi cái hay của mệnh có được phát huy hay không phát huy như thế nào ? Sự cộng hưởng của mệnh Thân như thế nào ? Mệnh Thân chỏi nhau như thế nào ? Dưới quan niệm thể dụng chúng ta sẽ suy luận và tiên đoán nhiều vấn đề trong cuộc đời đương số.
Điều đáng lưu ý là trên lá số có 6 cung dương và 6 cung âm, Mệnh thân đều hoặc là ở cung dương hoặc là ở cung âm . Đó là môi trường để Mệnh và Thân tương hổ với nhau. Trong 6 cung cùng âm hoặc cùng dương thì chia làm hai nhóm : Nhóm thân cư Mệnh , Tài , Quan và nhóm Thân cư Di, Phúc , Phối ( Phu, Thê ). Nhóm thứ nhất do nằm trong thế tam hợp, nếu mệnh có đủ những bộ sao như Cơ Nguyệt đồng Lương, Tử phủ vũ Tướng, Sát phá liêm tham, Cự Nhật … thì độ cộng hưởng của mệnh và thân rất cao và đương nhiên là thuận lợi, độ số thành công tăng lên rất cao, đặc biệt thân cư Mệnh. Khi nói đến thế tam hợp cần phải nói đến bộ Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ, nói một cách khoa học thì đây là bộ sao chỉ trạng thái năng lượng cao, gặp tổ hợp sao xấu thì hoạ càng mạnh, gặp tổ hợp sao tốt thì phúc càng nhiều ! (vấn đề vòng thài tuế tôi sẽ bàn sau). Còn nhóm thứ hai thì Mệnh Thân không nằm trong thế tam hợp, đó là yếu tố bất lợi trong việc không liên kết được các bộ sao trong thế tam hợp, mệnh Thân thường đóng ở các bộ sao khác nhau, nhiều khi là chỏi nhau, như vậy là bất lợi, hoạ nhiều hơn phúc !
Xuất phát điểm của Tử vi đẩu số là Học thuyết Âm Dương Ngũ hành, phép đếm Can Chi và quan điểm hợp nhất Trời Đất và Con Người (“Thiên Địa Nhân hợp nhất”), lấy ĐẶC ĐIỂM VỊ TRÍ của các sao CÁT, HUNG, HÓA trong chùm sao tử vi để suy luận ra vận mệnh con người.
Phương pháp cơ bản của Tử vi đẩu số là căn cứ ngày, tháng, năm và giờ sinh của mỗi người định ra 12 cung và an hệ thống sao lên LÁ SỐ rồi xét sự tương quan vị trí các cung, các sao mà đoán ra địa vị, nhân cách, phúc họa, sang giầu của người đó.
SAO là yếu tố cơ bản của Tử vi đẩu số. Sự phân bổ và tổ hợp của Sao cùng độ SÁNG và độ lành dữ (cát hung).
2/ MỖI CUNG CHO TA NHỮNG THÔNG TIN GÌ ?
Cung Mệnh: Tương đương bộ não con người ta, là Cung Chính trong 12 Cung.
Cung Huynh đệ: Phán đoán quan hệ bản thân với anh chị em có tốt không.
Cung Phu Thê: Phán đoán tình trạng hôn nhân, đối tượng kết hôn, cuộc sống hôn nhân mỹ mãn hay không.
Cung Tử Nữ: Suy đoán về cá tính, tư chất, học hành của con cái.
Cung Tài Bạch: Là cung sinh tài (tiền), phán đoán tài vận, khả năng quản lý tài chính và tình hình kinh tế của một người.
Cung Tật Ách: Đoán biết tình hình sức khỏe và thể chất của một người.
Cung Thiên Di: Phán đoán Vận xuất ngoại, phát huy tài năng, biểu hiện sức sống của bản thân.
Cung Nô Bộc: Còn được gọi là cung Thân hữu (bạn bè). Phán đoán mối quan hệ với đối tác, đồng nghiệp, bạn bè.
Cung Quan Lộc: Phản ánh thong tin về sự nghiệp, học vấn, địa vị.
Cung Điền Trạch: Xét xem có thể thừa kế cơ nghiệp tổ tiên không. Hoàn cảnh sống.
Cung Phúc Đức: Phản ảnh điềm lành dữ trong cuộc sống tinh thần như tâm thái, nhân sinh quan, sở thích.
Cung Phụ Mẫu: Dự đoán tính cách, hoàn cảnh gia đình, địa vị của cha mẹ, tình thương của cha mẹ, của sao có ảnh hưởng quyết định tới sự luận giải lá số.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thu Hương (##)
1. Hội Đình Bà Tía
Thời gian: tổ chức từ ngày 8 tới ngày 10 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: thôn Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Nhằm tôn vinh vị Thánh hoàng làng là Bà Tía - một vị tướng của hai Bà Trưng thời đầu công nguyên.
Nội dung: Trong hội đình Bà Tía có lễ tế thành hoàng làng, và còn nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: thi đấu vật, đánh cờ, đi cầu đập nồi niêu.
2. Hội Đình Thanh Liệt
Thời gian: Tổ chức từ ngày 8 tới ngày 10 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Nhằm suy tôn ở đình ngoại là Phạm Tu (một võ tướng, công thần ở thời nhà Lý. Ông còn là người có công lớn giúp vua Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, thành lập nước Vạn Xuân); ở Đình nội thì tôn vinh Chu Văn An (một nhà giáo, thầy thuốc, một đại quan trong triều đại nhà Trần và được phong vinh Trình Công)
Nội dung: Trong hội đình, phần lễ có phần rước kiệu từ đình nội ra đình ngoại, còn phần hội thì có tiết mục diễn tuồng, chọi gà, đánh cờ bỏi.
3. Hội Đền Nghè
Thời gian: tổ chức từ ngày mùng 8 tới ngày 10 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn nữ tướng Lê Chân là một vị tướng giỏi của hai Bà Trưng được tấn phong làm Thánh chân công chúa hai Bà Trưng.
Nội dung: Bên cạnh các hoạt động tế lễ dâng hương thành lễ với cỗ tế chay, thì hội đền Nghè còn thu hút đông đảo du khách khắp nơi đến với lễ rước mũ.
![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Những vật phẩm phong thủy giúp phát tài, phát lộc |
Cửu cung phi tinh năm Đinh Dậu 2017
![]() |
| Ảnh minh họa |
Phật thủ thường được bày trên mâm ngũ quả hoặc thắp hương tổ tiên hơn là để ăn. Đặc điểm này là do nó có vỏ màu xanh nhạt hoặc vàng, hình thù như bàn tay Phật và ruột thì lại đặc xốp trắng.
![]() |
| Mẹo chọn mua quả phật thủ để ban thờ ngày tết. |
Tuy nhiên, là một loại cây thuộc họ cam quýt nên vỏ cũng như thân cây của nó có chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất tương tự như các loại quả cùng họ. Đặc biệt là vị chanh và tinh dầu từ vỏ.
Quả phật thủ thường được đặt ở trung tâm và nơi cao nhất trong mâm ngũ quả. Theo quan niệm xưa phật thủ là loại quả dùng để thờ Phật và gia tiên vì có mùi thơm quyến rũ, tác dụng lưu giữ thần, Phật và gia tiên lưu lại trong nhà lâu hơn để phù hộ cho gia chủ.
Chính vì thế, vào dịp Tết đến nhà nào cũng cố gắng mua bằng được một quả phật thủ để bày cúng ông bà, tổ tiên dù giá bán của loại quả này khá cao.
Những ngày này, người ta đã bắt đầu săn lùng những quả phật thủ có hình dáng đẹp, có giá trị cao để làm quà biếu hay đơn giản là trưng bày trên mâm ngũ quả ngày Tết. Để tìm ra được một quả phật thủ với vẻ đẹp thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó ở trên phố không phải dễ.
Khi chọn mua phật thủ người ta thường căn cứ vào hình dáng của quả, ngoài yêu cầu quả to, tay dài, mập, có nhiều ngón đều thì quả phải già, trơn cật, màu hơi mơ vàng. Phật thủ non cũng có màu vàng, hình dáng quả đẹp nhưng lại rất nhanh hỏng.
Quả phật thủ muốn trưng được lâu, giữ được màu đẹp thì cứ khoảng 5−7 ngày, người ta lại dùng rượu trắng để lau bụi bẩn bám trên quả. Cẩn thận hơn thì khi đặt lên bàn thờ, bạn có thể để một bát nước, cho thêm vài viên thuốc B1 vào, sau đó đặt cành phật thủ vào bát nước. Chỉ với vài động tác đơn giản như thế, chúng ta sẽ trưng bày được quả này trên bàn thờ gia tiên từ 4−7 tháng.
Ngoài ý nghĩa thờ cúng tâm linh, quả phật thủ còn được nhiều người tìm mua để làm thuốc chữa bệnh. Phật thủ ngâm với mật ong dùng để chữa ho rất tốt. Vì thế, cứ mỗi dịp Tết đến quả phật thủ lại được nhiều người tìm mua.
Trong những năm gần đây ngoài mua quả phật thủ bày cúng ông bà, tổ tiên thì cây phật thủ cũng được rất nhiều người săn lùng bởi vẻ đẹp của nó.
Cho cuống Phật thủ vào ly có nước dâng cúng, sau 15 -30 ngày cuống cây sẽ ra rễ, bộ rễ này sẽ có tác dụng hút nước để nuôi quả, sử dụng và bảo quản tốt nhất có thể kéo dài cho đến 4 hoặc 5 tháng.
Trụ ngày trong mệnh học lấy giờ tí bắt đầu, tính thuận chiều kim đồng hồ đến giờ hợi, tức một ngày chia làm 12 giờ, mỗi giờ hai tiếng đồng hồ. Phân giới giữa ngày trước và ngày sau được lấy theo giờ tí, nói chung để đơn giản thường tính giờ tí bắt đầu từ 11 giờ đêm. Trước 11 giờ đêm là giờ hợi ngày hôm trước, sau 11 giờ đêm là giờ tí của ngày hôm sau. Trong dự đoán phải đặc biệt chú ý lập chính xác giờ sinh ở ranh giới của ngày. Rất nhiều người sinh đêm đó, nhưng vì không chú ý đã sang giờ tí hay chưa, nên không quyết định được thuộc ngày hôm trước hay ngày hôm sau. Ngoài ra cũng có một số người do không hiểu nên cứ lấy ranh giới giữa hai ngày là 12 giờ đêm. Như thế nên khi sinh trước 12 giờ đêm lại tính nhầm ngày hôm trước. Sự sai lầm đó quả thật là “sai một ly đi một dặm” , khiến cho Tứ trụ không còn là của người đó. Tổ hợp của Tứ trụ không giống nhau, kết quả sự cân bằng cũng không còn đúng nữa. Điều đó dẫn đến dự đoán không chuẩn do lấy thời gian sai. Dự đoán vốn là để tim điều tốt mà hướng tới, nhưng khi lấy sai ngày thì làm sao bảo đảm cho lời nói của minh đối với người muốn đoán được . Tuy nhiên đối với người có kỹ thuật đoán cao, có thể thông qua đoán quá khứ của người đó để thử, xác định lại ngày giờ sinh cho chuẩn, nhưng đó lại là việc rất mất thời gian và tâm lực. Nếu đoán không tốt lại còn ảnh hưởng đến cả danh dự của mình. Cho nên nếu đã đoán thì người muốn đoán cần cố gắng cung cấp chính xác những thông tin về ngày sinh tháng đẻ.
Ngày nay ngày sinh nói chung ghi theo dương lịch. Ta có thể tra Lịch vạn niên để tìm ra can chi ngày âm lịch. Lịch vạn niên mấy năm về trước lấy 10 ngày làm một tuần. Ví dụ ngày 1 là ngày giáp dần, ngày 11 là ngày giáp tý, ngày 21 là ngày giáp tuất. Nếu sinh ngày 4 thì cách tính là giáp dần, ất mão, bính thìn và đinh mão. Mấy năm lại đây, tra Lịch vạn niên không những có thể tra được can chi năm, can chi tháng mà còn có cả can chi ngày. Trong điều kiện không có Lịch vạn niên thì vẫn phải cố gắng nắm được phương pháp tính trên bàn tay kết hợp với các bài ca truyền miệng.
Vào một ngày đầu mùa hè 2010, do vấn đề công việc và sinh kế, tôi có một chuyến đi xa. Nơi tôi đến là thành phố Sài Gòn đông đúc, phồn hoa. Thật may mắn cho tôi, ngoài vấn đề kinh tế, thì tôi có duyên được học một môn khoa học dự đoán hết sức lý thú. Không chỉ với tôi, mà nó còn là đam mê của người người khác : Tử vi.
Như một cơ duyên, một lần uống trà với bác tôi, cụ kể lại cho tôi quá trình cụ đến với Tử vi ra sao. Chị dâu tôi, có một thời kỳ cho vay ăn lời. Một thanh niên không thể trả được số tiền vốn – lãi, nên đã bỏ trốn. Cậu ta bỏ lại một chiếc rương gỗ, đã khóa chặt. Khi thu chiếc rương đó về, gia đình bác tôi phải vất vả mới mở nó ra được. Điều kỳ diệu là trong đó có sách vở về môn Tử vi.
Phân tích kỹ chiết tự thì “Tử” là màu tím, “vi” là sự nhỏ bé, diệu kỳ và huyền bí. Theo nhiều giai thoại kể lại thì trong cung Linh Tiêu của Ngọc hoàng, có một loại hoa nhỏ, màu tím dùng để dự đoán rất là linh nghiệm.
Theo một cách giải thích khác, thì Tử vi là một ngôi sao trỏ ngôi vua trong chòm tử vi. Và người ta lấy tên ngôi sao này đặt tên cho môn khoa học dự đoán này.
Vậy Tử vi là gì? Hiểu một cách đầy đủ, đó là một môn khoa học dự đoán, cát hung, thịnh, suy, thăng trầm, của con người. Dựa vào bộ môn này, con người ta có thể đoán được từ gia đạo, công danh, sức khỏe, bệnh tật và tiền đồ của con người
Theo nhiều các tài liệu có giá trị đáng tin cậy còn lưu truyền lại. Môn khoa học này do một học giả, đạo sỹ thời Tống, bên Trung Hoa sáng lập ra. Đó là Tổ sư Trần Đoàn, hay Hi Di lão tổ. Ông tên thật là Trần Đoàn, hiệu là Hi Di tiên sinh, còn có hiệu khác là Phù Dao tử, tên tự là Đồ Nam. Không ai rõ năm sinh năm mất của ông. Chỉ biết ông sống vào cuối thời Ngũ đại nhà Chu đầu thời nhà Tống, đây là giai đoạn đất nước Trung Hoa có nhiều biến cố thăng trầm về chính trị, kinh tế, chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên, đất nước bị chia sẻ, các triều đại hưng khởi rồi lại nhanh chóng sụp đổ. Đến khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn, xây dựng nhà Tống, thì đất nước mới được yên ổn, thái bình.
Trần Đoàn sinh trưởng trong một gia đình trí thức đương thời, cha ông làm công tác, biên soạn thiên văn, lịch pháp. Bình sinh ngài là người tinh thông tất cả các bộ môn, Nho. Y, Lý, Số. Những người cùng thời viết về người, là một tấm gương hiếu học, kiến văn quảng bác, mắt chẳng bao giờ rời sách vở, thi thư, không màng danh lợi. Ngoài môn Tử vi, người còn sáng lập môn Hà lạc bát tự (người ta hay gọi là tứ trụ), nhân tướng học, phong thủy, cũng có công lao của người đặt nền móng, hệ thống hóa. Học trò của người có danh sỹ Thiệu Ung, tự Khang Tiết, là một gương mặt tiêu biểu điển hình, kế thừa học thuật của ngài và sáng lập ra môn Mai Hoa dịch số.
Sau khi Vua Thái Tổ nhà Tống thống nhất thiên hạ, lập nên chế độ thái bình thịnh trị, có mời Hi Di lão tổ làm quan, nhưng người từ chối, và xin tu luyện ở núi Hoa Sơn, nhờ tư chất thông tuệ, tâm hồn khoáng đạt, không màng danh lợi, ngài còn biết thuật dưỡng sinh, tu tiên, nên ngài thọ 118 niên.
Tài liệu nguyên gốc của môn Tử vi là cuốn “Triệu Thị minh thuyết – Tử vi kinh”. Mới đầu bộ môn này lưu truyền trong hoàng thất nhà Tống. (vua Tống họ Triệu) và người ta hay gọi là phái Triệu gia. Như vậy, phái này được thừa hưởng bộ môn này trực tiếp và nguyên gốc từ Tổ sư Hi Di
Đến thời nhà Trần, Hoàng Bính – một viên quan nhà Tống, đoán rõ được vận nước sẽ mất bởi tay người Mông Cổ, ông bỏ sang Đại Việt, xin cư ngụ, làm tôi con nhà Trần, ông mang về hai bộ tài liệu “Triệu Thị minh thuyết – Tử vi kinh” và “Tử vi tinh nghĩa”. Nhà Trần trên cơ sở đó biên soạn thêm, tạo ra bộ “Đông A di sự” và phái Tử vi Đông A ra đời (Chữ Trần ghép từ chữ Đông và chữ A – nên họ Trần còn gọi là họ Đông A, hào khí Đông A…)
Đầu thời Lê – Trịnh, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một học giả nổi tiếng đương thời, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Có khả năng dự đoán tương lai trong mấy thế kỷ. Ông cũng đóng góp công lao không nhỏ, vào việc nghiên cứu Tử vi ở nước nhà, đáng tiếc là sách vở của ông bị thất lạc, không ai còn lưu giữ được
Cuối thời Lê – Trịnh đầu thời Tây Sơn, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784), đã nghiên cứu Tử vi, và cho ra đời hay công trình vĩ đại, đó là bộ “Thần kê định số”, và “Phú tử vi của Lê Quý Đôn”. Hai bộ sách này hiện nay vẫn còn lưu truyền, và nhiều người học Tử vi đẩu số ưa chuộng sử dụng. Được xem như sách gối đầu giường vậy.
Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến những năm 1991, do chủ trương bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan của chính quyền Cách mạng, nên phong trào học tập, nghiên cứu Tử vi ở miền Bắc chìm lắng xuống. Thế nhưng ở Miền Nam phong trào học thuật phát triển rầm rộ, nổi lên những tên tuổi, sừng sững như những cây đại thụ vĩ đại
Học giả Nguyễn Phát Lộc với hai bộ sách Tử vi hàm số, và Tử vi Tổng hợp. Cuốn Tử vi hàm số, tác giả nêu bật lên vấn đề, hàm số tử vi, Phúc, Mệnh, Thân, Quan, Tài, Điền. Với đặc điểm một cấu trúc lá số như vậy, thì tổng hòa các mối quan hệ có tính chất xâu chuỗi logic với nhau như thế nào? Khai thác được hàm số này, thì quá trình luận giải đã đạt tới sự thành công tương đối.
Cuốn tử vi tổng hợp, tác giả nghiên cứu kỹ, các bộ sao, nói lên các cách về tính tình (ghen tuông, tự ái, gian xảo, trung hậu…), các cách về nghề nghiệp, khoa bảng, giàu có thịnh vượng hoặc ngược lại. Hạnh phúc cá nhân, sự đáp ứng, và hưởng thụ về mặt vật chất, tinh thần
Cụ Thiên Lương và môn phái của cụ có bộ Tử vi nghiệm lý, nghe đồn môn phái của cụ còn lưu giữ bí kíp do cụ tìm ra, và lưu truyền nội bộ. Khám phá đặc biệt là nhân sinh của các nhóm người (vòng Thái thế, vòng Thiên không, vòng Thiếu âm và vòng Tuế phá). Cụ còn nghiệm lý sâu sắc về các đại vận làm nên sự thành công của đời người, hoặc là sự sa lầy, thất bại, khó khăn, trắc trở
Cụ Vân Đằng Thái Thứ Lang tổng hợp và biên soạn cuốn Tử vi đẩu số Tân biên. Nội dung cơ bản, đặc biệt về cung điền, vấn đề âm phần phúc đức và các yếu tố tâm linh huyền ảo… Cả ba vị này đều được coi là những người đặt nền móng cho nền Tử vi đương đại
Tử vi ảo bí biện chứng là di sản của cụ Hà Lạc dã phu Việt Viêm Tử. Ngoài ra, còn phải kể tới các danh sư nổi tiếng thời kỳ ấy như cụ Ba La, Kiến trúc sư Nguyễn Bảo Mạnh, Giáo sư Hoàng Quân, Cụ Nguyễn Văn Y, cụ Đỗ Văn An…
Gần đây nhất, là Tử vi ứng dụng, của cụ Bửu Đình.
Ngày nay, dưới chủ trương mở cửa đổi mới của nhà nước và của Đảng, môn Tử vi quay về với đúng giá trị của nó, là một khoa học dự đoán chân chính, không phải là mê tín dị đoan như người ta vẫn nghĩ. Chính điều này, tạo nên một làn sóng nghiên cứu và học tập bộ môn khoa học này, sách vở tài liệu được in ấn, lưu hành rộng rãi. Các trung tâm lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, các hội quán được xây dựng, trên cơ sở dự đoán cát – hung, may – rủi, tránh được những đổ vỡ, thất bại cho nhiều người. Trên cơ sở đó, việc học tập trao đổi giao lưu về học thuật cũng được đẩy mạnh, cởi mở hơn, đặc biệt, trên các diễn đàn mạng xã hội, các webzide về học thuật
Một bình minh đang hé rạng, hứa hẹn rất nhiều thành công của Tử vi đã mở ra. Chúng ta tin rằng, trên con đường khám phá bản thân, vận mệnh, và tu dưỡng tốt hơn đang ngày càng gần tới đích. Chúng ta tự hào rằng chúng ta được kế thừa, là con cháu của các bậc tiền hiền, trong tương lai không xa, chúng ta sẽ làm rạng rỡ, di sản, cơ đồ của họ Đông A, Lê Quý Đôn, cụ Thiên Lương…
Tục ngữ có câu “Ớt nào mà ớt chẳng cay” để nói lên bản tính ghen tuông cố hữu của giới phụ nữ có chồng. và khổ một nỗi là các đấng lang quân đều có tâm hồn lả lướt, không nhiều thì ít, cứ luôn đề cao “trai anh hùng năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có 1 chồng” để tự bào chữa, khiến cho các bà vợ lúc nào cũng nghi ngờ và theo dõi chồng. Thậm chí khoa Tử Vi cũng được các bà chiếu cố tận tình để tìm hiểu tâm hồn thầm kín của chồng.
Vì vậy tôi xin dành trọn bài hôm nay để bàn về “đa thê” thực sự ngõ hầu giúp được phần nào các bà biết Tử Vi đang thắc mắc về người bạn đời của mình. Nhưng tôi cũng xin nói trước với quý bà là đừng quá câu nệ tử vi (do bất cứ ai giải đoán) để đến nỗi “chén đĩa bay” 1 cách oan uổng thì lại còn tệ hại hơn, vì những điều giải đoán tử vi không bao giờ có thể hoàn toàn chính xác, nhất là khi người sử dụng không biết nắm vững.

1. Môi trường Tử vi thuận lợi cho đa thê
Tôi buộc lòng phải nêu ra một cách tương đối như vậy vì e rằng các bà áp dụng quá máy móc, đâm ra tai hại, nghĩa là tôi chỉ muốn nói rằng, nếu đàn ông nằm trong một trường hợp nào đó dưới đây có thể vướng vào vòng đa thê chứ không phải chắc chắn, vì có nhiều yếu tố linh động gia giảm mức ứng nghiệm đi. Tôi xin lỗi quý bạn vì sự dè dặt của tôi vì vấn đề này rất phức tạp và dễ gây hậu quả không hay.
Thông thường chúng ta có thói quen để ý đến các sao Đào, hồng, tả Hữu, Riêu, Mộc, Cái chiếu Thê Thiếp hoặc nô bộc hay Mệnh Thân hầu tìm hiểu về khía cạnh đa thê. Nếu chỉ có thế thực quá dễ dàng, đơn giản, chẳng cần phải nhờ đến thầy Tử Vi, vẫn biết rằng khi cung Thê có Đào hồng. Tả Hữu cũng hay ứng nghiệm như vậy, nhưng nhiều trường hợp không có các sao đó mà người chồng vẫn cứ đa thê thì làm sao ta hiểu được. Vì vậy ta cần phải phân biệt môi trường tạm gọi là “lộ” và “ẩn”.
a. Môi trường lộ
Xét về môi trường này tương đối dễ dàng, miễn là quý bạn thận trọng kết hợp một số cung và sao liên hệ là có thể thấy kết luận khá rõ rệt, vì đã gọi là “lộ” nghĩa là không có ý nghĩa ngược lại hoặc khác đi.
- Ví dụ : Một ông chồng Mệnh có Riêu, Mộc; cung Thê có Đồng âm, Trường Sinh, Đế Vượng; cung Nô có Tả Hữu, Đào hồng, Mộ; cung Di có Hoa Cái; cung Tài có Song Lộc thì hơi khó tránh được vấn đề đa thê. Tại sao vậy? Vì khi Mệnh có Riêu, mộc là tâm hồn ưa nhục dục; Cung Thê có những sao liệt kê trên là chủ về vợ mềm yếu, không áp đảo được chồng, nhất là sao Thiên Đồng thường chủ về canh cải, có nghĩa là vợ đổi mới hoài; Cung nô có đủ bộ sao chủ về ăn chơi, trụy lạc và được nhiều con gái thương yêu, phù hợp với Hoa Cái cư Thiên Di là ra ngoài được long nhiều người, bất luận nam nữ, già trẻ; trong khi đó, cung Tài song Lộc lại càng them phương tiện thu hút phái nữ cũng như bao bọc cho họ vì tiền bạc quá sung túc, thừa thãi…tức là quá đủ cho môi trường đa thê.
Trường hợp ông chồng Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa; cung Nô có Hồng Loan, Riêu hỉ; cung Quan có Tả Hữu; cung Thê có Cô Quả, Không Kiếp cũng chẳng kém gì trường hợp trên vì khi Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa thường chủ về hào hoa phong nhã, ưa bao dung phụ nữ, bất kể người đó là con gái hay đã có chồng. Cung Nô có hồng, Riêu, hỉ, chủ về phụ nữ dưới quyền hoặc trong giới giao du thiếu đứng đắn và ưa sắc dục, làm gì họ không mê dáng đẹp kiêu hung của Khôi Việt Đào. Trong khi đó, cung Quan lại có Tả Hữu là cách sốt sắng giúp đỡ mọi người, dễ đắc nhân tâm nên càng them sức hấp dẫn. Còn cung Thê thì dễ làm cho chồng xa lánh vì có Cô Quả Không Kiếp. Như thế tưởng cũng đã quá đủ yếu tố thuận lợi cho con người đa thê.
Vì mục “lộ” này khá dễ dàng nên tôi chỉ cần nêu ra hai ví dụ và chắc quý bạn có thể suy luận ra các trường hợp khác. Nghĩa là cứ thấy các cung và sao liên hệ hoàn toàn bổ túc cho nhau chứ không tương phản hoặc trái ngược nhau là dễ kết luận dứt khoát.
b. Môi trường ẩn
Khía cạnh này có thể nói là rất khó tìm ra vì cần xét cả yếu tố tâm lý. Nếu quý bạn chỉ xem phớt qua thì thế nào cũng lầm. Tôi cũng đã có lần chỉ muốn vứt bỏ Tử Vi vì không sao tìm hiểu được khía cạnh đa thê “ẩn”. Nay tôi xin nêu ra những ví dụ để quý bạn hiểu rõ, chứ không thể nào đưa ra một phương thức tổng quát để giải đoán vì khía cạnh này rất uyển chuyển
Tôi có được coi lá số 1 ông chồng Mệnh rất đứng đắn, vắng bóng hẳn các sao Đào, Riêu, mộc, Cái, Tham Lang; cung Thê cũng chứng tỏ là cô vợ đoan trang, nết hạnh, hiền thục và còn xinh đẹp nữa (vì có Long Phượng, Khoa, Quan, Phúc, Tứ Đức…); rồi cung Quan và Tài cho thấy đương số có chức phận và tiền bạc; duy chỉ còn cung Nô là có Tả Hữu, hóa Quyền, Xương Khúc, Thai Tọa, Khôi Việt – nghĩa là chưa có đủ yếu tố để đoán là đương số đa thê. Nhưng trên thực tế, đương số lại có ba vợ mới khổ chứ. Chính vì trường hợp này mà tôi nản chí nghiên cứu Tử vi. Nhưng cũng chính nhờ trường hợp này mà tôi đã tiếp tục hăng say, miệt mài với lý số khi đã được một cao thủ Tử Vi chỉ dẫn cách đây nhiều năm.
Thực thế, lá số trên không phải là sai trật, chỉ vì tôi đã bỏ qua một cung rất quan trọng, đó là cung Tử tức. Cung này có Đẩu Quân, Cô Quả, Kình Đà cho thấy là đương số rất hiếm con. Do đó, tuy là con người đứng đắn và biết yêu thương vợ đoan trang, nhưng đương số vì quá ham muốn có con, bất luận trai gái nên đã đành phải lấy thêm người con gái khác sau khi được sự thỏa thuận thực tình của người vợ. Tuy nhiên, khổ một nỗi là với bà thứ hai cũng chả có đứa con nào nên đương số lại kết hôn không chính thức với một bà thứ ba, và bà này sinh được một đứa con gái. Từ đó đương số sống với cả ba bà một cách thuận thảo…
Nếu suy nghĩ kỹ và lý luận, các bạn thấy rằng nhờ cung Thê thuần hậu, biết điều nên đương số mới tiện lấy vợ bé, và nhất là cung Nô quá tốt nên mới đem lại nguồn vui cho đương số, vì hóa Quyền trong trường hợp này không còn có nghĩa là vợ bé áp đảo, bắt nạt vợ cả mà thực ra chỉ chủ về uy tín (vì đã sinh được người con), huống chi lại có Khôi, Việt, Thai, Tọa, Xương Khúc chủ về người có tư cách, thông minh thì làm gì không biết cách làm vừa long vợ cả. Nói tóm lại, đầu dây mối nhợ là do cung Tử hiếm, rồi mới nhờ đến cung nô, nhưng cũng phải xét đến cung Tài và Quan, chứng tỏ là đương số phải đủy cả quyền quý nên mới nghĩ nhiều đến con cái nối dõi, và mới đủ khả năng bao bọc nhiều vợ, chứ nghèo nàn làm sao thực hiện được ý muốn của mình
Một trường hợp khác về đa thê rất lờ mờ mà tôi đã được coi cũng bắt nguồn từ cung Tử tức, nhưng lại không phải là hiếm con mà trái lại rất nhiều (chắc bây giờ phải có tới trên 10 người con) vì có Tả Hữu hội Trường Sinh, Đế Vượng (nguyên Tả Hữu cũng chủ về nhiều con, đó là cách “trập trập ưu trung tư” theo câu phú). Nếu không nhờ có sao Phục binh hội Đào hoa, Tướng Quân và Thai thì có lẽ không thể biết là đương số đa thê vì những sao trên thường chủ về có con riêng, con rơi, tức là khó có 1 vợ được, nhất là khi cung Thê không chứng tỏ là người vợ thường gần gũi chồng vì có Lộc Tồn hội Cô Quả, Đẩu Quân, khiến cho người chồng hướng về người khác.
Trong trường hợp này không cần phải có cung Nô có yếu tố phù hợp mạnh mẽ vì cung Tử lại đóng vai trò chính yếu. tuy nhiên, có 1 điểm khác với trường hợp trên là các người vợ nhỏ khó sống chung được với vợ cả vì dù sao cung Thê cũng có uy lực mạnh hơn và có óc cố chấp (cô Quả) khiến cho khó dung hòa được với cung Nô. Hơn nữa, cung Tử tức cũng chỉ chứng tỏ có sự lén lút, vụng trộm nên mới có con riêng, con rơi…Vì vậy, bề ngoài ta rất khó nhận thấy đương số có nhiều vợ, nhất là khi Mệnh của đương số là những sao đứng đắn, tư cách. Sở dĩ đương số ham nhục dục nhiều là vì cung ách có Riêu, mộc, cái hội Tham Lang tức là sự ham muốn rất kín đáo, tiềm tang mà chỉ đương số mới nhận biết.
2. Môi trường trở ngại cho đa thê
a. Môi trường tuyệt đối
Trong phần này, tôi đề cập đến trường hợp rõ ràng không thể đa thê được, nghĩa là khi ta thấy cung Mệnh và Thân chỉ có những sao đứng đắn hoặc cô đơn, lạnh lùng; Cung Thê chứng tỏ vợ chồng thuận hòa, khắng khít; Cung Nô không thuận lợi cho việc giao du với phụ nữ hoặc ít ra không chứng tỏ họ lãng mạn,m đa tình hay trội hơn cung Thê, và sau hết (nếu có càng chắc), cung Tử Tức không có gì khả nghi về 2 dòng con hoặc quá hiếm hoi
Ví dụ : Nếu Mệnh có Lộc Tồn, Vũ khúc, Thân có Thiên Phủ hội Cô Quả chủ về đứng đắn, trung hậu, thích thanh tịnh; Cung Thê có Long Phương, Khoa, Thai Tọa, Quang Quý chủ về hạnh phúc lứa đôi bền vững, khắng khít; Cung Nô có Quan Phúc, bộ Tứ Đức…chứng tỏ phụ nữ giao thiệp với mình, nếu có đều biết luân thường đạo lý, đoan trang nết hạnh, không ưa chuyện cướp chồng người, thì làm sao ta dám nghĩ rằng đương số có vợ nọ, con kia. Nếu lại được them cung Tử hội các soa Khôi Việt, Khoa, Quyền, Sinh Vượng…chủ về con cái đầy đàn và thành đạt khiến cho gia đình them đầm ấm, lại còn chắc ăn hơn nữa
b. Môi trường tương đối
Nói đến tương đối có nghĩa là các cung và sao liên hệ vấn đề trở ngại không thuần nhất. Ví dụ được cung Mệnh đứng đắn cô đơn nhưng cung Nô lại quá lả lướt….hoặc được cung Thê chứng tỏ vợ chồng thương yêu nhau nhưng cung Mệnh lại biểu lộ sự đam mê nhục dục, ăn chơi trụy lạc…Gặp trường hợp như thế, ta cần xét kỹ càng tới những yếu tố chế hóa mà tôi xin trình bày qua những ví dụ sau :
-Tôi đề cập ngay tới yếu tố đa thê mạnh nhất là Đào hồng, tả Hữu chiếu Thê để quý bạn thấy, để chế hóa nó ta cần phải có những khía cạnh nào. Trong trường hợp này, chỉ cần phải có cung Mệnh và Thân hội nhiều sao cô đơn, đứng đắn, khắc kỷ như Vũ Khúc, Lộc Tồn, Cô Quả, Khoa, Khôi việt, Quan Phúc, Thai Tọa và cung Tử Tức không có gì khả nghi về khả năng có hai dòng con là đủ mức tin tưởng đương số không đa thê, dù cho cung Nô có những yếu tố chứng tỏ sự ăn chơi chăng nữa. Vì khi Mệnh và Thân là vai trò chủ chốt không có khuynh hướng 5 thê bảy thiếp thì các sao Đào hoa, Tả Hữu sẽ chuyển hướng hết. Lúc đó ta có thể ước đoán là đương số khó lây vợ, cứ mai mối hết đám này tới đám khác (Tả Hữu) và đám nào cũng xinh đẹp (Đào hồng), nhưng khi lấy được vợ rồi thì chính mình dễ bị cắm sừng vì Đào hồng lại ứng vào vợ bay bướm. Do đó, bà nào thấy chồng mình có trường hợp như trên, đừng bao giờ nghi ngờ chồng mà trái lại tự kiểm điểm tâm hồn mình xem có lệch lạc không.
- Ngoài thành kiến về Đào hồng, Tả Hữu chiếu Thê trên đây, đa số những người mới biết xem Tử vi cung4hay nghi ngờ những ông Mệnh có Đào hoa, Riêu, hỉ và cung Nô có Tham Lang, hồng Loan, Mộ hoặc ngược lại, cho rằng họ rất dễ đa thê. Thật ra trường hợp trên dễ bị vô hiệu hóa vì chỉ cần cung Thê có bản lĩnh chi phối được người chồng là đủ (ví dụ như có Hóa Quyền, Tướng Ấn, Khoa Lộc; Lộc Tồn hội Liêm Phủ…) Khi đó ông chồng chỉ dám vui chơi trong khoảnh khắc như đi phòng trà, khiêu vũ…chứ đâu có liều mạng ăn ở với phụ nữ khác trước người vợ quyền uy của mình. Và có khi ngay cả vấn đề vui chơi chồng cũng phải lén lút và giới hạn nữa. Trường hợp cung Thê không đủ áp đảo ông chồng thì cần phải có các sao thuần hậu như Quang Quý, Long Phương, Quan Phúc, Khôi việt …để thu hút người chồng. Ngoài ra cần phải có them những đại hạn liên hệ hỗ trợ mạnh mẽ, nghĩa là không có các sao tạo môi trường thuận lợi cho việc ăn chơi hoặc tình yêu nồng nàn (ví dụ như Cô Quả, Thái Tuế, Đẩu Quân, Tang Hổ, khốc Hư). Nếu chỉ có một đại hạn hỗ trợ thì chưa đủ vì có người luống tuổi rồi mới đèo bồng vợ nhỏ, nghĩa là cần có sự trở ngại cho giai đoạn từ 30-60….thì mới yên 1 bề vì í tai có vợ nhỏ trước 30 và sau 60, trừ một vài trường hợp cá biệt
Qua những điều trình bày trên đây, quý bạn hẳn thấy rằng quyết đoán một người đàn ông đa thê rất phức tạp, hấp tấp một chút là sai lạc dễ dàng và còn tai hại cho hạnh phúc vợ chồng. Về phần quý bà có gia đình cũng vậy, không nên lấy Tử Vi làm cứu cánh để nghi ngờ hoặc quá tin tưởng chồng mà đâm ra tự mình phá vỡ hạnh phúc gia đình
trích ( KHHB )
Đây là điển cố thứ Bốn sáu trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Vị Thủy Điếu Ngư (còn gọi là Câu Cá Ở Sông Vị Thủy). Quẻ Quan Thế Âm Vị Thủy Điếu Ngư có bắt nguồn như sau:
Khương Thái Công từng làm quan vào thời vua Trụ nhà Thương, nhưng do không được tín nhiệm nên từ chức, ông thường buông câu tại Bàn Khê bên dòng sông Vị Thủy ở tỉnh Thiểm Tây, chờ đợi cơ hội thi triển tài năng và hoài bão. Người thường câu cá, đều dùng lưỡi câu uốn cong, trên đó có móc mồi câu, sau đó ném lưỡi câu chìm xuồng nước, dụ cá đến cắn câu. Nhưng lưỡi câu của ông lại là lưỡi câu thẳng, không hề mắc mồi, cũng không buông chìm xuống nước, mà lại đặt lơ lửng cách mặt nước ba thước, ông vừa nâng cao cây cần câu, vừa lẩm bấm rằng: “Này cá này cá, nếu muốn hãy tự cắn câu đi!” ông cứ câu như vậy, câu đến ba năm cũng không câu được con cá nào. Nhưng thật bất ngờ, cuối cùng ông không chỉ câu được một con cá lớn, mà còn phát hiện trong bụng con cá có một bộ binh thư.
Phương pháp câu cá đặc biệt của Khương Thái Công khiến cho Tây Bá Hầu Cơ Xương là Trưởng quan ở vùng đất đó cảm thấy rất kỳ lạ, bèn sai một binh sĩ đi mời Khương Thái Công đến hỏi chuyện. Nhưng Khương Thái Công không hề chú ý đến tên lính đó, chỉ chú tâm vào việc câu cá, rồi tự nói một mình rằng: “Câu cá, câu cá, cá không cắn câu, mà tôm lại đến quấy rầy!” Cơ Xương nghe tên lính về bấm báo như vậy, liền sai một viên quan đi mời. Nhưng Khương Thái Công vẫn không làm ngơ không chú ý đến, vừa câu cá vừa nói: “Câu cá, câu cá, cá lớn không cắn câu, cá nhỏ lại đến quấy rầy!” Viên quan này trở về báo với Cơ Xương, Cơ Xương lúc này mới đoán rằng, người câu cá này chắc hằn là một nhân tài, ông buông lưỡi câu thẳng không phải là để câu cá, mà là để câu các bậc vương hầu, nên muốn Cơ Xương phải đích thân đi mời. Vì thế, Cơ Xương ăn chay ba ngày, tắm gội sạch sẽ, thay y phục mới, mang theo lễ vật trọng hậu, đi đến Bàn Khê mời Khương Thái Công.
Hai người gặp nhau, trò chuyện rất hòa hợp. Cơ Xương thấy Khương Thái Công học thức uyên bác, thông hiểu thời thế, bèn hỏi ông những kế sách hay để cai trị và phát triển đất nước, Khương Thái Công lập tức đưa ra thuyết “tam thường”: “Một thường là bậc quân vương phải biết trọng dụng người hiền, hai thường là quan chức phải dùng người hiền, ba thường là kẻ sĩ phải tôn kính người hiền.” Nghĩa là nếu mốn cai trị và làm cho đất nước hưng thịnh, phải lấy người hiền tài làm gốc, coi trọng việc phát hiện và sử dụng nhân tài. Cơ Xương nghe vậy, càng khẳng định rằng ông lão hơn tám mươi tuổi đang ngồi trước mắt mình chính là bậc hiền tài có thế dùng võ dẹp yên đất nước, dùng văn cai trị đất nước mà từ đời ông nội là Cơ Đản Phụ vẫn luôn tìm kiếm. Vì Thế Cơ Xương vui mừng nói: “Thái Công của ta đợi ông đã lâu rồi!” (Ngô Thái công vọng tử cửu hĩ) Cho nên Khương Tử Nha còn được gọi là “Thái Công Vọng”, thường được gọi là “Khương Thái Công”.
Khương Thái Công thấy Cơ Xương thành tâm thành ý đến mời mình, bèn đồng ý giúp sức cho Cơ Xương. Được sự trợ giúp của Khương Thái Công, thế nước của Tây Bá Hầu ngày càng cường thịnh, các nước chư hầu nếu có phân tranh, đều đến nhờ Tây Bá Hầu phân xử.
Sau đó Khương Thái Công phò tá cho con trai của Cơ Xương là Cơ Phát, tập hợp chư hầu các lộ, diệt được vua Trụ nhà Thương, thống nhất thiên hạ, lập nên nhà Chu. Vì có công trợ giúp, Khương Thái Công được phong đất Tề, trở thành vị vua đầu tiên của nước Tề.
Xem bói Quẻ Quan Thế Âm Vị Thủy Điếu Ngư là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 46 !
Quẻ này là tượng cây khô lại đâm chòi nờ hoa.
Những việc mong cầu nên thuận ứng theo tự nhiên sẽ có được kết quả tốt đẹp.