Mơ thấy gái –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
![]() |
| ► Xem ngày tốt xấu để tiến hành các việc đại sự |
|
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Đối với doanh nhân tuổi Đinh Sửu (1937), nam giới nên hợp tác với người tuổi Canh Dần (1950), Quý Tỵ (1953), Giáp Ngọ (1954), Bính Thân (1956). Nữ giới nên hợp tác với người tuổi Mậu Dần, Canh Thìn, Giáp Thân.
Đối với doanh nhân tuổi Kỷ Sửu (1949), nam giới nên hợp tác với người tuổi Canh Dần (1950), Quý Tỵ (1953), Giáp Ngọ (1954), Bính Thân (1956), Mậu Tý (1948), Đinh Hợi (1947). Nữ giới nên hợp tác với người tuổi Canh Dần, Quý Tỵ, Giáp Ngọ.
Đối với doanh nhân tuổi Tân Sửu (1961), nam giới nên hợp tác với người tuổi Quý Mão (1963), Ất Tỵ (1965), Bính Ngọ (1966). Nữ giới nên hợp tác với người tuổi Quý Mão, Ất Tỵ, Kỷ Dậu (1969).
Đối với doanh nhân tuổi Quý Sửu (1973), nên hợp tác với người tuổi Quý Sửu, Ất Mão (1975), Đinh Tỵ (1977), Kỷ Mùi (1979). Nữ giới nên hợp tác với người Quý Sửu, Ất Mão, Đinh Tỵ.
(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)
Thoạt tiên Phong Thủy học được xem là KHAM DƯ HỌC, Kham Dư là một danh từ ra đời rất sớm. Từ đời Hán trong Sử ký của Nhật Giả Bác và trong Hán thư Nghệ Văn Chí đã thấy Kham Dư xuất hiện thành thư mục rõ ràng. Đó là bộ Kham Dư Kim Quỷ gồm 14 quyển. Nhưng Kham Dư là gì? Hứa Thân đời Đông Hán giải thích. Kham là thiên đạo còn Dư là địa đạo (Kham thiên đạo Dư địa đạo giả). Thiên Đạo là thiên văn, Địa Đạo là Địa Lý, điều này cũng giống như Dinh Kinh.
Hệ từ truyện có viết: “Ngửa lên xem thiên văn, cúi xuống xét Địa Lý (Nguỡng di quan ư thiên văn, phú dĩ sát ư Địa Lý). Trong Phong Thủy học thì quan ư thiên văn là quan sát sự vận hành của Nhật Nguyệt, Tinh, Thần, sát ư Địa Lý là quan sát hình thể của Sơn (Núi), Xuyên (Khe), Thủy (Nước), Thổ (Đất). Nhưng Phong Thủy thì nghiêng về Địa Lý hơn là Thiên Văn. Và Kham Dư học còn lại hầu hết là viết về Địa Lý. Ví dụ như Địa Lý chính tông, Địa Lý thiên cơ hội nguyên. Địa Lý toàn thư, Địa Lý chân kinh… Đời Nguyên, Châu Thần Hưởng đã tuyển thành một tập. Đời Thanh có 1 quyển là Phong Thủy bản nghĩa. Có thể gọi là Kham Dư hay Địa Lý cũng là Phong Thủy. Tổ sư của môn Địa Lý chính là Quách Phát tiên sinh với cuốn Táng Kinh có ảnh hưởng rất lớn. Trong Tán Kinh có viết: Khí mà cởi gió thì bị tán, khí gặp nước thì dừng. Nên làm cho khí ngưng tụ, không bị tản mác như vậy gọi là Phong Thủy.
Trong Kham Dư học rất chú trọng đến sinh khí. Sinhkhí rất kị gió nhưng thích nước vì gặp nước thì Khí tụ, gặp gió thì Khí tán cho nên điều tối quan trọng trong Kham Dư học, Địa Lý học và Phong Thủy học là tàng phong tụ thủy (ẩn gió ngưng nước). Sinh khí là gì ? Sinh khí vốn vô hình, vô tướng như vậy làm sao có thể biết nó ở đâu để đón nhận mà đúng? Trong thuật Phong Thủy có hai phương pháp tính toán để tìm Sinh Khí là Man đầu và Lý khí. Man đầu là gì? Là xem hình thể của ngọn núi, nguồn nước ra sao có bị đứt đoạn, có bị sụp lở hay không ? Nơi nào có hình Sơn hoàn Thủy bảo (núi bao nước bọc) tất là có sinh khí. Núi tròn đều không ẩn khuất mặt trời, dòng nước trong mát lại hiền thì có thể hình dung là có một sức sống ẩn tàng trong đó gọi là sinh khí vậy.
Còn nói riêng thì trong thuật Phong Thủy phải dò xét kỹ lưỡng bằng cách căn cứ vào phương hướng của ngôi nhà hay ngôi mộ rồi suy đóan theo nguyên lý Tương sinh, Tương khắc của Âm Dương, Ngũ Hành, Bát quái, Cửu tinh mà tìm ra “Sinh khí” ở phương nào để đón cát lánh hung.
Trích "Phong Thủy chuyên đề" của Trần Văn Hải
Hiện sách E-book có bán tại đây.
Những câu chúc buổi tối thật đẹp và lãng mạn đúng là vũ khí lợi hại dành cho những chàng trai đã, đang và sẽ “cưa cẩm” những cô nàng đáng yêu, một lời nói không có giá nhưng lại là món quà vô giá vì vậy nếu biết sử dụng lời chúc đúng lúc đúng chỗ thì bạn đã thành công một nửa trong việc chinh phục những trái tim phái đẹp rồi đấy.
Nếu bạn đang có một tình yêu đẹp hãy chân trọng điều đó , nếu bạn đang yêu đơn phương thì hãy tự tin mà thể hiện, còn những ai đang FA thì đừng buồn. Không phải chỉ có ngày valentine hay mùng 8/3 mà buổi tối mới đúng là thời điểm thích hợp để tỏ tình, tán tính, …
Khi tâm hồn của mỗi người là “một khoảng lặng” có thời gian để lãng mạn để quên đi nhưng xô bồ cuộc sống , ví thế nếu biết tận dụng bạn sẽ gây được ấn tượng đẹp , hiểu được điều này bài viết sẽ tổng hợp những mẫu lời chúc buổi tối hay nhất và ý nghĩa nhất.
Chúc em đêm nay gặp thật nhju` ác mộng …. Và anh sẽ hiện ra để cùng em chạy trốn
Em có bít tại sao tối nào 2 đứa mình cũng cần phải ngủ không ? vì …. Như thế mới có chúng ta …..hjhj … hẹn em trong mơ ….thiên thần của anh
Đi rửa mặt và đi rửa chân! Đến giờ đi ngủ, đừng lần chần. Đôi mắt trĩu nặng và đôi môi câm lặng, vì thế chỉ mong đêm sẽ dịu dàng và ngọt ngào đưa đến những giấc mơ hồng.
Đêm nay em chưa ngủ , vì ở trên nóc tủ có một trái đu đủ ! ngủ đi trời đã tối lắm rồi
Ngủ ngon em nhé tình yêu của anh ! lời bài hát cũng là lời trái tim anh muốn nói , và ngày mai lại yêu anh hơn hôm nay em nhé
Ngủ ngon nhé cô bé ! anh biết giờ này không thể ở bên em nhưng trong giấc mơ anh luôn ở đây , những khi em cần!
Một đêm nhớ nhớ , nhớ ra mình một mình , một đêm nhớ nhớ , nhớ ra mình vẫn ở đâu đây! dù ở đâu em hãy nhớ anh luôn bên em , ngủ ngon em nhé !
Chúc ngủ ngon người bạn cực kì đặc biệt của tôi, cầu cho em được thư giãn
Và ngày mai mang lại cho em yên bình, hạnh phúc và niềm vui!!!!!
Em vẫn còn thức ????
Tới giờ đi ngủ rồi đó ^^!!!!
Chúc ngủ ngon!!!
+ Ngủ thật ngon
+ Mơ những giấc mơ đẹp nhé!!!!
Every time I follow my heart, it leads me straight to you. You see…my heart just want to be close to yours.(Mỗi lần anh hành động theo trái tim mình, nó dẫn thẳng tới em. Em thấy đó …, trái tim anh chỉ muốn gần trái tim em thôi.)câu chúc ngủ ngon bằng tiếng anh- There are 12 months a year…30 days a month…7 days a week…24 hours a day…60 minutes an hour…but only one like you in a lifetime.
Những mẫu tin nhắn tạo hình chúc buổi tối thật đẹp và lãng mạn:
(>~~<)
( = ^.^ )
(“)__(“)
CHÚC
(>^^^<)
( = ._. = )
(“)__(“)
BUỔI
(>~~<)
( ’^_^’ )
(“)__(“)
TỐI
(>~~<)
(=^.^=)
(“)__(“)
VUI VẺ!
.:!i!:.__.:!i!:.__.:!i!:.
“:::. Good night.:::”
__“-!|!-““-!|!-“__
Biết về đâu giữa đêm nay
Lời ca tiếng nhạc làm say gót hồng
Tình ơi, dừng bước phiêu bồng
Về bên em nhé, mặn nồng giấc thương
♥ ♥ ♥
Dung yen !
Gio tay len !
,________________.
%!!!!_ ”’_,====’
/_”_/-’-’
Cuop day !
Nam len giuong!
Nham mat lai…
San sang chua?
CHUC NGU NGON!!!
。☆。*。☆。
★。\|/。★
* 汇h凹C’几G凹 *
★。Ng回几。★
gj合c从o☆+)€p
.:!i!:.__.:!i!:.__.:!i!:.
“:::. Good night.:::”
__“-!|!-““-!|!-“__
Gió có sang bên bạn tôi không?
Có sang bên đấy ghé vào phòng
Ghé sang bạn tôi còn đang thức
Nhớ nhắn dùm tôi “chúc ngủ ngon”
♥ ♥ ♥
.:!i!:.__.:!i!:.__.:!i!:.
“:::. Good night .:::”
__“-!|!-““-!|!-“__
Em là cây nến
Anh,cây đèn cầy
Chạm vào như thế
Chảy hết còn gì
Thôi chớ nghịch nữa
G9 ngủ ngon
Hay .. mình thắp lửa
Nướng đêm chín giòn
╔══╗
╚╗╔╝ ….
╔╝(¯`v´¯)
╚══`.¸.♥UNắng đã tắt cho hoàng hôn buông xuống
Thả lòng mình cho gió nhẹ cuốn đi
Hãy nhắm mắt cho ngày dài khép lại
Đêm khuya rồi a chúc em ngủ ngon
()”””() Chờ đã
(“O”) Đừng
(,><.) Ngủ
Hãy để anh cầu nguyện
()”””()
(-O-)
(,(“)), \
*(`’•.¸(`’•.¸*-*¸.•’´)¸.•’´)*
»~:.•º`•. I s2 U .•´º•.:~«
*(¸.•’´(¸.•’´*-*`’•.¸)`’•.¸)*
☆°。。☆°。。°☆
。 .. __::_______ ★ 。
☆ /__________/ \ 。。
。 | _ 画_画 _ |_’| ☆ 。
|____ღ.Buổi tối♥Vui vẻღ____|
| ► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không |
![]() |
![]() |
Thần số gồm 9 con số từ 1 - 9, đem các chữ số trong ngày sinh nhật của bạn tách ra từng số một rồi cộng vào lấy tổng, nếu tổng chưa nằm trong các số từ 1 - 9 thì lại tiếp tục tách từng số ra cộng vào cho đến khi được kết quả nằm trong khoảng 1 - 9.
Ví dụ: sinh nhật của bạn là 29/9/1989 thì cách tính là:
2 + 9 + 9 + 1 + 9 + 8 + 9 = 47 tiếp tục 4 + 7 = 11 tiếp tục 1 + 1 = 2. Như vậy, thì 2 chính là số của bạn.
![]() |
Số 1 và số 2
Hai bạn chính là một cặp trời sinh. Số 1 nội tâm, độc lập, thích cảm giác được chăm sóc. Còn số 2 lại là một người tính cực kỳ chu đáo, tỉ mỉ, luôn quan tâm đối phương, cho mà không cần nhận lại. Chỉ cần hai người luôn để ý đến tâm trạng của đối phương, để đối phương cảm nhận được sự ấm áp, tình yêu của hai người sẽ càng say đắm. Tuy nhiên, số 2 là người ít nói, vì vậy số 1 nên là người chủ động trò chuyện, còn số 2 thì nên nói ra tâm sự cũng như tình cảm của mình nhiều hơn, như vậy thì hai người ở bên nhau sẽ thêm hạnh phúc và bền vững.
Số 3 và số 5
Hai bạn là một cặp đôi tuyệt vời, tư tưởng tiến bộ, nhiệt tình, chủ động, phối hợp với nhau rất tốt. Cả hai đều thích kết giao bạn bè, bạn bè cũng giúp đỡ không ít cho tình cảm của hai người. Tuy nhiên, đôi khi cả hai đều tỏ ra tùy hứng, gặp chuyện thường muốn trốn tránh, khiến vấn đề không được giải quyết mà càng ngày càng lớn. Nếu cả hai bên có thể bình tĩnh, lý trí hơn và đối mặt với vấn đề thì cuộc sống của hai người sẽ càng yên ấm, tình cảm cũng ổn định hơn.
Số 4 và số 6
Hai bạn tâm linh tương thông, thấu hiểu đối phương, không cần nhiều lời cũng có thể hiểu rõ tâm ý đối phương. Số 4 thì là người lý trí, số 6 lại là người tình cảm, cả hai đều khá nội tâm, nhưng cũng rất ân cần, ấm áp. Hai người bổ khuyết, hỗ trợ nhau rất tốt. Ở bên nhau, chỉ cần hai người càng quan tâm chăm sóc nhau, lắng nghe tâm ý đối phương, khiến đối phương cảm nhận được sự ấm áp, đáng tin cậy, không rời thì chắc chắn hai bạn sẽ tạo nên một câu chuyện tình lãng mạng hoàn mỹ.
Số 6 và Số 1
Số 6 là người tinh tế, nhạy cảm, bình tĩnh, cùng người số 1 đầy cảm tính, thấu hiểu tâm ý người khác là vừa vặn bổ sung cho nhau. Khi ở bên nhau, số 1 có thể biết được tâm tình của số 6, số 1 cũng là người biết lắng nghe, số 6 có tâm sự đều có thể cùng số 1 giãi bày. Và sự chân thành của số 6 cũng cho số 1 cảm giác an toàn. Hai người yêu thương lẫn nhau, tạo nên một tình yêu ngọt ngào. Nhưng hai người đều rất lụy tình, bởi vậy cần học cách tự yêu bản thân hơn một chút.
Số 7 và số 8
Hai người đều rất thực tế, đáng tin cậy, và hòa hợp, khi ở bên nhau đều mang lại cho đối phương cảm giác ấm áp. Thái độ đối với hiện thực cuộc sống của hai người khá tương đồng, đều mong muốn ổn định, có mục tiêu rõ ràng cho tương lai. Mỗi khi bàn về tương lai, cùng nhau đặt ra mục tiêu thì hai người đều cảm thấy vui vẻ, cảm tình tăng thêm. Tuy nhiên cả hai đều trầm lặng, nếu như ở bên nhau thì hai người nên tham gia nhiều những hoạt động giải trí, tập thể để cuộc sống thêm phong phú.
Số 9 và số 7
Hai bạn rất có duyên với nhau, tuy một người hướng nội, lý trí; một người hướng ngoại và tình cảm, nhưng cũng vì thế mà thu hút lẫn nhau. Khi ở bên nhau, cả hai nên chú ý duy trì không gian riêng của đối phương, không nên can thiệp quá sâu thì sẽ rất vui vẻ, hạnh phúc. Ngoài ra, số 9 không nên tạo nhiều áp lực cho đối phương. Đôi bên nên trò chuyện nhiều hơn để thấu hiểu lẫn nhau và để đối phương cảm thấy an tâm, hơn nữa nếu như vậy số 9 còn có thể nhận được nhiều sự quan tâm từ phía số 7. Thời gian rảnh cả hai có thể cùng nhau tham gia hoạt động giải trí hay nghệ thuật để có thêm nhiều điểm chung, hâm nóng tình cảm, cuộc sống hai người sẽ càng hạnh phúc hơn.
Kunie (theo astro)
![]() |
| ► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh |
n vào nền nhà, ta có thể đánh giá được tính cách của gia chủ. Bởi một người chủ cẩn thận, sạch sẽ, có óc thẩm mỹ sẽ chú tâm đến việc chọn vật liệu lát nền một cách công phu, lát cẩn thận, chắc chắn, phẵng phiu, đẹp mắt, luôn lau chùi quét dọn và sửa chữa những viên gạch bị long vữa. Bước vào những ngôi nhà như vậy, bạn sẽ có cảm giác như đang ở một nơi sang trọng, giàu có mà chủ nhà thì luôn tươi cười, cởi mở.

Màu sắc mặt sàn nên chọn loại gam màu thẫm, dầy chắc và bền, cho người ta có cảm giác vững chãi, thoải mái, không rợn chân khi bước, cũng phù hợp với đạo phong thủy.
Nếu mặt sàn có màu sáng thì chọn vật liệu màu thẫm lát hoặc quét vôi xung quanh sàn, bạn sẽ có cảm giác cân bằng, nhẹ nhõm.
Nếu rải thảm trên mặt sàn, bạn có thể dùng loại hoa văn ngũ sắc với nội dung vui tươi, may mắn, tránh thảm có góc cạnh và tốì kỵ để góc cạnh đó hướng ra phía cửa.
Mặt sàn phòng khách không nên làm quá bóng vì có thể gây loá, trơn trượt khiến người trong nhà có thể bị ngã, nhất là với người già và trẻ nhỏ.
Trước hết nói về Tết Thanh minh với ý nghĩa là một trong 24 tiết khí trong một năm theo lịch âm dương phương Đông. Theo các nghiên cứu, nếu lấy tiết Xuân phân là thời điểm gốc (kinh độ mặt trời bằng 0) thì thời điểm bắt đầu tiết thanh minh là lúc kinh độ mặt trời bằng 15 độ. Do vậy, tiết Thanh minh thường bắt đầu từ ngày 4 hoặc 5/4 dương lịch khi kết thúc tiết xuân phân và kết thúc vào khoảng ngày 20 hoặc 21/4 khi tiết Cốc vũ bắt đầu.
Ảnh minh họa. |
Tranh vẽ cảnh Tấn Văn Công và quần thần đi thăm mộ Giới Tử Thôi. |
>> Năm mới 2016 sắp tới. Ai XÔNG ĐẤT nhà bạn phù hợp nhất mang lại tài lộc, may mắn cho bạn cả năm. Hãy XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất nhé!
Trong 12 con giáp này đã trải qua tháng 11 có thể nói là lận đận trong tiền tài, nhưng tháng cuối của năm cũ này sẽ mang lại cho họ 1 sự may mắn về tiền bạc, có thể họ sẽ tích lũy được kha khá vào năm sau. Cùng điểm qua những con giáp được thần tài gõ cửa vào tháng cuối năm này nhé.
1./ Tuổi Tí
Có thể nói 2015 là một năm không mấy thuận lợi đối với những người tuổi Tí. Suốt cả năm dài bạn đã đối đầu với không ít rắc rối về tình cảm và cả sức khỏe. Đây cũng là năm trầy trật nhất của bạn trong việc kiếm tiền và ổn định sự nghiệp suốt hơn 3 năm qua.
Những nỗ lực về tài chính của tuổi Tí sẽ được đền đáp vào khoảng thời gian cuối năm này. Các khoản đầu tư thua lỗ sẽ không còn nữa mà thay vào là những mối hời bất ngờ sẽ đến với bạn. Bạn sẽ được nhiều người mời hợp tác và giúp đỡ trong công việc và hứa hẹn có cái Tết hoành tráng vào cuối năm nay.
Những hiềm khích của người tuổi Tí với đồng nghiệp cũng được xóa tan trong khoảng thời gian này, cải thiện hiệu suất làm việc của bạn một cách đáng kể. Có lẽ cũng chính vì nguyên nhân này mà những người tuổi Tí làm việc trong môi trường công sở có thể sẽ được tăng lương vào cuối năm nay. Đây là cơ hội tuyệt vời cho những người tuổi thăng tiến vào năm sau.
2./ Tuổi Thìn
2015 là một năm khá hao tài tốn của đối với người tuổi Thìn. Bạn đã mất tiền vì những lí do bất ngờ như bị trộm cắp, đánh rơi ví... Tháng 12 này chính là thời điểm những người tuổi Thìn phấn chấn tinh thần trở lại bởi bạn sẽ được đồng nghiệp tín nhiệm và giúp đỡ để bù lại khoản tiền đã mất.
Đặc biệt đối với người tuổi Thìn làm việc trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, những mối quan hệ tưởng chừng như vô thưởng, vô phạt sẽ giúp bạn kiếm được số tiền lớn trong tháng này.
Những người tuổi thìn làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí và truyền thông sẽ có thể thắng lớn với các tác phẩm, dự án đã ấp ủ bấy lâu nay. Tháng 12 là thời điểm mà bạn chỉ cần ngồi hưởng thụ những thành quả của sự cố gắng không mệt mỏi trước đó.
Điểm cần lưu ý đối với những người tuổi Thìn trong khoảng thời gian này là phải biết đền đáp xứng đáng những người đã và đang giúp đỡ mình. "Có qua có lại" thì mối quan hệ giữa bạn và các quý nhân sẽ bền vững hơn.
3./ Tuổi Tị
Tuy không đầy sóng gió nhưng người tuổi Tị cũng không có một năm 2015 thành công về tài chính. Tuy nhiên, tháng 12 này, thần tài sẽ gõ cửa nhà bạn.
Rất có thể những người tuổi Tị tính tình khéo léo sẽ thắng được một vài mối làm ăn lớn vào cuối năm nay. Nếu không phải là một người kinh doanh, bạn cũng có thể may mắn trúng số, chương trình bốc thăm trúng thưởng hoặc được tặng quà.
Điểm cần lưu ý đối với những người tuổi Tị là hãy biết tích lũy vốn, không được tiêu xài hoang phí. Khoản tiền bạn may mắn có được trong thời gian này sẽ là nền tảng để bạn phát triển sự nghiệp trong tương lai.
>> Xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất!
>> Xem ngay VẬN HẠN 2016 mới nhất!
Không phải nhật nguyên nhật chi đích vấn đề, vốn là nhật thời, năm tháng lưỡng đảng trái ngược rồi, năm tháng lưỡng trụ cùng nhật thời lưỡng trụ biểu đạt đích ý tứ trái ngược rồi. Phàm năm tháng hợp mà nhật thời xung hoặc năm tháng xung mà nhật thời hợp, đều phải tỉ mỉ thức đừng có hay không vi xung hợp phản cục.( Xung hợp phản cục ít hơn thấy.)( Chú: Can hợp cùng chi xung không tính phản cục. Phải tất nhiên chi trong lúc đó đích xung hợp mới là phản cục.) chính mình cùng chính mình không qua được
Càn: Kỷ nhâm kỷ ất
Tị thân mùi sửu
Lưỡng đảng giằng co, đảng cùng đảng phản rồi, hỏa thổ một đảng cùng kim thủy một đảng tương đối kháng lưỡng đảng lực lượng tương đương, cho nên phản rồipany, nhâm thân, ất sửu làm một đảng, tiền vừa hợp chi, phía sau xung chi, hai loại thế lực tương đối kháng, hạ sư phụ đoạn: Cả đời ngồi lao. Bởi vì vốn là tỉ kiên cùng thất sát đối kháng, quan phản cục rồi, nhưng tiền vừa hợp trụ, đối kháng sẽ bị đãi. Nếu như sửu mùi đích vị trí đổi lại một chút, thì không phải phản cục rồi, bởi vì hình thành rồi trong ngoài nhị đảng, loại này xung hợp biểu thủ đoạn bất đồng, một tới đối ngoại. Sửu trung đích tài làm tài xem, sửu ngồi ất, vốn là quan trông nom đích tài. Tị thân hợp, ngồi kỷ vốn là chính mình, thân cùng sửu tỏ vẻ một nhà. Công an đích ý tứ.
Kỷ ất kỷ
Thân tị mùi sửu sửu thân mùi tị
cũng không vốn là phản cục
Thân sửu tổ hợp biểu lao ngục, vi vừa phạm tội, vừa ngồi lao.
Nhàn chú: Sửu trung ngậm tài, trên đầu đỉnh quan, nói rõ là đực nhà đích tài, mùi xung sửu, chỉ dùng để tỉ kiếp nghĩ muốn lấy được sửu trung chi tài; nhưng tị thân hợp lại nhân tiện đem kỷ bắt được, nguyên nhân kỷ tị cũng biểu đạt vốn là chính mình. Thân kim vi thương quan, công an chi tượng. Nếu hỏa táo thổ cùng kim ẩm ướt thổ, một mới có thể đem một phương khác chế điệu cũng tốt! Cả đời ngồi lao, quý mùi năm quy án.
Khác [hai người/cái] kết cấu bát tự, người trước vi trong ngoài kết cấu, người sau vi chừng kết cấu, cũng không vốn là gạch chéo đích kết cấu, cho nên, không vi phản cục.
Càn: Mậu đinh mậu mậu
Thân tị tử ngọ
Cái này bát tự mới nhìn đại phú, nguyên nhân hỏa thổ có xu thế, khứ tài tử cùng tài đích nguyên thần thân, có công. Nhưng tồn tại phản cục, nhật thời vốn là tử ngọ xung, năm tháng vốn là tị thân hợp, như vậy hỏa thổ cùng kim thủy gian một bên xung, một bên hợp, chính là chủ tân tố công phương thức phản đích ý tứ. Tài tinh phản cục Tài Đại hung, vì vậy người phi thường nghèo, một năm thu vào không vượt qua năm nghìn, nuôi sống tam bốn khẩu. Can việc khổ cực, nguyên nhân tài phản cục rồi cố rất nghèo khó.( Chú: Ởđâu phương diện phản cục phương nào mặt ứng hung.)
Nhàn chú: Kim thủy cùng hỏa lưỡng đảng tại bát tự trung gạch chéo xuất hiện, mà tố công phương thức một xung hợp lại; mậu= tị; mậu đinh tị mậu mậu hoàn lại ngay cả thể đây, nhưng chính mình một xung hợp lại, ý tứ phản rồi!
Lấy thượng lưỡng lệ chúng ta nhìn ra, lưỡng đảng chi xung hợp vốn là giao nhau cách đích, như thế trong ngoài đích tổ hợp lưỡng đảng xung hợp, thì không vi phản cục.
Lệ:
Càn: Ất quý kỷ nhâm
Tị mùi sửu thân
Không có phản, ức vạn phú hào. Chủ vị một đảng, tân vị một đảng, muốn dồn tân. Năm nay06 bính thú bất hảo, phạm tam hình rồi. Nhẹ một điểm vốn là quan tòa. Bính tuất tam hình phá hủy xung.
Nhàn chú: Chừng tách ra, chủ vị một đảng, tân vị một đảng; chủ vị dụng, tân vị thể, thuyết minh nhất trí.
Khôn: Đinh quý bính tân
Mùi sửu thân mão
Đây là nói rõ đoạn qua đích bát tự, nguyên cục có lưỡng đảng, kim thủy đảng cùng mộc hỏa đảng. Năm tháng tướng xung, nhật thời tướng hợp. Nhưng này tạo không vi phản cục. Chúng ta có thể tòng [người/cái kia] góc độ xem, kim thủy ở bên trong, mộc hỏa bên ngoài. Dụng bên trong đích chế bên ngoài đích, cho nên vốn là biểu đạt ý tứ rõ ràng, không vi phản cục,( Một xung hợp lại tỏ vẻ chính là đối ngoại đích thủ đoạn bất đồng. Hai lần hôn nhân, quý vốn là ngắn ngủi đích trượng phu, thân( Trung ngậm nhâm thủy) phu tinh được chính vị rồi, vi người thứ hai trượng phu, mà thân mão hợp làm công, tỏ vẻ lần thứ hai hôn nhân hảo mà lâu dài.)( Được chính vị đích tinh vốn là thời gian dài phu hoặc thê.)( Chú: Vấn đề:1, vì sao bằng cấp cao?2, vì sao vốn là đại học trung đích quan?)
Nhàn chú: Kim thủy ẩm ướt thổ thành xu thế chế rồi mộc cùng táo thổ; mão vi ấn, chế ấn mà quyền!
2. Tuế vận xung hợp phản cục
Xung hợp phản cục to lớn vận lưu niên phản cục. Nguyên cục có minh xác đích chế đích lúc, sợ đại vận, lưu niên hợp. Như không có minh xác đích chế, thì không sợ.
Lệ:
Càn: Canh kỷ bính ất canh tân nhâm quý
Thân sửu thân mùi dần mão thìn tị
nhật bản thân, học kim tan ra, thích làm cho du lịch.
Này tạo kim thủy có khí, lưỡng thân vào sửu mộ cùng mùi xung vi khứ ấn khố, nguyên cục biểu đạt rồi ý tứ này, nhưng đại vận đi một tân mão vận, mão thân kết hợp hợp rồi thân kim, cùng nguyên cục thân kim nhập sửu mộ xung mùi trái ngược rồi, vi xung hợp phản cục. Bởi vì canh kim vi phụ, mão thân hợp mão mộc là phụ thân chi tài, cố mão vận chủ phụ thân phá tài. Mão vốn là chưa bao giờ trung đi ra gì đó( Mùi trung tàng ất mộc), vốn xung bây giờ hợp, phản cục. Như thế dần vận thì không vi phản cục, này tạo phụ thân có gia sản.( Thiên can hợp địa chi xung vốn là có thể đích, không vi phản cục, chỉ sợ địa chi thượng đích thêm xung thêm hợp, như vốn lệ nguyên cục trung thiên can ất canh hợp, địa chi sửu mùi xung không vi phản cục, chỉ là mão vận tài phản cục.)
Nhàn chú: Nguyên cục vốn là lưỡng thân tài nhập sửu khố, có xu thế chế rồi mùi ấn khố và ất ấn đích, tài khố vọt ấn khố làm công, học kim tan ra chuyên nghiệp. Mão vận, mão hợp rồi thân, thân tòng sửu trung đến, mão chưa bao giờ trung dẫn ra, như vậy vốn xung tố công đích biến thành rồi hợp tố công, phản rồi! Mão vận, mệnh chủ còn nhỏ, thân vi tài, tài phản rồi, phá tài, vi phụ phá tài! Phụ nợ khoản nợ tự sát, nợ cha con trả!
Khôn: Quý ất tân kỷ bính đinh mậu kỷ canh
Mão sửu mùi sửu dần mão thìn tị ngọ
Này tạo nguyên cục vốn là chế tài khố, sửu mùi xung cát. Vì vậy mệnh phát đại tài. Vốn là làm cho xe hơi tiêu thụ đích( Chú: Không rõ vì sao làm cho xe hơi tiêu thụ?). Nhưng đến kỷ tị đại vận đích giáp thân năm, tuế vận thiên địa hợp, phản cục rồi. Vốn kỷ tị vận không kém, nhưng gặp giáp thân lưu niên nhân tiện phản rồi, tị vốn là mùi thổ đích đảng, thân vốn là sửu thổ đích đảng, lưỡng đảng nguyên cục tướng xung vi cát, lúc này gặp thiên địa hợp, vi phản cục, hung. Này một năm nghiêm trọng tai nạn xe, thành tàn phế( Người thực vật).( Chú: Thân vốn là sửu trung đi ra đích, tân sửu thân ngay cả thể rồi( Nhàn chú: Nọ vậy tới tân sửu hả?), cố thân vốn là thân thể, giáp thân một trụ, giáp vốn là đầu, thân vi cột sống. Đại vận lưu niên hợp bán, thân thể không thể động rồi, đại não cũng không có thể tự hỏi rồi, cố vi người thực vật.)
Nhàn chú: Kỷ tị vận giáp thân lưu niên, đại vận lưu niên thiên địa hợp! Tị vốn là mùi thổ đích đảng, thân vốn là sửu thổ đích đảng, lưỡng đảng nguyên cục tướng xung vi cát, lúc này gặp thiên địa hợp, phản cục rồi! Tố công xung đích, không thích đến hợp! Thân mão hợp, ruột gan có chuyện, giáp vi đầu, sống lưng chặt đứt!
Hồ Bắc một chế dược xí nghiệp chủ tịch
Càn: Quý bính mậu bính ất giáp quý nhâm tân canh
Mão thìn tử thìn mão dần sửu tử hợi thú
Này tạo tố công vốn là quan mang tài, quan tinh bị hại, nhưng chủ vị đích tử thủy tài tinh không làm công( Lưỡng thìn kẹp tử không làm công, chính mình không có gì tiền.), cho nên vốn là quản lý quốc có xí nghiệp đích quan, không phải chính mình đích xí nghiệp, vốn là quốc xí đích xí nghiệp nhà. Nhưng là hành nhâm tử vận đích tử vận giáp thân năm, thân nguyệt bị thẩm tra. [đóng/tắt] ba tháng, sau đó chứng minh không có gì chuyện, là bị hãm hại, thêm phóng ra. Đâu quan bãi chức rồi( Bình phản sau khi, chính hắn từ chức mặc kệ rồi, sau khi đi tư xí công việc). Tại sao? Nguyên nhân nguyên cục vốn là hại chế mão, giáp thân năm, thân mang quan sát, thân vào thìn chi đảng thêm cùng mão ám hợp, cho nên vốn là phản cục. Nguyên cục là dựa vào mão thìn hại tố công, như thế [một người/cái] thìn nói nhân tiện phá hủy, thìn hại chế không được mão, phản cũng bị mão hại phá hư, nơi này [hai người/cái] thìn hại mão, là có thể đem mão hại chế trụ. Thìn vốn là cơ khí, củng rồi thủy, thìn tựu thành rồi bùn, biểu tòng hỗn trọc trung tinh chế. Thực tế vốn là hóa công ngành sản xuất, chế dược xí nghiệp. Thìn cũng có dược đích tượng. Thân cùng thìn, tử vốn là thủy đảng, nguyên cục nên hại chế mão, mão thân hợp lại nhân tiện xung hợp phản cục rồi. Nguyên nhân thân dẫn theo giáp mộc quan tượng, cho nên vốn là quan tai, nguyên nhân giáp mộc hư thấu rồi, cho nên cuối cùng vô sự. Sửu vận đích nhâm thân năm vô sự, là bởi vì thân vào sửu mộ, thân không dậy nổi đại tác phẩm dùng.
( Chú: Niên thượng đích quan tinh bị chế vì nước có xí nghiệp đích quan; nhật chủ hợp niên thượng đích quan tỏ vẻ tại quốc xí công việc, quan tỏ vẻ quốc gia đích đơn vị, khổng lồ đích đơn vị, không nhắc tới kì quan chức.)
Nhàn chú: Tử= quý, quý mão mang tượng, thìn tử củng, tại niên thượng vi người khác đích tài, quốc có. Tử vận không sai, quý mùi năm cũng không sai, chiêu thương rời xa tư. Giáp thân năm sau nửa năm song quy ba tháng, nguyên nhân thân mão hợp, phản cục rồi. Lập thu sau khi, khai trừ công chức, lưu đảng xem! Giáp thân năm vi mang sát tượng, có quan tai. Ất dậu năm mão dậu xung, không phản rồi, cho nên, bình phản rồi!
Thêm một tương tự xí nghiệp nhà lệ:
Càn: Quý bính mậu giáp
Mão thìn thân tử
Nội thực thần cách, vi tố xí nghiệp đích. Ngồi xuống thân cùng mão hợp( Cái này hợp vốn là chủ vị tố công, vốn là tốt), vốn là hương trấn xí nghiệp tập đoàn đích, có chính mình đích luồng phần. Không thích giáp mộc thấu can khắc thân( Muốn dồn nó thêm chế không được). Quý mùi năm bị kỉ kiểm chuẩn bị một chút( Đãi rồi ba tháng), sau khi cũng không sự tình rồi. Vốn là chính trị đấu tranh đích thế tội dương. Nguyên nhân quan tinh cao thấu khắc thân, cố không thể làm quan, làm quan sẽ có tai, hắn lúc này làm rồi huyền chính hiệp đích lãnh đạo, có quan, cũng thì có rồi quan tai.
( Chú: Niên thượng đích quan tinh bị chế vì nước có xí nghiệp đích quan, nhật chủ hợp niên thượng đích quan tỏ vẻ tại quốc xí công việc.)
Nhàn chú: Cái này ví dụ, tư liệu thượng không thấy.
Càn: Canh mậu đinh canh kỷ canh tân nhâm quý giáp ất
Thân dần mùi tử mão thìn tị ngọ mùi thân dậu
Nguyệt nhật một đảng, năm thời một đảng, vi trong ngoài lưỡng đảng, nhất trí đối ngoại, chi thực thần hại sát vi công, dần thân xung cũng vi công, dựa vào xung hại tố công. Chế quan sát, rất lợi hại. Vốn là một kháng nhật anh hùng. Thìn vận lợi hại, cả đời nhất chói lọi chính là canh thìn vận. Hội rồi thủy cục ăn mặc lợi hại hơn rồi, đối kháng lợi hại hơn cho nên càng hiện ra rồi lớn hơn nữa đích công.( Thân kinh bách chiến, lực lớn vô cùng, mùi vốn là tì lực, canh thìn vận hội rồi thủy cục địch nhân hơn nhiều, có càng nhiều. Quý mùi vận không có địch nhân, cho nên bất hảo.???) mùi nơi này không thể nhập thìn mộ đích. Tân tị vận chi tị vận còn kém rồi, phản cục, tị vi hỏa đảng, hợp thân phá hủy, không mặc rồi. Cho nên này vận cũng chịu bách hại. Quý mùi vận vốn có thể mặc mà nói cát, nhưng quý thủy hư rồi, không cách nào hại, tượng bất hảo rồi.
Nhàn chú: Trong ngoài lưỡng đảng, nội chế ngoại. Mùi không vào thìn mộ, là nguyên nhân mùi cùng thủy khác đảng. Mùi vi tì, ra tay lượng. Truyền thuyết, đánh địch nhân một chút nhân tiện đem trạm canh gác binh đích cổ chuẩn bị chặt đứt! Tố công: Hại quan sát! Thân tử thìn= địch nhân, nhất định phải bảo trì hại đích trạng thái! Này mệnh đoạn sư nói: Hòa bình niên đại chính là ngồi lao đích mệnh! Thìn vận, tốt nhất! Giết địch vô số, hướng phía nòng súng xông, chính là không bị thương! Truyền thuyết: Nhật vốn thủ lĩnh nguyên nhân kính sợ một thân, ước hai người cùng nhau uống rượu. Rượu sau khi cao hứng, nhật thủ lĩnh hỏi ngoài có gì yêu cầu? Đáp viết: Muốn biết một cố gắng cơ thương? Ngày kế, nhật quan lớn phái lưỡng binh lính tống một cơ thương cùng một cái rương đạn! Lưỡng binh lính cũng đầu hàng rồi, nói trở về nhưng vô sinh hoàn lại chi lý! Tân tị vận nhàn rỗi, vi trang bị bộ bộ trưởng, bởi vì không văn hóa, giang hồ khí quá nặng, vật tư nhận được phòng không có thủ tục, nghi vi tham ô! Tị thân hợp phá hủy nguyên cục tố công trạng thái. Quý mùi vận quý thủy hư thấu, vô địch người, vô sự có thể tố!
Càn: Mậu giáp đinh giáp
Tuất dần mão thìn
Đại vận: Ất bính đinh mậu kỷ canh tân nhâm
Mão thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất
Đây là chu ân đến tạo. Mão hại thìn vi công, sợ nhất hợi, nguyên nhân hợi tòng thìn xuất, hợp dần mão, xuất phản đồ rồi. Nhưng may mắn cả đời không được hợi vận. Nhưng hợi năm cũng hung. Như: Ất hợi năm1935 trường chinh, can nùng thũng bệnh nặng, đồng thời quyền lực bị người khác thay thế( Bị lão mao đoạt rồi quyền chỉ huy). Ất hợi năm, ất vi can, can trung có thủy rồi. Nếu như không phải phản cục, ất hợi năm ngược lại tốt lắm, nguyên nhân thủy sinh mộc rồi.
Đinh tị chi đinh vận canh thân năm, thủy đảng cùng hỏa đảng hợp, phản cục, ngồi lao [sáu cái/người] nguyệt. Đinh tị vận không phản cục, nhưng canh thân năm phản rồi, bởi vì tị thân hợp, thân thìn củng hợp đích ý tứ rất yếu, không phải chủ yếu nguyên nhân. Kỷ mùi vận duyên an chỉnh gió, bị suy yếu quyền lực. Nhâm tuất vận ất mão năm tử, nguyên nhân mặc con gái cung, cho nên vốn là bọng đái, thẳng tràng bộ phận có chuyện. Chu tổng lý đích tánh mạng chủ yếu là xem âm dương tổ hợp, âm toàn bộ chế tịnh rồi nhân tiện phá hủy thăng bằng, cho nên thìn chế tịnh thời tánh mạng thì có rồi nguy hiểm.
Nhàn chú: Nguyên cục tố công vi hại, không thể thay đổi tố công trạng thái. Ất hợi năm hợi hợp rồi mão, hợi là thìn trung vật, đáng năm được can túi thũng! Mão vi can, hợi thủy sinh hợp chi, giống như can thượng hơn nhiều một cái phao.
Càn: Quý giáp kỷ mậu
Mão dần mão thìn
Một đệ tử đích bát tự, giáp kỷ hợp, hại đích ý tứ vốn là mang vào rồi, có thể mặc thợ khéo, cũng có thể không làm công, không rõ xác thực không chuyên tâm, không sợ phản. Trên thực tế phản vận cũng không có việc gì. Bởi vì công nhiều lắm, mỗi năm năm nhân tiện thay đổi một loại ngành sản xuất.
Nhàn chú: Tạ ơn vĩ cường đích bát tự?
Càn: Mậu giáp kỷ tân
Thân dần mùi mùi
Kỷ mùi hỉ hình xung, nhưng dần vốn là mùi trung sinh ra tới, vọt. Cho nên hôn nhân không có việc gì. Lão công(?) vốn là nhị hôn. Tân hợi vận trượng phu phát tài rồi, hợi dần hợp, dần hoàn lại xung
Nhàn chú: Thiên can vốn là cái chìa khóa, địa chi vốn là khóa. Còn đây là cái chìa khóa cùng khóa đích nguyên lý!
Càn: Đinh quý kỷ ất
Dậu sửu sửu sửu
Đinh quý xung, huynh đệ ba người đều là công kiểm pháp đích quan, chính mình vốn là trung cấp nhân dân pháp sân đích viện trưởng.
Nhàn chú: Đinh= mùi; quý= sửu; đinh quý một xung= sửu mùi xung
Xem nhân tướng, tính cách của con gái có lông mày xếch hay đàn ông lông mày xếch thì có làm sao? Bài viết dưới đây Phong thủy số sẽ giới thiệu bạn cách xem tướng đàn ông lông mày xếch hoặc phụ nữ lông mày xếch.

Theo tổng quyết của Ma Y (Luận về mi) thì:
Mi là lọng che mắt. Là nghi biểu của khuôn mặt Chủ sự hiền ngu của con người
(Chữ Hiền ở đây không phải là hiền lành mà chữ hiền này chỉ những người thông minh tài cao đức rộng mà chỉ các bậc cao nhân, hiền tài mới đạt được).
Nên khi xem tướng pháp con người, người ta sẽ chủ ý tới hình dáng cũng như độ đậm nhạt của lông mày.
Lông mày mọc xếch lên Thiên thương (chạy lên phía Thái dương) được xem như là người tài hoa, được mọi người quý trọng, tôn kính. Những người này thường sẽ thành công hơn trong lĩnh vực về nghệ thuật hoặc thẩm mỹ.
Không những thế, những người có lông mày xếch thường là người đào hoa, đa tình. Nhất là với phụ nữ hoặc đàn ông lông mày xếch thường dễ đổ vỡ hôn nhân, do ngoài tình.
Khi xét tổng thể khuôn mặt, nếu người có lông mày xếch kêt hợp với đôi mắt láo liên, môi dày thì người đó thường là kẻ lừa gạt, trộm cướp hay làm ăn phi pháp.
Nhưng ưu điểm của người có lông mày xếch là những người thông minh, có tham vọng lớn họ có khá nhiều bạn và và cũng không ít những kẻ ghen ghét, đố kỵ.
Lông mày xếch thường không tốt bằng mắt xếch. Nhất là đối với đàn ông lông mày xếch lại càng không tốt.
Trên đây là những ý nghĩa chung về người có lông mày xếch cũng như đàn ông lông mày xếch. Để tìm hiểu thêm những thông tin thú vị khác. Bạn có thể tham khảo thêm tại:
+ Tổng quan về tướng mũi của mỗi người
+ Mắt rồng, mắt phượng mày ngài là như thế nào?
+ Hình dáng đôi mắt nói gì về con người bạn.
Tỳ hưu là loại mãnh thú huyền thoại, trong phong thủy nó tượng trưng cho tài lộc, công danh và sự may mắn. Tương truyền con đực được gọi là tỳ, con cái gọi là hưu, nhưng hiện nay cả con đực và con cái đều được gọi chung bằng cái tên tỳ hưu.
|
| Tỳ hưu, vật phẩm phong thủy mang đến tài lộc, công danh cho gia chủ. |
Tỳ Hưu màu đen thì có tác dụng chiêu tài, phát lộc.
Tỳ Hưu màu trắng thì có tác dụng bảo trợ sức khỏe.
Tỳ Hưu màu xanh thì có tác dụng may mắn trong công danh.
Ở nhà: Đặt Tỳ Hưu đầu quay ra ngoài với ý nghĩa cầu tài. Và nên đặt tỳ hưu ở các hướng tốt khi đã được khai quang như hướng: Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị để mang lại may mắn cho gia chủ.
Ở văn phòng: Có thể đặt tượng tỳ hưu trên bàn làm việc, chú ý khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương. Và khi đặt bất cứ vật khí phong thủy nào, điều cần phải nhớ xem ngày giờ tốt để đặt.
Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí (nhớ phải là Tỳ Hưu một sừng), ta đặt Tỳ Hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như : Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Với hướng “sinh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của bạn.
Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy, khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ, mang đến những điều bất lợi cho tất cả các thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.
Lưu ý
Không quay Tỳ Hưu vào gương, vì gương có quang sát, Tỳ Hưu rất kỵ.
Không đặt đối với giường ngủ, vì như thế sẽ không có lợi cho chính mình.
Không sờ vào mắt, miệng, lưỡi, răng của Tỳ Hưu. Nếu không Tỳ Hưu sẽ bị mờ mắt, mòn răng và do vậy sẽ mang được ít vàng bạc châu báu đến cho gia chủ.
Không mang tỳ hưu trong lúc quan hệ nam nữ.
Không đem cho hoặc tặng tỳ hưu cho người khác nếu không tài lộc của mình sẽ chuyển qua họ.
Phụ nữ đến tháng hoặc có thai không được sờ mó tỳ hưu, vì tỳ hưu kỵ huyền sát, quang sát, thai sát.
Không nên thường xuyên lau chùi tỳ hưu.
Nếu như không chú ý đến một số vấn đề về phong thủy thì sẽ có thể khiến cho tài vận của chính mình dễ bị rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan.

Phong thủy tài vận luôn được mọi người tương đối quan tâm. Để tài lộc luôn dồi dào, các bạn cần phải chú ý không để cho tà khí xâm nhập vào nhà, vì chính những vấn đề nhỏ nhặt lại dễ gây ảnh hưởng đến vận may của gia đình. Năm mới đến, hầu hết mọi người đều cầu mong có thể làm ăn phát tài. Vì vậy, mọi người phải chú ý cảnh giác với những hung thần phong thủy gây cản trở đến việc phát tài của gia đình mình.
Hung thần thứ nhất: Tà khí cửa ngõ
Tà khí cửa ngõ chủ yếu gồm hai loại: 1 là một nhà nhiều cửa, và 2 là các cửa đối diện với nhau. Cho dù là loại thứ nhất hay thứ hai thì xét về phong thủy học đều là điều không tốt lành.
Trước tiên là loại một nhà nhiều cửa tức là chỉ một căn nhà mà phía trước phía sau đều thiết kế nhiều cửa. Bố cục căn nhà như vậy không có lợi cho việc giữ gió, tụ khí mà dễ dẫn đến hao tốn tiền của.
Tiếp theo, loại thứ hai là bên trong căn nhà có các cửa đối nhau như cửa chính, xem phong thuy cửa phòng ngủ, cửa phòng vệ sinh và cửa phòng bếp. Như thế dễ hình thành tà khí và làm mất đi tài vận của gia đình.
Hai loại kể trên nếu như đã được định sẵn không chỉnh sửa được thì gia chủ nên cho đóng các cửa không cần thiết vào và chỉ nên mở những cửa hay sử dụng.
Hung thần thứ hai: Tà khí tiền sảnh
“Tà khí tiền sảnh” thực ra là một loại thiết kế phong thủy không may mắn thường hay gặp phải, chủ yếu là chỉ cửa chính của căn nhà trực tiếp đối diện với ban công, cửa sổ hoặc cửa sau…
Cửa chính vốn là cánh cửa ra vào chủ yếu của ngôi nhà nên đó là nơi khí tốt và khí xấu trực tiếp thâm nhập vào và cũng là nơi khí thoát ra. Nếu như dòng khí vào từ cửa chính trực tiếp thông qua phòng lớn ra ngoài thì cũng giống như kiểu mũi tên bắn xuyên trái tim vậy. Và chính vì thế đó trở thành một luồng tà khí và phong thủy học gọi với cái tên “tà khí tiền sảnh”. Một căn nhà không hấp dẫn được khí tốt như vậy thì chắc chắn cũng không thể mang lại may mắn về tiền tài.
Hung thần thứ ba: Gió
Nhắc đến hung thần gió tức là nói đến nguồn gió xung quanh căn nhà đang sinh sống. Nếu như có gió lớn xung quanh căn nhà, mà lại là loại gió quần quần ác liệt thì sẽ rất dễ hình thành “gió độc”.
Những căn nhà như vậy thường nằm ở những nơi có gió táp, lượng gió thâm nhập vào nhà sẽ nhiều, loạn và sẽ rất khó ngừng lại. Chính vì vậy cho dù là nơi có địa thế tụ khí tốt thì cũng sẽ khiến cho người nhà vận may kém cỏi, hao tài tốn của.
Hung thần thứ tư: Nhà khuyết góc
Tà khí với căn nhà khuyết góc là chỉ việc căn nhà xuất hiện việc tổn tại về việc khuyết góc. Tuy răng chúng ta không ai mong muốn sở hữu hay xây dựng căn nhà như vậy, nhưng nhiều khi ở lâu rồi hoặc là thấy giá rẻ nên cũng cân nhắc và ở đó. Tuy nhiên căn nhà như vậy trong phong thủy được nhận đình là loại nhà hao tài. Một căn nhà cũng được ví như túi tiền của chúng ta vậy, nếu ví tiền bị thủng một lỗ thì cho dù bên trong có bao nhiêu tiền của thì cũng sẽ mất hết mà thôi.
Theo phong thủy, nhiều vật dụng như tượng, tranh ảnh… khi trang trí trong nhà có lợi hoặc không có lợi cho chủ nhà. Tùy theo quan niệm của từng người mà việc lựa chọn những đồ vật trang trí này khác nhau. Sau đây chúng tôi sẽ hướng dẫn cho các bạn cách bày trí vật phẩm phong thủy con ngựa, chúng ta cùng tham khảo nhé!
Nội dung

Riêng đối với những nhà kinh doanh, họ thường chọn hình tượng con ngựa để trang trí trong nhà mình hay chính nơi làm việc.
Vì trong phong thủy, con ngựa là không những là con vật trung thành nhất, ngựa còn là biểu tượng của sự kiên nhẫn, bền bỉ, lâu dài, là con vật mang lại sự may mắn, tài lộc.
Hình ảnh những chú ngựa luôn đem lại nguồn tài lộc, sự phát đạt trong kinh doanh, sự nhanh nhạy và tăng tiến tiền tài, khiến những công việc dự định sẽ nhanh chóng hoàn thành hơn dự kiến và đạt kết quả cao hơn mong muốn.
Dùng cho những người hay đi xa, chuyến đi thành công tốt đẹp. Trong đầu tư kinh doanh thì nó mang lại lợi lộc lớn cho chủ nhân.
Chính vì thế, hình ảnh những chú ngựa đang trong tư thế chạy luôn là biểu tượng được ưa chuộng, tin dùng, đặc biệt là đối với những nhà kinh doanh.
Hình ảnh đôi ngựa đồng mang nguyên khí của Kim, không những đem lại tài lộc, công danh mà còn có tác dụng hóa giải sát khí của sao Nhị – Ngũ hành Thổ vốn đem lại họa về bệnh tật, sa sút trong vận 8 là hung khí. Nên đây là vật khí dùng bổ trợ cho Phong Thuỷ nhà ở, văn phòng, cửa hàng rất hiệu quả.
Tam ngựa bằng thủy tinh cát mang nguyên khí của Thổ, không những đem lại tài lộc, công danh mà còn có tác dụng phát huy thổ khí.
Ngựa đá mang nguyên khí của Thổ là nguyên khí vủa vận 8 nên rất mạnh.
Theo mẹo thuật của dân gian thì khi bài trí nên đặt đồ vật linh thiêng này trên bàn làm việc và chỗ tài vị trong nhà, mặt nên hướng ra cổng lớn hoặc cửa sổ sẽ đại cát.
![]() |
![]() |
| ► ## cung cấp công cụ Xem ngày cưới chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
Qua phim ảnh, sách báo cũng như đến thăm dinh vua chúa tại các di tích trên đất nước ta (dinh vua Bảo Đại ồ Đà Lạt, cố đô Huế…) nhiều người ngạc nhiên và thắc mắc rằng vì sao vua chúa giàu có như vậy mà phòng ngủ lại chỉ bé nhỏ như phòng ngủ của dân thường, thậm chí Long sàng (giường rồng) còn nhỏ hơn khi buông 2 lớp rèm che.

Sở dĩ có điều này vì độ rộng hẹp của phòng ngủ tỉ lệ thuận với số lượng người ở, như vậy khí trong phòng mới vượng. Cơ thể con người là một khôi năng lượng, có thể phát quang tỏa nhiệt. Nếu phòng ngủ càng lớn, bạn càng phải tiêu tốn nhiều năng lượng cơ thể để duy trì sự cân bằng giữa khí người với thể khí xung quanh. Nghỉ ngơi trong một phòng ngủ như vậy sẽ khiến thể chất của bạn ngày càng suy yếu, uể oải, gây ảnh hưởng đến hiệu suất công việc, mệt mỏi trong sinh hoạt hàng ngày do năng lượng của cơ thể đã tiêu hao trong quá trình cân bằng với môi trường trong phòng ngủ.
Ngược lại, phòng ngủ quá bé sẽ gây ngột ngạt, khó thở do mất cân bằng giữa khí lưu thông trong không khí và khí của con người.
Vì vậy một phòng ngủ vừa phải sẽ đem lại cho bạn một nguồn sinh lực mới do được nghỉ ngơi thư giãn trong môi trường hợp lý. Để phòng ngủ vừa yên tĩnh vừa có lợi cho sự tương thông mạch khí giữa cơ thể người với môi trường xung quanh, bạn chỉ nên thiết kế phòng ngủ với diện tích 15m2, rộng nhất cũng không quá 20m2 là tốt.
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Mời bạn đọc: Tiểu sử nhà tiên tri Vanga và những lời tiên tri của Vanga đáng sợ nhất lịch sử |
![]() |
Trong cuốn “Khổng Tử gia ngữ – Ngũ đế” có viết: “Trời có ngũ hành, Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ. Chia thời hóa dục, để thành vạn vật”. Ngũ hành là từ để chỉ năm loại nguyên tố vật chất, tức Thủy (nước), Hỏa (lửa), Mộc (cây), Kim (kim loại), Thổ (đất). Các nhà âm dương theo chủ nghĩa duy vật chất phác (giản đơn) cổ đại Trung Quốc cho rằng, năm loại vật chất này là khởi nguồn và căn cứ để tạo nên vạn vật.

Thời kỳ Chiến Quốc, học thuyết ngũ hành tương sinh tương khắc (còn gọi là tương sinh tương thắng, ngũ hành sinh thũng) rất thịnh hành. Chủ nghĩa duy vật đơn giản cho rằng, một vật có tác dụng thúc đẩy một vật khác hoặc thúc đẩy lẫn nhau gọi là “tương sinh”, còn một vật có tác dụng ức chế một vật khác hoặc bài xích lẫn nhau gọi là “tương khắc” (cũng gọi là tương thắng).
Ngũ hành tương sinh có: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Ngũ hành tương khắc có: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Cuốn “Thuyết văn – Bộ Ngũ” của Đoàn Ngọc Tài có phê chú: “Thủy Hỏa Kim Mộc Thổ, tương sinh tương khắc, âm dương giao ngọ dã”. Lý luận ngũ hành tương sinh tương khắc bao hàm các nhân tố của chủ nghĩa duy vật chất phác và phép biện chứng, có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của thiên văn, lịch sử, y học Trung Quốc.
Đến nay, y học Trung Quốc vẫn lấy học thuyết ngũ hành để nói về thuộc tính của các tạng phủ và quan hệ tương hỗ của chúng. Ví dụ, Trung y cho rằng gan thuộc Mộc, tim thuộc Hỏa, tỳ thuộc Thổ, phổi thuộc Kim, thận thuộc Thủy…Ngoài ra, Trung y vẫn lấy lý luận ngũ hành tương sinh tương khắc trong lâm sàng để giải thích mối quan hệ hỗ trợ sinh trưởng và khắc chế nhau giữa các nội tạng. Ví dụ như gan có thể khắc chế tỳ, gọi là Mộc khắc Thổ; Tỳ có thể dưỡng phổi vì Thổ sinh Kim…Về phương diện điều trị, như bệnh gan phạm tỳ, thì áp dụng phương pháp điều trị ức chế gan, hỗ trợ tỳ, gọi là ức Mộc phù Thổ.
Tư tưởng của con người là sản phẩm của xã hội. Hình thái ý thức của xã hội không lúc nào ngừng khắc dấu ấn vào trong não người. Mà tư tưởng con người có quan hệ mật thiết với nhận thức về tự nhiên, xã hội. Sự thịnh hành của học thuyết âm dương ngũ hành khiến cho người ta ràng buộc vinh nhục, phúc họa trong cuộc đời vào ngũ hành sinh khắc.
Cho nên, khi đặt tên, đều hết sức mong cầu được âm dương điều hòa, cương nhu tương tế. Họ cho rằng như thế trong cuộc sống có thể gặp hung hóa cát, thuận buồm xuôi gió. Đây có lẽ là nguyên do mà mấy ngàn năm nay, mọi người vẫn luôn lấy lý luận ngũ hành làm căn cứ để đặt tên.
Đặt tên theo lý luận ngũ hành có lẽ bắt đầu từ thời Tần Hán. Khi đó, người ta chủ yếu đem phép đặt tên theo can chi từ thời Thương Ân lồng ghép với quan điểm ngũ hành để đặt tên. Ở thời đại Chu Tần, người ta ngoài cái “Tên” còn đặt thêm “Tự”. Do đó, chủ yếu phối hợp thiên can với ngũ hành, đặt ra “Tên” và “Tự”. Như công tử nước Sở tên là Nhâm Phu, tự là Tử Thiên Tân, tức là lấy Thủy phối hợp với Kim, tức là lấy Thủy sinh Kim, cương nhu tương trợ cho nhau.
Đến đời Tống, phép đặt tên theo ngũ hành càng trở nên thịnh hành. Tuy nhiên, thời đó có khiếm khuyết là không coi trọng bát tự, chỉ lấy ý nghĩa của ngũ hành tương sinh để đặt tên.
– Mộc sinh Hỏa: Tên cha thuộc Mộc thì tên con phải thuộc Hỏa.
– Hỏa sinh Thổ: Tên cha thuộc Hỏa thì tên con phải thuộc Thổ.
– Thổ sinh Kim: Tên cha thuộc Thổ thì tên con phải thuộc Kim.
– Kim sinh Thủy: Tên cha thuộc Kim thì tên con phải thuộc Thủy.
– Thủy sinh Mộc: Tên cha thuộc Thủy thì tên con phải thuộc Mộc.
Đến nay, trải qua ngàn năm ứng dụng, phương pháp đặt tên theo ngũ hành đã được hoàn thiện rất nhiều, phối hợp chặt chẽ với 81 linh số và giờ ngày tháng năm sinh…để đạt hiệu quả đặt tên ở mức cao nhất.
Lựa chọn tên cho con theo Ngũ Hành tương sinh như thế nào
Ngoài ý nghĩa lựa chọn tên theo ngũ hành, bạn có thể xem tuổi và bản mệnh của con để đặt tên cho phù hợp. Một cái tên hay và hợp tuổi, mệnh sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho con bạn trong suốt đường đời.

Đặt tên theo tuổi
Để đặt tên theo tuổi, bạn cần xem xét tuổi Tam Hợp với con bạn. Những con giáp hợp với nhau như sau:
* Thân – Tí – Thìn
* Tỵ – Dậu – Sửu
* Hợi – Mão – Mùi
* Dần – Ngọ – Tuất
Dựa trên những con giáp phù hợp bạn có thể chọn tên có ý nghĩa đẹp và gắn với con giáp Tam Hợp. Ngoài ra cần phải tránh Tứ Hành Xung:
* Tí – Dậu – Mão – Ngọ
* Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
* Dần – Thân – Tỵ – Hợi
Đặt tên theo bản mệnh
Bản mệnh được xem xét dựa theo lá số tử vi và theo năm sinh, tùy theo bản mệnh của con bạn có thể đặt tên phù hợp theo nguyên tắc Ngũ Hành tương sinh tương khắc:
Dựa theo Tử Vi, các tuổi tương ứng sẽ như sau:
* Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cung Thổ
* Dần, Mão cung Mộc
* Tỵ, Ngọ cung Hỏa
* Thân, Dậu cung Kim
* Tí, Hợi cung Thủy
Bạn có thể kết hợp theo từng năm sinh để lựa chọn tên theo bản mệnh phù hợp nhất, ví dụ:
* Canh Dần (2010), Tân Mão (2011): Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá)
* Nhâm Thìn (2012), Quý Tỵ (2013): Trường Lưu Thủy (nước chảy dài)
* Giáp Ngọ (2014), Ất Mùi (2015): Sa Trung Kim (vàng trong cát)
* Bính Thân (2016), Đinh Dậu (2017): Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi)
* Mậu Tuất (2018), Kỷ Hợi (2019): Bình Địa Mộc (cây mọc đất bằng)
Như vậy, nếu con bạn mệnh Mộc thì bạn có thể chọn tên liên quan tới Thủy (nước), Mộc (cây) hay Hỏa (lửa) để đặt tên cho con bởi Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa… Các tuổi khác cũng tương tự, dựa vào Ngũ Hành tương sinh, tránh tương khắc sẽ giúp mọi sự hạnh thông, vạn sự như ý.
1. Lo thắng người thì loạn, lo thắng mình thì bình. 2. Nếu muốn được tất cả, phải từ bỏ tất cả. 3. Hiểu người là khôn, hiểu được mình mới là khôn thật sự. 4. Nếu biết vạn vật đều thay đổi, thì bản thân không nên cố nắm giữ điều chi. 5. Ai vội vàng tiến lên phía trước đều không thể đi xa. 6. Ai muốn hiển thị mình sẽ tự làm lu mờ bản thân. 7. Ai muốn chứng thực bản thân sẽ không tự biết bản thân mình là ai. 8. Ai muốn ước chế người khác thường không tự ước chế bản thân mình. 9. Không còn sự đối chọi, ma quỷ tự tiêu tan. 10. Nếu biết nhìn vào tâm mình, anh có thể tìm thấy tất cả các câu trả lời.
![]() |
– Mệnh Mộc hợp màu gì? Màu sắc có vai trò cân bằng, hỗ trợ và điều hòa yếu tố âm dương trong phong thủy. Mỗi yếu tố ngũ hành khác nhau lại mang màu sắc đặc trưng không giống nhau. Hãy cùng tìm hiểu người mệnh Mộc hợp màu gì nhất nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
Đại để phụ nữ như vậy thường có nhiều nét tướng thuộc các loại sau đây :
- Nói một cách tổng quát thân hình diện mạo đôn hậu, đẹp một cách oai vệ, cử chỉ ngôn ngữ thư thái ôn hoà : khuôn mặt cân phận về cả tam đình, Ngũ nhạc và tứ đậu. Nếu đi sâu vào từng chi tiết ta thấy :
- Ấn đường rộng rãi không xung phá, diện mạo tươi tỉnh.
- Mũi thuộc loại Huyền đảm tỵ đúng cách : màu da khuôn mặt tươi nhuận đặc biệt là chuẩn đầu và tỵ lương sáng sủa, phối hợp với mày thanh mắt đẹp.
- Lòng bàn chân hoặc trong thân thể ( rốn hoặc khu vực trên dưới rốn một chút, phần ngực ) có nốt ruồi đen huyền hoặc son.
- Bất kể gầy mập mà lòng bàn tay mập, nếu lòng bàn tay có thịt quá đầy thì đa dâm và có thể ngoại tình mặc dầu vẫn vượng phu : màu sác hồng nhuận ấp áp, ngón tay thon dài, thẳng, khít nhau, chỉ tay rõ và đẹp.
Thường thường tướng đàn bà vượng phu đi đôi với tướng ích tử. Vì người đem lại thịnh vượng cho chồng đa số đem lại ích lợi cho con cái.
Trong một số ý nghĩa chuyên biệt hơn, ích tử còn có ý nghĩa là sinh con trai quý hiếm, làm rạng rỡ gia môn lo tròn đạo hiếu và giữ vững dòng giống (không phân biệt vợ lớn vợ bé ).
Về điểm này các sách tướng hầu như đều đồng ý về một số dấu hiệu sau :
Ngũ quan phối hợp đúng cách đặc biệt là sắc mặt trắng ngà, mắt phượng môi hồng.
- Rốn hoặc khu vực dưới rốn đôi chút có nốt ruồi sống màu son tàu.
- Xung quanh khu vực bụng có thịt nổi rõ như một vành đai.
Người đàn bà có hai đặc điểm về tướng cách cuối cùng như trên dường như chắc chắn sẽ sinh quý tử bất kể diện mạo xấu đẹp ra sao. Vì đó là hai nét tướng ngầm có khả năng chế ngự tất cả các phá tướng khác.
Đọc bài của giáo sư Lê Trung Hưng viết về các bí quyết để đóan về cung Mạng của lá số tử vi, quý bạn từng theo dõi KHHB chắc thấy rằng giáo sư Hưng thuộc lò Thiên Lương. Giáo sư Hưng có thể được kể là môn đồ sang giá nhất của cụ Thiên Lương.
1.Tử Vi dưới nhãn quan Huyền Cơ đạo thuật
Khoa học Tử Vi theo truyền thuyết thì phát sinh từ đời nhà Tống (Trung Hoa) và do Trần Đoàn hiền triết phát huy thành hệ thống lý học, để rồi sau đó được các thế hệ nối tiếp vừa đóng góp nghiên cứu, vừa quảng bá nhân gian như một khuynh hướng tiên tri các hoạt động của mỗi con người. Xã hội Á Đông xưa trọng kẻ sĩ hơn hết thảy :

- Dân hữu tử, sĩ vi chi tiên
Mẫu người đại nhân phải hội đủ các yếu tố hơn đời và hơn người qua sự tinh thông nho, y, lý số. Trong khi đại đa số quần chúng lo sinh nhai bằng cách sinh hoạt trên căn bản nông nghiệp, thì giới sĩ phu miệt mài bằng các suy tư nhân linh của đạo học Đông Phương, lấy tĩnh trạng làm căn bản biện chứng cho các động trạng. Hai chiều hướng trái ngược :
- Đa số : Động trạng - Tĩnh trạng
- Thiểu số : Tĩnh trạng - Động trạng
Làm cho khoa lý học Tử Vi trở thành huyền học và tệ hơn nữa là thành đạo thuật mưu sinh của của những " bậc đại nhân nửa chừng xuân " vì tham vọng cho cá nhân. Nhãn quan chung của nhân gian, xưa đến nay một phần bị mê hoặc bởi các thuật sĩ, một phần chịu ảnh hưởng triết lý nhị nguyên của Tây Phương (qua cố gắng nhiệt thành của các quan Tây Phương cai trị thời pháp thuộc), nhìn môn Tử Vi như một kiến thức của óc mê tín, chỉ một vài năm gần đây, giới trí thức mới đang kiếm các phục hồi cho khoa Tử Vi bằng những nổ lực của luận lý, là đem kỹ thuật của Tây Phương giải thích sáng tỏ một phần góc cạnh " áo bí " của khoa học nhân văn này. Trong tinh thần mới ấy, khoa Tử Vi không thể chỉ nghiên cứu bằng những mẫu chuyện truyền khẩu, bằng những câu phú thực nghiệm trải qua thời gian đã bị tam sao thất bổn : mà phải vận dụng tinh thần tinh tế của lý học hiện đại đồng thời vẫn lấy căn bản " dịch lý " của Đông Phương làm nền tảng phán đoán. Nếu ai cũng biết cái tinh hoa của quan niệm " ý tại ngôn ngoại " " của " lời vô ngôn " đẻ ra cung cách của Thuật Zen (Thiền) thì cái tinh túy mềm dẻo và thích nghi của Yoga càng phải nên áp dụng vào khoa Tử Vi để linh động biện chứng những tương quan của các dữ kiện (tạm gọi là sao trên lá số Tử Vi) chi phối đời người.
2.Kỹ thuật tiêu chuẩn để nhận biết lá số Tử-Vi
Trong phạm vi bài tham luận này, bỏ ra ngoài những giai đoạn lập lá số Tử -Vi mà tạm coi như việc hoàn thành lá số có đầy đủ. Người có bản số hãy theo theo dõi các dữ kiện " sao " sau đây :
1- Dữ kiện nghị lực : Sao Thiên Mã.
2- Dữ kiện sinh tồn :các sao vòng Tràng Sinh.
3- Dữ kiện hưng thịnh : các sao vòng Lộc-Tồn.
4- Dữ kiện tính khí : các sao vòng Thái Tuế.
5- Dữ kiện thời vận : các sao Tuần và Triệt.
6- Dữ kiện bẩm chất : các sao Thiên Không, Đào Hoa, Hồng Loan.
7- Dữ kiện hoạt động : các sao Vòng Mệnh và vòng Thân.
8- Dữ kiện thú tính : các sao Địa Không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa-Tinh, Linh-Tinh.
9- Dữ kiện phù trợ : các sao Tả-Phù, Hữu-Bật, Lực Sĩ, Bác-Sĩ, Hóa Quyền, Hóa Khoa.
10- Dữ kiện ma thuật : Mệnh vô chính diệu.
Ngoài các dữ kiện sao vừa nói, ta hãy nói sơ lược lại nền tảng phối hợp ngũ hành, để thích nghi luận lý :
a- Tương sinh : Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy-Mộc.
b- Tương khắc: Mộc-Thổ-Thủy-Hỏa-Kim-Mộc.
c- Bình Hòa : Thổ gặp Thổ (dù là loại Thổ gì cũng vậy)
d- Bất cập : Hỏa gặp Hỏa (dù là loại Hỏa gì cũng vậy)
e- Thái quá : Thủy gặp Thủy (dù là loại Thủy gì cũng vậy)
f- Phát triển :Kim gặp Kim và Mộc gặp Mộc.
Có nhiều sách ghi thêm tính chất của nhiều loại Thổ, nhiều loại Hỏa để cố gắng phân tích sự tiết giảm xung đột hay tăng thêm hòa hợp; điều này có phần biện bác để an ủi cho những người gặp cảnh ngộ xấu hoặc là tâng bốc những người ưa nghe điều tốt mà thôi. Vì đã ở thế cùng hành tất phải ở tình trạng ngưng đọng hơn là ảnh hưởng với nhau (lý thuyết nhất nguyên tính trạng) Do đó, chủ ý của bài viết này là nhằm cái biến dịch của ngũ hành trên 12 cung số của bản số Tử Vi mà luận giải.
3. Sao Thiên Mã
Người Đông Phương ưa cảm thông sự vật hơn phát biểu sự vật nên việc dùng từ ngữ chỉ có ý nghĩa tượng trưng (chứ không có tính cách mô tả chủ quan như Tây Phương) cho nên dữ kiện được gọi là " sao Thiên Mã " chỉ nên hiểu là cái nghị lực của con người trong bản số Tử Vi. Tùy theo vị trí của 4 cung : Dần, Tỵ, Thân, Hợi mà sao Thiên Mã đóng, ta hiểu như sau :
a- Thiên Mã ở cung Dần : đứng ở cung Mộc rất hợp với người mạng Mộc bạc nhược với người mạng Kim, vất vả với người mạng Thủy, làm hại người mạng Thổ, làm lợi người mạng Hỏa.
b- Thiên Mã ở cung Tỵ : đứng ở cung Hỏa rất hợp với người mạng Hỏa, làm lợi người mạng Thổ, vất vả người mạng Mộc, làm hại người mạng Kim, bạc nhược với người mạng Thủy.
c- Thiên Mã ở cung Thân : đứng ở cung Kim rất hợp với người mạng Kim, làm lợi người mạng Thủy, vất vả người mạng Thổ, làm hại người mạng Mộc, bạc nhược với người mạng Hỏa.
d- Thiên Mã ở cung Hợi : đứng ở cung Thủy rất hợp với người mạng Thủy, làm lợi cho người mạng Mộc, vất vả với người mạng Kim, làm hại người mạng Thổ.
4. Vòng Tràng Sinh
Vòng Tràng sinh có 12 sao đóng đủ trên 12 cung Tử Vi, ý nghĩa của vòng sao này ta nên coi là dữ kiện sinh tồn của đương số, do đó, khi cung an Mệnh, cung Phước đức (tiền kiếp) và cung Tật Ách (hậu kiếp) có những sao cùng hành với bản mệnh thì luận ra tính cách thọ, yểu, mạnh, khỏe, hay đau yếu :
a- Đối với saoTràng Sinh (là Thủy) Cung Mệnh sinh sao, sao sinh bản Mệnh là đắc cách. Thí dụ : Người hành Mộc, mệnh an tại Dậu (Tuổi Âm Nam, Dương Nữ) thuộc Kim có các Sao Trường Sinh là Thủy (Kim-Thủy) sao Trường sinh sinh ra hành Mộc. Cung Mệnh sinh sao, sao khắc bản mệnh là sống không khỏe mạnh. Cung Mệnh khắc sao, sao sinh bản Mệnh bất đắc kỳ tử. Cung Mệnh khắc sao, sao khắc bản mệnh : chết non.
b- Đối với sao Thai (Thổ) thì cần phải đóng ở cung Phúc Đức để chứng tỏ tiền kiếp đã kết tụ tinh anh, phát kết ra kiếp hiện tại, thì lý tự nhiên cuộc sống phải bền, để ý nghĩa của " Thai " hiện hữu như một căn bản không phản hồi được. Trường hợp này, cung Mệnh có sao Mộ, cung Quan có Trường Sinh, Cung Tài có Đế Vượng, (ngu si hưởng thái bình!?)
c- Đối với sao Đế Vượng (là Kim) cần phải tụ hội ở cung Tật ách (hậu kiếp) để minh chứng ngày ra đi sang kiếp sau được tiếp đón như một thành tích vẻ vang tuyệt đỉnh (vì trong chu kỳ sinh thái của Vòng Tràng-Sinh, thì giai đoạn Đế Vượng coi như điểm cực đại của hàm số Parabole, biểu diễn vòng luân hồi của con người). Trường hợp này là người có sao Tuyệt ở cung Mệnh (khôn ngoan ở đời)
5. Vòng Lộc Tồn
Sống ở đời, người ta ai cũng cần có phương tiện thuận lợi tối đa để hưởng hạnh phúc (dù là hạnh phúc tạm), nên trong khoa Tử-Vi có vòng sao Lộc Tồn được coi là những dữ kiện của sự hưng thịnh. Vòng Lộc Tồn cũng có 12 sao an đủ 12 cung trên bản số. Tuy nhiên ta lưu ý 4 cung : Dần, Mão, Thân, Dậu nhiều nhất :
a- Tuổi Giáp : Lộc tồn ở Dần.
b- Tuổi Ất : Lộc tồn ở Mão
c- Tuổi Canh : Lộc tồn ở Thân.
d- Tuổi Tân : Lộc tồn ở Dậu.
Cho nên, những người sanh năm Dần-Ngọ-Tuất mà tuổi Giáp (Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất) thì hưởng cái lộc này lâu dài (đúng nghĩa Lộc tồn) những người tuổi Ất Mão, Ất Hợi và Ất Mùi; Canh Thân, Canh Tý và Canh Thìn; Tân Tỵ, Tân Dậu, và Tân Sửu cũng được hưởng may mắn nói trên. Kỳ dư các tuổi khác nếu, cung Mệnh, cung Quan hoặc cung Tài mà có Lộc tồn, thì Lộc tuy có nhưng không tồn được (hưởng trong giai đoạn ngắn mà thôi !? )
6. Vòng Thái Tuế
Có lẽ đây vòng sao hệ trọng nhất đối với người nghiên cứu khoa tử vi lý học . Bởi vòng này diễn tả cái tính khí, phẩm hạnh của đương số cũng như nó cho biết cái chu kỳ thăng trầm của cuộc đời . Cho nên ta phân 12 sao của ngũ hành là :
- Dần Ngọ Tuất : Hành Hỏa
- Tỵ Dậu Sửu : Hành Kim
- Hợi Mão Mùi : Hành Mộc
- Thân Tý Thìn : Hành Thủy
Thành ra 4 nhóm mệnh danh như sau :
a-Nhóm chánh phái : Thái tuế, Quan Phù, Bạch Hổ.
b-Nhóm tả phái : Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn.
c-Nhóm thiên hữu : Long Đức, Thiếu Âm, Trực Phù.
d-Nhóm thiên tả : Thiếu dương, Tử Phù, Phúc Đức.
Cung An Mệnh thuộc nhóm nào, thì giúp ta nhìn thấy cái cá tính chung của đương số ngay, Ví dụ như :
- Những người tuổi Dần, Ngọ, Tuất, cung Mệnh, cung Quan Lộc và Tài Bạch cũng đóng ở 3 cung Dần, Ngọ, Tuất (có nhóm chánh phái đóng) thì là những người đảm lược, lương hảo, anh hùng.
- Những người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu có 3 cung Mệnh, Quan và Tài đóng ở 3 cung Tỵ, Dậu, Sửu (có nhóm chánh phái đóng) thì hiển hách hơn người, được kính nể;
- Ta tiếp tục lý luận như trên cho các người tuổi Thân, Tý, Thìn. Mệnh, Quan và Tài cũng đóng Thân, Tý, Thìn. Những người tuổi Hợi, Mão Mùi mà 3 cung Hợi, Mão, Mùi đều là chánh phái cả. Cộng thêm các dữ liệu sao có trong bản số của đương số thì kết luận thêm cho chính xác.
Giai đoạn tuổi ở 1 trong 3 cung của nhóm: Thái Tuế-Quan Phù-Bạch Hổ, đều là thời vận tốt nhất cho người có lá số tử vi. Khi cung Mệnh của của bản số tử-vi thuộc nhóm tả phái đó là người bất mãn, lang bạt và đau khổ. Cung Mệnh thuộc nhóm thiên hữu là người bẩm chất hiền lành nhưng nhu nhược, cung Mệnh thuộc nhóm thiên tả, là người khôn vặt, lanh lợi những chuyện tầm thường.
7. Luật của sao TUẦN & TRIỆT
Kiếp nhân sinh ví như cái xe lăn trên đường đời, Sao Triệt được coi như cái Thắng đầu của xe, còn sao Tuần coi như bộ thắng sau của xe. Thắng đầu cần mới nguyên, rất hữu hiệu trong việc cản bánh xe lăn (đôi khi còn tạo ra nguy hiểm ! làm cho xe lật) nên dưới 30 tuổi ảnh hưởng của sao Triệt thật đậm đà. Sao Tuần ít bộc phát ảnh hưởng rõ rệt, nhưng lại bền vững suốt đời người (thắng của bánh xe sau tác dụng điều hòa tốc độ của xe chạy). Luật hóa giải TUẦN-TRIỆT được đặc biệt cho những ai có bản số Tử vi mà cung Mệnh bị một trong hai sao Triệt và Tuần trấn đóng, thì đi đến giai đoạn cung có sao còn lại đóng, là vận hên đã tới.
Thí dụ : Mệnh đóng tại Tỵ có sao Triệt, cung Phúc đức có sao Tuần , vậy đi đến giai đoạn cung Phúc đức thì phát huy được danh phận (dù không thuộc vòng Thái Tuế-Quan Phù-Bạch Hổ). Lý giải điều này cũng tự nhiên. Vi khi xe chạy mà người tài xế điều hành được hai bộ thắng thì tất nhiên phải an toàn bảo đảm như ý muốn.
8. Bộ ba Thiên Không, Đào Hoa và Hồng Loan
Người biết coi Tử vi, ai cũng biết :Thiên Không (Hành Hỏa), Đào Hoa (Hành Mộc) và Hồng Loan (thuộc hành Thủy). Bản chất của Hỏa Tinh là tàn phá, là gieo rắc tai ương (Thần chiến tranh) : cho nên khi ba cung Mệnh, Quan và Tài của bản số tử vi có :
a- Thiên Không, Đào Hoa nghĩa là Mộc dưỡng hỏa, để Hỏa tàn phá thêm mạnh dạn, thêm khốc liệt, ý tượng trưng cho sự khôn ngoan quá quắt của đương số. Người có cách này là mẫu người muốn chiếm đọat, muốn lấn tới để ăn người.
b- Thiên Không Hồng Loan : Nghĩa là lửa đã bị Thủy trấn áp, bó tay qui hàng, nên cung Mệnh có cách này là mẫu người thoát tục, thích cảnh tịnh hơn cảnh động.
c- Thiên Không độc thủ (ở Thìn-Tuất-Sửu-Mùi có Hồng Đào chiếu) bụng dạ thất thường người Âm Nam, Âm Nữ là lửa ngầm, người Dương Nam, Dương Nữ là lửa bùng : tất cả đều thủ đoạn vặt hoặc không bộc lộ hoặc phát tiết ra ngòai.
9. Vòng Mệnh và Vòng Thân
Căn cứ của Luật Tam hạp :
- Dần Ngọ Tuất là Hỏa.
- Thân Tý Thìn là Thủy.
- Hợi Mão Mùi là Mộc.
- Tỵ Dậu Sửu là Kim.
Thì khi cung an Mệnh đứng ở vị trí nào so với vòng Thái Tuế, ta phải nhìn thế tam hợp của cung an Mệnh như Vòng tha nhân đối với Vòng bẩm tính đương số là vòng Thái Tuế tam hợp của cung an Thân là Vòng hành động của đương số. Biện chứng qua Luật ngũ hành tiêu-trưởng, ta vạch trần được tác phong đường số một các dễ dàng.
Ví dụ : Người tuổi Tỵ (Vòng Thái Tuế là Tỵ-Dậu-Sửu : Kim), cung an Mệnh đóng ở Tuất (Vòng tha nhân là Dần-Ngọ-Tuất : Hỏa), cung an Thân ở Tý (Vòng hành động là Thân-Tý-Thìn : Thủy). Ta lý giải ngay : số người này là mẫu người ra đời bị người ta chèn ép (do Hỏa khắc Kim), chịu nhiều thua thiệt, vất vả (vì Kim sinh Thủy)
10. Nhóm hung tinh chiến lược
Ta gọi là hung tinh chiến lược, vì các sao Địa không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh, có những bộ mặt thú tính man dã nhưng hóa giải được khi điều hướng đúng chỗ.
a- Hai sao Địa Kiếp, Địa Không khi đứng trong nhóm tam hợp của vòng Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ, thì dù đắc địa (Tỵ, Hợi) hay hãm địa, cũng vẫn mất hiệu lực phá hại của nó, để trở nên ý nghĩa của người có tài mà không có thời. Mặt khác, nếu đương số thuộc hành Thổ thì đã làm cho tính chất Hỏa của Không Kiếp bị tiết khí : nên vẫy vùng yếu kém hẳn.
b- Hai sao Đà La đóng ở Dần Thân Tỵ Hợi và Kình Dương đóng ở tứ mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi ) lại có Vòng Thái Tuế ở đây thì không còn là sao tác họa mà trở thành bộ " hồi chánh tinh " đới công chuộc tội, phát võ hiển vinh, vượng phu ích tử.
c- Hai sao Hỏa tinh, Linh Tinh cũng là bộ Hỏa-Linh. Nếu đứng trong vòng Thái Tuế thì tạo thành những cái thất bại anh dũng của đương số. Người có cách này, dù " khí thiêng đã về thần" cũng được người đời kính nể khâm phục. Nói cách khác: Đấy là cách của người " Sinh thọ tử bất ninh thọ nhục "
11. Bộ sao phò trợ
Quan niệm " phù thịnh không phù suy " là ý nghĩa của các nhóm sao phù trợ : Tả Phù, Hữu Bật, Lực Sĩ, Bác Sĩ, Hóa Quyền ... Nếu các vòng sao này
lọt vào trong vòng Thái Tuế, thì đúng là những " lương đống công thần " giúp cho đương số thăng tiến thành đạt ở đường đời, bằng trái lại, chúng nhảy sang vòng Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn (nhóm tả phái), thì chẳng khác nào thả cọp về rừng, sức tán hại càng phát triển, làm cho đương số trăm chiều vất vả (Đặc biệt nếu cung Mệnh có cách này, mà vòng Thái Tuế không tam hợp với cung Mệnh, thì rõ ràng là loại Hoàng Sào thảo khấu, ác bá côn đồ). Nhớ đây chỉ là cái chung nhất cần phải kết hợp thêm các dữ liệu sao trong bản số Tử-vi để mà diễn giải thì mới có kết luận thêm chính xác tới mức độ nào.
12. Mệnh vô chính diệu : cách số của ma thuật
Nói chung những người có cung Mệnh vô chính diệu, thường là mẫu người sắc sảo, quyền biến có nhiều cảm ứng bén nhạy hơn người có chính diệu thủ cung Mệnh. Xem số Tử-vi những người Mệnh vô chính diệu rất khó, vỉ độ chuyển biến của các dữ kiện "sao" rất "Sensible" nghĩa là có cách số ma thuật huyền hoặc nhất. Càng nhiều hung tinh, bại tinh đắc địa tọa thủ Mệnh, càng có lợi cho đương số. Tuy nhiên vẫn cần vòng Thái Tuế tam hợp với cung an Mệnh hoặc cung an Thân để có thể hướng cái chánh nghĩa về cho nhóm ác tinh này, bằng không thì đương số sẽ trở thành những hồ ly tinh tu luyện thành người, bản tính dã thú ... khó phân biệt (!?) sẽ tạo ra những nghiệp ác để rồi đền tội một cách mau chóng (chết yểu).
Nếu nắm vững mười dữ kiện căn bản nêu trên, lẽ tất nhiên khoa Tử-Vi không còn là bí truyền ân sủng cho một riêng ai; tất cả chỉ còn là toàn những tương quan ngũ hành sinh khắc hoặc chế hóa, chỉ còn là những lý giải minh bạch cho các dữ kiện được gọi là "sao" của bản số Tử vi mà nhãn quan của con người nghiên cứu luôn luôn phải khách quan một cách thành khẩn.
Khoa lý học này sẽ có một ngày cởi bỏ cái " áo bí " của nó, để trở thành một khoa nhân văn chứa đựng tính thiện ác và thái độ vô cầu của người thâm cứu.
trích KHHB
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)