Mơ thấy xạ thủ bắn tên: Tình yêu và hôn nhân tốt đẹp –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Hành: ThủyLoại: Ác tinhĐặc Tính: Thâm trầm, xảo quyệt, ganh ghét, trở ngại, đố kỵ, thị phiTên gọi tắt thường gặp: Kỵ
Phụ tinh. Một trong 4 sao của bộ Tứ Hóa là Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Kỵ.
Vị Trí Ở Các Cung
Hiện tượng: Trong phòng bếp vòi nước của bồn nước hướng thẳng vế phía bếp ga. về phong thủy học đây là thuộc bố cục thủy hỏa tương khắc. hại nhiều hơn lợi.

Phương pháp hóa giải: Chỉ cần sửa hướng của vòi nước sang hướng khác là có thể hóa giải được.
• Điều nên biết:Trong nhà đặt bút Văn Xương có các công hiệu sau: 1. Trợ giúp cho người trong nhà trên con đường học hành, thỉ cừ, thuận lợi đường công danh; 2. Có lợi cho sự thăng tiến của người sống trong nhà; 3. Có ích cho sự phát triển của sự nghiệp cá nhân hoặc sự tăng tiến công việc kinh doanh của công ty.
Khi gặp khu vực Thuỷ và Hoả giao nhau thì phải vô cùng cẩn thận. Tục ngữ có câu: “Thuỷ Hoả bất tương dung” chính là nói đạo lý này.
“Thuỷ Hoả tương xung” là chỉ Thuỷ và Hoả trong nhà không được đối diện với nhau. Rất nhiều nhà có bố cục phạm phải “Thuỷ Hoả tương xung”. Ví dụ: Bếp lò đốỉ diện với vòi nước. Nếu bên cạnh vòi nước, chậu rửa là bếp đun thì tốt nhất nên đặt ở giữa hai vật đó một tấm đá Vân Thạch. Bằng không nước sẽ làm ướt bếp, lửa trong bếp sẽ ảnh hưởng đến người phụ nữ đang nấu nướng. Vì thế, cần phải có vật ngăn cách bếp và vòi nước để tránh Thuỷ Hoả tương xung.

Nhưng nếu vị trí của vòi nước đối diện với bếp đun thì thuộc Thuỷ Hoả tương xung “Nam Li Bắc Khảm”. Quẻ tượng này nói nếu có cách giải quyết thoả đáng thì sẽ khiến Thuỷ Hoả ký tế, cũng nói là có thể “làm Hoàng Đế”. Cho nên quẻ gọi là “Long trì di đế tọa, vị cực tiên ban”.
Vậy thì làm thế nào biến “Thuỷ Hoả tương xung” thành “Thuỷ Hoả ký tế’? Nếu bạn cho Thuỷ trực tiếp chiếu vào Hoả thì Thuỷ Hoả tương xung, cả hai đều bại. Nhưng bạn dùng Hoả để nấu những món ăn ngon thì lại là Thuỷ Hoả ký tế. Điều đó có nghĩa là hai vật này cần có một vật thứ ba làm cầu nối để cho chúng đạt được trạng thái điều hoà, cân bằng.
Bấm vào hình mũi tên để đọc các trang kế tiếp!
| KHÔNG DÙNG MÀU HỒNG CHO PHÒNG NGỦ CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG |
![]() |
![]() |
| Màu hồng gây hại cho tình cảm đôi lứa, có nguy cơ khiến quan hệ vợ chồng ngày càng đi xuống, thậm chí dẫn đến đổ vỡ, hơn nữa nó còn có thể gây ra các rắc rối liên quan đến ngoại tình, người thứ ba. |
Alexandra V (theo F.B)
phẩm đều có thể cảm thấy thực sự đáng tin cậy, từ đó tăng thêm danh tiếng của cửa hàng trong lòng khách hàng.

Ngược lại, nếu như cửa hàng có thiết kế hay kết cấu bên ngoài không hớp lý, mọi người nhìn vào đều cảm thấy vô cùng khó chịu, không những tạo ra những lời bình phẩm không hay mà còn khiến cho con người có phản cảm, thậm chí ghét bỏ, từ đó gây tổn hại đến hình tượng của cửa hàng trong suy nghĩ của khách hàng, khiến cho khách hàng không còn tín nhiệm đối với cửa hàng. Như vậy, khách hàng rất ít đến cửa hàng.
Thông thường tên gọi theo màu sắc sử dụng từ Hán Việt là chính và kết hợp với các từ đi kèm tạo thành tên đệm hài hòa. Xét theo góc độ ngũ hành, đây là cách đặt tên rất ý nghĩa. Ví dụ con bạn mệnh Hỏa, có thể đặt tên con là các từ hàm nghĩa màu xanh (ý chỉ hành Mộc). Vì Mộc sinh Hỏa nên sẽ rất tốt cho bé.
![]() |
| Màu vàng (Hoàng): biểu hiện sự quang minh, trung thành |
Màu đỏ (Hồng, Đan, Xích): biểu hiện sự vô tư, tinh thần xả thân, sự thịnh vượng, mạnh mẽ, thắng lợi chói lọi... Một số tên gọi theo gam màu này: Ánh Hồng, Bích Hồng, Minh Hồng, Thu Hồng, Vân Hồng, Hồng Thắm, Hồng Ngọc, Hồng Hà, Hồng Hoa, Hồng Duy, Hồng Sơn; Triệu Đan, Chu Đan, Trần Đan, Đan Hồng, Tân Hồng; Ngọc Xích, Thế Xích, Xích Trung...
Màu vàng (Hoàng): biểu hiện sự quang minh, trung thành, ôn hòa, tôn quý... Một số tên gọi theo màu vàng: Kim Hoàng, Chấn Hoàng, Huy Hoàng, Minh Hoàng, Đỗ Hoàng, Hoàng Anh, Hoàng Minh, Hoàng Thanh, Hoàng Diệu, Hoàng Hà, Hoàng Vân...
Màu xanh (Thanh): thể hiện sự bình tĩnh, lòng cương nghị, sự phát triển... Một số tên gọi theo màu xanh: Hoàng Thanh, Dương Thanh, Diệp Thanh, Thanh Hà, Thanh Sơn, Thanh Mai; Thanh Lam...
Màu lam: biểu hiện sự mát mẻ, tươi sáng. Một số tên gọi theo màu lam: Vu Lam, Kha Lam, Thiên Lam, Lam Sinh, Thái Lam, Lam Viên, Hồng Lam, Nhã Lam...
Màu tím (Tử): biểu hiện sự hào hoa, cao quý, nhã nhặn, bí ẩn... Một số tên gọi theo màu này: Diệp Tử, Mạnh Tử, Tử Đào, Tử Vân, Tử Long, Tử Dương, Tử Chi...
Màu trắng (Bạch, Tố): biểu hiện sự thuần khiết, trong sáng, thẳng thắn, thành thật... Một số tên gọi theo màu trắng: Lý Bạch, Sa Bạch, Đại Bạch, Tân Bạch, Bạch Vũ, Bạch Ngọc; Dương Tố, Ngụy Tố, Tố Văn, Tố Mai, Tố Hương, Tố Bình, Trọng Tố...
Màu đen (Hắc): biểu hiện sự cường tráng, mạnh mẽ, trầm tĩnh và cả sự đau buồn... Thông thường tên gọi đặt theo màu sắc này ít được dùng, trừ khi đặt tên hiệu, bút danh... Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế, Trương Tử Hắc...
Nếu khéo kết hợp giữa họ, tên đệm và tên đặt theo màu sắc, con bạn sẽ có tên gọi đầy ý nghĩa và ấn tượng. Ví dụ tên gọi Hoàng Bích Huy mang ý nghĩa hạt ngọc sáng lấp lánh ánh vàng óng xanh biếc, ý chỉ tương lai tốt đẹp.
Theo Khoa học và nghệ thuật đặt tên...
![]() |
Tiểu vận hay tiểu hạn là vận hạn tốt xấu trong một năm, được dùng như một yếu tố phụ họa với Đại vận để định thời gian cho đương số trong một Đại vận, đến năm nào thì được tốt về công danh, sự nghiệp, thi cử, thành hôn, sinh con, hay là gặp họa .Tiểu vận của năm được hiển thị ở góc trái cuối cùng của một cung trong lá số tử vi
ví dụ: tiểu vận năm giáp ngọ 2014 , xem trong lá số tử vi của bạn, cung nào có từ Ngọ ở góc trái dưới cùng thì cung đấy là cung hiển thị tiểu vận trong năm 2014 của chính bạn.
Sau đây là các yếu tố của tiểu vận:
- Hàng Can của niên vận so với Can năm sinh
- Hành của cung tiểu vận so với hành Mạng
- Những năm ấn định trước là năm hạn, năm xung, nhưng năm hạn tam tai.
- Các sao trong tiểu vận (cho biết tốt xấu về chi tiết)
Kinh nghiệm của Cụ Thiên Lương cho hàng Can của niên vân, so sánh với hàng Can của tuổi, là quan trọng nhất, xấu hay tốt ở đó mà ra. Như gặp Đại vận suy thoái (Thiên Không) hay Đại vận chết, tai hoạ thường xảy ra vào năm hàng Can niên vận khắc Can tuổi. Gặp Đại vận tôt, việc tốt thường xảy ra vào năm hàng Can niên vận sinh cho Can tuổi.
Lấy thí dụ tuổi Kỷ, Sửu, Kỷ là Thổ. Vậy thì năm nào có hàng Can sinh cho Thổ tức là có Can Hỏa, thì năm ấy tốt, có việc tốt xảy ra: Ẩy là các năm Bính và Đinh. Hai năm cùng tốt, nhưng Đinh tốt hơn Bính, vì Đinh và Kỷ là Âm; khác Âm Dương như Bính và Kỷ, thì mặc dù Bính sinh Kỷ, cái tốt cũng kém đi.
Năm nào hành Can bị hành năm sinh khắc được, thì năm ấy cũng tốt nhưng chỉ tốt vừa, vì Mệnh khắc được Can niên vận tức là mình thắng được hoàn cảnh. Vậy đối với tuổi Kỷ Sửu, thì Kỷ (Thổ) chế ngự được 2 năm Nhâm và Quý (Thủy). Cùng Âm Dương ửù tốt hơn là khác Âm Dương. Vậy đối với Kỷ, năm Quý tốt hơn năm Nhâm.
Còn năm nào mà hàng Can khắc Can năm sinh thì năm đó gặp sung bại, khó khăn. Đối với tuổi Kỷ (Thổ), các năm Giáp, Ất (Mộc) là năm suy bại, vì Mộc khắc Thổ. Cùng Âm Dương thì xấu hơn.
Các năm mà hàng Can của tuôi sinh cho Can niên vận, thì đó là vận sinh xuất mệt nhọc, chịu đựng. Như hai năm Canh và Tân (Kim) của tuổi Kỷ (Thổ) vì Thổ sinh Kim.
Các năm mà Can đồng hành với Can tuổi, thì bình (trung bình, không xấu, không tốt).
Ta có bảng sau:
| Can năm vận sinh Can tuổi
|
Tốt nhất
|
| Can tuổi khắc Can năm vận
|
Tốt nhì
|
| Can năm vận hoà Can tuổi
|
Bình
|
| Can tuổi sinh Can năm vận
|
Mệt nhọc, kém
|
| Can năm vận khắc Can tuổi
|
: Xấu, suy bại |
ảnh hưởng tốt hay xấu mạnh hơn khi hai Can cùng Âm Dương, kém hơn khi hai Can khắc Âm Dương.
Trong tử vi yếu tố Hành của cung Niên vận so với hành Mạng kém hơn yếu tố Hàng Can của niên vận so với hàng Can của tuổi thường dùng để vớt vát nếu gặp xấu trong yếu tố Hàng Can của niên vận so với hàng Can của tuổi
Có mấy trường hợp:
- Hành của cung Tiểu vận sinh cho hành Mạng: Tốt nhất
Thí dụ: Người mạng Hỏa, tiểu vận đến cung Mão thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa, -> vậy tốt.
- Hành của cung tiểu vận bị hành Mạng khắc: Tốt nhì
Thí dụ: trong tử vi Người mạng Thủy, tiểu vận đến cung Ngọ thuộc Hỏa, Thủy khắc Hỏa, -> vậy là khá.
- Hành của cung tiểu vận là hành của Mạng: Bình
Thí dụ: trong tử vi Người mạng Kim, tiểu vận đến cung Thân thuộc Kim, -> vậy là năm bình
- Hành của cung tiểu vận được hành của Mạng sinh (sinh xuất): xấu
Thí dụ: trong tử vi Người mạng Mộc, tiểu vận đến cung Tỵ thuộc Hỏa, Mộc sinh Hỏa, -> vậy là tiểu vận xấu.
- Hành của cung tiểu vận khắc hành của Mạng (khắc nhập): xấu
Thí dụ:trong tử vi Người mạng Hỏa, tiểu vận đến cung Tý thuộc Thủy, Thủy khắc Hỏa, -> vậy là tiểu vận xấu.

- Năm Xung
Năm Xung là năm hay có nhừng khổ khăn cản trở, các việc trố nên khó.
- Năm Hạn
Năm Hạn là năm hay có những vận hạn, những tai hoạ, lớn nhỏ còn tùy có sao nặng hay không, và có sao giải hay không.
- Hạn Tam Taỉ
Hạn Tam Tai chỉ về các năm hạn gặp những hoạ hại thuộc mọi loại như thất tài, táo tài, làm ăn thua lỗ, ốm đau, tai nạn, cháy nhà, nạn sông nước, thi trượt, mất việc - tai hoạ nào thì có sao ứng vào chi tiết, nhưng cũng còn tùy tiểu vận xấu hay tốt theo yếu tố" 1 (tiểu vận tổt hoặc có sao giải cứu có thể thoát được tai hoạ).
Bạn có thể xem tiếp Phần 2 tại đây : Xem tiểu vận trong tử vi
Bạn có thể lấy lá số tử vi bằng tiện ích tra cứu : Xem tu vi
Bạn có thể xem thêm các tuổi khác bằng tiện ích tra cứu: Xông đất đầu năm 2014
Bạn có thể xem thêm màu sắc phong thủy bằng tiện ích tra cứu : Xem phong thuy
Nốt ruồi ở xương quai xanh hoặc bả vai - quản lý tài sản không tốt Nếu vị trí lõm giữa xương quai xanh và bả vai có nốt ruồi thì khả năng quản lý tài sản của người này không tốt, không có khả năng xây dựng tài chính, điều này sẽ làm cho hậu vận gặp khó khăn vì không có tích lũy. Bởi vậy, bất kể nam nữ, nếu có nốt ruồi tại vị trí này thì nên thận trọng ngay cả khi tiền đã cầm trong tay, đặc biệt là trong việc đầu tư tài chính. Nốt ruồi ở bầu ngực – người hẹp hòi, túng thiếu Nếu một trong hai bầu ngực có nốt ruồi thì người này khá hẹp hòi, “lòng lang dạ thú” và thường xuyên lâm vào cảnh túng thiếu, mối quan hệ với người khác thường không tốt, thường bị hiểu lầm hoặc bị hãm hại. Phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí này thường rất đào hoa, tuy nhiên đào hoa quá vượng cũng khiến cho chuyện tình cảm gặp nhiều trắc trở. Nốt ruồi dưới gót chân – gặp nhiều phiền toái
![]() |
Người phụ nữ vượng phu ích tử phải có thân hình, diện mạo đôn hậu, cử chỉ ôn hòa, khuôn mặt cân đối

Nói một cách tổng quát, tướng người phụ nữ vượng phu ích tử phải có thân hình, diện mạo đôn hậu, cử chỉ ngôn ngữ thư thái, ôn hòa, khuôn mặt cân đối. Cụ thể nét tướng như sau:
– Ngũ quan phối hợp đúng cách đặc biệt là sắc mặt trắng ngà, mắt phượng, môi hồng.
– Ấn Đường (khoảng cách giữa 2 đầu lông mày) rộng rãi, khuôn mặt tươi tỉnh.
– Lòng bàn chân hoặc tại 1 số vị trí trên cơ thể (rốn hoặc khu vực trên, dưới rốn 1 chút, phần ngực dưới 2 vú, 2 bên háng) có nốt ruồi đen huyền hoặc son.
– Lòng bàn tay đầy đặn, màu sắc hồng nhuận, ấm áp, ngón tay thon dài, thẳng, khít nhau, chỉ tay rõ và đẹp.
Người phụ nữ có được các đặc điểm về tướng cách như trên chắc chắn sẽ sinh quý tử và đem lại thịnh vượng cho chồng và gia đình.
Nếu đi sâu vào từng chi tiết ta thấy:
– Ấn đường rộng rãi không xung phá, diện mạo tươi tỉnh.
– Mũi thuộc loại Huyền đảm tỵ đúng cách : màu da khuôn mặt tươi nhuận đặc biệt là chuẩn đầu và tỵ lương sáng sủa, phối hợp với mày thanh mắt đẹp.
– Lòng bàn chân hoặc trong thân thể (rốn hoặc khu vực trên dưới rốn một chút, phần ngực dưới hai vú, hai bên háng) có nốt ruồi đen huyền hoặc son.
– Bất kể gầy mập mà lòng bàn tay mập, nếu lòng bàn tay có thịt quá đầy thì đa dâm và có thể ngoại tình mặc dầu vẫn vượng phu: màu sác hồng nhuận ấp áp, ngón tay thon dài, thẳng, khít nhau, chỉ tay rõ và đẹp. Thường thường tướng phụ nữ vượng phu đi đôi với tướng ích tử. Vì người đem lại thịnh vượng cho chồng đa số đem lại ích lợi cho con cái.
– Trong một số ý nghĩa chuyên biệt hơn, ích tử còn có ý nghĩa là sinh con trai quý hiếm, làm rạng rỡ gia môn lo tròn đạo hiếu và giữ vững dòng giống (không phân biệt vợ lớn vợ bé). Về điểm này các sách tướng hầu như đều đồng ý về một số dấu hiệu sau : Ngũ quan phối hợp đúng cách đặc biệt là sắc mặt trắng ngà, mắt phượng môi hồng.
– Rốn hoặc khu vực dưới rốn đôi chút có nốt ruồi màu son tàu.
– Xung quanh khu vực bụng có thịt nổi rõ như một vành đai. Người phụ nữ có hai đặc điểm về tướng cách cuối cùng như trên dường như chắc chắn sẽ sinh quý tử bất kể diện mạo xấu đẹp ra sao. Vì đó là hai nét tướng ngầm có khả năng chế ngự tất cả các phá tướng khác (dĩ nhiên là trong trường hợp như vậy ông chồng phải có khả năng truyền giống thì quý tướng trên mới phát huy được kết quả thực tiễn).
Mỗi người sinh ra đều có một số mệnh riêng biệt, không ai giống ai và được thể hiện ở trên nét mặt, hay đường chỉ tay… Đặc biệt xem tướng vòng eo cũng có thể đoán trước số phận, vận mệnh của một người. Vậy chúng ta hãy cùng chúng tôi xem tướng vòng eo để biết giàu nghèo sướng khổ trong bài viết dưới đây. Những người eo dày thường có cuộc sống tốt, eo mỏng thì vất vả, hay không có eo thì an nhàn khi về già…
Nội dung
Bạn có cuộc sống tốt, sự nghiệp và tiền tài phát triển mạnh ở tuổi trung niên. Tuy nhiên, cuộc đời bạn gặp nhiều thăng trầm nên chỉ khi về già mới được hưởng cuộc sống sung sướng.

Nhìn chung, cuộc sống của bạn vất vả. Bạn phải nỗ lực rất nhiều để đạt được những gì mình mong muốn. Nếu trên eo của bạn có nốt ruồi, bạn nhận được nhiều sự giúp đỡ của người khác, điều này sẽ giảm bớt những khó khăn cho bạn trong cuộc sống.
Người xưa quan niệm, con gái eo nhỏ thường đảm đang, chịu thương chịu khó. Tuy nhiên, trong tướng số, người eo quá nhỏ lại có cuộc sống xô bồ vất vả, thậm chí thiếu thốn, khó khăn. Cuộc sống của bạn gặp nhiều đau khổ, mất mát. Bạn được hưởng phước lành khi về già.
Khi còn trẻ, bạn gặp nhiều may mắn. Tuy nhiên, từ tuổi trung niên, cuộc sống của bạn trải qua nhiều thăng trầm và ngày một khó khăn.

Bạn gặp nhiều khó khăn khi còn trẻ, con đường học tập của bạn không tốt. Tuy nhiên, từ tuổi trung niên, sự nghiệp của bạn thuận buồm xuôi gió. Bạn giàu có sau 40 tuổi.
Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ – nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.

Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại.
Theo văn hóa Phương Đông, lịch âm dương được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng. Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.
Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.
Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa.
Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (California, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.
“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.
Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài… hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.
Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo… Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.
Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”… vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt/chuột chính là các cách đọc của Tý sau này.
Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?
Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hóa Trung Quốc có xuất phát từ văn hóa Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Mát qua cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt Nam – từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Ðế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”… Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hóa là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Ðường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.
Trích lược bởi Phong Tục Tập Quán
TRẦN HẢI BÍCH - VĂN XƯƠNG CƯ SĨ
Tôi đã theo dõi thường xuyên KHHB, nhất là khoa Tử Vi. Trong quý báo…., cụ Đẩu Sơn có yêu cầu giải đáp 2 câu trên. Tôi xin giải đáp như sau:
Những tuổi đứng chữ Quý gồm Quý Dậu, Quý Mùi, Quý Tị, Quý Mão, Quý Sửu và Quý Hợi. Bây giờ chúng ta theo hệ thống Tử Vi thì biết:
Chưa kể những cách hay khác của tuổi đứng chữ Quý:
Và những cách Long Phượng, hồng Đào theo phú Trần Đoàn:
Theo những cách trên, trai hay gái đứng chữ Quý nhất định có tài, còn ai phủ nhận nữa.
Trai gái đều có tài, nhưng gái đứng chữ Quý đi 2 lần đò, ý nói tình duyên đa truân. Đa truân thì cả 2 phái mới đúng vì cả trai gái đều có những cách giống nhau, nhưng gái thì đa truân còn trai thì không, tôi sẽ trình bày trong đoạn sau.
Nghiên cứ về tuổi đứng chữ Quý đều có Thiên mã ngộ Đà La (tọa hay xung chiếu) và Mã ngộ Tuần hay Triệt; Mã ngộ Tuyệt – Mã cư Hợi cung
(các cách trên ý nói gặp tai họa suy sụp, tang thương, chết choc hay thất bại. Mệnh, Phu hay hạn cũng thế)
Bị các cách trên, gái đứng chữ Quý thật là gian truân, vất vả, lao nhọc trăm đường. Lại them các cách Hồng Đào bất lợi cho phái nữ dù rằng có tài hoa, tài năng tháo vát, siêng năng, tề gia nội trợ. Con gái tài hoa thường tài mệnh tương đố. Nguyễn Du mở đầu Truyện Kiều có viết:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn long
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Và
"Chữ tài liền với chữ tai một vần"
Theo phú Trần Đoàn: "Sở ai giả hồng Loan tứ mộ Phu cung"
Nghĩa là:
Hồng loan đóng ở cung Phu tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là số tang phu tức là chôn chồng
"Hồng Loan phùng Địa Kiếp ư phu cung bất hảo chi thập"
Nghĩa là:
"Cung Phu tốt 100% cũng giảm đi 1 nửa"
"Hồng Loan thủ mệnh chủ nhị phu"
Chưa kể: "Đào hoa phạm chủ vị chí dâm"
Trai gái có Khôi Việt, Long Phượng, hồng Đào đều tài năng lả lướt, đa tình, tâm hồn nghệ sĩ. Gái thì gian truân, trai thì hạnh phúc
Tôi biết 1 vị thương gia ở ngoài Trung có 2 vợ, mỗi vợ nhà cửa đàng hoàng, mỗi bà có 15-16 người con. Có năm 2 bà cùng chửa, cùng đẻ, thật là hạnh phúc cho anh chồng này vô cùng. Trong gia đình chả bao giờ có sự ghen tuông đố kị dù rằng 2 bà này ở cùng 1 phố. Vị thương gia này cũng tuổi chữ Quý.
Nhưng trái lại, cô phụ nữ nào đa nhân duyên, 2-3 chồng có dám sinh hoạt và sống đàng hoàng như ông này không? Dù rằng có của và nhất là vấn đề con cái, giải quyết như thế nào?
Vậy các bạn trai chữ Quý, nếu chưa vợ, tôi chúc các bạn thành công trên mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tình cảm, tình duyên.
49 CHƯA QUA – 53 ĐÃ TỚI
Các tuổi 49 và 53 đều có các sao vào vận hạn như sau:
Ta có câu: Thái Bạch sạch cửa nhà; tán tận tan gia bại sản; Diêm Vương, Huỳnh Tiền bệnh nặng, hồn quy địa phủ; Thái âm là tang khốc tinh;
Nhưng có phải cứ các tuổi 49, 53 đều vận hạn như thế không? Chắc là không. Chứng minh cụ thể vào tru7o7ng2ho75p của tôi. Tôi năm nay 61 tuổi, qua những năm 49 và 53 chẳng sao cả. Có lẽ vì tôi than cư Phúc Đức, lại tọa chiếu Tử Phủ, Sát, Phá Tham Vũ, tam hóa nên không việc gì chăng?
Các bạn 49 và 53 tuổi, các bạn chẳng gì phải lo cho chóng già. Muốn cẩn thận,t ất cả các bạn hãy bắt đầu từ bây giờ, hãy triệt để thực hiện c6am ngôn sau:"Đức năng thắng số" và "Dĩ đức báo oán: - thì cam đoan với các bạn là sẽ được:
Trái lại, gieo gió ắt gặt bão. Xét hiện tại khả dĩ biết được phần nào quá khứ và suy ra phần nào tương lai (Vũ Tài Lục)
NGƯỜI TA TUỔI NGỌ TUỔI MÙI
CÒN TÔI NGẬM NGÙI VÌ ĐỨNG TUỔI THÂN
Cụ Đẩu Sơn có giải thích về điểm:
Theo tôi nhận xét, các tuổi Thân bao giờ cũng có Kình Dương ngộ Lực Sĩ. Phú viết: "Lý Quảng bất phong, Kình Dương phùng Lực Sĩ"
Vì sao Kình và Lực thủ mệnh thường là người giỏi giang, tháo vát nhưng lận đận. Cũng vì thế mà ông Lý Quảng, dù tài năng mà không được phong (Vũ Tài Lục). Hạn hành Kình Dương Lực Sĩ công danh trắc trở, nếu có quan chức cũng bị thải hồi và nếu có công trạng cũng chẳng ai biết đến (VĐTTL)
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
![]() |
![]() |
Những “chàng giáp” có thời gian cuồng yêu siêu ngắn
![]() |
![]() |
Trên thực tế, quan niệm “Trai Đinh, Nhâm, Quý thì tài; Gái Đinh, Nhâm, Quý qua hai lần đò” gây không ít phiền phức, hệ lụy cho nhiều người. Từ chuyện kết hôn phải dẫn dâu hai lần đến chuyện các cặp vợ chồng chọn năm sinh cho con, những mong sinh được con trai trong năm “lợn vàng” (Đinh Hợi), “rắn vàng” (Quý Tỵ) để con có cuộc sống an nhàn, sung sướng sau này. Thế nhưng, theo các chuyên gia, nếu không cẩn thận sẽ “xôi hỏng bỏng không”.
“Theo kết quả thống kê thì phụ nữ có can Đinh, Nhâm, Quý thường không mấy suôn sẻ chuyện tình duyên. Chẳng hạn, nữ tuổi Đinh Sửu thường trăng hoa, Đinh Mão thì nhiều đời chồng, Nhâm Dần xung khắc hoặc cách trở tình duyên, Nhâm Tuất khắc phu, Quý Tỵ nhiều đời chồng.
Trong khi nam giới ở những tuổi đó thường là tốt đẹp. Nam tuổi Đinh Sửu sẽ sáng suốt, Đinh Mão mưu trí, Nhâm Dần có chức quyền, Nhâm Tuất vinh hiển, Qúy Tỵ thông minh, dễ thăng quan.

Can Đinh là biểu tượng của mùa hạ, vạn vật đều chín. Đinh là thừa Bính tượng trưng tâm người. Nó là biểu hiện của sự tráng niên, nội lực sung mãn. Theo sách Cổ ngữ, dịch lý, Đinh có tính chất: Tính mịn màng, thuận sắc màu hồng lửa. Vị: Tê lưỡi, khô cổ. Thanh: Trong trẻo. Thể: Nhọn, các tính hay dương lên. Về Âm – Dương ngũ hành thuộc Âm – Hỏa. Gặp thời có thể tiêu tan được hung tàn, bạo ngược, làm động lòng nước mắt muôn người, biết được cơ trời vận nước gian nguy. Ngược lại, nếu không gặp thời sẽ luôn giữ trong lòng sự u sầu buồn bã, khổ não.
Can Nhâm là thừa Tân, tượng trưng gối người. Theo sách Cổ ngữ, dịch lý thì Nhâm có chất háo sắc, đa tình. Vị: Mặn, sắc huyền đen. Thanh cung ấm, thể tròn và động có hình vằn khúc khuỷu. Về Âm – Dương ngũ hành thuộc Dương – Thủy. Gặp thời vận thì lợi cho người, ích cho vật. Không gặp thời thì hại người hiền. Tính tình bề ngoài thì mềm mỏng còn trong thì xảo trá, gian hùng. Nên lựa thời để cùng buồn, chớ nên cùng vui.
Can Quý tượng trưng cho thủy từ bốn phương chảy vào lòng đất. Nó cũng hàm ý biểu tượng sự thai nghén đã mãn hạn. Quý thừa Nhâm tượng trưng cho chân người. Còn theo các sách Cổ ngữ, dịch lý giải thích thì Qúy có chất nặng, âm tính, trầm hậu (dày, sâu) nhưng bên trong có sự yếu ớt. Sắc: Huyền, đen. Thanh: Cao, sáng. Thể: Khúc khuỷu. Về Âm – Dương ngũ hành thuộc Âm – Thủy. Gặp thời, đắc vận thì theo rồng mà biến hóa. Nếu sa cơ lỡ vận thì theo người đi ăn mày. Tính là cảm hứng, ngay thẳng. Sách Cổ văn có ghi: “Biết thì trừ được tai nạn, giải được sự phân vân hồ đồ. Không biết thì sa vào sự gian trá, tối tăm, hay soi coi sự nhơ nhuốc”.

Ông Vũ Quốc Trung, người có nhiều năm nghiên cứu về tử vi, kinh dịch cho rằng, việc dân gian quan niệm như vậy không phải là không có cơ sở.
Ông lý giải, lĩnh vực cổ học phương Đông với dự báo dựa trên ba tiên đề. Đó là Âm dương: Tất cả mọi sự vật hữu hình lẫn hiện tượng vô hình luôn tồn tại hai mặt đối lập là âm và dương. Chẳng hạn, nữ là âm, nam là dương, mặt trăng là âm, mặt trời là dương… Chỉ khi có âm có dương, âm dương hòa hợp thì sự vật, hiện tượng ấy mới tồn tại. Tiên đề thứ hai là Ngũ hành. Theo đó, vật chất được tạo nên từ 5 loại gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; ngũ hành có tương sinh, tương khắc. Tiên đề thứ ba là bát quái.
Ông Trung cho biết thêm: Có 10 thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Các can và chi này cũng không nằm ngoài 3 tiên đề trên, có âm và dương (với can thì Giáp là dương, Ất là âm, Bính – dương, Đinh – âm… cứ thế xen kẽ. Với chi cũng tương tự, Tý – dương, Sửu – âm…). Các can và chi kết hợp với nhau tạo thành Lục thập hoa giáp, cứ 60 năm lại lặp lại một lần, gọi là hệ Can chi.
“Các can và chi đó đều được mã hóa, mang ý nghĩa riêng và có những nguồn năng lượng không giống nhau. Mỗi người được sinh ra trong một ngày, giờ, tháng, năm cụ thể. Thế nên, vào thời khắc đứa trẻ ra đời, năng lượng từ tự nhiên sẽ tác động tới chính đứa trẻ đó, từ đó ảnh hưởng đến tính cách, số phận. Chẳng thế mà dân gian có câu “Trai mùng một, gái hôm rằm. Nuôi thì nuôi vậy nhưng căm dạ này”. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà người ta đúc kết thành câu “Trai Đinh, Nhâm, Quý thì tài; Gái Đinh, Nhâm, Quý qua hai lần đò”, ông nói.
Ông Nguyễn Hoàng Điệp bổ sung thêm: Hệ Can chi này xuất hiện từ đời nhà Thương bên Trung Quốc. Trước thời Đông Hán, vào khoảng năm 103 Trước Công nguyên, người ta chỉ dùng hệ Can chi để ghi ngày. Đến thời Hán về sau mới dùng hệ Can chi để ghi năm, tháng, ngày, giờ. “Do đó, rõ ràng can chi có quyết định tới tính cách, số mệnh của mỗi con người. Nó hoàn toàn mang yếu tố của khoa học chứ không phải là trò mê tín!”, ông Điệp nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Hoàng Điệp, Giám đốc Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ văn hóa và Khoa học – Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, dựa trên những kinh nghiệm đúc kết trong dân gian, người ta thấy rằng phụ nữ mang ba can Đinh, Nhâm, Quý đều là những người có cá tính mạnh mẽ, quyết đoán, thông minh, nhanh nhẹn. Trong khi đó, theo quan niệm truyền thống “xuất giá tòng phu”, người phụ nữ khi lập gia đình thì phải nhất nhất theo chồng. Vậy nên, suy luận logic thì phụ nữ có cá tính mạnh mẽ sẽ có tính tự lập cao, khó có thể răm rắp theo chồng được. Thế nên, chuyện họ trắc trở về đường tình duyên cũng là điều dễ hiểu.
Còn ông Vũ Quốc Trung bổ sung thêm: “Sở dĩ người ta nói gái Đinh, Nhâm, Quý qua “hai lần đò” vì ngày xưa quan niệm phụ nữ quan trọng nhất là chồng con. Còn đàn ông thì sự nghiệp là quan trọng hơn cả. Vậy nên, người xưa lấy chuyện “hai lần đò” ra để chỉ sự xui xẻo của phụ nữ.
Ông Vũ Quốc Trung nhấn mạnh: “Câu ca trên chẳng qua là sự suy luận logic theo cổ học chứ thực tế không hẳn vậy. Nó không áp dụng cho tất cả những ai sinh ra ở ba can đó (nam thì tài, gái thì “hai lần đò”) và chỉ mang tính ước lệ mà thôi”.
Nói về chuyện phải rước dâu hai lần với những người phụ nữ “cao số”, mang can Đinh, Nhâm, Quý khi kết hôn, ông Vũ Đức Huynh cho hay, đó chỉ là quan niệm dân gian, người ta làm thế để yên lòng thôi chứ không có căn cứ nào nói rằng nó sẽ hóa giải “cao số” cả.
“Mọi người không nên quá lệ thuộc vào quan niệm đó để chuốc phiền hà cho chính mình và con cháu mình. Nếu cô dâu, chú rể ở gần nhà nhau thì rước dâu hai lần còn có thể hợp lý chứ cách nhau tới ba, bốn trăm cây số làm sao mà thực hiện được? Chỉ tốn kém, mệt mỏi cho cả hai bên thôi”, ông nói.
Sự giàu có không đơn thuần là chỉ về tiền bạc, mà nó gồm từ tài chính, cho tới sức khỏe và các mối quan hệ hòa hợp trong gia đình. Việc tạo ra sự giàu có cho gia đình không hề khó nếu biết áp dụng các lời khuyên phong thủy thích hợp.
Có rất nhiều lời khuyên phong thủy về lĩnh vực tiền bạc đơn giản và dễ dàng cùng với nhiều sản phẩm để sử dụng trong không gian của bạn dành cho năng lượng giàu có mạnh mẽ.
Các giải pháp phong thủy cổ điển như: bình tài lộc, cây tiền, thuyền tài lộc, tiền xu cổ, tượng Phật cười… đã được con người sử dụng trong nhiều thế kỷ qua để thu hút sự giàu có.
Chúng tôi chia sẻ với bạn một số bí quyết phong thủy cơ bản để “mời gọi” nguồn khí tài lộc như sau:
– Cửa ra vào mạnh mẽ: Hãy chắc chắn rằng cửa ra vào ngôi nhà của bạn có phong thủy mạnh mẽ. Bảo vệ nó – nếu cần thiết với biểu thượng phong thủy của sự bảo vệ, phong phú và may mắn.
– Giữ không gian ngăn nắp, sạch sẽ: Ngay bây giờ, bạn cần tống khứ sự lộn xộn, bẩn thỉu ra khỏi ngôi nhà hoặc nơi làm việc của bạn. Bởi vì, một không gian hỗn độn không thể thu hút hoặc giữ năng lượng của sự giàu có.

Luôn giữ cho không gian sinh sống và làm việc sạch sẽ để năng lượng giàu có lưu lại thật lâu.
– Khu vực tiền bạc tốt: Xác định rõ khu vực phong thủy tiền bạc trong nhà của bạn và chăm sóc nó thật tốt. Nếu một phần khu vực tiền bạc của bạn bị thiếu, hoặc nếu nó nằm trong phòng tắm, cần giải quyết vấn đề với những giải pháp thích hợp.
– Trưng bày các biểu tượng của sự giàu có: Sự hiện diện của biểu tượng phong thủy trong môi trường sống của bạn nói lên sự giàu có và thịnh vượng. Bạn có thể lựa chọn biểu tượng cổ điển như thuyền tài lộc, hoặc biểu tượng đại diện cho năng lượng giàu có của riêng bạn.
Nên trưng bày một vài biểu tượng phong thủy tượng trưng cho sự giàu có trong nhà.
– Sử dụng bể cá cảnh: Trang trí ngôi nhà hoặc văn phòng của bạn với một bể cá cảnh phong thủy để thu hút nguồn khí tài lộc, hoặc biểu tượng/hình ảnh phong thủy cụ thể về cá.

Bể cá được biết đến là một giải pháp tăng cường tài lộc hữu hiệu.
– Các loại đá phong thủy: Đá citrine được biết đến là có khả năng thu hút sự giàu có, vì thế, nó thường được sử dụng trong các ứng dụng phong thủy. Ngoài ra, một loại đá phong thủy đại diện cho sự giàu có cũng rất phổ biến khác là đá pyrit. Bạn có thể chọn trưng bày những loại đá này trên cây tài lộc phong thủy ở góc nhà.

Năng lượng đá citrine làm tăng lòng tự trọng, sự tự tin giúp chủ nhân vượt qua được nỗi buồn, khó khăn, đau khổ trong cuộc sống. Vì vậy, loại đá này là lựa chọn trang sức phong thủy tuyệt vời dành cho bạn.
Trang trí hoặc đeo đá phong thủy giúp cải thiện vận mệnh cho nhà ở cũng như bản thân chủ nhân.
– Sử dụng đài phun nước: Đài phun nước (hoặc biểu tượng phong thủy đại diện cho đài phun nước) là giải pháp phong thủy rất mạnh mẽ để “lôi kéo” năng lượng của sự giàu có và nguồn khí tươi mới. Bạn có thể sử dụng hình ảnh dòng nước chảy như thác nước, biển, dòng sông… đều rất tốt vì nước đại diện cho tài lộc.
Hình ảnh nước phong thủy với con sóng trắng xóa, tung bọt và khung cảnh thiên nhiên cởi mở, hùng vĩ có tác động đặc biệt mạnh mẽ trong các ứng dụng phong thủy giàu có.
Nước là yếu tố luôn đi liền cùng sự giàu có. Vì vậy, đài phun nước, hồ cá, hay những thứ có liên quan tới nước đặt trong nhà không chỉ còn vai trò là làm đẹp, mà còn kích thích sự thịnh vượng.
– Dòng chảy khí mạnh mẽ: Hãy chắc chắn kiểm tra dòng chảy khí thường xuyên, cả ở trong nhà và văn phòng làm việc. Một dòng chảy khí tươi mới và mạnh mẽ, đi kèm với các biểu tượng phong thủy tài lộc khác chắc chắn là mục tiêu của bạn nếu bạn đang tập trung vào việc hấp dẫn năng lượng của sự giàu có và thịnh vượng.

Bạn có biết rằng rất nhiều triệu phú Châu Á không bán nơi ở hoặc nơi làm việc – thuộc sở hữu riêng – trong khí tích lũy được sự giàu có? Hiểu biết sức mạnh phong thủy của không gian, họ giữ chúng vì những may mắn tài lộc.
![]() |
Những chàng giáp phải chịu kiếp FA dài dài![]() |
| => Xem thêm: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh |
Xưa đó chính là 3 việc lớn mà mỗi nguời đàn ông Việt cần phải đặt ra cho bản thân để đạt được thành công. Ở Việt Nam hiện nay, việc tổ chức đám cưới thường được diễn ra theo hai nghi thức, cổ truyền hoặc hiện đại. Nghi thức cổ truyền hiện không phổ biến ở các thành phố lớn do tính rườm rà và nhiều thủ tục lãng phí. Ngược lại, lễ cưới theo phong cách hiện đại ngày càng được sử dụng nhiều do tính đơn giản, gọn nhẹ. Tuy nhiên, các phong tục tập quán tốt đẹp từ nghi thức cổ truyền vẫn được giữ lại và bảo tồn trong lễ cưới hiện đại.

Lễ tráp ăn hỏi đặc trưng của người Việt
Trước khi tổ chức thành hôn cho đôi trai gái, người ta thường có Lễ dạm ngõ và Lễ ăn hỏi. Dạm ngõ không phải là một lễ quan trọng nhưng lại là một lễ không thể thiếu trong tiến trình hôn lễ. Chức năng cơ bản của lễ này đơn giản chỉ là một phép ứng xử giúp hai gia đình có thể hiểu biết cụ thể về nhau hơn để từ đó tiến tới quyết định tiến tới hôn nhân hay không. Sau khi hai bên đã thống nhất với nhau về các yếu tố trên thì sẽ tiến tới tổ chức Lễ Ăn hỏi vào dịp “ngày lành tháng tốt”. Có thể nói, đây là sự thông báo chính thức về sự hứa giá thú của hai gia đình. Cũng gần tương tự về mặt chức năng của Lễ Đính hôn, trong giai đoạn này, có thể nói cô gái đã trở thành vợ chưa cưới của chàng trai đi hỏi.

Lì xì trả duyên – một lễ nghi trong phong tục ăn hỏi của người Việt Nam
Thông thường, ở Việt Nam, việc đăng ký kết hôn để được công nhận là vợ chồng trước pháp luật thường diễn ra trước khi tổ chức đám cưới. Mặc dù vậy, trong tâm thức người Việt, lễ cưới chứ không phải tờ hôn thú, mới là thời điểm mà họ hàng, bè bạn và mọi người chính thức công nhận đôi trai gái là vợ chồng.

Lễ rước dâu
Tiệc cưới thường được tổ chức ở nhà hàng (hoặc khách sạn) là buổi tiệc mà gia đình tổ chức để mời người thân chung vui trong lễ ra mắt của cô dâu, chú rể. Như đã nói ở trên, chính vì tầm quan trọng của lễ thành hôn nên tiệc cưới thường được tổ chức rất trang trọng.

Cúng lễ gia tiên
Sau tiệc cưới, cô dâu chú rể trở về nhà chồng làm lễ cúng gia tiên, gặp mặt họ hàng, thân nhân bên nhà gái và nhà chú rể. Sau thủ tục này, cô dâu chính thức trở thành vợ của chú rể và là thành viên trong gia đình.

Toàn cảnh một phòng cưới được tổ chức theo phong cách hiện đại
Như tất cả các nước trên thế giới, lễ cưới ở Việt Nam có ý nghĩa rất thiêng liêng, có tầm quan trọng chỉ diễn ra một lần trong một đời người. Đầu tiên, gia đình hai bên sẽ tổ chức một lễ nhỏ đơn giản là lễ xin dâu với mục đích là gia đình chàng trai đem lễ vật đến nhà gái để xin phép được rước cô dâu về nhà chồng. Lễ rước dâu ở Việt Nam thông thường bao gồm khoảng hai chục người nhà trai với sự hiện diện của đại diện nhà trai, bố chú rể, chú rể và bạn bè.
1. Tháng Giêng (Dần) - Óc quan sát và khả năng thực hành rất tốt, làm việc cẩn thận, tỉ mỉ.
- Giỏi nắm bắt thời cơ, tài vận tốt đẹp.
- Mưu sự cẩn trọng. Mọi sự nhắm trúng mới hành động, quyết không hành sự mù quáng.
- Quan hệ gia đình xã hội nói chung hòa thuận, tốt đẹp, được cấp trên nâng đỡ cất nhắc, đề bạt.
2. Tháng Hai (Mão) - Có óc thẩm mỹ hoặc nghệ thuật.
- Cá tính hiền, trầm lắng, cẩn trọng, lương thiện, bình tĩnh.
- Suy nghĩ kỹ càng, tỉ mỉ, nhanh nhạy, quan hệ con người tốt, đầy sáng tạo.
- Bề ngoài dễ bị đánh giá nhàn tản.
- Giỏi kiếm tiền và quản lý tài chính. Về già an vui.
- Thường phải ly hương mưu sinh lập nghiệp. Lục thân khiếm hòa, không đằm thắm.
3. Tháng Ba (Thìn) - Rất nhẫn nại trong bất cứ việc gì.
- Bất luận nam, nữ đều khá sành điệu trong ẩm thực nhưng chưa hẳn đã mập.
-Tâm hồn trong sáng, ham học hỏi, giỏi nhẫn nhịn.
- Khi còn trẻ không có gì nổi trội. Ngoài 40 tuổi, đa số phát tài, phát lộc dần dần giàu có. Cuối đời dư dả, phú quý.
4. Tháng Tư (Tỵ) - Đặc điểm nổi bật nhất là con người của công việc, vùi đầu vào công việc, đâu vào đó.
- Năng động, hiếu động, nóng nảy. Thường nóng - lạnh thất thường.
- Luôn phấn chấn, ít ca thán.
- Thích chơi với người ngoài hơn người thân.
- Tự lực, tự cường, tự thân lập nghiệp, thành công ở tuổi trung niên.
5. Tháng Năm (Ngọ) - Chuyên tâm với nghề nghiệp, vững bước tiến lên.
- Thiện ác phân minh. Thông minh, nho nhã.
- Dám nhận thiếu sốt, sai lầm của mình. Biết sai là sửa. Đôn hậu, thiện tâm, hiếu thảo.
- Công bằng, chính trực, được mọi người tin tưởng quý mến. Luôn được quý nhân hỗ trợ.
- Hôn nhân thường không thuận, qua vài cầu vẫn không ổn.
6. Tháng Sáu (Mùi) - Thông minh, nhạy bén, ham hiểu biết, thích giao tiếp.
- Cảm thụ về tình cảm rất nhanh nhạy.
- Làm việc tích cực, chủ động, ít sợ khó khăn, trở ngại, quyết chí vươn lên. Tự thân lập nghiệp, đi trên đôi chân của mình.
- Dễ trở nên bất mãn với hiện trạng. Khát khao làm nhà cách tân, đổi mới.
- Suốt đời cơm áo đầy đủ, sung túc.
7. Tháng Bảy (Thân) - Thông minh, nhanh nhạy, nhân hậu, lương thiên, hành thiện tích đức.
- Đầy tính sáng tạo, làm việc cẩn thận, tỉ mỉ.
- Năng lực học tập tốt, là người chủ nghĩa hòa bình điển hình, không muốn gây gỗ với ai.
- Làm việc nhanh chóng, không rề rà.
- Suy nghĩ chu đáo.
- Nếu được bồi dưỡng, đào tạo tốt sẽ có triển vọng là nhà hoạch định chiến lược có tài.
- Cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ cho đến cuối đời.
8. Tháng Tám (Dậu) - Đầy cảm tính và khá tùy hứng.
- Rất lãng mạn.
- Theo đuổi cái hoàn thiện, hoàn mỹ. Là người điển hình của chủ nghĩa lý tưởng, cái gì cũng lý tưởng hóa có khi là ảo tưởng.
- Mua sắm theo ý thích, theo cảm hứng, bất chấp giá cả và việc sử dụng, phá tiền.
- Nhanh nhạy, biết nắm bắt thời cơ, năng động, có tài lẻ. Đa năng, đa tài, đa nghệ.
- Không giỏi xử lý mối quan hệ gia đình, thường bất hòa, đôi khi gây cấn, căng thẳng.
9. Tháng Chín (Tuất) - Trung thành tuyệt đối.
- Tích cực chủ động, hiếu động và rất đáng tin cậy.
- Trong chuyện yêu đương lại vội vàng, hấp tấp, nóng vội, chưa hiểu rõ đối tượng đã tỏ tình ý. Yêu vội cưới gấp nên dễ đổ vỡ.
- Quan vận và tài vận không mấy tốt đẹp.
10. Tháng Mười (Hợi) - Theo đuổi chủ nghĩa cầu toàn. Bao dung, độ lượng, tâm hồn rộng mở.
- Ham và giỏi suy nghĩ, óc tưởng tượng phong phú nhưng năng lực thực hành lại yếu. Xử lý công việc có tình lý.
- Quan hệ xã hội chan hòa nhưng vẫn giữ khoảng cách nào đó nhất định.
- Thích ẩn mình thế giới riêng tư của mình, tránh xa cõi trần, cô liêu trong sự ồn ào.
11. Tháng Mười Một (Tí) - Tài trí, nhanh nhạy. Công danh khá thuận.
- Khả năng diễn đạt tốt, có sức thuyết phục.
- Tính nóng nảy, có vẻ đùa giỡn, chọc ghẹo với quyền lực nên dễ vướng thị phi chốn quan trường.
- Nếu Tôi cường, cách cục đẹp sẽ có triển vọng là quân sư có tài.
- Nếu Can Thổ nhiều thì cá tính nóng vội, dễ làm người khác phật ý.
12. Tháng Mười Hai (Sửu) - Đa số đều có tính cách tích cực tiến công, phấn đấu ít mệt mỏi. Có thiện tâm, vui vẻ, được mến mộ.
- Thường thiếu tin tưởng vào người khác, cái gì cũng phải để mắt vào nên bận rộn, vất vả.
- Hay gặp rắc rối hoặc bị liên lụy bởi người thân, bạn bè nên cuộc sống ít thanh thản.
- Không đọng tài, tiền bạc hay bị hao tán.
Dự đoán tương lai theo tháng sinh khá chính xác bởi tháng sinh là một trong Bát tự và một trong Tứ trụ, đặc biệt quan trọng trong vận mệnh của một người.
ST
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
![]() |
5 cô nàng hoàng đạo dễ dàng chiếm trọn trái tim đại gia, soái ca![]() |
| => Bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Trong tử vi thì Sao Thiên đồng chủ về phúc thọ, hóa khí là phúc, có khả năng kéo dài tuổi thọ, giải ách, chế hóa; lại chủ về mệnh giỏi văn chương, âm nhạc nhưng khả năng truyền đạt không tốt.
Khi thiếu niên hoặc về già chủ về muôn sự cát lợi, được cha mẹ yêu quý, che chở từ nhỏ, an hưởng tuổi già, con cái hiếu thuận, cuộc sông thoải mái.
Trong Lá số Tử vi, Thiên đồng ưa nhất gặp Thái âm ở chỗ Tý, là cách cục Thủy trừng quế ngạc, chủ về làm quan thanh liêm, có bất động, có cha mẹ mẫu mực, mệnh nữ nên làm vợ lẽ. Nếu Thiên đồng, Thái âm ở Ngọ thì mệnh nam đào hoa, mệnh nữ có cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc.

Thiên đồng ưa tọa cung Điền trạch, có tiền tài.
Thiên đồng, Thiên lương tại Thân, Dần, mệnh nữ nên làm vợ lẽ.
Mệnh nữ có Thiên đồng tọa Mệnh rất đáng yêu, được chồng yêu chiều.
Thiên đồng và Đà la đồng cung dễ phát phì.
Thiên đồng và Dương nhẫn đồng cung dễ bị thương bên ngoài.
Thiên đồng tọa cung Mệnh, cung Thân trong lá số tử vi , dù nam hay nữ đều có khuyết điểm là quá tùy tiện, không biết phân biệt chính tà phải trái.
Ngưòi có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh nên mập không nên gầy, mập sẽ có phúc, gầy thì mệnh khổ; cũng không thể quá mập. Mệnh nữ có tư tưởng cam chịu, phó mặc cho sô" phận.
Thiên đồng ưa tọa cung Phúc đức, chủ về hưởng phúc.
Thiên đồng tọa cung Phu thê hoặc tổ hợp sao Thiên đồng như Thiên đồng, Thiên lương; Thiên đồng, Thái âm; Thiên đồng, Cự môn tọa cung Phu thê nên kết hôn muộn.
Trong tử vi Thiên đồng không ưa đồng cung vối Cự môn, dù tọa cung nào đều không cát lợi, chủ về nội tâm đau khổ, tinh thần dày vò, u uất.
Đàn ông ai cũng khao khát có được sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc. Đây là điều không phải ai cũng làm được, song cũng có những con giáp nam vô cùng tài giỏi, gia đình và sự nghiệp đều xuất sắc, viên mãn. Trong cuộc đời, mỗi người lại có những mục tiêu theo đuổi khác nhau. Có những người quyết tâm xây dựng sự nghiệp, bỏ bê gia đình và người thân. Có người lại rất có trách nhiệm với gia đình, chu đáo với vợ con, song sự nghiệp lại không có gì nổi bật.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
hải đủ tứ quý gồm: Quả vàng, quả xanh, nụ trắng, lá chồi.
Cây quất trong quan niệm dân gian còn là biểu tượng sức khỏe, bình an, trường thọ và sự may mắn trong tình duyên. Những người kinh doanh thường hay đặt hai chậu quất lớn có nhiều trái chín trước cửa nhà với mong muốn mang lại sự phát đạt, tiền tài dồi dào trong năm mới.

Về phong thủy cây cảnh: Người chọn quất phong thuỷ thường mong muốn không chỉ mang vượng khí cho mình, mà cho cả mỗi thành viên trong gia đình. Vì mỗi người đều có một mệnh khác nhau, mà cây quất lại “đạt” được yếu tố ngũ hành: kim (hoa màu trắng) sinh thủy (lá xanh đậm), thủy sinh mộc (thân cây), mộc sinh hỏa (quả chín màu cam), hỏa sinh thổ (đất trong chậu) và thổ sinh kim (hoa màu trắng).
Có thể nói loại cây này hội đủ ngũ hành và ngũ hành đều vượng, biểu lộ ra ngoài nên mới có thể kết đủ bốn mùa hoa trái. Ngày Tết chưng bày cây quất hội tụ đủ ngũ hành đều vượng như thế là tốt quanh năm.
Quả quất sai trĩu vào mùa đông là mùa thuỷ vượng, mà thuỷ đại biểu cho tài lộc. Thuỷ vượng sinh mộc cho nên cuối đông đầu xuân thì quất đơm hoa. Mộc là biểu tượng của sinh khí, sinh khí đơm hoa. Do đó dân gian nói rằng quất là biểu tượng của thành tựu và khởi phát, biểu tượng của tài lộc và sinh khí.
Có người cho rằng cây có 3 cành lớn, 3 tán hoặc đủ hoa – quả – lộc, hoặc đủ quả xanh – quả chín và hoa là “quất Tam Đa”. Vì thế nói tam đa là yêu cầu đa sức (tràn căng nhựa sống), đa lộc (nhiều lộc) và đa quả (nhiều kết quả).
Khi chọn quất chúng ta phải chú ý 4 yếu tố quan trọng: Dáng đẹp, quả đẹp, có lộc xanh, có cả nụ và hoa…Đầu năm chưng bày cây quất, mang sinh khí về nhà, hy vọng một năm mới an khang thịnh vượng.
Chọn dáng quất phải chọn sự cân đối và không được để cho một phía nào của cây bị lép, nếu như nhà bạn muốn trưng bày ở một khoảng không rộng mà mọi người ngắm từ nhiều phía.

Nếu bạn chỉ định đặt cây ở góc nhà hay góc tiền sảnh thì cây nào hơi bị khuyết một chút cũng không sao. Khi đã tìm được cây dáng đẹp thì cũng không thể bỏ qua được yếu tố về quả, bởi quả có to, có sáng màu thì cây quất mới đẹp.
Nên chọn cây có độ sai quả vừa phải, vì khi cây quá sai, quả sẽ nhỏ và nếu như trên cây có độ một ít quả xanh, quả ương nữa thì thật tuyệt, bởi nó tựa như các thế hệ trong một gia đình đề huề, hạnh phúc.
Ngoài ra bạn cũng phải chú ý đến lộc, lá của cây, bởi cây được xem là hoàn hảo thì không thể là cây có bộ lá nhỏ, cằn, không có chút lộc non nào…
Cây quất cảnh tốt tươi về lá, lộc là điều may mắn cho cả năm làm ăn tấn tới phát lộc. Chính vì thế mà họ luôn quan tâm đến bộ lá, lộc của cây hơn là dáng và quả. Mỗi người một ý, nhưng một cây quất có thêm phần nụ và hoa trắng nữa thì quá đẹp.
Nhiều người duy tâm vẫn xem cây quất cảnh tốt tươi về lá, lộc là điều may mắn cho cả năm. Chính vì thế, họ luôn quan tâm đến bộ lá, lộc của cây hơn là dáng và quả. Nếu cây quất có thêm nụ và hoa trắng nữa thì quả là mỹ mãn.
Và thật là tuyệt khi vừa đón giao thừa xong thì nhìn thấy một nụ hoa quất vừa hé nở, thì năm đó chắc chắn trong gia đạo sẽ gặp nhiều may mắn, nên mới có câu “Hoa khai phú quý”!.
1. Học nhận lỗi
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2. Học nhu hòa
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Giữ tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn
3. Học hạnh nhẫn nhục của đất
Dù ban cho con người thức ăn, chốn ở nhưng cũng chịu đựng biết bao nhiêu thứ nhơ nhớp người ta đổ vào lòng đất. Vậy mà đất vẫn nhẫn nhục chịu đựng trong im lặng.
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4. Học thấu hiểu
Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5. Học buông bỏ
Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống… lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

7 điều quý giá nên học suốt đời
6. Học cảm động
Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ mừng vui cùng cho họ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
7. Học sinh tồn
Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bè bạn yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
Để có thể lợi dụng không gian mà phát huy công dụng của mỗi khu vực trong nhà bếp, các hình thức bố cục vận dụng đều có thể chiếm cứ một vị trí nổi bật nhất trên tường, việc thiết kế chủ yếu trong mỗi công việc đều nhằm mục đích tiện sử dụng, do đó phải phối hợp hoàn thiện các đồ dùng, chúng sẽ chiếm một không gian nhất định trong nhà bếp và có tính tạo hình, phần tường còn lại tương đối ít, nên việc xác định màu sắc của các vật dụng này cũng có nghĩa là bạn xác định màu sắc cho gần như toàn bộ không gian nhà bếp.
![]() |
Màu xanh lam
Màu xanh lam luôn mang lại cảm giác nhẹ nhàng, lãng mạn. Nó rất dễ khiến con người ta liên tưởng tới những không gian rộng lớn như bầu trời, biển cả, mang lại cho người ta sự thư giãn thoải mái, có thể giúp bạn có được tâm trạng bình lắng, yên ổn.
Dùng trong một không gian rộng lớn có thể mang lại cho con người cảm giác tự nhiên, vẻ tự nhiên của màu xanh làm có thể giúp bạn thả lỏng được tinh thần, tránh căng thẳng, những người thường xuyên làm việc bận rộn có thể suy nghĩ mà lựa chọn màu này.
Màu xanh lục
Màu xanh lục nhẹ nhàng, thoải mái, vui mắt, tượng trưng cho sinh mạng, sự ấm no và mới mẻ. Đây là màu sắc không bao giờ khiến cho con người ta nhàm chán, bất luận là màu xanh non mơn mởn hay màu xanh đậm mượt mà đều có thể mang lại cho con người hơi thở của tự nhiên.
Màu đỏ
Sự nhiệt tình và tràn đầy sức sống, không chỉ có thể thể hiện được cá tính mạnh mẽ và can đảm của một người, còn có thể chứng tỏ được sự tích cực nhiệt tình, sức khỏe và sức sống của giới trẻ. Màu đỏ cũng có tác dụng kích thích người ta có cảm giác thèm ăn.
Màu đen
Thần bí và cao quý, màu đen vĩnh viễn là một màu sắc kinh điển. Màu đen mang lại nhiều tính thích ứng cho nhà bếp hơn, khi phối hợp với các màu sắc khác nhau có thể tạo ra những hiệu quả khác nhau. Màu đen vừa mang đến cho con người sự mới mẻ thần bí, vừa mang đến hơi thở của sự giản dị.
Màu gỗ
Màu gỗ là màu sắc dân dã, điền viên, mộc mạc. Xu hướng mới của các trào lưu tủ bếp hiện nay thường giữ nguyên màu gốc của gỗ, điều này thu hút sự chú ý của nhiều người. Màu gốc của gỗ không chỉ là mong muốn của con người đối với tự nhiên, đối với ruộng vườn, mà chất liệu và màu sắc trang nhã, tính tạo hình của nó còn làm nên một phong cách nghệ thuật riêng.
Nếu như nền tảng là màu gỗ điểm xuyết thêm màu lam nhạt thì lại càng tuyệt biết bao.
Màu trắng
Màu trắng tinh khiết vô ngần, không nhiễm bụi bẩn. Dùng màu trắng làm màu chủ đạo, cộng thêm một số màu khác thuộc gam màu nhạt, đối với những ai yêu thích sự sạch sẽ và yên tĩnh thì đây là sự lựa chọn tốt nhất. Màu trắng làm màu nền, rất dễ phối hợp với các màu sắc khác mang lại hiệu quả trang trí cao.
Những màu sắc có thể khiến cho người ta vui mắt thì phức tạp hơn rất nhiều, những người khác nhau, trong những môi trường sinh hoạt khác nhau thì sở thích của họ đối với màu sắc cũng rất khác nhau.
Theo Sách Sắp xếp phòng ăn, nhà bếp, phòng tắm theo phong thủy.