Xem tướng chân đoán mệnh –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
không thận trọng có thể gây thất tán tài sản, hại đến sức khoẻ.

(1) Trên bàn ăn không nên dùng đèn hình cây nến
Một số loại đèn giá treo được làm bằng các cây nến trắng hình ống, tuy đây là loại đèn kiểu cách mới lạ thiên về giá trị thưởng thức, nhưng nếu để nó trên bàn ăn thì chắng khác gì xếp một đống nến trắng lên bàn, điều này thực sự là không tốt. Vì nến trắng tượng trưng cho chuyện tang lễ, để nó ở nơi mọi người trong nhà tập trung ăn uống thì hậu quả thật khó lường. Vì vậy phải hết sức tránh. Tuy nhiên với một số loại nến có màu sắc khác thì không hại gì.
(2) Không nên dùng bàn ăn làm bằng đá và thuỷ tinh
Bàn ăn làm bằng đá và thủy tinh cứng và lạnh, tuy cảm quan nghệ thuật của chúng mạnh nhưng nó dễ hấp thu nhanh năng lượng từ cơ thể người sau bữa ăn toả ra, sẽ không có lợi trong trường hợp mọi người ăn xong còn ngồi lại chuyện trò.
(3) Bàn ăn và ghế ngồi không nên để bị “đèn” ép
Vì khi người ta ngồi ăn có đèn ở trên đầu đè xuống sẽ ảnh hưởng đến tư duy, đồng thời cũng gây bất lợi cho phát triển sự nghiệp.
(4) Bàn ăn không nên đặt đối diện cửa chính
Bàn ăn đặt đối diện cửa chính dễ làm thất tán của cải trong nhà, phong thuỷ học về nhà ở đã cảnh báo “hỉ hồi triền kị xung”, nếu phạm sẽ dễ làm cho nguyên khí gia chủ thất thoát, vì thế mà ảnh hưởng lớn đến phong thuỷ. Nếu bàn ăn và cửa chính nằm trên một đường thẳng, đứng ngoài cửa đã nhìn thấy cả nhà ngồi ăn cơm, thật sự bất tiện.
(5) Bàn ăn không nên đối diện với phòng bếp
Bếp thường xuyên thải ra hơi dầu mỡ, nhiệt độ lại tương đối cao, bàn ăn đối diện với bếp sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ mọi người trong nhà, ví dụ dễ phát sinh các vấn đề về tâm lý như phiền muộn, tì khí nóng.
(6) Bàn ăn rất kị đối diện cửa phòng vệ sinh
Nhà vệ sinh theo phong thuỷ là nơi xấu “ô uế”, càng giấu kín được nó càng tốt, nếu để cửa nhà vê sinh đối diện với bàn ăn sẽ hại đến sức khoẻ mọi người trong nhà.
(7) Gần bàn ăn tránh bầy biện đồ vật ô tạp
Quá nhiều đồ vật ô tạp sẽ phá hỏng phong thuỷ bàn ăn và phòng ăn, dỗ làm cho gia đình bất hoà, ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng.
(8) Bàn ăn không đặt đối diện bàn thờ
Bàn thờ là nơi thờ cúng tổ tiên, nghiêm túc mà nói, không được bố trí nơi ăn của người phàm trần gần đó, âm dương chia lối, trần tiên khác biệt. Hơn nữa, nếu bàn thờ là nơi thờ cúng Quan âm, Phật tổ, do các vị này đều ăn chay và không sát sinh, đồ ăn của người phàm trần trước mặt họ lại là những thịt những cá, như vậy thật không hợp chút nào. Nếu có diều kiện, tốt nhất phải giữ một khoảng cách cần thiết giữa bàn ăn và bàn thờ.
(9) Làm thế nào để chọn được “hình” bàn ăn
Các thầy phong thuỷ cho rằng, bàn ăn kị ở chỗ bốn bên có góc. Kiểu bàn ăn vuông của người phương Tây là không phù hợp, nhất là với bàn ăn hình chữ nhật có 4 góc nhọn thì càng không hợp. Nếu bắt buộc phải dùng kiểu bàn hình chữ nhật thì hãy chọn dùng bàn góc tròn. Chi tiết có thể tham khảo các ý kiến sau:
– Bàn hình tròn: Bàn ăn hình tròn thích hợp với những gia đình bình thường vì nó có hiệu quả đối với đoàn tụ và hoà khí, nó tượng trưng cho sự công bằng, không phân biệt địa vị cao thấp. Mọi người trong nhà sẽ rất dễ hoà đồng, trò chuyện với nhau nếu sử dụng kiểu bàn này.
– Bàn hình chữ nhật: Loại bàn này chú yếu được sử dụng tại các gia đình khá giả hoặc những trường hợp vì điều kiện hạn chế về diện tích. Bất kể là nguyên nhân gì, gia đình dùng bàn ăn hình chữ nhật rất dễ tạo sự phân biệt chủ khách, có nghĩa là vị trí của người chủ trong nhà thường khá trội. Như vậv trong giao lưu tình cảm dễ xuất hiện hiện tượng mệnh lệnh, gia trưởng.
– Bàn hình vuông: Bàn ăn hình vuông rất ít gia đình sử dụng, nếu có sử dụng thì cũng chỉ vì một số nguyên nhân đặc biệt nào đó. Trong nhà dùng bàn hình vuông không những dễ xảy ra tình trạng xung đột và đối lập giữa mọi người mà còn có thể có hiện tượng thai nhi biến dạng. Bàn hình vuông chỉ có thể dùng được cho 4 người, vì vậy thường mang lại cảm giác cô quạnh.
– Bàn hình bầu dục: Gia đình dùng loại bàn này dễ xảy ra tình hình kéo bè kéo cánh của các thành viên. Tốt nhất là không dùng, đặc biệt là các gia đình lớn.
– Bàn nhiều cạnh hoặc cạnh không bằng nhau: Là loại bàn thường chỉ dùng trong một vài gia đình có diện tích nhà ở quá hạn hẹp, có thể nói là hiếm có. Gia đình sử dụng loại bàn ăn này rất dễ phiêu bạt bất định, các thành viên trong nhà phân tán, không đoàn kết, tình cảm rạn nứt.
"hội tụ năng lượng".
|
| Gương trong nhà bếp tạo sự sung túc |
Vị trí lý tưởng nhất là phía sau nơi đặt bếp nấu, dựa vào tường hoặc treo ở phía trên bếp. Nếu bạn không nhìn thấy cửa bếp khi đứng ở vị trí nấu nướng, cần phải đặt gương dựa vào mảng tường bếp hoặc ở bất kỳ vị trí nào trong phòng. Tại vị trí này, bạn có thể dễ dàng quan sát người ra vào bếp. Phong thủy tối kỵ nhất là người ngụ trong phòng không thể biết được người ra vào căn phòng đó. Chính vì thế, 1 chiếc gương treo nơi nhà bếp là giải pháp hữu hiệu.
Trong trường hợp có 2 cánh cửa ra vào nhà bếp, hãy đặt gương ở vị trí chiếu thẳng vào cánh cửa được xem là "chính" hơn. Đó là nơi mà mọi người sẽ bước vào sau khi qua cửa chính của ngôi nhà.
Giải pháp khác cho bạn để tạo sự thịnh vượng trong cuộc sống là đặt 1 vật có khả năng phát quang (chiếu sáng) gần bếp nấu. Có thể là bình trà sáng bóng. Khi đó, hình ảnh bếp nấu sẽ được nhân đôi. Cảm giác "nhân đôi" bếp lò (nơi được coi là sự sung túc của căn nhà) sẽ giúp bạn có được cuộc sống đầy đủ, viên mãn.
(Tổng hợp)
|
Ngửa lòng bàn tay, duỗi thẳng (nam trái nữ phải), quan sát ba đốt ngón tay xem đốt nào dài nhất. Đốt dài nhất chính là đại diện cho ưu điểm, sở trường của bạn, đồng thời cũng có thể bạn đã bắt đầu bước vào vận đỏ.
Đốt ngón tay khác nhau, vận thế khác nhau
Ngón cái
Đốt thứ nhất của ngón cái: Đại diện cho ý chí và sự mạnh yếu của ý thức cái tôi.
Đốt thứ hai ngón cái: Đại diện cho khả năng tư duy logic.
Đốt thứ ba ngón cái: Đại diện khả năng xử lý vấn đề liên quan đến tình cảm.

Ngón trỏ
Đốt thứ nhất ngón trỏ: Đại diện cho khả năng trực giác, mức độ tự tin, cái tôi.
Đốt thứ hai ngón trỏ: Đại diện cho chí tiến thủ và sự hiếu thắng.
Đốt thứ ba ngón trỏ: Đại diện cho nhu cầu cơ bản của con người.
Ngón giữa
Đốt thứ nhất ngón giữa: Đại diện cho đạo đức và phản ánh đặc trưng tình cảm.
Đốt thứ hai ngón giữa: Đại diện cho tinh thần trách nhiệm và mong muốn tạo dựng sự nghiệp.
Đốt thứ ba ngón giữa: Đại diện cho nhu cầu hiện thực của con người.
Ngón vô danh
Đốt thứ nhất ngón vô danh: Đại diện cho khả năng nghệ thuật, tu dưỡng bản thân và đặc trưng tính cách.
Đốt thứ hai ngón vô danh: Đại diện cho danh tiếng và khát vọng sống.
Đốt thứ ba ngón vô danh: Đại diện cho trực giác, tài hoa, dục vọng.
Ngón út
Đốt thứ nhất ngón út: Đại diện cho ham muôn thể hiện và khả năng biện luận.
Đốt thứ hai ngón út: Đại diện cho khả năng nhẫn nại và khả năng thực tiễn.
Đốt thứ ba ngón út: Đại diện cho khả năng suy nghĩ, ý chí và thể lực.
Xem vận thế dựa vào các đốt ngón tay
Đường vân của đốt thứ nhất ngón cái giống như con mắt dược gọi là con mắt văn chương: Biểu thị thành tích đạt được trên con đường học tập.
Đốt thứ nhất ngón cái giống như đầu rắn, đốt thứ hai nhỏ mảnh: Biểu thị là người khó kết giao nhưng có tài vận.
Đốt thứ hai ngón cái có thể tùy ý gập lại: Biểu thị là người háo sắc, đê tiện.
Ngón trỏ lệch sang ngón giừa: Biểu thị được cha mẹ quan tâm, yêu quý.
Nửa đốt thứ nhất của ngón trỏ hướng tới ngón giữa: Biểu thị là người ôn hòa, không thích thể hiện mình.
Ngón giữa gập sang ngón trỏ: Biểu hiện là người rất hiếu thuận với cha mẹ.
Ngón giữa gập sang ngón vô danh: Biểu thị sự quan tâm tới nửa còn lại của mình.
Ngón vô danh cong vể phía ngón giữa: Cho thấy ngưòi này biết bảo vệ người bạn đời.
Đốt đầu tiên của ngón vô danh có vân ngang: Biểu thị sự coi
trọng con cái, có phương pháp thoát khỏi hiện thực, nói chung họ là người cần được quan tâm, chăm sóc.
Đốt thứ ba ngón vô danh quá dày: Biểu thị nhu cầu tính dục mạnh.
Cuối ngón út và đốt đầu tiên ngón vô danh: Biểu thị không quan tâm tới con cái.
Ngón út căng: Biểu thị con cái mình lúc nhỏ được nuôi dưỡng, chăm sóc ở một nhà khác.
Ngón trỏ
Đốt trên Khá dài biểu thị khả năng quan sát tốt; khá ngắn, khá dày biểu thị nhu cáu vật chất rất cao.
Đốt giữa Khá dài biểu thị làm việc hiệu quả cao, khá ngắn biểu thị chí khí không đủ.
Đốt dưới Khá dài biểu thị thích chỉ huy người khác, khá ngắn biểu thị cuộc sôhg thanh nhàn, khá mỏng biểu thị lòng yêu thích nghệ thuật
Ngón giữa
Đốt trên Khá dài biểu thị lãm việc cẩn thận, khá ngắn biểu thị tính tình ổn dịnh, khá mỏng biểu thị có lòng hoải nghi lớn.
Đốt giữa Khá dài biểu thị tính tinh vội vàng, hấp tấp, khá ngắn biểu thị sự yêu thích khoa học, khá dày biểu thị sựyèu thích nghệ thuật.
Đốt dưới Đường khá dài, biểu thị cái tối, đường khá ngắn biểu thị sự nho nhã.
Ngón vô danh
Đốt trên Khá dài biểu thị là người thích nghệ thuật, quá dày thì có khuynh hướng yêu bản thãn, khá mỏng biểu thị thích đối đầu với thử thách.
Đốt giữa Khá dài biểu thị sự yêu thích nghệ thuật, khá ngắn, khá dày biểu thị không có duyên với nghệ thuật.
Đốt dưới Khá dài biểu thị nhu cầu học hỏi cao, khá ngắn biểu thị khả năng thưởng thức kém.
Ngón út
Đốt trên Khá dài biểu thị tài ăn nói rất tốt, khá ngắn biểu thị khả năng tính due kém.
Đốt giữa Khá dài biểu thị có đẩu óc kinh bang tế thế, khá ngắn biểu thị khống có tài lãnh đạo, khá dày biểu thị trong lòng nham hiểm.
Đốt dưới Khá dài thể hiện sự thuần khiết, dáng yêu. Khá ngắn thể hiện sức tưởng tượng kém.
![]() |
![]() |
![]() |
Phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt có được đi chùa lễ Phật?
Điều dễ phạm phải khi đi đền chùa đầu năm
Infographic: Cấm kị không thể bỏ qua trong bữa cơm Giao Thừa
Cúng tất niên thế nào cho đúng thuần phong mĩ tục?
Giao thừa: Cúng trong nhà hay ngoài trời trước?
Lễ chùa đầu xuân - đừng để mất phúc vì hiểu sai
Vì sao lại phải cúng giao thừa cả ở ngoài trời?![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Mời các bạn xem thêm: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh |
Top 4 con giáp nắm tiền đồ sự nghiệp xán lạn trong tầm tay
Dự đoán tính cách theo họ tên là 1 trong những công dụng của cách phân tích 5 nhân cách: thiên, địa, nhân, ngoại, tổng. Trong họ tên, nhân cách biểu hiện tính cách của con người. Tục ngữ có câu: "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính", tính cách phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có liên quan đến ngũ hành. 1 số đặc điểm chung nhất được khái quát theo ngũ hành như sau:
- Người thuộc Mộc tức sinh vào năm mà niên mệnh thuộc hành Mộc tính theo bảng 60 hoa giáp: chủ về "nhân", tính tình ngay thẳng, khiêm tốn, lễ độ.
Ví dụ, người sinh năm 2010 (Canh Dần), 2011 (Tân Mão) niên mệnh theo ngũ hành thuộc Mộc. Canh Dần là dương Mộc, Tân Mão là âm Mộc.
- Người thuộc Hỏa: chủ về "lễ", tính tình nóng nảy.
Ví dụ, người sinh năm 2016 là Bính Thân - dương Hỏa, 2017 là Đinh Dậu - âm Hỏa.
- Người thuộc Kim: chủ về "nghĩa", tính cứng rắn, hành sự quyết đoán.
Ví dụ, người sinh năm 2014 là Giáp Ngọ - dương Kim, 2015 là Ất Mùi - âm Kim.
- Người thuộc Thủy: chủ về "trí", thông minh, hay xét đoán.
Ví dụ người sinh năm 2012 là Nhâm Thìn - dương Thủy, 2012 là Quý Tỵ - âm Thủy.
|
| Tên hay đem lại may mắn cho chủ nhân |
Theo số lý tính cách (nhân cách được biểu thị qua con số từ 1 - 10 được gọi là số lý), tính cách con người được thể hiện cụ thể:
- Nhân cách số 1 (thuộc dương Mộc): Người này có tính tình ôn hậu, hòa nhã, giàu lý trí, tinh thần kiên cường, bất khuất. Bề ngoài, họ chậm chạp, song, bên trong ẩn chứa nhiều năng lực. Sự thành công trong cuộc đời họ dựa trên sự ổn định, vững chắc.
- Nhân cách số 2 (thuộc âm Mộc): Chủ nhân tính tình trầm nặng, có nghị lực vượt qua khó khăn. Bề ngoài người này ôn hòa, bên trong lại nóng nảy, bảo thủ, bản tính đa nghi, hay ghen ghét, đố kỵ.
- Nhân cách số 3 (thuộc dương Hỏa): Người này linh hoạt, nhanh trí, song lại nóng nảy. Họ có tài trí hơn người nhưng ít khoan nhượng. Cuộc sống đạt được nhiều thành công, song lại không bền.
- Nhân cách số 4 (thuộc âm Hỏa): Đây là người có tài ăn nói, nhiều tham vọng, tính tình nóng nảy, lạnh lùng. Một số còn nham hiểm khôn lường, sức khỏe không được tốt, hiếm muộn con cái, gia đình không được hạnh phúc lắm.
- Nhân cách số 5 (thuộc dương Thổ): Người ôn hòa, dễ gần, giản dị, lương thiện. Họ biết coi trọng chữ tín, luôn cảm thông với người khác. Tuy nhiên, một số người trọng nghĩa khinh tài, hay lãnh đạm với mọi việc xung quanh.
- Nhân cách số 6 (thuộc âm Thổ): Người này có vẻ bề ngoài hiền hòa mà trong lòng lại nghiêm khắc. Họ giỏi về lĩnh vực chuyên môn, thích nghiên cứu chuyên sâu chứ không thích mở rộng. Khuyết điểm của họ là dễ bị lôi kéo, đa tình, sức khỏe kém.
- Nhân cách số 7 (thuộc dương Kim): Người có ý chí kiên cường, quyết đoán, thích tranh cãi, biện luận. Tuy nhiên, họ lại thiếu năng lực đồng hóa, cuộc đời có nhiều thăng trầm.
- Nhân cách số 8 (thuộc âm Kim): Tính tình người này cứng rắn, ngang ngạnh, bảo thủ. Song, họ có sức chịu đựng cao, nếu tu tâm dưỡng tính tốt ắt thành người quan minh, lỗi lạc.
- Nhân cách số 9 (thuộc dương Thủy): Người ham thích hoạt động, thông minh, khôn khéo, ưa lý trí. Một số người thích danh lợi, dễ bị lôi kéo vào những thói xấu.
- Nhân cách số 10 (thuộc âm Thủy): Người thụ động, ưa cuộc sống tĩnh lặng, sống nhạy cảm, dễ bị kích động, song lại có tham vọng lớn về tiền bạc, công danh.
(Theo Đặt tên theo phong tục dân gian)
|
Sườn non bầu rượu túi thơ
Thảnh thơi ngồi gẫm cuộc cờ Trường An
Vạc Hậu Chu vừa khi mới đổi
Trần Hi Di lên ẩn núi Hoa Sơn
Mấy mươi năm trong cuộc bùn than
Lửa văn võ chưa rặc lò đan táo
Hà vật lão ẩu
Nặng trên vai hai chúa thái bình
Liếc trông chừng Tống nhật đã khai minh
Mây thúc quí hẳn từ rầy trong leo lẻo
Trần Kiều mộng lý giang sơn tiểu
Vãn quán xuân thâm nhật nguyệt trường
Rượu một bầu, thơ một túi, cờ một cuộc, cầm một xoang
Khi đắc ý gật trên lừa cười ra rả
Ngoài cung kiếm mặc ai xa mã
Luy trần bất đáo thử giang san
Trời riêng cho một cuộc nhàn.
Trong chính sử không thấy nói đến Trần Đoàn, tên ông chỉ được ghi trong dã sử, truyền ký và chính thức trong các sách về tướng pháp và lý số, thành thử đời sau không thể có một tiểu sử liên tục và rõ ràng về ông.
Căn cứ vào bài Ca trù của Nguyễn Công Trứ để lấy thứ tự đồng thời cộng với một số truyền kỳ, ta có thể hình dung một cách đại khái thân thế Trần Đoàn như sau:
Từ nhà Đường chuyển sang nhà Tống trải qua giai đoạn lịch sử quá độ trung ương tập quyền biến ra địa phương hùng cứ rồi chuyển thành đời Ngũ Đại đã rồi nhà Tống mới thống nhất.
Trần Đoàn lớn lên giữa lúc nhiễu nhương binh lửa, giết chóc loạn lạc, ông lên núi tu ẩn để tránh họa. Khi đã nắm được lẽ huyền vi của âm dương, ông thường đi đây đó để tìm anh hùng và chân chúa. Có một lần gặp người đàn bà gánh kĩu kịt trên vai hai đứa trẻ mỗi thúng ở đầu đòn gánh một đứa. Ông mới hỏi: “Hà vật lão ẩu? Này bà gánh kia chi vậy?” Người đàn bà mở nắp thúng cho Trần Đoàn coi rồi thở dài nói: “Tôi dẫn hai con tôi đi chạy loạn đây”.
Vừa nhác trông thấy hai đứa nhỏ, Trần Đoàn đã kêu lên: “Một vai bà mà gánh những hai vị thiên tử sao?”
Lòng ông vui mừng khôn xiết, vì thiên hạ sắp hưởng đời thái bình nên mới có hai vị chân chúa anh hùng xuất thế. Trần Đoàn liền lấy trong bọc ra mười lạng đưa biếu người đàn bà không quen biết rồi lên lưng lừa đi thẳng.
Hậu Chu là gì?
Là Chu Thế Tôn người đi bước đầu trong công cuộc thống nhất nhưng chưa được năm năm đã mất.
Phải đợi đến lúc có vụ binh biến Trần Kiều do hai anh em ông Triệu Khuông Dận và Triệu Khuông Nghĩa (hai đứa trẻ Trần Đoàn gặp trước đây nay lớn lên) cầm đầu đánh dẹp nốt các phương chấn bấy giờ đại nghiệp thống nhất mới hoàn thành.
Khi nghe tin Triệu Khuông Dận là Tống Thái Tổ thì Trần Đoàn đang ngồi trên lưng lừa ngửa mặt cười ra rả nói: “Thiên hạ thái bình rồi”.
Về sau, Tống Thái Tôn tức Triệu Khuông Nghĩa có cho người vời Trần Đoàn ra làm quan nhưng ông từ chối, bỏ vào núi đi mất không ai biết ở đâu.
Gốc thông hỏi chú học trò
Rằng thầy hái thuộc lò mò đi xa
Chỉ trong dẫy núi đây mà
Mây che mù mịt biết là nơi nao
(Tản Đà dịch thơ Giả Đào bài Tầm ấn giả bất ngộ).
Gốc gác khoa Tử Vi có tự bao giờ?
Không ai rõ chỉ biết đời nhà Gia Tĩnh thuộc Minh triều có lưu truyền cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tựa ở đầu nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.
Bài tựa viết như sau:
“Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.
Tôi vì muốn biết nên đã tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa cho tôi cuốn sách mà bảo: “Đây là Tử vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh”.
Mang về mở ra xem, ban đầu các sao nghĩa lý thật ảo diệu nhưng càng đọc càng thấy lời bàn luận sắc đáng, đem ra đoán thử thấy lời đoán rất thần nghiệm, càng học càng thấy hay lạ. Bất giác phải kêu lên: “Tạo hoá chí huyền chí hư mà soi sáng được đến thế này, nếu con tâm bậc đại hiền không nhập vào với tạo hoá thì làm sao biết nổi. Tinh tú ở xa muôn triệu dậm mà tính hết vào trong một bàn tay, nếu bậc đại hiền không phải là người hung tàng tinh đẩu (trong ngực có tinh đẩu) thì làm sao tính nổi. Ngôi trời ở trên, ngôi đất ở dưới, loài người đứng giữa. Hi Di tiên sinh đã tìm được lẽ con người thiên hợp và lẽ trời nhân hợp qua sự biến hoá của các vi tinh đẩu để tính ra số mệnh hay dở của từng người, nếu không có cái học quán thiên nhân thì ai làm nổi. Hi Di tiên sinh xứng đáng là một bậc cao nhân, một thần nhân vậy.
Bởi thế tôi muốn đem những lời dạy của Hi Di Tiên Sinh phổ biến cho khắp thiên hạ trong cõi thế gian thấp kém này được hiểu cuộc đời là có mệnh số”.
Cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn do La Hồng Tiên biên soạn chia làm 4 tập:
Tập một và tập ba nói về tính chất ảnh hưởng các sao, các cung vào vận, vào mệnh con người qua các chương: Thái vi phú – Hình tinh phú – Tinh viên luận - Đẩu số chuẩn thắng - Tục hình tinh phú – Phát vi luận - Đẩu số cốt tủy chú giải - Nữ mệnh cốt tủy phú chú giải - Định phú quí bần tiện thập thập đẳng luận – Thập nhị cung chư tinh thất hãm quyết – Chư tinh đắc địa phú quí luận – Chư tinh thất hãm bần tiện luận - Định phú cục - Định quí cục - Định bần tiện cục - Định tạp cục – Đàm tinh yếu luận – Luận nhân mệnh nhập cách - Luận cách tinh số cao hạ - Luận nhân tính cách hà như - Luận nam nữ mệnh đồng dị - Luận tiểu nhi mệnh - Định tiểu nhi thời sinh quyết - Luận nhân sinh thời an mệnh cát hung - Luận tiểu nhi khắc phụ mẫu - Luận mệnh tiền bần hậu phú - Luận đại hạn thập niên họa phúc hà như - Luận nhi hạn thái tuế cát hung - Luận hành hạn phân nam bắc đẩu – Luận lưu niên thái tuế cát hung tinh sát - Luận kinh đà diệt tính - Luận thất sát trùng phùng - Luận đại tiểu hạn tinh thần quá thập nhị cung ngộ thập nhị chi sở kỵ quyết - Luận lập mệnh hành hạn cung ca - Luận thái tuế tinh thần miếu hãm ngộ thập nhi cung cát hung - Luận chư tinh đồng vị viên các tư sở nghi phân biệt phú quí bần tiện yểu thọ.
Tập hai dạy cách lấy số an các sao.
Tập bốn là những lá số của các danh nhân, thường nhân với lời phê.
Về tập hai tức cách an sao lập thành lá số thiết tưởng đã có nhiều sách làm kỹ càng rồi nên ở đây xin bỏ qua tập đó, chỉ nói một vài dị biệt giữa Tử Vi đẩu số toàn thư của Trần Đoàn với những sách Tử Vi ở nước ta. Tập một và tập ba cần chú ý hơn hết, chúng tôi sẽ dịch nguyên văn kèm theo lời bình và chú thích. Dùng chữ bình, chúng tôi tự thấy có vẻ hơi lạm thực ra chỉ là những thắc mắc mà chúng tôi tìm thấy đó thôi. Nhưng chúng tôi sẽ không dịch nguyên văn toàn bộ vì có nhiều điều lập đi lập lại hoặc do mất chữ trở thành vô nghĩa. Đồng thời, chúng tôi cũng đưa thêm vào ít khám phá mới của vài tác giả như Trương Huy Văn với các cuốn “Tử Vi Xiển Vi”, “Tử Vi phát bí”, như “Vô Muộn” với cuốn “Đẩu số mệnh lý tân biên”. Tuy nhiên, chúng tôi cố gắng không để rơi lọt một tinh hoa nào của khoa Tử Vi có ghi trong sách Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn tiên sinh.
NHỮNG THUẬT NGỮ CẦN BIẾT
Bất cứ nghề gì cũng có thuật ngữ, người thợ sửa xe hơi có những tiếng như “pan nóng”, “pan nguội”, “súp bắp”, “đen cô”... Thuật ngữ để chỉ dụng cụ hay tình trạng.
Khoa Tử Vi đẩu số, chữ đẩu đây nghĩa là ngôi sao cho nên tên sao và tính chất sao cùng với sự kết hợp các sao lại thành từng chùm mang những thuật ngữ riêng biệt.
Tử Vi đẩu số có bao nhiêu sao tất cả?
Ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ thấy nhóm sao chính là 14 vị: Tử Vi – Thiên Cơ – Thái Dương – Vũ Khúc – Thiên Đồng – Liêm Trinh – Thiên Phủ - Thái Âm – Tham Lang – Cự Môn – Thiên Tướng – Thiên Lương - Thất Sát – Phá Quân
Sau đây là các phụ tinh như: Văn Xương – Văn Khúc - Tả Phụ - Hữu Bật – Thiên Khôi – Thiên Việt – Thiên Mã - Lộc Tồn – Kình Dương – Đà La - Hỏa Tinh – Linh Tinh – Hoá Quyền – Hoá Lộc – Hoá Khoa – Hoá Kỵ - Thiên Không - Địa Kiếp – Thiên Thương – Thiên Sứ - Thiên Đức – Nguyệt Đức – Long Trì - Phượng Các – Thai Phụ - Phong Các - Hồng Loan – Thiên Hỉ - Tam Thai – Bát Tọa – Thiên Hình – Thiên Diêu - Đẩu Quân.
Rồi đến chòm sao đi theo Thái Tuế, chòm sao đi theo Lộc Tồn, chòm sao Tràng Sinh. Mỗi chòm 12 vị:
Rồi đến Triệt lộ không vong và Tuần trung không vong cộng lại là 85 vị.
Nhưng sách Tử Vi ở Việt Nam do tổ tiên chúng ta truyền lại thì thấy có thêm nhiều sao khác không ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư của Trần Đoàn như các sao: Đào Hoa – Thiên Tài – Thiên Thọ - Phá Toái – Kiếp Sát – Thiên Y – Thiên Trù – Thiên Giải - Địa Giải - Giải Thần - Địa Không – Ân Quang – Thiên Quí – Cô Thần - Quả Tú – Lưu Hà – Thiên Quan – Quí Nhân – Thiên Phúc.
Tổng cộng lại là 104 vị.
Các cụ đã căn cứ vào đâu mà thêm vào không hiểu hoặc giả sách Tử Vi đẩu số toàn thư chính bản đã sang bên ta, nên bản lưu bên chính quốc bị ghi chép thiếu sót. Nếu vậy, tại sao không có những lời giải rõ ràng về các sao: Giải Thần - Địa Giải – Thiên Trù – Thiên Giải mà chỉ có vài lời nghe thật gượng ép. Trừ sao Đào Hoa thì có thể nói Tử Vi đẩu số toàn thư bị thiếu, vì sao này rất quan trọng trong phép tính số Tử Bình và cách an sao không khác phép tính số Tử Vi.
Tính (sao) còn gọi là Diệu. Ví dụ 14 sao thuộc chòm Tử Vi Thiên Phủ là chính diệu (sao chính) nếu cung mệnh không có sao chính thì gọi là mệnh vô chính diệu.
Sách đẩu số mệnh lý cho rằng: Tả Phụ - Hữu Bật – Văn Xương – Văn Khúc - Lộc Tồn cũng là chính tinh nữa. Còn cổ truyền khoa Tử Vi của ta thì căn cứ vào Tử Vi đẩu số toàn thư nên chỉ có 14 vị là chính tinh mà thôi.
Các sao: Kình Dương – Đà La - Hỏa Tinh – Linh Tinh – Thiên Khôi – Thiên Việt gọi là Thiên diệu.
Hoá Lộc – Hoá Quyền – Hoá Khoa – Hoá Kỵ gọi là hoá diệu hay tứ hoá.
Ngoài ra các sao khác là tạp diệu.
Lại có những tên gọi riêng như Tứ Cát (bốn sao tốt) là Lộc, Quí (gồm Khôi Việt), Quyền, Khoa.
Tứ hung hay tứ sát (bốn sao hung) là Hỏa, Linh, Dương, Đà.
Những sao đi đôi, đi cặp là: Tử Phủ (hay Tử Vi – Thiên Phủ), Tử - Tướng, Phủ - Tướng, Nhật - Nguyệt, Tả - Hữu, Xương – Khúc, Không - Kiếp, Hỏa – Linh, Dương – Đà, Khôi - Việt.
- Tam hợp là gì?
Mỗi lá số tử vi có 12 cung theo 12 chi, mỗi cung khi tính sao được tính theo tam hợp tức là hội các sao của 3 cung lại. Ba cung nào? Phải theo nguyên tắc sau: Thân Tý Thìn, Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất.
- Lục xung là gì?
Tý - Ngọ xung, Sửu – Mùi xung, Dần – Thân xung, Mão - Dậu xung, Thìn - Tuất xung, Tị - Hợi xung.
- Thủ đồng là gì?
Một chính tinh đóng ở mệnh cung là thủ mệnh. Hai chính tinh đóng ở mệnh là đồng cung hoặc đóng ở các cung khác cũng vậy.
- Lâm - Nhập là gì?
Hai chữ trên mang cùng một nghĩa, nhưng sao tốt đóng ở đâu gọi là Lâm, sao xấu đóng ở đâu gọi là nhập.
- Miếu – Hãm là gì?
Mỗi sao cần phải đứng tại vị trí đúng chỗ của nó, đứng sai chỗ gọi là Hãm, đứng đúng chỗ gọi là Miếu. Còn có những danh từ khác chỉ sự đúng chỗ như vượng địa, đắc địa, tuy nhiên miếu địa vẫn là nhất. Đúng chỗ mới lợi, sai chỗ vô ích hoặc bất lợi, Ví dụ: vua Văn Vương bị bắt giam trong tù, Tỉ Can đi thờ vua Trụ.
- Tọa - Cứ là gì?
Tọa chỉ sao tốt ngồi tại cung nào.
Cứ tức chiếm cứ chỉ sao xấu xâm nhập tại cung nào.
- Bản phương - Hợp phương – Lân phương là gì?
Bản phương là cung chủ yếu ta căn cứ vào đó để tính. Ví dụ: Mệnh ở cung Mão thì Hợp phương theo tam hợp thì có Hợi và Mùi.
Còn lân phương là cung bên cạnh. Ví dụ: Thìn và Dần là lân phương của Mão.
- Triều và xung là gì?
Sao tốt đóng tại cung khác theo tam hợp và chiếu hướng về cung chủ yếu gọi là Triều. Sao xấu cùng một trường hợp trên gọi là Xung. Riêng sao Thái Âm, Thái Dương không dùng chữ Triều mà dùng chữ Chiếu. Riêng sao Lộc Tồn và Hoá Lộc không dùng chữ Triều mà dùng chữ Củng.
- Giáp - Chiếu - Hiệp là gì?
Các sao tốt đóng hai cung bên cạnh cung mệnh (lân phương) gọi là Giáp.
Ví dụ: giáp Nhật - Nguyệt, giáp Tả - Hữu
Chiếu là sao ở cung đối xung ảnh hưởng tới, ví dụ: Ngọ chiếu Tị, Dậu chiếu Mão hoặc ngược lại.
Về câu: “Chính không bằng Chiếu, Chiếu không bằng Giáp” không thể áp dụng cho bất cứ sao nào.
Ví dụ: Thái Âm, Thái Dương cần Chiếu, Tả Phụ, Hữu Bật cần Giáp.
TỨ YẾU - THẬP DỤ - BÁT PHÁP
Các sao phân phối đóng tại 12 cung, biến hoá vô cùng. Có bốn điểm trọng yếu để phân biệt:
a). Cát hung – b). Hư thực – c). Chủ khách – d). Cường nhược.
Sao có sao thiện, sao ác, thiện là cát tinh, ác là hung tinh. Hung hay cát không phải chỉ căn cứ trên tính chất mỗi vị sao mà còn căn cứ trên chỗ đứng của nó đúng hay sai, miếu địa hay hãm địa.
Hư thực thế nào? Sao tốt làm miếu địa mới là thực cát, thực cát thì không hung dù gặp hung cũng chẳng sợ. Sao xấu rơi vào hãm địa mới là thực hung, thực hung thì không cát, dù gặp cát cũng khó lòng giải. Sao tốt ở hãm địa là hư cát, hư cát là không tốt, còn có thể biến cát thành hung. Sao xấu ở miếu địa là hư hung, hư hung là không hung, còn có thể biến hung thành cát.
- Chia chủ khách ra sao?
Lấy các sao ở bản phương làm chủ, các sao tại cung tam hợp hay xung chiếu là khách. Nếu như bản phương không có chính tinh tức không có chủ thì phải mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ, các sao cung tam hợp làm khách. Trong trường hợp cả hai cung xung chiếu cung vô chính tinh thì chỉ lấy sao khách mà luận cát hung.
Cường nhược đây ý nói cường nhược trong tương quan chủ khách. Khách với chủ đều tốt là khách chủ tương đắc hay khách chủ đều xấu là một bầy bạo nguợc thì khỏi phải đặt vấn đề cường nhược. Chủ khách vừa hung vừa cát thì phải xét chủ mạnh hay khách mạnh. Nếu chủ mạnh thì khách theo chủ, nếu chủ yếu thì khách kéo chủ đi. Cát cường cát thắng, hung cường hung thắng.
Thập dụ là gì? Là mười điều căn bản cho việc xem số ở mỗi cung cùng với cát cung tam hợp và cung xung chiếu:
1). Bản phương tốt (cát) “do nội tự cường” mạnh từ bên trong mạnh ra.
2). Bản phương xấu (hung) là “tòng căn tự phát” hư từ gốc rễ.
3). Cung xung chiếu tốt là “nghênh xuân tiếp phúc” chờ xuân đón phúc.
4). Cung xung chiếu xấu là “đương đẩu ác bổng” giơ đầu chịu búa đập.
5). Cung tam hợp tốt là “tả hữu phùng nguyên”, lắm chân tay giúp đỡ.
6). Cung tam hợp xấu là “tả hữu thụ địch”, địch từ bên phải, bên trái đánh tới.
7). Lân phương (cung đằng trước đằng sau) tốt là “lưỡng lân tương phù” hai bên hàng xóm phù trợ.
8). Lân phương xấu là “lưỡng lân tương vũ, hai bên hàng xóm mưu hại.
9). Cả bốn cung cùng tốt là “ Thiên tường vân tập” mây ngũ sắc kéo về chầu.
10). Cả bốn cung cùng xấu là “tứ diện sở ca” bị vây tứ phía không lối thoát.
Bát pháp là tám lối định cách cục khi xem sổ. Mệnh ai cũng thế, đều có cách cục ví như hình vuông, hình tròn, to, nhỏ, đẹp, xấu, lành vỡ của đồ vật. Cách cục của mệnh nói cho hết thì nhiều vô cùng nhưng đây dùng lối quy nạp để đưa thành tám lối. Chia ra như sau:
A. Thành phá tứ pháp:
Phàm mệnh thân bản phương có sao tốt gặp các sao khác ở cung tam hợp và xung chiếu nếu gặp:
- Khoa Quyền Lộc Quí thì kể như cách cục thành, đáng phê mấy chữ “giao long đắc vận vũ” (con rồng gặp mây nước).
- Nếu gặp tứ hung Hỏa Linh, Dương Đà thì kể như phá cách loại “miêu nhi bất tú” (chỉ nẩy mầm mà mầm không xanh tốt).
- Nếu vừa gặp tứ hung lẫn tứ cát thì kể như trong thành có phá, chẳng khác chi “bạch khuê hữu điềm” (viên ngọc trắng bị vết nứt, vết mẻ).
Cả tứ hung lẫn tứ cát đều không thì kể là cách chưa thành nhưng không bị phá, chờ xem hạn ra sao giống như “hỗn kim phác ngọc” (vàng còn lẫn các khoáng chất tạp nhạp, ngọc chưa được lấy ra khỏi đá).
B. Cửu khí tứ pháp:
Phàm mệnh thân cung mà các cung xung chiếu tam hợp đều có hung nếu:
- Gặp Lộc Quí Quyền Khoa là cứu cách, hạn hán lâu ngày được cơn mưa “cửu hạn phùng cam vũ”.
- Gặp Hỏa Linh Dương Đà là khí cách (bỏ đi), cây gỗ mục không thể khắc đẽo làm gì được “hử mộc nan điêu”.
- Gặp vừa tứ cát vừa tứ hung là vừa cứu vừa khí cách, giống như ăn gân gà “thực kê lặc”.
- Không gặp cả tứ cát lẫn tứ hung là cách “thủ tàu bão khuyết” nấn ná đợi thời.
CHƯ TINH VẤN ĐÁP LUẬN
Các sao trong Tử Vi đẩu số chia làm 3 loại: Thiện cát, hung ác, và hoà giải. Tuy nhiên, đừng quên rằng sự sắp xếp vị trí của sao trong lá số mới quan trọng về cát hung chứ không phải chỉ căn cứ vào bản chất cố hữu của từng sao vì như đã nói ở trên dịch lý là biến, biến cát thành hung, hung thành cát tùy theo mỗi sao ở miếu hay hãm địa.
Sách có câu: “Cát tinh nhập miếu tắc vi cát, hung tinh thất địa tắt vi hung” là nghĩa vậy. Tất sẽ có người thắc mắc hỏi: “Nếu phải chờ miếu hãm rồi mới định cát hung, rồi hung biến cát, cát biến hung thì còn phân định sao thiện cát, hung ác làm gì cho rắc rối?”.
Người xưa giảng rằng: “Bản chất cố hữu của sao rất cần, nếu ta luận nó qua quan niệm “tính mệnh” tính thế nào, mệnh sẽ do tính mà thành. Người có nhiều hung tinh mà vinh hiển thường vất vả, gian nan. Người có nhiều cát tinh thường đến với vinh hiển dễ dãi hơn, từ từ và chắc chắn, trong khi hung tinh đắc cách phát dã như lôi, lên như sấm sét thật đấy nhưng cũng phải vượt nhiều hiểm nguy.
Xét vị trí xong rồi, điểm quan trọng thứ hai là tìm hiểu những sao bạn đi cặp với sao chủ. Bạn hư chủ hỏng.
Về khả năng hoá giải cả sao hung lẫn sao cát đều có. Nhưng sao cát thường ở vai trò này nhiều hơn sao hung. Một khi sao hung đã được giao phó nhiệm vụ hoá giải, nó sẽ thi hành triệt để hơn sao cát.
Do những lẽ kể trên, khi luận về các sao phải lưu ý nhiều mặt chỉ sơ một ly sẽ sai đi một dặm.
Tử Vi khác với Tử Bình, ở chỗ cái lý nó tản mạn không có nguyên tắc nhất định, dĩ nhiên, nếu bây giờ được ông Hi Di Trần Đoàn mà nói chuyện trực tiếp thì nguyên tắc nhất định kia tất phải có. Chỉ vì nó tam sao thất bản mất mát hay bị bí truyền nên mất đi đó thôi. Bởi thế xem Tử Bình chỉ cần thuộc lý ngũ hành cho chắc rồi cứ thế luận ra.
Còn xem Tử Vi thì lý ngũ hành không tìm thấy mấu chốt vững chắc để làm cơ sở luận bàn cho nên phải thuộc từng sao, từng cung, sao nào ở chỗ nào, nếu hãm, đắc địa, bất đắc địa để hạ đoán.
Ví dụ: trong chương “Đẩu cốt số tủy phú” quyển I của Tử Vi đẩu số toàn thư có câu: “Tham Vũ mộ trung cư, tam thập tải phát phúc” nghĩa là: Sao Tham lang, Vũ khúc đóng tại mộ địa (Thìn Tuất Sửu Mùi) ở mệnh cung thì ngoài ba mươi tuổi mới phát.
Rồi ở dưới lại thấy có câu giảng rằng:
“Tham vũ bất phát thiếu niên nhân” (Sao Tham Vũ đi đôi, tuổi thiếu niên không phát được).
Câu phú trên đây dùng lý ngũ hành âm dương nào mà giảng nếu không nắm được cái nguyên lý ngũ hành đã mang ra áp dụng riêng cho khoa này. Mà cái nguyên lý ấy cho đến nay vẫn chưa thấy ai làm sách giảng ra, sở dĩ như vậy là vì nguồn gốc của nó bị thất lạc rồi. Rút cuộc đoán số trước sau Tử Vi chỉ có một chỗ bám vững chắc nhất là các câu phú và những định lý làm sẵn. Có thể ví như định lý tất cả mọi vật đều rơi xuống mà không có lời giảng nguyên nhân rơi xuống của mọi vật là sức hút của trái đất.
Dưới đây là tính chất của các sao cùng các cung miếu hãm của mỗi sao ghi trong các chương “Chư tinh vấn đáp luận”.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
|
| Người tuổi Mùi có năm sinh là 1967, 1979, 1991... |
Vốn kín đáo trong suy nghĩ và cả trong việc bộc lộ cảm xúc nên mọi người khó có thể nắm bắt được tâm lý của người tuổi Mùi. Khả năng tự kiềm chế tốt giúp họ có được những thuận lợi nhất định trong giao tiếp.
Bên cạnh đó, người cầm tinh con dê còn có tính tình hiền lành, ôn hòa. Nếu cộng sự hay cấp trên của họ là người mạnh mẽ, nghiêm khắc thì họ vẫn có thể phát huy được hết khả năng của mình. Biết cách tạo môi trường làm việc hài hòa là ưu điềm của người tuổi Mùi và vì thế họ thường nhận được sự giúp đỡ của đồng nghiệp.
Không chỉ có tài tổng hợp, họ còn là người có óc phân tích, luôn biết cách nhìn nhận vấn đề, sự việc một cách tỷ mỉ. Đây là một ưu điểm mà không phải ai cũng có được.
Dễ tin người cũng là nét tính cách dễ thấy ở những người tuổi Mùi. Trong cuộc sống hay làm ăn kinh doanh, không ít lần họ bị kẻ xấu lừa gạt. Lời khuyên cho họ là nên tránh đảm nhiệm những công việc cần có sự can thiệp của nhiều người, nhất là công việc đầu tư tiền tệ. Tuy nhiên, nếu được sự bảo trợ của một ai đó thì họ rất dễ thành công với hoạt động đầu tư bất động sản hoặc chứng khoán.
Xét một cách toàn diện, tuổi Mùi thường có cuộc sống bình lặng, ổn định. Tuy không phải ai cũng có thể trở nên giàu có nhưng ít người tuổi Mùi phải vất vả, lo lắng tới việc mưu sinh. Con đường sự nghiệp của họ phát triển khá ổn định và vững chắc.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp cuộc đời)
1) Khoa Tử – Vi bị Âm Dương hóa và Ngũ hành hóa
a) Về tuổi có tuổi Âm, tuổi Dương. Vì tuổi gồm 2 yếu tố Can và Chi, nên Can, Chi cũng bị Âm Dương hóa. Chẳng hạn như:
- Dương gồm 5 can: Giáp, Bính, Mậu, Danh, Nhâm, và 6 chi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
- Âm gồm có 5 can: Ất, Đinh, Kỷ, Tây, Quý, và 6 chi: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi.
Mỗi tuổi có một hành riêng như Giáp Tý, Ất Sửu thuộc hành Kim, Bính Dần, Đinh Mão thuộc hành Hỏa v.v…
b) Ngày, tháng, giờ cũng có can, chi riêng. Ví dụ sinh vào ngày 8 tháng 8 giờ Dần thì là ngày Tân Sửu, tháng Mậu Thân, giờ Canh Dần. Như vậy, ngày sinh này cũng có cả Âm Dương Ngũ Hành pha trộn nhau.
c) Cục cũng có hành riêng. Vì mỗi hành trấn ngự một số cung và theo một phương hướng riêng, nên hành của cục cũng bị qui tắc ngũ hành chi phối.
d) Mệnh của mỗi người đóng một cung được Âm Dương hóa. Ví dụ ở cung Dần là Dương, Mão là Âm, cả 2 thuộc Mộc.
e) Chính tinh và Trợ tinh, mỗi sao có một hành riêng. Ví dụ cung Mệnh ở Dần (Dương Mộc) có Liêm Trinh (Hỏa) tọa thủ thì sẽ gặp sự chi phố của cung Dương Mộc đối với sao Hỏa này.
2) Tương quan quá ư phức tạp giữa các đối tượng của hệ thống Âm Dương Ngũ Hành
Sự kiện năm tháng ngày giờ, can, chi, mệnh, cục, chính tinh, phụ tinh và các cung bị Âm Dương và Ngũ hành chi phối đồng loạt đã gây lên một hệ thống tương quan phức tạp giữa các đối tượng. Điều này làm cho người giải đoán Tử – Vi lâm vào một mê hồn trận hầu như không có lối thoát.
Thật vậy, người ta thấy ít nhất phải có sự cân nhắc giữa các chiều hướng chi phối sau:
- Sự chi phối giữa Bản Mệnh và Cục về mặt ngũ hành.
- Sự chi phối giữa tuổi Dương, tuổi Âm đối với Mệnh ở Dương hay Âm cung.
- Sự chi phối giữa cung an Mệnh với chính tinh thủ Mệnh. Trong trường hợp chính tinh thủ Mệnh có 2 ngôi khác hành nhau, sự chi phối càng thêm phức tạp.
- Sự chi phố giữa chính tinh thủ mệnh và hành của Bản Mệnh.
- Sự chi phối giữa chính tinh và phụ tinh thủ Mệnh với hành của cung an Mệnh.
Đó là chưa kể các sự chi phối của cung Phúc Đức. Cung này được xem như rất quan trọng vì có hiệu lực chi phối trên 2 cung khác.
Nếu phải quan tâm cân nhắc tất cả các mối liên hệ chằng chịt đó, sự luận đoán chắc chắn sẽ rơi vào chỗ võ đoán, vì không có một nguyên tắc nào ưu thắng: tất cả đều có tầm quan trọng hầu như ngang nhau. Mỗi yếu tố chi phối là hàm số của yếu tố khác. Thành thử, ta có một hệ thống hàm số vô cùng phức tạp đến nỗi khó lòng tìm được một phương trình chung. Điều này làm cho khoa Tử – Vi tối nghĩa, khó hiểu, làm giảm đi giá trị của môn học này. Cho đến nay, chưa thấy sách vở nào khai phá được phương trình hàm số bách biến đó. Nếu chỉ tìm được một phương trình tổng quát thì sự luận đoán không cụ thể, làm giảm giá trị khoa bói toán.
Tuy nhiên, dù không tìm được phương trình bách biến đó, ta vẫn có thể suy diễn được vài nguyên tắc căn bản hướng dẫn việc luận đoán.
a) Quan trọng nhất là qui luật Âm Dương
Theo đúng lý thuyết thì 2 khí Âm Dương là động cơ nguyên thủy phát sinh ra 4 mùa và 5 hành. Luật biến hóa của Âm Dương thế thất phải quan trọng hơn luật biến hóa của ngũ hành. Nói khác đi, luật biến hóa của ngũ hành là luật nhỏ, bị đóng khung trong qui luật Âm Dương. Điểm này có nhiều hệ luận trong khoa Tử – Vi.
- Mệnh ai tương hợp với luật Âm Dương thì lợi lộc hơn. Chẳng hạn con trai có tuổi Dương, mệnh đóng ở cung Dương, sinh vào ban ngày (thời gian ảnh hưởng của Thái Dương), được các dương tinh tọa thủ, sẽ có nhiều tương hợp thuận lý, lợi cho lá số.
- Hai sao Thái Âm và Thái Dương càng sáng sủa thì càng đắc cách. Thái Dương biểu tượng cho bên nội, cho cha, cho chồng, Thái Âm biểu tượng cho bên ngoại, cho mẹ, cho vợ. Hai sao Nhật Nguyệt mà sáng sủa thì nguyên lý Âm Dương tương thuận: đương số sẽ ảnh hưởng được dương phúc và âm phúc của 2 giòng họ, của cha và mẹ, của vợ và chồng, chưa kể ảnh hưởng tốt đẹp đến con trai, con gái. Như vậy, tác dụng của Âm Dương có tính cách di truyền khá mạnh và khá rộng. Vì vậy, quan niệm người xưa cho rằng qui tắc Âm Dương mà thuận lợi thì nhân sinh quan của đương số sẽ hương vượng. Như thế, ý niệm phúc đức nhân sinh liên hệ chặt chẽ với ý niệm tương thuận của nguyên lý Âm Dương của vũ trụ. Nhân sinh quan và vũ trụ quan liên đới mật thiết với nhau. Phần phúc đức của con người gắn liền với sự tương hợp của yếu tố Âm Dương trong vũ trụ. Có lẽ hàm số hạnh phúc nhân loại tùy thuộc vào biến số hợp vị của nguyên lý vũ trụ này.
b) Qui luật ngũ hành quan trọng nhì
Ngũ Hành là hậu quả của sự tác hóa Âm Dương, giống như cái ngọn phát sinh từ cái gốc. Do đó, qui luật ngũ hành tất phải kém quan trọng hơn qui luật Âm Dương.
Sự đi đôi của Âm Dương và Ngũ Hành được thể hiện trong hầu hết các sao, nhất là chính tinh. Ví dụ như Thái Dương là Dương tinh thuộc hành Hỏa, Phá quân là Âm tinh thuộc hành thủy, Văn Xương là Dương tinh hành Kim.
Nhưng, có một số lớn phụ tinh có ngũ hành mà lại thiếu Âm Dương. Ví dụ như Địa không, Địa kiếp không có Âm Dương mà chỉ có hành Hỏa. Chưa có tác giả nào cắt nghĩa được sự thiếu sót này. Chính sự thiếu sót này đã mâu thuẫn với lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành song đôi. Thật vậy, Ngũ Hành không tự sinh mà phải thoát thai từ Âm Dương, cho nên Ngũ Hành là phải có Âm Dương đi kèm. Không hiểu tại sao Trần Đoàn lại bỏ sót việc Âm Dương hóa một phụ tinh. Phải chăng, các tác giả hậu sinh đã bỏ sót?
Dù sao sự thiếu sót đó làm cho lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành chưa được hoàn bị. Vấn đề đặt ra là, về mặt thực dụng, sự thiếu sót đó có di lụy nào cho việc giải đoán?
Trước hết, ta thiếu yếu tố để cân nhắc tinh vi.
Thứ đến mà ta không đối chiếu được 2 loại sao có và không có Âm Dương tinh. Chung cuộc chỉ còn các xét các sao về mặt ngũ hành mà thôi, tức là phải bỏ gốc xét ngọn, dù biết đó là một thiếu sót.
Riêng về mặt ngũ hành, qui tắc chi phối giữa các sao vẫn là qui tắc lý thuyết. Qui tắc này gồm 5 điểm:
- Hai Hành kế tiếp nhau thì tương sinh.
Thứ tự kế tiếp là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Như vậy, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy và Thủy sinh Mộc.
- Hai hành đứng cách nhau một hành thì tương khắc.
Như thế Mộc khắc Thổ, Hỏa khắc Kim, Thổ khắc Thủy, Kim khắc Mộc.
- Sự tương sinh hay tương khắc chỉ theo một chiều.*
Cụ thể là Mộc sinh Hỏa chớ hỏa không sinh Mộc, Kim khắc Mộc chứ Mộc chẳng khắc được Kim. Không khắc được dĩ nhiên không có nghĩa là sinh. Trong việc sinh khắc, co một hành tích cực (sinh, khắc) và một hành tiêu cực (được sinh, bị khắc).
- Hành sinh tiêu cực được lợi hơn
Mộc sinh Hỏa thì Hỏa được phù trợ, trong khi Mộc bị hao tán.
- Hành khắc tích cực ưu thế hơn
Kim khắc Mộc vị tất Kim phải ưu thắng, Mộc bị thiệt.
Nói theo nhãn quan Tử – Vi thì ngũ hành các sao càng tương sinh nhiều thì càng lợi cho người đó. Ngược lại, nếu có nhiều tương khắc thì càng bất lợi.
c) Tương thuận, tương nghịch giữa Âm Dương và Ngũ Hành
Qui luật sinh khắc giữa các sao về Âm Dương Ngũ Hành rất phức tạp. Càng có nhiều sao can dự, càng rắc rối. Sự sinh khắc qua lại giữa nhiều sao chắc chắn đưa đến một mê hồn trận cho người giải đoán, nhất là khi chúng ta chưa tìm được công thức phức tạp về sinh khắc.
Đây là một sự phức tạp cố hữu, không thể giản lược. Mọi nỗ lực giản dị hóa đều bao hàm nhiều sai số. Cho nên, tuy ta không tìm được công thức sinh khắc chung, chúng ta cũng sẽ không thể giản dị hóa qui luật sinh khắc. Nhưng, có thể có 4 trường hợp sinh khắc tổng quát, giản dị nhất giữa 2 sao, về mặt Âm Dương lẫn Ngũ Hành. Đó là các trường hợp:
- Thuận Âm Dương, thuận Ngũ Hành.
- Nghịch Âm Dương, nghịch Ngũ Hành.
- Thuận Âm Dương, nghịch Ngũ Hành.
- Nghịch Âm Dương, thuận Ngũ Hành.
Nếu chỉ căn cứ vào đó mà đánh giá hay dở, thì trường hợp đầu tiên là lý tưởng nhất. Hai trường hợp sau lợi hại tương đương. Nhưng tác giả cho rằng trường hợp thứ 3 (thuận Âm Dương, nghịch Ngũ Hành) tương đối tốt hơn trường hợp chót. Dự đánh giá đó căn cứ vào thứ tự ưu tiên chi phối của Âm Dương trên ưu tiên chi phối của Ngũ Hành.
Tác giả không tìm được công thức cho 3 sao trở lên.
d) Ngũ hành của chính tinh với phụ tinh
Tử – Vi học chi thành chính tinh và phụ tinh. Tính chất chính hay phụ, tự nó quyết định thứ tự quan trọng rồi: chính tinh phải xem như quan trọng hơn phụ tinh.
Vì vậy, về mặt ngũ hành, theo thiển ý hành của chính tinh phải trội yếu hơn hành của phụ tinh. Trong trường hợp có tương khắc, phải đánh giá sự hay dở theo thứ tự quan trọng đó.
Nếu 1 phụ tinh khắc hành với chính tinh, sự khắc chế này không quan trọng lắm. Nhưng, nếu 1 trong cung có quá nhiều phụ tinh khắc hành với chính tinh, thì chính diệu này bị nghịch cảnh lớn. Rất khó xác định số lượng phụ tinh trong trường hợp này.
e) Ngũ hành của các cung và sao
Cung là môi trường sinh trưởng của sao. Vì vậy, hành của cung ảnh hưởng trực tiếp đến hành của sao. Theo thiển ý, hành cung quan trọng hơn hành sao, vì làm cho hành sao tăng hay giảm giá trị. Chẳng hạn sao Hỏa đóng ở cung Thủy sẽ mất nhiều tác dụng. Ngược lại, sao Hỏa đóng cung Mộc sẽ thịnh hơn. Giữa cung và sao chỉ có tác dụng bị ảnh hưởng: không có sự chi phối ngược lại.
Nếu đi tìm một hình ảnh, thì cung ví như đất, sao ví như cây cối. Đất xấu làm cây xấy, đất tốt sinh cây tốt.
Vì vậy, hành của cung rất quan trọng và quan trọng hơn hành sao vì chi phối vào hành sao theo một chiều nhất định. Việc luận đoán Tử – Vi không nên bỏ qua yếu tố này.
Ngũ hành của cung được quy định như sau:
- Cung Mộc ở 2 ô Dần và Mão.
- Cung Hỏa ở 2 ô Tỵ và Ngọ.
- Cung Kim ở 2 ô Thân và Dậu.
- Cung Thủy ở 2 ô Hợi và Tý.
- Cung Thổ ở 4 ô Thìn, Tuất, Sửu và Mùi.
Chỉ riêng Thổ chiếm đến 4 cung và xen kẽ với các cung khác Hành.
f) Vị trí quan trọng của cung hành Thổ
Trong khi mỗi hành Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, Thổ chiếm 2 cung liền nhau thì hành Thổ chiếm 4 cung, mà vị trí ở xen kẽ 2 cung khác hành.
Sự bố trí này dường như bắt nguồn từ quan niệm cho rằng đất ở rải rắc khắp nơi và chứa đựng 4 nguyên hành khác. Theo Đổng Trọng Thư thì “Thổ ở giữa gọi là Thiên nhuận. Thổ là chân tay của Trời, đức là Thổ tươi tốt không thể dựa vào công việc riêng của một mùa mà mệnh danh cho Thổ được: cho nên có ngũ hành mà chỉ có Tứ Thời là vì Thổ kiêm cả Từ Thời”.
Bốn cung Thổ được gọi là 4 cung Mộ (hay Tứ Mô hoặc Tứ Quí) đệm ở giữa 2 hành tương sinh. Theo Nguyễn Mạnh Bào thì trong khoảng 2 hành sinh nhau lại có Tứ Quí thuộc Thổ, tức con đệm ở trong để dung hòa đều đặn, tránh những gì quá sức động mà có hại cho sự sinh tồn”.
Có tác giả dựa vào đó mà cho rằng người nào cung Mệnh an tại Tứ mộ là có thiên phước, được dành cho chỗ vừa ý, lại có tính đảm đang, thích ứng được với nhiều hoàn cảnh. Tuy nhiên, nhận định hãy còn nhiều phiến diện và tổng quát, chưa hẳn có giá trị quyết định.
g) Tương quan giữa Mệnh, chính tinh thú Mệnh và cung an Mệnh
Trên mặt ngũ hành phải đặc biệt quan tâm đến tương quan giữa 3 yếu tố quan trọng của lá số là Bản Mệnh, chính tinh thủ mệnh và cung an Mệnh. Trong 3 yếu tố này, Bản Mệnh bao giờ cũng quan trọng hơn hết.
Nếu Bản Mệnh được hưởng sự phù sinh càng nhiều thì càng đắc lợi. Qui tắc phù sinh lý tưởng nhất là:
Cung an Mệnh sinh được chính tinh thủ Mệnh, chính tinh thủ Mệnh lại sinh được Bản Mệnh. Ví dụ như cung Mệnh an tại Mão thuộc Mộc, có Thái Dương thuộc Hỏa tọa thủ, Bản Mệnh lại thuộc Thổ. Nhờ vậy, Thổ mệnh được phù sinh ở 2 hệ cấp: cung an Mệnh phù sinh chính tinh, rồi chính tinh phù sinh Bản Mệnh.
Nếu có 1 tương khắc thì kém tốt, nếu có đến 2 cấp khắc thì xấu cho Bản Mệnh. Ngoài ra, nếu Bản Mệnh sinh chính tinh hay khắc chính tinh, hoặc khắc cung an Mệnh thì bất lợi cho Mệnh.
h) Tương quan giữa Bản Mệnh và Cục
Như đã trình bày Mệnh phải được Cục phù sinh thì mới tốt, bằng không, nếu Mệnh sinh Cục, nhất là Cục khắc Mệnh thì xấu, cần được cứu gỡ lại bằng Phúc tốt mới quân bình được.
Tóm lại, về ngũ hành trong Tử – Vi, một hàm số Bản Mệnh chỉ tốt khi gặp nhiều tương thuận về Âm Dương Ngũ Hành. Càng có nhiều trục trặc, độ số tốt càng giảm đi.
i) Ngũ hành của 10 can và 12 chi
Tuổi hay năm sinh của người Đông Phương được xem như sự kết hợp giữa 2 yếu tố can và chi.
Có tất cả 10 can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí.
Có tất cả 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Như đã trình bày 10 can và 12 chi cũng bị âm dương hóa và ngũ hành hóa.
Về can, thì sự phân định Âm Dương và Ngũ Hành như sau:
Vậy, trên mặt Âm Dương Ngũ Hành của can, có sự tế phân chi tiết rõ rệt. Có tuổi Dương Mộc, có tuổi Âm Mộc, cũng có tuổi Dương Thủy và Âm Thủy. Có tác giả căn cứ vào đó mà tìm thêm ý nghĩa uẩn khúc của can trong tuổi. Chẳng hạn như cho rằng tuổi Bính là Dương Hỏa thì người tính nóng như lửa, dễ giận, dễ nguội… Nhưng, thiết tưởng lối suy diễn này chỉ vì căn cứ trên 1 yếu tố duy nhất nên ít giá trị.
Về 12 chi, ngoài sự phân định Âm Dương, Ngũ Hành khoa Tử – Vi còn định cung và định hướng, cũng như cho cả màu sắc tương ứng với ngũ hành đồng thời vị trí hóa trong hệ đồ bát quái.
Sự phân định trên đây rất đầy đủ. Nhưng, đáng tiếc là khoa Tử – Vi không nêu rõ qui tắc chi phối tinh vi đối với hàm số Âm Dương Ngũ Hành phúc tạp của Can Chi. Ví dụ người tuổi Giáp (Dương Hỏa), Tý (Dương Thủy) sẽ có vận số như thế nào căn cứ trên sự kết hợp Dương Hỏa với Dương Thủy? Tác dụng của việc định hướng ra sao đối với vận số? Quẻ Khảm có nghĩa gì đối với đương sự?
Đó là những ẩn số và những mâu thuẫn chưa có giải đáp. Trên bảng này chỉ có phương hướng là có ít nhiều tác dụng cắt nghĩa được. Như sao Thái Dung sẽ thuận vị ở các cung hướng Đông, sao Nam Đẩu lợi địa ở cung hướng Nam, Bắc đẩu ở hướng Bắc.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người |
![]() |
| Ảnh minh họa |
đại nhân đã nhiều đời tu tập các công hạnh vì lợi ích của tất cả loài hữu tình mà được tướng báu như vậy.
Cũng nên lưu ý từ “Mahà purisa” trong ngôn ngữ Pàli là chỉ cho bậc thánh nhân hoặc chuyển luân thánh vương, chứ không phải danh hiệu “đại nhân” được tôn xưng cho các đại thần hoặc người có quyền thế trong xã hội quân chủ Trung Hoa và Việt Nam.
Kinh tướng (số 30) thuộc Kinh Trường Bộ ghi lại nội dung đó như sau: “Này các Tỷ-kheo, ba mươi hai tướng Đại trượng phu này là gì mà những ai đầy đủ những tướng Đại Trượng phu này sẽ chọn đi hai con đường, không còn con đường nào khác? Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương... Nếu vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, vị ấy sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Đẳng giác, vén lui màn vô minh che đời. Này các Tỷ-kheo, vị này có lòng bàn chân bằng phẳng. Tướng này được xem là tướng tốt của bậc Đại nhân. Này các Tỷ-kheo, dưới hai bàn chân của vị này có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe, vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ Tướng này được xem là tướng của bậc Đại nhân”.
|
||
| Bàn chân Đức Phật tại tháp Lokànanda, Miến Điện
|
Chúng ta cũng nên hiểu rằng sự mô tả hình bánh xe dưới lòng bàn chân của Đức Phật có “ngàn” tăm cũng chỉ là con số tượng trưng, chỉ cho rất nhiều đường chỉ hay vân dưới lòng bàn chân quay tụ về một điểm có hình bánh xe. Đây là dấu hiệu của một bậc sẽ giác ngộ viên mãn sẽ vận chuyển bánh xe pháp, đem lại hạnh phúc và an lạc cho chư thiên và loài người, hoặc là dấu hiệu Vua Chuyển Luân Vương theo như quan niệm một vị vua lý tưởng dùng chánh pháp trị dân của Phật giáo Ấn Độ thời cổ đại.
Kinh nghiệm của các nhà nhân tướng học Trung Hoa cũng cho rằng lòng bàn chân của một người ít lõm khuyết thường có một đời sống đầy đủ, sung sướng, hạnh phúc. Ở đây, nhân tướng học của người Trung Hoa và Ấn Độ có một chút giống nhau. Người dân Trung Hoa rất giàu niềm tin đối với nhân tướng học.
|
| Bàn chân Đức Phật (không rõ phong cách nghệ thuật) in ở bìa sách Studies in History of Buddhism do A.K. Narain biên tập năm 1980 |
Các nhà nhân tướng học nổi tiếng như Đào Hoằng Cảnh vào thời Nam Bắc Triều, viết Tướng Kinh, về sau lại có Mã Y Tướng Pháp, Viên Liễu Trang thời Minh có Liễu Trang Thuỷ Kính, Vương Thị Phong Giám, và nhiều tác giả, tác phẩm khác. Tuy nhiên, Trung Hoa gần như không có đề cập đến “tướng của một bậc Thánh nhân”, ví dụ như tướng dưới lòng bàn chân “có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xe, với trục xe, vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ” như tướng của Đức Phật.
Trong Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng không trình bày và giải thích kỹ 32 tướng này. Người viết nghĩ rằng có lẽ Đức Phật cho vốn kiến thức của môn này cũng có giới hạn và mang tính cách tương đối, không giúp ích hành giả đạt đến cứu cánh giác ngộ, giải thoát, mà chỉ giúp hành giả thêm chút kinh nghiệm về cách nhìn tướng người mà đoán được tâm tính của đối tượng. Vả lại, khả năng nhận xét và kinh nghiệm của con người còn nhiều hạn chế do ức đoán, trắc lượng, chỉ thấy một phương diện nào đó, không thể thấy được tổng thể tướng tánh của con người như một bậc đắc đạo. Người xưa thường bảo “hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm.” Chính vì Phật giáo không có truyền thống “xem tướng” này mà chúng ta không tìm thấy được sự phân tích chi li hay lý giải về nhân tướng, thanh tướng hay thần tướng trong Kinh Luận, mà các tướng này được trình bày như là kết quả của nhiều đời trước thực hiện vô số hạnh lành của Đức Phật.
|
| Bàn chân Đức Phật tại Angkor Wat, Cambodia, thế kỷ thứ 12 (ảnh Unesco Courier, June 1956) |
Liên quan đến tướng bàn chân của Đức Phật, bản sớ giải Kinh Phật Tự Thuyết (VII. 10) thuộc Tiểu Bộ được cố giáo sư G.P. Malalasekera trình bày trong bộ tự điển nổi tiếng của ôngDictionary of Pali Proper Names (tập I, trang 693; tập II, trang 597) trình bày câu chuyện vào mùa mưa thứ 9 tại Kosambì, Đức Phật đặc biệt hoá độ cha mẹ nàng Màgandiyà, một thiếu nữ kiều diễm lúc bấy giờ và sau này trở thành thứ hậu của vua Udena. Tương truyền rằng Đức Phật chỉ để lại dấu chân của Ngài khi Ngài thật sự muốn, còn không thì không ai biết được tướng bàn chân của Đức Phật như thế nào. Nhận thấy nhân duyên hoá độ song thân của nàng Màgandiyà đã đến, Đức Phật đã để lại dấu chân của Ngài. Khi người mẹ của cô gái đến với mục đích gặp “chàng rể tương lai” của mình đã phát hiện ra đó là dấu chân của một bậc hoàn toàn thanh tịnh, không còn cáu bẩn dục vọng trong tâm thức. Câu chuyện này được HT. Narada kể lại ngắn gọn trong phần "Con đường hoằng pháp" thuộc tác phẩm Đức Phật và Phật Pháp.
|
| Bàn chân Đức Phật tại tháp Sànci, Ấn Độ (ảnh của Louis Frederic, 1956) |
Ngày nay mỗi khi Phật tử có dịp đến Bồ-đề Đạo Tràng để chiêm bái, tu tập, quý Phật tử sẽ thấy bàn chân của Đức Phật có hình bánh xe được in trên vải bày bán khắp nơi. Bàn chân này to hơn bàn chân người thường rất nhiều, theo người viết nó không đúng với tướng bàn chân của Đức Phật lịch sử.
|
| Bàn chân Đức Phật tại Bồ-đề Đạo Tràng |
Tại Bồ-đề Đạo Tràng có một tảng đá điêu khắc lại bàn chân Đức Phật có hình bánh xe cũng rất lớn, đó cũng là do sức tưởng tượng của các Phật tử đời sau điêu khắc lại dấu chân của Đức Phật để tưởng nhớ Đức Phật và cũng có lẽ là để đánh dấu sự kiện Đức Phật để lại dấu chân với mục đích hoá độ hai Bà-la-môn - cha mẹ của nàng Màgandiyà tại xứ Kosambì. Tuy nhiên, thạch điêu đó không đẹp, không giống như dấu chân của Đức Phật như trong Kinh mô tả.
|
| Bàn chân của tượng Đức Phật Nhập Niết-bàn tại Kusinagara |
Trong bộ Encyclopedia of Buddhism (Từ Điển Bách khoa Phật Giáo) tập III do cố giáo sư G.P. Malalasekera biên tập, được Chính phủ Tích Lan ấn hành 1971, phần cuối mục B có in nhiều hình Đức Phật với các tư thế khác nhau và Thánh tích Bồ-đề Đạo Tràng, trong đó có dấu chân của Đức Phật. Người viết nghĩ rằng, bức thạch điêu này không giống như tướng lòng bàn chân của Đức Phật và cũng không được đẹp.
(Theo Nguoiduatin)
Thử lấy một thí dụ: người có tính tham gian bạc ác là vì có nhiều chủng tử gian tham bạc ác huân tập nơi tiềm thức (alava), và khi mình quyết tâm sửa đổi, mình phải cố tạo ra những “thiện nhân bố thí” (tức là tự tạo ra những “tương vi nhân”) để mà tiêu giảm hoặc tiêu trừ cái sức tàn phá của những “ác nhân” trong túc nghiệp (nghiệp quá khứ). Nhất là khi mình từ chối không tạo những “tiếp thụ nhân” (nhân thụ lãnh, thì các nhân khác cũng khó lòng mà kết hợp để tạo thành ác nghiệp). Bởi vậy, tôi mới nói trên đây: con người là đấng Tạo Hóa (Le Cr’eateur) của chính mình mà cũng là vật thọ tạo (La Cr’eature) của chính mình.
Theo nhà Phật, luật Nhân Quả không bị hạn chế bởi thời gian: có cái đời trước trồng Nhân, nhưng cũng đến đời hiện tại mới gặp duyên mà thành Quả. Có cái đời trước trồng nhân, mà mãi đến đời sau và đời sau nữa mới thành Quả. Có cái đời này trồng Nhân, lại thành Quả ngay trong đời này-người ta gọi là Quả báo Nhân tiền. Ta cần phải xem những Duyên, coi có đầy đủ hay không, mà đoán định sự mau chậm.
Bởi không rõ lẽ ấy, cho nên mới có kẻ thấy có người kiếp này tu nhiều Nhân tốt (tu nhân tích đức), nhưng lại bị tai họa đau thương. Còn kẻ, kiếp này làm nhiều điều ác, lại được nhiều may mắn hạnh phúc nên mới kêu rằng luật Nhân Quả sai lầm. Họ nào có dè: ác báo hay phúc báo đều do tạo nhân ở kiếp trước mà đến kiếp này mới hưởng được, còn những nhân ác tạo ở kiếp này chưa đủ thời gian để thành “Quả” ác.
Tóm lại, động lực chính của sự tạo nghiệp là ý thức. Ý thức có một tác dụng vô cùng mạnh mẽ, nó chi phối tất cả mọi thứ khác, lại có quyền sáng tạo và thay đổi cả một cuộc đời của con người. Trong giai đoạn hiện tại, cá nhân phải gánh chịu tất cả những Quả báo của nghiệp quá khứ (túc nghiệp) và nghiệp hiện tại (hiện nghiệp). Nhưng ý thức với sự phụ họa của các thức khác trong giai đoạn sống hiện tại, lại cũng có quyền năng tạo nghiệp mới, để làm động lực cho sự phát sinh sinh mạng sau này.
Theo nhà Phật, nghiệp quá khứ là nguyên nhân động lực của cái kiếp sống hiện tại: nó chỉ huy tất cả, thành ra con người giống như một bộ máy bị một định mạng vô hình chi phối (ta thường gọi là “số mạng”). Cái túc nghiệp (nghiệp quá khứ) ấy giống như sức của mũi tên đang bay, khi hết sức nó sẽ rơi xuống. Bởi vậy, tạo nghiệp trong hiện tại, tuy cũng phá được phần nào nghiệp báo của quá khứ, nhưng nếu vẫn bất lực trước một định mạng khắt khe, đó là vì sức của mũi tên vẫn còn quá mạnh.
Để đánh tan nghiệp ác:
Tuy vậy, nghiệp mới tạo lại có nhiều ảnh hưởng đến sinh mạng của nhiều cá nhân khác, nên trong sự tự biến (nghiệp riêng) cũng được hưởng về cộng biến (nghiệp chung) do mình tạo nên, và nhờ vậy cũng phá tan được nhiều nghiệp chướng do ác tập gây nên. Bởi vậy người ta thường nhận thấy những ai gây được nhiều công đức xã hội, như gieo rắc mầm tư tưởng “từ bi hỷ xả”, giúp con người phá được tà kiến, gây được lòng yêu thương trong loài người, là người tích chứa được nhiều thiện nhân thiện đức…nên cho dù có gặp tai họa gì cũng được qua khỏi một cách mầu nhiệm. Đó là nhờ cái công “tự biến” đã gieo được nhiều chủng tử cho mình và cho chung quanh nên đã gây được một Tự nghiệp và Cộng nghiệp tốt đẹp, đánh tan được cái mũi tên độc của túc nghiệp (nghiệp quá khứ) của mình.
Trái lại, cũng như cá nhân có tạo một cách hoàn toàn tự do những giai đoạn sinh mạng đẹp ở tương lai…thì cá nhân cũng có thể tạo cho mình những giai đoạn sinh mạng đen tối ở hiện tại và tương lai. Cứ gieo mãi những mầm mống tư tưởng giải thoát thì sẽ tiêu trừ được tất cả các chủng tử tập nhiễm (mà lá số tử vi ghi rất kỹ, rất chi tiết), đồng thời huân sinh và huân trường các chủng tử giải thoát để vượt khỏi cảnh giới vô minh và sanh diệt. Cũng như Nguyễn Du nói:
Đã mang lấy Nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần, Trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta…
Cái nhìn chính đáng vào Tử Vi
Nghiên cứu số Tử Vi, với một lối nhìn siêu hình, hình nhi thượng học như trên, lá Tử Vi của ta có thể giúp ta nhìn rõ cái túc nghiệp (nghiệp quá khứ) của ta, biết được ta phải làm gì cho hiện tại, để chuyển mê khải ngộ, chuyển bại vi thắng, chuyển ác vi thiện..chứ không phải tin Mạng một cách thụ động như nhiều người lầm tưởng.
Con người đã tự tạo lấy nghiệp chướng cho mình, và tự giam lấy mình trong khám cung chật hẹp, đó là số mạng do mình tạo nên. Lá số Tử Vi giúp ta thấy rõ: con người là tiểu kiền khôn cùng với: đại kiền khôn, là một lẽ tương quan vô cùng mật thiết. Ảnh hưởng liên quan giữa ta và xã hội chung quanh ta, giữa ta và gia đình ta, an hem cùng máu thịt ta, an hem bạn bè ta, kẻ dưới người trên…đều được ghi rõ ràng. Nhìn vào lá số Tử Vi, người sành sỏi và am hiểu tận tường phép đoán, không bao giờ nhìn từ cung mà đoán. Tất cả 12 cung đều chằng chịt như các cơ năng trong một cơ thể.
Nhìn ở cung Mạng để biết tinh thần hữu thức của mình đã đến đâu, đồng thời phải nhìn ở cung Thân để biết tiềm lực vô thức của mình như thế nào. Rồi phải nhìn qua cung Thiên Di, cung Quan, cung Tài (Tam hợp, Nhị hợp), các cung Thê, Tử, Huynh Đệ và Nô Bộc. Nhìn cung Giải Ách để xem thiện nhân hay ác nhân cũng như xem ở cung Phúc để tìm hiểu túc nghiệp của ta rõ ràng. Các vì sao Giải Ách luôn là những phúc tinh, như Thiên Quang, Thiên Phúc, Ân Quang, Thiên Quý, Nguyệt Đức, Lộc Tồn, thường là những vì sao tượng trưng cho những thiện đức của lòng ta.
Kết luận:
Để tạm kết luận, tôi xin nhường lời cho W.Y.Evanswentz ở Jesus College; tác giả quyển “Le Livte Tibe’tain de la Grande Libe’ration”. Trong quyển sách này nói về cuộc đời của vị Phật sống PADMA SAMBHAVA, xin dịch như sau:
“Tiểu sử của Đức Padma Sambhava sẽ chứng minh ảnh hưởng của khoa Chiêm Tinh trong đời sống của các bậc Thánh Tăng khác trong phái Đại Thừa, nếu không nói là của tất cả mọi người Đông Phương hiện nay vẫn còn trung thành với truyền thống …”
Các nhà Chiêm Tinh thạc học đều cho rằng khoa Chiêm Tinh là khoa quan trọng nhất trong các khoa bởi ngoài nó, không có một nghệ thuật nào chân chính hơn. Nhìn khoa Chiêm Tinh, với khía cạnh ấy, tức là họ đã loại trừ, cho là không xứng đáng với danh hiệu ấy những gì mà hiện nay ở Tây Phương cũng như phần đông ở Đông Phương thường được gọi là khoa Chiêm Tinh.
Khoa Chiêm Tinh chẳng những xem Người là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, và cũng là một sản phẩm chịu vô số ảnh hưởng của các vì tinh tú cũng như của cả vũ trụ, như tất cả mọi sự vật hiện hữu trên đời, là vì mỗi người là nơi tập trung các ảnh hưởng ấy để kết thành một thể trạng, một tâm trạng, một thần trạng riêng biệt của mình.
Tuy vậy khoa Chiêm Tinh đâu bắt buộc ta phải tin Định mạng là bậc thầy về khoa Yoga, và là bậc thầy chỉ huy ảnh hưởng của các tinh tú, bởi họ biết rõ những ảnh hưởng ấy, nên họ cũng có thể lèo lái được chiếc thuyền Cứu Rỗi của họ trên mặt bề Nhân Sinh. Như thế họ tránh được các rạn đá ngầm cũng như các lòng biển cạn, và sẵn sàng chống lại với các phong ba, các luồng sóng nghịch…để đưa chiếc thuyền của mình đến cảnh yên ổn của “Bờ Bên Kia”.
Mặc dù thể xác, thần trí và hoàn cảnh đều bị ảnh hưởng của các tinh tú, bậc Hiền giả vẫn làm chủ được vận mạng của mình. Cũng như số phận của chiếc thuyền trên biển cả mênh mông, đều nằm trọn trong bàn tay điều khiển khéo léo của vị thuyền trưởng, cho nên dù có ít hay nhiều khuyết điểm và yếu đuối bẩm sinh, vị thuyền trưởng kia vẫn có quyền tự do điều khiển chiếc thuyền theo chiều hướng mà mình thích, và dù qua bao nhiêu gian lao cũng sẽ đưa chiếc thuyền về nơi mà mình muốn thả neo cập bến.
Khác với một số nhà bác học, có một số đông các triết gia và thi sĩ Tây Phương khác, trong đó có Roger Bacon và Shakespear cũng rất quan tâm đến các khoa Chiêm Tinh. Cả Thiên Chúa Giáo cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của nó, trong sách sử đã chứng minh rằng, sỡ dĩ các vị Thánh Đông phương kia tìm đến bái yết Jesus lúc mới sinh là cũng nhờ theo dõi ngôi sao sáng của Bethle’em. Khi sinh Đức Thích Ca, cũng chính những nhà Chiêm Tinh này được mời tới để lấy lá số Thái Tử, và họ đã tiên đoán sau này Ngài sẽ thành, hoặc sẽ là một bậc Đế vương toàn cõi thế gian, hay là một vị Phật. Trên thân mình Thái tử, họ thấy hiện lên đủ 32 dấu ghi rõ sự nghiệp phi thường sau này của Thái tử, đó là những dấu hiệu ghi lại công phu của vô lượng kiếp của Ngài ở tiền thân (như nó đã ghi rõ trên lá số Tử Vi của mỗi chúng ta vậy).
Thái Tử Sidhartha đã bỏ con đường công danh phú quý mà lựa con đường tu hành nên đắc thành Chánh quả. Tự do của con người là ở chỗ đó. Mình là “vật thọ tạo” mà cũng là “Đấng Tạo Hóa” của chính mình.
Sư rằng: “Họa phúc đạo trời”
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra
Có Trời mà cũng có Ta…
(Kiều)
Thu Giang NGUYỄN DUY CẦN
Có những cô gái thể hiện ra bên ngoài rất mạnh mẽ, nhưng kì thực nội tâm rất dịu dàng. Đó là những cô nàng khẩu xà tâm Phật, lời nói cứng rắn nhưng ẩn sâu bên trong là tấm lòng hiền hòa. Cùng xem trong 12 con giáp đó là những cô nàng nào nhé. Trong cuộc sống, chúng ta có thể sẽ gặp những cô gái vô cùng mạnh mẽ. Họ cứng rắn, không ngại đối đầu với người khác để bảo vệ lý lẽ của mình, đôi khi còn khiến cho người khác cảm thấy họ quá lạnh lùng và chẳng có chút tình người. Song có thể bạn không biết rằng đó chỉ là một mặt của họ mà thôi. Khi mới quen, chúng ta có thể ngộ nhận họ là người độc ác, không biết hài hòa, song khi hiểu rõ về con người họ, bạn lại thấy họ có tấm lòng rất nhân ái, dịu dàng, chỉ là họ không thể hiện ra ngoài mà thôi.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
1. Trán hơi nghiêng về một bên
Chủ nhân của chiếc trán nghiêng về một phía này, đặc biệt nghiêng về phía bên vai trái, năm nay sẽ gặp nhiều may mắn về chuyện tiền bạc, tài vận ít ai sánh bằng, thậm chí có thể phát tài chỉ trong một đêm. Đường học hành thi cử, công danh sự nghiệp của người này năm 2015 cũng rất thuận lợi. Ngoài ra, chủ nhân của kiểu trán hẹp nhưng sáng sủa cũng luôn được Thần May mắn phù hộ, có thể phát tài bất cứ lúc nào.
![]() |
2. Cằm dài
Cằm đại diện cho phúc lộc. Người có cằm tròn đầy thì nhiều phúc khí và ngược lại. Đặc biệt, chiếc cằm càng dài thì bạn càng có cơ hội trúng thưởng, trúng vé số… càng cao. Việc họ bỗng dưng nhặt được của hay được ai đó cho tiền là điều hết sức bình thường, không có gì phải ngạc nhiên.
Thông thường, người cằm dài rất chịu thương chịu khó, nỗ lực hết mình cho mục tiêu đã đề ra nên “thu hoạch” cũng nhiều gấp bội lần so với người khác.
3. Ấn đường hồng hào, sáng sủa
Vị trí ấn đường chính là khu vực giữa hai đầu lông mày. Nó liên quan đến cung Mệnh, cho biết tài lộc, công danh sự nghiệp. Người có Ấn đường hồng hào, màu sắc sáng sủa thường dễ dàng phát tài, cuộc sống giàu sang, nhiều tiền của.
Đặc biệt, vào thời điểm lập xuân mà Ấn đường bỗng hồng đậm, có sắc tím và vùng da quanh đó nhẵn bóng thì khả năng phát tài bất ngờ rất cao.
4. Cánh mũi hẹp nhưng nhiều thịt
Muốn xem tài vận của người nào đó ít hay nhiều, trước tiên nên nhìn chiếc mũi. Bởi mũi là cung Tài Bạch, nắm giữ tiền của. Người có mũi đầy đặn thì tài phúc đều vẹn toàn. Ngược lại, nếu mũi nhỏ, trơ xương thì ít tiền của và lại kém may mắn về tài chính.
Người có cánh mũi hẹp nhưng nhiều thịt rất vượng về mặt phụ tài (tiền của kiếm được ngoài công việc chính). Đồng thời, họ có thể giàu lên một cách nhanh chóng khi gặp thời gặp thế.
Mr.Bull (Theo Meiguoshenpo)
![]() |
Đoán tuổi giàu có qua nét mặt |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Những lời khuyên phong thủy nên áp dụng:
- Nên ngồi ở góc xa nhất tính từ cửa ra vào để có một vị trí 'uy quyền'.
- Nên ngồi quay lưng vào góc hoặc tường để luôn có quý nhân phù trợ. Nó đóng một vai trò như 'người che lưng', là chỗ dựa cho bạn qua mọi cơn sóng gió.
- Bạn có thể ngồi quay lưng vào cửa sổ nếu ở phía xa đối diện nên là một tòa nhà lớn. Nó sẽ như một ngọn núi sừng sững chắn đỡ cho bạn mọi hiểm nguy.

- Nên để máy tính ở phía Bắc hoặc Tây của văn phòng để kích thích sự sáng tạo. Đặt máy vi tính trong góc Đông Nam nếu bạn muốn có thêm nhiều tiền.
- Đặt bể cá hoặc đài phun nước nhỏ ở phía Đông, Bắc, hoặc Đông Nam trong phòng hay trên bàn làm việc sẽ giúp công việc kinh doanh được thuận lợi.
- Đặt két sắt ở góc phía Tây hoặc Tây Bắc sẽ giúp doanh nghiệp vừa làm ăn phát đạt mà luôn bình an, không gặp nhiều sóng gió.
- Nên có sự cân bằng tốt giữa âm và dương trong văn phòng. Ánh sáng và cân bằng màu sắc sáng tối, bề mặt mềm và cứng, kết cấu mịn và thô trong nội thất, các cánh cửa và cả sàn, tường.
- Lưu trữ và sắp xếp tất cả các tài liệu cẩn thận. Chúng đại diện cho quá khứ, hiện tại và tương lai của công ty bạn.
Những kiêng kỵ phong thủy cần tránh:
- Không ngồi ở vị trí thẳng với các cánh cửa. Những luồng năng lượng tiêu cực sẽ 'xông' thẳng vào chỗ bạn ngồi.
- Không ngồi đối diện hoặc quay lưng vào cửa ra vào, đặc biệt là khi đang kinh doanh. Tiền bạc sẽ đến với bạn thông qua đường cửa ra vào, mà chẳng ai lại muốn quay lưng lại với tài vận cả.
- Không ngồi làm việc ở nơi nhìn thẳng ra hành lang hay nhìn thấy cầu thang, nhà kho, thang máy, thang cuốn hoặc nhà vệ sinh.
- Không đặt gương trong vặn phòng vì chúng có thể tích tụ năng lượng tiêu cực của bạn, của nhân viên, của các khách hàng.

|
| (Ảnh minh họa) |
- Cung gò má cao, mũi thấp, má gầy, chủ nhân về già sống đơn độc.
- Cung gò má cao, lông mày mờ, không có sắc, chủ nhân không có con trai nối dõi.
- Độ cao, kích thước của 2 gò má không đồng nhất là tướng không tốt. Nếu gò má bên trái cao hơn, chủ nhân khắc cha; gò má bên phải cao hơn, chủ nhân khắc mẹ.
- Cung gò má bên phải to hơn bên trái, chủ nhân hưởng phúc lộc và tiền bạc từ vợ. Nếu cung gò má bên trái to hơn, chủ nhân được vợ con nể trọng, có thể được hưởng tài lộc do vợ đem lại.
- Cung gò má bên trái bị đường vân phá vỡ, con cái chủ nhân học vấn không cao, thường bị họ hàng chê bai. Nếu cung gò má bên phải bị vân phá vỡ, vợ chồng không hòa thuận, anh em mâu thuẫn với nhau.
- Cung gò má lõm, trán lệch hoặc xương trán không gồ lên, khi chủ nhân ngoài 30 tuổi, cha mẹ họ có thể bị tổn thương.
- Cung gò má bên trái có nốt ruồi, chủ nhân hay gặp rắc rối, tranh cãi với bạn bè, người thân xung quanh về vấn đề tiền bạc.
(Theo Tìm hiểu Nhân tướng học theo Kinh Dịch)
|
Bạn có biết không, ngày sinh có tác động không nhỏ tới sự thành công trong sự nghiệp của bạn đấy. Vì vậy ngày sinh là một trong nhiều yếu tố để bạn xem xét khi chọn nghề. Thử mà xem, sẽ biết ngay bài viết này “phán” có đúng hay không!

Bạch Dương (21/03-19/04)
Bạn là người nhiệt tình, tỉnh táo, trực tính, có tham vọng, cứng cỏi và sáng tạo. Một sự nghiệp về truyền hình phát thanh, quảng cáo hoặc kiến trúc sẽ phù hợp với bản chất giàu tham vọng và sáng tạo của bạn. Do bạn là một nhà lãnh đạo bẩm sinh nên quân đội hoặc cơ quan pháp luật cũng sẽ là điểm đến hấp dẫn.
Kim Ngưu (20/04-20/05)
Bạn là người thực tế, làm việc có phương pháp, quả quyết, kiên nhẫn, chân thực và biết hoạt động theo nhóm. Hãy tìm kiếm công việc thuộc các lĩnh vực ngân hàng, kế toán và nghiên cứu khoa học.
Song Sinh (21/05-21/06)
Bạn rất lạc quan, tò mò, thông minh và luôn tràn đầy năng lượng. Bạn cần một công việc tạo được sự hứng thú và có cơ hội đi lại nhiều như hướng dẫn viên du lịch, nhà thám hiểm hoặc vị trí bán hàng cần phải di chuyển thường xuyên.
Cự Giải (22/06-22/07)
Bạn là người giàu tưởng tượng, can đảm, biết chăm sóc và che chở người khác. Bạn giỏi nhất trong việc đưa ra các lời khuyên, vì vậy hãy xem xét đến ngành luật, tâm lý học, giảng dạy, y tá hoặc công tác xã hội.
Sư Tử (23/07-22/08)
Bạn là người ghét gò bó, thích giao du, tự lập và sinh ra để lãnh đạo với niềm khát khao thực sự đối với quyền lực. Những đặc điểm đó sẽ giúp bạn trở thành những CEO, giám đốc, biên tập viên giỏi. Lý tưởng nhất là làm việc trong chính phủ.
Xử Nữ (23/08-22/09)
Tỉ mỉ, dí dỏm, vui tươi, ưa hoàn hảo, hướng chi tiết, chăm chỉ và ngăn nắp cùng với sở trường về ngôn ngữ – đó là bạn. Do đó, lựa chọn nghề nghiệp hoàn hảo của bạn là kỹ sư, nhà thống kê, nhà nghiên cứu hoặc biên dịch viên.
Thiên Bình (23/09-22/10)
Bạn có tài ngoại giao, hấp dẫn, giỏi giao tiếp, dễ gần và có tinh thần sẵn sàng hợp tác. Cảm nhận của bạn về việc hợp tác cùng với thỏa hiệp đồng nghĩa bạn sẽ làm tốt ở chiếc ghế luật sư, nhà môi giới, nhà thương thuyết hoặc nhà quản lý.
Bọ Cạp (23/10-21/11)
Bạn có cảm nhận trực giác rất nhạy bén, thông minh, có óc phân tích, chăm chỉ, tích cực, tận tụy và tháo vát. Với bản tính thích giải quyết những bí ẩn, bạn rất phù hợp với công việc điều tra, luật, vật lý học, nghiên cứu và viết lách.
Nhân Mã (22/11-21/12)
Bạn có thái độ tích cực, năng lượng vô hạn, yêu thích du lịch. Một vị trí bán hàng sẽ là lý tưởng. Ngoài ra bạn có thể nghiên cứu công việc PR, quản lý xã hội.
Ma Kết (22/12-19/01)
Bạn rất cứng cỏi, đáng tin cậy, có trách nhiệm, giỏi tổ chức, hướng mục đích, có tư duy lô gíc và tháo vát. Bạn sẽ phát triển với các vị trí quyền lực hoặc có liên quan đến tiền hoặc toán học. Hãy xem xét vị trí IT bởi bạn cũng rất yêu thích phần mềm và máy tính. Bạn còn phù hợp với nghề bác sĩ, thư ký hoặc luật sư.
Bảo Bình (20/01-18/02)
Thông minh, độc đáo, nhân đạo, nhìn xa trông rộng là đặc điểm của bạn. Hãy lựa chọn các công việc về thiên văn học, lịch sử tự nhiên, hàng không, nhiếp ảnh, thơ ca.
Song Ngư (19/02-20/03)
Bạn là người hào phóng, thân thiện, nhạy cảm, có óc thẩm mỹ, nồng nàn và linh hoạt. Bạn sẽ làm tốt trong bất kỳ lĩnh vực nghệ thuật nào như kịch, văn học, hội họa, âm nhạc. Nhưng đam mê của bạn cũng khiến bạn đủ khả năng đảm đương công tác từ thiện xã hội và thẩm phán.
![]() |
![]() |
Xem tử vi trọn đời cho người sinh ngày Đinh Sửu![]() |
![]() |
![]() |
| => Xem tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
| ► Mời các bạn xem tử vi năm 2016 theo cung, mệnh bản thân chuẩn xác |
![]() |
![]() |
Tổng quan tình hình tài chính của 12 con giáp dịp Trung ThuMơ thấy bạn bè đến thăm nhà mình, tín hiệu cho thấy bạn sẽ bắt đầu một tình yêu mới vô cùng lãng mạn và hạnh phúc.
1. Mơ thấy mình và bạn thân cùng nhau đi du lịch, rất có thể bạn sẽ gặp nhiều chuyện vui trong thời gian sắp tới.
2. Nếu mơ thấy bản thân và bạn cùng lớp bị thầy cô giáo phê bình, điều này báo hiệu vận may trong chuyện thi cử của bạn, cụ thể là điểm số rất cao, ngoài sự mong đợi của bạn.
3. Trong mơ thấy mình với bạn cùng lớp trốn học đi chơi, bạn cần chú ý hơn đến vấn đề sức khỏe. Nhiều khả năng bạn sẽ bị ốm và phải nghỉ học đó.
4. Nếu mơ thấy bạn bè đến thăm nhà mình, tín hiệu cho thấy bạn sẽ bắt đầu một tình yêu mới vô cùng lãng mạn và hạnh phúc.
5. Mơ thấy bản thân cùng bạn bè cùng nhau ăn uống, tám chuyện vui vẻ. Đây là điềm báo không mấy tốt lành về phương diện tiền bạc, bạn cần đề phòng mất trộm.
6. Nếu trong mơ thấy mình và bạn bè cùng làm việc ở một đơn vị, điều này chứng tỏ bạn đang có những mối quan hệ xã giao rất tốt. Bạn có thể dựa vào đó để khẳng định năng lực bản thân và đạt được nhiều thành công hơn nữa.

7. Nếu mơ thấy bản thân cùng bạn bè chơi những trò đùa vui vẻ, bạn cần hết sức đề phòng kẻ xấu lợi dụng sự mềm yếu và tin tưởng để gây tổn thương cho bạn. Đặc biệt là phương diện tình yêu đôi lứa, bạn cần tỉnh táo và sống lý trí hơn nữa.
8. Mơ thấy mối quan hệ của mình với bạn bè xung quanh đang có sự rạn nứt hoặc phân ly, điều đó cho thấy bạn đang không hài lòng về cả tình bạn và tình yêu. Nguyên nhân là do hai phía chưa thực sự hiểu và thông cảm cho nhau.
9. Nếu gặp người bạn mà bản thân rất ghét hoặc không có cảm tình, điều này báo hiệu mọi áp lực của bạn đều “không cánh mà bay”, đồng thời những vấn đề phiền não cũng được giải quyết nhanh gọn. Thời kỳ thanh thản và an nhàn sẽ nhanh chóng trở về bên bạn, chỉ cần bạn kiên nhẫn chờ đợi.
10. Trong mơ thấy bạn rất thân, dấu hiệu này cho thấy sự hiếu thắng của bạn đã gây ra không ít rắc rối. Bạn quyết không nhượng bộ chỉ vì sự bảo thủ của mình. Tuy nhiên, giấc mơ này cho thấy, lần này người phải nhún nhường chính là bạn.
Các con số liên quan đến giấc mơ:
Bạn hiền: 38 – 83


(Theo Archi)
1. Nhà hướng Đông Tây, phòng bếp ở góc Tây Bắc
Gia đình nào sở hữu ngôi nhà hướng Đông Tây với phòng bếp đặt ở góc Tây Bắc thường xảy ra những cuộc tranh cãi trong cuộc sống hàng ngày. Và người lớn tuổi sẽ tranh cãi một cách quyết liệt. Bởi vì, theo phong thủy, hướng Tây Bắc thuộc về của cải, tiền bạc và đại diện cho bậc tiền bối, huynh trưởng trong nhà. Phòng bếp thuộc yếu tố lửa (Hỏa), lửa thúc đẩy, kích động kim loại (Kim) khiến mọi người dễ mất bình tĩnh, cãi vã với nhau.
2. Nhà hướng Đông Tây, phòng bếp ở góc Tây Nam
Gia đình nào sở hữu ngôi nhà hướng Đông Tây với phòng bếp đặt ở góc Tây Nam sẽ luôn bận rộng trong việc phân định phải trái, đúng sai. Và phụ nữ lớn tuổi thường có liên quan trực tiếp đến mọi chuyện. Đàn ông và phụ nữ lớn tuổi, mẹ chồng và nàng dâu hoặc các cặp vợ chồng sống trong cùng một nhà có nhiều khả năng nổ ra các cuộc tranh luận, cãi vã với nhau.
3. Cửa ra vào hướng Đông Nam, phòng bếp hướng Tây Nam
Nếu cửa ra vào hướng thẳng về phía Đông Nam và phòng bếp hướng Tây Nam thì trong gia đình sẽ phát sinh bất đồng, cãi cọ về các vấn đề xoay quanh phụ nữ, hoặc giữa mẹ chồng và nàng dâu, hoặc giữa mẹ và con gái.
4. Cửa ra vào hướng Tây Nam, phòng bếp hướng Đông Nam
Nếu cửa ra vào hướng thẳng về phía Tây Nam và phòng bếp hướng Đông Nam chắc chắn sẽ gây ra mối bất hòa, tranh luận gay gắt giữa phụ nữ trong gia đình về rất nhiều vấn đề lớn nhỏ khác nhau.
5. Cửa ra vào hướng Tây Bắc, phòng bếp ở hướng Tây
Trường hợp cửa ra vào hướng thẳng về phía Tây Bắc và phòng bếp hướng Tây thì các cặp vợ chồng, người lớn tuổi trong nhà sẽ khó tránh khỏi sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thậm chí xảy ra tranh cãi về mọi vấn đề, mọi lĩnh vực.
Thực tế, hành động cãi nhau, tranh luận là cách để giải tỏa căng thẳng, trút bỏ cảm xúc ức chế. Điều này hoàn toàn ổn nếu bạn không thể hiện quá tiêu cực. Sau cùng, mọi người cần tìm giải pháp tháo gỡ mọi khúc mắc cũng như áp lực. Nhiều cặp vợ chồng vẫn có thể chung sống đến đầu bạc răng long dù không hòa hợp trong quan điểm, cách trò chuyện. Yếu tố quan trọng là giao tiếp với nhau đúng cách.
Đa phần mọi người hay chọn những tầng có con số như 3 (tam), 8 (bát), 23 (lưỡng tam), 28 (lưỡng bát)…, mà tránh những tầng có số 4 (tứ). Kỳ thực thì những người ở tầng 3, tầng 8 chưa chắc đã “phát”. Cùng ở một tầng, có người thì may mắn nhưng cũng có người xui xẻo, dựa theo cảm tính hợp âm (“bát” gần với “phát”, “tứ” gần với “tử”) thì suy cho cùng cũng chỉ để thỏa mãn về vấn đề tâm lý tinh thần mà thôi.
Vậy thì tầng nào sẽ hợp với bạn, để bạn có thể “thông tiền đạt vận” đây?
Phong thủy học cho rằng, tất cả những sự vật trên trái đất này đều có thuộc tính âm dương ngũ hành. Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, con người và kiến trúc có thể đi sâu phân tích chi tiết thông qua âm dương ngũ hành. Thông thường thì âm dương ngũ hành của số tầng chia ra làm: tầng có số lẻ thuộc Dương, tầng có số chẵn thuộc Âm.
Theo ngũ hành thì ngũ hành của số tầng và ngũ hành của chủ nhà tương đồng hoặc tương sinh thì được coi là hợp, tương khắc thì là không hợp.
Như vậy:
Gia chủ thuộc các tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nên chọn tầng số 5, 10 (tầng bản mệnh), tầng 2,7 (tầng quý nhân).
Gia chủ tuổi Dần, Mão nên chọn tầng 3, 8 (tầng bản mệnh), tầng 1, 6 (tầng quý nhân).
Gia chủ tuổi Tỵ, Ngọ nên chọn tầng 2, 7 (tầng bản mệnh), tầng 3,8 (tầng quý nhân).
Gia chủ tuổi Thân, Dậu nên chọn tầng 4, 9 (tầng bản mệnh), tầng 5, 10 (tầng quý nhân).
Gia chủ tuổi Tý, Hợi nên chọn tầng 1, 6 (tầng bản mệnh), tầng 4, 9 (tầng quý nhân).
Cụ thể như sau:
- Tuổi Tý: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 1, 4, 6, 9, 11, 14…, không thuận là tầng số 3, 5, 8, 10, 13, 15…
- Tuổi Sửu: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 2, 5, 7, 10, 12, 15…, không thuận là tầng số 3, 4, 8, 9, 13, 14…
- Tuổi Dần: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 1, 3, 6, 8, 11, 13…, không thuận là tầng số 2, 4, 7, 9, 12, 14…
- Tuổi Mão: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 1, 3, 6, 8, 11, 13…, không thuận là tầng số 2, 4, 7, 9, 12, 14…
- Tuổi Thìn: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 2, 5, 7, 10, 12, 15…, không thuận là tầng số 3, 4, 8, 9, 13, 14…
- Tuổi Tỵ: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 2, 3, 7, 8, 12, 13…, không thuận là tầng số 1, 5, 6, 10, 11, 15…
- Tuổi Ngọ: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 2, 3, 7, 8, 12, 13…, không thuận là tầng số 1, 5, 6, 10, 11, 15…
- Tuổi Mùi: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 2, 5, 7, 10, 12, 15…, không thuận là tầng số 3, 4, 8, 9, 13, 14…
- Tuổi Thân: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 4, 5, 9, 10, 14, 15…, không thuận là tầng số 1, 2, 6, 7, 11, 12…
- Tuổi Dậu: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 4, 5, 9, 10, 14, 15…, không thuận là tầng số 1, 2, 6, 7, 11, 12…
- Tuổi Tuất: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 2, 5, 7, 10, 12, 15…, không thuận là tầng số 3, 4, 8, 9, 13, 14…
- Tuổi Hợi: tầng đại cát đại lợi nên là tầng số 1, 4, 6, 9, 11, 14…, không thuận là tầng số 3, 5, 8, 10, 13, 15…
nữa nó có thể làm giảm một cách hiệu có hiệu quả đối với những ảnh hưởng không tốt của khí.
|
| (Ảnh chỉ mang tính minh họa) |
Trong khu vực của đài phun nước, nếu bố trí lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng từ dưới lên thì càng tốt.
Khi bố trí hệ thống đường thủy trong sân vườn thì nên chú ý để cho dòng nước có những uốn khúc mềm mại, quanh co từ phía trước chảy lại cửa trước của nhà ở. Tránh để nước chảy theo hướng ngược lại vì sẽ tạo sự thất thoát vận khí.
Cần chú ý điều, bất luận thiết kế làm bể bơi, hồ bơi hay là thiết kế đài phun nước đều phải thiết kế các loại Thủy hình - dạng tròn. Có 3 lý do cho việc này:
Thứ nhất: Có thể tránh gió và tích tụ khí. Các hồ phun nước, ao hồ, bể bơi đều nên thiết kế hình tròn, bốn bề hướng thủy, đồng thời phải hơi hướng về hướng của các loại vật kiến trúc xung quanh nhà. Thiết kế như vậy có thể tàng phong tụ khí, tăng cảm giác mới mẻ và dễ chịu cho không gian cư trú.
Thứ hai: Tạo sự sạch sẽ. Nếu như thiết kế các bể phun nước, bể bơi ao hồ thành dạng kênh dài nước sâu thì chất nước sẽ khó giữ được sạch sẽ, sẽ bị ngưng tụ, ô nhiễm. Sách cổ gọi loại hình thiết kế như vậy là "thâm Thủy lao bệnh". Do vậy, ao vũng, bể phun nước cũng phải được thiết kế theo hình dạng tròn; tâm tròn hơi lồi lên một chút vì hình tròn không dễ lưu trữ bụi và các chất bẩn mà lại dễ làm sạch. Hơn nữa điều này có lợi cho sự an toàn.
Nếu thiết kế đài phun nước, bể bơi, ao vũng thành hình vuông, hình thang, hình rãnh thì dễ tạo nên độ sâu mà không nhìn thấy đáy, do đó sẽ rất nguy hiểm cho những người thích bơi lội và chơi trong nước (đặc biệt là trẻ nhỏ), nhưng những thiết kế hình tròn là tương đối an toàn.
Thứ ba: Có lợi cho sức khỏe. Nếu như các đài phun nước, bể bơi, ao vũng bể cảnh mà thiết kế ngoại hình có các góc nhọn ở hướng chiếu thẳng cửa ra vào thì sẽ dễ tạo nên sự phản chiếu ánh nắng mặt trời vào nhà do tác dụng quan học của mặt nước. Theo phong thủy học thì hiện tượng phản xạ như vậy không có lợi cho sức khỏe của con người.
(Theo Phong thủy vườn tược nhà ở cây xanh trong nhà)
Cách chữa: người Hoa viết chữ chúc lành như “xuất nhập an bình” dán vào cây gây trở ngại ở chỗ ngang tầm mắt mong gặp lành khi ra vào nơi đó. Gương Bát quái cũng đạt hiệu quả, nó làm tan ảnh hưởng bất lợi.
Cây cối là một trong chín cách chữa căn bản, thường dùng để tạo hình dạng cân bằng cho nhà cửa, đất đai.Những hình ảnh dưới đây trình bày cách dùng chúng để làm mẫu trong việc chấn chỉnh quang cảnh nhà cửa:
1. Cách trồng như thế này tốt: vị trí cây trồng trong cung nào của nhà cửa là điều định đoạt cho đời sống của người ngụ cư. Nếu lối vào ở mặt A người đó sẽ nổi tiếng. Nếu ở mặt B gia đình thịnh vượng, ở mặt C có sự nghiệp thành công và nếu ở mặt D thì sẽ phát nhờ đường con cái.
2. Nói chung, cây cối nên trồng sau nhà, đặc biệt nếu nhà quay lưng vào núi căn nhà được hưởngsự ổn định và cuộc sống người nhà sẽ phát triển tốt lành khi cây lớn dần.
3. Những cây này rất quang trọng chúng bảo vệ người nhà khỏi chết chóc.
4. Cây mọc che chắn nhà thế này là tốt vì chúng canh giữ cho tài sản nhà này. Chúng ngăn cản ảnh hưởng bệnh hoạn từ bên ngoài.Những cây tươi tốt nên trồng như các hàng 3,6,9. Nhà có cây chết chứng tỏ khí trong nhà đang xuống dốc.thật vậy, cây tốt là cây biểu hiện vận may của bạn. Nếu một cây chết là điềm báo tin buồn.Ta có thể gặp cảnh khốn khó, tai nạn hay trong nhà sẽ có người chết.
5. Vị trí của cây này tốt nếu nó không áp gần làm áp lực với căn nhà. Nếu có con đường ngắm vào nhà thì cây này ngăn ngừa được tử khí. Thêm vào sự cân đối là quan trọng.Vì nếu cây quá lớn và quá gần, nó không thể cân bằng đối lực với hậu quả bệnh hoạn do con đường gây ra. Con đường lượn hình cánh cung là nét may mắn cho người nhà và có thể giải quyết cây áp đảo nhà nếu con đường đủ rộng để ngăn cách cho nhà và cây.
6. Cây trồng ở vị trí này tốt cho nghền nghiệp và gia đình nếu nó không qú gần lối vào và che phủ rậm rạp trên con đường.
7. Cây không đưởc trồng quá gần cửa sổ. Nếu ánh sáng mặt trời không lọt vào, người nhà có thể bị đau. Không những nó cản trở khí vào nhà mà cây còn nảy rể trong lòng đất (Âm) cũng đem quá nhiều âm khí. Khi nào cây tạo dáng mỹ thuật thì tốt. Nếu nó có vẻ lấn áp tầm nhìn là xấu.
Cách chữa: treo lên bậu cửa sổ năm cái pháo đùng lớn.