Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Sắc Trong Tướng Học

I- Ý NIỆM SẮC TRONG TƯỚNG HỌC Á ĐÔNG Trong tướng học Á Đông từ ngữ Sắc bao gồm nhiều lĩnh vực : a) Màu da của từng cá nhân Tướng học Á Đông là kết quả tích lũy thực tế của nhiều thế hệ, chỉ áp dụng cho các chủng tộc Á Đông có cùng màu da căn bản là vàng, có cơ thể và tầm vóc tương tự người Trung Hoa và cùng hcịu ảnh hưởng sâu đậm của phong tục và tập quán Trung Hoa như Cao Ly, Nhật bản, Việt Nam mà thôi. Nói chung, ngưới Á Đông tuy là giống da vàng, trong cái vàng tổng quát đó, ta vẫn phân biệt được Sắc ngăm đen như Trương Phi, Sắc hung đỏ như mặt Quan Công, Sắc hơi xanh mét như Đơn hùng Tín trong truyện cổ người Trung hoa.
Sắc Trong Tướng Học

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Về mặt vị trí quan sát. Tuy nói tổng quát là làn da nhưng trong tướng học khi nói đến da mặt, chỗ Sắc dễ thấy nhất còn các phần khác của cơ thể không mấy quan trọng.

b) Màu Sắc của từng bộ vị trên khuôn mặt hay thân thể:
Trên cùng một khuôn mặt hay cùng một thân thể của một cá nhân ta thấy có nhiều loại màu đơn thuần khác nhau :
- Màu hồng, màu hơi thâm đen của Môi, của các chỉ tay, vành Tai.
- Màu đen hay hung hung của râu tóc, long mày.
- Màu trắng của lòng trắng Mắt, màu nâu (ta thường gọi là đen) của tròng đen.
- Màu đỏ của các tia máu Mắt.


c) Sự đậm nhạt của từng loại màu
Cùng một loại màu, chẳng hạn như da mặt, làn Môi ta thấy có Môi hồng nhạt, hồng
đậm, hồng phương trắng: cùng một loại da trắng, ta thấy có người trắng hồng, trắng xanh trắng ngà. Tóm lại, sự đậm nhạt của màu cũng là một thành tố của ý niệm Sắc trong tướng học không thể bỏ qua được.

d) Phẩm chất của từng loại màu đơn thuần
Cùng một màu hồng của Môi, má nhưng ta thấy có người Môi khô, Môi mọng, có người Sắc da hồng nhuận, có người da khô như vỏ cây hết nhựa.
Ngoài màu đơn thuần, ta còn có những màu phức hôp do các màu đơn thuần hợp thành. Lĩnh vực của chúng ta cũng đồng một khuôn khổ như các lĩnh vực của các đơn Sắc. Sau hết, trên khuôn mặt của 1 cá nhân, dù màu đơn thuần hay màu phức hợp, chúng có thể biến đổi từ màu này sang màu khác hay về phẩm chất, về độ đậm nhạt, về thành phần cấu tạo (đối với các màu phức tạp) qua thời gian. Chẳng hạn màu da trắng của một người sau 1 thời gian có thể biến thành hồng hay xanh xám : tóc có thể từ đen mướt đến hung đỏ, cặp Mắt trong xanh và làn Môi tươi tắn có thể vì 1 lý do bệnh lý nào đó mà biến thành cặp Mắt trắng dã làn Môi đen sì.

Tóm lại, khi nói đến Sắc trong tướng học là nói đến màu của các loại da, màu các bộ vị, độ đậm nhạt, phẩm chất, sự phối hợp các màu đơn thuần thành các màu phức hợp, sự biến thiên của các màu con người từ khu vực này sang khu vực khác. Nghiên cứu về Sắc tức là nghiên cứu về tất cả mọi trạng thái của các lĩnh vực nói trên, đi từ tổng quát đến chi tiết, đơn giản đến phức tạp. Đôi khi quan sát bằng tịh giác chưa đủ còn phải vận dụng cả trực giác bén nhạy thiên phú nữa, nhất là trong lĩnh vực quan sát phẩm chất và độ đậm nhạt của màu Sắc ở từng bộ vị trên con người.

II- CÁC LOẠI SẮC TRONG TƯỚNG HỌC:
Nói đến Sắc là nói đến màu, nhưng ở đây nặng về phần màu da trên khuôn mặt Tướng học Á Đông phân ra 7 loại đơn Sắc:

- Màu đỏ
- Màu hồng
- Màu tía
- Màu xanh
- Màu trắng
- Màu đen
- Màu vàng

Ba màu Đỏ Hồng Tía dược tướng học ngũ hành hóa thành hỏa Sắc là màu chính thức cửa 3 tháng hè, là màu da căn bản của người loại Hỏa trong phép phân loại Ngũ hành hình tướng.

- Màu xanh thuộc Mộc, là màu Sắc chính của 3 tháng mùa xuân, màu da căn bản của người hình Mộc.
- Màu trắng thuộc Kim, là màu Sắc tượng trưng cho ba tháng mùa thu, là màu da căn bản của người hình kim.
- Màu đen thuộc Thủy là màu Sắc của mùa đông và là màu chíng của người hình thuỷ.
Sau cùng là vàng, màu Sắc tượng trưng cho an lành quanh năm, là màu da căn bản của loại người hình Thổ.

a) Ý nghĩa của từng loại màu trên con người:

Theo kinh nghiệm tích luỹ lâu đời của cổ nhân, người ta thấy bình thường mỗi một màu xuất hiện bất chợt trên các bộ vị của một cá nhân có ý nghĩa riêng biệt như sau:
- Màu Xanh chỉ về lo lắng, kinh hiểm, tật ác, trở ngại tiểu nhân nhục nhã
- Màu Đỏ chỉ khẩu thiệt thị phi, quan tụng, tù ngục phá tài, tật bệnh hung Tai.
- Màu Đen chỉ thủy ách. Hao phá, mất chức chết chóc.
- Màu Trắng chỉ hình khắc thiếu phục tật bệnh.
- Màu Hồng (đôi khi là Tía) chỉ các sự ngẫu nhiên đắc tài, đắc lợi may mắn ngoài ý liệu.
- Màu Vàng chỉ vui vẻ tài lộc thăng tiến, bình an may mắn.


Tuy vậy, các ý nghĩa trên không phải là định lệ bất di bất dịch. Trong thực tế, việc phân định và giải đoán ý nghĩa của Sắc vô cùng phức tạp vì mỗi loại Sắc có liên hệ chằng chịt xa gần với nhiều dữ kiện khác.
Sách Quy giám đã từng nói "vui buồn may rủi đều có thể hiện lên khuôn mặt qua Khí Sắc. Sắc phân ra lớn nhỏ, dài ngắn, cao thấp, rộng hẹp tùy thời cải biến hoặc xấu hoặc tốt, hay khô hay nhuận. Khởi nguyên của Khí ở ngũ tạng, Sắc bắt nguồn từ Khí, ban ngày hiện ra ơ ngoài. Cái dụng của Sắc còn tuỳ theo thời gian, Khí hậu. Sắc hiện ra có khi lớn như sợi tóc, nhỏ như sợi lông con tằm, dài như sợi lông, ngắn như chiều dài hạt tấm. Thế của Sắc có tính thịnh suy. Cho nên cần phải phối hợp thời gian, Khí hậu, Ngũ hành mà quan sát. Trong các loại Sắc, Sắc đỏ rất khó quan sát cho chính xác. Hay do nội tạng, hỏa vượng mà mặt đỏ, hay do đột nhiên cảm cúm mà mặt đỏ, hay do uất ức mà mặt đỏ. Chỉ đỏ Sắc tự nhiên, thiên bẩm hay vô bệnh tật mà phát sinh ra mới thật là Sắc đỏ của tướng học. Về thời gian, ít ra nó phải xuất hiện ở một bộ vị nhất định cả ngày mới có thể lấy làm căn cứ mà đoán tật bệnh cát hung, quan gia sự vận.

Nói tóm lại, biểu ý nghĩa đặc thù của từng loại Sắc chưa đủ để đoán mà còn phải lồng vào ý nghĩa đơn độc của nó vào một khung cảnh tổng quát bao gồm các yếu tố sau đây để tìm ra ý nghĩa kết hợp của nó :

- Sự lớn rộng hay hẹp của một khu vực xuất hiện Sắc.
- Tính cách Thanh Trọc của Sắc
- Hư Sắc hay thực Sắc.
- Bộ vị xuất hiện.
- Phối hợp hay không với màu da tổng quát căn bản của từng loại người(Ngũ hành hình tướng)
- Phối hợp hay không phối hộp với màu Sắc từng mùa
- Rõ ràng hay mờ ảo, thường trực hay bất chợt.
- Đơn thuần hay tạp Sắc. . .

Chẳng hạn, màu đen tuỳ theo định nghĩa thông dụng là một màu xấu nhưng nếu thấy xuất hiện ở người hình Thuỷ trong ba tháng mùa đông là đặc biệt lại ở Địa cát, với Sắc thái tươi bóng lại là một màu tốt, đặc biệt chủ về khang kiện và phát tài.
Màu đỏ tuy là màu chỉ về thị phi, quan tụng nhưng nếu người hình Kim trong ba tháng hè, Sắc tươi tắn không hỗn tạp mà lại hanh thông. Nếu vẫn ở cá nhân trên mà trong đỏ lại pha lẫn đen thành màu huyết dụ thì lại chủ về hung hiểm khó tránh: pha lẫn màu xanh hay vàng mà vẫn Thanh*(nghĩa là màu Sắc tươi tốt về hình thái) Sắc thì tùy Tai ương vẫn có nưhng mức độ nguy hại giảm thiểu đến tối đa, rốt cục không có gì đáng ngại, Từ đó, ta co thể áp dụng lối suy luận trên vào các màu khác.

b) Quy tắc tổng quát về cách đoán Sắc:
Trong phép đoán Sắc ta không cần quá câu nệ vào ý nghĩa riêng rẽ của từng màu mà cần phải để ý đến ý nghĩa kết hợp của nó trong một bối cảnh chung. Ngoài các yếu tố kể trên, ta cần phải phân biệt một vài điểm quan trọng trước khi lưu ý đến ý nghĩa của từng loại Sắc. Đó là :

1- Hư Sắc và thực Sắc :
Hư Sắc là trường hợp Sắc và Khí không tương hợp, chỉ có Sắc hiện ra ở ngoài da, mà phía dưới da không có Khí. Để hiểu ta có thể ví hư Sắc với vết bùn hay một vết màu bất chợt phết lên lớthành ra nhìn vào vết bùn hay một vết màu bất chợt phết lên lớp da lên cây, thành ra nhìn vào vết đó trên thân cây, ta không thể biết được chất nhựa chu lưu dưới lớp vỏ cây ra sao. Trường hợp này cũng còn gọi là hữu Sắc vô Khí.

Trái lại, thực Sắc là màu da thực sự của vỏ cây, nó phản ánh trung thực chất vỏ cây chu lưu ở trên lớp vỏ cây. Tùy theo chất nhựa sung mãn hay khiếm hụt, màu Sắc của vỏ cũng biến chuyển theo.
Trong tướng học chỉ có thực Sắc mới đáng lưu tâm còn hư Sắc không đáng kể.

2- Vương Sắc trệ Sắc, hoại Sắc.
Vương Sắc: màu thuộc loại chính cách, sáng sủa phân bổ đều khắp các bộ vị quan sát, phù hợp với thời gian tối thuận của nó. Vương Sắc đắc cách phù hợp với từng loại hình tướng là dấu hiệu tốt.
Trệ Sắc: màu xuất hiện đúng chỗ, đúng lúc nhưng phẩm chất xấu hay phân phối không đều đặn (hay lốm đốm, hay chỗ chậm chỗ nhạt)
Trong tướng học nói đến vương Sắc và trệ Sắc là người ta chú ý đến màu Sắc chính yếu trên khuôn mặt hay các bộ vị chính yếu.
Như danh xưng của nó, trệ Sắc chủ về các loại bất tường tiềm ẩn sắp bộc phát.
- Kim trệ: da mặt hiện ra Sắc trắng bệch và khô như mặt đất bị mốc là điềm báo trước về sự cùng khốn, ngưng trệ của của cải.
- Mộc trệ: Khuôn mặt xanh xao, u ám chủ về bệnh tật, Tai họa.
- Thủy trệ: toàn thể các bộ vị chính trên mặt, nhất là hai Tai, mờ ảo như khối ám là dấu hiệu tiềm ẩn chủ yếu về quan trung thị phi.
- Hỏa trệ: mặt nổi màu đỏ trông khô héo là điểm hao tổn tiền bạc.
- Thổ trệ: màu da mặt vàng lốm đốm không đều, không sáng như màu nghệ khô, là triệu chứng nội tạng bệnh hoạn, công việc khó thành.

Hoại Sắc: xuất hiện trái thời gian, sai bộ vị hay pha trộn nhiều màu Sắc tương khắc.

Tranh Phong Thủy


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sắc Trong Tướng Học

Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỉ

Ý nghĩa: Đào Hoa có nghĩa là hoa Đào, một loại hoa có màu sắc rực rỡ.
Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỉ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Hồng Loan

Hồng có nghĩa là màu hồng, cùng có nghĩa là đẹp đẽ, nhộn nhịp, vui tươi. Loan có nghĩa là chim loan, một loài chim phượng. Trước xe vua đi có trỗ một con chim loan ngậm cái chuông, vì thế nên xa giá của vua được gọi là loan. Như vậy Hồng Loan có nghĩa là con chim loan màu hồng, đồng thời cũng là biểu tượng cho sự đẹp đẽ vui tươi, cao quí
Thiên Hỉ: Hỉ có nghĩa là mừng, những việc tốt lành đều gọi là việc hỉ

Biểu tượng
Về biểu tượng đồ dùng thì Hồng Loan là vải vóc, Thiên Hỉ là đèn nến
Về biểu tượng đồ ăn thì Đào Hoa là rượu, hoa quả hay nước ngọt, Hồng Loan là tiết canh
Về biểu tượng tang lễ thì Đào, Hồng, Hỉ là đèn nến, Đào Hoa còn là cái hố và Hồng Loan Quan Đới hội họp là dây thừng

Ngũ hành
Đào Hoa hành Mộc
Hồng Loan hành Thủy đới Kim (TTL) hoặc Mộc đới Thủy (VVT)
Thiên Hỉ hành Thủy (TTL) hoặc Hỏa đới Mộc (VTT)

Đắc hãm
Đào Hoa miếu địa tại Tí (VVT)
Hồng Loan miếu vượng tại cung Mộc và Thủy: Dần Mão, Tí Hợi (VVT) (chú ý VVT cho rằng Hồng Loan thuộc Mộc đới Thủy thành ra miếu vượng như trên

Đặc điểm về cách an sao
Đào Hồng và Hỉ đều đứng tại cung có âm dương trái ngược với âm dương tuổi nghĩa là tuổi Dương thì Đào Hồng Hỉ đều đóng tại cung Âm và ngược lại. Như vậy thì Đào Hồng Hỉ chỉ kết hợp với hai tam hợp Dương Tử Phúc hoặc Âm Long Trực của vòng Thái Tuế, đặc biệt Đào Hoa chỉ nằm trong tam hợp Dương Tử Phúc. Đối với vòng Bác Sĩ thì các tuổi Giáp Ất, Bính Đinh, Canh Tân, Nhâm Quí thì Lộc Tồn an tại cung có cùng âm dương với âm dương tuổi nên Đào Hồng Hỉ chỉ có khả năng kết hợp với tam hợp Lực Sĩ Tấu Thư Đại Hao hoặc tam hợp Tiểu Hao Hỉ Thần Quan Phủ (chú ý chỉ có tam hợp Tiểu Hao Hỉ Thần Quan Phủ hoặc vị trí Lực Sĩ có Hỉ Thần xung chiếu mới có khả năng có bộ Song Hỉ, nghĩa là Thiên Hỉ và Hỉ Thần gặp nhau). Riêng tuổi Mậu Kỷ thì Lộc Tồn an tại cung có âm dương khác với âm dương tuổi thành ra Đào, Hồng, Hỉ sẽ kết hợp với tam hợp Lộc Tồn Bác Sĩ Tướng Quân Bệnh Phù Quốc Ấn hoặc tam hợp Long Phi Phục. Do đó bộ Phục Tướng kết hợp với Đào Hồng Hỉ chỉ có tuổi Mậu Kỷ mới có khả năng có mà thôi. Dương Nam Âm Nữ thì Thai nằm ở Tí Ngọ Mão Dậu mới có khả năng có Thai Đào đồng cung, còn Âm Nam Dương Nữ thì Thai nằm tại Thìn Tuất Sửu Mùi thành ra không có Thai Đào đồng cung, chỉ có khả năng có Thai Đào tam hợp

Đào Hoa
Đào Hoa lúc nào cũng đóng ở Tí Ngọ Mão Dậu. Nếu căn cứ vào Vòng Tràng Sinh an theo tam hợp cục của năm sinh thì Đào Hoa lúc nào cũng ở vị trí Mộc Dục (còn gọi là bại địa) của vòng Tràng Sinh này và Kiếp Sát luôn nằm tại vị trí Tuyệt (còn gọi là Tuyệt Địa) của vòng Tràng Sinh. Đào Hoa và Kiếp Sát luôn luôn tam hợp chiếu với nhau (Chú ý Hồng Loan hay Thiên Hỉ khi đồng cung với Long Đức mới có Kiếp Sát xung chiếu, còn các vị trí khác thì không gặp Kiếp Sát). Đào Hoa luôn luôn nằm trong bộ Dương Tử Phúc, nghĩa là luôn luôn có Thiên Không trong tam hợp. Đào Hoa luôn luôn có Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức thủ chiếu, và có thể có Long Đức chiếu (bộ Đào Hoa, Tam Đức, Dương Tử Phúc, Thiên Không, Kiếp Sát). Tam Đức bao gồm Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức. Chỉ có bộ Không Đào đồng cung mới có đủ Tứ Đức (bởi vì Thiên Không bao giờ cũng có đủ Tứ Đức chiếu, trong đó Long Đức xung chiếu. Chú ý Thiên Không khi đồng cung với Đào Hoa chỉ có bộ Đào Hỉ hay Đào Hồng nhưng không có Cô Quả trong khi Thiên Không đồng cung với Thiên Hỉ hay Hồng Loan đều có đủ bộ Đào Hồng Hỉ Cô Quả). Đào tại Dậu và Không Đào tại Mão mới có Phá Toái, còn lại đều không có. Đào Hoa tại Mão Dậu luôn kết hợp với Thiên Hỉ (bộ Đào Hỉ Mão Dậu), còn Đào Hoa tại Tí Ngọ luôn luôn kêt hợp với Hồng Loan (bộ Đào Hồng Tí Ngọ) và chỉ khi Đào Hoa đồng cung với Thiên Đức mới có Tam Minh (Thiên Đức khi đồng cung với Đào, Hồng hay Hỉ đều có Tam Minh). Chỉ có Tử Phù Nguyệt Đức Đào Hoa đồng cung mới có bộ Cô Quả tam hợp, còn lại khi đồng cung với Thiếu Dương hoặc Phúc Đức đều không có Cô Quả (Nguyệt Đức đồng cung với Đào, Hồng, hay Hỉ đều có Quả Tú)

Hồng Loan và Thiên Hỉ
Hồng Loan và Thiên Hỉ luôn luôn xung chiếu với nhau và chỉ có vị trí Hồng Loan hoặc Thiên Hỉ thì mới có khả năng có đủ bộ Tam Minh. Hồng Loan luôn nhị hợp với Điếu Khách, còn Thiên Hỉ luôn nhị hợp với Quan Phủ, Long Trì. Hồng Loan thì nằm trong bộ Dương Tử Phúc khi ở Dương cung hay bộ Âm Long Trực khi ở Âm cung. Khi Đào Hồng đồng cung hoặc tam hợp chiếu thì Hồng Loan thuộc bộ Dương Tử Phúc, còn nếu không thì Hồng Loan thuộc bộ Âm Long Trực
Hồng Loan khi tại Âm cung thì thuộc bộ Âm Long Trực, có Phá Toái tam hợp khi tại Tỵ Dậu Sửu và chỉ có vị trí Mão Dậu (có Thiếu Âm Hồng Loan) mới có Tam Minh. Hồng Loan tại Dương cung thì thuộc bộ Dương Tử Phúc, lúc nào cũng có Tam Minh
Thiên Hỉ thì khi ở Âm cung nằm ở bộ Dương Tử Phúc (luôn luôn có đủ bộ Tam Minh) và khi ở Dương cung nằm ở bộ Âm Long Trực (tại Tí Ngọ mới có bộ Tam Minh, còn lại chỉ có Hồng Hỉ mà thôi) và nằm khác bộ với Hồng Loan. Khi Hồng Loan gặp bộ Dương Tử Phúc thì Thiên Hỉ thuộc bộ Âm Long Trực, khi Hồng Loan thuộc bộ Âm Long Trực thì Thiên Hỉ thuộc bộ Dương Tử Phúc. Tại vị trí Tỵ Dậu Sửu Thiên Hỉ luôn luôn có Phá Toái tam hợp

Thiên Không Đào Hoa đồng cung:
Đào Hoa thuộc bộ Tam Đức, Dương Tử Phúc, Thiên Không, Kiếp Sát trong đó Thiên Không Kiêp Sát chủ ẩn tàng tai họa. Trong bộ này thì Thiếu Dương hành Hỏa chủ về trí tuệ, khôn ngoan, nhạy bén và luôn luôn đồng cung với Thiên Không theo cách an của Nam Phái. Bắc Phái hoàn toàn không có sao Thiên Không đồng cung với Thiếu Dương mà vị trí của Thiên Không chính là sao Địa Không trong Nam Phái. Khi Đào Hoa đồng cung với Thiên Không thì Mộc của Đào Hoa sẽ gia tăng tính chất nhạy bén, khôn ngoan của Thiếu Dương Hỏa đưa đến con người dễ trở nên quỉ quyệt, mưu sỉ, đạo đức giả nếu không có phúc thiện tinh đồng cung cứu giải. Trường hợp có hung sát tinh kết hợp thì Kiếp Sát sẽ phối hợp với Thiên Không để đưa ra kết quả bù trừ do hành động gian ác quỉ quyệt gây ra. Mệnh Không Đào đồng cung thì Mệnh Kim chính là cách Thiên Không Đào Hoa đúng cách (Hỏa khắc Kim), sự nghiệp sẽ bị gãy đổ do những hành động mưu sỉ gây ra và tại vị trí Mão Dậu là nơi tác họa mạnh nhất vì có thêm Phá Toái trợ lực, trong khi tại Tí Ngọ thì có phần giảm nhẹ vì có Hồng Loan (Thủy) tam hợp trong khi không gặp Phá Toái. Bộ Không Đào đồng cung không bao giờ có mặt của Cô Quả (Thổ) có tác dụng giảm thiểu tác họa của Thiên Không Kiếp Sát (Hỏa) hội họp, vì thế Mệnh Thiên Không Đào Hoa đồng cung thì phú đoán như sau:
Thiên Không hội với Đào Hoa,
Cầm, kỳ, thi, họa tài ba tuyệt vời
Cơ mưu quyền biến hơn người
Ngàn năm mệnh bạc một đời tài hoa (AB334)

Thiên Không Hồng Loan đồng cung: tại vị trí này thì Hồng Loan Thủy sẽ khắc chế Thiếu Dương, Thiên Không và Kiếp Sát Hỏa, đồng thời ba sao trên lại bị tiết khí cho Cô Quả Thổ để rồi khắc lại Hồng Loan đưa đến con người tuy sáng suốt nhưng không mưu sỉ, thường có tâm tu hành (Thiên Không, Thiếu Dương), cuộc đời dễ gặp trắc trở về tình duyên (Hồng Loan Cô Quả) nhưng nghề nghệp thường hanh thông (Đào Hoa tại Quan)

Đào Hồng đủ bộ
Đào Hồng khi ở Dương cung (nghĩa là tuổi Âm) thì hoặc đồng cung, hoặc tam hợp chiếu, còn khi ở Âm cung (nghĩa là tuổi Dương) thì xung chiếu với nhau, hoặc đưa đến cách giáp biên tại các cung Dương là Dần Thân, Thìn Tuất. Cụ thể:
Đồng cung tại Tí Ngọ (tuổi Mão, Dậu)
Tam hợp chiếu tại Dần Ngọ (tuổi Sửu), Thân Tí (tuổi Mùi), Ngọ Tuất (tuổi Tỵ ), Tí Thìn (tuổi Hợi)
Giáp biên tại cung Dần (tuổi Dần), Thân (tuổi Thân), Tuất (tuổi Thìn) và Thìn (tuổi Tuất). Như vậy chỉ có Thái Tuế Dần Thân và Tuế Phá tại Thìn Tuất mới có cách giáp Đào Hồng
Xung chiếu với nhau ở cung Âm: Mão Dậu (tuổi Tí, Ngọ)

Tam Minh Đào Hồng Hỉ: Đào Hồng khi đồng cung, hoặc xung chiếu thì sẽ có đủ bộ tam minh Đào Hồng Hỉ
Ba sao Đào Hồng Hỉ họp thành một bộ gọi là Tam Minh, chỉ dành riêng cho bộ Dương Tử Phúc và Thiếu Âm: Thiếu Dương ở Dần Thân Tỵ Hợi (Tứ Sinh), Tử Phù – Nguyệt Đức ở Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ Mộ), Phúc Đức và Thái Âm tại Tí Ngọ Mão Dậu (Tứ Chính) mới có bộ Tam Mịnh. Khi có tam minh thì có đặc điểm là Dương, Tử, Phúc và Thiếu Âm đều đồng cung với Thiên Hỉ hoặc Hồng Loan và chỉ có Phúc Đức, Thiếu Âm mới không bị Cô Quả, còn Thiếu Dương thì bị cả bộ Cô Quả thủ chiếu, Tử Phù bị Quả Tú xung chiếu
Một số người đã thay thế Thiên Hỉ bằng Hỉ Thần và cho rằng Hỉ Thần, Đào, Hồng cũng là bộ Tam Minh nhưng không thể coi như vậy được vì Tam Minh thì phù tá cho bộ Nhật Nguyệt là do luôn có Thiếu Dương

Đào Hoa cư Quan hoặc Tài
Đào Hoa cư Quan thì Mệnh sẽ là Nguyệt Đức hoặc Phúc Đức thủ và sẽ có Kiếp Sát tại Mệnh vì Kiếp Sát tam hợp với Đào Hoa: theo chiều thuận thì Kiếp Sát, cách ba cung thì là Đào Hoa, còn nếu Đào Hoa cư Tài thì Quan sẽ có Kiếp Sát thủ

Đào Hoa gặp Song Hao
Đào Hoa gặp Song Hao chỉ có tuổi Ất Tân mới gặp và khi đó Đào Hoa tại Tí hay Ngọ. Chú ý cung Ngọ tuổi Ất thì có Triệt
Một số người cho rằng Đào Hoa gặp Song Hao thì tốn tiền vì gái nhưng điều này chưa chắc đúng, có lẽ Đào Hoa gặp Song Hao tại Tài thì mới có nghĩa như vậy

Hồng Loan và Tứ Đức
Hồng Loan khi đóng đồng cung với Thiếu Dương tại Dần Thân thì có Tứ Đức, đồng cung với Tử Phù, Phúc Đức hay Thiếu Âm thì sẽ có Tam Đức, đồng cung với Trực Phù thì có nhị đức (Nguyệt Đức, Long Đức), đồng cung với Long Đức thì chỉ có Long Đức mà thôi

Luận đoán Đào Hồng Hỉ
Cần nắm vững ý nghĩa của các sao Thiên Không, Kiếp Sát, Cô Quả, Tứ Đức, Phá Toái. Cần chú ý xem Đào Hồng Hỉ thuộc tam hợp nào của vòng Thái Tuế (tam hợp Dương Tử Phúc hoặc Âm Long Trực), có Thiên Không, Kiếp Sát (Hỏa), Cô Quả (Thổ), Phá Toái hay không, và ở vị trí thủ hay chiếu. Tam hợp Dương Tử Phúc luôn luôn có Đào Hoa, Thiên Không, Kiếp Sát, Tam Đức trong tam hợp, tam hợp Âm Long Trực chỉ có vị trí Long Đức mới gặp Thiên Không Kiếp Sát xung chiếu, còn Thiếu Âm và Trực Phù không gặp Thiên Không Kiếp Sát. Đào Hoa thì luôn luôn nằm trong tam hợp Dương Tử Phúc. Hồng Loan khi ở Dương cung thì thuộc tam hợp Dương Tử Phúc Tam Minh, khi ở Âm cung thì thuộc tam hợp Âm Long Trực có Phá Toái tam hợp khi tại Tỵ Dậu Sửu và chỉ có vị trí Thiếu Âm Hồng Loan Mão Dậu mới có Tam Minh. Thiên Hỉ khi ở Âm cung nằm ở tam hợp Dương Tử Phúc Tam Minh và khi ở Dương cung nằm ở tam hợp Âm Long Trực (Thiếu Âm Thiên Hỉ tại Tí Ngọ mới có bộ Tam Minh, còn lại chỉ có Hồng Hỉ mà thôi). Cần chú ý Thiên Không và Kiếp Sát thì ẩn tàng tai họa nhưng Thiên Không trong đồng cung với Thái Dương thì không tác họa. Thiên Không và Kiếp Sát (Hỏa) cần được Hồng Loan hay Thiên Hỉ (Thủy) đồng cung để giảm thiểu tác họa của nó. Cô Quả thì tuy làm suy yếu sự phá hoại của Thiên Không Kiếp Sát (Hỏa sinh Thổ) nhưng đồng thời làm ngang trái Hồng Loan, Thiên Hỉ (Thổ khắc Thủy). Thiên Không đồng cung với Đào Hoa sẽ gia tăng tính phá hoại của Thiên Không, gia tăng tính nhạy bén, mưu trí, trực giác cao của Thiếu Dương. Cần chú ý rằng Đào Hồng thủ Mệnh không đẹp bằng chiếu Mệnh, nhất là Hồng Đào tại Quan thì tốt nhất nhưng cần chú ý rằng Đào Hoa tại Quan thì Mệnh có sao Thiên Đức hoặc Nguyệt Đức thủ với sao Kiếp Sát. Đào Hồng thủ khi có các sao của bộ Tứ Đức thủ đồng cung thì sẽ hóa giải được dâm tính và không còn mang tính chất hoa nguyệt bừa bãi. Đào Hồng chiếu Mệnh đương nhiên không mang tính hoa nguyệt mà lại chủ sự may mắn. Tam hợp Dương Tử Phúc tối kỵ Không Kiếp xâm nhập (kế đó là Hỏa Linh hãm, sau đó mới đến Kình Đà), khi đó các sao Đức không thể hóa giải hung họa. Hóa giải tác họa của Thiên Không thì Hóa Khoa hoặc Tuần, Triệt giải được
Tam Minh Đào Hồng Hỉ hỗ trợ bộ Nhật, Nguyệt rất đắc lực, nhất là khi Nhật Nguyệt hãm địa sẽ làm gia tăng sức sáng của Nhật Nguyệt (Mệnh Thái Dương sáng sủa thì rất đoan chính thành ra Thái Dương sáng cũng giải được tính hoa nguyệt). Sự hỗ trợ này có lẽ do ảnh hưởng của Thiếu Dương (có Thiên Không đồng cung) hỗ trợ Thái Dương và Thiếu Âm (chỉ có Thiếu Âm mới có khả năng có Tam Minh, còn Long Đức và Trực Phù không có) hỗ trợ Thái Âm. Ngoài ra Đào Hồng Hỉ phù tá bộ Tử Phủ Vũ Tướng cũng mạnh mẽ, nhất là Tử Vi và Thiên Phủ là hai sao khắc chế được dâm tính của Đào Hồng biến hai sao này thành may mắn hanh thông. Đào Hồng gặp các dâm tinh như Liêm Tham nhất là hãm địa không có lợi vì hai sao này đều chỉ về tham dục, gặp Đồng Lương Tỵ Hợi, Cự Cơ Mão Dậu, Thái Âm hãm địa cũng gia tăng tính dâm
Đào Hồng là các dâm tinh nhưng nếu đồng cung với các sao chủ sự đoan chính như các sao của bộ Tứ Đức, Tử Phủ, Thái Dương sáng sủa, Thiên Hình thì lại là người duyên dáng, không lăng nhăng. Đào Hồng tối kỵ gặp Không Kiếp chủ về tình duyên trắc trở, biệt ly, khổ lụy vì tình, chết yểu, nghèo hèn hoặc công danh sự nghiệp đổ vỡ, nhất là Đào Hoa gặp Không Kiếp. Đào Hồng gặp Hỏa Linh Kình Đà cũng xấu, chủ về chiết giảm tuổi thọ. Đào Hồng gặp Tam Ám Riêu Đà Kỵ thì chủ sự hoa nguyệt bất chính, dâm đãng. Đào Hồng Hỉ không nên đồng cung với Phục Binh, Tướng Quân chủ sự bị lừa gạt trên vấn đề tình cảm, với Riêu chủ về sự dâm đãng, với Thai chủ sự thất trinh mất tiết, thụ thai. Hồng Đào cũng không nên gặp Hóa Kỵ hãm địa (Hóa Kỵ do các chính tinh hóa thành, chủ yếu do Nhật, Nguyệt, Liêm, Tham, Cự Cơ, Đồng, Vũ, Xương, Khúc trong đó ngoại trừ Thái Dương và Vũ Khúc, các sao còn lại đều có vị trí mang nghĩa dâm) nhất là Hồng Loan dễ bị miệng tiếng thị phi trên vấn đề tình cảm. Riêng Hỉ gặp Thai tại hạn thì dễ có tin mừng về việc có con, nhất là khi có Thanh Long hoặc Phi Liêm
Vài tính chất của Đào, Hồng, Hỉ

Đào Hồng
Đào Hồng chủ vui vẻ, mau mắn, đa tình, lẳng lơ hoa nguyệt
Chủ mọi sự về đàn bà con gái
Có ảnh hưởng đến vợ hoặc chồng
Đem lại nhiều sự vui mừng
Có liên quan đến việc cưới hỏi, lợi ích cho việc thi cử, cầu công danh
Làm cho Tử Phủ, Nhật Nguyệt thêm rực rỡ, tốt đẹp
Đào Hồng Hỉ gọi là bộ Tam Minh, gia tăng sức sáng cho Nhật Nguyệt
Lưu hạn mà gặp Tam Minh thì thi cử, cầu công danh tài lộc, hôn nhân sẽ được đắc ý. Về già mà Hồng Hỉ ở Tứ Mộ thì chủ bệnh tật nguy kịch đến tính mạng (VVT)

Hồng Đào miếu tại Hợi Tí chủ về sự phát triển tài lộc, công danh thăng tiến (VVT)
Đào Hoa tại Tí Mão nếu đồng cung với Thiên Không (Hỏa) thì ví như cây đào bị cháy, là cách bán thiên chiết sỉ, chim bay ngang trời bị gãy cánh, nếu cư tại Mệnh, Thân, Quan, Tài thì cơ nghiệp bị đổ vỡ nhưng là người có cơ mưu trí lược (VVT)

Mệnh có Đào Hồng thủ thì:
Ngoại diện dễ thu hút người khác phái
Ăn nói lịch thiệp, dáng điệu thanh lịch, có năng khiếu ngoại giao
Tính tình vui vẻ, nhanh lẹ, mau mắn
Có duyên
Đa tình, dễ bị lôi cuốn vào chuyện tình cảm, dễ đam mê lụy vì tình nếu không đồng cung với sao của Tứ Đức hoặc có sao khắc chế như Tử Phủ, Thiên Hình, Thái Dương sáng sủa
Khéo tay, có năng khiếu học các ngành liên quan đến mỹ thuật như may cắt, trang điểm, sơn móng tay, nhất là Mệnh Hồng Loan
Không sát tinh xâm phạm thì là người hay gặp may mắn, nhất là hay gặp người khác phái giúp đỡ. Nếu gặp sát tinh thì nên cẩn thận dễ bị họa trong mối quan hệ với người khác phái

Riêng Đào Hoa thì:
Hay chú trọng đến hình thức bề ngoài, từ đó bản thân cẩn thận trên vấn đề ăn mặc, trưng diện, nhất là phái nữ mệnh Đào Hoa
Thích giao thiệp với người khác phái
Đặc điêm này sẽ mạnh khi Đào Hoa tại Mão và Ngọ, còn tại Dậu và Tí thì kém hơn nhiều

Đào Hoa khác Hồng Loan ở chỗ Đào Hoa nặng về dâm tính thể xác, mang tính lả lơi hoa nguyệt còn Hồng Loan chủ dâm tính trên lãnh vực tinh thần, lãng mạn. Đào Hoa thì thu hút người khác phái ngay, trong khi Hồng Loan thì từ từ hấp dẫn do sự có duyên. Sự kết hợp của Đào Hoa với các dâm tinh khác thì sẽ mang ý nghĩa liên quan đến sự giao hợp về xác thịt

Cần xét thêm Âm Dương sáng sủa hay mờ ám (phái Nam coi Thái Dương, Nữ coi Thái Âm) để biết thêm về khả năng sinh lý của đương sự mạnh hay yếu

Mệnh hay Thân có Đào hay Hồng tọa thủ thì có khả năng hai đời. Theo CV thì Hồng Loan có Nguyệt Đức đồng cung thì giải được cách hai đời

Đào Hồng không nên cư tại Thân Mệnh vì đặc tính dâm ô hoa nguyệt, nhất là Nữ Mệnh càng không nên có Đào Hồng cư Mệnh. Đào Hoa cư Mệnh thì xấu, trai thì mê gái, gái thì mê trai, gặp Thiên Không đồng cung càng xấu hơn vì trong trường hợp này không có sao Đức thủ đồng cung (CV)
Đào Hoa chiếu Mệnh thì mới tốt đẹp, được mọi người quí mến và không chủ về lăng nhăng, hấp dẫn người khác, người khác mê mình chứ mình không mê người (CV)
Đào Hoa cư Mão đẹp nhất, kế đến cư Ngọ, còn cư Dậu và cư Tí thì xấu, tại Tí là đào hoa phiếm thủy, chủ dâm dật (CV) nhưng có người cho rằng Đào tại Mão thì đẹp nhất, kế đến Đào tại Tí, rồi Ngọ và cuối cùng là tại Dậu.

Đào Hoa cư Mão (hành sao đồng hành hành cung) thì đẹp nhất, là người rất có duyên, tuổi Tân lập gia đình sớm (CV). Tại vị trí này, Đào Hoa được coi như là hoa nở vào bình minh, tính chất của Đào Hoa thể hiện rất mạnh mẽ, rất hấp dẫn, thu hút người khác, được nhiều người biết đến như hoa đẹp được người thưởng thức ngắm xem.
Đào Hoa cư Ngọ (hành sao sinh hành cung) cũng đẹp, nhưng bớt sức hấp dẫn, ví như hoa đang ở giữa trưa nắng gay gắt thành ra dễ tàn, nhưng nếu nữ mệnh tại Ngọ có Tử Phủ thì lại là cách đào hoa phạm chủ, chủ về dâm dật, chủ thầy lấy trò, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau (CV)
Đào Hoa cư Dậu (cung Kim khắc Đào Mộc) thì xấu nhất, ví như hoa đào bị héo, bị rơi rụng, chủ trai lấy vợ thừa, hoặc thất tiết, hoặc không đứng đắn, hoặc lấy vợ trễ, về già mới có vợ, hoặc dễ bị vợ phản bội, gái lấy chồng ăn chơi (CV). Tại vị trí này sự hấp dẫn của Đào Hoa giảm thiểu nhiều, tính chất của Đào Hoa giảm thiểu
Tử Vi Tham Lang cư Dậu gặp Đào Hoa, nếu Nam Mệnh hành Kim thì là cách đào hoa phạm chủ, chỉ cách thầy lấy trò, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau, tình yêu thiếu luân thường đạo lý. Tại Nữ Mệnh thì dâm dật (CV).

Đào Hoa cư Tí (hành cung sinh hành sao) thì đàn bà lãng mạn, dễ mắc vào lưới tình, nếu có Thiên Không đồng cung thì đường chồng con không khá, dễ bị chồng bỏ hoặc bỏ chồng (Không Đào) (CV). Có người cho rằng Đào Hoa tại Tí thì tốt, chỉ thua kém tại Mão, ví như hoa Đào nở về đêm, lâu tàn, tuy rực rỡ nhưng ít người biết đến, ám chỉ các tính chất của Đào Hoa thì ngấm ngầm, ví dụ như có duyên nhưng ngầm, đa tình nhưng kín đáo
Đào Hoa xấu nhất là gặp Không Kiếp, kế đến là Hỏa Linh. Gặp Triệt thì như là hoa bị ngắt, gặp Thiên Hình thì dễ bị bề hội đồng (CV)
Đào Hoa nhập hạn trên 50 tuổi thì dễ chết hoặc bị bệnh nặng, nhưng chiếu hạn thì không đáng lo ngai, chủ yếu chỉ bị bệnh mà thôi (CV)
Đào Hoa cư tại Nô thì đàn ông mới xấu, chủ về cách lấy bậy bạ như chủ lấy tớ, thầy lấy trò, còn đối với đàn bà thì không sao (CV)

Đào Hồng cư Quan Lộc thì hợp nhất vì tránh được tính lẳng lơ hoa nguyệt của Hồng Đào tại Mệnh. Cư Quan thì hoạn lộ sẽ hanh thông may mắn, không phải cầu cạnh bôn ba dù làm nghề gì cùng vậy (VVT)

Hồng Loan miếu vượng tại Dần Mão, Hợi Tí thì chủ sự thông minh tú lệ, hòa nhã, nếu có Tử Vi trong tam hợp thì là người thanh tịnh, chủ sự cát khánh, trai lấy vợ đẹp, hiền thục, gái lấy chồng cao sang quí hiển (VVT)
Hồng Loan hãm địa thì chủ tà dâm, đa đoan (VVT)
Hồng Loan gặp Hóa Lộc Kình Đà thì phụ nữ rất giỏi về kinh doanh, nhất là kinh doanh vải vóc (Hồng Loan biểu tượng là vải vóc) rất phát đạt (VVT)
Hồng Loan gặp Địa Kiếp Cô Quả là cách chết thắt cổ vì Hồng Loan Địa Kiếp là cái dây thừng (VVT). Nếu đóng tại Phu Thê thì phải hai ba lần mới thành gia thất (VVT)

Đàn bà Mệnh Thân có Đào hay Hồng tọa thủ gặp tam ám Riêu, Đà, Kỵ hội họp thì là người không giữ được danh tiết. Nếu lại gặp Thai Binh Tướng hội họp thì sẽ bị chửa hoang hoặc hiếp (TTL)

Nữ Mệnh có Đào Thai Phục Tướng thì khó tránh chửa hoang hoặc bị hiếp (VVT)
Thai Đào gặp Tướng Quân thì là cách tiền dâm hậu thú, nhưng nếu có Nguyệt Đức đồng cung thì giải được (AH)

Thiên Hỉ
Vui vẻ, hòa nhã, chủ về hỉ sự, đem lại nhiều sự may mắn đáng mừng
Lợi ích cho việc cầu công danh, cưới hỏi, sinh nở
Họp với Hỉ Thần thành bộ Song Hỉ, chủ hỉ sự đến trùng phùng

Mệnh có Thiên Hỉ thủ thì:
Miệng cười tươi
Ăn nói vui vẻ, hòa nhã, vui tính
Ra ngoài thường gặp may mắn (Hồng Loan cư Di). Duyên từ ngoài vào vì có Hồng Loan xung chiếu (CV)
Thủ Mệnh thì là người có dung mạo tuấn mỹ, sớm lập gia đình (VVT)

Thiên Hỉ kết họp với Hỉ Thần thành bộ Song Hỉ, chủ sự may mắn dồn dập đến. Một số người cho rằng Song Hỉ tại cung Quan thì rất tốt đẹp

Các câu phú về Đào, Hồng, Hỉ
Đào, Hồng, Hỉ với phụ tinh
Đào Hoa
Mệnh Đào Hoa thủ thì mặt mày xinh đẹp, gặp Kình, Đà, Hình, Kỵ thì là người có tật:
Đào Hồng mặt mũi xinh tươi, Kỵ, Hình, Đà, Nhận là người tật thương

Mệnh giáp Đào Hồng thì tóc dài và tươi tốt:
Trong cung giáp có Hồng Đào, Tóc dài đến gót, tốt sao thuở này (B182)

Mệnh Đào Hoa thì ít khi ở với vợ, để vợ cô đơn chiếc bóng, và thường phải hai đời vợ:
Đào Hoa thủ Mệnh quả thê (7)

Đào Hoa hoặc Thiên Lương cư Dậu thì xấu vì bị hành cung (Kim) khắc hành sao (Mộc):
Kim khắc Mộc tốt nhiều cũng xấu,
Ấy Đào (Đào Hoa) Lương đất Dậu (cung Dậu) hay chi (B162)

Hồng Loan
Hồng Loan thủ Nữ Mệnh thì dễ lập gia đình hai lần, hai đời chồng:
Nữ tử Hồng Loan thủ Mệnh chủ nhị phu (8)

Mệnh có Hồng Loan tại Tí (như vậy thì là tuổi Mão) gặp thêm văn tinh thì tuổi trẻ đã đỗ đạc cao:
Hồng Loan cư Tí cũng hay, Văn tinh hội chiếu danh ghi thiếu thời
Những số chiếm Khôi Khoa tuổi trẻ, Mình gặp vào Tí vị Hồng Loan (gặp Khôi Khoa hoặc Hồng Loan cư Tí thì trẻ tuổi đã đỗ đạt cao)
Hồng Loan cư Tí, thiếu niên định chiếm khôi nguyên (1, B57)

Mệnh có Xương Tấu Hồng Khôi thì là người có nhiều mưu kế phò tá vua, rất nổi danh nhưng nếu gặp thêm Hóa Kỵ thì không nên chen vào đường danh lợi thì cuộc sống sẽ phong lưu:
Cách Xương Tấu Hồng Khôi dễ được, Chốn sân rồng dâng chước nổi danh,
Thêm sao Hóa Kỵ chẳng lành, Lánh đường đào mận an mình phong lưu (B112)

Thiên Hỉ
Thiên Hỉ thủ Mệnh thì miệng cười rất có duyên. Hỉ Thần, Thiên Hỉ, Hồng Loan là ba sao đem lại vui tươi may mắn trong cuộc sống:
Sao Thiên Hỉ chủ mừng vui, Thiên Hỉ thủ Mệnh, miệng cười có duyên,
Hỉ Thần, Thiên Hỉ, Hồng Loan, Ba sao đem lại hân hoan trong đời (AB337)

Đào, Hồng hay Hỉ hội với các phụ tinh
Nữ mệnh có Hồng Loan đồng cung với Tử Vi hay Thiên Phủ thì là người chính chuyên, thục nữ:
Sao Hồng Loan hội cùng Tử, Phủ, Gái chính chuyên, thục nữ ngàn xưa (AB336)

Mệnh Đào hay Hồng mà có Thiên Hình đồng cung thì có tiết hạnh, tề gia nội trợ:
Đào Hồng cung Thiên Hình đồng hội, gái tiết trinh hiền nội tề gia (20)

Mệnh Đào Hoa tại Mão hay Dậu có Tả Hữu đồng cung tại Sửu hay Mùi chiếu thì trước dở sau tốt:
Sao Tả Hữu đồng cung gặp gỡ, Mệnh Đào Hoa trước dở sau nên (B47,11)
Sao Tả Hữu đồng cung gặp gỡ, Mệnh Đào Hoa trước dở sau hay

Đào Long Phụ Bật phùng sau trước, Hoặc Đào, Nô lỡ bước cầu ô

Mệnh có Thiên Đức hay Nguyệt Đức thủ gặp Đào Hoa hay Hồng Loan thì thì là người xinh đẹp, lấy được vợ hiền chồng sang. TVT ghi Đào Hoa hay Tham Lang miếu vượng vì Tham Lang cùng là Đào Hoa tinh:
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào tinh, trai sinh gái đẹp vợ lành chồng sang (15)
Thiên Nguyệt Đức ngộ Hồng thực nghiệm, Được chồng sang vợ đẹp hòa đôi (B112)
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào tinh, Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang
Thiên Nguyệt Đức Đào Hồng cung Phối, Gái chồng sang, trai hội giai nhân

Thân có Hồng Đào gặp Thai Tọa thì có công danh, theo TVT nhưng muộn màng mới có:
Thân hữu Hồng Đào kiêm Thai Tọa nhi công danh khả tất (22, B68)

Mệnh Hồng Loan gặp Bát Tọa thì tuổi trẻ đã có công danh. Nguyễn Mạnh Bảo cho rằng tại Quan cũng vậy:
Mấy người ít tuổi (niên thiếu) công danh, Hồng Loan, Bát Tọa ở mình chẳng sai (QXT, VT)
Người tuổi trẻ công danh đầy tá, Tọa Mệnh Quan Hồng, Tọa chẳng sai (B104)
Những người niên thiếu danh ghi, Hồng Loan Bát Tọa ở vì Mệnh cung

Nữ nhân tuổi Giáp Mệnh Sửu Mùi có Xương Khúc Hồng Lộc thì là người đức độ hiền lành, đáng bậc hiền phụ và hưởng giàu sang trọn đời, rất vượng phu ích tử. Chú ý Tử Phá, Thiên Phủ và Vũ Tham tại Sửu Mùi thì tuổi Giáp có Hóa Lộc thủ hoặc chiếu:
Xương Khúc Sửu Mùi, Giáp nhân Dương nữ kiêm phùng Hồng Lộc hiền phụ chi nhân (13, TTL)

Mệnh Hồng Loan gặp Không Kiếp thì không thể phú quí được, không chết non cũng nghèo hèn:
Mệnh trung Hồng ngộ Kiếp Không, mạc đàm phú quí (3, B69)
Hồng Loan ngộ Kiếp Không đồng thủ (lâm thủ), xá bàn chi bần lũ (những lũ) yểu vong (9)
Hồng Đào Không Kiếp đồng danh, Ấy phường yểu tử đã đành một hai

Mệnh có Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ chiếu thì chết non:
Nhan Hồi yểu tử do hữu Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ Mệnh (19)
Nhan Hồi yểu tử (chết yểu) do hữu Kiếp Không Đào Hồng Đà Linh thủ Mệnh (8, TTL)

Mệnh có Đào Hoa tọa thủ thêm Địa Kiếp thì là người chơi bời suốt đêm mơ tưởng đến người đẹp:
Lãng lý Đào xa gia Địa Kiếp, tam canh giai tưởng ư giai nhi (5)
Lãng lý Đào Hoa gia Địa Kiếp, tam canh khai tưởng ư giai nhi (B83)

Đào Riêu đồng cung (chú ý rằng Thiên Riêu luôn có Thiên Hình tam hợp) thì lang chạ, không chung thủy, rất lẳng lơ dâm đãng, lẳng lơ, ngoại tình nếu không có sao giải mạnh như Tử Phủ, Thiên Hình, Khôi Việt:
Đào Riêu số gái ai hay, Chồng ra khỏi cửa, dắt tay trai vào (11)
Kìa những người phượng chạ, loan chung, Đào Riêu số ấy trong lòng chẳng trinh (HC)
Kìa người phượng chạ loan chung, Đào Riêu số ấy trong lòng chẳng trinh (B107)
Đào Riêu hội bên mình khá rõ, Không Quí, Hình, Tử Phủ ngoại dâm

Thiên Riêu Thiên Hỉ đồng cung hay xung chiếu thì bị nhiều tai họa quái ác:
Thiên Riêu Thiên Hỉ đa chiêu quái dị chi tai (14)
Số Riêu Hỉ tai bay vạ gió, Số Kiếp Không lắm độ gian manh
Tham Liêm hãm mệnh gian tà, Hồng Đào Riêu Hỉ ắt là dâm bôn

Phu Thê có Thai thủ gặp Đào thì vợ chồng đi lại ăn ở với nhau rồi mới lấy nhau:
Sao Thai lại gặp Đào Hoa, Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng (AB, VT)
Sao Thai lại gặp Đào Hoa, Trước êm loan gối, sau hòa phụng chiêm (B105)
Thai tinh (sao Thai) mà gặp Đào Hoa, tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng (28)

Đào, Hồng, Hỉ, Thai thủ gặp Phục Tướng thì trai gái nguyệt hoa bừa bãi. Chú ý rằng Thai và Đế Vượng xung chiếu, Phục Binh và Tướng Quân xung chiếu nên trong cung phải có Phục Binh hay Tướng Quân thủ:
Đào Hồng Thai Hỉ (Thiên Hỉ) trong soi, ngoài gia Binh Tướng (Tướng Quân) gái trai ngang tàng (17)
Đào Hồng Thai Hỉ trong soi, Ngoại gia Binh Tướng gái trai ngang tàng (B42)
Đào Hoa, Thai, Hỉ trong soi, Ngoài ra Binh, Tướng ả vui hoang tàng (QXT, chị em gái bất chính)
Đào Hồng Riêu Hỉ trong ngoài, Lại gia Binh Tướng gái trai hoang tàng

Thai Binh Tướng Đào Hồng tương hợp, Chẳng chửa hoang bị hiếp bất ngờ

Mệnh có Hồng Loan thì khéo về nghề thêu may, gặp Phục Binh hay Tướng Quân thủ đồng cung thì dễ bị tai nạn, có lẽ chủ yếu về trinh tiết:
Hồng Loan may vá cửa canh, hiềm phùng Binh Tướng ắt sinh tai nạn (18)
Hồng Loan may vá của canh, Đối Binh Tướng lại, gái sinh tai nạn (B49)

TVT cho rằng nữ Mệnh cung Tử Tức có Thai Đào gặp Kiếp Sát thì hiếm con:
Nữ Mệnh Thai Đào phùng Kiếp (Kiếp Sát) gián đoạn tử cung (4)

Mệnh có Đào Hoa (biểu tượng là rượu) gặp Phi Liêm thì lúc nào cũng rượu chè say sưa như Nguyễn Tịch đời nhà Tần:
Đào Hoa ngộ Phi Liêm, Nguyễn Tịch Tấn triều nhi túy khách (6, B86)

Mệnh Kiếp Thân Không gặp Hồng Loan và Kình Dương, nếu Mệnh có chính tinh thì tiền vận vất vả, nhưng nếu được Nhật Nguyệt hay Tử Phủ hội họp thì suốt đời được hưởng phúc giàu sang hơn người:
Mệnh Kiếp Thân không nhi giao Hồng Nhận (gặp Hồng Loan và Kình Dương) ư tuế Mệnh lạc chính tinh tiền đồ đa khổ (tiền vận vất vả) nhi hữu Âm Dương Đế diệu Mệnh Thân (nhưng nếu được Nhật Nguyệt hay Tử Phủ hội họp), chung niên phúc hoạnh sinh tài (20)

Đào Hồng Hỉ với các chính tinh
Mệnh Tử Vi gặp Hồng Đào Không Kiếp thì giảm thọ vì Tử Vi và Đào Hồng đều tối kỵ gặp Không Kiếp:
Tử Vi mạc phùng Kiếp Không Hồng Đào nhập Mệnh giảm thọ (27, TTL)

Mệnh có Đào Hỉ gặp Tử Vi hay Thái Dương hội họp thì giàu sang. NMB ghi Mệnh có Đào Hỉ có Tử, Dương chiếu thì giàu sang:
Mệnh cư Đào Hỉ (Thiên Hỉ) hướng Tử Dương nhi phú quí kham kỳ (2, B68)

Mệnh và Thân đều có Tử Phủ Khoa Quyền Hình Ấn Hồng Khôi thì công danh rất tốt đẹp, như Lưu Bị kế nghiệp nhà Hán:
Lưu Huyền Đức đạt thừa Hán nghiệp thị ư Tử Phủ Khoa Quyền Hình Ấn Hồng Khôi Mệnh, Thân (45, TTL)
Hạn có Tử Phủ Vũ Tướng lại gặp Hồng Quyền thì gặp thời cơ tốt cho sự nghiệp, như Khương Tử Nha mừng gặp Văn Vương:
Hạn phùng (hạn có) Tử Phủ Vũ Tướng, hạnh đắc (mừng gặp) Hồng Quyền, Khương Công hỉ ngộ Văn Vương (73)

Phu cung có Tử Phủ Vũ Tướng gặp Riêu, Đào Hoa người tuổi Giáp, Mậu thì là gái giang hồ lưu lạc nay đây mai đó nhưng lên làm bà lớn vì được chồng quí hiển:
Tử Phủ Vũ Tướng Phu cung, gia hợp Riêu Đào (Đào Hoa) ư Giáp Mậu nhân, giang hồ chi nữ (80)

Tử Vi Thất Sát tại cung Tỵ thì ví như vua mang kiếm báu tất nhiên có uy quyền và phú quí, gặp Hỏa Tinh, Tuyệt hội họp thì người khát máu, tàn nhẫn, hay giết người, nhưng lại gặp thêm Bật Khoa Mã Ấn Tràng Sinh, Hồng Loan thì lập được chiến công thần kỳ, là Ðại Tướng:
Sát Tử (Tử Vi Thất Sát) Tốn cung (cung Tỵ) Ðế huề bảo kiếm, Hỏa (Hỏa Tinh) Tuyệt nhập xâm, đa sát chi nhân, hạnh ngộ Bật Khoa Mã Ấn Sinh Hồng di lập chiến công vi Ðại Tướng (TTL)

Đào Hồng Hỉ, Tấu Thư gặp Vũ Khúc hội họp thì là người ca xướng múa hát giỏi. Có người cho rằng đây là trường hợp Đào Hồng Hỉ, Tấu Thư gặp Thiên Cơ :
Hồng Loan Tấu Hỉ (Thiên Hỉ) Vũ Đào, những phường ca xướng tiến vào cửa quan (12)
Hồng Loan Tấu Hỉ Vũ (Vũ Khúc) Đào, Những phường ca xướng tiến vào nhà quan
Hồng Loan, Tấu, Vũ, Hỉ, Đào, Những phường ca vũ danh vào cửa quan (QXT, VT)
Đào Tấu Hỉ Vũ Hồng họp mặt, Người xướng ca tiếng nức nhà quan (HC)
Sao Vũ Khúc, Hồng, Đào, Hỉ, Nơi giao phòng danh vị nhà quan (Vũ Khúc Đào Hồng Hỉ thì có quan chức) (NMB)
Hồng Cơ Tấu Vũ Hỉ Đào, Gái nghề ca xướng luận vào Mệnh viên
Hồng Cơ Tấu Vũ Hỉ Đào, Câu ca, điệu vũ, nghề nào cũng tinh (AB336)

Mệnh có Đào Hồng Tấu gặp Vũ thì khéo về kim chỉ vá may:
Khéo nghề kim chỉ vá may, Đào Hồng Tấu Vũ ở đầy Mệnh cung (13)
Khéo nghề kim chỉ vá may, Hồng Đào Tấu Vũ ở đầy Mệnh cung (NMB, VT)
Khéo nghề kim chỉ thêu thùa, Hồng Đào Tấu Vũ ở vào mệnh cung (HC)
Người kim chỉ vá may khôn khéo, Tấu Vũ Hồng thủ chiếu Mệnh cung (B108)
Riêng Quản Xuân Thịnh và Việt Viêm Tử thì có hai câu phú sau. Tang Môn và Hồng Loan không bao giờ tam hợp xung chiếu nhị hợp nhau nên cần xét lại câu phú của Quản Xuân Thịnh:
Cơ Loan Hồng Phúc Mệnh trung, Cửi canh kim chỉ vá may thêu thùa (AB342)
Khéo nghề kim chỉ vá may, Cơ, Tang, Hồng, Phúc ở rầy Mệnh cung (QXT)

Mệnh Đào Hồng gặp Thiên Cơ thì vẽ rât đẹp như Doãn Vi là họa sĩ tài ba:
Đào Hồng ngộ Thiên Cơ, Doãn Vi sảo họa (4, B70)
Nữ Mệnh có Đào Hồng Sát Phá Tham Liêm thì có số sát chồng, chồng chết sớm:
Đào Hồng Sát Phá Tham Liêm, Lâm vào nữ phái chỉ hiềm sát phu (AB341)

Mệnh có Tướng Hồng thì rất xinh đẹp. Nữ Mệnh có Thiên Tướng Hồng Loan thì lấy được chồng giàu sang danh giá:
Thiên Tướng là mặt con người, Hương trời sắc nước, Mệnh ai Tướng Hồng (AB)
Tướng Hồng số gái yên vui, Chồng sang kết nguyện phúc thôi dồi dào (HC)
Tướng Hồng (Hồng Loan) Nữ Mệnh, quí nhân hảo phối (9, TTL)

Thiên Tướng gặp Ðào Hoa hoặc Hoa Cái có Văn Khúc, Mộc Dục hội họp thì xinh đẹp nhưng đa tình, dâm đãng:
Tướng ngộ Cái (Hoa Cái) Ðào (Ðào Hoa) Khúc (Văn Khúc) Mộc (Mộc Dục) thuần tước dâm phong (11, TTL)
Thiên Tướng gặp Khúc Cái Mộc Đào, Vốn là phúc trọng, tính âu đa tình (HC 76)
Tướng và Khúc hội Đào, Mộc, Cái Sắc khuynh thành nhưng rất dâm bôn (AB326)

Thiên Tướng ngộ Lộc xung trung tọa,
Cửa mận đào có kẻ tài chân (B41)
(Tướng gặp Lộc thì là người có chân tài trong đám quần thoa) (B41)
Tướng ngộ Đào, Hồng củng chiếu,
Ngồi màn Đào có ả Thôi Nương (chị em gái tài hoa – QXT)

Thiên Tướng tại Mão gặp Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương thì mặt xinh đẹp mà võ nghệ rất giỏi, hạn gặp Phá Ðà Kình Kiếp thì vì dâm ô mà chết như Lã Bố:
Tướng lâm Chấn địa (cung Mão) Sinh Vượng Ðào Hồng Tả Hữu Quyền Xương diện hoa vũ bá, vận phùng (hạn gặp) Phá Ðà Kình Kiếp Lã Bố do dâm mãn kiếp (12)

Mệnh có Thái Dương gặp Đào Hoa và sát tinh hội họp thì mắt nhỏ mắt to. Chú ý Thái Dương không tam hợp xung chiếu với Thất Sát thành ra Sát là sát tinh thì hợp lí:
Người mà mắt nhỏ mắt to, Nhật phùng Đào, Sát tương phò Mệnh viên

Phúc Đức tại âm cung có Nhật Nguyệt gặp Thiên Hỉ thì có anh em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha:
Âm Dương sánh với Hỉ tinh (Thiên Hỉ), Âm cùng với Phúc cũng sinh dị bào (B42, 23)
Nhưng Quản Xuân Thịnh thì cho rằng:
Thái Âm hiềm có Thiên Cơ,
Âm cùng mấy Phúc đồng sinh lưỡng bào (QXT)

Cung Tử Tức có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu gặp Thiên Hỉ tọa thủ thì vui mừng, hàm ý tất sinh quí tử. TVT giải rằng cung Tử Tức có Nhật Nguyệt chiếu gặp Thiên Hỉ tọa thủ tất sinh quí tử. Đòi hỏi Nhật Nguyệt sáng thì hợp lý vì minh có nghĩa là sáng
Tử Tức Thiên Hỉ thủ trung, Nhật Nguyệt lai chiếu sinh giòng quí nhi
Sở hỷ gia Thiên Hỉ nhị minh (Nhật Nguyệt) phù Tử Tức chi cung (68)

Nhật Nguyệt Sửu Mùi thì giảm mất ánh sáng nên kị gặp sát tinh, nếu gặp Xương Khúc, Ân Quang, Thiên Quí, Thai Tọa, Khôi, Hồng Loan thì văn tài lỗi lạc, lý luận sắc bén, biết tiến thoái xử sự đúng lúc nên công thành danh toại, vinh hiển. Chú ý trong trường hợp này thì Xương Khúc sẽ đồng cung có tác dụng gia tăng ánh sáng cho Nhật Nguyệt, bộ Hồng Loan Thai Tọa thì chủ về hanh thông trong quan trường:
Nhật Nguyệt Sửu Mùi, Âm Dương hỗn hợp tự giảm quang huy (giảm mất ánh sáng) kị phùng (kị gặp) sát tinh, nhược lai văn diệu (nếu gặp văn tinh là Xương, Khúc), diệc kiến Quí, Ân (Ân Quang, Thiên Quí) Thai, Tọa, Khôi, Hồng (Hồng Loan) văn tài ngụy lý, xuất sử thành công (văn tài lỗi lạc, lý luận sắc bén, biết tiến thoái xử sự đúng lúc nên công thành danh toại, vinh hiển) (TTL)
Thái Vân Trình thì viết hơi khác một chút:
Nhật Nguyệt Sửu Mùi, Âm Dương hỗn hợp tự giảm quang huy (giảm mất ánh sáng) kị phùng (kị gặp) Kiếp, Triệt (Địa Kiếp và Triệt án ngữ), nhược lai văn diệu (nếu gặp Xương Khúc), diệc kiến Quí Ân (Ân Quang, Thiên Quí), Không Linh Thai Tọa Khôi Hồng (Hồng Loan) văn tài ngụy lý, xuất sử thành công (18)

Thái Dương cư Hợi là cách Nhật trầm hải nội hay Nhật trầm thủy để nên không được tốt đẹp, nhưng nếu được Khoa Quyền Lộc chiếu, Tả Hữu Hồng Khôi hội họp nên lập được kỳ công, có sự nghiệp lớn lao trong thời loạn, và nếu Nhật gặp Phượng Long Cái Hổ mà không có sát tinh thì sẽ có công danh tài lộc trong thời bình. Chú ý Thái Dương tại Hợi không bao giờ có đủ Tam Hóa hội họp, mà chỉ có hai sao là tối đa. Cụ thể:
Tuổi Ất có Quyền Lộc Tồn Hóa Kỵ tam hợp chiếu
Tuổi Mậu có Quyền Quan Phúc Việt tam hợp chiếu, Lộc Tồn Lưu Hà xung chiếu
Tuổi Canh khi an Tứ Hóa theo Dương Vũ Âm Đồng thì có Hóa Lộc Thiên Quan Hao LNVT thủ, Khoa Đà chiếu trong đó Đà La tại Mùi bị Triệt.
Tuổi Tân có Quyền thủ Hóa Lộc Thiên Phúc Quốc Ấn chiếu và nếu có Khúc thì sẽ có Khoa
Tuổi Nhâm thì có Lộc Tồn Lưu Hà thủ và có Hóa Lộc Quốc Ấn tam hợp Khôi Việt chiếu trong đó Khôi bị Triệt. Nếu có Tả Phù thì sẽ có Hóa Khoa
Tuổi Quí thì có Đà la thủ , Khôi Việt Quyền Khoa Thiên Phúc Đường Phù Hao LNVT chiếu
Như vậy câu phú có thể liên quan đến tuổi Canh, Tân, Nhâm, Quí:
Nhật cư Hợi địa, Nhật trầm hải nội (mặt trời chìm xuống đáy bể không tỏa được ánh sáng nên rất mờ ám. TTL dùng từ Nhật trầm thủy để, tức mặt trời chìm đáy nước), ngoại củng (ngoại hữu, bên ngoài có, ý nói được chiếu) Tam Kỳ (Khoa Quyền Lộc) Tả Hữu Hồng Khôi kỳ công quốc loạn dĩ viên thành (lập được kỳ công, có sự nghiệp lớn lao trong thời loạn), hoan ngộ Phượng Long Cái Hổ bất kiến Sát tinh thế thịnh phát danh tài (trong thời bình thì có công danh tài lộc) (40. TTL)

Thái Âm miếu vượng đắc gặp Hồng Loan, Kình Dương, Hóa Kỵ, Thiên Riêu thì ví như hoa sen hé mở, rất quyến rũ, tiểu hạn gặp Xương, Vũ thì động lòng xuân, tưởng đến chuyện trăng hoa nên rất dễ xa ngã (cần coi lại câu này)
Âm tăng (Thái Âm miếu vượng đắc) Hồng (Hồng Loan) Nhận (Kình Dương) Kỵ (Hóa Kỵ) Riêu (Thiên Riêu) tán liên hàm tiếu (hoa sen hé mở, rất quyến rũ) tiểu hạn phùng Xương Vũ dâm tự xuân tình liên xuất phát (động lòng xuân, tưởng đến chuyện trăng hoa nên rất dễ xa ngã) (15)

Hạn có Nhật gặp Kiếp, Hồng Loan, Binh, Khốc tất cha già đau bịnh mà chết vì Nhật tượng trưng cho cha hoặc chồng:
Nhật ngộ Kiếp Hồng Binh (Phục Binh) Khốc thân phụ tận niên thọ hưởng ai thương (70)

Cơ Thục Ái là gái sống nay đây mai đó, hạn gặp Cơ Nguyệt Đồng Hồng Hỉ Khôi Xương Khúc Tấu Thư, Phúc Đức nên được vua Thục mời vào cung:
Cơ Thục Ái giang hồ chi nữ , hạn phùng Cơ Nguyệt Đồng Hồng Khôi Xương Khúc Thư (Tấu Thư) Phúc (Phúc Đức) Hỉ (Thiên Hỉ): huê mong Thục Đế chi cung (được vua Thục mời vào cung) (28)

Sát, Phá, Liêm, Tham gặp Khoa, Quyền, Lộc lại có Hồng Loan, Thiên Hình, Tả Hữu thì là người tiếng tăm lừng lẫy, nếu bị Hóa Kỵ, Không hay Triệt xâm phạm thì cả đời không thành công, nếu có cũng không bền:
Sát, Phá, Liêm, Tham Tam Kỳ (Khoa Quyền Lộc) gia hội lai triều Hồng, Hình, Tả Hữu uy danh nhất thế chi nhân (là người tiếng tăm lừng lẫy), Kỵ Không Triệt chung thân tác sự nan thành (40)

Thất Sát gặp Thiên Hỉ thì vẻ ngoài ôn thuận nhưng rất gan lì, có người cho rằng phong nhã uy nghi :
Sát phùng Thiên Hỉ tương giao, Có vẻ ôn thuận, ai nào biết gan
Sát phùng Thiên Hỉ khá hay, Ấy người phong nhã uy nghi mọi đàng

Mệnh hay Thân có Phá Quân gặp Không Kiếp Hồng Loan thì bị chết yểu. Thật ra Hồng Loan gặp Không Kiếp đã là cách chết yểu:
Phá Quân, Không, Kiếp, Hồng Loan, Vào cung Thân, Mệnh xá bàn yểu vong (B104)

Thiên Di có sao Tướng Quân, Phá Quân, Phục Binh trong lại có sao Thai ngoài có Đào Hồng là người dâm dục quá độ, tư thông làm cho người ta chê cười:
Tướng Phá (Phá Quân) Phục nội tàng Thai diệu, Ngoài Đào Hồng tú (sao Hồng Loan) chiếu Thiên Di,
Có người dâm dục thị phi, Tư thông chi để kẻ chê người cười (B43)
Tướng, Phá, Phục trong làng Thai diệu, Ngoài Đào, Hồng, Hoa Cái, Thiên Di
Có người dâm dục thị phi, Tư thông chi để kẻ chê người cười (QXT)

Mệnh có Liêm Trinh tọa thủ gặp Hồng Loan, Thiên Khôi, Văn Xương hội họp thì là mưu sỉ được trọng dụng và rất nổi danh. Thiết tưởng cần Liêm sáng sủa. Có người cho rằng đây là cách Hồng, Khôi, Xương, Tấu hội họp:
Hồng Khôi Xương Liêm phù trì, sân rồng dâng trước, trong thì danh cao (14)
Hồng Khôi Xương Liêm phù trì, Sân rồng dấn bước, ghi tên cửu trùng
Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù trì, Sân rồng kén bảng, danh đề ở cao (QXT)
Hồng, Khôi, Xương, Tấu phù tri, Sân rồng đứng trực, xem thì ngôi cao (VT)

Mệnh Tham Đào thì râu tóc rậm rạp, mệnh Vũ Kỵ thì mắt đen:
Tham Đào tốt tóc xanh râm,
Mắt đen Vũ, Kỵ chẳng nhầm một ai

Nữ Mệnh có Tham Đào Hoa hãm địa thì độc ác, thâm hiểm và rất dâm đãng nhưng gặp Triệt Tuần thì tính tình nhân hậu, đoan chính, cởi mở, không nhỏ mọn đố kỵ. Điều này cho thấy Triệt Tuần có ảnh hưởng mạnh đối với Tham Lang:
Tham Đào (Đào Hoa) tại nhàn cung (hãm địa), Nữ Mệnh độc phụ chi nhân, ngộ Triệt Tuần tâm tình thư thái (30, TTL)
Đào Hồng tại các cung
Cung Điền
Cung Điền có Ân Quang hay Thiên Quí gặp Đào Hồng thì hưởng di sản của cô dì để lại:
Quí Ân ngộ Đào Hồng Điền Trạch, Cô dì lưu tài bạch ruộng nương
Ân Quang ngộ Đào, Hồng Điền Trạch, Ấy cô dì lưu lại ruộng nương (QXT, VT)
(được hưởng di sản tiền bạc nhà đất của cô dì để lại)
Điền cung Ân ngộ Đào, Hồng, Của cô dì đã qui tông sẵn sàng (B108)

Cung Quan
Đào Hoa hoặc Hồng Loan cư Quan thì rất tốt vì gặp may mắn trên quan trường, làm quan sớm, hiển đạt sớm, được vua tin dùng, hoạn lộ được nhẹ bước thang mây trong khi Thiên Di thì tối kỵ gặp Không Kiếp ra ngoài có nhiều kẻ thù ám hại. Nguyễn Mạnh Bảo cho rằng Hỉ là Thiên Hỉ thì không đúng. Chú ý rằng Đào Hoa tại Quan thì Mệnh có Kiếp Sát:
Đào Hoa cư Quan tảo tuế (nhỏ tuổi) đắc quan hành chính (21, B57)
Quan cung hỷ ngộ Hồng Đào, Thiên Di tối kỵ Kiếp Không lâm vào (23)
Quan cung Hỉ ngộ Đào Hồng, Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào (B103)
Quan cung mừng được Đào Hồng, Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào (QXT)
(Quan Lộc Mã gặp Thiên Hỉ Đào Hoa Hồng Loan thì . Thiên Di gặp Không Kiếp thì xấu, có thể bị chết đường hoặc ăn cướp giết)
Cung Quan Lộc Hồng Đào hội họp, Miền Thiên Di Không, Kiếp phải e
Cung Quan mừng gặp Đào Hồng, Thiên Di tối kỵ Kiếp Không lâm vào
Đào Hoa giữ ở cung Quan, Gặp thời hanh chính vừa tầm đáng trai (B113)

Cung Nô
Nô Bộc có Đào Hoa thì có vợ cho cắm sừng. Nam Mệnh mới có cách này (AH):
Hoa Đào nở trái Nô cung, Thiếp Thê mang tiếng bất trung cùng chồng (B37)
Cây đào mọc ở Nô cung, Vong Phu mắc tiếng, bất trung cùng chồng (QXT)

Cung Thiên Di
Thiên Di gặp Đào Hồng thì ly hương mà lập gia đình:
Vợ chồng viễn phối tha hương, Đào Hồng len lỏi vào làng Thiên Di (29)
Vợ chồng viễn phối tha hương, Đào Hồng len lỏi (đóng chỗ) vào làng Thiên Di
Kìa người phải tha hương định phối, Bởi Đào Hồng tỏ lối Thiên Di (B108)

Cung Phối
Phu Thê có Đào Hồng thì vợ chồng sinh đẹp:
Cung Phu lại Đào Hồng tương ngộ, Vợ với chồng đều có dung nhan
Cung Phu Phụ Đào Hồng tương ngộ, Vợ với chồng đều có dung nhan (B44)
Cung Thê Thiếp, Đào, Hồng tương ngộ, Vợ mấy người đều có dung nhan (QXT)

Cung Thê có Hồng Loan thì khắc vợ trước:
Hồng Loan cư Thê tiền khắc (21)

Cung Phu đóng ở tứ vượng (Thìn Tuất Sửu Mùi hay Tứ Mộ) gặp Hồng Loan thủ thì số khóc chồng, tình duyên lận đận. Chú ý đây là người tuổi Dần Thân Tỵ Hợi. Tuổi Dần Thân thì Phu tại Sửu Mùi có Trực Phù Hồng Loan thủ gặp Cô Quả, Mệnh Không Đào Mão Dậu. Tuổi Tỵ Hợi thì Phu tại Thìn Tuất có Tử Phù Nguyệt Đức Hồng Loan thủ, Quả Tú chiếu, Không Đào tại Tí Ngọ tam chiếu, Mệnh có Long Đức thủ gặp Cô Quả tam hợp, Không Đào xung chiếu:
Sở ai giả Hồng Loan tứ vượng liệt phu quân chi vị (25)

Phu có Hồng Loan (có người ghi là Hồng Đào) đồng cung vói Hóa Kỵ thì vợ chồng có phen bỏ nhau chia ly và còn muốn lập gia đình lần nữa. QXT ghi rằng vừa bỏ chồng hoặc chồng vừa chết thì đã có người muốn lấy:
Hồng Loan ngộ Kỵ Phu cung, tơ hồng đã dứt, má hồng còn ưa (30, NMB, VT)
Hồng Đào ngộ Kỵ Phu cung, Tơ hồng đã dứt, má hồng còn vương (HC 174)
Phu cung Kỵ gặp Đào Hồng, Tơ hồng đã dứt má hồng lại yêu (B108)
Hồng Loan ngộ Kỵ Phu cung, Tơ hồng chưa tắt, má hồng đã xui (QXT)
Hồng Loan ngộ Kỵ cung Phu, Gái ngồi quạt mồ, lòng dạ xốn xao (AB336)

Phu có Hồng Loan Địa Kiếp, Mệnh tốt thì ăn ở với nhau đến 100 tuổi, Mệnh xấu thì chỉ ăn ở với nhau được 10 năm:
Hồng Loan phùng Địa Kiếp ư Phu Quân, Mệnh hảo chi bách, bất hảo chi thập (27)
Địa Kiếp với Hồng lâm Phu vị, Cung Mệnh sinh duyên ấy trăm năm,
Mệnh xấu duyên dứt tơ tằm, Sinh ly sẽ định loan phòng mười năm

Cung Phu có sao Hồng Loan là chồng nhiều vợ, gặp Tứ Sát (Kình Đà Hỏa Linh, nên thêm Không Kiếp) là bị góa:
Hồng ngộ Phu Thê nay thiếp nọ, Tứ Sát gia tiền độ bi ai (B46)

Đào Hồng tại hạn
Mệnh Đào Thân Hồng thì có nhiều người theo đuổi nhưng hạn có Thái Tuế thì không có ai lai vãng. Quản Xuân Thịnh thì cho rằng hạn gặp Tuế Kiếp và giải là đánh đuổi vợ:
Mệnh Đào Thân lại Hồng Loan, vận phùng Thái Tuế, khả hoàn thấy chi (16)
Mệnh Đào, Thân lại Hồng Loan,Vận phùng Tuế, Kiếp đả hoàn thê nhi (QXT)
Mệnh Đào, Thân lại Hồng Loan, Hạn gặp Tuế Kiếp phượng hoàng rẽ duyên (HC 163)

TVT cho rằng tuổi Ất Tân hạn gặp Hao, Kiếp Sát, Đào Hồng thì phải đề phòng người làm phản, nếu gặp Khoa hay Thiên Phủ thì không sao. Chú ý tuổi Ất Tân thì Song Hao Tí Ngọ gặp Đào Hoa Tí Ngọ:
Hao Sát Hồng Đào, Ất Tân hạn đáo, đa phùng phản phúc, Khoa Phủ hạnh cầu (6)

Hạn gặp Riêu Hỉ Đào Hồng thì hay nghĩ đến chuyện nghĩ đến chuyện trai gái xác thịt làm tình:
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, gái trai tơ tưởng những lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mơ tưởng trong lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mang một tấm lòng tà dâm (VT)
Các câu phú dưới đây ghi là Hoa Cái gặp Đào Hồng Hỉ thì không đúng:
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn
Vận hạn Đào Hồng Hoa (Hoa Cái) Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm ô (B110)
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn

Hạn có Thai gặp Hỉ, Thanh Long thì có con, Nguyễn Mạnh Bảo thì ghi rằng Thai gặp Hỉ Phi nhưng nên biết Phi Liêm và Thanh Long tam hợp với nhau. Theo TVT thì là trường hợp Thai gặp Đào Hoa Thiên Hỉ:
Thanh Long, Thai, Hỉ hợp miền, Vợ đi thai nghén khá xem phúc nhà
Thai tinh, Long (Thanh Long), Hỉ vận này, Vợ thời thai dựng đến ngày khai hoa (QXT)
Thai phùng Long Hỉ vận này, Vợ mình ắt đã đến ngày nở hoa (VT)
Thêm đinh ấy Thai cùng Phi (Phi Liêm) Hỉ, Lên đậu năm Cái tỵ Dương Đà (hạn Hoa Cái gặp Dương Đà thì mắc bệnh đậu) (B110)
Thai phùng Đào Hỉ vận này, vợ chồng mừng đã đến ngày nở hoa (hạn sanh con) (12)
Các câu phú cần xét lại
Ân Khôi Quí Việt Liêm Hồng, Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
Ân Quí Khôi Việt Liêm Hồng, Trai cận cửu trùng, gái tắc cung phi
Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng, Trai cận cửu trùng, gái tắc cung phi (QXT)
(Trai làm đến công khanh, gái thì làm vợ vua chúa)
Ân Khôi Quí Việt Cái Hồng Nam cận cửu trùng, nữ tác cung phi (AB)
Đà Ân Quí Việt Tấu Hồng Nam cận cửu trùng, nữ tác cung phi (VT)
Quí Ân Tấu Việt Đào Hồng, Lục cung gái đẹp Tam Công giai tài (B112)

Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà, Vận phùng năm ấy đậu hoa phải phòng
Kình Dương Hoa Cái ngộ Đà, Vận phùng năm ấy, đậu hoa phải phòng (QXT)
Đào Hồng Hoa Cái ngộ Đà, Hạn hành năm ấy đậu ma phải phòng (VT)
(bị lên đậu)

Hạn gặp thì lập gia đình:
Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Hỉ, Hồng, Hôn nhân vận ấy đèo bồng thất gia
Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Quả (Quả Tú), Loan (Hồng Loan), Hôn nhân thuở ấy mới tròn thất gia (46)
Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Long, Loan, Trai ban binh tước, gái bàn thư cưu (NMB)(Hạn gặp, con trai thì có công danh, gái thì có người đến hỏi cưới)
Hạn có Vũ Khúc Lộc Mã Hồng Cô Quả thì lập gia đình. Chú ý Hồng Loan và Thiên Mã không hội họp với nhau

Đào Tang (Tang Môn) ở Mệnh cung sau trước, gái lẳng lơ nhỡ bước cầu ô (10)
Giải: Mệnh có Đào Hoa Tang Môn hội họp thì trước sau là gái lẳng lơ và lận đận về tình duyên. TVT giải mệnh có Đào Hoa Tang Môn hội họp thì trước sau là gái lẳng lơ kén chồng. Giải thích như vậy thì sai vì Đào Hoa và Tang Môn không bao giờ hội họp nhau, chỉ có tuổi Tỵ Hợi thì Đào Hoa và Tang Môn nhị hợp và chỉ có tuổi Dần Thân Tỵ Hợi thì có Tang Môn đứng trước Đào Hoa theo chiều thuận. Không có vị trí nào mà Đào Hoa và Tang Môn đứng cách nhau một cung cả. Câu phú này cần xét lại

Hoa Cái Phượng Cát Đào Hồng,
Trai toan bỏ vợ trong lòng chẳng khuây (NMB, VT)
Hoa Cái Phượng Cát Đào Hồng,
Trai toan nể vợ trong lòng khôn khuây (QXT)
(lòng buồn rầu tính chuyện bỏ vợ)

Hạn gặp Riêu Hỉ Đào Hồng thì hay nghĩ đến chuyện nghĩ đến chuyện trai gái xác thịt làm tình:
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, gái trai tơ tưởng những lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mơ tưởng trong lòng dâm phong
Hạn phùng Riêu Hỉ Đào Hồng, Gái trai mang một tấm lòng tà dâm (VT)
Các câu phú dưới đây ghi là Hoa Cái gặp Đào Hồng Hỉ thì không đúng:
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn
Vận hạn Đào Hồng Hoa (Hoa Cái) Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm ô (B110)
Vận hạn đến Đào Hồng Cái Hỉ, Lòng gái trai bất sỉ dâm bôn

Mã Đào duyên nợ tư sinh,
Không cần mối lái, ái tình kết giao
Thiên Mã và Đào Hoa không tam hợp xung chiếu hoặc nhị hợp với nhau

Phu Thê có Đào Hoa Thiên Mã thì không cần mối lái cũng lấy được nhau
Đào Hoa phùng Thiên Mã, túng khách vô môi (26)
Mã và Hồng Loan không tam hợp xung chiếu với nhau ngoại trừ nhị hợp cho tác tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi Hồng Loan có Mã nhị hợp

Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Hỉ, Hồng,
Hôn nhân vận
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỉ

Xem tuổi cha mẹ để sinh con –

Chọn năm sinh con không còn là chuyện xưa nay hiếm hiên nay với các ông bố bà mẹ hiện đại. Với những tư tưởng cải tiến, việc lựa chọn năm sinh tháng đẻ cho con cái mình dựa theo Khoa Học Phong Thủy Ngũ Hành giúp cho các bậc cha mẹ tự tin hơn để sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

con và giúp con cái mình có những bước tiến vững chắc đầu đời.

Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Ngũ Hành

Ngũ Hành của bản mệnh là yếu tố đầu tiên được xem xét đến khi chọn năm sinh con. Quy luật tương sinh tương khắc của Ngũ Hành rất đơn giản và dễ nhớ:

Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc – Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ – Thổ sinh Kim
Kim khắc Mộc – Mộc khắc Thổ – Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa – Hỏa khắc Kim
Như vậy, khi sinh con cần lựa chọn năm sinh để con không khắc với bố mẹ và ngược lại. Ví dụ: Bố mệnh Kim, mẹ mệnh Hỏa thì có thể chọn con sinh năm có bản mệnh Thổ là hợp tương sinh nhất.

Thông thường con khắc bố mẹ gọi là Tiểu Hung, bố mẹ khắc con là Đại Hung, nếu không tránh được Hung thì nên chọn Tiểu Hung sẽ đỡ xấu rất nhiều.

xem-tuoi-sinh-con

 

Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Thiên Can

Thiên Can (hay còn gọi là Can) là cách đánh số theo chu kỳ 10 năm (Thập Can) của người Trung Hoa cổ. Can cũng phối hợp được với Ngũ Hành và Âm Dương:

Can Năm Hành Âm – Dương
Giáp Cuối cùng là 4 (94,04,14…) Mộc Dương
Ất Cuối cùng là 5 (95,05,15…) Mộc Âm
Bính Cuối cùng là 6 (96,06,16…) Hỏa Dương
Đinh Cuối cùng là 7 (97,07,17…) Hỏa Âm
Mậu Cuối cùng là 8 (98,08,18…) Thổ Dương
Kỷ Cuối cùng là 9 (99,09,19…) Thổ Âm
Canh Cuối cùng là 0 (00,10,20…) Kim Dương
Tân Cuối cùng là 1 (01,11,21…) Kim Âm
Nhâm Cuối cùng là 2 (02,12,22…) Thủy Dương
Quý Cuối cùng là 3 (03,13,23…) Thủy Âm

Trong Thiên Can có 4 cặp tương xung (xấu) và 5 cặp tương hóa (tốt), làm cơ sở để lựa chọn năm sinh phù hợp:

4 cặp tương xung (xấu) 5 cặp tương hóa (tốt)
  • Giáp xung Canh
  • Ất xung Tân
  • Bính xung Nhâm
  • Đinh xung Quý
  • Giáp – Kỷ hoá Thổ
  • Át – Canh hoá Kim
  • Bính – Tân hoá Thuỷ
  • Đinh – Nhâm hoá Mộc
  • Mậu – Quý hoá Hoả

Như vậy, chọn năm sinh của con sẽ có thể dùng Thiên Can để so với bố mẹ dựa vào các cặp tương xung và tương hóa. Nếu Thiên Can của con và bố mẹ có tương hóa mà không có tương xung là tốt, ngược lại là không tốt. Ví dụ: Bố sinh năm 1979 (Kỷ Mùi), mẹ sinh 1981 (Tân Dậu), con sinh 2010 (Canh Dần) thì bố mẹ và con không có tương xung cũng như tương hóa và ở mức bình thường.

Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Địa Chi

Địa Chi (hay còn gọi là Chi) là cách đánh số theo chu kỳ 12 năm (Thập Nhị Chi) và nói đơn giản là 12 con giáp cho các năm. Chi từng được dùng để chỉ phương hướng, bốn mùa, ngày, tháng, năm, giờ ngày xưa và Chi gắn liền với văn hóa phương Đông.

Khi xem hợp – xung theo Chi, có các nguyên tắc cơ bản sau:

  • Tương hình (12 Địa Chi có 8 Chi nằm trong 3 loại chống đối)
  • Lục xung (6 cặp tương xung)
  • Tương hại (6 cặp tương hại)
  • Lục hợp (các Địa Chi hợp Ngũ Hành)
  • Tam hợp (các nhóm hợp nhau)
Tương hình Lục xung Tương hại
  • Tý chống Mão;
  • Dần, Tỵ, Thân chống nhau;
  • Sửu, Mùi, Tuất chống nhau.
  • Hai loại tự hình: Thìn chống Thìn, Ngọ chống Ngọ.
  • Dậu và Hợi không chống gì cả.
  • Tý xung Ngọ (+Thuỷ xung + Hoả)
  • Dần xung Thân (+ Mộc xung + Kim)
  • Mão xung Dậu (-Mộc xung -Kim)
  • Thìn xung Tuất (+Thổ xung +Thổ)
  • Tỵ xung Hợi (-Hoả xung -Thuỷ)
  • Tý hại Mùi
  • Sửu hại Ngọ
  • Dần hại Tỵ
  • Mão hại Thìn
  • Thân hại Hợi
  • Dậu hại Tuất.

Thông thường để đơn giản trong Tương Hình, Lục Xung, người ta thường ghép thành 3 bộ xung nhau gọi là Tứ Hành Xung:

  • Dần – Thân – Tỵ – Hợi
  • Tí – Dậu – Mão – Ngọ
  • Thìn – Tuất – Sửu – Mùi

Tuy nhiên cũng không hoàn toàn chính xác. Ví dụ: Dần và Hợi không xung, Mão và Ngọ không xung, Ngọ và Dậu không xung, Tí và Dậu không xung, Thìn và Mùi không xung, Thìn và Sửu không xung.

Lục hợp Tam hợp
  • Tý-Sửu hợp Thổ
  • Dần-Hợi hợp Mộc
  • Mão-Tuất hợp Hoả
  • Thìn-Dậu hợp Kim
  • Thân-Tỵ hợp Thuỷ
  • Ngọ-Mùi: Thái dương hợp Thái âm.
  • Thân-Tí-Thìn hoá Thuỷ cục
  • Hợi-Mão-Mùi hoá Mộc cục
  • Dần-Ngọ-Tuất hoá Hoả cục
  • Tỵ-Dậu-Sửu hoá Kim cục.

Như vậy, nếu dựa theo Địa Chi, việc chọn năm sinh, tuổi sinh cần chọn Lục Hợp, Tam Hợp và tránh Hình, Xung, Hại. Ví dụ: Bố tuổi Dần thì tránh con tuổi Thân, Tỵ, Hợi sẽ tránh được Xung của Địa Chi.

Nói tóm lại, lựa chọn năm sinh con để hợp tuổi bố mẹ có thể dựa vào Ngũ Hành, Thiên Can hoặc Địa Chi, cũng có thể dựa vào cả 3 yếu tố trên và lựa chọn phương án tốt nhất. Tuy nhiên, các yếu tố này cũng chỉ là một phần trong cuộc đời con người, cũng có nhiều trường hợp bố mẹ khó chọn được 1 dải năm để sinh con hợp tuổi do vậy không nên nhất thiết phải chọn năm để sinh, còn rất nhiều yếu tố khác như môi trường, xã hội, gia đình… hay kể cả về lý số cũng còn yếu tố Tử Vi để xem hung cát.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi cha mẹ để sinh con –

Đặc tính của sao Địa Không - mất trắng, nhiều nạn tai

Sao Địa Không hãm địa Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính của sao Địa Không - mất trắng, nhiều nạn tai

Đặc tính của sao Địa Không - mất trắng, nhiều nạn tai

Tìm hiểu về đặc tính của sao Địa Không trong Tử Vi

Tên sao Đẩu phận Âm dương - ngũ hành Chủ Bị khảo
Địa không Trung thiên đẩu (thứ 2) Âm hỏa Mất trắng, nhiều nạn tai Tương đối bất lợi

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Địa Không là âm hỏa, là sát tinh thứ hai trong chòm trung Thiên Đẩu, và cũng là một trong lục sát tinh (lục sát), chủ về mất trắng (không vong), nhiều nạn tai, khá bất lợi với tiền tài. Sao Địa Không, không phải là "không" ngay từ lúc sinh ra, mà chủ về được rồi lại mất, đến rồi biến thành không có. Trong cuộc đời, đang lúc ăn nên làm ra, đột nhiên gặp phải tai họa khiến nửa đường đứt gánh, mất cả chì lẫn chài. Vận hạn gặp sao Địa Không, cần chú ý tới phòng thủ, giữ gìn những gì đã có, đừng có nên mạo hiểm, để tránh nguy cơ phá sản.

Sao Địa Không độc tọa tại cung mệnh, chủ về tính cách khác người, làm việc điên rồ, không theo chính đạo. Dù nam mệnh hay nữ mệnh, có gặp thêm cát tinh hay không, đều chủ về tuổi thơ vất vả, thất học không nơi nương tựa, nghèo khó cơ cực, thân thể yếu ớt lắm bệnh hoặc thường gặp tai ách, cảnh ngộ nói là không thuận lợi, một đời thành bại biến động đa đoan, không thể tụ tài, mà còn nhiều vất vả, lênh đênh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính của sao Địa Không - mất trắng, nhiều nạn tai

Soi tướng cách đàn ông sát vợ

Đàn ông có những đặc điểm tướng cách này thường có số khắc vợ, thậm chí góa vợ, bất hạnh trong hôn nhân.
Soi tướng cách đàn ông sát vợ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đàn ông có những đặc điểm tướng cách này thường có số khắc vợ, thậm chí góa vợ, bất hạnh trong hôn nhân.


1. Gò má cao, xương chân mày nhô ra

 
Đàn ông có gò má cao, xương gò má nhô ngang và không đầy đặn, khóe mắt lõm sâu làm cho gò má tiếp cận với Gian môn thường có xu hướng bạo lực, dễ làm tổn thương vợ. Nếu kết hôn sớm thì duyên vợ chồng nhạt, gần ít xa nhiều, thậm chí là sinh li tử biệt. 
 
Nếu có thêm đặc điểm xương chân mày nhô ra cung Quan lộc (ở trên trán) thì thông minh, tài cán nhưng duyên vợ chồng nhạt, có số tái hôn. Nếu chân mày kéo dài xuống tận cung Phu Thê là tướng cách đàn ông sát vợ, khắc thê.

Soi tuong cach dan ong sat vo hinh anh
Ảnh minh họa

2. Gian môn lõm, đuôi mắt nhăn nheo

 
Gian môn nằm ở phía dưới đuôi mắt cho biết tình hình về sức khỏe và duyên vợ chồng. Nếu Gian môn lõm sâu thì có số sát thê.
 
Đuôi mắt cần phải đầy đặn, màu sắc sáng sủa mới có thể bảo vệ sức khỏe và cuộc sống cho vợ. Nhưng đuôi mắt nhăn nheo, u ám thì thuộc kiểu góa vợ.
 
Ngoài ra, nếu Gian môn có sắc xanh xao, đường đuôi mắt xâm nhập vào Gian môn là xung phá cung Thê Thiếp cũng là tướng đàn ông sát vợ, không được hưởng hạnh phúc trong hôn nhân.
 
3. Nhiều nếp nhăn trên Ấn đường và Sơn căn
 
Đàn ông có nhiều nếp nhăn trên Ấn đường thường phải sống xa gia đình, lập nghiệp ở nơi đất khách quê người. Nếu cộng thêm đặc điểm trên Sơn căn có nếp nhăn ngang là tướng khắc thê nặng, hôn nhân trắc trở, cuối đời sống trong cô độc.
 
4. Hai đuôi mắt và chân mày xệ xuống
 
Đàn ông có tướng mặt mà hai đuôi mắt và chân mày xệ xuống thì vợ chồng chia li. Nếu mũi cao nhưng hai má lại thấp khiến toàn gương mặt thiếu hài hòa, cân xứng, cũng là tướng có duyên vợ chồng nhạt, lận đận đường tình duyên.
 
5. Mắt lồi, chân mày La Hán
 
Sát khí ở người có mắt to và lồi rất nặng, sức khỏe suy nhược, thường không sống thọ. Nếu thêm đặc trưng là chân mày La Hán (chân mày đậm, có lông xoắn và mọc lan sang chính giữa hai chân mày) là tướng sát vợ, sống cuộc đời cô quạnh, không được hưởng phúc đức từ vợ con. 
 
6. Chân mày hình tam giác, mắt ướt
 
Đàn ông có tướng chân mày hình tam giác và đôi mắt lúc nào cũng ướt thì sát thê nặng, lận đận tình duyên và cuộc đời cô quả.
 
7. Lan đài và Nhân trung hẹp
 
Hai bên cánh mũi là Lan đài và Đình úy. Nếu hai phần này đầy đặn thì tài vận thuận lợi, duyên vợ chồng rất tốt. Ngược lại, nếu nhỏ hẹp, Nhân trung cũng hẹp thì đến giai đoạn trung niên sẽ khắc thê, dễ góa vợ. 
 
Theo Thuật xem tướng mặt và tướng bàn tay  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Soi tướng cách đàn ông sát vợ

Nữ Thiên Yết nam Song Ngư - Cặp đôi ăn ý nhất

Nữ Thiên Yết nam Song Ngư thoạt nhìn có vẻ trái dấu nhau nhưng thực chất có sức hút mãnh liệt. Cả hai tìm thấy ở nhau điều còn thiếu.
Nữ Thiên Yết nam Song Ngư - Cặp đôi ăn ý nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Cùng xem những tiết lộ thú vị về 12 cung hoàng đạo tình yêu

Nu Thien Yet nam Song Ngu - tuong khong hop ma hop khong tuong hinh anh
 
Mối quan hệ của nữ Thiên Yết nam Song Ngư này có thể là một trong những mối quan hệ hoàn hảo nhất nhì vòng tròn hoàng đạo với cái nhìn sâu sắc và sự hiểu biết.
 
Cả hai chòm sao đều thuộc cung Nước nên về tính chất khá hòa hợp. Đôi bên bền bỉ và có sự thấu hiểu không nói nên lời. Thiên Yết tạo cho Song Ngư sự ổn định và an tâm. Song Ngưu mang đến nhiều hứng thú cho Thiên Yết.
 
Hành tinh thống trị của Thiên Yết là sao Hỏa và sao Diêm Vương lan truyền sự mạnh mẽ tới Song Ngư; hành tinh phán quyết Song Ngư là sao Mộc và sao Hải Vương lan tỏa sự hài hòa và vẻ đẹp tới Yết Yết.
 
Song Ngư là chòm sao cực kì quyến rũ, gần như gây được ấn tượng với người xung quanh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Thiên Yết cũng không ngoại lệ. Nhưng quan trọng là tuy thu hút được nhiều người nhưng Song Ngư lại không tạo được sự hấp dẫn mạnh mẽ với những người khác. Chỉ có nàng Thiên Yết thích thú với dáng vẻ ấm áp, nhu hòa là bị chàng mê mẩn.
 
Ngược lại sự mạnh mẽ của con gái Thiên Yết là chìa khóa mở tung trái tim chàng Thiên Yết. Nàng thông minh, cuốn hút, bí ẩn và đầy trí tuệ. Nàng là minh chứng của sự an toàn và điểm tựa cho những chông chênh trong cuộc sống.
 
Đàn ông Song Ngư không thích bị cuốn vào thói quen và nghĩa vụ. Họ cần sự tự do để khám phá và tận hưởng thế giới của trí tưởng tượng. Đây là điểm mấu chốt quyết định mức độ lâu bền của mối quan hệ giữa nữ Thiên Yết nam Song Ngư
 
Cô gái tránh những hành động chiếm hữu hoặc kiểm soát thái quá còn chàng trai thì bớt tung “mê hồn trận” với các nàng xung quanh đi. Đôi khi, những mâu thuẫn, xung đột ngầm còn đáng sợ hơn cả cơn cãi vã ầm ĩ đấy nhé.   Trần Hồng (Theo Horoscopecompatibility)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nữ Thiên Yết nam Song Ngư - Cặp đôi ăn ý nhất

Nếu bạn đang có ý định tu sửa tầng hầm nhà mình, chắc chắn bạn sẽ quan tâm đến những ý tưởng thiết kế dưới đây.

Hầu như khu vực tầng hầm thường được sử dụng để lưu trữ đồ đạc, nhưng bạn hoàn toàn có thể sáng tạo chúng thành khu vực hữu ích và thiết thực. Bạn có thể biến tầng hầm thành một nơi giải trí, vui chơi, phòng giặt ủi, khu vực làm việc hay phòng cho khách.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những đứa trẻ sẽ yêu thích một không gian rộng rãi, ngoài phòng ngủ của chúng để vui chơi. Hãy thêm những màu sắc tươi sáng, trang trí vui nhộn khiến trẻ yêu thích.

Bạn có thể sử dụng tầng hầm là nơi giặt ủi, giúp tiết kiệm không gian các phòng phía trên của bạn.

Ý tưởng biến tầng hầm thành khu vực làm việc là một ý tưởng hoàn hảo, bạn sẽ có một không gian yên tĩnh, bạn có thể hoàn toàn tập trung cho công việc. Chỉ cần một số thay đổi bạn đã có góc làm việc ưng ý.

Theo Thu Giang
Báo Xây Dựng


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nếu bạn đang có ý định tu sửa tầng hầm nhà mình, chắc chắn bạn sẽ quan tâm đến những ý tưởng thiết...

Các bước luận đoán lá số Tử vi (phần 2)

Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai, thường thì hạn năm giữa là nặng nhất.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Liên hệ giữa Mệnh-Thân và Hạn trong Tu Vi

Mệnh Thân và Hạn tốt - Người có cung Mệnh tốt thì chỉ xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi, đến tuổi trung niên và hậu vận thì cũng cần phải được cung Thân tốt thì mới được trọn vẹn. Nếu được Hạn tốt nữa thì ví như gấm thêm hoa.

Mệnh Thân tốt gặp Hạn xấu - Mệnh Thân tốt có thể giải trừ được một phần lớn ảnh hưởng xấu của Hạn.

Mệnh Thân xấu được Hạn tốt - Được phát ví như lúa non gặp mưa thuận gió hòa, cây khô gặp mùa Xuân, nhưng không bền.

Mệnh Thân và Hạn xấu - Rất xấu như sinh bất phùng thời.

phật từ bi

Ảnh hưởng của Chính tinh là Nam hay Bắc Đẩu Tinh nhập hạn trong Tu Vi

Nam Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian sau của Đại và Tiểu vận. Nếu bị Tuần Triệt thì đoán ngược lại.

Các Nam Đẩu Tinh là Thái Dương - Thiên Cơ - Thiên Đồng - Thiên Lương - Thiên Tướng và Thất Sát. Các chính tinh trên hợp với người dương nam và âm nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.

Riêng hai chính tinh Tử Vi và Thiên Phủ là Nam Bắc Tinh

Bắc Đẩu Tinh nhập hạn - Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian đầu của Đại và Tiểu vận.

Các Bắc Đẩu Tinh là Thái Âm - Vũ Khúc - Tham Lang - Liêm Trinh - Phá Quân và Cự Môn. Các chính tinh trên hợp với người âm nam và dương nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.

Ảnh hưởng của Sao nhập hạn

Ảnh hưởng các Sao lưu động mỗi năm 

Đại Tiểu Hạn trùng phùng 

Cung gốc đại vận 10 năm với lưu niên tiểu vận đồng cung, sự việc tốt xấu hay dở của năm xem hạn tại cung trùng phùng này sẽ gia tăng.

Thí dụ: hạn năm Ngọ 32 tuổi lưu niên chữ Ngọ trùng với cung gốc của đại vận 23-32 tuổi

Yếu tố thiên thời của đại-vận (10 năm) trong Tu Vi

Mỗi đại-vận là một thiên-thời, đắc được thiên-thời gặp vận hội tốt đời sẽ lên hương, còn mất thiên-thời thì đời sẽ thấy khó-khăn để rồi đi xuống.

Lấy ngũ hành của tam hợp tuổi đem so-sánh với hành tam hợp của cung đại vận nhập hạn:

Tam hợp tuổi tương đồng hành tam hợp vận - đắc vận Thái-tuế (thiên-thời) là đại-vận tốt đẹp nhất trong đời; thêm sao tốt nhập hạn thì được như gấm thêu hoa, nếu gặp ách-nạn thì cũng sẽ được cứu-giải mà qua khỏi.

Trường-hợp bị Hung-sát-tinh phá cách như Không-Kiếp ... thì vẫn được lên nhưng rồi dễ xuống, hay gặp khó-khăn và trở-ngại, vận hội tốt còn hưởng độ 50% mà thôi.

Đại-vận này cần phải được thêm tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ hổ trợ thì mới được hưởng vận Thiên-thời một cách chính-đáng, trọn-vẹn và bền-bỉ.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Dần-Ngọ-Tuất (đại vận hỏa đồng hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-vận sinh-nhập hành tam-hợp-tuổi - được thuận-lợi và sức-khỏe tốt; tuy-nhiên vì nằm trong tam-hợp Thiên-không nên cũng hay dễ xảy ra những sự thất-bại và buồn lòng, nếu đắc Hóa-khoa có thể cứu-giải.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Hợi-Mão-Mùi (đại vận mộc sinh hành tam-hợp tuổi hỏa)

Tam-hợp-tuổi khắc-xuất hành tam-hợp-vận - bị sa-lầy, nhiều vất-vả (Thiếu-âm), phải gắng công tranh-đấu (Phá-Hư-Mã); có thể nhờ đến phần Nhân-hòa (sao) giúp-đỡ.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Tỵ-Dậu-Sữu (đại vận kim bị hành tam-hợp tuổi hỏa khắc)

Tam-hợp-vận khắc-nhập hành tam-hợp-tuổi - khắc ngược rất xấu, cần phải có được nhiều sao tốt để cứu giải.

Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Thân-Tý-Thìn (đại vận thủy khắc hành tam-hợp tuổi hỏa)

Yếu tố địa lợi của Đại-vận (10 năm) trong Tu Vi

Địa-lợi là nơi an thân của bản mệnh tại đại vận. Nếu cung hạn tương sinh tất bản mệnh sẽ được vững chắc an lành. Phần này phải lấy ngũ hành nạp âm của mệnh so-sánh với ngũ hành của cung nhập-hạn :

Tương-Sanh - sức-khỏe dồi-dào và thường gặp may-mắn.

Thí dụ người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Dần-Mão thuộc mộc được tương sinh.

Tương-Khắc - sức-khỏe kém, thường gặp nhiều khó-khăn và bất trắc xảy ra.

Thí duï người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Hợi-Tý thuộc thủy bị tương khắc.

Nếu hành bản mệnh bị hành của cung đại-vận khắc rất xấu, nhưng được Chính-tinh tại cung đại-vận sinh-nhập lại mệnh (tức cung sinh sao và sao sinh lại mệnh) là cách "tuyệt xứ phùng sinh" rất tốt (ví dụ người mệnh hỏa bị hành của cung đại vận tại Hợi hay Tý thuộc thủy khắc, nhưng lại được chính tinh Thiên Cơ hoặc Thiên Lương tại Hợi-Tý thuộc mộc sinh lại bản mệnh)

Yếu tố nhân hòa của đại-vận (10 năm) trong Tu Vi

Nhân-hòa là thứ cách quan trọng sau yếu-tố Thiên-thời, nếu được Thiên-thời và Địa-lợi nhưng không được phần "Nhân-hòa" thì dù bản-thân có may-mắn đến đâu thì cũng phải bị nhiều vất-vả mới được thành-công, vì ít được sự trợ-giúp của bên ngoài.

Phần này phải xem bộ Chính tinh Đại-vận có cùng hay khác thế lưỡng-nghi với bộ Chính tinh của tam hợp Mệnh:

Nếu Chính tinh đồng bộ cùng phe phái lưỡng-nghi (như Tử-Phủ-Vũ-Tướng gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì khi chuyển vận gặp nhau ít thay-đổi, thêm Trung-tinh đắc cách tam-hợp thì được hòa-thuận tốt đẹp.

Bằng như khác phe phái (như Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì hẳn là có sự đụng-độ và khó-khăn, phần thiệt-hại vẫn là phần của phe yếu thế là Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương; nếu gia thêm Sát-tinh nhập hạn thì sẽ gặp nhiều chuyện không may.

Tư-thế của bốn bộ Chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn-mỹ và thành-công thì cần phải có tối thiểu:

- Bộ T-P-V-T cần nhất là Tả-Hữu, Thai-Tọa

- Bộ S-P-L-T cần nhất là Thai-Cáo và Lục-sát-tinh

- Bộ C-N-Đ-L cần nhất là Xương-Khúc và Khôi-Việt

- Bộ C-N cần nhất là Hồng-Đào, Quang-Quý

* So-sánh hành Sao nhập hạn sinh hay khắc với hành Mệnh, bộ Sát-Phá-Liêm-Tham mỗi khi nhập hạn thường có những cuộc thăng-trầm khá quan-trọng xẩy ra.

Luận về Lưu niên đại hạn trong Tu Vi

Ngoài cách xem các đại vận 10 năm ra, nếu muốn xem đại vận một cách tường tận hơn thì phải xem cả lưu đại hạn của từng năm một.

Nếu muốn biết xem lưu đại vận từng năm một của mỗi 10 năm đại vận thì phải khởi năm thứ nhất từ con số đầu ghi ở cung gốc đại hạn muốn xem, tính tiếp sang cung xung chiếu của cung gốc hạn là năm thứ hai, sau đó:

Dương Nam - Âm Nữ : Từ năm thứ hai ở cung xung chiếu lùi lại một cung (theo chiều nghịch kim đồng hồ) là năm thứ ba, xong trở thuận lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều thuận ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Xem bảng thí dụ cách tính lưu đại vận của 10 năm đại vận từ 22 đến 31 tuổi của tuổi Dương Nam / Thủy Nhị Cục bên trái dưới đây.

Âm Nam - Dương Nữ : Từ số của năm thứ hai ở cung xung chiếu tiến lên một cung (theo chiều thuận kim đồng hồ) ghi số kế tiếp là năm thứ ba, xong trở lùi lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều nghịch ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.

Luận về Lưu niên tiểu vận (1 năm) trong Tu Vi

Trong lá số Tử Vi, chung quanh phần địa bàn (trung tâm của lá số) kế bên ô mỗi cung đều được ghi 1 địa chi (ví dụ Tý-Sửu-Dần-Mão ...) theo chiều nam thuận nữ nghịch, đó chính là năm tiểu vận tại mỗi cung của đời người - ví dụ năm Kỷ Mão thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Mão, năm Canh Thìn thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Thìn ...

Khi xem tiểu vận phải xem phối hợp với cung gốc của 10 năm đại vận của tiểu vận đó. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt 10% ảnh hưởng của Đại vận.

Mỗi tiểu hạn, chúng ta cần phải so sánh đến các tương quan giữa Can Chi của tuổi với Can Chi của năm nhập hạn vaø ngũ hành của các sao nhập hạn, sau đó phải so sánh hành bản mệnh với hành của cung tiểu vận nhập hạn theo bảng dưới đây để biết được tiểu vận đó tốt hay xấu.

So sánh hành Can của tuổi và Can năm nhập hạn (gốc, quan hệ)

So sánh hành Chi của tuổi và Chi năm nhập hạn (ngọn, thứ yếu)

So sánh hành bản mệnh và hành của năm hạn (tính theo nạp âm) để biết mức độ đắc thất.

So sánh Can của tuổi và Hành sao nhập hạn phụ thêm để quyết định.

Phụ luận :

Trong đời người từ nhỏ đến 60 tuổi có 5 lần gặp năm Thiên khắc Địa xung nhưng chỉ có 2 lần xung quan trọng là Năm 43 tuổi (hàng Can bị sinh xuất) và Năm 67 tuổi (hàng Can bị khắc nhập) vừa là giai đoạn gặp Thiên thương hay Thiên sứ.

Còn Năm 49 tuổi thường xấu vì tuy hàng Can của năm được sinh nhập (hưng vượng) nhưng hàng Chi lại nằm ở thế Phá Hư (không đắc ý) nên khiến cho từ chổ thành công mà lại đưa đến chỗ thất bại bất mãn; chẳng khác gì cây bị úng nước, rể phải hư và ngọn bị héo tàn.

Từ 49 đến 50 tuổi, 53 đến 60 tuổi và từ 67 đến 70 tuổi là ba đoạn đường đổ dốc để lượn lên các ngôi sơ thọ (50) - trung thọ (60) và thượng thọ (70) luôn luôn có Thương cung Nô và Sưù cung Ách là hai đồn canh đứng chặn giữa ba đoạn đường đại vận này để kiểm soát suôi ngược.

Người lái xe phải lành nghề (vòng Thái Tuế) vững tay lái, xe không ham chở nặng (Quyền Lộc) thì mới mong được an toàn.

Thương (thổ cung Nô) phụ tá của Thiên Sứ, gây ra tổn hại; có phần nào nhẹ tay hơn Sứ (cho người có đại vận đi xuôi gặêp Thương trước).

Sứ (thủy cung Ách) thi hành lệnh gieo tai ách

Mức độ nặng nhẹ của Thương-Sứ thi hành nhiệm vụ là tùy thuộc vào các Sát tinh nhập cuộc tại cung Nô và Ách như Văn Xương, Kình Dương (cung Tứ chính / các tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm), Không Kiếp, Thiên Không, Tang Môn ...

Ngoài ra trong 3 đại vận liên tiếp trên, ít nào cũng năm sáu lần tiểu hạn đụng đầu Đào Hồng gặp Thiên không, Lưu hà và Kiếp Sát rất dễ gây ra sức ép với tuổi già.

Trừ phi Mệnh hay Thân đắc Thọ tinh hợp hành làm nồng cốt và không bị nghiệp báo Hình Riêu, Không Kiếp lũng đoạn.

Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai, thường thì hạn năm giữa là nặng nhất. Trong các năm nhập hạn tam tai thường gặp nhiều trở ngại, rủi ro hoặc khó khăn trong công việc. Ngoài ra không nên tu tạo hay tậu mãi nhà đất trong những năm hạn này. Còn việc hôn nhân, cưới hỏi thì ít bị ảnh hưởng. Đây chỉ là những dự đoán về hạn xấu chung để mà phòng tránh thôi chứ không chắc hẳn sẽ xảy ra như vậy.

Nếu năm nhập hạn trong lá số Tử Vi tốt thì hạn xấu của năm tam tai sẽ được giảm bớt, ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm năm tam tai thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các bước luận đoán lá số Tử vi (phần 2)

Kiêng kỵ cửa nhà vệ sinh chính đối cầu thang đi lên –

Hiện tượng: cửa nhà vệ sinh chính đối cầu thang đi lên, khi từ trên cầu thang đi xuống xông thẳng vào nhà vệ sinh, đễ làm cho uế khí trong nhà vệ sinh tích tụ khó tan, nuôi dưỡng vi khuẩn, ảnh hưởng đến sức khỏe và vận thế của người trong nhà. Phương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện tượng: cửa nhà vệ sinh chính đối cầu thang đi lên, khi từ trên cầu thang đi xuống xông thẳng vào nhà vệ sinh, đễ làm cho uế khí trong nhà vệ sinh tích tụ khó tan, nuôi dưỡng vi khuẩn, ảnh hưởng đến sức khỏe và vận thế của người trong nhà.

saipham

Phương pháp hóa giải: Bạn hãy treo một tấm rèm vải ở cửa nhà vệ sinh và nơi ngưởng cửa đặt chuỗi đồng tiền Ngũ Đế để hóa giải. Nêu có quạt thông gió hoặc cửa sổ trong nhà vệ sinh thì bạn phải chú ý thường xuyên đế nhà vệ sinh được thông gió cho uế khí bay ra ngoài, giữ nhà vệ sinh luôn sạch sẽ, khô ráo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiêng kỵ cửa nhà vệ sinh chính đối cầu thang đi lên –

Vong Thần

ong Thần là hung thần. Nếu trong tổ hợp tứ trụ có Vong Thần thì rất xấu. Vong Thần nhập mệnh thì chủ nhân gặp nhiều điều không may, thường gây bất hạnh cho vợ
Vong Thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

Ba chữ Phúc, Lộc, Thọ hợp nhất

Vong Thần là hung thần. Nếu trong tổ hợp tứ trụ có Vong Thần thì rất xấu. Vong Thần nhập mệnh thì chủ nhân gặp nhiều điều không may, thường gây bất hạnh cho vợ con. Tuy nhiên, khi Vong Thần và cát thần ở cùng một trụ thì là người mưu cao trí sâu.

Cách tra Vong Thần là lấy địa chi của ngày sinh làm chủ, từ đó đối chiếu với các địa chi khác của tứ trụ. Cụ thể có các trường hợp dưới đây:

1. Địa chi của ngày sinh là Thân, Tý hoặc Thìn gặp địa chi Hợi trong tứ trụ.

2. Địa chi của ngày sinh là Dần, Ngọ hoặc Tuất gặp địa chi Tỵ trong tứ trụ.

3. Địa chi của ngày sinh là Hợi, Mão, Mùi gặp địa chi Dần trong tứ trụ.

Ngoài ra, do địa chi của tháng và địa chi của giờ rất gần với địa chi của ngày sinh nên Vong Thần xuất hiện ở 2 trụ này sẽ xấu hơn là xuất hiện ở trụ năm.

(Theo Thuật tướng số cổ đại Trung Quốc)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vong Thần

4 con giáp thoát kiếp ế vào cuối năm 2015

Người tuổi Mão, Tý, Sửu và Tuất chuẩn bị nhận tin vui nhé!
4 con giáp thoát kiếp ế vào cuối năm 2015

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Người tuổi Mão

Nửa đầu năm 2015, người cầm tinh con Mèo quá bận rộn với chuyện học hành thi cử, không có thời gian để gặp gỡ bạn bè nên kiếp FA cứ đeo bám hoài không tha.

mao-3511-1438963619.jpg

Tuy nhiên, những tháng cuối năm Thủy Mộc tương sinh nên vận thế tình duyên càng vượng, cơ hội để tìm được “gấu” vô cùng lớn.

2. Người tuổi Tý

Gặp năm con Dê phạm Thái Tuế nên vận may về tình cảm chưa thực sự đến với người tuổi Tý. Tuy nhiên, đến những tháng cuối năm, vận thế bắt đầu chuyển biến tích cực, làm việc gì cũng được quý nhân giúp đỡ, đặc biệt tình duyên lên như diều gặp gió.

ti-1862-1438963619.jpg

Không chỉ dừng lại ở mối tình lãng mạn thông thường, rất có thể hai bạn sẽ có một “happy ending” trong thời gian tới. Hãy chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đón nhận niềm hạnh phúc ngập tràn.

3. Người tuổi Sửu

Được mệnh danh là một trong những “con giáp cao số”, gặp không ít trở ngại về tình duyên. Nhưng càng gần những tháng cuối năm 2015, người tuổi Sửu lại vượng vận đào hoa, cùng lúc có nhiều vệ tinh vây xung quanh nên việc kết thúc kiếp FA là điều sớm hay muộn mà thôi.

suu-4560-1438963619.jpg

Ngoài ra, để “bách chiến bách thắng” trên tình trường, người tuổi Sửu cần phải mạnh dạn và tự tin hơn nữa. Chứ với trạng thái rụt rè như hiện tại, e rằng bạn sẽ phải nếm không ít đau khổ trước khi tìm được tình yêu chân chính của mình.

4. Người tuổi Tuất

Khá lận đận về đường tình duyên, đến giờ phút này người tuổi Tuất đã có không ít mảnh tình vắt vai nhưng vẫn chưa “chốt hạ”. Lý do thật đơn giản, đó là vì bạn chưa thực sự tìm được người hiểu và trân trọng mình. 

tuat-7421-1438963619.jpg

Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm Ất Mùi này, người tuổi Tuất có rất nhiều cơ hội lựa chọn “gấu” cho mình vì có nhiều vệ tinh vây xung quanh. Thay vì “bật đèn xanh” một cách ồ ạt, con giáp này cần phải thái độ điềm tĩnh, dành thời gian tìm hiểu đối phương. Bạn nên nhớ rằng, nóng vội sẽ không giải quyết được bất cứ vấn đề gì, thậm chí còn dẫn đến thất bại.

Mr.Bull (theo MGSP)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 con giáp thoát kiếp ế vào cuối năm 2015

Văn Khấn Lễ Thánh Sư hay Tiên Sư, Nghề Sư

Văn Khấn Lễ Thánh Sư thường dùng để cúngThánh Sư còn gọi là Tiên sư hay Nghệ Sư. Tức là ông tổ một nghề nào đó, người đã khai phá ra nghề đó
Văn Khấn Lễ Thánh Sư hay Tiên Sư, Nghề Sư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn Lễ Thánh Sư thường dùng để cúng Thánh Sư còn gọi là Tiên sư hay Nghệ Sư. Tức là ông tổ một nghề nào đó, người đã khai phá ra nghề đó và truyền lại cho các thế hệ sau.

Mỗi nghề ở làng quê Việt nam đều có một vị Thánh Sư. Họ chỉ là con người bình thường nhưng được nhân dân tôn thờ vì họ đã tao ra nghề và truyền dạy cho dân chúng. Những người cùng một nghê hay cùng buôn bán một thứ hợp nhau lại thành một phường hội, lập miếu thờ Thánh Sư.

Người Việt rất quý trọng Thánh Sư nên ngòai việc thờ Thánh Sư tại miếu chung của phường, các gia đình trong phường cũng lập bàn thờ Thánh Sư tại gia đình mình.

Sắm lễ cúng lễ Thánh Sư

Trong những ngày Sóc Vọng, lễ, Tết, khi cúng Gia tiên, gia chủ cũng đồng thời cúng Thánh Sư, với đồ lễ tương tự như cúng Thổ Công.

Nhưng ngày cúng Thánh Sư quan trọng nhất trong năm là ngày Kỵ Nhật của Thánh Sư. Ngày đó được cúng giỗ chung lại miếu phường và các gia đìnhphường viên cũng tổ chức cúng riêng tại nhà để tỏ lòng tưởng nhớ ông tổ nghề của mình.

Những người hành nghề, mỗi khi gặp khó khăn đều làm lễ cúng Thánh Sư để được phù hộ gặp may mắn.

Văn khấn lễ Thánh Sư

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ thần quân.
– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quan trong xứ này.

Tín chủ con là …………………………………………………………………………………………..
Ngụ tại…………………………………………………………………………………
Hôm nay là ngày… tháng…..năm………………………………………………

Tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương dâng lên trước án, thành tâm kính mời: Đức Hoàng thiên hậu Thổ Chư vị Tôn Thần, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng Chư vị Tôn thần.

Con kính mời ngài Thánh sư nghề……………………………………………..

Cúi xin Chư vị Tôn thần Thánh sư nghề……………………………………… thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù Trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc, công việc hanh thông. Người vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn Lễ Thánh Sư hay Tiên Sư, Nghề Sư

Bắt bài hôn nhân thông qua tử vi năm sinh (phần 1)

Thiên can năm sinh ẩn chứa nhiều điều, có thể dựa vào đó để xem tử vi hôn nhân. Muốn biết nhân duyên cuộc đời như thế nào, hãy theo dõi bài viết dưới đây.
Bắt bài hôn nhân thông qua tử vi năm sinh (phần 1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiên can năm sinh ẩn chứa nhiều điều, có thể dựa vào đó để xem tử vi hôn nhân. Muốn biết nhân duyên cuộc đời của bạn như thế nào, hãy theo dõi ngay bài viết dưới đây.


Bat bai hon nhan thong qua tu vi nam sinh phan 1 hinh anh
 
1. Năm Tân (năm có đuôi là số 1): Vũ Khúc hóa kị
  Vũ Khúc tinh bình thường đều xưng là tài tinh, cũng có chứa tính cô khắc, Vũ Khúc hóa kị thì là người năng lực quản lý tài sản kém lại yêu tiền, hơn nữa ý nghĩ ngoan cố, dễ dàng làm tài vụ phức tạp, có thể thường xuyên xuất nhập bất minh hoặc ham món lợi nhỏ mà nảy sinh rắc rối lớn. Coi tử vi của người sinh năm Nhâm có thể đoán biết, dễ cùng bạn đời bất đồng trong quan niệm quản lý tài sản mà sinh ra cảm tình không hòa thuận. Người này suy nghĩ có thể dùng tiền tài đổi lấy tình yêu, để giành được cảm tình không tiếc hao tổn tiền bạc nên thường xuyên bị lừa, lâm vào cảnh chia ly cô độc.   2. Năm Nhâm (năm có đuôi là số 2): Tham Lang hóa kị   Tham Lang tinh là hoa đào tinh cũng là cơ hội tinh, một khi hóa kị thì tạo thành cục diện phức tạp. Xem tử vi hôn nhân của người sinh năm Quý, dễ gặp nạn đào hoa, trở thành người thứ ba trong tình cảm. Hoặc là nhân duyên kém, gặp người không tốt, phóng túng bản thân trong tình dục, không thể kiềm chế, tình mê ý loạn, sai lầm nối tiếp, hoặc bạc nghĩa bội tình, cuối cùng bị chúng bạn xa lánh, thân thể rã rời.
Chị em “dàn trận phong thủy” để anh xã luôn thủy chung 5 mẹo phong thủy vượng phu khiến chồng càng ngày càng yêu Những nàng giáp có số vượng phu, quý ông lấy ngay kẻo muộn

3. Năm Quý (năm có đuôi là số 3): Thái Dương hóa kị
  Phàm là người sinh năm Giáp thì đều thông minh, tự cao, phong cách hành sự hay thay đổi, đa tình nên cả đời khó tránh vì sự nghiệp mà tất bật, bản thân không thể tự quyết định, vì nhiệt tình mà giao lưu với nhầm người, rất có thể bị người khác lừa gạt. Tử vi hôn nhân của người này vì coi trọng công tác, đi sớm về khuya nên bạn đời oán trách, không có thời gian bồi dưỡng tình cảm.   4. Năm Giáp (năm có số đuôi là 4): Thái Âm hóa kị   Thái Âm là đại biểu gia đình, tình cảm tinh diệu, nếu hóa kị thì cảm tính, đa tình lại chấp nhất, dễ dàng xúc động, theo đuổi chủ nghĩa hoàn mỹ quá mức lại thích để tâm vào chuyện vụn vặt, thường xuyên xoi mói làm cho người khác chịu không nổi. Hơn nữa dễ dàng lưu luyến xa hoa truỵ, khiến đối phương không có cảm giác an toàn, là vết thương trí mệnh của hôn nhân.
Bat bai hon nhan thong qua tu vi nam sinh phan 1 hinh anh
 
5. Năm Ất (năm có số đuôi là 5): Liêm Trinh hóa kị
  Liêm Trinh tinh thông minh lại tự phụ, cảm tính mà đa tình, một khi hóa kị liền khó tránh khỏi vì tình mà mua dây buộc mình. Liêm Trinh tinh trời sinh dục vọng mạnh, hóa kị thì tính cách cương liệt, dễ dàng suy nghĩ luẩn quẩn trong lòng mà đi tới cực đoan, làm ra những việc ngốc nghếch. Người này có tính ghen tuông rất mạnh, ảnh hưởng tới hôn nhân không ít.   Tướng mặt ông chồng mang lại hạnh phúc mĩ mãn cho vợ Vợ chồng mệnh gì kết hợp với nhau thì đại cát đại lợi? Bát tự hòa hợp, hôn nhân như ý
► ## cung cấp công cụ Xem ngày cưới chuẩn xác theo Lịch vạn sự

Trần Hồng

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bắt bài hôn nhân thông qua tử vi năm sinh (phần 1)

Quẻ Quan Thế Âm Võ Tắc Thiên Đăng Vị

Quẻ Quan Thế Âm Võ Tắc Thiên Đăng Vị có bắt nguồn như sau:Võ Tắc Thiên (sinh năm 624 - mất năm 705) là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc
Quẻ Quan Thế Âm Võ Tắc Thiên Đăng Vị

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Bốn mươi trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Võ Tắc Thiên Đăng Vị (còn gọi là Võ Tắc Thiên Lên Ngôi). Quẻ Quan Thế Âm Võ Tắc Thiên Đăng Vị có bắt nguồn như sau:

Võ Tắc Thiên (sinh năm 624 – mất năm 705) là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, cũng là vị hoàng đế có độ tuổi khi kế vị lớn nhất (sáu mươi bảy tuổi lên ngôi). Bà là con gái thứ của Võ Sĩ Hoạch, một vị khai quốc công thần đời Đường, quê quán ở huyện Văn Thủy, tỉnh Sơn Tây. Bà trải qua tuổi thơ và thời niên thiếu ở Lợi Châu, Tứ Xuyên, không rõ tên thực là gì, năm mười bốn tuối vào hậu cung làm Tài nhân, Đường Thái Tông ban cho tên là Mị, mọi người gọi là Võ Mị Nương.

Võ Tắc Thiên giỏi lập mưu tính kế, lòng dạ thâm hiểm, hành động quả quyết. Năm hai mươi bảy tuổi, bà sinh hạ người con gái trưởng, theo “Tư trị thông giám” ghi chép, khi con gái cả được một tháng, bà liền đem con gái cho đi. Do Vương hoàng hậu đã gặp đứa bé gái này trước đó, nên Mị Nương vu tội cho Vương Hoàng hậu, khiến Đường Cao Tông rất tức giận, phế truất Vương Hoàng hậu làm dân thường.

Năm Vĩnh Huy thứ sáu (năm 655), Đường Cao Tông lập Võ Tắc Thiên làm Hoàng hậu. Năm Thượng Nguyên thứ nhất (năm 674), bà và Cao Tông cùng xưng là “nhị thánh”. Năm Hoằng Đạo thứ nhất (năm 683), Cao Tông qua đời, Trung Tông là Lý Hiển lên ngôi, Võ Tắc Thiên trở thành Hoàng thái hậu, lên triều chấp chính.

Năm Tự Thánh thứ nhất (năm 684), Võ Tắc Thiên phế truất Trung Tông làm Lư Lăng Vương, lập Duệ Tông Lý Đán làm vua, bản thân tiếp tục lên triều chấp chính. Năm Tải Sơ thứ nhất (năm 689), Vố Tắc Thiên phế truất Duệ Tông, tự xưng là “Thánh Thần hoàng đế”, đối tên nước là “Chu”, đặt Đông Đô Lạc Dương là Thần Đô, sử sách gọi là nhà Võ Chu.

Trong thời gian nắm quyền, Võ Tắc Thiên bãi chức các lão thần, chọn dùng những quan lại tàn ác. Các trọng thần từ đầu đời Đường, như Trưởng Tôn Vô Kỵ, Chử Toại Lương, Vu Chí Ninh, Bùi Viêm, số ít thì bị bãi chức, còn phần lớn bị giết hại. Bà tố chức kỳ thi điện, lập ra các chế độ khoa cử như võ cử (thi võ), tự cử (tự mình tiến cử), thí quan; trên lĩnh vực kinh tế đã áp dụng các chủ trương như “giảm thuế, chấm dứt chiến tranh, bớt lao dịch”, vì thế trong một nửa thế kỷ bà cầm quyền, tình hình kinh tế xã hội trở nên vững mạnh, uy lực quốc gia được chấn hưng.

Tháng giêng năm Thần Long thứ nhất (năm 705), Trương Giản Chi, Hoàn Ngạn Phạm, Thôi Huyền, Kính Huy nhân cơ hội Võ Tắc Thiên tuối cao bị bệnh, đã liên kết với Hữu Vũ Lâm Đại tướng quân Lý Đa Tộ phát động cuộc đảo chính, ép Võ Tắc Thiên thoái vị, đón vua Trung Tông trở lại ngôi vị. Tháng mười một năm ấy, Võ Tắc Thiên qua đời, hưởng thọ tám mươi hai tuối. Để lại di chiếu “bỏ đế hiệu, xưng là Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng hậu”. Người đời sau thường gọi bà là “Võ Tắc Thiên”.

Từ nhà Tần, Hán đến nay, các vị hoàng đế không aỉ không mong muốn sau khi chết được lập bia truyền thế, nhưng trong lịch sử Trung Quốc có duy nhất một vị nữ hoàng đế lại để lại một tấm “vô tự bi’ (bia không chữ), trên tấm bla không khắc một chữ nào. Nguyên nhân của sự việc này có nhiều thuyết khác nhau: Thuyết thứ nhất cho rằng, Võ Tắc Thiên lập “vô tự bi” là để tự khoe mình, thể hiện công cao đức lớn, không có chữ nghĩa nào có thể thể hiện được; thuyết thứ hai cho rằng, Võ Tắc Thiên tự biết tội mình rất lớn, cảm thấy không viết văn bia sẽ tốt hơn; thuyết thứ ba cho rằng, Võ Tắc Thiên là người sáng suốt tự biết mình, là công hay tội, đúng hay sai, hãy để cho người đời sau phán xét, đây là biện pháp tốt nhất; còn có một thuyết khác cho rằng, con trai của Võ Tắc Thiên rất hận mẹ mình, nên bà vốn dĩ đã viết sẵn cho mình một bài văn bia, nhưng lại bị con trai giấu chôn vào trong mộ, để lại một tấm bia không có chữ.

Quẻ Quan Thế Âm Võ Tắc Thiên Đăng Vị là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 40 !

Quẻ này là tượng âm tăng dương giảm.
Những việc mong cầu trước khó sau dễ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Võ Tắc Thiên Đăng Vị

Những mẹo đơn giản để hóa giải lỗi phong thủy nhà bếp

Một số cách đặt bếp thông thường của người Việt đã vô tình phạm lỗi phong thủy và ảnh hưởng đến đường tài vận của gia đình. Hãy cùng ## tìm hiểu
Những mẹo đơn giản để hóa giải lỗi phong thủy nhà bếp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một số cách đặt bếp thông thường của người Việt đã vô tình phạm lỗi phong thủy nhà bếp và ảnh hưởng đến đường tài vận của gia đình. Hãy cùng ## tìm hiểu và xóa tan nỗi lo này!


► Xem phong thủy theo ngũ hành để đón lành tránh dữ

Nhung meo don gian de hoa giai loi phong thuy nha bep hinh anh 3
 
1. Bếp đặt thấp hơn so với bệ bếp
  Trong lối kiến trúc hiện nay, nhiều gia chủ do muốn đạt hiệu quả về mặt thẩm mỹ đã thiết kế sao cho bếp đặt thấp hơn bệ bếp. Tuy nhiên, chính điều này được các chuyên gia phong thủy nhận định là phạm đại kỵ, tạo nên hiện tượng "Tài khố trũng thấp", dễ gây nên thiệt hại về đường tài vận   Để cải thiện phong thủy nhà bếp trong trường hợp này, gia chủ nên thiết kế lại bệ bếp sao cho bếp được đặt cao hơn bệ. Bên cạnh đó, nếu ngay dưới bếp có chạn bát, đặt một xâu tiền Lục Đế sẽ giúp hóa giải điều xấu do lỗi phong thủy trên gây nên.
Tùy biến màu sắc 4 hướng chính cho ngôi nhà hút tài sinh lộc
– Sử dụng chuẩn màu sắc phong thủy cho 4 hướng chính của ngôi nhà, gia chủ càng khỏe mạnh, hạnh phúc và dễ phát tài trong năm 2016.

2. Bếp đối diện cửa sổ
 
Nhung meo don gian de hoa giai loi phong thuy nha bep hinh anh 3
 
Đây là trường hợp bếp được đặt đối diện cửa sổ, không khí từ bên ngoài theo đường cửa sổ sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của bếp. Cách đặt trên được cho sẽ gây mất mát tài sản, ảnh hưởng đến tài vận.
  Nếu phạm lỗi phong thủy nhà bếp như trên, gia chủ nên treo tại cửa sổ xâu tiền Ngũ Đế, Lục Đế, Thập Đế vừa để chiêu tài nạp khí vừa an khang thịnh vượng   3. Bếp đối diện tủ lạnh

Nhung meo don gian de hoa giai loi phong thuy nha bep hinh anh 2
 
Trong phòng bếp, các gia chủ thường đặt tủ lạnh đối diện bếp nhằm tạo sự thuận lợi khi nấu ăn, tuy nhiên điều này đã phạm phải quy luật  Ngũ hành tương khắc giữa Thủy và Hỏa. Theo phong thủy nhà bếp, cách đặt này sẽ đem đến thất thoát tài sản, tai nạn đổ máu, con cháu không hiếu thuận.
  Điều tốt nhất để hóa giải tốt nhất là gia chủ nên điều chỉnh vị trí bếp hoặc tủ lạnh trong nhà, không có một thần khí phong thủy nào có thể hóa giải hoàn toàn lỗi này. Tuy nhiên, trong trường hợp không thể thay đổi được vị trí, gia chủ có thể treo Hồ lô gỗ để giảm nhẹ sát khí, đồng thời cần chú ý đặt xa bếp do vật phẩm phong thủy này dễ bắt lửa.

Chi Nguyễn 


Xem thêm Clip: Gieo duyên tươi tốt, gặt quả an khang

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những mẹo đơn giản để hóa giải lỗi phong thủy nhà bếp

Khéo dùng đũa chuẩn phong thủy, hôn nhân hay tài lộc đều viên mãn

Đũa là vật dụng vô cùng quen thuộc và gần gũi với con người. Vật dụng tuy nhỏ bé này nhưng lại mang trong mình sức mạnh phong thủy rất lớn. Nếu biết sử dụng đúng cách, không những sức khỏe tốt lành mà hôn nhân và tài lộc đều viên mãn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Kị dùng đũa dài ngắn khác nhau   Đặc trưng thường thấy của đũa ăn chính là có đôi có cặp, độ dài ngắn bằng nhau. Khi thay đũa mới, không ít gia đình vẫn còn lưu lại một số đũa cũ, còn sử dụng được. Chính vì thế mà có trường hợp dùng đũa dài ngắn không đều.   Theo quan điểm phong thủy, đây là điều không nên, nhất là khi có khách tới nhà, gây cảm giác thiếu tôn trọng khách. Thêm nữa, cách dùng đũa như vậy trong thời gian dài khiến tình cảm của mọi thành viên trong nhà bất hòa, dễ gây mâu thuẫn vợ chồng.  

Kheo dung dua chuan phong thuy, hon nhan hay tai loc deu vien man hinh anh
 
2. Dùng đũa gõ vào bát ăn   Theo quan điểm dân gian, dùng đũa gõ vào bát ăn là hành vi của ăn xin, tượng trưng cho sự nghèo hèn, cuộc sống vất vả. Chính vì thế, trong mỗi bữa ăn rất kị hành động này. Nếu không từ bỏ thói quen gõ đũa vào bát, tài vận sẽ ngày càng giảm sút.   3. Để đũa vắt chéo lên nhau   Dù là vô tình hay cố ý để đũa vắt chéo lên nhau theo hình chữ “X” đều là việc làm cần tránh. Theo quan điểm phong thủy, đây là cách làm gây ra thị phi, kiện tụng, nghiêm trọng còn liên quan đến họa ngồi tù.   
Kheo dung dua chuan phong thuy, hon nhan hay tai loc deu vien man hinh anh 2
 
4. Cắm đũa vào bát cơm   Theo quan niệm người xưa, cắm đũa vào bát cơm sẽ khiến người ta dễ dàng liên tưởng tới bát hương của người chết. Vì thế đây là một trong những điều đại kị khi dùng đũa ăn hàng ngày.    5. Để đũa đang ăn ở bát (đĩa) thức ăn   Một số người có thói quen để đũa đang ăn ngay ở bát hoặc đĩa thức ăn, để gắp đồ ăn cho thuận tiện. Xét về mặt lịch sự trong ăn uống, đây là điều không nên. Về phong thủy ngũ hành, cách làm này ảnh hưởng tới hòa khí của các thành viên trong nhà.    6. Cầm đũa trên tay và chỉ trỏ người khác   Theo quan điểm dùng đũa phong thủy, hành động này vừa không lịch sự lại tiềm ẩn nguy cơ không tốt lành về mặt phong thủy, thậm chí có thể ảnh hưởng tới sinh mệnh của mỗi người. Chính vì thế, nếu có thói quen này bạn cần bỏ ngay lập tức, tránh hậu họa khôn lường.   Ngân Hà
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khéo dùng đũa chuẩn phong thủy, hôn nhân hay tài lộc đều viên mãn

Hoàn thiện bản thân - Chương 2: Pháp Luân Công

CHƯƠNG II: PHÁP LUÂN CÔNG Pháp Luân Công bắt nguồn từ Pháp Luân Tu Luyện Ðại Pháp của Phật Gia, nó là một phương pháp tu luyện khí công đặc biệt của Phật Gia, nhưng chính nhờ nó có các đặc tính riêng biệt mà làm cho nó nổi bật lên giữa các đường lối tu luyện trung bình khác trong Phật Gia. Hệ thống tu luyện này là một phương pháp tu luyện đặc biệt và cấp tốc nên vẫn thường đòi hỏi người tu phải có một tâm tính thật cao và căn cơ thật tốt 1 .

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðể giúp cho nhiều người luyện công lên cao được, đồng thời vẫn thỏa mãn yêu cầu của phần đông các người quyết chí tu luyện, tôi đã chỉnh đốn lại và cập nhật toàn bộ các phương pháp tu luyện này để thích hợp cho việc quảng bá trong quần chúng, mặc dù được sửa đổi, nó này vẫn vượt xa những kết quả và trình độ khi tập luyện các công pháp.

1. Vai trò của Pháp Luân

Pháp Luân của Pháp Luân Công có được cùng đặc tính với vũ trụ, nó là mô hình nhỏ của vũ trụ. Người tu luyện theo Pháp Luân Công sẽ không chỉ có khả năng phát triển các công năng và công lực một cách nhanh chóng, mà họ cũng sẽ phát triển được một Pháp Luân với uy lực vô tỷ trong thời gian thật ngắn. Sau khi Pháp Luân được thành hình, nó tồn tại dưới dạng một linh thể 2, nó luôn luôn quay tự động không ngừng nghỉ nơi vùng bụng dưới của người luyện công, liên tục thu hút và chuyển hóa năng lượng từ vũ trụ, và cuối cùng là biến đổi nó thành ra công trong bản thể của người luyện công, vì vậy nó đạt được hiệu quả của pháp luyện người 3, nói cách khác, mặc dầu người ta không thể luôn luôn luyện tập, nhưng Pháp Luân vẫn không ngừng luyện người. Khi quay vào trong Pháp Luân độ chính mình, nó làm cho người tu luyện mạnh mẽ hơn và khỏe mạnh hơn, thông minh và khôn ngoan hơn, và bảo vệ cho người tu không bị sai lệch, nó cũng có thể giữ cho người tu không bị quấy nhiễu bởi những người với tâm tính thấp kém. Khi quay ra ngoài Pháp Luân độ cho người, nó có thể chữa bệnh và trừ tà cho người khác, điều chỉnh mọi trạng thái bất thường. Pháp Luân quay không ngừng nơi vùng bụng dưới, nó quay chín lần theo chiều kim đồng hồ và sau đó chín lần ngược chiều kim đồng hồ. Khi quay theo chiều kim đồng hồ nó thu hút năng lượng thật mãnh liệt của vũ trụ, năng lượng to lớn phi thường. Khi công lực tăng trưởng thêm nữa, sức xoay chuyển trở nên mạnh hơn nhiều, một trạng thái mà không thể đạt được khi cố gắng dùng ý hút đầy khí từ đỉnh đầu. Khi quay ngược chiều kim đồng hồ, nó phóng thích năng lượng và cứu độ tất cả chúng sinh, cũng như điều chỉnh mọi trạng thái bất thường, người nào ở gần người tu sẽ được ảnh hưởng tốt. Trong tất cả các cách tập khí công được giảng dạy trong nước của chúng ta (Trung quốc), Pháp Luân Công là công pháp đầu tiên và duy nhất đạt được tiêu chuẩn pháp luyện người.
Pháp Luân rất quý báu, không thể mua được bằng số tiền lớn nào. Khi giao Pháp Luân cho tôi, sư phụ của tôi dạy rằng: Pháp Luân không thể được truyền cho bất cứ người nào, tất cả mọi người dù đã tu luyện hàng ngàn năm và muốn nó, nhưng họ không thể có được. Ðiều này chỉ được truyền cho một người theo đường lối tu luyện của chúng tôi sau một thời gian thật là lâu, không như những thứ nào đó mà được truyền cho một người cứ mỗi vài chục năm, vậy nên Pháp Luân thật cực kỳ quý giá. Bây giờ, mặc dầu chúng tôi phổ truyền trong công chúng và biến nó thành ít mạnh mẽ, nó vẫn còn thật là quý giá. Ðối với người tu có nó, họ đã tiến được nửa đoạn đường tu luyện, những gì còn lại là để cho quý vị nâng cao tâm tính của mình, và sẽ có một cấp khá cao đang chờ quý vị. Dĩ nhiên, người không có duyên phận sẽ ngưng tập luyện sau khi bắt đầu một thời gian, và rồi thì Pháp Luân sẽ không còn tồn tại trong người họ nữa.
Pháp Luân Công là công pháp thuộc Phật Gia, nhưng nó hoàn toàn vượt ra ngoài phạm vi của Phật Gia, nó luyện theo cả toàn vũ trụ. Trong quá khứ tu luyện trong Phật Gia chỉ nói về những nguyên lý của Phật Gia, trong khi tu luyện theo Đạo Gia chỉ nêu lên những nguyên lý của Đạo Gia, cả hai trường phái đều không có cắt nghĩa thấu đáo căn bản của vũ trụ. Vũ trụ cũng như con người, ngoại trừ cấu trúc vật chất ở bên ngoài, nó cũng có đặc tính riêng của nó, một cách vắn tắt là nó có thể được tóm gọn trong ba chữ, đó là "Chân Thiện Nhẫn". Tu luyện theo Đạo Gia chủ yếu ngộ về "chân", nói chân thật, làm việc chân thật, trở về nguồn cội, và sau cùng thành một chân nhân. Tu luyện theo Phật Gia chú trọng về "thiện", làm sản sinh tâm đại từ bi, cứu độ chúng sinh. Pháp môn của chúng ta tu theo "Chân Thiện Nhẫn" cùng một lúc, tức là trực tiếp tu luyện theo đặc tính căn bản của vũ trụ, và cuối cùng là đạt được sự đồng hóa cùng vũ trụ 4.
Pháp Luân Công là công pháp tu cả tâm lẫn thân, khi công lực và tâm tính đã đạt đến một trình độ nào đó, là đến lúc để đạt tới trạng thái khai ngộ (khai công) trong thế gian này, tu thành một cơ thể không bao giờ bị hư hoại 5. Nói chung Pháp Luân Công được chia thành thế gian pháp và xuất thế gian pháp mà bao gồm nhiều cấp bậc. Tôi hy vọng rằng mọi người quyết chí sẽ chuyên cần tu luyện, không ngừng nâng cao tâm tính, đạt đến viên mãn.

2. Hình dáng của Pháp Luân

Pháp Luân của Pháp Luân Công là một vật thể có linh tính, xoay tròn và cấu thành từ vật chất cao năng lượng. Nó chuyển động xoay tròn theo đúng luật chuyển động của toàn vũ trụ. Ở một mức độ nào đó, Pháp Luân là một mô hình nhỏ của vũ trụ. Ở giữa Pháp Luân là dấu hiệu chữ Vạn (chu Van) của Phật Gia. Nó là trung tâm của Pháp Luân. Màu sắc của nó gần giống như màu vàng kim với nền màu đỏ sáng chói. Nền của vòng tròn bên ngoài thì màu cam. Bốn dấu hiệu Thái Cực và bốn chữ Vạn của Phật Gia được xếp đặt xen kẽ nhau theo tám hướng. Thái cực gồm có màu đỏ và đen thuộc về Đạo Gia, trong khi Thái Cực với màu đỏ và xanh thuộc về Tiên Thiên Đại Đạo. Bốn chữ Vạn nhỏ cũng có màu vàng kim. Nền của Pháp Luân có màu thay đổi theo chu kỳ: đỏ, cam, vàng, xanh lá cây, xanh dương, chàm, và tím. Những màu này rất đẹp. Các màu của chữ Vạn chính giữa và Thái Cực thì không thay đổi. Các Pháp Luân với kích thước khác nhau này tự xoay chuyển, và chữ Vạn cũng vậy. Pháp Luân có cội rễ từ trong vũ trụ. Vũ trụ đang xoay chuyển, tất cả các thiên hà đang xoay chuyển, vì vậy, Pháp Luân cũng đang xoay chuyển. Những người đã mở Thiên mục ở cấp thấp, họ có thể nhìn thấy Pháp Luân đang quay vòng như một cây quạt; còn những người mở Thiên mục ở cấp cao, họ có thể thấy nguyên hình Pháp Luân rất đẹp và sáng chói, điều này khuyến khích người tu phấn đấu mạnh mẽ để tiến lên.

3. Ðặc Ðiểm Của Pháp Luân Công

(1) Pháp luyện nhân

Người tập Pháp Luân Công sẽ không chỉ có khả năng làm tăng Công lực và công năng một cách mau chóng, nhưng cũng sẽ có khả năng luyện thành Pháp Luân. Pháp Luân có thể được tạo thành trong một thời gian rất ngắn, và một khi thành hình, nó rất là mạnh mẽ. Nó có thể che chở cho người tu khỏi bị sai đường. Thêm vào đó, nó có thể bảo vệ người tu không bị quấy rầy bởi những người có tâm tính thấp kém. Nó cũng là một phương pháp tu luyện hoàn toàn khác hẳn với lý thuyết của các phương pháp tu luyện truyền thống. Vì Pháp Luân tự nó xoay chuyển không ngừng nghỉ sau khi được thành lập, nó tồn tại dưới dạng thức của một linh thể, thu hút năng lực một cách liên tục và thường xuyên ở vùng bụng dưới của người tu. Pháp Luân xoay vòng để tự động thu hút năng lượng từ vũ trụ. Chính vì nó xoay chuyển không ngừng nghỉ, nó đạt được mục đích của "Pháp Luyện Nhân", nó liên hệ đến việc Pháp Luân luyện người không ngừng nghỉ ngay khi người ta không luôn luôn luyện tập. Như mọi người đều biết, người thường phải làm việc ban ngày và nghỉ ban đêm, còn lại rất ít thời giờ cho việc tu luyện. Ðể đạt được trạng thái tu luyện 24 giờ một ngày, phương pháp được gọi là luôn luôn nghĩ đến việc tu luyện không có hiệu lực, và sử dụng các phương pháp khác vẫn khó lòng đạt đến mục đích thật sự tu luyện 24 giờ một ngày. Tuy nhiên, Pháp Luân xoay chuyển không ngừng nghỉ, gom góp và chuyển hóa khí được hấp thụ từ vũ trụ bằng cách quay vào bên trong. Ðiều này được thực hiện ở mọi vị trí của Pháp Luân, ngày lẫn đêm, không bao giờ ngừng lại. Nó biến đổi khí thành một chất liệu ở cao tầng, sau cùng biến nó thành công mang trên thân người tu. Ðây gọi là "Pháp Luyện Nhân". Tu luyện theo Pháp Luân Công hoàn toàn khác với bất kỳ trường phái nào khác và các môn phái tu luyện khí công đan đạo. Ðiểm nổi bật nhất của Pháp Luân Công là luyện một Pháp Luân thay vì luyện đan. Cho đến nay, trong các phương pháp tu luyện được phổ truyền, không kể đến từ trường phái nào hay đường lối tu luyện nào, có thể là chi nhánh của Phật giáo, Đạo giáo, Phật Gia, Đạo Gia, hay thuộc các hệ phái rải rác trong quần chúng, tất cả đều luyện đan. Nhiều đường lối tu luyện bàng môn khác cũng giống như vậy. Chúng được gọi là khí công đan đạo. Sự tu hành của các tăng, ni và các đạo sĩ, tất cả đều phát xuất từ cách tu luyện đan này. Nếu được hỏa táng sau khi viên tịch, chúng sẽ tạo thành các viên xá-lợi mà thành phần cấu tạo của chúng chưa được khám phá ra bởi các thiết bị khoa học tân tiến. Nó rất là cứng, chắc và rất đẹp. Thật ra, nó là chất liệu ở cao tầng được tích tụ từ các không gian khác, chứ không phải trong không gian của chúng ta. Ðó là Đan. Rất khó cho người theo khí công đan đạo để đạt được trạng thái giác ngộ trong một kiếp người. Trước kia, có rất nhiều người luyện theo khí công đan đạo đã cố gắng để vận chuyển Đan đi lên. Một khi nó chạy lên đến Nê hoàn cung, nó không có thể xuất ra ngoài, vì vậy những người này bị kẹt ở đây. Vài người rất muốn cho nó nổ tung ra, nhưng không biết làm cách nào. Một số người làm như thế này: Ông nội của người đó không thành công. Khi sắp chết, ông nội nhả ra và giao lại cho người cha. Người cha cũng không thành công. Khi chết, người cha cũng nhả ra và giao lại cho người con. Cho đến bây giờ, anh ta vẫn là người tầm thường. Quả thật là quá khó! Dĩ nhiên, cũng có nhiều phương pháp tu luyện đứng đắn. Nó tương đối khá tốt nếu quý vị có thể có được sự chân truyền. Tuy nhiên, vị thầy có thể không dạy cho quý vị những thứ thật sự ở cao tầng.

(2) Tu luyện chủ ý thức

Mọi người đều có một chủ ý thức (nguyên thần). Người ta thường tùy thuộc vào chủ ý thức khi thi hành các nhiệm vụ và xem xét các vấn đề. Ngoại trừ chủ ý thức,cũng có một hay nhiều phụ ý thức trong bản thể con người, cũng như các tín hiệu được thừa hưởng từ các tổ tiên trong gia đình. Phụ ý thức có cùng tên với chủ ý thức, nhưng thông thường nó có nhiều khả năng hơn và cũng ở cấp cao hơn chủ ý thức. Phụ ý thức không bị mê hoặc bởi cám dỗ của xã hội người thường của chúng ta và có thể nhìn thấy các không gian riêng biệt của nó. Nhiều công pháp tu luyện theo lối luyện phụ ý thức, theo đó thì cơ thể vật chất và chủ ý thức chỉ có nhiệm vụ chuyên chở. Người tu luyện thường không biết đến những điều này. Và họ có thể vẫn cảm thấy rất thoải mái về chính họ. Khi đang sống trong xã hội, thật rất khó để một người từ bỏ điều thực tiễn, nhất là những điều mà người đó gắn bó vào. Vì vậy, nhiều phương pháp tu luyện nhấn mạnh đến việc tập luyện khi đang ở trong trạng thái hôn mê, một trạng thái hôn mê hoàn toàn. Khi sự chuyển hóa xảy ra trong lúc đang hôn mê, phụ ý thức đang qua sự chuyển hóa và được nâng cấp. Ngày nào đó, phụ ý thức hoàn tất sự tu luyện và mang công của quý vị đi. Không còn lại gì cho chủ ý thức và bản thể thật của quý vị hết, và cả đời tu luyện của quý vị sẽ tiêu tan hết. Ðiều này thật đáng tiếc. Một số thầy khí công danh tiếng sử dụng mọi loại công năng vĩ đại và nhờ nó mà được nổi danh và được kính nể; tuy nhiên, họ vẫn không nhận thức được là công của họ không tăng trưởng trên chính cơ thể của họ. Pháp Luân Công của chúng ta tu luyện trực tiếp về chủ ý thức, nó đòi hỏi Công phải thật sự tăng trưởng trên cơ thể của quý vị. Dĩ nhiên, phụ ý thức cũng sẽ được chia phần, vì là phần quan trọng thứ nhì sau chủ ý thức, nó cũng đang thăng tiến. Phương pháp tu luyện của chúng ta đòi hỏi một tâm tính thật gắt gao, để cho quý vị rèn luyện tâm tính của mình và thăng tiến trong trong mọi hoàn cảnh phức tạp nhất của xã hội người thường, như hoa sen mọc lên giữa bùn lầy. Vì vậy quý vị được chứng đắc trong sự tu luyện của mình. Ðây là lý do tại sao Pháp Luân Công quý báu như vậy. Nó quý báu vì chính quý vị đạt được Công. Nhưng, nó cũng rất khó khăn. Sự khó nhọc dựa trên sự kiện là quý vị đã chọn một đường đi mà sẽ hướng dẫn quý vị tu luyện trong các hoàn cảnh phức tạp nhất. Vì mục đích tập luyện là tu luyện chủ ý thức, chủ ý thức phải được sử dụng để điều khiển sự tu luyện. Những gì chủ ý thức quyết định là dứt khoát; nó không được chuyển qua cho phụ ý thức. Nếu không, sẽ có một ngày khi phụ ý thức hoàn tất sự tu luyện của nó ở một cấp cao và mang Công theo với nó. Vì vậy, là chủ bản thể và chủ ý thức, quý vị sẽ không còn lại gì cả. Khi quý vị tu luyện ở cao tầng, nó không thể chấp nhận được khi chủ ý thức của quý vị ngay cả không ý thức được mình đang tu luyện, như là quý vị đang ngủ mê vậy. Quý vị phải biết rõ rằng mình đang tập luyện, tu luyện đến cao tầng và nâng cao tâm tính của mình. Chỉ như vậy quý vị sẽ kiểm soát được hành động của mình và có thể đạt được công. Nhiều lần khi quý vị lơ đễnh, quý vị có thể hoàn tất điều gì đó mà ngay cả không biết làm sao nó đã được làm. Thật ra, chính là phụ ý thức đã đóng vai trò trong đó. Phụ ý thức đã chủ động. Nếu quý vị ngồi thiền nơi đó, và quý vị mở mắt nhìn trước trán mình, quý vị sẽ thấy rằng có một quý vị khác ngồi đối diện. Nếu quý vị ngồi thiền quay về hướng bắc, nhưng bỗng nhiên, quý vị thấy mình ngồi tại hướng nam và quý vị bắt đầu nghĩ rằng: "Làm sao ta đi ra ngoài?", rồi thì đây là người thật của quý vị xuất ra. Cái đang ngồi đó là cơ thể của quý vị và phụ ý thức. Những điều này có thể phân biệt được. Quý vị không được hoàn toàn quên hẳn mình khi đang tập luyện Pháp Luân Công. Quên chính mình tức là không theo đúng Đại Pháp của sự tu luyện Pháp Luân Công. Quý vị phải giữ tâm của mình được sáng suốt khi tập luyện. Quý vị sẽ không đi sai lệch nếu chủ ý thức của quý vị mạnh mẽ trong lúc luyện tập, và những điều tầm thường không thể làm hại đến quý vị. Nếu chủ ý thức yếu đi, những thứ lạ có thể xâm nhập vào cơ thể quý vị.

(3) Tu luyện không kể phương hướng hay giờ giấc

Nhiều phương pháp tu luyện rất chú trọng về phương hướng và thời điểm tốt nhất để luyện tập. Chúng ta không chú trọng về những điều này. Tu luyện Pháp Luân Công là chiểu theo đặc tính của vũ trụ và những nguyên lý diễn hóa của vũ trụ mà luyện. Vì vậy, chúng ta không chú trọng về phương hướng hay thời điểm. Các bài tập của chúng ta tương đương với tập luyện trong lúc đang ngồi trên Pháp Luân, nó có ở mọi hướng và luôn luôn xoay vòng. Pháp Luân của chúng ta hòa nhịp với cả vũ trụ. Vũ trụ đang chuyển động, giải Ngân hà đang chuyển động, chín hành tinh đang quay chung quanh mặt trời và trái đất chính nó cũng đang quay. Hướng nào là đông, nam, tây hay là bắc? Người sống trên trái đất nghĩ ra các phương hướng. Vì vậy, bất kỳ hướng nào quý vị đối diện, quý vị sẽ đang đối diện với mọi hướng. Một số người nói rằng tốt nhất là tập luyện lúc giữa đêm, có người nói lúc đúng ngọ, hay một thời điểm nào khác. Chúng ta cũng không bận tâm về vấn đề này vì Pháp Luân sẽ luyện quý vị khi quý vị không đang tập luyện. Pháp Luân đang giúp cho quý vị tu luyện ở mọi thời điểm, đó là "Pháp luyện nhân". Trong khí công đan đạo, người ta luyện đan; trong Pháp Luân Công, nó là pháp luyện người. Thực hành càng nhiều càng tốt khi quý vị có thì giờ. Tập ít đi khi quý vị không có nhiều thì giờ. Nó rất là thoải mái.

4. Tính mệnh song tu

Pháp Luân Công tu luyện tâm lẫn thân. Qua sự tu luyện, bản thể thật của quý vị được thay đổi trước. Không để mất bản thể thật, chủ ý thức hợp với cơ thể vật chất thành một, hoàn tất sự tu luyện một cách trọn vẹn.

(1) Thay đổi của bản thể

Một cơ thể con người gồm có thịt, máu và xương, với các thành phần và cấu trúc phân tử khác nhau. Nhờ tu luyện, thành phần nguyên tử của cơ thể con người được chuyển hóa thành chất liệu ở cao tầng. Vì vậy những bộ phận trong cơ thể con người không còn là những chất liệu nguyên thủy nữa, nhưng thay vào đó chúng đã trải qua một sự thay đổi căn bản về các chất lượng ở bên trong. Tuy nhiên, người tu tu luyện và sinh sống giữa những người thường, và không có thể vi phạm các tình trạng của xã hội loài người. Vì vậy, sự thay đổi như thế này không biến đổi các cấu trúc phân tử nguyên thủy, cũng không thay đổi thứ tự sắp xếp các phân tử. Nó chỉ thay đổi các thành phần nguyên tử nguyên thủy. Xác thịt của con người vẫn mềm mại, xương cốt vẫn rắn chắc và máu vẫn ở thể lỏng. Khi bị đứt tay người ta vẫn chảy máu. Theo học thuyết Ngũ hành của Trung Quốc cổ đại, "kim, mộc, thủy, hỏa và thổ" tạo nên vạn vật. Nó cũng như vậy đối với cơ thể con người. Khi người tu trải qua các sự biến đổi của bản thể thật của họ, có được các chất liệu ở cao tầng thế vào các thành phần nguyên tử nguyên thủy, tới lúc đó cơ thể con người không còn cấu tạo bởi các chất liệu nguyên thủy nữa. Ðiều này chính là điều được gọi là "không trong ngũ hành". Ðặc điểm nổi bật nhất của các phương pháp tu luyện tâm lẫn thân là nó kéo dài mạng sống và chống lão hóa. Pháp Luân Công của chúng ta có được cái đặc điểm nổi bật này. Pháp Luân Công có tác dụng như sau: nó thay đổi từ căn bản các thành phần phân tử của cơ thể con người, gom góp lại và chứa các chất liệu cao tầng trong mọi tế bào, và cuối cùng để cho các chất liệu ở cao tầng thay thế các thành phần của tế bào. Bằng cách đó, sự già nua sẽ không xảy ra. Người ta quả thật không còn trong ngũ hành, biến cơ thể của họ thành một cơ thể gồm có các chất liệu ở các không gian khác. Nó không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian của chúng ta nữa, người này sẽ trẻ mãi. Trong lịch sử, có nhiều vị cao tăng sống rất thọ. Bây giờ, có người sống tới vài trăm năm đi ngoài đường, và quý vị không có thể nói họ là ai. Họ trông rất trẻ và mặc quần áo giống người thường nên quý vị không thể phân biệt được. Tuổi thọ của con người không thể quá ngắn ngủi như hiện nay. Nói từ khía cạnh khoa học tân thời, người ta phải có khả năng sống đến hơn 200 tuổi. Theo các hồ sơ có một người tên là Femcath ở Anh quốc sống được 207 năm. Một người tên là Mitsu Taira ở Nhật sống đến 242 tuổi. Dưới thời nhà Ðường ở xứ ta (Trung Quốc) có một thầy tu tên là Huệ Chiêu (Hui Zhao) sống đến 290 tuổi. Theo sổ bộ của quận Vĩnh Thái (Yong Tai) thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trần Khuyên (Chen Jun) sinh vào năm đầu của thời Trung Hòa (Zhong He) (năm 881 sau công nguyên) dưới triều vua Hi Tông (XiZong) của nhà Ðường. Ông mất dưới thời Thái Ðịnh (Tai Ding) của triều đại nhà Nguyên (năm 1324 sau công nguyên), sau khi sống được 443 tuổi. Những điều này được hỗ trợ bởi các hồ sơ và có thể tra cứu được. Chúng không phải là các chuyện thần thoại. Nhờ tu luyện, các người tu Pháp Luân Công làm giảm bớt các vết nhăn trên mặt một cách rõ rệt, và gương mặt hồng hào, khỏe mạnh và sáng sủa. Cơ thể của họ cảm thấy rất nhẹ nhàng và thư giãn, và không có dấu hiệu mệt mỏi khi đi bộ hay làm việc. Ðây là một hiện tượng thông thường. Nó cũng là lý do tại sao dáng vóc của tôi, theo các người khác nói lại, vẫn không thay đổi sau 20 năm. Chính tôi đã tu luyện trong nhiều chục năm. Pháp Luân Công của chúng ta có chứa đựng một nguyên lý tu thân rất vững vàng. Khi về già, người tu theo Pháp Luân Công trông khác với người thường thật rõ rệt. Họ trông không giống với số tuổi đời của họ. Vì vậy, đặc điểm nổi bật nhất của các phương pháp tu luyện tâm lẫn thân là gia hạn mạng sống, làm chậm sự lão hóa và kéo dài tuổi thọ.

(2) Pháp Luân chu thiên

Cơ thể của chúng ta là một tiểu vũ trụ. Năng lượng của cơ thể con người luân chuyển vòng quanh cơ thể, nó được gọi là chuyển động của tiểu vũ trụ, và cũng được gọi là chuyển động của vòng Chu Thiên. Vòng Chu Thiên nối liền hai mạch Nhâm và Ðốc, theo các xếp loại về cấp bậc, chỉ là một vòng Chu Thiên cạn dưới làn da. Nó không có hiệu lực để tu mệnh. vòng Tiểu Chu Thiên, theo nghĩa thật sự, di chuyển bên trong cơ thể đi từ Nê Hoàn Cung đến Đan Điền. Nhờ sự nội chuyển này, nó làm mở tung mọi kinh mạch bắt đầu từ bên trong cơ thể ra đến bên ngoài. Pháp Luân Công của chúng ta đòi hỏi tất cả các kinh mạch đều được mở ra ngay từ đầu. Vòng Ðại Chu Thiên là vận chuyển của kỳ kinh bát mạch và đi vòng quanh cơ thể theo một vòng tuần hoàn. Khi vòng Ðại Chu Thiên được mở ra, nó sẽ mang đến trạng thái là người đó có thể bay khỏi mặt đất. Ðây là cái mà người ta muốn nói là "Bạch Nhật Phi Thăng", như được chép lại trong Đan Kinh. Tuy vậy, thường là một điểm nào đó trong cơ thể của quý vị sẽ bị khóa lại để cho quý vị không thể nào bay lên được. Tuy vậy, nó sẽ mang đến cho quý vị trạng thái như vậy: quý vị sẽ đi bộ nhanh hơn và không cần ráng sức, và khi quý vị đi lên dốc, quý vị sẽ cảm thấy như có ai đẩy phía sau quý vị. Sự khai mở của vòng Ðại Chu Thiên cũng có thể mang lại một loại công năng: nó có thể làm cho khí giữa các bộ phận khác nhau trong cơ thể hoán đổi vị trí. Khí của tim di chuyển đến dạ dày; khí của dạ dày đi đến ruột,v..v. Khi công lực được gia tăng thêm, khả năng này biến thành công năng di chuyển đồ vật từ xa (công năng ban vận) nếu khí được phóng ra ngoài cơ thể. Loại vòng Chu Thiên này cũng còn được gọi là "Tý Ngọ Chu Thiên" hay là "Càn Khôn Chu Thiên". Tuy vậy các chuyển động của nó vẫn chưa đạt được mục đích là chuyển hóa bản thể. Còn có một vòng Chu Thiên tương tự khác nữa được gọi là vòng "Mão Dậu Chu Thiên". Ðây là cách chuyển vận của Mão Dậu Chu Thiên: nó phát xuất từ huyệt Hội âm hoặc huyệt Bách hội, di chuyển dọc theo phía ngoài của cơ thể nơi tiếp giáp giữa mặt âm và dương. Vòng Chu Thiên trong Pháp Luân Công lớn hơn các chuyển động của Kinh Lạc và Bát Mạch được bàn tới trong các pháp tu luyện trung bình. Nó là sự chuyển động của các kinh mạch xuyên tréo khắp cơ thể con người. Nó đòi hỏi tất cả các mạch phải được mở hoàn toàn ngay lập tức, và tất cả cùng nhau di chuyển. Những điều này đã được gắn sâu vào trong Pháp Luân Công của chúng ta, nên quý vị không cần phải cố ý luyện tập nó, cũng không cần phải hướng dẫn nó với ý nghĩ của quý vị. Nếu quý vị làm điều đó, quý vị sẽ đi sai đường. Tôi đã gắn khí cơ (bộ máy khí) bên ngoài cơ thể của quý vị trong lớp học. Nó luân chuyển một cách tự động. Khí cơ là thứ đặc biệt của sự tu luyện ở cao tầng, và là một phần của những gì làm cho sự tu luyện của chúng ta được tự động. Cũng như Pháp Luân, nó xoay chuyển không ngừng nghỉ, hướng dẫn tất cả các năng lượng bên trong kinh mạch của cơ thể chuyển động xoay tròn. Mặc dầu quý vị không có luyện tập vòng Chu Thiên, thật ra, những kinh mạch này đã được hướng dẫn xoay vòng, và phía ngoài cũng như phía sâu trong cơ thể đều cùng nhau chuyển động toàn diện. Chúng tôi sử dụng các bài tập để gia tăng sức mạnh của khí cơ hiện diện ở phía ngoài cơ thể.

(3) Khai mở kinh mạch

Mục đích khai mở kinh mạch là làm cho năng lượng chuyển động, để thay đổi các thành phần phân tử của tế bào và để chuyển hóa nó thành chất liệu ở cao tầng. Các kinh mạch của người không tu thì bị tắc nghẽn và rất là hẹp. Kinh mạch của người tu sẽ dần dần sáng sủa hơn, làm thông các vùng bị tắc. Kinh mạch của người tu lâu năm sẽ được nới rộng ra. Chúng sẽ còn nới rộng hơn nữa khi tu luyện ở cao tầng. Một số người có kinh mạch rộng như một ngón tay. Tuy vậy, sự khai mở các kinh mạch tự nó không phản ảnh các trình độ tu luyện, hoặc bề cao của Công. Nhờ tu luyện, các kinh mạch sẽ được sáng sủa hơn và nới rộng hơn, và dĩ nhiên sẽ liên kết với nhau để trở thành một khối đồng nhất. Tới lúc đó, người này không còn có kinh mạch hay các huyệt châm cứu nữa.

Trái lại, toàn thân của họ tất cả đều là kinh mạch và các huyệt châm cứu. Ngay cả đến lúc này, nó không có nghĩa là người này đã đạt được sự tu luyện. Nó chỉ phản ảnh một trình độ nào đó trong tiến trình tu luyện Pháp Luân Công. Khi đạt đến giai đoạn này, người ta đã đạt tới đoạn cuối của sự tu luyện thế gian pháp. Cùng lúc đó, nó mang đến một trạng thái giống như là sự xuất hiện ở bên ngoài của Tam Hoa Tụ Ðỉnh. Một số lớn công đã được phát triển, với mọi hình dạng, và cột trụ công cũng rất là cao. Thêm nữa, ba đóa bông đã xuất hiện trên đỉnh đầu, một bông giống như là hoa cúc và một bông khác là hoa sen. Cả ba đóa hoa đều quay tròn, và cùng lúc, thay phiên nhau xoay chung quanh chính nó. Mỗi đóa hoa có một cột trụ rất cao ở bên trên, cao tới tận trời. Ba cột trụ này cũng quay tròn và xoay chung quanh chính nó cùng lúc với các đóa hoa. Người ta sẽ cảm thấy bộ đầu trở nên nặng nề. Tới điểm này, người ta đang ở bậc cuối cùng của sự tu luyện thế gian pháp.

5. Ý niệm

Tu luyện Pháp Luân Công không kèm theo ý niệm. Ý niệm tự nó không đạt được gì cả, nhưng nó có thể đưa ra các mệnh lệnh. Cái mà thật sự thi hành là các công năng, nó có khả năng suy nghĩ của một linh thể và có thể nhận chỉ thị từ các tín hiệu đến từ bộ óc. Nhưng nhiều người, nhất là những người trong lĩnh vực khí công, có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Họ cho rằng ý niệm có thể làm được rất nhiều việc. Có người nói đến việc sử dụng ý niệm để phát triển các công năng, để mở thiên mục, để chữa bệnh và di chuyển đồ vật từ xa, v..v. Hiểu như vậy là sai. Ở các cấp thấp, người thường sử dụng ý niệm để điều khiển các giác quan và tứ chi. Ở các cấp cao, ý niệm của người tu tiến cao hơn một bậc, nó ra lệnh cho các quyền năng để thi hành các công tác. Nói cách khác, các công năng nhận mệnh lệnh từ ý niệm. Ðây là cách mà chúng ta xem xét ý niệm. Ðôi khi chúng tôi thấy một vị thầy khí công trị bệnh cho người khác. Các bệnh nhân nói rằng họ trở nên khá hơn ngay cả khi vị thầy chưa động đến ngón tay nữa, và họ nghĩ rằng bệnh được chữa bằng ý niệm. Thật ra, người ta sử dụng một loại của công năng và ra lệnh cho nó trị bệnh, hoặc làm điều gì khác.

Vì công năng di chuyển trong một không gian khác, người thường không thể thấy bằng mắt của họ. Những người không hiểu cho rằng đó là kết quả của ý niệm. Có người tin rằng ý niệm có thể dùng để trị bệnh, nhưng đó là hướng dẫn người ta đi lạc đường. Quan điểm này phải được làm sáng tỏ.

Ý nghĩ của con người là một loại tín hiệu, một loại năng lượng và cũng là một dạng của vật chất. Khi người ta nghĩ về các vấn đề gì, bộ óc phát ra một rung động. Ðôi khi nó thật là hữu hiệu khi niệm chú. Tại sao vậy. Vì vũ trụ cũng có tần số rung động của chính nó. Khi tần số câu chú của quý vị trùng hợp với tần số của vũ trụ, nó có thể có hiệu lực. Muốn cho chắc chắn có hiệu lực, nó phải là một chú rất nhỏ vì các điều tà ma không được phép tồn tại trong vũ trụ. Ý niệm cũng là một lối suy nghĩ đặc biệt. Pháp Thân của các thầy khí công cao cấp được kiểm soát và nhận mệnh lệnh từ ý nghĩ của bản thể chính. Pháp Thân cũng có suy nghĩ riêng của nó, nó có khả năng độc lập để tự giải quyết các vấn đề và thi hành các công tác. Nó là một cá thể hoàn toàn độc lập.

Nhưng cùng lúc, Pháp Thân hiểu ý nghĩ của bản thể chính của các thầy khí công và thi hành các công tác dựa theo các ý nghĩ đó. Chẳng hạn như nếu vị thầy Khí công muốn trị bệnh cho một cá nhân nào đó, Pháp Thân của ông ta sẽ đi đến đó. Nếu không có ý nghĩ đó, nó sẽ không đi. Khi nó thấy một điều gì thật tốt và nên làm, nó sẽ tự mình làm điều đó. Có thầy chưa đạt đến trạng thái giác ngộ. Có một số điều ông ta chưa được biết, nhưng Pháp Thân của ông ta đã biết rồi.
Ý niệm cũng bao gồm ý nghĩa của linh cảm. Linh cảm không đến từ chủ ý thức của con người. Kiến thức căn bản của chủ ý thức rất là hạn hẹp. Nó sẽ không làm được nếu chỉ dựa vào chủ ý thức để thử đưa ra giải pháp gì mà chưa có trong xã hội này. Linh cảm đến từ phụ ý thức. Có người tham gia vào các công trình sáng tạo hay nghiên cứu khoa học. Khi họ bị kẹt sau khi tận dụng bộ óc của họ, họ bỏ ngang, nghỉ xả hơi một hồi, hay là đi bộ ngoài trời. Đột nhiên, linh cảm đến với họ mà không cần suy nghĩ. Họ lập tức bắt đầu ghi chép mọi điều xuống một cách nhanh chóng.

Vì vậy họ đã sáng chế ra được điều gì. Ðây là vì khi chủ ý thức quá mạnh, nó kiểm soát bộ óc. Nó bị kẹt. Khi chủ ý thức buông lỏng, phụ ý thức bắt đầu hoạt động. Rồi nó kiểm soát bộ óc. Phụ ý thức, thuộc về một không gian khác, không bị kiềm chế bởi không gian này, và nó có khả năng sáng tạo những điều mới lạ. Nhưng phụ ý thức không thể vượt quá hay là cản trở các tình trạng của xã hội người thường, cũng không có thể ảnh hưởng đến sự tiến bộ của phát triển trong xã hội.
Linh cảm đến từ hai nguồn gốc. Một là do được cung cấp bởi phụ ý thức. Phụ ý thức không bị lạc giữa cạm bẫy của thế giới này và có thể tạo ra linh cảm. Nguồn gốc khác nữa đến từ các mệnh lệnh và hướng dẫn của một linh thể ở cao tầng. Khi được hướng dẫn bởi một linh thể ở cao tầng, tâm người ta đã được mở rộng và có thể sáng tạo những thứ thật quan trọng. Sự phát triển toàn vẹn của xã hội và của vũ trụ có các nguyên lý riêng của nó. Không có gì xảy ra do sự ngẫu nhiên hết.

6. Tầng thứ tu luyện của Pháp Luân Công

(1) Tu luyện ở cao tầng

Pháp Luân Công tu luyện ở một cấp thật cao, vì vậy công được phát sinh rất mau. Ðại đạo rất đơn giản và dễ dàng. Trên căn bản tổng quát, Pháp Luân Công có rất ít động tác. Tuy vậy, nó kiểm soát tất cả các bộ phận của cơ thể, kể cả những thứ sẽ được sinh ra. Chừng nào tâm tính có thể được tăng lên, công sẽ tăng thật mau, nó đòi hỏi rất ít cố gắng của ý định, hay sử dụng phương pháp đặc biệt nào, hay bắt lò luyện đan. Dựa vào sự hướng dẫn của ý định có thể rất là phức tạp và có thể dễ dàng đi sai lệch. Nơi đây chúng tôi cung cấp một lối tu luyện thích hợp nhất và tốt nhất, tuy vậy cũng là khó nhất. Ðể cho người tu đạt đến trạng thái Thân Trắng Như Sữa (nãi bạch thể), nó sẽ mất hơn chục năm, nhiều chục năm, hay ngay cả lâu hơn nữa theo các pháp môn khác. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ mang quý vị đến trạng thái này ngay lập tức. Trình độ này có lẽ đã vượt qua trước khi quý vị ngay cả cảm nhận được nó. Nó có lẽ kéo vài khoảng vài giờ. Sẽ có một ngày quý vị cảm thấy rất nhạy cảm, và chỉ một lúc sau, quý vị sẽ không còn cảm thấy nhạy cảm như vậy nữa. Thật ra, quý vị vừa mới trải qua một cấp bậc lớn.

(2) Các hình thức biểu lộ của công

Sau khi trải qua sự điều chỉnh của cơ thể vật chất, học viên Pháp Luân Công đã đạt đến một trạng thái thích hợp cho việc tu luyện Ðại Pháp. Ðây là trạng thái ‘nãi bạch thể’. Công chỉ có thể được tạo thành sau khi chúng được điều chỉnh tới trạng thái này. Người có thiên mục mở ở cấp cao có thể thấy công phát triển trên làn da của người đó, rồi nó được thu hút vào trong cơ thể của người tu. Kế đó nó được tạo thành lần nữa và hấp thụ vào trong cơ thể lần nữa, và cứ tiếp tục như vậy, đi từ lớp này đến lớp khác, đôi khi rất nhanh chóng. Ðây là công của đợt đầu. Sau khi công đã được phát triển trong đợt đầu, cơ thể của người tu không còn là một cơ thể thường nữa. Sau khi đạt đến “nãi bạch thể” người ta sẽ không bao giờ bị bệnh nữa. Cơn đau có thể xuất hiện đó đây hay là sự khó chịu ở vùng nào đó, tương tự như bệnh tật, nhưng nó không phải là bệnh. Nó gây ra bởi nghiệp lực. Sau đợt phát triển công lần thứ nhì, các linh thể đã tăng trưởng thật lớn. Chúng có thể di chuyển và trò chuyện. Ðôi khi chúng nó được sinh sản rải rác, đôi khi tụ lại rất đông đúc. Chúng cũng có thể nói chuyện với nhau nữa. Một khối năng lượng thật lớn được chứa đựng trong các linh thể này, nó được dùng để thay đổi bản thể thật sự.
Khi tu luyện theo Pháp Luân Công đến một cấp thật cao, đôi khi Hài-nhi (Anh hài) xuất hiện cùng khắp cơ thể con người. Chúng nó rất là nghịch ngợm, thích nô đùa và rất rộng lượng. Cũng có thể một linh thể khác được sinh ra. Ðó là Nguyên Anh. Nó ngồi trên tòa sen trông thật đẹp. Nguyên Anh được sinh ra do sự tương hội giữa Âm và Dương trong cơ thể con người. Người tu nam cũng như nữ đều có thể luyện thành Nguyên Anh. Lúc đầu Nguyên Anh rất nhỏ, nhưng nó lớn dần, và cuối cùng nó to lớn cũng bằng và trông giống như người tu. Nó ở phía trong cơ thể của người tu. Khi người có công năng nhìn người đó, họ sẽ nói rằng người đó có hai cơ thể. Thật ra, người đó đã luyện thành cơ thể thật của mình. Thêm vào đó, có nhiều Pháp Thân cũng có thể được phát sinh nhờ sự tu luyện. Một cách tổng quát, các công năng được phát triển trong vũ trụ, tất cả đều có thể được phát triển trong Pháp Luân Công; các công năng được phát triển trong các pháp môn tu luyện khác, tất cả cũng được bao gồm trong Pháp Luân Công.

(3) Tu luyện xuất thế gian pháp

Nhờ tập luyện, người tu làm cho các kinh mạch của mình nới rộng hơn và rộng hơn nữa, nối liền với nhau thành một khối. Ðó là tu luyện đến trạng thái không còn kinh mạch hay huyệt châm cứu nữa. Nhưng nói khác đi, kinh mạch và các huyệt châm cứu hiện diện ở khắp nơi. Ðiều này cũng chưa có nghĩa là quý vị đạt được Ðạo. Nó chỉ phản ảnh một trình độ nào đó trong tiến trình tu luyện Pháp Luân Công. Khi đạt đến trạng thái này, người ta đi đến cuối đường của sự tu luyện Thế Gian Pháp. Công phát triển được rất là mạnh mẽ, và có đủ mọi hình dáng. Cột trụ công cũng rất cao. Thêm vào đó, ba đóa hoa xuất hiện trên đỉnh đầu. Tới lúc đó, người này đã hoàn tất bước cuối cùng của Thế Gian Pháp.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hoàn thiện bản thân - Chương 2: Pháp Luân Công

Xem nửa dưới đoán vận mệnh cuộc đời

Nhân tướng học không chỉ xem xét vận mệnh của một con người qua tướng mặt, tướng tay, hay nốt ruồi, mà còn xem cả bộ phận khác của cơ thể như mông, chân… Qua việc xem tướng nửa dưới cơ thể, bạn cũng có thể biết được vận mệnh cuộc đời của mình về sau ra sao.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mông

Người gầy thì thường không có mông (mông lép), người béo thường có mông to. Nếu người gầy mà không có mông thì vận trình không bị ảnh hưởng lắm nhưng nếu người béo mà mông lại lép thì cả vận trình sức khỏe và vận trình sự nghiệp đều vô cùng xấu.    2. Chân dài và thẳng

Những người con gái mới lớn thường cho rằng phải gầy mới đẹp, nên luôn muốn mình gầy một chút. Theo nhân tướng học thì chân thon dài tất nhiên là đẹp nhưng nếu gầy quá mức thì không tốt, càng kiêng kỵ nếu “da bọc xương”, nhất là phần bụng chân.

Xem nua duoi doan van menh cuoc doi hinh anh
 
3. Đùi thon
Xét theo góc độ y tế thì đùi thon cho thấy cơ thể người phụ nữ đó bị thiếu chất dinh dưỡng, tâm trạng rất hay bồn chồn, lo lắng, dễ mắc các bệnh về đường tiêu hóa, mất ngủ, suy nhược thần kinh, thậm chí là trầm cảm và có cách sống hơi lập dị một chút. 
 
Những người sở hữu một cặp đùi thon thường rất khôn ngoan nhưng đôi khi lại quá nhạy bén, gần như lố bịch. Đối với tình yêu thì với người này có cũng được mà không thì cũng chẳng sao, nói chung là không quan tâm. Cho nên, đùi thon chưa hẳn đã là may mắn. 
 
4. Chân rắn chắc

Chân tròn và rắn chắc, nhất là phần bụng chân, với phụ nữ thì đây là kiểu chân “bắp chuối”, không đẹp cho lắm nhưng thực ra lại rất tốt. Những người phụ nữ có chân như vậy thường rất kiên định, đoan trang, điềm tĩnh, kiên nhẫn và sống rất tình cảm. Ngoài ra, những người này còn rất giỏi trong việc tề gia nội trợ, họ luôn có thái độ lạc quan, vô cùng chung thủy trong tình yêu, đây đích thị là người mẹ hiền, người vợ đảm. 
 
5. Lưng ngắn chân dài

Những người này thường nay đây mai đó, cả đời lao lực vất vả, cuộc sống gia đình không ổn định. Người phụ nữ có nhan sắc một chút thì cũng sẽ được hưởng nhiều tài lộc nhưng khả năng tích lũy được tiền bạc là rất thấp.   6. Lưng dài chân ngắn

Lưng dài chân ngắn là người có quyền lực, rất có phúc khí, phù hợp với các công việc quyền cao chức trọng, phúc lộc song toàn, cả đời an nhàn và tài vận cũng vô cùng hanh thông.    Phương Thùy (Theo 99166)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem nửa dưới đoán vận mệnh cuộc đời

Vật phẩm phong thủy hồ ly –

Sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly đen, vì nó là màu của Cửu vĩ Hồ. Chất liệu tốt nhất của linh vật phong thuỷ là đá tự nhiên. Trong truyền thuyết Trung Quốc, Hồ Ly là tên gọi của cáo đã tu luyện thành tinh. Và trong các loài vật, thì loài Cáo là

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly đen, vì nó là màu của Cửu vĩ Hồ. Chất liệu tốt nhất của linh vật phong thuỷ là đá tự nhiên.

Trong truyền thuyết Trung Quốc, Hồ Ly là tên gọi của cáo đã tu luyện thành tinh. Và trong các loài vật, thì loài Cáo là loài thông minh nhất sau con người.

vật phẩm phong thủy hồ ly

– Theo truyền thuyết, Hồ Ly có thể tu hành luyện đạo; tu một trăm năm thì ba cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là “Yêu Hồ”, tu luyện đến một nghìn năm thì chuyển sang loài “Lục vĩ ma hồ” (Cáo ma 6 đuôi), và cứ như vậy; khi đến được cảnh giới là chín đuôi (Cửu vĩ thiên hồ) thì thế gian đích thị vô thượng cảnh giới; không ai rõ đích xác phải bao năm mới đạt được đến cảnh giới. Mỗi chiếc đuôi là một mạng của Hồ Ly. Muốn giết chết một Hồ ly thì phải chặt hết các đuôi trước.

– Tất cả các Hồ Ly thường là Cáo cái, các Hồ ly con sinh ra được là do Hồ ly mẹ đã uống thuốc tiên ngàn năm. Hồ ly cái khi hoá thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kì lạ. Các Hồ ly cái thường sử dụng ưu điểm đó để hớp hồn đàn ông và thực hiện các mục đích đã được vạch ra trước.

– Hồ Ly vốn là Cáo nên cũng có nhiều đặc tính giống Cáo, đó là rất thích ăn thịt gà. Tuy nhiên màu lông của Hồ ly thì khác hẳn so với cáo thường. Tuỳ theo số năm tu luyện mà chúng đổi màu theo đó. Tương truyền, lông của Cửu vĩ hồ thường đen tuyền. Hồ Ly thường sống trong các hang động lạnh vì chúng ưa lạnh. Mỗi khi ra khỏi hang động đều thay đổi hình dạng. Chỉ khi chết Hồ Ly mới trở lại y nguyên hình dạng của một con Cáo. Các lão Hồ Ly (Hồ Ly già, thường là đã sống được khoảng ngàn năm tuổi) có khả năng tiên đoán rất chính xác. Hồ Ly cũng có tổ chức bầy đàn. Thủ lĩnh tối cao nhất của Hồ Ly thường được gọi là “Hồ cung chủ”. Chức vị đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là truyền cho đứa con mà “Hồ cung chủ” đó yêu thương nhất hoặc tài giỏi nhất.

– Có tương truyền rằng Đắc Kỷ- mỹ nữ thời Trụ Vương là một “Hồ cung chủ” của Hồ Ly thời đó. Rất nhiều thành ngữ có yếu tố nói về sắc đẹp của Đắc Kỷ hoặc sắc đẹp hồ ly để nói về những nữ nhân có sắc đẹp làm mê muội những nam nhân có quyền lực.

– Và theo quan niệm trong dân gian Tung Quốc từ xưa đến nay, nếu sở hữu mặt đeo Hồ Ly hoặc tượng Hồ Ly, nhất là đối với phụ nữ, thì sẽ mang lại sự may mắn vượt bậc về đường tình duyên, hôn nhân, giữ gìn hạnh phúc lứa đôi. Và Hồ Ly rất thích số Tám ( Bát- Phát) nên người sở hữu nó sẽ gặp thêm nhiều may mắn về đường tài lộc, sự tiến triển trong sự nghiệp.

– Khi sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly thạch anh hồng, hồ ly đá mắt hổ vàng, hồ ly đá mã não đen, quý hơn nữa là Hồ Ly thạch anh đen vì nó là màu của Cửu vĩ ( Hồ Ly chín đuôi ) cảnh giới cao nhất của Hồ Ly.
– Chất liệu tốt nhất là đá tự nhiên như đá thạch anh, đá mắt hổ, đá mã não…

– Không nên sử dụng Hồ Ly làm bằng đồng hoặc chất liệu nhân tạo, vì như vậy sẽ mang nhiều “sát khí” hơn là “cát khí”, không sử dụng Hồ Ly nếu không biết rõ nguồn gốc xuất xứ, chất liệu hình thành để tránh trường hợp bị tác dụng ngược.

– Nếu sử dụng tượng Hồ Ly nên trưng ở phòng ngủ hoặc để ở nơi làm việc ( trong góc khuất), nên chọn hướng, ngày giờ tốt và hợp tuổi để an vị. Và nhờ sự tư vấn của cửa hàng phong thuỷ nơi bạn đến.

– Khi sử dụng mặt dây chuyền đeo cổ mặt Hồ Ly thì nên tẩy uế trước khi sử dụng bằng cách dùng rượu trắng lau qua. Khác với Tỳ Hưu, Thiềm Thừ…, Hồ Ly vẫn có thể đeo bên mình khi làm chuyện phòng the, vợ chồng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vật phẩm phong thủy hồ ly –

Các ngày “Kỵ xuất nhập tài” kiêng xuất nhập tiền –

Tháng Giêng tránh ngày Tị Tháng Hai tránh ngày Ngọ Tháng Ba tránh ngày Mùi Tháng Tư tránh ngày Hợi Tháng Năm tránh ngày Tý Tháng Sáu tránh ngày sửu Tháng Bảy tránh ngày Thân Tháng Tám tránh ngày Dậu Tháng Chín tránh ngày Tuất Tháng Mười tránh ngày D

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

347

  1. Tháng Giêng tránh ngày Tị
  2. Tháng Hai tránh ngày Ngọ
  3. Tháng Ba tránh ngày Mùi
  4. Tháng Tư tránh ngày Hợi
  5. Tháng Năm tránh ngày Tý
  6. Tháng Sáu tránh ngày sửu
  7. Tháng Bảy tránh ngày Thân
  8. Tháng Tám tránh ngày Dậu
  9. Tháng Chín tránh ngày Tuất
  10. Tháng Mười tránh ngày Dần
  11. Tháng Mười một tránh ngày Mão
  12. Tháng Mười hai tránh ngày Thìn


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các ngày “Kỵ xuất nhập tài” kiêng xuất nhập tiền –

Dự đoán vận may năm 2015 của người tuổi Tuất –

Bính Tuất (1946, 2006) 1. Sinh lực 000: Đây là vận may quan trọng nhất cần tìm hiểu, nó cho biết liệu có mối nguy hiểm tiềm ẩn nào đe doạ tính mạng của bạn hay không. Sự đe doạ tính mạng có thể xuất hiện theo nhiều kiểu khác nhau và có thể xuất hiện
Dự đoán vận may năm 2015 của người tuổi Tuất –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dự đoán vận may năm 2015 của người tuổi Tuất –

Những điềm báo tâm linh trong dân gian (p2)

Cha ông ta từ xưa thường nhìn các hiện tượng điềm báo tâm linh để dự đoán trước những điều sẽ xảy ra. Có nhiều trường hợp khá chính xác.
Những điềm báo tâm linh trong dân gian (p2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật?

Những điềm báo tâm linh trong dân gian (p1)
Nhung diem bao tam linh trong dan gian hinh anh
 
4. Hắt hơi

Người xưa khi hắt hơi nhảy mũi, thường kêu lên câu: "một cái có tài, hai cái có lợi, ba cái có lộc mang về", đây được coi là điềm báo tâm linh lành.
 
Giờ Tý (23 – 01 giờ): Được mời dự tiệc thịnh soạn
 
Giờ Sửu (01 – 03 giờ): Có người mời hợp tác có lợi
 
Giờ Dần (03 – 05 giờ): Có cuộc hẹn về tình cảm với người khác phái
 
Giờ Mão (05 – 07 giờ): Có quà tặng
 
Giờ Thìn (07 – 09 giờ): Có lộc ăn uống
 
Giờ Tỵ (09 – 11 giờ): Có quý nhân giúp đỡ, mong muốn có thể thành hiện thực
 
Giờ Ngọ (11 – 13 giờ): Người từ xa đưa đến tài lộc
 
Giờ Mùi (13 – 15 giờ): Có tài lộc đến
 
Giờ Thân (15 – 17 giờ): Có tin tiền hung hậu cát
 
Giờ Dậu (17 – 19 giờ): Có người nhờ cậy và được trả công, nếu là người khác phái còn gây được tình cảm.
 
Giờ Tuất (19 – 21 giờ): Có người khác phái đang nhắc tên mình, đang tỏ ý muốn gặp gỡ.
 
Giờ Hợi (21 – 23 giờ): Đang lo nghĩ về tiền bạc sẽ được giải quyết êm đẹp.
 
5. Thịt giật Những thớ thịt từ mặt đến vai bỗng giật liên hồi, nhất là tại lưỡng quyền thường là tin xấu. Là điềm báo tâm linh cho đương sự những tin tức sẽ xảy đến trong thời gian gần.
 
Giờ Tý (23 – 01 giờ): Được tin về tiền bạc bất ngờ.
 
Giờ Sửu (01 – 03 giờ): Có người mang tin vui đến nhà.
 
Giờ Dần (03 – 05 giờ): Có cãi nhau, nên nhường nhịn sẽ được yên thân.
 
Giờ Mão (05 – 07 giờ): Có người đến nhờ vả.
 
Giờ Thìn (07 – 09 giờ): Đề phòng có tai nạn cho người thân trong gia đình.
 
Giờ Tỵ (09 – 11 giờ): Có khách nhờ giúp đỡ, công việc mang đến nhiều tài lộc.
 
Giờ Ngọ (11 – 13 giờ): Có kẻ tiểu nhân đang gièm pha.
 
Giờ Mùi (13 – 15 giờ): Có của hoạnh tài đưa đến.
 
Giờ Thân (15 – 17 giờ): Có tin về tiền bạc, nhưng phải khiêm nhường, đừng hãnh tiến mới thành công.
 
Giờ Dậu (17 – 19 giờ): Hao tài, mang tiếng thị phi.
 
Giờ Tuất (19 – 21 giờ): Có người thân đến nhà.
 
Giờ Hợi (21 – 23 giờ): Công việc đang lo nghĩ buồn phiền bỗng hóa thành công, đem tài lộc về nhà.
 
6. Hồi hộp Khi hồi hộp là tự nhiên trong người xảy ra hiện tượng tim đập liên tục và nhanh như đang bị mệt, cũng là điềm báo tâm linh.
 
Giờ Tý (23 – 01 giờ): Có người khác phái có cảm tình, đang tưởng nhớ đến mình.
 
Giờ Sửu (01 – 03 giờ): Đề phòng tai ương họa gửi từ những người xung quanh.
 
Giờ Dần (03 – 05 giờ): Có người mời ăn uống, nhưng hao tài phí sức.
 
Giờ Mão (05 – 07 giờ): Có người đến nhờ cậy, coi chừng bị lừa đảo, nếu là người đồng phái thì có tài lộc đến.
 
Giờ Thìn (07 – 09 giờ): Có tin vui, có của đến nhà.
 
Giờ Tỵ (09 – 11giờ): Nếu chưa lập gia đình thì đây là cái hẹn trong tình yêu bền vững; đã có gia đình không nên tiến xa hơn mức xã giao.
 
Giờ Ngọ (11 – 13 giờ): Sẽ có cuộc họp mặt ngẫu nhiên, từ tiền bạc đến tình cảm.
 
Giờ Mùi (13 – 15giờ): Duyên phận đến nhưng hậu vận không thành sự thật.
 
Giờ Thân (15 – 17 giờ): Có tin xa đưa đến.
 
Giờ Dậu (17 – 19 giờ): Có người thân quen đến thăm hỏi và giúp đỡ.
 
Giờ Tuất (19 – 21 giờ) : Có người mời hợp tác, nên nhận sẽ có lợi nhiều hơn có hại.
 
Giờ Hợi (21 – 23giờ): Đề phòng có tai nạn, nếu gặp sẽ hao tài và thương tật.
ST
 
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điềm báo tâm linh trong dân gian (p2)

Tuổi Bính Dần nên kinh doanh gì hợp phong thủy –

Có rất nhiều người khi bắt đầu một công việc đều luôn đặt ra câu hỏi tuổi mình hợp với nghề gì? Ngoài việc xét về ưu điểm và khả năng của bản thân, chúng ta còn xem xét nghề nghiệp hợp phong thủy. Việc đó có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến sự nghiệp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

công danh sau này. và tuổi Bính Dần cũng vậy, không ngoại lệ. Tuổi bính dần 1986 nên kinh doanh gì hợp phong thủy luôn là vấn đề mà nhiều người thắc mắc,  như đã nói ở trên thì theo họ đều này quyết định trực tiếp đến sự nghiệp cũng như công danh của họ sau này. Để giúp  giải đáp được vấn đề này. Hãy dành chút thời gian đọc bài viết sau đây sẽ giúp bạn làm rõ từng vấn đề về tính cách cũng như nghệ nghiệp mà bạn nên lựa chọn.

Nội dung

  • 1 Tử vi tuổi Bính Dần 1986
    • 1.1 Xét về mặt tổng quan
    • 1.2 Vận hạn cuộc đời
    • 1.3 Các mối quan hệ
    • 1.4 Tính cách của người tuổi bính dần 1986
  • 2 Tuổi bính dần 1986 nên kinh doanh gì hợp phong thủy

Tử vi tuổi Bính Dần 1986

Người sinh Năm 1986 tức năm Bính Dần
Giải thích: Sơn Lâm Chi Hổ – Hổ trong rừng
Thuộc Mệnh: Hỏa
Giải nghĩa : Lửa trong lò

Xét về mặt tổng quan

Theo thuyết Phật Giáo, tuổi này được Hư Không Tàng Bồ Tát bảo hộ, Đại Nhật Như Lai ban phúc, Bất Động Tôn ban trí tuệ, Tỳ Sa Môn hộ mệnh. Số người trung phú, sống xa quê cha mẹ, vì vậy tuổi này nhiều phen vất vả, khó nhọc. Tuổi trẻ và trung niên thì vật chất chưa ổn, gần gìa họ mới phú quý nếu phúc phận khá sinh được giờ tốt. Tuổi này táo bao, liều lĩnh, tính nóng như lửa nhưng xong lại đâu vào đấy. Bính dần thông minh, khéo tay, có khẳ năng tập trung cao và tận tâm tận lực làm việc. Họ được gần quan trên ( như là thư ký, cần vụ…. )

Vận hạn cuộc đời

Tuổi này sống, làm ăn xa sinh quán mới yên vui, Tuổi được hưởng thừa kế của ông cha, nhưng xung khắc với mẹ cha, sống xa cách anh em, tình thân nhạt nhẽo. Bính Dần có tuổi thọ trên 80 tuổi. Người ít gặp nạn tai, có gặp cũng bình an qua khỏi. Người này có tính độc lập khá cao không thích cậy nhờ ai, có tính thù lâu. Tuổi Bính Dần rất dễ phải hai lần vợ chồng mới ổn. Hạn xấu năm 18, 19, 35, 36

Các mối quan hệ

Tuổi này lấy cùng tuồi Dần thì tốt hay tuổi Hợi thì yên vui, vì chế ngự được tính nóng của tuổi Dần mà sống hòa thuận với nhau. Ví dụ Ất Hợi, Kỷ Hợi, Đinh Hợi Bính Dần có thể kết bạn với tuổi Tỵ Tuổi Hợi, Tuổi Sửu. Tránh tuổi Thân vì hay đố kỵ cảnh giác nhau. Tuổi Bính Dần hợp tác làm ăn với tuổi Tỵ , Sửu thì tốt

Tính cách của người tuổi bính dần 1986

Đặc điểm đầu tiên của nhũng người thuộc tuổi Bính Dần chính là lòng dũng cảm, tính cạnh tranh và sự khó lường. Cực kỳ ghét phải tuân thủ mệnh lệnh và không hài lòng với quyền lực của người khác, họ chọn làm lãnh đạo hay là kẻ nổi loạn. Bên cạnh đó, những người thuộc cung tuổi này thường lại rất nhạy cảm, giàu cảm xúc, quyến rũ nhưng hung hăng, bướng bỉnh và hay nghi ngờ người khác.

Đối với những người thuộc tuổi này, họ thường giải quyết tất cả những vấn đề trong cuộc sống cũng như công việ của mình bằng những đợi bùng nổ năng lượng ngắn ngủi, để rồi gục ngã vì kiệt sức. Tuy nhiên, họ lại là những người có sự bùng nổ vô cùng nhanh chóng, nhưng mặt trái của nó chính là phương pháp làm việc thế này về lâu dài có thể ảnh hưởng tới sức khỏe. Vì vậy, những ai thuộc tuổi Bính Dần, đừng quan trọng hóa tất cả những đề mà mình gặp phải và lời khuyên cho học chính là cần học cách điều chỉnh tốc độ để có thể hoạt động lâu hơn mà không kiệt sức quá sớm.

Tuổi bính dần 1986 nên kinh doanh gì hợp phong thủy

Và theo phong thủy, những người có tuổi Bình Dần thường không nên lựa chọn những ngành nghề kinh doanh, bởi điều này thực sự rất khắc với tuổi của họ.

Đối với tuổi này, thì những ngành nghề hợp phong thủy mà họ nên chọn chính là: diễn viên, nghệ sĩ, nghệ sĩ hài, nhạc sĩ, nhà văn, tài xế, phi công, chiêu đãi viên, nhân viên du lịch, nhân viên quảng cáo, phụ trách nhân sự.

Bên cạnh đó, những người thuộc tuổi Bính Dần thường gặp rất nhiều tài lộc và may mắn, tuy nhiên họ lại là những người rất thích tiêu tiền và rất hào phóng. Họ có thể khá bốc đồng trong chi tiêu vì biết rằng mình luôn có thể kiếm nhiều hơn thế.

Mặt khác, bằng cách này hay cách khác, tùy theo vận may, người sinh năm Bính Dần có thể phát hiện ra mỏ vàng ngay trước khi phá sản hoàn toàn và đặc biệt chính là họ sẵn sàng để mất toàn bộ tài sản, nếu điều đó đồng nghĩa với việc họ có cơ hội kiếm được gấp đôi.

Mong rằng, với những nội dung của bài viết trên đây, sẽ giúp cho những cá nhân đang thắc mắc vấn đề: Tuổi bính dần 1986 nên kinh doanh gì hợp phong thủy có thể hiểu hơn, cũng như chọn đúng ngành nghề có lợi cho mình.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Bính Dần nên kinh doanh gì hợp phong thủy –

Lục thập hoa giáp là gì?

Cách tính năm, tháng, ngày, giờ theo can chi Lục thập hoa giáp là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ 60 Cách tính năm, tháng, ngày, giờ đều theo hệ số đó, gọi là lịch can chi. có 6 chu kỳ hàng can tức là có 6 giáp mà mỗi chu kỳ hàng can hay mỗi giáp gồm 10 can (đó là: Giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí) nên gọi là lục thập hoa giáp.
Lục thập hoa giáp là gì?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm: Hết một vòng 60 năm từ giáp tý đến quí hợi. Từ năm thứ 61 trở lại giáp tý, năm thứ 121,181 ... cũng trở lại giáp tý. Đó là một điều trở ngại cho việc nghiên cứu sử, nếu không ghi chiều vua nào thì rất khó xác định. Một gia đình có ông và cháu cùng một tuổi, có khi tính tuổi cháu nhiều hơn tuổi ông, vậy nên khi tình thành dương lịch cần phải chú ý cộng trừ bội số của 60. Con số cuối cùng của năm dương lịch ứng với các can:
0: canh (ví dụ canh tý 1780)
2: nhâm
3: quí
4: giáp
5; ất (ví dụ ất dậu 1945)
6: bính
7: đinh
8: mậu
9: Kỷ

Bảng tính đổi năm lịch can chi thành năm dương lịch

Cách tính: Cộng hoặc trừ bội số 60 còn dư bao nhiêu, đối chiếu bảng dưới đây sẽ biết năm Can- Chi
Chi/ can giáp ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí
04
16
28
40
52
Sửu
05
17
29
41
53
Dần 54
06
18
30
42
Mão
55
07
19
31
43
Thìn 44
56
08
20
32
Tỵ
45
57
09
21
33
Ngọ 34
46
58
10
22
Mùi
35
47
59
11
23
Thân 24
36
48
00
12
Dậu
25
37
49
01
13
Tuất 14
26
38
50
02
Hợi
15
27
39
51
03
Tháng: Tháng giêng âm lịch luôn luôn là tháng dần, tháng hai là mão, cứ tuân theo thứ tự đó đến tháng 11 là tý, tháng chạp là Sửu (12 tháng ứng với 12 chi).
Tháng giêng của năm có hàng can giáp hoặc kỷ (ví dụ năm giáp tý, kỷ hợi) là tháng bính dần.
Tháng giêng của năm có hàng can bính, tân là tháng canh dần
Tháng giêng của năm có hàng can đinh, nhâm là tháng nhâm dần.
Tháng giêng của năm có hàng can mậu quí là tháng giáp dần
Trường hợp năm có tháng nhuận thì cứ theo tháng chính (không đổi).

Ngày: ngày âm lịch và ngày can chi chênh lệch nhau rất khó xác định. vị âm lịch trong 19 năm có 7 tháng nhuận, lại có tháng đủ 30 ngày tháng thiếu29 ngày theo trình tự không nhất định, nên tính ngày can chi theo dương lịch dễ hơn (xem bảng cách đổi ngày can chi sang ngày dương lịch). Giờ: một ngày đem có 24 giờ nhưng theo can chi chỉ có 12 giờ. Giờ tý (chính tý lúc 0 giờ). Giờ ngọ (chính ngọ lúc 12 giờ trưa).
Ban ngày tính giờ dần (tức 4 giờ sáng) đến giờ thân lúc 4 giờ chiều. Ban đêm tính từ giờ dậu đến hết giờ sửu. Nếu theo lịch can thì bắt đầu từ 23 giờ 30 phút đã sang giờ tý của ngày hôm sau.

Kết hợp Lục thập hoa giáp với Âm Dương ngũ hành để tính tuổi xung khắc với ngày, tháng, năm can chi định chọn: Tương xung: Có Lục xung hàng chi:
- Tý xung ngọ
- Sửu xung Mùi
- Dần xung Thân
- Mão xung Dậu
- Thìn xung Tuất
- Tị Xung Hợi

Và tứ xung hàng can:
- Giáp xung canh,
- ất xung tân,
- bính xung nhâm,
- đinh xung quí, (mậu kỷ không xung).
Nhưng khi kết hợp lục thập hoa giáp theo hệ số 60, có 5 lần hàng chi (12) gặp 6 hàng can (10), quy vào ngũ hành tính tương sinh tương khắc thì có 1 lần tương hoà, 2 lần tương sinh, chỉ còn lại 2 lần xung khắc (hàng chi). Thí dụ: Tính xem ngày (hoặc tháng, hoặc năm) giáp tý xung khắc với tuổi nào?
Tính hàng chi: tý xung ngọ, vậy giáp tý (xung với giáp ngọ, canh ngọ, bính ngọ, nhâm ngọ, và mậu ngọ)
Xem bảng "Kết hợp Lục thập hoa giáp với Ngũ hành" ta thấy:
Giáp tý thuộc kim:
Giáp ngọ thuộc kim vì thế tương hoà.
Canh ngọ thuộc thổ, bính ngọ thuộc thuỷ vì thế đều tương sinh chỉ có nhâm ngọ thuộc mộc, mậu ngọ thuộc hoả là tương khắc.

Tính hàng can: Giáp xung canh.
Giáp tý thuộc kim:
Canh tuất, canh thìn đều thuộc kim vì thế tương hoà
Canh tý, canh ngọ đều thuộc thổ đều tương sinh
Chỉ có canh Dần và canh thân thuộc mộc là tương khắc.
Vậy ngày (hoặc tháng năm), giáp tý chỉ có 4 tuổi xung khắc là nhâm ngọ, mậu ngọ, canh dần, canh thân:

Tương hình: Theo hàng chi có :
- tý và mão (một dương, một âm điều hoà nhau).
- Tỵ và dần thân (tị âm điều hoà được với dần thân dương, chỉ còn dần và thân tương hình nhau, nhưng đã tính ở lục xung ).
Theo luật điều hoà âm dương, chỉ khắc nhau trong trường hợp cả hai đều âm hoặc cả hai đều dương. Vì vậy chỉ còn lại 2 trường hợp tự hình nhau: Thìn với thìn, ngọ với ngọ.
Tương hại: cũng là xấu. có 6 cặp tương hại nhau:
Tý và mùi, sửu và ngọ, dần và tị, mão và thìn, thân và hợi, dậu và tuất.
Nhưng khi kết hợp với can chi, theo luật âm dương, tự triệt tiêu.

-Tóm lại: Tính cả xung, khắc, hình, hại, trong số 60 can chi, chỉ có 2-4 ngày không hợp mệnh thôi, hơn nữa còn tuỳ theo mức độ xung khắc mạnh hay yếu (tuỳ theo bản mệnh).

Bảng đối chiếu Lục thập hoa giáp ngũ hành và cách tính tuổi xung khắc
Số Ngày tháng năm Ngũ hành Tuổi xung khắc
1 Giáp tý Vàng trong biển (Kim) mậu ngọ, nhâm ngọ, canh dần, canh thân
2 ất sửu
Kỷ mùi, quí mùi, tân mão, tân dậu
3 Bính dần Lửa trong lò (Hoả) Giáp thân, nhâm thân, nhâm tuất, nhâm thìn
4 Đinh mão
ất dậu, quí dậu, quí tị, quí hợi
5 Mậu thìn Gỗ trong rừng (Mộc) Canh tuất, bính tuất
6 Kỷ tị
Tân hợi, đinh hợi
7 Canh ngọ Đất ven đường (Thổ) Nhâm tý, bính tý, giáp thân, giáp dần
8 Tân mùi
Quí sửu, đinh sửu, ất dậu, ất mão
9 Nhâm thân Sắt đầu kiếm (Kim) Bính dần, canh dần, bính thân
10 Quí dậu
Đinh mão, tân mão, đinh dậu
11 Giáp tuất Lửa trên đỉnh núi (hoả) Nhâm thìn, canh thìn, canh tuất
12 ất hợi
Quí tị, tân tị, tân hợi
13 Bính tý Nước dưới lạch (Thuỷ) Canh ngo, mậu ngọ
14 Đinh Sửu
Tân mùi, kỷ mùi
15 Mậu dần Đất đầu thành (Thổ) Canh thân, giáp thân
16 Kỷ mão
Tân dậu, ất dậu
17 Canh thìn Kim bạch lạp (Kim) Giáp tuất, mậu tuất, giáp thìn
18 Tân tị
ất hợi, kỷ hợi, ất tị
19 Nhâm ngọ Gỗ dương liễu (Mộc) Giáp tý, canh ty, bính tuất, bính thìn
20 Quí mùi
ất sửu, tân sửu, đinh hợi, đinh tị
21 Giáp thân Nước trong khe (Thuỷ) Mậu dần, bính dần, canh ngọ, canh tý
22 ất dậu
Kỷ mão, đinh mão, tân mùi, tân sửu
23 Bính tuất Đất trên mái nhà (Thổ) Mậu thìn, nhâm thìn, nhâm ngọ, nhâm tý
24 Đinh hợi
Kỷ tị, quí tị, quí mùi, quí sửu
25 Mậu tý Lửa trong chớp (Hoả ) Bính ngọ, giáp ngọ
26 Kỷ sửu
Đinh mùi, ất mui
27 Canh dần Gỗ tùng Bách (Mộc) Nhâm thân, mậu thân, giáp tý, giáp ngọ
28 Tân mão
Quí dậu, kỷ dậu, ất sửu, ất mùi
29 Nhâm thìn Nước giữa dòng (Thuỷ) Bính tuất, giáp tuât, bính dần
30 Quí tị
Đinh hợi, ất hợi, đinh mão
31 Giáp ngọ Vàng trong cát (Kim) Mậu tý, nhâm tý, canh dần, nhâm dần
32 ất mùi
Kỷ sửu, quí sửu, tân mão, tân dậu
33 Bính thân Lửa chân núi (Hoả) Giáp dần, nhâm thân, nhâm tuất, nhâm thìn
34 Đinh dậu
ất mão, quí mão, quí tị, quí hợi
35 Mậu tuất Gỗ đồng bằng (Mộc) Canh thìn, bính thìn
36 Kỷ hợi
Tân tị, đinh tị.
37 Canh tý Đất trên vách (Thổ) Nhâm ngọ, bính ngọ, giáp thân, giáp dần
38 Tân sửu
Quí mùi, đinh mùi, ất dậu, ất mão
39 Nhâm dần Bạch kim (Kim) Canh thân, bính thân, bính dần
40 Quí mão
Tân dậu, đinh dậu, đinh mão
41 Giáp thìn Lửa đèn (Hoả) Nhâm tuất, canh tuất, canh thìn
42 ất tị
Quí hợi, tân hợi, tân tị
43 Bính ngọ Nước trên trời (thuỷ) Mậu tý, canh tý
44 Đinh Mùi
Kỷ sửu, tân sửu
45 Mậu thân Đất vườn rộng (Thổ) Canh dần, giáp dần
46 Kỷ dậu
Tân mão, ất mão
47 Canh Tuất Vàng trang sức (Kim) Giáp thìn, mậu thìn, giáp tuất
48 Tân hợi
ất tị, kỷ tị, ất hợi
49 Nhâm tý Gỗ dâu (Mộc) Giáp ngọ, canh ngọ, bính tuất, bính thìn
50 Quí sửu
ất mùi, tân mùi, đinh hợi, đinh tỵ
51 Giáp dần Nước giữa khe lớn (Thuỷ) Mậu thân, bính thân, canh ngọ, canh tý
52 ất mão
Kỷ dậu, đinh dậu, tân mùi, tân sửu
53 Bính thìn Đất trong cát (Thổ) Mậu tuất, nhâm tuất, nhâm ngọ, nhâm tý
54 Đinh tị
Kỷ hợi, quí hợi, quí sửu, quí mùi
55 Mậu ngọ Lửa trên trời (Hoả) Bính tý, giáp tý
56 Kỷ mùi
Đinh sửu, ất sửu
57 Canh Thân Gỗ thạch Lựu (Mộc) Nhâm dần, mậu dần, giáp tý, giáp ngọ
58 Tân dậu
Quí mão, kỷ mão, ất sửu, ất mùi
59 Nhâm tuất Nước giữa biển (Thuỷ) Bính thìn, giáp thìn, bính thân, bính dần
60 Quý hợi
Đinh tị, ất tị, đinh mão, đinh dậu

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lục thập hoa giáp là gì?

Luận bàn tướng phụ nữ dễ sinh con quý tử

Trong nhân tướng học, các đặc điểm về hình dáng bên ngoài của nữ giới cũng hé lộ phần nào khả năng sinh con trai hay gái ở họ.
Luận bàn tướng phụ nữ dễ sinh con quý tử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

  1. Tỉ lệ khuôn mặt (trán và cằm)
 
Theo Nhân tướng học, nữ giới có có khuôn mặt quá nhọn, tỉ lệ các phần trên khuôn mặt không cân đối ví dụ cằm rộng và trái lại hẹp, thường sinh con gái. Người có trán nhô quá cao nên kết hôn sớm bởi sau 25 tuổi, tỉ lệ sinh con trai sẽ thấp hơn. 
 
2. Tướng tai, mắt, mũi và miệng
 
Nữ giới có đôi tai không cân xứng, tai trái dày hơn tai phải dễ sinh con gái đầu lòng. Nếu hai tai giống hệt nhau thì khó đoán biết được. Trường hợp sống mũi thấp, sơn căn không nổi rõ sẽ ảnh hưởng đến đường con cái. Nếu sinh con gái thì thuận, tốt lành, con trai thì ngược, xấu.
 
Nhân tướng học cho rằng, phần dưới mắt nữ giới là cung con cái. Trường hợp cung này đầy đặn, màu sắc sáng mịn là tướng phụ nữ dễ sinh quý tử đầu lòng. Ngược lại, nữ giới có cung con cái sâu, màu da ở cung không sáng, thường khó sinh con hoặc sinh con gái đầu lòng tốt, còn nếu sinh con trai dễ gặp vấn đề về trí não.

Luan ban tuong phu nu de sinh con quy tu hinh anh
Ảnh minh họa

Lông mày nữ giới thưa, không đều là tướng khó sinh con. Còn lông mày quá thẳng nhưng lại thô cứng là dấu hiệu của người hiếm con hoặc chỉ thuận sinh con gái đầu lòng, nếu sinh con trai sẽ chết yểu.
 
Theo quan điểm tướng số, môi nữ giới có nhiều nếp nhăn thì đường con cái thuận lợi, sinh nhiều con trai. Ngược lại nếu môi không có nếp nhăn thì khó có con và dễ sinh con gái. Nếu môi trên dài thì sinh cả con trai con gái, nhưng nếu môi trên mà trề xuống lại dễ sinh con gái đầu lòng.
 
3. Tướng nhân trung
 
Theo sách Nhân tướng học, phần lớn nữ giới có nhân trung sâu, dài, trên nhỏ dưới rộng và các đường rõ nét thì sinh quý tử đầu lòng. Còn lại, người có nhân trung bằng phẳng, hoặc sâu nhưng các đường nét không rõ ràng dễ sinh con gái nhiều hơn.
 
Nếu ở nhân trung có nốt ruồi đen thì khó có con, còn nếu có hai nốt ruồi đen thì tỉ lệ sinh đôi rất cao. Đường nhân trung ngắn, không rõ ràng báo hiệu đời con cháu khổ cực. Nhân trung lệch sang trái dễ sinh quý tử, nhưng lệch sang phải lại sinh con gái đầu lòng.

4. Tướng rốn
Phụ nữ có rốn sâu một phân thì có một con và dễ sinh đẻ. Nếu rốn nhỏ thường phải mổ đẻ. Nhìn tướng rốn khi mang thai cũng có thể đoán biết được giới tính thai nhi. Ví dụ thai phụ ở tháng thứ 3 đến tháng 6 mà rốn lồi ra thì sinh con gái, nếu đến tháng 7 hoặc 8 rốn mới lồi ra thì sinh quý tu
 
ST
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận bàn tướng phụ nữ dễ sinh con quý tử

Sao tốt: Âm Đức, U Vi Tinh, Kính Tâm, Tuế Hợp, Nguyệt Giải

Sao Âm Đức: tốt mọi việc. Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch): tháng 1: ngày Dậu; tháng 2: ngày Mùi; tháng 3: ngày Tỵ.
Sao tốt: Âm Đức, U Vi Tinh, Kính Tâm, Tuế Hợp, Nguyệt Giải

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Sao Âm Đức: tốt mọi việc

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Dậu; tháng 2: ngày Mùi; tháng 3: ngày Tỵ; tháng 4: ngày Mão; tháng 5: ngày Sửu; tháng 6: ngày Hợi; tháng 7: ngày Dậu; tháng 8: ngày Mùi; tháng 9: ngày Tỵ; tháng 10: ngày Mão; tháng 11: ngày Sửu; tháng 12: Hợi.

Sao tot Am Duc, U Vi Tinh, Kinh Tam, Tue Hop, Nguyet Giai hinh anh
Tranh cát tường


2. Sao U Vi Tinh: tốt mọi việc

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Hợi; tháng 2: ngày Thìn; tháng 3: ngày Sửu; tháng 4: ngày Ngọ; tháng 5: ngày Mão; tháng 6: ngày Thân; tháng 7: ngày Tỵ; tháng 8: ngày Tuất; tháng 9: ngày Mùi; tháng 10: ngày Tý; tháng 11: ngày Dậu; tháng 12: ngày Dần.

3. Sao Kính Tâm: tốt với việc tang tế

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Mùi; tháng 2: ngày Sửu; tháng 3: ngày Thân; tháng 4: ngày Dần; tháng 5: ngày Dậu; tháng 6: ngày Mão; tháng 7: ngày Tuất; tháng 8: ngày Thìn; tháng 9: ngày Hợi; tháng 10: ngày Tỵ; tháng 11: ngày Tý; tháng 12: ngày Ngọ.

4. Sao Tuế Hợp: tốt mọi việc

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Sửu; tháng 2: ngày Tý; tháng 3: ngày Hợi; tháng 4: ngày Tuất; tháng 5: ngày Dậu; tháng 6: ngày Thân; tháng 7: ngày Mùi; tháng 8: ngày Ngọ; tháng 9: ngày Tỵ; tháng 10: ngày Thìn; tháng 11: ngày Mão; tháng 12: ngày Dần.

5. Sao Nguyệt Giải: tốt mọi việc

Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):

Tháng 1: ngày Thân; tháng 2: ngày Thân; tháng 3: ngày Dậu; tháng 4: ngày Dậu; tháng 5: ngày Tuất; tháng 6: ngày Tuất; tháng 7: ngày Hợi; tháng 8: ngày Hợi; tháng 9: ngày Ngọ; tháng 10: ngày Ngọ; tháng 11: ngày Mùi; tháng 12: ngày Mùi.

Theo Bàn về lịch vạn niên

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao tốt: Âm Đức, U Vi Tinh, Kính Tâm, Tuế Hợp, Nguyệt Giải

12 chòm sao làm gì để đối phó với tiểu nhân nơi công sở

Chốn công sở với nhiều đua tranh, cũng không ít cạm bẫy, bạn có biết cách để đối phó với tiểu nhân nơi công sở nếu không may gặp phải không?
12 chòm sao làm gì để đối phó với tiểu nhân nơi công sở

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chốn công sở với nhiều đua tranh, cũng không ít cạm bẫy, bạn có biết cách để đối phó với tiểu nhân nơi công sở nếu không may gặp phải. Hãy thử xem 12 chòm sao cần làm gì trong trường hợp này nhé.   Nơi công sở tưởng chừng yên bình khi ai cũng có mục đích để đến đó làm việc nhưng kì thực lại ẩn chứa rất nhiều đợt sóng ngầm. Chúng ta không nên có tâm hại người song nên biết đề phòng là hơn. Chuyện đối phó với tiểu nhân nơi công sở nghe có vẻ ghê gớm nhưng quả thực không thể coi thường, bởi những hành động của kẻ tiểu nhân có thể ảnh hưởng trực tiếp đến công việc, thanh danh hay thăng tiến trong sự nghiệp của chúng ta.


12 chom sao doi pho voi tieu nhan noi cong so nhu the nao
 
  Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ chia sẻ với các bạn những nhược điểm của 12 chòm sao và mách bạn cách hữu hiệu nhất để đối phó với tiểu nhân nơi công sở nhờ khắc phục những nhược điểm đó nhé.  

Bạch Dương

  Nhược điểm: tính tình nóng nảy, dễ bốc đồng Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: kiểm soát cảm xúc của bản thân, tránh những xung đột trực tiếp.   Sở dĩ những kẻ tiểu nhân nơi công sở khiến mọi người e ngại là vì họ chẳng dễ đối phó chút nào. Một khi bị những kẻ đó nhắm làm mục tiêu thì chắc chắn hậu quả sẽ vô cùng thê thảm. Chính vì thế, cách tốt nhất để tránh vướng phải mâu thuẫn với họ chính là tuyệt đối tránh những xung đột trực tiếp. Nóng nảy và bốc đồng có thể khiến bạn đánh rơi lý trí, làm ra những chuyện ngoài sức tưởng tượng. Đừng vì sĩ diện hão trong vài phút giây mà chủ động chọc vào những kẻ khó ưa kia. Nếu họ gây khó dễ cho bạn, có thể nhịn thì đừng làm to chuyện. “Một sự nhịn là chín sự lành”, bạn chọc vào tổ kiến lửa thì hậu quả ra sao khó bề kiểm soát được.

Hãy thử Truy tìm lý do khiến bạn vướng vào thị phi nơi công sở nhé.
 

Kim Ngưu

  Nhược điểm: Cứng nhắc, cố chấp, bướng bỉnh Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Đừng quá nguyên tắc mà hãy học cách ứng biến linh hoạt.


ung xu kheo leo
 
  Có những thói quen của chúng ta không phải lúc nào cũng đúng mà nên sửa đổi cho phù hợp với từng tình huống, từng hoàn cảnh. Đặc biệt là khi đối mặt với những kẻ tiểu nhân, bạn chớ nên để mọi cảm xúc của mình thể hiện hết trên khuôn mặt. Dù trong lòng cực kì khó chịu thì cũng phải học cách nở nụ cười nói chuyện bình thường. Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt, chúng ta chẳng nên vì mấy chuyện không cần thiết mà tự dưng khiến cho bản thân mất đi cơ hội, quyền lợi, như vậy há chẳng phải bạn đã mắc phải bẫy của kẻ tiểu nhân rồi sao?  

Song Tử

  Nhược điểm: Quá nhạy cảm, dễ bị tổn thương Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Trở nên mạnh mẽ hơn.   Ở chốn công sở, chuyện gặp phải những người ưa so đo tính toán, hay dòm ngó soi mói hay gây chuyện thị phi không phải điều gì quá mới mẻ. Có những người rất thích nói xấu sau lưng người khác. Nếu gặp phải chuyện như vậy thì đừng quá để tâm, bạn càng đặt nặng vấn đề, khiến cho chính mình không thoải mái, khó chịu hay bị tổn thương thì bạn càng là kẻ thua cuộc. Kẻ tiểu nhân chỉ đang chực chờ ngày bạn suy sụp tinh thần, chẳng có dũng khí để làm được gì nữa. Song Tử hãy rèn luyện cho mình ý chí kiên cường và nội tâm mạnh mẽ, bạn còn nhiều sóng gió khác phải đối diện trong cuộc đời cơ mà.  

Cự Giải

  Nhược điểm: Quá hiền lành lương thiện, dễ tin người Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Đừng cả nể, hãy biết cách từ chối khi cần thiết   Ở chốn công sở, chuyện phải chịu thiệt thòi quá bình thường, tuy nhiên với những kẻ tiểu nhân, Cự Giải đừng mãi đóng vai kẻ bị hại nữa nhé. “Người lành bị bắt nạt, ngựa hiền bị người cưỡi”, nếu có những người mặt dày hết lần này đến lần khác nhờ bạn làm chuyện vô lý không đâu mà bạn lại cả nể, chẳng bao giờ từ chối thì lần một sẽ có lần hai, nó sẽ thành thói quen, bạn sẽ thành chân sai vặt của cả văn phòng. Hãy dám nói “Không”, biết cách từ chối khi cần phải từ chối bạn nhé.  

Sư Tử

  Nhược điểm: Tự tin thái quá đến mức tự phụ, thích thể hiện, làm màu Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Hãy biết cách khiêm tốn, sống thực tế hơn   Nếu bạn quá tự cao, kiêu căng thì khả năng bạn phải đau đầu lo nghĩ cách đối phó với tiểu nhân nơi công sở là rất cao. Những hành động của bạn rất dễ khiến cho những kẻ tiểu nhân sinh lòng đố kị, bạn trở thành mục tiêu công kích của chúng. Chính vì thế, hãy học cách khiêm nhường hơn, tài năng là thứ không thể giấu được, nhưng đừng thể hiện một cách phô trương thái quá, gây tổn thương đến lòng tự trọng của người khác. Cây càng cao thì càng phải chịu gió lớn, bạn thích nổi bật thì sao tránh khỏi chuyện cạnh tranh!

Cùng xác định đối thủ của 12 chòm sao nơi công sở nhé.
 

Xử Nữ

  Nhược điểm: vô tư quá mức, ngây thơ không phòng bị Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Nên có sự đề phòng với những người xấu  


dung qua tin nguoi
 
  Chân thành đối xử với người khá không sai, nhưng ở chốn công sở, quá ngây thơ, quá chân thành và thẳng thắn là điều vô cùng nguy hiểm. Đừng nghĩ rằng mình tốt với người thì người sẽ tốt lại với mình, thế giới này không công bằng đến vậy. Nếu bạn để lộ hết mọi bí mật của mình cho người khác thì cũng có nghĩa là bạn đã tự chỉ cho người khác biết nhược điểm chí mạng của mình là gì, bị lợi dụng lúc nào không hay.  

Thiên Bình

  Nhược điểm: nói năng không suy nghĩ, hay tám chuyện Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Giữ mồm giữ miệng, suy nghĩ trước khi nói   “Họa từ miệng mà ra” chính là nói về Thiên Bình. Chốn công sở là nơi đầy rẫy thị phi, nếu bạn không giữ được miệng mình mà nói năng thiếu suy nghĩ thì chắc chắn sẽ gây ra nhiều hậu quả khôn lường. Tốt nhất đừng nên tò mò mà chỗ nào cũng “chõ mũi” vào, bà tám khắp mọi nơi chỉ dễ trở thành con tốt thí mạng mà thôi. Trong công việc cần phải nghiêm túc, không phải chuyện gì cũng đem ra nói linh tinh được.

Mời bạn đọc thêm: Tuyệt chiêu phong thủy giúp bạn tránh xa rắc rối nơi công sở.
 

Hổ Cáp

  Nhược điểm: Có dã tâm, tham cái lợi nhỏ Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Chẳng có gì là miễn phí, hãy tự dựa vào sức mình   Lợi danh ai cũng muốn, nhưng đừng để nó che mờ đôi mắt. Trên đời này chẳng có bữa trưa nào là miễn phí, cũng chẳng ai cho không ai cái gì, nhất là ở chốn công sở lại càng không. Kẻ tiểu nhân sẽ dùng những thứ mồi nhử trông bề ngoài ngon ăn để dụ dỗ bạn vào tròng. Miếng mồi càng lớn thì nguy hiểm bạn gặp phải càng kinh khủng, đừng để kẻ khác làm ngư ông đắc lợi!  

Nhân Mã

  Nhược điểm: Cẩu thả, dễ làm hỏng chuyện Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Nên học cách cẩn thận hơn, có trách nhiệm với công việc   Làm tốt việc của mình bao giờ cũng là lựa chọn đúng đắn nhất để đối phó với tiểu nhân nơi công sở. Đến việc của mình còn làm không xong thì chắc chắn nó sẽ trở thành nhược điểm to lớn để kẻ khác vin vào đó mà dìm bạn xuống, khiến bạn không thể ngóc đầu lên được.
 

Ma Kết 

  Nhược điểm: Quá trầm lặng, thiếu hòa đồng Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Hãy học cách duy trì và mở rộng mối quan hệ 


hoa dong voi moi nguoi
 
  Làm tốt việc của mình, có trách nhiệm với công việc tất nhiên là tốt nhưng cũng phải hòa nhập với đồng nghiệp, với những người cùng làm việc với mình. Những khi cần, bạn phải biết cách phát biểu ý kiến, làm cho mọi người hiểu được điều mình đang làm. Tuy việc thân thiết với đồng nghiệp không phải là chuyện dễ dàng nhưng nếu bạn cứ tự cô lập bản thân thì sẽ khiến cho sức mạnh của tập thể bị suy yếu, bản thân bạn cũng sẽ trở thành mục tiêu dễ bị công kích của kẻ tiểu nhân.  

Bảo Bình

  Nhược điểm: Quá thẳng thắn, thiếu khéo léo Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Hành xử cẩn trọng hơn   Bạn được nhiều người yêu mến bởi sự thẳng thắn của mình, nhưng nét tính cách ấy lại chính là con dao quay ngược lại hại bạn. Đừng tùy tiện than phiền hay nói xấu người khác với đồng nghiệp, bạn không biết mọi chuyện có thể diễn tiến xấu đến thế nào đâu. Từng lời nói hành động của bạn có thể truyền đến tai người khác bất cứ lúc nào, thậm chí bị bóp méo sai khác hẳn với nội dung ban đầu. Nói ít làm nhiều bao giờ cũng là điều đúng đắn.  

Song Ngư

  Nhược điểm: Quá ngây thơ, dễ tin người Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Nên giữ cho mình khoảng cách an toàn, đừng quá thân mật với ai   Ở nơi làm việc, bạn chớ nên quá thân thiết với đồng nghiệp, hãy giữ cho mình khoảng cách an toàn, nói những chuyện bình thường chứ đừng nên tâm sự những chuyện riêng tư, cơ mật. Bạn không thể nào đo được lòng người, càng chẳng thể biết được người bên cạnh mình là người tốt hay kẻ xấu. Tiểu nhân là kẻ rất giỏi ngụy trang, lại trở mặt như trở bàn tay, cách tốt nhất để đối phó với tiểu nhân nơi công sở là chớ nên để họ có cơ hội thân thiết quá mức với mình.
Tanny

Top 3 chòm sao thăng chức tăng lương nhanh nhất năm 2017 3 chòm sao không bao giờ có tình công sở 3 cung hoàng đạo là ngôi sao nơi công sở

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 chòm sao làm gì để đối phó với tiểu nhân nơi công sở
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd