Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Xem tướng qua cử chỉ thói quen –

1. Khi nói chuyện hay lấy tay che miệng. Tính cách: Cảnh giác mọi chuyện, luôn giữ kín, ít tiết lộ điều gì cho người khác biết về bản thân mình. Người có tính dò xét người khác, nhưng cũng có tư tưởng tự ti. 2. Thói quen nói không ngừng. Tính cách:

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

g12_634543472357812500

1. Khi nói chuyện hay lấy tay che miệng.
Tính cách: Cảnh giác mọi chuyện, luôn giữ kín, ít tiết lộ điều gì cho người khác biết về bản thân mình. Người có tính dò xét người khác, nhưng cũng có tư tưởng tự ti.

2. Thói quen nói không ngừng.
Tính cách: Tự cao, khoe khoang. Người thích giao tiếp, thích bắt chuyện, thích tò mò việc người khác. Nhưng là người tuyềnh toàng, vui tính.

3. Khi nói chuyện đối diện hay vuốt áo hay sờ mó một vật gần đó.
Tính cách: Đỏm dáng, e dè, ít tự tin vào bản thân mình. Con người thiếu tính quyết đoán hay ỉ lại cũng có thể là có nhiều điều không vừa ý, nội tâm căng thẳng.

4. Khi cầm vật gì mà ngón tay út trỏ thẳng vào người.
Tính cách: Tự đại cho mình là hơn cả, không thích tham gia ý kiến, và cũng không tham khảo ý kiến ai.
– Phụ nữ thì có thể độc thân hay lấy chồng muộn.

5. Nói chuyện với người hay đập vào vai họ.
Tính cách: Kẻ cả, nhưng tỏ vẻ thân thiện, cởi mở, chân tình. Người thích sống mạnh mẽ.

6. Thường vò nắn hai bàn tay khi nói chuyện.
Tính cách: Hèn kém, tự ti. Con người nhỏ nhen, yếu đuối, nịnh bợ.

7. Hay bẻ ngón tay kêu răng rắc.
Tính cách: Không thích ngao du giao thiệp. Người bất đắc ý (không thỏa nguyện), huyễn hoặc nhưng rỗng tuếch.

8. Vừa nói vừa vặn ngón tay hay xé một thứ gì đó.
Tính cách: Thiếu kiên trì, nóng vội, gấp gáp. Đầu óc luôn có chuyện bận tâm, liên tưởng đủ thứ.

9. Hay sờ nắn đầu mũi.
Dấu hiệu: Thông minh, lanh lợi, hay suy xét.

10. Hay sờ trán.
Dấu hiệu: Nhiều tâm tư, ý tưởng, luôn đau đáu, nhiều mong muốn. Người thận trọng, suy xét kỹ mọi thứ trước khi nói hay làm.

11. Hay móc lỗ mũi.
Tính cách: Tính tình tằn tiệm và hay suy tính nhỏ nhen, không lịch lãm, luộm thuộm, lôi thôi lếch thếch.

12. Hay gãi đầu gãi tai.
Tính cách: Hay vòi vĩnh, nhưng không câu nệ công việc từ nhỏ nhặt đến lớn. Người dễ hòa hợp.
– Phụ nữ lại là người câu nệ điều nhỏ mọn, tính toán chi ly, hay thắc mắc.

13. Hay gãi má, cằm.
Tính cách: Hay cầu cạnh, nài nỉ. Người luôn suy nghĩ tìm cách thuyết phục để đạt mong muốn của bản thân, có lợi cho bản thân.
Người này cũng hay tính toán chi ly có đi có lại.

14. Thói quen cắn móng tay.
Dấu hiệu: Nhiều dục vọng và tính tình cô độc.

15. Nói chuyện hay nháy mắt.
Tính tình tế nhị, nhưng không đứng đắn. Người muốn chinh phục kẻ khác.
– Ở phụ nữ: Họ là người tự tin, tham danh vọng, nhưng lại là người nhu mì hòa thuận với mọi người.

16. Thói chau mày (nhíu lông mày).
Tính tình khó khăn, hay suy nghĩ. Người bị xáo trộn nội tâm hay bồn chồn, ít quyết đoán, lo âu, nhiều chuyện.

17. Hay liếm môi.
Tính tình đĩ thõa, lẳng lơ, si muội trong tình cảm. Người thích làm dáng, thích ái tình, yếu đuối, bạc nhược.

18. Hay lè lưỡi.
Tính cách: Không tự nhận mình kém cỏi, bảo thủ, không chịu thất bại. Người nóng vội ít nghe hết lời người khác, ích kỷ không bao giờ thổ lộ.

19. Nói lấn lướt không muốn nghe người khác nói.
Dấu hiệu: Xảo biện, mưu mô, mồm mép, nói mà không làm, bảo thủ không bao giờ cho mình có sai lầm, có lỗi.

20. Hay rung đầu gối.
Dấu hiệu: Tự mãn, không thích học ai. Người âm thầm, suy tính.

21. Hay tự hỏi tự trả lời một mình.
Bản chất: Thâm thúy, nhiều mưu lược. Người tự chủ, tự lực cao và có nhiều ý tưởng, mưu mô.

22. Thay đổi kiểu tóc của mình.
Tính đỏm dáng, thích phù phiếm. Người hèn kém.

23. Thói quen lê gót giầy lẹp kẹp.
Bản tính: Rụt rè, dục vọng thấp hèn. Người thiếu nghị lực vươn lên.

24. Gót giầy mòn phía ngoài do thói quen đi nặng bên ngoài.
Tính cách: Hay chống đối người thân, nhưng tâm thiện hay tốt với người ngoài. Người nóng vội trong công việc, muốn hơn người. Họ ít quan tâm tới tiền của lắm.

25. Gót giầy mòn má trong.
Dấu hiệu: Có nhiều uẩn khúc, nặng nề nội tâm. Người hay câu nệ việc nhỏ, không hay thổ lộ, không tiếp thu ý kiến của người khác.

26. Gót giầy vẹt sau.
Tính cách: Tiêu cực, nhiều bất mãn, tham vọng nhỏ nhen. Người không có ý thức vươn lên.

27. Hay cắn môi dưới.
Tính cách: Chịu đựng, uẩn khúc trong lòng, không muốn thổ lộ với ai. Người thích tự mình giải quyết vấn đề. Tính tình lỳ lợm, can trường.

28. Nói chuyện thì hoa chân múa tay.
Tính cách: Ba hoa, khoa trương bản thân. Người hợm hĩnh, dối trá sống không thật lòng “nói một đường, làm một nẻo”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng qua cử chỉ thói quen –

Khám phá những điểm tuyệt vời của 12 con giáp - Tử vi - Xem Tử Vi

Khám phá những điểm tuyệt vời của 12 con giáp, Tử vi, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Khám phá những điểm tuyệt vời của 12 con giáp, tu vi Khám phá những điểm tuyệt vời của 12 con giáp, tu vi Tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khám phá những điểm tuyệt vời của 12 con giáp

Tuổi Tý, Ngọ, Mão, Dậu được nhiều người yêu quý, đào hoa

Bốn con giáp này đều có một số đặc tính giống nhau, ví dụ như tính khí tốt, diện mạo sáng sủa, dễ gần. Họ cũng không quá câu nệ mọi chuyện, thoải mái và có tài ăn nói, biết kiên trì nhẫn nại. Thêm vào đó là sức mạnh tinh thần cứng cỏi và hấp dẫn mê người.

Những người tuổi này dễ dàng thu hút mọi người xung quanh và khiến cho họ quý mến. Dù là nam hay là nữ, các tuổi này hay dùng sự tài hoa của mình để chinh phục trái tim của đối phương, đời sống tình cảm khá phong phú. Nếu là một trong những tuổi này, nghề nghiệp để bạn đạt được thành công có thể là nhân viên sales, các ngành nghề về nghệ thuật, quan hệ công chúng, liên quan đến ngoại ngữ…

Tuổi Dần, Thân, Tỵ, Hợi có sức mạnh tinh thần, năng động, khả năng ứng biến tốt, sớm phát tài

Bốn con giáp này sản sinh ra những con người có sức sống mãnh liệt. Sự nhanh nhạy, nhiệt tình cũng khiến họ trở nên nóng vội, dễ xúc động hơn những người khác. Ngọn lửa hừng hực trong huyết quản luôn thúc giục họ làm việc và vận động không ngừng nghỉ.

Sự năng động của bốn con giáp này thể hiện ở cách thức thông minh khi họ xử lý tình huống, đặc biệt ở người tuổi Hợi. Họ không quá lanh lẹ nhưng lại được bù trừ sự cẩn thận, tập trung. Họ thích ứng tốt với hoàn cảnh mới nên dễ dàng kết bạn, bắt đầu những mối quan hệ làm ăn đem lại lợi nhuận cao, dễ giàu có phát tài.

Tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi rất ổn định, giữ lời hứa, chịu thương chịu khó, sớm phú quý

Những người cầm tinh bốn con giáp trên cho dù là nam hay nữ cũng đều không quá nổi bật và hấp dẫn sự chú ý của mọi người. Bởi họ khá khiêm tốn, thành thực, có đạo đức lại chịu khó chăm chỉ nên có khá nhiều người đạt được giàu sang phú quý.

Nhưng trong số những người giàu, các con giáp này có vị thế ổn định và vững chắc nhất. Bởi họ cố gắng xây dựng tất cả bằng chính sức lực và sự cần cù của mình, từ từ từng bước nên những thành quả của sự tích cực này có nền tảng khó lòng lay chuyển nổi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khám phá những điểm tuyệt vời của 12 con giáp - Tử vi - Xem Tử Vi

Đặt cây xương rồng trên bàn làm việc sẽ mang lại điềm xui xẻo

Tuyệt đối không nên bày cây xương rồng ngay trong nhà hay phòng làm việc vì sẽ dẫn tới gia chủ bị bệnh tật, mất mát tài sản, tình cảm trục trặc, làm ăn thất bát.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện nay, những chậu xương rồng bé với đầy đủ hình dáng và chủng loại được rất nhiều người ưa thích mua về để trưng bày trong nhà hoặc trên bàn làm việc. Tuy nhiên, theo các chuyên gia phong thủy, đặt xương rồng trong nhà hoặc phòng làm việc là điều tối kỵ.

Cây xương rồng là một trong những cây có tác dụng hóa hung cao nhưng lại cực kỳ cấm kỵ khi bài trí trong nhà.

Trong phong thủy, hình dáng của cây xương rồng thuộc vào loại đặc biệt, thân phát triển hướng lên trên, giống như xương của con rồng với ý nghĩa mang đến sức mạnh, có tác dụng hóa giải hình sát mạnh bên ngoài. Vì thế nó là một trong những cây có tác dụng hóa hung cao nhưng lại cực kỳ cấm kỵ khi bài trí trong nhà.

Bày xương rồng trong nhà gia chủ dễ bị bệnh tật, mất mát tài sản, tình cảm trục trặc, cô đơn.

Nguyên nhân bởi cây xương rồng là cây nhiều gai nhọn, những mũi nhọn của nó chĩa vào người thì sẽ tạo ra khí xấu, ảnh hưởng tới sức khỏe của gia chủ. Chưa kể việc tập trung quá nhiều gai nhọn trên thân cây khiến nó luôn bị bao bọc bởi sát khí. Đôi khi, xương rồng nở hoa (nếu trồng xương rồng mà nở hoa, được coi là điềm lành vì hoa của nó mang năng lượng tốt) nhưng không đủ sức để át đi năng lượng xấu của những chiếc gai nhọn.

Dù hoa xương rồng rất đẹp nhưng cây xương rồng vẫn có tính sát khí cao

Thuyết phong thủy cũng quan niệm "hình nào khí nấy", vì vậy, nếu một cây xanh tốt, khoẻ khoắn, dáng vươn cao sẽ tạo nên nhiều sinh khí. Ngược lại nếu cây có dáng ủ rũ, gai góc, xù xì sẽ theo chiều hướng ngược lại, tạo nên sát khí hoặc ám khí. Vì vậy, nếu bày trong văn phòng công ty, công ty sẽ khó phát triển, người đứng đầu cũng không sáng suốt, thường bệnh tật và tài sản công ty dễ mất mát.

Nếu bạn là một người yêu xương rồng thì chỉ nên đặt xương rồng ở ngoài cửa, như vai trò của người canh gác, bảo vệ bạn khỏi những năng lượng xấu, ngăn không cho chúng xâm nhập vào nhà.

Vì cây xương rồng là một cây có nhiều gai nhọn xung quanh khiến nó luôn được bao bọc bởi sát khí nên các nhà phong thủy đưa ra lời khuyên không nên đặt xương rồng trong phòng làm việc hoặc trong nhà mà chỉ nên trồng xương rồng vào những khu vực xấu hoặc để chống lại những sát khí chiếu vào nhà như để trấn lại góc nhọn hoặc các loại mũi tên sắt từ hàng rào của người hàng xóm...

Mộc Lan


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt cây xương rồng trên bàn làm việc sẽ mang lại điềm xui xẻo

Công dụng trị bệnh của mâm ngũ quả ngày Tết

Mâm ngũ quả thường theo 5 sắc màu tượng trưng cho mong ước được ngũ phúc: giàu có, sang trọng, sống lâu, khỏe mạnh, bình yên. Ngoài ý nghĩa tâm linh, từng loại trái trên mâm đều có tác dụng trị bệnh.
Công dụng trị bệnh của mâm ngũ quả ngày Tết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vào dịp Tết Nguyên đán, từ Bắc chí Nam, nhà nào cũng đều có bày mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên. Theo thuyết ngũ hành: Kim màu trắng, Mộc màu xanh, Thủy màu đen, Hỏa màu đỏ, Thổ màu vàng. Mâm ngũ quả thường theo 5 sắc màu đó để phối trí các loại quả cho tương xứng. 5 màu tượng trưng cho mong ước được ngũ phúc: phú (giàu có), quý (sang trọng), thọ (sống lâu), khang (khỏe mạnh), ninh (bình yên).

Miền Bắc thường chưng 5 loại quả có 5 màu khác nhau như: chuối, táo màu xanh; bưởi (hoặc phật thủ), cam, quýt màu vàng; hồng hoặc táo tây, ớt màu đỏ; roi, mận, đào hoặc lê màu trắng; hồng xiêm ( tức sabôchê) hoặc nho đen, măng cụt, mận màu đen. Ở miền Nam, mâm ngũ quả thường thấy các loại mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, dưa hấu, thơm…

Thường người ta chọn loại quả tươi tốt, có màu sắc đẹp và có ý nghĩa tượng trưng cho mong ước của mình. Quả bưởi tròn tượng trưng sự viên mãn, đầy đủ, nhiều phúc lộc; quả phật thủ tượng trưng cho sự che chở, bình an; quả na, lựu, nhiều hạt ngụ ý sự đông con nhiều cháu; quả quất tượng trưng cho người quân tử...

Tùy theo quan niệm của mỗi miền mà có những kiêng kỵ khác nhau, dựa vào tên của vài loại quả, gọi là cách tá âm. Ví dụ như có nơi người ta không chưng quả cam (cam chịu), quả chuối (chúi: chúi đầu, chúi mũi; vất vả), tắc (bế tắc… Ở Nam bộ, người ta lại thích dứa, thơm (thơm tho, thơm danh), sung (sung túc); hoặc thể hiện sự mong ước đơn sơ bằng các loại như mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài (cầu vừa đủ xài); mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung (cầu vừa đủ xài sung)…

12 loại trái cây thường được chọn dùng trong mâm ngũ quả ngày Tết còn có nhiều giá trị về mặt y học.

1. Mãng cầu (cầu)

Mãng cầu gồm có mãng cầu xiêm và mãng cầu dai (na). Thịt quả trắng, mùi dễ chịu, vị dịu, hơi ngọt, chua, có tính giải khát, bổ dưỡng.

Trong 100g phần ăn được của mãng cầu xiêm có chứa các chất sau: Nước 81g; protid 1,70g; lipid 0,80g; glucid 12,00g; carbohydrat 1,10g; cellulose 1,80g; acid 0,90g; tro 0,70g. Cung cấp 64 calo. Ngoài ra, mãng cầu xiêm còn chứa nhiều chất vitamin và các chất khoáng vi lượng; cung cấp cho cơ thể nhiều chất dinh dưỡng, rất tốt cho người suy nhược cơ thể, ăn uống kém.

Thịt quả mãng cầu xiêm nhiều nước, ít đường, nhiều acid, nên có vị chua ngọt và mùi thơm rất đặc trưng. Người ta dùng thịt quả pha thêm nước và đường hoặc sữa, xay làm nước sinh tố để giải khát, bổ mát và chống hoại huyết. Đây là loại  trái cây có ích cho người bệnh tiểu đường và cao huyết áp. Mãng cầu xiêm cũng được dùng chế biến thành mứt kẹo thơm ngon, rất được ưa chuộng.

Quả xanh phơi khô tán bột dùng trị kiết lỵ và sốt rét. Lá dùng trị sốt rét với mục đích thường để chặn cữ (lên cơn sốt rét) như sau: Lá mãng cầu xiêm 15 lá, đâm vắt lấy nước cốt uống 1 lần, ngày uống 4 lần.

Mãng cầu dai, tức quả na, còn gọi là mãng cầu ta (Annona squamosa L.), có thịt quả mềm, thơm, ngon, ngọt. Trong 100g phần ăn được của quả na có chứa: Nước 82,5g; protid 1,6g; glucid 14,5g; cellulose 0,8g; tro 0,6g; các chất khoáng vi lượng Ca 35mg; P 45mg; Fe 0,6mg; các vitamin B1 0,11mg; B2 0,10mg; PP 0,8mg; C 36mg; cung cấp 98 calo.

Theo đông y, thịt quả na có vị ngọt, chua, tính ấm, tác dụng hạ khí, tiêu đàm. Thường dùng trong các trường hợp kiết lỵ, tiết tinh, đái tháo, tiêu khát, ho có đàm vàng đặc. Quả xanh dùng chữa lỵ và tiêu chảy. Lá có tác dụng sát khuẩn, tiêu viêm, sát trùng, dùng chữa kiết lỵ ra máu.

2. Dừa (Vừa)

Dừa được trồng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở các vùng ven biển nhiệt đới. Theo Đông y, quả dừa gọi là da tử, có vị ngọt, tính bình, không độc, ăn đỡ đói; tác dụng khử phong, ích khí, tiêu phù thũng, trừ hoắc loạn, tâm phiền, giải nhiệt độc (Tuệ Tĩnh - Nam dược thần hiệu).

Cùi dừa màu trắng đẹp, ăn giòn thơm, hương vị như sữa. Quả càng già, hàm lượng chất dinh dưỡng càng nhiều. Ăn bổ dưỡng lại giúp trừ được phong thấp. Nước dừa có vị ngọt, tính bình, tác dụng giảm tiêu khát, khỏi thổ huyết, trừ say nắng, giúp đen râu tóc. Dùng uống giải khát và bổ dưỡng. Nước dừa vô trùng được dùng làm dung dịch truyền tĩnh mạch, trị tiêu chảy.

Nước dừa chứa nhiều chất dinh dưỡng, bao gồm vitamin C, sắt, phospho, canxi, kali, magiê, natri, các chất khoáng khác, lipid, protein, đường... Nước dừa là loại nước giải khát có giá trị, tác dụng tăng cường khí lực, giải khát, giải nhiệt, làm tươi nhan sắc. Rất tốt cho người bị cảm nắng, tiêu chảy, tiêu ra máu.

Người ta ưa chuộng dừa vì nó chứa một số acid béo không thay thế trong quá trình đồng hóa thức ăn, cố định men, tham gia dự trữ chất béo của cơ thể. Dầu dừa hay bơ dừa tạo thành một nhũ tương rất mịn khi gặp mật và dịch tụy nên dễ đồng hóa.

Nước cốt dừa là cùi dừa khô bào vụn, vắt ép lấy nước. Trong nước cốt dừa có chất béo, acid amin, đường, acid hữu cơ. Nước dừa và nước cốt dừa có chất kích thích tăng trưởng nên được dùng để cấy mô.

Các món ăn như kho, nấu chè, bánh kẹo có pha nước cốt dừa sẽ tăng hương vị ngọt béo, hấp dẫn khẩu vị. Người Nam Bộ còn chế loại bánh tráng dừa làm bằng cùi dừa bào còn nước cốt và bột gạo nếp. Bánh màu trắng ngà, dẻo mềm, thơm ngon, có thể ăn ngay không cần nướng.

3. Đu đủ (Đủ)

Theo sách Dược thảo bách khoa toàn thư, đu đủ được người Maya sử dụng làm thức ăn và làm thuốc từ rất lâu đời. Người Trung Quốc thì xem đu đủ như “trái cây vua của vùng Lĩnh Nam”, đặt tên cho đu đủ là Phiên mộc qua.

Ngày nay, mọi người đều công nhận đu đủ là một loại trái cây có hương vị thơm ngon, bổ dưỡng và có tác dụng trị liệu một số bệnh tật. Trong 100g phần ăn được của đu đủ có chứa các chất dinh dưỡng sau (FAO, 1976): Nước 87,1g ; glucid 11,8g ; protein 0,5g ; lipid 0,1g ; tro 0,5g ; các chất khoáng K 24mg, P 22mg, B1 0,03mg, C 71mg, cung cấp 45Kcalo.

Theo đông y, đu đủ chín có vị ngọt, mát, tác dụng nhuận tràng, tiêu thực, tiêu tích trệ, lợi trung tiện, lợi tiểu. Là một thức ăn bổ dưỡng, giúp tiêu hóa protid, lipid, albumin rất hiệu quả.

Đu đủ xanh có vị đắng, ngọt, tác dụng tiêu rất mạnh (dễ gây xót ruột khi dùng nhiều), được dùng chữa rối loạn tiêu hóa do tỳ vị yếu, viêm dạ dày mãn tính, viêm dạ dày - ruột non ở trẻ em. Ngoài ra, còn có tác dụng giúp cơ thể phòng chống ung thư, sát trùng diệt khuẩn (theo Trung dược đại từ điển).

Trái đu đủ xanh và các bộ phận khác của cây như thân, rễ, lá, đều có chứa chất nhựa mủ. Trong nhựa mủ này có men papain có khả năng hòa tan một khối lượng tơ huyết (fibrin) gấp 2.000 lần khối lượng của nó.

Men papain của đu đủ có tác dụng như men pepsin của dạ dày và nhất là giống men trypsin của tụy tạng trong việc tiêu hóa protid, lipid, hydrat carbon trong môi trường hơi kiềm hay trung tính. Nếu sự phân tiết của tụy tạng có trở ngại, gây ra một số rối loạn về tiêu hóa, thì có thể sử dụng đu đủ chín nấu ăn để điều hòa. Ngoài ra, men papain còn có tác dụng làm triệt tiêu progesteron, cho nên phụ nữ có thai không nên ăn đu đủ xanh.

Hoa đu đủ đựng dùng trị ho trẻ em, ho gà, bằng cách hấp với đường phèn: 30g hoa tươi hấp với 20g đường phèn (có thể nấu với ½ chén nước), chia làm 2 lần cho uống trước bữa ăn.

Nhựa mủ đu đủ (Latex caricae papayae) được lấy từ trái xanh đem phơi khô, hoặc lấy từ thân cây, có tác dụng làm sạch da, làm lành các vết thương, thúc đẩy quá trình làm lành các ung nhọt cũng như các khối ung thư (Theo sách The Encyclopedia of Medicinal plants).

Qua đó, ta thấy đu đủ có những lợi ích rất thiết thực :

- Chứa nhiều caroten, khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A, là chất chống oxy hóa rất hiệu quả, giúp phòng chống  bệnh tim mạch, lão suy, ung thư.

- Giàu vitamin B, C, các chất khoáng, tác dụng bổ dưỡng, trợ tiêu hóa. Kết hợp với chuối + mật ong chống táo bón.

- Bảo vệ da rất tốt (+ sữa tươi + đường). Làm mặt nạ (+ sữa tươi hoặc yaourt), ngừa được mụn, vết nám da, chữa da khô. Đu đủ còn có công dụng rất đặc biệt, nó có thể giúp vết thương hay vết mổ của bạn mau lành, bằng cách đắp một miếng đu đủ lên vùng da bị tổn thương.

- Đu đủ xanh hầm móng giò heo là thức ăn lợi sữa, làm nộm với khô bò là thức ăn khoái khẩu, lợi tiêu hóa.

- Bổ dưỡng Tỳ vị: Đu đủ chín 200g, sữa bò 250ml, nước chanh vắt 1 muỗng canh, mật ong vừa đủ. Gọt vỏ đu đủ, xắt nhỏ, bỏ hột, cho vào máy xay cùng với các nguyên liệu để xay nhuyễn, dùng uống trong ngày.

- Nước đu đủ, dứa giúp da trắng mịn, hồng hào :

Vật liệu: Đu đủ ¼ quả, dứa ¼ quả, bôm (táo tây) ½ quả, cam 2 quả, nước 50ml.

Cách làm: Dứa cắt miếng nhỏ. Đu đủ gọt bỏ vỏ và gạt rồi cắt miếng nhỏ; bôm, cam rửa sạch, cắt miếng bỏ hạt. Lấy các thứ trên cho vào máy xay sinh tố, sau khi xay xong đổ vào ly, thêm nước vào quậy đều là có thể dùng.

4. Xoài (Xài)

Xoài được coi là “vua trái cây”. Trong 100g phần ăn được của quả xoài chín có chứa các chất sau : Nước 86,5g; protid 0,6g; lipid 0,3g; glucid 15,9g; tro 0,6g; các chất khoáng vi lượng Ca 10g; P 15g; Fe 0,3g; các vitamin B1 0,06mg; C 36mg; beta-caroten 1880 microgam. Cung cấp 62 calo. (FAO.1976)

Như vậy, xoài chín chứa nhiều chất bổ dưỡng. Một miếng xoài 100g cung cấp 78% nhu cầu vitamin A mỗi ngày, 46% nhu cầu vitamin C, ngoài ra còn có vitamin E.

Ăn xoài chín giúp tăng cường sức đề kháng, chống viêm, phòng ngừa ung thư, giúp hạ cholesterol máu, hạ huyết áp, phòng bệnh mạch vành, ngừa ung thư ruột kết (do làm tăng nhu động ruột, chống táo bón). Tác dụng bổ não, có lợi cho người làm việc trí óc. Đặc biệt, xoài rất tốt cho hoạt động của thanh đới, chống khô cổ, khản tiếng (ca sĩ, phát thanh viên… nên dùng)

Xoài xanh có nhiều vitamin C, nấu canh chua với các loại cá đồng (cá rô, cá trê, cá lóc…) rất ngon lại có tác dụng giải nhiệt, chống mệt mỏi vào mùa hè. Tuy vậy, xoài xanh có nhiều chất chát có thể gây táo bón, không nên ăn lúc đói bụng. Ăn ít thì nhuận trường, ăn nhiều gây tiêu chảy. Sau bữa ăn no, bị sốt, vết thương mưng mủ, đái tháo đường không nên ăn xoài chín.

Tinh chất từ hạt xoài có thể giúp ngăn chặn nhiều loại vi khuẩn có hại, trong đó có listeria. Listeria là loại vi khuẩn có trong thực phẩm, nhất là các loại thịt đóng hộp, đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ có thai, người già, trẻ sơ sinh và người có hệ miễn dịch yếu. Theo các nhà nghiên cứu, người ta có thể tận dụng hạt xoài để chế biến một loại chất bảo quản thực phẩm tự nhiên chống nhiễm khuẩn listeria.

Theo Đông y, quả xoài vị ngọt, chua, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, kiện tỳ, tiêu trệ, chỉ thổ, giải khát, lợi niệu, trị ho, hoại huyết, tiêu hóa kém, phòng ngừa ung thư đại tràng và bệnh do thiếu chất xơ.

Hạt xoài có vị chua, chát, tính bình, dùng trị giun, kiết lỵ, tiêu chảy, giúp giảm đau, trị miệng khát họng khô, tiểu tiện không thông.

Vỏ trái xoài chín nấu thành cao lỏng, trị được bệnh ho ra máu.

Khi ăn xoài, cần lưu ý những điều sau đây:

- Tuy thịt quả xoài có tác dụng lợi tiểu, chữa hoại huyết, nhưng nếu ăn nhiều sẽ bị nóng, dễ sinh mụn nhọt, chảy ghèn ở mắt.

- Không nên ăn xoài sau khi dùng các thức ăn có nhiều gia vị cay, nóng như hành, tỏi, tiêu, gừng, ớt…

- Cách ăn xoài chín an toàn là xắt nhỏ, làm nhuyễn, không để cả lát to, không nhai dối, nuốt chửng (chú ý đối với trẻ em và người già răng yếu). Nên ăn xoài chín đến độ có thể bóc vỏ mà không cần dùng dao gọt vỏ.

- Tránh nhựa mủ ở vỏ, mủ xoài có chất độc gây nôn mửa, tiêu chảy, viêm da.

Sau đây là cách chế nước sinh tố xoài làm đẹp da:

Nguyên liệu: Xoài chín ½ quả, chanh ½ quả, bưởi ½ quả, mật ong ½ muỗng nhỏ, sữa chua ½  ly, nước đá một ít.

Cách làm: Tất cả cho vào máy xay sinh tố rồi ăn sau bữa ăn 2-3 giờ. 

Làm săn da mặt bằng cách: Lá xoài tươi 50g, rửa thật sạch, giã nát, đắp mặt trong 20 phút rồi rửa sạch.

5. Sung (Sung túc)

Sung còn gọi là vô hoa quả, thiên sinh tử, ánh nhật quả, văn tiên quả, phẩm tiên quả, nãi tương quả, mật quả, thường mọc hoang ở những nơi ẩm ướt và cũng được trồng quanh bờ ao hoặc ven sông. Người ta dùng quả, lá sung làm thực phẩm và dùng cả nhựa, lá, vỏ cây để làm thuốc.

Trong 100g quả sung có chứa các chất sau: protein 1g, chất béo 0.4g, đường 12.6g, Ca 49mg, P 23mg, Fe 0.4mg, caroten 0.05mg, dẫn xuất không protein 12.3g, khoáng toàn phần 3.1g.

Quả sung thường dùng muối ăn như cà muối, luộc ăn với nước chấm hoặc kho. Lá sung non có thể ăn sống như rau, lộc sung dùng gói nem.

Theo đông y, quả sung có vị ngọt, hơi chát, tính mát, tác dụng thông huyết, lợi tiểu, chỉ thống, tiêu đàm, tiêu thủng, tiêu viêm, sát trùng, bổ huyết. Quả còn xanh dùng cầm tiêu chảy. Quả sung và lá non giúp lợi sữa cho sản phụ.

Nhựa mủ dùng bôi ngoài chữa các chứng sang độc, chốc lở, đinh nhọt, bỏng, các loại ghẻ. Cành lá và vỏ cây sung dùng chữa phong thấp, sốt rét, sản phụ ít sữa. Liều dùng 10-20g, sắc uống.

Trong sách Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã dùng nhựa sung chữa các loại đinh nhọt và dùng lá sung non chữa trẻ em bị lở ghẻ. Trong sách Bách gia trân tàng, Hải Thượng Lãn Ông dùng lá sung tật nấu nước cho uống và xông rửa mặt chữa trên mặt bị nổi từng cục u nhỏ sưng đỏ.

Ở Ấn Độ, rễ sung được dùng chữa lỵ, nhựa rễ cây dùng chữa tiêu khát (đái tháo đường); lá sung sấy khô, tán bột, trộn với mật ong chữa bệnh túi mật; quả dùng chữa rong kinh, khạc ra máu; nhựa sung dùng chữa bệnh trĩ và tiêu chảy.

Y học hiện đại cho rằng quả sung có tác dụng nhuận tràng, hạ huyết áp và phòng chống ung thư. Ngày nay, cây sung còn được trồng trong bồn, chậu non bộ làm cảnh, rất được ưa chuộng.

6. Dứa - thơm (Thơm tho, Đa phúc lộc)

Quả dứa có nhiều nước, vị ngọt pha chua rất ngon, mùi thơm đặc biệt, là một trong các thứ trái cây tươi được nhiều người ưa chuộng. Quả dứa có nhiều mắt nên được tượng trưng cho đa lộc, đa phúc.

Theo Đông y, dứa có vị ngọt chát, tính bình, có tác dụng giải khát, giải nhiệt, lợi tiêu hóa, ngừng tả. Men dứa giúp dạ dày phân giải protein, làm thức ăn dễ tiêu. Sau khi ăn nhiều thịt, mỡ, ăn dứa rất có lợi. Ngoài ra, chất đường, muối và men trong dứa còn có tác dụng lợi tiểu, chữa viêm thận, cao huyết áp, phù thũng. Đối với bệnh viêm phế quản, ho, nó cũng có tác dụng điều trị hỗ trợ.

Tuy nhiên, có một số người sau khi ăn dứa xuất hiện hiện tượng dị ứng. Thường sau 15 phút hoặc 1 giờ, bệnh nhân thấy đau bụng, buồn nôn, đi lỏng, đồng thời có các biểu hiện mẫn cảm như đau đầu, chóng mặt, mẩn đỏ da, ngứa toàn thân, tay chân và lưỡi cứng đờ, nghiêm trọng hơn có thể ngất đột ngột. Do đó, những người bị dị ứng dứa không được ăn.

Trước khi ăn, có thể ngâm dứa trong nước muối để một phần acid hữu cơ bị phân giải, làm giảm nguy cơ ngộ độc dứa. Dứa sau khi xát muối ăn đậm đà, ngọt ngào hơn.

- Nước ép dứa:

Mỗi ngày, bạn hãy uống một ly nước ép dứa để ngừa ung thư. Nước dứa có khả năng kích thích hệ miễn dịch tấn công tế bào bệnh; kìm hãm khả năng di căn của các loại ung thư vú, phổi, đại tràng, buồng trứng và da. Không ăn hoặc uống nước ép dứa khi bụng đói.

Cũng giống đu đủ, dứa rất hữu ích trong việc làm mềm da, chứa ezym đặc biệt có tác dụng tẩy tế bào chết, đặc biệt khi thoa hoặc ngâm nước ép dứa ở những vùng da đầu gối, khuỷu tay, gót chân, v.v...

 7. Hồng (Hồng hào, Tươi tốt)

Cây hồng còn gọi là hồng thị, thị đinh, quân thiên tử, cậy… Trong quả hồng tươi có chứa: 88-90% nước; 0,7-0,9% protid; 0,1% lipid; 6,2-8,6% glucid; 10 mg% Ca; 19 mg% P; 0,2 mg% Fe; 0,16 mg% caroten; 16mg% vitamin C; 0,3 mg% vitamin P…

Tai hồng là phần đài còn đính vào quả khô, được dùng làm thuốc với tên thị đế (Calyx Kaki).

Trong sách Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh viết như sau: “Hồng thị là quả hồng, vị ngọt hơi chát, tính hàn lành, nối liền khí kinh mạch, làm mát dạ dày, nhuận trong miệng, hòa trong ruột, thông được tai mũi. Khi uống rượu thì không nên ăn hồng vì dễ say hoặc sinh ra đau tim".

Quả hồng khô (mứt hồng) vị ngọt, tính bình, không độc, nhuận phế, nhuận tâm, hòa vị, tiêu đàm, giáng hỏa, hỏa huyết. Có tên là bạch thị hoặc thị bánh”.

Vị thuốc thị đế có vị đắng, tính ôn, vào kinh vị, tác dụng ôn trung, giáng khí. Thường dùng chữa nấc, đầy bụng, nôn ói, ợ hơi. Ngày dùng 8 – 16g sắc uống.

Ngày nay ở Trung Quốc, người ta còn dùng thị tất (Succus Kaki Siccatis) là nước ép từ quả hồng chưa chín, phơi hay sấy khô, để chữa cao huyết áp, cầm máu, trĩ.

Vị thuốc thị sương (Saccaharum Kaki) là chất đường trong quả hồng chảy ra khi người ta ép để làm mứt, cho vào nồi đun lửa nhẹ đến khi cô lại thành châu thì đổ ra khuôn, phơi hoặc sấy nhẹ cho khô se, cắt thành từng miếng rồi phơi sấy cho khô hẳn. Thị sương dùng chữa ho, viêm họng khô rát.

Ngày nay, người ta còn dùng quả hồng chữa bệnh theo những cách sau :

- Hồng khô + mộc nhĩ đen để chữa táo bón, trĩ ra máu.

- Hồng khô sấy dòn, tán bột chữa đường tiêu hóa sưng đau.

- Hồng khô + trà + đường phèn chữa ho đàm, ho ra máu.

- Hồng khô + váng sữa + mật ong chữa tỳ vị yếu, ăn uống kém.

- Nước ép hồng tươi + sữa tươi hoặc nước cơm rất tốt cho người cao huyết áp.

Ngoài ra, người ta còn dùng lá hồng 10g + trà 6g, sắc uống hàng ngày để chữa cao huyết áp, ngừa xơ vữa động mạch. Vỏ quả hồng phơi khô 50g đốt tồn tính, tán bột mịn, trộn với dầu mè bôi chữa viêm da lở loét.

Những người bị huyết áp thấp không nên ăn hồng.

8. Dưa hấu (Tốt đẹp, viên mãn, trung thực)

Dưa hấu có ruột đỏ (may mắn), vỏ xanh (thanh xuân), hạt đen (duyên dáng), lớp cùi vỏ trắng (thanh khiết, trung thực).

Trong dưa hấu có chứa nhiều chất dinh dưỡng giá trị như citrulin (0,17% của dịch quả), caroten, lycopen, manitol, vitamin A, vitamin C, vitamin B, , PP, acid folic…các chất khoáng vi lượng (Fe, P, Ca, Mg…), rất giàu chất pectin, kali (116mg%)… Hạt dưa hấu có chứa dầu (20-40%).

Theo đông y, thịt quả có vị ngọt nhạt, tính hàn, tác dụng giải khát, giải say nắng, trừ phiền nhiệt, hạ khí, lợi tiểu, sinh tân dịch. Vỏ quả dưa hấu có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải thử độc, chỉ khát, lợi tiểu. Hạt dưa có vị ngọt, tính hàn, tác dụng hạ nhiệt, hạ khí, lợi tiểu.

Ngày nay, người ta dùng quả dưa hấu trong trường hợp cao huyết áp, nóng ở vùng bàng quang, tiểu buốt, viêm thận, phù thũng, vàng da, đái tháo đường, say rượu, cảm sốt do thử nhiệt, phiền khát, chữa lỵ ra máu và ngậm với muối nuốt nước chữa viêm họng. Ngày uống 2-3 chén nước ép dưa hấu.

Người Trung Quốc cho rằng nếu vào mùa hè, mỗi ngày ăn được 3 miếng dưa hấu thì chẳng cần gì đến thuốc thang. Tuy nhiên, những người thận suy đi tiểu nhiều, người tỳ vị hư hàn, bụng lạnh, dễ tiêu chảy, hay buồn nôn thì không nên ăn dưa hấu.

Trường hợp dùng dưa hấu để trị liệu thì không được ướp lạnh, chỉ dùng tươi mới tốt. Dưa hấu là thức ăn rất tốt cho người đái tháo đường, mập phì và người cao tuổi. Khi bổ ra thì phải ăn ngay, không nên để lâu vì dễ nhiễm trùng, ăn vào đau bụng (các cụ ngày xưa cho là dưa bị hở nên có gió nhập vào).

Tuy dưa hấu là thứ giải khát tốt nhưng không nên ăn quá nhiều trong một lần, nhất là đối với những người tì vị hư hàn.

Người ta còn nghiền thịt dưa hấu thành bột nhão làm kem đắp lên mặt để dưỡng da, an toàn, không bị dị ứng, ngừa nám da, khô da. Mỗi tuần làm khoảng 2-3 lần, đắp mặt nạ dưa hấu chừng 15-20 phút rồi rửa sạch.

Vỏ quả dùng giải say nắng, chữa sốt cao, khát nước, đi tiểu ít, tiểu lắt nhắt, phù thũng, miệng lưỡi sưng lở. Có thể dùng tới 40g vỏ quả sắc với 500ml nước sôi uống thay trà, hoặc dùng vỏ quả khô đốt ra than, tán bột ngậm chữa miệng lưỡi sưng lở.

Hạt dưa hấu dùng chữa đau lưng, trị giun sán, phụ nữ hành kinh quá nhiều. Ngày dùng 12-16g sắc uống. Ngoài ra, hạt dưa hấu còn được người Trung Quốc dùng để mát phổi, tan đàm, nhuận trường, lợi tiêu hóa.

Rễ và lá dưa hấu dùng để chữa tiêu chảy, kiết lỵ vào mùa hè.

Lớp cùi vỏ trắng (nhiều citrulline hơn thịt quả), có tác dụng làm lành vết thương, lợi tiểu, giải khát, tăng cường sinh lực. Thường dùng làm rau trộn, xào thịt, làm nhân bánh.Cùi trắng của dưa hấu xắt lát mỏng rồi ngâm dấm để làm dưa chua, ăn khai vị rất ngon miệng, thích hợp vào mùa hè.

9. Chuối (Bình an, đa phúc lộc)

Quả chuối còn xanh chứa 10% tinh bột và 6.53% chất tanin.

Quả chuối chín có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Trong 100g chuối chín có chứa: glucid 26.1g, protein 1.2g, lipid 0.3g, tro 0.8g, Ca 12mg, P 32mg, Fe 0.8mg, các vitamin A (beta caroten) 225 microgam, B1 0.03mg, C 14mg. Ngoài ra còn có Mg, Na, S, Zn… Xét về mặt dinh dưỡng, chuối có giá trị hơn cả khoai tây và tương đương với thịt. 100g chuối cung cấp cho cơ thể 100 calo và dễ tiêu hoá.

Quả chuối chín có tác dụng nhuận trường, chống scorbut và thúc đẩy sự lên da non của các thương tổn trong ruột, trong viêm ruột kết có loét.

Khi mới bị táo bón, chỉ cần ăn liền 3-4 quả chuối tiêu sau bữa cơm chiều, sáng hôm sau sẽ dễ đi cầu. Nếu bị táo bón lâu ngày thì nên dùng quả chuối mật mốc (chuối lá) thật chín, đem nướng đến khi cháy gần hết vỏ, lấy ra bóc ăn, khi chuối còn nóng, sau 30-60 phút sẽ thông đại tiện. Trường hợp phân bị vón quá nhiều, thì sau 20 phút ăn tiếp một quả nữa rồi uống thêm một cốc nước muối pha loãng.

Chuối chín là thực phẩm dinh dưỡng rất tốt cho mọi người, từ trẻ đến già, từ lao động trí óc đến lao động chân tay. Nó giúp ích cho hệ xương, cho sự sinh trưởng cân bằng hệ thần kinh. Người ta sử dụng chuối để trị tiêu chảy, kiết lỵ, chống rối loạn ruột và dạ dày, chữa viêm ruột. Chuối được coi là một loại trái cây lý tưởng cho những vận động viên, nhất là những vận động viên thể hình.

Theo các nhà khoa học của Đại học John Hopkins (Mỹ) thì chuối là loại thuốc hạ huyết áp tốt nhất cho những người nghèo. Các bệnh nhân cao huyết áp ăn mỗi ngày 2-3 quả chuối, liên tục trong một tuần có thể giảm trị số huyết áp khoảng 10%.

Bột của quả chuối xanh có tác dụng chữa loét dạ dày có hiệu quả. Cách chế bột chuối như sau : Phơi quả chuối xanh trong im (phơi âm can) hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp, sau đó tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần một muỗng canh bột chuối, hoà với nước ấm, uống lúc không no không đói quá.

Người ta còn dùng quả chuối xanh non để chữa hắc lào mới phát: Trước tiên, ta rửa sạch chổ lở ngứa bắng nước ấm, gãi cho trợt da ra, lau khô rồi lấy quả chuối vừa bẻ trên buồng ra, cắt dần từng lát, cho nhựa chuối tiết ra mà chấm, bôi, xát vào chỗ đau. Làm 4-5 lần sẽ khỏi.

Hoa chuối (ba tiêu hoa) có tính ấm, vị chua mặn, tác dụng làm ấm dạ dày, tan đàm, làm mềm u nhọt, thông kinh. Người ta dùng hoa chuối để làm thực phẩm (gỏi, rau độn trong dĩa rau xanh của bún, lẩu…). Món hoa chuối xắt nhỏ, luộc chín, trộn với muối mè hoặc đậu phụng rất tốt cho phụ nữ ít sữa sau khi sinh và người già bị táo bón.

Lá chuối được dùng làm thuốc chữa một số bệnh ngoài da. Dùng lá chuối rửa thật sạch, nghiền nát rồi trộn với nước gừng tươi để đắp chữa nhọt độc mới phát. Lấy lá chuối nghiền nát, trộn với lòng trắng trứng gà hoặc dầu mè để chữa các vết bỏng lửa, bỏng nước sôi. Nước của thân cây chuối hoặc củ rễ chuối được dùng uống trị sưng tấy, làm thuốc giải nhiệt, chữa nóng quá phát cuồng. Dùng ngoài rửa thật sạch, giã nát đắp vào chỗ đau, nhọt độc sưng nhức.

10. Lựu (Đa phúc, đa lộc)

Quả lựu có nhiều hạt nên được tượng trưng cho sự phồn thịnh, đa phúc, đa lộc. Ở Việt Nam, lựu được trồng khắp nơi để làm cảnh, lấy quả ăn và lấy vỏ quả, vỏ rễ, vỏ thân, hoa, thịt quả để làm thuốc.

Đông y dùng các bộ phận của cây lựu làm thuốc từ rất lâu đời. Theo sách Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, quả lựu có vị ngọt, chua, chát, tính ấm, hơi độc, tác dụng làm nhuận được họng bị khô náo, trừ được lao. Rễ dùng sát trùng rất tốt và trị được huyết lậu. Tuy nhiên nếu ăn nhiều quả lựu sẽ bị hại phổi, tổn răng.

Ngày nay, người ta biết rằng nước quả lựu giàu chất chống ôxy hóa polyphenol, vitamin B1, B2, vitamin C, Ca, Na và P, bảo vệ cơ thể khỏi các gốc tự do gây lão hóa, các bệnh tim mạch, bệnh Azheimer và cả ung thư. Những người bị huyết áp cao, uống 50ml nước quả lựu mỗi ngày trong 2 tuần liên tục có thể hạ được 5% mức huyết áp. Nước lựu có tác dụng tăng cholesterol tốt HDL, giảm cholesterol xấu LHD với tỉ lệ là 20%, giúp làm giảm quá trình hình thành các mảng bám trong các động mạch.

Ngoài ra, nước lựu còn có tác dụng khử trùng và giúp phụ nữ đối phó với các triệu chứng của thời mãn kinh. làm giảm quá trình hình thành các mảng bám trong các động mạch. Dầu hạt lựu có khả năng ngăn ngừa sự hình thành tế bào ung thư da nhờ khả năng làm mau liền da trong trường hợp da bị thương tổn

Trong dân gian, người ta dùng thịt quả để trợ tiêu hóa, trợ tim. Dịch quả tươi giúp hạ nhiệt, làm mát. Hạt giúp tiêu hóa tốt hơn. Hoa dùng chữa viêm tai, đề phòng chảy mủ tai.

Vỏ quả cây lựu có vị chua, chát, tính ấm, tác dụng sáp trường chỉ tả, chỉ huyết khu trùng. Thường dùng chữa tiêu chảy, lỵ ra máu, tiểu ra máu, băng huyết, bạch đới, thoát giang, đau bụng giun. Ngày dùng 15-30g dạng thuốc sắc, thường phối hợp với các chất thơm cho dễ uống.

Vỏ thân và vỏ rễ có vị đắng, chát, tính ấm, có độc, tác dụng sát trùng, trừ sán. Thường dùng trị giun, đặc biệt có hiệu quả đối với sán xơ mít ở người và đối với cả sán ở súc vật nuôi trong nhà. Ngày dùng 20-60g dạng thuốc sắc. Ngoài ra, nước sắc vỏ rễ và vỏ thân còn dùng làm thuốc ngậm chữa đau răng.

Cần lưu ý là khi dùng vỏ quả khô, vỏ thân, vỏ rễ khô thì thuốc phải được bảo quản nơi khô ráo, không để lâu quá 2 năm. Những người thể trạng hư yếu, phụ nữ có thai và trẻ em không nên dùng vì thuốc có độc.

11. Quất (Sung túc, đa lộc)

Quả quất rất giàu chất pectin, chứa vitamin C với hàm lượng 0,13-0,24 mg %, dịch quả có đường, acid hữu cơ nên có vị chua, hơi ngọt. Trong vỏ quả, lá tươi và chồi có tinh dầu 0,21%.

Theo Đông y, quất có vị chua, hơi ngọt, tính bình, không độc. Dùng chữa gan uất kết, dạ dày yếu, tiêu hóa kém, thực tích, chứng ách nghịch, ho, viêm họng, đàm tích, ẩu thổ, tiêu khát, trừ uế khí, giải độc rượu.

Người ta cất giữ quả quất lâu năm bằng cách làm quất muối như sau: Rửa quả quất thật sạch, để ráo nước, xếp vào hũ sành hoặc hũ thủy tinh, cứ 1 lớp quất xen với 1 lớp muối ăn, rồi đem phơi nắng. Thời gian cất giữ càng lâu, công hiệu càng tăng. Khi sử dụng, lấy 5-10 quả quất muối nấu nước uống, hoặc đâm nát ra, chế nước sôi để uống. Trị ho đàm, khô cổ, nặng ngực sau khi ăn, đàm vướng trong cổ không khạc ra được. Nếu dùng giải khát bổ phế thì lấy 1-3 quả đâm nát, hòa với nước đường hoặc nước pha mật ong để uống.

Người ta thường chế mứt kim quất để ăn, vừa bổ dưỡng lại trị được ho đàm, tăng cường tiêu hóa, chữa các chứng ách nghịch.

Quả quất ngâm rượu uống chữa tì vị yếu (hư hàn), can khí uất kết, trừ đàm tích và ẩu thổ. Liều dùng 30-50ml một ngày, uống trước bữa ăn. Xirô quất dùng giải khát, bổ dưỡng, trợ tiêu hóa.

Ngoài ra quất cũng được dùng làm thuốc chữa ho trẻ em theo cách sau: Quả quất chín 10g, hoa hồng trắng 10g, hạt chanh 10g, cho vào bát cùng với đường phèn hoặc mật ong, đem chưng cách thủy hoặc hấp trong nồi cơm 15-20 phút, lấy ra nghiền nát cho uống.

12. Bưởi (Phúc lộc, viên mãn)

Bưởi là loại trái cây rất được ưa chuộng của người Việt Nam. Vào những ngày lễ tết, những quả bưởi tươi thắm luôn được bày trên mâm ngũ quả của các gia đình.

Về mặt dinh dưỡng, trong 100g phần ăn được của bưởi có chứa các chất sau: Nước 80g; protid 0,6g; glucid 9g; lipid 0,1g; các khoáng chất chất: Ca 23mg; P 18mg; Fe 0,5mg; Cellulose (chất xơ) 0,7mg, các vitamin: B1 0,04mg; B2 0,02mg; PP 0,3mg; C 95mg. Cung cấp cho cơ thể 30 calo.

Theo y học hiện đại, nước bưởi giúp hạ đường huyết. Kiểm chứng thực tế cho thấy ăn bưởi đều đặn sẽ giúp giảm cân và phòng chống được tiểu đường. Những người bị bệnh cao huyết áp, tiểu đường, dùng dịch quả bưởi rất thích hợp.

Những hoạt chất khác tìm thấy trong bưởi giúp sản xuất chất xúc tác enzymes, ngăn ngừa ung thư; và một chất khác, chất bioflavonoids, giúp ngăn trở các hoạt động của các hormon phát triển bướu u.

Ngày nay, các nhà khoa học còn ghi nhận quả bưởi có tác dụng chống viêm, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu và cải thiện độ bền vùng thành mạch. Do đó, bưởi có tác dụng làm giảm nguy cơ suy tim, làm vết thương mau lành, giảm đau nhức các khớp, phòng ngừa ung thư dạ dày, ung thư tiền liệt tuyến, chống hoại huyết.

Ăn bưởi thường xuyên cũng sẽ rất có ích cho người bị bệnh thấp khớp, viêm khớp, lupus, hoại huyết, kinh phong.

Theo đông y, tép bưởi có vị ngọt, chua, tính mát, tác dụng tiêu thực, lợi tiêu hoá, tiêu đàm, lợi tiểu, bổ dưỡng cơ thể. Thích hợp với người ăn uống kém, ăn uống không tiêu, đi tiểu ít, dễ xuất huyết, phụ nữ có thai bị nôn nghén, người bị tiểu đường, mập phì, cao huyết áp, đau nhức các khớp, ngộ độc rượu, tinh thần không thư thái.

Y học dùng nhiều bộ phận của bưởi để làm thuốc như vỏ quả, vỏ hạt, hạt, lá, hoa, dịch ép nước bưởi.

Theo đông y, vỏ quả bưởi có vị đắng, cay, tính không độc, trừ đàm, táo thấp, trị trường phong hạ huyết, tiêu thủng, giảm đau, hòa huyết. Bỏ lớp trắng, chỉ lấy lớp vỏ vàng, sao lên mà dùng.  Người Trung Quốc dùng vỏ quả bưởi để trợ tiêu hóa, làm long đàm, trị ho. Ngày dùng 4-12g sắc uống.

Tinh dầu của vỏ bưởi giúp kháng viêm, làm giãn mạch, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và trị cảm cúm, thường được dùng trong liệu pháp nấu nồi xông giải cảm.Lấy vỏ bưởi tươi, gừng tươi giã nát, đắp vào chỗ khớp xương đau trị được bệnh đau xương khớp. Vỏ bưởi ướp đường ăn chữa say xe, say sóng, trẻ em đầy bụng.

Đặc biệt trong cùi trắng của quả bưởi có tác dụng làm giảm cholesterol - huyết, bảo vệ tính bền của mạch máu, phòng chống cao huyết áp và tai biến mạch máu não.

- Lá bưởi có vị đắng, cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, khai uất, thông kinh lạc, giải cảm, trừ đàm, tiêu thực, hoạt huyết, tiêu sưng, tiêu viêm.

- Hạt bưởi có vị đắng, tính ấm, chứa chất béo, có tác dụng trị đau thoát vị bẹn, sa đì. Hạt bưởi giã nát sắc uống dùng chữa sa ruột, sa nang.

- Vỏ hạt bưởi có nhiều pectin, được dùng làm thuốc cầm máu.

- Hoa bưởi dùng làm hương liệu gội đầu hoặc nấu chè rất thơm ngon.

Toàn bộ quả bưởi (cả vỏ lẫn múi) xắt nhỏ sắc uống có thể chữa mẩn ngứa da do dị ứng.

Bưởi đào hay bưởi hồng chứa nhiếu chất beta-carotene, lycopen.Loại bưởi này cũng chứa nhiều chất xơ và ít calories, nhiều chất bioflavonoids và một vài hóa chất khác có tác dụng giúp ngăn ngừa bệnh ung thư và tim mạch. Bưởi hồng còn có khả năng làm giảm mức độ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt nơi đàn ông.

Lương y Đinh Công Bảy
Tổng Thư ký Hội Dược liệu TP HCM
Trich tu: vnexpress.net

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Công dụng trị bệnh của mâm ngũ quả ngày Tết

Tháng cô hồn: Sự thật đi đêm không ngoảnh đầu lại vì ma trêu?

Đi đêm tối không quay đầu ngoảnh lại, không huýt sáo, đêm ngủ có người gọi tên không nên thưa... là những kiêng kỵ trong tháng cô hồn (tháng 7) được người dân truyền tai nhau. Liệu những điều này có phải sự thật?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cho rằng tháng 7 là tháng cô hồn mang lại nhiều xui xẻo, trên nhiều các diễn đàn mạng, mọi người đang chia sẻ rất nhiều những kiêng kỵ tháng cô hồn . Một trong những kiêng kỵ được nhiều người bàn luận sôi nổi là đi đêm tối không quay đầu ngoảnh lại, không huýt sáo.

Phần đông cho rằng, ban đêm là lúc ma quỷ ra đường nên cần tránh xa kẻo bị bắt mất. Ngoài ra, rất nhiều người kiêng tới nỗi không dám lái xe vào ban đêm. Họ sợ sự va chạm, xúc phạm tới quỷ thần và có thể reo rắc vận rủi sau này. Trong tháng 7 nếu đi qua nơi vắng vẻ mà quay đầu lại thì ma quỷ sẽ được thể trêu chọc, khiến con người cảm thấy bất an. Tốt nhất không nên đi một mình đến chỗ vắng.

Ngoài ra, mọi người cho rằng tránh huýt sáo vào ban đêm. Khi đi bộ và cảm thấy hạnh phúc, bạn có thể bắt đầu một cách vô thức huýt sáo một giai điệu nào đó. Theo những người lớn tuổi, làm như vậy chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của những linh hồn lang thang, sau đó bám theo bạn về nhà.

 Tháng cô hồn: Sự thật đi đêm không ngoảnh đầu lại vì ma trêu? - 1

Tháng cô hồn đi đêm tối không quay đầu ngoảnh lại chỉ là kiêng kỵ theo tín ngưỡng dân gian. Ảnh minh họa

Vậy vì sao đi đêm tối không quay đầu ngoảnh lại, không huýt sáo?Ông Vũ Thế Khanh - Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng UIA cho rằng, rằm tháng 7 là một tín ngưỡng dân gian và liên quan rất nhiều tới các linh hồn, quỷ đói nên trong văn hóa người Việt ta có rất nhiều điều kiêng kỵ mỗi dịp tháng cô hồn tới. Tuy nhiên đó chỉ là tín ngưỡng của dân gian, còn về mặt khoa học không phải vậy.

Việc đi đêm tối không quay đầu ngoảnh lại vì sợ ma quỷ trêu trọc không đúng, đó chỉ là người nhát gan, thần hồn nát thần tính. Khi đi qua chỗ vắng, chúng ta thường có cảm giác “hình như” có người đang đi theo mình hoặc gọi tên mình nhưng đó chẳng qua là bước chân của chính ta và do con người tưởng tượng ra các thứ nên sợ sệt. Nếu ma có đi theo thì theo nghiệp của từng người. Làm việc xấu với nó thì chẳng đi đêm hay huýt sáo đêm nó cũng theo. Có ân báo ân, có oán báo oán. Nếu chúng ta làm điều thiện, điều lành thì chả sao.

Hơn nữa, quan niệm này nhằm mục đích giáo dục mọi người không nên đi đêm. Không phải chỉ tháng 7 mà tháng nào mọi người cũng không nên đi đêm. Người đi đêm chỉ có thể làm điều xấu nếu việc đi đó không thật sự cần thiết.

“Hay việc mọi người truyền nhau kiêng kỵ tháng cô hồn không cắt tóc,đêm ngủ có người gọi tên không nên thưa vì đó là ma rủ đi cũng chỉ là quan niệm. Do chúng ta hoảng loạn, ban ngày lo nghĩ quá. Thường thì ngày lo nghĩ, nhắc gì nhiều về điều gì khi nằm ngủ rất dễ tái hiện. Nếu ái có nhỡ thưa cũng chẳng sao cả. Mình tịnh tâm, niệm phật thì không có gì phải đáng sợ” – ông Khanh lý giải.

Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khuyên rằng, mọi người cần sáng suốt nhìn nhận không nên quá kỹ tính kiêng khem, sinh mê tín bởi những quan niệm này chưa được bất kỳ khoa học nào chứng minh là đúng. Tháng nào trong năm cũng như nhau, nếu chúng ta sống bằng tâm, đức, không lừa lọc và dối trá thì không cần thiết phải lo lắng, sợ hãi hay phải kiêng kỵ điều gì.

Theo Hà My (Gia đình & Xã hội)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tháng cô hồn: Sự thật đi đêm không ngoảnh đầu lại vì ma trêu?

Đối chiếu đường chỉ tay Tình cảm để biết tình yêu của 2 bạn

Sự tương ứng giữa hai đường chỉ tay Tình cảm của hai bạn sẽ cho biết phần nào về mức độ hạnh phúc, sự hòa hợp trong tình yêu và hôn nhân.
Đối chiếu đường chỉ tay Tình cảm để biết tình yêu của 2 bạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Sự tương ứng giữa hai đường chỉ tay Tình cảm của hai bạn sẽ cho biết phần nào về mức độ hạnh phúc, sự hòa hợp trong tình yêu và hôn nhân.
 

Bói tình yêu theo nguyên tắc xem tay: Trai tay trái, gái tay phải. Hai bạn có thể xòe bàn tay của mình để đối chiếu xem mình thuộc trường hợp nào dưới đây nhé.   Kiểu 1: Cả hai đều có đường chỉ tay Tình cảm tiêu chuẩn  
Doi chieu duong chi tay Tinh cam de biet tinh yeu cua 2 ban hinh anh goc
 
Đường chỉ tay Tình cảm tiêu chuẩn thường được kéo dài từ ngoài rìa bàn tay tới vị trí giữa ngón tay trỏ và ngón giữa.    Nếu hai bạn đều sở hữu đường chỉ tay Tình cảm tiêu chuẩn, chứng tỏ đây là cặp đôi thấu hiểu lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân ngày càng viên mãn.    Tuy nhiên, lúc bắt đầu mới có cảm tình, cả hai đều rụt rè, không dám thổ lộ. Nên đa phần kết hôn được là nhờ mai mối.   Kiểu 2: Nữ có đường chỉ tay tiêu chuẩn, đường chỉ tay của nam dài tới gò Mộc tinh  
Doi chieu duong chi tay Tinh cam de biet tinh yeu cua 2 ban hinh anh goc 2
 
Đàn ông có đường chỉ tay dài tới gò Mộc tinh có tình yêu sâu đậm, ý chí kiên cường. Dù là đang yêu hay đã kết hôn, người này rất hiểu và quan tâm tới nửa kia.   Hai kiểu tay này kết hợp với nhau, dù gặp phải khó khăn nào trong cuộc sống, cả hai cũng sớm vượt qua, tình cảm mặn nồng như thuở ban đầu.   Điều đặc biệt khác, ngay sau khi kết hôn, cả hai bạn đều rất nóng lòng muốn sinh con đẻ cái.   Kiểu 3: Nữ có đường chỉ tay tiêu chuẩn, đường chỉ tay của nam dừng ở gò Thổ tinh  
Doi chieu duong chi tay Tinh cam de biet tinh yeu cua 2 ban hinh anh goc 3
 
Đàn ông có đường chỉ tay Tình cảm ngắn, chỉ dừng lại ở gò Thổ tinh thường khá nóng vội, tình cảm lên xuống thất thường nhưng khá chủ động trong tình yêu.    Nữ giới có đường chỉ tay tiêu chuẩn lại điềm tĩnh, biết quan tâm, chăm sóc chu đáo cho mọi người xung quanh. Hai cá tính này tương hỗ, bổ trợ cho nhau để xây dựng mái ấm gia đình hạnh phúc.   Kiểu 4: Cả hai đường chỉ tay Tình cảm đều dài  
Doi chieu duong chi tay Tinh cam de biet tinh yeu cua 2 ban hinh anh
 
Khi đối chiếu đường chỉ tay Tình cảm, nếu cả bạn và nửa kia đều có đường tình cảm dài, chứng tỏ cả hai đều khá bướng bỉnh, không ai chịu nhượng bộ, từ đó gây ra mâu thuẫn, thậm chí có xu hướng dùng tới bạo lực.    Kiểu 5: Đường chỉ tay Tình cảm ở nam ngắn, nữ dài  
Doi chieu duong chi tay Tinh cam de biet tinh yeu cua 2 ban hinh anh goc 4
 
Sở hữu tướng tay này chứng tỏ nữ giới suy nghĩ, hành động tích cực, thực tế, không mơ tưởng hão huyền. Còn nam giới lại có tình cảm lên xuống thất thường.   Khi kết hợp với nhau, đôi lúc xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi nhưng vì cả hai đều có ý thức vun đắp tình cảm nên tình yêu cũng khá bền chặt.

(Còn nữa)
 
=> Xem thêm: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh

Ngân Hà

Đối chiếu đường chỉ tay Tình cảm để biết hai bạn có phải là một cặp trời sinh (P2)
Nguyên tắc xem tay: Trai tay trái, gái tay phải. Hai bạn có thể xòe bàn tay của mình để đối chiếu đường chỉ tay Tình cảm xem mình thuộc trường hợp nào dưới đây

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đối chiếu đường chỉ tay Tình cảm để biết tình yêu của 2 bạn

Phong thủy màu sơn nhà –

Trong bài viết này sonnha.dep.asia sẽ giới thiệu tới quý vị cách chọn màu sơn nhà sao cho phù hợp với phong thủy hướng tới một không gian sống hài hòa, cân bằng ánh sáng và tạo cảm giác thoải mái cho mỗi gia đình. 1. Cách lựa chọn màu sắc sơn nhà the

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong bài viết này sonnha.dep.asia sẽ giới thiệu tới quý vị cách chọn màu sơn nhà sao cho phù hợp với phong thủy hướng tới một không gian sống hài hòa, cân bằng ánh sáng và tạo cảm giác thoải mái cho mỗi gia đình.

1. Cách lựa chọn màu sắc sơn nhà theo mệnh.

+ Mệnh Kim: Nên sử dụng sơn màu trắng hoặc sơn màu vàng.
+ Mệnh Mộc: Sơn màu xanh hoặc màu đen.
+ Mệnh Thủy: Sơn màu đen, xanh lam, màu trắng.
+ Mệnh Hỏa: Sơn màu hồng, màu dam cam, màu đỏ.
+ Mệnh Thổ: Sơn màu vàng đất, màu nâu, màu vàng xám.

Sở dĩ có sự lựa chọn trên là do quy luật ngũ hành:
•Thổ sinh Kim
•Kim -> Thủy
•Thủy -> Mộc
•Mộc -> Hỏa
•Hỏa -> Thổ

Căn cứ vào tuổi gia chủ (thường lấy tuổi người chồng)

mau-son-nha-phu-hop-phong-thuy

 

2. Chọn màu sơn theo hướng nhà:

+ Hướng Đông: sơn màu xanh
+ Hướng Tây: sơn màu trắng, sữa.
+ Hướng Nam: sơn màu đỏ, hồng..
+ Hướng Bắc: sơn màu ghi, xám, xanh dương

3. Mẹo chọn màu sơn theo hướng hài hòa với khí hậu

+ Nhà hướng Nam (Tây Nam, Đông Nam):
Có thể tự do lựa chọn màu sắc sơn nhà theo ý muốn vì hướng này khí hậu thuận.
+ Nhà hướng Bắc (Đông Bắc):
Nên chọn màu sơn sáng, màu ấm.
+ Nhà hướng Tây (hoặc Tây Bắc):
Nên sử dụng màu sơn lạnh, mát như trắng, sữa, xanh lá cây, xanh da trời….


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy màu sơn nhà –

Nhìn biểu tướng để biết ai đó thọ sinh sang cảnh giới nào

Không dễ gì để đi tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Làm sao biết ai đó thọ sinh sang cảnh giới nào nhưng bài viết sau đây mang lại cái nhìn tổng quan.
Nhìn biểu tướng để biết ai đó thọ sinh sang cảnh giới nào

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Không dễ gì để đi tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Làm sao biết ai đó thọ sinh sang cảnh giới nào nhưng bài viết sau đây mang lại cho độc giả cái nhìn tổng quan nhất về cách chúng ta đầu thai sang kiếp sau.  

Chúng ta đầu thai như thế nào


Đức Phật nói rất rõ trong Kinh Đại Bồ Tích cách chúng ta đầu thai như thế nào từ lúc cha mẹ mình gặp nhau, gần gũi với nhau rồi mình đi vào như thế nào và cách thọ dụng của chúng ta ra làm sao.
 
Thân trung ấm là nam thì thấy cha mẹ gần gũi tham gia với người nữ nhưng kẹt vào đó chúng ta làm con cho nên đa phần con trai thương mẹ, khó hòa hợp với cha. Và ngược lại thân trung ấm là nữ thì tham gia để tiếp xúc với người nam nhưng kẹt vào nên người đó thành cha của mình cho nên rất là thương cha và không thương mẹ bằng. Từng cử chỉ, từng khởi niệm của cha mẹ mà chiêu cảm thần thức của thân trung ấm đó.
 
Nếu cha mẹ khởi tâm ái niệm ở cấp độ nào, tâm sân si thế nào thì đứa con của họ sẽ tương ứng như thế. Có khi là súc sinh, có khi thân trung ấm của ngạ quỷ từ những cảnh giới thấp hơn tới, cho nên có những đứa con có tính khí rất kỳ cục, hung hãn.

Tham khảo: Đức Phật nói về tái sinh, cuộc sống sau khi chết
 
 
Nhin bieu tuong de biet ai do tho sinh sang canh gioi nao
 
Đức Phật đã giải thích rõ trong một bài kệ Kinh Đại Bộ Tích khi một đứa con bình thường vào trong thai mẹ như sau:
 
Đứa bé trong thai mẹ 
 
Hăm bảy lần 7 ngày
 
Do các nghiệp lành dữ
 
Thân tướng hiện xấu đẹp
 
Nếu thai nhi là trai
 
Ở hông bên phải mẹ
 
Ngồi co tay che mặt
 
Hướng về phía xương sống
 
Như thai nhi là gái
 
Thì ở bên hông trái
 
Hai tay úp vào mặt
 
Ngồi hướng về trước bụng
 
Khi người mẹ đi mau hoặc ngồi, nằm hơi lâu

Hoặc ăn các mùi vị nóng lạnh không hợp thân

Hoặc ăn ít ăn nhiều thai nhi đều chịu khổ 
 
Cho nên người có trí
 
Chớ mến nẻo luân hồi   Cách đây mấy ngàn năm Đức Phật đã có thể biết là con trai hay con gái trong bụng mẹ, nhưng chỉ có tuệ nhãn hoặc Phật nhãn mới nhìn thấy được đứa bé trong bụng mẹ. 
 
Ở trong Luận Du Già nói như thế này: “Thai nhi do nghiệp đời trước của mình ảnh hưởng bởi người mẹ gây ra mà tóc, lông, màu sắc làn da hoặc chi phần có sự biến đổi nếu trong lúc mang thai người mẹ ăn nhiều chất vôi, chất mặn, đứa con vì nguyên nhân đó mà long tóc, thưa ít. Người mẹ ở nơi chật hẹp nóng bức hoặc gần chỗ lửa nóng, đứa con bị ảnh hưởng đó màu da trở nên đen xạm, nếu trái lại, thường ở chỗ lạnh thì đứa con có màu da trắng hoặc người mẹ thích ăn nhiều chất nóng về sau hài nhi sẽ có màu da hung đỏ. Nếu trong lúc cấn thai người mẹ còn nhiều dâm dục, đứa con sẽ có làn da ghẻ chóc, sần sùi.  

Trong lúc thai nghén, người mẹ không khéo giữ gìn thường chạy nhảy lăng xăng, làm việc xốc xáo, nặng nề, do ảnh hưởng đó mà các chi phần của đứa con xiên vẹo, không đầy đủ, thẳng thớm như người thường.
 
Nghiep luc keo chung ta vao canh gioi phu hop
 
 
Con cái không đơn giản là di truyền của cha mẹ mà nó có sự cộng nghiệp, có sự tác động qua lại giữa nghiệp của cha mẹ, con cái. Khi cha mẹ gần gũi khởi lên tâm gì, tạo nghiệp gì thì thân trung hữu của chúng sinh ở các cảnh giới còn lại tương ứng thì sẽ tìm tới. Tại vì những thân này có thể đi nhanh, có thể thấy xa và trong 49 ngày này tìm được chỗ rất nhanh để nó thọ sinh.
 
Cộng nghiệp này có nhiều nguyên nhân, có khi gieo từ cái nhân quá khứ là hữu tình nhưng có khi là gieo từ nhân vô tình. Dù cố tình hay vô tình đều có quả báo như nhau. Nghiệp của chúng ta đã là cộng nghiệp tất cả những người trong gia đình đó là cha, mẹ, anh, em. Chúng ta không tránh né được mà nó có sự liên đới với nhau.
 

Sao biết ai đó thọ sinh sang cảnh giới nào

  Trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận có nói rất là rõ ràng về cảnh giới thọ sinh của chúng ta. Khi chúng ta sắp chết chúng ta hiện ra tướng gì sẽ thọ sinh vào cảnh giới đó.
 
“Con người sắp chết thân tâm hun hủi như ngủ, ngủ mà không phải chiêm bao, không có chiêm bao, lúc ấy minh liệu ý thức không nguyện khởi, không biết được cảnh sở duyên của 6 thức đó là tán hữu tâm còn gọi là sinh tự tâm tức là tâm tán loạn, không tồn tại nhất định hay còn gọi đó là tâm gần khi chết và tâm đó gọi là tâm sinh tử. Bấy giờ do nghiệp lành, nghiệp dữ thân phần dần dần lạnh đi, chỗ nào còn nóng sau cùng thì thần thức đi ra từ chỗ đó”.   
Duc Phat noi ve than trung am
 
Tức là sau 8 tiếng đồng hồ thì thân chúng ta mới lạnh hết, thần thức của chúng ta hoàn toàn rời khỏi thân, chỗ nào còn nóng cuối cùng là nơi thần thức đi ra. 
 
Đầu sinh cõi thánh
 
Mắt sinh trời
 
Bụng nóng ngả quỷ
 
Tim nóng người
 
Bàn sinh thần thức ra đầu gối
 
Nóng ở bàn chân địa ngục thôi.   Người tu tập cao thì trí giác trước khi chết còn, không thì tâm mê muội như là chiêm bao mà không phải là chiêm bao. Trong 8 tiếng sau khi chết, không nên chạm tới người họ vì hễ thần thức còn, cảm giác còn, ai đụng tới thì đau đớn, khi đau khởi tâm sân hận. Đó là cái nhân của cận tử nghiệp sẽ đưa tới cảnh giới sân si.
 
Tham khảo thêm: Hãy cho người thân của mình cơ hội để siêu thoát
 
Tho sinh vao coi tien
 
Để trả lời câu hỏi: Làm sao biết ai đó thọ sinh sang cảnh giới nào, câu trả lời nằm trong Kinh Thụ hộ quốc giới, Đức Phật nói về tất cả các hiện tướng của chúng ta lúc lâm chung, quan sát hiện tướng này để biết được người thân của chúng ta sinh vào cảnh giới nào ở tương lai.
 
Đối với những chúng sinh nào khi lâm chung mà sắp sửa đọ vào trong loài SÚC SINH sẽ có 9 biểu hiện như sau: 
 
1. Thân mang bệnh nặng, tâm mê mờ, tán loạn như ở trong mây mù 
 
2. Sợ nghe danh hiệu Phật, không chịu nghe lời ai khuyên bảo điều lành
 
3. Ưa thích mùi tanh
 
4. Quyến luyến vợ, chồng hoặc con, đắm đuối không bỏ rời 
 
5. Các ngón tay, ngón chân đều co quắp lại 
 
6. Toàn thân toát ra mồ hôi.
 
7. Khóe miệng hay chảy ra nước
 
8. Tiếng nói khò khè hoặc rít rắm khó nghe 
 
9. Miệng hay ngậm đồ ăn

Tham khảo thêm: Tại sao mắt thường lại không nhìn thấy linh hồn hay quỷ thần?
 
Đây là 9 hiện tướng biểu hiện cho chúng ta biết rằng những người sắp lâm chung này sẽ sinh vào cảnh giới súc sinh. Và có 11 biểu tướng của người sắp đọ vào NGẠ QUỶ trong giờ phút lâm chung như sau:
 
1. Thân hình nóng như lửa đốt
 
2. Lưỡi luôn liếm ở môi
 
3. Thường cảm thấy đói khát, ưa nói đến chuyện ăn uống 
 
4. Miệng hả ra, không ngậm lại 
 
5. Tham tiếc tiền của, dây dưa không chịu buông bỏ
 
6. Mắt thường trợn trừng lên, không nhắm lại
 
7. Đôi mắt khô khan như mắt của chim gỗ 
 
8. Không có tiểu tiện nhưng đại tiện nhiều
 
9. Đầu gối phía bên phải lạnh trước
 
10. Tai bên phải nắm lại tưởng trưng cho sự keo kiệt
 
11. Lúc tắt hơi, hai mắt mở trừng trừng, không nhắm lại (chúng ta vuốt xong vẫn mở ra lại)
 
Có 16 biểu tượng của người lâm chung họ sẽ đọ về ĐỊA NGỤC:
 
1. Nhìn thân bằng quyến thuộc bằng con mắt oán hận
 
2. Đưa tay lên quờ quạng giữa hư không
 
3. Đại tiểu tiện không tự biết
 
4. Thân có mùi hôi hám
 
5. Nằm úp mặt xuống hoặc che mặt vào trong vách
 
6. Hai mắt đỏ ngầu
 
7. Nằm co về phía bên trái
 
8. Xương lóng đau nhức
 
9. Thiện tri thức dù chỉ bảo họ cũng không tùy thuận 
 
10. Nhắm nghiền mắt không mở ra 
 
11. Mắt bên trái hay động đậy 
 
12. Sống mũi xiên vẹo
 
13. Gót chân, đầu gối luôn run rẩy 
 
14. Thấy ác tướng, vẻ mặt sợ sệt và không nói hoặc sảng sốt kêu la bảo là: Quỷ hiện
 
15. Tâm thức loạn động
 
16. Cả mình giá lạnh, tay nắm lại, thân thể cứng đơ 
 
Vì thế, nên tự gieo nhân an lạc cho mình để mình có thể quyết định tái sinh của mình sau khi kết thúc thân này trong giai đoạn chúng ta thọ thân kế tiếp - giai đoạn giữa của trung ấm thân và biết để mình giúp cho người thân tâm không bị loạn động.
 
Trong Tạp Lục Sử ghi rõ ràng hơn Thân trung ấm nào sắp sinh vào cõi A tu la (cảnh giới không chánh định) thì sẽ thấy những vườn cây khả ái và những vầng lửa lẫn lộn xoay quanh. Nếu cảnh tưởng ấy thấy rõ thì hiện ra trước mắt lòng người vui vẻ liền đi tới và ngay lập tức thác sinh vào cảnh giới này.    Trung ấm nào thọ sinh vào loài chó, heo thì thường thấy những cô gái đẹp, vì ưa thích chạy vào do nhân duyên đó mà bị. đọ sinh sang chó, mèo.
 
Trung ấm nào sắp đọ vào loài súc sinh khác cảm thấy có những luồng gió mãnh liệt cuốn lôi mình đi không thể cưỡng lại được hoặc thấy có vô số quỷ thân cặp những binh khí đuổi rượt hoặc thấy lửa cháy lan tới rần rần, sấm sét phủ quanh dữ dội, sương mù phủ dăng mịt mờ, núi lở, biển gầm sóng. Tự mình sợ hãi chạy vào trong rừng bụi, hang đá mà lẩn trốn, hoặc khi đó thấy ba cái hố trắng, đỏ, đen liền nhảy vào trong đó mà ẩn thân do nhân duyên đó mà bị thọ thân vào các loại súc sinh như hùm, beo, nai, chồn, rắn, rết,… 
 
Trong kinh Đại bảo tích, Đức Phật nói Đại Dược Bồ Tát như thế này: Những chúng sinh tạo nghiệp ác sắp đọ vào địa ngục tự nhiên có lòng buồn thảm, kinh sợ tùy theo bổn nghiệp mà thấy hình tướng của các thứ địa ngục. Khi thần thức lìa thân liền sinh vào nơi đó hoặc có kẻ thấy phương khác có dáng đỏ tươi dường như là máu rưới liền sinh lòng đắm nhiệm do nhân duyên đó mà thọ sinh.

Xem thêm: Phải chăng mỗi con bướm là một linh hồn?
 
Kinh Thụ Hộ Quốc giới có nói về người lúc lâm chung sẽ sinh về cõi GIỚI LÀNH:
 
Thọ sinh về loài NGƯỜI có 10 biểu tướng sau:
 
1. Thân không bệnh nặng
 
2. Khởi niệm lành, sinh lòng hòa dịu, vui vẻ, vô tư, ưa những chuyện phước đức
 
3. Ít nói chuyện thô, nhớ nghĩ đến cha mẹ vợ con mà không luyến ái
 
4. Đối với việc lành hay dữ tâm không lầm loạn, phân định rõ ràng 
 
5. Sinh lòng tin thanh tịnh, tam bảo đối diện mà quy y
 
6. Con trai con gái đều đem lòng thương mến mà gần gũi, coi như là việc thường 
 
7. Tai muốn nghe tên họ của anh em, chị em, bạn bè
 
8. Tâm chính trực không xu nịnh
 
9. Rõ biết bạn bè giúp đỡ cho mình, khi thấy bà con săn sóc sinh lòng vui mừng, không oán trách, than van
 
10. Dặn dò giao phó các việc còn lại cho thân quyến rồi tỉnh táo từ biệt ra đi 
 
Sau đây là 10 biểu tướng sinh vào CÕI TRỜI:
 
1. Sinh lòng thương xót 
 
2. Phát khởi thiện tâm
 
3. Lòng thường hoan hỉ 
 
4. Chánh niệm liên tục
 
5. Đối với tiền bạc hay vợ con không còn tham luyến 
 
6. Đôi mắt sáng sạch 
 
7. Ngước mặt trông lên miệng mỉm cười hoặc tai nghe thiên nhạc mắt thấy thiên đồng 
 
8. Thân không có mùi hôi.
 
9. Sống mũi ngay thẳng 
 
10. Lòng không giận dữ, oán hận 

 
Những chúng sinh sắp sinh lên cõi trời thì có thiên nhãn thấy được y báo và chánh báo ở ngay trong 6 cõi dục này, chúng sinh đó thấy nhiều cung điện tốt đẹp, vườn hoa, cây quý và luôn có tâm hoan hỉ. Tất cả những chư vị ở cõi trời hiện ra đều có thân tướng đoan nghiêm, trang sức bằng những chuỗi an lạc.

Những thiên tử và ngọc nữ dạo chơi khắp nơi đối với nhau bằng tâm hỉ lạc. Lúc thấy các tướng như thế, chúng sinh ấy tự nhiên sinh lòng tùy hỉ khi đó tâm không điên đảo, miệng không có mùi hôi, tay và mắt giống như đóa hoa sen xanh, thân thể không chảy máu cũng không ra điều bất tỉnh, tay chân không co rút lại khi lâm chung.

Kẻ ấy thấy được nhiều hoa và kiệu xe đến đón, xe đó rộng lớn có đến ngàn cây cao tốt, trang nghiêm bằng hoa thơm chuỗi ngọc, lưới châu linh báo từ nơi bảo linh phát ra các tín nhiệm màu của phật pháp, mùi thơm bay phảng phất, vô lượng chư thiên cũng đem xe đến đón khi đó thấy các tướng trạng như thế tâm sinh hoan hỉ, yên ổn mà xả báo thân chắc chắn người này sinh lên cõi trời.

Khi chúng ta đi tìm câu trả lời rồi mai đây mình hay người thân sẽ thọ sinh sang cảnh giới nào cũng chỉ là để biết từ bây giờ nên sống tốt với tâm ngay thẳng và trước lúc chết giúp người lúc lâm chung không bị tâm loạn động chứ cơ bản không thể giúp họ từ cảnh giới này sang cảnh giới khác. Những gì họ nhận được tất cả là do nhân quả khi sống tạo thành nghiệp dẫn lối họ sang kiếp sau.

Minh Minh
 
Bảy cửa ải sau khi chết con người phải trải để đầu thai sang kiếp khác Chuyện lạ khó tin nhưng có thật: Người chuyển kiếp thành... chó 5 trường hợp được đầu thai chuyển kiếp làm người

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn biểu tướng để biết ai đó thọ sinh sang cảnh giới nào

Hoa tay thế nào có tướng quý nhân phù trợ

Có 2 loại hoa tay là: lưu vân và xoáy nước, mỗi kiểu có đặc điểm quý nhân phù trợ khác nhau.
Hoa tay thế nào có tướng quý nhân phù trợ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Năm đầu ngón tay đều là hình xoáy nước

Đây là người tự tin, nhưng cũng rất cứng đầu, tính độc lập cao, hay phải đối mặt với những biến đổi lớn trong cuộc sống. Cho nên bình thường, những người này cần chú ý tu dưỡng bản thân, đến tuổi trung niên có thể thành công và danh tiếng.

2. Năm đầu ngón tay đều là lưu vân 

Đây là người chính trực, có đôi bàn tay khéo léo linh hoạt, giỏi các nghề thủ công mỹ nghệ, nhưng vì không giỏi xã giao nên mối quan hệ xã hội không quá rộng, và họ cũng không thích hợp cộng tác với người khác hay làm việc nhóm.

3. Ngón cái và ngón út là hình xoáy nước

Là người có tài hùng biện và giỏi các công việc liên quan đến ăn nói, được sự chỉ dẫn của các bậc tiền bối. Họ sẽ không chú trọng lợi ích trước mắt mà thường có tầm nhìn xa hơn nữa.

20140524091703361-1-8342-1413516709.jpg

4. Ngón cái và ngón nhẫn là hình xoáy nước

Người sở hữu bàn tay như vậy thì thời niên thiếu khó khăn, nhưng nếu họ có thể chịu đựng vất vả mà tiến lên thì đến tuổi trung niên, họ sẽ có quý nhân phù trợ và giàu có.

5. Ngón cái và ngón giữa là hình xoáy nước

Chỉ cần người này sửa được tính hay lo lắng và hướng nội của mình, nỗ lực gấp đôi để rèn luyện bản thân, thì tương lai sẽ được quý nhân phù trợ, trong sự nghiệp sẽ đạt đến đỉnh cao.

6. Chỉ ngón cái có lưu vân

Họ sở hữu tài năng lớn, đầu óc thông minh nhanh nhẹn. Chỉ cần nỗ lực, họ sẽ được cấp trên đề bạt hoặc đạt thành công lớn. Tuy tính cách của họ có phần nóng tính và dễ nổi sung nhưng lại là người rất hào phóng.

7. Chỉ có ngón cái là xoáy nước

Người này có sức sống mạnh mẽ, họ mang tâm cao chí lớn, dù giai đoạn thiếu niên và trung niên vận khí không tồi nhưng thường khi về già họ mới thành công rực rỡ.

8. Ngón cái và ngón trỏ là xoáy nước

Kiểu người này khoan hồng đại lượng, nhân duyên tốt, giỏi giao tiếp, hòa đồng, bởi vậy họ sẽ gặp được nhiều người giúp đỡ thành công.

9. Chỉ ngón áp út là có lưu vân

Là người giỏi giao tiếp, ứng biến tốt, cho nên họ thường được lòng cấp trên và được cấp trên đề bạt, tiếp theo là được mọi người xung quanh giúp đỡ, ngay cả khi về già vận khí vẫn rất tốt.

Kunie (theo lnka)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hoa tay thế nào có tướng quý nhân phù trợ

Cách hóa giải sao xấu –

Trong năm nay, người cha của gia đình và nam giới làm lãnh đạo cần đặc biệt chú ý khoảng thời gian nguy hiểm từ 6/6 đến 6/7. Trong năm 2014, Ngũ Hoàng (#5) ở cung Tây Bắc, Nhị Hắc (#2) ở Đông, Tam Bích (#3) ở Đông Nam và Thất Xích (#7) ở Đông Bắc là

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong năm nay, người cha của gia đình và nam giới làm lãnh đạo cần đặc biệt chú ý khoảng thời gian nguy hiểm từ 6/6 đến 6/7.

Trong năm 2014, Ngũ Hoàng (#5) ở cung Tây Bắc, Nhị Hắc (#2) ở Đông, Tam Bích (#3) ở Đông Nam và Thất Xích (#7) ở Đông Bắc là những sao xấu cần được hóa giải.

Sơ đồ tóm tắt cách bài trí đồ phong thủy để hóa giải các sao xấu trong năm 2014:

hoa-giai-5310-1389267185

1. Cung Tây Bắc – Ngũ Hoàng #5 (sao tai họa)

Ngũ hoàng là ngôi sao nguy hiểm và hung dữ nhất trong số 9 sao của hệ Phi tinh. Ngôi sao này có thể mang tới đủ kiểu bất hạnh như ốm đau, mất mát, thảm họa, tai nạn và trở ngại trên con đường đi tới thành công. Trong năm 2014, Ngũ Hoàng bay vào cung Tây Bắc, ảnh hưởng xấu tới vận may của người cha trong gia đình, lãnh đạo của cơ quan. Người sinh tuổi Tuất, tuổi Hợi cũng chịu nhiều ảnh hưởng xấu từ ngôi sao bất hạnh này.

Rất may cung Tây Bắc thuộc hành Kim, có thể làm suy yếu hành Thổ của Ngũ Hoàng, khiến nó trở nên bớt nguy hiểm. Tuy nhiên, sao Cửu Tử (#9) của vận 8 thuộc hành Hỏa lại khiến Ngũ Hoàng mạnh hơn. Các yếu tố này cần được tính đến khi áp dụng các biện pháp hóa giải Ngũ Hoàng.

Trong năm 2014, cần đặc biệt chú ý khoảng thời gian từ 6/6 đến 6/7, khi sao tháng Ngũ hoàng của tháng cũng bay vào cung Tây Bắc, khiến sự hung bạo của Ngũ hoàng tăng gấp đôi. Thời gian này, năng lượng Hỏa của mùa hè cũng đang lên cao, khiến ngôi sao tai họa càng thêm mạnh mẽ. Đây là khoảng thời gian đặc biệt nguy hiểm cho người Cha của gia đình và nam giới làm lãnh đạo.

Vận rủi ảnh hưởng tới người Cha, dù dưới dạng bệnh tật, tai nạn, hay đột nhiên mất thu nhập, đều tác động tới toàn bộ gia đình. Nếu cửa chính nhà bạn hướng về Tây Bắc thì càng phải thận trọng. Phòng ngủ ở cung Tây Bắc có thể khiến người cao tuổi bị bệnh trầm trọng như đau tim, đột quỵ…

Ngũ hoàng mang lại may mắn cho nam giới có quái số 5, chẳng hạn:

Tuổi Tỵ (1941, 1977)

Tuổi Dần (1950, 1986)

Tuổi Hợi (1959, 1995)

Tuổi Thân (1968, 2004).

Trong mọi trường hợp, tuyệt đối không được kích hoạt Ngũ hoàng mà phải hóa giải sao này.

thap-ngu-hanh-3583-1389267185

Hóa giải Ngũ hoàng:

Tây Bắc là khu vực đặc biệt nguy hiểm, cần được giữ yên tĩnh tối đa trong năm nay. Mùa hè năm nay, nên hạn chế sử dụng quạt máy ở khu vực này, có điều kiện thì dùng điều hòa thay thế.

Nếu khu vực Tây Bắc được bố trí nhiều đèn và không thể không dùng chúng thì nên thay thế ánh sáng ấm của bóng đèn màu vàng bằng ánh sáng trắng lạnh hơn. Việc sử dụng các vật phẩm phong thủy để hóa giải năng lượng xấu là cần thiết, nhưng tốt nhất vẫn nên tránh xa khu vực này. Sau đây là một số nguyên tắc chung:

– Khu vực Tây Bắc năm nay rất xấu, tránh dành nhiều thời gian ở đây. Nếu phòng ngủ ở khu vực này thì nên đổi sang chỗ khác, nếu không thể được thì tránh kê giường ở góc Tây Bắc của phòng.

– Loại bỏ tất cả những gì thuộc hành Hỏa (đèn sáng, đồ vật màu đỏ, da cam, tím…), những thứ đồ gây chuyển động hay tiếng ồn như quạt máy, radio, tivi khỏi khu vực này.

– Không tụ tập hoặc gây tiếng ồn ở đây.

– Tuyệt đối không tu sửa, đào bới ở khu vực Tây Bắc trong năm nay.

– Đặt tháp ngũ hành, chuông ngũ hành, chuông gió 6 ống hoặc đồ kim loại ở Tây Bắc. Kim làm suy yếu năng lượng Thổ của sao Ngũ Hoàng.

2. Cung Đông – Nhị Hắc #2 (sao bệnh tật)

Nhị Hắc là ngôi sao hung hãn, mang lại bệnh tật, trong những trường hợp rất nặng có thể gây tử vong. Trong năm 2014, Nhị Hắc bay vào cung Đông, ảnh hưởng xấu tới người có phòng ngủ ở đây hoặc thường xuyên sử dụng khu vực này. Nhị Hắc ảnh hưởng nhiều nhất tới người sinh năm Mão. Vận may của trưởng nam (con trai cả) cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong năm nay.

Cần đặc biệt cẩn thận vào các khoảng thời gian từ 6/6 đến 6/7 và từ 7/12/2014 đến 5/1/2015, là khi ngôi sao tháng Ngũ Hoàng bay vào cung Đông, khiến cho năng lượng bệnh tật càng mạnh hơn. Ban cần chú ý:

– Cung Đông năm nay xấu, tránh dành nhiều thời gian ở đây. Nếu phòng ngủ ở khu vực này thì nên đổi sang chỗ khác, nếu không thể được thì tránh kê giường ở góc Đông của phòng.

– Phụ nữ có thai, người già, người ốm cần đặc biệt tránh dùng phòng ngủ ở cung này.

– Không đặt vật có năng lượng Thổ hoặc Hoả ở khu vực này.

– Không bật nhạc, tivi hoặc bật đèn nhiều.

– Để hóa giải, cần đặt các loại hồ lô kim loại và hồ lô tự nhiên, chuông gió 6 ống hoặc nhiều đồ kim loại ở cung Đông của ngôi nhà hoặc căn phòng. Kim làm suy yếu năng lượng Thổ của sao Nhị Hắc.

ho-lo-kep-6350-1389267185

3. Cung Đông Nam – Tam Bích #3 (sao cãi cọ)

Tam Bích gây rắc rối liên quan tới cãi cọ, hiểu nhầm, xung đột và kiện tụng. Bay vào cung Đông Nam trong năm 2014, gặp hành Mộc của cung này, Tam Bích sẽ trở nên đặc biệt mạnh mẽ, mang tới nhiều rắc rối. Tam Bích có thể tấn công hết sức bất ngờ, khiến bạn đặc biệt lo lắng, bất an. Ngôi sao này ảnh hưởng mạnh nhất tới người sinh năm Thìn và Tỵ cũng như Trưởng Nữ (con gái cả) trong gia đình.

Những người sống trong ngôi nhà quay về hướng Đông Nam hay cửa chính rơi vào cung này cần đặc biệt cẩn thận với các loại bất đồng, cần nhớ rằng những hiểu lầm nho nhỏ có thể dẫn tới những vấn đề pháp lý trầm trọng.

Cách hóa giải:

Tam Bích thuộc hành mộc, vì vậy cần hạn chế các yếu tố Mộc và Thủy ở khu vực Đông Nam: loại bỏ những gì thuộc hành Thủy và Mộc khỏi khu vực này trong năm nay.

Dùng Hỏa để làm suy yếu Mộc: trải thảm, treo rèm hay sơn tường màu đỏ, đặt đồ vật hay treo tranh ảnh màu đỏ tại cung Đông của ngôi nhà, căn phòng; cũng có thể bật một ngọn đỏ đèn suốt đêm tại khu vực này. Các đồ vật phong thủy giúp hóa giải ngôi sao Tam Bích: bánh xe lửa, quả cầu lửa, quả cầu pha lê màu đỏ…

qua-cau-lua-2137-1389267186

4. Cung Đông Bắc – Thất Xích #7 (sao bạo lực)

Thất Xích bay vào cung Đông Bắc của ngôi nhà trong năm 2014. Đây là ngôi sao nguy hiểm, mang theo nguy cơ trộm cướp, thù hằn, ẩu đả, phản kháng. Người sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của sao này dễ bị lừa đảo, thường dẫn đến mất mát về tài chính. Trường hợp xấu, ngôi sao này có thể gây thương tích.

Thất Xích thuộc hành Kim và có màu đỏ, giống như máu, vì vậy sao số 7 tượng trưng cho bạo lực và trộm cướp có vũ khí. Khi bay vào cung Đông Bắc thuộc hành Thổ, Thất Xích sẽ trở nên đặc biệt hung hãn trong năm nay.

Thứ Nam (con trai út) trong gia đình và những người tuổi Sửu, tuổi Dần, cũng như người sống trong ngôi nhà có cửa chính nằm ở cung Đông Bắc, sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ ngôi sao này.

voi-tegiac-4291-1389267186

Những điều cần chú ý:

– Hết sức thận trọng nếu cửa chính hay phòng ngủ của bạn rơi vào cung Đông Bắc. Tránh đập cửa mạnh hoặc gây ồn trong phòng.

– Loại bỏ các yếu tố Kim (như chuông gió kim loại) và Thổ (pha lê) khỏi khu vực này.

– Dùng hành Thủy để làm suy kiệt năng lượng Kim của sao Thất Xích: bố trí các vật dụng màu đen, màu ghi, đặt nước tĩnh lặng…

– Đặt tượng tê giác và voi cuốn vòi lên ở cung Đông Bắc.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải sao xấu –

Mơ thấy tình yêu đồng tính: Yêu một người giống bản thân mình –

Trong mơ, con người có thể xử lý tính dục của mình. Nếu con người xem nhẹ bản năng giới tính, một phương thức biểu đạt sức sống của bản thân, mặt tiêu cực của tình dục sẽ biểu hiện trong mơ.Tình dục trong mơ là một dạng bù đắp cho trạng thái khi tỉnh
Mơ thấy tình yêu đồng tính: Yêu một người giống bản thân mình –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy tình yêu đồng tính: Yêu một người giống bản thân mình –

Vận đào hoa, tình duyên của các con giáp trong tháng 12

Những người tuổi Mão hãy cẩn thận với sự xuất hiện của người thứ ba. Nếu không đúng khẩu vị của bạn, vậy đừng cố thử, những người tuổi Ngọ nhé.
Vận đào hoa, tình duyên của các con giáp trong tháng 12

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-1 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-2 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-3
Sửu  Dần Mão
khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-4 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-5 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-6 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-7
Thìn Tỵ Ngọ Mùi
khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-8 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-9 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-10 khoang-cach-do-tuoi-ly-tuong-khi-12-con-giap-ket-hon-11
Thân Dậu Tuất Hợi

Maruko (theo Inka)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận đào hoa, tình duyên của các con giáp trong tháng 12

Tướng mặt phụ nữ khó thành công trong sự nghiệp

Nếu có một trong những đặc điểm tướng mặt dưới đây, phụ nữ khó có được thành công trong sự nghiệp và hạnh phúc trong hôn nhân.
Tướng mặt phụ nữ khó thành công trong sự nghiệp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu có một trong những đặc điểm tướng mặt dưới đây, phụ nữ khó có được thành công trong sự nghiệp và hạnh phúc trong hôn nhân.

1. Sống mũi lỗi lõm hoặc gãy gập
 
Trong Nhân tướng học, sống mũi thể hiện phần nào công danh sự nghiệp của một con người. Nếu có sống mũi cao là người tự tin, dễ thành công. Ngược lại, nếu sống mũi lồi lõm hoặc gẫy gập thường hay bị kẻ xấu hãm hại trong công việc. 
 
Ngoài ra, tướng mặt phụ nữ này còn cho thấy sự nản chí và chùn bước khi gặp khó khăn trở ngại. Họ không có quan điểm sống rõ ràng và sợ phải đối mặt với chính mình. Do đó, làm việc gì cũng trong trạng thái hoang mang, lo lắng. Đa phần thất bại nhiều hơn thành công.

2. Trên trán có nốt ruồi
 
Theo diện tướng học, phần trán biểu thị sự phát triển của sự nghiệp. Người có trán cao rộng, trơn bóng sẽ có sự nghiệp vượng phát, được quý nhân giúp đỡ về mọi phương diện trong cuộc sống.
 
Nếu trên trán xuất hiện nốt ruồi lại là điều không may mắn. Sự nghiệp, quan trường của người này đều không như ý muốn, hay bị kìm hãm, không thể phát triển dù đã tốn bao công sức. Bên cạnh đó, người này còn hay vướng vào họa khẩu thiệt thị phi, bị soi mói nên sự nghiệp vất vả vô cùng.

Tuong mat phu nu kho thanh cong trong su nghiep hinh anh
Ảnh minh họa

3. Lông mày thô đậm, mọc lộn xộn

 
Phụ nữ có tướng mặt với lông mày thô đậm nhưng mọc lộn xộn thường nóng vội, hành xử không khéo léo, dễ gặp trở ngại và thất bại trong công việc. Tuy nhiên, người này không xấu, đôi khi vì khả năng giao tiếp kém cộng với tính khí nóng nảy nên làm việc gì cũng bị thua thiệt. Đường công danh sự nghiệp của họ do đó mà không khả quan.
 
4. Nhiều nếp nhăn ngang ở đuôi mắt
 
Nếu không phải vì tuổi tác nhưng phần đuôi mắt của người này có nhiều nếp nhăn ngang, điều này cho thấy sự trắc trở về tình cảm, hôn nhân đồng thời đường công danh sự nghiệp cũng vất vả đầy thăng trầm. 
 
Phụ nữ có tướng mặt này dễ bất hòa với đồng nghiệp, hay bị mọi người gièm pha dị nghị về tính cách và thói quen. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới công việc và bước đường sự nghiệp của họ.
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng mặt phụ nữ khó thành công trong sự nghiệp

Lời răn và quan niệm về đẩu số của đại sư Tử Vân

Một bài viết hay về kinh nghiệm của Tử Vân cho việc giải lá số Tử Vi. Mời các bạn tham khảo.
Lời răn và quan niệm về đẩu số của đại sư Tử Vân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết chép lại của tác giả Quách Ngọc Bội trên tuvilyso.org

Phần 1: An sao của phái Tử Vân

Phép lập lá số tử vi đẩu số thủ công

1. Xét duyệt lại ngày sinh và giờ sinh.

a. Diện tích lãnh thổ của Trung Quốc rất rộng lớn, đối với ngày giờ sinh ở những địa phương không thuộc Trung Nguyên, phương pháp là dùng ngày giờ âm lịch của địa phương nơi sinh ra.

b. Bắc Kinh là 120 độ kinh đông, Quảng Châu là 113 độ kinh đông; mỗi độ 4 phút đồng hồ, như vậy người sinh ở Quảng Châu vào lúc 14h00, hoán chuyển thành thời gian Bắc Kinh thành ra 13h32'.

c. Theo Tử Vân tiên sinh nói, rất ít người sinh ra mà được đối chiếu chỉnh sửa ngày giờ cho chính xác, rõ hơn xin xem trong sách "Đẩu Số luận huynh đệ".

2. Vấn đề tháng Nhuận.

Tháng Nhuận đại thể lấy cùng tháng đó mà bài bố an sao, như tháng 10 Nhuận thì dựa vào tháng 10 mà bài bố; ngoai ra cứ phỏng theo như thế.

3. Định ngũ hành Dần thủ

Giáp Kỷ <Bính>; Ất Canh <Mậu>; Bính Tân <Canh>; Đinh Nhâm <Nhâm>; Mậu Quý <Giáp>.

4. An Mệnh Thân cung

Dần cung khởi tháng Giêng, đếm nghịch đến tháng sinh "Mệnh"; đếm thuận đến tháng sinh "Thân" (QNB chú: chắc ghi nhầm nhầm lẫn thuận với nghịch, tháng với giờ - tôi dịch nguyên văn.). An xong xuôi Mệnh Thân cung rồi sau đó có thể bài bố các cung vị khác.

5. Định ngũ hành Cục cùng với khởi Đại Hạn

Lấy Thiên Can Địa Chi của vị trí sở tại của Mệnh cung để tìm ra Ngũ hành Cục.

Ngũ hành Cục có tác dụng để khởi Đại Hạn: Dương nam âm nữ thuận đáo; âm nam dương nữ nghịch hành.

6. Định sao Tử Vi và Thiên Phủ

Định sao Tử Vi: phương pháp căn cứ vào ngày sinh chia cho số cục của ngũ hành cục.

[Ngũ hành cục số] ÷ [số ngày sinh] = thương số

6.1 Nếu chia chẵn, thì thương số tức là vị trí tọa lạc của sao Tử Vi. Như sinh ngày 27, Mộc tam Cục, thì thương số là 9, từ cung Dần khởi 1, đếm thuận đến 9 là cung Tuất, Tử Vi an tại Tuất.

6.2 Nếu không thể chia chẵn (tức là phép chia có số dư), thì lấy ngày sinh mà cộng thêm một số tự nhiên nhỏ nhất để có thể chia chẵn cho Cục số. Như sinh ngày 27, Kim tứ Cục, thì (27+1)÷4=7, lúc này từ Dần đếm thuận đến 7 là cung Thân, mà vốn dĩ sử dụng 27 cộng thêm 1, cho nên phải lùi lại 1 cung, tức là ngày 27 của Kim tứ Cục thì Tử Vi ở tại cung Mùi.

Chú: nếu như số tự nhiên mà được cộng thêm là số lẻ thì mới lùi ngược lại, còn là số chẵn thì tiến thuận, công thêm số nào thì lùi/tiến đúng bằng số ấy cung.

Định xong sao Tử Vi có thể định sao Thiên Phủ, mối quan hệ của chúng là 2 sao này đối xứng qua trục Dần Thân.

7. An các Chính Tinh cấp Giáp còn lại

Khẩu quyết:

Tử Vi, Thiên Cơ tinh nghịch hành,

Cách nhất Dương, Vũ, Thiên Đồng tình;

Hựu cách nhị vị Liêm Trinh đệ,

Không tam tiện thị Tử Vi tinh.

Thiên Phủ, Thái Âm thuận Tham Lang, (câu này viết nhầm chữ Âm thành Dương, QNB đã sửa lại)

Cự Môn, Thiên Tướng dữ Thiên Lương;

Thất Sát không tam Phá Quân vị,

Cách cung vọng kiến Thiên Phủ hương.

8. Miếu hãm của tinh diệu

(QNB chú: nguyên văn không ghi gì cả).

9. An lục sát cùng lục cát tinh

- Tả Phụ "Thìn" cung khởi chính nguyệt, thuận hành chí sinh nguyệt;

Hữu Bật "Tuất" cung khởi chính nguyệt, nghịch hành chí sinh nguyệt.

- Văn Xương "Tuất" cung khởi Tý thì, nghịch hành chí sinh thì;

Văn Khúc "Thìn" cung khởi Tý thì, thuận hành chí sinh thì.

- An Thiên Khôi, Thiên Việt

Khẩu quyết:

Giáp Mậu Canh ngưu dương < Việt >,

Ất Kỷ thử hầu < Việt > hương.

Bính Đinh trư kê < Việt > vị,

Nhâm Quý thỏ xà < Việt > tàng.

Lục Tân phùng mã < Việt > hổ,

Thử thị quý nhân hương.

- Kình Đà theo việc định Lộc Tồn của Thiên Can năm sinh rồi sau đó an bài, không nói rườm rà.

- An hai sao Hỏa Linh <lấy Địa Chi năm sinh và giờ sinh để tìm được>

Dần Ngọ Tuất: Hỏa < Sửu >, Linh < Mão > khởi giờ Tý thuận hành

Thân Tý Thìn: Hỏa < Dần >, Linh < Tuất > khởi giờ Tý thuận hành

Tị Dậu Sửu: Hỏa < Mão >, Linh < Tuất > khởi giờ Tý thuận hành

Hợi Mão Mùi: Hỏa < Mậu >, Linh < Tuất > khởi giờ Tý thuận hành

Quyết viết:

Dần Ngọ Tuất nhân sửu mão phương,

Thân Tý Thần nhân dần tuất dương;

Tị Dậu Sửu nhân mão tuất vị,

Hợi Mão Mùi nhân dậu tuất phòng.

(QNB chú: Hỏa Linh họ đều cho đi thuận cả, có khác biệt với Tử Vi Việt).

-

Địa Không từ < Hợi > cung khởi giờ Tý, nghịch hành đến giờ sinh,

Địa Kiếp từ < Hợi > cung khởi giờ Tý, thuận hành đến giờ sinh.

10. Khởi an Tứ Hóa theo thiên can năm sinh, không nói rườm rà. Chú: phái Tử Vân dùng can Quý thì Thái Dương hóa Khoa (QNB chú: dịch nguyên văn, có lẽ viết nhầm chữ Âm thành Dương).

11. An các tạp diệu còn lại

-

Thiên Hình < Dậu > cung khởi tháng Giêng, thuận hành đến tháng sinh;

Thiên Diêu < Sửu > cung khởi chính nguyệt, thuận hành đến tháng sinh.

Quyết viết:

Thiên Diêu sửu thượng thuận chính nguyệt,

Thiên Hình dậu thượng chính nguyệt luân;

Đếm đến tháng sinh đều dừng bước, liền an Hình Diêu hai tinh thần.

-

Hồng Loan < Mão > cung khởi Tý, nghịch hành tới Chi năm sinh;

Thiên Hỉ < Dậu > cung khởi Tý, nghịch hành tới Chi năm sinh.

Quyết viết:

Hồng Loan mão thượng Tý niên khởi,

Nghịch hành số chí sinh niên chỉ;

Đối cung ký thị Thiên Hỉ tinh,

Vận hạn mệnh phùng thiên hữu hỉ.

< Hai sao này vĩnh viễn ở tại đối cung >

- Hàm Trì < Đào Hoa sát >

lấy Chi năm sinh an bài, quyết viết:

Dần Ngọ Tuất, thỏ tòng mao lý xuất;

Thân Tý Thìn, kê khiếu loạn nhân luân;

Hợi Mão Mùi, thử tử đương đầu tọa;

Tị Dậu Sửu, dược mã nam phương tẩu.

- Thiên Mã

Căn cứ Chi năm sinh, quyết viết:

Thân Tý Thìn nhân mã cư dần,

Dần Ngọ Tuất nhân mã cư thân;

Hợi Mão Mùi nhân mã cư tị,

Tị Dậu Sửu nhân mã cư hợi.

- An Tam Thai, Bát Tọa

Lấy ngày sinh để an bài, quyết viết:

Tam Thai, Tả Phụ thuận sơ nhất,

Số chí sinh nhật thị Thai cung.

Bát Tọa, Hữu Bật nghịch sơ nhất,

Số chí sinh nhật định kỳ tung.

- An Long Trì, Phượng Các

Lấy Chi năm sinh để an bài, quyết viết:

Long Trì, khởi Tý thuận hành Thìn,

Sinh niên tiện thị phúc nguyên chân;

Phượng Các, Tuất thượng nghịch số Tý,

Ngộ chí sinh niên thị cát niên.

(Long trì từ Thìn khởi, hô Tý đếm thuận đến chi năm sinh. Phượng Các từ Tuất khởi, hô Tý đếm nghịch đến Chi năm sinh).

- An Thai Phụ, Phong Cáo

Khúc tiền tam vị thị Thai Phụ, Khúc hậu tam vị Phong Cáo hương.

(Vị trí thứ 3 trước Văn Khúc là Thai Phụ, Vị trí thứ 3 sau Văn Khúc là Phong Cáo).

Khởi lệ: Giả như Văn Khúc tai Tý thì cung Dần an Thai Phụ, vị trí thứ 3 sau Khúc chính là Tuất cung an Phong Cáo. Ngoài ra phỏng theo như thế, nhưng lấy bản cung của Văn Khúc mà khởi số.

- An Thiên Quý, Ân Quang

Quyết viết:

Văn Xương thuận số chí sinh nhật,

Thối hậu nhất bộ thị Ân Quang;

Văn Khúc thuận số chí sinh nhật,

Thối hậu nhất bộ Thiên Quý tràng.

QNB chú: không rõ là ở chỗ Thiên Quý bị chép nhầm chữ "nghịch" thành ra "thuận" hay là có sự khác biệt an sao với cách chúng ta vẫn dùng.

- An Cô Thần, Quả Tú

Lấy chi năm sinh để an bài, quyết viết:

Dần Mão Thìn nhân an Tị Sửu < tị cô >

Tị Ngọ Mùi nhân phạ Thân Thìn < thân cô >

Thân Dậu Tuất nhân cư Hợi Mùi < hợi cô >

Hợi Tý Sửu nhân Dần Tuất điền < dần cô >

QNB chú: xem cách chú thích trong bài này để rõ hơn về cách chú thích của họ trong bài quyết an Khôi Việt.

- An Thiên Hư Thiên Khốc

Quyết viết:

Thiên Khốc, Thiên Hư, khởi ngọ cung,

Ngọ cung khởi Tý, lưỡng phân tung;

Khốc nghịch tị hành hư thuận vị,

Sinh niên tầm đáo tiện cư trung.

Khởi lệ: phàm mệnh đều lấy 12 Chi năm sinh làm chủ. Giả như người sinh năm Thìn, thì từ Ngọ cung khởi năm Tý, nghịch hành qua Tị cung, cho đến Dần cung là đếm tới Thìn, liền an Thiên Khốc. Lại từ Ngọ cung khởi năm Tý, thuận hành qua Mùi cung cho đến Tuất là đếm tới Thìn, liền an Thiên Hư. Ngoài ra phỏng theo như thế. Như người sinh năm Tý thì Khốc Hư nhị tinh đều liền an tại cung Ngọ.

- An Đại Hao sát

Lấy Chi năm sinh để an bài, quyết viết:

Thử kỵ dương đầu thượng,

Ngưu sân mã bất canh.

Hổ hiềm kê uế đoản,

Thỏ oán hầu bất thanh.

Long tăng trư diện hắc,

Xà kinh khuyển ngọa khuẩn.

Hữu nhân phạm thử sát,

Tài thực tán linh đình.

=

Chuột ghét Dê trên đầu

Trâu giận Ngựa chẳng cày

Hổ ngại Gà mỏ ngắn

Mèo oán Khỉ không kêu

Rồng hận Lợn mặt xám

Rắn sợ Chó nằm thiu

Có người phạm Sát ấy

Của cải tiêu tán luôn.

QNB chú: sao Đại Hao này được an với Địa Chi tuổi, khác với Đại Hao theo vòng Lộc Tồn/Bác Sĩ, cũng khác với Đại Hao an theo Địa Chi trong môn Thất Chính Tứ Dư.

- An Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khách, Quan Phù

Lấy chi năm sinh để an bài, quyết viết:

Thái tuế nhất niên nhất thế hoán,

Tuế tiền thủ tiên thị Hối Khí.

Tang Môn, Quán Sách cập Quan Phù,

Tiểu Hao, Đại Hao, Long Đức Kế.

Bạch Hổ, Thiên Đức liên Điếu Khách,

Bệnh Phù cư hậu tu đương ký.

Phần lời răn và quan niệm về đẩu số

* Phương pháp và nguyên tắc của việc định cung vị trọng điểm (lấy việc đầu tư làm thí dụ):

a, Muốn dùng việc đầu tư ròng để kiếm tiền, cung vị trọng điểm tất định tại cung Phúc Đức.

b, Xem xét thật kỹ mức độ cát hung của tam đại phúc đức cung, so sánh tính toán tương quan nặng nhẹ của chúng.

c, Tam đại Kị giao hội mạnh hơn so với lưỡng đại Kị, lưỡng đại Kị mạnh hơn so với nhất đại Kị.

Lộ trình tương tự, xem cho kỹ tác dụng mạnh yếu của Lộc tinh, cũng với so sánh như thế.

d, Bất luận là cát hay hung, miễn là tạo thành được "Cách cục", đều lấy tác dụng của "cách cục" mà so sánh sự mạnh mẽ. Bởi vì mức độ của cát hung, đầu tiên lấy cái việc thành cách của "cách cục" ra để mà luận. Khi không thành "các cục", sẽ tùy thuộc vào Lộc cát Kị hung để so sánh tính toán mức độ mạnh mẽ của chúng.

e, Mức độ của cát với hung, còn cần phải chú ý tới cung vị trọng điểm cùng các tình huống miếu vượng hãm nhược của các Tinh diệu ở tam phương. Tinh diệu ở vượng cung thì Lộc cát rất tốt đẹp, còn hãm địa thì Lộc cát cũng chỉ là hư phát. Ở vượng cung thì Kị hung là yếu tố xung kích, chỗ hãm địa thì Kị hung cực kỳ hiểm ác.

* Vận hạn của một người nào đó khi tiến nhập niên phần sáng sủa lại có đới hung sát thì <sự sáng sủa là do chỉ trông cậy vào mỗi cường vượng của chủ tinh mà nói> sẽ thường gặp phải những phán đoán sai lầm lớn.

* Đẩu số luận mệnh, khi gặp cát hung hỗn tạp, sẽ không vì cái hung mà làm tổn hại đến cái cát, cũng sẽ không vì cái cát mà làm giảm cái hung của nó. Bởi vậy mà mệnh bàn xuất hiện cát hung tương bạn thì nhất định phải "Cát hung phân đoạn" (Phân chia rõ cát hung mà phán đoán).

* Bản đại hạn mà hung ác, nhưng đại hạn sau lại tốt đẹp, sẽ khiến cho cuối đại hạn này có xu hướng chuyển sang tốt dần lên, lại tham chiếu tình huống của 3 năm lưu niên cuối cùng của bản đại hạn sẽ càng nghiệm.

* Luận đoán lưu niên của Đẩu số, nhất định phải căn cứ trên cát hung sở thuộc của đại hạn, coi như là căn cứ quyết định. Vừa lưu niên Tứ Hóa tinh, lại vừa lưu niên Kình Đà Lộc Tồn, thông thường đối với đại hạn sản sinh ra tác dụng dẫn động, mà tác dụng ấy thường thường hướng vào các tinh diệu của cung vị lưu niên (bao hàm tam hợp phương) làm ảnh hưởng càng thêm trọng yếu. Ngoài ra cần xem và xâu chuỗi mối quan hệ nhân quả của các năm liên tiếp gần hạn lưu niên đó để mà suy đoán cho kỹ tính chất liên quan trước sau. Dựa vào phân tích ở tại thời gian một năm nào đó trước đấy là "nhân" và ở tại thời gian một năm sau đó có khả năng phát sinh "quả".

Tiền nhân hậu quả của tính liên tục loại này, cùng với phép luận của lưu niên dẫn động đại hạn, có thể lấy mà phân tích mệnh bàn đẩu số, từ trạng thái tĩnh dẫn đến trạng thái động, từ đó có thể tìm hiểu sự tình diễn biến tiền nhân hậu quả.

* 30 năm đầu thì chú trọng vào tiên thiên Mệnh cung, 30 năm sau chú trọng vào Thân cung (ước chừng từ giữa đến nửa cuối đại hạn thứ 3 là bắt đầu tính).

* Ở trong đẩu số truyền thống, luận đoán nam mệnh, ngoại trừ các cách cục ở Mệnh Thân cung, thì còn phải lấy 2 cung Tài Quan làm trọng điểm. Nhưng với nữ mệnh, ngoại trừ Mệnh Thân cung thì lấy 2 cung Phu Tử làm trọng điểm.

* Nếu như muốn đi sâu vào nghiên cứu phán quyết đối với mệnh bàn, nhất thiết đầu tiên là bắt buộc phải thông thuộc và thấu triệt tính chất của tinh diệu, cùng với tác dụng "cách cục" của tổ hợp các tinh diệu đặc thù tạo thành. Nếu chỉ dùng sự dẫn động cát hung của Tứ Hóa, hiện tượng cát hung của sự suy luận thường giới hạn ở biểu hiện bên ngoài mà thôi, chứ đối với bản chất của nó thì rất khó mà thâm nhập lý giải.

* Người bình thường chỉ khán đại hạn mà không để ý đến khuyết tật thói xấu của tiên thiên Mệnh cung với các cung vị tiên thiên khác của nó, rồi cho rằng một ngày nào đó hành nhập đại hạn thì có thể bỏ mặc bàng quan với tương quan cung vị của tiên thiên, thì đó là quan điểm trái với thực tế khách quan.

* Diện tích lãnh thổ của Trung Quốc to lớn trải rộng, trong việc bài bố mệnh bàn của những người sinh ra ở các địa khu không thuộc Trung Nguyên thì phương pháp là: Đem thời gian tại địa phương nơi sinh ra, từ dương lịch hoán đổi thành âm lịch. Thời Thần của lúc sinh là hoán chuyển theo "giờ địa phương" (tức là Địa Chi giờ sinh lấy theo giờ địa phương nơi sinh).

Thêm một phương pháp: Bắc Kinh là 120 độ kinh đông, tra cứu xem độ số của địa phương nơi sinh ra là bao nhiêu độ kinh, sau đó lấy thời gian Bắc Kinh hoán chuyển thành thời gian địa phương nơi sinh. Như Quảng Châu là 113 độ kinh đông, thì giảm trừ đi 8 độ, mỗi độ là 4 phút đồng hồ, cho nên phải chậm đi 28 phút đồng hồ.

* Ở trong lý luận ứng dụng của Tứ Hóa tinh, cần phải chú ý đến: kết quả "liên Kị" mạnh hơn so với với "liên Lộc"; hay là "liên Lộc" mạnh hơn so với "liên Kị". Trong lý luận, đại hạn hiện tại cùng với song Kị của tiên thiên giao hội thì cung vị của song Kị giao hội sẽ có tác dụng rõ ràng mạnh mẽ. Cái đạo lý này, đồng dạng có thể ứng dụng đối với việc luận tam hóa "Khoa Quyền Lộc". Đặc biệt là hai sao Kị đó đối với cung vị nào đó của tiên thiên mà hình thành tác dụng giao hội thì, chính là hàm nghĩa, Kị tinh của đại hạn này xuất ra, tất nhiên sẽ phải đối với cung vị tiên thiên này tạo thành tác dụng kị hại rất rõ ràng mạnh mẽ. Lấy sự thụ hại tổn thất của cung vị tiên thiên đó để mà làm lúc phân biệt, nhưng cần khảo sát sự cường nhược của tinh diệu ở cung vị đó làm căn cứ luận đoán.

* Vận hạn nhập "cung không" thì, vận mệnh thông thường đều luận là nhược.

* Loại tác dụng tiếp diễn của hành vận <phép tắc dẫn động liên tục>, bất kể là tính lành hay tính ác, đều có thể hiện ra rõ ràng mạnh mẽ về tính xu thế của nó, vì vậy cũng đều lần lượt tham gia các bước phát triển về sau. Tính liên tục ấy tại hai đại hạn thì sẽ có tác dụng hiển lộ tính xu thế ở đại hạn đầu và kết quả cát hung thông thường biểu hiện tại đại hạn thứ hai. Nếu như tính liên tục tại ba đại hạn thì tính xu thế ảnh hưởng sẽ càng lớn, kết quả cát hung biểu hiện tại đại hạn thứ ba và biểu hiện mạnh hơn ở đại hạn thứ hai.

* Câu <Lộc phùng xung phá, cát xứ tàng hung> của Đẩu Số, hàm chứa cái sự xung chiếu của Sát tinh và Kị tinh đối với Lộc tinh, nhưng cát hung phía sau của Kị Sát tinh xung phá Lộc tinh thì thường là dựa vào <cung vị sự việc> mà có chỗ khác biệt: Bản hạn cung mà vượng, Kị <hàm Sát> xung hai cung <Tài Quan> thì không xung không... (QNB chú: chữ gì đó bị mất). Nếu bản cung mà nhược yếu thì <Tài Quan> đã bị Lộc Kị xung lại luận đoán là bất lợi. Nhưng Kị <Sát> Lộc xung chiếu các cung lục thân cùng với cung Nô Bộc, Tật Ách thì chủ nhân đều bất lợi.

* Trên mệnh bàn chỉ hội cát mà <lục sát hoàn toàn không hội chiếu>, loại tổ hợp mệnh bàn này, ảnh hưởng trực tiếp tích cực: là một dạng cả đời sự nghiệp bày ra không có trở ngại, cách cục không bị phiền nhiễu bởi các biến hóa; nhưng đối với mặt tiêu cực thì bởi vì không thấy chư sát kị tinh, khiến cho mệnh cách ở trong mệnh lý tiên thiên là không được trang bị <ý thức về sự gian khổ>. Dạng mệnh cách này nếu như ở vào những người với những công việc ổn định, khuôn phép, sáng cắp ô đi tối cắp về thì dần dần cũng tiến tới được thành quả nhất định; nhưng đối với những công việc mang tính khai phá hoặc chiếm lĩnh, sáng tạo, thì không phải khả năng mà mệnh cách này có được.

* Về tiêu chuẩn cách cục <cát hung tương bạn> nếu mà ứng với nó thì sẽ tiên thịnh hậu suy (trước thì tươi tốt thinh vượng nhưng càng về cuối càng suy vi sút kém).

* Đối với Thân cung tại vận hạn hậu thiên, một khi đã bị <dẫn động>, sẽ khiến cho tâm lý của đương số xuất hiện <sự điều chỉnh tác dụng> phù hợp.

* Trong luận đoán cát hung, mọi thứ đều cần lấy <cách cục> làm trọng, cũng chính là do <cách cục> hình thành sau cùng nên nhất định trước tiên phải khán cách cục. (Chú thích: cát cách > hung tượng; hung cách > cát tượng. Cát cách; hung cách cùng tồn tại là cát hung tham bán, sẽ cần phải khán sự dẫn động của Thiên Can vận hạn).

* Đẩu số <Tam Thai> lý luận, ngay trong hung hạn liên tục 3 cung: ba hạn lưu niên <hoặc đại hạn> thì thường hội tại cái cung hạn thứ hai dần biểu lộ hung tượng, trễ nhất thì ở cung hạn thứ ba sẽ hoàn toàn hiển lộ hung tượng.

* Các sao Bắc đẩu: cương (mạnh mẽ); khoái (nhanh chóng); nguyên lai (vốn dĩ sẵn có)

các sao Nam đẩu: nhu (mềm dẻo); mạn (chậm); tân lai (vừa mới xảy đến).

* Cách cục ở Mệnh Thân cung, chính thị đại biểu cho tình hình tính chất đặc biệt về mệnh lý của đương số đó, kết quả chính là thánh hiền, tài năng, ngu đần hay là bất tài.

* Lục sát, tuy rằng liệt vào nhóm hung tinh sát diệu, nhưng sáu sao này ngoài tính chất dẫn hung thành ác, hoặc là có thể chuyển hung thành cát, thường thường dựa vào các tinh diệu cấp Giáp, có thể không dựa vào sự cường vượng mà được <chế sát vi dụng> để mà luận định.

* Thân cung đối với vận thế sau thời kỳ trung niên, có ảnh hưởng điều chỉnh tương đối lớn. Một người nào đó suốt cuộc đời cho đến trước lúc già cuối đời, càng từng trải càng tốt hay càng hỗn tạp bó buộc càng hỏng, sự cường vượng hay yếu nhược và cát hung của Thân cung chính vốn có tác dụng điều chỉnh mạnh mẽ tương xứng.

* Căn cứ vào Mệnh cung làm lý luận đầu mối then chốt tổng quát cho mệnh bàn, sau khi một người nào đó đi vào vận trình đại hạn, cần phải suy luận ở bản cung vận hạn, cũng cần lấy cách cục của mệnh cung tiên thiên làm cơ sở, tiếp đó hãy đánh giá xem đại hạn đó tinh diệu có khả năng phát sinh ảnh hưởng hay không. Giả dụ như người "Sát Phá Lang" mà hạn vận hậu thiên lại đi đến cung cũng gặp cách cục loại ấy thì anh ta đương nhiên sẽ có những khuynh hướng lớn của sự thay đổi hoàn cảnh. Giả dụ như người "Cơ Nguyệt Đồng Lương" mà khi nhập hạn vận "Sát Phá Lang" thì anh ta trong loại hạn kiểu này sẽ có khuynh hướng chủ biến động ở trong vận trình, dù cho có cả sự thay đổi hoàn cảnh, nhưng biến động của anh ta sẽ gặp phải là rất ít. Cùng là loại hạn vận tại cung vị "Sát Phá Lang" nhưng mà do sự không giống nhau của đương số nên không thể có cùng một loại nhận định, chỉ cần hạn nhập cung vị loại nào, đều chủ có sự biến động hoàn cảnh lớn nhỏ tương ứng.

* "Phép tắc liên tục dẫn động" chẳng qua chỉ là một loại phương pháp suy đoán đối với một sự việc nào đó. Lợi dụng phương pháp này, có thể giúp lý giải quá trình và những động thái biến hóa của sự việc. Nhưng bản chất cát hung của sự việc lại không đơn giản chỉ là áp dụng phương pháp này mà có thể phân biệt rõ ràng được.

Mệnh Thân và ảnh hưởng của Thái Tuế

Có thể ứng dụng quan niệm [Biểu, Lý] trong lý luận của Đông Y để mà giải thích về Mệnh lý đẩu số đối với Mệnh Thân và tác dụng của Thái Tuế (QNB chú: theo Đông Y thì cặp [Biểu, Lý] gắn liền với lý luận cặp Âm Dương, Biểu là biểu lộ bày tỏ biểu hiện ra bên ngoài, Lý là nội tại ở bên trong). Cách cục của Mệnh Thân hình thành bộ khung và phong cách biểu hiện của một cá nhân, cho nên nó thuộc về [Biểu], còn cung vị Thái Tuế ví như sự ảnh hưởng mạnh tới mức độ nào đó, thường thường là động lực căn bản của các mưu đồ hành vi tư tưởng, mà cái động lực căn bản đó chính là thông qua biểu hiện tác phong hành sự của Mệnh Thân cung mà biểu lộ ra bên ngoài. Cho nên, ảnh hưởng của cung vị Thái Tuế thuộc về [Lý].

Trong kinh tế học có câu danh ngôn nói [sự vận động của kinh tế, chính là bị thao túng điều khiển bởi một bàn tay vô hình nào đó], thực ra thì đối với mệnh lý mà nói, sự hưng suy khởi phục của cả cuộc đời một cá nhân, cũng là một phần thuộc về ở tự bản thân mình điều tiết, nhưng vừa tự điều tiết vừa có sự thao túng điều khiển bởi một bàn tay vô hình nào đó.

Tương tự thì loại [cung vị Thái Tuế] thuộc về cung vị có tính ẩn tàng của [Lý], cách cục tinh diệu của nó chính là như bàn tay vô hình tự điều tiết kia. Vô hình trung mưu chước thao túng lại thông qua Mệnh Thân cung và vận trình đại hạn mà xuất hiện phong cách hành sự. Đối với biểu hiện hành vi của một đương số thì cách cục cung vị Thái Tuế có ảnh hưởng tác dụng mang tính mấu chốt.

Đây là một hạng mục quan niệm, trên thực tế, cùng loại này thuộc về ảnh hưởng tác dụng của [Lý] lại vốn có ảnh hưởng của tính chất mấu chốt của cung vị có tính chất đặc biệt, [cung vị Thái Tuế] chỉ là một trong số đó, cũng không phải là cung vị duy nhất.

(Trích từ "Đẩu Số đàm Phụ Mẫu tình" của Tử Vân, P036)

Trước khi vận dụng "Thái Tuế nhập quái tượng", đối với với tính chất tác dụng của Thiên Can năm sinh và Thiên Can vốn có của cung vị, nếu sử dụng quan niệm "Biểu Lý" của Đông Y để mà thuyết minh, thì Thiên Can năm sinh chính là "Biểu", còn Thiên Can cung vị chính là "Lý". Tác dụng ảnh hưởng của "Biểu" thường thường biểu hiện qua những xử sự cá nhân của chỗ Thái Tuế của người ấy tọa thủ, còn biểu hiện của "Lý" chính là đem Thái Tuế nhập cung và giữa nó với mệnh tạo (đương số) sản sinh ra một mối quan hệ hỗ động lợi hại ghê gớm ở một mức độ nào đó thì biểu thị cho thấy tình hình.

Lấy mệnh bàn của ông chủ Lâm (nam mệnh, nông lịch năm 1936 tháng 2 ngày 7 giờ Tị) làm ví dụ để thuyết minh. Năm Giáp Thìn (1964) sinh con trai, cùng với phụ thân anh ta sống chung với nhau, thân tình giữa cha con không hề sút kém, chẳng qua là trong sự tham gia công việc nhà máy với phụ thân anh ta sau này thì cách xử sự e rằng hiếm khi thấy nhận được sự đồng thuận của cha anh ta. Rồi năm Bính Ngọ (1966) sinh con gái, vì năm sinh có can Bính khiến cho Liêm Trinh hóa Kị tại Tuất là Mệnh cung của cha cô ta, cung Tuất lại xung hội vào Ngọ và Thìn có chư sát tinh, hơn nữa lại có cả Kình Đà của năm Bính tại Ngọ và Thìn cung. Bởi vậy đối với mối quan hệ thân tình cha và con gái xem ra biểu hiện dường như không thể nào mà tốt đẹp được. Nhưng bởi vì cung Ngọ vốn có Thiên Can khiến cho Liêm Trinh hóa Lộc vào Tuất là Mệnh cung, và Phá Quân hóa Quyền tại Thân là Thân cung, còn Vũ Khúc hóa Khoa ở Dần cung là cung Quan Lộc. Bởi vậy mà cô ta đi làm ở nhà máy của cha mình, biểu hiện công tác của cô thường nhận được sự ưng thuận đồng tình trọn vẹn.

(Trích từ "Đẩu số luận tử nữ" của Tử Vân, P256).

Thái Tuế của người khác nhập cung, nếu như các tinh diệu cấp Giáp ở chỗ sở tọa của Thái Tuế cùng với tinh diệu của cung Mệnh của đương số tạo thành hiện tượng sinh khắc khác biệt, tương sinh thì hợp, tương khắc thì không hợp.

(Trích từ "Đẩu số luận tử nữ" của Tử Vân, P256).

Quan niệm

Luận đoán mỗi một hiện tượng mệnh lý của các hạng mục cung vị, nhất định cần phải kết hợp tham khảo với Mệnh cung (hoặc bản cung Đại hạn) mà luận đoán. Cung Nô Bộc tiên thiên mà tốt, cung Nô Bộc đại hạn hội sát kị hung tinh, nhưng cung Mệnh tiên thiên ở trong vận trình này mà nhận được cát hóa khiến cho cách cục của cung Mệnh tăng cát, đồng thời bản cung đại hạn lại hội cát diệu, tự nhiên sẽ khiến cho tính hung của cung Nô Bộc đại hạn giảm hẳn đi.

Vẫn theo mệnh lý mà nói, vận trình lúc về già cao tuổi, trong trường hợp đi vào đại hạn có cách hung, nếu bất cập thì nên rút lui, còn xuất đầu lộ diện thì e rằng chẳng có gì tốt đẹp đâu.

Với mệnh lý mà nói, có thể trong hoàn cảnh thời thế tạo anh hùng với người bộc lộ tài năng, tự nhiên phải vốn có sẵn một chút điều kiện mệnh lý chính xác tương xứng. Một người thành công, dĩ nhiên có điều kiện mệnh lý của họ, nhưng cũng nhất định cùng với hoàn cảnh thời đại của xứ sở của anh ta có liên quan, chứ cũng chẳng phải là hoàn toàn do nhân tố mệnh lý tạo thành.

Tổ hợp tinh diệu của Mệnh Thân cung tạo thành cát cách, ở Thiên Di cung lại có nhóm cát tinh tụ tập, dạng đương số kiểu này cả một đời vận trình gặp được không chỉ là sự thuận lợi chẳng có sự ngăn trở, mà còn dễ dàng nhận được sự dìu dắt đề bạt của quý nhân. Nói cách khác, dẫu không được quý nhân đề bạt, chủ yếu là dựa vào sự phân định nghiên cứu những dấu hiệu mệnh lý biểu hiện ở Mệnh Thân cung và Thiên Di cung. Ngược lại, nếu như người mà tổ hợp ở Mệnh Thân với Thiên Di cung mà kém đẹp, trong đời khó mà gặp được quý nhân đề bạt, mà dẫu cho có may mắn gặp được quý nhân khen ngợi đề bạt thì cũng e rằng là chẳng dễ có được cách cư xử tốt đẹp.

Phần cung Phu Thê với tình cảm hôn nhân <<Tử Vân luận hôn nhân>>

Lời nói đầu

Cận đại có rất nhiều người tìm hiểu mệnh lý đẩu số, thường đem những bài ca phú của các bậc tiên hiền, mà họ thuộc như cháo chảy, mỗi khi gặp lúc suy đoán hoạt bàn mệnh lý là thường dẫn dụng các câu văn lời phú để mà làm căn cứ luận đoán.

Thí dụ như, đàm luận về phương diện Phu Thê cung, thì khả năng gặp sự viện dẫn:

"Thái Vi phú":

Thái Âm đồng Văn Xương vu Thê cung, thiềm cung chiết quế.

(Thái Âm cùng với Văn Xương ở cung Phu Thê thì như bẻ cành nguyệt quế cung trăng, ám chỉ việc lấy vợ đẹp lại là con nhà danh giá, được nhờ vợ mà công danh thăng tiến).

Hay là như:

Thái Âm hợp Văn Khúc vu Thê cung, hàn lâm thanh dị.

(Thái Âm hội hợp với Văn Khúc ở cung Thê thì như giới hàn lâm thanh cao khác thường, cũng ám chỉ tương tự như trên).

Dường như người mà cung Phu Thê có cách cục loại này, chẳng những trong đời sẽ lấy được vợ xinh đẹp như các mỹ nhân tiểu thư, mà sau khi cưới được người vợ vượng phu ích tử, khiến cho con đường quan lộ được đắc ý, từng bước thăng tiến cao, việc buôn bán cũng như sự nghiệp đều như chim hồng chim hộc bay cao, của cải sinh sôi dồi dào.

Lại như "Ngọc Thiềm phát vi luận":

Thiên Diêu Phu Thê cung tắc tà dâm nhi đam tửu;

Sát lâm Phu Thê cung, định Phu Thê bất hòa.

(Thiên Diêu đóng ở cung Phu Thê thì tà dâm và mê hoa luyến tửu; Sát tinh lâm vào cung Phu Thê thì xác định là vợ chồng bất hòa).

"Nữ Mệnh Cốt Tủy phú":

Tam phương tứ chính hiềm phùng sát,

Cánh tại Phu cung họa hoạn thâm

Nhược trị bản cung vô chính diệu,

Tất chủ sinh ly khắc hại chân.

(Tam phương tứ chính mà gặp sát tinh

Gặp thêm ở tại cung Phu là tai họa càng nặng

Nếu gặp bản cung mà vô chính diệu

Thì nhất định chủ sinh ly khắc hại).

Nếu căn cứ vào những thuyết pháp này, người nam mà có cách hung ở cung Phu Thê thì không những là kẻ phóng đãng tham luyến tửu sắc, mà hôn nhân cũng chắc chắn còn bị xáo trộn kiểu chó nhảy gà bay. Nữ mệnh thì không những trong quãng thời gian trung niên chủ bị hôn nhân có sự sinh ly tử biệt, mà còn cả một đời cũng phải trải qua những chuỗi ngày khó nhọc.

Bởi vì quan niệm mệnh lý truyền thống cho rằng, một cá nhân mà cung Phu Thê có dạng như thế nào thì nhất định là trong cuộc sống hôn nhân sẽ xuất hiện những trạng thái tình huống đúng với dạng đó. Nếu cung Phu Thê cát, tất nhiên cả đời hôn nhân sẽ mỹ mãn, tình thâm nghĩa nặng, sát cánh kề vai. Còn như cung Phu Thê hung, nếu không nửa đường đứt gánh vì phải chịu tang người phối ngẫu, thì cũng là chia lìa đôi ngả, đường ai nấy đi.

Nếu căn cứ quan niệm mệnh lý dạng này của Tử Vi truyền thống để mà luận đoán tình hình hôn nhân của một cá nhân thì hoàn toàn phụ thuộc vào cung Phu Thê. Như thế thì chỉ cần người nào đó có cùng mệnh bàn lá số (cùng năm cùng tháng cùng ngày giờ sinh, hoặc là người có tổ hợp mệnh bàn tương tự gần giống) sẽ gặp những tình huống phát sinh như sau:

Thứ nhất, lý ứng vào cùng năm (tuổi) kết hôn hoặc ly hôn.

Thứ nhì, lý ứng về tình hình hôn nhân tương đồng, hoặc đều có nhân duyên mỹ mãn, hoặc cùng là các đôi vợ chồng bất hòa.

Thứ ba, đều có sự tương đồng về sinh ly hay tử biệt, cũng đều có số lần tái hôn và kết quả tái hôn tương đồng với nhau.

Nhưng căn cứ vào kinh ngiệm tích lũy mà bút giả biết, ảnh hưởng của cung Phu Thê dĩ nhiên là cung vị trọng yếu của luận đoán cát hung về hôn nhân. Nhưng nên biết là nó không phải cung vị trọng điểm duy nhất của đời sống hôn nhân trên thực tế.

Bút giả cho rằng, cung Phu Thê ấy, lý ứng tiêu biểu cho một người đương số ấy. Trong một dạng "hình thái ý thức" của hôn nhân và tình cảm nam nữ, thường thường chi phối đương số ấy về phương diện hôn nhân và tình cảm, theo các tiêu chuẩn và quan niệm của đương số xử lý như thế nào. Cái cung vị này lại như một bàn tay vô hình nào đó âm thầm thao túng, tạo thành động lực gốc của cá nhân ấy xử lý vấn đề tình cảm hôn nhân như thế nào.

Nếu theo quan điểm này để mà tìm hiểu về cung Phu Thê, công năng của nó trong mệnh lý đẩu số chẳng qua là phản ứng của một cá nhân trong phương diện tâm lý hoặc ý nguyện về tình cảm với hôn nhân. Chứ không thể tiêu biểu cho trạng huống đời sống hôn nhân và tình cảm thực tế của một cá nhân.

Bởi vậy, trong truyền thống đối với nhận thức về tác dụng của cung Phu Thê, cũng không thể sử dụng để mô tả giải thích hết được về đời sống hôn nhân với tình cảm trên thực tế được.

Bút giả phát hiện nghiệm lý được qua vô số kinh nghiệm luận mệnh, có nhiều lá số với cung Phu Thê gần như là tương đồng về cát hung vậy mà xuất hiện kết quả về hôn nhân với tình cảm hoàn toàn không tương đồng. Một cung Phu Thê khán thấy dường như "đại cát", lý ra ứng với hôn nhân mỹ mãn, bạch đầu giai lão, nhưng mà kết quả cuối cùng thì lại là sinh ly với tử biệt. Ngược lại, cung Phu Thê có Kị sát giao xung khắp nơi đầy hung tượng, nhưng hôn nhân cả đời lại êm ả chẳng có sóng gió gì cả, thành tựu nhân duyên tốt đẹp. Cát hung của cung Phu Thê ấy, cùng với hôn nhân thực tế hình thành ví dụ thực tế trái ngược lại về mệnh lý. Phàm những người vốn có kinh nghiệm về mệnh lý, chắc cũng đều đã gặp những trường hợp như thế.

Nhưng đáng tiếc là đối với vấn đề mâu thuẫn này, trong các các tác phẩm cổ thư hình như chưa thấy đề cập, trong các tác phẩm mệnh lý đẩu số gần đây càng không thấy đàm luận. Thật không rõ là do các cao nhân tiền bối từ xưa tới giờ rốt cuộc là vì giữ kín không nói ra, hay là vì chưa từng suy nghĩ đến cái đó, hay là không có cách nào khai giải câu đố ấy mà không đi sâu hơn nữa?

Bởi vì, về cung Phu Thê, vừa không thể dùng trọn vẹn nhưng vừa phải dùng trên thực tế để khảo sát vấn đề của trạng huống đời sống hôn nhân chân thực, do đó mà trở thành thiên cổ huyền án.

Chỗ học về mệnh lý đẩu số truyền thống, dĩ nhiên có cái tinh túy của nó để khai thác lập luận, trong luận đoán mệnh lý cũng có sự mở rộng các chỗ độc đáo ở khắp nơi đều rất chuẩn tắc. Nhưng mà trong phương diện kỹ xảo suy diễn và lý luận cũng có nhiều sơ xuất thiếu xót, cứ như là cái kiểu hết giấy khó viết rõ ra được. Cái môn Đẩu Số bao nhiêu năm nay toàn là dậm chân tại chỗ mà đình trệ chẳng có bước tiến, nghiên cứu nguyên nhân của nó, thực chính là do bản thân chúng ta, không thể không khiến cho trong lòng than thở không nguôi!

Tại đây, bút giả đề xuất phương pháp ứng dụng và lý luận của "Thái Tuế nhập cung" hay là "Thái Tuế nhập quái" cùng với "Nguyên lý tương khế" (tương ứng tương hợp qua lại lẫn nhau). Khả dĩ sử dụng để giải quyết thiên cổ huyền án, nhưng một sự phát hiện với lý luận mới sơ khai thì khó mà tránh được những chỗ khiếm khuyết, do đó rất mong các tiền bối cao nhân đồng nghiệp có thể chỉ giáo, thì hậu học thật là may mắn! Môn học đẩu số cũng thật là may mắn!

Phu Thê cung và hôn nhân tình cảm

Mấy năm gần đây, tốc độ viết sách và ra sách liên tục vào mỗi năm một quyển, dù không dám nói ngoa là các công trình chắc chắn tinh tế sống động, nhưng độc giả cần hiểu cho là, trong khi đã đặt bút viết thì bút giả có thái độ rất cẩn thận tỉ mỉ.

Mỗi khi một bản sơ thảo của một quyển nào đó được hoàn thành, điều quan trọng đầu tiên là mang nhờ một hai vị chuyên gia cùng giới (đẩu số) trợ giúp duyệt bản thảo. Tra soát xem những ý chính luận đàm trong cách hành văn có gì khó hiểu, để tránh phạm vào cảnh vừa đá bóng vừa thổi còi (tự thuyết tự đạo, tức là cảnh vừa tự hát lại vừa tự khen) mà có thể gây khuyết điểm khiến độc giả không biết là đang nói những gì.

Khi bản sơ thảo của quyển "Đẩu Số luận nhân duyên" này hoàn thành, tôi cũng mời hai vị chuyên gia trong giới đẩu số là các tiên sinh Chu, Triệu trợ giúp duyệt bản thảo, nhằm mong nhận được những ý kiến khách quan. Nhân đây cũng đặc biệt xin gửi lời cảm tạ tới hai vị ấy.

Sau khi xem trọn vẹn tất cả bài viết, các ông ấy chẳng hẹn mà cùng bày tỏ rằng: Đây vừa là một quyển có lập luận so với truyền thống là mang luận điểm rất lạ mà cũng rất kỳ thú. Độc giả phổ thông, nếu như trước khi vào đọc tác phẩm mà không có một chút khái niệm nào, thì khi đọc sẽ có thể bị phương pháp suy diễn và lập luận của sự độc đáo này khiến cho xây xẩm mặt m*y, lăn quay ra đất.

Ngay sau đó, các ông ấy đưa ra một số vấn đề, yêu cầu tôi phải thuyết minh trước.

Vượt qua 12 cung vị (siêu việt thập nhị cung vị)

Triệu tiên sinh nói: "Trong cuốn <<Đẩu số luận cầu tài>> anh đã công khai xác nhận giải thích đầy đủ thông qua cái lý cung vị trọng điểm của việc đắc tài lộc không chỉ ở Tài Bạch cung mà còn ở Phúc Đức cung. Chuyện như thế khác với luận điểm truyền thống, sau đó khiến cho rất nhiều đồng đạo của giới đẩu số rất kinh ngạc. Rồi lần luận đàm này về tình cảm và hôn nhân, lại không lấy dùng <<cung Phu Thê>> như truyền thống, e rằng sắp tới sẽ tạo thành sự chấn động lớn hơn nữa. Nếu như mà không có những lời nhắn nhủ trước khi vào đàm luận các ví dụ mệnh lý thì e rằng khiến cho các độc giả theo luận điểm của quan niệm truyền thống sẽ đối với loại này sẽ cảm thấy mê hoặc, không thông suốt được!"

Chu tiên sinh cũng bổ sung nói: "Nghe qua anh giải thích mở ra về tác dụng và bản nghĩa của 12 cung vị hạng mục sự tình, cũng đã biết được rằng, với suy luận của anh về các cung vị hạng mục sự tình đó đã sớm thoát ly được ra khỏi cái vai trò khuôn mẫu vốn có 12 cung vị. Nhưng mà những điểm trọng yếu về suy luận và quan niệm dạng này, làm cho các đồng đạo mới ban đầu đọc đến cái tác phẩm này, e rằng không những là sự chấn động mà còn khiến cho cho đẩu số mệnh lý sinh ra sự hoài nghi triệt để, thậm chí vì nó mà có thể gây ra sự mất lòng tin!".

Đối với tôi (QNB chú: chữ "Tôi" ở đây tức là ông Tử Vân), mặc dù trong phương pháp suy luận và lý niệm về đẩu số có rất nhiều phương diện khác với truyền thống. Nhưng coi như là một người nghiên cứu nghiệp dư yêu thích đẩu số, trộm nghĩ truy cầu diện mạo thực sự của mệnh lý đẩu số chứ cũng bất kể là so với lý niệm và phương pháp suy luận có cái gì sai biệt lớn. Bởi vì văn minh của nhân loại vốn ngay trong quá trình tiếp diễn đều không ngừng mong muốn có những bước tiến bộ. Nếu như mà quá sùng cổ phi kim (yêu cái cổ xưa mà không lý gì đến cái hiện đại) thì là một trở ngại của sự tiến bộ, còn nếu mà quá phi cổ sùng kim (bỏ cái cổ mà sùng bái cái hiện đại) thì cũng khiến cho văn minh tạo thành sự đứt đoạn từng khúc.

Bởi vậy mà, với tôi mặc dù trong phương pháp suy luận mệnh lý đẩu số, có chút khác biệt với phương pháp truyền thống, nhưng trên cơ bản thì chút lý niệm mới của tôi vẫn là có nguồn gốc từ quan niệm đẩu số của truyền thống. Chẳng qua chỉ là đem cái quan niệm truyền thống này mà một lần nữa làm sự đột phá vào cái khuôn mẫu sẵn cũ đó để giải thích và vận dụng, khiến cho nó có thể thêm phù hợp để mà tìm hiểu cái đạo, cái lý của mệnh lý trong sự phức tạp đan xen lẫn lộn của đời người.

Ảnh hưởng tác dụng và bản ý của cung Phu Thê

Triệu tiên sinh: "Trong truyền thống, nắm cát hung của cung Phu Thê thì coi như nắm được căn cứ luận đoán về hôn nhân suốt đời của đương số. Anh hình như là không thực hiện theo khán pháp loại ấy?".

Quan niệm loại này, nói một cách nghiêm túc thì cũng chẳng có cái gì là sai khác lớn. Bất quá thì nếu như đem cung vị ấy khán được đương số ấy, nó khác với một dạng "hình thái ý thức" trong tình cảm và hôn nhân, có lẽ càng thêm bổ khuyết.

Chu tiên sinh: "Nếu được thì anh có thể nó cụ thể hơn chút nữa chăng?"

Thí dụ như nói, người mà cung Phu Thê có tổ hợp "Sát Phá Lang", vì ảnh hưởng tính chất được phú cho thuộc loại cương cường rõ rệt và ảnh hưởng về tính động của nó cũng rõ rệt. Do đó mà đương số dạng này, anh ta trong sự lựa chọn đối tượng tình cảm cho mình, thường hội khuy hướng ở sự lựa chọn những người mà có cá tính tương đối mạnh và có tính linh hoạt rõ rệt. Còn nếu như là cung Phu Thê lại thuộc loại "Cơ Nguyệt Đồng Lương", anh ta sẽ có khuynh hướng lựa chọn người có cá tính hòa nhã thuộc dạng ôn hòa rõ rệt.

Hành động và biểu hiện của một cá nhân, ngoại trừ chịu sự tác động ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài, thì chủ yếu nhất vẫn chính là chịu sự dẫn dắt của quan niệm và tư tưởng của người đó. Chuyện như thế thuộc về quan niệm và tư tưởng của cá nhân cũng chính là "hình thái ý thức" của anh ta. Đem vận dụng lý luận như thế vào cung Phu Thê, đối với ảnh hưởng tác dụng của cung vị này trên mệnh bàn vốn có thì có thể thu được thêm sự ứng dụng và giải thích hợp lý và trọn vẹn hơn nữa.

Chân tướng cát hung theo phản ánh của cung Phu Thê

Chu tiên sinh: "Có một số cung Phu Thê dường như cát, nhưng hôn nhân cũng không phải là rất tốt đẹp. Có một số cung Phu Thê dường như hung, nhưng hôn nhân cả đời lại chẳng có trở ngại. Rốt cuộc thì là do cái gì?"

Một cá nhân khi mà chưa kết hôn, thì không khỏi luôn mong chờ một cuộc hôn nhân mỹ mãn, do đó đều dựa vào cái lý tưởng trong "hình thái ý thức" để mà đi lựa chọn đối tượng. Nhưng "ý thức" của con người, trong cuộc đời thường gặp sự hiệu chỉnh và cải biến tùy rõ rệt theo tuổi tác và hoàn cảnh.

Thí dụ như nói, người ta lúc còn trẻ, gặp chuyện là hăng hái xông lên mạnh mẽ thập phần; đến khi trung niên thì xử sự ổn trọng, biết chỗ tiến thoái; đến lúc lão niên thì phong mang nội liễm (mũi kiếm đã tra vào trong bao, ý nói sống hướng nội hơn khi trẻ) chẳng mảy may chút nào với được mất. Diễn biến của thái độ xử sự dạng này, ngoại trừ do sự tăng trưởng của tuổi tác con người ra, thì thường cũng do sự biến hóa thay đổi của hoàn cảnh, khiến cho tâm thái, hình thái ý thức, của cá nhân đó nảy sinh ra sự biến hóa thay đổi hoặc là điều chỉnh cực lớn. Cho nên con người ta trong phương thức xử sự ở đời mới có những khác biệt quan trọng về giai đoạn tuổi tác.

"Hình thái ý thức" của một cá nhân trong phương diện hôn nhân cũng có những hiện tượng điều chỉnh hoặc là thay đổi theo tuổi tác kiểu đó.

Bởi vậy để mà nói, vì sao chỉ với mỗi mình cung Phu Thê tiên thiên cũng có lúc không thể xem được đối với đương số ấy về nguyên nhân của các trạng huống của hôn nhân thực tế.

Khi đem suy diễn các trạng huống hôn nhân thực tế, ngoại trừ quyết định bằng cách lấy hiên tượng cát hung của cung Phu Thê tiên thiên ra, còn phải lưu ý đến những hình thưc biểu hiên cát hung của cung Phu Thê hậu thiên lúc hành hạn như thế nào, khả năng đối với hôn nhân tạo thành ảnh hưởng ra làm sao.

Thí dụ như nói:

Thứ nhất, cung Phu Thê tiên thiên tốt đẹp, nhưng trong đại hạn sau khi kết hôn lại không ngừng khiến cho Kị tinh xung kích từ Quan vị này, khiến cho cát tượng vốn có của cung Phu Thê tiên thiên chuyển thành hung, mà khiến cho hôn nhân phải chịu sự phá hoại.

Thứ hai, cung Phu Thê tiên thiên kém đẹp, nhưng liên tục mấy đại hạn sau khi kết hôn, lại thường xuyên có Hóa Lộc chiếu vào cung vị đó, cái sự hội tụ đó khiến cho sự kém đẹp ở cung Phu Thê tiên thiên lại chuyển từ hung thành cát.

Thứ ba, cung Phu Thê tiên thiên tốt đẹp, nhưng các cung Phu Thê đại hạn sau khi kết hôn liên tục biểu hiện hung tượng thì sự hòa hợp của vợ chồng mỗi ngày một giảm đi.

Thứ tư, cung Phu Thê tiên thiên không tốt đẹp, nhưng các cung Phu Thê đại hạn sau khi kết hôn lại liên tục biểu hiện cát tượng, thì sự tương hội của hôn nhân như là chuyển thành cảnh khổ tận cam lai, càng về sau càng ngọt ngào.

Hoàn cảnh có khi cũng hội những ảnh hưởng đến sự hài hòa hay không của hôn nhân. Tục ngữ vốn có câu nói "bần cùng phu thê bách sự ai" (nghèo khó thì vợ chồng trăm sự đều bi thương). Người như thế một khi cung Phu Thê tiên hậu thiên mà kém đẹp, lại vì gia cảnh quẫn bách, thì gặp sự hung ác hóa tăng nặng thêm về quan hệ hôn nhân. Do đó mà luận hôn nhân, có khi hoàn cảnh gia đình cũng là một điều kiện mà không thể bỏ qua được.

Tảo Hôn và Trì Hôn (kết hôn sớm / muộn)

Triệu tiên sinh: "Tảo hôn hoặc trì hôn thật rõ rệt (trên thực tế), từ xưa tới nay trong mệnh lý dường như cũng rất là trọng thị, cái đạo lý này là do đâu? Giới hạn tuổi tác của sự kết hôn sớm muộn là như thế nào?"

Thông thường đều theo hiện tượng cát hung của cung Phu Thê tiên thiên để mà phân định có hay không việc có thể kết hôn sớm hoặc là nên kết hôn muộn.

Trạng thái tâm lý của con người có thể tùy vào tuổi tác mà có sự điều chỉnh hoặc biến hóa thay đổi trước rõ rệt. Con người ta gần năm 20 tuổi đều đã có nhu cầu mạnh mẽ trong tâm lý và sinh lý về tình dục đối với người khác giới tính. Nhưng người trẻ tuổi ở cái độ tuổi này, khí huyết đương còn cương mãnh, sinh lý thì thành thục có thừa, mà tâm lý thì chưa đủ ổn định. Ở độ tuổi đó mà kết hôn thường khiến cho hai người vợ chồng trẻ đó thiếu sự tương kính với nhau, trong đời sống sinh hoạt chung thì phối hợp khó mà ăn ý.

Còn nếu kết hôn khi mà tuổi đã nhiều một chút, thì dầu cho hai vợ chồng trong sinh hoạt chung có chút khó khăn về sự ăn ý nhưng vì tuổi đã lớn một chút nên tâm lý đã chín chắn, thì cũng dễ dàng nhân nhượng mà thích ứng qua lại với nhau.

Cung Phu Thê tốt đẹp, vợ chồng cư xử với nhau dễ hòa hợp vui vẻ, tảo hôn sẽ không được như vậy. Nếu cung Phu Thê mà xui xẻo, rất cần phải kết hôn muộn mới hợp.

Tuổi của sự kết hôn sớm với kết hôn muộn, thời xưa và ngày nay có một sự chênh lệch rất lớn. Vào thời đại của lão tổ mẫu (bà cố), thông thường thì người trẻ tuổi ngoại trừ những ông có nguyên nhân đặc thù hoặc là hoàn cảnh hạn chế ra, thì thường thường vào khoảng 20 tuổi là kết hôn. Nhưng mà vào thời nay thì đâu đâu cũng thấy nam nữ đến 25, 26 tuổi mà vẫn chưa kết hôn. Xưa nay thì sự khác biệt về số tuổi kết hôn có nguyên nhân chính là do bối cảnh thời đại không giống nhau, chứ nó chẳng liên quan gì đến nhân tố mệnh lý cả.

Người xưa tảo hôn, người nay trì hôn.

Chu tiên sinh: "người xưa tảo hôn, người nay trì hôn, vì sao tình huống hôn nhân của người nay biến đổi nghiêm trọng hơn so với người xưa?"

Vào thời đại của bà cố ngoại thì hôn nhân của người nhi nữ là thường do mệnh lệnh của cha mẹ, theo lời mai mối mà thành hôn. Con cái được nàng dâu chính là dựa vào việc lo toan liệu làm hỉ sự thì con cái mới có vợ. Do đó hôn nhân đại sự của người nhi nữ, cũng chính là đại sự của gia đình. Cái chuyện hôn nhân như thế đã được quyết định bởi cha mẹ trong nhà, cho nên một khi có chuyện gì mà tình hình hôn biến xảy ra, dĩ nhiên là có sự định đoạt từ bàn tay quyền lực của cha mẹ ở trong nhà.

Nhưng thời đại gần đây, cái việc hôn nhân gần như là đều do người trẻ tuổi tự làm chủ đạo. Đôi thanh niên nam nữ, bất kể là trải qua một cuộc ái tình dài thượt lắm cảnh lâm li lệ rơi ướt áo trường bào hay là yêu nhau sét đánh từ cái nhìn đầu tiên, một khi đôi bên tình cảm đã ưng thuận thì có thể kết thành vợ chồng. Nhưng mà hôn nhân dạng này, cũng thường tồn tại cái sự không ưng thuận giữa đôi bên, và rồi xảy ra cái hiện tượng sống với nhau thì nảy sinh mâu thuẫn khiến cho vợ chồng đường ai nấy đi chia lìa đôi ngả.

Hôn nhân nếu nư thuộc về đại sự của gia đình, xả thân vì nó, thì người trẻ tuổi không được phép muốn làm cái gì thì làm, nên hôn nhân tự nhiên không dễ gì mà phát sinh biến đổi được. Nếu như hôn nhân chỉ dựa vào cảm tính của đương sự chỉ vì bản thân thì tính ổn định của hôn nhân rõ ràng là bạc nhược đó mà.

Cùng mệnh bàn, không cùng hôn nhân

Triệu tiên sinh: "Xưa nay, đối với việc cùng lá số mà không cùng hôn nhân, hình như chưa từng có sự giải thích rõ ràng hợp lý. Anh lần này có phát biểu sáng kiến mang tính đột phá, nhưng mà sự công bố đó của anh dường như vẫn chưa phải là toàn bộ phương pháp suy luận trọn vẹn. Vì sao lại có sự bảo lưu vậy?"

Lý luận "Thái Tuế nhập quái", có thể dùng để giải thích vì sao người cùng mệnh bàn lá số (cùng năm tháng ngày giờ sinh) và nguyên nhân vì sao hôn nhân của họ không giống nhau. Do đó cũng có thể lợi dụng lồng vào phương pháp và lý luận để mà giải quyết cái huyền án mà thiên cổ lưu lại này.

Tôi chẳng kiêng dè gì mà nói, đối với phương pháp suy luận và ứng dụng của bộ lý luận này, mặc dù cũng đã từng có rất nhiều bài viết đều dẫn dụng nói rõ, nhưng những phần đã công bố có lẽ chính là như hai phần ba chiêu thức của một bộ quyền thuật, chứ không phải là toàn bộ chiêu thức.

Chẳng qua tôi rất tin tưởng rằng, đối với những người có ý chí quyết tâm về đẩu số, phải biết thu nhận được sự khai mở gì sau khi đọc kỹ cuốn này, nếu như mà dụng tâm điều tra nghiên cứu thêm thì có thể từ lý luận này mà thâm nhập sâu rộng thêm vào mệnh lý đẩu số.

Vấn đề ly hôn

Chu tiên sinh: "Trong khi thảo luận kín và giảng giải phân tích bàn bạc về trường mệnh cách ly hôn, anh thường có những suy luận và dự đoán đúng trọng tâm. Nhưng trong cuốn sách này thì dường như có ý tránh mở ra sự thảo luận về phương diện này. Mà việc này cùng với lúc bình thường anh cùng với người ta luận mệnh, cũng cố ý tránh cái chỗ luận về việc thế nào cũng ly hôn. Hình như là có cái khéo của sự dị khúc đồng công (cùng nốt nhạc nhưng trong giai điệu khác nhau, ý nói về sự khéo biến tấu), rốt cuộc thì là do cái gì?"

Trong truyền thống, người Trung Quốc thường quan niệm là khuyến khích hòa hợp chứ chẳng khuyến khích ly tán. Năm đó ân sư của tôi cũng đã đem cái sự việc ly hôn mà liệt vào một trong ba điều đại răn của việc đàm luận mệnh lý. Có thể nghe theo mà chịu sự ảnh hưởng này, do đó mà ngoại trừ những lúc tham khảo bên lề về lý học ra, đối với những sự việc mà có khả năng xảy ra ly hôn, thì tôi luôn luôn chỉ là điểm trúng thì ngừng. Nhắc nhở người ta phải cẩn thận cư xử cho phải đạo trong phương diện hôn nhân, chứ nhìn chung là không đoán chắc là sẽ ly hôn.

Tôi mặc dù cũng đồng ý với cái thuyết của người phương Tây "Một đôi vợ chồng ly hôn, có thể sau đó sẽ tạo ra 2 đôi có nhân duyên mỹ mãn". Nhưng mà tôi lại cũng cho rằng, con người ta đến lúc trung niên, có sự việc liên quan tới ly hôn, vẫn cần phải biết suy xét lo toan và xử lý thật kỹ càng. Huống chi đối với cuộc tình thứ hai, đã chắc gì nhận được sự mỹ mãn? kết hợp có hạnh phúc? Chẳng có ai có thể dám đứng ra đảm bảo được.

Một cá nhân khi đến tuổi trung niên, một khi phát hiện ra hôn nhân không được mỹ mãn thì dĩ nhiên là bị giảm mất một nửa hạnh phúc đời người rồi, nên sẽ truy tìm quyền lợi ở cuộc tình thứ hai. Nhưng đối với con cái mà nói, thì đúng là cần phải có sự cùng chăm sóc giáo dưỡng của cả cha lẫn mẹ. Nếu như mà cha mẹ ly hôn, thường gieo vào trong tâm hồn của con cái một sự ảnh hưởng xấu mà không gì có thể bù đắp lại được.

Con cái vì cớ gì mà bị ruồng bỏ, vì cái gì buộc chúng phải chịu cái chuyện như thế đến từ sự ly hôn của cha mẹ mà khiến cho cả đời bị ám ảnh vào tâm hồn!

Mỗi khi nghĩ đến chuyện này, càng không muốn xem nhẹ cái việc luận đoán về ly hôn. Mệnh lý thường gặp cái việc vì một câu nói mà có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc hay bất hạnh của người khác. Do đó làm thế nào để đàm luận về vấn đề ấy, thường thường thì do quan niệm của người luận số bó buộc mà thôi!

Phần luận sự nghiệp

* Tổ chức thương mại mậu dịch quốc tế sinh sôi nảy nở, nếu như vận hạn hoặc cung Thiên Di của bản Mệnh (cung Mệnh gốc) có Lộc tinh cát hóa, thì đúng là vừa vặn ứng với ảnh hưởng tác dụng của [phát tài ư viễn quận], do đó rất có lợi khi buôn bán ở phương xa.

* Trong suy luận về phương diện khởi đầu của một sự nghiệp mới (của đương số), ngoại trừ cung Sự Nghiệp (cung Quan Lộc) có cát tượng của Hóa Lộc dẫn động ra, khi bản cung đại hạn hoặc lưu niên được cường vượng, nếu mà khi có song Hóa Quyền hội vào cung sự nghiệp, thì cũng chủ tại vận hạn hoặc lưu niên đó sẽ khai sáng sự nghiệp mới.

* Cung vị của phía đối tác cộng sự, thông thường sẽ thấy xuất hiện tại cung Thiên Di của đại hạn hoặc lưu niên. Hoặc là ở trên hai phương vị của [Tài], [Quan]. Với sao Hóa mà có lợi cho việc hợp tác, lấy [Lộc] và [Quyền] làm trọng yếu.

* Về cơ bản, tại vận hạn mà đụng tới cung Thiên Di có Kị Sát đối xung thì không nên hợp tác sự nghiệp làm ăn.

* [Dị lộ công danh] - bắt tay vào kinh doanh và sáng lập sự nghiệp với đủ mọi thể loại mà có tính chất không giống nhau. (Hai sao Không Kiếp xuất hiện ở cung Sự Ngiệp).

* Nếu khi làm ăn buôn bán xuất hiện cạnh tranh, thì cung Thiên Di tiên hậu thiên chính là cung vị của đối thủ cạnh tranh. Cung Sự Nghiệp thì chính là cung vị quyết định sự nghiệp làm ăn được thông thuật trôi chảy hay không. Cung Tài Bạch trở thành cung vị then chốt quyết định có kiếm được tiền hay không. (Chú thích: Điền Trạch - chủ có tích trữ được tiền tài hay không; Phúc Đức - chủ có được thụ hưởng tiền tài hay không).

* Cung Thiên Di, chính là một cung vị trọng điểm của việc đàm luận về mối quan hệ nhân tế xã giao, cũng là hành động trong quan hệ nhân tế, đối với người lãnh đạo chóp bu thì chính là một mấu chốt rất trọng yếu.

* Cung Mệnh Thân tiên thiên mà cường vượng, đồng thời cung Sự Nghiệp lại thành cát cách, khi mà các Thiên Can của vận hạn liên tiếp được hóa cát lại vừa dẫn động cung Sự Nghiệp tiên thiên này, trong biểu hiện sự nghiệp của các vận trình ấy thường thường phải căn cứ vào cung sự nghiệp của tiên thiên để mà luận đoán.

* Sự nghiệp mới hoặc hoàn cảnh nghề nghiệp mới của một người, rất khó trong khoảng dăm ba năm mà làm được thăng quan tiến chức vùn vụt, của cải thu nhập to lớn. Bởi vậy nhất định phải chú ý đến cát hung của vận hạn trong tương lai, mới có thể coi như là căn cứ trọng yếu để mà xem có hay không cái lợi về sự chuyển biến của tân sự nghiệp hoặc hoàn cảnh nghề nghiệp mới.

* Bắt đầu khởi công nhà máy, xưởng sản xuất đều cần đầu tư rất nhiều tiền bạc kinh phí, mà cái dạng tiền bạc đầu tư kiểu này thu hồi vốn cũng rất chậm. Bởi vậy, đối với sự nghiệp đầu tư sản xuất thì ngoại trừ chú trọng xem 2 cung Tài Quan trên mệnh bàn có vượng hay không, còn cần phải đồng thời xem cung Điền Trạch (Tài Khố) có miếu vượng sung túc hay không.

* Về phương diện luận đoán mệnh lý sự nghiệp:

A, Mệnh lý phản ánh về các loại nghề nghiệp khác nhau, chẳng qua là có khuynh hướng theo một loại nào, nhưng quyết chẳng phải nhất định là sẽ tham gia vào ngành nghề đó.

B, Trong khi luận đoán về ngành nghề hành vận biến hóa sự hưng suy khởi phục, thì nhất định phải dựa vào tính chất ngành nghề trong thực tế đương số tham gia, thậm chí phải dựa vào chức vụ đương số đang đảm đương hay tình trạng của chức vụ để mà làm căn cứ nghiên cứu suy luận.

C, Tính chất ngành nghề của đương số tham gia thường hội tụ ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình cũng như do bối cảnh thời đại.

D, Không được bỏ qua tài năng bẩm phú vốn có theo mệnh lý tiên thiên cũng như tình hình tài nghệ sở học hậu thiên của đương số, cái này gọi là sự thích nghi để sinh tồn, là cái lý vượt trội thì thắng mà yếu kém thì bại vậy.

* Đầu tư ròng có thể thu được lợi nhuận hay không, phải xem cung Phúc Đức tiên hậu thiên như thế nào? Cung vị tốt đẹp thì hiển nhiên có thể khiến cho việc đầu tư sẽ kiếm được tiền, nếu mà (các cung ấy) dở thì tiền vốn sẽ một đi không trở lại. Nhưng nếu tham dự kinh doanh, ngoài việc khán hai cung Tài Quan, còn cần phải khán cát hung của cung Thiên Di tiên hậu thiên của (người) hợp tác. Cát thì hợp tác tốt đẹp, hung thì hợp tác chẳng được hài hòa, chẳng chóng thì chày cũng sẽ cãi nhau mà không được thoải mái rồi giải tán, chứ nói gì đến việc kiếm tiền được hay không.

* Kị Lộc xung vào cung Sự Nghiệp, biểu thị một dạng sóng gió của sự nghiệp, vừa có nghĩa cát hung tham bán, khi mà bản cung đại hạn hoặc lưu niên cường thì kết quả chuyển hung thành cát; khi bản cung hãm nhược thì chẳng có cách gì chế ngự được sự mất ổn định của sự nghiệp, sau cùng sẽ chuyển cát thành hung.

* Tử Vi và Thiên Hình, ảnh hưởng tính chất vốn có của nó về dụng cụ khám chữa bệnh, nếu như hội nhập Thân Mệnh hay cung Sự Nghiệp thì sẽ khiến cho có khuynh hướng về nghề nghiệp là tham gia hay có liên quan đến Y Dược.

Lời răn của Tử Vân tiên sinh <phần Điền Trạch>

* Hung tượng của cung Điền Trạch trên mệnh bàn (lá số), chỉ cần không quá <ứng hung> thì không nhất định phát sinh hung tượng <ảnh hưởng làm tổn hại>. Miễn là không quá dấn thân thì đủ để giảm nhiều sự thảm bại trong đầu tư buôn bán làm ăn (tức, yếu mà không cố quá thì đỡ quá cố). Đối với chức nghiệp thì chỉ cần an phận thủ thường, sẽ không gặp phải phản ứng từ hung tượng trong cung Điền Trạch. Trong phương diện buôn bán bất động sản, ngoại trừ nhu cầu cư trú của mình, không nên có đầu tư vào bất động sản hoặc các hoạt động liên quan tới bất động sản để hòng thu lợi nhuận. Nếu không sẽ đem tiền đầu tư vào đất đai vô giá trị, chẳng những tiền vốn vì vậy mà bị ứ đọng, giam hãm, chẳng đem lại lợi gì, mà thậm chí còn khiến cho tiền vốn sẽ một đi không trở lại.

* Thiên Di vượng, Điền Trạch hung <phá>, thường có phát sinh tượng ly hương.

* Kị Sát cùng đến cung Điền Trạch, thông thường người ta gặp cách ấy mà đi mua nhà thì hầu hết đều gian khổ khó khăn, phần lớn số tiền mua nhà đều là do đi vay mượn mà có.

* Buôn bán bất động sản, nếu như lấy kiếm tiền làm mục đích, trong đẩu số mệnh lý và việc mua nhà thuần túy, là có sự phân biệt với mục đích dùng để tự mình ở hoặc dùng để làm bảo đảm giá trị tiền gửi.

Buôn bán bất động sản với mục đích kiếm tiền cần coi kỹ cùng với giao dịch làm ăn, trọng điểm của nó vẫn cùng giống như Sự Nghiệp một dạng, nhất định phải chú trọng đến hai cung <Tài> <Quan> phải đẹp mới hợp.

Nếu như với tư cách tự mình dùng để ở hoặc dùng để đảm bảo giá trị tiền gửi, thì trọng điểm lại ở cung Điền Trạch.

Không được lẫn lộn, không phân biện những điều ấy.

* Cung Điền Trạch có Lộc Kị xung thì thông thường chủ bất động sản được bán ra.

* Cung Điền Trạch có vững như bàn thạch hay không, có được như tường đồng vách sắt hay không, trong mệnh lý đẩu số dùng làm điều kiện trọng yếu của sự phân biện về vận thế có khuynh bại hoàn toàn hay không.

* Điền Trạch hung mà cát hung tương tạp, thường thường biểu thị đúng thực tế về bất động sản có cát hung tham bán. Nếu có sự đầu tư, thì tốt xấu đều có cả. Mà tỉ lệ của tốt/xấu thì lại quyết định ở cát hung của cung điền trạch của đại hạn và bản cung đại hạn, cùng với điều kiện cát hung của cung điền trạch của đại hạn kế tiếp.

* Hung tượng của cung Điền Trạch đại hạn, trong phân tích suy luận việc đầu tư hay mua sắm bất động sản, cũng có nghĩa là về mặt nguồn vốn cũng không được hùng hậu đâu. Do đó, trong phương diện xây dựng mua bán bất động sản thì ngoài ý nghĩa không có đủ vốn, nhất định cần phải dựa vào khoản vay bên ngoài. Nếu như lại hi vọng vào kế mua nhà để đảm bảo giá trị tiền gửi hay là muốn lợi dụng đầu tư vào bất động sản để kiếm lợi nhuận, thì thường thường đều gặp sự trái với nguyện vọng.

Lời răn của Tử Vân tiên sinh <phần cầu tài>

* Nếu hai cung [Tài] [Phúc] của đương số mà phá bại, trong đời sống thực thế là quân nhân, công chức, viên chức, giáo viên - những người không cần sử dụng đến nguồn tiền vốn lớn trong nghề nghiệp riêng của mình. Cũng có thể là thuộc tầng lớp đơn vị phục vụ trong dân gian, với lương bổng không cao, do túng bấn với kinh tế mà khiến cho cuộc sống tương đối nghèo khổ.

* Được hay mất của việc buôn bán cổ phiếu, ngoài khán bản cung vận hạn ra thì còn phải trọng thị hai cung [Tài] [Phúc], phải có cát nhập thì mới tốt đẹp.

* <Lý Tài> của cung Phúc Đức (QNB chú: tức là ám chỉ cái Lý về sự quản về tiền tài của cung Phúc Đức), chính là rốt cuộc về sau có được tiền tài hay không, khảo sát xem (nó) như thế nào để mà vận dụng. Còn tác dụng của cung Tài Bạch lại ở phương diện biểu thị phương pháp hay thủ đoạn được áp dụng để sự cầu tài (tức, đường lối mưu cầu kiếm chác về tiền tài vật chất), cho nên cung Tài Bạch chính là biểu hiện rõ rệt cho phương thức của hành động <cầu tài>.

* Cung Tài Bạch tiên thiên có Kị Sát <Kị hoặc Sát> đồng cung, một khi gặp cung Tài Bạch của vận hạn hậu thiên đi đến chỗ có Kị Sát đồng cung thì trong thu nhập của tiền tài sẽ có chứa khuynh hướng mang <tính chất đánh bạc>.

* Khi đem tiền cho bạn bè mượn hay là đem cho vai lấy lãi, ngoài việc cần phải lưu ý đến cung Phúc Đức có khuyết điểm gì hay không, còn cần phải chú ý đến cung Nô Bộc của vận hạn có hung tượng hay không. Cung Phúc Đức nếu như bị phá, gặp hung sát, thường sẽ khiến cho khoản tiền đã cho vay một đi không trở lại.

* Cung Phúc Đức có thể cho ta thấy được tâm tính căn bản của nhu cầu đối với tiền bạc và khả năng xoay xở xử lý nó như thế nào.

* Ông nào mà tích trữ được tiền hay không, có thể dựa vào công việc nghề nghiệp hay tiền lương được lĩnh khi đi làm. Loại tiền dạng này, nhiều hay ít, khó hay dễ, có thể căn cứ vào cung Tài Bạch để luận đoán.

* Tài Bạch cung là cung vị của chỗ phát sinh ra tiền tài lợi nhuận, còn sau khi thu tiền tài lợi nhuận thì cung vị của phương thức xử lý xoay xở cũng như cách tiêu dùng thì cần xem ở Phúc Đức cung.

* Đại hạn với cung Phúc Đức của tiên thiên mà phá vào niên hạn, theo mệnh lý thì đó là chủ tiền tài lợi nhuận bị phá hao.

* Phá Quân hóa Lộc tại cung Tài Bạch, có tác dụng tính chất phú bẩm của cái mà gọi là <Điển đương chi tài> (Tiền tài của sự trông giữ cai quản / Tiền tài của sự cầm đồ / Tiền tài thông qua thế chấp), đương số có thể xứng đáng là tay lão luyện trong việc điều tiết tài chính (cung cấp vốn, tài trợ, cũng như huy động vốn,...).

* Cung Phúc Đức của tiên thiên và của đại hạn mà phá vào niên hạn, theo mệnh lý thì đó là chủ tiền tài lợi nhuận bị phá hao.

* Phá Quân hóa Lộc tại cung Tài Bạch, có tác dụng tính chất phú bẩm của cái mà gọi là <Điển đương chi tài> (Tiền tài của sự trông giữ cai quản / Tiền tài của sự cầm đồ / Tiền tài thông qua thế chấp), đương số có thể xứng đáng là tay lão luyện trong việc điều tiết tài chính (cung cấp vốn, tài trợ, cũng như huy động vốn,...).

* <Lợi nhuận tiền tài> của cung Tài Bạch, dường như có xu hướng từ sự từng trải qua vất vả cực nhọc của chính bản thân mà kiếm được. Nếu như là trải qua việc đầu tư, để người khác giúp mình kiếm tiền thì cung Phúc Đức lại trọng yếu hơn. Bởi vì cung vị này cũng đại biểu cho <phúc phận> của một cá nhân là lớn hay nhỏ, là dày hay mỏng.

* Đầu tư ròng là đã có tiền rồi, cũng là tiền của cung Phúc Đức. Bởi vậy, cung Phúc Đức mà hung thì chẳng có cách gì trông cậy vào việc từ đầu tư ròng mà thu được tiền tài lợi nhuận lớn được. Còn tiền của việc đầu tư tự kinh doanh lại đến từ tiền tài ở 2 cung Tài Quan, trường hợp này lại khó coi ở cung Phúc Đức. Những cái đó có sự khác biệt vậy!

* Luận đoán về mưu cầu tài lợi, ngoài cung Mệnh và cung Tài Bạch ra, một cung vị trong điểm khác chính là ở ngay cung Phúc Đức. Còn cung Tài Bạch thì coi như là cung vị luận đoán về <phương thức cầu tài> (phương thức gồm có: lương bổng, buôn bán, tay nghề khéo, cách kiếm tiền là chính hay bất chính,...). Cũng có thể nói cách khác: Mọi thứ lấy con người ta làm chủ, mà tích tượng mệnh lý của nó là lấy sự lao tâm lao lực để mà cầu đắc tài lợi, sẽ dùng tổ hợp tinh diệu của cung Tài Bạch để tiến hành phân định nghiên cứu. Mà tác dụng ảnh hưởng của cung Phúc Đức trên phương diện mưu cầu tiền tài lại <thuộc về dấu hiệu biểu hiện của một dạng dục vọng mạnh hay yếu đối với tiền tài>. Nếu như cung Phúc Đức mà đã cường với vượng, thì đương số có tâm thái tính nết đối với việc mưu cầu tiền tài vật chất sẽ là cực kỳ mãnh liệt. Do đó, sau khi anh ta có tiền vốn dư dả thì anh ta càng tích cực lợi dụng cái nền tảng tiền vốn này để mà sinh lợi nhuận. Người mà cung Phúc Đức nhược hãm, cho dù có tiền cũng dường nhu không có cái tâm tính mãnh liệt của dạng <dụng tài cầu tài> (dùng tiền để mưu cầu sinh ra thêm tiền).

* Tài Bạch cung kém đẹp thì việc cầu tài của đương số nếu như mà trải qua các phương thức cầu tài phải lao tâm khó nhọc thì có lẽ cũng có thể trong gian khổ mà đắc tài đắc lộc, và càng được nhiều tài lộc thì càng phải trải qua gian khổ.

* Thông thường, người có Mệnh cách mà tương tối cương cường mà lại hội sát tinh thành cách cục, thì đều vốn có sẵn cái tính mạo hiểm. Loại người này thường liều lĩnh, một khi có cơ hội là hành động đem tiền vốn tập trung đưa vào loại có <tính chất đầu cơ>.

Còn người mà Mệnh cách nhu nhược, lại không có sát tinh, cũng lại không thành cách cục, thì bản tính trời sinh là dường như rất bảo thủ. Do đó khi anh ta muốn lợi dụng <dùng tiền kiếm tiền> thì sẽ lựa chọn phương thức mà không mang tính chất vụt đến vụt đi. Cho nên phương pháp cầu tài của dạng người này là lựa chọn loại có <tính chất đầu tư>.

* Tiền tài của cung Tài Bạch, chủ về phương pháp của việc cầu tài, kiếm tiền khó hay dễ, đạt được nhiều hay ít.

Tiền tài của cung Phúc Đức, chủ về lợi dụng cái tiền tài sẵn có để lấy tiền mà đẻ ra tiền, cũng là một dạng bỏ tiền vốn ra để sinh lợi nhuận <đầu tư ròng>.

Tiền tài của cung Điền Trạch, là chủ về người đầu tư đem tiền vốn của mình có đầu nhập vào trong cái nghề kinh doanh của chính mình.

Nếu như Khố vượng thì tài tụ, biểu thị khả năng kinh tế hùng hậu giàu có của đương số, có thể thực hiện những việc đầu tư về đại ngạch mà mang tính chất lâu dài. Vì tiền vốn không ít cũng chẳng thiếu và không gặp phải lo ngại về khó khăn trong việc xoay vòng vốn, cho nên trong sự nghiệp kinh doanh thì đương số rất hiếm gặp phải khó khăn trong việc điều động tiền vốn.

Nếu như Khố vị mà bị phá mà lại muốn đầu tư sự nghiệp to lớn thì nhất định sẽ đến lúc sự nghiệp kinh doanh có xu hướng gặp phải tình huống khó khăn về xoay vòng vốn mà dẫn đến sụp đổ. Cho nên người mà Khố vị vận hạn hung sẽ không hợp với việc đầu tư kinh doanh quá lớn, càng bất lợi ở những ngành nghề sản xuất mà thu hồi vốn đầu tư quá chậm.

Hung tượng của <Mệnh với Tài cung cấu thành nên> của <Tài dữ tù cừu>, cùng với cung Phúc Đức và cung Điền Trạch bị phá tổn bại tài, là bị tài vụ ứ đọng gây ra nhưng chúng không quá giống nhau. Vấn đề tài vụ của <tài dữ tù cừu> có nguyên nhân từ mối tranh chấp kiểu <không từ thủ đoạn> gây ra. Còn cái việc Phúc Điền bị phá thì dường như thuộc về nguyên nhân do thiếu tài chính mà gây ra khốn cảnh.

Cùng một dạng vấn đề về quản lý tài sản nhưng mà lại có tính chất với nguyên nhân khác nhau rất lớn.

* Tài Bạch cung kém đẹp thì việc cầu tài của đương số nếu như mà trải qua các phương thức cầu tài phải lao tâm khó nhọc thì có lẽ cũng có thể trong gian khổ mà đắc tài đắc lộc, và càng được nhiều tài lộc thì càng phải trải qua gian khổ.

Lời răn của Tử Vân tiên sinh <phần tạp luận>

* Người mà Mệnh Thân kiến Sát Kị, được gọi là Mệnh lao lực (Lưu Vĩ Vũ).

* Người mà Mệnh Thân mà gặp nhiều sao trong số lục cát tinh, có Khoa Quyền Lộc cát hóa, có thể nói là quý khí ổn trọng rõ ràng (Đàm chú: Nếu mà Mệnh Thân cung có Đế tinh thì càng thêm nghiệm). Ngược lại, nếu người mà Mệnh Thân mà gặp ít sao trong số lục cát, lại tụ các sao thuộc lục sát, lại không có Khoa Quyền Lộc cát hóa, thì dù cho trong nhất thời có được lên vị trí cao phong vân tế hội, cũng không được bền lâu. (Lưu Vĩ Vũ)

* Với các câu phú liên quan đến chết chóc như:

A, Cự Hỏa Dương -- chung thân ải tử; (cuối đời tự vẫn)

B, Xương Linh La Vũ -- hạn chí đầu hà; (hạn đến thì đâm đầu xuống sông)

C, Xương (Khúc) Tham --- phấn thân toái cốt; (tan xương nát thịt)

D, Phá Khúc -- khủng lâm thủy dĩ sinh tai; (ngại gặp nước vì sẽ sinh tai họa)

E, Điếu Khách Tang Môn -- Lục Châu hữu trụy lâu chi ách (Nàng Lục Châu gặp tai ách phải nhảy lầu).

* Liên quan đến tự sát như:

A, cắt cổ tay, mổ rạch bụng, đâm đầu vào tường, mà thấy máu: Hồng Loan + Dương Nhận;

B, Nằm đường ray, sự cố giao thông: (không thấy ghi gì cả)

C, Uống thuốc/hóa chất: Cự Môn hội Kị Sát;

D, Ngạt khí gas, hơi độc: Kim hỏa tương khắc (Lưu Vĩ Vũ).

* Từ mệnh bàn đẩu số khán về tích tượng (dấu tích và hình tượng) của phương diện sự cố về sức khỏe. Ngoài cung Tật Ách ra, còn cần phải cân nhắc đến cung Mệnh Thân, trong kết cấu của các tinh diệu có các hung ác sát cách hay không. Rất nhiều người từ bé thì đã vì ác tật hoặc sự cố ngoài ý muốn, mà hình thành khuyết tật trở ngại cả đời, về đại thể thì cung Mệnh Thân và cung Tật Ách đều có xuất hiện kết cấu các cách hung sát và ác cách.

* Trên phương diện luận đoán về sức khỏe, cung Tật Ách tiên hậu thiên chỉ là một trong những cung vị trọng điểm, chứ không phải là căn cứ duy nhất về cung vị của vấn đề luận luận đoán sức khỏe. Các cung Mệnh Thân tiên hậu thiên và bản cung đại hạn, cũng thường có thể lấy làm căn cứ của luận đoán về tình trạng sức khỏe.

* Trên cơ bản, tinh diệu của cung lục thân, nếu mà có thể [nhu hòa] rõ rệt hay là [cương nhu tương tế] thì được coi như là lý tưởng.

* Cung Phúc Đức cũng hàm ý [Duyên Phúc] của một cá nhân là là dày hay mỏng.

* Cung Mệnh Thân tiên thiên nếu không hội cát diệu thì ít được trợ lực. Nếu như mà lại hội Kị Sát thì ứng với việc đời lại là:

A, Không chỉ thiếu đi sự trợ giúp, dìu dắt của quý nhân, mà ngay cả những người bằng vai phải lứa cũng như những thuộc hạ cũng chẳng có được nhiều trợ giúp. Loại này rất hay gây sự xích mích với lãnh đạo cũng như với đồng nghiệp.

B, Không hội cát mà chỉ hội sát, chỉ cần mệnh cung mà không cường vượng thì các Kị Sát sẽ phát huy tác dụng ảnh hưởng của kẻ tiểu nhân, loại tiểu nhân này thường sẽ những việc thành công thì chẳng đủ nhưng những việc phá bại thì có dư.

* Liêm Trinh hóa Kị viết [Tù], lại hội Lưu Hổ, lưu niên Quan Phù, thường sẽ khởi quan tụng. (Đàm chú: Cự Môn hóa Kị mà hội với hai sao Lưu đó cũng ứng nghiệm).

* Điêu khắc gia, bác sĩ ngoại khoa, thông thường thì ở Mệnh cách hội các sát diệu Kình Đà.

* Chính tinh phân làm 2 loại:

A, Tử Phủ Liêm Vũ Tướng Sát Phá Lang;

B, Cơ Nguyệt Đồng Lương Cự Nhật.

Loại A thì đầu tiên coi trọng Tả Hữu, vì loại A có thể phân làm 2 loại là [Tử Phủ Liêm Vũ Tướng] và [Sát Phá Lang]. Đối với [Tử Phủ Liêm Vũ Tướng] nếu mà không có Tả Hữu thì không thành cách [Quân thần khánh hội] chỉ được luận là cô quân, chẳng có cách nào để mà phát huy trọn vẹn tính chất đặc biệt của Đẩu chủ chủ ti hiệu lệnh. Đối với loại [Sát Phá Lang] mà không thấy Tả Hữu thì không thể thi triển được trọn vẹn tính khai mở sáng tạo của nó, mà thành ra rối loạn không ổn định.

Loại B thì trước tiên coi trọng Xương Khúc. Về phần Khôi Việt thì bất kể tinh diệu như thế nào, bất kể cách cục ra làm sao, đều mừng tương hội hoặc đồng cung với chúng. (Loại B thực sự dễ cấu thành Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân)

* Cung Điền Trạch tiên thiên tốt đẹp, thì phương pháp phân biện cát hung của cung Điền Trạch hậu thiên là: quyết định ở cát hung của bản cung đại hạn như thế nào, nếu như bản cung đại hạn mà cát, thì cát tượng của Khố của Điền Trạch thì chính là trong gian khó có được sự tích lũy; nếu như bản cung đại hạn hung thì Điền khố biểu hiện tượng là có gian khổ nữa thì cũng không cách gì tích lũy được.

* Thảo luận suy xét về vận cần kiểm tra xem Mệnh cung trước tiên. Nếu như có Kị Sát giao xung nghiêm trọng lại không thấy cát diệu, đại khái từ nhỏ đã khó có được thành tựu tốt. Cái đó là đạo lý tự nhiên. Hơn nữa, chiểu theo việc kiểm tra sự biến hóa của đại hạn, nếu như vận hạn quá yếu nhược hoặc là có Kị Sát giao xung nghiêm trọng, cũng không dễ để mà hạ quyết tâm đọc sách. Hiểu rõ những cái này sẽ dựa vào sự dẫn động của lưu niên cùng các loại kiểm soát khác để mà suy luận. (Lưu Vĩ Vũ)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lời răn và quan niệm về đẩu số của đại sư Tử Vân

5 mẹo phong thủy thăng chức vù vù nhất định phải biết

Bạn làm việc rất chăm chỉ nhưng kết quả chưa như mong đợi? Bạn rất nỗ lực nhưng vị trí vẫn giậm chân tại chỗ? Vì chưa áp dụng những mẹo phong thủy thăng chức
5 mẹo phong thủy thăng chức vù vù nhất định phải biết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn làm việc rất chăm chỉ nhưng kết quả chưa như mong đợi? Bạn rất nỗ lực nhưng vị trí vẫn giậm chân tại chỗ? Ấy là vì bạn chưa áp dụng những mẹo phong thủy thăng chức dưới đây thôi.

 
5 meo phong thuy thang chuc vu vu nhat dinh phai biet hinh anh
 
Những mẹo phong thủy thăng chức không chỉ giúp bạn cải thiện vận thế mà còn thay đổi không gian làm việc, mang tới luồng gió mới cho sự nghiệp của bạn.  

1. Không khí lưu thông

  Yếu tố phong thủy đầu tiên giúp bạn có thể thăng chức chính là nơi làm việc phải có ánh sáng mặt trời soi chiếu, không khí lưu thông trôi chảy, vì thế cần ngồi gần cửa sổ. Nếu không có điều kiện ngồi gần cửa sổ thì đặt trên bàn làm việc một chiếc quạt nhỏ để thổi gió.   Mặt khác, các văn phòng hiện nay thường dùng hệ thống điều hòa tổng, nơi làm việc gần với điều hòa tổng thì khí lưu thông quá mạnh, sẽ xua hết tài vận đi nên nếu được, hãy chọn vị trí xa điều hòa trung tâm. 

2. Vị trí làm việc có chỗ dựa

  Chọn chỗ ngồi hợp phong thủy theo nguyên tắc tứ tượng. Phía sau chỗ ngồi làm việc là phương Huyền Vũ theo phong thủy truyền thống. Nếu phía sau thông thoáng, thường xuyên có người qua lại tức là “Huyền Vũ lạc hãm”, đại biểu cho việc không có chỗ dựa vững chắc, hiếm khi được lãnh đạo cất nhắc, càng không có cơ hội thăng chức.    Hiện nay, bố trí chỗ làm việc ở văn phòng đều theo nguyên tắc mặt đối mặt, phía sau là lối đi nhỏ. Để cải thiện phong thủy, khai thông vận trình sự nghiệp, bạn nên dùng ghế ngồi có chỗ tựa lưng cao, chắc chắn để có cảm giác an tâm, người qua lại phía sau cũng không thể ảnh hưởng tới công việc bạn đang làm.
 
Linh vật trang trí thúc đẩy sự nghiệp

3. Bàn làm việc kị xà ngang, đèn treo áp đỉnh

  Ngồi làm việc dưới xà ngang, đèn treo áp đỉnh sẽ ngăn chặn vận khí, đàn áp tài lộc, sự nghiệp không thể tiến triển. Tốt nhất là dời đi chỗ khác, bằng không thì dùng đồ trang trí che khuất xà nhà, đèn treo đi.

4. Bày giá sách, chậu cây chiêu quý nhân bên trái bàn làm việc

 
5 meo phong thuy thang chuc vu vu nhat dinh phai biet hinh anh
 
Bên trái bàn làm việc nên cao không nên thấp, cao tượng trưng cho sự nghiệp phất, nhân khí thịnh vượng, vì thế hãy bày giá sách, tủ tài liệu ở vị trí này. Ngoài ra còn có thể đặt một chậu cây tươi tốt ở đây để thư giãn tâm tình, tăng cường quý nhân vận, thúc đẩy cơ hội được thăng chức. Nhưng lưu ý, không chọn thực vật có hình nhọn. Ngoài ra, bạn cũng nên xem: Phong thủy bàn làm việc đuổi tiểu nhân, rước may mắn để tạo thêm cơ hội cho bản thân.  
 

5. Bên phải bàn làm việc phải sạch sẽ, kị vật nhọn

Bàn làm việc sạch sẽ, ngăn nắp thì sự nghiệp mới hanh thông, thuận lợi. Tuyệt đối không đặt vật nhọn ở bên phải bàn làm việc, sẽ ảnh hưởng tới công việc, dễ dàng gây hấn với đồng nghiệp, chặn đường thăng quan tiến chức.   Chiêu tài khai vận với cây kim tiền  Thay rèm cửa sáng màu để sự nghiệp phất cao
Trình Trình

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 mẹo phong thủy thăng chức vù vù nhất định phải biết

Chính Cục, Phản Cục

Chính cục: Nhật trụ tố công, viện biểu đạt đíchý tứ cùng nguyên cục biểu đạt đích ý tứ nhất trí. Bát tự không cóxu thế, nhật chủ có thể làm công cũng xưng là chính cục.Phản cục: Nhật trụ tố công viện biểu đạt đích ýtứ cùng nguyên cục biểu đạt đích ý tứ trái ngược, vi hung.Phản cục phân nguyên cục phản cục, đại vậnphản cục, lưu niên phản cục ba loại, nguyên cục phản cục nguyên cụchung, đại vận phản cục đại vận hung, lưu niên phản cục lưu niên hung.
Chính Cục, Phản Cục

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một, như thế nào là xem chính cục-phản cục.

Trước xem nhật chủ ý, có nhật chủ không hợp, không sinh( Không làm công), sẽ không nhìn, mà xem nhật chi ý.

1, nhật chi tố công có phương hướng, nhật chi tố đích công cùng bát tự đích xu thế đối kháng, chính là phản cục. Ýtứ này nên minh xác, cũng không phải nhật chi cùng bát tự đích xu thế đối kháng, mà là nhật chi biểu đạt đích ý tứ-- nhật chi theo đuổi gì đó cùng bát tự xu thế đối kháng. Như: Kỷ mão, kỷ tị, tân hợi, giáp ngọ, cái này bát tự nhật chi tố công, ngọ hợi hợp khứ thương quan, nhật chi đích ý tứ cũng là bị ngọ hợp chế, cho nên cái này bát tự vốn là chính cục, không phải phản cục.

2, nhật chủ tố đích công cùng nhật chi tố đích công trái ngược( Nên lấy nhật chủ là việc chính) cũng phản cục. Ngày đó chủ cùng nhật chi đồng thời cũng tố công thời, thì muốn thấy bọn nó biểu đạt đích ý tứ có hay không nhất trí, nhất trí đó là chính cục, không đồng nhất trí chính là phản cục. Lấy nhật chủ chi công vi xem công, không lấy nhật chi vi. Như nhật chủ hợp thời trụ quan tố công, muốn xem quan ngồi xuống đích chi đi làm gì rồi( Nhật chủ hợp đến ở đâu, sẽ chứng kiến ở đâu. Thời quan vi thống lĩnh, lãnh địa chi đích), ngồi chi có hay không tố công, như tố công, cái này công cũng là nhật chủ chính mình tố đích công. Như quan đích ngồi chi cùng nhật chi tố đích công trái ngược thời, nhân tiện phản cục rồi.

( Chú: Nguyên nhân thời thượng là việc chính vị, tỏ vẻ một người đích ý nghĩ, ngồi quan tinh, làm quan đã khống chế ta đích ý nghĩ ý. Nguyên nhân ta đã bị quan viện khống chế, cố quan tức đại biểu rồi nhật chủ đích mục đích, đối với mỗ một trụ mà nói, can vi thống sư, chi vi binh tốt, đem sư chiến tranh, phải dụng binh tốt, vì vậy thời, phải dụng thời chi, thời chi không thể phá hư.)

3, bát tự trung niên nguyệt cùng nhật thời có xung hợp phản cục, hợp cùng xung vốn là hai loại trái ngược đích tố công phương thức, nhưng giả như, nhật thời vốn là xung cục, năm tháng trái lại hợp cục; hoặc nhật thời vi hợp cục, năm tháng trái lại xung cục, cả bát tự thân mình nhân tiện rối loạn, vốn là phản cục bát tự.

Càn: Tân bính kỷ giáp 

Hợi thân sửu tuất  

đinh quý quý mậu

 tị sửu dậu ngọ

( Mệnh thuật dật nghe thấy) lệ, nhật chủ hợp giáp quan, ngay hôm đó chủ bị giáp tuất một trụ đã khống chế, cần giáp ngồi xuống tuất, nhưng nhật chi sửu mượn kim thủy xu thế hình tuất, phá hủy tuất, vi phản cục. Thời thượng vi môn hộ, tuất vi kiếp tài vi thủ, sửu trung quý thủy vi ám tài, mà sửu vi âm u, vi tiểu thâu, người này thường xuyên ngồi lao( Chú: Sửu cùng thân, dậu đích tổ hợp vi phạm tội, lao ngục đích tổ hợp). Sửu thêm vì tiền khố, một hình, nhân tiện không rồi, phát không được đại tài( Chú: Chính mình chế tài vi được tài, nhưng nơi này nhưng là chính mình bị tài chế rồi, cho nên không được tài).

Nhàn chú: Giáp kỷ hợp, hợp thời thượng đích quan, vi bị trông nom bị khống chế ý; giáp vi đầu, thú vi kỷ tỉ kiếp, vi thể, nhất định phải dụng! Nhưng nguyên cục kim thủy thành xu thế, chế rồi thú, phản rồi

Như: Tân  giáp kỷ x  không vi phản cục

Hợi  thú sửu x hợp nguyệt, niên thượng đích quan vi quản lý cùng khống chế người khác.

Thêm như:

Càn giáp mậu quý kỷ

         Thìn thìn mão mùi

mậu quý hợp, vi quản lý khống chế người khác, quý trông nom mậu, ta trông nom hắn; mão mặc thìn, biểu đạt ý tứ giống nhau. Mão vi thực thần vi tài nguyên thần, sinh tài chỗ, vi ngân hàng. Người này ngân hàng hành trường.

Tượng: Kỷ giáp      tân  bính

      Nhật thú      nhật  thân    hợp thời thượng đích quan, thời thượng đích kiếp tài nhất định phải dụng!

Biển cả cười: Tân nhật bính giờ Thân, đinh nhật nhâm dần thời, kỷ nhật giáp giờ Tuất chỉ có này [ba người/cái] nhất định phải dụng thời chi

Biển cả cười: Tuất vi thể, đại biểu thủ, cần cái này thể, sửu xu thế đại phản hình phá hủy thể. Nếu như hợp quan ngồi xuống không phải thể, có thể không cần

Á tử: Là bởi vì vi thương quan hại quan đích nguyên thần. Động tài tướng hình vốn là vi pháp đích thủ đoạn. Sửu trung ám tài vốn là thông qua tướng hình tài được tới, bính tân khí minh đầu ám, giáp kỷ hợp quan đến chế hắn.

Càn: Ất canh tân bính

Tị thìn mão thân

Bính tân hợp, dụng ngồi xuống thân kiếp tài, thân không thể chế quan bị cục trung tị hỏa quan chế rồi, phản cục rồi, nên phạm lao ngục tai ương. Đệ tử thời, nguyên nhân trộm vài quyển sách mà ngồi lao một năm, kỳ thật này không tính là chuyện gì, nhưng vượt qua nghiêm đánh, thật sự là mệnh bất hảo. Hắn không quan, vốn là một giáo sư. Nguyên nhân nguyên cục kim thủy có xu thế, cố chỉ có ngắn ngủi đích ngồi lao. Nhâm thìn thời đích chỗ cấp, bính tử vận thăng quan. Phụ thân cũng sớm tử

Hợp thời thượng quan, đầu óc bị người khác đã khống chế. Chỉ có kỷ nhật chủ giáp giờ Tuất, tân nhật chủ bính giờ Thân, phải dụng thời chi, thời chi không thể phá hư. Bởi vì này [hai người/cái] thời chi vốn là kiếp vốn là thể, thể vốn là không thể phá hư đích, nếu như thời chi chỉ dùng để có thể phá hư.

Như thế nhật chủ hợp năm, nguyệt thượng đích quan, thì ý tứ không giống với rồi.

Nhàn chú: Thân cần, nhưng tài sinh rồi tị hỏa, thêm tị thân hợp, phá hủy thân; bính dần năm ngồi lao một năm; phụ sớm tử!

Càn: Ất canh tân nhâm

Tị thìn mão thìn 

tị tiết cùng thìn, thương quan chế quan, bính tử vận lên chức chính chỗ cấp, nhưng phụ cũng sớm tử!

Càn: Giáp mậu quý kỷ

Thìn thìn mão mùi

Này tạo nhật chi đích ý tứ vốn là thực thần mão cùng mùi củng vượng, hại chế thìn quan, nguyên nhân chỉ dùng để tài chi nguyên thần chế đích quan, cố vốn là cùng tiền có liên quan đích quan; nhưng nhật chủ nhưng lại hợp nguyệt lệnh đích quan tinh, có phải hay không phản cục rồi đây? Không phải phản cục, bởi vì hợp năm tháng vốn là quan tỏ vẻ chính mình quản lý người khác ý tứ, mậu quý hợp vốn là quyền quản lý( Chú: Mậu ngồi xuống thìn làm quan, biểu chính mình muốn xen vào lý, khống chế thìn quan, có thể không tới lúc quan, muốn xem này quan có hay không tố công chế khác đồ vật hoặc bị khác đồ vật viện chế rồi) thực tế người này vốn là một ngân hàng mỗ chi hành đích hành trường. Quan không lớn, nhưng quyền rất lớn, vốn là xí nghiệp chi quan.

Càn: Mậu nhâm Đinh Đinh

Thìn tuất sửu mùi

Đây là Chu nguyên Chương đích mệnh tạo, nhật chủ hợp nguyệt lệnh quan, vốn là quản lý khống chế đích ý tứ( Chú: Nhật chủ khống chế được tuất khứ xung thìn hình sửu). Tuất chế khứ thìn, vốn là chế khứ quan khố.( Chú: Sửu mùi xung, sửu tuất hình vốn là chế tài khố, tài quan đều bị ta chế rồi, chế rồi sẽ tới lúc, cố vốn là hoàng đế mệnh.) vốn là chính cục, không phải phản cục.

Nhàn chú: Đinh nhâm hợp, vi quản lý khống chế người khác, đinh khống chế nhâm, hỏa cùng táo thổ xu thế đại, khứ ẩm ướt thổ khố, chính cục.

Khôn: Bính mậu Đinh Đinh

Tử tuất sửu mùi

( Mệnh thuật dật nghe thấy) lệ, này tạo hỏa thổ có điểm táo khí, ý tại khứ kim thủy, đây là nhật chủ đích ý tứ; sửu mùi xung cũng là xung khứ sửu trung kim thủy, tuất thổ khắc tử thủy, nhưng tử sửu hợp, nhật chi đích hợp gì đó phản cục rồi( Cục phải đi tử thủy, nhật chi hợp lại theo đuổi tử thủy, cố phản cục rồi).( Chú: Tử sửu hợp lại, biểu nhật chi theo đuổi chính là tử thủy, không nghĩ làm cho chế ý, mà nguyên cục cùng nhật can là muốn chế tử thủy cùng tân kim, cho nên này tạo sợ nhất tử sửu hợp, cố phản rồi, nguyên nhân phản tại phu thê cung, cố hôn nhân bất hảo.) tử thủy đại biểu trượng phu( Chú: Tử vi phu tinh, cùng phu cung tướng hợp, làm phu xem), hợp đến phu cung, bị mùi xung bị tuất hình, chủ trượng phu sớm tử, vốn là tai nạn xe tử đích, mà sửu thổ thêm vi con gái tinh, nguyên cục phạm tam hình, con gái cũng bất hảo, [ba người/cái] con mình đều là tàn tật, nhị nữ đích hôn nhân cũng bất hảo.

Nhàn chú: Hỏa thổ thành xu thế khứ kim thủy, nhưng nhật chi sửu thổ hợp tử thủy, mục đích phản rồi; tử thủy làm quan sát, vi phu, phu sớm tử, hài tàn, nghèo, không có tiền!

Càn: Nhâm canh tân kỷ

Tử tuất sửu mùi

Cùng thượng lệ dường như, này lệ thì vi chính cục, nguyên nhân kim thủy thành xu thế, là muốn chế hỏa( Chú: Tuất, mùi trung đích hỏa) đích ý tứ. Hỏa làm quan sát, nhưng chế không được, quan sát chế bất hảo làm tài xem, vốn là phát tài đích mệnh.

Sửu hình tuất vi giả bộ hoàng, sửu chế mùi tất nhiên sản. Thực tế này tạo trước làm cho giả bộ hoàng sau khi làm cho địa sản. Bây giờ tẩu dần vận chế không được, ất mão vận phi thường tốt. Sửu vận canh thìn năm bốn rồi phụ thân sau lúc nhân tiện phi thường tốt, chết trước phụ đi sau tài. Ất mão vận hợp bán nguyệt trụ rồi. Nguyệt trụ không có tác dụng rồi cho nên ất mão vận khẳng định phát tài.

Nhàn chú: Này tạo kim thủy thành xu thế, ý tại khứ táo thổ hỏa; tử sửu hợp thuận theo đại thế vi chính cục, canh thìn năm xung khứ nguyệt chi thú, khứ quan, nơi này quan sát vi phụ, phụ tử! Quan sát chế vô cùng làm tài xem, phụ sau khi, lập tức có người cấp ngoài công trình, không làm đều không được! Ngàn vạn lần phú ông. Dần vận bất hảo, ất mão vận cùng nguyệt trụ thiên địa hợp, kim thủy toàn tâm toàn ý chế mùi thổ rồi, khẳng định phát tài! Bính thú năm tài chính chu chuyển không linh, hỏi thải khoản chuyện.

Càn: Quý bính mậu bính

Mùi thìn tuất thìn

Này tạo hỏa thổ thành xu thế khứ thủy, vốn tuất thổ muốn đi lưỡng thìn trung thủy, mà thìn vi tài khố, nhưng thìn thổ vượng bỉnh nguyệt lệnh mà vượng, đem tuất chế rồi, thành phản cục, người này cả đời nghèo mệnh, mậu quý hợp tài, có cơm ăn( Người này không có công việc), hợp tài ở chỗ này ý nghĩa không lớn, muốn dồn tài, nhưng bị tài phản chế.

Năm chủ phương xa, cố phương xa có người cho hắn điểm tiền. Cả đời nghèo mệnh.

Nhàn chú: Nơi này mậu thú đồng thể, bởi vì bính= mậu, nơi này thấy bính, như vậy mậu thú= bính thú rồi; thú nhất định phải dụng, nhưng thìn lực lượng cường, phản lại kẹp chế thú rồi! Phản cục, cũng may kẹp chế bất tử, không có tánh mạng chi ưu! Tỷ tỷ chu tế hắn, không tới chết đói!

Càn: Nhâm mậu tân mậu

Dần thân tị tuất

Đại vận: Kỷ dậu canh tuất tân hợi nhâm tử

Mới vu:1971 1981 1991 2001

Càn: Đinh mậu tân đinh

Mùi thân mùi tị

Đại vận: Đinh mùi bính ngọ ất tị giáp thìn

Mới vu:1976 1986 1996 2006

Lưỡng lệ cũng vi phản cục, tiền một tạo vi điện công, nhâm thân năm bị điện đánh chết, sau khi một tạo canh thìn năm chết vào tai nạn xe. Địa chi tị thân hợp phải đi kim, nhưng mậu thân một trụ, mậu sinh thân làm một thể, chỉ dùng để kim, vi nguyên cục phản cục.( Chú: Tân cùng thân nguyên nhân mậu mà ngay cả ở tại cùng nhau, thành ngay cả thể kim, cố không thể phá hư, phá hư thì thương thọ.)

Nguyên cục khứ kim thủy, nhật chủ đích ý tứ vốn là chịu mậu thổ sinh, thổ sinh kim, như mậu thân ngay cả làm một thể, nhân tiện vi phản cục.

Nhàn chú: Nguyên cục hồng chữ vi ngay cả thể, không thể bị phá hư, nhưng lưỡng tạo đều là hỏa táo thổ hoặc mộc hỏa thành xu thế, khứ chế kim! Phá hủy, phản rồi!

Lý tông nhân: Tân mão, bính thân, tân mùi, quý tị, nguyên nhân tân kim nhật chủ không bị sinh, nhật chủ hợp quan chế thân, nguyên cục cùng vốn là chế thân, không phải phản cục. Hồng chữ không ngay cả thể, có thể chế! Chính cục!

Càn: Tân bính tân quý

Mão thân mùi tị

Bính tân hợp, ngồi xuống thân vốn là kiếp, thêm đại biểu quân đội( Thân có quân đội chi tượng), tại nguyệt lệnh, biểu rất lớn, quân đội đích đại tập hợp.( Chú: Cũng chính là nhật chủ yếu quản lý khống chế tập đoàn quân đội ý.) tị thân hợp, vi chế rồi kiếp tài ý.( Chú: Chủ vị đích quan làm công, vốn là quản lý quân đội đích đại quan. Quý tị

Càn: Giáp quý tân kỷ

Ngọ dậu mão hợi

Cũng là ngay cả thể, kỷ mão vận đích đã vận bính tuất năm mặc dậu, tai nạn xe đã chết. Đinh sửu vận tốt nhất. Giáp ngọ mang tượng, ngọ= kỷ.

Tân dậu nguyệt tân nhật cũng là ngay cả thể.

Nhàn chú: Hồng chữ cũng ngay cả thể, bính thú năm lưu niên phản cục, thú mặc lộc,5.1 trước sau tai nạn xe mà chết! Nguyên cục kim thủy thành xu thế khứ mộc hỏa, giáp ngọ làm quan mang tài mạo, tài chính cục phó cục trưởng, đinh sửu vận tốt lắm!

Càn: Canh canh canh mậu

Tử thìn thìn dần

kim thủy ngay cả thể rồi, tử thủy cần. Mùi vận hại ngã tử sẽ không tốt lắm.

Nhàn chú: Hồng chữ ngay cả thể, thương quan cần; tử thủy không thể bị phá hư, mùi vận mặc tử, trúng độc cùng bệnh nặng vài lần!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chính Cục, Phản Cục

Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Sửu

Nam tuổi Sửu kết hợp với nữ tuổi Mão tuy không phải mối nhân duyên tốt, nhưng cả hai có thể cùng chung sống, bởi nữ giới là người kiên nhẫn, dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh.
Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Sửu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

bang-vo-chong-tuong-sinh-tuong-khac-cua-nguoi-tuoi-suu
Sửu - Tý Sửu - Sửu Sửu - Dần Sửu - Mão
Sửu - Thìn Sửu - Tỵ Sửu - Ngọ Sửu - Mùi
Sửu - Thân Sửu - Dậu Sửu - Tuất Sửu - Hợi

Maruko (theo QQ)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Sửu

7 ngày vắng Táo quân, gia chủ nên làm gì?

Từ 23 tháng Chạp, Táo quân lên chầu trời, tới đêm 30 mới trở về tiếp tục việc coi sóc được việc bếp núc trong gia đình. Trong 7 ngày còn lại cuối năm, gia chủ nên làm gì?
7 ngày vắng Táo quân, gia chủ nên làm gì?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đêm 30 mở cửa, bật đèn cho ngập tràn dương khí

Theo tục lệ cổ truyền, người Việt tin rằng, trong mỗi nhà đều có 3 vị thần Táo quân, gồm 2 Táo ông và một Táo bà trông nom, giữ lửa cuộc sống của họ. Táo quân biết hết mọi sinh hoạt trong nhà và ngày 23 tháng Chạp âm lịch, 3 vị Táo quân sẽ cưỡi cá chép bay về trời để trình báo với Ngọc Hoàng mọi việc lớn nhỏ xảy ra trong các gia đình ở hạ giới một năm qua. Các Táo lên thiên đình vào 23 tháng Chạp hàng năm, tới đêm Giao thừa các Táo mới trở về hạ giới tiếp tục nhiệm vụ trông coi bếp lửa của các gia đình.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, nhà nghiên cứu Phật học, trước kia trong 7 ngày người dân dựng cây nêu ngày Tết, trang hoàng nhà cửa. Nhưng ngày nay đô thị chật hẹp không còn chỗ dựng cây nêu, nhiều vùng nông thôn cũng bỏ lệ dựng cây nêu đón Tết. Vì vậy, lễ Táo quân xong, để vẫn có sự hiện diện của Táo quân trong nhà, bạn có thể dán tờ giấy đỏ có viết tên các Táo, hoặc vẽ hình Táo quân rồi dán trên nóc bếp, có ý nghĩa là đón chào Táo quân từ thiên đình trở về. Cuối năm sau khi Táo quân về chầu trời thì hóa mảnh giấy cũ xuống và dán mảnh giấy đỏ mới lên để lại đón Táo quân trở về.

Tiếp đó là dọn dẹp nhà cửa, tẩy rửa hết năng lượng cũ bằng cách lau chùi, dọn dẹp đồ đạc, thải bỏ đồ vật không cần thiết và nạp năng lượng mới cho những vật dụng phong thủy trong nhà, nhất là 3 vị Phúc, Lộc, Thọ (nếu đã rước về). Nạp năng lượng cho các đồ phong thủy bằng cách 11 giờ trưa ngày tất niên nên đốt 3 ngọn nến trước ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ. Việc này có ý nghĩa mang lại năng lượng cho các vị thần khi năm mới tới.

Bữa ăn đoàn tụ (tất niên) lúc mời gia tiên về dự tiệc đoàn tụ nên có đầy đủ tất cả các thành viên trong gia đình. Dự tiệc tất niên nên ăn mặc chỉnh tề, đặc biệt phụ nữ phải đeo trang sức… tươi cười rạng ngời để sự may mắn sẽ tiếp diễn. May mắn tới càng nhiều vào thời điểm Giao thời giữa năm cũ và năm mới nên tất cả những người con phải có những lời chúc tốt đẹp cho bố mẹ.

Đêm 30 Tết cửa chính và tất cả các cửa nhà, phải được mở trước Giao thừa, đèn nến bật hết để cả nhà tràn ngập ánh sáng, dương khí tràn ngập căn nhà đón may mắn.

Cúng cá chép thật hay cá giấy?

Theo chị Lê Thị Hiền, chuyên bán hàng mã ở chợ Tam Đa (Thụy Khuê, Hà Nội), cúng Táo quân, các gia chủ thường chuẩn bị 3 bộ mũ áo, cá chép để 3 vị Táo lên thiên đình. Một bộ Táo quân đúng có 3 chiếc áo dài, 3 mũ áo Táo quân (2 mũ đàn ông, một mũ đàn bà) đính giấy trang kim lóng lánh. Mũ Táo ông có 2 cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn (một số nơi bây giờ chỉ dùng tượng trưng 1 chiếc mũ có hai cánh chuồn, 1 chiếc áo và đôi hia giấy). Đặc biệt là các Táo chỉ "đội mũ đi hia, không mặc quần" nên bộ mã Táo quân thường không có quần. Theo một số nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, các tranh ảnh, hình vẽ Táo quân đều không có quần, mà chỉ mặc áo dài đen là theo quan niệm xưa coi thần Táo thuộc dòng lửa nước, con người cổ sơ còn hồn nhiên là phải ở trần. Giá bán mã Táo quân thường giao động từ 20.000 - 120.000 đồng/bộ. Khi bán áo mã Táo quân thường có thêm một bộ mã quan thần linh, dùng để hóa vào đêm 30 Tết.

Theo họa sĩ, nhà nghiên cứu văn hóa Trịnh Yên, Giám đốc Trung tâm UNESCO văn hóa – dòng họ và gia đình Việt Nam, mã cúng Táo quân ở miền Bắc và Nam giống nhau, đều có cá chép giấy trong mã nhưng miền Trung có phong tục cúng ngựa giấy với yên cương đầy đủ cho Táo quân.

Theo dân gian, cá chép là loài cá tiên do phạm lỗi nên bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian, nếu tu hành chánh quả thì sẽ hóa thân thành rồng và bay trở về Trời. Người Việt thường cúng Táo 3 con cá chép nhỏ (nay là 3 con cá chép đỏ) thả trong chậu nước, bày dưới ban thờ. Sau khi cúng Táo, 3 con cá chép này sẽ được thả ra sông, suối hoặc ao hồ. Có nhiều lý luận về việc thả cá chép thật hay chép giấy. Nhưng đốt cá chép giấy là tục đốt mã rất tốn kém có từ thời nhà Minh, tới thời Càn Long không đốt nữa. Còn ở Việt Nam từ xưa đốt mã cá chép chứ không thả cá chép bởi không ai bầy cá sống vào mâm cúng cả. Mãi tới thời nhà Nguyễn mới có việc thả cá chép sống và thành lệ tới ngày nay. Thả cá chép thật được 2 việc (theo nhà Phật), một là phát tâm từ bi phóng sinh cho cá chép, mở rộng ra muôn loài, muôn vật.

Còn các nhà tâm linh thì cho rằng, nên dùng cá chép mã không nhất thiết phải là cá chép thật, bởi việc cúng lễ là ở tâm thành của mỗi người. Dùng cá chép mã để giảm bớt các hệ lụy như phải chen nhau ra ao hồ, sông suối thả cá.

Bữa ăn tất niên lúc mời gia tiên về dự tiệc đoàn tụ nên có đầy đủ tất cả các thành viên trong gia đình. Dự tiệc tất niên nên ăn mặc chỉnh tề, đặc biệt phụ nữ phải đeo trang sức… tươi cười rạng ngời để sự may mắn sẽ tiếp diễn. May mắn tới càng nhiều vào thời điểm Giao thời giữa năm cũ và năm mới nên tất cả những người con phải có những lời chúc tốt đẹp cho bố mẹ.
Đêm 30 Tết cửa chính và tất cả các cửa nhà, phải được mở trước Giao thừa, đèn nến bật hết để cả nhà tràn ngập ánh sáng, dương khí tràn ngập căn nhà đón may mắn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 7 ngày vắng Táo quân, gia chủ nên làm gì?

Nằm mơ với bệnh ứ máu –

Ứ máu là bệnh máu chảy không đều, không thông, giữa các mạch máu có trở ngại, huyết dịch trong nội tạng không thông suốt. Nguyên nhân dẫn đến ứ máu khá nhiều. Nguyên nhân thường thấy và quan trọng là ứ máu do các loại ngoại thương. Ngoại thương không
Nằm mơ với bệnh ứ máu –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nằm mơ với bệnh ứ máu –

Trai mùng một gái hôm rằm là tốt hay xấu?

Thực hư trai mùng một gái hôm rằm là tốt hay xấu như thế nào? Hãy cùng ## tìm hiểu rõ vấn đề này nhé.
Trai mùng một gái hôm rằm là tốt hay xấu?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Theo quan niệm dân gian, những bé trai sinh ngày mùng một, bé gái sinh ngày rằm thường khó nuôi, khó dạy vì tính khí bướng bỉnh khác thường. Vậy điều này thực hư thế nào?


► Tham khảo thêm: Đặt tên con theo phong thủy để có vận mệnh tốt đẹp
  1. “Trai mùng một, gái hôm rằm” là tốt hay xấu   Dân gian có câu “Trai mùng một gái hôm rằm, nuôi thì nuôi vậy chứ căm dạ này”, ý chỉ những đứa trẻ sinh vào hai ngày này trong tháng khó nuôi, khó dạy, tính cách ngang bướng, vận thế, cuộc sống cũng nhiều thăng trầm.   Xét theo khía cạnh ngũ hành, những đứa trẻ sinh vào ngày mùng một âm lịch, nhất là vào buổi sáng, trong tháng vận khí ngũ hành bản mệnh vượng (ví dụ người mệnh Hỏa, Hỏa khí vượng vào tháng 4, 5, 6), Thiên can, Địa chi của ngày và giờ sinh đều vượng, tốt cho bản mệnh nhưng lại không có lợi cho sự phát triển cân bằng xã hội.  
trai mung mot gai hom ram hinh anh
 
Mùng một là ngày đầu tháng, dương khí cực thịnh (ý chỉ mặt trời chiếu sáng mạnh nhất), con trai lại vốn thuộc dương, sinh ngày này thì tính cách cực thịnh về dương.    Còn ngày rằm (ngày 15 âm lịch) có âm khí cực thịnh (vì mặt trăng tròn nhất), con gái lại thuộc âm, sinh ngày này tính cách cực thịnh về âm.    Về mặt phong thủy, âm dương cân bằng luôn là yếu tố tiên quyết để mang tới vận khí tốt. Vì thế, dù là âm hay dương, khi đã ở mức cực thịnh đều là điều bất thường. Những đứa trẻ sinh ra vào hai ngày này sẽ có biến đổi sinh học đặc biệt hơn người khác, tạo ra tính khí mạnh mẽ, khó dạy bảo, cuộc sống sau này vì thế mà nhiều thăng trầm, khó khăn.

Chọn năm sinh con theo ngũ hành Nhìn tướng mẹ là biết sinh con trai hay con gái Tục kiêng kỵ sinh con “Trai mồng một, gái ngày rằm”
  2.  “Gái mùng một, trai hôm rằm” thì sao?   Theo quan niệm dân gian, mặt trăng biểu trưng cho âm khí, tương đồng với âm tính (con gái), còn mặt trời biểu trưng cho dương khí, tương đồng với dương tính (con trai). Ngày rằm trăng sáng nhất, đẹp nhất thì âm khí cũng vượng nhất.Con gái sinh vào đêm đó được hội tụ cao nhất những đặc tính này, và một phần được chuyển hóa vào trong tính cách…   Ngược lại, ngày mùng một trăng mờ nhất (thậm chí không nhìn thấy), dương khí sẽ thịnh nhất. Con trai sinh vào đêm đó sẽ hội tụ những đặc tính mạnh mẽ của dương khí vào tính cách.   
trai mung mot gai hom ram hinh anh 2
 
Vì thế, không chỉ trai mùng một gái hôm rằm mới khó nuôi, khó dạy, mà tất cả những đứa trẻ sinh vào hai ngày này đều có tính khí rất khác biệt, khác người, đương nhiên có những nét hoặc tích cực hoặc tiêu cực chứ không hoàn toàn thiên về một bên nào.   “Gái mùng một”: Bé gái sinh vào ngày mùng một, nếu sinh vào tháng, ngày và giờ vượng thì tính cách ngang ngược, mạnh mẽ, bướng bỉnh, hệt như con trai chứ không hề nữ tính, sau khi kết hôn gây bất lợi cho chồng. Vận mệnh của người này không cát lợi, hậu vận cô độc, gia đình không hoàn mĩ, mắc bệnh tật.    “Trai hôm rằm”: Con trai sinh vào ngày rằm cũng không gặp nhiều may mắn trong cuộc đời, sinh vào lúc nửa đêm thì khá hơn đôi chút, trung vận tốt đẹp. Người này tính tình nhu nhược, thiếu quyết đoán, bị động. Ngày rằm là thời điểm mặt trăng tròn nhất, âm khí cực vượng, mà nam giới là dương khí, âm dương tranh đấu, vận khí ắt đi xuống. 
Ngọc Diệp Sinh con trai con gái như ý muốn theo phương pháp Thanh Cung
Hôm nay ## sẽ giới thiệu cho các bạn phương pháp sinh con trai con gái chuẩn nhất dựa theo khoa học tử vi Trung Quốc. 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trai mùng một gái hôm rằm là tốt hay xấu?

3 chòm sao vô tâm, không biết nhận chân tình

Trong tình yêu, có biết bao người hết lòng hết dạ nhưng đối phương vĩnh viễn không thấy tâm ý, 3 chòm sao vô tâm dưới đây là vậy, không ghi nhận chân tình.
3 chòm sao vô tâm, không biết nhận chân tình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong tình yêu, có biết bao người hết lòng hết dạ, nhất kiến chung tình, chấp nhận hi sinh nhưng đối phương vĩnh viễn vẫn không thấy được tâm ý, mãi mãi chỉ là cuộc tình đơn phương. 3 chòm sao vô tâm dưới đây chính là như vậy, không bao giờ thực sự ghi nhận chân tình.


► Xem thêm: Tử vi hàng ngày của 12 cung hoàng đạo được cập nhật mới nhất

3 chom sao vo tam, khong biet nhan chan tinh hinh anh
 

Nhân Mã

  Chòm sao vô tâm Nhân Mã dường như chỉ biết đến tự do và phóng khoáng của bản thân mình, ít khi thấu hiểu lòng tốt và tình cảm mà người khác đang dành cho. Họ luôn nghĩ rằng, người đó tốt với mình là ý muốn đơn phương, đau khổ là sự trả giá phải chấp nhận vì ý muốn đó, đối với Nhân Mã không có quan hệ, càng chẳng có trách nhiệm. Vẫn là vô tư sống theo ý thích của mình, thậm chí có lúc vì người khác si tình mà bực bội, thiếu kiên nhẫn, xua đuổi người ta để bản thân cảm thấy thoải mái hơn.  

Sư Tử

  Chòm sao Sư Tử kiêu ngạo tự phụ, mãi mãi cũng là cao cao tại thượng, đối với người khác biểu hiện ý tốt thì lại coi như bố thí mà xem thường, không chấp nhận, tỏ thái độ lạnh nhạt, bài xích. Chòm sao vô tâm này vừa kiêu ngạo nhưng cũng lại mẫn cảm, yếu đuối, sợ người khác coi thường mình, ban phát tình cảm và lòng tốt cho mình nên vẫn cứ là cự tuyệt, để không ai phải vương vấn gì với ai. Thà phụ người còn hơn để mất hình tượng đẹp đẽ, hoàn mĩ của mình là nguyên tắc sống của Sư Tử.
3 chom sao vo tam, khong biet nhan chan tinh hinh anh
 

Xử Nữ

  Theo đuổi hoàn mĩ và nguyên tắc, nội tâm chuẩn mực những cũng rất mẫn cảm là Xử Nữ. Nói họ là chòm sao vô tâm cũng đúng, nói họ là chòm sao nghi ngờ cũng phải. Người khác tốt với Xử Nữ, họ lập tức cho rằng không ai vô duyên vô cớ đối xử tử tế như vậy nên tốt nhất là phớt lờ, làm như cái gì cũng không biết, cái gì cũng không hay. Xử Nữ thích cuộc tình đôi bên cùng tự nguyện hơn là mối tình đơn phương dai dẳng, nên với những người có ý, chòm sao này dứt khoát tỏ rõ lập trường, không cho người ta có một chút cơ hội mà lưu luyến.
3 chòm sao khiến đối phương yêu - hận khó phân Điểm danh 3 chòm sao biến cuộc sống chung thành thiên đường Thổ lộ khuyết điểm khiến tình yêu tan vỡ của 12 chòm sao
Thái Vân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 chòm sao vô tâm, không biết nhận chân tình

Top 4 chòm sao có bạn bè khắp nơi

Nhờ tính cách phóng khoáng, hào sảng mà 4 chòm sao thân thiện dưới đây kết giao được với rất nhiều anh em.
Top 4 chòm sao có bạn bè khắp nơi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tục ngữ có câu, ở nhà dựa vào cha mẹ ra đường nhờ cậy bạn bè nên đối với bất cứ ai, việc có được những người bạn tốt, tâm giao đều là rất đáng quý. Nhờ tính cách phóng khoáng, hào sảng mà 4 chòm sao thân thiện dưới đây kết giao được với rất nhiều anh em.


► Cùng bói cung hoàng đạo để tìm những điều thú vị về bạn

Top 4 chom sao co ban be khap noi hinh anh
 
Ước mơ thuở nhỏ cực dễ xương của 12 cung hoàng đạo Song Tử   Riêng về khoản xã giao thì không chòm sao nào có thể qua mặt được Song Tử. Tính cách của Song Tử rất cởi mở, thân thiện, nói năng hoạt bát và dễ thương nên khi ra ngoài, họ nhận được sự yêu mến của nhiều người, kết giao với đủ thành phần bạn bè và trở thành người có những mối quan hệ đặc biệt rộng rãi và hữu ích.   Sư Tử   Tính cách hào sảng, trượng nghĩa cùng phong cách sống hết sức phóng khoáng của Sư Tử khiến họ gặp được không ít người bạn tốt. Bất kể tuổi tác hay địa vị nào cũng đều có thể trở thành anh em với chòm sao thân thiện này. Sư Tử cũng rất tốt bụng, hết lòng giúp đỡ người khác nên khi có vấn đề, họ nhận được sự quan tâm của nhiều người.
Kỳ lạ 4 chàng trai hoàng đạo thích sư tử Hà Đông
Thiên Bình
  chòm sao ôn hòa, tính tình lương thiện và am hiểu nhiều vấn đề trong cuộc sống, Thiên Bình khiến người khác vừa yêu mến vừa nể trọng và thích kết giao. Họ là người đáng tin cậy, có tiếng nói và uy tín cao đối với người khác, đồng thời cũng là người mà bạn bè rất tin tưởng, thường tìm đến khi có việc cần hỏi ý kiến, tư vấn.
Top 4 chom sao co ban be khap noi hinh anh
 
Nhân Mã
  Vui vẻ và đáng yêu, Nhân Mã là chòm sao nhiều bạn bè điển hình, đi đến đâu là kết bạn tới đó. Họ trời đất gì đều có thể nói chuyện, vấn đề gì cũng có thể tham gia nên người khác cảm thấy rất thích thú. Tính cách hào hiệp, tốt bụng, thường giúp đỡ người khác và không câu nệ những chuyện nhỏ nhặt cũng giúp Nhân Mã được lòng bạn bè.
Chỉ số may mắn của 12 Cung hoàng đạo năm 2016
Thái Vân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 4 chòm sao có bạn bè khắp nơi

Tặng bạn 5 chữ VÀNG giúp lấy lại bình yên trong cuộc sống

Cuộc sống không phải lúc cũng trôi theo một dòng chảy êm đềm, có đôi khi bạn cảm thấy mệt mỏi và bế tắc. Khi đó, hãy nhớ đến 5 chữ này bạn nhé!
Tặng bạn 5 chữ VÀNG giúp lấy lại bình yên trong cuộc sống

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Tĩnh

“Im lặng là vàng”, đôi khi chúng ta cần nói ít đi, lắng nghe nhiều hơn để điều chỉnh tâm thái của chính bản thân. Vì cũng có lúc, người nói nhiều quá sẽ không hiểu hết giá trị của sự yên lặng.

Nói nhiều đôi khi chúng ta cũng không thể kiểm soát hành vi. Càng nói nhiều càng dễ bị nói hớ, dễ đi chệch hướng. Vậy nên, cần phải tĩnh tâm, suy nghĩ thấu đáo rồi mới làm, ắt tìm ra định hướng trong cuộc đời, thành công ắt tới.

2. Bình

Bình trog bình tĩnh, bình thản để cân bằng trong nội tâm. Cuộc sống hối hả, dòng đời xô bồ, tâm ai bình an, thanh thản người ấy sẽ cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc và thành công hơn người khác.

Bình cũng là cách đối nhân xử thế khéo léo. Bởi “dục tốc bất đạt”, nóng vội sẽ đưa ra quyết định sai lầm, khó khăn chồng chất khó khăn, bế tắc vẫn hoàn bế tắc.

3. Nhẫn

Nhẫn không đồng nghĩa với việc để người khác chà đạp. Nhẫn là để tự cảnh tỉnh bản thân, không nóng giận để rồi làm những việc sai trái. Tức giận không những hại sức khỏe, tổn thương tinh thần mà còn đánh mất đi giá trị đích thực trong con người bạn.

Vậy nên mới có câu: “Nhẫn nại để thể hiện sự độ lượng, tha thứ những việc không thể thay đổi được. Có dũng khí để thay đổi những việc có thể thay đổi được. Có trí tuệ để phân biệt được hai loại sự việc trên”. Làm được những điều này, bạn đã là người thành công rồi đó.

4. Nghe

Bản thân mỗi người cần phân định rõ đúng sai, phải trái. Nhưng nếu không lắng nghe người khác, bạn khó mà xác định được.

Lắng nghe để biết lòng người ý ta, để tìm cách đối nhân xử thế, khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh, âu cũng là mang lại lợi ích cho chính mình.

5. Nhẹ

Càng xem nhẹ mọi thứ, tâm càng dễ thanh tịnh, hạnh phúc càng ngập tràn. Danh lợi, tiền bạc chỉ là vật phù du, chết rồi có mang theo được đâu.

Buồn tủi, giận hờn sớm muộn rồi cũng qua đi, chỉ còn ta với ta. Vậy sao không xem nhẹ mọi thứ, học cách buông bỏ để mọi phiền não bị thổi bay nhanh chóng.

Chỉ với 5 chữ vàng đơn giản, nhưng nếu làm được, bạn sẽ sớm vượt qua mọi khó khăn, bế tắc trong cuộc đời, tâm tưởng lúc nào cũng nhẹ tênh để tiến tới những thành công to lớn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tặng bạn 5 chữ VÀNG giúp lấy lại bình yên trong cuộc sống

Cuộc đời vất vả của phụ nữ có Sơn căn thấp lõm

Dù là đời sống vật chất, tinh thần hay hôn nhân gia đình của người phụ nữ có Sơn căn thấp đều vất vả, khó khăn và nhiều phiền muộn.
Cuộc đời vất vả của phụ nữ có Sơn căn thấp lõm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dù là đời sống vật chất, tinh thần hay hôn nhân gia đình của người phụ nữ có Sơn căn thấp đều vất vả, khó khăn và nhiều phiền muộn.

  1. Đời sống tình dục phóng túng   Phụ nữ có Sơn căn thấp lõm có dục vọng cao, hành động theo bản năng. Ở người này không tồn tại quan điểm đạo đức truyền thống mà khá phóng khoáng và tùy tiện, khi đã rơi vào lưới tình thì khó lòng dứt ra.    Người này sống trong cảnh nghèo khó, sớm phải tự lực nuôi sống bản thân, bôn ba khắp nơi để mưu sinh nên tính cách mạnh mẽ, độc lập. Nếu có thêm đặc điểm là trán rộng, mặt tròn, lông mày rậm thì lại càng tùy tiện trong chuyện tình cảm và tình dục. Chính điều đó đã gây ra không ít điều phiền toái cho họ.
2. Hôn nhân không hòa hợp, gặp nhiều bất hạnh

Cuoc doi vat va cua phu nu co Son can thap lom hinh anh
Ảnh minh họa
  Sơn căn là vị trí đại diện cho cung Hôn nhân của nữ giới. Do đó, nếu vị trí này thấp lõm là biểu hiện cho thấy hôn nhân không hòa hợp, khó được hưởng hạnh phúc đến đầu bạc răng long. Người này có số kết hôn với đàn ông lớn hơn 10 tuổi, nhưng không có sự hòa hợp, không được dựa dẫm vào nhà chồng.    Đặc biệt, nếu Sơn căn có nốt ruồi thì cuộc sống hôn nhân gia đình càng bất hạnh, năm 30 tuổi thì mối quan hệ đó càng trở nên lạnh nhạt, diễn biến phức tạp theo chiều hướng tiêu cực. Nói tóm lại, người phụ nữ này không có nhân duyên tốt với chồng.   3. Cuộc sống vất vả trăm bề   Nữ giới có Sơn căn thấp lõm hoặc đứt đoạn thường không được nương tựa vào cha mẹ, người thân mà phải tự lực cánh sinh ngay từ khi còn nhỏ. Đa phần họ xuất thân trong gia đình không có nền tảng kinh tế, thậm chí điều kiện vật chất vô cùng khó khăn, nghèo nàn.    Về công danh sự nghiệp, người này cũng có thể gặt hái được thành công nhưng cái giá phải trả bao giờ cũng lớn hơn so với người khác. Do đó, cuộc sống của họ vất vả trăm bề, thường phải lo lắng về cơm áo gạo tiền, khó được thoải mái về tâm lí.  
=> Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi số mệnh của bạn nhanh, chuẩn xác

Việt Hoàng (Theo ZY)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cuộc đời vất vả của phụ nữ có Sơn căn thấp lõm

Top 3 con giáp thích ăn ngon, tận hưởng cuộc sống

Người tuổi Tuất, Hợi và Ngọ có gu ẩm thực phong phú, cầu kỳ và tỉ mỉ trong ăn uống.
Top 3 con giáp thích ăn ngon, tận hưởng cuộc sống

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Tuất

Có thể nói dạ dày của người tuổi Tuất lớn gấp nhiều lần so với những con giáp khác. Lúc nào họ cũng cần nạp nhiều năng lượng để học hành, vui chơi và thỏa mãn những đam mê. Dường như cái “bụng không đáy” đó chỉ thực sự được lấp đầy khi đó là những món cao lương mỹ vị, chứ các món thông thường thì không thấm vào đâu. 

Tuat-1709-1438681729.jpg

Ngoài ra, đa phần những người tuổi Tuất đều có gu ẩm thực phong phú, đi tới đâu vấn đề ăn uống, thưởng thức cao lương mỹ vị cũng được họ quan tâm hàng đầu. Nếu sau này “gấu” mà không giỏi chuyện bếp núc thì e rằng sẽ khó giữ được trái tim của người tuổi Tuất lâu dài.

Tuổi Hợi

Nhắc tới ẩm thực không thể không đề cập đến một con giáp “tốt bụng” theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng như người tuổi Hợi. Tính tình xởi lởi, hòa đồng của họ chính là liều thuốc giữ cho tâm trạng luôn được thoải mái. Tất nhiên, khi vui vẻ, lượng thức ăn họ ngốn vào bụng sẽ nhiều gấp vài lần so với bình thường. 

Hoi-4746-1438681729.jpg

Bên cạnh đó, người tuổi Hợi lại rất thích chia sẻ với bạn bè những điều trong cuộc sống chứ không riêng gì ẩm thực. Do đó, có bất kỳ món hand-made mới ra lò, người tuổi Hợi sẽ mời đông đảo bạn bè tới, một là thưởng thức tay nghề, hai là làm “chuột bạch” cho những sáng tạo ẩm thực không ngừng nghỉ của họ.

Tuổi Ngọ

Những chú ngựa thích bay nhảy, chúa ghét bị ràng buộc rất biết cách hưởng thụ cuộc sống. Dù đi tới bất cứ nơi đâu, tuy hành trang của người tuổi Ngọ vô cùng đơn giản nhưng chuyện ăn uống, thưởng thức ẩm thực lại đòi hỏi sự cầu kỳ và tỉ mỉ. 

Ngo-7352-1438681729.jpg

Do đó, để thuần phục một “chú ngựa bất kham”, cách dễ dàng và đơn giản nhất chính là chinh phục cái dạ dày khó tính của họ. Nếu làm được điều đó, bạn sẽ trở thành người hạnh phúc nhất quả đất vì được người tuổi Ngọ siêu cưng chiều và yêu mến.

Mr.Bull (theo MGSP)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 3 con giáp thích ăn ngon, tận hưởng cuộc sống

Xem ngay cách tránh "lỗi mùa sinh" trước khi có em bé

Khi xem lá số tử vi ngoài việc xem tổng quan và chi tiết các cung và các sao, còn phải lưu ý việc thuận mùa sinh hay nghịch mùa sinh, được giờ sinh hay nghịch
Xem ngay cách tránh "lỗi mùa sinh" trước khi có em bé

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi xem lá số tử vi ngoài việc xem tổng quan và chi tiết các cung và các sao, còn phải lưu ý việc thuận mùa sinh hay nghịch mùa sinh, được giờ sinh hay nghịch giờ sinh.


► Tham khảo thêm: Cách sinh con theo ý muốn hợp tuổi bố mẹ

Xem ngay cach tranh loi mua sinh truoc khi co em be hinh anh
 
Lá số tử vi của một người thường được xem theo Bát tự (ngày sinh, giờ sinh, tháng sinh, năm sinh). Trong đó, cần chú trọng xem giờ sinh, mùa sinh có thuận lý hay nghịch lý, bởi các yếu tố này tác động nhiều tới số mệnh con người.
 
Muốn biết mình có bị “lỗi mùa sinh” hay sinh không được giờ hay không, thì tham khảo thông tin dưới đây.
1. Thuận mùa sinh

- Mệnh Vượng
 
Mệnh Mộc sinh mùa xuân - Mệnh Hỏa sinh mùa hạ
 
Mệnh Kim sinh mùa thu - Mệnh Thủy sinh mùa đông
 
- Mệnh Tướng
 
Mệnh Hỏa sinh mùa xuân - Mệnh Thổ sinh mùa hạ
 
Mệnh Thủy sinh mùa thu - Mệnh Mộc sinh mùa đông
 
2. Thuận giờ sinh

Sinh mùa xuân vào giờ Dậu, Thìn, Tỵ
 
Sinh mùa Hạ vào giờ Mão, Mùi, Hợi
 
Sinh mùa Thu vào giờ Ngọ, Thân, Dần
 
Sinh mùa Đông vào giờ Sửu, Tuất, Tí
 
3. Giờ sinh thuận lý hay nghịch lý

Sinh vào giờ Dương mà an mệnh tại cung Dương là thuận lý. Trái lại là nghịch lý.
 
Sinh vào giờ thuộc Âm mà Mệnh an tại cung Âm là thuận lý. Trái lại là nghịch lý.
4. Năm sinh và giờ sinh

Tuổi Dần, Ngọ, Tỵ, Dậu mà sinh giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì tối độc.
 
Tuổi Dần, Hợi, Tý mà sinh giờ Ngọ, Thân, Dậu, Hợi thì khắc cha, phải đến 16 tuổi mới khỏi âu lo về sự mồ côi cha.
 
Tuổi Thìn, Tỵ, Sửu, Mùi sinh giờ Tí, Ngọ, Mão, Tỵ, Hợi, Thân, Dậu khắc mẹ, phải đến tuổi 16 mới khỏi âu lo về sự mồ côi mẹ. 

ST
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem ngay cách tránh "lỗi mùa sinh" trước khi có em bé

Văn Khấn trong tang lễ - Lễ Chầu Tổ

Văn Khấn trong tang lễ - Lễ Chầu Tổ được dùng sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính
Văn Khấn trong tang lễ - Lễ Chầu Tổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn trong tang lễ – Lễ Chầu Tổ được dùng sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính, nếu là gia đình nhà con thứ thì yết cáo tại nhà thờ của chi họ, nơi thờ ông bà nội, hoặc cụ nội.

Văn khấn trong tang lễ – Lễ Chầu Tổ

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………

Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Hậu duệ tôn là………………………

Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại. Kính cáo Tổ Tiên:

Vì có: Hiển Khảo (hoặc Hiển Tỷ)…………thọ chung ngày …….. nay đã an táng xong, làm lễ hồi linh.

Kính theo lễ nghi phong tục, xin kính dâng lễ vật gồm hương hoa chuối oản, trầu cau, đèn nến, xôi gà thịt rượu, gọi là lễ bạc tâm thành. (Nếu sắp lễ có những thứ khác thì khi khấn tùy theo đồ lễ mà kể ra).

Kính cẩn quỳ trước linh vị của: Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, liệt vị Tiên linh. Trình thưa rằng:

Vật vốn nhờ trời
Người sinh nhờ Tổ.
Xót nay phụ thân (hoặc mẫu thân)
Theo Tiên theo Tổ
Sơ ngu vừa đặt tế điện
Nghĩ trước nghĩ sau
Vật mọn kính bày lễ số.
Ngửa trông chứng giám lòng thành;
Cúi nguyện phù trì bảo hộ.

Chúng con lễ bạc tâm thành tâm kính bái cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn trong tang lễ - Lễ Chầu Tổ
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd