Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Xem bát tự dự đoán đại vận nguy hiểm để biết tuổi thọ

Tương lai thì hết thảy đều là không biết, nhưng chúng ta có thể thăm dò, đoán định trước một số vấn đề, ví dụ như xem bát tự dự đoán đại vận nguy hiểm.
Xem bát tự dự đoán đại vận nguy hiểm để biết tuổi thọ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tương lai thì hết thảy đều là không biết, cuộc đời dài ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhưng chúng ta có thể thăm dò, đoán định trước một số vấn đề, ví dụ như xem bát tự dự đoán đại vận nguy hiểm.


Xem bat tu du doan dai van nguy hiem de biet tuoi tho hinh anh 2
 
Xem bát tự dự đoán đại vận nguy hiểm là phương pháp xem tử vi căn cứ vào mệnh cục, dùng thần vị trí ứng với cung mệnh mà phán đoán. Từ đó thấy rõ đại vận của bản mệnh, xem Thiên Can địa chi ứng với mệnh cục là tương sinh hay tương khắc. Đối với dụng thần là khắc chế hoặc thần ở vào trạng thái suy, tuyệt, mộ, tử vận thì chính là đại vận nguy hiểm. Đó là các trường hợp cụ thể như sau:   1. Ngày sinh có Tỷ Kiếp mà không Ấn, không Quan, không Sát. Thời gian tử vong có thể ở vào Quan vận hoặc trong lúc vượng vận, hoặc lúc Tài Tinh ở mộ, tuyệt.   2. Ngày sinh có Tỷ Kiếp cường mà không Ấn, lấy Quan Sát làm dụng thần. Trong cuộc có Tài, đại vận nguy hiểm là Tỷ Kiếp lâm Quan đế vượng vận hoặc Quan Sát ở mộ, tuyệt, địa vận. Nếu trong cuộc không có Tài thì ở vận Thực Thương đem Quan Sát khắc hợp cũng rất nguy hiểm.   3. Ngày sinh có Ấn vượng, đại vận nguy hiểm là Tỷ Kiếp lâm Quan đế vượng và Ấn vượng vận, hoặc dụng thần Tài tinh lâm tử, mộ, tuyệt địa mà bị khắc.   4. Xem bát tự thấy ẩn vượng mà ngày sinh không có gốc rễ, ở ngày sinh trường sinh là đại vận nguy hiểm nhất.
Đọc vị tính cách nữ mệnh có bát tự Ấn vượng
Trong tử vi đẩu số, Ấn gồm Chính Ấn và Thiên Ấn, trong có chứa đựng nhiều thực thương. Nữ mệnh có bát tự Ấn vượng thì thông minh nhưng lại không giàu có. Tốt
5. Ngày sinh cường mà Ấn nhược, lấy Thực Thương là dụng thần, khi Ấn kiêu vượng là đại vận nguy hiểm. Thực Thương tử, mộ, tuyệt vận cũng rất nguy hiểm.   6. Ngày sinh nhược mà Quan Sát cường, không Ấn, được Quan Sát vượng vận và ngày sinh tuyệt, tử, mộ địa là đại vận nguy hiểm. Được Tài vượng sinh Quan Sát, Thực Thương gặp Thương Quan cũng hung hiểm.   7. Tứ trụ Hỏa vượng, ở Hỏa thần vận hoặc vận tương sinh Hỏa thần là đại vận nguy hiểm.
Xem bat tu du doan dai van nguy hiem de biet tuoi tho hinh anh 2
 
8. Ngày sinh nhược mà Tài tinh vượng, lại nhiều Tỷ Kiếp, tài vượng và ngày sinh lâm vào tử, mộ, tuyệt địa thì là đại vận nguy hiểm, ở Quan Sát vận hoặc Thực Thương vận cũng tương tự.   9. Tứ trụ thiếu ngũ hành Hỏa, ở vận khắc chế Hỏa hoặc vận Hỏa lâm vào tử, mộ, tuyệt địa là đại vận nguy hiểm.   10. Tứ trụ cường vượng, khắc chế ngũ hành, lúc ngũ hành lâm vào tử, mộ, tuyệt vận cũng khá nguy hiểm.
 
► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi trọn đời chuẩn xác

Soi bát tự biết ngay cô nàng nào không giỏi phấn son, ăn diện 3 kiểu bát tự cực xấu, nhất định gặp họa vì tiền Những trường hợp bát tự kém may, hôn nhân bất hòa
Thái Vân

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bát tự dự đoán đại vận nguy hiểm để biết tuổi thọ

Vận mệnh người tuổi Đinh Dậu theo Lục Thập Hoa Giáp

Lục Thập Hoa Giáp của Đinh Dậu cho biết đây là người có tính cách năng động, xử lý linh hoạt, diện mạo thanh tú, bản tính đôn hậu, cẩn thận làm việc, biết giữ
Vận mệnh người tuổi Đinh Dậu theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

lời hứa, có chí khí cao. 


Giai ma van menh nguoi tuoi Dinh Dau theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh
 
Sơn hạ Hỏa là lửa rực rỡ trong cây cỏ, ánh sáng nơi rừng lạnh. Nếu sinh vào mùa thu là được quý cách, có thể làm quan lớn. Mệnh này là Hỏa ưa Thủy, như gặp Địa chi Hợi, Tý hoặc nạp âm Thủy. Nếu ở vào các tháng Thân, Dậu được gọi là Trúc Hỏa chiếu Thủy cách.
 
Lục Thập Hoa Giáp của Đinh Dậu là Hỏa thế mạnh, cần có Mộc tương trợ, khiến cho bản khí được sinh sôi. Ngoài thì nhu hòa mà bên trong lại cứng cỏi. Nếu hợp cách thưòng có đức hạnh tự nhiên của người quân tử.
 
Hỏa này thường thích gặp Thủy, có Mộc tương trợ càng khiến cho độ sáng được tăng lên, như Mậu Thìn, Kỷ Tỵ Đại lâm Mộc; Quý Sửu Tang đố Mộc; Canh Dần, Tân Mão Tùng bách Mộc; Mậu Tuất, Kỷ Hợi Bình địa Mộc, chủ về một đời vinh hoa. Nhưng không nên có quá nhiều Mộc, khiến cho khí tản mát, trở thành không tốt, yểu thọ.
 
Mệnh này ưa gặp Giáp Thân Tịnh tuyền Thủy, Bính Tý, Đinh Sửu Giản hạ Thủy, có Mộc tương trợ chủ về giàu sang vô cùng.
 
Không nên gặp Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy. Gặp được Giáp Dần Đại khê Thủy là tốt nhất. Nếu gặp Ất Mão Đại khê Thủy có gió lại không được quý cách.
 
Lục Thập Hoa Giáp của Đinh Dậu: Mệnh này không nên gặp Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy, là tụ mưa.
 
Hỏa này kỵ Mậu Ngọ, Kỷ Mùi Thiên thượng Hỏa; Mậu Tý, Kỷ Sửu Tích lịch Hỏa, chủ đoản thọ.
 
Đinh lộc tại Ngọ. Nếu Địa chi khác có Ngọ chủ về giàu có.
 
Địa chi khác không nên có Dậu. Dậu Dậu tự hình, chủ về làm việc thường không có đầu cuối, ít có duyên với cuộc sống gia đình.
 
Dậu mã tại Hợi. Các Địa chi khác không nên gặp Tỵ, Hợi, chủ về mã phạm hình, không nên kinh doanh, có thể mất ở nơi đất khách quê người.
 
Đinh Dậu Không vong tại Thìn, Tỵ. Địa chi khác không nên có Thìn, Tỵ.
 
Nhật trụ có Dần, phạm Phá trạch sát.
 
Địa chi khác có Tuất, là người hiểm ác, không bao dung với người khác.
 
Người sinh năm Đinh Dậu nên nói ít làm nhiều.
 
Vào các năm Dậu, Mão, trong nhà thường không yên ổn. Tuy bản thân không gặp thương tổn nhưng có thể phương hại tới người khác.
 
Đinh Dậu chọn bạn đời không nên lấy người sinh năm Nhâm, Quý. Nên tìm người sinh năm Canh, Tân.
► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi và luận giải số mệnh bản thân chuẩn xác

Theo Tử vi toàn tập

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận mệnh người tuổi Đinh Dậu theo Lục Thập Hoa Giáp

Hút vượng tài vào nhà với hoa tươi

Hoa tươi có thể làm cho môi trường sống trong gia đình trở nên tươi đẹp, vượng tài, mang lại cảm giác tự nhiên, ấm áp và tràn đầy sức sống. Dựa theo lý luận phong thủy, bày biện hoa tươi ở vị trí thích hợp trong nhà vừa có thể tô điểm cho ngôi nhà, đồng thời lại có thể nâng cao tài vận.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vậy trong phong thủy nhà ở, hoa tươi phải bày ở vị trí nào mới vượng tài nhất? Theo ứng dụng của phong thủy Chu dịch thì phong thuỷ vượng tài từ hoa tươi thông thường phải tuân theo những nguyên tắc sau:

Hoa tươi bày ở Tài vị: Tài vị tức chỗ góc tường nằm trên đường chéo với cửa phòng. Sở dĩ trong phong thủy gọi đó là Tài vị do vị trí này là nơi thích hợp nhất, đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều sinh khí nhất trong nhà.

Nói chung, để chậu cây có tán lá rộng ở vị trí Tài vị trong nhà rất có lợi cho việc tích tụ sinh khí, đặc biệt càng có thể thúc đẩy tích tụ tài khí, từ đó đạt hiệu quả vượng tài cho gia đình.
 
    Hoa tươi bày ở cạnh Thuỷ vị: Mọi người đều biết thuộc tính ngũ hành của hoa tươi là Mộc, cây xanh và hoa tươi để bên cạnh những vật dụng dạng nước và những đồ trang trí dạng nước trong nhà như máy nước nóng lạnh, thiết bị làm ẩm, bể cá... hình thành thế lưu thông ngũ hành Thuỷ Mộc tương sinh, điều này có lợi cho việc nâng cao tài vận. Ttrong phong thuỷ thì Thủy chủ tài, Thủy lưu thông thì sinh sôi nảy nở không ngừng, tài lưu thông thì tài lộc dồi dào.    
    Hoa tươi bày ở cạnh Hỏa vị: Hỏa vị nói ở đây chủ yếu là chỉ đồ điện trong nhà như ti vi, máy tính, tủ lạnh... và bài vị tổ tiên. Cây xanh và hoa tươi bày cạnh Hỏa vị trong nhà hình thành cách Mộc Hoả thông minh Mộc Hỏa  tương sinh, tượng trưng cho tài vận của gia trạch được quý nhân phù trợ mà đời sống ngày càng khá giả, tiếng tăm vang xa.    
    Hoa tươi bày ở giữa Thủy Hỏa vị: Trong thực tiễn kiểm chứng phong thủy phát hiện, có thể là do hiện nay giá nhà đất quá cao, diện tích quá nhỏ hẹp nên bố cục trong nhà của rất nhiều gia đình đều tồn tại cách cục Thủy Hỏa tương xung, ví dụ, máy tạo độ ẩm để quá gần bài vị tổ tiên, bể cá cảnh để quá gần ti vi, Thủy chủ tài, Hỏa chủ danh, Thủy Hỏa tương xung thì tài mất danh bại.

Vậy phải hóa giải như thế nào để biến cái bất lợi thành có lợi? Thực ra chỉ cần bày thêm chậu cây xanh hoặc lọ hoa tươi ở giữa Thuỷ vị và Hoả vị là được.
   
    Hoa tươi bày ở nơi hợp mệnh lý: Theo phong thủy bát tự, nói chung người nào có ngũ hành ưa Mộc thì cây xanh hoặc hoa tươi nên bày ở phía bắc của ngôi nhà để hình thành cách Thủy sinh Mộc, hoặc bày ở phía đông Mộc vượng. Người nào có ngũ hành ưa Hỏa thì nên bày ở phía bắc để hình thành cách Mộc hóa Thuỷ mà sinh Hỏa, hoặc ở phía nam thành Mộc sinh Hỏa.

Người nào có ngũ hành ưa Thổ thì bày ở phía nam thành Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Người nào có ngũ hành ưa Kim thì bày hoa cảnh thân thảo ở phương tứ ngung để Thổ sinh Kim. Người nào có ngũ hành ưa Thủy thì bày hoa cảnh thân gỗ ở phương tứ ngung để khắc chế Thổ bảo vệ Thủy.
   

(Theo VietQ)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hút vượng tài vào nhà với hoa tươi

Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu

Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu có bắt nguồn như sau: Mạnh Khương Nữ tương truyền là người thời Tần.Tần Thủy Hoàng bắt trai tráng đi phu xây Trường thành
Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Ba chín trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Khương Nữ Tầm Phu (còn gọi là Mạnh Khương Nữ Tìm Chồng). Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu có bắt nguồn như sau:

Mạnh Khương Nữ tương truyền là người thời Tần. Vào thời đó, Tần Thủy Hoàng bắt trai tráng khắp nơi đi phu xây Trường thành. Có một thư sinh tên là Vạn Hỷ Lương chạy khỏi nhà, trốn vào sau một bức tường. Bên trong bức tường đó vốn là hậu hoa viên của nhà họ Mạnh, vừa hay lúc đó có nàng Mạnh Khương Nữ cùng a hoàn đi ra vườn hoa, nhìn thấy thư sinh Vạn Hỷ Lương tướng mạo tuấn tú, liền cùng a hoàn trở vào nói với viên ngoại. Viên ngoại thấy Hỷ Lương thực thà, am hiểu học vấn lại thông đạt lễ nghĩa, liền tạm thời giấu anh ta trong nhà.

Vạn Hỷ Lương ẩn nấp trong nhà họ Mạnh đã mấy ngày, đôi vợ chồng già thấy anh là một nhân tài, cử chỉ đường hoàng, bèn bàn bạc muốn chọn anh làm rể. Con gái cũng đòng ý, vì thế việc thành thân đã được định liệu. Có câu ngày vui ngắn chẳng tày gang, đôi vợ chồng trẻ thành thân chưa được ba ngày, bỗng hôm đó, một đám nha dịch xông thẳng vào trong nhà, không giải thích nửa lời, lập tức bắt tân lang giải đi.

Mạnh Khương Nữ ở nhà mong ngóng, chẳng những không thấy người về, mà ngay cả tin tức cũng không có. Mạnh Khương Nữ không thể yên lòng, may áo ấm cho chồng suốt mấy đêm ròng, rồi tỏ ý muốn đến Trường Thành tìm chồng. Cha mẹ thấy nàng quyết tâm, nên cũng đồng ý. Mạnh Khương Nữ chuẩn bị hành trang, từ biệt cha mẹ, ngày đêm vượt núi băng sông, đi thẳng về phương bắc. Một hôm, Mạnh Khương Nữ đã đi đến mức kiệt sức, khắp người lạnh toát, vừa định nghỉ chân một lát, bỗng thấy trước mắt tối sầm, rồi ngã xuống ngất xỉu. Đến khi tỉnh lại, thấy mình nằm trên chiếc giường ở trong nhà một bà lão. Nàng toát mồ hôi, cảm thấy đỡ hơn một chút, lại gắng gượng tiếp tục lên đường. Bà lão rơm rớm nước mắt giữ Mạnh Khương Nữ lại mà: “Cô đang sốt nóng như hòn than, sao già có thể nhẫn tâm để cô đi được? Hãy nhìn bàn chân của cô kìa, chúng đã thành hai cục máu, đâu còn là bàn chân nữa!” Mạnh Khương Nữ vội nhìn xuống bàn chân mình, da thịt đều đã rách tướp ứa máu. Nàng lại ở nhà bà lão hai ngày, bệnh còn chưa thuyên giảm đã lại lên đường.

Vượt qua biết bao gian khố, cuối cùng, Mạnh Khương Nữ đã đến được Trường Thành. Nàng hỏi thăm những người phu xây Trường Thành về tung tích của Vạn Hỷ Lương, mọi người đều nói không biết. Sau đó, Mạnh Khương Nữ gặp được một người phu ở thôn bên cạnh, bèn hỏi: “Các anh có xây Trường Thành cùng Vạn Hỷ Lương không?” cả nhóm đều đáp: “Có!” “Vậy Vạn Hỷ Lương đâu?” cả nhóm người này nhìn người kia, không ai lên tiếng. Mạnh Khương Nữ lo sợ hỏi dồn: “Chồng tôi Vạn Hỷ Lương ở đâu?” Mọi người thấy không giấu được, mới ấp úng nói: “Tháng trước Vạn Hỷ Lương vì quá đói đã chết rồi!” Mạnh Khương Nữ đau đớn hỏi: “Vậy thi thế chàng ở đâu?” Họ đáp: “Nguời chết quá nhiều, không chôn cất được, đều cho vào bên trong Trường Thành cả rồi!” Câu trả lời còn chưa dứt, Mạnh Khương Nữ đã vỗ vào Trường Thành, khóc lóc thảm thiết. Mạnh Khương Nữ khóc mãi, khóc mãi, khiến cho nghìn vạn người ai cũng cúi đầu rơi lệ, gió thu phải sầu thảm, nước biển phải sôi trào, mặt trời mặt trăng đều ảm đạm, trời đất tối tăm. Bỗng nhiên dậy lên một tiếng ầm vang như trời long đất lở, Trường Thành trong chốc lát đố sụp một đoạn lớn, lộ ra một đống hài cốt.

Truyền thuyết “Mạnh Khương Nữ khóc đố Trường Thành” từ lâu đã được lưu truyền trong dân gian. Tập tục phụ nữ thủ tiết, tương truyền được bắt đầu từ Mạnh Khương Nữ.

Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu là quẻ thẻ Hạ trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 39 !

Quẻ này là tượng an phận thủ thường.
Những việc mong cầu nên an phận sẽ được tốt đẹp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu

Chọn long huyệt cho phụ nữ trong nhà, con cháu đời đời phúc ấm

Chọn đất tốt an táng là một trong những việc rất quan trọng. Cách chọn long huyệt cho phụ nữ là một gợi ý đáng lưu tâm cho bạn.
Chọn long huyệt cho phụ nữ trong nhà, con cháu đời đời phúc ấm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chọn đất tốt an táng là một trong những việc rất quan trọng, không chỉ với người đã khuất mà còn với gia đình, những người còn sống. Cách chọn long huyệt cho phụ nữ là một gợi ý đáng lưu tâm cho bạn.


Chon long huyet cho phu nu trong nha, con chau doi doi phuc am hinh anh
 
Huyệt mộ mà Hình và Thế mâu thuẫn, đại mạch không thông, phong thủy hỗn loạn thì sẽ nảy sinh hiện tượng trái với tự nhiên. An táng ở đất ấy thì thi thể không thể tiêu tan, có hại cho người đã mất và vận thế của gia đình.    Long huyệt là nơi đất tốt, có long mạch, rất thích hợp để an táng, có lợi cho người còn sống, con cháu được hưởng phúc tổ tiên. Cách chọn long huyệt cho phụ nữ không giống với nam giới. Vốn “phúc đức tại mẫu”, huyệt mộ của người phụ nữ càng tốt thì gia trạch càng hưng.   Muốn táng người nữ trong nhà ở cuộc đất tốt cho âm trạch thì phải chọn nơi phong thủy thật tốt, trước thoáng rộng, sau có chỗ dựa, chín dòng nước như Cửu Long mang nước, phân cách đồi núi như đóa hoa sen nở rộ, gọi là Cửu Long tráo ngọc liên”. Nếu thiếu một dòng, thêm một dòng hay dòng nước quá mạnh đều có thể phá vỡ thế cục, không tốt.   Số 9 là số lớn nhất ở hàng đơn vị, ẩn chứa ý nghĩa chí tôn, phát âm cũng tựa như vĩnh hằng, là kí tự cát tường, may mắn. Mặt khác, dòng nước nhỏ thì không gọi là Long mà là Xà, cũng mất thế cục.   Chọn huyệt cát, yên âm trạch
Theo quan niệm của người phương Đông, âm trạch là yếu tố quan trọng tác động đến đời sống. Linh hồn người chết có yên ổn thì con cháu mới thịnh vượng, được

Một cuộc đất tốt để táng người nữ khác là “Lạc thần liễn”. Thế đất này chỉ hợp với táng người nữ, táng người nam thì cả gia tộc bại vong, người nam trong nhà không ốm yếu chết bệnh cũng suy đồi.
  Mộ mà phía trước có một đạo nho nhỏ dẫn tới suối hoặc ao, mà con suối ấy lại là địa mạo hiểm thủy thì chính là thế huyệt tốt. Dòng nước mà suối dẫn vào tưới tắm, làm tốt tươi cho ngôi mộ, thế đất cực tốt trong phong thủy âm trạch.   Đây là thế huyệt hiếm gặp, giữa huyệt có dòng nước vĩnh viễn chảy, không lớn tới mức tràn ra, không nhỏ đến nỗi khô cạn, tụ khí. Tìm được cuộc đất tự nhiên như vậy rất thích hợp để táng người nữ trong nhà, con cháu được hưởng phúc ấm.  
► ## gửi tới bạn đọc công cụ xem ngày chôn cất theo Lịch vạn sự để mồ mả an yên

Trần Hồng (Theo 99166)

Xem Clip Chọn năm sinh con hợp tuổi cha mẹ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn long huyệt cho phụ nữ trong nhà, con cháu đời đời phúc ấm

Mơ thấy con báo: Bí ẩn giấc mơ về loài báo

Báo là loài vật nhanh nhạy, mạnh mẽ, tượng trưng cho kẻ thù hung tợn có thể bất ngờ tấn công bạn bất cứ lúc nào. Nếu bạn thấy một con báo nơi hoang dã trong
Mơ thấy con báo: Bí ẩn giấc mơ về loài báo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

giấc mơ của mình ám chỉ rằng bạn sắp phải đối đầu với những con người nguy hiểm. 


► Tham khảo thêm: Giải mã việc mơ thấy cá, mơ thấy máu theo thế giới tâm linh

Bi an giac mo ve loai bao hinh anh
Ảnh minh họa

Giấc mơ còn báo trước những khó khăn cản trở con đường của bạn, nhắc nhở bạn cần phải hết sức thận trọng. Tuy nhiên, nếu bạn nỗ lực và cố gắng hết mình, chắc chắn bạn sẽ vượt qua được khó khăn.
  Nếu mơ thấy con báo bị nhốt trong chuồng, điều này ám chỉ rằng bạn sẽ vượt qua được bất kỳ trở ngại hay chông gai nào.    Nếu mơ thấy bạn giết một con báo chỉ ra rằng bạn sẽ quyết tâm theo đuổi mục tiêu và tham vọng đến cùng.    Mơ thấy một con báo đang tấn công bạn biểu thị niềm tin vào thành công trong tương lai nhưng lại chủ quan, không thấy được những khó khăn trước mắt cần phải vượt qua.    Nếu mơ thấy có người cưỡi báo hướng về phía bạn có nghĩa là kẻ thù sẽ sớm bị khuất phục, mọi trắc trở đã được bạn chinh phục.    Thấy da một con báo trong mơ biểu thị rằng bạn sẵn lòng khoan dung với kẻ thù của mình.

Theo Bí ẩn điềm chiêm bao

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy con báo: Bí ẩn giấc mơ về loài báo

Tướng phụ nữ vất vả –

Phụ nữ có đuôi chân mày lưa thưa Đuôi chân mày lưa thưa là dấu hiệu của sự tiêu tốn tiền của. Tiền bạc mà họ vất vả kiếm được vì một nguyên nhân nào đó sẽ “không cánh mà bay”. Một số người có dạng chân mày này luôn có tinh thần bất định. Họ càng lo l
Tướng phụ nữ vất vả –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phụ nữ vất vả –

Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế

Quan sát cá tính bằng hữu : 1 - Loại bằng hữu hiệp nghĩa: Loại tướng bạn bè có tính hiệp nghĩa được biểu lộ ra ngoài bằng các đặc điểm sau đây:. - Cặp lông mày trông có vẻ thô nhưng nhìn kỹ thì thấy thanh tú và oai vệ : ánh mắt sáng nhưng không lộ, nhìn người hay vật đều nhìn thẳng mục tiêu. Mũi và lưỡng quyền cao thấp tương xứng với nhau; tiếng nói rõ ràng mạnh mẽ. Thấy việc phải dám làm dám nó , không sợ quyền uy, không ham tiền bạc.
Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


2 - Loại bằng hữu khẳng khái :Đặc diểm của bạn bè có tính khẳng khái bao gồm :- Mày đẹp, trán rộng, ánh mắt có vẻ cương cường nhưng không lạnh lẽo, mũi ngay thẳng và cao, phối hợp đúng cách với lưỡng quyền; tính tình độ lượng, thất việc đại nghĩa dám bất chấp mọi hiểm nguy, đứng ra đảm trách, thấy kẻ nguy khốn về tiền bạc dám dốc hết túi giúp đỡ một cách tự nhiên mà không hối tiếc .
3 - Loại bằng hữu trung hậu :Về mặt hình thức, loại bạn bè trung hậu thường có các đặc điểm: lông mày dài và thanh tú phối hợp thích nghi với cặp mắt không bị khuyết hãm về hình thể; mục quang ôn hoà nhưng không kinh kiếp; về mặt nội tâm, kẻ đó dù biết rõ bạn bè có lòng tham hay biển lận mà không tổn hại trực tiếp đến mình thì sẽ làm thinh, không vạch trần thói xấu của bạn bè cho người khác biết; không cưỡng cầu, không hại người để lợi cho bản thân, đối với bạn bè gặp lỗi nhỏ thì bỏ qua, gặp lỗi lớn thì thẳng tay phản kháng.
4 - Loại bằng hữu gian xảo âm hiểm:Ngoại biểu của hạng bạn bè kẻ trên là cặp lông mày thô và đậm quá mức bình thường, lòng trắng có nhiều tia máu hồng hoặc đỏ mũi gãy lệch, chuẩn đầu méo mó ánh mắt thường liếc xéo, không nhìn trực diện kẻ đối thoại, thích chơi gác người, thích nói xấu sau lưng người hoặc tọc mạch những chuyện kín của người không liên quan gì tới mình.
5 - Loại bằng hữu an phận thủ thừa:Loại này có bề ngoài dễ nhận thấy nhất là mũi nhỏ nhưng ngay thẳng, lưỡng quyền hẹp và thấp, nhãn cầu nhỏ không sáng, ánh mắt không giao động và ít biến thông, miệng nhỏ môi mỏng. Về cá tính, kẻ đó không dám mạo hiểm bất kể việc gì lớn nhỏ.
6 - Loại bằng hữu vô tình hoặc bạc tình:Loại này hình như toàn thể khuôn mặt đều mỏng manh. Mày thưa thớt và nhỏ, da mặt mỏng, mũi gãy dài và hình như không có thịt mang tai bạnh ra rất rõ ( nhìn từ sau vẫn còn thấy ), về mặt tâm tướng kẻ đó bất cứ làm gì đều chỉ biết có mình mà không biết tới người khác, hơn người chút đỉnh thì hớn hở còn thua sút thì bực dọc thịnh lộ.
7 - Loại bằng hữu tính nết hồ đồ:Loại bản hữu có tính hồ đồ nghĩa là kẻ ham tường việc đời, không có chủ kiến, dễ bị người thuyết phục. Bề ngoài của tướng người trên là lông mày mịn, nhỏ mọc lan xuống bờ mắt. Xương lưỡng quyền nhỏ, thấp, lòng đen, lòng trắng không rõ ràng, ánh mắt không có thân quang,giọng nói thiếu âm lượng, bước chân thiếu ổn định. Đó là loại người không phân biệt được xấu tốt rõ ràng.

Quan sát cá tính người giúp việc:
1 - Tướng người ngay thẳng:Tướng tổng quát của loại người giúp việc ngay thẳng là Ngũ quan đoan chín. Nhất là mũi cần đặc biệt chú ý. Mũi ngay ngắn nhưng hếch hoặc Chuẩn đầu như mỏ chim ưng là tướng nhười nguỵ quân tử dù cho Ngũ quan ngay thẳng.Trong trường hợp Mũi không có dạng mỏ chim, Ngũ đoan quan chính, ta vẫn phải dè dặt nếu chưa quan sát kỹ càng ánh mắt và ngôn ngữ. Kẻ mà ánh mắt nhìn thẳng, ăn nói không ba hoa rườm rà mới là người tâm địa ngay thẳng, thiện lương thực sự.
2 - Tâm tướng người ngu đần:Cặp lông mày đậm và lan xuống bờ mắt, Mắt ngắn và nhỏ, môi vẩu, răng khếp khểnh, cử chỉ châm lụt, cứng nhắc như cây gỗ mục nói năng hàm hồ.
3 - Tướng người ngang bướng:Các bộ vị giúp ta quan sát được tính người ngang bướng là lông mày và mắt. Lông mày thô đậm hoặc nghịch loạn, hoặc xương chân mày quá cao, quá thấp, mắt lồi hoặc tròn lốn hoặc lòng trắng hơi vàng đều là các chỉ dấu khá chính xác.
4 - Tướng người háo sắc:Loại tướng người háo sắc được biểu lộ ở phần ngoại biểu như hai mắt mục thần si daị như người ngái ngủ ( tuý nhãn ) hoặc ánh mắt ướt át, hoặc có dạng thức của Đào - hao - nhãn, trang phục chau chuốt quá đáng, mỗi khi nhìn thấy phụ nữ có chút nhan sắc hấp dẫn thì ánh mắt đưa đẩy, nói cười đon đả cầu thân dù rằng mới chỉ hội kiến lần đầu v.v… đều là những dấu hiệu bề ngoài của kẻ háo sắc.
5 - Tướng người giao tế giỏi:Mày thanh, Mắt sáng, Môi mỏng, Răng đều, nói năng hoạt bát, sắc mặt tươi tỉnh dễ thân cận v.v… đều biểu hiện của sự giao tế khéo léo. Loại người này có thể tốt hay xấu tuỳ theo mục đích mà họ đeo đuổi. Nếu có thiện ý, không mưu cầu tư lợi, loại này sẽ giúp được nhiều việc cho thượng cấp. Trái lại, nếu chỉ nhằm tư lợi, sử dụng tài hoạt bát để dèm pha khéo léo bạn đồng sự, lấy lòng thượng cấp, thì khi có cơ hội, kẻ đó sẽ là một kẻ bạc nghĩa. Muốn phân biệt tốt xấu, phải xem lỹ tác phong, quan sát ánh mắt khi đối thoại.
6 - Tướng người dễ phản phúc:Dấu hiệu bề ngoài là cặp mắt lồi và đỏ, nhìn người, tia mắt thường nhướng lên hoặc nhìn xuống, hay liếc xéo nhìn trộm chứ không bao giờ nhìn trực diện thượng cấp, Lông mày thưa thớt, Lưỡng quyền nổi ngang hoặc gồ cao không tương xứng với khuôn mặt, Trán có loạn văn, Sống mũi nghiêng lệch cong queo, Mang tai nẩy nở bất thường, tác phong giảo hoạt. Càng có nhiều các đặc trưng nói trên càng dễ quyết đoán. Tuy nhiên, chỉ cần một hai dấu hiệu rõ rệt cũng đủ khiến ta phải đề phòng tránh hậu hoạn. 
7 - Tướng người phục tùng:Mục quang ôn hoà, Mũi không lệch, Quyền không cao, không ham ăn uống, du hí, không ngại khó, không bao giờ tỏ vẻ oán hận ai đều là các dấu hiệu của sự phục tùng thượng cấp một cách ngay tình. Đây là mẫu người thừa hành lý tưởng cho các công việc thông thường
8 - Tướng người ích kỷ tư lợi:Ích kỷ tư lợi là thiên tính của con người, nhưng tướng người ích kỷ và tư lợi nói ở đây là loại người chỉ biết có mình, bất chấp tha nhân hậu quả. Dấu hiệu bề ngoài kẻ đó là*Đi đứng thường lao đầu về phía trước, đầu cúi thấp hoặc thường ngó trở lui*Cặp mắt trắng nhiều, đen ít*Mũi nếu hình dạng nhỏ thì lệch, còn nếu lớn thì cặp xuống như mỏ chim ưng*Bình thường nếu sai việc nhỏ thì tỏ ra siêng năng, ngoài mặt ra vẻ thành khẩn nếu việc đó khiến chủ nhân hay thượng cấp tin cậy thêm vào khả năng mình.
9 - Tướng người có tinh thần trách nhiệm:Đa số những người có tinh thần trách nhiệm đều có mặt mũi sáng sủa, Mục quang thuộc loại “ tàng nhi bất hối hoặc cương nhi bất cô” ( nghĩa là mục quang sáng nhưng vẻ sáng không quá lộ liễu, Nhìn qua ánh mắt khiến người phải kính nể nhưng không gây ra sự uý kỵ mất cảm tình ), Mũi của loại người này có thể lớn hoặc nhỏ, nhưng nếu kơn 1 thì phải cao, nếu nhỏ thì phải không lộ khổng và phối hợp tương xứng với Lưỡng quyền, ngôn ngữ của loại người có tinh thần trách nghiệm là khi làm việc thì chuyên tâm, không khinh xuất, thần khí trầm ổn.
Ngược lại, kẻ làm việc (dù việc đo rất thích hợp với đương sự hoặc làm việc không bị cưỡng bách) thiếu tinh thần trách nhiệm thì lông mày thô và quăn queo, mục thần lúc nào cũng như kinh hãi, Mũi và Lưỡng quyền cao rộng, tác phong lỗ mãng, cư xử thô bỉ.
10 - Tướng người cơ trí, ứng biến linh hoạt :Loại người này có đặc điểm dễ nhận thấy là mi thanh, mục tú, cặp mắt sáng sủa linh hoạt, đen trắng phân minh, sống mũi thẳng như ống trúc và không lệch lạc ( loại tiêm-đồng-tỵ ) phối hợp thích nghi với lưỡng quyền, Trán rộng và cân xứng, mục quang thuộc loại “ Phát nhi bất lộ, Nộ nhi bất tranh”, âm thanh trong sáng ấm cúng.
Đây là loại tướng người có thể giao phó các trọng trách. Đi xa thêm chút nữa nếu có thêm Sơn căn cao, địa các đầy đặn, vững vác không vát không gồ thì chẳng những kẻ đó đủ khả năng đảm nhận trọng trách một cách hữu hiệu mà còn duy trì trường cửu được địa vị quan trọng. Nếu Sơn căn thấy , địa các không đầy đặn và triều củng thì tuy có khả năng đảm nhận trọng trách, nhưng vì mạng vận vãn niên không tốt nên không thể ở lâu trong nhiệm vụ quan trọng, bởi lẽ địa các chủ về vãn vận .
Ngược lại, những kẻ mắt vượn, nhìn vật mà hếch mặt lên trời, cử chỉ khắc bạc trí trá, nói nhiều mà âm điệu thô trọc thì giao cho việc nhỏ có thể chu toàn, nhưng chấp chường đại quyền sẽ làm hư việc lớn. 
11 - Tướng người gian tham độc hại :Tướng người có tính gian tham được biểu lộ ra ngoài đầu nhỏ nhọn, lông mày xoắn tít, mắt có sắc hơi vàng tia mắt nhìn xuống hoặc liếc xéo, mắt hình tam giác, mũi ngắn và thấp. Địa các nhỏ nhọn. Loại người này khá khôn khéo. Làm việc giỏi nhưng hay có gian kế và có lòng tham. Tâm tính độc hại được thể hiện qua mắt rắn hoặc có dạng tam giác, mi cốt cao mà lông mày thô đậm hoặc mọc ngược, hoặc vút cao như dao: Mũi dài, cao nhưng hẹp và chuẩn đầu trơ xương hoặc cong như mỏ chim, tai thuộc loại khai hoa nhĩ, da mặt lúc nào cũng tái xạm ( do thiên bẩm chứ không phải vì bệnh hoạn hay mất ngủ).
12 - Tướng người nhút nhát, sơ việc: Kẻ có tướng nhát gan, sơ việc là kẻ có nhãn cầu nhỏ và mắt có sắc vàng khà rõ rệt, lòng đen tròng trắng thiếu sáng sủa, thân hình cao rộng mà mũi lại nhỏ thấp, nói năng thiếu thành tín, tham lam tiểu lợi. Nói chung, loại người này không hẳn là xấu nhưng không thể coi là đủ điều kiện để giao việc. Nếu vì ân tình mà kết nạp dưới trương hay cho giúp việc trong nhà thì cần quan sát thêm một vài điểm sau đây : Kẻ có tướng nhát gan nhưng đầu tròn không lệch lạc, mắt rùa, thân hình ngắn nhỏ, nói hay co đầu rụt cổ một cách tự nhiên là tướng rùa ( Quy cách ). Kẻ đó tuy làm việc không giỏi, nhưng tính nết hoà bình, đa phúc, đa thọ, không đem lại nguy hiểm cho người sử dụng.
13 - Tướng người điềm đạm, thâm trầm :Người có tính điềm đạm, thâm trầm được thể hiện ra ngoài qua một số đặc điểm sau đây :- Bất kể mũi cao hay thấp, miễn là ngay ngắn, phối hợp thích nghi với Lưỡng quyền - Mắt bất kể loại gì , miễn là mục quang ẩn tàng, nhưng không mờ tối, ôn hoà nhưng không nhu nhuyễn, môi hồng và trên dưới cân xứng. - Thần khí thư thái, thanh thản khiến người sơ kiến cũng có thiện cảm muốn tiếp cận, vui buồn không lộ .Có những đặc điểm đó là người được trời phú cho tính điềm đạm tự chế được sự hỷ nộ, công phu hàm dưỡng cao siêu hơn đồng loại. 

Quan sát cá tính người trên: 
1 - Tướng người trung hậu :Nhãn quang ôn hoà nhưng không nhu nhược, diện mạo khả ái, thường ngồi an tĩnh, ngôn ngữ khiêm cung, đối đãi với kẻ dưới có lòng khoan thứ, không hách xằng, hành sự chu toàn, không khinh bần tiện, không trọng sang giàu quý hiển, trong gia đình xử sự có điều lý, gia đạo an lạc. Bất cứ trong trường hợp bất bình với kẻ dưới ra sao đều không ỷ quyền thoá mạ .
2 - Tướng người hung ác :Nói đến hung ác, ta phân biệt đại ác và tiểu ác. Hơn nữa, có khi hung chưa hẳn là ác, có khía vừa hung vừa ác. Kẻ có hoả sắc ám tình (mắt đỏ) còn gọi là nhãn đới sát, được coi là nhãn hung, chủ về hung điểm cho chính bản thân, kẻ sắc mặt lúc nào cũng như dại hay ngái ngủ gọi là tầhn hung hay đới sát ….Tất cả các điều đó đều chủ về hung chứ không phải ác. Kẻ có thân thể lệch lạc, mặt có các thớ thịt phát triển theo chiều ngang, mày sắc như dao, mắt như rắn là kẻ tính ác và tham lam đê tiện. Trái lại, kẻ tóc cứng và thô như rễ tre. Trán gồ và phá hãm, mắt lồi và lộ hung quang kiêm nhãn thần vượng, lưỡng quyền có lông tơ rõ rệt, mũi lõm mà quyền cáo, mắt rắn và hay liếc xéo ánh mắt đảo điên, mũi chim ưng, mắt sói tiếng nói như chó sói tru, nhìn người hay cười lạnh là tướng người vừa hung vừa ác.
3 - Tướng người nhu nhược:Loại người nhu nhược, biểu hiện ra ngoài qua ánh mắt kinh nghi (bất kể loại mắt nào) chỉ thích nói chuyện nhàn hạ, không dám quyết đoán việc thuộc thẩm quyền của mình, nói năng khinh xuất. 
4 - Tướng người vô tình bạc nghĩa: Kẻ có tướng trên thì mang tai nở rộng quá đáng. Mắt nhỏ mà thiếu bề dài con người hơi vàng, môi mỏng như giấy, khi yếu thế hoặc chưa đắc thời thì đối đãi với người thân mật khắng khít, đến lúc đắc thế thì coi thiên hạ như cỏ rác hoặc thấy lợi thì quên hết mọi việc, lấy oán làm ân. 
5 - Tướng người bất cận nhân tình :Đặc điểm dễ nhận thấy nhất là tướng người thô trọc. Quyền thấp mũi cao, tính thích nịnh hót, dốt mà tự chuyên, nói năng tự tiện, lỗ mãng, hỷ nộ vô thường, đi đứng lao đầu uốn khúc tự cho là mạnh mẽ hiên ngang, không biết nhân tình thế cố mà tự cho là thông thái buộc người khác phải hiểu mình. 
6 - Tướng người giảo hoạt :Loại tướng này được thể hiện ra ngoài qua cặp mắt và mũi. Kẻ có mũi chim ưng bất kể nghiêng lệch hay không, mũi cao và lưỡng quyền cao thấp ra sao cộng thêm với cặp mắt không bao giờ nhìn thẳng (luôn luôn liếc xéo, nhìn lên, nhìn xuống) Miệng nói với người mà ánh mắt sáng láng giảo hoạt lại hướng về phía khác hoặc nhìn lén đều là tướng giảo hoạt. 
7 - Tướng người tinh tế :Tính tình tinh minh tế nhị được thể hiện ra ngoài bằng cặp lông mày thanh tú, nhỏ bề ngang mà mọc cao, mắt đẹp và mục quang thuộc loại Đinh nhi xuất (nhãn thần sáng rực, lúc ẩn lúc hiện) lòng đen trắng phân minh và sáng sủa hữu tình, ngôn ngữ ôn tồn, giọng nói không nhanh không chậm, cử chỉ ngay thẳng đàng hoàng, bề ngoài tuy có vẻ ôn nhu thuận hảo nhưng nội tâm cương trực không bị người chi phối. 
8 - Tướng người khó có thể bị dối gạt :Đa số những người có óc phân biệt bén nhạy và khó dối gạt được có mày cao mắt đẹp, thần khí sung mãn, đồng tử sáng sủa, lòng đen, tròng trắng phân minh, âm thanh cao và trong trẻo, ngữ điệu vừa phải, thích nghi, toàn thân như tỏa ra một vẻ oai nghiêm khiến người trông thấy phát sinh sợ hãi ngầm không dám đặt điều nói gạt.
Về cá tính, kẻ đó không thể lấy tình cảm để đã thông, không để lợi danh làm mờ mắt, gặp việc đáng làm thì trầm ngâm mặc suy tư cẩn thận, ít ba hoa biện giả, khi cùng người giao tiếp, không trọng hình thức, có lỗi thì vạch rõ, có công thì khen thưởng, không tư vị, dù cho kẻ đó là người xa lạ hay quen mình cũng vậy. 

1) Nhân tướng học & tiên liệu vận mạng
2) Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế
3) Tướng Phát  Đạt
4) Tướng Phá Bại
5) Thọ, Yểu qua tướng  người
6) Đoán tướng tiểu nhi
7) Phu Luân về tướng Phụ nữ
8) 36 tướng hình khắc
9) Những tướng cách phụ nữ
10) Nguyên lý Âm Dương Ngũ hành
11) Ứng dụng của Âm Dương trong Tướng Học
12) Tương quan giữa Sắc và con người
13) Ý niệm Sắc trong tướng học Á Đông
14) Bàn tay và tính tình
15) Quan điểm của  Phật giáo về vấn đề xem Tử Vi - Bói Toán


  (Trích Lược Tử Vi : Tuổi Mùi,  năm nay số mệnh ra sao ? 12 Con Giáp và những đặc tính)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế

Đại diện của ngũ hành và can chi

a - Mộc đại diện cho mùa Xuân b - Hỏa đại diện cho mùa Hạ c - Kim đại diện cho mùa Thu d - Thủy đại diện cho mùa Đông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1 – Ngũ hành đại diện cho các mùa 
a - Mộc đại diện cho mùa Xuân
b - Hỏa đại diện cho mùa Hạ
c – Kim đại diện cho mùa Thu
d - Thủy đại diện cho mùa Đông 

2 – Can chi đại diện cho các hành 
Giáp, Ât, Dần, Mão đại diện cho hành Mộc 
Bính, Đinh, Tị, Ngọ đại diện cho hành Hỏa 
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đại diện cho hành Thổ 
Canh, Tân, Thân, Dậu đại diện cho hành Kim 
Nhâm, Quý, Hợi, Tý đại diện cho hành Thủy 

3 – Can chi đại diện cho mầu sắc 
Giáp , Ât , Dần và Mão là Mộc đại diện cho mầu xanh.
Bính, Đinh, Tị và Ngọ là Hỏa đại diện cho mầu đỏ.
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu và Mùi là Thổ đại diện cho mầu vàng.
Canh, Tân, Thân và Dậu là Kim đại diện cho mầu trắng.
Nhâm, Quý, Hợi và Tý là Thủy đại diện cho mầu đen

4 – Can chi đại diện cho các bộ phận trong cơ thể con người 
Giáp, Ât, Dần, Mão (Mộc) đại diện cho các bộ phận trong cơ thể con người là gan, mật, thần kinh, đầu, vai, tay, ngón tay …….
Bính, Đinh, Tị, Ngọ (Hỏa) đại diện cho các bộ phận tim, máu, ruột non, trán, răng, lưỡi, mặt, yết hầu, mắt ……
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (Thổ) đại diện cho dạ dầy, lá lách, ruột già, gan, bụng, ngực, tỳ vị, sườn ……
Canh, Tân, Thân, Dậu (Kim) đại diện cho phổi, máu, ruột già, gân, bắp, ngực, khí quản ……...
Nhâm, Quý, Hợi, Tý (Thủy) đại diện cho thận, bàng quang, đầu, bắp chân, bàn chân, tiểu liệu, âm hộ, tử cung, hệ thống tiêu hóa, …….. 

5 - Can chi và ngũ hành đại diện cho các phương.

Sơ đồ của các can, chi và ngũ hành đại diện cho các phương như sau:



Giáp, Ât, Dần và Mão là Mộc đại diện cho phương Đông.
Bính, Đinh, Tị và Ngọ là Hỏa đại diện cho phương Nam.
Mậu và Kỷ không ở phương nào cả mà đại diện cho trung tâm.
Thìn đại diện cho phương Đông Nam. 
Tuất đại diện cho phương Tây Bắc. 
Sửu đại diện cho phương Đông Bắc. 
Mùi đại diện cho phương Tây Nam.
Canh, Tân, Thân và Dậu là Kim đại diện cho phương Tây.
Nhâm, Quý, Hợi và Tý là Thủy đại diện cho phương Bắc.

6 – Can chi đại diện cho nghề nghiệp
Giáp, Ât, Dần và Mão là Mộc đại diện cho các nghề sơn lâm, chế biến gỗ, giấy, sách báo, làm vườn, trồng cây cảnh, phục trang, dệt, đóng thuyền ……
Bính, Đinh, Tị và Ngọ là Hỏa đại diện cho các nghề thuốc súng, nhiệt năng, quang học, đèn chiếu sáng, xăng dầu, cao su (xăm lốp ,dây đai ,nhựa cây), các sản phẩm đồ điện, vật tư hóa học, luyện kim, nhựa đường …..
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu và Mùi là Thổ đại diện cho các nghề chăn nuôi , nông nghệp, khai khẩn đồi núi, giao dịch về đất đai, buôn bán địa ốc, phân bón, thức ăn gia súc, khoáng vật, đất đá, gạch ngói, xi măng, đồ gốm, đồ cổ, xây dựng, …..
Canh, Tân, Thân và Dậu là Kim đại diện cho các nghề vàng bạc, châu báu, khoáng sản, kim loại, máy móc, thiết bị nghiên cứu hóa học, thủy tinh, các công cụ giao thông …… .
Nhâm, Quý, Hợi và Tý là Thủy đại diện cho các nghề nước giải khát, hoa quả, đồ trang sức mỹ nghệ, hóa phẩm mỹ dụng, giao thông vận tải, vận chuyển hàng hóa, chăn nuôi thủy sản, mậu dịch, du lịch, khách sạn, buôn bán ,….

Người Trung Quốc từ xa xưa đã dùng lịch Can Chi để xác định các mốc thời gian trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó tại thời điểm của mỗi người khi sinh ra được xác định bởi bốn thông tin của lịch Can Chi. Đó chính là bốn tổ hợp can chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh mà chúng được gọi là Tứ Trụ hay mệnh của người đó. Ví như một cái nhà được xây dựng lên bởi bốn cái cột, nếu bốn cái cột này đều nhau và vững chắc, nghĩa là các hành Kim, Thủy, Mộc, Hỏa và Thổ trong tứ trụ là tương đối bằng nhau thì người đó cả cuộc đời thường là thuận lợi, còn nếu bốn cột không điều nhau, tức ngũ hành quá thiên lệch, tất dễ đổ nhà - cuộc đời dễ gặp tai họa. 

Cách đây ba bốn nghìn năm con người đã biết sử dụng lý thuyết này để phòng và chữa bệnh. Ví dụ những ai trong mệnh (tứ trụ) mà ngũ hành thiếu Mộc mà lại cần Mộc, thì đầu tiên cần đặt tên mang hành Mộc và nên sống ở về phía Đông so với nơi mình được sinh ra, vì đó là phương Mộc rất vượng (tức là Mộc nhiều). Sau khi trưởng thành cũng nên làm những nghề liên quan đến hành Mộc, thêm nữa nên mặc quần áo mang hành Mộc (xanh). Nếu làm như vậy thì sẽ có một phần Mộc được bổ xung cho tứ trụ. Còn khi bị bệnh do hành Mộc thiếu thì thầy thuốc sẽ căn cứ vào sự thiếu nhiều Mộc hay ít để bốc thuốc mang hành Mộc cho phù hợp với sự thiếu Mộc đó. Được như vậy cuộc đời người đó thường gặp thuận lợi rất nhiều hay dễ khỏi bệnh. Các hành khác cũng suy luận tương tự như vậy.

Nguồn: phuclaithanh.com


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đại diện của ngũ hành và can chi

Người có ngũ hành thuộc Hỏa không nên mở cửa tại những hướng nào? –

Căn cứ vào mối quan hệ đối ứng của ngũ âm và ngũ hành trong “Ngũ Âm tương trạch pháp” ta có thể biết người họ Huy không thể mở cửa ở hướng Bắc. Bởi vì, họ Huy ngũ hành thuộc Hoả, hướng Bắc thuộc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả. Cũng không nên mở cửa tại hướng Na

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

m vì hướng Nam thuộc Kim, Hoả khắc Kim. Mở cửa ở hướng Đông không có vấn đề gì vì Mộc có thể sinh Hoả.

p70

Cũng theo nguyên tắc như vậy, người họ Thương không được mở cửa tại hướng Nam, vì họ Thương thuộc Kim, hướng Nam thuộc Hoả, Hoả khắc Kim. Những người thuộc họ Giác (ngũ hành thuộc Mộc) không thể mở cửa ở hướng Tây vì hướng Tây thuộc Kim, Kim khắc Mộc. Người thuộc họ Cung (ngũ hành thuộc Thổ) không được mở cửa ở hướng Đông, vì hướng Đông thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ….

Liên quan đến vấn đề này, cuốn “Đồ Trạch thuật” của “Hậu Hán thư – Nghệ văn chí” có ghi chép: “….Cửa nhà họ Thương không hợp mở hướng Nam, cửa nhà họ Huy không nên mở hướng Bắc. Thương thuộc Kim, hướng Nam thuộc Hoả, Huy thuộc Hoả, hướng Bắc thuộc Thuỷ. Thuỷ thắng Hoả, Hoả diệt Kim, khí của ngũ hành không tương ứng. Nếu hướng thuận, phú quý cát tường, nếu hướng nghịch, bần hàn nghèo khổ.”


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Người có ngũ hành thuộc Hỏa không nên mở cửa tại những hướng nào? –

Những Điều chưa biết về thạch anh trong phong thủy(P1) –

CÁC LOẠI TINH THỂ (THẠCH ANH) Tinh thể Thạch anh (trong suốt) Thạch anh trắng (trắng) Thạch anh hồng (hồng) Thạch anh chanh (vàng) Thạch anh lam (lam) Ametit (tím) Aventurin (lam) Thạch anh hun khói (nâu) Thạch anh đen (đen) Mắt hỗ (vàng-hạt dẻ) Mắt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

CÁC LOẠI TINH THỂ (THẠCH ANH)

Tinh thể Thạch anh (trong suốt)

Thạch anh trắng (trắng)

Thạch anh hồng (hồng)

Thạch anh chanh (vàng)

Thạch anh lam (lam)

Ametit (tím)

Aventurin (lam)

Thạch anh hun khói (nâu)

Thạch anh đen (đen)

Mắt hỗ (vàng-hạt dẻ)

Mắt chim ưng (lam – đen)

Mắt mèo (lục – xám)

Thạch anh sắt (rỉ sét)

Calcedoin (vi khối kết tinh)

Calcedoin (xám – lam hay xám – lục)

Mã não (tất cả màu vân dài)

Mã não bọt, rêu (thể vùi xanh đậm)

Mã não dạng dãi (đen vân dài trắng)

Mã não hồng (Cam)

Sardoin (cam -nâu)

Ngọc thạch anh (gạch – vàng – lục)

Heliotrop (xanh đạm với đốm đỏ)

Chrysoprase (xanhtỏi)

trang

1. TINH THỂ THẠCH ANH TRONG SUỐT

Màu trong suốt, tương hợp trong pegmatites, trong các vân loại alpin hay trong một số đá biến chất. Ta tìm thấy trong tất cả các vùng núi miền Trung nước ta, có nơi

mà các tinh thể có thể lên đến nhiều tấn… (tuy nhiên trước khi khai thác chúng ta cần phải tìm hiểu chỉ số Bovis của các loại đá thạch anh trên 17.000 đơn vị.)

Chúng ta sẽ nghiên cứu chi tiết các đặc tính và khả năng trị liệu của tinh thể đá trong tài liệu này. Nó liên quan đến trung khu thần kinh cũng như tất cả các trung khu khác vì ánh sáng trắng chứa tất cả các màu sắc. Tác dụng của nó là giảm đau nhức trên và điều hòa năng lượng trên cơ thể (thể chất)

Giúp tập trung tư tưởng

Giúp sự cảm nhận (rung động) tăng lên

Phuc hồi trí nhớ

Thạch anh trắng :

¬Tình yêu cao thượng

¬Sắc đẹp

¬Làm tăng năng lượng cao thượng – cao nhã.

¬Nhún nhường – khiêm tốn

¬Trong trắng – ngây thơ

¬Sáng kiến mới

¬Sự thanh cao

¬Đoàn kết

Thạch anh trắng giúp :

¬Chữa bệnh đãng trí

¬Trợ giúp tìm người mất tích

¬Kiềm hãm và chặn đứng những tính xấu – tâm ma trỗi dậy.

2. THẠCH ANH TRẮNG

Màu trắng, mờ đục, thoát thai từ một cấu trúc ít hoàn hảo hơn lưới tinh thể, do bị lạnh quá nhanh làm cho tinh thể bị mờ đục. Đó là loại thạch anh thông dụng nhất được thấy với một tỷ lệ lớn trong tất cả các mỏ tinh thể đá. Thạch anh trắng này có một phẩm chất rất ÂM TÍNH so với tinh thể đá là DƯƠNG. Loại thạch anh TRẮNG này có thể được sử dụng để làm dịu hay tan biến các căng thẳng và sử dụng trên mối giao tiếp giữa người con với người mẹ và ngược lại. Các chứng bệnh có tính chất Dương.

3. THẠCH ANH HỒNG

Màu hồng do sự có mặt của titanium hay manganèse, trong mờ, tổng quát chắc và ít kết tinh.

Là loại thạch anh rất đặc sắc được dùng trong tình yêu. Có khả năng trấn an các cá nhân thường bị xúc động, giảm stress và các cảm xúc bất lợi. Làm thông thoáng các tắc nghẻn do sợ hãi và các cơn ghen tạo ra. Đó là loại thạch anh thúc đẩy tính đam mê và tình thương nhân loại. Đây là loại thạch anh của các tình nhân.

Có tác dụng trên thể tinh thần nên giúp cho ngũ ngon, không mơ hoảng, giúp phục hồi trí nhớ.

Giúp dễ dàng nhập định, làm thanh khiết các luân xa trong sự luân chuyển vòng quanh cơ thể khoảng 10cm. Làm tăng khả năng nhạy cảm của cơ thể.

Thạch anh hồng :

¬Tăng trưởng tình yêu thương

¬Giúp người trở nên chân thành – dễ thương

¬Giúp kích thích sự hy vọng và triển vọng của thành công

¬Tính độc lập

¬Trở nên dịu dàng – dễ mến

¬Tâm hồn trong trắng – thành thật.

¬Khỏi bệnh

¬Hài hòa

¬Trẻ mãi

¬Cởi mở tấm lòng

¬Luôn rộng lượng – tha thứ

¬Luôn giúp đở mọi người

¬Phục hồi những tổn thương về mặt tinh thần.

¬Thay đổi mới luôn luôn trong cuộc sống

thạch anh hồng có sao.

Giúp chữa các chứng sau :

¬Dễ đạt trạng thái vô thức

-Ổn định tinh thần

4. THẠCH ANH VÀNG

Thạch anh vàng trong suốt và màu vàng. Người ta tạo được thạch anh vàngnhân tạo bằng việc đốt nóng amétit lên khoảng 450o. Thạch anh vàng tự nhiên rất hiếm. Thạch anh vàng đun nóng được gọi là hoàng ngọc hay madère được tìm thấy ở Batây, Mỹ, Tây Ban Nha, Liên Sô, Madagascar, Pháp và Ecoce. Và Việt Nam chúng ta cũng có nhưng rất hiếm.

Thạch anh vàng giải tỏa sự bế tắc ở đám rối dương và cuống dạ dày vàlàm cho tâm hồn sảng khoái, lọc máu, thúc đẩy vùng thận và rất cần cho người bệnh tiểu đường.

5. THẠCH ANH LAM

Được gọi là ngọc lam có màu lam. Trong suốt và được tìm thấy ở Áo, Mỹ, Thụy Điển, Nam Phi và Ba Tây. Loại thạch anh được dùng để làm dịu các buồn phiền và tác động ở tuyến giáp trạng.

6. THẠCH ANH TÍM

Tím dợt hay sậm vì sự có mặt của sắt. Tìm thấy ở Âu Châu, Liên Sô, Uraguay và Ba Tây và ở Việt Nam nhưng rất hiếm. Bọt hơi trong các dung nham rắn lại tạo nên cái mà ta gọi là hốc tinh, một loại vỏ mã não rỗng tapiss phủ amétit, loại lớn nhất được thấy ở Ba Tây nặng hơn 100kg.

Amétit củng cố sức mạnh cho tuyến nội tiết. Trên địa hạt vật lý, đây là loại đá bảo vệ chống lại nhiều chứng bệnh. Nó tác động vùng đầu và làm dịu các cơn đau, giúp dễ nhập định và tinh thần trong sáng. Theo truyền thuyết và từ nguyên loại đá này dùng để phòng chứng say rượu

Thạch anh tím :

¬Tình yêu cao thượng

¬Tự chủ về mặt tinh thần

¬Có ý thức về mọi vấn đề

¬Niềm tin về tâm linh

¬Sự tự chủ – kiềm chế

¬Khả năng dự đoán – tiên tri

¬Sức sống mạnh mẽ

¬Tính chặt chẻ – chính xác

¬Đúng mực – thận trọng

¬Điều độ – tiết độ

Thạch anh tím giúp :

¬Hỗ trợ về mặt tâm linh

¬Can đãm

¬Xóa bỏ sự hẹp hòi ích kỷ

¬Xóa bỏ sự kiêu ngạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những Điều chưa biết về thạch anh trong phong thủy(P1) –

Tầm quan trọng của bàn thờ thần linh –

Trong các cửa hàng và nơi ở thường đặt một thần vị, nên đặt ở phòng lớn. Thần vị lại có hai điểm cần chú ý là không được đối diện với cửa hoặc đường đi, để tránh xung đột với đại hung, Ví dụ như: Đối nghịch với tay long: dễ tạo ra sự suy thoái của gi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

a vận, vợ chồng nhân duyên dễ rạn nứt, người chủ gia đình hoặc nam giới trong nhà dễ mắc bệnh nặng hoặc hoạn nạn. Đối nghịch với tay hổ: trong nhà sẽ có nhiều sự tranh chấp, nữ quyến hoặc nam đinh thứ trong nhà dễ mắc bệnh, vận đồ của nam giới không thuận, nữ nói nhiều, tham quyền.

My beautiful picture

Trong nhà nếu như bài vị tổ tiên mà cao hơn bài vị thần linh cũng là xấu, trong nhà dễ người dưới phạm thượng, bề dưới coi thường bề trên, tớ coi thường chủ, thiên địa đảo điên, nữ mạnh nam yếu.

Ngày nay có rất nhiều gia đình thờ cúng tổ tiên hai bên, nhưng trên bàn thờ thần nên lấy tổ tiên chính chủ làm đầu, không thể đồng thời cúng tiên bài vị của cả hai họ. Nếu có sự sai lầm này, sẽ tạo gia loạn, bất hoà, vận thế không thông, nặng thì tử tôn bát tự, dễ gặp bệnh thần kinh. Thường con người ta rất hạn chế hiểu biết với thần bếp, bao gồm những thần chức trách. Mọi người cùng nên biết rằng, công quả tu được từ việc thờ cúng thần minh trong thời gian dài ở trong bếp, trong quá trình thờ thần trong bếp cần phải phân thành thiên địa an bát quái, phân vị lò báo, tầng tầng an vị. Những điều này đều là có quy tắc, không phải là đến Tết mới thay đổi lại hoặc tùy ý di chuyển, như vậy tương đương với việc thần vị phải sửa đổi lại, công quả cũng cần phải sửa lại.

Thần linh bếp ở nơi bán hàng, trong quá trình lựa chọn nên đặc biệt chú ý đến kích thước, vì những quy cách của bếp cần phải hợp với kích cỡ của thước văn công (thước Lỗ Ban). Vì sao lại nói như vậy: Khi thiết kế bếp và mua bếp, mọi người chỉ chú ý đến hình thức bên ngoài, không quan tâm đến kích thước phù hợp hay không. Khi đó,  cần tránh các cung chữ màu đen trên thước Lỗ Ban như: Thất thoát, quan quỷ, ly, kiếp tài… Những bếp được đưa ra có những vấn đề như trên, hầu hết đều không có cách nào tránh khỏi những trệ khí.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tầm quan trọng của bàn thờ thần linh –

Thái Tuế Nhập Quái

Ông Trần Thế Hưng (Đài Loan) thuộc thế hệ 5x, là lớp nổi lên sau ông Tử Vân (Đài Loan). Theo lời tự thuật thì ông bắt đầu với khoa Tử Bình, từng theo học Tử Vi với ông Tử Vân một thời gian và có qua lại với Liễu Vô cư sĩ, nhưng sau nhờ một thầy khác mới được “mở hai mạch nhâm đốc”, mạnh dạn vừa làm thầy xem Tử Vi vừa viết sách Tử Vi dương danh thiên hạ. Các sách của ông Hưng nhắm vào những lá số người thật có cùng nét đặc biệt như “Vi hà bất hôn thiên” (vì sao không lập gia đình), “hôn ngoại tình thiên” (những kẻ ngoại tình). Bài sau đây được chọn vì có xử dụng cả hai kỹ thuật sau:
Thái Tuế Nhập Quái

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

-Phép mượn cung: Phép này khá thông dụng ở Đài Loan, được nhiều người xử dụng từ lâu. Thí dụ: Ông X đang ở cung Tí thì cung thê của Tí (tức cung Tuất) ứng với vợ hoặc tình nhân của ông X. Giả như ông X ngoại tình với một người đã có chồng là bà Y trong hạn này thì bà Y ứng cung thê của hạn nên ứng cung Tuất (thê của Tí). Lại nữa, vì bà X ứng cung Tuất nên chồng bà X ứng cung Thân (là cung phu của Tuất). Đại khái như thế.

-Phép “Thái Tuế nhập quái”: Phép này nhờ ông Tử Vân mà trở thành hết sức phổ biến ở Đài Loan, dù chỉ mới nổi lên trong vòng hơn hai mươi năm nay thôi. Như trường hợp ông X ngoại tình với bà Y như ở trên nếu dùng lá số của ông X để xem diễn biến ra sao thì coi cung có địa chi của bà Y ứng với bà Y, lại thêm các sao hóa theo năm sinh của bà Y vào; rồi phối hợp dữ liệu mà đoán tốt xấu. Nói chung chung nhiều lộc tụ tập thì tốt, bị kị sát tụ tập thì xấu nhưng đi vào thực tế thì có thể hết sức phức tạp.

Chú ý về cách xem nhân duyên của ông Trần Thế Hưng

Chỉ xem chính tinh tứ hóa Lộc Tồn lục cát lục sát Khốc Hư Hình Riêu Đào Hồng Hỉ. Các sao còn lại bất luận lớn (như Tuần Triệt song Hao) hoặc nhỏ (như Giải Thần, Âm Sát) đều không xem.
An Hỏa Linh thuận theo giờ cả, không phân nam nữ âm dương như VN.

Trích sách “Hôn ngoại tình thiên” (dịch nghĩa “Các lá số ngoại tình”), 1994, nxb Tiêm Đoan, Đài Bắc.

Trường hợp 11: Cô Dương, Ất Mùi 1955, âm lịch tháng 3 ngày… (3 hoặc 13, hỏa lục cục, mệnh cư Sửu vô chính diệu, phu Tử Sát cư Hợi) giờ Mão.

Nguyên tác: Trường hợp 11: Cô Dương, trang 154-171, Trần Thế Hưng, “Hôn ngoại tình thiên”, Tiêm Đoan, Đài Bắc 1994.

VDTT phỏng dịch và chú thích

Cô D làm nghề phục vụ, việc không ổn định. Năm Quý Hợi quen ông M sinh Mậu Tý (1948), năm Ất Sửu 1985 sinh đôi. Năm Tân Mùi 1991 quen ông R (Kỷ Mão 1939) đã có vợ.

Mệnh Kỷ Sửu VCD Linh độc thủ (dịch giả chú = dgc: Cách tiêu chuẩn của Đài Loan là Hỏa Linh an thuận theo giờ cả), xung có Vũ Tham Xương Khúc, tam hợp Phủ Tướng.

Mệnh: VCD, hai cung giáp cung VCD nên mệnh ở vị trí rất yếu. Khi một mình đối diện chính mình không khỏi có cảm giác cô độc lo sợ, cho nên thành tính lệ thuộc ngoại cảnh, không thích một mình. Tự tin không đủ nên không hợp các công việc khó khăn phải tự quyết định nhiều, tốt nhất là có liên hệ với người. Cô D làm nghề phục vụ vậy là thích hợp cá tính.

Linh Tinh độc thủ khó tránh nóng vội, vì VCD tính nóng vội thường khiến mình phiền lụy mệt mỏi, may không gặp Kình Đà bằng không thì như người xua nói “khó tránh hình khắc”.

Mệnh VCD, di là lốt giả, Vu Tham Xương Khúc thành nhiều cách cục Xương Tham, Khúc Tham, Linh Tham, LXĐV (trong luu niên). Cô D bản tính bất ổn, có suy nghi khác thường, khả năng học hỏi cao, cũng dễ tẩu hỏa nhập ma. Thuộc týp dễ lên dễ xuống. Làm việc sáng kiến chẳng dở, công việc nhiều biến đổi.

Người xưa nam mệnh thích Xương Khúc, như “Văn Khúc Văn Xương Thiên Khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân”, “Tuấn nhã Văn Xương, mi thanh mục tú; lỗi lạc Văn Khúc, khẩu tài tiện ngụy…”, “Văn Xương Văn Khúc vi nhân đa học đa năng”… (nhưng) nữ mệnh gặp Xương Khúc thì e bất cập, như “Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn”, “Dương phi háo sắc tam hợp Văn Xương Văn Khúc” vân vân… Thời đại ngày nay nam nữ mệnh giống nhau, ưu điểm là khả năng học tốt, ngoại hình khá; khuyết điểm là dễ chuốc phiền toái, khôn quá hóa dại; nhất là hai sao Vũ Tham rất kị Xương Khúc. Sinh giờ Mão, Dậu rất dễ gặp hai sao này cùng chỗ.

Tại sao Tham Vũ không thích gặp Khúc Xương?

1) Vũ Tham gặp Xương Khúc thành cách ác Xương Tham, thêm Linh Tinh lại thành cách LXĐV, một đời khó tránh lên xuống gập ghềnh.

2) Đại hạn luu niên dễ gặp Kị. Kỉ Tân Nhâm Quý 4 năm đều có Kị, cơ hồ thành cách “liên Kị“. Đại hạn có may tránh đuợc thì lưu niên cũng chẳng thoát qua, khiến con người bất ổn hoặc vận hạn gập ghềnh.

Theo kinh nghiệm của người viết (dgc: tức ông Trần Thế Hưng), diễn viên và quảng cáo viên nhiều người có số thế này. Bởi vì đời họ hoặc công việc của họ phù hợp với tính nhiều biến đổi, hay là vì làm các nghề ấy mà sinh ra nhiều biến đổi?

“Vũ Tham bất phát thiếu niên nhân” thời xưa có thể phù hợp bởi người Vũ Tham phải có tuổi mới ổn định, mà (xưa) cá tính ổn định mới mong có tiền đồ. Ngày nay đời sống biến đổi, cá tính bất ổn có khi hợp trào lưu; nên anh hùng xuất thiếu niên chưa chắc là việc khó, miễn là vận hạn tốt, cá tính ngoại hình không quá khó thương. Người xưa ắt nói đúng, nhưng thời đại biến đổi, theo người viết phải uyển chuyển không thể quá câu nệ; phải dựa vào các ngành nghề (phù hợp hay không) mà dụng lẽ biến thông.

Thân (thiên di): Thân cư thiên di nên rất chú ý lời bình luận của người khác, lại nữa mệnh VCD nên tình hình càng nghiêm trọng. Có lúc tỏ ra cứng cỏi vì sợ người khác biết là mình “rỗng” và bất an. Di có thể nói là mạnh nên khả năng giao tế, tiếp xúc khá, lắm bạn và nhiều loại (Tả Hữu). Cho người ta ấn tượng tốt.

Phúc: Liêm Phá trái phải có Kình Đà giáp chế, hai bên đều VCD, khó thoát cảnh tâm sự trùng trùng không khai mở được. Tinh thần thiếu chỗ nương tựa. Tương đối coi trọng tiền tài.

Phu thê: Tử Sát một thuộc thổ một thuộc Kim đều không đủ linh động, xử lý tình cảm không khỏi quá lí tính, là loại ngoài nhiệt tâm mà trong lãnh đạm, tự nhiên bất lợi cho phương diện tình cảm.

Tam phương không thấy Tả Hữu, là kết cấu “cô quân”. Lúc khởi sự có thể hứng thú, sau thành thực tế. Loại người này chẳng phải là không thích hợp kết hôn, nhưng phải tìm bạn đời có tính độc lập, ai lo chuyện người nấy, không can thiệp người kia. Sống rất thực tế thì lại có thể lâu dài. Giả như gặp người tính lãng mạn, thích gần gũi thì lại có thể chịu không nổi. Loại người này, cổ nhân liệt vào dạng “cô khắc”.

Chẳng phải là người ta không thích được yêu, chỉ là mỗi ngưòi thích được yêu một cách khác nhau, chẳng thể lấy cái nhìn của mình để xét ngưòi khác.

Tiêu chuẩn chọn đối tượng của cô Dương khá cao. Không được đóng ấn phê chuẩn thì đừng hòng làm khách vào được vòng trong.

Giải thích các đại vận

Kỷ Sửu (6 đến 15 tuổi): Vũ Lộc Tham Quyền Khúc Kỵ đều ở di cả nên lúc nhỏ ra ngoài nhiều, thích nổi; ở nhà không thuận lợi.

Mậu Dần (16 đến 25 tuổi): Tham Lộc nhưng Cơ chuyển Lộc ra Kỵ, thành thử mệnh đắc Lộc còn hạn bị song Kỵ. Hạn lại VCD bị Không Kiếp Đà thủ chiếu, là vận yếu nhất trong đời. Nhà bi phá sản, kinh tế khốn quẫn mà cô Dương tranh thủ học được đại học là tại sao? (Trần Thế Hưng chú: Xem Lộc Quyền ở đâu).

Cô Dương hạn tài, quan đều có Kỵ, khi đối diện chính mình tất khổ không thể nói được; nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười, lại nghĩ được biện pháp kiếm tiền để tiếp tục học hành; tại sao thế, bạn có xem ra không?

 

Định nghĩa vài thuật ngữ:

Tiên thiên (ứng toàn bộ): Tiên thiên mệnh là cung mệnh, tiên thiên phu là cung phu v.v…

Hậu thiên, hạn (ứng đại hạn 10 năm): Hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh là cung đại hạn. Từ cung đại hạn lùi lại 2 cung thì được hậu thiên phu hoặc hạn phu. Thí dụ đại hạn ở cung Hợi thì gọi Hợi là hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh, gọi Dậu là hậu thiên phu hoặc hạn phu.

Lưu (ứng một năm): Lưu mệnh là cung chứa lưu Thái Tuế. Từ lưu mệnh lùi lại hai cung được lưu phu. Như năm xem hạn là năm Tí thì Tí là lưu mệnh, Tuất là lưu phu.

Kỷ Mão (26 đến 35 tuổi): Tứ hóa như hạn Kỷ Sửu, chỉ khác là bây giờ (Lộc Quyền Kỵ) ở hạn quan thay vì hạn di. Ba hạn liên tiếp bản mệnh đắc Lộc, hạn mệnh đắc Quyền nên trong gian khổ cô Dương vẫn đi đến trước. Hạn quan của cô Dương hình thành nhiều cách cục nên đổi việc khá nhiều lần; nhưng mặc dù công việc khác nhau vẫn có điểm chung là cơ bản dựa trên tiền thưởng, tiền hoa hồng.

Tiên thiên phu (chú: tức phu nguyên thủy) cũng ba hạn hội Lộc, cô Dương chẳng phải bỏ qua chuyện ái tình, chẳng qua hạn Mậu Dần binh hoang mã loạn, chẳng có thời giờ để bàn tính yêu đương; huống chi tiên thiên phu bị song Kị giáp chế (dịch giả chú: theo phái Tử Vân, một Kị của Âm từ Ngọ chiếu vào cung Tí VCD, Kị kia là Cơ ở Tuất hạn Mậu), nào phải dễ đâu!

Vận Kỷ Mão thì khác. Hạn thê có Lộc (Vũ) chiếu, thêm Linh thành cách Linh Tham, dễ nói chuyện yêu đương. Nhưng bị Khúc Kỵ thành cách Khúc Tham và Linh Xương Đà Vũ, sinh hoạt ái tình khó tránh trở ngại, muốn gặp đối tượng hôn nhân thích hợp có phần khó, huống chi hạn phu chính là bản mệnh là vị trí vừa bất ổn vừa yếu đuối, giả như kết hôn thì có thể sinh biến.

Người viết từng nhấn mạnh nhiều lần. Mười hai cung đều là ta cả. Cách cục đều sẽ gặp, chỉ khác là khi gặp thì hóa Lộc hoặc hóa Kỵ mà thôi. Như trường hợp cô Dương tiên thiên mệnh yếu nhược như thế, lại hình thành quá nhiều cách cục: Cơ Lương Kình Dương hội, Cự Hỏa Kình, Xương Tham, Linh Tham, Khúc Tham, Linh Xương Đà Vũ v.v… hành vận quả là khó khăn, trở ngại hơn người ta nhiều.

Kế tiếp chúng ta xét đoạn tình giữa cô Dương và ông M.

Năm Quý Hợi cô Dương 29 tuổi, lưu phu ở Dậu có lưu Lộc (Phá Quân) và Linh Tinh hội chiếu. Đại vận phu có Vũ Lộc Khúc Kỵ và Tham Kỵ xung chiếu là một kết cấu “cát xứ tàng hung” (Lộc phùng xung phá, phát động các cách xấu, đi đường dài thì gặp trở ngại.) Tiên thiên phu cũng hội chiếu song Lộc và song Kỵ. Cô Dương nội tâm không bài xích ái tình, lưu niên lại có cơ hội dẫn động, tự nhiên dễ sinh chuyên tình cảm, chỉ là vận phu kết cấu quá yếu, nên một là gặp đối tượng rồi có vấn đề, hai là cố duy trì nhưng gặp trở ngại trùng trùng.

Coi cung phu của lưu niên như cung mệnh của ông M thì Mùi là thê của ông này; lắm cách cục như thế, lại hiện đủ Lộc Kỵ xem ra mặt tình cảm của ông M phức tạp biến động nhiều. Nói cách khác, không dùng điều kiện du nhập thêm đã thấy năm này cô Dương muốn gặp đối tượng tốt thật chẳng dễ gì.

Ở đây có vấn đề trong vòng bàn cãi: Cùng lá số, vận phải giống y nhau hay sao? Cho nên người biết lô gích khoa học bài xích Tử Vi, bảo là phi lí, mê tín. Ông Liễu Vô có đề xướng rằng phải du nhập thêm dữ liệu mới mong luận mệnh, đừng hòng dùng lá số chung mà đoán cho trường hợp riêng (dgc: Liễu Vô đây là ông Liễu Vô cư sĩ, từng đề xướng nhu cầu thêm dữ liệu trong loạt sách Hiện Đại Tử Vi. Thực ra, đây là luận điểm của thầy ông Liễu Vô cư sĩ, tức ông Tử Vân, ông Liễu Vô cư sĩ chỉ làm việc tường thuật. Sau này ông Liễu Vô có một số chủ trương khác với ông Tử Vân, nhưng đó là chuyện khác). Luận điểm này xét ra hợp lý, nhưng rốt ráo thì mệnh lý thuộc triết học không phải khoa học, không thể lập lại thí nghiệm, cũng có những tính chất không giải thích bằng khoa học được. Ta không thể nói cái gì khoa học không giải thích được thì không tồn tại (bởi) chúng ta biết rằng khoa học vẫn không giải thích được hết mọi hiện tượng và sự thật.

Cùng một lá số nhất định có điểm giống nhau, nghĩa là có (một số) tiềm năng, cá tính, khuynh hướng tương tự; nhờ đó mà chúng ta có thể chỉ bằng lá số mà đoán cá tính và kể ra những đặc trưng về nhân cách, khiến người ta không thể hoài nghi về độ chuẩn xác (của lá số). Vận hạn lên xuống, chuyển ngắt vì chịu ảnh hưởng hoàn cảnh mà là phương diện có tính cá biệt hơn hết. Tuy nhiên, chỉ cần cùng lá số là phải có điểm tương tự. Chẳng hạn một người lên đỉnh cao thì không thể nào người khác xuống vực thẳm. Giá trị tuyệt đối có thể khác nhau, nhưng nội tâm cảm thấy thế nào (tâm thái) thì phải tương tự.

Du nhập điều kiện chẳng qua là tùy người, sự, vật đặc thù mà quan sát, phân tích, so sánh; hy vọng từ đó suy ra sự phát triển hỗ tương (giữa các yếu tố). Nói rộng hơn chút là hy vọng dùng lá số của mình để đoán ra trạng thái của đối phương mà thôi.

Các sao trong lá số đã định thì có thể đoán các vận tốt xấu thế nào. Người có kết cấu thế này thì dễ xảy ra diễn biến thế kia; việc này khi phát sinh thì dễ có kết cục như thế kia v.v… Bởi vậy người luận mệnh theo cách truyền thống không du nhập thêm dữ kiện mà vẫn thường đoán ra hoàn cảnh của bạn.

Về việc luận hạn không đúng, thường tùy thuộc kinh nghiệm tu dưỡng của người đoán. Như người không tiêu hóa cái cũ, không uyển chuyển biến thông thì nhất định đoán không đúng; người biết phân tích khách quan, chịu vận dụng các điều kiện được du nhập để quan sát thì có thể tăng độ chính xác; nhưng đừng nghĩ đến việc chính xác trăm phần trăm vì khi xét đại hoàn cảnh của con người thì xã hội hôm nay phức tạp hơn hẳn ngày xưa, chỉ qua một đêm đảng cộng sản giải thể (dgc: Sách này in năm 1994, nhiều đảng cộng sản Đông Âu giải thể năm 1989, có lẽ đây ám chỉ việc ấy), qua một đêm sẽ còn chuyện lớn nào xảy ra nữa? Khó mà dự liệu. Độ chính xác con người có thể đạt tới khó mà biết được.

Hóa Lộc tăng độ tự tin và khả năng phán đoán của ta. Hóa Kị khiến ta lòng động tâm biến, thậm chí tạo hành vi sai lầm. Nhìn từ một góc độ khác hóa Lộc là “động năng” có ích cho thực tế mưu danh cầu lợi, hóa Kị là “tĩnh năng” (dịch giả chú: Ở đây soạn giả dùng chữ “vị năng”, vị đây là vị trí, ý nghĩa chính xác nhưng tiếng Việt dễ bị hiểu lầm, bởi vậy dịch giả mạn phép đổi thành “tĩnh năng”, tĩnh đây phản lại nghĩa động, thiếu chính xác hơn so với “vị năng” nhưng khó hiểu lầm hơn) thích hợp cho việc tiềm ẩn tích lũy, lợi cho việc phản tỉnh, kiểm thảo, tập luyện. Hóa Lộc thì phải phát huy tinh lực, xung kích đạt mục tiêu; hóa Kị thì phải suy tư, lo nghĩ, cẩn thận trong công việc. Như thế Lộc Kị đều là đời sống con người, có gì phải sợ? Sợ chăng không biết tiến thối mà thôi!

Hệ thống giáo dục của chúng ta dạy chúng ta phải “hóa Lộc” như thế nào, nhưng ít nói đến khi “hóa Kị” phải cư thể nào cho đúng; có nói chúng ta phải cắn răng cố vượt qua khổ ải, đừng táng tâm thối chí, không thành công thì thành nhân v.v… Đời người chỉ là tranh chức quán quân hay chăng? Quán quân chỉ có một người, cũng chẳng có “thường thắng tướng quân” (ông tướng thắng hoài), vậy những người còn lại chẳng có tiền đồ hay sao? Học mệnh lý phải nhìn rộng, lòng cũng phải mở rộng, tâm phải có sự thiện, bằng không càng học càng phiền, càng không thoải mái; chẳng bằng không học biết gì về mệnh lý.

Nói lan man vậy quá đủ. Chúng ta hãy trở lại với liên hệ hỗ tương giữa cô Dương và ông M.

Ông M sinh năm Mậu Tí, thành ra Lộc (Tham) chiếu hai cung phu nguyên thủy và hậu thiên (của cô Dương), lại tam hợp lưu niên, cho nên cô Dưong dễ động lòng vì cái tình của đối phương. Từ cung Tí là cung trọng điểm của ông M mà xét thấy có Âm Hỏa Kị thành cách “thập ác”, nhưng cung Tuất lại có Lộc (Cơ) Quyền (Lương) nguyên thủy của cô Dương, ý là ông M cùng cô Dưong có tình không duyên, lâu rồi cô Dương sẽ bỏ ông, nhưng vì lưu niên dẫn động quá mạnh, đại vận phu lại có kết cấu như thế mới tạo thành mối tình lẽ ra không nên có như vậy.

Bất luân dùng lưu niên hoặc thái tuế nhập quái, cung thê của ông M đều hiển nhiên có vấn đề to. Lưu niên thê ở Mùi tựa hồ là vị trí đa tình và bất ổn; còn Tuất thì có Kị (Cơ) nguyên thủy của ông M, lại thành cách cô khắc “Cơ Lương Kình”. Ông M năm ấy 37 tuổi, có gia đình rồi mới phải, nhưng vẫn độc thân (Kình của ông M ở Ngọ cũng chiếu vào Tuất).

Năm Giáp Tí 1984 cô Dương có thai, chuẩn bị lấy ông M thì phát hiện ông M bề ngoài văn nhã mà thực ra có đi lại với băng đảng, vả tính tình bất định, ở càng lâu càng chịu không nổi, không biết thời khắc tới là vui hay giận. Trong cảnh bạn với người như bạn với hổ đó, cô quyết định bỏ đi, bạn thử đoán xem tại sao?

Lưu niên tam kỳ gia hội (Liêm Phá Vũ) tái cát hóa Hợi và Dậu; nhưng Nhật kỵ dẫn động Âm Kị xung Tí, lại khiến Mùi thành song Kị giáp Kị. Mùi đại biểu gì? Lại xung Sửu có ý nghĩa gì? Xin độc giả suy nghĩ. Chẳng phải là người viết “bán cái” mà là để quí vị tự xem mình đã luyện đến đâu.

Năm Ất Sửu Lộc Quyền ở bản mệnh tử và lưu niên tử, nhưng đại hạn tử không tốt. Cô Dương sinh hai trai, trao cho người khác nuôi nấng.

Hạn Canh Thìn (36-45 tuổi)

Đại hạn VCD có Kình Hỏa không khỏi lao khổ. Được Nhật hạn Lộc và Cơ nguyên Lộc chiếu nên (thành quả) tốt. Hai Lộc này giáp Dậu nên sự phát triển của hạn này dựa trên cái nền có sẵn của hạn Kỷ Mão (dịch giả chú: Ấy bởi vì song Lộc ứng với cái tốt của hạn Thìn lại làm lợi Dậu, mà Mão tức đại hạn trước xung Dậu, nên cái tốt của hạn này có liên hệ với hạn trước, tức là những liên hê của hạn cũ có biến chuyển tốt đẹp trong hạn này).

Hạn quan của cô Dưong 20 năm tọa Lộc là cơ hội tốt, sự nghiệp phải có một thành tựu nào đó. Nhưng hạn Kỷ Mão Lộc Kỵ cùng thủ tạo nhiều cách ác thành thử khó ổn định. Hạn Canh Thìn tốt hơn, dù có sát tinh nhưng chỉ có Lộc không gặp Kỵ trở ngại tương đối ít. Thế nhưng muốn việc suôn sẻ từ đầu đến cuối e chẳng dễ dàng; rốt ráo thì vì nguyên mệnh và hạn mệnh đều vô chính diệu khó tránh ảnh hưởng của hoàn cảnh, phải đổi thay cho phù hợp khó mà giữ được lập trường, phương hướng.

Hạn phu ở Dần VCD Đà La Địa Kiếp thủ là vị trí bất ổn. Tam phương tuy được song Lộc chiếu nhưng cũng bị song Kị ở hạn phúc chiếu (chú: Âm Kị nguyên thủy và Đồng hạn Kị); vậy là Lộc phùng xung phá, không tốt.

Nếu coi cung Dần (hạn phu) là đối tượng, thì cung thê của đối tượng ở Tí VCD lại bị Hỏa Âm (thập ác) và Kình Âm (nhân li tài tán) chiếu. Cô Dương có nhiều cơ hội được người theo đuổi, chỉ là những người ấy cảm tình có vấn đê.

Năm Tân Mùi cô Dương 37 tuổi, lưu niên ở di nguyên thủy, cách cục to, nhưng Xương lưu Kị thủ, cô Dương có xác xuất cao hành xử sai lầm.

Bản mênh phu có cách ác Xương Tham chiếu, nội tâm đối với hôn nhân có khuynh hướng làm trái lẽ thường, tuy không nhất định kết hôn nhưng có thể dính líu đến một đoạn “kỳ tình”.

Đại vận phu đắc 3 Lộc hội chiếu, tăng độ ổn định rất nhiều, nhưng cung VCD rốt ráo vẫn là VCD, có mối nguy chìm nổi bất thường.

Lưu phu có Thiên Phủ là một sao ổn định, ngưởi gặp điều kiện có lẽ chẳng dở (cung quan Dậu có hai Lộc giáp phù), cung phu Mão bị Kình Đà giáp chế (cho nên) cẩn thận trong việc hôn nhân, nhưng gặp Xương Kị (cho nên) năm ấy cảm tình, hôn nhân có vấn đề.

Ông R sinh năm Kỷ Mão 1939, hơn cô Dương 16 tuổi, mệnh Lôc (Vũ) và Kỵ (Khúc) đều ở lưu niên mệnh (Mùi) cũng là cung thân của cô Dương, lại chiếu tiên thiên phu (ở Hợi) nên năm Tân Mùi cô Dương cảm sự chiếu cố của ông R.

Mão là cung trọng điểm của ông R, hai cung giáp đều VCD. Nhật Lộc (hạn Canh) xung đến Dần, Cơ Lộc (mệnh Ất) xung đến Thìn, khiến Mão được tính ổn định của song Lộc giáp, chỉ là ảnh hưởng tương đối nhỏ (chú: vì đều do xung cả). Cô Dương ắt có ấn tượng tốt với ông R, và có một loại duyên phận khó diễn tả thành lời được.

Sửu ứng cung thê của ông R, chính là bị cách Linh Xương Đà Vũ, quan hệ giữa cô Dương và ông R. có tính “đảo điên”, lẽ ra không nên có lại có (chú: Vì cách Xương Tham, Khúc Tham là “li chính vị nhi đảo điên”). Ông R. sự nghiệp đã thành, vợ con đều đã di cư ra nước ngoài chỉ còn mình ông trong nước, mới có cơ hội trồng nhân cho đoạn tình này.

Cô Dương và ông R tương lai phát triển thế nào?

Nếu xét đại vận phu thì Tân Tị, Nhâm Ngọ hai hạn Lộc đều chiếu đến Dần (chú: Cự hóa Lộc và Lương hóa Lộc), tựa hồ tình chưa hết; nếu xét Sửu (chú: coi là cung thê của ông R sinh năm Mão) thì ba vận sau Kị đều chiếu cả, tựa hồ tình đã dứt; vậy giải thích làm sao?

Cô Dương không thể thành vợ của ông R, nhưng liên hệ giữa hai người có thể tiếp tục phát triển, chỉ là từ hạn Tân Tị trở đi thì tình cảm cô Dương dành cho ông R càng lúc càng nhạt đi. Nhanh thì năm Bính Tí (42 tuổi ta) Liêm Kị nhập Mão tình cảm phai mờ, chậm thì năm Nhâm Ngọ (48 tuổi ta) vì Vũ Kị xung kích Mão.

Các hạn về sau:

Ba hạn Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi Kỵ đều ở Mùi, phá hoại mệnh, thân và ảnh hưởng tiên thiên phu, khiến cô Dương tâm tình khó ổn định, chuyện muốn kết hôn khó xảy ra, mà nếu kết hôn thì chẳng tốt đẹp được.

Ngoài ra cô Dương hạn Canh Thìn, Tân Tị phúc đức đều hóa Kị, thành các cách ác Âm Hỏa, Linh Xương Đà Vũ v.v… ngoài cái lo mất tiền ra, trạng thái tâm lý cũng cần đề phòng, nhất là hạn Tân Tị (dịch giả chú: Vì phúc ở Mùi cách cục rất rõ nét).

Lời kết:

Cô Dương cảm tình không thuận lợi, có thể cả đời không thành hôn, nguyên nhân có thể quy về:

Một: Mệnh vô chính diệu, hai cung giáp cũng vô chính diệu, hội họp có nhiều cách ác; khiến cá tính bất an, hành sự thiếu chín chắn, phán đoán dễ sai lầm.

Hai: Tiên thiên phu sao quá cương, lại vào cách cô quân, trừ tiêu chuẩn cảm tình quá cao, xử lý tình cảm quá cương nghị, thiếu cái dịu dàng của nữ giới. (Nhưng) cũng có thể vì đó mà phù hợp với sinh hoạt cảm tình độc lập như vậy.

Ba: Các hạn trong tuổi thích hợp thành hôn cung phu đều bị Kị xâm phạm, gây trở ngại trong cảm tình, không dễ gặp đối tượng tốt, lại là cung VCD thiếu ổn định.

Hạn Mậu Dần, Tí VCD bị tiên thiên Kị xung, thành cách Âm Hỏa.

Hạn Kỉ Mão, Sửu VCD bị Khúc Kị xung, thành cách Linh Xương Đà Vũ.

Hạn Canh Thìn, Dần VCD bị song Kị (Âm nguyên Kị, Đồng hạn Kị) chiếu.

Rồi đến hạn Tân Tị lại bị Xương Kị; rõ là bị Liên Kị nên trên đường tình ái bị cảnh gập ghềnh khó đi.

Ngoài ra bốn vận Kỷ Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn Lộc hoặc Quyền đều ở tiên thiên di khiến cô Dương hiếu thắng, đòi tranh đấu với số mệnh.

Tóm lại, lá số như cô Dương một đời nhiều xung động biến hóa, chuyện gì sẽ xảy ra chẳng dự liệu được nhưng chẳng đáng ngạc nhiên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thái Tuế Nhập Quái

Mơ thấy nếp nhăn: Được mọi người yêu mến –

Vốn chẳng ai ưa thích những nếp nhăn, nhưng sự xuất hiện của nó trong mơ lại được mọi người chào đón. Nếu bạn mơ thấy gương mặt mình đầy những nếp nhăn đáng ghét, xỉn chớ lo lắng, bởi đây là một tín hiệu kỳ lạ có ý nghĩa ngược lại vởi những gì đang h
Mơ thấy nếp nhăn: Được mọi người yêu mến –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy nếp nhăn: Được mọi người yêu mến –

Phong thủy 2014: Nhà phạm Tam sát và cách hóa giải Tam sát –

Hướng nhà, hướng văn phòng, … phạm Tam sát, thì gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ. Trong phong thủy lấy hướng phạm tam sát là đại kỵ. Ngoài việc nhà ở, văn phòng, cửa hàng, phòng ngủ, phòng khách, phạm phải hướng có sao xấu “Ngũ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng nhà, hướng văn phòng, … phạm Tam sát, thì gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ. Trong phong thủy lấy hướng phạm tam sát là đại kỵ.

044fd569a_am_duong_ngu_hanh

Ngoài việc nhà ở, văn phòng, cửa hàng, phòng ngủ, phòng khách, phạm phải hướng có sao xấu “Ngũ Hoàng Đại Sát” chiếu, và sao xấu “Nhị Hắc” chiếu ngay hướng nhà mình đang ở, hoặc hướng văn phòng, hướng cửa hàng, mỗi năm mỗi hướng, thì bên cạnh đó cần phải chú ý đến hướng nhà, hướng văn phòng, hướng cửa hàng, hướng phòng ngủ phạm Tam sát.

Hướng nhà, hướng văn phòng, hướng cửa hàng, hướng phòng ngủ phạm Tam sát, thì người nhà mắc nhiều bệnh, gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ. Trong phong thủy lấy hướng phạm tam sát là đại kỵ.

Câu quyết đả nói : Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc. Thân, Tý, Thìn: Sát Nam. Hợi, Mẹo, Mùi: Sát Tây. Tỵ, Dậu, Sửu: Sát Đông.

Dần,Ngọ,Tuất hợp Hỏa cục, hòa vượng ở phương Nam,phương Bắc (Hợi, Tý, Sửu) và sự xung của nó là tam sát. (Hợi là kiếp sát, Tý là tai sát, Sửu là tuế sát, Tuế sát cũng gọi là mộ khố sát).

Thân,Tý,Thìn hợp Thủy cục, thủy vượng ở phương Bắc, phương Nam (Tỵ,Ngọ,Mùi) và sự xung của nó là tam sát. (Tỵ là kiếp sát,Ngọ là tai sát,Mùi là tuế sát).

Hợi,Mẹo,Mùi hợp Mộc cục,mộc vượng ở phương Đông, phương Tây (Thân,Dậu,Tuất) và sự xung của nó là tam sát. (Thân là kiếp sát,Dậu là tai sát,Tuất là tuế sát).

Tỵ, Dậu, Sửu hợp Kim cục, kim vượng ở phương Tây,phương Đông (Dần, Mẹo, Thìn) và sự xung của nó là tam sát. (Dần là kiếp sát, Mảo là tai sát, Thìn là tuế sát).

Lấy năm mà nói, như năm Dần, Ngọ, Tuất, Bắc phương đều nói là năm tam sát. Năm tam sát ở hướng, không thể tọa. Tọa tam sát tức tọa sát, đại kỵ: Năm, tháng, ngày, giờ Dần, Ngọ, Tuất, đều kỵ tu tạo ở Bắc phương. Các phương khác cứ thế mà suy ra.

Như vậy tam sát là tên gọi chung của kiếp sát,tai sát và tuế sát,mổi năm chiếm ba hướng tuyệt,thai và dưởng là tam hạp của ngủ hành.

Cụ thể: Năm nay là năm Giáp Ngọ (2014), theo câu quyết : Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc. Có nghĩa là nhà ta ở hướng Bắc là phạm phải tam sát.

Nếu gặp phải tam sát, người nhà mắc nhiều bệnh, gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ.

Phương pháp hóa giải: Là đặt 3 con Kỳ lân hoặc 3 con Sư tử, và đặc biệt là 3 con Tỳ Hưu (vừa hóa giải hạn Tam sát, vừa chiêu tài lộc cho gia đạo). Đầu Kỳ lân hoặc Sư tử, hoặc Tỳ Hưu hướng ra ngoài cửa chính, muốn ngăn ngừa Tam sát, ta phải xếp liền 3 con Kỳ lân, hoặc 3 con Sư tử, hoặc 3 con Tỳ Hưu cùng một chỗ. Về chất liệu của Kỳ lân hoặc Sư tử, hoặc Tỳ Hưu, thì bằng đá, bằng ngọc, hay kim loại đều sử dụng được.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy 2014: Nhà phạm Tam sát và cách hóa giải Tam sát –

Mẫu người "Thân cư Tài Lộc" và "Thân cư Phu Thê""

Trong một lá số, cung Quan Lộc và Tài Lộc là hai cung có vị trí hợp chiếu với Mệnh và được xem là hai cung quan trọng. Chữ Tài Lộc cũng nói lên hết ý nghĩa của cung này. Nếu như cung Quan Lộc diễn đạt con đường công danh, sự nghiệp và cả một phần nào chuyện vợ chồng, thê thiếp thì cung Tài Lộc không chỉ đơn thuần nói về vấn đề tiền bạc mà cũng phần nào phản ảnh lãnh vực nghề nghiệp của mình.
Mẫu người "Thân cư Tài Lộc" và "Thân cư Phu Thê""

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Điều mà chúng ta sẽ thấy trong một vài lá số mà nghề nghiệp của đương sự được mô tả trong cung Tài Lộc còn rõ ràng hơn cung Quan Lộc nữa. Trường hợp này thường thấy trong các lá số của người Thân Cư Tài Lộc mà chúng ta sẽ bàn đến.

Cung Tài Lộc diễn tả vấn đề tiền bạc của một đời người. Có tiền nhiều hay ít, có tiền bằng cách nào, làm ra tiền sớm hay muộn, kiếm tiền dễ dàng hay khó khăn, tiền do chính bàn tay mình tạo dựng nên hay được thụ hưởng di sản của giòng họ. Tiền bạc do lộc của trời như trúng số, hoặc do người khác mang đến. Có tiền rồi giữ được hay không? Hay dễ bị hao tài? Tiền bạc có mang lại hạnh phúc cho đương số hay không, hay có tiền thì có tai họa đi liền theo sau v.v…

Cung Tài Lộc ở vị trí đối diện với cung Phúc Đức cho nên ông bà chúng ta có câu: “Có phúc mới có phần” ngụ ý là số giàu cũng do Phúc Đức. Bởi vậy cung Tài Lộc cũng chỉ rõ người có số được hưởng gia tài, sản nghiệp của ông bà, cha mẹ để lại hoặc tiền tài phải do tự hai bàn tay của mình tạo dựng nên mới có được. Nói một cách khác, tất cả những tốt xấu của cung Phúc Đức đều có ảnh hưởng mạnh mẽ vào cung Tài Lộc hơn những cung khác, và đó cũng là sắp xếp rất có ý nghĩa của khoa Tử Vi Đẩu Số, một trong những môn học huyền bí của người Trung Hoa đã chịu ảnh hưởng sâu xa triết lý nhà Phật.

Những người sinh vào giờ Thìn (từ7am tới 9am) hay là những người sinh vào giờ Tuất (từ 7pm tới 9pm) thì Thân sẽ rơi vào cung Tài Bạch. Có người nghĩ rằng nếu Thân cư Quan Lộc thì sẽ làm quan, Thân cư Tài Lộc thì sẽ giàu có. Quan niệm này không chính xác bởi vì tuy là số thân cư Quan Lộc nhưng làm quan hay làm người bình dân thì cũng còn tùy vào cung Quan Lộc của đương sự tốt hay xấu. Tương tự, như số Thân cư Tài Lộc, giàu hay nghèo cũng còn tùy vào cung Tài Lộc tốt xấu ra sao. Tuy nhiên, những người Thân cư Tài Lộc, họ có những nét đặc biệt khái quát như sau:

Trước tiên, tiền bạc là vấn đề chủ yếu và là mục đích quan trọng trong cuộc sống của họ. Nói như vậy không có nghĩa là người có Thân cư Tài Lộc quan niệm sống của họ chỉ có tiền mà họ là những người có khả năng làm ra tiền. Làm ra tiền nhiều hay ít, dễ dàng hay khó khăn, và bằng cách nào thì cũng còn tùy vào lá số của mỗi người. Dù nghèo hay giàu, người Thân cư Tài Lộc thấu hiểu giá trị của đồng tiền và sử dụng đồng tiền ra sao cho xứng đáng với giá trị của nó. Chuyện đáng xài thì xài, chuyện không đáng thì 1 xu cũng không bỏ ra. Mẫu người này quan niệm tiền là cái đích tiên quyết phải có, rồi từ đó xử dụng tiền như một phương tiện để được những mục đích khác mà họ mong muốn.

Người Thân cư Tài Lộc thường có năng khiếu về thương mại, kinh doanh. họ là những người thích hợp để trở thành chủ nhân của những cơ sở làm ăn mua bán và thường trở nên giàu có bằng đường kinh doanh nếu cung Tài Lộc của họ tốt đẹp. Ngược lại, một người có Thân cư Tài Lộc mà cung Tài Lộc lại không được sáng sủa thì họ sẽ là người suốt đời vất vả vì tiền, hay thường gặp những tai họa về tiền bạc. Có thể đến một vận hạn nào đó, họ cũng có cơ hội làm ra tiền nhưng lại không giữ được tiền trong tay.

Cuối cùng, như chúng ta đã nói ở trên, khi Thân cư vào cung Tài Lộc thì Thân sẽ ở vị trí đối diện với cung Phúc Đức. Có nhiều vị nghiên cứu về khoa Tử Vi Đẩu Số thì họ cho rằng cung Thân quan trọng hơn Mệnh vì cung Thân biểu tượng cho trung vận và hậu vận, là khoảng thời gian mà chúng ta bắt đầu rời khỏi vòng tay của cha mẹ để lăn lộn vào đời tự lập thân. Và như vậy, những người Thân cư Tài Lộc, cung Thân sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cung Phúc Đức kể từ khi họ bước chân vào đời. Nói một cách khác, hậu vận của một người Thân cư Tài Lộc sẽ ra sao cũng là một phần tùy thuộc vào sự tốt xấu của cung Phúc Đức. Nếu nói theo triết lý của đạo Phật là đương số hưởng được sự tích đức của ông bà, cha mẹ hay là đương số phải trả nghiệp cho ông bà, cha mẹ của mình.

 MẪU NGƯỜI “THÂN CƯ PHU/THÊ”

Dù trong thời đại nào, dù phương Đông hay phương Tây thì gia đình vẫn luôn luôn là nền tảng của xã hội. Trong khoa Tử Vi Đẩu Số gia đình được thể hiện qua hai cung Phu Thê và Tử Tức. Hai cung này nói lên những vấn đề vợ chồng, con cái của mỗi người. Chúng ta vẫn thường nghe câu: “Sau lưng một người đàn ông thành công là một người đàn bà đảm đang tài giỏi.” Có phải vì vậy mà cung Phu Thê của người đàn ông có tầm quan trọng không kém gì hai cung chính là Quan Lộc và Tài Bạch? Còn đối với phụ nữ thì cung Phu Thê lại càng quan trọng hơn. Sự đánh giá này rất hợp lý với thời phong kiến xa xưa. Trong xã hội phong kiến, người đàn bà chỉ là cái bóng mờ, hầu như không có những sinh hoạt nào ngoài xã hội. Và cuộc đời của họ như thế nào cũng do cung Phu Thê của họ định đoạt mà thôi. Thật đúng với ý nghĩa “xuất giá tòng phu”

Ngày nay, người đàn bà đã ra ngoài xã hội, đã có vai trò và vị trí không thua kém gì người đàn ông. Nhưng dù sao, đối với quan niệm của người Á Đông chúng ta thì không phải vì vậy mà sự quan trọng của cung Phu Thê bị giảm đi. Trong thực tế hai chữ “gia đạo” lúc nào cũng là nền tảng của cuộc sống con người trong bất cứ thời đại nào hay xã hội nào. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ ràng và đậm nét trong mẫu người Thân cư Phu Thê.

Những người sanh vào giờ Tỵ (từ 9am tới 11am) hoặc giờ Hợi (từ 9pm tới 11 pm) thì Thân sẽ nằm vào cung Phu Thê. Người ta cho rằng rằng ông có Thân cư Phu Thê là số được nhờ vợ và nể vợ. Đàn bà có Thân cư Phu Thê là số nhờ chồng và nể sợ chồng. Điều này không đúng, chúng ta sẽ bàn đến sau.

Mẫu người Thân cư Phu Thê có nhiều nét đặc biệt, nhất là trên lãnh vực tình cảm. Người Thân cư Phu Thê thường gặp người chồng/vợ mình trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Họ gặp nhau và có tình cảm với nhau như đã quen biết nhau từ kiếp trước, nay lại gặp nhau để xây tiếp lâu đài tình ái còn đang dang dở, hoặc trả tiếp cho xong cái duyên nợ chưa tròn, tùy theo lá số của mỗi người.

Từ nét đặc biệt đó mà người Thân cư Phu Thê có một cuộc sống ràng buộc nhau rất mật thiết. Sự ràng buộc chặt chẽ này có thể do từ tình cảm tốt đẹp mà họ có được, nhưng cũng có thể là vì hoàn cảnh mà họ phải chịu trói buộc với nhau. Hình ảnh bị trói buộc với nhau vì hoàn cảnh điển hình nhất mà chúng ta đã thấy trong thời gian trước đây đó là hình ảnh của cựu Tổng Thống Bill Clinton. Dù đang gặp một hoàn cảnh đắng cay, hay có thể nói là “còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi” Nhưng họ vẫn ở bên nhau, xuất hiện bên nhau trên truyền hình, trước công chúng đễ diễn tiếp cho xong vở tuồng mà họ phải diễn.

Nói một cách khác, trong lĩnh vực tình cảm, người Thân cư Phu Thê thường có một cuộc sống khăng khít với nhau, cho dù trong những trường hợp cuộc sống không được hạnh phúc hay gặp những hoàn cảnh ngang trái, dường như có một sợi dây vô hình nào đó cứ buộc chặt họ lại với nhau, không chia ly dễ dàng như những người khác.

Ngoài sự ràng buộc trong vấn đề tình cảm, người Thân cư Phu Thê còn có sự ràng buộc trong lãnh vực nghề nghiệp. Hầu hết họ và vợ/chồng của họ là những người làm cùng ngành nghề hay cùng chung một cơ sở thương mại với nhau. Có thể không cùng nghề nghiệp nhưng công việc của hai người luôn có sự liên hệ và hợp tác hổ trợ cho nhau.

Ngoài ra, người Thân cư Phu Thê thường có thêm một nghề tay trái nữa. Nghề tay trái này lúc đầu chỉ như một cái thú tiêu khiển của đương số, hoặc cũng có thể như một nghiệp mà họ phải theo đuổi. Dần dần có thể trở thành một lãnh vực sinh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của họ. Cũng có một số người thành công, thành danh bởi nghề tay trái này hơn là nghành nghề chính của họ. Bây giờ chúng ta có thể trở lại với hai nghi vấn mà chúng ta đã đề cập lúc mở đầu:

1.     Có phải những người Thân cư Phu Thê là có số nhờ chồng/vợ hay không?

Đối với người Á Đông chúng ta thì chuyện “xuất giá tòng phu” là một quan niệm bình thường. Do đó, nếu một người đàn bà có số Thân cư Phu Thê mà cuộc đời phải nương tựa vào chồng của mình thì đó là một điều hợp tình hợp lý. Nhưng đối với nam giới, nhất là trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, một người đàn ông có Thân cư Phu Thê là bị phán ngay là số nhờ vợ thì cũng tội nghiệp cho đương số.


Để giải đoán cho phân minh, chúng ta phải cân nhắc giữa cung Phu Thê và cung Mệnh của đương sự. Chẳng hạn, người có Thân cư Phu Thê, nếu Mệnh của đương số yếu hơn cung Phu Thê (Mệnh nhược Thê cường) có nghĩa là người vợ của đương số có khả năng hơn chồng về mọi mặt từ trong nhà cho đến những giao tiếp ngoài xã hội. Như vậy chúng ta có thể nghĩ rằng những gì tạo dựng nên trong cuộc sống chung của hai người thì phần lớn đều do tay của người vợ. Đối với người đàn bà có Thân cư Phu Thê, vì bối cảnh xã hội ngày nay có khác, hai chữ “tòng phu” không còn nữa cho nên chúng ta cũng phải cân nhắc như vậy.

Ngược lại nếu cung Mệnh của đương số tốt đẹp, sáng sủa hơn cung Phu Thê (Mệnh cường, Thê nhược) thì đây không phải là số nhờ chồng/vợ. Trường hợp này thông thường thì hai người cùng làm chung một ngành nghề hay cùng chung một cơ sở làm ăn, họ cùng góp sức tạo dựng với nhau trong cuộc sống chung, dĩ nhiên họ cũng có những sự ràng buộc chặt chẽ với nhau như đã bàn ở trên.

2.     Có phải người Thân cư Phu Thê là số nể, sợ vợ/chồng hay không?

Để trả lời vấn đề này, chúng ta cũng phải cân nhắc vấn đề mạnh và yếu giữa cung Mệnh và cung Phu Thê của đương số. Nếu Mệnh nhược Phu cường thì phải nể, sợ chồng là điều đương nhiên rồi. Chẳng hạn, lá số của một ông chồng có bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương thủ Mệnh, là bộ sao tiêu biểu cho văn cách nhưng cung Phu Thê lại có bộ sao Sát Phá Liêm Tham là biểu tượng cho võ cách. Trường hợp này việc điều hành từ trong ra ngoài cũng nhu vai trò chánh yếu trong gia đình đều do người vợ một tay thao túng hết.

Điều này chúng ta cũng thấy rõ những đấng mày râu tuy cung Mệnh không thua kém gì cung Phu Thê nhưng cung Phu Thê lại có các sao như Thái Âm, Hóa Quyền tọa thủ hoặc hợp chiếu thì đấy cũng là hội viên cùng hội với Thúc Sinh rồi.

Nguồn Tử Vi
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mẫu người "Thân cư Tài Lộc" và "Thân cư Phu Thê""

Tướng cổ, gáy –

1. Cổ cũng được tướng pháp xem xét để xác định thêm bản tính con người. Từ xa xưa ông cha ta cũng đã nhìn nhận cổ dưới con mắt tướng thuật để nói lên tính cách và phẩm chất con người như: “cổ cao ba ngấn”, “cổ như cổ rắn ráo”, “cổ sếu”, “cổ cò” v.v..
Tướng cổ, gáy –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng cổ, gáy –

Góc nhìn nhân tướng về vụ kiện Hoa hậu Phương Nga

Góc nhìn nhân tướng vụ kiện Hoa hậu Phương Nga có điều gì đặc sắc, hãy cùng ## tìm hiểu vấn đề này.
Góc nhìn nhân tướng về vụ kiện Hoa hậu Phương Nga

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Vụ kiện Hoa hậu Phương Nga: Dưới góc nhìn nhân tướng, đàn ông mũi thấp, cánh mũi mỏng, y như mỏ chim ưng là tướng gian xảo, không biết giữ chữ tín và lúc nào cũng khắc hại người khác. 

Goc nhin nhan tuong ve vu kien Hoa hau Phuong Nga hinh anh
 
Câu chuyện “hợp đồng tình dục” trong vụ việc đại gia Cao Toàn Mỹ (Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tin học Không gian ảo VinaCyber, thành viên Hội đồng Sáng lập VinaGame) tố cáo Hoa hậu Trương Hồ Phương Nga lừa đảo tiền tỷ trở thành điểm nóng gây tranh cãi trong dư luận thời gian gần đây.   Thực hư chuyện này ra sao còn phải chờ kết quả điều tra của cơ quan chức năng, song nếu nó có thật, chúng ta có thể lạm bàn đôi chút về những thông tin bên lề vụ kiện Hoa hậu Phương Nga này dưới góc nhìn nhân tướng học. Cụ thể ở đây là xem tướng mặt.  
Goc nhin nhan tuong ve vu kien Hoa hau Phuong Nga hinh anh
 
Xem tướng mặt hay còn gọi là xem bói tướng mặt, bói tướng mặt, tướng mặt là cách luận mệnh thông qua việc quan sát những đặc trưng trên khuôn mặt. Đây là nghệ thuật xem tướng cổ xưa nhất của người Trung Hoa, cũng chính là thuật xem tướng quan trọng nhất.   Các nhà tướng thuật xưa cho rằng, mặt của con người có Tam tài và Ngũ nhạc. Coi việc quan sát tướng mặt là công phu cơ bản nhất để dự đoán về vận mệnh giàu nghèo, sang hèn trong tương lai cũng như đoán biết về tính cách, bản chất tốt xấu của mỗi người.   Khi xem tướng mặt, mũi là bộ vị rất quan trọng, được gọi là Tung nhạc, nằm ỏ vị trí trung tâm của khuôn mặt, là trụ chống trời cao sừng sững, nối với Thiên đình. Mũi quản tín nghĩa và quan lộc.   Đàn ông có lỗ mũi nhỏ, ngắn, hai cánh mũi mỏng, đầu mũi thấp và cong y như mỏ chim ưng là tướng gian xảo, không biết giữ chữ tín, keo kiệt và lúc nào cũng khắc hại người khác. Mũi giống như mũi con ba ba là cực kỳ dâm đãng. Mũi thấp lại nhỏ là tướng của người không giữ chữ tín, lời hứa.   Ngoài ra, đàn ông đầu nhọn, cằm nhọn, hàm gồ và bạnh ra, gò má cao, gầy, xương xẩu, thần sắc nhợt nhạt, môi mỏng, tai lộn, trán hẹp thường gian xảo, có ác tâm. Những nét tướng cách được coi là tướng đại ác của đàn ông như trong vụ kiện Hoa hậu Phương Nga, chị em phụ nữ có gặp cũng chỉ nên chào hỏi xã giao.   An Nhiên Tướng mặt những quý cô có thể “tùy biến” số phận của chính mình
– Sở hữu những nét tướng mặt dưới đây, quý cô luôn biết cách làm chủ số phận và có thể thay đổi nó theo ý muốn tùy thích của chính mình.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Góc nhìn nhân tướng về vụ kiện Hoa hậu Phương Nga

Văn khấn giải hạn Sao Thổ Tú

Người xưa cho rằng mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh. Nếu năm nào sao xấu chiếu mệnh nên dâng sao giải hạn cầu bình an, mọi tai ách sẽ qua...

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người xưa cho rằng: mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh, tất cả có 9 ngôi sao, cứ 9 năm lại luân phiên trở lại. Cùng một tuổi, cùng một năm đàn ông và đàn bà lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Trong 9 ngôi sao có sao tốt, có sao xấu, năm nào sao xấu chiếu mệnh con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật. . . gọi là vận hạn.

giai-han-sao-tho-tu

1. Ý nghĩa của làm lễ dâng sao giải hạn

Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạn vào đầu năm (là tốt nhất) hoặc hàng tháng tại chùa (là tốt nhất) hay tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.

Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày như sau:

Sao Thái Dương: Ngày 27 hàng tháng
Sao Thái Âm: Ngày 26 hàng tháng
Sao Mộc Đức: Ngày 25 hàng tháng
Sao Vân Hán: Ngày 29 hàng tháng
Sao Thổ Tú: Ngày 19 hàng tháng
Sao Thái Bạch: Ngày 15 hàng tháng
Sao Thuỷ Diệu: Ngày 21 hàng tháng
Sao La Hầu: Ngày 8 hàng tháng
Sao Kế Đô: Ngày 18 hàng tháng

2. Sắm lễ dâng sao giải hạn: Sao Thổ Tú

Lễ cúng dâng sao Thổ Tú vào ngày 19 hàng tháng, thắp 5 ngọn nến.

Thổ Tú là sao xấu, chủ về tai nạn, kiện tụng. Xấu đối với cả nam nữ và gia trạch.

Lễ vật gồm có: Hương, hoa, tiền vàng; Mũ vàng; Phẩm oản; Bài vị màu vàng; 36 đồng tiền.

Hướng về chính Tây làm lễ giải sao.

3. Văn khấn dâng sao giải hạn: sao Thổ Tú

Nam mô a di đà phật (ba lần)

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

- Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.

- Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cực Tử Vi Tràng Sinh Đại đế.

- Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.

- Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.

- Con kính lạy Đức Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh quân

- Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.

Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng………năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiên lập linh án tại (địa chỉ)……………………………………………………………để làm lễ giải hạn sao Thổ Tú chiếu mệnh:

Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn giải hạn Sao Thổ Tú

Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Khi muốn đeo trang sức Phật giáo, người ta truyền nhau rằng Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc thì sẽ được hưởng phúc khí, tài lộc. Vậy câu nói này do đâu mà có?
Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi muốn đeo trang sức Phật giáo, người ta thường truyền nhau rằng “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” thì sẽ được hưởng phúc khí, hạnh phúc đủ đầy. Vậy quan niệm này từ đâu mà có, tính chính xác của nó đến đâu, hãy cùng tìm hiểu nhé.   Trong giới chơi ngọc có câu “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”, đó là một tục truyền dân gian, tựa như một lời cầu chúc may mắn cho người tín ngưỡng. Bạn đã biết và hiểu lý do tại sao có câu nói thiên về yếu tố tâm linh này hay chưa? Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ cùng các bạn độc giả đi tìm rõ ngọn nguồn nảy sinh và cách hiểu câu nói được sử dụng khi chọn trang sức Phật giáo này sao cho thật chính xác nhé.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
 

Nguồn gốc ra đời quan niệm “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”

  Quan niệm “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” chủ yếu bắt nguồn từ mối quan hệ giữa Đạo giáo, Phật giáo và Kinh Dịch, kết hợp với âm dương ngũ hành để đúc rút ra kinh nghiệm sử dụng trang sức Phật giáo. Nam giới thuộc dương mà nữ giới thuộc âm. Ngược lại, Quan Âm là nữ thuộc âm, Di Lặc là nam thuộc dương. Từ đó có thể hiểu rằng quan niệm trên sinh ra từ việc bản thân được mặt Phật đem theo mình bổ sung âm dương, đạt đến hiệu quả âm dương cân bằng.    Trong quan điểm văn hóa truyền thống phương Đông, âm dương luân chuyển, là đạo lý của vạn vật trong vũ trụ này, âm dương giao hòa là bản chất nội tại của tự nhiên, là cơ chế hoạt động của sinh mệnh con người. Do đó, dù là tu sinh hay dưỡng sinh thì đều phải đạt đến độ âm dương cân bằng, tiến tới tâm và cơ thể hài hòa, chạm tới cảnh giới con người và thiên nhiên hợp vào làm một.    Xưa kia, nam giới là người ra ngoài đối ngoại, lo chuyện làm ăn buôn bán, kiếm tiền chăm sóc gia đình. Họ thường phải đi xa gia đình suốt một thời gian dài, vì thế sự an toàn luôn là điều quan trọng nhất.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
  Nam đeo Quan Âm vì tâm tính đàn ông thường khá lạnh lùng thô bạo, mà Quan Âm là đức Phật đại diện cho thiện tâm. Mang theo mình tượng Quan Âm cũng chính là lời nhắc nhở bản thân tu thân tích đức, xóa bỏ tà tâm, bình tình giải quyết sự việc, không nóng nảy bộp chộp mà dễ hỏng việc lớn.   Ngoài ra, nam đeo Quan Âm là thể hiện mong muốn nam giới ra ngoài xã hội được bình an may mắn, công danh tài lộc đủ đầy. Trong văn hóa về Ngọc, Quan Âm là hình tượng nữ thân được kết hợp từ Quan Âm trong Phật giáo và Vương Mẫu nương nương trong Đạo giáo.    Quan Âm là vị Phật có thể bảo trợ bình an, ngoài ra chữ “Quan Âm” trong tiếng Hán đồng âm với “Quan Ấn”, vì thế mà người ta cũng hy vọng Quan Âm sẽ phù hộ độ trì cho cuộc sống thuận lợi, sự nghiệp hanh thông, sức khỏe dồi dào, vạn sự như ý.  
Bạn có biết Một năm có bao nhiêu ngày vía Quan Âm không?
 
Nữ giới đối nội, coi gia đình làm trọng, là người mang lại sự ấm áp cho gia đình, là biểu trưng cho tổ ấm hạnh phúc. Phật Di Lặc đầu tròn bụng lớn, thân hình tròn trịa, lòng dạ khoan dung, từ bi độ lượng, luôn nở nụ cười, lạc quan vui vẻ. Nữ giới đeo Di Lặc sẽ hoàn toàn thể hiện được tình yêu bao la của người mẹ, có thể thoải mái giải quyết đủ mọi chuyện vụn vặt của gia đình, giữ cho gia đình hòa thuận yên ấm, “gia hòa vạn sự hưng”.

Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
Nữ đeo Di Lặc còn thể hiện mong muốn cuộc đời phụ nữ được Di Lặc bảo hộ được an nhàn hạnh phúc. Di Lặc là đức Phật của tương lai, có thể đem lại phúc khí, cát khí cho con người, mang tới ngày mai tươi sáng hơn. Nữ đeo Di Lặc hay nữ đeo Phật cũng có ý nghĩa tương tự như nhau, chữ “Phật” trong tiếng Hán phát âm gần giống với chữ “Phúc”, ý cầu chúc người phụ nữ lấy được người chồng tốt, cả đời được phúc khí đi theo.   Nữ đeo Di Lặc vì phụ nữ thường có phần ích kỉ nhỏ nhen, hay so đo tính toán, mà Di Lặc là đức Phật đại diện cho lòng dạ bao la, khoan dung độ lượng. Nói nữ nên đeo mặt Di Lặc là muốn học cách phóng khoáng đối diện với mọi chuyện mình gặp phải. Cuộc đời nhiều chuyện phải lo phiền nghĩ ngợi, nên học Phật để tĩnh tâm an lạc, bình tâm xem xét sự đời, mỉm cười vượt qua giông bão. Bạn biết cách thờ Phật Di Lặc hay chưa, cùng tìm hiểu nhé.   Nói tóm lại, “nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” cũng chính là lấy âm dương nam nữ tương trợ, bù đắp cho nhau những điều còn thiếu sót. Nam giới có thể lấy những ưu điểm của nữ giới để sửa đổi bản thân mình và ngược lại, nữ giới cũng vậy.   Từ đó có thể thấy, “nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” là quan điểm thể hiện sự hiểu biết và thăng hoa của văn hóa Phật giáo, Đạo giáo đối với việc sử dụng ngọc, đá quý. Dù là Quan Âm hay Di Lặc thì đều là Đức Phật phổ độ chúng sinh, có thể giúp con người trừ tà tích phúc, hóa dữ cầu an, gặp hung thành cát.

Khám phá 5 vị trí đắc đạo đặt tượng Phật Di Lặc hái tài hái lộc nhé.
 

Quan điểm trên có thực sự chính xác hay không?

 

Có người lại cho rằng cách lý giải phía trên là không hoàn toàn chính xác, vì trong Phật giáo thì Phật và Quan Âm vốn không phân biệt giới tính rõ ràng, vậy thì sao có thể nói “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc”.    Theo quan điểm này thì Phật giáo Mật tông của Trung Quốc được truyền qua thiên can địa chi, 12 mối nhân duyên, ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ tương sinh nên có 8 đức Phật bảo hộ cho 12 con giáp. Vì thế, nếu muốn được Phật phù trợ thì tốt nhất nên dựa vào con giáp của mình mà lựa chọn Phật bản mệnh cho chính xác để mang theo người.


Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 
  Câu nói “Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc” qua thời gian bị thay đổi dần. Theo ghi chép trong Kinh Phật thì khi mỗi người sinh ra đều có một vị Phật hay Quan Âm Bồ Tát đi theo bảo vệ. Người sinh vào con giáp khác nhau thì tính cách khác nhau, tính cách là một trong những yếu tố quan trọng quyết định vận thế con người. Bạn đã biết Các vị Phật bản mệnh phù hộ độ trì cho 12 con giáp chưa, đọc ngay nào.   Phật độ mệnh thực tế chính là dựa vào việc trong mệnh mỗi người thiếu sót gì thì đeo mặt Phật độ mệnh bên mình sẽ bổ khuyết, giữ được bình an, hóa hung thành cát, ly khổ đắc lạc. Theo đó, chúng ta có Phật độ mệnh cho từng con giáp, giúp bản mệnh được an lành, phúc lộc.

Tai sao noi Nam deo Quan Am, nu deo Di Lac hinh anh
 

Phật bản mệnh bảo hộ cho từng con giáp là ai?

  Tuổi Tý: Quan Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay Tuổi Sửu: Hư Không Tạng Bồ Tát Tuổi Dần: Hư Không Tạng Bồ Tát Tuổi Mão: Văn Thù Bồ Tát Tuổi Thìn: Phổ Hiền Bồ Tát Tuổi Tị: Phổ Hiền Bồ Tát Tuổi Ngọ: Đại Thế Chí Bồ Tát Tuổi Mùi: Đại Nhật Như Lai  Tuổi Thân: Đại Nhật Như Lai  Tuổi Dậu: Bất Động Minh Vương Tuổi Tuất: Phật A di đà Tuổi Hợi: Phật A di đà   An An

Lịch Phật hàng năm - những ngày lễ lớn kính ngưỡng Phật, Bồ Tát Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát được nhiều người kính ngưỡng? Trang sức hình Phật: Nên đeo hay không, suy ngẫm thế nào mới đúng?

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao nói Nam đeo Quan Âm, nữ đeo Di Lặc

Trang trí vườn đẹp mắt với chậu hoa quả và rau thơm

Không cần phải những loại cây cầu kỳ, tốn công chăm sóc, bạn hoàn toàn có được một khu vườn đẹp mắt và lại có rau sạch cải thiện bữa ăn với những chậu rau thơm, củ quả...quen thuộc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Để khu vườn có thêm màu sắc, hãy sử dụng những chiếc chậu gốm được sơn các màu sắc sặc sỡ. Với những cây trồng trong chậu, có thể chọn các loại rau cho lá có màu sắc đẹp, bắt mắt như tía tô kết hợp với cà chua, dưa leo...Tùy vào óc sáng tạo và tưởng tượng của mình, bạn hãy kết hợp nhiều màu sắc của nhiều loại cây rau thơm và hoa quả để tô điểm cho bức tranh khu vườn trong các chậu cây.

Vườn đẹp 
Ớt là một trong những loại cây gia vị cho trái đẹp có thể làm cây cảnh đẹp cho khu vườn

Nếu muốn tiết kiệm chi phí mua chậu bạn cũng có thể dùng những chiếc thùng gỗ cũ không còn sử dụng được nữa. Nó sẽ đủ chỗ cho bạn trồng một vài loại rau như dấp cá, cà rốt thậm chí bạn có thể dặm thêm vài cây cúc vạn thọ, khi đơm hoa chũng sẽ giúp khu vườn thêm tươi tắn.

Để tạo nên nét thu hút riêng, bạn hãy chọn những chiếc chậu với chiều cao khác nhau. Khi phát triển tươi tốt, chúng sẽ tạo cảm giác về một khu vườn đầy ứ các loại cây cao thấp, chen chúc nhau. Rau thơm và cây thảo dược còn giúp bạn có thể tận hưởng những buổi sớm mai ngát hương thơm.

Một cách nữa là bạn hãy chọn hình dáng lá của các loại cây và trồng đan xen chúng với nhau để tạo nên kết cấu hài hòa cho cả khu vườn. Chẳng hạn như trồng cây hương thảo có dạng lá kim xen lẫn với cây cà tím lá to bản, hay một chậu cây chanh lá bầu dục kề bên chậu xả có lá nhỏ thuôn dài...hoặc đặt chậu xả liền kề bên chậu cà chua và ớt... Nếu sắp xếp khu vườn thành các tầng bậc cao thấp thì hãy trồng các loại cây leo như dưa chuột, đậu leo...ở phía trên cùng... để chúng có điều kiện leo lòa xòa trên giàn, trên lan can hoặc hàng rào vườn.

Nếu khéo tổ chức, chỉ cần vài chậu cây cũng có thể tạo thành một khu vườn nhỏ đông đúc cây cối hơn bạn tưởng.

Ngoài ra cũng nên lưu ý chọn lựa vị trí đặt khu vườn mini của bạn ở những chỗ dễ dàng cho việc chăm sóc hoặc sử dụng chúng khi cần như gần phòng bếp hay gần nơi bạn hay thư giãn...

Khu vườn 
Cà chua tô thêm sắc đỏ cho khu vườn

Vườn đẹp 
Những cây cho lá màu sắc tươi thắm giúp khu vườn thêm sinh động

vườn đẹp 
Khu vườn đẹp mắt với những loại rau thơm quen thuộc như cần tây, húng quế...

 
Chanh hoặc cà tím đều có thể phát triển tốt trong chậu

Trang trí vườn 
Dưa leo và cà chua không chỉ làm đẹp khu vườn mà còn cho bạn rau sạch mỗi ngày

"> 

 
Có thể tạo giàn để các loại thân leo có chỗ phát triển

 
Các loại rau khác nhau có thể trồng chung trong cùng một chậu

 
Bố trí thông minh sẽ giúp khu vườn tươi tắn 

 
Bạn thậm chí có thể trồng được cả..su hào trong chậu

 
Hãy đặt những chậu rau thơm gần bếp nấu để bạn dễ dàng hái chúng khi cần

 
Sắp xếp các chậu cây xen kẽ để khu vườn thêm sinh động

 
Cần tây và hành hoa

Vườn đẹp 
Không cần chọn những giống hoa cầu kỳ bạn vẫn có khu vườn đẹp mắt
từ những chậu rau thơm như thế này

(Theo TTO)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trang trí vườn đẹp mắt với chậu hoa quả và rau thơm

Ý nghĩa sao Tướng Quân - Là một quyền tinh chủ uy quyền

Sao Tướng Quân và Thiên Tướng thì uy quyền hiển hách, nếu đồng cung thì càng mạnh hơn, và nặng ý nghĩa quân sự. Nếu là nữ mệnh thì đây là người đàn bà đảm lược.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Tướng Quân - Là một quyền tinh chủ uy quyền

Ý nghĩa sao Tướng Quân - Là một quyền tinh chủ uy quyền

Hành: Mộc

Loại: Võ Tinh, Quyền Tinh

Đặc Tính: Uy quyền, mệnh lệnh.

Phụ tinh. Sao thứ 5 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Cũng là một trong 4 sao của cách Binh Hình Tướng Ấn (Phục Binh, Thiên Hình, Tướng Quân, Quốc Ấn).

Ý Nghĩa sao Tướng Quân:

Cương trực, thẳng tính, nóng tính, ngang tàng, bất khuất.

Can đảm, dũng mãnh, hiên ngang, làm càn, táo bạo.

Kiêu căng, có óc lãnh tụ, tinh thần sứ quân, ham cầm quyền. Vể điểm này, Tướng Quân có nghĩa tương tự như Hóa Quyền nhưng khác ở chỗ Hóa Quyền chủ sự nắm quyền bính còn Tướng Quân chỉ sự khao khát quyền bính, háo danh, hiếu thắng.

Đối với nữ mệnh, ghen tuông, lấn át chồng, hoặc có tính mạnh bạo như nam nhi.

Ý Nghĩa sao Tướng Quân Và Một Số Sao Khác:

Sao Tướng Quân và Thiên Tướng thì uy quyền hiển hách, nếu đồng cung thì càng mạnh hơn, và nặng ý nghĩa quân sự. Nếu là nữ mệnh thì đây là người đàn bà đảm lược, tài ba hoạt động như nam giới. Còn ở trong gia đình thì rất có uy quyền, thường lấn át quyền uy của chồng.

Tướng Quân gặp Tuần, Triệt án ngữ: Ví như ông tướng cụt đầu, tổn hại đến tánh mạng, công danh, quyền thế. Chủ sự truất giáng, bãi cách, tai nạn xe cộ, phi cơ, gươm đao, súng đạn khủng khiếp.

Sao Tướng Quân, Phục Binh, Không Kiếp: Cũng nguy hiểm đến tính mạng vì có người mưu sát.

Tướng Quân, Quốc Ấn, Phục Binh, Thiên Hình: Bộ sao uy dũng chỉ quyền tước, võ nghiệp, cầm quân, cầm quyền.

Sao Tướng Quân, Đào Hồng: Đàn bà tơ duyên rắc rối, bị thất tiết, ngoại dâm; đàn ông thì hoang dâm.

Sao Tướng Quân, Phá Quân, Phục Binh, Đào Hồng: Dâm dục quá đáng, tư thông, ngoại dâm, loạn luân.

Có quan điểm cho rằng Tướng Quân dù là Thiên Tướng hay Tướng Quân cần đi với Phục Binh, Thiên Mã mới hợp cách, đủ bộ ví như tướng có quân, có uy.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Phụ Mẫu:

Cha mẹ có tiếng tăm.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Phúc Đức:

Tăng tuổi thọ, trong họ có người làm nên sự nghiệp nhưng bất hòa.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Điền Trạch:

Gia tăng lợi ích về việc tạo dựng nhà cửa, lựa được đất tốt, hoặc có nơi an ninh, có thành quách, cơ sở hành chánh, quân sự đầy đủ, hoặc vùng đất xưa kia có bờ rào, thành cổ.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Quan Lộc:

Lợi ích cho công danh, chức vụ, có uy quyền, có óc lãnh tụ.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Nô Bộc:

Bè bạn, người giúp việc đắc lực.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Thiên Di:

Ra ngoài oai phong, nhiếp phục được người khác.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Tật Ách:

Giải trừ được tai nạn, nhưng nóng tính, làm càn thì hay gặp rủi ro, bị cầm giữ.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Tài Bạch:

Lợi ích cho việc cầu tài, làm giàu, phù hợp với các nghề cổ phiếu, địa ốc.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Tử Tức:

Con cái có sức khỏe, thành danh, nhưng ít con.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Phu Thê:

Người hôn phối có tài, có danh, có uy quyền, nhưng hay ghen tuông.

Ý Nghĩa Tướng Quân Ở Cung Huynh Đệ:

Tướng Quân, Thiên Mã, Lộc Tồn: Anh em quyền quý.

Tướng Quân, Phục Binh, Thai, Đế Vượng: Có anh chị em dị bào, hoặc anh chị em có người dâm đãng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Tướng Quân - Là một quyền tinh chủ uy quyền

Tại sao người chết đi lại bảo là về nơi chín suối?

Âm Phủ hay còn gọi là cửu tuyền hay suối vàng hay nơi chín suối, vậy tại sao lại có cách gọi này. Cùng tìm hiểu nhé!
Tại sao người chết đi lại bảo là về nơi chín suối?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Âm Phủ hay còn gọi là "cửu tuyền" hay "suối vàng" hay "nơi chín suối", vậy tại sao lại có cách gọi này.


► Tham khảo thêm: Giải mã việc mơ thấy cá, mơ thấy máu theo thế giới tâm linh
  Thông thường xem các phim kịch truyền hình điện ảnh, trong đó có một số lời kịch, một nhân vật khi oán hận một người nào đó thường nói một câu “xuống cửu tuyền mới có thể nhắm mắt”. Âm phủ vì sao lại nói thành cửu tuyền đây? Chúng ta dĩ nhiên đã biết cửu tuyền là lối nói văn nhã về âm phủ. Nhưng mà vì sao không gọi là bát tuyền, thập tuyền, mà lại là cửu tuyền vậy? Nguyên lai nguồn gốc của điều này, là có quan hệ với nhận thức của người cổ đại về thế giới.   Ban đầu “cửu tuyền” được gọi là “hoàng tuyền”, tức là suối vàng. Đầu tiên là được ghi chép trong “Tả truyện”. Đó là phần đầu trong câu chuyện “Trịnh Bá khắc Đoạn vu Yên” (Vua Trịnh đánh bại Đoạn ở đất Yên) thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Tai sao nguoi chet di lai bao la ve noi chin suoi hinh anh
Cửu tuyền hay còn gọi là suối vàng

Ðây là câu chuyện nói về chúa nước Trịnh là Trịnh Trang Công tên thật là Cơ Ngụ Sinh, rất có hiếu với mẹ.  Mẹ của ông là bà Khương Thị, vợ của vua Trịnh Vũ Công. Bà có hai người con. Người lớn là Thái tử Ngụ Sinh, sau lên ngôi là vua Trang Công. Còn người con kế tên là Cơ Ðoạn. Tuy cả hai đều là con của bà, nhưng bà lại thương không đồng.
  Trang Công lúc sinh ra bị khó sinh, chân ra trước, làm Khương Thị bị đau đớn và kinh sợ, bởi vậy đặt tên cho ông là “Ngụ Sinh”, cũng rất chán ghét ông. (Ngụ Sinh nghĩa là khó sinh, sinh ngược). Và kể từ đó, bà cho Ngụ Sinh là đứa con oan gia bất hiếu, vì hành hạ bà đau đớn ngay từ lúc đầu. Do đó, mà bà sinh tâm ác cảm với Ngụ Sinh. Ngược lại, bà rất thương yêu nuông chiều Cơ Ðoạn.   Vì có ý muốn cho Ðoạn lên làm vua, nên bà tìm đủ mọi phương cách thủ đoạn dèm pha hãm hại Trang Công. Việc hãm hại của bà kể từ khi Trang Công còn làm Thái tử, cũng như sau khi ông lên làm vua. Về sau, việc âm mưu hãm hại của bà bị bại lộ. Trang Công biết được em mình là Ðoạn nổi loạn phản nghịch, nên cử binh đánh dẹp và cuối cùng Ðoạn phải tự tử. Ông giận mẹ làm nội ứng cho Đoạn để giết mình lấy ngôi, bèn an trí Vũ Khương tại ấp Dĩnh và thốt lên lời thề chỉ gặp lại mẹ khi nào xuống suối vàng: “Bất chí hoàng tuyền, vô tương kiến dã”, tức “Chẳng phải chốn suối vàng thì chẳng nhìn mặt nhau”.   Đại phu Dĩnh Khảo Thúc can ngăn Trang Công, khuyên ông nên giữ đạo hiếu với mẹ. Trịnh Trang Công hối hận, muốn đón Vũ Khương về. Theo kế của Dĩnh Khảo Thúc, ông đào hầm đất, đến chỗ có suối chảy, coi đó là suối vàng, rồi sai người rước Vũ Khương tới làm lễ gặp mặt. Hai mẹ con gặp nhau dưới hầm và nối lại tình cảm như trước.   Không ít ghi chép thời Tần, Hán đều nhắc đến “Hoàng tuyền”. Chữ “tuyền” này có thể là do trước đây khi người ta đào giếng đến một độ rất sâu có thể gặp mạch nước (suối) ngầm. Do đáy giếng có đất bùn nên khi nước chảy vào thì có màu vàng, vì thế mà gọi là “suối vàng”. Người sau khi chết sẽ được chôn ở dưới lòng đất, mọi người đều nghĩ “âm tào địa phủ” là một nơi rất sâu, vì thế dùng từ “suối vàng” để ví.   Nhưng mà chữ “cửu” hàm ý là có liên quan đến khái niệm của người Trung Hoa xưa. “Cửu” (9) là số một chữ số lớn nhất, thời cổ đại có nghĩa là “hết sức, cực điểm, đứng đầu”. Người xưa cho rằng, người ta chết là trở về với cát bụi, chôn dưới lòng đất và phải xuống âm phủ. Mà âm phủ nhất định phải cách mặt đất rất xa, xa đến người bình thường không thể tới, cho nên ở phía trước chữ “tuyền” nhất định phải thêm chữ “cửu” để tăng thêm cảm giác sâu xa thần bí.   Những từ như “Cửu tuyền”, hay người Việt thường gọi là “chín suối”, mặc dù chúng ta đã nghe nhiều và trở nên quen thuộc, tuy nhiên khi tìm hiểu sâu xa thì có thể phát hiện có rất nhiều điều thú vị.

ST.

Bỏ tiền lẻ bên người chết đường chết chợ để làm gì? Dấu hiệu nhận biết người chết yểu và người sống thọ Những người đưa đường trong thế giới linh hồn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao người chết đi lại bảo là về nơi chín suối?

Người tuổi Sửu mệnh Thủy

Người tuổi Sửu mệnh Thủy là những người sinh năm Đinh Sửu 1937, 1997...
Người tuổi Sửu mệnh Thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Sửu mệnh Thủy là những người sinh năm Đinh Sửu 1937, 1997...

(Ảnh minh họa)

Người tuổi Sửu mệnh Thủy thường theo chủ nghĩa hiện thực, luôn coi trọng thực tế và có khả năng quan sát bén nhạy. Điều đó cũng mang lại cho họ không ít thuận lợi, thành công trong sự nghiệp.

Họ rất coi trọng địa vị xã hội cũng như tài sản cá nhân và luôn cố gắng duy trì tốt các mối quan hệ. Mỗi khi có cơ hội, họ có thể kết hợp giữa nhân lực, tài nguyên, sự kiên nhẫn và quả quyết của mình để thực hiện cho bằng được mục tiêu đã đề ra.

Họ thích các mối quan hệ mang tính hồi đáp và cũng có khả năng ăn nói khá tốt. Họ có khả năng độc lập mạnh mẽ, không sợ khó khăn và luôn dũng cảm tiến lên phía trước. Học rộng hiểu nhiều, ý chí lớn, tính cách kiên trung là những yếu tố đã giúp họ rất nhiều trong sự nghiệp. Họ có thể đảm nhận được những trọng trách nặng nề, có được cả công danh và lợi ích.

Vì thường không được sao tốt tương trợ nên họ hay có tư tưởng lo sợ, đôi khi trở nên thiếu tự tin. Chính vì vậy, tuy rất chăm chỉ nhưng họ cũng khó có được thành công lớn. Nếu tham gia kinh doanh, công việc của họ thường tiến triển chậm chạp và thường không giữ được chữ tín. Tuy nhiên, nếu có thể phát triển tích cách hướng ngoại thì họ lại có được nhiều thành công, gặp hung hóa cát.

(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)

(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Người tuổi Sửu mệnh Thủy

Giải nghĩa sao Thiên đồng trong lá số Tử vi

Trong tử vi thì Sao Thiên đồng chủ về phúc thọ, hóa khí là phúc, có khả năng kéo dài tuổi thọ, giải ách, chế hóa; lại chủ về mệnh giỏi văn chương, âm nhạc nhưng khả năng truyền đạt không tốt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi thiếu niên hoặc về già chủ về muôn sự cát lợi, được cha mẹ yêu quý, che chở từ nhỏ, an hưởng tuổi già, con cái hiếu thuận, cuộc sông thoải mái.

sao thiên đồng thiên lương sao thiên đồng thái âm đồng cung sao thiên đồng thái âm sao thiên đồng ở cung nô bộc sao thiên đồng ở cung huynh đệ sao thiên đồng cung phu thê sao thiên đồng cự môn đồng cung sao thiên đồng cự môn sao thiên đồng chủ thân sao thiên đồng lá số tử vi việt nam lá số tử vi trọn đời 2014 lá số tử vi trọn đời lá số tử vi online lá số tử vi năm 2015 lá số tử vi hồ chí minh lá số tử vi của bác hồ lá số tử vi 2015 lá số tử vi 2014 lá số tử vi

Trong Lá số Tử vi, Thiên đồng ưa nhất gặp Thái âm ở chỗ Tý, là cách cục Thủy trừng quế ngạc, chủ về làm quan thanh liêm, có bất động, có cha mẹ mẫu mực, mệnh nữ nên làm vợ lẽ. Nếu Thiên đồng, Thái âm ở Ngọ thì mệnh nam đào hoa, mệnh nữ có cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc.

Thiên đồng ưa tọa cung Điền trạch, có tiền tài.

Thiên đồng, Thiên lương tại Thân, Dần, mệnh nữ nên làm vợ lẽ.

Mệnh nữ có Thiên đồng tọa Mệnh rất đáng yêu, được chồng yêu chiều.

Thiên đồng và Đà la đồng cung dễ phát phì.

Thiên đồng và Dương nhẫn đồng cung dễ bị thương bên ngoài.

Thiên đồng tọa cung Mệnh, cung Thân trong lá số tử vi , dù nam hay nữ đều có khuyết điểm là quá tùy tiện, không biết phân biệt chính tà phải trái.

Ngưòi có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh nên mập không nên gầy, mập sẽ có phúc, gầy thì mệnh khổ; cũng không thể quá mập. Mệnh nữ có tư tưởng cam chịu, phó mặc cho sô” phận.

Thiên đồng ưa tọa cung Phúc đức, chủ về hưởng phúc.

Thiên đồng tọa cung Phu thê hoặc tổ hợp sao Thiên đồng như Thiên đồng, Thiên lương; Thiên đồng, Thái âm; Thiên đồng, Cự môn tọa cung Phu thê nên kết hôn muộn.

Trong tử vi Thiên đồng không ưa đồng cung vối Cự môn, dù tọa cung nào đều không cát lợi, chủ về nội tâm đau khổ, tinh thần dày vò, u uất.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải nghĩa sao Thiên đồng trong lá số Tử vi

10 liên đới cơ cấu của tử vi

Bài viết "10 liên đới cơ cấu của tử vi" thuộc nhóm bài 10 kinh nghiệm được GS Lê Trung Hưng chia sẻ trên Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí rất hay và hữu ích.
10 liên đới cơ cấu của tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

GS. LÊ TRUNG HƯNG

Trong công trình làm sang tỏ khoa lý học tử vi, những lúc gần đây người ta không thể quên tên của những loạt bài “Thần Kê định số”, của nguồn gốc khoa tử vi, của hình tượng của Nhật Nguyệt và những tác giả thâm lý vô cầu Võ Văn Châu, Vi Nhật, Phong Nguyên trên KHHB của năm cũ Giáp Dần 1974. Trước thềm xuân niên tuế Ất Mão, kẻ viết xin khai bút gọi là chút đóng góp (trong muôn một và đa diện của khoa Tử vi) với tâm ý: 1 ngày nào đó tử vi trở thành 1 học khoa của sinh hoạt đại học (trên các lĩnh vực nhân văn và quản trị). Chiều hướng trên có thể là 1 tham vọng, một khi những ai dấn than vào tử vi để hủ hóa thêm cho ngành này (bằng thái độ tự tôn, thành kiến, cố chấp, bảo thủ), mà cũng có thể là cao vọng khả chấp, một khi mọi giới thức giả trong vị thế và lãnh vực của mình, áp dụng tử vi trong sự cảnh giác: vừa nghiệm lý, vừa khai phóng. Có nghiệm lý mới thấy rõ hậu quả của bản số và thế tương quan cơ cấu giữa các tinh đẩu. Có khai phóng mới cập nhật hóa được những dữ hiện xưa trong hình thái hiện hữu, bới cung cách cổ điển vẫn tồn tại ẩn kín trong văn hóa kim thời.
Bài viết kỳ này xin triển khai “Mười Liên Đới Cơ Cấu của Tử Vi” – gọi là mở ngõ và gợi ý cho lĩnh vực xã hội học…

  • CHÍNH BẤT NHƯ CHIẾU: THẠCH TRUNG ẨN NGỌC

Tử vi có tất cả 14 chính diệu, được coi là các giới tinh “đỡ đầu cho cung trấn đóng và ai cũng phải nhìn nhận cặp Thái Dương – Thái Âm chủ về sự soi sang. Trực chiếu (hay còn gọi là xung chiếu thì mạnh mẽ hơn là tam hợp chiếu. Đại vận vào ngay cung của Nhật Nguyệt (vị thế sáng sủa) bị lòa sáng làm đẹp và không tốt bằng Đại vận ở cung được Nhật Nguyệt chiếu. thế nên khi Cự môn (là cửa thành, cửa nhà quan: nếu đóng ở Ngọ thì nên gọi là ngọ môn, cho chính danh nơi vua ở, và bên trong hẳn phải chất chứa bao điều bí mật về tài sản, về phong cách), đóng ở cung Tý luôn có Thái Dương ở cung Thìn rọi sang (tam hợp chiếu). Đèn chiếu tới cửa, nhưng cửa cài, then đóng, làm sao thấy được gì ở trong? Vậy cần phải có những yếu tố mở ngỏ (nội công thì ngoại kích mới hữu hiệu) nằm vùng ngay tại cung của Cự Môn, như Tuần Triệt, Song Hao, Kình Dương – nỗ lực làm sao cho cửa thành được mở ra, lúc ấy, đèn trời (Thái Dương) mới tỏa rạng ở cung của Cự môn, phơi bày cả 1 kho tang mà Cao chu Thần tướng cao hứng ngâm vịnh: "Kho trời chung mà vô tận của mình riêng".

Biện chứng tương tự cho trường hợp Cự Môn ở cung Ngọ (ngọ môn – khó khăn lắm mới mở được cửa nhà vua), luôn luôn có Thái Dương ở cung Tuất (lâm vào vị thế kém sang), nhưng nếu Thái Dương (ở Tuất) gặp Hóa Kị hay Thiên tài, hoặc giả được đám sao Đào hồng Linh Hỏa hội nhập (nhị hợp, tam hợp….) tiếp sức cho sao anh rọi sáng cung Ngọ, đồng thời Cự môn tại Ngọ bị Tuần Triệt, Song Hao, Kình đục phá thì rồi núi cũng phải lở huống chi chỉ là cửa thành? Mà khi cửa nhà vua bật mở tung, chắc chắn đèn trời Thái Dương còn được chói rạng hơn (vì trân châu, hột xoàn của kho vua lấp lánh). Thành ra “thạch trung ẩn ngọc” chỉ là 1 cách nói tượng trưng của người xưa (ý tại ngôn ngoại). Trong chiều hướng biện giải này, lá số của vị nguyên thủ quốc gia (đăng trong Tử vi Tổng hợp của ông Nguyễn Phát Lộc) có cách “Thạch trung ẩn ngọc” đặc biệt (tạm gọi là đệ tam cách) là Thái Dương ở Tị rọi sang (ngon lành) cho Cự Môn ở hợi (có Tuần, Đại Hao, Không Kiếp), hiệu lực của đệ tam cách chưa biết nghiệm lý ra sao? Có điều chắc chắn: Những bản số nào thuộc cách Cự môn tại Ngọ thiếu thời tân khổ lắm (đục cửa nhà vua tất nhiên phải vất vả)., qua trung niên và hậu vận lại phong túc, vẻ vang tột cùng

  • VÒNG THÁI TUẾ: CHÌA KHÓA CỦA QUẢN TRỊ HỌC

Căn bản của tử vi thuyết Thiên Lương là vòng Thái Tuế. Cho đến nay, tuy có nhiều gười hâm mộ sự phát kiến của cụ nhưng rất ít người hiểu rõ những hiệu lực nền tảng của vòng sao chất chứa mệnh tính này, thành ra ngộ nhận 1 cách bất thuận lợi cho khoa tử vi (chứ không phải cho người phát kiến) như tác giả 1 cuốn sách tử vi mới phát hành vào đầu năm 1975

Vòng Thái Tuế là tam giác liên kết 3 cung mạng năm sinh của tuổi (Ví dụ sinh năm Mão thì vòng Thái tuế là tam giác nối 3 cung Hợi Mão Mùi). Vòng này thiết lập ra để đối chiếu tính cách sinh khắc với tam giác của 3 cung Mệnh Quan Tài (được coi là vòng tha nhân, đã trình bày ở bài “10 điều tâm niệm khi đoán số tử vi”. Cụ Thiên Lương gọi vòng Thái tếu là vòng Thiên thời, để tìm xem đại vận nào tốt nhất trong đời (ông Trần VIệt Sơn đã khai triển nhiều lần). Nhưng có 1 khía cạnh tối quan trọng của vòng Thái tuế mà ít người lưu tâm là tính chất phẩm hạnh và tác phong của bản số tử vi. Một cách dễ hiểu hơn, người viết xin đặt tên cho vòng Thái Tuế là “Vòng Quản Trị” (Cycle of managerial functions), để góp phần hệ thống hóa mô thức điều hành xã hội trên thuật hướng vương đạo của tiền nhân. Mô thức phân quyền của Montesquieu tiên sinh nếu lồng vào Vòng Quản trị của khoa tử vi, sẽ diễn tiến như sau:

3 đỉnh của tam giác vòng quản trị là Thái Tuế - Quan Phù – Bạch hổ, mỗi đỉnh là 1 cục bộ của chủ quyền quốc gia: Lập pháp – Hành Pháp và Tư Pháp. Ý nghĩa dân chủ của thể chế chính trị tiến bộ là hình thái phân quyền để chủ quyền quốc gia được lành mạnh và quốc dân phú cường. hình thái học của khảo hướng phân quyền là như thế, nhưng động lực thực hiện được phân quyền tốt đẹp thuộc khoa quản trị học. Dùng người đúng chỗ là ưu điểm của nhà lãnh đạo, áp dụng vào mô thức vòng quản trị của tử vi, ta có ngay sự sắp xếp thích nghi:

  • Người có cung Mệnh, Thân nằm trên đỉnh Bạch Hổ chủ về cái mạnh bạo, mẫn cán và anh hung của kẻ dám làm những điều chính đáng tốt lành. Quyền Hành pháp trao cho người Bạch Hổ là hành pháp mạnh nhưng không chuyên quyền quá đà
  • Người có cung Mệnh, Thân nằm trên đỉnh Quan Phù chủ về sự tính toán minh bạch, tham khảo rạch ròi kẻ tóc chân tơ của người ngay chính cẩn thận. Quyền Tư pháp nằm trong tay những người Quan Phù thì luật pháp được phê sử công minh và thích hợp với sở cầu của xã hội
  • Người có cung Mệnh, Thân nằm trên đỉnh Thái Tuế chủ sự trầm mặc, đoan chính, có tác phong nghiêm nghị và lý luận, luôn luôn đường hoàng và tự tín. Quyền Lập pháp trao cho người Thái Tuế là an ninh tinh thần của dân chúng, luật pháp được thượng tôn, cán cân công lý được duy trì nghiêm cẩn
  • ĐỊA KIẾP CHỈ ĐỐI VỚI THIÊN LƯƠNG

Phép đối ngẫu của cổ văn chương Việt Hoa đối âm, đối tiếng và đối nghĩa. Trọng bộ Lục bại tinh của tử vi có đôi sao Địa Kiếp – Địa Không được an theo giờ sinh, xuất phát từ cung Hợi theo chiều Âm Dương (là căn bản của thuật số huyền học Đông phương). Sự hiệu nghiệm của 2 sao này đã quá rõ rang: Chúng đóng ở cung nào là y như có chuyện lình xình ở cung đó; chiến lược của phản trắc tính Không Kiếp không thể phủ nhận, tất yếu sự hiện hữu là 1 mặc nhiên. Nhưng có vị trí giả đề nghị hủy giải sao Địa Không vì cho rằng tính lý không hạp đôi với Địa Kiếp và thay vào đó bằng sao Thiên Không. Kẻ viết vốn rất ngưỡng mộ sự canh cải, để phục hồi giá trị cho khoa nhân văn tử vi, nhưng không thể vì định kiến chỉ nam ấy mà quên giá trị nghiệm lý của cơ cấu các sao trên lá số. Xin trình làng 2 lý do:

  • Phép đối ngẫu Địa Kiếp (2 âm trắc) đối âm với Thiên Lương (2 âm bằng). Địa Kiếp là thực tự hợp với Thiên Lương (cũng là thực tự của cổ văn). Quan trọng hơn là xét đối nghĩa: Địa Kiếp chỉ quân ăn cướp ở dưới trần thế, thì Thiên Lương chỉ bậc hảo thiện ở trên trời. Trong khi Thiên Không chỉ có thể coi là hư tự của cổ văn và càng vô nghĩa khi phải đối với Địa Kiếp? Vậy thì càng không nên xét việc hủy thể Địa Không bằng đối luận
  • Vai trò của Thiên Không: trong phép an sao Thái Tuế có sự định chuẩn rõ rang: trước Thái Tuế là Thiên Không và sau Thái Tuế là Quán sách:

”Tuế tiền nhất vị thị thiên thiếu
Hậu nhất vị quán sách, Trực phù

(Thiên Không và Thiếu Dương ở cung đằng trước Thái Tuế và Quán Sách, Trực Phù ở cung đàng sau Thái Tuế). Người rành luật “bi sắc tư phong” (lý thừa trừ) của Vòng Thái Tuế, càng không thể phủ nhận sự đóng góp của sao Thiên Không khi nó luôn xuất hiện với “tam giác thiên tả” là Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức (1 hệ phái thoát ly của vòng Thái Tuế), để thử thách người đời. Bởi vì vào đại vận của tam giác thiên tả, đương số lọt ngay vào sự bảo bọc của bộ sao tứ đức (Phúc Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Long Đức) hợp chiếu, chưa kể các phúc tinh khác như Quan Phúc, Quang Quý, Khóa Khoa, luôn luôn là như vậy mà tại sao cứ vào Đại vận hay Tiểu vận này, thiên hạ long đong lận đận khôn cùng? Sự kiện này chỉ có thể hiểu được khi có bộ mặt Thiên Không phá đám, khuấy đảo và dụ dỗ đám hư tinh Đào hồng vào chỗ tuyệt lộ.

Vậy thì xin trả cái gì của César cho César để tử vi khỏi mất mát cái chính lý của nó

  • LUẬN VỀ NGŨ HÀNH TƯƠNG NGỘ

Khoa lý học Đông Á coi lẽ Âm Dương như định lý biến dịch, và lấy ngũ hành làm hệ luận sinh khắc. Chu trình Ngũ hành sinh và Ngũ hành khắc đều là 1 chu trình khép kín.
Ai nấy đều thông lý rõ rang và không có gì thắc mắc. Nhưng trường hợp đồng hành của Ngũ hành thì thật là phức tạp, nhiều ý kiến trái ngược: tốt có và xấu cũng có. Theo sách hồng Vũ cẩm Thư của Dương Quân Tùng (Trung Hoa) thì trường hợp Ngũ hành tương ngộ tạo ra 3 hình thái: Thắng – hòa và bại như sau:

  • Đồng hành Mộc: thắng, tươi tốt
  • Đồng hành Kim: thắng, phong phú
  • Đồng hành Thổ: hòa, vừa phải
  • Đồng hành Hỏa: bại, khẩu thiệt
  • Đồng hành Thủy: thái quá

Việc này đem áp dụng vào công dụng lý đoán các sao và các cung trên tính cách bản hành nhất là Đại vận của Thái Tuế sẽ thấy rõ hiệu lực của mức độ thành- bại mỗi người.

Ví dụ: người mạng Thổ nhập hạn Thái Tuế ở cung Mùi (Thổ) không thể thoải mái, vẻ vang bằng người mạng Kim mà lại nhập hạn Thái tuế ở cung Thân hay Dậu (Kim).

………………………..

(Còn 6 điểm quan trọng – kỳ sau)
 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 liên đới cơ cấu của tử vi

Xòe bàn tay nhìn ngay nhân duyên tốt đẹp

Nếu lòng bàn tay xuất hiện một trong những đường nhân khí dưới đây, chắc chắn nhân duyên của bạn tốt đẹp, được nhiều người yêu mến và nổi danh khắp thiên hạ.
Xòe bàn tay nhìn ngay nhân duyên tốt đẹp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


  

► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không

1. Đường nhân khí nằm dưới ngón tay đeo nhẫn
 
Vị trí của đường nhân khí gần như trùng khớp với đường Tài vận. Tuy nhiên, đường này ngắn hơn, chỉ khoảng 3-4 cm, bắt đầu từ dưới ngón tay đeo nhẫn và kéo dài đến gò Thái Dương. 
Xoe ban tay nhin ngay nhan duyen tot dep hinh anh
Ảnh minh họa

Chủ nhân của tướng bàn tay này là người sống nghĩa khí, hành hiệp trượng nghĩa, hay làm việc thiện nên được nhiều người yêu mến và coi trọng. Số lượng đường nhân khí không cố định, có người có 1 đướng, có người nhiều hơn 2 hoặc 3 đường.
 
2. Đường nhân khí song song với đường Sinh mệnh
 
Nếu thấy xuất hiện nhiều đường chạy song song với đường chỉ tay Sinh mệnh ở lòng bàn tay, đó chính là đường nhân khí. Khi đường này xuất hiện ám chỉ chủ nhân có nhân khí vượng, đặc biệt là nhân duyên tốt đẹp, được nhiều người yêu mến và giúp đỡ.
Xoe ban tay nhin ngay nhan duyen tot dep hinh anh 2
Ảnh minh họa

Ngoài ra, người có đường vân này thường sở hữu tướng mạo xinh đẹp, dù là nam hay nữ đều có sức hấp dẫn đặc biệt. Người này đa tài và dễ nổi danh trong giới nghệ thuật.

3. Đường nhân duyên nằm ở gò Nguyệt
 
Đường nhân duyên là những đường chạy dọc theo gò Nguyệt và hướng đến lòng bàn tay. Đường này có thể thẳng hoặc là hình vòng cung. Người có đường nhân duyên này có sức hút mãnh liệt với mọi người, đặc biệt là người khác giới. Nhân duyên của người này tốt, sớm yên bề gia thất và hưởng cuộc sống hạnh phúc.
Xoe ban tay nhin ngay nhan duyen tot dep hinh anh 3
Ảnh minh họa
 
Bên cạnh đó, người có tướng bàn tay này thích hợp với ngành nghề về nghệ thuật như người mẫu, diễn viên, ca sĩ…Nếu làm việc trong lĩnh vực này sẽ được nhiều quý nhân trợ giúp nên nhân khí vượng và gặt hái được nhiều thành công rực rỡ trong sự nghiệp, vang danh bốn phương. 
 
Số lượng đường nhân duyên này có thể là 1, 2 hoặc thậm chí nhiều hơn 3. Người có càng nhiều đường nhân duyên trong lòng bàn tay càng có cuộc sống hạnh phúc và thành đạt. 

ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xòe bàn tay nhìn ngay nhân duyên tốt đẹp
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd