Tướng người trường thọ –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)

Phần quan trọng nhất là bàn thờ tổ tiên, do đây là nơi được coi là nơi linh thiêng, ngày thường không được tùy ý động chạm di chuyển mà chỉ lau chùi sạch sẽ, người xưa cho rằng nếu xê dịch sẽ làm kinh động đến chỗ của thần, thần không được an vị thì không muốn ở lại lâu, không chăm sóc cho nhà mình được. Ngày nay do thời gian có hạn hoặc một số kiêng kị không được lưu truyền trong dân gian nên không còn nhiều người biết cách dọn bàn thờ theo phong thủy và mang lại may mắn như phong tục cổ nhân.
Trước khi dọn ban thờ, người xưa thường phải tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị đĩa hoa quả đặt lên, sau đó thắp một nén hương thông báo cho tổ tiên và thần linh biết ngày hôm nay sẽ thu dọn ban thờ, mời tổ tiên và thần linh tạm lánh sang một bên để con cháu thực hiện công việc. Sau đó gia chủ chuẩn bị một chiếc bàn bên trên trải vải hoặc giấy đỏ để đặt bài vị, nếu bàn thờ có đặt chung bài vị gia tiên với các thần thì phải để ra hai chỗ khác nhau, không được lẫn lộn. Đợi sau khi hương cháy hết rồi mới bắt đầu công việc.
Khi lau rửa bài vị của tổ tiên thì phải dùng nước ấm, không được dùng nước lạnh. Khi làm vệ sinh, nếu có bài vị của thần Phật thì lau trước, sau đó đổ nước mới để lau bài vị của tổ tiên, tuyệt đối không lau bài vị của tổ tiên trước. Người xưa quan niệm như vậy là bất kính, mạo phạm với thần Phật, thần Phật có ngôi vị cao hơn nên dễ khiến tổ tiên bị chèn ép.
Sau khi lau bài vị xong mới đến phần dọn bát hương, công việc này cũng rất quan trọng, ngày nay đa phần mọi người đều rút chân hương rồi cầm bát hương đổ hết tro ra ngoài, theo người xưa như vậy rất dễ gây “tán tài”, vì vậy người ta dùng chiếc thìa nhỏ xúc từng thìa đổ ra ngoài rồi mới rửa sạch bát hương đặt sang một bên.
Khi bát hương khô ráo, nếu là bát hương thờ thần phật thì dùng bảy tờ tiền vàng, bát hương của tổ tiên thì dùng ba tờ tiền vàng đốt hơ quanh, cháy một nửa thì bỏ vào trong, đợi tiền vàng cháy hết thì đổ tro vào một lần, như vậy gọi là “ra nhỏ vào lớn”, ý là “tiền ra nhỏ giọt, tiền vào như thác đổ”, nếu lúc đầu đổ ra hết sau đó múc từng ít một vào thì gọi là “vào nhỏ ra lớn”, tức “tiền ra thì nhiều mà tiền vào thì ít”.
Ngày nay có nhiều người đem tro bát hương đổ cũ ra sông, thay vào bát hương tro mới, nhưng người xưa thì dùng chiếc rổ mắt nhỏ để lọc tro cũ, lọc xong lại đổ vào bát hương chứ không đổ đi. Việc lọc tro cũng phải bắt đầu từ bát hương thờ thần phật.
Sau khi lau rửa sạch sẽ, người ta sẽ đem bài vị thần Phật và tổ tiên đặt lại chỗ cũ và công đoạn này cũng rất phức tạp. Trước hết phải chuẩn bị một chiếc lò nhỏ trong có đốt than hoa, đặt dưới bàn thờ khoảng 15 phút, sau đó đốt bảy tờ tiền vàng làm dấu hơ ở bốn hướng trên dưới trái phải, ý là dùng lửa để khai quang, làm sạch, tiền vàng chưa cháy hết thì bỏ vào lò than hoa.
Đốt tiếp bảy tờ tiền vàng làm sạch vị trí muốn đặt tượng/bài vị thần Phật và bát hương sau đó mới đặt các đồ vật vào vị trí cố định. Sau khi đặt xong thì đốt 12 que hương cắm theo thứ tự hướng thời gian, que thứ nhất cắm ở vị trí 1h, khi cắm thì đọc “niên niên thị hảo niên”, tức mỗi năm đều là năm tốt; que thứ hai cắm ở vị trí 2h, khi cắm đọc “nguyệt nguyệt thị hảo nguyệt”, tức mỗi tháng đều là tháng tốt; cây thứ ba cắm ở vị trí 3h, khi cắm đọc “nhật nhật thị hảo nhật”, tức mỗi ngày đều là ngày tốt; cây thứ tư cắm ở vị trí 4h, khi cắm đọc “thời thời vị hảo thời”, tức mỗi giờ đều là giờ tốt; cứ tuần tự như vậy cho đến thời điểm vị trí 12h. Các vị trí bài vị, bát hương của tổ tiên và bà tổ cô cũng làm như vậy.
Trên đây là tập tục của người xưa ghi chép lại trong các thư tịch cổ, những công việc tỉ mỉ khi chăm sóc bàn thờ gia tiên cũng là cách để tăng thêm phần không khí ngày Tết. Nhưng ngày nay, do cuộc sống bận rộn nên không hẳn tất cả những tập tục trên còn phù hợp dọn bàn thờ theo phong thủy. Xin nêu lại tập tục cổ nhân như một cách để bạn đọc tham khảo, thêm phần hiểu biết về phong tục tập quán của người xưa trong những ngày xuân đang tới với hi vọng mọi người sẽ gặp những may mắn mới, thành công mới.
Bố trí đồ điện hợp phong thủy không chỉ hạn chế năng lượng xấu, mà còn tạo ra sự luân chuyển hài hòa, tích tụ thêm năng lượng tự nhiên cho ngôi nhà.
![]() |
Con giáp nào tinh quái so với vẻ bề ngoài? Có phải người tuổi Hợi, Mùi và Ngọ thường ‘tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi’. Củ thể thế nào chúng ta cùng khám phá trong bài viết dưới đây nhé!
Nội dung
Trong mắt mọi người, con giáp này khá xuề xòa lại có phần lười nhác. Thực tế, họ thông minh và kỹ tính, chỉ là đôi khi tỏ vẻ bất cần hoặc cười cho qua chuyện mà thôi.

Khi người tuổi Hợi đã xác định mục tiêu, họ nỗ lực hết sức, tận dụng trí thông minh vốn có để đạt được nó nhanh gọn nhất. Trước khi tiến hành làm bất cứ việc gì, trong đầu họ đều đã lên kế hoạch, đường đi nước bước rõ ràng. Chính điều đó mang lại số mệnh giàu sang, phú quý cho người tuổi Hợi.
Người tuổi Mùi không giỏi trong việc biểu đạt suy nghĩ. Họ cũng rất thận trọng để không phải va chạm với đám đông. Do đó, họ hay được nhận xét là hiền lành và thật thà.

Thực tế, người tuổi Mùi sở hữu trí tuệ thông minh, linh hoạt. Nhìn cách làm việc khoa học của họ, bạn sẽ phát hiện ra điều đó. Họ ít khi thể hiện cảm xúc và tài năng ra ngoài, nhưng khi cần “xuất chiêu”, họ sẽ là trung tâm của mọi sự chú ý, khiến bạn phải kinh ngạc.
Bề ngoài “phổi bò”, vô tư lự của người tuổi Ngọ đã đánh lừa rất nhiều người. Trong mắt số đông, họ thật thà, chất phác và dường như không có sự ganh tỵ hay cố chấp nào.

Bạn đã nhầm, thực tế nội tâm người tuổi Ngọ chứa đựng đầy tham vọng. Bạn đã bao giờ thấy họ làm việc gì tổn hại đến lợi ích của chính họ chưa? Câu trả lời sẽ giúp bạn hiểu được con người có nhiều “quái chiêu” tiềm ẩn như người tuổi Ngọ.
![]() |
| Bốn đường chỉ tay chính: 1. Đường Sinh đạo; 2. Đường Tâm đạo; 3. Đường Trí đạo; 4. Đường Định mệnh |
| ► Tự xem bói, xem chỉ tay đơn giản để luận giải về cuộc đời, vận mệnh của bản thân |
Phản bối thủy: Có nghĩa là nước chảy ngược. Khi nước chảy đến trước huyệt nhất thiết phải chạy bao bên trái rồi mới chảy đi là nước có tình, nếu mới đến trước huyệt, đột nhiên một vòng gấp khúc đi ra, tức là “phản điệu thủy”. Nhưng dòng chảy như ngược nhưng sau khi chảy ra lại quay trở lại thì không phải là Phản bối thủy. Trang cuốn Thủy long ngữ loại có viết: “Nước chảy quay lưng lại hình như cánh cung quay ngược lại chù, loại nước này khiến cho khi ở minh dường bị thoát tán, thuộc lại nước vô tình”. Trong Tuyết tâm phú có viết: “Nước chảy lượn qua huyệt, rồi quay lưng lại chảy đi là không tốt, chớ có táng mộ vào đó”’.

Ngũ bất tường: Các nhà phong thủy âm trạch cho rằng nếu phản mộ tổ tiên hoặc tình trạng gia đình phát sinh ra hiện tượng “Ngũ bất tường”, tức là cần nhanh chóng tìm người thay đổi lại phong thủy âm trạch. Trong cuốn Nhập địa nhẫn toàn thư có chép: “Hữu ngũ bất tường nên tốc cải chi: (1) Mộ kẹt bị hãm: (2) Trên mộ cây cỏ chết khô; (3) Âm thanh hỗn tạp, lục súc tử tuyệt; (4) Nam nữ bướng bỉnh, chộm cướp dâm loạn; (5) Người nhà thương tổn, phụ nữ không đậu được thai, gia đình phá tài, quan chức kiện tụng, gia đình bị trộm cướp, phải chóng tìm thầy để dời mộ”.
Vầng Thái cực: Các nhà phong thủy cho rằng chân long huyệt, trên địa biểu của huyệt này, có xuất hiện nhiều màu sắc đẹp, đậm nhạt khác nhau, giống nhưng vầng ánh sáng xung quanh mặt trời lúc ban mai. Thái cực là chỉ trung tâm huyệt bao gồm lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái, tất cả các phường xung quanh đều xanh tươi, như nước chảy vào huyệt là nước trong sạch, nên nói vầng huyệt có mù Thái cực vậy.
Phu phụ hợp thập: Tam nguyên phải lý luận rằng : Đầu tiên phải theo số cửu tinh nguyên vận của chủ nhà, nhập vào Trung cung, phi thuận theo số của Lạc thư, tìm ra nguyên vận bàn; sau đó căn cứ vào Sơn và Hướng của mộ hoặc của nhà ở, kiểm tra âm dương, tiếp đó là lấy số cửu tinh của nguyên vận nhập vào Trung cung, nếu dương thì thuận, nếu âm thì nghịch để an tiếp cốc sao còn lại. Cần lưu tâm phân biệt giữa sơn bàn và hướng bàn, nếu như các số cùng một cung hoặc sơn hàn và hướng bàn hợp thành chữ Thập. Cung tàng 7, 8, 9, cung không tàng 1, 2, 3, Cung Thân là 1, Dần là 9, Mùi là 2, Sửu là 8, hợp tổng là 10…… Trên đây chính là phương pháp ba sơn của một quái phối phu thê vậy.
Đáo sơn đáo hướng: Tam nguyên Huyền không lý luận, đầu tiên phải theo số của Cửu tinh (1. 2. 3……. 9) của nguyên vận vào Trung cung, sau đó, thuận theo số của “lạc thư” cửu cung, cầu tìm ra nguyên vốn bàn: tiếp đó là mộ huyệt hoặc toạ sơn hoặc toạ hướng của địa trạch được coi đó thuộc âm dương, hơn nữa cũng từ trong nguyên vận bàn, mỗi loại lấy ra những chữ số chú cửu tinh dể nhập vào cung, nghịch thuận bài cục, lần lượt xẽp dặt sơn bàn và hướng bàn. So sánh chữ số chủ cửu tinh của nguyên vận và chữ số vượng tinh của nó, như chữ số này, sơn bàn ở cung vị sơn tọa, hướng bàn ở cung vị thuộc phương hướng, tức gọi là “đáo sơn đáo hướng”.
Sách " Tam mệnh thông hội" nói về cách sắp xếp của lục thân trong Tứ trụ rất rõ ràng : " Phàm đoán lục thân thì lấy năm làm cha, lấy thai làm mẹ, lấy tháng làm anh em, lấy ngày làm mình và vợ, lấy giờ làm con". Như thế rõ ràng trụ tháng là cung anh em và thực tiễn chứng minh rất đúng.
Trong Tứ trụ lấy gì làm cung anh em, hiện nay trong ứng dụng không thống nhất. Có người lấy thiên can địa chi của tháng sinh làm anh em, có người lấy ngang vai, kiếp tài, kình dương là anh em, có người lại lấy ấn làm anh em. Trong thực tế ứng dung, tôi lấy trụ thang làm cung anh chị em. Nhưng thiên can địa chi của tháng không nhất định là anh chị em cụ thể. Anh chị em ruột của chính mình là phải lấy ngang vai, kiếp tài, lộc, kình dương làm tiêu chí. Vì ngang vai, kiếp lộc, kình dương trong ngũ hành là cùng loại với nhau, lấy thiên can làm tỉ kiếp, địa chi làm lộc, kình dương. Ví dụ giáp gặp giáp là ngang vai, giáp gặp ất là kiếp tài, giáp gặp dần là lộc, giáp gặp mão là kình dương. Cũng tức là nói, người sinh ngày giáp trong trụ thấy mộc đều là do mẹ nhâm hoặc quý sinh ra, cho nên đều là tiêu chí thông tin anh chị em cả.
Tháng là cung anh chị em. Mệnh nam can tháng là anh em, chi tháng là chị em. Mệnh nữ can tháng là chị em, chi tháng là anh em. Thiên can, địa chi của trụ tháng đều ở vượng địa thì nói chung anh chị em nhiều, sức khỏe tốt.
Trong Tứ trụ của một người, có thể có bao nhiêu anh chị em thì tất cả những sách dự đoán về Tứ trụ hiện có đều không bàn luận đến, còn trong thực tế ứng dụng thì người được đoán thường muốn nói : có mấy anh chị em ? Rất nhiều đại sư không có cách nào trả lời.
Có bao nhiêu anh chị em ? Trong thực tiễn tôi tìm tòi, khám phá như sau : nếu trong Tứ trụ mộc là anh chị em thì có bao nhiêu mộc, lại căn cứ mộc đó gặp đất sinh vượng hay tử tuyệt để xác định số lượng anh chị em. Nếu nắm vững được lệnh vượng suy thì độ dự đoán chính xác càng cao, nếu có sai lệch thì cũng chỉ trên dưới một, hai người. Năm 1991 tôi sang Xingapo và Thái Lan không những để giảng bài mà còn có nhiệm vụ khảo sát về kỹ thuật dự đoán qua Bát quái, Tứ trụ và Tướng học. Qua thực tiễn dự đoán chứng minh rằng : phương pháp dự đoán của Trung Quốc và kỹ thuật của nó cũng rất thích ứng dụng và phù hợp ở nước ngoài, những trường hợp tôi đoán đều rất chuẩn. Tuy nhiên, khi đoán về số anh em thì đều có số sai cả. Ví dụ trong Tứ trụ : số anh em mà đoán ở Trung Quốc là 6 người hoặc trên dưới 6 người thì ở các nước Ðông nam á ( như Philipin, Inđônêxia, Mianma, Malaixia, Xingapo, Thái Lan, Hồng Kông ) và Úc, số anh em phải căn cứ kết quả cân đối trong Tứ trụ rồi gấp đôi lên mới đúng. Vì sao số anh chị em ở những nước này lại nhiều gấp đôi so với những người Trung Quốc có Tứ trụ giống nhau? Tôi cho rằng có hai nguyên nhân : thứ nhất là từ địa lý mà nói, điều kiện khí hậu của họ tốt cho nên từ hàn đới chuyển sang ôn đới, á nhiệt đới cho đến vùng nhiệt đới có xu thế tăng lên rõ rệt. Thứ hai là sinh nhiều hay sinh ít là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và chế độ quan niệm ở đó quyết định.
Về nội dụng cần dự đoán trên phương diện anh chị em có rất nhiều, ngay cả việc thời gian nào sinh nam, thời gian nào sinh nữ, thai nào là nam, thai nào là nữ, anh em có tất cả mấy người, hiện nay còn mấy người, mấy nam, mấy nữ, v.v.. Trong thực tế, những người có kỹ thuật cao cường đã từng đoán được rất chính xác, nghe nói đó là nhờ dùng " Thiết bản thần số". Nhưng "Thiết bản thần số" đòi hỏi gia truyền để lại bí quyết nay. Nói chung những người có sách này tôi chỉ có thể nói về số lượng anh em có bao nhiêu theo kinh nghiệm của bản thân để mọi người tham khảo.
thủy tốt để mang lại sự may mắn tài lộc trong cuộc sống chúng ta ?
Dựa trên nguyên lý của 64 Quẻ Khí Kinh Dịch, các con số được tính toán trong Tổng hòa của cả một dãy số chứ không riêng gì 1 vài con số.
Với mỗi Mệnh đều có những Quẻ khí Đặc trưng bao hàm Ý nghĩa và Giá trị khác nhau sử dụng với mục đích khác nhau. Tuy nhiên, nó đều được nằm trong 1 quy luật hết sức chặt chẽ.
– Một Sim số hợp phong thủy phải hội đủ các yếu tố như sau:
+ Một Sim số có phong thủy tốt phải là con số Cân bằng Âm Dương
+ Một Sim số tốt phải là con số Tương Sinh giữa Ngũ hành của Dãy Số với Ngũ hành của Người Sử dụng
+ Một Sim số tốt phải là con số chứa Vượng khí, may mắn, tốt lành, đại cát
+ Một Sim số tốt phải có Quái khí hàm chứa các yếu tố tương hỗ cho Người dùng, ứng với Quẻ khí mang điềm Cát ( Cát tường)..

– Người Mệnh Mộc nên dùng số có Quẻ khí: Phong Lôi Ích, Bát Thuần Chấn, Sơn Lôi Di.
Mạng Mộc gồm có các tuổi: Nhâm Ngọ1942 & Quý Mùi1943; Canh Dần1950 & Tân Mão1951; Mậu Tuất1958 & Kỷ Hợi1959; Nhâm Tý1972 & Quý Sửu1973; Canh Thân 1980 & Tân Dậu1981; Mậu Thìn1988 & Kỷ Tỵ1989.
– Người Mệnh Hỏa nên dùng số có Quẻ khí: Bát Thuần Tốn, Lôi Phong Hằng, Thiên Phong Cấu, Lôi Thủy Giải, Hỏa Phong Đỉnh…
Mạng Hỏa gồm có các tuổi:Giáp Tuất 1934 & Ất Hợi 1935; Mậu Tý 1948 & Kỷ Sửu 1949; Bính Thân 1956 & Đinh Dậu 1957; Giáp Thìn 1964 & Ất Tỵ 1965; Mậu Ngọ 1978 & Kỷ Mùi 1979; Bính Dần 1986 & Đinh Mão 1987.
– Người Mệnh Kim nên dùng số có Quẻ khí: Phong Sơn Tiệm, Sơn Trạch Tổn, Thủy Sơn Kiểm, Bát Thuần Đoài…
Mạng Kim, gồm có các tuổi: Nhâm Thân 1932 & Quý Dậu 1933; Canh Thìn 1940 & Tân Tỵ 1941; Giáp Ngọ 1954 & Ất Mùi 1955; Nhâm Dần 1962 & Quý Mão 1963; Canh Tuất 1970 & Tân Hợi 1971; Giáp Tý 1984 & Ất Sửu 1985.
– Người Mệnh Thổ nên dùng số có Quẻ khí: Trạch Hóa Cách, Phong Hỏa Gia Nhân, Lôi Hỏa Phong, Sơn Hỏa Bỉ.
Mạng Thổ gồm có các tuổi: Mậu Dần 1938 & Kỷ Mão 1939; Bính Tuất 1946 & Đinh Hợi 1947; Canh Tý 1960 & Tân Sửu 1961; Mậu Thân 1968 & Kỷ Dậu 1969; Bính Thìn 1976 & Đinh Tỵ 1977; Canh Ngọ 1990 & Tân Mùi 1991.
– Người Mệnh Thủy nên dùng số có Quẻ khí: Trạch Địa Tụy, Sơn Thiên Đại Súc, Lôi Thiên Đại Tráng…
Mạng Thủy gồm có các tuổi: Bính Tý 1936 & Đinh Sửu 1937; Giáp Thân 1944 & Ất Dậu 1945; Nhâm Thìn 1952 & Quý Tỵ 1953; Bính Ngọ 1966 & Đinh Mùi 1967; Giáp Dần 1974 & Ất Mão 1975; Nhâm Tuất 1982 & Quý Hợi 1983.
Ví dụ: Người tuổi mạng Mộc hợp nhất số điện thoại có số cuối là 1, vì Thủy (1) sinh Mộc là quan hệ tương sinh.
Ngược lại: người tuổi mạng Mộc không hợp với số có số cuối là 6,7, vì Kim(6,7) khắc Mộc: quan hệ tương khắc.
| Năm sinh (âm lịch) | Từ tháng năm đến tháng năm (theo dương lịch) | Cung Mạng | Nên lựa số có số tận cùng: | ||
| Năm Sinh |
Tuổi | T: tương sinh | C: cùng cung mạng | ||
| 1975 | ẤT MÃO | 11/02/1975 -> 30/01/1976 | THỦY | T:6,7; | C: 1 |
| 1976 | BÍNH THÌN | 31/01/1976 -> 17/02/1977 | THỔ | T: 9: | C: 0,2,5,8 |
| 1977 | ĐINH TỴ | 18/02/1977 -> 06/02/1978 | THỔ | T: 9; | C: 0,2,5,8 |
| 1978 | MẬU NGỌ | 07/02/1978 -> 27/01/1979 | HỎA | T: 3,4; | C: 9 |
| 1979 | KỶ MÙI | 28/01/1979 -> 15/02/1980 | HỎA | T: 3,4; | C: 9 |
| 1980 | CANH THÂN | 16/02/1980 -> 04/02/1981 | MỘC | T:1 | C:3,4 |
| 1981 | TÂN DẬU | 05/02/1981 -> 24/01/1982 | MỘC | T:1 | C:3,4 |
| 1982 | NHÂM TUẤT | 25/01/1982 -> 12/02/1983 | THỦY | T:6,7; | C: 1 |
| 1983 | QUÝ HỢI | 13/02/1983 -> 01/02/1984 | THỦY | T:6,7; | C: 1 |
| 1984 | GIÁP TÝ | 02/02/1984 -> 19/02/1985 | KIM | T: 0,2,5,8 ; | C: 6,7 |
| 1985 | ẤT SỬU | 20/02/1985 -> 08/02/1986 | KIM | T: 0,2,5,8 ; | C: 6,7 |
| 1986 | BÍNH DẦN | 09/02/1986 -> 28/01/1987 | HỎA | T: 3,4; | C: 9 |
| 1987 | ĐINH MÃO | 29/01/1987 -> 16/02/1988 | HỎA | T: 3,4; | C: 9 |
| 1988 | MẬU THÌN | 17/02/1988 -> 05/02/1989 | MỘC | T:1 | C:3,4 |
| 1989 | KỶ TỴ | 06/02/1989 -> 26/01/1990 | MỘC | T:1 | C:3,4 |
| 1990 | CANH NGỌ | 27/01/1990 -> 14/02/1991 | THỔ | T: 9: | C: 0,2,5,8 |
| 1991 | TÂN MÙI | 15/02/1991 -> 03/02/1992 | THỔ | T: 9; | C: 0,2,5,8 |
| 1992 | NHÂM THÂN | 04/02/1992 -> 22/01/1993 | KIM | T: 0,2,5,8 ; | C: 6,7 |
| 1993 | QUÝ DẬU | 23/01/1993 -> 09/02/1994 | KIM | T: 0,2,5,8 ; | C: 6,7 |
| 1994 | GIÁP TUẤT | 10/02/1994 -> 30/01/1995 | HỎA | T: 3,4; | C: 9 |
| 1995 | ẤT DẬU | 31/01/1995 -> 18/02/1996 | HỎA | T: 3,4; | C: 9 |
| 1996 | BÍNH TÝ | 19/02/1996 -> 06/02/1997 | THỦY | T:6,7; | C: 1 |
| 1997 | ĐINH SỬU | 07/02/1997 -> 27/01/1998 | THỦY | T:6,7; | C: 1 |
| 1998 | MẬU DẦN | 28/01/1998 -> 15/02/1999 | THỔ | T: 9: | C: 0,2,5,8 |
| 1999 | KỶ MÃO | 16/02/1999 -> 04/02/2000 | THỔ | T: 9; | C: 0,2,5,8 |
| 2000 | CANH THÌN | 05/02/2000 -> 23/01/2001 | KIM | T: 0,2,5,8 ; | C: 6,7 |
| 2001 | TÂN TỴ | 24/01/2001 -> 11/02/2002 | KIM | T: 0,2,5,8 ; | C: 6,7 |
| 2002 | NHÂM NGỌ | 12/02/2002 -> 31/01/2003 | MỘC | T:1 | C:3,4 |
| 2003 | QÚY MÙI | 01/02/2003 -> 21/01/2004 | MỘC | T:1 | C:3,4 |
![]() |
![]() |
| ► ## cung cấp công cụ Xem ngày cưới chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
Hành: ThủyLoại: Hung TinhĐặc Tính: Hao tán, tai nạn, trở ngại, thị phi, khẩu thiệt, quan tụng.
Sao Thiên Sứ đóng ở vị trí cố định là cung Tật. Sao này là hung tinh, chỉ dùng để xem hạn, đặc biệt là tiểu hạn, chớ không có ý nghĩa lắm trên toàn cuộc đời. Thành thử, bao giờ cần giải đoán vận hạn, thì mới nên lưu ý đến vị trí và sự hội tụ của Thiên Sứ với các sao khác.
Thiên Sứ có nghĩa là buồn thảm, xui xẻo, không may, ngăn trở mọi công việc, mang lại tang thương, bệnh tật, tai họa. Ý nghĩa này chỉ có khi xét vận hạn.
Ý Nghĩa Thiên Sứ Ở Cung Hạn
Chùa Đồng Thiện là ngôi chùa cổ mang nhiều giá trị thẩm mỹ cũng như tín ngưỡng của người dân Hải Phòng. Ngôi chùa được dựng lên từ tấm lòng thiện tâm của con người bởi lẽ cho đến nay chùa có tên “Đồng Thiện”. Chùa Đồng Thiện tọa lạc trên địa bàn phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Nơi đây được trụ trì bởi Ni sư Thích Diệu Tâm.
Chùa Đồng Thiện có tên chữ là Hải Ninh tự nằm ở phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, Hải Phòng. Theo văn bia ở chùa thì chùa Đông Thiện được xây dựng vào những năm 30 của thế kỷ này, do Hội đồng thiện đứng chủ hưng công. Công việc thiện tâm này của Hội đồng thiện được sự hưởng ứng của đông đảo tín đồ, thiện nam, tín nữ trong nước. Hội đồng thiện tỉnh Bắc Ninh đã quyên cúng cho việc làm tình nghĩa này cả một ngôi chùa khang trang đẹp đẽ.
Tên chùa Hải Ninh ra đời chính là để ghi nhớ về sự kiện thiện tâm đó của Hội đồng thiện Hải Phòng và Hội đồng thiện Bắc Ninh. Ngay từ buổi ấy chùa cũng được gọi là chùa Đồng Thiện với ý nghĩa là ngôi chùa được dựng nên từ tấm lòng thiện tâm của con người.
Kiến trúc với dáng bề thế, khang trang gồm nhiều tòa ngang dãy dọc, mặt quay hướng Đông Bắc. Chùa có hai lớp tam quan dọc theo đường “Thần đạo”, nối tam quan thứ nhất với tam quan thứ hai là một nhà thiêu hương và một hồ nước tròn, chu vi gần 400m. Kèm hai bên chùa là khu nghĩa trang rộng lớn, các mộ chí ở đây là cả một thế giới thu nhỏ của các loại hình kiến trúc cổ kim, đông tây, muôn sắc màu, san sát bên nhau yên bình và ấm cúng.
Nhà thiêu hương với kiến trúc một gian vuông vức, hai tầng tám mái chung quanh để thoáng không xây tường che, bốn bức dựng bốn cột tròn, kê trên chân tảng hình đôn đá, mái lợp ngói vẩy rồng rêu phong cổ kính, đao cong hình lá lật thâm thấp, thâm u. Thiêu hương là nơi quàn linh cữu của người xấu số, nơi các vị tăng ni chạy đàn cầu siêu thoát cho các sinh linh. Cả khối nhà là một thể thống nhất tượng trưng cho thái cực. Hai tầng tám mái là biểu tượng của lưỡng nghi (âm và dương). Ngôi nhà vuông tượng trưng cho tứ tượng, tám mái là biểu tượng của “bát quái”. Người xưa quan niệm rằng: thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật hữu hình.
Trong chùa còn có hai cây bảo tháp, mỗi cây cao 1,4 mét, hình lục giác, cạnh đáy 0,2 mét gồm 5 tầng, ngăn cách giữa các tầng là một mái đao cong. Trên đỉnh tháp có hình nậm rượu và một con rồng quấn quanh. Hai cây bảo tháp có 60 bức họa mà tác giả là ông Vương Ái Việt, hội viên Hội đồng thiện Hải Phòng, năm 1926 ông đã cúng hai cây bảo tháp này cho nhà chùa.
Chùa Đồng Thiện là ngôi chùa có giá trị thẩm mỹ cao, bình dị, không ồn ào, đã góp phần làm sáng tỏ thêm cái tính chất “Nhập thế gia trụ trì Phật pháp” của đạo Phật Việt Nam đậm tính nhân văn, đầy lòng nhân ái.
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác |
Về cơ bản Phong Thuỷ là một bộ môn khoa học về môi trường sống, là những lời diễn dịch của người Trung Quốc xưa về thế giới tự nhiên với mục đích giúp họ xây dựng nên một hệ thống canh tác hiệu quả. Ngoài ra với ý nghĩa sâu xa hơn, Phong Thuỷ còn chứa dựng những kiến thức, hiểu biết về sự chuyển động của các thiên thể mà người Trung Quốc đã nghiên cứu để xác định đường đi của thời gian. Qua nhiều thế kỷ, những lý lẽ diễn dịch này càng phức tạp và được ghi chép lại bằng chữ viết và được lưu truyền đến ngày nay.
Ở Trung Quốc, khoa Phong Thuỷ chi phối toàn bộ cuộc sống nhân sinh. Bằng cách thấu hiểu các khái niệm căn bản về Phong Thuỷ, chúng ta có thể chọn ra các mô hình về thiết kế, những hình ảnh và biểu tượng đầy ý nghĩa từ chính nền văn hoá của mỗi dân tộc để hỗ trợ cho đời sống tinh thần của dân tộc đó.
Ngày nay về mặt thực hành, Phong Thuỷ cho chúng ta các lời khuyên về cách kiến tạo ra một môi trường sống thoải mái và tích cực. Những yếu tố bất thường trong đời sống hiện đại đang ngày càng gia tăng sức huỷ hoại và vì vậy ngày càng có nhiều người tìm đén các cách sống khác, mong rằng có thể lấy lại thế quân bình cho đời sống cá nhân và những người thân của họ.
Các kiến thức Phong Thuỷ chủ yếu mang đến cho chúng ta cơ hội được sống khoẻ mạnh, hạnh phúc và sung túc vì ý nghĩa căn bản của Phong Thuỷ là giữ gìn và duy trì một cuộc sống hài hoà với môi trường xung quanh ta. Hiểu biết về Phong Thuỷ có thể giúp chúng ta tự đặt mình vào những vị trí có lợi nhất trong môi trường sống của mình. Việc chọn nơi làm văn phòng cũng như các thiết kế nội thất sẽ ảnh hưởng đến mỗi chúng ta theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực.
Thuật phong thuỷ không những giúp ta biết được vị trí thuận lợi nhất đối với ta mà còn chỉ cho ta cách bài trí, chọn mầu sắc và kiểu dáng để hỗ trợ cho chúng ta trong cuộc sống. Việc thể hiện những lý thuyết của thuật Phong Thuỷ vào cuộc sống chắc chắn sẽ mang lại những lợi ích cụ thể cho chúng ta, cho dù chúng ta chỉ mới hiểu biết sơ qua về chúng.
Khi hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống của mình và bắt đầu có ý thức tích cực thay đổi những nhân tố gây khó chịu cho chúng ta thì cũng đồng thời chúng ta đã bắt đầu hiểu rõ chính bản thân và vai trò của mình trong bối cảnh rộng lớn hơn.
Nguồn: Blogphongthuy
Danh: Thanh tú, ôn hòa, lanh lợi, trung niên cát tường, cuối đời hưởng phúc.
Dậu: Nhiều bệnh tật, nếu kết hôn và sinh con muộn sẽ đại cát, trung niên có thể gặp tai ương, cuối đời phát tài phát lộc.
Dĩ: Thông minh, nhanh nhẹn. Công danh, tiền đồ sáng sủa nhưng hiếm muộn đường con cái.
![]() |
| Diệp - Thanh tú, đa đài, hiền hậu |
Diễn: Cuộc đời thanh nhàn, trung niên cát tường, có 2 con sẽ đại cát, cuối đời phiền muộn.
Diệu: Thuở nhỏ vất vả, gian khó, trung niên thành công, phát tài phát lộc, là nữ thì trung niên vất vả, cuối đời cát tường.
Diệp: Thanh tú, đa tài, hiền hậu, trung niên cát tường, cuối đời hưởng vinh hoa phú quý.
Do: Phóng khoáng, đa tài, có số đào hoa, trung niên phát tài phát lộc.
Doãn: Đa tài, đa nghệ, trí dũng song toàn. Cả đời thanh nhàn, hưởng vinh hoa phú quý.
Du: Bản tính thông minh, ôn hòa, hiền hậu, danh lợi song toàn nhưng có thể mắc bệnh tật, cuối đời phát tài phát lộc.
Dụ: Học thức uyên thâm, công chính liêm minh, tiền đồ rộng mở, trung niên thành công, có số xuất ngoại.
Dục: Hiền hậu, có số xuất ngoại, trung niên thành công hưng vượng, sống thanh nhàn, phú quý.
Duệ: Bản tính thông minh, đa tài, trung niên hưng vượng, gia cảnh tốt, có số xuất ngoại.
Dũng: Nên kết hôn muộn, đa tài, hiền lành, trung niên vất vả, cuối đời hưởng phúc.
Dụng: Tính tình ôn hòa, chịu thương chịu khó, sau thành công, con cháu hưởng lộc phúc.
Dư: Bản tính thông minh, danh lợi song toàn, trung niên thành công, cuối đời hưởng hạnh phúc.
Dự: Có số làm quan, tay trắng lập nên sự nghiệp, cuối đời thịnh vượng, gia cảnh tốt.
Dữ: Thanh nhàn, đa tài, trung niên đề phòng gặp chuyện không hay, cuối đời hưởng phúc.
Dực: Tài năng, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.
Dương: Cuộc đời thanh nhàn, nếu kết hôn và sinh con muộn thì đại cát, trung niên bôn ba, vất vả, cuối đời cát tường.
Dưỡng: Lương thiện, phúc thọ viên mãn, có tài trị gia, gia cảnh tốt, con cháu hưng vượng.
Duy: Nho nhã, sống đầy đủ, phúc lộc viên mãn.
Duyên: Phúc lộc song toàn, danh lợi song hành, được quý nhân phù trợ, cuối cát tường.
Duyệt: Cần kiệm, chịu thương chịu khó, trọng tín nghĩa, trung niên vất vả, cuối đời hưng vượng.
Theo Tên hay thời vận tốt
|
![]() |
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Người tuổi Mão mệnh Kim là những người sinh năm Quý Mão 1903, 1963...
Họ là người có ý thức rõ ràng về bản thân đồng thời luôn muốn khẳng định mình. Họ cũng có sức khỏe dồi dào và tính cách kiên cường, thẳng thắn.
Họ thường không bao giờ đầu hàng trước khó khăn, thậm chí còn không muốn bộc lộ những nỗi khổ tâm của mình cho người khác biết mà chỉ âm thầm chịu đựng.
Đời sống nội tâm của họ khá sâu sắc, tình cảm phong phú nhưng thường giấu kín trong lòng. Chính kiểu tính cách đó đã tạo nên ở họ sự không ổn định trong cả tâm lý và tình cảm. Cũng chính vì lý do này mà những việc họ làm đều khó có thể kéo dài và thường phải bỏ cuộc giữa chừng.
Nếu được sao tốt tương trợ, người tuổi Mão mệnh Kim rất có thể sẽ làm được việc lớn nhờ vào tài năng và những hành động đúng đắn, kịp thời của mình.
Nếu không được sao tốt tương trợ, họ dễ rơi vào vòng nguy hiểm vì xung đột với người xung quanh.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Tháng 6 Dương lịch năm 2016 rơi vào khoảng tháng 5 âm lịch là tháng Giáp Ngọ.
Xem Vận Hạn tháng này của 12 Con Giáp, những ngày xấu nên kiêng kỵ, tuổi đẹp nên kết hợp làm ăn.
1. Tuổi Tý:
Chỉ số tình cảm: 93.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Ngọ, tuổi Mùi, tuổi Dậu, tuổi Mão.
Ngày xấu: Ngày 5, 17, 29 tháng 6.
Lời khuyên: Quyền cao chức trọng kẻo mất người tri kỉ.
2. Tuổi Sửu:
Chỉ số tình cảm: 88.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Ngọ, tuổi Mùi, tuổi Thìn, tuổi Tuất.
Ngày xấu: Ngày 6, 18, 30 tháng 6
Lời khuyên: Cẩn thận tiểu nhân đâm sau lưng.
3. Tuổi Dần:
Chỉ số tình cảm: 91.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Thân, tuổi Tỵ, tuổi Mùi.
Ngày xấu: Ngày 7, 19 tháng 6. Lời khuyên: Cẩn thận chuyện tình cảm, dễ có chuyện ngoại tình xảy ra.
4. Tuổi Mão:
Chỉ số tình cảm: 87.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Tý, tuổi Dậu, tuổi Sửu, tuổi Thìn.
Ngày xấu: Ngày 8, 20 tháng 6. Lời khuyên: Nên điều chỉnh về trạng thái ban đầu, chú ý cảm xúc.
5. Tuổi Thìn:
Chỉ số tình cảm: 79.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Sửu, tuổi Thìn, tuổi Tuất, tuổi Mão.
Ngày xấu: Ngày 9, 21 tháng 6.
Lời khuyên: Cảnh giác với chuyện ngoại tình, cẩn thận có "kẻ thứ ba" phá đám.
6. Tuổi Tỵ:
Chỉ số tình cảm: 94.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Thân, tuổi Hợi, tuổi Dần.
Ngày xấu: Ngày 10, 22 tháng 6.
Lời khuyên: Bình tĩnh đừng lỗ mãng.
7. Tuổi Ngọ:
Chỉ số tình cảm: 82.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Tý, tuổi Sửu, tuổi Ngọ, tuổi Mão.
Ngày xấu: Ngày 11, 23 tháng 6.
Lời khuyên: Chú ý đến chuyện tình cảm, dễ có chuyện ngoài vợ ngoài chồng.
8. Tuổi Mùi:
Chỉ số tình cảm: 69.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Tý, tuổi Sửu, tuổi Tuất.
Ngày xấu: Ngày 12, 24 tháng 6.
Lời khuyên: Tình cảm dễ có biến cố.
9. Tuổi Thân:
Chỉ số tình cảm: 90.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Hợi, tuổi Tỵ, tuổi Dần.
Ngày xấu: Ngày 01, 13, 25 tháng 6.
Lời khuyên: Niềm vui ngắn chỉ tày gang, đừng vội đắc thắng sớm, luôn phải cẩn trọng.
10. Tuổi Dậu:
Chỉ số tình cảm: 92.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Tý, tuổi Mão, tuổi Dậu, tuổi Tuất.
Ngày xấu: Ngày 2, 14, 26 tháng 6. Lời khuyên: Vẫn tiếp tục cần phải điều chỉnh.
11. Tuổi Tuất:
Chỉ số tình cảm: 92.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Sửu, tuổi Thìn, tuổi Mùi, tuổi Dậu.
Ngày xấu: Ngày 03, 15, 27 tháng 6.
Lời khuyên: Đừng vội đắc ý.
12. Tuổi Hợi:
Chỉ số tình cảm: 89.
Cẩn thận khi kết hợp với: Tuổi Tỵ, tuổi Thân, tuổi Hợi.
Ngày xấu: Ngày 04, 14, 28 tháng 6.
Lời khuyên: Cởi bỏ sĩ diện mới là chân thành.
![]() |
![]() |

(1) Cửa của các phòng có đóng mở dễ dàng không? Một số nhà làm ẩu thường không đóng được cửa.
(2) Có. khe hở giữa cửa vói tường xi măng hay không? Khung cửa sổ là nơi dễ va đập, chỗ ghép giữa cửa sổ với tường phải khít, không được có khe hở
(3) Đóng mở cửa sổ ở các phòng có bị dít quá không? Mở và đóng có dễ dàng không?
(4) Nền nhà vững chắc không, có nứt vỡ, lõm xuống, khi đi có phát ra tiếng kêu hay không?
(5) Trên trần nhà có phải bị nứt hay không? Thường thì đưòng rạn nứt song song với dầm ngang ngôi nhà là chuyện thường gặp, tuy có vấn đề về chất lượng nhưng về cơ bản thì vẫn sử dụng được. Nếu đường rạn nứt tạo góc nghiêng 45 độ với góc tưòng, thậm chí vuông góc với dầm ngang thì chứng tỏ nhà bị lún khá nghiêm trọng, có vấn đề đáng quan tâm về chất lượng của kết cấu.
(6) Trên trần nhà có phải có điểm lỗ rỗ? Những điểm rỗ này được tạo ra do nước vôi chưa được tôi kỹ. Nếu trần bị rỗ sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc trang trí của căn phòng.
(7) Tường, trần nhà có chỗ nào bị lồi lên không? Dùng gậy gỗ gõ vào xem có tiếng kêu cộp cộp hay không
(8) Khi xả nước bồn cầu thoát có nhanh không? Tiếng nước chảy có bình thường không? Cái két nước có bị rò rỉ không?
(9) Chỗ tiếp nổi giữa bồn tắm, chậu rửa mặt với tường hay tủ chống thấm có hợp lý không?
(10) Phòng vệ sinh, phòng bếp có lỗ thoát nước không, độ nghiêng có bình thường không, tuyệt đối không được nghiêng về phía cửa ra vào, nếu không nước sẽ chảy vào trong nhà.
(11) Thử xem tất cả các công tắc, ổ cắm, cầu dao tổng của các phòng có vấn đề gì không? Vị trí các mạch điện, truyền hình cáp, ổ cắm điện thoại cũng nên kiểm tra kỹ. 30% hỏa hoạn bắt nguồn từ sự cố về điện, điều này có mối quan hệ tướng quan với việc lắp đặt đưòng điện. Tăng số mạch điện kín có thể đảm bảo về tuổi thọ sử dụng dây điện, giảm bớt việc phát sinh sự cố đoản mạch.
(12) Trần nhà có bị thấm nưốc, rạn nứt hay không? Nếu bị thấm nước chứng tỏ có sự rò rỉ. Nếu bạn thuê căn hộ trên cùng thì việc quan sát xem trần nhà có bị rò rỉ nước hay không là việc bắt buộc phải làm.
(13) Nguyên liệu ông dẫn nưóc là gì? Hiện nay đa số ống dẫn nước được làm bằng đồng. Loại ống này có thể sử dụng an toàn trong 50 năm. Đồng có thể ngăn chặn vi trùng sinh sôi, tăng cường lượng đồng trong nước, có lợi cho sức khỏe.
(14) Thử xem công tắc bình nóng lạnh có hoạt động bình thường hay không?
(15) Các đường ống các phòng, phòng khách có phải lộ ra ngoài không? Có phải có đưòng ống xuyên qua? Vì có nhiều đưòng ống xuyên qua phòng sẽ khó cho việc trang trí, làm mất mỹ quan và ảnh hưởng đến tổng thể.
(16) Chất lượng nước máy như thế nào? Chú ý nước của do thành phố cung cấp và nguồn nước của riêng khu dân cư.
(17) Mặt tường, trần nhà có chỗ nào quá nghiêng, cong, tạo sóng, nhô lên, lõm xuống hay không? Cách đơn giản nhất là dùng đèn pin chiếu lên tường và trần nhà, khi đó chỉ cần nhìn qua là biết ngay có chỗ nào lồi lõm hay không.
(18) Kiểm tra xem trong nhà có sạch sẽ hay không? Có còn sót lại rác thải xây dựng hay không? Kiểm tra tất cả những nơi có thể và giỡ ra xem có rác hay không?
(19) Yêu cầu nhà khai thác đưa ra bản để án hoàn thành công trình và bản kê chi tiết diện tích đo đạc thực tế.
(20) Yêu cầu sách hướng dẫn sử dụng các sản phẩm lắp đặt trong nhà bêp, nhà vệ sinh, đồng thời hỏi rõ vấn đề bảo hành của các sản phẩm đó.
(21) Kiểm tra xem độ nghiêng của lỗ thoát nước trong phòng tắm, phòng bếp có đủ để nước đọng chảy ra ngoài hay không. Cách kiểm tra: đổ nước trực tiếp.
(22) Khi xem nhà nên mang theo một dụng cụ điện ba chạc loại dẹt (như sạc điện), cắm vào tất cả các ổ cắm để kiểm tra xem toàn bộ nguồn điện đã được lưu thông khắp căn nhà hay chưa.
(23) Khi đi xem nhà nên đem theo một cái thước đo, để đo tường, nền nhà có bằng phang hay không.
(24) Kiểm tra bồn tắm xem có bị thấm nước hay không. Cách kiểm tra: những vết nứt nhỏ khó có thể phát hiện bằng mắt. Đổ một chậu nước vào bồn tắm, đồng thời đánh dấu ở gần mặt nước, đến hôm sau lại đi kiểm tra vị trí nước, vì bị bốc hơi nên vạch nước có thể hạ đi một chút xíu nhưng nếu hạ một cách rõ rệt thì có thể bồn tắm bị rò nước.
Tết không chỉ là dịp mừng đón mùa Xuân mới lại về mà còn là dịp mừng sum họp gia đình, gia tộc, mong đất nước và xã hội tốt đẹp hơn, mong ai cũng được đủ đầy hạnh phúc. Vì vậy mà ai cũng náo nức, cho dù bận rộn hơn hẳn ngày thường thì mọi người vẫn hăng hái và phấn khởi chuẩn bị về ăn Tết, chơi Tết cho thật đàng hoàng vui vẻ.
Qua các thư tịch người xưa để lại và qua lời kể các cụ cao niên thì Tết ngày xa xưa có nhiều điểm khác ngày nay.Phong tục gói bánh chưng làm bánh dày đã có từ thời các vua Hùng mở nước, do chàng hoàng tử Lang Liêu để lại. Phong tục ấy vẫn được duy trì cho đến ngày nay.

Tết đến, nhà ai cũng phải gói bánh chưng Tết, nào vo gạo, đãi đỗ, mổ lợn, mua lá dong rừng, chẻ lạt giang, và hì hục luộc bánh suốt đêm, ngọn lửa cháy bùng bùng, người ngồi canh bánh là trai thanh gái lịch hẹn nhau, sát vai nhau suốt đêm bên bếp lửa, mặc kệ ngoài trời dù mưa phùn gió bấc hay cái rét tái tê...
Sáng hôm sau vớt bánh, bóc chiếc bánh đầu tiên đặt lên bàn thờ dâng lên tiên tổ ông bà tỏ lòng thành kính biết ơn.
Có câu ca dao nói về phong tục Tết: "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh."
Gần Tết, ngoài đình trồng cây nêu cao nhất làng, ngoài chùa trồng cây phướn, các gia đình cũng trồng cây nêu bằng cây tre cao và thẳng nhất của bụi tre nhà mình, trên đó treo lá cờ ngũ sắc, con chim chiếc lá bằng sứ, quả chuông nhỏ cùng những giải lụa màu.
Đến ngày mùng 7 Tết gọi là ngày khai hạ mới hạ nêu, coi như đã song một cái Tết để bắt tay vào lao động, ai về quê ăn Tết thì lại ra đi tiếp tục công việc của mình những chốn xa xôi.
Cứ Tết đến, dăm ba nhà chung nhau ngả một con lợn để chia nhau ăn Tết, tục đó gọi là "ăn đụng". Vì thế mà có món thịt mỡ. Bởi thịt mỡ dễ ngấy, nên rau cỏ trồng ra, trong đó có loại hành củ đem nén vừa chua vừa mặn, từ hàng tháng trước Tết.
Trên mâm cỗ Tết có đĩa dưa hành nõn bóc trắng tinh xen lẫn màu vàng rực rỡ, nó sẽ giòn sần sật giữa hai hàm răng, làm cái ngấy của thịt mỡ phải tiêu tan.
Ngày Tết, trong nhà có mâm cỗ Tết, có bánh chưng xanh, có dưa hành vàng, thì cũng không thể thiếu được đôi câu đối trên hai cột nhà, có khi sơn son thếp vàng, có khi trên lụa đỏ và bình dân hơn cả chỉ là những tờ giấy hồng điều được dọc ra, viết những lời hay, ý đẹp và treo lên vách.
Phong tục chơi câu đối đỏ có từ rất lâu đời, từ khi ông cha ta biết viết chữ, cả chữ Hán và chữ Nôm.
Trong nhà ngoài sân đều sạch sẽ khang trang, thì cũng không thể thiếu được những tràng pháo chuột của những em bé thơ ngây, chỉ chơi trong ba ngày Tết, vừa vang rền vừa thơm mùi khói pháo.
Tết còn rất nhiều những phong tục hay và đẹp. Ngày gần Tết phải tổng vệ sinh toàn bộ từ nhà đến sân và lối ngõ. Có câu tục ngữ: "Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi" là nói về chuyện đó.
Đầu năm không thể sang hàng xóm xin mấy hạt muối. Còn cuối năm mua vôi để lấy nước vôi quét các bức vác đã qua một năm mua gió nắng nôi, còn dùng nước vôi hoặc vôi bột rắc ra sân ra ngõ, không chỉ rắc như reo hạt mà còn vẽ thành các hình như tròn tượng trưng cho trời, vuông tượng trưng cho đất, vẽ cả cung tên với mũi tên chỉ ra ngoài nhằm xua đuổi mọi loại tà ma, không cho chúng đến quấy nhiễu.

Kiêng không nói tục, không làm đổ vỡ, không dám mắng các em thơ, phải có người vào xông nhà thì người trong nhà mới được ra khỏi nhà, gọi là "xuất hành" tùy theo người chủ nhà và cách tính tuổi mà đi về nam hay sang bắc, đi theo hướng đông hay tây...
Tục mừng tuổi cũng có từ lâu, không phải là kiểu cho tiền vào phong bao đỏ, gọi là lỳ xì, kiểu này nguyên của người Trung Hoa với Hoa Kiều.
Còn ở Việt Nam, mừng tuổi bằng những đồng xu, đồng hào hoặc những tờ bạc còn mới tinh, và đưa tận tay người được mừng tuổi. Khá giả hơn, có khi mừng tuổi bằng tất cả những loại tiền từ to đến nhỏ, để mong người nhận sang năm mới sẽ có thể thu nhận được tất cả những loại tiền như thế.
Từ chiều mùng một, các vãi già đã lên chùa lễ Phật, các cụ ông ra đình thắp nhang trước Thánh.
Những ngày Tết đều là ngày vui, đi thăm nhau, chúc Tết nhau, rồi đánh đu, đánh cờ người, hát chống quân, đi đốt pháo, xem chọi gà, đánh tam cúc điếm...
Một nét đặc biệt của Tết xưa là sum họp. Ai đi đâu thì cũng có về sum họp gia đình, thăm họ hàng, quê hương. Cha mẹ mong con, anh chị em mong nhau, đến hàng xóm cũng hỏi thăm, nếu có người về thì cũng chia sẻ niềm vui ấy...
Trải qua bao nhiêu biến thiên, một thời bao cấp khó khăn, Tết vẫn được duy trì ở mức có thể, để ai cũng có Tết, không từng bừng thì cũng phấn chấn.
Ngày nay, đời sống kinh tế của nhiều nhà đã khấm khá hơn, thành thị không còn lo cái ăn, cái mặc quá vất vả. Không cần chắt bóp hàng tháng trời để lo từng tí một.
Chiều ba mươi Tết, cầm máy nói, alô vài câu là đủ đầy hàng Tết (đương nhiên là phải có tiền) vì vậy mà còn rất ít gia đình gói bánh chưng, người ta mua dăm bảy chiếc là xong. Thế là mất đi những đêm luộc bánh chưng tràn đầy không khí Tết. Chỉ còn việc nhỏ là ít nhà ai còn mua lá cây rau mùi già đun nước tắm, người ta dùng mỹ phẩm, nước hoa cho tiện.
Mấy ngày Tết, các thành phần trong gia đình còn coi thường việc sum họp, từ mâm cổ tất niên đến mâm cỗ cúng sáng mùng một. Nhiều người rủ nhau đi nhà hàng, đi hát, đi dự những trò chơi mới từ nước ngoài du nhập vào. Cũng ít ai còn ăn những món "thịt mỡ" như trước nữa. Có người chuốc rượu nhau đến say xỉn, mà toàn là rượu đắt tiền, coi lãng phí như một chuyện thông thường.
Phong tục cúng bái tổ tiên, nay có gia đình đơn giản đi nhiều nhưng có nơi lại phục hồi một cách thái quá, phục hồi cả cái hay lẫn điều dở, trong đó cả bói toán, dị đoan.
Tiền mừng tuổi là để chia vui ngày xuân, mong cho nhau làm ăn tấn tới, mừng nhau vừa được thêm một tuổi trời. Tuy nhiên tục lệ này cũng có lúc bị người ta lạm dụng, cho tiền vào phong bao, một số tiền nào đó để đút lót, trả ơn, mong nhờ cậy sau này chứ không phải là niềm vui nho nhỏ và vô tư.
Lâu nay đã thành một nét mới. Các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hải Phòng chẳng hạn, đêm giao thừa, người người tụ họp nhau quanh một quảng trường nào đó có độ rộng lớn để đón giao thừa, nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ hoặc của Chủ tịch nước rồi về xông nhà cho gia đình mình, với những mốt quần áo sang trọng và đẹp đẽ và có khi còn quái dị lạ lùng nữa, nhưng vì là ngày Tết, nên không ai nói gì nhau...
Tết của ngày nay, mâm cỗ không còn là quan trọng nhất nữa. Người ta coi chơi Tết quan trọng như ăn Tết, có khi còn quan trọng hơn ăn Tết.
Ngày nay, dù có thay đổi gì chăng nữa thì ngày Tết vẫn được duy trì tính dân tộc, bởi người Việt Nam sống có ân nghĩa, thủy chung, tôn trọng những truyền thống dân tộc.
Đó cũng là một điều đáng trân trọng dù ngày nay đã có không biết bao nhiêu thay đổi trong đời sống từ văn hóa đến chính trị và kinh tế.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Bí mật 12 cung hoàng đạo cùng những tin tức Horoscope được cập nhật mới nhất |
![]() |
| Chùa Cầu - Biểu tượng nổi tiếng của phố cổ Hội An |
![]() |
| Quái vật Namazu trong truyền thuyết |
Trong Tử Vi Đẩu Số có ba sao thuộc về tiền bạc (tài tinh) là: Vũ Khúc, Thái Âm, và Thiên Phủ cùng tác dụng nhưng tính chất lại không giống nhau.
"Vũ Khúc qua hành động tìm tiềnThái Âm ý thức tìm tiền sắc bénThiên Phủ là năng lực lý tài"
Muốn phấn đấu kiếm tiền phải quả cảm quyết đoán
“Chư tinh vấn đáp” viết: “Vũ Khúc là người tính cương, quyết đoán, lúc mừng lúc giận, khi hiền khi tàn bạo, lúc gây phúc, lúc tạo tai ương”. Rồi viết tiếp:”Vũ Khúc quả quyết, tâm vô độc”. Nói chung hễ đã Vũ Khúc ở Mệnh không thể bao giờ là con người nhu nhược nếu vào nam mạng, không thể là con người thùy mị hiền lành nếu vào nữ mạng.
Thời xưa xã hội không chấp nhận đàn bà con gái cương trực quả quyết như kinh thi có câu: “Nam tử cương cường, nữ tử nhu” trừ trường hợp người đàn bà ấy phải đứng mũi chịu sào nắm quyền sinh sống của gia đình, hoặc đoạt quyền chồng. Đứng mũi chịu sào tất là quả phụ phải ly khắc, đoạt quyền chồng thì cô đơn.
Cổ nhân đặt tên sao Vũ Khúc là quả tú (Vũ Khúc chi tinh vi quả tú)
"Vũ Khúc vi quả tú tinhGái kia gặp phải cướp tranh quyền chồng"
Vũ Khúc âm kim hóa khi là “tài” còn có tên khác “tướng tinh” và thuộc bắc đẩu hệ. Âm kim nội liễm (ẩn vào trong) nên tịch mịch, cô đơn. Vũ Khúc tính quật cường, cố chấp, thường tự biến thành một địch thủ không dễ chấp nhận thua cuộc hay chịu thất bại, sức tranh đấu bền bỉ dai dẳng. Người Vũ Khúc thủ Mệnh tiếng nói sắc nhọn, rõ ràng. Thời xưa cầm gươm đao trước trận tiền, làm đồ tể, đúc tiền đều thuộc cái nghề của Vũ Khúc cả. Cho nên cổ nhân luận sao Vũ Khúc mới nói: “Vũ Khúc miếu địa với Xương Khúc đi chung thì xuất tướng nhập tướng, vào võ nghiệp thắng lợi, đóng hãm địa là con người nghề nghiệp khéo, giỏi”.
Ngày nay mấy chữ “sảo nghệ chi nhân” khả dĩ suy diễn rộng rãi hơn như làm thợ máy, thợ kim hoàn…Đắc địa không phải cứ xuất tướng nhập tướng mà là tay cự phách trong ngành tài chính kim dung cũng vậy.
Thế đứng của Vũ Khúc gồm có:
"Nếu ở Thìn Tuất thì đơn thủỞ Tỵ Hợi cùng Phá QuânỞ Sửu Mùi cùng Tham LangỞ Mão Dậu cùng Thất SátỞ Dần Thân cùng Thiên TướngỞ Tí Ngọ cùng Thiên Phủ"
Nói đến cách Tham Vũ, ở Sửu Mùi Tham Vũ đồng hành, ở Thìn Tuất Tham Vũ thủ chiếu. Vũ Khúc ở Thìn Tuất độc tọa gặp thêm Hỏa Tinh hay Linh Tinh là cách bạo phát. Cách này nên buôn bán kinh doanh, Nếu biết tiến thoái không thất thời thì không bị bạo hại.
Cách Vũ Khúc thủ Mệnh tại Thìn hay Tuất cần phụ tinh Hóa Quyền hơn Hóa Lộc, cần Linh Hỏa hơn Lộc Tồn. Vũ Khúc Hỏa Linh tự nó đã có thể tạo dựng bạo phát. Tại sao cần Hóa Quyền? Vũ Khúc vốn là tài tinh, gặp được Hóa Quyền thì vừa có tiền vừa có thế mới phát mạnh.
Đến như Vũ Khúc, Tham Lang đóng cung Sửu Mùi cũng là cách bạo phát. Chỉ khác một điểm, không phát sớm trước tuổi 32, lúc trẻ bôn ba lận đận. Vũ Tham đồng hành bất phát thiếu niên. Cổ nhân còn gọi cách Vũ Tham đồng hành bằng bốn chữ “Y cẩm hoàn lương” (áo gấm về làng) nghĩa là đã từng có thời gian lưu lạc giang hồ lúc còn trẻ tuổi, sau thành công về thăm quê cũ. Vũ Tham đóng cùng, dù sinh từ gia đình phú quí cũng không được hưởng phúc lộc mẹ cha dễ trở nên thân phận quốc biến giao vong.
Vũ Khúc ở Tỵ hay Hợi có Phá Quân kèm bên, cực thông tuệ bất kể trai hay gái, cái thông tuệ thăng trầm không biểu diễn được nhưng quyết liệt không nhượng bộ hay lui bước. Nếu có mềm dẻo chỉ để đạt được mưu tính nào đó.
Vũ Phá đồng cung gặp Kình Đà, Linh Hỏa học nghệ cho tinh sẽ gây tiếng tăm qua nghề nghiệp. Vào kinh doanh thương mại kém hay, cũng đứng ngồi vào cái ghế văn chức suốt đời lụi đụi thôi.
Vũ Phá đồng cung gặp Xương Khúc như con dao phay trên lãnh vực nào thấy đều đắc lực, thêm Khoa Quyền Lộc càng tốt hơn
Một điều cần chú ý:”Vũ Khúc Phá Quân đóng ở Tài Bạch không mấy tốt vì tiền tài khó tụ bền. Căn cứ vào câu phú:”Vũ Khúc Phá Quân đồng ư Tài Bạch, tài đáo thủ nhi thành công” (Vũ Khúc Phá Quân ở Tài Bạch tiền vào tay rồi lại hết)
"Vũ Khúc Văn Khúc rất hayHội Khoa Quyền Lộc là tay anh hùng"
Vũ Khúc hội Kình Dương không nên gặp luôn cả sao Kiếp Sát. Vì phú có câu: Vũ Khúc Kiếp Sát hội Kình Dương nhân tài trì đao (Vũ Khúc hội Kình Dương lại cả sao Kiếp Sát nữa, nam mệnh dễ đi vào con đường cướp trộm). Nhân tài trì dao nghĩa là vì tiền mà cầm dao. Vũ Khúc Kiếp Sát kiêm Dương Đà Hỏa tú tang mệnh nhân tài (Vũ Khúc Kiếp Sát gặp Kình Đà, Hỏa tinh có thể mất mạng vì tiền (bị cướp)). Hỏa Linh phải đồng cung với Vũ Sát mới kể.
Vũ Khúc thủ Mệnh đứng bên Thiên Phủ là một cách kết cấu khác hẳn. Vũ Khúc là tài tinh, Thiên Phủ là tài tinh. Vũ Khúc phải phấn đấu để có tiền, Thiên Phủ vận dụng năng lực để quản thủ tiền. Nếu được các sao tốt phù trì cách này là cách làm giàu, buôn bán kinh doanh rất hợp.
Phú Tử Vi viết:”Thiên Phủ Vũ Khúc đóng Tài Bạch, Điền Trạch lại thêm Quyền Lộc hẳn sẽ thành phú ông”. Phù trì là Quyền Lộc, Xương Khúc, Tả Hữu, nhưng trường hợp gặp Lộc Tồn lại thành trọc phú, tham lam biển lận và keo kiệt.
Cách Vũ Khúc Thiên Phủ hội Thiên Khôi Thiên Việt thì nên học ngành tài chính làm công chức thuế vụ, làm ngân hàng, không thể tự mình đứng ra kinh thương. Về câu phú: Vũ Khúc Thất Sát ư Mão địa, mộc yểm lôi kinh chỉ vào cách Vũ Khúc Thất Sát ở Mão, mộc yểm lôi kinh ý chỉ tai nạn. Ở Mão hay xảy ra bị thương nơi đầu vì tường đổ, cây gẫy, sét đánh. Ở Dậu hay xảy ra té ngã, xe cộ và thú vật cắn. Vũ Khúc Thất Sát Mão hay Dậu mà thấy Thiên Hình Song Hao hay Sát Kị cũng là số bị cướp trộm, kể cả luôn vào vận hạn.
Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư đưa ra câu: Linh Xương Đà Vũ hạn chí đầu hà là thế nào? Theo nghĩa thì Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, gặp Vũ ở vận hạn chết sông nước hoặc tự trầm hoặc tai nạn. Nói đầu hà (đâm đầu xuống sông) thì hơi quá, bất quá chỉ là những chuyện hung hiểm trên mọi hình thức do Văn Xương Đà La gây nên.
Về cách Vũ Sát, phú nôm của Tử Vi Khoa có câu:
"Vũ Quyền Thất Sát ở cùngThai Tọa Khôi Việt ba phương chiếu vềẤy là phát võ uy nghi"
Luận sang cách Vũ Khúc Thiên Tướng.Thân với Dần là hai nơi Thiên Mã trú đóng. Vũ Khúc Thiên Tướng ham hoạt động ít chịu nhàn tản, nhiều sáng tạo lực rất sung sức để san bằng khó khăn. Xa quê hương bản quán dễ phát triển với đầu óc kinh doanh tài giỏi.
"Vũ Tướng Lộc Mã giao trì phát tài ư viễn quận":
Vũ Tướng Lộc Mã an bàiBuôn xa hoạch phát mấy người dám đương
Vũ Khúc Thiên Tướng lại thường lận đận công danh khó mà theo đuổi chức cao bổng hậu. Phải tránh không gặp Tuần Triệt thì Thiên Tướng với Thiên Mã mới không bị bẻ gãy khả năng phấn đấu.
Vũ Khúc không hợp với Hóa Kị. Hai sao này đi đôi trên tính tình khó chịu không hòa đồng được với người chung quanh. Vũ Khúc Hóa Kị vào Mệnh cung gây ra những căn bệnh kéo dài khó khỏi.
Theo quan niệm cổ nhân sao Vũ Khúc trên căn bản không tốt cho nữ mệnh thường khắc phu và ưa đoạt quyền chồng. Vũ Khúc Hóa Kị lại còn Hỏa Tinh nữa thì khắc sát tới mấy lần.
Còn những câu phú khác về Vũ Khúc:
- Thân cư Vũ Khúc, hắc tử trung tang(Vũ Khúc đóng Thân trong mình có nhiều nốt ruồi. Câu này không lấy gì làm đúng lắm)
- Vũ Xương Tỵ Hợi đinh - Lục Giáp súy biên đình(Vũ Khúc đóng Tỵ hay Hợi mà gặp Văn Xương, người tuổi Giáp phát về nghiệp võ. Vì Vũ Khúc đóng cùng với Phá Quân ở hai cung trên, tuổi Giáp hội tụ được Khoa Quyền Lộc lại có nhị hợp Lộc Tồn nếu đóng Hợi)
- Vũ Tham Thìn Tuất, Mậu Canh dương nữ vô hạnh hữu tài; Kiếp Không hung kiến phùng Hà, Nhẫn vận lâm mệnh vị nan toàn(Vũ Tham thủ Mệnh đóng hai cung Thìn Tuất, số gái tuổi Canh Mậu tài giỏi mà vô hạnh, vận trình gặp hạn Không Kiếp đi cùng với Lưu Hà, Kình Dương tính mạng nguy)
- Vũ Khúc, Tham Lang, Hóa Kị kỹ nghệ chi nhân(Vũ Tham mà gặp Hóa Kị ở Mệnh vào nghề xuất sắc như một kỹ sư giỏi, thợ khéo)
- Vũ Phá Tỵ Hợi đãng tử vô lương(Vũ Phá đóng Tỵ Hợi ích kỉ và lắm thủ đoạn, không thích sống với khuôn thể nền nếp)
- Vũ Khúc lâm Cô Thần Hàn Nguyên tần tần khử quỉ(Vũ Khúc gặp Cô Thần như Hàn Nguyên xưa giỏi về đạo pháp trừ ma quỉ)
- Vũ Khúc Khôi Việt miếu vượng, tài chức chi quan(Vũ Khúc miếu vượng gặp Thiên Khôi, Thiên Việt giỏi về công việc tài chánh)
- Sao Vũ Tướng ở đầu cung ấyNghề bách công ai thấy cũng dùng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Khi thiết kế ban công, không phải ai cũng có thể tìm cho nhà mình nơi đặt vị trí ban công vừa hướng ra cảnh quan đẹp vừa hợp lý với cách bố trí trong nhà. Có thể ban công nhà bạn đã được thiết kế sẵn trước khi bạn đến ở.
Và bạn có thể tự mình quan sát, nếu từ ban công nhìn ra môi trường xung quanh không tốt theo quan niệm của phong thủy, ví dụ như trước cửa có góc nhọn chỉ vào nhà, đường đâm thẳng vào nhà, hoặc nhà đối diện với miếu, bệnh viện… thì bạn có thể bài trí những cây cảnh có tác dụng hóa giải.
Hình dáng của cây xương rồng rất đặc biệt, thân phát triển hướng lên trên, giống như xương của con rồng với ý nghĩa mang đến sức mạnh, có tác dụng hóa giải hình sát mạnh bên ngoài.
Theo phong thủy, một số loại cây cảnh có tác dụng hóa giải, bảo vệ ngôi nhà có thể kể đến đó là:
- Cây tiên nhân cầu: Tiên nhân cầu là loại cây dễ sống, không cần tưới nước liên tục. Thân cây to và dài, xung quanh đầy gai, bài trí những cây này có thể hóa giải hình sát của bên ngoài.
- Cây xương rồng: Hình dáng của cây xương rồng rất đặc biệt, thân phát triển hướng lên trên, giống như xương của con rồng với ý nghĩa mang đến sức mạnh, có tác dụng hóa giải hình sát mạnh bên ngoài.
![]() |
| Cây Ngọc kỳ lân |
- Cây ngọc kỳ lân: Cây ngọc kỳ lân phát triển theo hướng ngang, vững vàng, khỏe mạnh, có tác dụng trấn giữ ngôi nhà.
![]() |
| Cây hoa hồng |
- Cây hoa hồng: Hoa hồng là loại cây rất đẹp, có hương sắc để trang trí cho ban công. Khi trồng ở ban công nên chọn loại hoa hồng thân gai có tác dụng hóa giải, thích hợp với những nhà có nhiều phụ nữ.
- Cây đỗ quyên: Loại cây này cũng dễ sống, hoa lá nhiều và có gai. Đỗ quyên không chỉ có tác dụng hóa giải những hình khí xấu nơi ban công mà còn có tác dụng mang đến nhiều vận may cho gia chủ.
- Cây huyết long: Loại cây có lá nhỏ, dài màu xanh thẫm, ở giữa lá có đốm vàng. Huyết long cũng là loại cây dễ chăm sóc và có sức sống mạnh mẽ. Đây cũng là loại cây có thể ngăn chặn những khí xấu xâm nhập vào nhà.
Đối với những ngôi nhà ở tầng 1, không có ban công mà chỉ có vườn hoa thì cũng có thể trồng những loại cây kể trên đều có tác dụng hóa giải hiệu quả.
Giảm xung hại nhờ cây xanh
Các yếu tố gây xung hại cho nhà ở rất đa dạng và đôi khi khó nhận biết. Ví dụ một lối vào đâm thẳng cửa chính, tức là trực xung tiền môn, một cạnh tường chéo hay cầu thang đi thẳng ra ngoài cửa…
Như một cầu thang dẫn ra cửa chính có thể xoay hướng sang bên, dùng cây xanh làm bình phong cản gió và tầm nhìn xuyên thấu.
Khoảng trống bên trái ngôi nhà của gia chủ, tính từ trong nhà nhìn ra phía trước, thuộc phương vị Thanh Long, bố trí cây cảnh rất tốt.
Khi sắp xếp cây bonsai – non bộ thường tuân thủ theo các thể truyền thống (tam đa, tứ linh, ngũ hành, phụ tử…) kết hợp với đèn đá, tượng đá để thể hiện biểu tượng vũ trụ quan thu nhỏ của triết học đông phương chứ không đơn thuần chỉ là trang trí.
Những loại cây lá nhỏ và xum xuê có tính chất thanh lọc các tạp khí và mang lại sự trong lành cho con người.
Các loại cây cao có nhiều trái, nhất là những loại cây có trái tròn như cam, táo, bưởi … trồng ở những vị trí thích hợp sẽ có tác dụng hấp thụ sinh khí dễ mang lại tài lộc cho căn nhà.
Các loại cây cao và lá to như chuối do tính hấp thụ dương quang rất mạnh nên dễ gây cảm giác ấm cúng, tình cảm, bình yên trong căn nhà. Tuy nhiên phải được trồng ở những nơi thích hợp.
Các loại cây như tre, trúc… do tính chất rỗng của thân cây nên có tác dụng hấp thụ những bức xạ xấu. Thường được dùng để trồng ở những nơi có phương vị xấu đối với gia chủ.
Trong phong thủy người ta cũng có thể dùng xương rồng các loại để trồng những nơi được coi là phương vị xấu của gia chủ.
![]() |
| Cây Hoàng nam |
Cây trồng trong vườn nhà hoặc trong nhà, nên hạn chế loại cây có lá rủ như Hoàng nam… Loại cây này hiện đang được coi như loại cây thời thượng, trồng ở những nơi kinh doanh, biệt thự hoặc quanh nhà.
Cây liễu
Nhưng những loại cây có lá rủ xuống này, chứng tỏ sinh khí của cây yếu ớt bạc nhược bởi vậy nó tượng trưng cho một con người tuy có tham vọng nhưng không thành đạt.
Theo Bonsaisongphuong
Theo nhân tướng học, không chỉ tướng bàn tay mà thông qua những đường vân trên cổ tay cũng có thể đoán biết được sức khỏe, vận mệnh của một người. Vân cổ tay còn được gọi là đường ngấn cổ tay. Nó là những đường nằm ngang phía dưới cổ tay, ngăn cách giữa lòng bàn tay và phần còn lại của cánh tay. Theo quan điểm nhân tướng học, các đường vân trên cổ tay có thể cung cấp nhiều thông tin liên quan đến tương lai, tính cách và sức khoẻ của mỗi người.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Sở hữu đường chỉ tay chữ M, bạn vô cùng đặc biệt