Không chỉ là cửa sổ tâm hồn bày tỏ những cảm xúc chân thật, đôi mắt còn hé lộ đôi phần về vận mệnh giàu nghèo của mỗi con người.
► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình
1. Mắt to, hai lòng đen trắng rõ ràng và sáng Đa phần người có mắt to, hai lòng đen trắng rõ ràng và ánh nhìn tươi sáng đều thông minh, giỏi giang hơn người, tài hoa xuất chúng. Hơn thế, tính cách người này nồng nhiệt, hào phóng nên tài vận hanh thông, công danh sự nghiệp vẹn toàn, có số hưởng giàu sang phú quý. 2. Mắt tròn, ánh nhìn long lanh trìu mến Tướng mắt này xuất hiện ở nữ giới nhiều hơn nam giới. Những người có mắt tròn lại luôn long lanh và ánh nhìn trìu mến thường dễ sinh quý tử, sự nghiệp thành đạt, sức khỏe cường tráng, con đàn cháu đống, cuộc sống an nhàn và hưởng phúc lộc khi về già.
Ảnh minh họa
3. Mắt có quầng thâm đen
Người mà đôi mắt lúc nào cũng trong tình trạng thâm đen thường có vận thế không tốt, tài vận kém, vất vả kiếm tiền nhưng không đạt được kết quả như ý. Ngoài ra, đường tình duyên của người này cũng nhiều trắc trở, dễ rơi vào tình trạng tái hôn. 4. Đầu mắt hoặc lòng trắng mắt có nốt ruồi Đây là dấu hiệu của phá tài, tài vận không lí tưởng. Người có tướng mắt này chỉ có thể làm công ăn lương, không thể tự mình lập nghiệp lớn hay kinh doanh làm chủ. Ngoài ra, người này tính tình cổ quái, không hòa đồng với mọi người, khó làm việc theo nhóm và không biết cách giữ mồm miệng nên hay vướng vào những rắc rối thị phi. 5. Ánh mắt linh hoạt, có thần sắc Người có ánh mắt linh hoạt, có thần sắc và thêm đặc điểm tóc xoăn thì tài vận khá vượng, cơ thể khỏe mạnh, ít ốm đau bệnh tật và được quý nhân phù trợ. Nếu người này nỗ lực và kiên trì tới cùng, nhất định sẽ đạt được thành công như mong đợi. 6. Mắt nhỏ và sâu
Phần lớn người có đôi mắt nhỏ và sâu rất ít tham vọng, đường công danh sự nghiệp khá thuận lợi nhưng lại không có tư tưởng tiến bộ nên dễ bị tụt hậu, không bắt kịp xu hướng thời đại. Do đó, tài vận của người này chỉ ở mức trung bình. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Quỳnh Mai (##)
Hiện tượng: Vào cửa nhìn thấy phòng bếp, chúng ta vừa bước từ ngoài vào trong nhà là có thể nhìn thấy ngay phòng bếp. Từ bố cục trong nhà mà nói, bố cục này không thích hợp, bởi vì như vậy sẽ làm phân tán khả năng tập trung chú ý của người nấu bếp kh
Hiện tượng: Vào cửa nhìn thấy phòng bếp, chúng ta vừa bước từ ngoài vào trong nhà là có thể nhìn thấy ngay phòng bếp. Từ bố cục trong nhà mà nói, bố cục này không thích hợp, bởi vì như vậy sẽ làm phân tán khả năng tập trung chú ý của người nấu bếp khi đang nấu thức ăn ngoài ra còn làm tổn hại đến sức khỏe con người, thậm chí còn có thể dẫn đến sự cố hỏa hoạn.
Phương pháp hóa giải: Sau cửa có thể đặt một bức binh phong không trong suốt đẻ hóa giải. Phương pháp hóa giải triệt để nhất là thay đối vị trí cửa phòng bếp. cố gắng không để nó đối với cửa chính.
Điều nên biết:
Trong nhà đặt hồ lô đồng có các công hiệu sau: 1. hóa giải lương sát (sát khi của dầm, xà nhà): như trong nhà có dầm ngang ép giường, dầm ngang ép bếp, hoặc các lương sát khác phát sinh đều có thề treo hồ lô đồng đển hai đầu dầm ngang đế hóa giải.
Lường sát; 2. Hồ lô có tác dụng (thu khí tàng khí. có thể dùng hồ lô để thu nạp uế sát khí. để cài thiện tình trạng bất lợi của khí trường trong nhà; 3. hóa giải bách bệnh: nếu bạn bị bệnh đã nhiều năm cũng có thể là do vấn đề khí trường gây nên, lúc này trước cửa phòng ngủ hoặc đầu giường ngủ đặt một chiếc hồ lô đồng để thu nạp uế sát khí; 4. Có thể đặt một quả hồ lô đồng trong xe ô tô để cầu đi đường bình an.
Bức tranh tử vi toàn cảnh của người tuổi Mùi năm 2015 không có nhiều khởi sắc, trong đó đáng lưu tâm nhất là chuyện tình duyên. Con giáp này luôn bị mang tiếng với danh “háo sắc”, cho nên mọi người thường nghĩ người như vậy không đáng tin cậy để trao gửi tình cảm. Đó cũng là lý do phần nào cho thấy công cuộc tìm kiếm một nửa đích thực của họ khó khăn hơn những con giáp khác.
Tuy nhiên, trên thực tế, tính lãng tử, hơi thiếu thực tế mới là nguyên nhân dẫn tới chuyện lận đận trong tình duyên của họ. Khi đã yêu, họ không thể tập trung đầu óc vào bất kỳ việc gì, mà luôn để “tâm hồn treo ngược cành cây”. Họ để con tim lấn lướt lý trí quá nhiều. Điều này làm giảm lòng tin, sự mong chờ vào một bờ vai vững chắc của đối phương.
No2: Tuổi Thìn
Số đào hoa của người tuổi Thìn rất hưng vượng trong năm tới. Tuy nhiên, lợi thế đó lại tỷ lệ nghịch với sự bền chặt trong tình yêu của con giáp này. Vốn bản tính phóng khoáng, hòa đồng nên người tuổi Thìn không muốn mất lòng bất kỳ ai. Vậy nên, nếu được ai đó dành tình cảm, họ sẽ thể hiện thái độ lập lờ như một câu trả lời bỏ ngỏ để người kia nuôi hy vọng.
Lâu dần, số lượng câu trả lời bỏ ngỏ ấy càng nhiều hơn, đồng nghĩa người yêu của họ phải suy nghĩ, nảy sinh nghi ngờ về tình cảm chân thành của con giáp này. Thật may mắn là đến nửa cuối năm Ất Mùi, tình yêu của người tuổi Thìn dần ổn định, đi vào quỹ đạo, gắn kết khăng khít hơn.
No3: Tuổi Sửu
Người tuổi Sửu không bồng bột như tuổi Thìn, không lãng mạn như tuổi Mùi, mà họ luôn chín chắn trong mọi quyết định của tình duyên. Điều đáng nói là suy nghĩ quá người lớn, quá cầu toàn khiến cho họ gặp cản trở trong tình duyên.
Để “ưng mắt” một ai đó, người tuổi Sửu phải suy xét nhiều yếu tố, như hoàn cảnh gia đình, công việc, các mối quan hệ, tương lai sau này.... Vậy nên, việc người tuổi Sửu có người yêu chẳng khác nào bạn trúng số độc đắc. Chưa hết, việc quá cầu toàn còn khiến cho cách yêu, bày tỏ của con giáp này trở nên nhạt nhẽo, cứng nhắc. Chỉ khi thực sự tìm được một nửa hiểu được tính cách này của họ, tình yêu mới thực sự trở nên thăng hoa, đi đến một “happy ending”.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi.
Lâu lắm chúng tôi không có cơ hội về giảng cũng như nhắc nhở sự tu hành cho toàn thể chư Tăng Ni ở khu Đại Tòng Lâm. Hôm nay được ban tổ chức trường hạ Đại Tòng Lâm mời về thăm và nói chuyện với tất cả Tăng Ni và Phật tử nơi đây, tôi liền hoan hỉ chấp nhận.
Vì trước kia Hòa thượng Giám đốc và Phó giám đốc ở Ấn Quang, khi thành lập được khu Đại Tòng Lâm thì chúng tôi có mặt bên cạnh, vâng lời dạy của các ngài phụ giúp phần nào đối với cơ sở này. Giờ đây hai Hòa thượng đã theo Phật, chúng tôi những người còn sót lại tự nhiên cảm thấy bổn phận phải làm sao duy trì gìn giữ ngôi Đại Tòng Lâm này đúng như sở nguyện của hai Hòa thượng.
Tất cả những vị ở Đại Tòng Lâm, hoặc là trường Trung cấp, hoặc là trường Cao cấp, hoặc các Thiền viện do chúng tôi thành lập trong khu vực này đều là Tăng Ni chung của Đại Tòng Lâm, mà cũng là của Phật giáo Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng biệt được. Vì vậy khi cần, chúng tôi sẵn sàng đến để nhắc nhở Tăng Ni, Phật tử hiểu biết tu hành cho đúng với chánh pháp.
Mùa an cư này chư Tăng chư Ni về đây an cư là cơ hội tốt để Đại Tòng Lâm càng ngày càng phồn thịnh hơn, sự tu hành càng tinh tiến hơn, đó là điều hết sức quí báu. Vì vậy tôi nghĩ không thể nào chỉ nói suông, tán thán một cách tổng quát như vậy mà cần phải đi sâu vào vấn đề đạo lý, để cho Tăng Ni và tất cả quí vị nghe hiểu có kinh nghiệm thêm trên đường tu hành. Đó mới là điều quí giá. Vấn đề tôi nói hôm nay là hai vấn đề tối hệ trọng của những người tu Phật, đó là trí tuệ và từ bi.
Như chúng ta đã biết đạo Phật là đạo giác ngộ. Đức Phật ngồi thiền định dưới cội bồ-đề mà được giác ngộ. Ngài đi giáo hóa khắp nơi để truyền đạo giác ngộ này. Nhưng sao chúng ta không gọi là đạo giác ngộ mà gọi là đạo Phật. Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud là giác, dha là người. Người giác ngộ đi truyền bá đạo giác ngộ. Nhưng nếu giải nghĩa chữ Phật là giác ngộ thì sợ người ta hiểu lầm. Bởi có những người làm ăn bất chánh không lương thiện, khi có ai nhắc nhở dạy bảo, họ bỏ điều bất chánh trở thành người lương thiện thì người ta sẽ nói anh ấy đã giác ngộ rồi. Giác ngộ đó chỉ có nghĩa là bỏ cái xấu, cái dở để trở thành người tốt thôi. Nếu hiểu đạo Phật theo nghĩa giác ngộ như vậy thì đánh giá quá thấp đạo Phật, làm mất giá trị siêu thoát của đạo Phật. Bởi vậy trong nhà Phật để nguyên từ Phật.
Nói Phật chắc quí vị sẽ có nghi. Tại sao bây giờ chúng ta nói đức Phật mà hồi xưa ông bà tổ tiên chúng ta lại nói là Bụt. Như vậy nói Bụt trúng hay nói Phật trúng? Từ Bụt cho chúng ta thấy đạo Phật được trực tiếp truyền vào Việt Nam từ những vị Sư Ấn Độ. Ngày xưa ở miền Bắc vùng Luy Lâu rất phồn thịnh, các sư người Ấn theo tàu buôn đến đó truyền bá. Các ngài trực tiếp dạy người dân biết đạo Phật, và đức Phật được gọi là Bụt. Bụt nguyên là Bud, đọc trại đi một tí thành Bụt. Đọc Bụt nghe gần hơn, còn đọc Phật nghe xa quá. Vậy đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam gốc từ người Ấn truyền sang, chớ không phải từ Trung Hoa truyền sang buổi đầu.
Tại sao bây giờ chúng ta đọc là Phật? Ở Trung Hoa từ đời Tống đến đời Minh có in những Tạng kinh dịch từ chữ Phạn, chữ Pali ra chữ Hán rồi tặng cho Việt Nam. Đời Trần được tặng một Tạng kinh và sau này chúng ta cũng có thỉnh thêm những Tạng kinh từ Trung Hoa. Chữ Buddha người Trung Hoa dịch gồm một bên chữ nhân đứng, một bên chữ phất. Như vậy Phật là phát sanh từ chữ Hán mà ta đọc theo âm Việt Nam là Phật hay Phật-đà.
Nói đến đạo Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn tuyệt cùng, chớ không phải sự giác ngộ thông thường của thế gian, vì e người ta hiểu lầm nên để nguyên âm là Phật, chớ không nói là giác ngộ. Giờ đây chúng ta học Phật phải dùng những từ gần thời hiện tại như giác ngộ, trí tuệ để dễ thâm nhập hơn.
Vì vậy chúng ta phải hiểu tường tận gốc của đạo Phật là giác ngộ viên mãn. Nên người tu Phật lúc nào cũng phải thuộc lòng Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nói đến Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn, tức giác ngộ tròn đầy không thiếu khuyết một góc cạnh nào.
Chúng ta học Phật, tu Phật là tu theo đạo giác ngộ. Mà đạo giác ngộ dĩ nhiên trí tuệ là căn bản không thể nào thiếu được. Người tu theo Phật dù xuất gia hay tại gia cũng phải mở sáng con mắt trí tuệ.
Chúng ta hãy xét lại xem từ ngày phát tâm tu theo Phật đến giờ đã mở sáng trí tuệ được nhiều hay ít? Có người khi nghe đến trí tuệ dường như sợ nên thường xưng Ngu tăng hay Phàm tăng như để nói lên sự khiêm nhường, họ ít nói đến sự giác ngộ.
Mà chưa giác ngộ thì chưa phải tu theo đạo Phật. Ở đây, tôi không nói đến giác ngộ mà chỉ nói trí tuệ. Bởi vì trí tuệ mở màn cho giác ngộ cứu kính.
Chúng ta nhớ lời Phật dạy, người tu phải tự giác và giác tha. Tự giác là mở sáng trí tuệ của mình.
Giác tha là đem trí tuệ đó đánh thức, cảnh tỉnh mọi người cùng giác ngộ. Tự giác là việc của mình. Giác tha là giúp cho người. Giúp cho người là lòng từ bi. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi. Chưa giác ngộ mà nói đến từ bi, chỉ là từ bi gượng thôi.
Nếu một vị Tăng đã thấy bổn phận mình phải truyền bá chánh pháp, phải thực hành hạnh từ bi mà không chịu tu, không thức tỉnh, không chịu giác ngộ thì chẳng biết vị ấy sẽ thực hành hạnh từ bi bằng cách nào? Chẳng lẽ chúng ta đi đắp đất, cuốc đường hay hốt rác cho thiên hạ. Từ bi như vậy người phàm tục cũng làm được mà. Vậy từ bi trong đạo Phật là thế nào? Tôi sẽ nói rõ hơn vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ trở lại phần trí tuệ. Trí tuệ mà Phật dạy cho Tăng Ni là ba môn tuệ học: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Văn tuệ là như thế nào? Chúng ta đến với đạo, tự mình làm sao giác được. Nên phải nhờ những người đi trước như bậc thầy, các hàng Tôn túc đã tu, đã học, đã mở được đôi phần trí tuệ hướng dẫn, chỉ dạy cho chúng ta từ từ mở con mắt trí tuệ. Nhờ lắng nghe những lời chỉ dẫn, giảng dạy ấy mà chúng ta mở được con mắt trí tuệ của mình là Văn tuệ. Người tu cất thất ở riêng, không học hành gì hết chắc chắn sẽ không có Văn tuệ. Không có Văn tuệ mà tu thì chỉ là tu mù. Những người tu này khi chỉ dạy cho kẻ khác thì cũng chỉ dạy một cách mù quáng mà thôi. Trong kinh Phật nói: “Một người mù dẫn một đám mù, người mù đi trước sụp hầm, những kẻ mù theo sau cũng té xuống hầm luôn.” Người học Phật mà thiếu Văn tuệ không thể được.
Trong kinh A-hàm Phật dạy: Người cư sĩ đến chùa đầu tiên phải gặp Tăng Ni. Gặp Tăng Ni để thưa hỏi Phật pháp chớ không phải để cúng cầu an cầu siêu, như vậy là Văn tuệ. Sau khi nghe chư Tăng Ni dạy Phật pháp rồi phải suy gẫm lời thầy dạy có đúng với kinh Phật không, có đúng với lẽ thật chân lý không? Nếu đúng mới tin, còn dạy sai dạy lầm thì không tin. Cho nên Tư tuệ hết sức thiết yếu. Sau khi suy tư nghiệm thấy đúng kinh Phật, đúng chân lý rồi mới tu. Phật dạy cư sĩ còn như vậy huống là tu sĩ xuất gia mà lại thiếu Văn, Tư, Tu. Thế mà có nhiều tu sĩ cứ tự tu không cần học với ai cả thì thật sự hết sức sai lầm.
Tư tuệ là như thế nào? Phật dạy chúng ta nghe rồi phải suy gẫm, suy gẫm đó chính là tư duy, phải là chánh tư duy. Nếu nghe dạy chúng ta tin mà không hiểu, thì tin đó chưa phải là chánh. Cần phải suy gẫm cho đúng, hiểu cho đúng mới gọi là chánh.
Hồi xưa lúc còn làm Tăng sinh, tôi cũng học như quí vị. Những gì tôi không hiểu thì tôi hay nghi, nghi thì phải tra tìm. Những năm Sơ đẳng, tôi học lý nhân quả luân hồi kỹ lắm, nhưng khi học cổ sử Ấn Độ tôi thấy lý nghiệp báo luân hồi không phải mới có từ thời đức Phật, mà đã có từ thời Áo nghĩa thư của Ấn Độ, tức trước Phật cả mấy trăm năm. Biết được vậy tôi rất buồn, tôi nghĩ Phật đã giác ngộ rồi sao không lựa điều gì mới, mà lại lấy cái cũ của người ta đem ra dạy mình.
Có lần tôi đọc cuốn sách của một số học giả phê bình rằng: “Đạo Phật ăn cắp lý nghiệp báo của Áo nghĩa thư làm của mình.” Đọc đến đó tôi thấy xót quá, khó chịu quá. Đức Phật của mình sao lôi thôi vậy, của người ăn cắp đem làm của mình thì thật là buồn. Lâu nay chúng ta tin rằng đức Phật giác ngộ viên mãn thì những gì Phật dạy đều từ trí tuệ giác ngộ của Ngài lưu xuất. Thế sao lại ăn cắp của người ta đem làm của mình, tôi không bằng lòng như vậy.
Khi lên Trung đẳng, rồi Cao đẳng tôi đã tra hết các bộ kinh A-hàm trong Hán tạng. Đọc một lần chưa thấm, đọc hai lần rồi ba lần, tôi có nguồn an ủi. Trong một bài kinh đức Phật dạy: “Khi Ngài chứng được Thiên nhãn minh rồi, nhìn lại thấy chúng sanh bị nghiệp dẫn luân hồi sanh tử giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi đường này, người đi đường kia một cách rõ ràng không nghi.” Như vậy sở dĩ Phật nói luân hồi nhân quả hay nghiệp dẫn luân hồi là Ngài thấy rõ ràng, chớ không phải ăn cắp như người ta nói xấu.
Rồi lần lần tôi lại thấy ra, trong Áo nghĩa thư có nói về nghiệp báo luân hồi nhưng chưa phân tích rõ ràng. Nên khi đạo Bà-la-môn kế thừa tinh thần của Áo nghĩa thư, mới đặt ra bốn giai cấp. Trong đó Bà-la-môn được sanh ra từ đầu của Phạm Thiên nên được kính trọng nhất, còn các giai cấp khác được sanh từ ngực, từ bụng, từ bàn chân nên không được kính trọng bằng. Sự phân chia giai cấp này khiến người dân càng khổ, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, dù họ nói nghiệp báo luân hồi nhưng phải nhờ các vị Bà-la-môn cầu cúng thì mới hết nghiệp hết tội. Hoặc phải mở những hội tế đàn nào là trâu, dê cúng cho nhiều thì mới hết tội. Cả hai điều này đều bị Phật bác hết. Về mặt giai cấp, Phật bảo không có giai cấp khi mọi người máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau, nên mọi người đều bình đẳng.
Kinh kể hôm nọ Phật ở trong rừng với đệ tử, một số thầy Bà-la-môn đến hỏi Phật:
– Thưa ngài Cù-đàm, đệ tử Ngài chết Ngài cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Phật không trả lời mà chỉ hỏi lại:
– Đệ tử các ông chết các ông cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Các vị Bà-la-môn đáp:
– Được.
Lúc đó Phật nói thí dụ:
– Như nơi một giếng sâu, có người ôm cục đá bỏ xuống giếng rồi nhờ các ngài cầu cho nó nổi, đừng chìm được không?
Các vị Bà-la-môn đều lắc đầu, Phật hỏi tiếp:
– Có người cầm chai dầu đổ xuống giếng, rồi nhờ các ngài cầu cho dầu chìm xuống đáy giếng được không?
Các vị Bà-la-môn cũng lắc đầu, Phật nói:
– Cũng vậy, người làm nghiệp lành sẽ sanh cõi lành giống như dầu nhẹ nổi lên, dầu các vị có ác ý cầu cho xuống địa ngục họ cũng không xuống. Ngược lại người làm dữ phải đi xuống giống như đá, dầu các vị có thiện cảm chấp tay cầu nguyện cũng không nổi lên được.
Vậy đức Phật chấp nhận cầu nguyện hay chấp nhận nghiệp? Nghiệp lành, nghiệp dữ đưa mình lên hoặc lôi mình xuống, chớ không phải cầu nguyện mà được lên hoặc xuống. Đức Phật thấy rõ về nghiệp, cho nên Ngài biết manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi lành, manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi dữ.
Trong nhà Phật dạy chúng ta có Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa là sanh trở lại làm người, Phật dạy tu giữ năm giới. Năm giới nếu giữ toàn vẹn bảo đảm người đó đời này làm người, đời sau chết trở lại làm người. Tu Thập thiện, sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời. Mỗi một nhân đưa tới một quả, Phật thấy tường tận rõ ràng như thế. Còn Áo nghĩa thư của Bà-la-môn giáo nói nghiệp báo không phân biệt rành rõ, chưa biết cái gì nhân cái gì quả nên chưa thấu đáo. Do đó nên biết Phật nói nghiệp, nói luân hồi là vì Ngài thấy tường tận, chớ không phải ăn cắp của người làm của mình. Khi thấy rõ như vậy, tôi không còn nghi, không còn mặc cảm nữa.
Đức Phật rất khoa học, từ thời Áo nghĩa thư đã có thuyết nghiệp, luân hồi. Sau Ngài tu thấy điều đó đúng nên cũng thừa nhận. Nhưng khác hơn là Ngài vạch rõ từng phần chi tiết, thế nào là nhân, thế nào là quả, Ngài phân tích rành cho chúng ta. Đó là tinh thần khoa học chớ không phải học lóm. Từ đó về sau tôi mới hài lòng, đức Phật không phải dở như người ta nói.
Nói về lý nghiệp báo luân hồi, sau khi suy tư kỹ càng, tôi thấy đó là một chân lý không chối cãi được. Ai có nói gì cũng không lay chuyển được tôi, vì đó là một sự thật. Tại sao tôi tin như vậy? Bởi kinh nghiệm từ những việc bên ngoài, cho tới bản thân mình tôi thấy rõ như vậy.
Luân hồi là gì? Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn. Bánh xe xoay tròn lên xuống, lên xuống cứ đảo đi lộn lại hoài. Đối với ngoại vật, chúng ta đặt câu hỏi trái đất có xoay tròn không? Trái đất cứ xoay tròn, xoay tròn, vậy nên trái đất luân hồi. Đến con người, chúng ta thấy máu từ tim chạy ra các mạch, rồi từ các mạch trở về tim, cứ như vậy đảo đi lộn lại hoài, đó là luân hồi. Rõ ràng con người đang luân hồi, quả đất đang luân hồi, vậy chết có luân hồi không? Tôi nói hai phần:
1- Vật chất: Thân chúng ta gồm tứ đại tức bốn chất đất, nước, gió, lửa hợp thành. Những gì là đất? Tóc, lông, gân, móng, da, thịt, răng, xương… những thứ cứng là đất. Những gì là nước? Mồ hôi, máu mủ tức chất ướt là nước. Những gì là gió? Hơi thở vào ra, vào ra là gió. Những gì là lửa? Hơi ấm trong người là lửa, cầm hai tay chà một hồi ấm lên, đó là phát ra lửa.
Đất nước gió lửa sẵn trong con người chúng ta, khi chết bốn thứ đó đi đâu? Nhẹ nhất là hơi thở, lúc sống hít vô trả ra, khi trả ra mà không hít lại là chết. Vậy chúng ta trả ra chớ không phải hết, không phải mất. Thứ hai là hơi ấm trong người, chúng ta chết rồi nó cũng tan vào hư không, theo luồng hơi ấm trong nắng trong lửa, trở về với lửa. Đến đất, nước khi chết thân này nứt nẻ nước tuôn ra, rồi tới đất rã. Nước theo mạch chảy đi khắp nơi cũng không mất, đất cũng trả về đất không mất. Như vậy tứ đại mất đi chỉ mất cái giả tướng duyên hợp, chớ bản chất nó đâu có mất.
2- Tinh thần: Tứ đại không mất thì tinh thần có mất được không? Tinh thần đi theo nghiệp duyên của nó. Ví dụ nước từ thể lỏng đổ vào trong nồi nấu, nước sôi bốc hơi rồi cạn. Nước cạn người ta nói hết nước, nhưng thật ra nước bốc thành hơi bay lên, gặp lạnh đọng lại thành nước rơi trở xuống. Hoặc lấy một ly nước để trong tủ lạnh thì nó sẽ đặc thành thể cứng. Như vậy nước không mất mà có thể chuyển biến từ thể lỏng thành hơi hoặc thể rắn. Nước để ở nhiệt độ vừa chừng, không nóng quá, không lạnh quá thì nước còn hoài.
Cũng vậy người tu có duyên lành nhiều, nghiệp lành nhiều khi nhắm mắt sẽ đưa tới cõi lành, tức lên. Ngược lại nghiệp dữ nhiều sẽ đưa tới chỗ dữ, tức xuống. Nếu tư cách con người tốt, vị lai trở lại làm người, như nước giữ quân bình không lạnh nóng thì ở thể lỏng hoài. Phật dạy Nhân thừa là do giữ đúng năm giới nên đời này làm người đời sau cũng được làm người. Như nước y nguyên nhiệt độ đừng cao đừng thấp thì bao nhiêu nước còn nguyên bấy nhiêu. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ gì.
Chúng ta khi ra đời còn trẻ, đáng lẽ ham danh lợi tài sắc ở thế gian, nhưng tại sao lại ham tu? Như vậy do trong nghiệp từ quá khứ của chúng ta còn lưu lại. Như tôi khi chưa đi tu, mỗi lần qua chùa nghe tiếng chuông, thấy xôn xao trong lòng quá. Cái gì làm cho mình bất an, nếu không phải là chủng tử trước kia?
Mỗi khi chúng ta ra đời, nghiệp từ quá khứ còn lưu lại trong con người hiện tại chớ không phải mất. Nếu chúng ta nhìn vào một lớp học thì biết rõ sự sai biệt, người giỏi về văn, người giỏi về toán v.v… Thầy cô dạy như nhau nhưng điểm riêng biệt của mỗi học trò lại khác. Điểm đó ở đâu ra? Chẳng qua chủng tử từ quá khứ còn lưu lại nơi mỗi người, nên không ai giống ai. Nếu nói do thầy cô dạy mới biết, thì tại sao không biết như nhau mà lại có sự sai lệch. Rõ ràng do chủng tử từ quá khứ chớ không phải ngẫu nhiên. Như những vị thần đồng chưa học mà đã biết, đâu do ai dạy. Đó là chủng tử quá khứ còn nguyên vẹn chưa mất nên ra đời nhớ lại liền. Vậy luân hồi là một lẽ thật, không phải là một nghi vấn nữa.
Khi học Phật, chúng ta cần phải suy tư, chớ không chỉ nghe bao nhiêu biết bao nhiêu thôi. Phải tìm, phải gẫm cho tới nơi tới chốn, như vậy chúng ta mới đủ lòng tin Phật. Do đó Tư tuệ là một điều hết sức thiết yếu.
Tu tuệ là như thế nào? Tư chí lý rồi đến tu rất dễ, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhờ nghe hiểu, suy gẫm và biết cách ứng dụng những pháp mình đã học được vào đời sống tu hành, thấy có lợi ích. Đây chính là Tu tuệ. Ba vấn đề Văn, Tư, Tu đều là trí tuệ. Trí tuệ từ thầy ban cho, trí tuệ do mình suy gẫm, trí tuệ do mình cố gắng thực hành, cho nên ba Tuệ học ấy không thể thiếu được.
Nhà Phật nói trí tuệ có hai phần: Một là Hữu sư trí, tức trí học nơi thầy như Văn Tư Tu. Hai là Vô sư trí, tức trí sẵn có của mình, không do học. Đó là Tam vô lậu học, tức ba môn học giải thoát Giới, Định, Tuệ. Giới là đức hạnh, Định là thiền định, Tuệ là trí tuệ. Nhờ giữ được giới nên thiền định không bị xao xuyến. Vì vậy giới trước rồi định sau. Nhờ thiền định nên Trí vô sư phát sanh là tuệ.
Tại sao thiền định được Trí vô sư? Khi thiền không nghĩ gì cả nên được định, được định nên trí sáng giác ngộ, đó là trí không thầy. Trong kinh có kể lại: Đức Phật sau khi thành Phật rồi, Ngài tuyên bố ta học đạo không thầy. Bởi vì bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề Ngài không học với ai cả, mà nhờ định nên được giác ngộ. Vì vậy nói Ngài học đạo không có thầy.
Phật giác ngộ viên mãn Trí vô sư, ngày nay chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử cũng phải đi tới Trí vô sư đó, nên nói Giới, Định, Tuệ là ba pháp môn tu được giải thoát. Chữ Vô lậu là không còn rơi, không còn rớt lại Tam giới nên gọi là giải thoát sanh tử. Như vậy người học Phật phải đủ trí tuệ, từ Hữu sư trí rồi tiến tới Vô sư trí. Hữu sư trí là nhờ học, Vô sư trí là nhờ tu. Đó là hai phần hết sức rõ ràng.
Điều hệ trọng thứ hai là từ bi. Bởi vì chúng ta không có quyền nghĩ mình tu để hưởng an lạc một mình. Tại sao? Đức Phật ngày xưa chủ trương đi khất thực là vì sao? Khất thực tức là gieo duyên với chúng sanh. Tôi nói là lãnh nợ của chúng sanh. Nếu chúng ta tu mà đối với mọi người không có liên hệ, không trao qua đổi lại thì không có gì dính dáng. Mà không có dính dáng thì giáo hóa họ không được, nên Phật dạy tu sĩ phải nhận của đàn-na thí chủ cúng dường. Có những thí chủ rất nghèo cúng dường nhưng chúng ta cũng phải nhận. Nhận để chi? Để người đó gởi mình, mình nhận nợ.
Nên từ gieo duyên là nói cho đẹp, thật ra chúng ta nhận nợ. Có nợ thì mới gặp lại để đền trả.
Trả nợ có hai cách:
Nếu chúng ta không tu không đủ phước đức thì phải mang lông đội sừng để trả nợ. Nếu chúng ta tu hành có đủ phước đức thì trả bằng cách làm thầy. Bây giờ tôi cũng đang trả nợ đó. Bởi vì chúng ta đều có duyên có nợ với nhau nên mới gặp nhau, còn không duyên không nợ thì không gặp. Gặp để chúng ta giáo hóa, chúng ta chỉ dạy người có duyên với mình. Vì vậy người tu đều phải phát tâm từ bi nhận tất cả những gì của Phật tử gởi gấm. Không phải nhận vì ích kỷ, mà nhận để có duyên hay có chút nợ nần với nhau, hầu giáo hóa giúp đỡ trên đường đạo.
Người xuất gia do Phật tử ủng hộ, nếu hiểu đạo rồi lo tu cho giải thoát, về Cực lạc, bỏ mọi người ở lại ra sao thì ra, như vậy có hơi nhẫn tâm không? Mình tu giải thoát nhập Niết-bàn không bao giờ trở lại nữa, những người cúng cho mình thấy chúng ta nhập Niết-bàn, bỏ họ bơ vơ buồn khổ, thật tội nghiệp cho họ. Vì vậy với tinh thần Phật giáo Đại thừa, người tu không nỡ nhập Niết-bàn liền, mà phải đi đi lại lại trong cõi thế gian này để giáo hóa, để trả nợ. Đến chừng nào thí chủ của chúng ta hiểu được tu tập được, mình mới yên.
Thí dụ như trong Tứ quả Thanh văn, chúng ta được quả thứ ba là A-na-hàm, thì ít ra đệ tử của mình cũng được quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Nếu mình tới Bồ-tát Thập trụ, thì đệ tử cũng tới Thập tín mới được. Khi tu thiên hạ nuôi, đến thành tựu chúng ta lại hưởng một mình, như vậy có buồn không? Giả sử tôi là quí Phật tử, tôi cũng không chấp nhận điều đó nữa. Quí thầy ăn gian quá đâu được. Vậy mà có người tha thiết tu một đời này để về Cực lạc cho rồi, ở đây khổ quá. Về bên đó vui có một mình, bỏ người ta ở đây khổ, ai mà đành lòng. Thôi thì cùng ở với nhau nhưng ở trong sự tỉnh giác chớ không phải trong cái mê mờ, nhớ như vậy.
Tinh thần từ bi của đạo Phật dạy chúng ta phải làm sao đem lại cho mọi người ánh sáng đạo lý, để cho họ biết được lẽ chân thật, không tạo những điều đau khổ, luôn luôn tiến tới chỗ an vui. Lòng từ bi chúng ta không thể nói suông mà phải được thể hiện cụ thể. Muốn thể hiện lòng từ bi chúng ta phải thực hành hạnh bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy. Phải đem của cải, hoặc đem chánh pháp mình hiểu hoặc đem sự tốt lành cao quí an ủi người đau khổ. Đó mới thể hiện lòng từ bi.
Bố thí tài phần lớn dành cho cư sĩ Phật tử vì họ làm ra tiền. Họ mới có điều kiện giúp đỡ người nghèo khổ. Còn các sư có làm ra xu con nào đâu? Nếu có chăng cũng ăn mày của đàn-na thí chủ chớ đâu phải tự mình có tiền lương mỗi tháng. Hàng Phật tử cũng có người làm ra tiền của, có người nghèo cháy da, vậy làm sao bố thí? Nên Phật dạy tài thí có hai phần ngoại tài và nội tài.
Người Phật tử muốn thể hiện lòng từ bi mà không có tiền bạc giúp cho người nghèo đói thì đem công sức của mình ra giúp. Người có tiền tới chùa cúng, người không tiền vào chùa làm công quả. Người có tiền cho tiền, người không tiền ra công đi ủy lạo, khuân vác cũng là bố thí. Nên hiểu có tiền mới bố thí được là lầm. Đem của bố thí là ngoại tài, đem công bố thí là nội tài, như vậy có ai không làm được hạnh bố thí đâu.
Bố thí pháp là phần của Tăng Ni. Tăng Ni tu thấy được cái hay, cái cao quí của Phật pháp, đem sự hiểu biết đó ban rải cho Phật tử cùng biết cùng hiểu như mình. Đem pháp mình đã tu học được, chỉ dạy cho người khác gọi là bố thí pháp.
Bố thí tài, bố thí pháp cái nào tốt hơn? Bố thí tài chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí pháp chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.
Ví dụ chú đạp xích lô có một vợ hai con, mỗi ngày chạy xe kiếm được hai ba chục ngàn nuôi vợ nuôi con. Nhưng nếu chiều vô quán nhậu hết thì vợ con đói khổ. Người hàng xóm thấy thương, đem ít lít gạo lại cho, đó là bố thí tài. Rồi mai chú đạp xe có tiền cũng nhậu hết như vậy thì sao, cho đến chừng nào mới đủ, chừng nào gia đình mới ấm no. Bây giờ có một thầy, một cô nào đó sáng suốt tới khuyên chú, nói với chú uống rượu có hại gì, bệnh hoạn ra sao, rồi vì uống rượu mà không đủ tiền nuôi vợ con, làm vợ con đói khổ. Chú nghe hiểu, thức tỉnh bỏ rượu. Như vậy chúng ta chỉ nói chuyện một giờ, nửa giờ mà chú thức tỉnh bỏ rượu. Từ đó làm được bao nhiêu tiền chú đem về nuôi vợ con. Như vậy bố thí pháp không có cạn hết. Chỉ dùng lời nói, lý lẽ chân thật khuyên chỉ người, khi người tỉnh ngộ rồi gia đình hết khổ. Còn nếu cho tiền cho cơm hằng ngày, thì họ chỉ hết khổ tạm rồi mai mốt sẽ khổ nữa. Như vậy cái nào hơn?
Có kẻ cho rằng người tu Phật tiêu cực quá, nhất là Tăng Ni không chịu làm phước, làm việc xã hội, cứ đi nói pháp hoài. Những người tích cực làm việc này, việc kia giúp cho đồng bào rất dễ thấy, còn người nói pháp xem như không có lợi ích gì. Nhưng thật tình việc này lợi rất lớn. Nên trong hai thứ bố thí: bố thí tài và bố thí pháp thì bố thí pháp là hơn.
Bố thí pháp là đem lòng từ bi của mình chỉ dạy nhắc nhở mọi người biết tu, chỉ dạy nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Giả sử tôi có mười ngàn đồng muốn đem bố thí, nếu tôi cho mỗi người một ngàn đồng, thì cho mười người là hết. Còn tôi bố thí pháp thì có một trăm người, tôi cũng bố thí trọn đủ hết. Vậy bố thí pháp là bất tận. Chúng ta học đạo phải học cái bất tận, còn những việc có chừng mực, có giới hạn chúng ta làm một phần nhỏ thôi, gốc là phải bố thí pháp. Muốn bố thí pháp, chúng ta phải có học có tu và có lòng từ bi. Vì vậy từ bi sau trí tuệ. Hai việc đó không tách rời nhau.
Bố thí vô úy là sao? Vô úy là không sợ. Chúng ta mang tới cho người niềm an ổn không sợ hãi. Không sợ này có nhiều thứ: Sợ ma, sợ rắn, sợ cọp… đủ thứ sợ.
Thí dụ đối với người sợ ma, chúng ta muốn cho họ khỏi sợ, phải giải thích cho họ hiểu ma không đáng sợ. Phật dạy trong lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời, thì ngạ quỉ là loại quỉ đói đứng thứ hai, người cao hơn ngạ quỉ hai cấp. Mình cao hơn nó mà lại sợ nó thì vô lý quá. Chẳng lẽ ông Tỉnh trưởng lại sợ người dân, người lại sợ ma thì thật ngu khờ. Giải thích cho người biết và hết sợ đó là bố thí vô úy.
Như có người sợ chết, chúng ta phải giảng giải cho họ hiểu chết là một lẽ đương nhiên thôi, ai rồi cũng phải chết. Phật chết, Bồ-tát chết, chư Thánh tăng chết, Phàm tăng, Phàm ni chết, cư sĩ chết. Đó là chuyện thường, phải chi có người không chết thì mình sợ, ai cũng chết hết thì có chi mà sợ. Giải thích có căn bản cho người ta hiểu, hiểu rồi thì không sợ. Đó là bố thí vô úy. Như vậy, bố thí pháp trùm cả bố thí chánh pháp và bố thí vô úy luôn.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi. Đó là điều không hợp lý. Nhập thất tu để sáng đạo thì được, nhưng cũng phải đi giáo hóa, chớ không được đóng cửa suốt đời.
Hồi xưa học luật, Phật dạy thầy Tỳ-kheo không nên đi dép da vì làm tổn thương lòng từ bi. Nhưng khi thấy Bồ-tát Văn-thù cỡi sư tử, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi… tôi sanh ra thắc mắc. Tại sao các Ngài không đứng trên cụm mây thôi được rồi. Lại cỡi sư tử cỡi voi, như vậy các Ngài có từ bi không? Sau khi tra cứu hiểu ra rồi tôi mới thấy có lý. Vì đức Phật Thích-ca là vị Giáo chủ cõi Ta-bà, mà dân cõi Ta-bà này thì cang cường nan điều nan phục. Muốn điều phục được phải có trí tuệ vượt bực, nên vị Bồ-tát phụ tá thứ nhất cho đức Phật là Văn-thù.
Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí. Ngài ngồi trên lưng sư tử để biểu trưng rằng chỉ có trí tuệ mới hàng phục được ma quân, chỉ có trí tuệ mới giáo hóa được chúng sanh cang cường này. Đó là ý nghĩa hết sức thâm trầm. Song vì chúng sanh cõi này cứng đầu quá, dùng trí tuệ dạy họ, rồi ít bữa cũng trở lại y cũ, thì làm sao đây. Vì vậy phải có đại nguyện đại hạnh, cho nên bên trái của đức Phật vị Bồ-tát phụ tá thứ hai là Phổ Hiền cỡi voi. Vì hạnh lớn mạnh nên tượng trưng cho voi. Voi sáu ngà nghĩa là đem pháp giáo hóa chúng sanh không biết mệt mỏi. Như vậy các hình tượng ấy mang ý nghĩa đức Phật vào cõi Ta-bà giáo hóa phải có đủ trí tuệ vượt bực, hạnh nguyện to lớn mới giáo hóa được. Nếu không sẽ dễ thoái chuyển, dễ chán lắm.
Đức Phật Di-đà thì bên phải có Bồ-tát Quan Thế Âm, bên trái có Bồ-tát Đại Thế Chí. Đức Phật Di-đà ở cõi Cực lạc là chỗ sạch vui. Muốn sang Ta-bà là chỗ uế trược độ chúng sanh, phải có lòng từ bi tràn trề, nên tượng trưng cho Bồ-tát Quan Thế Âm. Vì chúng sanh khó độ nên chúng ta thấy vẽ tượng đức Phật Di-đà ở trên mây duỗi tay xuống, còn chúng sanh đang trồi hụp dưới biển mà không chịu trồi đầu lên đưa tay cho Phật vớt, cứ hụp lặn ở dưới hoài. Vì vậy muốn không thối tâm phải có đại chí tức là chí cứng rắn vững vàng. Dù cho nó khó, nó mê, nó đắm say ngũ dục cũng ráng chờ vớt nó lên. Nếu không có chí lớn thì chán lắm.
Thí dụ trong hoàn cảnh xã hội của chúng ta, có người khá giả thấy những đứa trẻ bụi đời lang thang ở góc phố này góc chợ kia muốn gom lại nuôi dạy. Từ một người giàu có, bây giờ cất trại về ở với mấy thằng nhỏ khó dạy như vậy thì phải hi sinh sự ổn định của mình, chấp nhận cảnh khổ. Do đó phải có lòng từ bi trước, lòng từ bi thật rộng lớn mới làm được việc đó. Mấy đứa nhỏ đem về dạy có dễ đâu. Nhiều khi nó muốn thoi lại mình nữa. Nó là dân bụi đời, mình thương muốn dạy dỗ nó, nhưng nó lại không biết gì, không mang ơn mà còn cự cãi với mình. Nếu không có ý chí vững bền sắt đá thì không thể nào làm được.
Nên tôi nhắc Tăng Ni phải có tâm biết thương những người chờ đợi mình, trông ngóng mình. Học rồi đem sự hiểu biết chánh pháp đó giáo hóa được năm bảy người, thì phước đức cũng lớn lắm. Do đó quí vị thấy trách nhiệm chúng ta không phải đơn giản. Không phải lo cho mình có địa vị cao, có chức tước lớn là hay. Mà phải làm sao thực tế đời mình đem lợi ích thiết thực cho Phật tử, cho mọi người. Đó mới là giá trị thật đáng quí. Mong tất cả Tăng Ni ở đây hãy nhớ lấy điều này, mà đem hết tâm nguyện phụng sự chúng sanh để đền ân chư Phật.
Khi cung Tài Bạch của bạn phát triển không tốt nhưng đường Thái Dương thì đường tiền tài của bạn cũng khả quan hơn.
1. Tiểu Khang
Đường Thái Dương của bạn kéo dài từ gốc ngón áp út xuống đến đường Tình Cảm có nghĩa cuộc sống của bạn đạt đến mức độ của Tiểu Khang (có xe, có nhà, có khoản tiền gửi nhất định). Nói chung là bạn có của ăn của để, tốt hơn những người bình thường và kém hơn so với những người giàu có.
2. Tiểu Phú
Muốn được coi là Tiểu Phú thì ngoài việc cung Tài Bạch đầy đặn phát triển ra, đường Thái Dương của bạn cũng phải dài hơn so với trường hợp trên. Đường Thái Dương bắt đầu từ gốc ngón áp út kéo dài xuống và còn phải cắt qua Tình Cảm, như vậy thì tài vận của bạn sẽ rất tốt, hoặc gặp được quý nhân tương trợ, có thể đạt đến mức độ Tiểu Phú. Những người này thường từ 31 tuổi trở đi, sẽ tiến đến đỉnh cao của sự nghiệp.
3. Trung Phú
Có hai trường hợp: Thứ nhất là đường Thái Dương giao với đường Tình cảm rồi uốn cong tại gò Hỏa Tinh Âm. Trường hợp thứ hai là đường Thái Dương sau khi gặp đường Tình Cảm tiếp tục kéo dài đến gò Thái Âm. Nếu gặp được cả hai trường hợp trên thì chứng tỏ bạn đứng ở tầng lớp Trung Phú, bạn sẽ có được rất nhiều của cải, tiền bạc.
4. Đại Phú
Trên thực tế người có số đại phú là rất ít, cho nên người có bàn tay như vậy cũng rất hiếm. Nếu đường thái dương từ gốc ngón áp út kéo dài thẳng xuống giao với đường sinh đạo hoặc gần với đường sinh đạo thì người này có số đại phú đại quý. Trường hợp này cực hiếm bởi không phải ai cũng có đường Thái Dương dài như vậy.
Kunie
Ngắm bàn tay, đoán tính cách
Bàn tay cũng là một bộ phận được các nhà nhân tướng học rất lưu ý khi đánh giá một con người.
Mùi là con giáp đứng thứ 8 trong 12 con giáp, bởi vậy, Mùi được coi là con giáp may mắn. Trong quan niệm của người Á Đông thì số 8 là con số của phát lộc, phát tài, tượng trưng cho triển vọng thịnh vượng.
Ảnh minh họa
Ngoài ra, giờ Mùi kéo dài từ 13-15h, là thời gian mở đầu của buổi chiều, con người vừa ăn trưa xong, đang thanh thản nghỉ ngơi và sung mãn bước vào buổi lao động mới. Vì vậy, quan niệm dân gian thường cho rằng người sinh năm Mùi có số hưởng an nhàn.Người tuổi Mùi nhìn chung phóng khoáng, rộng rãi, công bằng, tử tế và dễ động lòng trắc ẩn trước những bất hạnh của người khác. Tuổi này cũng luôn vui cười, sống chân thực và thân thiện với mọi người.Trong 12 con giáp, Mùi được xem là biểu tượng của tính ôn hòa, thuần hậu. Trẻ em tuổi Mùi thường hiền lành, ngoan ngoãn, dễ bảo, đôi khi còn có sự nhút nhát, bẽn lẽn đáng yêu, dễ tạo thiện cảm. Những nét tính cách này có thể theo cả tới khi đã trưởng thành bởi đây dường như là đặc trưng bản chất của người tuổi Mùi.Nếu đường đời được thuận lợi, người tuổi Mùi dễ có được vẻ phong nhã, thanh nhàn, nhưng nếu cuộc sống không được như ý, gặp nhiều vất vả, gian truân, thất bại, người tuổi Mùi lại trở nên rất bi lụy, ủy mị, chán chường.Người tuổi Mùi thường gặp nhiều may mắn? Người tuổi Mùi thường được kính trọng và nhận được nhiều sự ngưỡng mộ thì cách hành xử, đối nhân xử thế chân thành, ấm áp, thanh nhã. Họ luôn sống theo nguyên tắc tự do, phóng khoáng và đối xử với người khác bằng sự nhân hậu, khoan dung.Là người giỏi quán xuyến việc lớn nhỏ trong nhà, người tuổi Mùi bản tính lại rất yêu trẻ con và vật nuôi, nên rất phù hợp với đời sống gia đình. Dù tuổi Mùi có tính cách ưa sự nhẹ nhàng, hòa hảo, không thích tranh cãi, xung đột, nhưng họ không bao giờ khuất phục trước bất cứ một sự đè nén, chèn ép nào, không bao giờ có thể ép buộc người tuổi Mùi làm điều họ không muốn.Trong sáng và nhân hậu là nét tính cách cao quý của tuổi này, họ thường sẵn sàng giúp đỡ những người đang trong cơn hoạn nạn. Trong cuộc đời, người tuổi Mùi hiếm khi phải lo lắng về 3 điều thiết yếu trong đời sống, gồm cái ăn, cái mặc, nơi ở. Dù đi bất cứ đâu, người tuổi Mùi cũng dễ dàng kết bạn vì họ luôn đối xử với người xung quanh rất chân thành, trung thực.Những người sinh năm Mùi được cho là dễ có đời sống hôn nhân mãn nguyện, họ không chỉ được bạn đời yêu thương mà còn được họ hàng quý mến.Dân gian cho rằng tuổi Mùi sinh vào các mùa đều tốt, riêng mùa đông là vất vả hơn vì mùa đông ít có cỏ để ăn. Tuy vậy, thực tế là dù hoàn cảnh xung quanh có như thế nào, người tuổi Mùi cũng không cần quá lo bởi vận số tuổi này may mắn, dễ được quý nhân phù trợ, nhận được sự chủ động giúp đỡ từ những người xung quanh.Dù trong cảnh khốn cùng, người tuổi Mùi vẫn có thể xoay xở vượt qua nhờ vào sự giúp đỡ từ cha mẹ, họ hàng, bạn bè, xã hội… Nhìn chung, người sinh năm Mùi dễ dàng vượt khó khăn và thất bại bởi xung quanh họ luôn có sự trợ giúp từ những người thân quý.Tuổi Mùi chỉ thích làm những việc mà họ thực sự hứng thú, họ nhanh chóng nhận ra điều mình muốn theo đuổi trong cuộc đời một cách rất tự nhiên. Khi phải đối diện với những việc không muốn làm, người tuổi Mùi chẳng ngại ngần từ chối, nhưng họ không phải những con người sỗ sàng, thẳng tuột, mà ngược lại rất lịch sự, kiên nhẫn, dịu dàng để việc diễn ra vừa thuận lợi cho mình, vừa đẹp lòng cho người.Người tuổi Mùi không muốn để lộ suy nghĩ của mình ra ngoài cho người khác hiểu nên khó ai có thể hiểu hết những cảm xúc đang diễn ra trong nội tâm của họ. Thực tế tuổi Mùi rất giỏi dàn xếp tranh cãi, bất hòa và dễ tạo được không khí hòa thuận xung quanh. Người tuổi Mùi rất thích giao tiếp, những ai có thiện ý với họ đều được đối đãi tử tế.Người tuổi Mùi cũng không thích nói thẳng, vì vậy, đôi khi cách hành xử của họ có phần không thẳng thắn, trực diện, khiến người khác cảm thấy lòng vòng, rắc rối, bực mình. Nhưng đó là bản tính của tuổi này, đừng hy vọng họ xô bồ trong thái độ, cử chỉ và đặc biệt là ngôn từ.Những gì họ nói ra chỉ là một phần nhỏ của những gì họ nghĩ. Những ai muốn thực sự hiểu thấu người tuổi Mùi, cần phải kiên trì dành thời gian để hiểu từng chút một. Để khuyến khích người tuổi Mùi nói nhiều hơn nữa, người nghe hãy từ tốn gật đầu trong suốt cuộc trò chuyện để thể hiện sự đồng tình.Để biết được hết những suy nghĩ, cảm nhận của người tuổi Mùi có thể mất khá nhiều thời gian. Nhưng sâu xa đằng sau sự “lòng vòng”, không thích thẳng thắn, trực diện này, chính là vì người tuổi Mùi luôn biết chừa cho mình một đường lui.Vì tính cách mềm mỏng, hơi thiếu quả quyết nên người tuổi Mùi cần hợp tác với những người có tính cách mạnh mẽ, bởi chỉ có “kỷ luật thép”, người tuổi Mùi mới bớt sự thong dong, nhàn tản để bắt đầu tận dụng hết những khả năng của mình và làm việc thực sự chăm chỉ, hiệu quả.
Ảnh minh họa
Tuổi Mùi ưa sống trong môi trường quen thuộc, gắn bó rất mật thiết với gia đình, người tuổi Mùi quan trọng đồ ăn hợp khẩu vị, ngày sinh nhật và những dịp lễ Tết, kỷ niệm… Họ thường kỷ niệm những ngày trọng đại đối với đời sống cá nhân một cách khá rình rang, theo kiểu “thích thể hiện”, bởi thực sự họ rất quan trọng những dịp này. Họ có thể sẽ cảm thấy vô cùng thất vọng nếu người mà họ coi trọng lại quên mất ngày sinh nhật của họ.Dường như người tuổi Mùi mang trong mình nỗi buồn và sự đa cảm từ trong bản chất. Họ luôn nhìn thế giới một cách khá tiêu cực, vì vậy, họ cũng luôn mong những người xung quanh sẽ vực tinh thần họ dậy. Người tuổi này dễ bị lạc đường, dễ buồn bã, dễ đưa ra những lựa chọn sai khi đi mua sắm.Phụ nữ trẻ tuổi Mùi đặc biệt thích xuất hiện ấn tượng trong mắt mọi người. Họ có niềm ham thích đặc biệt với thời trang. Mỗi ngày họ sẵn sàng dành nhiều giờ để làm đẹp. Họ luôn hành xử duyên dáng và nền nếp, thích trang trí nhà cửa với hoa tươi. Phụ nữ trung niên tuổi Mùi lại rất quan tâm tới vệ sinh cá nhân, luôn gọn gàng và ăn vận đẹp mắt.Phụ nữ trẻ tuổi Mùi cũng thích thể hiện tình yêu một cách không che giấu. Họ rất tin tưởng vào người mình yêu và luôn muốn ở bên người đó từng giây từng phút. Đối với những người theo đuổi mà họ không hề có hứng thú, người tuổi Mùi sẽ chẳng mảy may bận tâm đến.Người tuổi Mùi cũng khá mâu thuẫn, đôi khi “nói không là có, nói có là không”. Tuổi này giỏi che đậy điểm yếu bằng sự lanh trí, biết đạt được điều mình muốn đôi khi bằng những “tiểu xảo”. Khi cần thiết, người tuổi Mùi rất giỏi nhõng nhẽo, quấy rầy, cốt để đạt được thứ mình muốn. Với bản tính chân thành và điềm tĩnh, thêm vào đó là vẻ ngoài biết tỏ ra đáng thương khi cần, họ luôn biết cách thuyết phục người khác rất hiệu quả.Người tuổi Mùi không bao giờ làm tổn thương bạn bè. Đôi khi họ có thể từ bỏ một mối quan hệ để tránh khỏi những cãi vã, xung đột đang nhen nhúm xảy ra. Người tuổi Mùi nhạy cảm và đôi khi thích tìm niềm vui trong những mơ màng, ảo tưởng hơn là những cuộc vui thực sự.Tuổi Mùi cũng thích thu hút sự chú ý của người khác và nhận được sự tán tụng đối với năng lực bản thân. Người tuổi này rất khôn ngoan khi lựa chọn công việc để có thể tận dụng tối đa thế mạnh của họ.Nếu không sinh trong những giờ như Thìn, Tị, Dần, người tuổi Mùi sẽ khó lòng phù hợp với những công việc đòi hỏi trách nhiệm và sự nhạy bén cao, thay vào đó, sẽ phù hợp với những công việc cho phép được làm theo ý mình, được tự do tự tại. ST. Hãy chọn một người tuổi Hợi để cả đời được sống trong hạnh phúcGiải mã quan hệ tam hình Dần Thân TịVì sao mẹ dặn không yêu người tuổi Dần? Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Mơ thấy trái cây: Khám phá ý nghĩa các loại quả trong giấc mơ (P2)
Bạn sẽ có con trai nếu bạn thấy mình hái quả trong giấc mơ gần đây. Tuy nhiên, giấc mơ thấy quả còn xanh lại là điều không ai mong đợi; bởi đó là điềm báo sắp
► Tham khảo thêm: Giải mã những giấc mơ và điềm báo hung cát theo tâm linh
Dưa Thấy những quả dưa trong mơ biểu thị cho sức khỏe của bạn không tốt cùng những trở ngại, rủi ro mà bạn có thể sẽ gặp phải trong thỏa thuận kinh doanh. Nếu mơ thấy mình đang ăn dưa thì bạn cần chú ý điều chỉnh tính cách của mình, bởi giấc mơ này ám chỉ rằng sự vội vàng là nguyên nhân dẫn đến những sai sót trong công việc. Thấy những quả dưa trên cây biểu thị cho những vấn đề khó giải quyết hiện nay của bạn sẽ mang tới kết quả khả quan về sau. Mơ thấy có người mang dưa đến tặng mình thường là điềm sắp bị hao tốn tài sản. Nhưng mơ thấy mình gánh dưa đi bán thường là điềm bạn tìm được việc làm như ý. Thấy dưa chua trong mơ tượng trưng cho điều lo lắng, sự sợ hãi hoặc khó khăn nào đó mà bạn gặp trong cuộc sống.Ngoài ra, một miếng dưa chua có thể được xem là biểu tượng của dương vật.Những trưa nắng mùa hè oi ả, nếu bạn được ăn một miếng dưa hấu thì còn gì tuyệt bằng. Dưa hấu xuất hiện trong giấc mơ là tượng trưng cho cảm xúc về tình yêu và khát vọng, sự đam mê mãnh liệt của bản thân. Dứa
Mơ thấy dứa là sắp thành công
Mơ thấy dứa là một giấc mơ may mắn biểu thị sự thành công. Việc mơ thấy mình đang ăn dứa biểu thị sự thành đạt trong đời sống xã hội. Nếu trong giấc mơ, bạn thấy mình uống nước dứa, điều này ám chỉ sự thành công trong công việc. Mơ thấy mình trồng hoặc thu hoạch dứa có ý nghĩa báo hiệu những tin vui trong tình yêu.
Dừa
Thấy một quả dừa trong mơ báo trước rằng bạn sẽ nhận một món tiền bất ngờ.
Quả hạnh
Thấy những quả hạnh trong mơ, ám chỉ rằng sau giai đoạn ngắn buồn phiền và đau khổ, bạn sẽ khá hơn. Bạn sẽ có thời gian rồi để suy ngẫm. Mơ thấy đang ăn những quả hạnh tươi, báo trước rằng bạn sẽ có nhiều thành công và tài lộc. Thấy một cây hạnh trong mơ tượng trưng cho hạnh phúc. Niềm vui sướng nhất sẽ đến với bạn trong tương lai gần.
Quả lựu
Mơ thấy lựu là sức khỏe tốt
Thấy những quả lựu trong mơ tượng trưng cho khả năng sinh sản, sức khỏe tốt và tuổi thọ. Nó cũng có thể chị sự đam mê, mời gọi của tình dục.
Quýt Chiêm bao thấy mình ăn quýt là điềm báo về những khó khăn trong tình duyên. Tuy nhiên, giấc mơ có người đem quýt đến cho mình là điềm báo làm ăn phát đạt. Mơ thấy có cây quýt mọc trong nhà là điềm báo bạn sắp sinh quý tử. Chiêm bao thấy mình mua quýt về trồng là điềm báo dự tính của bạn sẽ thành công.
Tên là mệnh, là vận mệnh của mỗi con người, tên gọi luôn gắn liền với mỗi người trong suốt cuộc đời. Việc đặt tên cho con thực sự rất quan trọng để Con có được thời vận tốt. Trong thời đại công nghệ thông tin, Bạn có thể dễ dàng chọn cho con yêu một cái tên đẹp, hay và ý nghĩa. Nhưng quan trọng, hãy xem tên đó có thực sự phù hợp với con bạn không nhé. Khoa học cổ dịch đã cho thấy, nếu tên gọi đúng ngũ hành mệnh, hợp với giờ sinh của bé, sẽ mang lại cho bé nhiều may mắn, sức khỏe, thuận lợi trong cuộc sống sau này.
Nếu sinh con Gái, Bạn có thể tham khảo một số tên hay và ý nghĩa:
Tên "An" mang ý nghĩa bình an, yên ổn: Thanh An, Bình An, Diệp An, Hoài An, Ngọc An, Mỹ An, Khánh An, Hà An, Thùy An, Thúy An, Như An, Kim An, Thu An, Thiên An.
Tên "Anh" mang ý nghĩa thông minh, sáng sủa: Diệp Anh, Quế Anh, Thùy Anh, Mỹ Anh, Bảo Anh, Quỳnh Anh, Ngọc Anh, Huyền Anh, Vân Anh, Phương Anh, Tú Anh, Diệu Anh, Minh Anh.
Tên "Bích" mang ý nghĩa màu xanh quý tuyệt đẹp: Ngọc Bích, Lệ Bích, Lam Bích, Hồng Bích, Hoài Bích
Tên "Chi" mang ý nghĩa dịu dàng, tràn đầy sức sống như nhành cây: Diệp Chi, Mai Chi, Quế Chi, Phương Chi
Tên "Diệp" mang ý nghĩa tươi tắn, tràn đầy sức sống như lá cây: Bích Diệp, Quỳnh Diệp, Khánh Diệp, Ngọc Diệp, Mộc Diệp, Thảo Diệp,
Tên "Dung" mang ý nghĩa diện mạo xinh đẹp: Hạnh Dung, Kiều Dung, Phương Dung, Thanh Dung, Ngọc Dung, Hoàng Dung, Mỹ Dung.
Tên "Đan" mang ý nghĩa của viên thuốc quý/màu đỏ: Linh Đan, Tâm Đan, Ngọc Đan, Mỹ Đan, Hoài Đan, Khánh Đan, Nhã Đan, Phương Đan.
Tên "Giang", "Hà" mang ý nghĩa một dòng sông mát lành: Phương Giang, Khánh Giang, Lệ Giang, Hương Giang, Quỳnh Giang, Thúy Giang, Lam Giang, Hà Giang, Trà Giang
Tên "Hân" mang ý nghĩa của niềm vui, tính cách dịu hiền: Gia Hân, Bảo Hân, Ngọc Hân, Thục Hân, Khả Hân, Tường Hân, Mỹ Hân.
Tên "Hạnh" mang ý nghĩa đức hạnh, hạnh phúc: Hồng Hạnh, Ngân Hạnh, Thúy Hạnh, Bích Hạnh, Diễm Hạnh, Nguyên Hạnh.
Tên "Hoa" mang ý nghĩa xinh đẹp, rực rỡ như hoa: Ngọc Hoa, Kim Hoa, Phương Hoa, Quỳnh Hoa, Như Hoa, Mỹ Hoa, Diệu Hoa, Mai Hoa
Tên "Hương" mang ý nghĩa hương thơm của hoa: Mai Hương, Quế Hương, Khánh Hương, Ngọc Hương, Thảo Hương, Quỳnh Hương, Lan Hương,
Tên "Khánh" mang ý nghĩa của tiếng chuông, của niềm vui: Ngân Khánh, Bảo Khánh, Vân Khánh, Mỹ Khánh, Kim Khánh, Ngọc Khánh
Tên "Khuê" mang ý nghĩa của ngôi sao khuê (tượng trưng của tri thức), hay tiểu thư khuê các: Diễm Khuê, Ngọc Khuê, Minh Khuê, Diệu Khuê, Mai Khuê, Anh Khuê, Hà Khuê, Vân Khuê
Tên "Lan" mang ý nghĩa của loài hoa quý và đẹp: Phong Lan, Tuyết Lan, Bảo Lan, Chi Lan, Bích Lan, Diệp Lan, Ngọc Lan, Mai Lan, Quỳnh Lan, Ý Lan, Xuân Lan, Hoàng Lan, Phương Lan, Truc Lan, Thanh Lan, Nhật Lan.
Tên "Loan" mang ý nghĩa một loài chim quý: Thúy Loan, Thanh Loan, Bích Loan, Tuyết Loan, Kim Loan, Quỳnh Loan, Ngọc Loan, Hồng Loan, Tố Loan, Phương Loan
Tên "Linh" mang ý nghĩa cái chuông nhỏ; linh lợi, hoạt bát: Truc Linh, Mỹ Linh, Thùy Linh, Diệu Linh, Phương Linh, Gia Linh, Khánh Linh, Quế Linh, Bảo Linh, Khả Linh, Hạnh Linh, Mai Linh, Nhật Linh, Cẩm Linh, Hà Linh.
Tên "Mai" mang ý nghĩa của loài hoa tinh tế, thanh cao, nở vào mùa xuân: Thanh Mai, Nhật Mai, Trúc Mai, Hoàng Mai, Diễm Mai, Ban Mai, Phương Mai, Ngọc Mai, Xuân Mai, Hồng Mai, Tuyết Mai, Diệp Mai, Chi Mai, Thu Mai.
Để việc trang trí, bày biện lại các vật dụng trong nhà chào đón năm mới hợp phong thủy, mang lại nhiều may mắn cho gia đình cũng như mẹ và bé. Các mẹ hãy cùng
– Hướng Bắc: cách trang trí, bày biện trong nhà nên chọn tông màu nhẹ, tạo cảm giác êm dịu, thoải mái. Đồ nội thất có thể sử dụng màu hồng, cam nhạt, vàng nhạt.
– Hướng Đông: đồ dùng trong nhà nên chọn màu xanh lá cây tươi. Điều này sẽ giúp tâm trạng mẹ bầu luôn vui vẻ, thoái mái. Em bé trong bụng mẹ cũng khỏe mạnh và hoạt bát.
– Hướng Tây Nam: nên bày biện đồ nội thất có liên quan đến nước như bể cá, lọ nước, thác nước đồng thời nuôi các động vật ở dưới nước như cá, rùa. Chú ý các bình nước, lọ nước đặt trong nhà cần có thiết bị hỗ trợ để dòng nước luôn di chuyển để mẹ và bé sinh nở dễ dàng, thuận lợi.
2. Vật dụng trang trí trong ngôi nhà
Trang trí nhà ngày Tết cho mẹ bầu
Tranh ảnh treo trong nhà nên cân nhắc các bức họa ít chi tiết, bố cục đơn giản, màu sắc tươi sáng để người xem có cảm giác vui tươi, tâm lý thoái mái như tranh tĩnh vật, tranh phong cảnh, ảnh em bé ngộ nghĩnh, đáng yêu.
Tránh treo các bức tranh có màu sắc tối, trầm, tạo cảm giác mạnh mẽ hoặc trầm mặc như: tranh động vật hổ, báo,voi, tranh sơn dầu.
Trong nhà có bà bầu cũng cần tránh trang trí các vật dụng như gươm, kiếm, đầu hổ, xương động vật, chuông gió vì có thể gây bất lợi cho sự phát triển của thai nhi.
Nhiều phụ nữ mang thai cho rằng mình càng gần gũi với thiên nhiên thì càng tốt nên mua thật nhiều chậu cảnh, giỏ hoa treo trong nhà. Ngược lại, đây là điều tối kỵ cho bà bầu vì các loại thực vật có quá nhiều trong ngôi nhà sẽ tích tụ thành khí âm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của em bé.
3. Phòng ngủ của mẹ bầu
Cần lắp đủ bóng đèn để duy trì ánh sáng trong phòng ngủ, không nên để phòng quá tối hoặc thiếu ánh sáng. Duy trì đều đặn luồng ánh sáng trong phòng để đẩy luồng khí âm.
Hàng ngày, dù là mùa hè hay mùa đông chị em cần dành khoảng thời gian nhất định để mở cửa sổ trong phòng ngủ để có sự lưu thông khí giữa khí mới và khí cũ tạo điều kiện thuận lợi cho sức khỏe.
Giường ngủ là nơi có ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe của thai phụ và em bé vì vậy cần đặc biệt lưu ý đến khu vực này. Chị em phải luôn giữ giường chiếu sạch sẽ, gọn gàng. Định kỳ vệ sinh, thay giặt ga gối. Nhiều gia đình có thói quen tận dụng gầm giường làm “nhà kho”, tuy nhiên trong thời gian mang thai, chị em lưu ý để gầm giường thông thoáng, không nên để đồ cũ bẩn ở vị trí này.
Các cụ từ xưa đến nay vẫn thường dạy con cháu rằng phụ nữ mang thai và sau sinh nở cần kiêng đóng đinh, gõ đồ vật hoặc đột ngột dịch chuyển đồ vật trong nhà mà có thể gây tiếng động đều có nguyên nhân. Theo phong thủy và quan niệm duy tâm, mỗi đứa trẻ đều có thai thần đi theo vì vậy khi tạo ra tiếng động có thể ảnh hưởng đến thai thần và tác động xấu đến đứa trẻ.
Tổng hợp Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Mục đích của phong thủy là vươn đến sự kết hợp hài hòa giữa thiên, địa và nhân. Chúng ta có thể kiểm soát được địa mệnh; nhân mệnh; chính nhân mệnh quyết định
Cơ thể mỗi chúng ta đều phát ra năng lượng. Vì vậy mọi người cần biết cách sử dụng và phát huy nguồn năng lượng của mình. Theo đó, việc tự cân bằng đời sống tâm lý của bản thân được coi là giải pháp hữu hiệu mà bạn nên thực hiện.
Khi giận dữ, buồn chán hoặc lo âu, chúng ta dễ tạo ra năng lượng âm có hại. Điều này có xu hướng xấu đi cho tinh thần, vì vậy hãy cố gắng trấn áp trạng thái buồn chán và loại bỏ những cảm giác này.
Nếu muốn có những điều kiện phong thủy tốt trong nhà, bạn cần rũ bỏ mọi trạng thái tâm lý tiêu cực. Thay vào đó, hãy giữ một tinh thần lạc quan và hy vọng mọi thứ tốt đẹp sẽ đến với mình. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng điều đó luôn đúng. Bằng cách này bạn đang nuôi dưỡng nội tâm và tinh hoa của đời sống tinh thần.
Phong thủy truyền thống cho rằng, ban công là nơi hứng no nê ánh sáng mặt trời, không khí và sương dăng nhất của ngôi nhà, và là noi nạp khí của cả ngôi nhà. Với phong thủy của cả ngôi nhà, ban công có tác dụng tương đối quan trọng, bởi vậy tuân thủ
Trong môn môi trường học, ban công phần nhiều là không gian mở, chỉ ngăn cách với trong nhà bằng một tấm kính, bởi vậy rất dễ bị ảnh hưởng bỏi môi trường xấu và tiếng ồn không tốt. Vì thế nó có vị trí vô cùng quan trọng trong cả ngôi nhà, nên cần phải coi trọng.
Với tính quan trọng của ban công như vậy, nên phưong vị của ban công cũng không thể coi thường. Có những ban công sở dĩ làm người ta khi đứng ở đó thấy khoan khoái dễ chịu là vì phương vị của nó tốt, bởi vậy mà tràn đầy sinh khí và sức sống, khiến người ta có cảm giác như được hòa mình cùng thiên nhiên.
Ban công hướng Đông, người xưa coi là tốt nhất, “Tử khí Đông lai” – nghĩa là “khí tím từ phía Đông tới”. Cái gọi là “Tử khí” tức là khí may mắn (tường thụy), khí này qua ban công đi vào trong nhà, thì cả nhà sẽ cát tường bình an. Hơn nữa mặt trời đã chiếu rọi tới ban công, cả nhà như bừng sáng và ấm áp hẳn lên, và mọi người trong nhà đều dễ chịu sảng khoái.
Còn ban công hướng Nam, có câu “Huân phong Nam lai”, “Huân phong” chỉ làn gió trong lành, làm ta mát mẻ, lâng lâng như say, trong phong thủy đây cũng là điều cực tốt. Ngày nay, những ngôi nhà cao tầng có ban công hướng Đông, hướng Nam giá thường cao hơn, cho thấy mọi người đã hiểu ra giá trị phong thủy của căn nhà có ban công hướng Đông, hướng Nam.
Ban công hướng Bắc rõ ràng là bất lợi, bởi mùa đông hứng gió lạnh, sẽ ảnh hưởng tới tình cảm của con người, nếu thiết bị chống rét không đủ sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe mọi người trong nhà.
Ban công hướng Tây lại càng dở, hằng ngày hứng nắng quái chiều hôm, khí nóng đến tối mịt vẫn còn chưa tan hết, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cả nhà.
Phong thủy về phưong vị của ban công quyết định bởi phương hướng chĩa ra ngoài, ngoài ra ban công còn liên quan tới phương vị trong nhà.
Từ trung tâm ngôi nhà nhìn về phía Tây Bắc, đây là vị trí của chủ nhà. Nếu đặt phòng trẻ ở hướng Tây Bắc sẽ khiến trẻ phát triển thể chất sớm, không có lợi cho học hành. Vốn dĩ là thứ của người lớn lại đem cho trẻ con đương nhiên là không thích hợp.
Từ trung tâm ngôi nhà nhìn về phía Tây Bắc, đây là vị trí của chủ nhà. Nếu đặt phòng trẻ ở hướng Tây Bắc sẽ khiến trẻ phát triển thể chất sớm, không có lợi cho học hành.
Vốn dĩ là thứ của người lớn lại đem cho trẻ con đương nhiên là không thích hợp. Hướng Tây Bắc tượng trưng cho uy quyền, sự to lớn. Đứa trẻ ở hướng đó tất nhiên là có tài năng ở một vài mặt nào đó nhưng nó sẽ trở nên quá già dặn mà mất đi sự ngây thơ của trẻ con, thích giảng đạo lý với người khác, khiến người lớn xung quanh cũng phải chau mày. Trong tình hình đó, các bạn cùng trang lứa với đứa bé dần xa lánh, không có lợi một chút nào đốĩ với tương lai của trẻ.
Nếu có thể thay đổi một cách lý tưởng thì bé trai nên ở phòng hướng Đông, bé gái nên ở phòng hướng Nam hay Đông Nam. Nếu ngay cả điều này cũng không làm được thì để trẻ ở phòng có hướng thuộc một trong 12 chi. Vì các hướng này đều là hướng cát. Đứa trẻ sinh năm con rồng nên ở phòng hướng Đông, sinh năm chuột nên ở phòng hướng Bắc.
Nếu không gian có hạn, không thể làm thành một phòng cho trẻ thì chỉ còn cách giải quyết bằng màu sắc. Phòng của trẻ có thể thay bằng các màu ấm như màu sữa, màu hồng, hoặc màu vàng. Màu xám hay màu lam có cảm giác lạnh lẽo, không phù hợp sơn phòng trẻ con. Chỉ cần thay đổi màu sắc phòng trẻ như trên là có thể cải thiện được không khí trong phòng.
Đối với phòng trẻ ở tầng 2, hướng Tây Bắc, sau khi tiến hành thay đổi như ở trên có thể treo một số đèn trang trí trên trần để tăng cường ánh sáng.
Theo người xưa, mỗi năm tuổi có một sao chiếu mạng, trong đó sao La Hầu và Kế Đô ảnh hưởng xấu đến vận hạn từng năm của con người. Trong dân gian này nay vẫn tồn tại tập tục cúng sao giải hạn. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu bảng hạn sao chiếu mạng hàng năm theo tuổi âm lịch để bạn đọc tham khảo.
1. LA HẦU:Dân gian có câu "nam La Hầu, nữ Kế Đô". Tức đối phái nam, sao La Hầu có ảnh hưởng mạnh, đối với phái nữ sao Kế Đô có ảnh hưởng mạnh. Đây là hai sao xấu nhất trong chòm sao này, vì vậy mới có câu "Không sợ Thái Bạch, chỉ sợ La Hầu". Đề phòng: kiện tụng, bệnh tật, thua lỗ vì bị lừa hoặc bị bắt, có tang, chuyện bé xé thành chuyện lớn, đánh nhau,...Thời gian: nặng nhất là tháng Giêng, tháng 7 (âm lịch).Giải hạn: cúng ngày mùng 8, thắp 9 nén nhang tượng trưng cho 9 ngọn đèn.Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "La Hầu Tinh Quân". Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc).(Nếu gặp tai tương, ngày mùng 9 cúng tiếp, lễ nghi cũng như cúng ngày mùng 8). 2. THỔ TINH:Thổ Tinh gây ra chuyện phiền phức, bệnh tật, kị người mạng Thủy. * Đề phòng: tiểu nhân hãm hại, bệnh dịch, cãi cọ tranh chấp trong nhà, không nuôi gia cầm.* Thời gian: nặng nhất là tháng 4 (âm lịch)* Giải hạn: cúng ngày 19 âm lịch, thắp 5 nén nhang cho 5 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thổ Tú Tinh Quân".* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc). 3. THỦY DIỆU:Sao Thủy Diệu rất nguy hiểm đối với người mạng Hỏa, cần chú ý khi đi đường thủy; chủ về buôn bán đi xa thì đắc lộc. * Đề phòng: nạn sông nước, đau ốm, kiện tụng, tranh chấp. Mọi việc nên dĩ hoài vi quý.* Thời gian: nặng nhất là tháng 4 và tháng 8 (âm lịch)* Giải hạn: cúng ngày 21 âm lịch, thắp 7 nén nhang tượng trưng cho 7 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thủy Diệu Tinh Quân".* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc). 4. SAO THÁI BẠCH:Sao Thái Bạch kị người mạng Mộc. Dân gian có câu "Thái Bạch cháy sạch cửa nhà". Bị sao Thái Bạch chiếu hay đau ốm, gặp chuyện cãi cọ, mất của, tiểu nhân lừa đảo hãm hại, tiền của không giữ được. * Đề phòng: mất của, bệnh tật, tiểu nhân.* Thời gian: nặng nhất là tháng 5 (âm lịch)* Giải hạn: cúng ngày rằm âm lịch, thắp 8 nén nhang tượng trưng cho 8 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thái Bạch Tinh Quân". * Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây). 5. SAO THÁI DƯƠNG (Mặt trời):Được sao Thái Dương chiếu thì làm ăn thuận lợi, đi ra ngoài có lộc, vạn sự như ý, gia đình hạnh phúc, tránh hung phùng cát, phát tài giữ được của, nhất là vào tháng 6 và tháng 10 âm lịch. * Thời gian cúng sao: ngày 1 âm lịch, thắp 12 nén nhang tượng trưng cho 12 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thái Dương Tinh Quân".* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc). 6. SAO VÂN HỚN:Đây là sao hung, gây đau ốm bệnh tật, kị người mạng kim. * Đề phòng: kiện tụng, tranh cãi, ốm đau, bệnh dịch (không nuôi gia cầm năm đó), hỏa hoạn.* Thời gian: nặng nhất là tháng 2 và tháng 8 (âm lịch).* Giải hạn: cúng ngày 29 âm lịch, thắp 15 nén nhang tượng trưng cho 15 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu đỏ viết 4 chữ "Vân Hán Tinh Quân".* Hướng đặt bài vị: hướng Nam (lạy về hướng Nam). 7. SAO KẾ ĐÔ:Đây là sao hung, chủ về tranh chấp, cãi cọ, bệnh tật, tang tóc. * Đề phòng: kiện cáo, tranh cãi, ốm đau, mất của. * Thời gian: nặng nhất là tháng 3 và tháng 9 (âm lịch).* Giải hạn: cúng ngày 18 âm lịch, thắp 20 nén nhang tượng trưng cho 20 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Kế Đô Tinh Quân".* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây). 8. SAO THÁI ÂM (Mặt trăng): Đây là sao làm ăn thuận lợi, như ý. Cầu tài có tài, nên cúng sao, nhất là tháng 9 làm ăn sẽ phát tài. * Thời gian cúng sao: ngày 26 âm lịch, thắp 7 nén nhang tượng trưng cho 7 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu vàng viết 4 chữ "Thái Âm Tinh Quân".* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây). 9. SAO MỘC ĐỨC:Sao Mộc Đức là cát tinh, mọi sự như ý, hôn sự cát tường. Sao Mộc Đức kị người mạng Thổ. * Thời gian cúng sao: ngày 25 âm lịch, thắp 20 nén nhang tượng trưng cho 20 ngọn đèn.* Bài vị: lấy giấy màu xanh viết 4 chữ "Mộc Đức Tinh Quân".* Hướng đặt bài vị: hướng Đông (lạy về hướng Đông).
Có thể nói, trong tất cả các mối quan hệ giữa hai “hành tinh” này thì họ kết hợp ăn ý nhất trong tình yêu. Tâm hồn họ gặp nhau ở chỗ, họ cùng rất nhạy cảm. Cả hai con giáp này đều cần giao tiếp với những người năng động hơn để cho cuộc sống thêm sôi
Trong phong thủy, cửa trước là nơi đón năng lượng tốt lành vào nhà. Lối vào đẹp và rộng rãi mời gọi các cơ hội vào ngôi nhà, lan tỏa tới các không gian.
Trong phong thủy, cửa trước là nơi chúng ta lôi kéo năng lượng tốt lành vào nhà. Khi ngôi nhà có lối vào đẹp và rộng rãi lời mời gọi các cơ hội vào ngôi nhà, lan tỏa tới các không gian và tác động tích cực lên cuộc sống của chủ nhân. Dưới đây là một số gợi ý đơn giản giúp bạn tạo sự chú ý và điểm nhấn cho cửa trước.
1. Tạo không gian hấp dẫn bên ngoài cửa
Sử dụng đèn có công suất chiếu sáng mạnh. Lau toàn bộ cửa trước. Giữ cho không gian sạch sẽ và gần gũi. Rất đơn giản nhưng đó là những điều cần thiết để đón nguồn năng lượng tuyệt vời.
2. Trồng hoa ở con đường phía trước hoặc tạo màu sắc cho những mái hiên
Những bông hoa rực rỡ là lời mời gọi hấp dẫn của ngôi nhà
Đây như một hình thức chào đón và mời gọi những nguồn năng lượng mới mẻ vào trong ngôi nhà. Những cái cây xanh tốt cùng những bông hoa rực rỡ sẽ giúp chủ nhân có sức khỏe tốt và tinh thần rạng rỡ
3. Treo chuông gió trên cửa
Chuông gió thu hút những năng lượng mới mẻ
Khi gió lướt qua, các thanh gỗ hoặc kim loại khai thác năng lượng vô hình và cực kỳ tốt. Và khi chuông gió hát, nó thu hút sự chú ý đến không gian, mời thêm cơ hội vào cuộc sống của bạn.
4. Duy trì một điểm dễ nhìn thấy
Đánh bóng nhanh các con số hoặc thay một vài ốc vít mới, một lớp sơn mới để cập nhật địa chỉ lề đường đã bị mờ, hoặc một cái tên nổi bật trong tòa nhà sẽ đảm bảo năng lượng biết chính xác nơi tìm thấy bạn.
5. Sử dụng cửa trước hàng ngày
Mở toang cửa trước cho may mắn ùa vào
Hầu hết chúng ta vào nhà thông qua một cửa phụ. Tuy nhiên, phong thủy cho rằng nếu được mời, luôn có một nguồn năng lượng vô biên ở cửa trước. Việc của chúng ta là mở cửa ít nhất 1 lần/ ngày để đón nguồn năng lượng đó. Phong thủy từ lâu đã thấy rằng, cửa trước đại diện cho mối quan hệ của chúng ta với thế giới bên ngoài. Khi nó quyến rũ và tích cực sẽ kéo theo các loại năng lượng như vậy vào suốt các phần còn lại của ngôi nhà. Một cánh cửa mở rộng cho thấy sự cởi mở của một ngôi nhà, giúp các dòng khí lưu thông thường xuyên, nghênh đón những điều mới mẻ, tốt lành và tiễn đưa những điều không may. Vì vậy, hãy tạo cho ngôi nhà bạn một cửa trước an toàn, thoải mái, mời gọi với vẻ đẹp nằm ngay bên ngoài ngưỡng cửa. Lichngaytot.com Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Khí trong, tiếng nói vang, trán cao, mắt sáng, mày thưa, tai dày, môi hồng, mũi thẳng, mặt vuông, lưng đầy đặn, thẳng. + Da trơn, bụng to, răng trâu, đi nhu ngỗng, mày thanh tú, mắt nhãn ướt át. + Ngồi vững như tảng đá, đi nhẹ như trên mây. + Người n
Công cụ hóa sát (tiêu trừ hung thần) thường dùng (Phần 2) –
3. Rùa Giả dụ ở trước cửa sổ bạn nhìn thấy có một góc nhọn nhà đối diện chiếu thẳng vào nhà mình, hoặc phía nhà đối diện có treo gương bát quái, thì bạn có thể bố trí trước cửa sổ một bể nuôi rùa (vài con cũng được) để hoá giải. Nếu bạn không thể nuô
Giả dụ ở trước cửa sổ bạn nhìn thấy có một góc nhọn nhà đối diện chiếu thẳng vào nhà mình, hoặc phía nhà đối diện có treo gương bát quái, thì bạn có thể bố trí trước cửa sổ một bể nuôi rùa (vài con cũng được) để hoá giải. Nếu bạn không thể nuôi được rùa sống thì có thể đặt trước cứa sổ một vài con rùa trang trí màu đỏ hoặc màu xanh da trời.
4. Gương
Trong phong thuỷ học, chỉ cần một chiếc gương là đã có thế phát huy được tác dụng rất lớn.
Nếu trong nhà treo một chiếc gương sẽ làm cho chúng ta có cảm giác không gian nhà mình như rộng hơn, đồng thời có thể loại bỏ những ảo ảnh của hình dạng gấp khúc trong phòng. Ngoài ra, thông qua tác dụng khúc xạ và phản xạ ánh sáng của gương có thể thường xuyên thu nạp ánh sáng vào nhà, tăng thêm năng lượng trong nhà. Cảnh vật phong phú bên ngoài nhà qua gương phản chiếu vào nhà cũng có tác dụng hấp thu tài vận.
Sử dụng gương còn có thể ngăn chặn sát khí xâm nhập thẳng vào nhà, làm cho sát khí không gây ảnh hưởng xấu. Kiến trúc nằm ở cuối đường hoặc chỗ giao nhau ngã ba đường, bố cục kiến trúc kiếu này được gọi là lộ xung, là nơi sát khí trực tiếp xung kích, mọi người thường rất kị. Thế nhưng nếu nhà ở những vị trí này được treo một chiếc gương bên ngoài cửa chính thì sát khí sẽ bị ngăn chặn và đẩy ngược lại, ảnh hưởng không tốt bị ngăn chặn. Biện pháp xử lý loại này cũng có thể áp dụng với các căn phòng ở đầu mút hành lang.
5. Công cụ khác
– Tiền kim loại đồng lớn (xuất nhập bình an) – đặt trên nền cửa, dùng để đối phó với sát khí từ cầu thang bộ hoặc cầu thang điện sát hoặc đối diện với cứa. Đặt tiền bên phải cửa chính, xâu tiền bằng dây màu vàng (cấm kị dùng dây màu đỏ, vì đỏ thuộc hoả, hoả khắc kim), có thể ngăn ngừa phụ nữ trong nhà hay có lời nặng nhẹ. Đặt hai xâu tiền dưới gối sẽ có tác dụng giữ cho quan hệ vợ chồng tốt đẹp.
– Kim nguyên bảo (dùng theo đôi) – Đặt mặt đôi kim nguyên báo trên cửa sổ lớn nhất trong nhà hoặc ở ban công, trái một phải một, cửa số càng lớn tài khí càng vượng; dặt ớ nách phòng ngay chỗ cửa vào nhà, dây là nơi tàng phong tụ khí, cũng là tài vị.
– Tiền hoa mai – Dùng nó có tác dụng thăng quan tiến chức, hoá giải tiểu nhân.
Lựa chọn bàn làm việc hợp lý Chất liệu của bàn làm việc ngày nay thường dùng gỗ là chính, nhưng nếu sử dụng bàn gỗ đối với người mệnh lý kỵ đồ gỗ sẽ xảy ra những việc không tốt. Chúng ta có thể lựa chọn những bàn làm việc có lợi cho bản thân mình đối
Chất liệu của bàn làm việc ngày nay thường dùng gỗ là chính, nhưng nếu sử dụng bàn gỗ đối với người mệnh lý kỵ đồ gỗ sẽ xảy ra những việc không tốt. Chúng ta có thể lựa chọn những bàn làm việc có lợi cho bản thân mình đối với những hỷ kỵ mệnh lý bản thân. Nếu việc lựa chọn chất liệu không nhiều, chúng ta có thể dùng những màu sắc hoặc kiểu dáng để tăng thêm đồ bổ cứu và sử dụng.
Cũng có thể nói rằng: Nếu mệnh lý của bạn ưa Hỏa, có thể lựa chọn bàn làm việc màu táo đỏ. Người ưa thủy có thể lựa chọn bàn làm việc màu xanh lam, tương tự như vậy đối với những mệnh lý còn lại. Còn nếu bụng dạ trong cơ thể của bạn không thoải mái, cũng có thể thông qua màu sắc để bù đắp. Ví dụ: Có người vì lý do công việc, thường hay uống rượu là chuyện bình thường. Trong thời gian kéo dài như vậy, mật sẽ chịu không nổi, thường xuyên sẽ ngấm dần thành đau, chúng ta có thể lựa chọn những bàn làm việc màu xanh lá cây dễ bổ Ngũ hành của gan.
Có người tỳ không tốt, có thể lựa chọn màu sắc thuộc Thủy để bổ cứu Ngũ hành cho tỳ. Tim của bạn không tốt nên lựa chọn Ngũ hành thuộc Hỏa, dạ dày không tốt nên lựa chọn Ngũ hành thuộc Thổ, phổi không tốt nên lựa chọn Ngũ hành thuộc Kim. Chúng ta trong công việc không những có một bàn làm việc thật thoải mái, vô hình chung còn có thể điều chỉnh được cơ thể của bản thân mình.
Những kiểu dáng bàn làm việc hiện nay dẫn đến trào lưu chính vẫn là hình chữ nhật đơn giản gọn nhẹ. Thực ra những người có biết chút ít về phong thủy có thể lựa chọn một loại bàn làm việc có lợi cho mình như: Loại ba mặt ở gần mình nhất là đường thẳng, còn mặt ngoài nhất đối diện với mình thì nên có hình bán nguyệt: một loại bàn làm việc khác là bàn hình ôvan, giống như thắt lưng ôm lấy người vậy.
Phong thủy rất cẩn thận để ý đến nguyên tắc “sơn hoàn thùy bao”, ngọc đới (đại ngọc), vòng đai, loại này vòng ôm lấy bàn làm việc của mình không những có lợi cho bản thân mà khiến cho một số cát khí được tụ lại. Hơn nữa điểm kỳ diệu là có thể hoá giải được một số hung khí đối diện với mình, cho nên những loại bàn làm việc hao vòng này, đối diện với đồng nghiệp không tốt thì cũng sẽ đem lại sự không cát lợi cho người đồng nghiệp đó.
Vật cát tường: Bình cổ
Ý nghĩa tượng trưng: Binh an.
Giải thích: Chữ “bình” trong hình hoa cùng âm với chữ “bình” trong bình an. Trong nhà bạn có đặt bình hoa này là cầu mong sự bình an cho cả nhà, có ý nghĩa tụ tập bảo quý.
Bạn thường được nghe câu 'sinh dữ tử lành' mà dân gian truyền miệng, tuy nhiên theo 'Bí ẩn của những điềm chiêm bao' thì đó không hoàn toàn đúng, giấc mơ về mang thai hay sinh thường là điềm báo một bước ngoặt mới, thường là may mắn, hạnh phúc. 'Sin
Người xưa cho rằng mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh. Nếu năm nào sao xấu chiếu mệnh nên dâng sao giải hạn cầu bình an, mọi tai ách sẽ qua...
Người xưa cho rằng: mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh, tất cả có 9 ngôi sao, cứ 9 năm lại luân phiên trở lại. Cùng một tuổi, cùng một năm đàn ông và đàn bà lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Trong 9 ngôi sao có sao tốt, có sao xấu, năm nào sao xấu chiếu mệnh con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật. . . gọi là vận hạn.
1. Ý nghĩa của làm lễ dâng sao giải hạn
Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạn vào đầu năm (là tốt nhất) hoặc hàng tháng tại chùa (là tốt nhất) hay tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.
Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày như sau:
Sao Thái Dương: Ngày 27 hàng tháng Sao Thái Âm: Ngày 26 hàng tháng Sao Mộc Đức: Ngày 25 hàng tháng Sao Vân Hán: Ngày 29 hàng tháng Sao Thổ Tú: Ngày 19 hàng tháng Sao Thái Bạch: Ngày 15 hàng tháng Sao Thuỷ Diệu: Ngày 21 hàng tháng Sao La Hầu: Ngày 8 hàng tháng Sao Kế Đô: Ngày 18 hàng tháng
2. Sắm lễ dâng sao giải hạn: Sao Thổ Tú
Lễ cúng dâng sao Thổ Tú vào ngày 19 hàng tháng, thắp 5 ngọn nến.
Thổ Tú là sao xấu, chủ về tai nạn, kiện tụng. Xấu đối với cả nam nữ và gia trạch.
Lễ vật gồm có: Hương, hoa, tiền vàng; Mũ vàng; Phẩm oản; Bài vị màu vàng; 36 đồng tiền.
Hướng về chính Tây làm lễ giải sao.
3. Văn khấn dâng sao giải hạn: sao Thổ Tú
Nam mô a di đà phật (ba lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.
- Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cực Tử Vi Tràng Sinh Đại đế.
- Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.
- Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.
- Con kính lạy Đức Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh quân
- Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.
Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….
Hôm nay là ngày…… tháng………năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiên lập linh án tại (địa chỉ)……………………………………………………………để làm lễ giải hạn sao Thổ Tú chiếu mệnh:
Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.
Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Tính cách phụ nữ - Đoán tính cách phụ nữ qua hình dáng vòng ba
Một khuôn mặt xinh xắn, một dáng hình thon thả và vòng 3 săn chắc, gợi cảm là điều mơ ước của rất nhiều chị em phụ nữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có được 'của trời cho' ấy. Vậy thế nào là một đôi mông đẹp, có tướng cách tốt theo tiêu chuẩn của thuật xem tướng ?
Theo quan niệm của nhân tướng học, một đôi mông đúng tướng cách phải lấy tiêu chuẩn bình mãn làm đầu. Bình mãn có nghĩa là mông phải tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là mông cong.
Phụ nữ tướng cách tốt cần có đôi mông tròn, đều đặn, tương xứng với thân mình. Nếu mông quá to là người tính nóng nảy, không chịu nhún nhường người khác. Nếu mông lép thì đôi chân lại trở nên thiếu cân đối, người đó khó mà an nhàn sung sướng được.
Phụ nữ có đôi mông nhỏ thường ưa sống nội tâm; tính cách lúc nóng như lửa, lúc lại lạnh như băng; đầu óc minh mẫn, khả năng phán đoán linh hoạt và tư tưởng sắc bén. Về tình yêu, người này thường dễ rung động nhưng tình duyên không phải lúc nào cũng được suôn sẻ.
Phụ nữ có đôi mông hơi lớn thì tính tình độ lượng và hào phóng. Trong chuyện tình cảm, người này yêu hết lòng và dám hy sinh tất cả vì người mình yêu. Tuy nhiên, đôi khi cũng vì bản tính này mà họ dễ bị dụ dỗ, lừa gạt. Cuộc sống của người này khá suôn sẻ, đủ ăn đủ mặc, không có gì phải lo lắng.
Tướng người phụ nữ nhỏ bé và không có mông thì tuy học vấn cao nhưng thành công ít, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phụ nữ mập tròn mà không có mông thì hiếm muộn về đường con cái, cuộc sống dễ trở nên cô độc, buồn nản.
Về màu sắc của da mông, giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt nhiều. Đàn ông da mông nên có màu nâu mới khỏe mạnh, nếu nam mà mông trắng bệch thì tính cách mềm yếu, nhu nhược như đàn bà. Nhưng phụ nữ thì da mông phải thật trắng hồng mới đầy đủ nữ tính.
Những màu sắc trang trí đại kỵ trong phong thủy nhà ở - Phong thủy - Xem Tử Vi
Những màu sắc trang trí đại kỵ trong phong thủy nhà ở, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Những màu sắc trang trí đại kỵ trong phong thủy nhà ở, tu vi Những màu sắc trang trí đại kỵ trong phong thủy nhà ở, tu vi Phong thủy
Những màu sắc trang trí đại kỵ trong phong thủy nhà ở
Thư phòng không được dùng màu xanh lục. Nó khiến ý chí của bạn dần dần suy yếu. Bạn không thể tập trung được tinh lực vào công việc.
Tường màu hồng phấn chính là màu sắc đại hung vì màu này thường khiến cho tâm trạng nóng nảy, dễ xảy ra cãi vã, thị phi.
Đặc biệt những cặp vợ chồng mới kết hôn càng không nên dùng màu này. Nếu dùng lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến thần kinh.
Rèm cửa màu hồng phấn: Về mặt thẩm mĩ thì rèm màu hồng phấn rất nhã nhặn, dịu mắt nhưng về phong thủy dễ khiến cho thần kinh gia chủ suy yếu mệt mỏi, bất an, thường xuyên cáu gắt vô cớ.
Khi phối màu cũng cần lưu ý: Trong nhà bạn cần tránh phối màu đỏ với màu xanh lục, màu xanh dương với màu cam, màu đỏ với màu lam, màu vàng với màu tím sẽ tạo ra màu quá chói, gây cảm giác không tốt cho tâm lý.
Không gian trong nhà quá nhiều màu xanh lục sẽ khiến bạn khó tập trung. Màu xanh lục đại diện cho sức khỏe và sức sống. Rất nhiều người có sở thích trồng nhiều cây xanh hoặc sử dụng nhiều đồ trang trí màu xanh lục.
Nhưng nếu trong nhà có quá nhiều màu xanh lục sẽ khiến bạn rất khó tập trung tinh thần vì thế không có lợi cho sự nghiệp và học tập.
Trong phong thủy, màu xanh phong thuy lục là thu hút người nhất. Bất kể ở đâu cây xanh đều có ảnh hưởng đến năng lượng và phương hướng của khí. Nó giúp khí quay về trạng thái cân bằng cho nên khi đặt cây xanh cần phải lưu ý.
Trong phòng khách muốn bày trí cây xanh cần phải gọn gàng khoa học. Vì nếu bày trí không khoa học, khí của các cây trồng có thể ảnh hưởng đến sự cân bằng về năng lượng, từ đó ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa tương sinh và tương khắc.
Thư phòng không được dùng màu xanh lục. Nó khiến ý chí của bạn dần dần suy yếu. Bạn không thể tập trung được tinh lực vào công việc.
Có một số người vì sở thích khi trang trí thích sử dụng một số đồ gia dụng như sofa, ghế, bàn ăn màu đen. Về phong thủy thì nội thất không nên dùng màu đen.
Âm dương ngũ hành là vũ trụ quan của người xưa, cũng là cơ sở lý luận cho phong thủy học và đông y học. Âm dương ngũ hành của nơi ở cần phải cân bằng, mới có tác dụng tốt với con người. Cho nên màu sắc không nên dùng màu quá chói hoặc quá nhạt đều tốt cho phong thủy.
Xem tướng miệng biết mối quan hệ trong gia đình. 1. Phụ nữ – Miệng đẹp, môi đỏ, răng trắng cho thấy vợ chồng yêu thương lẫn… 1. Phụ nữ - Miệng đẹp, môi đỏ, răng trắng cho thấy vợ chồng yêu thương lẫn nhau, gia vận tốt đẹp, con cái ngoan ngoãn. - Miện
Xem tướng miệng biết mối quan hệ trong gia đình. 1. Phụ nữ – Miệng đẹp, môi đỏ, răng trắng cho thấy vợ chồng yêu thương lẫn…
1. Phụ nữ
– Miệng đẹp, môi đỏ, răng trắng cho thấy vợ chồng yêu thương lẫn nhau, gia vận tốt đẹp, con cái ngoan ngoãn. – Miệng lệch bên trái, hõm bên phải cho thấy, vợ chồng không hòa thuận, con cái không hợp cha mẹ. – Khóe miệng trễ xuống dưới, chủ nhân là người cô đơn khi về già, xung khắc với con trai. – Môi trên quặp vào môi dưới thường là người có tính cách hay tâm lý thiếu ổn định. – Miệng có đường vân thẳng đứng (không phải vân môi), khóe miệng trễ xuống, chủ nhân cả đời vất vả, hay gặp rủi ro, về già cô đơn, con cái không hòa thuận, đi làm nơi xa. – Hình dạng của miệng giống ống bễ (miệng nhọn, không thu lại, môi vẩu hở răng, khóe miệng trễ xuống) cho thấy, chủ nhân xung khắc với con gái, về già cô đơn.
2. Nam giới
– Nam giới có hình dạng của miệng lệch sang trái thường là người xung khắc với vợ. Nữ giới có miệng lệch sang phải thường là người xung khắc với chồng. – Râu ria mọc xung quanh, che lấp miệng, chủ nhân không được hưởng phúc con cái. Nếu 65 tuổi, râu vẫn đen, tóc đen, chủ nhân xung khắc con gái, cuối đời vất vả. – Khóe miệng có vân ngắn rẽ thành nhiều nhánh, chủ nhân về già cô độc, ít có duyên với con cái.