Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Tình Tri Kỷ

Ngày xưa có một phú ông rất thích trà, phàm là người đến nhà dùng trà, dù là người nghèo hay giàu thì ông đều sẽ sai gia nhân chiêu đãi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày xưa có một phú ông rất thích trà, phàm là người đến nhà dùng trà, dù là người nghèo hay giàu thì ông đều sẽ sai gia nhân chiêu đãi.

Một hôm, có một tên ăn mày rách rưới đứng trước cửa, không xin cơm, chỉ xin bát trà. Gia nhân cho hắn vào nhà, đun trà cho hắn. Tên ăn mày nhìn nhìn rồi nói: “Trà không ngon”. Gia nhân nhìn hắn lấy làm lạ, rồi cũng đổi một bát trà khác ngon hơn.

tri-ky

Tên ăn mày ngửi ngửi, nói: “Trà này ngon, nhưng nước vẫn chưa được, phải dùng nước suối trong.” Gia nhân ngạc nhiên nhìn hắn, liền vội đi lấy nước suối cất trữ từ sáng sớm ra để pha trà.

Tên ăn mày nhấp thử một ngụm, nói: “Nước rất tốt, nhưng củi sao trà không được, củi phải dùng củi sau danh sơn. Bởi vì củi phía đón nắng của núi chất củi xốp, còn sau danh sơn kia chất củi chắc cứng.”

Gia nhân thấy người này không hề tầm thường, rất tinh thông trà đạo, liền dùng loại củi tốt đun nước pha lại trà, rồi mời lão gia ra tiếp.
Sau khi trà được mang lên, phú ông và tên ăn mày đối ẩm một bát. Tên ăn mày nói: “Ừm, bát trà lần này, nước, củi, lửa đều tốt, chỉ có ấm pha trà không ổn”. Phú ông nói: “Đây là chiếc ấm tốt nhất của ta”.

Tên ăn mày lắc đầu, cẩn thận lấy từ trong tay áo ra một ấm trà bằng đất tử sa đen bóng cao trà, đưa gia nhân pha lại trà. Phú ông vừa nhấp thử, kinh ngạc trước mùi vị ngào ngạt, mê hoặc của trà, lập tức chắp tay thi lễ: “Kính nể, ta xin mua lại chiếc ấm này. Lão cho giá đi, bao nhiêu cũng được”.

Gã ăn mày nhất định không bán, dứt khoát trả lời: “Không được, chiếc ấm này là cuộc sống của ta, ta không thể bán” rồi vội vàng rót trà ra, cất lại chiếc ấm, vội vàng bước đi

Phú ông ngăn lại, nói: “Ta đổi một nửa gia sản để lấy chiếc ấm của ngươi” Tên ăn mày vẫn bước tiếp. Phú ông nôn nóng: “Ta xin đổi toàn bộ tài sản để lấy chiếc ấm của ngươi.” Tên ăn mày nghe vậy, mỉm cười nói: “Nếu không phải tôi tiếc chiếc ấm này thì cũng không lâm vào bước đường như hôm nay.” Nói xong quay mặt bỏ đi.

Phú ông sốt ruột: “Như vầy đi, ấm là của ngươi, ngươi hãy ở lại nhà ta , ta ăn gì ngươi ăn đó, nhưng có một điều kiện, chính là ngày nào cũng phải cho ta nhìn chiếc ấm, thế nào?”. Giật mình trước lời đề nghị, lão nhíu mày: cũng vì miếng ăn qua ngày mà túng quẫn, chuyện tốt như vậy sao lại không nhỉ?

Vậy là hắn ở lại. Ngày qua ngày tên ăn mày ăn cùng ở cùng phú ông, ngày ngày cùng nâng niu chiếc ấm trà, chia sẻ với nhau tâm tư, thưởng trà ẩm rượu vô cùng ăn ý. Cứ thế hơn mười năm qua đi, hai người trở thành hai lão già tri kỷ thấu hiểu nhau.

- Thời gian trôi mau, phú ông và tên ăn mày cũng ngày càng già đi. Một hôm phú ông nói: “Ông già hơn tôi, không có con cháu nối dõi, không có ai thừa kế chiếc ấm trà, chi bằng một mai, khi ông khuất núi, để tôi giúp ông bảo quản, ông thấy thế nào?” Lão ăn mày rưng rưng đồng ý.

Không lâu sau, lão ăn mày thanh thản ra đi, phú ông thỏa ao ước có được chiếc ấm tử sa. Lúc đầu, ông chìm trong cảm giác vui sướng, cho đến một ngày, lúc phú ông đang ngắm nghía trên dưới trước sau chiếc ấm, đột nhiên cảm thấy bản thân như thiếu thứ gì đó, cảm thấy lẻ loi. Lúc này trước mắt ông hiện lên hình ảnh ngày trước cùng lão ăn mày vui vẻ thưởng trà. Chợt hiểu, lão lạnh lùng ném mạnh chiếc ấm xuống đất...

SUY NGHIỆM :

Theo dòng thời gian, có rất nhiều thứ đổi thay, tình nghĩa giữa lão và tên ăn mày đã vượt qua cái giá trị ban đầu của ấm trà, thứ dù có tốt đến đâu nếu không có ai cùng thưởng thức thì cũng mất đi ý nghĩa của nó, thứ đáng giá đến đâu cũng không đáng giá bằng tri kỷ.

Trong cuộc sống có được một người bạn tri kỷ là quá đủ! Đây là điều mà bao người từng trải đúc kết được! Tình tri kỷ, như một thứ ấm áp không lời, một sự đồng hành vô hình.

Tri kỷ thật sự, là hiểu, là thân thiết, là đồng điệu. Giống như một chén trà xanh, chan chát mà thấm vào tận trong tim. Có những khi chỉ cần một cái ôm, một ánh mắt, là hiểu tất cả mà không cần dùng đến lời nói; có những khi chỉ cần một đoạn tin nhắn là có thể cảm động mãi sau này.
Tri kỷ, không cần che đậy, cũng không cần giải thích, tự nó đã hiểu, tự nó cảm nhận. Không cần dốc hết sức, cũng không cần chuẩn bị, tự nó sẽ đem đến niềm vui, tự nó sẽ như ý thơ. Không tác động vào thế giới mỗi người, chỉ đồng hành trong tâm hồn; không trở ngại cuộc sống mỗi người, chỉ mang cùng tiếng nói tâm hồn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình Tri Kỷ

Xem tuổi ở chòm sao nào –

Aries - Dương Cưu hay Bạch Dương, tương ứng với chòm sao Bạch Dương, con cừu đực lông vàng (từ ngày 21/3 - 19/4). Taurus - Kim Ngưu, tương ứng với chòm sao Kim Ngưu, con bò đực (từ ngày 20/4 - 20/5) Gemini - Song Tử (Song Nam), tương ứng với chòm sao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Aries – Dương Cưu hay Bạch Dương, tương ứng với chòm sao Bạch Dương, con cừu đực lông vàng (từ ngày 21/3 – 19/4).

Taurus – Kim Ngưu, tương ứng với chòm sao Kim Ngưu, con bò đực (từ ngày 20/4 – 20/5)

Gemini – Song Tử (Song Nam), tương ứng với chòm sao Song Tử, hai cậu bé song sinh (từ ngày 21/5 – 21/6).

Cancer – Cự Giải hay Bắc Giải, tương ứng với chòm sao Cự Giải, con cua (từ ngày 22/6 – 22/7)

Leo – Sư Tử, tương ứng với chòm sao Hải Sư, (từ ngày 23/7 –> 22/8).

Virgo – Xử Nữ (Trinh Nữ, Thất Nữ), tương ứng với chòm sao Thất Nữ, (từ ngày 23/8 – 22/9)

Libra – Thiên Bình hoặc Thiên Xứng, tương ứng với chòm sao Thiên Xứng, hình cái cân (từ ngày 23/9 – 23/10).

Scorpio – Hổ Cáp hoặc Thần Nông, Thiên Yết, Thiên Hạt, tương ứng với chòm sao Thiên Hạt, mang hình dáng con bọ cạp, (từ ngày 24/10 –> 21/11).

Sagittarius – Nhân Mã hoặc Xạ Thủ, Cung Thủ, tương ứng với chòm sao Nhân Mã, (từ ngày 22/11 – 21/12).

Capricornus – Ma Kết, tương ứng với chòm sao Ma Kết, con dê có đuôi cá (từ ngày 22/12 – 19/1)

Aquarius – Bảo Bình, hay Thủy Bình tương ứng với chòm sao Bảo Bình, tức người mang nước (20/1 – 18/2).

Pisces – Song Ngư, tương ứng với chòm sao Song Ngư, hai con cá bơi ngược chiều (19/2 –> 20/3)

cac-chom-sao

[Chòm sao dũng cảm nhất]

Hạng 1 : Sư Tử
Hạng 2 : Bạch Dương
Hạng 3 : Song Tử
Hạng 4 : Nhân Mã
Hạng 5 : Bảo Bình

[12 chòm sao bị cái gì đánh bại ?]

Ma Kết : lời nói dối
Bảo Bình : sự phản bội
Song Ngư : lòng hoài nghi
Bạch Dương : sự phức tạp
Kim Ngưu : thức ăn ngon
Song Tử : cô độc tịch mịch
Cự Giải : nỗi hiu quạnh
Sư Tử : tự trọng
Xử Nữ : hiện thực
Thiên Bình : so sánh
Thần Nông : mất mát
Nhân Mã : gò bó ràng buộc

[Tuổi thơ vinh quang của 12 chòm sao]

Bạch Dương : nhóc liều lĩnh
Kim Ngưu : mèo con ham ăn
Song Tử : đại ca đi học
Cự Giải : bé mít ướt
Sư Tử : vua trẻ con
Xử Nữ : bảo bối ngoan
Thiên Bình : cái đuôi nhỏ (thích đi theo)
Thần Nông : vua đánh lộn
Nhân Mã : quỷ ham chơi
Ma Kết : nhóc lầm lì
Bảo Bình : ngôi sao nhỏ đa trí
Song Ngư : tiểu đại nhân (sướng như con quan)

[Ở cùng với sao nào thì dễ phát điên nhất ?] – Tổ hợp điên

Hạng 5 : Xử Nữ với Cự Giải, Song Ngư, Sư Tử, Bảo Bình
Hạng 4 : Song Tử với Cự Giải, Thần Nông, Song Ngư
Hạng 3 : Ma Kết với Thần Nông, Cự Giải, Song Ngư
Hạng 2 : Thần Nông với Sư Tử, Song Ngư, Bạch Dương, Thiên Bình
Hạng 1 : Song Ngư với bất kỳ sao nào trong 12 chòm sao.

[12 chòm sao khi nhận 1 nụ hôn]

Bạch Dương : sẽ tặng bạn 1 đấm
Kim Ngưu : sẽ hóa đá
Song Tử : sẽ hôn trả lại bạn
Cự Giải : sẽ đỏ mặt
Sư Tử : sẽ thưởng cho bạn 1 bạt tay
Xử Nữ : sẽ chăm chú nhìn bạn
Thiên Bình : sẽ rất khoái chí
Thần Nông : sẽ kháng cự lại
Nhân Mã : sẽ nhào đến bạn
Ma Kết : sẽ bị sốc 1 hồi
Bảo Bình : sẽ hỏi bạn vấn đề
Song Ngư : sẽ muốn cùng bạn sống đến già

[Xếp hạng 12 chòm sao dễ bị lừa nhất]

Quán Quân : Song Ngư (lương thiện)
Á Quân : Bạch Dương (trái tim ấm áp)
Quý Quân : Kim Ngưu (phản ứng chậm)
Hạng 4 : Sư Tử (không cách nào kháng cự được lời khen của bạn),
Hạng 5 : Thiên Bình (do dự lúc bị lừa),
Hạng 6 : Nhân Mã (ko chịu dùng não),
Hạng 7 : Song Tử (bị thuyết phục),
Hạng 8 : Bảo Bình (xem xét một hồi rồi mới tin),
Hạng 9 : Cự Giải (ko dễ dàng tin),
Hạng 10 : Ma Kết (nói bạn đưa ra chứng cứ),
Hạng 11 : Thần Nông (có trực giác siêu chuẩn),
Hạng 12 : Xử Nữ (có thể nhìn ra chỗ hở)

[12 chòm sao đối diện với khó khăn]

Bạch Dương : dốc toàn sức đập tan khó khăn
Kim Ngưu : vất vả phấn đấu giải quyết nguy khó
Song Tử : đẩy cho người khác
Cự Giải : dù mệt cũng cố gắng làm xong
Sư Tử : không chịu tiếp tay
Xử Nữ : lao vào tiếp tục làm
Thiên Bình : gọi người tình nguyện giúp
Thần Nông : động đất hay núi sập cũng không ngăn được quyết tâm
Nhân Mã : tiếp tục chơi
Ma Kết : không nói 2 lời – lập tức hoàn thành
Bảo Bình : ra nhiều chủ ý quỷ quái
Song Ngư : bên thì ảo tưởng, bên thì gấp gáp hoàn thành.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi ở chòm sao nào –

Hóa giải điều kỵ cho sân thượng –

Dưới đây là một số cách hóa giải cho sân thượng khi phạm phải các điều kỵ về mặt phong thủy. Sân thượng bị che khuất tầm nhìn Vói một số ngôi nhà cao tầng, từ trên sân thượng nhìn xuống, do bị che khuất tầm mắt nên thường không thấy đường. Đây là điề

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dưới đây là một số cách hóa giải cho sân thượng khi phạm phải các điều kỵ về mặt phong thủy.

Sân thượng bị che khuất tầm nhìn

Vói một số ngôi nhà cao tầng, từ trên sân thượng nhìn xuống, do bị che khuất tầm mắt nên thường không thấy đường. Đây là điều bất lợi về phong thủy. Người sống trong nhà không vững tâm, tinh thần dễ bị dao động, thậm chí hình thành tâm lý ỷ lại, không có ý chí vươn lên trong sự nghiệp và cuộc sống.

san-thuong-phong-thuy

Hóa giải: Tại lan can sân thượng, đặt một con chim ưng bằng đá vói cánh dang rộng, đầu hướng ra phía ngoài.

Lưu ý: Nếu chủ căn nhà tuổi Dậu thì không nên dùng phương pháp này.

Sân thượng hướng ra biển hoặc những nơi có nước

Đây cũng là thế nhà ở bất lợi cho gia chủ

Hóa giải: Đặt đôi rồng đá trên sân thượng hoặc ban công chính. Phần đầu rồng phải hướng ra biển hoặc những nơi có nước, tượng trưng cho việc song long (2 con rồng) bay ra biển.

Lưu ý: Nếu chủ nhà tuổi Tuất thì không nên áp dụng cách này vì rồng và chó xung khắc (Thìn – Tuất tương xung). Có thể dùng kỳ lân hay rùa đầu rồng (long quy) thay thế. Chúng cũng tượng trưng cho may mắn và họp với nước, nên có thể đem vận may và tiền tài vào nhà và đặc biệt không xung khắc với gia chủ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hóa giải điều kỵ cho sân thượng –

Xem bói tướng miệng biết họa phúc cuộc đời

Tướng miệng dày, hồng nhuận là quý; tướng miệng vuông là thông minh, tướng miệng cao quý thì góc cạnh phải rõ ràng, sắc đỏ chu sa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Miệng là cánh cửa của ngôn ngữ, là công cụ để ăn uống, là then chốt của vạn vật tạo hóa và cũng là cửa sổ của trái tim. Thưởng phạt là do miệng nói ra, đúng sai cũng lại là ở miệng. Chính trực đôn hậu, không nói năng bừa bãi gọi là khẩu đức. Kẻ lắm lòi, đặt điều phỉ báng người khác gọi là khẩu tặc.

Tướng miệng vuông vắn, to rộng, có góc cạnh, báo hiệu là người trường thọ mà cao quý. Hình dáng miệng giông như chiếc cung là tướng cách của người phú quý. Miệng rộng, dày, báo hiệu là người giàu có, phúc đức. Miệng thẳng mà không lệch, dày mà không mỏng là tướng của người không sợ thiếu thốn về mặt cơm áo gạo tiền. Miệng vuông hình chữ “tứ", báo hiệu là người giàu có. 

Tướng miệng nhọn lại cong, lệch lại mỏng là tướng của kẻ hàn tiện. Miệng không nói mà tự mở, lại có hình dáng giông như miệng con ngựa là dấu hiệu của người nghèo khổ đói khát.Miệng nhọn như miệng chuột là tướng hay đố kỵ, gièm pha, phi báng người khác. Miệng chúm lại giông như tư thế đang thổi lửa là tướng của kẻ cô độc. Miệng giông như miệng chó thường là mệnh bần cùng, hạ tiện. Miệng có nếp nhăn dọc thì có số ăn không được no. 

Sắc môi tím đen là người khốn khổ, vất vả. Môi trên to, báo hiệu là người hay nói xấu người khác. Môi dưới dài là tướng cách của người tiêu tài tốn của.

Răng lộ ra ngoài là tướng của người không có trí tuệ, đoản thọ. Trên miệng có nốt ruồi đen, báo hiệu là người giàu có, cuộc sống đề huề. Môi có màu đỏ nhạt là tướng người không sợ thiếu ăn. Miệng nhọn giống chiếc móc câu, báo hiệu là người bần cùng. Miệng to có thê nhét vừa nắm tay là tướng cách của người làm quan tướng. Miệng mềm mại, đầy đặn là người giàu tài lộc.

Môi là thành quách của miệng, lưỡi là lưỡi dao của miệng.Thành quách phải dày, dao phải sắc, dày tức là không có vết lõm, sắc tức là không dễ cùn, đây chính là tướng quý của môi và lưỡi. Lưỡi phải đỏ mà không được xuất hiện màu den, đỏ nhạt mà không được trắng. Lưỡi đỏ tươi như màu máu thì có số làm quan, được hưởng lộc. Lưỡi dài chấm tới mũi là tướng của bậc công hầu. Trên lưỡi có đường vân dài, cũng là báo hiệu của người được phong công hầu. Trên lưỡi có nhiều đường vân là tướng của người giàu có. Lưỡi lớn miệng nhỏ là người có số bần hàn lại đoản mệnh.

Lưỡi nhỏ mà ngắn là kẻ bần hàn lại hạ tiện. Lưỡi có sắc tía, xám đen người có số bần hàn, hay gặp chuyện nguy nan. Lưỡi thè ra giống lưỡi rắn là tướng của kẻ độc ác, đoản thọ. Thế của lưỡi phải sâu dài, hình dáng phải vuông thẳng, sắc phải đỏ, phát âm phải vang dội, khẩu đức phải đoan chính, môi phải tròn và dày mới là tướng miệng đẹp.

Trong sách xem bói Linh đài bí quyết có viết: Miệng là cánh cửa của cơ thể con người, trên thông với Nhân trung, dưới là huyệt Thừa tương, hai bên trái phải là 2 bộ vị Tỉnh táo và Tế trù. Miệng trong Ngũ nhạc gọi là Hằng sơn, trong ngũ phương gọi là phương Bắc, trong ngũ tạng thì ứng với tim, thông suốt Thủy Hỏa, còn được gọi là cửa xuất nạp, lại là nơi cư trú của sao Thủy, là cơ quan nhận thức ăn nuôi dưỡng toàn bộ cơ thể. là cơ quan nói chuyện giao tiếp và cũng là mâu chô"t của chuyện thị phi. Biển lớn nhận nước đố ra từ trăm ngàn con sông khác nhau, còn miệng thì ăn hàng trăm loại thực phẩm đế nuôi dưỡng cơ thể con người.

Xem bói tướng miệng cao quý phải có những đặc điểm sau

- Các góc cạnh của miệng rõ ràng, khi ngậm lại miệng phải nhỏ, khi mở miệng thì phải rộng, môi trên và môi dưới có đường nét góc cạnh rõ ràng, khẩu hình giống chiếc cung; tức là phải có hình dáng giống như đang ngậm nước, miệng vuông như hình chữ “tứ”, thêm sắc miệng đỏ giống như ngậm chu sa. Người nào có tướng miệng như vậy tất sẽ là quý nhân.

- Dù có đầy đủ những điều kiện nói trên nhưng môi lại mỏng thì cũng không phải là tướng quý. Người môi mỏng đại đa số là người thích ca hát, tụ tập chốn đông người.

Tướng miệng nhọn, chúm lại như đang thổi lửa là tướng của kẻ nghèo khó. Miệng như miệng chuột, báo hiệu là người hay đố kỵ, gièm pha phỉ báng người khác. môi trên môi dưới tương xứng với nhau là người văn hay chữ tốt.

Phụ nữ nếu như hai môi khép lại mà răng vẫn lộ ra ngoài, báo hiệu sinh nở khó khăn. Môi dưới to chờm môi trên là tướng hại chồng. Môi trên nhô ra chòm xuống môi dưới là tướng kẻ xảo trá. Phụ nữ mang thai nếu trên mặt có sắc xanh kéo dài từ khóe miệng trái vào miệng, báo hiệu sẽ sinh con trai; nêu có sắc đỏ từ khóe miệng phải vào miệng, báo hiệu sinh con gái. Xung quanh miệng có sắc đen, dự báo thai phụ và thai nhi khó bảo toàn tính mạng. Khóe miệng trễ xuống, nếu là phụ nữ thì là tướng hạ tiện lại bi đát, không làm thiếp thì cũng là mệnh tì nữ.

Miệng như ngậm chu sa là tướng phú quý. Khi cười lộ răng, đa số là người không lịch sự. Miệng nhọn mà không có góc cạnh là tướng người vất vả. Môi thô, dày, sắc tía, nếu là nữ thì là tướng không chồng, nói chuyện không rành mạch, báo hiệu là kẻ thiếu tín nghĩa, khó có thể sông tương trợ, hòa thuận với hàng xóm.

Xem bói tướng miệng: Dày, hồng nhuận là quý

Miệng mang lại họa phúc cho con người, đồng thời cũng mang tới cả cái lợi và cái hại. Miệng là nguồn gốc của họa phúc mà họa phúc lại là điều căn bản của lợi hại. Do vậy, lợi hại hay họa phúc đều là do con người tự tạo nên, vì thế nói năng không được tùy tiện.Có câu nói rằng: Khi những lời lẽ không hay mà đã được nói ra thì sẽ mang đến tai họa. 

Người trung hậu ít nói, sẽ tránh được việc phải nghe những lời thô tục. Người có cát tướng là người không nói nhiều. Nếu như cẩn thận, ít nói thì sẽ tránh được nhiều chuyện không hay. Người ăn nói ngông cuồng, thích phỉ báng người khác sẽ gặp nhiều tai họa. Cái gọi là phỉ báng nhiều lời chính là có những lời nói xấu sau lưng người khác. Người này sẽ gặp nhiều chuyện tai ương gây hại tới chính bản thân mình. 

Đầu quân vào hàng tướng nếu là người có miệng rộng có thể nắm quyền hành. Họ có thể thu được quyền hành về tay mình.

Môi phải dày dặn, nói năng phải đứng đắn, nghiêm túc, giọng nói phải thanh thoát rõ ràng, sắc môi phải sáng nhuận. Môi quý là môi dày dặn, nói chuyện hay là ở chỗ đứng đắn, nghiêm túc, giọng nói quý ở chỗ âm hưởng vang xa, sắc môi quý ở chỗ sáng nhuận. 

Ngưòi có môi trên và môi dưới có nhiều đường vân đan xen vào nhau, báo hiệu là con cháu đầy nhà. Người có viền môi rõ nét là tướng của người nhân ái tín nghĩa.

Người có sắc môi đỏ tươi như máu trong nhà dư dả tiền bạc, người có miệng chúm lại như kén tằm đại đa sô" là người bần hàn. Môi đỏ tươi như màu máu, báo hiệu là người vô cùng giàu có.

Người có miệng giông như ngậm đan báo hiệu là người giàu tài nghệ, người có miệng giông như đang thổi lửa là tướng của kẻ bần hàn. Trong sách tướng xưa có viết: Nếu môi như đang ngậm đan phần đa là thiên về nghệ thuật, miệng như đang thổi lửa tất sẽ là tướng cô đơn.

 Khi ngậm 2 môi lại thì miệng phải nhỏ, mở ra thì miệng phải rộng. Miệng không được mím chặt lại.

Tướng miệng vuông thẳng là thông minh

Khi ăn, nếu giống như kiểu ăn tham lam của loài chó, hoặc giống như loài ngựa gặm cỏ lúc đói hoặc ăn như chuột đều là tướng của kẻ hạ tiện.

Miệng không cân xứng có nghĩa là 2 môi trên dưới không cân xứng vói nhau. Nếu 2 môi không khít nhau sẽ không hiển thị rõ khóe miệng. Người như vậy khi nói chuyện rất kiêu ngạo, tự cao tự đại, là hung đồ thiếu tín nghĩa.

 Người thiếu thông minh lại đoản mệnh thường môi trên chòm lên môi dưới. Nếu môi cong cũng là tưóng của người không có trí tuệ.

 Miệng xuất hiện màu xanh đen sẽ có tai họa xảy ra, xuất hiện màu vàng trắng là điểm báo bệnh tật liên miên. Nếu miệng xuất hiện màu xanh đen, báo hiệu sắp có tai họa ập tới. Nếu miệng xuất hiện sắc vàng trắng là điềm báo sắp bị bệnh nặng.

 Hai bên mép có nếp nhăn thô chủ là người hung ác, cuộc đời gặp nhiều tai hoa lao tù. Nếu bên ngoài đường Pháp lệnh có nếp nếp nhiều tai hoa lao tù. Nếu bên ngoài đường Pháp lệnh có nêp nêp nhăn nhỏ, bên ngoài nếp nhăn nhỏ này có nếp nhăn thẳng nữa, những nếp nhăn này cắt ngang đường Pháp lệnh, báo hiệu người đó có cuộc sống đói khổ, bần cùng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tướng miệng biết họa phúc cuộc đời

Lý lẽ khoa học hàm chứa trong “phong thủy học” (Phần 1) –

"Phong thuỷ" là một phần văn hoá truyền thống xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc Trung Hoa. Trong "Kinh dịch": Tốn là phong, khảm là thuỷ. Xem ra, từ phong thuỷ phát sinh từ trong bát quái, hơn nữa có liên quan chặt chẽ với bát quái. Thời cổ đại,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 “Phong thuỷ” là một phần văn hoá truyền thống xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc Trung Hoa. Trong “Kinh dịch”: Tốn là phong, khảm là thuỷ. Xem ra, từ phong thuỷ phát sinh từ trong bát quái, hơn nữa có liên quan chặt chẽ với bát quái. Thời cổ đại, phong thuỷ lại gọi là “Khảm dư”, “Địa lý”; thời hiện đại có người gọi là “Mối quan hệ giữa từ trường vũ trụ và loài người” v.v…

Nói đơn giản, “Phong thuỷ học” là môn học tổng hợp nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với môi trường. Nó bao gồm “Phong thuỷ dương trạch” và “Phong thuỷ âm trạch” (Dương trạch là nhà ở, âm trạch là phần mộ). Một số chuyên gia khẳng định rằng: “Phong thuỷ là một kiến thức học vấn nghiêm túc” vì nó có lịch sử lâu dài và đã được kiểm nghiệm thực tiễn qua 5000 năm, có một hệ thống lý luận khoa học rộng lớn.

Phong-thuy

Về “Phong thuỷ dương trạch”, nội dung nghiên cứu đại thể bao gồm các yếu tố liên quan đến nhà như: Hướng, ánh sáng, thông gió, độ thoáng mát, nhiệt độ, độ ẩm, tình trạng vệ sinh, an toàn, nhân tố xã hội, cách sử dụng v.v…

Ngạn ngữ có câu: Địa linh nhân kiệt. Từ đó có thể thấy, phong thuỷ vô cùng quan trọng đối với con người, nhìn từ bối cảnh nảy sinh thuật phong thuỷ thấy có liên quan tới tôn chỉ xây dựng đất nước, liên quan với thực tiễn sản xuất nông nghiệp thời kỳ đầu và vấn đề xây dựng thuỷ lợi, về lựa chọn môi trường xung quanh nơi ở bao gồm thành phố, thị trấn, xóm, làng, người xưa rất coi trọng yếu tố lưng dựa vào núi, mặt hướng ra sông, như vậy không những sinh hoạt thuận tiện, mà môi trường sinh hoạt yên tĩnh thoải mái. Đất ở nơi lưng dựa vào núi mặt hướng ra sông là phì nhiêu màu mỡ nhất, rất có lợi cho canh tác nông nghiệp.

Rất nhiều yêu cầu phong thuỷ cụ thể hàm chứa lý lẽ khoa học nhất định. Ví dụ, thuật phong thuỷ cho rằng, nhà ở không nên dựng trên đất cây cỏ không mọc được, lý lẽ khoa học ở đây là vì những nơi đó đất đai cằn cỗi lại không có sinh khí; nhà không nên ở những nơi gần cổng thành lớn hoặc đối diện gần với cửa nhà tù, bởi vì ở những môi trường như thế có thể phá vỡ sự yên ổn tâm lý v.v… Tất cả hoàn toàn phù hợp với quan điểm của y học hiện đại, về bố cục nhà, trong thuật phong thuỷ có cách giải thích rằng: “Trước thấp sau cao; sinh ra anh hào”. Như vậy ngoài mỹ quan ra, trước sau nhà đều đủ ánh sáng. Con người sống trong môi trường như vậy rất có lợi cho sức khoẻ. Trái lại “Trước cao sau thấp, âm u sẽ kéo dài”. Trước nhà nắng nóng, sau nhà râm mát, chắc chắn không có lợi cho sức khoẻ. Kết câu loại này chủ yếu chỉ những ngôi nhà thân toạ hướng bắc mặt hướng về nam. Xưa kia người ít đất nhiều nên có rất nhiều cơ hội để chọn hướng nhà ở.

Quan hệ giữa cây cối và nơi ở, thuật phong thuỷ cho rằng, trước cửa và trong nhà không nên có cây lớn. Giải thích điều này bằng quan điểm khoa học hiện đại thấy rằng, vì cây to chiếm nhiều ánh sáng, cản trở không khí lưu thông, mưa giông dễ bị sét đánh, chim đậu trên cây thải phân xuống làm ô nhiễm môi trường. Hơn nữa dưới tán cây thường là ẩm ướt, mà chỗ ẩm ướt dễ sinh ra ký sinh trùng. Thầy phong thuỷ đời nhà Thanh Trung Quốc – Cao Bối Nam cho rằng: “Phía đông nhà ở nên trồng đào, liễu; phía tây nên trồng thanh, du, phía nam nên trồng táo, mai, phía bắc nên trồng nai, hạnh”. Cách nói này phù hợp với đặc tính sinh lý của từng loại cây trong sinh vật học. Bởi vì đào, liễu thích cái ấm của ánh nắng mặt trời nên thích hợp hướng Đông, còn mai và táo vì cành không to nên thích hợp hướng Nam; cây hạnh không ưa ánh nắng mặt trời nên thích nghi hướng Bắc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lý lẽ khoa học hàm chứa trong “phong thủy học” (Phần 1) –

Xem tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần – Nam mạng - Tuổi dần - Xem Tử Vi

Xem tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần – Nam mạng, Tuổi dần, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Xem tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần – Nam mạng, tu vi Xem tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần – Nam mạng, tu vi Tuổi dần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần – Nam mạng

Xem tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần nam Mạng, cuộc sống có nhiều chán nản vì hoàn cảnh không cho phép phát triển sự nghiệp công danh. Nên cần mẫn và kiên nhẫn mới có thể đoạt lấy sự vinh quang sau này. Tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần - Nam mạng1Tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần – Nam mạng1

Sanh năm: 1938, 1998 và 2058
Tuổi Mậu Dần theo lịch vạn sự mang Cung CẤN Trực KHAI
Mạng THÀNH ĐẦU THỔ (đất trên thành)
Khắc THIÊN THƯỢNG THỦY
Con nhà HUỲNH ĐẾ (phú quý)
Xương CON CỌP
Tướng tinh CON THUỒNG LUỒNG

CUỘC SỐNG
Cuộc sống nhiều lao đao, tuổi nhỏ không được nhiều may mắn lắm, đường công danh và sự nghiệp cũng thường hay lên bổng xuống trầm, cuộc đời không có được những số may, cam chịu cảnh ngang trái với cuộc đời, không bao giờ có sự lo nghĩ cho vẹn toàn. Tâm não hay xao động và có nhiều việc làm cho tâm trí nhiều lo buồn. Cuộc sống có nhiều chán nản vì hoàn cảnh không cho phép phát triển sự nghiệp công danh. Nên cần mẫn và kiên nhẫn mới có thể đoạt lấy sự vinh quang sau này. Cuộc đời có thể tìm được một sự nghiệp vững vàng và từ tuổi 36 trở đi, sự nghiệp lúc đó mới vững vàng được.

Số tuổi Mậu Dần cũng có cơ hội phát triển mạnh mẽ về công danh, tài lộc và sự nghiệp nếu ăn ở hiền hòa, biết làm phước đức thì tuổi Mậu Dần hưởng thọ trung bình trên 60 tuổi,và có thể sống lâu hơn nữa theo sự tiền định của Tử Vi, vậy nếu cần có một cuộc sống lâu bền, bạn nên làm phước đức để được tăng thêm.

TÌNH DUYÊN
Các chuyên gia xem bói tình yêu nói, bạn cũng có thay đổi nhiều lần lắm. Số kiếp đối với tình duyên thường hay có nhiều đau khổ. Nên cẩn thận và sáng suốt hơn nữa trong vấn đề này. Bạn không nên có mặc cảm, hay những sự lo nghĩ quá nhiều, vì số kiếp, dù có tránh cũng không khi nào được cả. Cố gắng tạo lấy một hoàn cảnh thuận tiện để tạo lấy hạnh phúc, đừng buồn bực và chán nản trước một bối cảnh có liên quan rất nhiều đến cuộc đời.

Vậy thì bạn cần nên đọc kỹ dưới đây, để biết xem bạn trong cuộc đời có mấy lần thay đổi tình duyên: Sau đây là con số mà cuộc đời bạn sẽ phải thay đổi tùy theo tháng sanh của bạn. Nếu bạn sanh vào những tháng sau đây, cuộc đời bạn sẽ có ba lần thay đổi lương duyên, đó là bạn sanh vào những tháng 5, 7 và 12 Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng này cuộc đời bạn sẽ hai lần thay đổi tình duyên, đó là bạn sanh vào những tháng Giêng, 3, 4, 6, 8 và 12 Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng này thì vấn đề tình duyên bạn được chung thủy và có nhiều hạnh phúc đó là sanh vào những tháng 2, 9, và 10 Âm lịch.

Tuy nhiên, theo số của tuổi Mậu Dần sẽ có nhiều thương đau về vấn đề tình duyên. Sự não lòng khổ sở về vấn đề này đối với tuổi Mậu Dần không phải ít. Vậy bạn nên nhớ lại xem bạn sanh vào những tháng nào để biết được đời mình đối với tình duyên còn có thay đổi nữa không.

GIA ĐẠO, CÔNG DANH
Công danh của tuổi Mậu Dần không được nhiều triển vọng tốt đẹp, tuy vậy không phải chịu nhiều bi đát lắm vì công danh, tuy không lên cao, nhưng cũng không đến nỗi tệ lắm, chỉ có thể hãnh diện đôi chút với đời. Về gia đạo có phần bê bối thường xuyên, nên không được vui vẻ cho lắm, cuộc sống về gia đạo không được may mắn lắm, thường có mặc cảm. Tuy nhiên cuộc sống phải nhờ đến gia đình mới có thể phát triển được công danh.

Công danh hễ lên thì cao, hễ xuống thì rất là thấp, không có một mức trung bình cố định, nên có thể nói rằng công danh chỉ vào ở một mức độ bình thường.

Gia đạo bê bối thì công danh không đem lại những kết quả cho cuộc đời. Đời sống luôn luôn ăn liền và nối tiếp với vấn đề gia đạo, nên cẩn thận và sáng suốt, để cho công danh vượt lên cao. Nếu không, đường công danh chỉ là một bóng mờ của cuộc đời mà thôi.

Tiền bạc sẽ có phát triển vào năm 29 và 30 tuổi, nhưng chỉ ở giai đoạn tạm thời, không được hoàn mỹ, cuộc làm ăn có nhiều kết quả tốt đẹp, tiền tài điều hòa và có nhiều lợi to, nhưng rồi chỉ trong một thời gian ngắn sẽ bị tiêu tan, số chưa nắm được nhiều tiền, muốn có một sự vững chắc về vấn đề này, phải đúng vào tuổi 34, nghĩa là phải bước qua năm 33 tuổi mới có thể phát triển về vấn đề tiền bạc. Sự nghiệp hoàn thành và vững chắc phải ở vào năm mà bạn phải được ít nhất là 36 tuổi, nhưng vững chắc nhất là năm 37 tuổi.

Năm 29 và 30, tuy có nhiều lợi to về vấn đề tiền bạc nhưng không có sự căn bản và bảo đảm được vững chắc lắm, cần phải có được một thời gian dài lo toan và suy nghĩ mới tạo được sự nghiệp và tiền bạc vẫn đi đôi với sự nghiệp, khi tiền bạc nhiều thì sự nghiệp lên cao.

NHỮNG TUỔI HẠP LÀM ĂN
Trong một cuộc sống muốn có một sự nghiệp vĩ đại, muốn cho công việc làm ăn của mình không xảy ra những điều thất bại, bạn cũng nên lựa chọn người để làm ăn. Công việc làm ăn có tiến bộ, tấn triển con người mới vui tươi và hăng hái. Muốn tạo lấy một tương lai vinh hiển, sống một cuộc đời sang cả, việc làm ăn phải tránh những tuổi khắc kỵ với tuổi mình, phải có sự trung hòa và trùng hợp mới có thể phát triển mạnh mẽ được.

Vậy trong sự làm ăn bạn phải cần lựa cho được những tuổi sau đây: Nhâm Thìn, Ất Mùi, Mậu Tuất. Ba tuổi trên đây rất hạp với tuổi Mậu Dần, có thể hùn hạp, hợp tác hay trên mọi vấn đề có tánh cách tạo lấy tiền bạc. Chắc chắn hợp tác với những tuổi này bạn sẽ nắm được nhiều thắng lợi và khỏi lo sợ bị thất bại đổ vỡ.

LỰA CHỌN VỢ, CHỒNG
Việc xây dựng hạnh phúc gia đình, bạn cũng cần nên tìm cho mình những tuổi trùng hợp, những tuổi mà có thể làm cho gia đình êm, ấm, hạnh phúc vui tươi, trong sự làm ăn, gia đạo được phát triển mạnh mẽ. Đồng vợ đồng chồng, mới có thể xây dựng được một sự nghiệp lâu bền và không bao giờ có sự đổ vỡ nửa chừng. Trong việc hôn nhân và hạnh phúc, bạn cũng cần lựa chọn cho đúng những tuổi sau đây: Nhâm Thìn, Ất Mùi, Mật Tuất, Kỷ Sửu. Những tuổi này sẽ giúp bạn thành công trên cuộc đời.

Bạn kết hôn với tuổi Nhâm Thìn: Nhân Thìn giúp bạn thành công to trên đường sự nghiệp, tiền bạc được dồi dào, hào con đủ nuôi. Kết hôn với tuổi Ất Mùi: Tuổi Ất Mùi với Canh Dần rất hạp nhau về tánh tình, làm ăn được mau phát đạt, không giúp phát triển công danh, nhưng lại có nhiều tiền bạc, hào con đông đủ. Kết hôn với tuổi Kỷ Sửu: Tuổi Kỷ Sửu giúp bạn cả hai phương tiện gia đình và sự phát triển tiền bạc, lại có đủ trai đủ gái để nuôi. Kết hôn với những tuổi này đặng tốt. Tuy nhiên cũng có thể ảnh hưởng đến số mạng, vậy bạn hãy xem tuổi nào đại kỵ biệt ly hay tuyệt mạng vào những phần dưới đây.

Nếu bạn đã lỡ hay sắp kết hôn với những tuổi sau đây thì bạn chỉ có một cuộc sống trung bình về công danh cũng như về sự nghiệp mà thôi, đó là những tuổi: Tân Mão, Đinh Dậu. Hai tuổi này có số hạp về vấn đề tình cảm, nhưng không hạp về vấn đề tài lộc, công danh. Hai tuổi này chỉ được tốt và có tình thương yêu cao độ mà thôi.

Những tuổi này là những tuổi không phù hạp với tuổi Canh Dần, có thể kết hôn, nhưng không đem lại cho cuộc đời một sự sống hoàn toàn hay đẹp về vấn đề tài lộc, tình cảm lẫn công danh: Đó à những tuổi: Giáp Ngọ, Kỷ Hợi, Đinh Hợi, Mậu Tý. Những tuổi trên đây chỉ có thể kết hôn nhưng phải chịu số kiếp nghèo hèn, bần hàn, trong công việc làm ăn không được có nhiều may mắn lắm, sống thiếu thốn liên miên trong suốt cuộc đời.

Có những năm mà không nên cưới vợ hay tính chuyện lương duyên, vì gặp năm xung khắc, nếu phạm phải khó thành đôi bạn và có nhiều khắc kỵ phải chịu cảnh vắng vẻ phòng không và hay sanh ra cảnh vợ bỏ đi. Đó là những năm mà bạn ở vào tuổi này: 21, 27, 33, 39, 45 và 51 tuổi.

Những năm trên đây bạn không nên tính chuyện hiệp hôn hay có sự hiệp hôn, không được tốt cho cuộc tình duyên của bạn sau này.

Những tháng này, tuổi Mậu Dần gặp phải nhiều lần thay đổi lương duyên hay có nhiều thay đổi trong việc tình duyên gia đạo, đó là bạn sanh vào những tháng 3, 4, 5, 6, 7 và 12 Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng này chắc chắn bạn sẽ có số lưu thê hay đau khổ về đường vợ con.

NHỮNG TUỔI ĐẠI KỴ
Sau đây là những tuổi đại kỵ nếu bạn kết hôn hay hợp tác làm ăn thì sẽ gặp cảnh gãy gánh nửa đường hay sanh ra cảnh biệt ly, xích mích, không thuận tiện cho sự đ ào tạo lấy sự nghiệp của mình. Đó là những tuổi rất khắc kỵ với tuổi Mậu Dần như sau đây: Canh Dần, Quý Tỵ, Bính Thân, Nhâm Dần. Ất Tỵ, Mậu Thân và Giáp Thân. Tuổi Mậu Dần rất đại kỵ những tuổi trên đây, nếu có kết hôn hay hùn hạp làm ăn sẽ rất nguy hiểm đến cuộc sống và tánh mạng của mình.

Khi gặp tuổi khắc, kỵ phải cầu nguyện cho thật nhiều, cố công tu thân tích đức, làm việc ân nghĩa, cầu Trời khẩn Phật và nhất là phải cùng sao hạn hằng năm thì sẽ được giải hạn. Nên nhớ khi gặp tuổi kỵ thì công việc làm ăn sẽ không tấn phát. Cúng sao giải hạn chỉ có tánh cách không nguy hiểm đến tánh mạng mà thôi.

NHỮNG NĂM KHÓ KHĂN NHẤT
Tuổi Mậu Dần gặp nhằm những năm khó khăn nhất là những năm mà bạn bạn gặp số tuổi 23, 27. 31 và 37 tuổi. Bạn nên cẩn thận vào những năm này. Số bạn trong những năm này sẽ có nhiều xui xẻo không diễn tiến bình thương theo cuộc sống mà trái lại sẽ gặp những vấn đề ngang trái phũ phàng, cuộc sống có phần sao động và sôi động mãnh liệt. Nên cẩn thận trong mọi việc làm ăn, không sẽ gặp tai nạn hay bịnh hoạn bất thường.

NGÀY GIỜ XUẤT HÀNH HẠP NHẤT
Sau đây là ngày giờ mà bạn xuất hành hạp nhất trong suốt cuộc đời bạn. Tuổi Mậu Dần chỉ hạp vào những giờ chẵn, ngày lẻ và tháng chẵn, bất kỳ xuất hành trong ngày nào, tháng nào, hay giờ nào cũng có thể làm ăn có những thắng lợi miễn đúng với những ngày, giờ và tháng kể trên.

Việc trên đây là do sự nghiên cứu của các nhà chiết tự Âu Tây và Đông Phương phối hợp, đó là các sự huyền bí về chiêm tinh mà các chiêm tinh gia: Tào Tuyết Long, Artémidore, Nicophare và bác sĩ kiêm huyền bí gia Regnault (Pháp) nghiên cứu bằng sự khám nghiệm thi thể và ép xác chết như Kyserling ở Ai Cập.

NHỮNG DIỄN TIẾN TỪNG NĂM
Từ 29 đến 35 tuổi: Số tuổi còn nhiều lao đao, nhiều lo nghĩ, cuộc đời chưa hẳn làm được việc gì khả dĩ lên cao được, cho nên tuổi 29, số có nhiều đau buồn. Tuổi 30 và 31 đỡ khổ hơn đôi chút, nhưng năm 31 tuổi lại gặp nhiều sự buồn phiền về gia cảnh, nhưng tâm não và công danh có phần tiến triển đôi chút. Từ 31 đến 33 tuổi không được hoàn toàn êm đẹp, sẽ phải ở trong một tình trạng đau khổ nhất, buồn bã nhất có thể không đem lại cho cuộc đời nhiều việc may mắn hơn. Từ 34 đến 35 tuổi, số lên cao, hai năm này bạn làm ăn phát đạt, tiền bạc dư dả, công việc có thể tiến lên cao được.

Từ 36 đến 40 tuổi: Tuổi 36 gặp nhiều may mắn, nhưng cũng có lúc sẽ đau buồn nhiều, nhưng nói chung đều ở trong tình trạng phát triển mạnh mẽ về tài lộc cũng như về tình cảm. Tuổi 37 và 38 sự nghiệp khá vững vàng, sẽ có nhiều may mắn hơn nữa trong việc làm ăn, gia đình hạnh phúc được yên vui không có nhiều xáo động lắm. Năm 39 và 40 hy vọng thành công hoàn toàn về gia đạo, sự nghiệp lẫn tiền tài, có thể phát triển được nhiều công việc làm ăn cũng như về khía cạnh tình cảm. Hai năm này khá tốt đẹp trong cuộc đời, làm gì được nấy, có thể hoàn thành sự nghiệp một cách dễ dàng.

Từ 41 đến 45 tuổi: Năm 41 tuổi, gặp sao hạn nặng cuộc đời có nhiều thay đổi, việc làm ăn trở ngại lớn, nên cẩn thận làm ăn, hay lo công việc làm ăn thì mới thành công. Năm 42 và 43 tuổi tình trạng bình thường không có sôi động, hay thất bại gì cả chỉ ở trong mức độ trung bình mà thôi, nên cẩn thận trong việc giao dịch hay giao thương thì tốt. Từ 44 đến 45 tuổi, thận trọng cho lắm kẻo gặp tai nạn, hai năm này có hao tài tốn của đôi chút, việc gia đạo không được hay đẹp và tròn vẹn cho lắm, cần nên đề phòng tai nạn năm 44 tuổi. Năm 45 thì qua khỏi được chút nhưng cũng không được tốt lắm.

Từ 46 đến 50 tuổi và suốt cuộc đời: Tuổi 46 không có gì đáng gọi là may mắn, nhưng năm này lại có hoạnh tài, có chút về tài lộc, cẩn thận trong việc giao dịch thì tốt hơn. Tuổi 47 và 48 và cho đến suốt cuộc đời, công danh, sự nghiệp, gia đạo chỉ ở trong mức độ bình thường mà thôi. Không lên cao và cũng không có hao hụt nhiều về tiền bạc. Công việc vẫn điều hòa, càng phát xuất bao nhiêu, thì lại càng thâu nhiều lợi bấy nhiêu. Đừng nên phung phí tiền bạc một cách vô ích, nên cần thận cho thân thể, con cái thường hay đau bịnh thuyên chuyển, thay đổi làm ăn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi trọn đời tuổi Mậu Dần – Nam mạng - Tuổi dần - Xem Tử Vi

Tuyển tập những lời chúc sinh nhật chồng hay nhất

Tuyển tập những lời chúc sinh nhật chồng hay nhất. Lời chúc sinh nhật dành cho chồng yêu mang đến niềm hạnh phúc cho cả hai vợ chồng bạn.
Tuyển tập những lời chúc sinh nhật chồng hay nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuyển tập những lời chúc sinh nhật chồng hay nhất. Lời chúc sinh nhật dành cho chồng yêu (miền nam là ông xã, anh xã) tưởng chừng không còn quan trọng đối với mỗi cặp vợ chồng nhưng các bà vợ phải biết rằng phu quân của mình lại hạnh phúc như thế nào khi nhận được lời sinh nhật của vợ mình không? Một lời chúc ngọt ngào có thể làm tan chảy trái tim của biết bao đấng mày râu. Cùng xem những lời chúc bà xã dành cho ông xã dựa trên những gợi ý dưới đây bạn nhé.

Tuyển tập những lời chúc sinh nhật chồng hay nhất

Em yêu anh và hôm nay, em lại được ở bên cạnh anh trong một ngày sinh nhật trọn vẹn…

——–

Em cầu chúc cho ông xã của em luôn luôn mạnh khoẻ, luôn là người chồng mà em luôn thương yêu và tin tưởng suốt cuộc đời, luôn là bờ vai vững chắc để em ngả vào những lúc em gặp khó khăn trong cuộc sống…

———

OX thương yêu! Vậy là OX lại thêm một tuổi nữa rồi đấy nhé! Món quà tình yêu của BX dành cho anh là vô giá…Em cầu chúc cho OX của em luôn luôn mạnh khoẻ, luôn là người chồng mà em luôn thương yêu và tin tưởng suốt cuộc đời ♥

———-

Đến bây giờ mình đã là vợ chồng^^, giấc mơ đã thành sự thật, em mong mình được yêu thương và bên nhau mãi mãi đến hết cuộc đời … Cuộc sống còn có nhiều khó khăn, vợ chồng mình như Ngưu Lang và Chức Nữ mổi năm gặp một lần, em luôn mong ngày vợ chồng được đoàn tụ, được ở bên cạnh anh trong một ngày sinh nhật trọn vẹn… ♥

Hôm nay là 1 ngày thật đặc biệt với em Chồng yêu à! Em cầu chúc cho chồng yêu của em luôn luôn mạnh khoẻ, luôn là người chồng mà em luôn thương yêu và tin tưởng suốt cuộc đời, luôn là bờ vai vững chắc để em ngả vào những lúc em gặp khó khăn trong cuộc sống… Happy Birthday Chồng yêu!!! ♥♥

Anh à! Vậy là chúng mình đã cùng nhau vượt qua bao nhiêu là sóng gió, không biết còn gì đang chơ đón phía trước nữa. Dù có thế nào em cũng sẽ luôn ở bên và ủng hộ anh, chúc anh sinh nhật thật vui và luôn luôn mỉm cười như khi bên em nhé ^+^

Chồng à! Giờ đây chúng ta đã chung một nhà, chung một giường, chung một ước mơ xây dựng tổ ốm nhà mình rồi, dẫu sau này có nhiều khó khăn và vất vả, dẫu đôi vai gầy không thể gánh hết tất cả khó khăn nhưng đôi vai vợ hứa sẽ là chỗ dựa mỗi khi chồng cảm thấy mệt mỏi. Nhiều lúc thấy chồng vất vả, vợ thương lắm, nhưng chỉ biết nấu những món ăn ngon , chăm sóc con ngoan để chồng yên tâm công việc. Vợ xin lỗi nhưng vợ yêu chồng, yêu con nhiều lắm . Chúc chồng yêu sinh nhật vui vẻ ♥♥♥

Chồng yêu của vợ! Nay là sinh nhật chồng, vợ và con chúc chồng yêu sinh nhật vui vẻ, ngày càng mạnh khỏe, ngày càng yêu vợ và con hơn. Cố gắng ăn thật nhiều vào nha chồng, vợ yêu chồng nhiều lắm!!! ♥

Cảm ơn anh! Người đã mang cho em nhiều niềm vui trong cuộc sống và hứng khởi trong công việc. Sinh nhật anh, em chúc anh luôn luôn mạnh khỏe, vui vẻ, yêu em hơn và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. EM sẽ là hậu phương vững chắc cho anh, anh yên tâm làm việc nhé. Em yêu anh nhiều! ♥

Nay sinh nhật anh xã, chúc anh sinh nhật vui vẻ. Một nụ hôn thay cho nhiều lời muốn nói! ♥

Happy birthday chồng iu! chúc chồng iu thật vui vẻ,hạnh phúc,thành đạt hơn nữa nhé! Chúc cho chồng luôn đạt được ước mơ của mình. Luôn là chỗ dựa vững chắc cho em nhé! Yêu anh nhìu nhìu….

Lời chúc sinh nhật của hai mẹ con gửi tới bố! Chúc bố sinh nhật vui vẻ, hạnh phúc, đẹp trai và kiếm thật nhiều tiền để cho hai me con không phải làm gì, chỉ ăn và đi tơi shopbing tiêu tiền thôi ^^ và mãi mãi là chỗ dựa vững chắc cho hai mẹ con. Còn một điều quan trọng nữa mà quên không bảo bố. Bố không được lén phén bên ngoài đâu nhé. Hai mẹ con mà biết được sẽ đánh đòn bố đầy .Bố phải ngoan thì hai mẹ con sẽ yêu bố nhiều nhiều!!! ♥♥♥

Chúc ông xã của em luôn luôn mạnh khỏe, luôn là người chồng mà em yêu thương và tin tưởng, luôn là bờ vai vững chắc để em ngã vào những khi gặp khó khăn trong cuộc sống. Luôn là tấm gương sáng cho con trai học tập. Dù có viết ngàn lời thì cũng không nói hết được tình yêu em dành cho 2 bố con đâu. Em chỉ biết chúc anh vui vẻ trong ngày sinh nhật và luôn yêu 2 mẹ con em như những ngày đã qua ♥

Hpbd chồng yêu. Chúc cho OX của em luôn luôn mạnh khoẻ, luôn là người chồng mà em luôn thương yêu và tin tưởng suốt cuộc đời. Em chỉ biết chúc anh vui vẻ nhân ngày sinh nhật . Chúc anh luôn vững vàng trước mọi sóng gió của cuộc đời. Chúc cho tình yêu và hạnh phúc của chúng mình luôn bền vững anh nhé!!! ♥

Chúc chồng iu của em sinh nhật vui vẻ! Tuổi mới nhiều thật nhiều thành công, hạnh phúc bên gia đình nhỏ xinh của vợ chồng mình chồng nhé! ♥

Chúc chồng êu sinh nhật zui zẻ…. E chúc ck thêm tuổi thêm sức khỏe, thêm niềm vui, thêm nụ cười, thêm hạnh phúc, thêm phát Tài và thêm thêm thêm ….. “Yêu thương 2 mẹ con e nhé”

Cmsn chồng iu . Chúc chồng iu của vợ sang năm mới làm ăn phát đạt, 1 khởi đầu mới thành công … Tuổi mới chững chạc hơn tuổi cũ .. Và cùng vợ gìn giữ mái ấm nhỏ này nhé … ♥

Trên thế giới to to, có 2 nhười nho nhỏ
Trong 2 người nhỏ nhỏ, có 1 tình yêu thật to
Tình yêu thật to sẽ làm nên 1 gia đình nho nhỏ
Và gia đình nho nhỏ, sẽ luôn có những tiếng cười to to =))
Happy Birthday chồng yêu! Chúc anh vui vẻ nhân ngày sinh nhật . Chúc anh luôn vững vàng trước mọi sóng gió của cuộc đời. Chúc cho tình yêu và hạnh phúc của chúng mình luôn bền vững anh nhé!!! ♥

Chúc chồng sinh nhật vui vẻ, hạnh phúc và mãi mãi bên cạnh vợ chồng nhé. Vợ xin lỗi vì thời gian qua đã làm chồng buồn phải suy nghĩ vì vợ. Vợ hứa sẽ không có chuyện gì xảy ra nữa đâu chồng ạ …. Yêu chồng nhất luôn … ♥♥♥♥♥…

Hy vọng với những lời chúc sinh nhật chồng yêu được tổng hợp chọn lọc ở trên sẽ 1 phần nào đó giúp ích được cho bạn gửi tới người chồng của mình, là một người thân yêu bạn và ở với bạn đến suốt cuộc đời, mang lại 1 món quà tinh thần ý nghĩa dành cho ông xã, đáng yêu!!!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuyển tập những lời chúc sinh nhật chồng hay nhất

10 điều đáng lưu tâm khi chuyển đồ về nhà mới

Không phải là chỉ cần cúng bái thần linh, thổ địa xong là bạn có thể tùy ý chuyển đồ vào nhà mới, có những việc rất nhỏ nhưng cũng đáng để bạn lưu tâm.
10 điều đáng lưu tâm khi chuyển đồ về nhà mới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Không phải là chỉ cần cúng bái thần linh, thổ địa xong là bạn có thể tùy ý chuyển đồ vào nhà mới. Có những việc rất nhỏ nhưng cũng đáng để bạn lưu tâm nếu muốn “an cư” để “lạc nghiệp”.


10 dieu dang luu tam khi chuyen do ve nha moi hinh anh 2
Ảnh minh họa

 
  1. Không nên tay không tiến thẳng vào nhà, vào ngày chuyển nhà, lúc bạn bước vào nhà lần đầu tiên thì trên tay nên cầm một món đồ có giá trị, người lớn tuổi đi trước, người ít tuổi hơn đi sau, cứ thế tiến vào nhà.
 
2. Tốt nhất là nên đem những đồ dùng nấu bếp như bếp, chảo, nồi, bát đĩa… vào phòng bếp trước, sau đó mới tiến hành sắp xếp đồ đạc ở các phòng khác.
 
3. Nếu làm lễ nhập trạch vào lúc hoàng hôn thì nên lễ bái thổ địa để gia đình được bình an, tránh được tai họa, khi tế bái thì có thể làm ở cửa phòng bếp hoặc cửa sau của ngôi nhà, đặt đồ ăn, rượu 3 chén, nến đỏ một đôi, thắp 3 nén hương, vàng mã và cúng bái như bình thường.
 
4. Khi chuyển đồ thì nên chuyển giường và chăn gối, nệm, chiếu… vào trước, sau đó mới tới các đồ dùng khác như bàn trang điểm, đèn ngủ…
 
5. Nếu lo sợ khi chuyển nhà khí hậu không thuận thì có thể đem theo một ít bùn đất hoặc một mẩu gừng khi vào nhà mới. Nếu chuyển tới nhà mới ở tỉnh khác hoặc nước ngoài thì có thể mang theo một chút gạo và đất.
 
6. Khi tiến vào nhà mới có thể khởi động một vài thứ như mở cửa sổ, mửo vòi nước, đun nước sôi hoặc bật đèn…

10 dieu dang luu tam khi chuyen do ve nha moi hinh anh 2
Ảnh minh họa
7. Vào ngày chuyển nhà, nhất định phải bật bếp, không nên để bếp im lặng, lạnh lẽo quá. Tốt nhất là nên nấu một chút đồ ăn, trước là cúng thần Bếp, sau là cả nhà dùng bữa.
 
8. Ngày chuyển nhà, tinh thần phải thật tốt, không thể tùy tiện tức giận, càng không nên mắng chửi người khác, kỵ nói những điềm xấu.
 
9. Nếu trong nhà có người mang thai thì tốt nhất không nên chuyển nhà để tránh bị động thai. Phụ nữ có thai cũng không nên mang vác đồ đạc, trên người nên có tượng Phật Quan Âm nhỏ.
 
10. Trong nhà có trẻ  sơ sinh thì tạm thời không nên chuyển nhà. Nếu nhất định phải chuyển thì nên làm lễ cúng bái Thần Linh.

Phương Thùy

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 điều đáng lưu tâm khi chuyển đồ về nhà mới

Bệnh hoa mắt muỗi bay với con sâu trong giấc mơ –

Bệnh muỗi bay là bệnh của mắt, tuy bên ngoài không thấy nhãn cầu có dấu vết gì nhưng sáng ra thấy có nhiều điểm bay tán loạn trong mắt, giống như các con muỗi bay. Mắt có hiện tượng như thế gọi là ảo thị. Có một cô gái làm việc ở một cơ quan hàng khô

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bệnh muỗi bay là bệnh của mắt, tuy bên ngoài không thấy nhãn cầu có dấu vết gì nhưng sáng ra thấy có nhiều điểm bay tán loạn trong mắt, giống như các con muỗi bay. Mắt có hiện tượng như thế gọi là ảo thị.

Bệnh hoa mắt

Có một cô gái làm việc ở một cơ quan hàng không kể cho mọi người nghe về giấc mơ của cô: Một hôm đang nằm nghỉ, cô mơ thấy mình bay trên không, có lúc bay rất tự do. Bay một lúc cô lại trở về máy bay và phát hiện trên vách trong máy bay có rất nhiều côn trùng nhỏ, đen như hắc ín bám, trên chén trà, ngay cả người cũng đầy loại trùng này. Chẳng có cách nào đuổi được chúng, các con trùng bay đầy gian phòng khiến cô không trông thấy gì, cô không chịu được, kêu to và tỉnh dậy.

Mấy ngày sau cô mới biết mình bị mắc bệnh đau mắt hoa có muỗi bay, đành nghỉ công tác.

Bệnh này do cảm ứng tâm lý mà có, các con trùng bay trong ảo giác, bất cứ mở mắt hay nhắm mắt đều có cảm giác như thế.

Khi thấy hiện tượng như thế phải đi bệnh viện kiểm tra ngay.

Nếu trẻ em mơ thấy như thế thì phải đi khám, xác định xem loại bệnh gì vì bệnh hoa mắt như có muỗi bay rất ít gặp ở trẻ em.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bệnh hoa mắt muỗi bay với con sâu trong giấc mơ –

Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Bật mí những bí mật gia tăng vận đào hoa tuyệt diệu nhất trong ngày Rằm Tháng Giêng - Valentine phương Đông. Cách tăng vận đào hoa để tình yêu nảy nở
Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày Rằm Tháng Giêng ở Việt Nam còn gọi là ngày vía Phật Tổ, nhưng ít ai biết rằng Rằm Tháng Giêng còn được coi là mùa Valentine phương Đông. Thơ Đường xưa đã viết: "Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt", mùa trăng tròn lung linh sắc màu hoa đăng rực rỡ cũng là dịp nam thanh nữ tú thả đèn trời hẹn hò se duyên.


Dưới đây, ## xin được giới thiệu cho bạn đọc những bí mật gia tăng vận đào hoa tuyệt diệu nhất trong ngày Rằm Tháng Giêng này.



Bi quyet tuyet voi gia tang van dao hoa ngay Ram thang Gieng hinh anh

► Mời các bạn: Đổi ngày dương sang âm nhanh chóng và chuẩn xác nhất tại Lịch ngày tốt

Kiếm Phong

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Biết điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động

Là con gái, dù ít dù nhiều cũng thích những điều lãng mạn, cùng xem điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động là gì nhé.
Biết điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Là con gái, dù ít dù nhiều cũng thích những điều lãng mạn, thích được trở thành nữ chính trong bộ phim ngôn tình của cuộc đời mình. Nhưng lãng mạn cũng phải có bài nhé, không phải kiểu nào cũng chinh phục được nàng đâu. Cùng xem điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động là gì nhé.

Biet dieu khien 12 chom sao nu cam dong, chinh phuc nang chang kho
 

Bạch Dương: được người yêu bảo vệ

  Vốn là cô gái có tính cách thẳng thắn, tâm tư đơn giản chẳng thích màu mè nên Bạch Dương làm gì cũng rất phóng khoáng. Cô ấy ghét nhất là những anh chàng không có khí khái nam nhi, ẻo lả thiếu khí chất. Lãng mạn mà sến súa như kiểu phim truyền hình thì cừu trắng quay ngoắt đi không thèm đáp ngay.   Điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động mà cụ thể là nàng Bạch Dương là cảm giác được che chở, là chàng trai mạnh mẽ và cuồng nhiệt. Với dáng vẻ anh hùng cứu mỹ nhân, từ trước đên nay cô ấy đều không có sức kháng cự, chỉ có thể cúi đầu ngoan ngoan chịu trói mà thôi.  

Kim Ngưu: cùng ngắm trăng nơi thanh vắng

  Nữ sinh Kim Ngưu tính tình ôn hòa ngoan ngoãn, hiền lành và dịu dàng, thích nhất là đoạn tình cảm lãng mạn chân thành, chung thủy với nhau trọn đời trọn kiếp. Với cô ấy, điều tuyệt vời nhất không phải là kinh thiên động địa gì, chỉ cần bên nhau bình yên, tận hưởng từng giây từng phút là đủ.   Kim Ngưu nếu được cùng ngắm trăng với người yêu ở nơi thiên nhiên hữu tình, hai người vừa trò chuyện vừa hòa vào mây trời thì không mong mỏi gì hơn. Năm tháng trôi qua cũng dừng lại ở khoảnh khắc ấy, đẹp đẽ mà thanh bình, giống như sẽ ở bên nhau tới khi cuối đời vậy.
Xem thêm bài viết Các đức ông chồng tố cáo tính xấu của 12 chòm sao nữ

Song Tử: không ngừng làm cô ấy ngạc nhiên

  Hoạt bát và nhiệt tình, tư duy sinh động lắm chiêu trò, yêu Song Tử vừa vui vừa mệt. Cô ấy là người vui vẻ nhất nhưng cũng là người hay thay đổi nhất, là người có thể cùng chàng trai mình yêu nhảy nhót dưới mưa, leo núi trong gió lạnh, làm vô số chuyện điên rồ nhưng cũng có thể lạnh lùng trong chớp mắt.   Người giữ được cô nàng này luôn như phút ban đầu phải làm cho Song Tử ngạc nhiên liên tiếp, đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Lãng mạn nhất với Tử nhi không phải là tặng hoa mà là tặng hoa bất ngờ, không phải nụ hôn mà là nụ hôn thú vị, không phải một cuộc đi chơi mà là cuộc đi chơi tràn ngập kích thích.   

Cự Giải nữ: vô tình phát hiện người yêu chuẩn bị quà cho mình

  Nói tới sự lãng mạn của 12 chòm sao nữ thì hẳn nhiều người sẽ cảm thấy tính cách của Cự Giải nhất định là thích thứ gì đó nhẹ nhàng. Vì cô ấy nội tâm ôn hòa, tình cảm dịu dàng, duyên dáng ý nhị, lúc nào người cũng mang theo dáng vẻ hài hòa tươi tắn, mát mẻ thanh bình. Song ẩn chứa bên trong là tâm hồn nhạy cảm, khép kín, sợ hãi.   Thế nên muốn làm cô ấy vui thì không thể quá bất ngờ, nhưng cũng không được bình thường quá. Trong quá trình chuẩn bị quà tặng hay chuẩn bị bữa tiệc nho nhỏ cho nàng, hãy làm như tình cờ để Cự Giải tự đoán ra, cô ấy sẽ cảm thấy bản thân được coi trọng, ôm ấp niềm hạnh phúc này như thể báu vật.  

Sư Tử: tuyên bố mình thuộc về người ấy trước đám đông


dieu khien 12 chom sao nu cam dong
 
Không điều gì khiến cô nàng Sư Tử mạnh mẽ, cao ngạo cảm thấy rung động mãnh liệt hơn là chàng trai cô yêu tuyên bố thẳng thắn trước đám đông về mối quan hệ của hai người. Anh ấy có thể không cao to, có thể không đẹp trai rạng ngời nhưng nhất định phải là người đàn ông dám thừa nhận cô thuộc về anh ấy.   Sự bá đạo, chí khí nam nhi của đàn ông cùng lòng hư vinh của con gái được đền đáp, được thỏa mãn trong một hành động như vậy thôi. Sư Tử cho rằng trên đời này chẳng còn điều gì lãng mạn hơn như vậy nữa, nếu anh ấy làm thế, cô sẽ nguyện bất chấp tất cả để yêu anh.

Xem thêm bài viết Top 3 chòm sao càng già càng có nhiều "phi công trẻ" bám đuôi
 

Xử Nữ: một đời gắn bó làm bạn

  Yêu nhau tha thiết không phải là tình cảm một sớm một chiều, lúc sâu lúc cạn, càng không phải những đóa hoa rực rỡ buổi ban đầu, những món quà đắt tiền trong lúc tán tỉnh. Cô nàng Xử Nữ tin rằng, lãng mạn nhất là bên nhau trọn đời, đẹp đẽ nhất là kiếp này mãi có nhau.   Lãng mạn mà thực tế, đúng với tính cách ưa thích hoàn mỹ của Xử Nữ. Tình yêu trọn vẹn phải đi đến cùng, sống với nhau trải qua năm tháng, vượt mọi sóng gió, là bạn đời, bạn tình và bạn tri kỉ. Còn lời nói gió bay, yêu nhau hứa hẹn ngọt ngào mà cuối cùng chia ly thì đâu có ý nghĩa gì.  

Thiên Bình: nỗ lực vì tương lai của hai người

  Đa số những cô nàng Thiên Bình đều là mỹ nữ, trời sinh mỹ lệ, chú trọng cử chỉ hành vi, hướng tới tác phong phóng khoáng. Theo đuổi lãng mạn, mê mẩn tình yêu, mỗi câu chuyện tình đều mang trong mình phong vị lãng mạn riêng, họ thích nhất là vẽ ra viễn cảnh tương lai tươi đẹp.   Hai người cùng một ý chí, cùng một con đường, vì nhau mà cố gắng, vì nhau mà nỗ lực. Kế hoạch lên sẵn, thực hiện từng bước một, quả nhiên là hành động khiến người ta phải cảm động không thôi. Lãng mạn là quá trình, không phải chỉ một hành động nhỏ, Thiên Bình rất biết cách đặt ra mục tiêu cho mình.  

Hổ Cáp: được người yêu bảo vệ trước mặt người khác

  Tính tình chấp nhất nhưng chung thủy, một lòng một dạ của Hổ Cáp ít ai trong vòng tròn hoàng đạo sánh được. Họ tin rằng, yêu thà thiếu chứ không ẩu, có thể không yêu nhưng nhất định không yêu sai người. Khí thế mạnh mẽ như vậy nhưng nội tâm yếu đuối, chỉ mong được người đó che chở và bảo hộ.   Cô ấy luôn đúng, dù sai vẫn mong người yêu đứng về phía mình. Đối với Hổ Cáp, đó vừa là ước mong, vừa là nguyện vọng, vừa là điều lãng mạn nhất trên thế gian. Đám đông xa lạ có nói gì, làm gì đi nữa cũng chẳng mảy may ảnh hưởng, chỉ quan tâm tới thái độ của anh ấy mà thôi.
Xem thêm bài viết Chòm sao nữ Hổ Cáp - độc dược của đàn ông
 

Nhân Mã: cảm giác kích thích mạo hiểm

  Điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động có dáng vẻ hoàn toàn khác nhau, với cô nàng Nhân Mã tính cách như ánh mặt trời buổi sớm, sức sống mãnh liệt như lửa, đam mê tự do mạo hiểm thì những chuyện mới lạ luôn khiến cô ấy rung động sâu sắc, khơi dậy lòng hiếu kì và tình yêu trong sâu thẳm con tim.   Quên đi bữa tối lãng mạn trong nhà hàng sang trọng, quên đi những bó hoa hồng diêm dúa mỹ lệ, quên đi những bộ váy áo cầu kì của bữa tiệc tưng bừng, hãy mang tới cho Nhân Mã buổi tối ngắm sao trời trên núi, hãy tặng cô ấy bó hoa rừng còn đọng sương mai và chiêm ngưỡng dáng vẻ duyên dáng tự nhiên khi cô ấy khoác lên mình bộ đồ thể thao, chinh phục những nơi xa.  

Ma Kết: cùng cô ấy chuẩn bị cho tương lai

  Khác với Thiên Bình thích đưa ra kế hoạch xa và đẹp, Ma Kết với người mình yêu chỉ hướng tới những mục tiêu cụ thể. Họ không dùng từ “chúng ta sẽ” mà luôn luôn là “chúng ta có thể”. Chẳng cần khao khát mãnh liệt, chẳng cần tình yêu lãng mạn như phim, lãng mạn nhất là cùng nhau hoàn thành tương lai.   Mua nhà ở đâu, nhà bao nhiêu phòng, sẽ có mấy đứa con, con sẽ học trường nào,… mọi chuyện đều gần gũi và thân thuộc. Ma Kết thích những điều tỉ mỉ, những thứ tường tận như vậy. Cảm thấy cùng người yêu bàn tính tương lai vừa ngọt ngào lại vừa thực tế.  

Bảo Bình: trải nghiệm cuộc sống


su lang man cua 12 chom sao nu
 
Tinh thần tự do, tư tưởng tự do, tình yêu tự do – 3 phương châm của cô nàng Bảo Bình. Lạnh lùng và cuồng nhiệt, hạnh phúc và khổ đau, điểm tốt nhất của cuộc sống này không phải là hoàn mỹ mà chính là biến đổi, không ngừng trải nghiệm những cung bậc khác nhau của cảm xúc.   Vì thế, tình yêu mà không có nước mắt thì không phải tình yêu chân chính, yêu nhau mà chưa cùng nhau chu du thiên hạ, cảm nhận cuộc sống muôn màu thì nhất định không thể gọi là lãng mạn. Câu nói tuyệt nhất nhành cho Bảo Bình không phải là “anh yêu em” mà là “anh đi cùng em”.
Xem thêm bài viết 5 chòm sao nữ hay gặp phải Sở Khanh
 

Song Ngư: áp dụng tình tiết trong phim

  Lãng mạn và ảo tưởng chính là bản chất tình yêu của Song Ngư, nội tâm ngây thơ, thấy tình tiết nào trên phim hay ho thì đều muốn bản thân được trải nghiệm dù nó có phi lý tới mức nào đi nữa. Chiều cô ấy, cùng cô ấy biến thành nam nữ chính trong ngôn tình một lần xem sao.   Ví dụ như cùng đi dạo dưới mua, cùng chơi đùa ở biển, cùng nắm tay nhau vượt qua sự phản đối, bữa tối dưới ánh nến, bất ngờ tặng bó hoa hồng thật to,… Chỉ cần thật yêu kiều thì cô công chúa nhỏ này đều ưng cả, miễn là biến cô ấy thành nữ chính được nâng niu thì mọi điều đều lãng mạn.
Bí kíp làm đẹp sinh ra để dành riêng cho 12 sao nữ Khắc khoải thời điểm 12 chòm sao nữ đau khổ nhất khi chia tay Những chị đại đừng dại động vào của 12 cung hoàng đạo

Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Biết điều khiến 12 chòm sao nữ cảm động

Phong thủy cho máy tính văn phòng

Thuyết phong thủy cho rằng, máy tính là thuộc Hỏa. Nhưng máy tính là thiết bị không thể thiếu được trong văn phòng làm việc hiện đại.
Phong thủy cho máy tính văn phòng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thuyết phong thủy cho rằng, máy tính là thuộc Hỏa. Nhưng máy tính là thiết bị không thể thiếu được trong văn phòng làm việc hiện đại. 

Vị trí đặt máy tính thích hợp nhất

Bản thân máy tính là có sóng điện từ, đối với những người làm việc thường xuyên với máy tính mà nói thì ảnh hưởng của nó là không thể xem nhẹ. Những người sử dụng máy tính cần chú ý phương hướng đặt máy tính, để làm thế nào ngăn cản được sự quấy nhiễu của sóng từ trường, để tránh ảnh hưởng tới sức khỏe của bản thân, đây là những kiến thức cơ bản mà những người sử dụng máy tính cần phải biết.

Phong thuy cho may tinh van phong hinh anh
Máy tính là thiết bị sinh tài tốt nhất
Máy tính đặt ở nơi nào là tương đối thuận  lợi đây? 

Máy tính cần phải đặt ở bên trái của người sử dụng nó. Điều này đối với những người thường xuyên dựa vào máy tính mà nói thì là vị trí tương đối lý tưởng.
 
Căn cứ vào phương vị phong thủy mà nói chính là “rồng sợ bẩn, hổ sợ động”, bên trái là cát, đặt máy tính là thích hợp nhất.
 
Phương pháp hóa giải tia bức xạ của máy tính

Máy tính là một loại thiết bị sinh tài tốt nhất, nhưng hàng ngày ngồi trước máy tính, lâu dần sẽ xuất hiện một số vấn đề về sức khỏe như đau lưng, vai nhức mỏi. Có một số người làm việc với máy tính quá nhiều, cả ngày ngồi trước máy tính mà không nói một lời nào, dường như là khép kín bản thân, điều này tuyệt đối không có lợi cho sức khỏe. 
 
Nhưng điều này nhiều khi không phải là bản thân cá nhân đó có thể khống chế được, cho nên phương pháp giải quyết tốt nhất là đặt một khối thạch anh hoặc đá thái cực ở trước máy tính để hóa giải những bức xạ đe dọa sức khỏe con người.   Theo Sách Phong Thủy Văn phòng làm việc nơi công sở  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho máy tính văn phòng

Ngũ hành tương sinh và tương khắc –

Ngũ hành Tương sinh, tương khắc - Trong thế giới vật chất có muôn màu, vạn vật; con người cũng có nhiều loại người. Nhưng dù đa dạng hay phức tạp thế nào đi nữa đều được quy thành các ngũ hành, “- ,+” cụ thể. Và trên thực tế được chia thành 5 ngũ hàn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nội dung

  • 1 Ngũ hành Tương sinh, tương khắc
  • 2 Nguyên lý ngũ hành tương sinh là:
  • 3 Nguyên lý của Ngũ hành tương khắc là:
  • 4 Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

Ngũ hành Tương sinh, tương khắc

– Trong thế giới vật chất có muôn màu, vạn vật; con người cũng có nhiều loại người. Nhưng dù đa dạng hay phức tạp thế nào đi nữa đều được quy thành các ngũ hành, “- ,+” cụ thể. Và trên thực tế được chia thành 5 ngũ hành tất cả: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa. Trong 5 ngũ hành này lại có mối quan hệ tương sinh, có mỗ quan hệ phản sinh, có mỗi quan hệ tương khắc, và phản khắc. Tất cả chúng đều có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau, không thể tách rời, cũng không thể phủ nhận một yếu tố nào cả, chúng tồn tại dựa trên sự tương tác lẫn nhau, trong đó có cái chung cái riêng.
– Mối quan hệ ngũ hành tương sinh: Mọi vật thể muốn phát triển cần được sự hổ trợ, nuôi dưỡng từ những vật thể khác. Do đó, quan hệ tương sinh là biểu hiện quá trình tăng trưởng và phát triển của sự vật.

Nguyên lý ngũ hành tương sinh là:

KIM sinh THỦY
THỦY sinh MỘC
MỘC sinh HỎA
HỎA sinh THỔ
THỔ sinh KIM.

Kim sinh Thủy không phải là vì Kim bị đốt nóng sẽ chảy ra thành nước, vì Kim lúc đó tuy ở dạng thể mền lỏng, nhưng đỏ chói, nóng bỏng nên sao có thể gọi là “Thủy” được. Thật ra, nguyên lý Kim sinh Thủy của cổ nhân là vì lấy quẻ CÀN là biểu hiện của Trời, mà Trời sinh ra mưa để tưới nhuần vạn vật, nên Thủy được phát sinh từ Trời. Mà quẻ CÀN có hành Kim nên mới nói Kim sinh Thủy là vậy. Mặt khác, trong Hậu thiên Bát quái của Văn Vương, Thủy là nguồn gốc phát sinh của vạn vật. Nếu không có Thủy thì vạn vật không thể phát sinh trên trái đất. Cho nên khi lấy CÀN (KIM) sinh KHẢM (THỦY) cũng chính là triết lý của người xưa nhìn nhận nguồn gốc của sự sống trên trái đất là bắt nguồn từ Trời, là hồng ân của Thượng Đế. Do đó, trong các nguyên lý tương sinh của Ngũ hành, Kim sinh Thủy là 1 nguyên lý tâm linh, triết lý và vô hình, và cũng là nguyên lý tối cao của học thuyết Ngũ hành tương sinh, vì nó là sự tương tác giữa Trời và Đất để tạo nên vạn vật. Còn những nguyên lý tương sinh còn lại chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau trên trái đất để duy trì sự sống mà thôi, nên cũng dễ hiểu và dễ hình dung hơn.

– Mối quan hệ ngũ hành tương khắc: Mọi vật thể khi bị sát phạt, khắc chế sẽ đi đến chỗ tàn tạ, thoái hóa. Do đó, quan hệ tương khắc là để biểu hiện quá trình suy vong và hủy diệt của sự vật.

Nguyên lý của Ngũ hành tương khắc là:

KIM khắc MỘC.
MỘC khắc THỔ.
THỔ khắc THỦY.
THỦY khắc HỎA.
HỎA khắc KIM.

Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau để đi đến sự hủy diệt. Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời, nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi. Ngoài ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy.

– Ngũ hành phản sinh: Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.
Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.
Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.
Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.
Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.

– Ngũ hành phản khắc: Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:

Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.
Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.
Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.
Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.
Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.

Chính vì vậy trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết rõ được các mỗi quan hệ đó sẽ biết được sự tinh tế trong mối quan hệ của vạn vật, của trời đất, và con người.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và tương khắc –

Những nét tướng phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân

Chất tóc khô cứng, môi miệng cong, mắt lộ hung quang... là một trong những nét tướng phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân.
Những nét tướng phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chất tóc khô cứng, môi miệng cong, mắt lộ hung quang... là một trong những nét tướng phụ nữ dễ gặp bất hạnh trong hôn nhân.
 

► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

1. Chất tóc khô cứng
 
Đa phần nữ giới có chất tóc khô cứng đều có tính tình bướng bỉnh, dễ nóng giận, bảo thủ nên ít khi được lòng mọi người xung quanh. Đồng thời, sức hấp dẫn của người này cũng ở mức trung bình. 
 
Khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống khá yên ấm vì người này chưa bị nhiều yếu tố chi phối. Tuy nhiên, sau một thời gian vì phải đối mặt với vấn đề tài chính, con cái nên tính cách ngang ngược của người này lại “tái phát”, khó kiểm soát cảm xúc, theo đó dễ gặp bất hạnh trong hôn nhân.

Nhung net tuong phu nu bat hanh trong hon nhan hinh anh
Ảnh minh họa

2. Trán quá cao và rộng

 
Những phụ nữ trán cao và rộng thường có nhiều hoài bão, thích bay nhảy đây đó, có xu hướng hoạt động nhiều ở xã hội hơn là quan tâm tới gia đình. Người này thích hợp với công việc, sự nghiệp bao nhiêu thì lại tỉ lệ nghịch với cuộc sống hôn nhân bấy nhiêu.
 
Nếu kết hôn sớm rất dễ bị đổ vỡ. Kết hôn muộn thì khá hơn, tuy nhiên vẫn cần phải nỗ lực hết mình, dung hòa mọi điều trong cuộc sống thì đời sống hôn nhân mới thuận lợi.

3. Mắt lộ hung quang
 
Đây là kiểu mắt khiến người khác nhìn vào đều cảm thấy sợ hãi và không muốn phải nhìn trực diện. Phụ nữ có tướng mắt lộ hung quang tức lúc nào mắt cũng sáng quắc lên, đùng đùng sát khí. Người này thiếu kiên nhẫn, tính tình nóng vội, chủ quan nên dễ rất phạm sai lầm.
 
Trong hôn nhân, lúc các mối quan hệ hòa hợp thì họ có thể kiểm soát tốt cảm xúc. Nhưng nếu mọi thứ trở nên phức tạp, rối ren, họ nổi cơn thịnh nộ, sẵn sàng san bằng tất cả bất chấp hậu quả.
 
4. Gò má cao và lộ rõ
 
Phụ nữ có tướng gò má cao và lộ rõ thường khá hiếu thắng, hay tư lợi cá nhân, ki bo, thu mười chỉ muốn chi một. 
 
Trong Nhân tướng học, đây là tướng sát phu, không mang lại điều tốt lành cho chồng con. Do đó, cuộc sống hôn nhân của người này cũng nhiều sóng gió, thăng trầm.

5. Sống mũi có đốt gồ lên
 
Người này có tính cách mạnh mẽ, bướng bỉnh, thậm chí có phần ngang ngược, một khi đã thích thứ gì là phải đạt cho bằng được nếu không sẽ đạp đổ. Ngoài ra, họ còn có tính chủ quan cao, luôn coi mình là đúng và coi thường ý kiến của mọi người xung quanh. 
 
Khi bước vào cuộc sống hôn nhân, người này có xu hướng làm chủ gia đình chứ không chịu an phận thủ thường cho ai đó lãnh đạo, quản lí. Do đó, nếu người chồng không điềm tính, hôn nhân tan vỡ là điều khó tránh.
 
6. Môi miệng cong
 
Nữ giới môi cong có xu hướng hay buôn chuyện, buôn từ chuyện phải tới chuyện trái, từ chuyện nhà ra chuyện người… nên dễ gặp họa khẩu thiệt thị phi, tự rước những điều phiền toái vào mình.
 
Khi đã kết hôn, dù cố gắng kiềm chế thói quen xấu này, nhưng chỉ được một thời gian rồi chứng nào tật đó. Nhiều khả năng, họ còn là nguyên nhân khiến mối quan hệ hai bên gia đình bất hòa, từ đó cũng gặp không ít bất hạnh trong hôn nhân.

ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những nét tướng phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân

Giải mã giấc mơ: Mơ thấy người lạ

Mơ thấy bản thân và người lạ mặt tranh cãi, là điềm báo tốt lành cho bạn. Danh tiếng hoặc uy tín của bạn sẽ được khẳng định và lan rộng bốn phương.
Giải mã giấc mơ: Mơ thấy người lạ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Con trai thấy một người lạ mặt xuất hiện trong giấc mơ, điều đó cho thấy bạn đang có mâu thuẫn với hàng xóm của mình. Bạn nên có thái độ khoan dung hơn và bỏ qua những lỗi nhỏ của người hàng xóm nhé.

Ngoài ra, nếu con trai mơ thấy mình đang nói chuyện với người lạ nào đó, dấu hiệu cảnh báo bạn đừng vội tin lời đường mật của cô nàng nào đó nhé, kẻo không sẽ bị lừa dối và tổn thương tình cảm.

2. Trong giấc mơ thấy bản thân và người lạ mặt tranh cãi, đây là điềm báo tốt lành cho bạn. Danh tiếng hoặc uy tín của bạn sẽ được khẳng định và lan rộng bốn phương.

3. Con gái mơ thấy người lạ cùng mình nói chuyện, rất có thể bạn đang giận dỗi người yêu. Đối phương là tuýp người thích sự dịu dàng và nhỏ nhẹ. Chỉ cần bạn nhẹ nhàng quan tâm và “rót” chút lời nói ngọt ngào là chàng ta sẽ nguôi giận ngay thôi.

Nếu đối tượng này mơ thấy cùng người lạ tranh luận, bàn cãi vấn đề nào đó, tín hiệu không mấy khả quan trong việc tìm được người yêu lý tưởng, phù hợp với tiêu chuẩn bạn đã đặt ra.

bat-mi-tam-ly-ban-trai-cho-ban-2820-2453

4. Nếu giấc mơ của bạn xuất hiện rất nhiều người và toàn bộ họ là người lạ mặt, điều này có nghĩa bạn sẽ bị tổn hao tài sản hoặc có khả năng gặp tai nạn giao thông. Bạn cần hết sức cẩn thận phòng tránh nhé.

5. Mơ thấy người lạ nhưng ở một nơi rất xa, bạn không có bất kỳ mối liên quan hay sự giao tiếp nào, điều này ám chỉ những ngày tháng tẻ nhạt và buồn chán mà bạn đang phải trải qua. Tinh thần của bạn đang bất ổn, lo lắng rằng sẽ mất đi sự tin tưởng của bạn bè mình.

6. Trong mơ thấy mình và một người lạ khác giới đụng mặt nhau, tín hiệu đáng mừng cho chuyện tình duyên của bạn. Một vài cây si sẽ quẩn quanh trước nhà đợi sự đồng ý của bạn đó.

Trường hợp mối quan hệ của bạn và người lạ mặt đó rất tốt, chứng tỏ bạn sẽ nhanh chóng rơi vào lưới tình. Còn nếu mối quan hệ đó không ưng ý, báo hiệu một kết thúc khá buồn cho cuộc tình này của bạn.

Mr.Bull

132316139516511600flower30121-7332-9514-

Giải mã giấc mơ: Mơ thấy hoa

Hoa là biểu tượng cho sự vui vẻ, vận may tài lộc và cuộc sống hạnh phúc trong giấc mơ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ: Mơ thấy người lạ

Chọn hướng tốt cho ban công

Phong thủy truyền thống cho rằng, ban công là nơi đón nhận ánh sáng mặt trời, là nơi nạp khí của cả ngôi nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo góc nhìn của kiến trúc hiện đại, ban công thường là không gian mở, chỉ ngăn cách với không gian trong nhà bằng 1 tấm kính, do vậy rất dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường.


Lưu ý khi chọn hướng cho ban công nhà bạn


Xuất phát từ tầm quan trọng của ban công nên việc lựa chọn hướng khi thiết kế là điều cần được tính toán kỹ.
 
Ban công hướng Đông và Nam

Theo quan niệm của người xưa, ban công hướng Đông là tốt nhất vì "Tử khí Đông lai" (khí tím từ phía Đông tới). Cái gọi là "tử khí" (chữ "tử" chỉ màu tím) nghĩa là khí may mắn. Khí này qua ban công vào nhà thì cả nhà sẽ được bình an, may mắn. 
 
Dân gian có câu: "Huân phong Nam lai". "Huân phong" chỉ làn gió trong lành từ phương Nam tới, khiến con người cảm thấy mát mẻ, sảng khoái. Trong phong thủy đây cũng là điều rất tốt.   Ngày nay, những ngôi nhà cao tầng có ban công hướng Đông, hướng Nam giá thường cao hơn, cho thấy mọi người đã hiểu ra giá trị phong thủy của căn nhà có ban công theo các hướng này.
 
Ban công hướng Bắc

Đây là hướng bất lợi bởi mùa đông ban công sẽ phải đón gió lạnh từ phương Bắc. Nếu việc phòng chống rét trong nhà không đảm bảo thì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của các thành viên trong gia đình bạn.
 
Ban công hướng Tây


Nếu ban công nhà bạn hướng về phía này là điều rất bất tiện. Vào mùa hè, ban công phải chịu nắng gay gắt, thậm chí đến tối mịt hơi nóng vẫn còn chưa tan đi. Điều này cũng ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của mọi người.
 
Phong thủy về phương vị của ban công quyết định bởi phương hướng chĩa ra ngoài, ngoài ra ban công còn liên quan tới phương vị trong nhà.


(Theo Archi)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn hướng tốt cho ban công

Hướng dẫn kê giường theo phong thủy tuổi Tân Dậu nam mạng - Tuổi dậu - Xem Tử Vi

Hướng dẫn kê giường theo phong thủy tuổi Tân Dậu nam mạng, Tuổi dậu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Hướng dẫn kê giường theo phong thủy tuổi Tân Dậu nam mạng, tu vi Hướng dẫn kê giường theo phong thủy tuổi Tân Dậu nam mạng, tu vi Tuổi dậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng dẫn kê giường theo phong thủy tuổi Tân Dậu nam mạng

Hướng dẫn kê giường theo phong thủy tuổi Tân Dậu 1980 nam mạng nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Thủy, là hướng Bắc.

Tuổi Tân Dậu 1980 nam mạng:

- Quẻ mệnh: Khảm Thủy

- Ngũ hành: Thạch Lựu Mộc (Gỗ cây lựu)

- Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch. 

- Hướng tốt: Bắc (Phục Vị); Đông (Thiên Y); Đông Nam (Sinh Khí); Nam (Diên Niên); 

- Hướng xấu: Tây Bắc (Lục Sát); Đông Bắc (Ngũ Quỷ); Tây Nam (Tuyệt Mệnh); Tây (Hoạ Hại);

Hướng phòng ngủ tuổi Tân Dậu:

Xem boi vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ tuổi Tân Dậu 1980 nam mang mệnh Mộc, Thủy sinh Mộc, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Thủy, là hướng Bắc;

Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Xanh dương, Đen, đây là màu đại diện cho hành Thủy, rất tốt cho người hành Mộc.

Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.

Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.

Tuổi Tân Dậu muốn xem hướng giường cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.a


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng dẫn kê giường theo phong thủy tuổi Tân Dậu nam mạng - Tuổi dậu - Xem Tử Vi

Kiêng kỵ trong thiết kế phòng khách –

Bạn ngồi ở phòng khách và nhìn thấy hoạt động trong các phòng khác? Chắc chắn nhà bạn được thiết kế không hợp phong thủy. Phòng khách là không gian sinh hoạt chung đặc biệt quan trọng trong một ngôi nhà. Nó thể hiện phong cách và đặc điểm của mỗi gia

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn ngồi ở phòng khách và nhìn thấy hoạt động trong các phòng khác? Chắc chắn nhà bạn được thiết kế không hợp phong thủy.

Phòng khách là không gian sinh hoạt chung đặc biệt quan trọng trong một ngôi nhà. Nó thể hiện phong cách và đặc điểm của mỗi gia đình. Do đó, khi tiến hành thiết kế nội thất, độ sáng, hình dáng của phòng khách và mối liên quan của nó vói các phòng khác đều phải chú ý cẩn thận.

av

Sau đây là những điều ngược với phong thủy mà bạn nên tránh:

Phòng khách xa cửa chính

Muốn đến phòng khách, khách phải đi qua phòng ngủ, gian bếp và nhà vệ sinh thì lại ở vị trí cuối cùng trong nhà. Như vậy là không phù hợp với nguyên lý: bên ngoài là dương, bên trong là âm dẫn đến trongg ngoài tương phản. Đây là một trong những trường hợp “thất tự trạng thái” (trật tự bị đảo lộn). Khi thiết kế, phải chú ý đến sự hợp lý trong bố cục của căn nhà. Diện tích phòng khách chật hẹp, thậm chí nhỏ hơn phòng ngủ chính, tỷ lệ không cân đối… cũng thuộc loại thất tự trạng thái”.

Trực tiếp nhìn thấy cửa phòng khác từ phòng khách

Bố cục sẽ không hợp lý nếu nhìn thấy từ ba cửa trở lên; trong nhà dễ ra chuyện, khó thống nhất ý kiến của các thành viên. Khắc phục bằng cách làm lại hướng cửa trên nguyên tắc người ngồi trong phòng khách không được nhìn thấy các cửa phòng khác. Càng thấy ít cửa thì càng tăng thêm điều tốt lành.

Ánh sáng không hợp lý

Phòng khách là nơi tiếp đãi khách và là nơi sinh hoạt, giao lưu chính của các thành viên trong ngôi nhà. Do đó ánh sáng phải đầy đủ theo nguyên tắc “minh sảnh ấm phòng” trong phong thủy. Nếu ánh sáng quá yếu là không hợp lý.

Trần phòng khách quá thấp

Trần phòng khách thấp sẽ tạo ra một áp lực, theo quan niệm phong thủy thì những người trong căn phòng đó sẽ không thoải mái và không gặp nhiều điều may mắn.

Bởi vậy khi thiết kế trần phòng khách, nên bỏ những trang trí rườm rà làm thấp trần nhà, tạo cảm giác phòng khách càng cao càng tốt.

Có quá nhiều góc cạnh hoặc xà nhà

Phòng không vuông vắn, không thanh thoát sẽ không có lợi cho sự phát triển. Nên khắc phục bằng các biện pháp trang trí, kể cả dùng đèn để giảm bớt những cảm giác trên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiêng kỵ trong thiết kế phòng khách –

Phong thủy phòng làm việc –

Trong phong thủy, việc đặt cái bàn, cái ghế trong nhà, văn phòng… cũng hết sức quan trọng. Vì tất cả những yếu tố này đều tác động đến khí và vận của gia chủ. Để có một phong thủy tốt cho khu vực văn phòng cũng như đặt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

bàn làm việc đúng hướng của cung tuổi, gia chủ cần hội đủ một số điều kiện về ngoại thất, nội thất

file.392840

Hài hòa ngoại thất

1. Tìm vị trí khu vực chọn nơi làm chỗ đặt văn phòng phải thông thoáng, có lối đi thuận tiện cho nhân viên và khách hàng.

2. Bên ngoài văn phòng nên tránh có những nhánh cây to đâm trực tiếp vào cửa chính của văn phòng. Cửa văn phòng tối kỵ đối diện cột điện và bình điện hoặc gốc cây to.

3. Cửa văn phòng không được đối diện cửa toilet vì rất ảnh hưởng sức khỏe vận may và sự nghiệp hoặc đối diện song song với cửa phòng dễ bị thị phi.

4. Cửa văn phòng không nên đối diện với cầu thang. Vì cầu thang đâm thẳng vào được ví như là một xe ủi đất. Văn phòng nơi làm việc sẽ không tồn tại lâu dài.

5. Tránh góc cạnh của các căn nhà đối diện đâm thẳng vào cửa văn phòng. Theo phong thủy cho là lưỡi gươm hoặc cây đao phủ vô hình đâm thẳng vào gia chủ làm cho thân thể ể oải, bất lực, suy nhược hệ thống thần kinh.

6. Nền nhà của văn phòng phải cao ráo và bố trí các bậc tam cấp phải hợp lý (nếu có) nếu nền nhà của văn phòng quá thấp thì công việc của gia chủ sẽ bị hãm về tài năng chiến lược trong kinh doanh cũng như sự quyết định không dứt khoát rõ ràng làm cho đối tác không tin cậy về mình.

7. Chọn hướng văn phòng theo cung tuổi thuộc mệnh Đông tứ hay Tây tứ trạch. (Điều này rất quan trọng cho sự nghiệp của gia chủ, được ví như là một căn nhà ở của gia chủ)

Nội thất hợp trạch mệnh

1. Tìm hướng tốt nhất cho cung mệnh tuổi, để đặt bàn làm việc.

2. Tránh bàn làm việc đối diện với cửa ra vào

3. Tránh đối diện song song với người ngồi làm việc

4. Tránh đặt bàn làm việc xéo. Nếu phương hướng không đúng cũng nên để ngay ngắn. Khi gia chủ tiếp khách hàng chỉ cần ngồi xéo góc 1 chút nhưng với điều kiện là gia chủ phải biết được phương hướng tốt mà điều chỉnh ghế ngồi cho hợp lý để dể tiếp khách. Bàn làm việc thuộc về tịnh, ghế ngồi thuộc về động.

5. Bàn hội họp hoặc bàn tiếp khách không được đặt đâm thẳng trực xung với bàn làm việc.

6. Không đặt bàn làm việc đối diện với cửa toilet. Rất ảnh hưởng trí tuệ và sự minh mẫn, có cảm giác lúc nào cũng muốn đi toilet. Nên đặt toilet ở phía ngoài công ty trong phạm vi cho phép.

7. Phía sau chỗ ngồi làm việc không nên có cửa sổ. Cảm giác bị bất an, được ví như có kẻ trộm đang rình rập. Cửa sổ nên đặt bên hông văn phòng là tốt nhất.

8. Phía sau bàn làm việc nên có tranh ảnh về núi non. Tượng trưng cho điểm tựa vững chắc, lưng dựa vào núi được ví như phòng thủ, nhưng hình núi non phải có màu sắc thích hợp theo ngũ hành.

9. Phía trên không được có xà ngang hay đèn trang trí treo, sẽ ảnh hưởng đến đầu óc cũng như sự thăng quan tiến chức.

10. Trước mặt bàn làm việc nên có một bức tranh vui có ý nghĩa, trường hợp này dùng khi các bạn làm việc quá căng thẳng, sẽ nhìn vào bức tranh đó tạo cảm giác nhẹ nhàng sẽ giãm bớt áp lực trong công việc.

11. Trên bàn làm việc bố trí giấy tờ cũng như máy vi tính gọn gàng. Các bạn cần lưu ý máy vi tính cũng xếp cho đúng hướng.

12. Phải có ánh sáng tự nhiên hợp lý, khí thông… tránh trường hợp trong văn phòng tối tăm âm u, đầu óc dễ bị lú lẫn u muội.

13. Màu sắc trong văn phòng cũng không nên đặt vấn đề trong phong thủy nặng quá, chủ yếu có màu sắc thanh mát có tác dụng kiềm hãm áp lực trong công việc.

14. Trong phòng làm việc nếu có các vết nứt nẻ sâu trên tường, lập tức sửa chửa ngay.

15. Tránh hút thuốc trong văn phòng là một tác nhân gây căng thẳng đầu óc và dễ nhiễm khí độc, phiền phức cho người xung quanh.

16. Trên bàn làm việc phải có những vật khí phong thủy mang biểu tượng sự quyền lực cũng như tăng trí, thiêu tai, trừ mạn…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy phòng làm việc –

SAO KÌNH DƯƠNG TRONG TỬ VI

kình dương (Kim) *** 1. Ý nghĩa cơ thể: Kình Dương chỉ bộ phận sinh dục của phái nam. 2. Ý nghĩa tướng ...
SAO KÌNH DƯƠNG TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

kình dương (Kim) 

***

1. Ý nghĩa cơ thể: Kình Dương chỉ bộ phận sinh dục của phái nam.

2. Ý nghĩa tướng mạo: Người có Kình đơn thủ thì thân mình cao và thô, mặt choắt, da xám, hầu lộ, mắt lồi, có sức khỏe.

3. Ý nghĩa bệnh lý: Là hình tinh, Kình đi chung với bộ phận nào sẽ gây bệnh hay tật cho chỗ đó. Kình Vượng: lưng tôm, lưng gù, đi cong lưng Kình Long Trì: mũi sống trâu Kình Phượng Các: cứng ta, lãng tai Kình Nhật, Nguyệt: kém mắt, đau mắt

4. Ý nghĩa tính tình: Kình là sao võ nên ý nghĩa mạnh bạo, thích hợp với phái nam hơn phái nữ, đặc biệt là tuổi Dương.
a. Nếu Kình đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi:             - tính khí cương cường, quả quyết, nóng nảy             - thích mạo hiểm, làm những chuyện táo bạo, bí mật             - nhiều mưu trí             - hay tự đắc, kiêu căng, bất khuất             - sỗ sàng, ngang tàng Đi cùng với Thiên Tướng, Thất Sát hay Kiếp Sát, Thiên Hình, Kình Dương càng lộ tính nóng nảy, giận dữ, hay sát phạt, dễ bị khích, tự ái rất lớn.
b. Kình hãm địa:             - hung bạo, liều lĩnh, bướng bỉnh, ngỗ ngược             - gian trá, độc ác hay phá, giết, chọc, tính của tiểu nhân và đạo tặc             - dâm dật, khắc chồng con (nữ)             - bệnh tật Nếu gặp sát tinh thì sự hung càng mạnh.
c. Kình ở Ngọ, Dần, Thân, Mão, Dậu:             - ở Ngọ: rất độc, có nghĩa như yểu, chết bất đắc, bị tai nạn dữ và bất ngờ hoặc tàn tật.             - ở Dần, Thân: rất tai hại cho tuổi Giáp, Mậu: thường phá tán tổ nghiệp, mang tật, lao khổ, có xa nhà mới sống lâu.             - ở Mão, Dậu: cũng nguy khốn cho tuổi Giáp, Mậu.

5. Ý nghĩa của kình dương và một số sao khác ở các cung:
a. ở Mệnh: Kình Linh Hỏa: lưng gù, có bướu hay chân tay có tật; nghèo khổ, chết thê thảm (nếu cùng hãm địa) Kình, Không, Kiếp, Binh : côn đồ, đạo tặc, giết người Kình, Hình, Riêu, Sát : gái giết chồng Kình, Nhật hay Nguyệt đồng cung : bệnh hoạn liên miên, có tật lạ (nếu thêm Kỵ); trai khắc vợ, gái khắc chồng. Kình, Liêm, Cự, Kỵ: có ám tật; nếu cùng hãm địa thì ngục hình, kiện cáo, thương tích tay chân, nhất là tuổi Thìn, Tuất Kình, Tuế, Khách : sát phu/thê, xa cách cha mẹ Kình, Mã: truân chuyên, thay đổi chỗ ở luôn hoặc nếu là quân nhân thì phải chinh chiến luôn. Kình Lực đồng cung: có sức khỏe địch muôn người, bất đắc chí về công danh, có công nhưng bị người bỏ quên. Kình Hỏa miếu địa: số võ nghiệp rất hiển hách.
b. Giáp Mệnh: giáp Kình Đà: có tiền nhưng phải chật vật vì sinh kế giáp Kình Liêm Tướng: khó tránh được tù tội. Nếu có quan chức thì bị truất giáng, suốt đời bất đắc chí.
c. ở Quan: Kình đắc địa gặp Mã chiếu: có võ chức nhưng trấn ở xa Kình Lực: bất mãn, bất đắc chí, bất đắc dụng ở quan trường; có xin nghỉ gia hạn hay bị ngồi chơi xơi nước; công danh chật vật, nhọc nhằn và nhục nhã
d. ở Tài: - nếu đắc địa: dễ kiếm tiền lúc náo loạn. - nếu hãm địa: thiếu thốn và phá tán, dùng bạo cách
e. ở Phu Thê: - nếu đắc địa thì vợ chồng hay bất hòa, gián đoạn 1 dạo - nếu hãm địa thì hôn nhân trắc trở, hình khắc dễ xảy ra, vợ ghen, chồng bất nghĩa.
f. ở Hạn: Kình Hình ở Ngọ: bị tù, có thể chết nếu gặp lục Sát. Kình Vũ Phá : bị hại vì tiền.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO KÌNH DƯƠNG TRONG TỬ VI

HOÀNG CỰC KINH THẾ TỰ NGÔN

Một cuốn sách sách hay được cụ Hà Uyên chia sẻ. Mời các bạn cùng đọc.
HOÀNG CỰC KINH THẾ TỰ NGÔN

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

QUYỂN 1

12 HỘI CHIA HỢP TỔNG SỐ

Đây nói, đồ vẽ 4 quẻ Ly Càn Khảm Khôn, ngôi ở 4 chính, cõi tóm trong 4 duy, là Tý Ngọ Mão Dậu, 4 quẻ này gồm 24 hào tương đương với 24 tiết khí chia ra để chựu cho đều mỗi hào 1 khí vậy. Mỗi 1 quẻ này chủ 3 Hội, Quẻ Phục quẻ Cấu khởi ở Đông chí - Hạ chí, đến quẻ Đồng nhân quẻ Sư mà tiết Kinh trập - Bạch lộ, thời Ly Khảm chia ra mà trị vậy. Quẻ Lâm quẻ Độn khởi ở Xuân phân - Thu phân đến quẻ Quải quẻ Bác, mà tiết Mang chủng - Đại tuyết, thời Càn Khôn chia ra mà trị vậy. Số chọn chia trị 3 Hội đều 90 ngày, quẻ thẳng chủ biến từng hào 1, từ hào Sơ đến hào Trên, cùng với 15 quẻ, mà giữ về tiết tự, gồm 24 quẻ, làm 4 quẻ biến hóa, noi theo hào, rồi vòng khắp 60 quẻ mỗi hào, 5 quẻ chủ 2 Khí, mỗi Khí biến tương đương 2 quẻ rưỡi, thực 1 hào tương đương với 15 hào, 1 Hội 5 quẻ 30 hào, thời hào biến dùng 2 quẻ đối ứng, 3 Hội 15 quẻ 90 hào, khởi hào biến chưng dụng 6 phân vậy. Nhật trực, mỗi 90 ngày làm 1 mùa, dùng 4 mùa mà 4 quẻ chia thẳng đấy, hào biến có thể 1, 1 này rõ ràng tường tận vậy.

Đây nói, trên bầy 4 quẻ, dưới bầy 4 quẻ hào biến đến thẳng 24 quẻ, lại thứ nữa, bầy 4 quẻ chia chủ 3 Hội, mỗi Hội có 5 quẻ, đều thẳng 15 quẻ cùng 60 quẻ. Dưới thời tường tả hữu đều 4 quẻ, cùng giao lẫn nhau, mà thành quẻ biến 12 cùng 30 nhân mà thành quái số. Khoảng giữa 1 đồ, dường mối sáng như bầy lông mày, kẻ đọc nên lưu tâm vậy. Có kẻ hỏi 4 quẻ chủ rường cột vậy, sao bảo là nhuận? Suốt một năm, ba trăm lẻ sáu tuần 60 quẻ hào đương đấy, còn 4 quẻ 24 hào chia ra cùng chựu, thừa 6 ngày mà để nhuận vậy, thời lấy chủ rường cột vén tan mối, mà đều dùng rất đều vậy, 4 mùa định năm bén thành vậy.

Đây nói: Nguyên kinh Hội, Hội kinh Vận, Vận kinh Thế, gồm Thế hào chia thẳng cho niên quái đồ thâu tóm mà lại (tri lai), đi (vãng) theo đồ, trước 4 quẻ, chia 24 khí chủ 60 quẻ chia từ Tý đến Hợi, tương đương với kinh quái của 12 Hội, mỗi Hội đều 5 quẻ nên bầy ở đồ tầng 1. Ở đồ tầng thứ 2, vì lấy ngay mục quái của Nguyên kinh Hội, đều tới mỗi 1 quẻ từng hào biến từ Sơ đến Thượng, noi theo thứ tự bằng bầy đầu đuôi, được 360 quẻ. Ở đồ tầng thứ 3, vì lấy ngay mục quái của Hội kinh Vận, lại tới 360 quẻ, lại mỗi quẻ biến từng hào một, 6 hào sinh 6 quẻ như trước theo thứ tự, bằng bầy đầu đuôi được 2160 quẻ. Ở tầng thứ 4 của đồ, vì lấy ngay mục quái của Vận kinh Thế, đều trải ngang dưới, thời 1 quẻ đều 6 biến được 6 quẻ, như mẫu thức vạch quẻ được từ dưới lên trên bầy 6 tầng, đều lấy niên quái đã được, liên hệ thẳng ở dưới Thế gồm 129600 quẻ, đương số niên quái lấy niên tóm 12 tháng, tích chứa lại thời 155520 số (129600x12), đủ trong 60 đồ, thay nhau làm đường ngang dọc, kẻ đọc khá tung hoành 1 liếc mắt mà xem. Ta làm lý lẽ manh mối này, mà chia ra đấy, cho nên rằng Tự ngôn.

Đây nói, đồ toàn số Trời Đất 4 quẻ giao ứng nhau, tả hữu bầy bằng, mà giao biến, ứng đó là lẻ chẵn đối phản, đó là ứng hợp vậy. Giao biến như Càn sơ biến Cấu, Cấu sơ biến Càn. Dưới đến Khôn sơ biến Phục, Phục sơ biến Khôn đều thế. Ứng hợp như quẻ Cấu hợp Phục, quẻ Bác hợp quẻ Quải đều thế. Toàn số là 12 cùng 60 dẫu nhân từ ít rồi nhiều, mà tích số 60 quẻ toàn vẹn, là quẻ Trời Đất vậy, 4 là Thần của Nguyên Hội Vận Thế nhân giao nhân, số ấy vốn tích chứa ở đó, lấy làm đồ vậy.

Lại nói, 1 Nguyên tóm 12 Hội, Hội đều 30, mỗi Hội gồm thẳng 5 quẻ, như Hội Tý có Địa Lôi Phục, Sơn Lôi Di, Thủy Lôi Truân, Phong Lôi ích, Thuần Chấn. Mỗi Vận tương ứng với 1 hào, như Hội Tý quẻ Phục 6 vận tương ứng với 6 hào biến được 6 quẻ: Khôn, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Càn. Kể 12 Hội làm 1 Nguyên gồm 129600 năm, 30 Vận làm 1 Hội gồm 10800 năm, 12 Thế làm 1 Vận gồm 360 năm, chia thẳng cho Vận cùng với quẻ hào, dùng quẻ 1 hào lại tương đương với 1 quẻ, 6 vị trí của hào tương đương với 6 quẻ, mỗi hào quản 12 năm, 6 hào sẽ quản 72 năm, như quẻ Phục có hào Sơ dương, bắt đầu thẳng Khôn, Khôn lại thẳng tới Sư có hào 2 dương, Khiêm có hào 3 dương, Dự có hào 4 dương, Tỷ có hào 5 dương, Bác có hào Thượng dương, mỗi hào đều quản 12 năm, đây là Nguyên tóm Hội, Hội tóm Vận cùng Thế, như Năm tóm Tháng, Tháng tóm Ngày cùng Giờ, cũng như Ngày tóm Giờ, Giờ tóm Phân cùng Sao. Cho nên vận số có lớn nhỏ, tóm đấy thời càng lớn, chia đấy thời càng nhỏ, nhỏ thời số nhiều, nhỏ lớn thời số xếp từng loài mà cùng về 1. Đồ ước 1 Nguyên 12 Hội, thâu tóm chia Vận mà xem, thì nhìn thấy được những cái lớn, rõ ràng, mà đầy đủ vậy.

HOÀNG CỰC KINH THẾ THƯ GIẢI

Hồng phạm Thiên thứ 5 nói: dựng dùng Hoàng cực, “hoàng” nói là lớn, “cực” nói là giữa, Hoàng cực nói là “đại trung”. Trù có 9 (trời đất có chia làm 9 loài), 50 trước, 4 sau, 4 mà dựng dùng rất cao. “Cực” cho nên gọi là khuôn phép, “Hoàng” cho nên gọi là to lớn. Thiệu ta sửa trị đời, xem vật mà làm ra Hoàng cực, tròn thời theo với phép cỏ thi, vuông thời theo với số của quái, diễn Đồ Thư, thực suy ở 9, Trù Sách vậy. Hỏi rằng “kinh thế” là sao? Trời đất mở mang dựng lên, tổ chức mây, mưa, sấm, chớp, nói chia đường ngang đường dọc quấn quýt lấy nhau là hợp vậy, vả đường Nam Bắc là dọc, đường Đông Tây là ngang, nói Kinh mà Vỹ là suốt vậy. Kinh rằng đạo thường, chủ dùng số thường, thông ở biến, biến không mất thường, Đời (Thế) cùng xưa nay, Đời (Thế) để ghi năm thì nửa ở 6 Giáp, Thế để chép Đời, thì xa mãi đến ngàn năm. Vận mà Hội, Hội mà Nguyên, đều do Thế tích chứa, mà cũng thay đổi theo thứ tự vậy.

Nói rằng “kinh thế”, mà Nguyên dùng kinh Hội, Hội dùng kinh Vận, là đều thâu tóm đấy. Nguyên là 1, số là 129600 mà thống nhất. Hội mà chia Nguyên, thì mỗi một Hội đều là 10800 (129600/12=10800) mà làm Tiểu nguyên chọn dùng 1 vậy. Vận mà chia Hội, thì mỗi Vận đều là 360 (10800/30=360) mà làm 12 Hội Tiểu nguyên chọn dùng 1 vậy. Thế mà chia Vận, thì mỗi Thế đều là 30 (360/12=30), 12 Thế dùng 30 thời làm 1 Vận, 360 số lần lượt tích chứa vậy. Làm Hội làm Nguyên không chọn dùng 1 mà đều suốt ở 1 vậy, cho nên nêu một mình “kinh thế” để thâu tóm đấy, nhỏ thâu tóm lớn, ít thâu tóm nhiều. Cái lớn cùng với nhiều dùng để thâu tóm nhỏ cùng ít, lại có thể lấy đó mà suy. Năm xem ở Nguyên, tháng xem ở Hội, ngày xem ở ở Vận, giờ xem ở Thế cùng với Phân-Sao chọn lấy tích chứa. Lại xem Năm Tháng cái gì trừ đi, Kinh chỉ định Thế thâu tóm, đoán Thế lấy giờ tích chứa, cũng lấy Vật xếp cùng loại với Vật. Số có vạn cùng Thế thừa trừ, thời 10 Thế có thể biết lấy Vật, 100 Thế khá biết, cũng biết lấy Vật, Vật được lý lẽ, noi theo Kinh mà trị, phản lại thường mà trái Kinh thì loạn, lấy gì xem chăng? Xem mọi Kinh quái hào, duy có Thời (giờ) của Vật, chẳng hoặc trái vậy. Vật lớn ấy chỉ có Trời Đất, mà vật ở Trời ấy chỉ có mặt Trời, mặt Trăng cùng các vì Sao. Vật ở Đất ấy là nước, lửa, đất, đá. Mặt trời Càn mà nước Khôn, mặt trăng Đoài mà lửa Cấn, Sao Ly mà đất Khảm, thần (các vì sao) Lôi mà đá Tốn. Trời 4 phương để ngang Trời, âm dương Thái Thiếu, dựng lên cột của trời. Đất 4 phương để ngang đất, cương, nhu, Thái, Thiếu dựng cột của đất, trời đất giao ngang, Thế (đời) không đổi vật, rời đi là số, lâu dài thường hằng là Đạo, số theo cùng tượng, đều lấy 4 lập (dựng), Đạo lấy Thế dùng làm Thần, chỉ lấy 1 vậy. Hoàng lấy Đạo để rộng khắp, Cực lấy Đạo để dựng, Kinh lấy Đạo để giữ, Thế (đời) lấy Đạo để trị, Vật lấy Đạo để cung cấp cho xem mà tìm Đạo thông. Vì số biến mà Đạo không biến, Đạo làm ngang, Đạo dựng mà trời đất đều dựng. Người làm cùng cực Đạo ở đâu? Trong khoảng 1 động 1 tĩnh, thời “đại trung” cùng với tâm du! Đại trung thế du! Hoàng cực ngang chọn dùng ở Thế (đời), Vật xem chọn dùng ở vật biến. Sở học của Thiệu ta hầu như biết sự hóa dục hóa nuôi của Vật, mà trời lồng lộng to lớn vậy!

Đồ Kinh Thế của Thiệu ta lấy Nguyên thâu tóm Hội, Hội thâu tóm Vận, Vận thâu tóm Thế; cũng như lấy Niên tóm Nguyệt, Nguyệt tóm Nhật, Nhật tóm Thời. 12 giờ làm 1 ngày, 30 ngày làm 1 tháng, 12 tháng làm 1 năm, 30 năm làm 1 Thế, 12 Thế kể là 360 năm làm 1 Vận, 30 Vận kể là 10800 năm làm 1 Hội, 12 Hội tích chứa 129600 năm làm 1 Nguyên, quẻ ấy lấy đồ tròn của Phục hy 64 quẻ, trừ 4 quẻ chính Ly Càn Khảm Khôn, mỗi quẻ 6 hào, cộng là 24 hào làm Nhuận quái, mỗi 2 hào biến làm 2 quẻ chia chủ 1 Hội, 24 hào chia chủ 12 Hội, thừa trừ ngoài ra.

Từ quẻ Phục khởi quanh bên tả, trải qua những quẻ: Địa Lôi, Sơn Lôi, Thủy Lôi, Phong Lôi, Thuần Lôi, Hỏa Lôi, Trạch Lôi, Thiên Lôi - Địa Hỏa, Sơn Hỏa, Thủy Hỏa, Phong Hỏa, Lôi Hỏa, Trạch Hỏa, Thiên Hỏa - Địa Trạch, Sơn Trạch, Thủy Trạch, Phong Trạch, Lôi Trạch, Hỏa Trạch, Thuần Đoài, Thiên Trạch - Địa Thiên, Sơn Thiên, Thủy Thiên, Phong Thiên, Lôi Thiên, Hỏa Thiên, Trạch Thiên.

Từ quẻ Cấu khởi quanh bên hữu trải qua những quẻ: Thiên Phong, Trạch Phong, Hỏa Phong, Lôi Phong, Thuần Tốn, Thủy Phong, Sơn Phong, Địa Phong – Thiên Thủy, Trạch Thủy, Hỏa Thủy, Lôi Thủy, Phong Thủy, Sơn Thủy, Địa Thủy – Thiên Sơn, Trạch Sơn, Hỏa Sơn, Lôi Sơn, Phong Sơn, Thủy Sơn, Thuần Cấn, Địa Sơn – Thiên Địa, Trạch Địa, Hỏa Địa, Lôi Địa, Phong Địa, Thủy Địa, Sơn Địa, cộng lại được 60 quẻ.

Lấy quẻ Địa Lôi Phục khởi ở Đông chí nửa giờ Tý, gồm 5 quẻ phối 2 khí:

- Quẻ Địa Lôi Phục, Sơn Lôi Di, Thủy Lôi Truân, Phong Lôi Ích, Thuần Chấn phối với khí Đông chí - Tiểu hàn ;

- Quẻ Hỏa Lôi Phệ hạp, Trạch Lôi Tùy, Thiên Lôi Vô vọng, Địa Hỏa Minh di, Sơn Hỏa Bí phối với khí Đại hàn - Lập xuân ;

- Quẻ Thủy Hỏa Ký tế, Phong Hỏa Gia nhân, Lôi Hỏa Phong, Trạch Hỏa Cách, Thiên Hỏa Đồng nhân phối với khí Vũ thủy – Kinh trập ;

- Quẻ Địa Trạch Lâm, Sơn Trạch Tổn, Thủy Trạch Tiết, Phong Trạch Trung phu, Lôi Trạch Quy muội phối với khí Xuân phân – Thanh minh ;

- Quẻ Hỏa Trạch Khuê, Thuần Đoài, Thiên Trạch Lý, Địa Thiên Thái, Sơn Thiên Đại súc, phối với khí Cốc vũ - Lập hạ ;

- Quẻ Thủy Thiên Nhu, Phong Thiên Tiểu súc, Lôi Thiên Đại tráng, Hỏa Thiên Đại hữu, Trạch Thiên Quải phối với khí Tiểu mãn – Mang chủng

- Quẻ Thiên Phong Cấu, Trạch Phong Đại quá, Hỏa Phong Đỉnh, Lôi Phong Hằng, Thuần Tốn phối với khí Hạ chí - Tiểu thử.

- Quẻ Thủy Phong Tỉnh, Sơn Phong Cổ, Địa Phong Thăng, Thiên Thủy Tụng, Trạch Thủy Khốn phối với khí Đại thử - Lập thu.

- Quẻ Hỏa Thủy Vị tế, Lôi Thủy Giải, Phong Thủy Hoán, Sơn Thủy Mông, Địa Thủy Sư phối với khí Sử thử - Bạch lộ

- Thiên Sơn Độn, Trạch Sơn Hàm, Hỏa Sơn Lữ, Lôi Sơn Tiểu quá, Phong Sơn Tiệm phối với khí Thu phân – Hàn lộ.

- Quẻ Thủy Sơn Kiển, Thuần Cấn, Địa Sơn Khiêm, Thiên Địa Bĩ, Trạch Địa Tụy phối với khí Sương giáng - Lập đông.

- Quẻ Hỏa Địa Tấn, Lôi Địa Dự, Phong Địa Quan, Thủy Địa Tỷ, Sơn Địa Bác phối với khí Tiểu tuyết - Đại tuyết.

Lấy 1 quẻ thẳng 72 Thế, 5 quẻ thẳng 360 Thế, 60 quẻ thẳng 4320 Thế mà làm 12 Hội, tích chứa 129600 năm, ở trong đó quẻ Truân 6-4, Vô vọng 1-4, Phong 4-3, Tiết 6-2, Lý 1-2, Đại tráng 4-1, Đỉnh 3-5, Thăng 8-5, Hoán 5-6, Lữ 3-7, Khiêm 8-7, Quan 5-8 là 12 quẻ ở 2 khí giao nhau. Trước 3 hào quẻ trên 1 khí dùng 36 Thế, sau 3 hào quẻ dưới 1 khí dùng 36 Thế, 1 quẻ 6 hào biến làm 6 quẻ, 5 quẻ biến làm 30 quẻ thẳng 360 Thế, thời 1 hào dùng biến quái thẳng 12 Thế. Mở Vật trong Dần khởi từ quẻ Lôi Hỏa Phong dùng hào 9-4 mà đi lên trên. Đóng Vật trong Tuất tới quẻ Địa Sơn Khiêm dùng hào 9-3 mà đi xuống dưới, bởi trên mà suy, lớn lại càng lớn, bởi dưới mà suy, nhỏ lại càng nhỏ. Cái lý ấy thuộc về Trời Đất, chẳng gì là chẳng vậy.

NGUYÊN NGANG HỘI DÙNG MỘT

THIÊN QUAN VẬT DÙNG MỘT

Nguyên là 1, Hội là 12, lấy đồ Nguyên ngang Hội, như số Hội 12 đồ, mỗi đồ quản tích đều 360, thống kê 4320 toán, đồ đều bầy 30 làm 1 hàng, trước 1 hàng là tiêu mục, thực 30 hàng, hàng đều bầy 5 tầng, từ tầng 1, 2, 3, 4 đến tầng trên. Nhật chủ Càn làm Nguyên, Nguyệt chủ Đoài làm Hội, Tinh chủ Ly làm Vận, Thần chủ Chấn làm Thế. Càn nhật Ly sao là 12, vòng hết lại bắt đầu, gồm 2 vòng. Nửa đồ Nhật-Nguyệt-Tinh, lấy ngang Dương dùng Thái Thiếu, theo dương can Giáp 1 đến Quý 10, vòng hết lại bắt đầu, gồm 3 vòng. Đoài Nguyệt Chấn Thần là Thái Thiếu của Âm, từ chi âm Tý 1 đến Hợi bầy hai hàng trống không, một thứ là Can, số ngang dùng đến cuối 12 đồ cộng 360 mục. Đồ Thần ngang cũng như thế, mà Tý 1 làm đầu, thuận thứ tự đi thẳng đến Hợi đều 12 mục 1 đồ, 30 hàng mục, kể 360 thông 12 đồ 360 hàng, thời có 4320 mục. Đồ ở Tý 1, hàng đầu đều ở Tý, lần lượt đến Giáp Bính Mậu Canh Nhâm làm vòng trong, đến ở Hợi, 12 hàng đầu đều ở Hợi chen liền Ất Đinh Kỷ Tân Quý làm vòng kế tiếp, đều bỏ trống mục, mà trên dưới đều lần lượt thêm toán, từ 1 đến 10, 10 đến 100, nghìn, toán chọn 1, 3, 5, 7, 9 Tý lấy lẻ chựu, còn 2, 4, 6, 8, 10 Hợi lấy chẵn thêm vào. Quẻ của đồ, mỗi đồ quẻ ngang 5, quẻ dọc đều 6, cộng 30 thông 12 đồ. Quẻ ngang 60, quẻ dọc 260. Quẻ dọc của dọc 2160, quẻ dọc ấy đổi nhau làm ngang. Lại có quẻ dọc của dọc, ngậm trống không 12 đồ trong mục, vì Niên ngậm Nguyệt, Nguyệt ngậm Nhật và ngậm cả số Phân Sao của Thời. Cũng như Nguyên tóm Hội, Hội tóm Vận, đều tóm số Niên Nguyệt của Thế vậy. Vậy thì lấy Nguyên kinh Hội mà kinh Vận kinh Thế hết thẩy ngụ ở trong 12 đồ. Đến 6 đồ trước dương lớn mà lên, 6 đồ sau âm tiêu mà xuống. Quẻ Phục-Cấu chia ở Tý-Ngọ, trong ngoài suy luận sẽ rõ. Kẻ đọc tâm hội ở đồ mục, tự mình mà được vậy.

Lại nói: Đông chí ngày Giáp Tý, nửa giờ Tý khởi đầu quẻ Phục biến làm Khôn, từ nửa giờ Tý đến nửa giờ Dần, Khôn hào đầu. Nửa giờ Dần đến nửa giờ Thìn, nửa Khôn hào 2 quẻ Sư. Nửa giờ Thìn đến nửa giờ Ngọ, nửa Khôn hào 3 quẻ Khiêm. Nửa giờ Ngọ đến nửa giờ Thân, nửa Khôn hào 4 quẻ Dự. Nửa giờ Thân đến nửa giờ Tuất, nửa Khôn hào 5 quẻ Tỷ. Nửa giờ Tuất đến nửa giờ Tý, nửa Khôn hào Thượng quẻ Bác là hết. Ất Sửu thời nửa giờ Tý, quẻ Phục hào 2 biến thành quẻ Lâm, Đinh Sửu nửa giờ Tý hào 3 quẻ Phục biến thành quẻ Thái, từ hào Sơ xong đến hào Thượng, mỗi hào thứ tự lấy trước sau 2 nửa, gồm 1 hào được 2 quẻ làm nêu, nêu 2 quẻ cùng khắp 1 hào, 12 vòng khắp 1 quẻ, khởi xong xem quẻ Khôn, do đó trải Địa Hỏa Minh di, Thuần Lôi, Thủy Lôi Truân, Sơn Lôi Di biến vòng lại, tiếp tục theo tiếp mà suy, gồm 72 thần (sao). Qua 6 ngày từ Giáp đến Kỷ, quẻ thẳng Phục mà đấy du! Là quẻ Di vậy, Dự phỏng đây. Việc làm này Nhật thấy Thời, cũng tức là Thời mà phép thắt bó Năm, Tháng, Ngày vậy. Nguyên, Hội, Vận, Thế đều có thể thông xem. Thấy mỗi Nguyên làm 2 mà khen tương đương với 1, ngày đêm có khác mà cùng nhau làm 1 ngày vậy.

THÁNG TÝ: là Hội thứ Nhất, từ Hợi đến Tý là 6 âm đã cùng cực, 1 dương mới động vậy. Ở Thì trong luật lữ là Hoàng Chung, Chi kiến Tý, Nguyệt phần 11, Nhật ở Tinh chép, thì tiết lệnh Đông chí - Tiểu hàn, quẻ thẳng gồm có: Địa Lôi Phục, Sơn Lôi Di, Thủy Lôi Truân, Phong Lôi Ích, đều có tượng u ám, kíp đến Thuần Lôi, Thiên thần chia dần. Quẻ Truân đang ở giữa hội Tý, hào 6 – 3 trở về trước cùng quẻ Phục, quẻ Di chủ khí Đông chí, hào 6 – 4 trở về sau cùng quẻ Ích, quẻ Thuần Lôi chủ khí Tiếu hàn, trước sau đều 15 hào, số năm đều 5400. Chọn dùng làm Nhuận quẻ Thuần Ly, hào Sơ biến thành quẻ Lữ, hào 2 biến thành quẻ Đại hữu, cũng chia ra mà làm chủ đấy. Trước khởi vận Giáp 1 Thế Tý 1, sau khởi vận Kỷ 16 Thế Tý 181 xong Quý Hợi 360 cùng là Hội Tý vậy. Thanh trời xướng 9, âm (tiếng) đất chưng 11, xướng Thần (sao) họa Thạch (đá) báo, là Hằng Ích cảm thông khá vậy. Lấy Nguyên kinh Hội dùng 2. Thiên quan vật chọn dùng 2.

THÁNG SỬU: là Hội thứ Hai, từ Tý vào Sửu là lúc trời mở ở trên, đất đóng ở dưới, ở Thì luật lữ là Đại lữ, Chi kiến Sửu, Nguyệt phần 12, Nhật ở tiết lệnh nguyên trống rỗng, có tiết khí Đại hàn - Lập xuân. Quẻ thẳng gồm có: Hỏa Lôi Phệ hạp, Trạch Lôi Tùy, Thiên Lôi Vô vọng, Địa Hỏa Minh di, Sơn Hỏa Bí, đều có tượng ra chỗ tối hướng về chỗ sáng. Quẻ Vô vọng đang ở giữa hội Sửu, hào 6 – 3 trở về trước cùng với Phệ hạp, Tùy chủ khí Đại hàn, hào 9 – 4 trở về sau cùng với quẻ Minh di, quẻ Bí chủ khí Lập xuân, hào biến đều 15, số năm đều 5400. Nhuận quẻ Thuần Ly hào 3 biến thành quẻ Hỏa Lôi Phệ hạp, hào 4 quẻ Thuần Ly biến thành quẻ Sơn Hỏa Bí, cũng chia ra mà làm chủ đấy. Trước khởi vận Giáp 31 Thế Tý 361, sau khởi vận Kỷ 46 Thế Tý 541, song đến Quý Hợi lại 360 vòng quanh Hội Sửu vậy. Thanh trời dùng 10, âm đất dùng 12, các vì sao xướng đá đất họa, âm dương chia 2 nghi, trong khoảng giao tiếp đấy du!

THÁNG DẦN: là Hội thứ Ba, Sửu mà giao với Dần thì trời đất mở đóng, lúc nhân vật mới sinh vậy, ở Thì luật lữ là Thái Dốc, Chi kiến Dần, Nguyệt phần 1, Nhật ở xu-tí (tên chỗ sao đi đến, từ sao Quỷ 18 độ đi đến sao Chủy 4 độ), thì tiết lệnh Vũ thủy – Kinh trập. Quẻ thẳng Thủy Hỏa Ký tế, Phong Hỏa Gia nhân, Lôi Hỏa Phong, Trạch Hỏa Cách, Thiên Hỏa Đồng nhân, đều có tượng hình khí hóa sinh. Quẻ Phong đang ở giữa hội Dần. Hào 9 – 3 trở về trước cùng quẻ Ký tế, Gia nhân chủ khí Vũ thủy, hào 9 – 4 trở về sau cùng quẻ Cách, Đồng nhân chủ khí Kinh trập, hào biến đều 15, số năm đều 5400 năm, Nhuận giao quẻ Ly hào 5 biến thành quẻ Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 6 quẻ Ly biến thành quẻ Lôi Hỏa Phong, cũng chia ra mà làm chủ đấy. Trước khởi vận Giáp 61 Thế Tý 721, sau khởi vận Kỷ 76 Thế Tý 912 xong đến Quý Hợi lại 360, hội Dần vòng quanh rồi vậy. Thanh trời dùng 1, âm đất dùng 1, Tinh xướng Thổ họa, là khoảng âm dương giao ngũ hành du!

THÁNG MÃO; là Hội thứ Tư, Dần mà vào Mão, lúc ba Tài bắt đầu gây mới, khí hải ra, thì đi vậy. Ở Thì trong luật lữ là Giáp Chung, Chi kiến Mão, Nguyệt phần 2, Nhật ở Giáng lâu, tiết lệnh là Xuân phân – Thanh minh. Quẻ thẳng gồm: Địa Trạch Lâm, Sơn Trạch Tổn, Thủy Trạch Tiết, Phong Trạch Trung phu, Lôi Trạch Quy muội, đều có tượng tìm tòi soi sáng, quẻ Tiết đang ở giữa Hội Mão. Hào 6 – 3 trở về trước cùng với quẻ Lâm, quẻ Tổn chủ khí Xuân phân, hào 6 – 4 trở về sau cùng quẻ Trung phu và quẻ Quy muội chủ khí Thanh minh. Hào biến đều 15, niên số (số năm) đều 5400 năm. Quẻ nhuận Thuần Càn mới dùng vào việc, biến hào Sơ được quẻ Thiên Phong Cấu, biến hào 2 được quẻ Thiên Hỏa Đồng nhân, cũng chia ra mà làm chủ chung. Trước khởi vận Giáp 91 Thế Tý 1261, sau khởi vận Kỷ 180 lẻ, xong rồi đến Quý Hợi, lại 360, là hội Mão vòng quanh rồi vậy. Thanh trời dùng 2, âm đất dùng 2, Nguyệt xướng Hỏa họa, bảo rằng Hàm Tổn cảm thông là được vậy.

THÁNG THÌN: là Hội thứ Năm ; từ Mão đến Thìn dương tiến ở 5 (từ Tý đến Thìn có 5 cung), đều có tượng lúc vật gặp thịnh vậy, ở Thì trong luật lữ là Cô tẩy, Chi kiến Thìn, Nguyệt phần 3, Nhật ở Đại lương, thì tiết lệnh Cốc vũ - Lập hạ. Quẻ thẳng gồm có: Hỏa Trạch Khuê, Thuần Đoài, Thiên Trạch Lý, Địa Thiên Thái, Sơn Thiên Đại súc, đều có tượng cảnh vật tốt tươi, quẻ Lý đang ở giữa hội Thìn. Hào 6 - 3 trở về trước cùng quẻ Khuê, quẻ Thuần Đoài chủ khí Cốc vũ, hào 9 – 4 trở về sau cùng quẻ Thái, quẻ Đại súc chủ khí Lập hạ. Hào biến đều 15, số năm đều 5400. Hào nhuận là quẻ Thuần Càn hào 3 biến thành quẻ Thiên Trạch Lý, hào 4 biến thành quẻ Phong Thiên Tiểu súc, cũng chia ra mà làm chủ đấy. Trước khởi vận Giáp 31 Thế Tý 7401, sau khởi vận Kỷ 136 Thế Tý 1621, rồi đến Quý Hợi 360 hội Thìn vòng quanh đủ rồi vậy. Thanh trời dùng 3 biến Bính chưng Đại vũ, đến như ở 4 là Đinh dùng thanh Giốc, âm đất dùng 3, ứng Thìn chọn dùng Giốc luật, đến 4 – 8 mà Thanh Giốc Bính Nguyệt xướng giao Nhật, Hỏa họa giao Thủy, là quẻ Sơn Hỏa Bí làm quẻ Địa Thiên Thái giao tế du!

THÁNG TỊ: là Hội thứ Sáu ; từ Thìn đến Tị, vận Thủy (nước) đã hết, lúc đức Hỏa đương vượng dậy, ở Thì trong luật lữ là Trọng lữ, Chi kiến Tị, Nguyệt phần 4, Nhật ở Thực trầm, tiết lệnh là Tiểu mãn – Mang chủng. Quẻ thẳng gồm: Thủy Thiên Nhu, Phong Thiên Tiểu súc, Lôi Thiên Đại tráng, Hỏa Thiên Đại hữu, Trạch Thiên Quải, đều có tượng vật càng nhiều thịnh. Quẻ Đại tráng đang ở giữa Hội Tị. Hào 9 – 3 trở về trước cùng quẻ Nhu, quẻ Tiểu súc chủ khí Tiểu mãn, hào 9 – 4 trở về sau cùng quẻ Đại hữu, quẻ Quải chủ khí Mang chủng, hào biến đều 15, niên số đều 5400, hào nhuận quẻ Thuần Càn hào 5 biến thành quẻ Hỏa Thiên Đại hữu, hào Trên biến thành quẻ Trạch Thiên Quải cũng chia ra mà làm chủ đấy, trước khởi vận Giáp 151 Thế Tý 1801, sau khởi vận Kỷ 166 Thế Tý 1981, xong đến Quý Hợi, lại 360 hội Tị vòng quanh đủ vậy. Thanh trời dùng 5 biến Mậu dùng Đại cung, âm đất dùng 6 ứng Kỷ dùng thanh Giốc, Nhật xướng Thủy họa, lúc rất thịnh khí nối du! Trên Tị vòng quanh trời dùng 6 dương.

THÁNG NGỌ: hội thứ Bẩy ; từ Tị đến Ngọ, dương lên đã cùng cực, là lúc âm nghĩ muốn tranh đoạt nương lên trước vậy, ở Thì trong luật lữ là Nhuy Thực, Chi kiến Ngọ, Nguyệt phần 5, Nhật ở Thuần thủ, ở thì tiết lệnh Hạ chí - Tiểu thử. Quẻ thẳng gồm: Thiên Phong Cấu, Trạch Phong Đại quá, Hỏa Phong Đỉnh, Lôi Phong Hằng, Thuần Tốn, đều có tượng vật nảy mầm mà âm loại bỏ đi. Quẻ Đỉnh đang ở giữa hội Ngọ. Hào 9 – 3 trở về trước cùng quẻ Cấu, quẻ Đại quá chủ khí Hạ chí, hào 9 – 4 trở về sau cùng quẻ Hằng, quẻ Thuần Tốn chủ khí Tiểu thử, hào biến đều 15, niên số đều 5400. Quẻ Tập Khảm làm chủ bắt đầu vào việc, hào Sơ quẻ Tập Khảm biến thành Thủy Trạch Tiết, hào 2 biến thành Thủy Địa Tỷ, cũng chia ra để cùng làm chủ. Trước khởi vận Giáp 181 Thế Tý 2341, xong rồi đến Quý Hợi, lại 360 hội Ngọ là vòng quanh đủ vậy. Thanh trời dùng 6, âm đất dùng 7, xướng họa như Thần là Nam Bắc nóng rét đến cực.

Xét Bính Mậu cùng ở Tị (ngôi Lộc), Thanh trời chưng 3 – 5 gồm cả Đinh Tị giao Ngọ thời 4 với 6 là Thanh vậy. Xướng họa là cơ Nam không sinh vật. Lại xét trong hội Tị, bậc Hoàng xuống bậc Đế, vua Hoàng đế Nghiêu Thuấn làm Vua, thông biến trị dân tốt, ứng vào Càn nguyên tóm ở Trời. Bậc Thánh làm loài vật thấy, Đại hữu là phúc trời, quẻ Quải là tượng văn chương rực rỡ, cho nên đức Trọng ny xem trời, suy lịch mà đoán từ đời Đường Ngu là hội Ngọ giao, nhà Hạ chựu nhà Ngu truyền ngôi gồm 8 năm, Cấu biến Càn, vua Trọng Khang dựng ngôi. Biến quẻ Độn mà nhà Hạ mất ngôi, nhà Thương dấy lên. Biến quẻ Tụng, vua Tổ Đinh nhà Thương làm vua được 19 năm. Biến quẻ Thuần Tốn, nhà Chu Đế đánh nhà Thương, đến năm thứ 2 vua Khang Vương. Biến quẻ Đỉnh, vua Hoàn nhà Chu, quẻ Đại quá vua Hiển vua Noãn nhà Chu, nhà Tần truyền 2 đời vua, nhà Hán dấy lên, bèn thẳng Đại quá, hào Sơ biến quẻ Quải là năm thứ 4 vua Bình vương nhà Hán. Sau đến đời Tam quốc gồm nhà Tấn, biến quẻ Hàm thời nhà Tấn suy, hai năm rưỡi trải đời Ngũ đại, mà nhà Đường dấy lên. Biến quẻ Khốn là năm thứ 13 vua Đường Nguyên Tông, thì lấy thẳng quẻ Trạch Địa Tụy hào 3 biến quẻ Hàm. Biến quẻ Hàm, vua Thái tổ nhà Tống chựu mệnh trời làm Vua, thực ở Hội này vậy. Từ đó mà lần lượt suy làm Thủy Sơn Kiển, Lôi Sơn Tiểu quá, Thiên Sơn Độn mà là Đỉnh vậy.

THÁNG MÙI: hội thứ Tám ; là lúc âm nhu lớn dần, dương cương tiêu dần, ở Thì trong luật lữ là Lâm Chung, Chi kiến Mùi, Nguyệt phần 6, Nhật ở thuần Hỏa, thì ở tiết Đại thử - Lập thu. Quẻ thẳng gồm: Thủy Phong Tỉnh, Sơn Phong Cổ, Địa Phong Thăng, Thiên Thủy Tụng, Trạch Thủy Khốn, đều có tượng vật sợ thịnh quá, quẻ Thăng đang ở giữa hội Mùi. Hào 9 – 3 trở về trước cùng với quẻ Tỉnh, quẻ Cổ là chủ khí Đại thử, hào 6 -4 trở về sau cùng với quẻ Tụng quẻ Khốn làm chủ khí Lập thu, hào biến đều 15, niên số đều 5400. Hào quẻ Nhuận là quẻ Tập Khảm, hào 3 biến thành quẻ Tỉnh, hào 4 biến thành quẻ Khốn cũng chia ra mà làm chủ đấy. Trước khởi vận Giáp 211 Thế Tý 2321, sau khởi vận Kỷ 526 Thế Tý 2701, xong rồi quay sang Quý Hợi lại 360 hội Mùi là đủ vòng vậy. Thanh trời dùng 6 đã nửa Chủy biến Cung, âm địa dùng 12, đá họa tiếng tinh (sao), cho tới vận đi sinh vật mà làm nói vậy du!

THÁNG THÂN: hội thứ Chín ; từ Mùi đến Thân là lúc âm nhu bên trong che đậy, dương cương bên ngoài tiêu vậy, ở Thì trong luật lữ là Di Tắc, Chi kiến Thân, Nguyệt phần 7, Nhật ở Thuần vỹ, ở thì tiết Sử thử - Bạch lộ. Quẻ thẳng gồm: Hỏa Thủy Vị tế, Lôi Thủy Giải, Phong Thủy Hoán, Sơn Thủy Mông, Địa Thủy Sư đều có tượng vật khí thu góp lại. Quẻ Hoán đang ở giữa hội Thân. Hào 6 – 3 trở về trước cùng quẻ Vị tế và quẻ Giải làm chủ khí Xử thử, hào 6- 4 trở về sau cùng với quẻ Mông, quẻ Sư làm chủ khí Bạch lộ, hào biến đều 15, số năm đều 5400, quẻ nhuận Thuần Khảm hào 5 biến thành quẻ Sư, hào 6 biến thành quẻ Hoán, cũng chia ra mà làm chủ đấy. Trước khởi vận Giáp 241 Thế Tý 2881, sau khởi vận Kỷ 256 Thế Tý 3061 cuối đến Quý Hợi lại 360 hội Thân vòng đủ vậy. Thanh chỉ 7 Canh làm Thiếu thương, âm đất ứng Nhật, chỉ 9 ứng nhật nguyệt đến 12, Nhật vào Nguyệt ra ở phương Canh vậy.

THÁNG DẬU: hội thứ Mười ; từ Thân đến Dậu là lúc Âm nhu đạp lên trên, dương cương chựu thời xuống vậy, ở Thì trong luật lữ là Nam lữ, Chi kiến Dậu, Nguyệt phần 8, Nhật ở Thọ tinh, thì ở tiết Thu phân – Hàn lộ. Quẻ thẳng gồm: Thiên Sơn Độn, Trạch Sơn Hàm, Hỏa Sơn Lữ, Lôi Sơn Tiểu quá, Phong Sơn Tiệm, đều có tượng vật hậu mát trong, quẻ Lữ đang ở giữa hội Dậu. Hào 9 – 3 trở về trước cùng quẻ Độn quẻ Hàm làm chủ khí Thu phân, hào 9 – 4 trở về sau cùng quẻ Tiểu quá và quẻ Tiệm làm chủ khí Hàn lộ, hào biến đều 15, số năm đều 5400, quẻ nhuận Thuần Khôn dùng việc, hào Sơ biến thành quẻ Phục, hào 2 biến thành quẻ Sư, cũng đều chia ra mà làm chủ đấy. Trước khởi vận Giáp 271 Thế Tý 3241, sau khởi vận Kỷ 286 Thế Tý 3421, cuối đến Quý Hợi lại 360 hội Dậu đủ vòng vậy. Thanh trời dùng hết làm Thiếu vũ, Nhật 8 số không đi, âm đất dùng 10 hóa Thổ hòa với Nguyệt tinh, âm còn có chữ, đến đêm lửa sáng, không cách ban ngày, đất về mùa Đông sinh sôi, không khác gì 3 mùa trước vậy.

THÁNG TUẤT: hội thứ Mười Một ; từ Dậu đến Tuất là lúc âm nhu lớn đi, dương cương thời hết vậy, ở Thì trong luật lữ là Vô Xạ, Chi kiến Tuất, Nguyệt phần 9, Nhật ở Đại hỏa, ở thì tiết Sương giáng - Lập đông. Quẻ thẳng gồm: Thủy Sơn Kiển, Thuần Cấn, Địa Sơn Khiêm, Thiên Địa Bĩ, Trạch Địa Tụy, đều có cảnh tượng vật vã điêu lạc, quẻ Khiêm là quẻ ở giữa hội Tuất. Hào 9 – 3 trở về trước cùng với quẻ Kiển và quẻ Thuần Cấn làm chủ khí Sương giáng, Hào 6 – 4 trở về sau cùng với quẻ Bĩ và quẻ Tụy làm chủ khí Lập đông, hào biến đều 15, số năm đều 5400, quẻ nhuận Thuần Khôn dùng vào việc, hào 3 biến thành quẻ Khiêm, hào 4 biến thành quẻ Dự, cũng chia ra mà làm chủ. Trước khởi vận Giáp 301 Thế Tý 3601, sau khởi vận Kỷ 316 Thế Tý 3781, cuối đến Quý Hợi, lại 360 hội Tuất vòng hết vậy. Thanh rỗng không âm hòa có chữ, hành Thủy chỉ 9, chỉ 12 biến, dùng Dậu Tuất ứng Nhật, thửa số quẻ Bĩ, Thuần Cấn trở lên vậy.

THÁNG HỢI: hội thứ Mười Hai ; từ Tuất đến Hợi là lúc thuần âm tích chứa ở trong, chỉ còn dương nhỏ tiêu hao ở ngoài, ở Thì trong luật lữ là Ứng Chung, Chi kiến Hợi, Nguyệt phần 10, Nhật ở Tích Mộc, ở thì tiết Tiểu tuyết - Đại tuyết. Quẻ thẳng gồm có: Hỏa Địa Tấn, Lôi Địa Dự, Phong Địa Quan, Thủy Địa Tỷ, Sơn Địa Bác, đều có cảnh tượng vật đang cất dấu. Quẻ Quan đang ở giữa hội Hợi. Hào 6 – 3 trở về trước cùng với các quẻ Tấn Dự làm chủ khí Tiểu Tuyết, hào 6 – 4 trở về sau cùng với quẻ Tỷ quẻ Bác làm chủ khí Đại tuyết, hào biến đều 15, số năm đều 5400, dẫu đi đất chẳng thấy, có thể lấy lệ mà nghĩ, đó là Quan Ích trở xuống làm không số nhuận hào 5 quẻ Khôn biến thành quẻ Tỷ, hào Thượng biến thành quẻ Bác, chia chủ cũng đồng. Trước khởi vận Giáp 331 Thế Tý 3961, sau khởi vận Kỷ 346 Thế Tý 4241, cuối đến Quý Hợi lại 360 hội Hợi vòng hết vậy. Thanh trời dùng 10 Quý hợp với Thiếu Giốc, âm đất dùng 12 Hợi làm biến cung, nước để hòa Nhật, từ đó hết vòng quay lại, chỗ giao tế dưới Trinh khởi Nguyên du!

Bảo rằng, lấy 1 Nguyên làm kinh 12 Hội, như lấy Năm kinh Tháng, lấy 1 năm làm kinh 12 tháng, vì 1 năm 12 tháng thâu tóm 360 ngày, cộng 4320 giờ, chứa 129600 Phân. Một Nguyên chứa 12 Hội, thâu tóm 360 Vận, cộng 4320 Thế, chứa 129600 năm. Cho nên, Sao lấy tương đương với Phân, Thế lấy tương đương với Thời, Vận lấy tương đương với Nhật, Hội lấy tương đương với Nguyệt, Nguyên lấy tương đương với Tuế, diễn ra thời vô cùng, thắt lại thời không mấy, đều về mà dùng ở 1, 1 ấy là Nguyên vậy, Nhật Giáp 1, Nguyệt Tý 1, Sao Giáp 1, Thần Tý 1, theo lần lượt mà sinh, bèn có 12 Hội, đó bảo là lấy Nguyên kinh Hội, mà Hội Vận Thế, lần lượt thay nhau làm Kinh, hết thẩy đều gốc ở Nguyên. Duy ấy, trời đất sinh ra số muôn vật, chọn Nguyên làm Càn, Càn để chia đấy, chọn Đoài làm Hội, chọn Ly làm Vận, chọn Chấn làm Thế, càng chia thời càng nhỏ, số tích càng nhiều. Cho nên 1 phân chia 12, 12 phân chia 360, 360 phân chia 4320, lại chia mà 129600 vậy, bèn là số Thái cực sinh ra trời đất. Chọn Nguyên lại làm Chấn, Chấn lấy lớn đấy, Ly tương đương Hội, Đoài tương đương Vận, Càn tương đương làm Thế, càng lớn thời càng to, thì số dùng càng thắt buộc lại, cho nên 129600 thắt buộc lại mà làm 4320, lại thắt nữa mà làm 360, lại thắt nữa mà làm 12, rồi bao gồm về dùng 1, phàm làm cái số lớn lên mà to ra là thế. Chia thời nghịch lại, lớn thời thuận đi, đi lại thuận nghịch cũng lẫn lộn, 1 vị 8 quẻ trong đó mà thuận đi, nghịch lại ấy chỉ 4, quẻ trời giao trời, thể ở trong và thể ở ngoài, đều chẳng lìa dùng Càn Đoài Ly Chấn tự giao. Thuận đi có 4 quẻ trời giao đất, Thế ở trong dùng Chấn Ly Đoài Càn, Thế ở ngoài dùng Khôn Cấn Khảm Tốn đó vậy.

Cho nên, quẻ phương tả ấy nghịch lại 16 quẻ bao gồm: Thuần Càn, Trạch Thiên Quải, Hỏa Thiên Đại Hữu, Lôi Thiên Đại tráng, Thiên Trạch Lý, Thuần Đoài, Hỏa Trạch Khuê, Lôi Trạch Quy muội, Thiên Hỏa Đồng nhân, Trạch Hỏa Cách, Thuần Ly, Lôi Hỏa Phong, Thiên Lôi Vô vọng, Trạch Lôi Tùy, Hỏa Lôi Phệ hạp, Thuần Lôi. Trong đó, 16 quẻ này, đều lấy thứ tự để chia: Nguyên - Hội - Vận - Thế, từ trên xuống dưới, khởi từ quẻ Thuần Càn đến quẻ Thuần Lôi.

Đồng thời, quẻ phương tả thuận đến cũng 16 quẻ gồm: Địa Lôi Phục, Sơn Lôi Di, Thủy Lôi Truân, Phong Lôi Ích, Địa Hỏa Minh di, Sơn Hỏa Bí, Thủy Hỏa Ký tế, Phong Hỏa Gia nhân, Địa Trạch Lâm, Sơn Trạch Tổn, Thủy Trạch Tiết, Phong Trạch Trung phu, Địa Thiên Thái, Sơn Thiên Đại Súc, Thủy Thiên Nhu, Phong Thiên Tiểu súc, cũng đều lấy thứ tự để chia Nguyên - Hội - Vận - Thế từ dưới lên trên, bắt đầu khởi từ quẻ Phục đến quẻ Tiểu súc vậy.

Đến ở bên hữu tóm ở bên tả, là Đất theo Trời, quẻ Sơn Địa Bác theo (trông coi) quẻ Trạch Thiên Quải, quẻ Cấu theo (trông coi) quẻ Phục, mỗi một quẻ đều có quẻ làm đối vị, chia lấy đồng đều. Đồng thời quẻ chủ nhuận gồm 4 quẻ Ly Càn Khảm Khôn, tả hữu chia thẳng đều tóm 15 hào. Quẻ Ly khởi trong Tý, quẻ Phục hết trong Mão và quẻ Đồng nhân. Quẻ Thuần Càn khởi trong Mão, quẻ Lâm hết trong Ngọ và quẻ Quải. Quẻ Thuần Khảm khởi trong Ngọ, quẻ Cấu hết trong Dậu và quẻ Sư. Quẻ Thuần Khôn khởi trong Dậu, quẻ Độn hết trong Tý và trong quẻ Bác.

Quẻ Thuần Ly dùng trong chủ 3 Hội, Hội Tý khí Đông chí - Tiểu hàn, Hội Sửu khí Đại hàn - Lập xuân, Hội Dần khí Vũ thủy – Kinh trập. Quẻ Thuần Càn chủ 3 Hội, Hội Mão khí Xuân phân – Thanh minh, Hội Thìn khí Cốc vũ - Lập hạ, Hội Tị khí Tiểu mãn – Mang chủng. Ở đây, 2 quẻ Thuần Ly và Thuần Càn, Sao (Tinh) cùng Nhật dùng việc ở 6 dương mà thâu tóm dùng Thần Nguyên âm vậy.

Quẻ Tập Khảm làm chủ 3 Hội: Hội Ngọ khí Hạ chí - Tiểu thử, Hội Mùi khí Đại thử - Lập thu, Hội Thân khí Bạch lộ - Sử thử. Quẻ Thuần Khôn làm chủ 3 Hội: Hội Dậu khí Thu phân – Hàn lộ, Hội Tuất khí Sương giáng - Lập đông, Hội Hợi khí Tiểu tuyết - Đại tuyết. Hai quẻ Tập Khảm và Thuần Khôn, Thủy cùng Thổ thu khí ở 6 âm, dùng nhu mà thâu tóm Thạch Hỏa dùng dương cương vậy.

Cho nên, từ Hội Tý mà nói, trước làm Hợi Tuất 2 Hội, trời đất hỗn độn, rối beng chưa mở mang, là số không đến Hội Tý, như một ngày nửa đêm giờ Tý, âm cùng cực sinh dương, gốc trời nảy mầm dần dần ở dưới mà biến Phục. Quẻ Khôn Phục giao nhau, chính là khoảng giữa 1 động 1 tĩnh, Thái cực sinh ra quẻ đầu tiên của trời đất, thẳng làm Phục, Di, Truân, Ích mà đi nhanh đến Chấn, nguyên khí cắt chia, trong nhẹ lên trên, bèn có Thần Sao (Tinh), Nhật Nguyệt hợp làm 4 tượng của Trời, cho nên nói “ trời mở ở Tý”, tuy chưa rõ rệt lớn, đã thành thai nghén, như mẹ Khôn có chửa sinh trai Chấn, bấy giờ nước lửa gỗ đá cũng thuận, nên mà sum họp đầy đủ, rỗng không yên lặng, không có trong điều gì sắp xẩy ra vậy.

Do đó, 1 khí chuyển vận, nhẹ trong nổi lên trên, nặng đục rơi xuống dưới, thời ngưng tụ thành đất, cho nên nói “đất mở ở Sửu”, là đang hội Sửu chứa khối mới thành đất đá, cái khí ẩm, nhuận, ráo, nóng chia làm Nước - Lửa, 4 cái thành Tượng, đất ở giữa trời tiếp trời đi có mùa, yên lặng không động. Quẻ thẳng làm Hỏa Lôi Phệ hạp, Trạch Lôi Tùy, Thiên Lôi Vô vọng, Địa Hỏa Minh di, Sơn Hỏa Bí, trong đó quẻ Minh di là số giao sau cùng, còn quẻ Bí là số dùng trước vậy.

Trời Đất đã dựng, Người Vật bèn sinh, ra Sửu vào Dần, là Hội mở Vật, từ cái không tới cái có, tối ấy hướng về sáng. Tượng còn đêm mà là sáng sớm, mùa Đông mùa Xuân vậy. Ban đầu trời đất hun đúc hóa thuần nên chạy, bay, cỏ, cây, chẳng thai, trứng, chẳng hột, mà quẻ đều lấy “Khí” mà hóa ra, sau trai gái gây nên tinh mà hóa sinh. Loài chạy, bay, cỏ, cây, chẳng loài nào là không thai trứng, hột, quả, đều hóa lấy hình, loài khí hình hóa không cùng, khí làm hình, chuyên hình lấy loại diễn khí, hóa mà ít lấy hình nhỏ, hóa mà nhiều lấy hình lớn. Người sinh ở Dần, quý mà thâu tóm Vật, thì ra ở Chấn quay về sáng, chủ đồ dùng ngự trị, ba tài gây dựng, mà muôn vật sinh sôi ở Hội này du!

Đó là buổi ban sơ của Ngày, buổi đầu của Thời, bắt đầu đời Hoàng vậy. Vậy thì Trời, Người ở đời Tam Hoàng, tức là Tý-Sửu-Dần, là thời 8 dương vậy, là thời Mộc đức đương vượng, lửa cháy dùng võ, quẻ Ly thâu tóm Hội Người, trị mở sáng, xem ở lưới đánh cá bắt chim, cầy bừa, thức ăn, tiền của giao dịch, 8 quẻ làm chữ văn khế, cùng lịch luật, đều khởi tự Giáp Dần, Đạo ấy là rực rỡ. Đạo Hoàng dạy dỗ dân, Hàm Lâm ung dung gìn giữ, thắt lại quẻ Tổn chế, quẻ Tiết quẻ Trung phu dụng về điều nhân, quẻ thuần Ly hết mà quẻ thuần Càn khởi lên, Hội giao tế giữa Mão, cho nên quẻ thẳng là Lâm, Tổn, Tiết, Trung phu, Quy muội, cùng với Thời hiệp ứng.

Đó từ thời vua Hy Hoàng trở về sau, bản chép Tuần không (bản chép của đời Thượng cổ?) chuyện mà nhân đề ra việc giá thú, hợp mà làm đôi lứa vợ chồng, lấy da thú làm nghi lễ, nhạc điển, lấy giây tơ làm đàn sắt. Ôi! há không có nguyên nhân ư? Kịp đến hội Thìn, quẻ Khuê khác, mà đồng quẻ thuần Đoài, lấy quẻ Lý mà biện rõ chia định, quẻ Thái giao mà chí thông, Đại súc giầu có mà ngày mới, đạo hóa càng thịnh, đức giáo phổ biến. Đã lên tới quẻ Ích ở Tị, vận Đế cả sáng, nhân nâng đỡ sự biến, mà truyền ngôi Vua, quẻ thẳng trong chủ thuần Càn cương, thẳng ngoài quẻ Khảm mây, Tốn gió, Chấn sấm, Ly lửa, giao nhau mà động, thay đổi tiến lên, mà ơn bố ra, trên trời thì từ Nhu, Tiểu súc, mà lớn ấy mạnh, có lấy đại dùng dương quyết ở cô âm, ở tượng làm quẻ Quải. Bấy giờ vua Hiên, hiệu Chuyên Húc đến Nghiêu Thuấn 1 Càn nguyên thâu tóm trời, cưỡi 6 rồng, đều là mọi vật, tượng yên muôn nước vậy. Đó là thời trời không có tên, cao cao lồng lộng, đưa ông Vua rất mực vậy, vận đời Đế thịnh tốt du! Đức Trọng Ny suy lịch số, đoán từ đời Nghiêu Thuấn, sợ như mặt trời đương giữa trời, Tị rồi đến Ngọ, giao nhau đến rất thịnh, không gì hơn được nữa. Từ Phục đến Càn, do Tý mà Ngọ, 6 hội trước làm kẻ trưởng giả, đến đó là thôi, vận bậc Hoàng Đế, ngày mở ngày đóng, mà cùng cực đến nay vậy. Từ đây, Âm sinh giữa Ngọ, bậc Đế xuống bậc Vương, nhà Hạ gặp Cấu Sơ, nhà Ân Chu gặp Cách, mệnh gồm trải 6 vận, trải Cấu 6 hào, 72 Thế, 2160 năm. Trong khoảng ấy, Vương xuống Bá, Bá xuống Dịch (giống Rợ ở phương Bắc). Khổng Tử sinh cuối đời Chu, chép Thiên Tần thể Đế nối bậc Vương, ở thì quẻ Cấu dụng hào 9 – 5. Đến vua Chính nhà Tần thôn tính 6 nước và 2 nhà Cưu, mà bắt đầu xưng là bậc Hoàng, thời vận Cấu Giốc, Chu bị Tần làm mất, Tần bị Sở diệt, Sở bị Hán bắt, còn dư bậc Bá, Rợ Dịch thì lại gần việc Vương. Thế Vận từ Cấu mà biến, giao Càn ứng Phục, có như thế đó, Cấu về sau là Đại quá, là Đỉnh, là Hằng, lấy đến dụng Tốn, Hội Ngọ là Chu Hán đến nay. Còn ở hội Ngọ 12 vận, đương đây chựu mệnh Thánh nhân, vốn có Đại quá, tài đức hơn người ta, Đỉnh dựng Hằng lâu, mà Tốn ở đạo trời, không thể thôi vậy, từ đó mà Cổ, mà Tụng, mà Khốn, thẳng đến Hội Mùi mà Vị Tế, mà Giải, mà Hoán, mà Mông cùng Sư. Thẳng đến Hội Thân, bầy vị Tốn 8, bầy vị Khảm 7, mà Khảm làm nhuận quái chia chủ 3 hội như Càn Ly vậy. Như quẻ thẳng của Hội Dậu rằng Độn, Hàm, Lữ, Tiểu quá rồi Tiệm. Quẻ thẳng của Hội Tuất có Kiển, Cấn, Khiêm, Bĩ, Tụy. Quẻ thẳng của Hội Hợi có Tấn, Dự, Quan, Tỷ, Bác, lại đều dùng quẻ Thuần Khôn làm quẻ Nhuận, chia chủ 3 Hội, cùng với Ly, Càn, Khảm ứng 24 khí biến đổi, rời đổi vần chuyển cơ, trưởng đấy mà tiêu đấy. Từ Ngọ đến Hợi, Khảm Khôn 6 hội làm tiêu, chừng ấy thời thôi.

Suy vận số lớn nhỏ, trời biến 16, đến Cấu thời biến hào Sơ, để tóm hợp ở Càn thửa 7 tỷ 9 ngàn chở xuống, đến số 36 triệu, hết thẩy về Càn là thôi, tối đa không thể lại nhân nữa, cho nên bỏ đi. Cấu giao thì Càn ứng Phục, Đại quá giao thì Quải ứng Di, Đỉnh giao thì Đại hữu ứng Truân, Hằng giao thì Đại tráng ứng Ích. Tả hữu bầy bằng Nguyên ứng: Nguyên, Hội, Vận, Thế, đều đương 1 Sao, 12 đương Sao của Phân, 360 đương Sao của Thời, 4320 đương Sao của Nhật, 129600 đương Sao của Nguyệt, cho nên số Sao của Nguyệt tương đương Phân của Niên, Thời của Thế, Nhật của Vận, Nguyệt của Hội, Niên của Nguyên, số đều là 129600. Giả sử số Nguyệt mà làm Niên, làm Thế, làm Vận, làm Hội, làm Nguyên, thì số cử hết thảy vậy, Phân tách làm Sao, làm Phân, làm Thời, làm Nhật, chọn số để mà suy, khi ta cho 1 Nhật cũng như 1 Nguyên, thì suy ra: số của Thời được số của Hội, số của Phân được số của Vận, số của Sao được số của Thế. Khi coi 1 Sao cũng như 1 Nhật, thì số của Sao được số của Nhật, đồng ở Nguyên, khi chứa 12 Sao, thì được 12x129600= 1555200 làm số Sao của Phân, nếu chứa 360 Sao, thì được 360x129600=46656000 làm số Sao của Thời, nếu chứa 4320 Sao, thì được 4320x129600=559872000 làm số Sao của Nhật, khi chứa 129600 Sao, thì được 129600x129600=16796160000 làm số Sao của Nguyệt. Đó là số 1 Nguyệt tương đương 129600 số của Sao, Thế mà gặp 5 biến, thì làm 1 Vận thâu tóm ở Nguyên. Do đó, lấy Sao tương đương với Niên chẳng nhỏ làm nhóm, cũng không lý khác.

Cho nên, khi Tốn giao thì Tiểu súc ứng Chấn làm Thế của Thế, khi Tỉnh giao thì Nhu ứng Phệ hạp làm Thế của Vận, khi Cổ giao thì Đại súc ứng Tùy làm Thế của Hội, khi Thăng giao thì Thái ứng Vô vọng làm Thế của Nguyên. Nguyệt chứa 129600 Sao lớn mà làm Nguyên, chứa 1555200 Thời cũng làm Sao của Niên, lại chứa Nhật lớn làm Nguyên chứa 46656000 Thời cũng làm Sao của Thế, lại chứa Thời lớn mà làm Nguyên chứa 559872000 làm Sao của Vận. Trở lên, số của quẻ Tỉnh giao, quẻ Cổ giao, quẻ Thăng giao, sẽ lần lượt ứng tích chứa, là Sao của Thế vậy.

Lại chọn Phân lớn mà làm Nguyên, chọn 16796160000 làm số Sao của Hội, tương ứng với quẻ Tụng giao thì Lý ứng Minh di, để làm Hội của Nguyên, lại tóm Sao của Nguyên là 1679616000x12=201553920000, tương ứng với quẻ Khốn giao thì có thuần Đoài ứng Bí làm số Hội của Hội. Phàm Nguyên dùng: Nguyên, Hội, Vận, Thế, Niên, Nguyệt, Nhật, Thì, Phân, Sao đều là 129600, gặp 10 thời biến mà làm 1, gặp 5 gặp 10 biến mà làm 1 ấy, đều số vòng quanh đủ 4 quẻ, mà dùng về ở 1 Nguyên vậy.

Duy ấy, Nhật Nguyệt biến Nguyên Hội giao, từ quẻ Lý, thuần Đoài là bắt đầu Nguyên của Hội, có 12 Hội. Từ quẻ Tụng giao, số gấp 12 lần được 12 x 129600 = 1555200, hợp số quẻ Lý là 129600 x 129600 =16796160000, làm 1 Phân 12 Sao. Tiếp đến Hội của Hội là số 144. Từ quẻ Khốn giao, 144 dùng số 129600 x 144 = 18662400, số hợp của quẻ Thuần Đoài là 16796160000x12=201553920000, (2015 ức 5392 vạn) 12 Phân, 12 ấy là 1, 144 ấy là 12. 1 cùng với 12 nhân lên với nhau, mà phép Nhuận thành lập. Quẻ Quan quẻ Bĩ số giao, quẻ ứng Ký tế làm Hội của Vận, 12 thửa số thì được 201553920000x30=6046617600000 (6 vạn 466 ức 1760 vạn) làm 12 Nhật, chứa 6046617600000x30=181398528000000 (181 vạn 3985 ức 2800 vạn), thời là số 1 tháng 30 ngày. Đến quẻ Hoán giao thì quẻ Trung phu ứng với quẻ Phong. Quẻ thuần Khảm giao thì quẻ Tiết ứng với quẻ Lý. Quẻ Mông giao thì quẻ Tổn ứng với quẻ Cách. Quẻ Sư giao, thì quẻ Lâm ứng với quẻ Đồng nhân, gồm làm vận số của Thế, Vận, Hội, Nguyên.

Quẻ Hoán thời 12 tháng, là 181398528000000x12=2176782336000000 (2176 vạn 7823 ức 3600 vạn) làm 1 năm. Quẻ Khảm thời dùng 90 năm được (2 triệu 6121 vạn 3880 ức 3200 vạn) 2176782336000000 x 12= 26121388032000000 làm 1 Thế.

Tiếp đến Quẻ Mông thời 12, là 26121388032000000x30=783641640960000000 (78 triệu 3716 vạn 6409 ức 6000 vạn) làm 1 Vận. Tiếp đến quẻ Sư thời lại 12 số Vận, gồm 783641640960000000x12=9403699691520000000 (940 triệu 3699 vạn 6915 ức 2000 vạn) là nó vậy.

Bởi vì, 1 Nguyên có 12 Hội, lại lấy 1 Hội có 12 Vận, lại lấy 1 Vận có 12 Thế, thời lấy 1 Thế làm 12 năm, 1 năm làm 12 tháng, 1 tháng làm 12 ngày, 1 ngày làm 12 giờ, thời lấy 1 giờ làm 12 Phân, mặt trời chuyên sáng ở ban ngày, mỗi tháng 18 ngày có 216 giờ, ứng với số Thẻ của quẻ Càn. Mặt trăng thay sáng ban đêm, mỗi tháng 12 ngày có 144 giờ, ứng với số Thẻ của quẻ Khôn. Mà 1 Hội có 12 Vận, có 144 Thế, có 4320 năm, 5 vạn 1840 tháng (4320 x 12) đều từ 12 Phân 144 Sao chứa đấy.

Lấy 1 Hội có 30 Vận mà kể, thời có 30 x 12 = 360 thế, có số năm là: 360 x 5 quẻ = 1800 năm, có số tháng là: 1800 x (12 x 6) = 129600 tháng, có số ngày là: 129600 x 30 = 3888000 ngày, có số giờ là 3888000 x 12 = 46656000 giờ, có số Phân là 46656000 x 30 = 1399680000 Phân (13 vạn 99 ngàn 68 vạn), có số Sao là 1399680000x12=16796160000 Sao. Đến ngày tháng giao cảm thì 1 cùng với 12 cùng nhân lên.

Lấy từ quẻ Lý làm 1 Hội có 12 Vận, nghịch trải qua 4 quẻ Đoài, Khuê, Quy muội rồi đến quẻ Trung phu thì có 12 x 12 = 144 Thế, có số năm là: 144 x 5 = 720 năm, có số tháng là: 720 x 12 = 8640 tháng, có số ngày là: 8640 x 30 = 259200 x 6 hào = 1555200 ngày (12 x 129600), như vậy đến quẻ Phong Trạch Trung phu, thì số 1555200 là số làm số của Ngày. Nghịch đến quẻ Thủy Trạch Tiết, thì số: 1555200 x 12 = 18662400 là số làm số của Giờ. Nghịch đến quẻ Sơn Trạch Tổn, thì số: 18662400 x 30 = 55987200 là số làm số của Phân. Nghịch đến quẻ Địa Trạch Lâm, thì số: 55987200 x 12 = 6718464000 là số làm số của Sao.

Mỗi Thế làm 1 năm, ở quẻ Lý thời Sao hội ở quẻ Tiết, 1 tháng 12 ngày ở quẻ Lý thời Sao thôi dừng lại ở quẻ Quy muội, khí sóc do đó để giao, ngày 1 đại vận mà tiết 6 ngày, tháng 1 đại vận mà lùi 6 ngày, đó là Tuế sai (năm coi không đúng). Cho nên ở 1 lấy 12, thì Trời từ quẻ Địa Trạch Lâm (8-2) trở lên, Đất từ quẻ Địa Thủy Sư (8-7)trở lên, vận số khí đấy, sóc hư (rỗng) chừng ấy bình định. Cho nên, ngày 1 cùng 12 nhân lên, mà phép Nhuận thành lập, đó là lúc Nhật Nguyệt giao cảm, gặp hội Thân Dậu du! Vì có phương Canh, Trăng mọc mặt Trời sắp lặn vậy. Thuận đi như Độn 1-7, Hàm 2-7, Lữ 3-7, Tiểu quá 4-7 mới biến, giao với Đồng nhân 1-3, Cách 2-3, Thuần Ly 3-3, Phong 4-3 ứng nghịch lại. Trong đó Lâm 8-2, Tổn 7-2, Tiết 6-2, Trung phu 5-2, thì lấy số của quẻ Lâm làm Vận của Nguyên, 360 biến mà 129600 hợp 12 giờ, số làm 1 ngày, Đại hữu tương đương Sao số của Giờ tự cùng nhân lên, là số của Tiểu súc. Lại biến 16796160000 hợp với 30 ngày, số làm 1 tháng Tiểu súc tương đương số Sao của tháng, tự cùng nhân lên, thời làm số quẻ Lý khởi Phân của Hội vậy. Lại biến 2 vạn 8211 triệu 990 vạn 7456 ức, hợp số 12 tháng làm 1 năm. Quẻ Lý đương số Sao của Hội, tự cùng nhân lên, thời Đồng nhân hợp số năm của 1 Nguyên vậy. Quẻ Trung phu số năm, nhân lên lấy 129600 cũng đồng nhau.

Xét trước sau hợp 6 kỳ hạn, trưởng tiêu tấn thoái 360 ngày, mà số của Năm bởi đó mà thành lập. Quẻ Hàm làm Vận của Hội, chứa 33 vạn 8533 triệu 1888 vạn 9472 ức, ấy là 12 năm số 4320 ngày. Quẻ Sư làm Vận của Vận, chứa 1015 vạn 5995 triệu 6668 vạn 4160 ức, đó là số 360 và 129600 ngày. Quẻ Tiểu quá là Vận của Thế, chứa 1 kinh 2187 vạn 1987 triệu 20 vạn 9920 ức, đó là 4320 năm 155 vạn 5200 ngày. Như 129600 năm 4665 vạn 6000 ngày, chứa làm 36 kinh 5616 vạn 8440 triệu 629 vạn 7600 ức, thời quẻ Tiệm giao mà Gia nhân ứng với Quy muội làm Hội của Thế, số cùng nhân lên như thế, trừ số Đồng nhân, lấy 20 Cách được 1 làm số tháng 2350 triệu 9249 vạn 2288 ức, trừ số quẻ Cách lấy 30 số,quẻ Lý được 1 làm số ngày 78 triệu 3641 vạn 6409 ức 6000 vạn, trừ số quẻ Ly lấy 12, thì số quẻ Phong được làm số giờ 6 triệu 5303 vạn 4700 ức 80 vạn, trừ số quẻ Phong lấy 30, quẻ Gia nhân được 1 làm số Phân 2176 vạn 7823 ức 3600 vạn. Quẻ Trung phu số năm đồng như thế, tất lấy 1 năm làm 1 Phân, 1 tháng làm 1 Sao, rồi Sao Phân tiến lui, khá được mà thừa (nhân lên) trừ đi.

Hội Dậu, mặt trời lặn mặt trăng mọc, Sao theo Trăng mà hiện ra, cho nên Sao 30, số Thần 12, thay đổi nhau cùng làm nhân lên, lại theo mà trừ đi, thời số Phân tức là số Năm vậy. Xét 1 vận 12 Thế 360 năm 4320 tháng 129600 ngày 1555200 giờ 46656000 phân (1555200 x 30) 55987200 sao (4665600 x 12). Nếu lấy 1 làm Ngày, thì quẻ Độn giao với quẻ Đồng nhân làm Phân, quẻ Hàm giao với quẻ Cách làm Giờ, lấy ngày tháng kịp đến năm, đều ngược lại, khá lấy loại mà suy vậy (suy: quẻ Lý giao với quẻ Lữ làm Ngày, quẻ Tiểu quá giao với quẻ Phong làm Tháng, quẻ Gia nhân giao với quẻ Tiệm làm Năm).

Đây nói, quẻ Kiển 6-7 giao, thì quẻ Ký tế 6-3 ứng với quẻ Khuê 3-2 làm Hội của Vận. Quẻ Thuần Cấn 7-7 giao, thì quẻ Bí 7-3 ứng với quẻ thuần Đoài làm Hội của Hội. Quẻ Khiêm 8-7 giao, thì quẻ Minh di 8-3 ứng với quẻ Lý 1-2 làm Hội của Nguyên. Quẻ Kiển thời tương đương 1555200 tháng, chứa 438 kinh 7390 vạn 1280 triệu 7557 vạn 1200 ức. Tiếp đến quẻ Thuần Cấn, thì tương đương 46656000 ngày gộp chứa 1 vạn 3167 kinh 1703 vạn 8422 triệu 6713 vạn 6000 ức. Tiếp đến quẻ Khiêm, thì tương đương 559872000 giờ, gồm chứa 15 vạn 7946 kinh 446 vạn 1072 triệu 863 vạn 2000 ức. Vượt đến quẻ Bĩ 1-8 giao, thì quẻ Vô vọng 1-4 sẽ ứng với quẻ Thái 8-1 làm Thế của Nguyên, thời đương 167 ức 9616 vạn Phân, gồm chứa 473 vạn 8381 kinh 3383 vạn 3161 triệu 6818 vạn ức. Tiếp đến quẻ Tụy 2-8 giao, thì quẻ Tùy 2-4 ứng với quẻ Đại súc 7-1 làm Thế của Hội, thời đương 3015 ức 4692 vạn Sao, gồm chứa 5686 vạn 576 kinh 598 vạn 5940 triệu 2752 vạn ức, đó cũng là số cùng nhau nhân lên, thời trừ đi số của quẻ Ký tế lấy 30, Bí được 1 làm ngày của 1 năm, gồm 6 vạn 466 ức 1760 vạn số, quẻ Khuê làm số 1 ngày cùng với đấy đồng, trừ số quẻ Bí lấy 12, Minh di được 1 làm giờ của 1 năm, gồm 5038 ức 8480 vạn, kịp đến thửa Phân vậy, trừ số Minh di lấy 30, Vô vọng được 1 làm Phân của Nguyên 167 ức 9616 vạn, tức là số quẻ Lý 1 Phân trừ đi số quẻ Vô vọng lấy 12. Tiếp đến quẻ Tùy được 1 làm Phân của Hội 13 vạn 9968 vạn, đó là số Vận Thế chưng giao, Tinh Thần tiến lui tất ở Tuất, Vật đóng lại mà còn có số tượng dọc đi đêm, đất chưa từng nghỉ vậy, cho nên 2 quẻ Bí và quẻ Cấn trở lên đều dùng số vậy. (Từ Khôn: trải nghịch qua 7 quẻ tới Cấn, trải thuận qua quẻ 7 quẻ tới Bí).

Quẻ Tấn 3-8 giao, thì quẻ Phệ hạp ứng với quẻ Nhu làm Thế của Vận, tương đương với 6 vạn 466 ức 1760 vạn làm 1 ngày 4320 Sao của số quẻ Khuê, gồm chứa 17 cai 881 vạn 7281 kinh 7957 vạn 8208 triệu 860 ức. Tiếp đến quẻ Dự giao, thì quẻ Chấn ứng với quẻ Tiểu súc làm Thế của Thế, tương đương 72 vạn 8894 ức 1120 vạn, làm 12 ngày Sao của quẻ Quy Muội, gồm chứa 204 cai 6980 vạn 7381 kinh 6593 vạn 8499 triệu 720 vạn ức. Vượt đến quẻ Quan giao, thì quẻ Ích ứng với quẻ Đại tráng, quẻ Bĩ giao thì quẻ Truân ứng với quẻ Đại hữu, quẻ Bác giao thì quẻ Di ứng với quẻ Quải, quẻ Khôn giao thì quẻ Phục ứng với quẻ Càn, lấy thứ tự làm Nguyên của Thế Vận Hội Nguyên. Quẻ Quan giao, thì tương đương 2176 vạn 7823 ức 3600 vạn làm 1 năm, 1555200 Sao của quẻ Trung phu, chứa 6140 cai 9422 vạn 446 kinh 4815 vạn 4972 triệu 1600 vạn ức, đấy thì tương đương 2 triệu 6121 vạn 3880 ức 3200 vạn làm 12 năm, 18866 vạn 2400 Sao của số quẻ Tiết, chứa 7 vạn 3691 cai 365 vạn 8357 kinh 7785 vạn 9665 triệu 9200 vạn ức. Quẻ Bác thì tương đương 78 triệu 3641 vạn 6409 ức 6000 vạn làm 1 Vận, 5967 vạn 2000 là sao của số quẻ Tổn, chứa 221 vạn 739 cai 1972 vạn 733 kinh 3578 vạn 9977 triệu 6000 vạn ức. Khôn thì tương đương 940 triệu 3699 vạn 6915 ức 2000 vạn làm 12 vận, 67 vạn 1846 vạn 4000 là Sao của số quẻ Lâm, chứa 2682 vạn 8870 cai 3644 vạn 8800 kinh 3947 vạn 9731 triệu 2000 vạn ức, đấy cũng là số cùng nhau nhân lên, thời vậy trừ số quẻ Tùy lấy 30, quẻ Phệ hạp được 1 làm Phân của Vận 4665 vạn, trừ số Phệ hạp lấy 12, Chấn được 1 làm Phân của Thế 388 vạn 8000, trừ số Chấn lấy 30, Ích được 1 làm số Phân của Niên 129600, trừ số Ích lấy 12, Truân được 1 làm Phân của Nguyệt 1800, trừ số Truân lấy 30, Di được 1 làm Phân của Nhật 360, trừ số Di lấy 12, Phục được 1 làm Phân của Thời 30, từ Sao mà suy đấy 30 Phân 360 hợp Nguyên của Vận, từ dưới lên trên, hết 16 quẻ gieo rồi sau thôi, trở lại quẻ Phục nhân lên trừ đi, tự nhiên giống hệt như nhau, cái Phân ấy to mà làm nhỏ, lấy mỗi Niên Nguyệt làm Phân Sao, cho nên 12 làm Sao, hoặc lấy 129600 tương đương đấy, hoặc lấy 13 ức 9968 vạn tương đương đấy, hoặc lấy 181 vạn 3985 ức 2800 vạn tương đương đấy, thêm chu thiên (vòng trời) 365 độ 29 phân 75 sao, trừ chu tuế làm 365 ngày 24 phân 45 sao, mạnh yếu cùng giảm bớt, thừa 1 phân, 50 Sao trải 66 năm có lẻ, mà ngày lui trời 1 độ làm năm sai, ngày tháng 5 đường dọc treo rỗng không, bên hữu quanh lại, tinh thần thứ tự ở phụ trên trời, chuyển sang bên tả mở rộng ra 129600 đều có 129600 Sao, thì trời vận chuyển độ sai đi gồm 66 năm có lẻ, ngày có ngày về và đêm, tháng có Khiêu (ngày 30 có Trăng mọc ở phương Tây) Mục (cách ngày mùng 1 có Trăng mọc ở phương Đông) thì mặt Trăng đi mau mà lại ở trước mặt Trời, ngày Hối (ngày 30) thấy ở phương Tây, ngày 1 thấy ở phương Đông, thời đi chậm mà lại ở sau mặt trời, ngày Sóc (ngày 1) hiện ở phương Đông, vì Sao (Tinh) có nấp có hiện, đầy lên co lại, biến thành Mộc, 12 năm 1 vòng trời 144 năm mà vượt lên lần độ theo 11 vạn 8512 phân sao Hỏa, 2 năm 1 vòng trời, mà độ co lại theo 1 vạn 8807 phân rưỡi sao Thổ, 29 năm 1 vòng trời, mà độ thừa theo 29 vạn 4255 Phân, 3 Sao (tinh) nấp hiện, đều lấy 30 cùng 12 mà suy, Kim Thủy 2 sao đều 1 năm 1 vòng trời độ theo đều 1 vạn, nấp hiện theo Thái dương, lấy 12 cùng với 1 mà suy gồm đầy, co, nấp, hiện ấy đều có không bằng nhau, mà Nhật Nguyệt tinh ra vào đường Hoàng đạo, đều bao bọc cả ở bên trong. Cho nên, trời từ Đồng nhân trở xuống, đất từ Độn trở xuống làm số Năm, số khởi từ 1, 10, 100, 1000 đến vạn, ức, triệu, kinh, cai, tỷ về. Tự chẳng quá 1 Đời 30 năm (Đời = Thế), mỗi năm có 12 tháng, tháng có 30 ngày, ngày có 12 giờ, giờ có 30 Phân, Phân có 12 Sao mà thôi.

Xét 30 năm, tức là xét 1 Thế hay xét 1 Đời, có 360 tháng, có 10800 ngày, có 129600 giờ, có 3888000 Phân, có 46656000 Sao. Đó là 1 Thế 12 tháng 360 ngày 4320 giờ 129600 phân 155520 sao, 30 ngày 360 giờ 1800 phân 129600 sao, 12 giờ 360 phân 4320 sao, 30 phân 360 sao. Số ở trên lấy đó chứa quẻ Càn làm Nguyên, quẻ Quải làm Hội, quẻ Đại hữu làm Vận, quẻ Đại tráng làm Thế, quẻ Tiểu súc làm Niên, quẻ Nhu làm Nguyệt, quẻ Đại súc làm Nhật, quẻ Thái làm Thời, quẻ Lý làm Phân, quẻ Đoài làm Sao, 10 quẻ đi nghịch từ Càn đến Đoài, 5 lần biến làm 1, to cũng như vậy, là ứng của Hà đồ toàn số vậy.

Quẻ Đoài làm Nguyên Sao, quẻ Lý làm Hội Sao, quẻ Đại tráng làm Nhật Sao, quẻ Đại hữu thì làm Sao, quẻ Quải làm 1 Phân 12 Sao, quẻ Càn làm 1 Sao, thanh âm xướng họa đều khởi ở 1 Sao. Vì lớn thời là 1 Nguyên, nhỏ thời là 1 Sao, mà phân Hội Vận Thế, thực gốc ở Hà đồ sinh ra số, mà 1 đến 10, 100, 1000, rồi đến Thế của Hội có vạn, Thế của Vận có ức, Thế của Thế có triệu, hết thảy Vật, dần đều dư số ấy, chia lớn làm bé, dài nhỏ làm to, đều lấy Sao mà tính, rồi sau số Kinh, số Cai, kịp đến số Tỷ, hết thảy cốt yếu đều về Sao (tú), dản dị chẳng qua 1 ngày lịch. Thông khảo nói vậy. Trời từ quẻ Phục đến quẻ Càn, nhật mở mà nhật có Càn, thời là số Hữu cực vậy. Từ Cấu đến Khôn, nhật đóng mà nhật không có Khôn, thời là số Vô cực vậy. Cho nên, từ quẻ Quan, quẻ Ích trở xuống, đều là không có Số mà có Tượng, lấy đó mà suy, Thái cực vốn không cực, xét thấy vậy.

HẾT QUYỂN 1

QUYỂN 2

CHƯ NHO THUYẾT

Chúc Thị nói: quẻ Càn Khôn là Đại phụ mẫu, quẻ đều đi bên hữu theo Thái dương. Quẻ Phục Cấu là Tiểu phụ mẫu, quẻ đều đi bên tả, bắt chước 4 mùa. Quẻ đi bên hữu đều 1 sinh 2, 2 sinh 4, 4 sinh 8, 8 sinh 16, 16 sinh 32, 32 sinh 64, đến chỗ trở lại sinh 17 quẻ mà lại hội số vô cực, tức là cái lý nguyên hết mà lại có nguyên vậy. Quẻ đi bên tả, từ 1 rồi 2, thứ tự nhân nhau vòng quanh không manh mối, tức là lý hết năm đổi năm mới vậy. Hai đường nghịch thuận đi khác nhau, số sai đến vạn vạn mà cùng cực, dương duỗi âm co vậy. Lại nói: Nguyên-Hội-Vận-Thế lấy Đại vận mà suy, cùng Giáp Kỷ trong (giữa) khởi ở Tý-Ngọ-Mão-Dậu, năm tháng ngày giờ lấy Tiểu vận mà suy, dương Giáp Kỷ mạnh (đầu) khởi ở Dân-Thân-Tị-Hợi. Lấy Hội kinh Vận đấy là dùng Hội làm Niên, dùng Vận làm Nguyệt, dùng Thế làm Nhật, dùng Niên làm Thời. Vua Nghiêu lên ngôi năm Giáp Thìn, thì lấy Hội Kỷ Tị làm nguyệt, Vận Quý Hợi làm Nhật, Thế Canh Thân làm Thời. Ở quẻ Bí hào 6-5 biến làm quẻ Ký tế. Vua Tống nghệ tổ mở ngôi năm Canh Thân, thì lấy Hội Canh Ngọ làm Nguyệt, Vận Nhâm Thân làm Nhật. Thế Kỷ Dậu làm Thời, đương hào Thượng quẻ Khốn, biến làm quẻ Sư tốn 4 năm, dân bèn khởi Khốn mà may cho thiên hạ vậy.

Chúc thị lấy Năm-tháng-ngày-giờ bàn Mệnh, nguyên khí vận người lấy 120 năm làm chủ 8 chữ, khi mới sinh 15 ngày, trước Giáp-Kỷ mạnh là hào Thượng, Giáp-Kỷ quý (cuối) hào 4, Giáp-Kỷ trọng (giữa) hào 5. Khí giữa sinh 15 ngày sau Giáp-Kỷ mạnh 3 hào, Giáp-Kỷ quý 2 hào, Giáp-Kỷ trọng hào Sơ, lấy sở trị (gặp) năm-tháng-ngày-giờ làm quẻ trước (Thái quái)

Liêu Ứng Hoài nói: người, vật tiêu trưởng suy ở chỗ động mà xem, cát, hung, hối, lẫn là lời của quẻ Dịch chủ ở nguyên sơ sinh khắc cùng cơ biến quái hòa, nhân thì địa, biện âm tạnh, chia ngày đêm, hợp Can Chi để định cát hung. Nay bản số và xuất số của Dịch nhân, Dịch sinh gốc lẻ chẵn mà vạch Dịch, đó là bản số Dịch mà ra, nhân quái vị là đệ số, số ấy nhân Dịch mà sinh. Trong Dịch có số Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8, trong số Dịch 1 là 6 Khảm 2 là 7 Ly 3 là Chấn 8 Tốn 4 Đoài 9 Càn 5 Cấn 10 Khôn, số sinh ra Khí quẻ là Thời hào là biến. Khí có thịnh suy thì có Bĩ Thái, hào có hiểm dễ, đều lấy sinh khắc chế hóa mà suy, ở trong có số cát mà đổi khốn, có số hung mà đổi cát, tất lấy địa bàn âm dương hợp lại là vinh, cương nhu trái nhau là nhục, cho nên lẽ tất nhờ ở chẵn, chẵn tất hợp với lẻ, Càn hết ở trong Ngọ, Khôn hết ở trong Tý, gốc nguồn quẻ Cấu Phục, Ly hết ở trong Mão, Khảm hết ở trong Dậu, dùng về nước lửa lại dương tiến vậy. Đến như 6 dương thịnh, thời đại quân tử hành quẻ Cấu là âm tiến vậy, đến như 6 âm thịnh tường vậy.Lại nói: lấy Hội kinh trên dùng treo 1 quẻ như lấy Nguyên kinh Hội, thứ tự chia 30 Vận, tiết Tiểu hàn khởi lên ở Thái Sơ cửu, đến 6-4 là Nhuận hào, vận thứ nhất là Dần 76, Mão 160, Thìn 136, Tị 166, Ngọ 196, Mùi 226, Thân 256, Dậu 286, dùng các quẻ Thái Tổn 12 quẻ. Tiết Đông chí lấy ví làm Nhuận, đại vận thứ 30 trọn thành 315 Thế quẻ Minh Di.

Trình Trực Phương bảo gốc số không ra khỏi ở Dịch, Hệ từ trời 1 đến Đất 10, sinh ra 2 là tự sinh 8 vậy, Trực phương do chia thêm 1 cùng với phép bội mà là 2, bèn chép 256 vị đồ bốn số dọc ngang 16 đại vị, tóm làm 1 đồ số khởi ở Đông-Nam. Thế bắt đầu ở số 1, thêm 1 là 2, lại thêm 1 là 3, lại thêm 1 là 4 từ tả sang hữu là Thế đến đấy, Thế đấy cực vận, cùng với từ trên xuống dưới, vận của Thế đều lấy 2 làm 1, thêm 1 thì 2 là 4, lại thêm 1 thì 2 là 6, lại thêm 1 thì 2 là 8. Rồi thứ đến bên hữu, Hội dùng Thế, Hội của Thế, lấy 3 làm 1, thêm 1 thì 3 làm 6, lại thêm 1 thì 3 làm 9, lại thêm 1 thì 3 làm 12, lại thêm 1 thì 3 làm15, rồi dọc ngàng mà đếm thời 1 thêm gấp đôi là 2, lại thêm gấp đôi là 4, 4 thêm gấp đôi là 8, 8 thêm gấp đôi là 16, từ ngang 1 tầng đến 16 tầng, dọc 1 hàng đến 16 hàng, trọn cùng ở Tây-Bắc, nguyên đấy, nguyên 256, chẳng gì đều như vậy cả. Minh đạo nói phép thêm gấp mặc nhiên hợp với Thiệu Ung, vì Hoàng Cực nhập môn, nghĩa thứ nhất vậy, đó nên thông số trừ đi, lấy cái ấy để phân biệt động vật (trồng trọt) thanh của Ký tế cũng lấy từ đây. Lại nói, Đại Tiểu vận của Thiệu Ung thấu truyền quẻ thanh âm luật lữ đều lấy treo 1 làm tựa, 256 quẻ khởi ở Thái hết ở Minh di, mỗi quẻ 6 hào cộng 1536 hào. Hào lại 4 làm dụng, gồm 1 Vần, 1 Thế, 1 năm, 1 tháng, 1 ngày, 1 giờ, đều được 4 hào, thời 360 năm thì được 1414 hào chia làm 24 khí, mỗi khí Nhuận tàng 4 hào, mà 1536 hào 256 quẻ làm 1 dụng vậy. Khởi lệ quẻ của Vận, Thế, Năm khởi ở Thái, còn Tháng và Ngày thì khởi ở Thăng, đó là trời đất người đều nghe mệnh ở động thực vậy.

Mỗi vị 1 số khởi lên ấy là 100, 2 số khởi lên ấy là 216 vị, cộng làm 1 đồ. Chu Thị suy phép “giết 1” nói rằng: 284 là Thể số, 360 là Dụng số, Thể là Dụng của số. 270 mà Dụng của Dụng số mà chỉ đến 256 vậy.

QUYỂN 2

HỘI KINH VẬN DỤNG NHẤT

THIÊN QUAN VẬT

Lấy Hội kinh Vận (ngang), tức là lấy số Phân của Nguyên kinh trong Hội vậy. Một Nguyên tóm 12 Hội, như năm tóm tháng, 1 Hội tóm 30 vận, như tháng tóm ngày. Nguyên tóm Hội, thời Nguyên làm kinh của Hội, Hội tóm Vận, thời Hội làm kinh của Vận. Bởi vì, 1 Hội tự làm 1 Nguyên 12 Hội, gồm 12 Nguyên, mỗi số 1 Nguyên là 1800, hợp 5 quẻ có 36 hào, mỗi 1 hào thẳng vận 360 tích số vậy. Duy ấy, mở Vật trong Dần khởi từ quẻ Phong hào 9-4, đóng Vật trong Tuất đến quẻ Khiêm hào 9-3, thực có 7 Hội (từ Mão đến Dậu) mà gồm Dần Tuất đều nửa, nên cộng làm 8 Hội tóm 240 Vận, làm số mở vật ấy: 8 vạn 6400 trừ 120 vận, làm số đóng Vật ấy: 4 vạn 3200. Mở thời dùng số, đóng thời không dùng.

Thiên ngoại, số giao bảo rằng, trời từ quẻ Bí trở lên, đất từ quẻ Cấn trở lên làm số dùng. Trời từ quẻ Minh di trở xuống, Đất từ quẻ Bĩ trở xuống, làm số giao ấy vậy. Cho nên, quẻ mở vật có 40 quẻ, quẻ đóng vật có 20 quẻ, đó là 12 Hội chỉ dùng có 8 bỏ 4, số dùng 3 chưng dụng 2, số bỏ 3 chưng dụng 1 vậy. Để nói về tiêu trưởng, đều 6 Hội trải chọn dùng Vận. Trưởng từ trong Tý khởi từ quẻ Phục đến quẻ Quải. Tiêu từ trong Ngọ khởi từ quẻ Cấu đến quẻ Bác. Tính từ Đông chí Giáp 1 là hào Sơ của quẻ Phục, tuy đang lớn lên mà Hội chưa liệt số mở, đến trong Dần tiết Kinh trập, đã 72 quẻ thẳng quẻ Phong hào 9-4 thì Vật bắt đầu mở. Tính từ Hạ chí Giáp là 181. Hào Sơ Lục của quẻ Cấu, tuy đang ở Hội tiêu, mà hãy còn xa số đóng Vật. Kịp đến hội Tuất, tính từ Lập đông Mậu 315 thẳng tới quẻ Khiêm hào 9-3 thì Vật đóng hẳn lại. Do vậy Tý-Ngọ là giới hạn của Tiêu-Trưởng, còn Dần-Tuất là giới hạn của Mở-Đóng vậy.

Đến Hội ngang của Nguyên, thì Vận lấy dọc đấy, ngang Vận của Hội, Thế lấy cướp đấy. 12 Thế mà thành 1 Vận 360 đều có 24 hào Nhuận, mở Vật được 240 vận thời làm 16 hào nhuận, thông số nhuận ở số mở vật gồm 156 vận, dùng lấy 8 vận để hợp số đóng Vật, trong số 128 thời mở-đóng với cả Nhuận nữa gồm 384 hào, thẳng số của vận đủ vậy. Trừ nhuận mà làm mở làm đóng 60 quẻ hào thẳng vận thường, trời đất không trái vậy.

Trời bắt đầu từ Giáp Tý hết cùng Quý Hợi, Đất bắt đầu từ Kỷ Mão hết cùng Mậu Dần. Tới giao dựng số, bỏ số giao mà số còn lại làm số dùng, tới Thể số của Vận, thường 3 phần bỏ 1 dùng 2 phần, đó là bỏ 120 mà chỉ dùng 240. Bỏ 1 dùng 3, là bỏ 90 mà chỉ dùng 270. Bỏ 3 dùng 7 đó là bỏ 108 mà chỉ dùng 252. Những số đã bỏ đó đều là số giao, chỉ còn số được dùng vậy. Số giao không được dùng theo đóng Vật, thì số được dùng theo mở Vật, như trước đã trốn 3 dùng 1 là số đã chia 2 đấy. Mở-đóng vốn không trái, cốt yếu là dùng hay bỏ, tế nhị chia hợp, nhuận trừ nhuận, đại xuất Thể 4 dùng 3, đều theo đấy, có mà không sai lắm, cho nên bỏ 1 dùng 3, số được 270, trong đó chia ra, Dương dùng 152, Âm dùng 112, gồm 264 mà bỏ rỗng âm dương trước sau 3 số. Tính cả số không dùng trong số 90, như 1 năm 4 mùa, 1 mùa 3 tháng, 1 tháng 30 ngày. Bỏ 1, mà 3 dùng 3, do đó 3 này là 3 mùa Xuân-Hạ-Thu gồm 9 tháng chứa 3 ; 9 là số 270, trong rỗng 6 ngày, thời 264 ngày ấy làm số dùng, còn số không dùng đó là số chỉ 1 mùa Đông. Ba tháng Hợi-Tý-Sửu trời đất bế tắc, muôn vật không sinh, gồm 90 ngày, nếu tính cả 6 ngày bỏ rỗng, cộng là 96 ngày, đó là số giao. Cho nên, tóm giao mà 360 số Thể toàn vẹn, bỏ số giao 96, thì số được dùng còn lại là 264 vậy. Tức là, 1 năm để xem Vận của 12 Hội (264/12=22), khá thấy vậy. Ở Luật lữ Thanh, Âm, Xướng, Họa, thực tiêu chuẩn ở đây, mà lịch số khởi vận cũng không thể trái, dẫu bỏ 3 dùng 7 mà âm lẫn dương, dương lẫn âm, coi như đêm lẫn ngày, ngày lẫn đêm, không chút đầy tràn (quá độ). Xét sự lẫn đó, chung quy là âm về phần đêm, cho nên chủ vận quẻ Khôn quẻ Ly, thẳng phần của Nhuận là Tý đến Mão, hay Dậu đến Tý, đều bỏ đi nửa, mà lấy cái nửa được dùng thẳng kịp đến với quẻ Càn quẻ Khảm toàn vẹn, tính cả làm số dùng. Cho nên Sao (tinh) đi cùng quẻ Bĩ gồm 16 quẻ, phần bỏ đi ấy tính về đêm. Từ quẻ Bí cùng quẻ Cấn trở lên, 44 quẻ mà dùng ấy hết thẩy về ngày. Ở ngày hầu hướng về tối, ở đêm hầu hướng về sớm mà giao nhau. Chia số đầy, vơi, âm, dương giao lẫn nhau, thời cũng tùy ngày dài ngày ngắn, để định tiết hậu, mà xét ở chỗ hoặc bỏ hoặc dùng, số bỏ 3 dùng 7 chưa từng có trái đường ngang của vận hành vậy. Tường tận ở Ngoại thiên, tế nhị suy mà lấy cái thuyết Hội kinh Vận, là thấy rõ vậy.

Lại nói: Nguyên kinh Hội lấy Vận quái, Hội kinh Vận lấy Thế quái. 1 Hội 30 Vận, gồm thẳng 5 quẻ 1 hào, 1 vận trải 6 Giáp Tý đến Quý Hợi 360 năm làm Thế ấy là 12 Thế đều 30 năm, cho nên 1 hào tương đương với 1 Vận xem 12 Thế, 1 quẻ 6 Vận xem 72 Thế, đều 5 quẻ 30 Vận xem 360 Thế, chọn vận đầu 12 Thế, thời ứng thẳng vận quái hào mới biến, như quẻ Minh di hào sơ thẳng Tinh Kỷ 76 biến làm quẻ Khiêm, từ 6 hào quẻ Khiêm, chia làm 12 năm 1 hào, thì 6 hào quản 72 năm. Hào Sơ khởi Giáp Tý vòng đến Ất Hợi là 12 năm. Hào 2 quẻ Minh di biến quẻ Thái vòng khởi Bính Tý đến Đinh Hợi cũng 12 năm. Hào 3 quẻ Minh di biến thành quẻ Phục, hào 4 biến thành quẻ Phong, hào 5 biến thành quẻ Ký tế, hào 6 biến thành quẻ Bí, vòng khởi Mậu-Canh-Nhâm Tý, đến Kỷ-Tân-Quý Hợi. 6 vòng vẫn khởi từ Giáp Tý đến Quý Hợi, lấy thứ tự thẳng 5 Tý đều như trước, chứa 1 hào 6 biến, đều 72 năm, thống kê 432 năm. 1 quẻ 36 biến, đều 72 năm, thống kê 72 x 36 = 2592 năm, thế thời số năm của 360 Thế, thực tức là tích số của trực Vận 1 quẻ 6 hào. Tóm 1 Hội trực Vận đều 30 hào của 5 quẻ, thời số 129600 (2595x50) mà số năm của 360 Thế thâu tóm ở trong 30 Vận vậy. Thế cho nên, Vận lấy Hội làm kinh, lấy Thế làm Vỹ.

Đây nói về Hội kinh Vận. Từ hội Dần Kỷ Mão thẳng quẻ Lôi Hỏa Phong hào 9-4, có quẻ Minh di dùng ứng với quẻ Khiêm ; cho đến hội Tị Quý Tị, thẳng quẻ Trạch Thiên Quải hào Thượng, có quẻ Càn dùng ứng quẻ Đại hữu, thì:

- Gồm 105 Vận, (quẻ Phong ở giữa Hội Dần, từ Hội Mão-Thìn-Tị có 5 x 3 =15 quẻ, cộng với 3 quẻ Phong-Cách-Đồng nhân là 18 quẻ, 6 hào x 18=108 hào, quẻ Phong tính từ hào 9-4, nên phải trừ đi 3 hào trở về trước của quẻ Phong 108-3=105 hào tương đương với 105 Vận)

- Thâu tóm 105 x 12 = 1 260 Thế,

- Trải qua 1260 x 30 = 37 800 năm,

- Gồm 37800x12=453 600 tháng,

- Gồm 453600 x 30 = 13 608 000 ngày,

- Gồm 13608000 x 12 = 163 296 000 giờ,

- Gồm 163296000 x 30 = 4 898 880 000 Phân,

- Gồm 4898880000 x 12 = 58 786 560 000 Sao,

Số đều 12 và 30 nhân lên, số cùng nhân lên tích chứa. Từ mở Vật trở về trước, 2 hội Tý-Sửu đến giữa hội Dần, có 75 Vận 900 Thế, nghĩa là:

- Hội Tý-Sửu là 10 quẻ, gồm 60 hào. Quẻ Ký tế, Gia nhân đến giữa quẻ Phong là quẻ giữa Hội Dần có 15 hào, nên nói 15 + 60 = 75 hào hay 75 Vận,

- Thâu tóm 75 x 12 = 900 Thế,

- Trải qua 900 x 30 = 27 000 Năm,

- Có 27000 x 12 = 324 000 Tháng,

- Có 324000 x 30 = 9 720 000 Ngày,

- Có 9720000 x 12 = 116 640 000 Giờ, (gộp số tích Phân-Sao)

- Có 116640000 x 30 = 3 499 200 000 Phân,

- Có 3499200000 x 12 = 41 990 400 000 Sao,

(75 vận 900 thế, trải qua 2 vạn 7000 năm, 32 vạn 4000 tháng, 972 vạn ngày, 1 ức 1664 vạn giờ, tính gồm cả số tích Phân Sao), bấy giờ còn là thời hồng hoang, không thể khảo cứu, ghi chép lược qua. Từ Hội Dần thẳng quẻ Phong hào 9-4, bắt đầu Ly sáng Chấn động, vật tượng để mở mang, người thời Sỹ, Nông, Công, Thương, vật thời loài chạy, loài bay, cỏ, cây, hướng về sáng mà trị yên, chủ tể thần mà là Vua, từ đó đủ vậy. Trời đất tốt lành, Dịch nói: “Phong ấy là to vậy”. Sáng để động, cho nên quẻ Phong hào 9-4 gặp quẻ Di chủ cắt mở đời mờ ám đương ở vận ấy du? Sao kinh khởi từ Dần đến Tị, từ quẻ Phong đến quẻ Quải, hào biến chia sẻ, Thế quái khá suy, hợp với số trước là Dương lên 6 Hội, kể 180 Vận, 2160 Thế, 6 vạn 4800 năm. Lấy 12 Tháng là số 1 Năm, 30 ngày là số 1 Tháng, 12 giờ là số 1 Ngày, tính cả 30 Phân là 1 Giờ, 12 Sao là số 1 Phân, hết thẩy tóm ở trong Vận. Âm xuống 6 vận từ giữa Ngọ, quẻ Cấu dùng ứng quẻ Càn, đến giữa Hợi, quẻ Bác dùng ứng quẻ Khôn, số bên hữu soi số bên tả mà mở Vật trở lên, đóng Vật trở xuống, giữa Tuất mà số Phân đều khá cất lên vậy.

Lấy Nguyên kinh Hội, thấy đủ ở đồ trước. Lấy Hội kinh Vận, đó là đồ trước mỗi Hội có 30 hàng, lại 1 Hội 30 có Vận, 1 hàng có 12 mục, tức là 1 Vận có 12 Thế. Vậy thời 1 mục vốn là 1 Thế. Kể 30 năm, từ khi mở vật ở quẻ Lôi Hỏa Phong hào 9-4, làm bắt đầu sinh Người sinh Vật, mà 5 đời hoang mang, số thế khó có kẻ cứu. Cho nên, lấy Hội kinh Vận thứ 1, chỉ suy quẻ thẳng đến Thế. Đến đời vua Đường Nghiêu năm Giáp Thìn trở về sau, mới có thể đại khái xét, bấy giờ hệ ở hội Tị Vận thứ 30, đó là lấy Hội kinh Vận thứ 2. Đã theo hội Tị vận thứ 30, kinh Sao dùng Quý suy khởi vận quẻ, thuộc quẻ Quải dùng Càn 12 Thế đều do quẻ Càn thâu tóm cả. Quẻ Càn hào Sơ biến Cấu, hào 2 biến Đồng nhân, hào 3 biến Lý, hào 4 biến Tiểu súc, hào 5 biến Đại hữu, hào 6 biến Quải, 1 quẻ thẳng 1 Giáp Tý, kể là 12 Thế, mỗi quẻ lại 6 biến, mỗi lần biến là 10 năm, như vậy 6 lần biến là 360 năm, mà 1 Vận hết vậy. Đến bảo rằng: kinh Nhật dùng Giáp 1, kinh Nguyệt dùng Kỷ 6, kinh Sao dùng 180, kinh Thần chưng 2100 ấy, vì Nhật chưng Giáp 1, tức là đồ trước đầu trống 1 mục, tóm 12 hội 360 vận, đều lấy Giáp Tý làm cương lĩnh. Cho nên, 360 Thế đều kinh Nhật chưng Giáp 1 vậy, Nguyệt chưng Tị 6, tức là đồ trước mục thứ 2 bỏ trống, đó là hệ Hội Tị, từ Tý đến Tị kể là 6 số, cho nên làm Nguyệt chưng Tị 6 vậy, Sao kinh hệ ở Quý số 180, Thần thời mục thứ 1, 2149 theo 1 lần lượt thêm 1 số, đến mục thứ 12, thì là 2160 vậy. Đồ lấy 2100 làm tổng số, bày ở hàng Giáp 1, số lẻ thời bầy ngang trên 12 Thế, bắt đẩu Thế Tý 49, đến Thế Hợi 60, là 2160 vậy. Thế thứ 1 từ Giáp Tý đến Quý Tị 30 năm, quẻ ấy thời Càn, Độn, Tụng, Thế thứ 2 từ Giáp ngọ đến Quý Hợi gồm 30 năm, quẻ ấy thời Tốn, Đỉnh, Đại quá, đó là hội Kỷ đến Quý vận 360 năm, kể là 12 Thế. Đầu của đồ vốn 1 Vận, đồ toàn quẻ nhân vì 7 Thế trước, không thể xét chứng đến thứ 30, là ở cuối kinh Thế. Năm Giáp Thìn, vua Đường Nghiêu dựng ngôi vua, mới có thể đại khái xét, cho nên 3 Giáp Tý trước không chép lại. Duy từ kinh Thế 2156 Kỷ (1 Kỷ là 12 năm), khởi Kỷ sau 3 Giáp Tý khởi đồ, trở về sau đều bầy 6 Giáp Tý. Kẻ đọc được đó mà lấy loại suy, tự thấy lòng mắt rộng rãi vậy.

Đây bàn về Hội Tị, vận thứ 30. Quẻ của Vận là đương từ quẻ Quải đến quẻ Càn (quẻ Quải vận từ 25 đến vận thứ 30, dùng hào 6). Quẻ của Thế chia hào của quẻ Càn, lấy 6 hào mà biến thành 6 quẻ để làm Kinh, như hào Sơ biến Cấu, hào 2 biến Đồng nhân, hào 3 biến Lý, hào 4 biến Tiểu súc, hào 5 biến Đại hữu, hào 6 biến Quải, tức là lấy 6 hào ở quẻ Càn biến ra, đều được 6 quẻ biến, 6 quẻ này lại biến từng quẻ 6 hào, được theo thẳng 36 quẻ làm Vỹ. Như quẻ Cấu hào Sơ biến Càn, hào Thượng biến Đại quá. Đến quẻ Quải, hào Sơ biến Đại quá, hào Thượng biến Càn, là loại ấy vậy. Cho nên biến quẻ Thế từ hào 1 đến hào 6 làm Kinh, lấy thẳng 6 quẻ này làm 6 Vận, mỗi Vận lại biến 6 hào được 36 quẻ làm Vỹ, rồi chia lấy làm Thế, mà làm quẻ của Năm, do đó mà biết vậy, sau đều chuẩn ở đó. Duy quẻ của Kinh thẳng 1 hào gồm 12 năm, 12 theo 30 gồm 360 năm mà thành 1 Vận. Quẻ của Vỹ chia 1 hào thẳng 10 năm, 10 năm theo 6 biến, năm theo trong ngoài, đều 30 cộng được 60, theo 60 làm 360, y vậy 12 Thế, mà thành số 1 Vận. Xét Nhật đương Nguyên, Nguyệt đương Hội, Tinh đương Vận, Thần đương Thế, trải Nhật- Nguyệt-Tinh mà đến Thần, tức là trải Nguyên-Hội-Vận mà đến Thế, cũng như cử lên Năm-Tháng-Ngày mà đến Giờ vậy. Đó rõ trải Thần đến trải Tinh, dùng Quý thì như theo Năm thì biết Phân của Giờ tóm quẻ của Năm, cất lên Nguyên-Hội-Vận lớn nhỏ, chừng ấy mà ngang ngang dọc dọc, chẳng gì là chẳng một xuất, một thông vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, vận thứ 1 (dùng hào 1). Quẻ Đại vận thẳng quẻ Thiên Phong Cấu, quẻ của Tiểu vận thì quẻ Cấu chọn dùng quẻ Càn. Chia hào của quẻ Càn làm Thế quái trong quẻ: hào Sơ là quẻ Cấu, hào 2 là Đồng nhân, hào 3 là Lý, hào 4 là Tiểu súc, hào 5 là Đại hữu, hào Thượng là quẻ Quải. Đây tức là trong ngoài chia thẳng quẻ quản Thế, quẻ nội 3 hào quản bên trong, quẻ ngoại 3 hào 4, 5, 6 quản bên ngoài, đều chia 6 hào, đều thẳng 6 quẻ làm Kinh. 6 quẻ mỗi quẻ lại biến 6 hào, mỗi hào thẳng 10 năm, như vậy 6x6 = 36 quẻ thẳng 360 năm, bèn vòng 12 Thế, mà thành số của 1 Vận. Nay Hội Ngọ vận thứ 1, thời Cấu là Càn chia vận mới, mà làm Phân của Càn đó vậy, qua đó biết vận quẻ Cấu hào Sơ thẳng biến luôn mà lìa Càn. Quẻ Càn chủ ở Đạo trời, cũng chủ đức ông Vua, dẫu đương Cấu âm, thực ứng Càn dương, nhưng vì trời đất cùng gặp đúng lúc tiêu trưởng giao nhau, lịch số ở trong bậc Đế Vương, thẳng Hội lên xuống. Tượng quẻ Cấu nói: “Vua lấy thi hành mệnh lệnh thông báo 4 phương”, lệnh ra ở Chấn mà nói Mệnh của Vua, thi hành ở Tốn mà nói Vua, ở Cấn cũng nói Vua, bởi vì phỏng cũng theo Vận mà gọi vậy. Duy bấy giờ vua nhà Hạ tiếp Càn cố hết lên mệnh bậc Vua đậu, giữa trời trị đời. Có lời mách bảo: “tin cầm đạo trung”, Ngọ làm văn mệnh mùa Hạ 4 số, đức sáng sánh với trời, dẫu năm diễn với đời. Từ Giáp Tý, Cấu vào Càn, vua Vũ nhiếp chính 8 năm, đến năm Ất hợp lên ngôi Vua, mà sau trải 15 đời truyền, cộng được hơn 430 năm. Giáp Tý thẳng Cấu đến Độn, lúc đương mới vận, phân Càn khởi Cấu đến Quải 36 quẻ, đại khái có thể thấy. Thiệu ta trước xem việc đã qua, đều chứng tỏ được sự to nhỏ, phân thẳng quẻ ứng, bèn viết quyển kinh Thế, chép việc dưới niên quái. Ôi! có phải là không vậy thay.

Đây bàn về hội Ngọ, vận thứ 2 (dùng hào 2). Quẻ của vận đương từ quẻ Thiên Phong Cấu đến quẻ Thiên Sơn Độn, quẻ của Thế chia hào của quẻ Độn như sau: hào Sơ thành Đồng nhân, hào 2 thành Cấu, hào 3 thành Bĩ, hào 4 thành Tiệm, hào 5 thành Lữ, hào 6 thành Hàm. Từ quẻ Độn thẳng tới quẻ Đồng nhân, vua Khổng Giáp nhà Hạ 23 năm Giáp Tý, vượt qua vua Cao Phát nhà Hạ đến Đồng nhân, đến Càn, đến Vô vọng rồi Gia nhân. Kịp tới vua Quý nhà Hạ, năm thứ 2 Giáp Thìn đến Quý Hợi thời đến Ly, đến Cách thời 6 Giáp vòng hết mà 1 biến cùng cực vậy, bèn vào quẻ Cấu hào Sơ, 2, 3, rồi làm Càn, làm Độn, làm Tụng, đương lúc bấy giờ là nàng Muội Hỷ (vợ vua Kiệt nhà Hạ), là cái họa gái mạnh ứng nặng ở Cấu du! Từ vua Thăng thời Phù Triết lo sợ, lại gồm ứng Độn bắt trói, cùng với Tụng phải dùng trốn tránh du! Mặt Trời kia sao chưa mất là mệnh nhà Hạ hết ; đến năm Ất Mùi vua bị đuổi ra đất Nam Sào, thì đất Hữu Bạc lại dấy lên, Tốn lấy bầy tỏ mệnh Trời, Đỉnh lấy hưởng ngôi vua, chính mà ngừng lại, ấy bậc thánh Thiên tử ngày càng bước tiến lên, nghiêng để đổ úp đó Khắc Chính cháu vua Thang, ở thời bấy giờ, vua tôi đủ tài đức cả Đại quá (cả hơn người), đánh nhà Hạ cứu dân, đuổi Vua ra cung Đông, coi dấu vết của Tổ, chẳng phải đương mà chẳng sợ, há phải là ngẫu nhiên vậy thay. Tỷ bèn vào Bĩ, Bĩ đến Vô vọng, trải Tụng, Độn, Quan, Tấn đến Tụy gồm 6 biến. Xem thế của vua Ốc Đinh, Thái Canh trước sau 60 năm, thôi Bĩ ứng cả trong Kinh dịch: “buộc vào gốc cây dâu”, trời đi không ngay thẳng, đức Vua dùng tốt tươi, như quẻ Độn hào 4 biến thành quẻ Tiệm, đến Gia nhân 10 năm, mà Tốn lại 10 năm mà Quan, đều 10 năm mà Độn, mà Cấn, mà Kiển, vượt qua Tiểu Giáp ứng Kỷ, đến vua Thái Mậu, đạo nhà Thương càng sáng. Về sau Lữ, Lữ biến 6 hào khởi Ly đến Tiểu quá, Trung phu, Đỉnh, Tấn, Cấn, Độn về sau Hàm. Quẻ Hàm biến 6 hào khởi từ quẻ Cách đến Độn giữa Đại Tiểu quá mà bọc Tụy Kiển, thời từ Thái Mậu trở xuống truyền Trọng đinh Ngoài nhân, Hà Đản Giáp mà đến Tố Ất Tố Tân khoảng 120 năm, sự hưng suy bất tất quẻ Càn biến mà cầu người có Tâm. Trải xem ngôi nhà Thương hội trùng điệp, nghiệm ở Trời và Người cũng nghĩ quá nửa vậy. Từ đó thời thẳng đến Cấu, đến Tụng mà đến vận bàn 3 vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, vận thứ 3 (dùng hào 3). Quẻ của Vận từ quẻ Thiên Phong Cấu đến quẻ Thiên Thủy Tụng, quẻ của Thế chia quẻ Tụng đến: hào Sơ quẻ Tụng biến Lý, hào 2 quẻ Tụng biến Bĩ, hào 3 Tụng biến Cấu, hào 4 Tụng biến Hoán, hào 5 biến Vị tế, hào 6 biến Khốn. Vua Tổ Tôn xếp đặt trên dưới để rõ chí dân, để định luật trước sau vậy. Rồi biến làm Tụng, làm Vô vọng, cùng Càn làm Trung phu, Khuê, Đoài, vượt qua Ốc Giáp năm Tân Mùi, đến vua Tổ Đinh 28 năm, năm Qúy Hợi ở Lý hoặc xấu hoặc tốt lành, xét mà chia Tụng đến Bĩ, biến đầu tiên là Vô vọng,, Tụng là thứ, Độn lại thứ nữa, đến Bĩ, như Quan, như Tấn, như Tụy, lại lần lượt mà thứ nữa, đều thẳng 10 năm. Vượt qua vua Nam Canh, vua Dương Giáp đến vua Bân Canh, kẻ bàn nói là đều động lời phù phiếm, đem kêu gọi mọi sự lo lắng, ứng vào Tụng ngôn đấy. Đặt ở yên Tân Ấp, dân dùng giữ gìn tụ họp, Tụy là tụ hợp vậy. Chứng các sự đó, thời nhà Thương có nhiều hoạn nạn về sông nước, trời đi trái, vua Bàn Canh kêu gọi thiên hạ đi đò, làm việc mưu toan lúc đầu, tuy nhỏ có nói, mà làm Nguyên cái ấy du! Đến vua Tiểu Tân Tiểu Ất, từ quẻ Tụng mà đến quẻ Cấu hào Sơ, hào 2 biến mà làm Càn Độn, hào 3, hào 4 biến mà làm quẻ Tụng, quẻ thuần Tốn, hào 5, hào Thượng biến mà làm quẻ Đỉnh, quẻ Đại quá, đương Đại quá đến năm Quý Hợi, vua Vũ Đinh phấn chấn lên, sáu bảy Vua hiển thánh nối đời trong khoảng hơn 450 năm, phản lại thời suy loạn mà nên thịnh vượng tốt lành, khả năng bảo là hơn người du! Từ quẻ Tụng mà đến quẻ Hoán, hào Sơ quẻ Hoán biến Trung phu, hào 2 biến Quan, hào 3 biến thuần Tốn, hào 4 biến Tụng, hào 5 biến Mông, hào 6 biến tập Khảm. Thời này, đương ở lúc kinh yên nghĩ Đạo, Phu (tin) bèn dậy cả nước, tiếp gỗ có công, ô Duyệt làm bánh lái thuyền, bèn chót Hoán gọi chỗ ở của Vua, đánh Mông, Tập Khảm, tiếng hách dịch thiêng linh. Từ quẻ Tụng mà đến quẻ Vị tế, hào Sơ quẻ Vị tế biến Khuê lấy oai, hào 2 biến Tấn lấy tích, hào 3 biến Đỉnh lấy ngưng mệnh, bèn ở đời vua Tố Oanh Tố Giáp, có công thừa Chân đánh dẹp du! Kịp đến vua Tân Canh, Đinh đến Vũ Ất, thì hào 4 quẻ Vị tế biến Mông, hào 5 biến Tụng, hào 6 biến Giải, thời đương hào 6 quẻ Giải, là vua Vũ Ất vậy, không tìm đã giải trái lẽ, trái lại lẽ trái mà tìm trời. Khảm quẻ huyết (máu) mà Chấn theo đấy, Đạo trời mới không xa vậy. Nối sau là vua Thái Đinh, Đế Ất, ứng với thời hào 6 quẻ Tụng biến thành quẻ Trạch Thủy Khốn, hào Sơ quẻ Khốn thành thuần Đoài, hào 2 thành Tụy, hào 3 thành Đại quá, hào 4 thành tập Khảm, hào 5 thành Giải, hào 6 thành Tụng. Hào 5 quẻ Giải, vua Đế Ất trị đời, khởi Đoài đến Canh Ngọ, đến Giải Bính Ngọ. Dịch 2 lời vua Đế Ất Quy muội, là lấy tượng Đoài du! Quẻ Tụy cùng quẻ Đại quá đều tượng Đoài, theo Khốn, tập Khảm rồi Giải, thời Thượng ở Chấn. Lệnh vua ra phương Chấn, con trưởng là chủ việc tế, năm Đinh Mùi vua Thụ Tân là con đích tiếp nối, tuy Thái tử tranh chấp, đó chẳng phải vận trời vậy sao?. Duy đó là từ quẻ Tụng hào 6 đến Khốn, cũng như từ Khốn đến Tụng, nghe dùng lời nói đàn bà, dèm phu, nịnh nọt giao dấy lên, chựu phục là Sùng Hầu, đi trốn là Tây Bá, đến như Khốn cơm riệu, thời thịt như rừng, riệu như ao, Khốn tật là thời mổ kẻ có thai, đốt cháy người. Khốn xe vàng thời ở Lộc đài, Cự kiều, Khốn dấy theo đỏ đao ấn, thời moi tim bỏ tù làm nô lệ bậc Quân tử đến mệnh thỏa chí, thật khá thương vậy. Đến họ Ngu Nhuế kiện nhau mà nguyên cát, cũng tên cho mệnh, Khốn mà lại hanh. Từ năm Quý Hợi về sau, mây đen ở Tây giao đã mưa, cá chép mè đỏ đuôi dùng sống lại, văn đức để khen vua Vũ vương sau cưới chựu mệnh trời vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, vận thứ 4 (dùng hào 4). Quẻ của Vận đương là quẻ Thiên Phong Cấu hào 4 đến quẻ Thuần Tốn. Quẻ của Thế chia 6 hào quẻ Thuần Tốn được 6 quẻ như sau: hào Sơ quẻ Tiểu súc, hào 2 quẻ Tiệm, hào 3 quẻ Hoán, hào 4 quẻ Cấu, hào 5 quẻ Cổ, hào 6 quẻ Tỉnh. Hào Sơ quẻ Tốn biến thành quẻ Tiểu súc, (quẻ Tiểu súc lại chia 6 hào mỗi hào 10 năm) tượng khen văn đức ấy là vua Văn vương du! Duy thời bấy giờ, mây kín không mưa, tự ta ở Tây giao, lớn có lửa trời. Khuê tượng thường thấy, việc nhà Vua như lửa cháy, bảo rằng rất gần sao đây. Vua Võ vương nhân đó mà Tốn lấy hành quyền. Thượng Phụ quyết xem bói nên đi, Gia nhân định kế sách biến nhà vua tôi đều giả, trời người đều tin, cảm cách ứng điềm cá nhảy vào thuyền dâng phúc lành, kịp đến phát giáo, tập bắn, văn đức nhà Chu càng tốt vậy, duy ấy Lý hòa ở âm, con trai Càn thừa tiếp Chấn, vua nhỏ tuổi lên ngôi vua, ông tướng trong nhà nhiếp chính ; quẻ Tiểu súc dùng hào 6-4 mà biến Càn, tôi tỏ mệnh vua, lấy yên lặng bàn kế hoạch ở bờ ruộng ; hào 9-5 quẻ Tiểu súc biến thành quẻ Đại súc, tôi nuôi đức vua mà lại chuộng người hiền ; Hào 6 quẻ Tiểu súc biến thành quẻ Nhu, ăn uống yên vui, đều là lo về ràng rịt cửa to, phòng mưa dầm du! Ông Chu Công nhún chí mạnh đi, còn gì hơn vậy. Xét Tốn có tượng chim, con Phượng gáy ở Tây kỳ, mở điềm lành bậc Vương, khá nghiệm ở đấy. Qua đời vua Khang, lại chia từ quẻ Tốn hào 2 mà thành đến quẻ Tiệm, từ quẻ Tiệm biến hào Sơ, hào 2, hào 3 mà được quẻ Gia nhân, quẻ Tốn, quẻ Quan là chính nhà, xem nước mà hơn, thành được thiên hạ, đã chẳng phải 1 ngày. Vua Chiêu Vương đã thẳng từ quẻ Tiệm hào 4 đến quẻ Độn, quẻ Cấn, rồi đến quẻ Kiển, là lại đương quẻ Hoán hào 9-2, hào Sơ hào 6 biến Hoán tượng tiếp Mộc, biến Trung Phu thời thuyền trống rỗng, xem dân tình, xét các phương đáng phương Nam không trở lại, mà thuyền kéo giải tán, thẳng hoặc ứng tượng Hoán du! Vua Mục Vương hưởng nước 34 năm, khởi Hoán đến Quan, đến Cấu dùng giữa Càn, trải qua Tốn, Tụng, Mông, Khảm, 4 biến để sang Càn 9-4, Tốn dùng chính ngôi ở tượng làm trưởng, Càn già mà khỏe, là triệu chứng ở ngôi vua lâu dài mà thọ khỏe. Truyền khen vết bánh xe, dấu chân ngựa muốn đi khắp thiên hạ, Mông dùng già 90 tuổi bị khinh nhờn, Khảm dùng bánh xe chân ngựa, cũng có thể thấy sơ lược, cộng khoảng vua Y Hiếu, đi làm Độn, làm Tụng, làm Tốn, Đỉnh, Đại quá. Đại quá thời chẳng diệt mộc cây, bấy giờ có băng tuyết lớn, sông Hán, sông Gianh nước đều đóng. Càn làm ngựa, cũng làm rét, làm nước, ngựa đang sinh nở nhiều mà băng, mưa, đá ứng, đó là vì đạo trời quá dư. Cố đến Đại súc, Man cùng Vệ lại cùng ứng, bảo rằng vua Hiếu Vương mà đi, thời phải xuống nhà dưới mà yết kiến các nước chư hầu, lại càng hỏng việc, không phấn chấn khích lệ lên được. Biển mà nói sông, lại rất thôi thúc gièm pha việc phòng sông, sau trôi đến con lợn sề, Khảm sông vậy mà dân đề phòng, mà bền vỹ du! Tuy bấy giờ số đến Đỉnh Tốn, mà ngu tối tiêu ở Tỉnh, cộng hòa nhiếp vị 14 năm, đang ở Tỉnh đến Nhu, vua Tuyên Vương dấy lên, Kiển bàn lễ Khảm, bèn hanh vậy, dấu vết thử hỏi đến xem ngôi sao, kêu trời lo hạn, chẳng phải xét lại hình của Đức, ủy lạc dân khuyên tượng dùng đi săn bắn, mặc áo bằng cỏ nhuộm đỏ để giảng võ và kinh doanh đến 4 phương bế, đắp thành đến tận phương Bắc, thành cũ của giếng không có chim, mất hai bên bánh xe, đẩy ùn và trâu kéo, gốc ngọn yếu mà lại khỏe mạnh, đi lại không mất, người bầy tôi khó nhọc của vua Cát Phủ Phương, Trọng Thúc, Thiệu hổ, Thần bá, Trọng sơn, các ông này, bè bạn đến giúp lúc khó nhọc như Đại hiến đoản thân, há chẳng phải là những bậc tôi hiền giúp nghiệp trung hưng vậy thay, sau lấy buộc tội dân ở Thái nguyên vào tội bỏ Hoàng tử hủi, Tốn mất giúp đỡ sự an dùng, oai mệnh sau suy, vua U Vương mê quá, mà nhà Chu thấm ra cái tai họa nữ tráng, lại ứng vào bói quẻ Cấu vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, vận thứ 5 (dùng hào 5), quẻ của Vận từ quẻ Thiên Phong Cấu hào 5 đến quẻ Hỏa Phong Đỉnh. Quẻ của Thế chia hào của quẻ Đỉnh: hào Sơ thành Đại hữu, hào 2 thành Lữ, hào 3 thành Vị tế, hào 4 thành Cổ, hào 5 thành Cấu, hào Thượng thành Hằng. Hào Sơ biến Đại hữu đến Đỉnh, hay Đỉnh biến Đại hữu, hào từ được vị thiếp lấy thửa con mà ra Bĩ theo cả, yêu bà Tự, bỏ bà Hậu, lập Bá phục truất bỏ Nghi Cửu đó là ứng du! Vua U Vương lấy Tốn dùng Canh trước, lập Đỉnh dùng Canh sau, mất vừa 14 năm, họa ở núi Ly sơn hiện ra, vạc nhà Chu nghiêng chân vậy. Ôi, há chẳng phải trái lẽ vua Bình Vương đã lập làm Vua. Đại hữu biến hào 2 làm Ly, hào 3 thành Khuê, hào 4 làm Đại súc, hào 5 làm Càn, hào thượng làm Đại tráng, ở ngôi 51 năm, Tây kinh bỏ mà rời sang đất Lạc, quân nhà Vua ra đi mà năm Mậu Thân có lời than: “thử Ly (lúa mọc rời rã) khô hạn (cắt bỏ phơi khô)”, và lời than “thỏ viên nữ la” (vợ chồng chia lìa). Trên dưới oán hận, tuy do việc người, hoặc cũng trời làm, ở trong khoảng đó, khiến Chu Công chờ tước hầu, hưởng ở Thiên tử. Phương Bá dùng mạnh, bậc Vương suy dần dần thay Càn, dấu tích tắt Kinh Thi mất, Kinh Xuân Thu bắt đầu làm, khen chê để chính nước, ngăn đường để thuận mệnh, sự thấy ở sau, vận đã ra điềm ở trước vậy. Từ đó, bậc Vương xuống làm Bá, ông Hoàn ở Trang thẳng từ Lữ đến Ly, mà Đỉnh, mà Tấn, ông Lý Huệ thẳng Lữ đến Cấn, mà Độn, mà Tiểu quá, rời lửa trên trời vào núi mà chiếu sáng, rộng hẹp mà khá thấy vậy. Mệnh lệnh đã không thi hành, biến nhiều không xét xử, vua Tương Vương thẳng Vị tế đến Khuê, qua Tấn Đỉnh ma đến Mông, việc nhà không gây nên, cái loạn Trúc đới cùng với Tử đồi, loạn đã bình rồi, Tấn Văn định yên. Sau đến nước Trịnh, nước Quắc, lửa chằm làm nữ nhung (con gái mặc đồ đánh trận), họa sinh ra ở nước Dịch, ngày dùng nhiều ban thưởng công lao, là nhờ ở nước Tấn, đó là có chứng cớ du! Bèn Tụng, bèn Giải, vụt chốc cứu cho trong 6 năm, Đinh Vương lấy lập nên, lại có Cổ đến Đại súc, trời to mà nuôi ở trong núi, núi hùng vỹ mà ngồi soạc chân ra ở trên trời, xem binh hỏi Đỉnh (Tể tướng) cũng không coi Thiên vương là thấp, mà liếc nhìn Thần khí (ngôi vua). Vua Giản Linh nối cũng chẳng có tài cán gì mà lại thừa thãi vậy, Cổ càng thịnh biến mà Cấn, Mông biến mà Đỉnh Tốn, quyền lớn rồi lại xuống dưới, mệnh lệnh của nước cũng theo xuống luôn. Bấy giờ đức Khổng tử sinh ra, ngôi không ở mà Đạo ở, bậc Tổ vương (bậc không có ngôi) đương vận Cấu 5, nhà Đông Chu chọn làm nước Lỗ du! Vua Cảnh Vương trải Thăng (lên) mà làm Cấu đến Càn, Độn, vua Kinh Vương trải Tụng mà là Cấu đến Tốn, Đỉnh, hào thượng Đại quá: “đi nữa ở phía Tây bắt được con Lân, Đạo ta cùng vậy” (lời than của đức Khổng), bậc Bá lại xuống đến rợ Dịch. Quẻ Hằng thường đến, hào sơ biến Đại tráng, hào 2 biến Tiểu quá, hào 3 biến Giải, hào 4 biến Thăng, hào 5 biến Đại quá, hào 6 biến Đỉnh, vua Nguyên Vương thẳng đấy, Trinh Đinh Vương thẳng đấy, Ai Vương, Tư Vương, Khảo Vương đều thẳng đấy. Đời vua Uy Liệt cũng đường Chấn chính Hằng, đó là trước sau du! Cấu Đỉnh tức là bảo rằng 240 bút tước sửa lại văn tự, xuất 360 vận tuần hoàn, đời có thăng giáng, Đạo không thịnh suy, chính ngôi ngừng mệnh ấy xa vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, vận thứ 6, quẻ của vận đang Thiên Phong Cấu hào 6 đến thẳng Trạch Phong Đại quá, quẻ của Thế chia hào quẻ Đại quá: sơ biến Quải, hào 2 biến Hàm, hào 3 Khốn, hào 4 biến Tỉnh, hào 5 biến Hằng, hào 6 biến Cấu. Dùng quẻ Quải biến hào: sơ thành Đại quá, hào 2 thành Cách, hào 3 thành Đoài, hào 4 thành Nhu, hào 5 Đại tráng, hào 6 thành Càn, vua Chu Uy Liệt Vương thẳng Đỉnh (ngôi vua) đến Bính Thìn, đến Cách năm Kỷ Mão, gồm 24 năm, 9 Đỉnh lấy Chấn thửa Đỉnh hay là Cách du! Ban đầu sai quan đại phu nước Tấn làm chư hầu, nên là Chấn vậy. An Vương thăng 9 đời Cách Đoài Nhu Tráng, họ Điền thôn tính nước Tề, Tào, Triệu, Ngụy chia nhau nước Tấn, như ở thuyết ấy thuận nghe, Tráng ở Chỉ (chân) ấy tin, vận cùng làm sao cứu được, Liệt Vương thối ngôi, Uy băng trao Đỉnh Tống còn biết có vua vậy, xem khen ở sân vua, khá chẳng rằng phi lẽ chớ lý (đi vào) du! Song cũng chỉ có thế thôi vậy. Hiển Vương thẳng Đại tráng đến năm Quý Sửu, sang năm sau, thẳng Càn vượt qua Hàm đến Cách, Đại quá, Tụy, bấy giờ có sao Chổi xuất hiện ở phương Tây, Công tôn Ưởng vào nước Tần làn ký quan, rời đô đến Hàm Dương, gồm các làng nhỏ, tụ họp làm 1 huyện, hợp làm 31 huyện, bỏ phép tỉnh điền, mở đường thiên, đường mạch lại đánh thuế. Phép thuế đổi Cách phép nhà Chu quấy nhiễu quá không sợ. Bấy giờ, thời ông Mạnh Tử mới đến nước Lương bầy điều Nhân Nghĩa, truất bỏ điều lợi, cả đời bấy giờ ngày nói toàn điều lợi, há chẳng hơn Đoài mà Đại quá (hơn nhiều người) vậy thay! Từ đó, Hàm đến Kiển (vận từ Đại qúa tới Hàm, 6 hào quẻ Hàm: Cách, Đại quá,Tụy, Kiển, Tiểu quá Độn), đến Tiểu quá, mà Độn gồm 59 năm, vua Noãn Vương hết ấy đời Tây Chu. Ở quẻ Thái đến Càn Sơ, nhà Chu chia ra Đông Tây, đến đây Khốn đến Giải, đều mất ở thời nhà Tần, nhà Tần dời đất Tây Chu và Đông Chu ứng vào quẻ Khốn, quẻ của Vận là Cấu, quẻ của Thế là quẻ tội giệt đỉnh đầu, mà chia hào thẳng quẻ Khốn đến cùng Hội vậy. Xét nhà Chu làm 3 đời Vương là thịnh, Bình Vương trở về sau là 5 bậc Bá, kẻ có công hay tội, đỉnh ở kinh Xuân Thu, rồi đến 7 bậc hùng nghĩa hay lợi, đều phán định ở ông Mạnh Tử. Bấy giờ gốc ngọn nhà Chu đều yếu, nóc nhà bị quấy nhiễu mất sự giúp đỡ bởi mệnh ở Đông và Tây, như hoa cây dương khô vậy, nhà Tần thời đó đổi sức mạnh mà lấy, bèn trước 6 nước mà ngầm rời về họ Lã Doanh. Tần Thủy Hoàng đương Tốn đến Tụng, vào Tỉnh đến Nhu,… (mất chữ) Đến đây, hội Ngọ đến Cấu xong rồi, xét lên tự 6 vận, đều cử lên việc ứng quẻ, dường như cũng phụ hội ức thuyết (nói phỏng chừng) chưa khá gắn keo vào cột. Kẻ đọc coi ngay tượng được ý, là khá vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, vận thứ 7, quẻ của vận là Trạch Phong Đại quá (hào 1) thẳng Trạch Thiên Quải, quẻ của Thế chia hào quẻ Quải: sơ biến Đại quá, hào 2 biến Cách, hào 3 biến Đoài, hào 4 biến Nhu, hào 5 biến Đại tráng, hào 6 biến Càn.

Dùng trong chia 3 hào quẻ nội như sau:

- Hào Sơ quẻ Quải biến Đại quá, chia quẻ Đại quá biến quái: hào sơ Đại quá hào 2 Hàm, hào 3 Khốn, hào 4 Tỉnh, hào 5 Hằng, hào 6 thành Cấu.

- Hào 2 quẻ Quải biến Cách, chia quẻ Cách biến quái: hào sơ thành Hàm, hào 2 thành Quải, hào 3 thành Tùy, hào 4 thành Ký tế, hào 5 thành Phong, hào 6 thành Đồng nhân.

- Hào 3 quẻ Quải biến Đoài, chia quẻ Đoài thành biến quái: hào sơ Khốn, hào 2 Tùy, hào 3 Quải, hào 4 Tiết, hào 5 Quy muội, hào 6 Lý.

Dùng ngoài chia 3 hào quẻ ngoại như sau:

- Hào 4 quẻ Quải biến thành quẻ Nhu, chia quẻ Nhu biến quái: hào sơ Tỉnh, hào 2 Ký tế, hào 3 Tiết, hào 4 Quải, hào 5 Thái, hào 6 Tiểu súc.

- Hào 5 quẻ Quải biến Đại tráng, chia hào quẻ Đại tráng: hào sơ Hằng, hào 2 Phong, hào 3 Quy muội, hào 4 Thái, hào 5 Quải, hào 6 Đại hữu.

- Hào 6 quẻ Quải biến Cấu, chia hào quẻ Cấu: sơ Càn, hào 2 Độn, hào 3 Tụng, hào 4 Tốn, hào 5 Đỉnh, hào 6 Đại quá.

Bàn việc đời vua Tuyên Đế thẳng Quải mà sáng suốt quyết đoán, tin việc thưởng, hẳn việc phạt, quan lại trị, dân yên, giao các nhà Nho giảng bàn 6 kinh, khác hay đồng, Thái Hậu lâm triều (sưng chế), quẻ Lâm (tới) quyết đoán, ứng cái tượng thư khế văn trị. Hai vị vua Nguyên vua Thành thẳng tới quẻ Hàm, Khốn, đến cả Tỉnh, hàm cảm ở trai gái họ ngoại, quan hoạn dùng việc, cái họa nước làm tắt lửa, Khốn ở giây theo đó theo ấn nhiều vậy. Có nói chẳng nghe, cũng như Tỉnh, giếng nước dơ bẩn không ăn, thi hành đạo đều bị lòng xót xa, như vua tối tăm không đáng thời sao? Kịp đến vua Ai, Bình thẳng Hằng Cấu, đức mất, dẫu có Hằng mà có so sánh với sự xấu xa về việc chìm đắm đứa trẻ ngu, đạo buộc dắt ở mềm mà đã thành ngầm cái thế nữ tráng (em gái mạnh) yên nhà Hán mà thực nguy nhà Hán, có tự đến vậy. Vương Mãng thẳng Cách Đại nguyên soái nối, đổi thay dựng nước là Tân vào năm Kỷ Tị, chọn ngày Tị bèn Cách du! Hàm chí ở ngoài mà chẳng phải trinh. Quải có việc binh mà chớ thương, hiệu nguyên sau hung, sao khá dài vậy. Quân nhà Hán dần dấy lên, quan Đài giết Kiển vô chừng ấy ứng vào sự lành Phu Gia Đường ngôi trung chính gồm 33 năm, lấy đạo mềm dẻo trị thiên hạ, động mà vui lòng theo, Bá chưng phải từ cứng rắn mà xuống mềm dẻo. Giờ là Ký tế, chẳng gì là chẳng Phong, vua Ninh Đế nối tiếp sáng, tượng như Thiên Hỏa Đồng nhân, chia từng loại họ, tỏ rõ các vật, xét qua không rối,, đến Lâm dựng nhà ung dung sự học, không kể nhà có công tứ tính (các dòng họ ), tiểu hầu, dẫu ẹơ Hung nô cũng cho con đến học, xa gần lệ nhờ ơn, mọi người đều được văn minh thịnh đạt, chẳng phải Cách sáng sủa mà ơn huệ Đoài sao! Khốn ở một nỗi tin Phật, cầu ở Thiên trúc, lỗi ấy lớn vậy, vua Chương Đế ra sức thi hành rộng lớn, động Tùy là có được, là vua hiền đời Đông Hán, lỗi ở yêu bà Đậu Hậu, thành ra Đậu Hiến là họ ngoại làm loạn ở trên thềm, vua Hào Đế bí mật dùng quân Trịnh giết Hiến, Phu (tinh) hiệu lệnh đương rõ ở triều đình Quải quyết vậy, rồi thưởng công ban lộc cho kẻ dưới, đến nỗi mở ra cái họa hoạn quan, vua Hòa Đế Đoài là tốt, trái lại lấy hung tới, đến nay rõ tượng vậy. Trên là tự chia dùng trong, 3 hào nội của quẻ Quải biến vậy. Dùng ngoài, 3 hào 4, 5, 6 quẻ Quải biến, Quải hào 4 chia Nhu biến làm quẻ Tỉnh, Ký tế, Tiết, Quải, Thái, Tiểu súc. Như đời Hòa Đế thì Quy muội kịp đến Lý, thì Thượng đế không có con nối dõi, mà An Đế dựng lên ngôi vua. Vua An khi nhỏ thông tuệ, lớn lên không có đức lập bà Diên hậu, tính ghen tuông đến mức loạn triều đình, chẳng phải Quy muội đánh hung dữ (đàn bà hung dữ), tiếp cái sọt vuông không có thực (quả) là nghiệm đó sao? Đó là bỏ thái tử Bảo làm Tề âm vương. Đổ mất, bọn hoạn quan định mưu lập Bắc Hương hầu, ông này chết, Trung thường thị rước Tế âm vương lên làm vua giết Diêm Hiển, rời bà Thái hậu đi, phong cho 19 tước hầu, ấy là thời vua Thuận Đế, vỹ Thăng Nhu đến Tỉnh cùng Ký tế vậy, Nhu là chờ đợi vậy, hiểm ở phía trước mà không hãm, ngôi vua là ngôi trời, đã bỏ đi mà Phục (lại) lập lên mà chưa mất lẽ thường vậy, Tỉnh thời không đổi, Ký tế là định vậy, cho nên sau lên ngôi vua, bấy giờ hoạn quan họ Diêm lộng quyền, Lương thị dùng việc ban đầu tôt, sau loạn, không thể trấn hưng được, vua Sung Đế được 1 năm mà mất, vua Chất Đế cũng 1 năm bị tướng quân bạt hỗ (hung tợn, cứng đầu cứng cổ, không chựu ai kiềm chế) giết, đức Khổng nói: “loạn sinh ra vậy”, ý nói là lời nói làm cái thần không một thời thành hại, sao chẳng cẩn thận vậy thay. Vua Hoàn Đế đương Nhu biến hào 3 đến Tiết, Quải mà Thái, Nhu giữa mà Càn dương, biến mà Đoài âm, dương cương bị âm nhu hủy bỏ, mà có cái lo trong cung nữ được Vua yêu, trung tiết lấy khổ sở, tuy Nhu tiếp theo 5 cương, Quải có thể giết, mong mỏi mà ngũ hầu, quyền khuynh trong ngoài, chẳng khỏi sau hung, đạo dùng chưa sáng. Thời bấy giờ, nhu huyết thuận theo, các kẻ quân tử vướng vào cái nạn đảng cỏ, cuối Khốn hãm không ra, Quách Thái do đó khóc thương người, biết nhà Hán mất vậy. Vua Linh Đế thẳng Thái mà Tiểu súc đến Đại tráng đến Hằng trị quản đảng công gấp, có kẻ bảo Thái Đạo quân tử trưởng lên, sao lại tiêu vong đến như thế? Này Nhu hào 9-5 vốn là quẻ Càn, rồng bay dùng ngôi Trời biến mà âm, sáu con rồng đem con rắn núp âm nhỏ dùng việc, dương càng tiêu vậy. Bấy giờ có con rồng xanh hiện ra trước chỗ vua ngồi, đó là điềm sao? Tiểu súc, Tốn trên về đầu Càn, cầu vồng rơi xuống đất hóa con gà, đàn bà can thiệp vào chuyện chính sự, mà đàn bà mất trinh, bầy tôi làm giả mệnh vua là trái đạo tôi. Vua Tuận Đế bàn xem (quan) lấy lợi, bỏ bà Hoàng hậu phản mục (không hòa), giết loạn quan phản nghịch, thời cổ nhân lợi trinh tiết, mời binh ở ngoài vào thì mất cái lợi dùng việc quân. Hà Tiến thất sách để lo đến xe vua, Trương Khương chựu tội vạ lây đến chỗ ở của vua. Từ đó mà Cảnh Chân tin đến cùng. Đổng Trác tuy bị giết, Tào Tháo lại tệ hơn, vua Hiến Đế nhà Hán ở ngôi 12 năm, từ Hằng đến năm Canh Ngọ, mà Phong, mà Quy Muội, đến Thái rồi Canh Tý, thời gian này rường của Càn cởi giây thao đeo ấn, Tốn mệnh chuyên về dưới, cắp lệnh của Thiên tử sai khiến các nước chư hầu, các địa phương chấn động về việc giết mẹ vua (mẫu hậu), tiến đoạt nhiều lễ, lấn chẹt vua cha, hung bạo trái lẽ ở chỗ giữa đường, đạo trở lại Hằng sức dùng theo Tráng, Tào Tháo (tào man) đắc chí Lưu nhà Hán (Vận Viên) không sáng, đến nỗi sấm chớp giao nhau, uy sáng ở rồng phượng đều giúp đỡ chính thông, cho nên Phục long Khổng Minh ở Nam dương ra mà chân Đỉnh ở Tây Thục đứng vững, cốt yếu ở 3 Ly 4 Chấn,cắt đất binh lo sợ, gồm đến nước Ngô Quy muội ở Kinh Mục (Tôn Quyền cho người đến Kinh Châu dụ em gái là Tôn Phu nhân đã gả cho Lưu Bị) lại trở về. Tào Tháo lập con gái ở cung vua Hiến Đế, đều là tượng ứng vậy. Hào 9-4 quẻ Thái, Tào không cướp ngôi vua. Lưu Bị bèn chính vị Đại thống (Chiêu Liệt) ở Hán Trung. Đất trời giao nhau hà tất không ở lúc vương nghiệp yên một bên. Từ đó mà Quải, mà Đại Hữu, mà Càn đến Cấu, đến Đồng nhân. Thục Hán mất, qua 2 năm, Tư Mã Viêm phế bỏ vua Ngụy làm Hoàng Đế, quẻ Tấn mà ứng vào bùa Càn vậy, Càn là Ngựa, Thiên Hỏa là Viêm thượng, ở năm mà nhà Hán mất, niên hiệu là Viêm Hưng, năm mà Ngô mất niên hiệu là Hàm Hy, chữ Hy và chữ Viêm đều theo chữ Hỏa, nên Tư Mã Chiêu làm Tấn Vương, lấy tên nước là Tấn. Chữ Chiêu và chữ Tấn đều theo chữ “nhật”, Nhật với Hỏa theo thế Càn. Vua Vũ Đế nhà Tấn chựu mệnh Trời đương Càn đến Lý, xem hào 3: vũ nhân làm đại quân (vua to), năm mới lên ngôi gọi là Thái Thủy, là lấy tượng của Càn-Cấu, gọi niên hiệu là Hàm Ninh vốn là tượng từ của Càn, hiệu Thái Khang cũng là cái nghĩa của Càn kiện Lý, Thái, lấy đó mà suy, chựu mệnh Trời có phải ngẫu nhiên đâu. Càn đến Tiểu súc, Đại hữu, lấy đến theo Quải, lời hát vè Nam phong liệt liệt (lo sốt ruột) ứng Tiểu súc, đó là lời của thiên hạ giống Đại hữu, minh chứng điển hình ở đất Kim dung ứng quẻ Quải, Lâm theo tiếp hào 5, bà Hậu phản nghịch, bầy tôi phản bội, ở ngoài thì Rợ Hồ bức bách vào trong, vế trên đầu dưới, thời gian vua Huệ Đế đến Hoài Đế, Văn Đế, quân tử bảo rằng Càn Khôn thời buổi của bậc nào đây. Từ đó mà Đại qúa đến Cách, giữ mệnh của Ngọ là Cách vậy, nhà Tây Tấn bèn là Đông Tấn.

Đây bàn về Hội Ngọ, Vận thứ 8 (dùng hào 2), quẻ của Vận là Đại quá đến Hàm. Quẻ của Thế chia hào của quẻ Hàm. Hào Sơ quẻ Hàm chia làm quẻ Cách, nói rằng bền nên dùng da bò vàng, ngựa mất mà trâu thay, vua Nguyên Đế nối tiếp vua Mẫn Đế không con nối dõi. Quẻ Cách biến làm Hàm, Quải, Tùy, Ký tế, Phong, Đông nhân. Quẻ Hàm nói: nhanh chóng vậy. Vua Mẫn uống riệu, làm lệnh riệu, cầm cái dù che, có cái nhục Hàm về cầm theo (Hàm cố chấp Tùy) mà chóng mất vậy. Quẻ biến từ Hàm đến Quải, nhà Đông Tấn gặp đấy, 5 con ngựa qua sông, 1 con hóa rồng, vì Quải có 5 hào dương, 1 đang lượng rồng bay rồi nên giặc phải nghịch phạm thuận, vua Minh Đế giết Vương Đôn ở trước, vua Thành Đế đánh Tô Tuấn ở sau, là tượng quẻ Cách hào 2 và 3. Quải là quyết, Tùy là có được, là công vua Minh vậy, Ký tê định vậy là vì cớ Hanh, Phong nhiều vậy mà chuộng vua Khang Đế hưởng nước chẳng thủy (nước), vua Mục Đế lên ngôi khi cong nhỏ, ở trong cái đựu trong êm ngoài ấm, Đồng nhân như phải chựu lép vế đi theo trở thành thấp vậy. Từ đời Kiến Vũ trở lại Hán Thục, Tần, Triệu, trong khoảng những năm ấy, việc binh cách đều là tương Cách vậy, lấy 2 phần làm Đại quá, theo biến Sơ Quải, 2 Hàm, 3 Khốn, 4 Tỉnh, 5 Hằng, 6 Cấu, thời gian này gồm các vua Ai Đế, Hải Tây Công, Giản Văn Đế, vì gặp Quải, Hoàn Ôn đánh nữa Yên, xấu hổ xâu xa mà mất quân thua, Quải không lợi, tức là việc binh nhung mạnh ở trước, chân đi không thẳng là lỗi, nói rằng vậy sao? Thái trái phúc đức mà giệt nước Yên được chẳng phải mạnh ương có hung Sao? Ôn chuyên quyền bỏ vua này lập vua kia, hung quấy rối quá lớn. Độc lập mà không sợ, Tạ Ân đương lấy Trạch diệt mộc, Hoàn là Cây vậy, nước đóng băng đông lại, Mộc trạch khó mà Ôn bèn mất, Ôn mất Sung thay, Tạ vương cùng với Trung cũng thờ vua Hiếu vũ, Hàm (đều) vì hết sức, trên dưới ứng nhau, đó là nghĩa Hữu Hàm, Hàm dùng trong Cấu làm An, thôi làm Thạch là Thiếu nam (trai út), có yên lặng, tượng như chắn núi, ngoại quái Hàm là Trạch, nghĩa hợp ở sông Phì, làm …(ằng) khẩu lúc quai miệng ra nói, thời Phù Kiên muốn lấy gió thổi mạnh quét là mùa Thu, An Thạch sai bọn thiếu niên cả phá đấy. Ở quẻ trai dưới gái, lợi lấy gái rồi thì khách chủ ứng, khách lợi, lấy khách vậy. Từ đó Mộ Dung nghĩ tới nhân đấy khôi phục nước lên. Tấn cũng nhân đó mà mở mang đất Trung nguyên, hầu như Khốn mà mạnh sao? Đó là Khốn ở riệu, chuộng miệng tới cùng, vợ già cùng với sỹ phu vui đẹp sao lâu được, đương khuyên tài trường Tinh (sao dài) đã theo triệu chiếc bánh trong nóng vào trong cung muốn thấy vợ được sao? Tỉnh (giấy) rét giá buốt lạnh, không thể làm trong cái độc nóng ấy, bèn lập vua An Đế để làm cái dây kéo nước giếng đầy bình. Chính sự của triều đình chỉ kịp đến Ngô Tôn Ân mà lại cướp lấy 6 huyện, Hoàn Nguyên cướp ngôi trước, Lưu Dụ lại nhường ngôi sau, tuy ở ngôi 20 năm…mất chữ…

Hàm trong Cấu tượng thân mình, ngoại quái Trạch thích đồng bóng tin Phật bỏ thân mình, cùng Thái có bầy son thơm vào mình mà lòng không được tượng của thân mình, nhà trống nước bỏ tế lễ mộng sinh, hào 3 biến về Tụy dùng Đại sinh, Khiêm lợi sâm lấn sau, hàng xóm giầu thì Bĩ. Bấy giờ lấy Thọ Xương nước Ngụy giáng xuống Quảng Lăng, Tiệm (dần dần) sao Huỳnh hoặc (sao hỏa tinh) vào Nam Đẩu, tượng Trời không những chỉ ứng một mình vào giặc, kịp đến nhà cao che không cho sáng vào, họa ở Đài thành ứng vậy. Giản Văn Đế bị bỏ do tay bầy tôi làm giặc, đạo văn võ của Hiếu Nguyên đều ở ngựa bạch áo trắng, vua Cung Đế lên ngôi, trinh dương về sau bỏ để không định. Chẳng Hằng (thường) theo đức, mà nhường ngôi cho Trần, nhà Lương bèn mất. Bắc triều nguyên Ngụy, trải 13 vua gồm 194 năm, cũng cùng mất với nhà Lương, rồi chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, là thời của Tiểu quá đến Hằng, hào nhiều hối hận mà hung, hay là do giữ ngôi vị quá lâu mà hung vậy. Trải qua Dự, Khiêm, Hàm, Lữ, thành dài mà gồm tới biến gồm 5 vua, Trần Võ đến Văn Đế, Tuyên Đế hợp 32 năm, rồi mất về tay nhà Tùy. Tùy Văn Đế thôn tính thống nhất cả Chu, Tề, Trần, Lương. Từ niệu hiệu Khai Hoàng đến Nhân Thọ 23 năm, trong cảm không phải hòa bình là linh cảm có chí, bình chẳng phải sáng suốt cẩn thận mà hình ngục không để lại, hào thẳng Tiểu quá, có sự hung chim bay mắc vào lưới, cùng với ữ thượng qua chóng tổ, vua Tùy Dạng Đế giết cha làm vua, đắp vườn làm núi, xây vườn thượng uyển, chế xe đi, làm đai đồ y phục, tai đến cả loài chim. Độn đến Đông nhân, bèn đến Cấu đi tuần phương Bắc, ra ngoài cửa ải, đương ủy quân hô hào nước Hàn giết người già tiếp nối gót mà đến cúi dập trán, làm 3 quyển Tây vực đô ký, hợp 44 nước vào triều kiến, có tượng Đồng nhân đồng nội. Lại tự đem quân đánh nước Cao Ly, trời với lửa cùng nhau là ứng Cao Ly, quẻ Độn hư mà không công, không thể việc lớn trái trời, làm việc cướp trộm núp cỏ trên lăng, thành ra câu vè Dương mất Lý, hò hát mà sau cười, Đại Sư hay gặp, thiên hạ khổ về nhà Tùy mà vui về nhà Đường. Quân lại dấy lên ở Tấn Dương, gió thổi chiếu cuốn, rồi tới Hưu Bĩ đương ngôi, sao Thái Bạch điềm biến, để nói rằng bọc lấy sự xấu hổ, cũng nói rằng lìa phúc, đó là đời thình trị của vua Đường Thái Tông niên hiệu Trịnh Quán, càng sáng sủa hơn vua Cao Tổ Võ Đức vậy. Càn trên Khôn dưới, trời đất ngay tnẳng, xem quẻ rằng Bĩ hanh, đạo vua tôi ở Thái tử mất đạo, dần dần đến cớ nói, bỏ mà lập, trị hay thuận lấy Tốn, tên tiểu tự là Trĩ nê, tượng Lữ đến Ly, chiếu sáng tốt đẹp ở Cấn cửa khuyết biến. Từ nhà Tấn Tống yên vui mệnh Trời, do bởi lấy trên kịp xuống. Vả lại 10 Tiệm rất cẩn thận, giải quyết từ 3 lần 5 lượt, trừ tử hình hơn 30 điều gồm cả đổi chặt chân, đánh roi vào lưng, tha tù 390 đều được Lữ minh ý dùng việc hình cẩn thận. Đến khi Hồ Việt 1 nhà đem đất đai vui phục, theo Hàm cảm được lòng người, mà thiên hạ bình vậy. Tuy phân quẻ chủ Hàm, điềm xem qua chữ Chỉ là Vũ Thiếu vào cung, kịp đến sao Thái Bạch hiện rõ ban ngày, xem ra vị nữ vương giết nhiều người không tội, trái mệnh trời, thuần phong có nói hoặc cùng suy tượng Hàm vậy. Vua Cao Tông nối ngôi, Vũ thị lấy tài nhân vào làm Chiêu nghi, ứng chính thẳng Hàm ngoại quái Đoài làm Thủy Trạch, Cấn làm cửa khuyết, núi nước đem xông vào cung điện Vạn niên làm đắm đuối hơn 3 vạn người, bảo rằng không phải âm thịnh cướp dương là chẳng nên. Tử lập bà Vũ làm Hậu, chặt đứt tay 2 người vợ bé của vủa Vương Tiêu, thuốc độc cho vào bình riệu, bỏ Thái tử Trung mà lập em mình là Hoằng, quá lắm vậy. Ủy việc chính sự, quyền ngang với chủ nhân, đó là Hàm trung Càn Tốn, chứng triệu có vợ cả vua để thi hành mệnh lệnh đó sao. Tiếp đến quẻ của Vận Đại quá trong Tốn ngoài Đoài trung 4 thay đổi nhau Càn, Tốn, Đoài gái trưởng và gái út, Càn là vua chồng già là Tốn mộc vậy, làm cỏ tranh trắng, làm cây dương, Tốn lấy bằng đấy, cũng làm rường nóc nhà cao dài. Càn làm Kim (vàng), làm cương (rắn) bền, Đoài làm Dê theo nước làm bể đẹp lòng thời vui vẻ, loại ấy không thể nói lên hết được. Đương đời Ngũ đại quẻ chia Đại quá, hào 9-2 theo thuộc về Tốn, chựu mệnh dùng tính thị, và niên hiệu (quốc hiệu) loại này đến ứng Tốn mộc, như Tống, Tề, Lương, Trần cùng Tùy, tính là dương đều là tiêu (cỏ hoa), mao (cỏ tranh) thuộc tượng nhà Trần, nóc nhà là Tề, quá là Tốn lấy cái nghĩa về bằng nhau đấy. Tính lại của nhà Tống là Lưu, tên của Dương là Kiên, đều không Ly (hình Càn Tốn, nhà Đường lấy họ Lý thay tên Lương, ứng Càn rồng nhẩy, cũng ứng Đoài Trạch, Trạch tức là Uyên vậy, hơn đời được lòng dân, vua Thái Tông lấy tài Đại quá nhân (hơn người nhiều quá) chẳng đắp đổi Cấu ở ngôi trong, bảo có cớ tóm ức triệu dân chúng dấy lên làm chủ Càn. Quẻ của Thế chia Hàm thứ tự đương Cấu 2 tên cũng ứng. Đến như Cấu hung nữ tráng, Tốn lại Vũ nhân mà theo ở sau gặp làm cảm, âm tiến cướp quyền dương, thời Thiên dựng niên hiệu lỗi cũng lớn vậy. Phàm Vận thứ 8 này, quẻ trải qua tinh tế mà suy, tất có điều sẽ nghiệm ứng, kẻ đọc nên biết được đại ý, còn cái kiến thức phục hồi giọng hợp, giữ lại mà không bàn đến, là nên vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, Vận thứ 9 (dùng hào 3), quẻ của Vận đang là quẻ Đại quá đến quẻ Khốn. Quẻ của Thế chia quẻ Khốn hào sơ Đoài, 2 Tụy, 3 Đại quá, 4 Khảm, 5 Giải, 6 Tụng. Quẻ Đoài hào Sơ đến Khốn, âm che lấp dương, mà đương lúc suy loạn trước sau đều yếu, thời chẳng khỏi hung. Đoài hào 2 chia thành Tùy là đạo vợ cương đến hạ chủ nhu, mà đẹp lòng theo đấy, tiến thoái lưỡng nan do ở cảm tình, thành tượng nữ chủ vẫn được yên lành ăn uống. Bỉ theo Quải thời 1 âm giữ trên 5 dương mà xưng Danh, sao Chổi hiện ra, cái nghiệm 5 xe ở đây sao? Bấy giờ bỏ Đế làm Vương, đổi Đường làm Chu, Trời hầu phản, Tốn mệnh mà bốc lên ở sân hay là ở ngay sở tại để mà tin theo gọi vài lời khuyên bảo. Âm dẫu ngồi chỗ tôn, Càn cương chưa đổi, thiên hạ đều nghĩ bẻ gẫy cánh chim vẹt để vun bồi cành lá mà chưa từng quên Quải dùng cương quyết nhu. Nay đọc tờ lịch của Tân Vương mà trước làm chẳng xiết cái khí Chấn dương trong sân vua ấy là tráng (mạnh). Kịp ở phòng lăng lại khôi phục việc chính sự mong hợp trời người, trao tiết của sân vua ngôi nhà Đường phản lại chính, tin khá đẹp lòng, mà bà Vy hậu lại đương quẻ Quy muội, có cả cành dâu, tiếp cái sọt không có quả, đếm thẻ chưa hết mà bánh cuộn lại tiến. Long cơ đánh đấy giúp Vương lên ngôi, giết đến cả tông tổ Bàn Tuấn lập làm vua 2 năm. Huyên lên ngôi Đế, rõ trên dưới để định chí dân, thời Lý đấy chẳng bệnh lâu, ngôi chính giữa mà tin càng tốt lành, thời Tùy (theo) cũng không lỗi, niên hiệu Khai Nguyên thịnh trị, trên ví với nan Tring quán (Dương Khái Công) đến dùng khốn dương cương che lấp, chuộng lời nói tin sự dèm pha, Hàm (đều) với tính con gái, đẹp tình mà khinh nhờn, bà Dương phu ứng Đoài, Lộc Sơn ứng Cấn, con gái ở con trai giảo quyệt, loạn đời hiệu Thiên Bảo khởi ở bọn trai gái, trót cùng ở Độn (trốn), biến trốn Mã ngôi, Linh Vũ lưu lại, các bầy tôi thuận theo, lòng người đều giúp Đường, Lý bởi còn Bác quẻ ở các kẻ bầy tôi là Quách Lý làm lại tiến vào với quân của Vua dùng khu trục con chim phản nghịch, Chu đã mất, do đó khôi phục được Tây kinh, Phượng hoàng về, Dương Tỷ được vua yêu giúp nước; chuyên quyền quân sỹ bỏ lập, yêu không phải đạo là nuôi loạn, vì dùng không trọn, đại khái thấy vậy. Đời thẳng quẻ Dự, cho cái tên là Dự: Lợi kiến hầu hành quân, việc hình phạt trong sáng, dân phục, vì cớ lấy thuận và đông vậy. Thời không nói hết. Vậy thì quẻ của Thế chia Khốn đến Tụy mà thẳng theo hào 9-5 mà biến làm Nhu, ứng tượng trinh Hằng chẳng chết, hào 9-4 một khi nắm giữ đương Chấn, chuyên giữ thế mạnh, hào 6-5 ngôi vua quẻ Dự chẳng chế được phương Khôn, đất đai cũng bị dẫn chứng không rõ rệt. Tỉ (ví) 5 mà nghe 4 làm thì động chính ứng đấy, vả lại Cấu đắp đổi Tốn từ lúc đầu Tỉ giúp nước, tiếp sau đến Nguyên Chấn đều cùng tương hợp. Vua Đức tông đương ở yên Cách Cấu thì vô sự, theo rằng Dự kịp đến sao? không thời thành vậy. Vua Đức tông thành Bĩ cùng Đại quá đến Quải Hàm, ban đầu làm 2 thứ thuế, vơ vét bóc lột nhà buôn giầu, đánh thuế cả giá hàng, dẫn oán thành ơn, hà tiện sự khen thưởng, chẳng thương quân sỹ, so đo ơn huệ, trước sau đều nói sinh ra phản loạn, phải chạy ra ngoài để lánh nạn, ứng tượng Bĩ vậy. Tang đạo Hậu sao cố tạo ở Ly cùng Khốn, cùng thành Phụng thiên cao lớn, để phòng bị việc xin phí thưởng thắng hoặc có mất, cái mất này có liên hệ đến ứng bào tang. Thời bấy giờ xét mật như Phụng thiên, lại như Lương Châu, ngôi vua nhà Đường muốn đổ, bèn được trước Bĩ sau mừng, thu phục kinh thành đương Quải mạnh, có quân lính chớ thương xót. Phu hiệu ấu nguy bèn sáng vậy, các tướng Lý Thanh, Hổn Hàm, Xã Toại bảo rằng chẳng phải quyết chí bỏ giặc, mà Quải quái vô cựu, cùng Hàm làm cung, chợ, cả trẻ con trong 5 phương đã trình bầy mong ngóng đến gần vậy, thì Tốn gần lợi, chợ gấp 1, 2 lần, Cấn là bọn trẻ con nhỏ ở chùa liền Tốn 5 phương vậy, đều lấy hư không chựu người mà quân tử lấy nghĩa, tiểu nhân lấy của cải vậy, kẻ dèm pha dương miệng nói trên đầu gối, kẻ trung hiền bị chê ra, quân tử đi trốn. Lòng vua ưa kẻ tà, cảm sự hại chưa sáng tỏ, giết cây gỗ dần dần theo cách này. Vua Thuận Đế mắc bệnh, mất tiếng Khốn vậy, mà trước bãi cùng chợ các chính sự tệ hại cũng tức làm hanh thông, song cũng không thể quyết việc chỗ cung môn chỗ chùa đàn bà càng lấy trộm quyền, đáng dân nhân lấy liên kết nhau, cương cũng càng che lấp vậy, Lập tức truyền ngôi cho Thái tử là Hiến tông, hãy chấn hưng đường lớn dùng mưa sau, bình định kẻ tiếm loạn, Khốn mà được theo hanh thông, gốc ngọn không bệnh vì yếu đuối, mà đời suy loạn ấy đều thịnh vậy, là do dùng người đều đáng cả, đặt để không lỗi lầm, Hà Tây, Hà Sóc đánh dẹp đều có công, úy lạc dân, khuyến kích tướng, bờ cõi trị yên. Tốn vào Khảm hiểm, Tốn bằng Khảm nhọc, Kinh Thi rằng: đi vào chỗ hiểm trở, có ngăn, chắn, theo Sơ, cùng các thành lên vua. Là vận ấy tượng ấy, vua Hiến đương đấy, vì sao nịnh Phật thích Tiên, uống thuốc ở sông Liêu Bí để cầu sống lâu trái lại bị giết, là chằm giết cây sao? Kịp đến Dự: vua Kính, Văn, Vũ, Tuyên, Ý, các vua này thẳng Tỉnh, Hằng, Cấu mà trải Khảm đến Tiết, Bĩ rồi Tỉnh. Vua Mục Tông, Kính Tông hưởng ngôi không dài, lại mất hà sóc một khi vui chơi quá độ, mà lượng đầy bình, 1 đứa trẻ tối tăm bị giết mà chẳng phải ngôi vua thì khó mà lâu dài. Văn Tông lo mềm ít quyết đoán, tượng Hằng đến nội Tón mà bị chế ở gia nô, biến ở Cam Lộ mà Thiên tử chấn động sợ hãi, con lợn ít lông, dắt đi mềm mại, chót đến cùng, tốt đẹp khác, thuận ra làm gì. Vũ Tông nhanh nhẹn mà được thượng đẳng Thái nguyên, Tuyên Tông xét sự sáng suốt nghe lời nói không can không dự, chế vừa phải độ, gần người hiền xa sự vui, cũng bảo là được vậy, bèn lại yêu về thực, mê hoặc nguyên bá chẳng vào Khảm cung mà mất Đạo, hung vậy. Ý Tông đắm đuối yêu sắc vô độ đam mê, ngầm tiêu triều đình mất chính sự, kẻ canh cửa lộng quyền, tin kẻ dèm nịnh ruồng bỏ kẻ trung, dân nhân mà mở trộm cướp dấy lên, Khôn chủ dân chúng, Khẳm làm giặc cướp, bỉ trong Khôn ngoài, mà Tỉnh đến Khảm Tốn cũng bảo là trộm cướp, Phong (gió là quẻ của Thế chia Khảm, Tỉnh thẳng tới Khảm, Khảm bọn giặc cướp làm công nhân, đó là 1 biến vậy) đấy ít tuổi mà Khốn hỏng, dân Khốn về lụt nạn đói, quốc gia Khốn về nạn trộm giặc đánh cướp, vua Khốn về bức bách rời xa, như tật lê ở trong gỗ đá quấn quýt cây sắn, thay đổi lần lượt làm chỗ vua ngự. Năm Giáp Thìn quẻ ứng Sư tinh mới bình được giặc lớn, mà Bắc ty giặc ở trong còn ngang nhiên cướp xe vua. Xét đến Bỉ Tỉnh, thì Khảm trộm giặc ở ngoài, nhân tiếp Khôn Sư thì giặc cướp ở trong chiếm giứ Bắc Ty, ứng trùng Khảm. Trong thời Cấn Tốn thay đổi nhau, có kẻ hôn tự (chức canh cửa) con trưởng, làm tượng trong ngoài giặc cướp liền liền. Lúc này nhà Đường ngôi vua con ngất vậy, vua Hy Tông có chí khôi phục lại công nghiệp đời trước, uy lệnh chẳng chấn hưng, quan quân một khi tan vỡ ở Khái dụng, lại chạy đến Mậu trinh,, lại nhà khắc dụng mà Tam trấn đánh bình phục lại, lại lấy Mậu trinh mà kinh sự không giữ, trên như Hoa châu, ai bảo rằng Hoán sơ cứu ngựu mạnh là cát. Chu Lý tránh đón rước, tan chạy muốn gì, cùng cực đến nỗi lấy bạc vạch đất, mẩu sắt giữ vững cửa. Chiêu Tông mới chằm tên hung đầu sỏ, Toàn Trung lại thả binh cướp, rất thành ra giết, hào 9-6 bảo rằng: tan máu hại xa, 9-6 khó nói vậy. Vua đi chỉ để giữ hư vị 3 năm mà sắc phong, bảo phong Lương, quẻ cũng ở Giải đến Quy muội, tội không thể tha thứ. Chu Tam bội nghịch làm con chim cắt nhỏ ở quận Cao dung ứng là con cáo lẻn chỗ ngồi dân ô bị giết mà hung, quái gở sao xiết vậy. Hữu Trinh giết Hữu Khuê mà lập làm Mạt Đế (vua đến cuối cùng) không hay tự mạnh lên, sau bị Điền Trang bắn 3 mũi tên giết như lợn chó không phải dịch mà Dự thấy đấy vậy. Dự lợi hành sư, ứng về nhà hậu Đường sao? Giải hào 9-2 săn được 3 con cáo, được tên nỏ sắc vàng biến mà Dự, bèn gói cái đầu tên ngụy Lương vào miếu, hoàn lại cái tên nỏ để tế vua sánh với tổ mà làm bản nhạc Sùng Đức, sau vua Đường Trang Tông chẳng là đẹp sao? Đoài không thường giữ đức hạnh, hoang tàn về tiền của, nữ sắc, chơi bời săn bắn, chỉ kiêu ngạo, chính trễ nải, quân dân lìa lòng, những bầy tồi cũ có công bỏ đi hết, sau bị tên hát chèo giết, bậc quân tử xấu hổ. Minh Tông già mà lên ngôi vua, con nối dõi không đổi hiệu nhà Đường, làm nhiều điều thiện, điều thô đến nỗi Tiểu Khang chẳng phải Hằng, lấy 1 đức tốt lập nên chẳng dễ ấy du! Theo đến Trời chưa sinh bậc Thánh, ứng vận mà ra, mở không đủ nói, bỏ lại khen gì, ở nhà Tấn làm chúa Khiết Đan sách lập nên, tôi con như chó dê, Tề Vương trọng người quý, Hoành Khiêu Ông dặn: 10 vận họ Hoành mài gươm, quẻ là Sư: trinh, trương nhân cát. Phụ nhân dịp đến cướp phá, theo như dùng sao? Nhà hậu Hán xưng Đế, lấy cớ thiên hạ không chủ, mà trước chính ngôi vua, tại vì bấy giờ quá Khốn mà cầu sống lại, chưa phải quân tử có Giải phụ ở chân chủ tiểu nhân, cha con được 5 năm, đi ẩn mất nước. Thiên tử thời Quách Vu trung tự làm đấy vậy, bỏ người hiền mà việc nước thường có nên việc đâu. Xét Thái tổ Quách thế Tông Sài Vinh cũng xưng là Ngũ Đại. 12 vua đến lệnh chủ mà suy tôn làm trị chủ lấy đạo cứu, thiên hạ từ đó thái bình, thời Ngũ đại: Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu cũng tới trộm cướp nước tiến vua, không một mà đủ đều là ngón tay cái đó vậy, mà ngôi vua sao đóng vậy. Nhà Đại Tống dấy lên, vua Thánh nhân ra đời, chựu Cung Đế Quách Tông Huấn nhường ngôi, tước bỏ đi hơn 10 nước tiếm đoạt mà đêm lại hợp nhất. Đương lúc giúp nhà Chu bắt Hung Nô quy phục được Định Châu, lại phấn khởi đánh lấy Hà Bắc, ứng quẻ Vị tế dấy đánh, bấy giờ hạn có khen Thiên thủy Bích vậy (nước trên trời biếc). Thiên thủy là quẻ làm Tụng ở quân làm Đế phong Bích, Hỏa là đỏ vậy, Càn Khảm chủ đấy, tự Vi tế vào Tụng, đến Lý khiểm điểm Thiên tử chống phái võ nhân làm Đại quân (vua lớn) sao? Lý Đế chẳng bệnh lâu, theo đó để mà biết vậy. Lấy đức của vua chẳng như Càn, từ ĐƯờng, Lý đến Ngũ đại trải qua Khảm Giải đều 60 năm, ít gặp Cần đấy, đến đây thượng quái của Tụng là Càn đó, Hoán và Vị tế mà Khốn cũng chẳng lìa Tụng là Càn ở thượng quái, đời Thái tổ, Thái tông cùng Chân tông thẳng đấy, theo ở Nhân tông đến Anh tông, vận ở 10 quẻ thẳng làm Nhu, trong Nhu là Càn vậy, quẻ ấy gồm cả Vị tế Tiết thứ đều nội Càn biến, ngào làm Quải, Thái, Tiểu súc, hết thẩy Càn làm đó, cho nên đi vào rường cột của Càn một mình chính được đức của Vua tốt đẹp. Nhà Đại Tống từ đời Kiến long chựu mệnh Trời, đổi niên hiệu là Càn đức vốn đã là bậc Thánh làm vật thấy đấy hợp vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, Vận thứ 10, quẻ của Vận là Đại quá đến Tỉnh (hào 4), quẻ của Thế chia quẻ Tỉnh ra: hào sơ Nhu, 2 Kiển, 3 Tập Khảm, 4 Đại quá, 5 Thăng, 6 Thuần Tốn. Vua Nhân Tông Triệu Trinh năm 1023, thẳng Nhu đến Tỉnh, trải qua Ký tế, Tiết, Quải. Vua Anh Tông Triệu Thử lên ngôi năm 1064, ở ngôi 4 năm ở quẻ Thái. Vua Thần Tông Triệu Tử lên ngôi năm 1068, ở ngôi 10 năm ứng quẻ Thái đến Tiểu súc, vào Tiểu đến Ký tế. Thiệu Ung ta suy Vận-Thế đến vua Hy Ninh, ứng quẻ Nhu đến Thái rồi thôi suy chưa kịp vậy!. Vua Triết Tông Triệu Tu bèn thẳng Kiển, tự Ký tế đến Tỉnh, vua Huy Tông Triệu Cát lên ngôi năm 1101 ứng quẻ từ Tỉnh mà Bĩ, mà Hàm, mà Khiêm, vua Khâm Tông thẳng Khiêm đến năm Bính Ngọ, Đinh Mùi, cả họ đi lên phương Bắc. Vua Khang Vương gây đi Kiển lại trở về, ứng Đại quá 9-4: gây tượng đống long là tốt lên ngôi vua (nhà tốt không quấy nhiễu ở dưới) vậy, nhà Tống bèn rời về phương Nam. Khiển, lợi Tây-Nam bất lợi Đông-Bắc. Đó là chứng cớ sao? Bấy giờ đương Khiêm, lợi dùng lấn đánh, lợi việc hành quân, sau đến hoa nghị, Đại quá trong Tốn mộc, vua Tống hòa với Đoài nhà Kim mưu diệt hỏa, đến Kiển, đến Tiệm, hai vua đánh phương Bắc không trở về, bỏ biên Đô đi xuống hay như dần dần như cái cột mà thôi, bây giờ kẻ trung tiết bị đuổi giết, ngoại Bĩ khen là hiền, mượn áo quan của vua ở cung Tràng Lạc để làm lời vâng biểu làm tôi phương Bắc, chính thẳng Khảm là quẻ phương Bắc, cho nên Thủy (nước) đấu trí khác, há chẳng lấy Tập Khảm đến lần nữa mà hãm mất ấy lớn du! Truyền ngôi vua Hiếu Tông quẻ lại ở Tỉnh, cháu 6 đời vua Thái Tổ mà nối ngôi theo đương Vận chủ quái. Trải Khốn mà Sư gồm 27 năm. Quang Tông bị kiềm chế bởi bà Hậu hung tợn mà trái vua Thọ Hoàng, Khốn hào 4 đến Khảm, trong hiểm ác mà mất thuận đức. Thà Hoán mà ruồng bỏ kẻ chính dùng người tà, thời có sự lo lìa chi giải thể, giặc lớn ấy lo, thiện nhỏ lại dùng gì, Quải cùng Hàm lấy cảm vậy. Vua Lý Tông 40 năm chủ Khốn, Tỉnh, Hằng, Cấu, bấy giờ dân đang khốn vì bọn phản loạn. lại khốn về hợp Nguyên đánh Kim, Kim mất thời ứng vào quẻ “kim xa”, đổi ấp mà không đổi Tỉnh, Lâm an hỏa 83 vạn dân bỏ ấp là nước đổi vậy, mà Tỉnh cong đấy, vả Tỉnh gồm Đỉnh, Cách đều tượng Hỏa hoặc theo ứng vậy. Hằng chẳng đổi phương như Tốn dùng chính hỏa. Can Ân tự xuống lấy kẻ tiểu nhân dùng vào việc, thời bấy giờ tượng ứng Càn Nguyên, phong tục đi như gió khắp thiên hạ, hoặc lấy khí trắng như tấm vải phô bầy khắp Trời cũng là Cấu tượng vậy. Tốn là trắng, phô bầy ở Càn trời khí âm phạm lên trên, Hốt Tất Liệt phô bầy vậy. Vua Độ Tông Triệu Kỳ thẳng Tỉnh đến Thái, Thăng, trong Tốn mộc ứng nhà Tống biến mà Càn nguyên Mông Cổ dựng quốc hiệu là Nguyên kỷ nguyên là Chí nguyên, là có lấy vậy. Bấy giờ, đạo Thái ứng Nguyên mà vận Tống bèn mất, vua Cung Đế Triệu Hiển đương thẳng đến Khiêm, trong Tốn biến Cấu, trẻ con không ngôi, chẳng phải chẳng có Kiển như kẻ bầy tôi không đoái hoài đến lợi hại 1 thân, ứng với Khảm hào 3 vào hố sâu, cũng chết theo vua chết đuối ở biển, há chẳng phải trời vậy thay! Thời này, nhà Nguyên trải 9 vua, thẳng Thăng đến Sư, Hằng, Tỉnh, Cổ gồm cả trước Thái, Khiêm làm 6 biến, lại Tốn đến Tiểu súc dẫn Hoán, Cấu, Cổ gồm biến vận Nguyên đến lúc hết. Bấy giờ, đất động, núi lở, sao Chổi, mưa đá các sự biến lạ luôn thấy. Vì lấy vận đang Đại quá, quẻ Thế chia Tỉnh, thẳng Tỉnh đến Thăng, như Khôn địa tiếp Chấn, thẳng Tỉnh đến Tốn hỏa trạch thay đổi nhau Cách, trong khoảng ấy như sấm gió núi chằm, trời trăng cùng nước lửa, suốt tiết mất Hằng, Độn thấy đổ nát, hết thẩy cùng với Hội ứng. Cách chủ cách mạnh, Tốn sơ biến đến Tiểu súc, lại thẳng Càn đạo đến Cách trung đắp đổi thành Ly, họ Chu nhà Minh đương ngôi, lại theo Đại minh sao? Đương chấn hưng Cổ sấm động bão nổi đổi nhau bèn ứng Hằng, trời trăng soi lâu, mở nhà Đại minh 18 vua gồm 277 năm ngôi nước, ban đầu thời vua Hồng Vũ Tốn lợi võ trinh, sáng trí trị vậy, biến mà Tỉnh nuôi không cùng, dân dùng khuyến khích cái tưởng mà Vận thứ 10 Đại quá đến Tỉnh, quẻ biến đã khắp vòng, này ở đời Hồng võ thứ 16 năm Quý Hợi, từ đó đến Giáp Tý lại đang Đại quá đến Hằng vậy.

Đây bàn về Hội Ngọ, Vận thứ 11, quẻ của Vận là quẻ Đại quá đến Hàng (hào 5). Quẻ của Thế chia Hàng hào Sơ Đại tráng, 2 Tiểu quá, 3 Giải, 4 Thăng, 5 Đại quá, Thượng Đỉnh. Năm Hồng Võ thứ 7, thẳng Hằng Đại tráng hào Sơ, lại làm quẻ Hằng, Hằng lâu làm Nhật Nguyệt được tượng trời trinh minh. Phong trời Nhật giữa Nguyệt đầy, hoặc vui ăn cơm số trưa. Năm Kiến Văn thứ 4 chẳng chọn Vĩnh Lạc thẳng Quy muội đến Thái, vua đời Hồng Dy, Tuyên Đức Quải mà Đại hữu, chính thống thẳng Đại hữu đến Bính Thìn, đến Hằng, Tiểu quá đến Phong mà có biến thể mộc, Cảnh Thái bèn thay Hằng đến Đinh Sửu mà lại lên ngôi vua vậy, đổi niên hiệu là Thiên Thuận, thể quẻ là Chấn Tốn đổi Càn, Càn thiên Tốn thuận Chấn lại làm chủ tể mà Hằng không đổi phương, vốn là tượng vậy, đời Thành Hóa Dự Khiêm mà Hàm đời Hoằng Trì, Hàm Lữ mà Giải đến Quy muội. Đời Chính Đức từ Quy muội đến Bính Dần, rồi Dự đến Tân Tị gia Tỉnh thời Dự mà trải Hằng, Sư, Khốn, Vị tế lại vào Đỉnh đến Thái vậy, đời Long Khánh đi Thái 6 năm, vua Thần Tông lại đi Khiêm, Sư, Hằng, Tỉnh, đến dùng Cổ gồm 48 năm, đời Thái Xương, đời Thích Khởi Cổ, Tỉnh, Đại quá đến Quải cộng 8 năm, Quải mà sau Hàm, đời Sùng Trinh là hết vương triều Minh từ 1364 – 1644, thời Đại minh chiếu lâu, nhật nguyệt phản ảnh trong khoảng giữa Đoài Càn đều dùng cương che lấp, tĩnh dưỡng chẳng cùng, Hằng lâu mà chẳng thôi, cảnh vận lâu so sánh 1 với Trời, ức vạn năm dài phúc lộc vậy.

Lấy Vận kinh Thế chia quẻ thẳng Năm, lời bàn sau đồ đã rõ ràng. Nhưng quẻ về kinh Thế có chỗ không đồng nhau, người nghiên cứu cần biết “ngung phản” (ngung là 1 cạnh của hình vuông, biết 1 cạnh thì xét được 3 cạnh còn lại). Như đồ nay chép đời Nghiêu năm Giáp Thìn, vốn ở Kỷ 6 Hội Quý 180 Vận, là đời thứ 8 năm Giáp Thìn, những Giáp Tý trở về trước thì lược đi mà không chép, tức là đây lấy Giáp Tý Thế thứ 7 cũng chẳng bầy rõ, chia hợp 2 Thế làm 1 Giáp Tý, chia gặp vận quái 1 hào, như Thế là vận quái thuộc Càn, Thế quái Sơ Cấu, 2 Đồng nhân, 3 Lý, 4 Tiểu súc, 5 Đại hữu, 6 Quải, đấy là Thế thứ 8 khởi Giáp ngọ, tức là từ Giáp Tý Thế thứ 7 khởi, hợp thành Tiểu súc 1 quẻ, thời từ Tiểu súc khởi Giáp Tý thuận tính đồ tròn Phục Hy, vẫn nên trừ ra Càn Khôn Ly Khảm quẻ tứ chính, cộng được 60 quẻ Giáp Thìn chính đương quẻ Tùy, cho nên lấy quẻ Tùy làm trực niên quái vậy. Như Thế thứ 90 quẻ của Thế là Đại hữu, lại từ Đại hữu khởi Giáp Tý 11, 12 Thế quái, lại ở quẻ quái đó khởi Giáp Tý. Niên quái đã được, thì Nguyệt quái, Nhật quái cũng đều theo đó mà suy vậy.

HẾT QUYỂN 2

QUYỂN 3

LỜI TỰA

Xưa nay, sách làm sáng tỏ Đạo có Kinh dịch và Thiên Hồng phạm, vì 1 gốc ở Hà đồ 1 gốc ở Lạc thư. Hà đồ Lạc thư vốn liên hệ tượng dĩ nhiên của Trời Đất, hai đồ vuông tượng đất, đồ tròn tượng trời, mà trời có thể bọc được đất, đất không thể tóm được trời. Cho nên Thiệu Khang Tiết truyền cái học Tiên thiên, suy diễn nghĩa đồ tròn mầu nhiệm, viết thành sách Hoàng Cực Kinh Thế, lấy ngày Đông chí, nửa giờ Tý làm giờ Thiên khai, tự đó lấy đến Khôn, trừ 4 quẻ chính Càn Khôn Khảm Ly, lấy 60 quẻ làm 1 Nguyên, trải 12 Hội. Lại lấy 1 quẻ biến 6 quẻ, 60 quẻ biến 360 quẻ trải 360 Vận. Lại lấy 360 x 6 hào biến thành 2160 quẻ, mỗi quẻ thẳng tới hai đời trải 4320 đời. Lại lấy 2160 x 6 hào biến thành 12960 quẻ, mỗi quẻ thẳng tới 10 năm trải 129600 năm. Lại khởi Vận quái, lần lượt suy thuận làm quẻ trực niên, mở Vật ở Dần đóng Vật ở Tuất, mà trên suy đời đã qua, dưới ngược đời tương lai, chẳng gì là chẳng rõ ràng như trên bàn tay, trăm đời đức Thánh có thể biết được nghĩa ấy. Lại lấy 4 quẻ Càn-Đoài-Ly-Chấn làm mặt Trời, mặt Trăng, các vì Sao làm âm dương thái thiếu của thời (tức là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương). 4 quẻ Khôn-Cấn-Khảm-Tốn trước làm thủy-hỏa-thổ-thạch, sau làm cương-nhu-thái-thiếu của đất. Thanh sướng lên ở trên Trời, âm họa lại ở dưới Đất, được gọi là xem Vật, mà âm dương tiêu trưởng của trời đất, biến hóa sinh thành của Người và Vật, bên trong là then máy của thân-tâm-tính-mệnh, bên ngoài là kinh tế về tu-tế-trị-bình, lớn rất mực là việc trị loạn hưng suy của các bậc Hoàng-Đế-Vương-Bá, nhỏ thì đến cỏ, cây, cá, sâu bọ sinh ra, khô đi tươi tốt rụng đi đều không thể vượt qua phép này. Trình Tử suy tôn Thiệu Tử có cái học trong Thánh ngoài Vương. Lưu Đẩn thuật được Hoàng Việt Châu chú thích, diễn làm Tự ngôn, trong thiên dẫn lời của Chúc thị Bật và Chu Ẩn Lão, lời nào cũng tinh diệu rất mực phát minh cho nhau, trọng về lý mà tin dùng về số. Trong thiên suy ngôi vua nhà Hán dài ngắn với đồ thanh âm sướng họa, sau cử lên một chữ “thiếu” để phát mimh cái phàm tục như thế là lý vậy mà nói việc đều ngụ ý ở trong, tiếc chưa tuyên bố rõ ý niệm về sự bí mật của Trời Đất cố nhiên không muốn tiết lậu ra khiến cho kẻ hậu tiến được nhìn cửa mà lao bước tới. Khi tôi còn búi tóc đi học, đã được nghe danh tiếng sách Hoàng Cực, khổ nỗi không tiền mua mà đọc, đến năm Mậu Ngọ mới được thấy bản sao, phủ phục mà đọc, tìm tòi ý nghĩa sâu xa, vì rộng mênh mang không thể được trong muôn một vậy, rồi thì đưa gấp vào bản khắc in, bấy giờ là mùa Thu năm Kỷ Mùi, mà tôi tuổi đã tới 60 rồi. Xưa còn nhỏ mà tập, cố sức học vài chục năm, hoặc vị tất chẳng được gì, tiếc lắm thay. Nay thuật lại nghĩa ấy, lấy Càn Khôn làm Đại phụ mẫu từ hữu sang tả, trở lại lấy quẻ Phục Cấu làm Tiểu phụ mẫu từ tả sang hữu chuyển đi cũng chỉ nắm lấy cái cốt yếu lớn mà đến chỗ sở tại tinh vi, chẳng dám phỏng đoán là lời nói vậy.

QUYỂN 3

Lấy Vận kinh Thế đã đủ, lấy Hội kinh Vận ở trước đã bầy rõ ràng. Lại chia Niên quái ở 6 Giáp, thay đổi vòng khắp ở dưới, cất lệ để thấy, chia thẳng để dùng tế nhị vậy. Bầy 1 Hội thâu tóm 5 quẻ, mỗi quẻ đều 6 hào chia làm 6 Vận lấy làm Kinh, thông 5 quẻ có 30 Vận. Tiếp tục, 1 Vận nhỏ chia theo 6 quẻ, đều theo hào ở 6 quẻ biến, làm 1 hào quản 10 năm, 30 năm làm 1 Thế, 3 mà 2 đấy, thì 60 năm làm Thế ấy, 2 lần khắp 1 Kỷ 6 Giáp, 3 Giáp trước gồm Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, 3 tuần Giáp này chia trước, 3 tuần Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần, làm 3 Giáp chia sau, 3 Giáp trước và sau, mỗi 1 Giáp tương đương với 1 hào thẳng quẻ đến 10 năm.

Lấy Giáp Tý-Giáp Ngọ làm đầu của 1 Thế, Quý Tị-Quý Hợi làm cuối hết của Thế, 1 Vận 6 quẻ thâu tóm 12 Thế, ứng với 6 hào là 60 năm, vòng Trời đi 360 làm 1 Vận số, cho nên Vận lấy Thế làm Vỹ (dọc), Thế lấy Vận làm Kinh (ngang). Lấy Vận Kinh Thế, quẻ của Thế thâu tóm quẻ của Vận mà năm làm Thế dọc (vỹ), quẻ của năm lại thông suốt trong quẻ của Thế vậy. Theo quẻ của Thế nhất nhất suy đấy, thì quẻ của Năm theo có thể biết hết vậy. Lấy đó mà cân Nguyệt Nhật thì chia thẳng dùng quẻ, cũng không có gì khác vậy. Điều cốt yếu lớn, 1-6 làm Kinh (ngang), 6-6 làm vỹ (dọc), 6 gồm 3 tài mà lại 2 đấy, 6-6 thì gồm sách số của Càn-Khôn mà bằng đấy, theo xét vậy, 1 Vỹ về Kinh, Kinh về Đạo.

Lấy Vận kinh Thế dùng 1, Thiên quan Vận thứ 27

Kinh Nguyên dùng Giáp 1, Kinh Hội dùng Tị 6

Kinh Vận dùng Quý 180

Kinh Thế dùng Tý 2147

Kinh Thế dùng Ngọ 2155

Kinh Thế dùng Mùi 2156

Kinh Thế dùng Thân 2157

Kinh Thế dùng Dậu 2158

Kinh Thế dùng Tuất 2159

Kinh Thế dùng Hợi 2160

Đây bàn về Hội Tị, Vận thứ 30, thẳng quẻ Quải đến quẻ Càn, gồm có 12 Thế, theo quẻ của Thế chia ra quẻ Càn hào sơ biến Cấu, hào 2 biến Đồng nhân, hào 3 biến Lý, hào 4 biến Tiếu súc, thì từ đây khởi Tiểu súc đến Giáp Ngọ, thời vừa ở Càn trước 3 hào quẻ theo thẳng kể 180 năm gồm cả gốc quẻ Tiểu súc trước 3 quẻ theo thẳng kể 30 năm, đều lược đó không rõ làm hàng, đời Đường Ngu trở về trước hoang xa không chép, kinh Thế quan Vật xem 1 Trời Đất mà về xem ở Người, Người tất theo Thế (đời) giữ Vật sáng đủ trị loạn hưng suy, có dấu vết mà có thể thấy để chia mà xem. Cho nên bắt đầu ở Tiểu súc Giáp ngọ, vì đương đạo của Càn bèn Cách mà văn đức tất rõ ràng chiếu sáng ở ngay trong Kinh Thư trị xét vậy, đầu Dịch là Càn, đầu Kinh Thư là Nghiêu, Thiệu ta theo Càn, chí ấy nên suy từ hào 4 quẻ Càn biến ra Tiểu súc, chia biến làm Vận nhỏ dùng Tiểu súc hào sơ biến Tốn, hào 2 biến Gia nhân, hào 3 biến Trung phu, mỗi quẻ đều quản 10 năm, thì Giáp Ngọ 30 năm thẳng quẻ Càn, Giáp Thìn 30 năm thẳng quẻ Đại súc, đó là chia Thế quái trong dùng 1 lại chia Càn dùng Tiểu súc, lại Tiểu súc dùng Càn mỗi 10 năm thẳng 1 hào, 6 lần 6 hào vị thứ lần khắp, 6 Giáp đó vậy. Đồ của năm Giáp Thìn đời Nghiêu chia thẳng quẻ Tùy, đó là theo quẻ Tiểu súc chia quẻ Càn hào 4, lần lượt 60 quẻ, thứ đang đến (tri lai) cầu đấy, tức là được theo thẳng Năm làm quẻ gì, như Giáp Tý quẻ Tiểu súc, Ất Sửu quẻ Đại tráng, thuận thứ tự tính, đến Giáp Tuất quẻ Cổ, Giáp Thân quẻ Hàm, Giáp Ngọ quẻ Dự, Giáp Thìn quẻ Tùy vậy. Giáp Dần đến Quý Hợi tích Tốn đến Nhu, bèn cuối cùng Tiểu súc 60 năm, quẻ theo trực chia xem theo ứng, nên có “tiết tuyên” trong khoảng Trời-Người ấy. Do đó, chia Càn dùng 5 Giáp Tý khởi Đại hữu, chí Càn dùng thượng Giáp Tý khởi Quải, hàng năm theo thứ tự đi 6 Giáp, ứng với từ Nghiêu đến Thuấn, Vũ chựu mệnh ăn theo quẻ trực niên nhất nhất khá tìm. Khi xem ở dĩ vãng, khá lệ việc tới nay, cất 1 góc lên, khá biết trăm biến, Thiệu ta ước lược thấy ở đồ, theo bảo ở sau cho kẻ đọc điều cốt yếu vậy. Tuy vậy ông Trương tử hỏi 10 Thế có thể biết được không? Đức Phu tử bảo lần lượt lấy Hạ, Ân, Chu cái lẽ cùng nhân chẳng biến, cùng Tổn-Ích thông biến, việc dùng nên cho dân chúng, vì chứng cứ theo lý mà chẳng phải suy ở số vậy. Tuy số ở đó khá có kẻ cứu cũng còn nói đại khái vậy. Lại xét vua Nghiêu được “số trung”, giữ đạo “trung” làm phép muôn đời, khi trao cho cử 4 tháng Trọng, 2 ngày Chí, 2 ngày Phân, đều căn cứ lấy theo “trung” để định niên quái, gây dựng ngôi ở Bình dương từ quẻ Tùy đến Cách, trị trải thì sáng sủa, thử như kính trao việc sửa sang công nghệ dấy lên mọi việc thành vậy, như thế thì nói Hoàng cực đại trung. Ở dùng lý lẽ lịch luật, phép lại càng rõ ràng chủ mật vậy. Chu thị Ẩn nói rằng: Thần ấy là Trời Trăng theo hợp chia độ vòng trời 12 thứ vậy, 28 vị tú thứ tự mà ở. Thần chia làm 4 thì mỗi đoạn là 3, Mộc Hỏa Kim Thủy đều có 2, mà mình Thổ có 4 tự theo làm nói đấy vậy. Tự chia làm 4, thì mỗi đoạn có 7 sao, năm hành đều có 2 cùng mặt Trời mặt Trăng một mình đều theo 1 tự theo ở nói đấy vậy. Lấy Sao (tinh) để nói, Kim Thủy thời có trước mặt Trời mà mọc, sau mặt Trời mà lặn đó vậy, song sao Kim Thủy thường gần mặt Trời mà đi. Sao Mộc Hỏa thế thời có 12 năm một vòng, 2 năm một vòng, 28 mà bắt đầu một vòng. Gần mặt Trời thường nhanh, xa mặt Trời thường chậm, cách mặt Trời càng xa thì lại có cái thế hết thường lưu lại. Tùy theo đến, đều lấy theo biến để cầu, có thể nhanh hoặc chậm cùng giữa nhanh chậm đều khá được mà khảo cứu, lấy mặt Trăng mà nói thì xanh, đỏ, trắng, đen theo Đạo đều 2, cùng với Hoàng đạo mà 9, 9 mà 8 đấy làm 72 đạo, tùy theo chỗ đến, lấy theo mỗi biến cầu đấy, thời hoặc nghiêng hoặc ngay thẳng, cùng giữa sự tà chính, đều theo đó để khảo cứu. Lấy mặt Trời mà nói thì Đông-Tây-Nam-Bắc, theo đạo đều khác, cùng với xích đạo cùng giao, giao mà biến làm 2, đến 2 phần, tùy nơi chỗ đến, mỗi nơi chỗ đến lấy theo biến để cầu, hoặc dài lâu hay ngắn, cùng giữa dài ngắn, đều theo đó mà khảo cứu. Theo nơi chỗ Tứ trải phương theo đi, dẫn mối ở ban đầu, cất chính ở giữa, về lại ở sau, mà 4 mùa thành vậy, đó là việc theo lấy dấy lên. Lịch pháp thời Nghiêu, không hẳn còn đến nay, mà cái lý chưa thường chẳng còn. Ngoại thiên, Thiệu ta đã nói rõ, cho nên ở đây chỉ nói qua mà thôi. Ta xem Tam Hoàng mà ngâm rằng: Càn Khôn to lớn từ ta tuyên ta; Ngoài Càn Khôn còn nói gì nữa; Ban đầu chia đạo lớn chẳng phải đạo thường; Đầu có Tiên thiên cuối có Hậu thiên; Làm phép vi diệu Khí xem thấy dấu vết; Thu cộng rất lâu dài chẳng biết năm nào; Nếu khiến người trên đời bàn cộng nghiệp; Liệu được lại không có người ở trước. Ta xem Ngũ Đế mà ngâm rằng: Tiến lui chựu xem thiên hạ nhường cho nhau; Tỏ nói năng gì dường như vẻ ung dung; Nơi áo xiêm rủ xuống thời uy nghi thịnh; Theo sửa ngọc lụa ý tứ cung kính; Mọi vật hết thẩy noi theo chí lý; Người người tự xin lập công lạ; Bấy giờ tỏ sao được như thế; Chỉ bởi tiếng tăm giống như giữa mặt Trời.

Trang thị Hành Thành bảo: Niên quái từ đời Nghiêu năm Giáp Thìn khởi quẻ Thăng, Mông, Cổ, Tỉnh, nhưng Chúc Thị thì so bì hết sức cho là không phải, bảo là Thế quái làm Thủy Hỏa Ký tế hào 5-6, hợp với Sơn Hỏa Bí hào Sơ hào 2 làm Thiên Hỏa Đồng nhân, Lôi Hỏa Phong, Sơn Trạch Tổn, Sơn Địa Bác, 4 quẻ biến niên quái được Hỏa Thiên Đại Hữu, lấy Ký tế hợp Đại hữu, ở đồ Ký tế làm Vị tế, Tấn hợp quẻ làm … quái, hay lấy chứng nhân chính, có thể lấy vương vậy, theo vạn vật như thế lại nói: thế quái thì vua Nghiêu, ban đầu biến Đồng nhân, theo bảo rằng cùng với người mà không có ta, cho nên lấy Đồng nhân tương đương với quẻ Thái vậy. Xét Trương thị Hành Thành trở xuống theo bàn đến thấy ở đồ hậu thuyết trung phụ lục lại sẽ đính.

Lấy Vận kinh Thế dùng 2, Thiên quan vận thứ 28

Kinh Thế dùng Giáp 1, kinh dùng Hội Ngọ 7

Kinh Vận dùng Giáp 181,

Kinh Thế dùng Tý 2161, kinh Thế dùng Sửu 2162

Kinh Thế dùng Dần 2163, kinh Thế dùng Mão 2164

Kinh Thế dùng Thìn 2165, kinh Thế dùng Tị 2166

Kinh Thế dùng Ngọ 2167, kinh Thế dùng Mùi 2168

Kinh Thế dùng Thân 2169, kinh Thế dùng Dậu 2170

Kinh Thế dùng Tuất 2171, kinh Thế dùng Hợi 2172

Đây là Hội ngọ Vận thứ 1, thẳng Cấu đến Càn là 12 Thế, khởi từ vua Hạ Vũ năm thứ 8 Giáp Tý quẻ Cấu, đến vua Hạ Khổng Giáp năm thứ 12 Quý Hợi quẻ Đại hữu, gồm 360 năm. Niên quái từ quẻ Cấu, lần lượt thứ tự tính thuận số thẳng 6 vòng 6 Giáp, như theo thứ tự rằng: việc ứng thì theo Vận, chia Thế theo Thế, chia năm Đại quái Tiểu quái đều có theo, chủ ở thâu tóm mà xem, chuyển quẩn lạc đấy, kẻ đọc không nên câu nệ. Thiệu ta xem Tam Vương ngâm rằng: Một mẳnh Trung nguyên hơn vạn dặm; Không phải người đủ đức theo ở nhà Hạ; Nhà Thương chỉnh sóc hay còn rộng ra; Vua Thang, Vũ giáo mác chưa tiện dong duổi; Trạch Hỏa có tiếng mới chựu Cách; Thủy Thiên không ứng chẳng thành Nhu; Biết rõ nhân-nghĩa làm lòng ấy; Không chựu là thiếu Trượng phu ở nhân gian.

Lấy Vận kinh Thế dùng 3, Thiên quan vật thứ 29

Kinh Nguyên chọn dùng Giáp 1, dùng kinh Hội Ngọ thứ 7

Kinh Vận dùng Ất 182.

Kinh Thế Tý 2173, Thế Sửu 2174, Thế Dần 2175, Thế Mão 2176, Thế Thìn 2167, Thế Tị 2178, Thế Ngọ 2179, Thế Mùi 2180, Thế Thân 2181, Thế Dậu 2182, Thế Tuất 2183, kinh Thế Hợi 2184.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 2, thẳng quẻ Cấu đến quẻ Độn gồm có 12 Thế, khởi từ vua Hạ Khổng Giáp năm thứ 12, năm Giáp Tý quẻ Độn đến Đồng nhân, đến mãi đời vua Tổ Tân năm thứ 9, năm Quý Hợi, trải Giáp Tý 6 Kỷ 360, trong thời gian này thì trị, loạn, hưng, vong đều dùng theo Thế quái để chia niên quái dùng thẳng, đại khái đều theo phép trước để mà tìm.

Lấy Vận kinh Thế dùng 4, Thiên quan vật thứ 30.

Kinh Nguyên dùng Giáp 1, dùng kinh Hội Ngọ thứ 7

Kinh Vận dùng Bính 183.

Kinh Thế dùng Tý 2185, dùng Sửu 2186, dùng Dần 2187, dùng Mão 2188 dùng Thìn 2189, dùng Tị 2190, dùng Ngọ 2191, dùng Mùi 2192, dùng Thân 2193, dùng Dậu 2194, dùng Tuất 2195, kinh Thế dùng Hợi 2196.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 3, thẳng quẻ Cấu đến quẻ Tụng gồm có 12 Thế vậy. Khởi từ vua Tổ Tân nhà Thương năm thứ 10, từ quẻ Tụng đến Lý, đến mãi Văn Vương nhà Chu chựu mệnh làm Tây bá, quẻ năm Quý Hợi vẫn thẳng quẻ Tụng, gồm 360 năm, trong thời gian này khảo xét mà xem có rất nhiều nghiệm ứng, như Văn Vương niên quái thẳng Cổ, bị tù ở Dữu lý, đến quẻ Tụng thời cho dùng cung tên chuyên việc đánh dẹp, vị tất chẳng phải Đai lớn chựu mặc ở Tây bá, mà suốt buổi 3 lần cởi áo, ứng vào việc đánh nước Sùng vậy. Quẻ Minh di, Tụng theo lời Thoán mà rằng Văn Vương làm đấy. Có kẻ vảo rằng: Dịch như mặt Trời, mặt Trăng ở trên Trời, sáng ứng ở dưới Đất, xem theo đối sáng, không có gì mà chẳng hợp vậy.

Lấy Vận kinh Thế dùng 5, Thiên quan vật thứ 31

Lấy Nguyên dùng Giáp 1, dùng kinh Hội Ngọ thứ 7

Kinh Vận dùng Đinh 184.

Kinh Thế dùng Tý 2197, dùng Sửu 2198, dùng Dần 2199, dùng Mão 2200, dùng Thìn 2201, dùng Tị 2202, dùng Ngọ 2203, dùng Mùi 2204, dùng Thân 2205, dùng Dậu 2206, dùng Tuất 2207, kinh Thế dùng Hợi 2208.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 4, thẳng quẻ Cấu đến quẻ thuần Tốn gồm có 12 Thế vậy. Khởi từ Chu Văn Vương Giáp Tý quẻ Tiểu súc đến đời U Vương năm thứ 4 Quý Hợi quẻ Tốn là 360 năm, việc trong thời gian này có thể kê cứu theo càng dễ chứng thực, đó là Tiểu súc, mây dầy đặc mà không mưa từ Tây giao ta, cùng với quẻ Đại quá, ông già, kẻ sỹ, vợ qua lấy lời cùng giống nhau, như Văn Vương thờ vua Trụ nhà Ân, vua U Vương yêu nàng Bao Tự vậy, những việc khác có thể đại khái vậy.

Lấy Vận kinh hế dùng 6, Thiên quan vật thứ 32

Lấy Nguyên Giáp 1, kinh Hội Ngọ 7

Kinh Vận dùng Mậu 185

Kinh Thế dùng Tý 2209, dùng Sửu 2210, dùng Dần 2211, dùng Mão 2212, dùng Thìn 2213, dùng Tị 2214, dùng Ngọ 2215, dùg Mùi 2216, dùng Thân 2217, dùng Dậu 2218, dùng Tuất 2219, kinh Thế dùng Hợi 2220.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 5, thẳng quẻ Cấu đến quẻ Đỉnh gồm có 12 Thế vậy. Khởi từ Chu U Vương năm thứ 5 Giáp Tý đến Chu Uy Liệt Vương năm thứ 8 Quý Hợi quẻ Đỉnh gồm 360 năm. Trong thời gian này, bậc Vương giáng xuống bậc Bá. Xét Cấu hào 5 biến Đỉnh là Trời đất cùng gặp, cương gặp hào trung chính, vậy còn Càn hào 5 làm thành Vật thấy cùng Tượng mà Đỉnh Nguyên cát, hanh, hưởng đức Thượng đế nuôi Thánh hiền để lấy ngôi ngưng mệnh là khá vậy. Từ Đỉnh mà đến Cổ, cương trên nhu dưới, khắp vòng Trời đi trước Giáp sau Giáp, quẻ trọn thì có ban đầu, nên có việc làm chấn hưng lòng dân, nuôi đức ở Thời ấy. Sao bậc vương giả không thấy dấy lên, chỉ thấy Ngũ bá ganh đua dài mà đương đấy. Lúc bấy giờ đức Khổng tử là Tổ Vương sinh năm Canh Tuất đời Chu Linh Vương, ứng quẻ Ích thẳng đến Cấn, đến Đỉnh, đến Cổ, niên quái năm sinh lại thẳng Lý 1 thân mình, đủ đạo Hoàng, đức Đế, công Vương, mà lại Tỉnh nên sức lực Bá, mà tiến lui công hay tội đây. Cho nên đời Xuân Thu dẫu có chép nhiều việc Bá, thẳng đấy Cổ mà phản dùng trị, mà làm Tam tài Đỉnh cao trót muôn Vật, nhà đều văn võ. Thiệu ta xem Ngũ bá ngâm rằng: Ý riêng biết tôn danh, danh càng thiếu; Người người đều chạy mệnh chẳng xiết nhọc; Dàn gươm giáo sinh hoạt trong rừng; Đạo công của cải lại vào trong bụng; Dẫu thời còn hưởng sống hay yêu lễ; Nài sao Phượng hót chưa về chầu; Nhà Đông Chu trong hơn 500 năm; Than tiếc thời ấy một ông Trọng Ny! Thiệu ta lại ngâm Trọng Ny rằng: Trọng Ny sinh ở Lỗ trước ta; Cách đời Thánh hơn 1 ngàn 500 năm; Nay nay ai hay biết còn đạo ấy; Bấy giờ người ta tự ví với Trời; Hoàng, Vương, Đế, Bá làm chủ Trung nguyên; Cha con, vua tôi quyền muôn đời; Sông Hà không ra đồ ta thôi vậy; Ý tứ sửa kinh há thôi sao?

Lấy Vận kinh Thế dùng 7, Thiên quan vật thứ 33

Kinh Nguyên Giáp 1, kinh Hội Ngọ 7

Kinh Vận dùng Kỷ 186

Kinh Thế Tý 2221, Thế Sửu 2222, Thế Dần 2223, Thế Mão 2224, Thế Thìn 2225, Thế Tị 2226, Thế Ngọ 2227, Thế Mùi 2228, Thế Thân 2229, Thế Dậu 2230, Thế Tuất 2231, Thế Hợi 2232.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 6, thẳng quẻ Cấu đến quẻ Đại quá, gồm có 12 Thế. Khởi từ Chu Uy Liệt Vương năm thứ 9 Giáp Tý quẻ Quải đến Hán Tuyên Đế năm thứ 6 Quý Hợi quẻ Quải gồm 360 năm. Chu bị Tần giết, Tần bị Sở diệt, Sở bị Hán giết, ứng cung Gióc mà không khỏi trước sau bị suy yểu, cái hung lên quá cao, thường luôn thấy như vậy. Tần bạo mà giệt Chu nhân, Hán nhân mà giệt Sở bạo, đương chia sự kéo dài và rút ngắn, theo đó mà biết. Nói rằng: Tần giết Bá vào Dịch, Hán bá gần được là Vương. Phu Chúc thị Bí nói: Dương Hùng lấy 3 thống lịch, nghĩ Mạnh Hỷ làm ra Thái nguyên đều biết ngôi vua của nước ở pháp ngôn cuối rằng: Hán dấy 210 năm, mà Tiên thiên thời ấy biết nhà Tần không thể làm mất Hán, còn có số Hậu thiên Quang Vũ dựng lại hơn 200. Lấy số mà xét, Hán Cao Tổ lấy từ Thìn 2225 đến Ngọ 2227, mà vào cửa quan qua Giáp Ngọ vào Thìn đến Mùi 2228 mà làm Vương ở Quan trung, Thế quái được Vận dùng Thế, dùng Nguyên, dùng Thế Ký tế hào 9-5 lấy quẻ Ký tế xét đấy số 12597 ức 1200 vạn không có số nhân, lấy Hội chia ra 13 ức 9978 vạn trừ đi được 900, ôi âm dương hợp nhau mà thành vật, chiết 900 mà nửa đấy được 450, đó là Hán được hưng ngôi Vua. Ở trong trừ Nhuận mỗi 19 mà trừ 1, giảm đi 34 năm, tức là số năm của hai nhà Hán là 426 năm vậy. Thiệu ta xem 7 nước ngâm rằng: Đương lúc đường cùng, chuộng dọc ngang; Vốn không nghe lời nói nhân nghĩa; Khương bảo phá Tề còn tức Mặc; Hay thắng Hàn Triệu hết Tràng bình; Buổi sớm còn thấy chưa làm quái; Ngày Trăng giết người sao đủ sợ; Tô Tần Trương Nghi múa 3 tấc lưỡi; Chẹn họng cái thế không cầu sống. Xem nhà Doanh Chính ngâm rằng: Oanh oanh 7 nước chính chen 1 mưu; Lợi hại cùng mài chưa bèn thôi; Số đến một lòng mạnh địch; Như bốn biển máu trôi ngang; Ba ngàn khách đương thành giấc mơ; Trăm hai núi công lại biến đổi; Chớ nói bãi hầu hay để giữ; Triệu Cao vốn không phải để phong hầu.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 7, thấy Đại qúa đến Quải gồm 12 Thế vậy. Khởi từ Hán Tuyên Đế năm thứ 17 Giáp Tý quẻ Quải đến quẻ Đại quá năm Tấn Huệ Đế năm thứ 14 Quý Hợi gồm 360 năm. Trong thời gian này, Tây Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, Tào Man cướp ngôi nhà Đông Hán, Tư Mã Chiêu lại cướp ngôi nhà Ngụy, giặc làm loạn (loạn tặc) nối tiếp gét nhau đều ứng vào quẻ bói “có quân không hiệu lệnh, duy gốc ngọn đã yếu, nóc nhà suy yếu, mất việc giúp đỡ, quên kính sợ đến thương xót, bèn kịp đến hung”. Xét đấy, thời Mãng, Thác, Chiêu, Viêm, cũng đều như cành khô nở hoa, sao có thể lâu dài được. Ở ngôi vua nhà Hán trước sau hai lần dấy lên, còn kéo dài yên một mình ở Tây Thục, sau chót làm chính thống, thời Tiêu Vương lại dựng lên ở Đời giữa, mà nhờ dùng cỏ tranh trắng, lại có tài vương tá từ nơi nhà tranh ra vậy, thứ đến quá niên nhất nhá khá tường. Thiệu ta xem 2 nhà Hán ngâm rằng: Nhà Tần phá non sông chiến trường cũ; Có hẹn đâu dân lại thấy làm ruộng trồng dâu; Chín ngàn lại đâm mở mang bờ cõi; Hơn bốn trăm năm sưng hiệu Đế vương; Bóc mắt đã gặp Mãng và Đổng Trác; Sửa sang chín không nghĩ đến vua Cao Quang; Bấy giờ vạn vật thịnh như thế; Thành lại bởi đâu từ ao cạn; Thiệu ta xem Tam quốc ngâm rằng: Ầm ầm chân vạc dậy tiếng sấm; Xướng to chỗ tìm được tung tích; Nhạc một phương tình chưa nổi tiếng; Đao cung muôn dặm sức khó dùng; Bàn việc bình ở Long Thạch thà không ý; Ngựa uống nước sông Hà có lòng sông vậy; Tuy rằng thời Trời cũng việc người; Ai biết ngoài việc lo mất vàng. Thiệu ta xem Tây Tốn ngâm rằng: Tiếp được bình trị hãy còn lo; Yên mà quên lo chẳng phải hay; Tài ngoài nhà nói mát nhã nhặn; Chim muông ấy việc cách phong lưu; Có dao khó mổ bụng Công Sứ; Không cấy sao được đầu nguyên Hải; Một câu vạ ở đình Tịch dương; Lộn cửa Đông kêu sóng và vũ; Theo bảo Công sứ là Giả sung; Tên tự Nguyên Hải là Lưu Uyên đó.

Lấy Vận kinh Thế dùng 8, Thiên quan vật 34,

Kinh Nguyên Giáp 1, dùng Hội Ngọ 7,

Kinh Vận dùng Canh 187

Kinh Thế Tý 2233, Thế Sửu 2234, Thế Dần 2235, Thế Mão 2236, Thế Thìn 2237, Thế Tị 2238, Thế Ngọ 2239, Thế Mùi 2240, Thế Thân 2241, Thế Dậu 2242, Thế Tuất 2243, Thế Hợi 2244.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 8, thẳng quẻ Đại quá đến quẻ Hàm gồm có 12 Thế vậy. Khởi từ vua Tấn Huệ năm thứ 15 Giáp Tý quẻ Hàm đến Cách vua Đường Cao Tông năm thứ 14 Quý Hợi quẻ Độn trung trải 360 năm, Tấn, Tề, Lương, Trần mà thống nhất ở Tùy lấy nhường ngôi nhà Đường, phương Bắc 6 rợ Hồ, Đông Tây hai nhà Ngụy, không để các nước tiến hiệu vua, cùng cái thang ở cành khô, cùng với hoa toàn nở toàn tàn rụng ở cơn gió Thu. Trong khoảng Đoài Tốn, gốc ngọn đều yếu, đường Càn không kéo dài, theo Thế (đời) chia Hàm Cách, bụng chân không nơi ở, cướp giết cùng úp nhau, đổi biến không thường, họ hiểu sợ đổi nhà cùng coi bỏ mà con giết cha, nhà hưởng bầy rồng mà em giết anh. Hàm phản lại Lý không? Cách nghiêm mệnh Đỉnh, hối hận không hay quên, lỗi này lớn vậy. Kẻ thức giả bấy giờ thông xem thường biến ở Trời-Người, xiết bao cảm khái vậy. Thứ đến niên quái từ Tấn đến Đường, Thiệu ta xem 16 nước ngâm rằng: Khắp dưới Trời gọi: hoàn khu ; Đại Vũ đã từng trị nước lụt ; Áo đến lúc rách, rận lớn nhỏ ; Quả dưa khô nứt nhiều bọ sâu ; Tờ sắc rằng không nhờ giặc bỏ ; Cửa đón vội rợ Hồ loạn dân ; Hy Phụ có nói chỗ để ý ; Bấy giờ chỉ thiếu Quản di Ngô. Thiệu ta xem Nam Bắc triều ngâm rằng: Đương khi thiên hạ chia Nam Bắc ; Cứ đi sinh sao thường dứt đi về ; Chỉ bậc Bá giữ điển phép tắc ; Tiêu Khang vẫn đeo hôi tanh cũ ; Tiếng tốt Lạc dương khen Thôi Hạc ; Tài lạ Giang Biểu phục Tạ An ; Hai trăm bốn năm cùng cương ngựa ; Đừng đem gì Lễ thưởng việc làm. Lại xem triều Tùy ngâm rằng: Trước tính ngày giờ đã không hay; Tiếp nối với nhau giết hại sau ; Sâu bọ nhân dân tham đất cát ; Bùn cát vàng lụa đẹp Cơ Khương ; Sánh đất ý tứ phục nơi hoang ; Đi thuyền biện Hoài Châu cùng Vị lương ; Ba mươi năm thẳng quét đất ; Không thế thiên hạ đến nhà Đường. Chu thị Ẩn lão nói: Hoàn Ôn lấy năm Bính Thìn khôi phục Lạc Dương, thời nên tự giữ, 1 năm trốn yên, 3 năm trí hướng mọi người hòa hợp nhau, rồi sau phấn khởi sức thừa thời phương Tây có thể bẻ gãy nhà Tần, phương Bắc có thể giật nước Yên, họ há có tài hơn người vậy sao? Tần chẳng qua có tướng mạnh, Yên chẳng qua có Kệ Dung, trong đều có tài, sống theo sở giúp không chính, không đủ để chính can thiệp ta. Từ Bính Thìn đến Mậu Ngọ đã 3 năm. Giáp Tý thời theo 3 năm lâu mà đến nỗi cướp vậy, ấy thời chưa từng nuôi dân, lòng dân chẳng bền vậy, chưa từng với kẻ sỹ, khí kẻ sỹ chẳng phấn chấn vậy, ai thực chủ đây. Lỗi ông Ôn vậy, năm Ất Sửu Lạc Dương bị hãm về nước Yên, lính của Trần Hựu có 3 ngàn, Trần Kính 1 ngàn, đến lúc người Yên đến bức bách thì Hựu ra 5 phần 6 mà trái đấy, còn 1 phần cùng với Kính vừa được 800 người, ấy không đủ để giữ Lạc dương, chỉ đủ để giết Kính, Kính chết thời kẻ trung dũng ở đất Lạc chết hết, thời núi Gò nguy, đó là lỗi của Ôn vậy. Năm Kỷ Tị đánh Yên không lợi, đổ tội cho Viên Chân, Chân lấy Thọ Xương vào ở Yên. Năm Tân Mùi bình được Thọ Xương, về làm sự phế lập, để hả cơn giận, có phải do người sao? Phủ Kiên giệt Yên đánh Tấn, Tạ Ân thua lấy lại Lạc dương 15 năm, lại bị Diêu Hưng lấy mất. Tân Cung Tinh Hiến đắp thành cổ, giữ trải hơn trăm ngày, sức khuất thế cùng, về sau thấy được trước không lạy Hưng, sau không trái Tần, thoát tù mà trốn sau về nước, thời theo giữ ấy chưa phải người ấy vậy, vì Tần không có viện binh. Năm ấy Kệ Dung đức lấy Thanh Châu, đóng đô ở Quảng Cô Trúc lặng lấy Chu Dịch bói nói rằng Yên suy. Canh Tuất niên thời 1 Kỷ, thế thời kịp Tý mà Nam Yên truyền Siêu giết ở năm Kỷ Dậu cũng ngõ hầu biết trước. Song Lạc dương năm Bính Thìn lại bị hãm về Tấn, thời chưa có biết trước đó vậy. Sao vậy? Cuối cùng Lưu Dụ bình Tràng an, về gấp để cướp ngôi, sai đứa trẻ con giữ, gồm cả Lạc dương đều mất về Rợ Dịch, tướng mạnh lính đinh đều bị mưu toan hết, bao năm mà bị bỏ đi 1 sớm, há chẳng thương vậy thay, nếu Dụ có lòng với Tấn, nhịn chút chẳng về trấn yên hết thẩy theo đạo chí hướng mọi người cùng hòa hợp nhau, thì người Tây Bắc sao hay kíp lấy được, vậy do 2 bề tôi bất trung nên Trung nguyên không khôi phục lại được. Do đó nói là do người vậy, không phải do Trời vậy, là lý vậy, không phải do số vậy.

Lấy Vận kinh Thế dùng 9, Thiên quan vật thứ 35

Kinh Nguyên Giáp 1, kinh Hội Ngọ 7

Kinh Vận dùng Tân 188

Kinh Thế Tý 2245, Thế Sửu 2246, Thế Dần 2247, Thế Mão 2248, Thế Thìn 2249, Thế Tị 2250, Thế Ngọ 2251, Thế Mùi 2252, Thế Thân 2253, Thế Dậu 2254, Thế Tuất 2255, Thế Hợi 2256.

Đây là Hội Ngọ, Vận thứ 9, thẳng Đại quá đến Khốn, gồm có 12 Thế, khởi từ Đường Cao Tông Lân đức năm đầu Giáp Tý quẻ Khốn đến quẻ Đoài, đến Tống Nhân Tông Thiên thánh năm đầu Quý Hợi quẻ Tỉnh gồm 360 năm, nay đến Tống Thái Tổ Càn đức năm đầu Vị tế chỉ kịp 10 đời. Bậc Nho giả trước đã qua không dám bàn đời này vậy! Xét Đường đấy 40 năm thẳng quẻ Đoài, Đoài thiếu nữ làm thiếp, thứ tự giữ vàng mùa Thu. Đường Lý Mộc thu về mùa Thu, nhận vàng theo Cách con gái, vợ được mà lỗi cùng vợ già đẹp mà khó lâu dài, tin vậy, bèn lại nóc nhà theo Vy Nạo Trạch ủy cho vây cánh khi 1 khí Chấn khởi cơ đồ thịnh, lại về Linh Vũ Hà Bồ tát Kim cương, lính con gái gối nhờ trong thời gian quan hoạn lộng quyền, ngoài phiên cướp xe vua, cái hạn về con gái và tiểu nhân trọn đời Đường vậy, tức là trước sau lan khắp qua, hai lần mất, hai lần dấy lên, đấy bởi người trung hiếu, mất bởi hoạn quan và tỳ thiếp, dương không thắng âm, đại khái thấy vậy. Đến như Lương, Đường, Tần, Hán, Chu thay đổi nhau lấn ngôi vua. Kịp đến nhà Tống dấy lên, trời sinh bậc thánh nhân, từ đấy thiên hạ thái bình. Dịch sau cùng quẻ Vị tế, Thiên tử biên niên quái mà thôi ở đây, há không có ý sao? Trộm vì xem thêm ở sau, thì vua Tống Tổ mở nước, chính thẳng Tụng làm Sư mau tốt lúc ban đầu. Lý (lên) ngôi không phải dùng đến việc binh nhung, phàm vì: đếm gốc cây dâu bền chặt (tiên hệ đến bào tang), bản tấu thay đổi, Hoán Hán đến hào, đồ Vị tế Tổ dùng sau. Đến đời Thái Tông, Chân Tông, Nhân Tông, 3 vua 1 đức là bởi vận đương Khốn mà càng hưởng vậy. Như Vận thứ 10, Thế thứ 12, thẳng Đại quá đến Tỉnh, khởi từ Tống Nhân Tông niên hiệu Thiên thánh thứ 2 năm Giáp Tý quẻ Tỉnh đến Nhu, sau đến Minh Thái Tổ niên hiệu Hồng Võ năm thứ 16 Quý Hợi quẻ Đại súc, trong khoảng giữa Tống nguyên gồm cả kim niên quái, việc ứng bậc tiên hiền, chia rõ ràng chẳng phải kẻ hậu học theo hay lấy ý riêng mà tường tận, còn thì đại khái lấy phụ vào kinh Thế quan vật cho trọn vẹn, Thiệu tử ta xem Hữu Đường ngâm rằng: Trời sinh thần võ đặt trung ương, chẳng dễ hung thần đánh đuổi được; Đời Trinh nếu không gió giữ dội; Đời Khải sao khí ngùn ngụt lên; Ngồi cao mới thấy non sông mạnh; Vào hè mới biết ngày tháng dài, trong hai trăm năm hay thống nhất; Sự tuy thành đạo vầng sáng không. Xem Ngũ Đại ngâm rằng: Khi cuối đời Đường rường vua đổ; Sinh linh thiên hạ bị nhiễu nhương; Xã tắc yên nguy lệ quân lính; Triều đình khoanh tay phương phên dậu; Mùa đông sầu lạnh vốn không thoát; Tị Mùi niên sao nhỏ còn sáng; Năm hai năm dòng, họ đổi năm; Mới biết quét trừ đợi Chân Vương. Sinh thế Thiệu ngâm rằng: Hy Nghiêu Thuấn Vũ Thang Hoàn văn; Hoàng Đế Vương Bá vua tôi cha con; Đạo lý bốn bậc Tần gây hạn; Hán Đế hai nhà, lại chia ba; Đông Tây rối Nam Bắc bởi Ngũ hổ; Nhập tính cương kỷ Trời hầu cháy; Không có Đường Tống nước không còn; Ngàn đời luôn bởi người Trung nguyên. Thiệu làm Kinh Thế nhất nguyên ngâm rằng: Trời đất lồng chở mà cao quá; Trời Trăng đi lại không nghỉ ngơi; Tuế niên trên dưới khó lường số; Một nguyên nói lý còn dễ biết; Số đến quá vạn thật mơ hồ; Sách chép dấu vết một suốt đấy; Minh trải người làm để đời sau.

Nguyên 12 có Hội, dùng quẻ Vận chia vậy, xem quẻ Thế, quẻ Thế chia vậy, xem niên quái, bèn niên quái 1 thẳng, trị loạn ứng khác nhau cớ sao vậy? Chúc Thị bảo là: thẳng niên quái cùng là quẻ ứng khác nhau, là ở quẻ trực Vận, trực Thế thay đổi nhau 5 mà thành chương, không khá làm điển yếu vậy. Hơn nữa, niên Vận ứng Trời, quanh quẩn ở Người, như Tùy mở Thái là tốt vậy. Âm theo Dương thì tốt, Dương theo Âm thì hung, dưới ra lệnh trên thường theo không thể Thái, cố đến ở trên thì hung vậy. Âm cô Dương là hung, Dương cô Âm là cát. Con sửa lỗi cha, lỗi chẳng đến: Bĩ vậy. Bĩ mà đến dùng Tùy Thái, mà đến dùng Cổ, trên xem vận trời, đạo ở quanh Càn, Bắc mà đến Nam, Nam mà đến Bắc, dưới nghiệm khí đất, đạo ở chuyển Khôn. Đó là sự kỳ lạ về nghiệm ứng, cũng tự khó lường. Vua Hán Võ đánh hung Nô quẻ Phệ được cành khô nảy hoa, thua binh ứng niên quái ở quẻ Đại quá. Đặng Ngãi vào Thục mơ thấy ngồi trên núi có nước, ứng xe tù niên quái quẻ Kiển cùng Hàm chóng Hằng lâu. Nam Bắc triều Tùy thẳng quẻ Hàm, Hán Văn Đế, Minh Thái Tổ thẳng quẻ Hằng, văn Đế tên là Hằng, hóa nên đạo lâu dài, Thái Tổ dựng niên hiệu Đạo Minh, ứng vào quẻ Dịch: mặt Trời mặt Trăng được Trời mà hay chiếu lâu dài, các loại đó có phải ngẫu nhiên sao?

Nguyên kinh Hội cất Năm thấy Tháng. Hội kinh Vận cất Tháng thấy Ngày. Vận kinh Thế cất Ngày thấy Giờ. Năm 1, tháng 12, ngày 30, giờ cũng 12. Quy giờ đầu có 8 khắc, bèn dùng đắp đổi Thế tóm tắt tượng mà xem vậy. Đắp đổi Thế, tóm tắt tượng đều 4 quẻ chia 8 khắc, Kiêu thị Ứng Hoài nói rằng: 1 giờ định đúng 1 ngày, 30 giờ là 2 ngày rưỡi định 1 tháng, mỗi tháng ngày mồng 1 giờ Tý đến ngày mồng 3 giờ Tị là tháng Giêng, từ ngày mồng 3 giờ Ngọ đến mồng 5 giờ Hợi là tháng 2. Mỗi tháng lại định một năm, mà tháng đủ định 30 giờ đúng 1 tháng. Tháng thiếu có 29 giờ cũng đúng 1 tháng. Tháng đủ thì có 360 giờ, 12 theo 30. Tháng thiếu thì 1 tháng có 348 giờ, 12 theo 29. Dẫn mà cho là phải đấy, trong 1 Nguyên lớn (đủ) nhỏ (thiếu) đều không sai vậy. Đem những điều kiện đó để tìm Nguyên-Hội-Vận-Thế, 12 cùng 30 lần lượt nhân lên, số đều cất lên. Rất nhỏ chẳng gì bằng sao, thì 30 Phân làm 360 Sao, 1 Sao thừa ra, thông qua Luật, Lữ, Thanh, Âm tính không kể Nhuận, thì từ đây trở lên đến ngày-tháng-năm đều 24 Nhuận, 24 Nhuận ấy là 360 số thừa Phân tích, sử dụng điều này bèn được phép Hỗ thể ước tượng, hay số Vận là số Ngày, số của Thế là số Thời (giờ). Cất giờ-ngày-tháng, tức là thông qua Giờ thì biết Thế, học giả tóm tắt tượng ấy mà nên vậy.

Sách Chu Lễ chép 3 Kinh Dịch: nhà Hạ gọi là Liên Sơn, nhà Thương gọi là Quy Tàng, nhà Chu gộp mà dùng gọi là Chu Dịch. Trần Hy Di bảo rằng: vua Hy Hoàng mới vạch 3 hào thành quái, chồng lên làm 64 quẻ mỗi quẻ 6 hào, không lập ra văn tự, khiến người trong thiên hạ xem tượng mà đã có thể như tượng thì cát, hung ứng khi trái tượng Trời nên cái hung phản lại. Đời sau ứng quẻ, vạch không tỏ tường, đạo Dịch không truyền dùng, Thánh nhân bất đắc dĩ mà có lời nói “Từ”. Học giả bảo Dịch chỉ dùng thế, lại không biết có vạch vậy. Xét Liên Sơn có 8 vạn chữ, Quy Tàng có 4300 chữ, Liên sơn dùng 36 chước, Quy tàng dùng 45 chước, mà tên quẻ như Khôn là Thích, Khảm là Bạc, Chấn làm Ly, Nhu gọi là Nhục,, Vô vọng gọi là Vô, Tùy gọi là Cù, Bác gọi là Bộc, Hàm gọi là Khâm,…, hào từ như Đại hữu dùng Phệ hạp gặp Đại hữu dùng Càn nói rằng: cùng trở lại ở cha, kính như vua, sở truyền chú thích, sở dẫn như cù, hữu từ, hữu hồ. Kịp đến quân tử răn đi xe, tiểu nhân răn đi không; đều là 2 Dịch. Nay từng tên quẻ Chu Dịch, âm nghĩa phần nhiều gồm như nhau, song bàn về Chu Dịch thì Càn Khôn định trước, 6 con thứ tự sinh ra giao lẫn nhau mà thành 64 quẻ, trong đó đủ 384 hào, xem cát hung cốt ở “trung - chính”, hào 2-5 dưới trên giữa 2 thể, hào 3 -4 một quẻ giữa toàn thể. “Chính” thì vị dương hào dương, vị âm hào âm, trái thế không phải là “chính”, đó là điều cốt yếu lớn vậy. Thông quá nghiệm rằng: Bỉ Hy làm Dịch, Trọng-Mạnh đưa duy Kỷ hành, Chu Văn thêm thông tiết 8, ấy 8 chuyển thứ tự 384 hào để ràng buộc cài mối Vương mệnh, cho nên “chính” là theo gốc mà muôn vật tri lý, mất chỉ hào lý mà sai tới ngàn dặm. Trọng nói ở đây là 4 giữa (mạnh-trọng-quý) mệnh đức thời Chấn-Đoài-Khảm-Ly, “duy” ấy là 4 duy, kỷ hành thời Cấn-Tốn-Khôn-Càn. Tượng-từ-biến-chiêm, Chu Công nhân tựa của Văn Vương mà cả đủ, xét đồng ý chí, không ngoài “trung-chính” làm cốt yếu. Kinh lấy “trung-chính” mà làm biến, làm giao, tả hữu quanh hợp nhau. Chúc thị nói: Càn Khôn là Đại phụ mẫu, quẻ đều đi phía hữu theo Thái dương vậy. Phục-Cấu là Tiểu phụ mẫu quẻ đều đi phía tả, bắt chước theo 4 mùa vậy. Quẻ đi bên phía hữu, 1 sinh 2, 2 sinh 4, 4 sinh 8, 8 sinh 16, 16 sinh 32, 32 sinh 64, đến chỗ trở lại sinh 17 quẻ mà lại hội số vô cực, tức là Nguyên hết lại có lý Nguyên vậy. Quẻ đi cùng cực đấy tức là Nguyên hết. Quẻ đi phía tả, từ 1 đến 2, thứ tự cùng nhân nhau, tiếp nhau, vòng quanh không manh mối, là lý năm hết lại đổi năm khác vậy. Hai phía đó nghịch thuận đi khác nhau, số dùng sai đến vạn vạn mà cùng cực, Dương duỗi ra, Âm co lại. Thiệu ta bảo Nguyên có 2, theo thuyết mà tả hữu suy đấy, tả dương hữu âm, như Cấu hào 1 biến sinh thì Phục lại được 1 dương, biến hết thời đến quẻ Quy muội, trước sau gồm 22 dương, rồi đều được Ký tế mà trai có vợ. Bỏ 4 tượng 80 âm hợp thượng thể 48 dương làm thành 112, Đông chí trở về sau lẻ thuận, dương trước âm sau, thì âm lại theo dương vậy. Khôn 1 biến sinh Cấn, được 1 âm hết 6 biến thành Tiệm, trước sau 32 âm đều được Vị tế mà gái có chồng, gồm Cấn Khảm 4 con dương, hợp với thượng thể 48 âm làm Âm (tiếng) 152. Từ Hạ chí trở về sau là nghịch, âm trước dương sau, nên dương phải theo âm. Còn 1 mà 2 làm Quải, mà 4 làm Đại tráng (đồ tròn nghịch Càn 1, Quải 2, Đại hữu 3, Đại tráng 4, Tiểu súc 5,…) đến 64 là Cấu, đều trở lại theo cung. Mặt Trời cùng Trời hợp ở Quy muội-Tiệm rất thay nhau Ký tế-Vị tế, hay Thái-Bĩ rồi lại thay nhau Quy muội-Tiệm. Quẻ Dự giao Tiểu súc làm Thái, làm Ích, Lý, giao Dự làm Bĩ, làm Tốn, mọi…mất chữ…Tụng, Tấn, Minh di biến thành Thái, Bĩ, Ký tế, Vị tế; cùng Di, Trung phu, Đại quá, Tiểu quá biến làm Tổn, Ích, Hàm, Hằng; thế nay tượng quẻ mà giao biến quanh hợp kỳ diệu khá tả hữu gặp gốc (biết suốt ý sâu kín) vậy.

Chia Thượng kinh làm 18 cung, Hạ kinh làm 18 cung, hợp làm 36 cung. Kinh Dịch thì Thượng kinh có 30 quẻ, gồm 30 x 6 = 180 hào, số quẻ trùng Thượng kinh là 4, thêm số hào trùng 180 + 24 = 206 hào. Hạ kinh có 34 quẻ, gồm 34 x 6 = 204 hào. Số quẻ trùng Hạ kinh là 2, thêm cả 12 hào trùng là 204 + 12 = 216. Đây là đồ số 36 cung. Mỗi 1 quẻ gồm 2, cùng trở đi trở lại đối nhau, khu dùng lại làm 1 cung. Đường ngày của kỳ 1 năm gồm 12 tháng, mỗi tháng chia thành 6 hậu, mỗi hậu đều có 5 ngày, như vậy 1 năm có 72 hậu = 360 / 5, số 72 này tính đôi thẻ Càn dùng trùng là 36 x 2, tương đương với tính 3 lần quẻ Khôn dùng trùng 24 x 3 = 72 vậy. Số 36 cung này, 6 theo 6, 4 theo 9, 3 theo 12, 2 theo 18 đều về 36 cung. Theo Hán Dịch, ở kinh trên bầy 18 cung tương đương với 30 quẻ, trong đó phản dịch có 6, ở kinh dưới bầy 18 cung tương đương với 34 quẻ mà phản dịch là 16, bớt dịch ấy 2, gồm 12 dùng 16 làm 28 cung, gồm 2 dùng 6 làm 8 cung, gồm 8 cung dùng 28 cung làm 36 cung, diệu với kinh trên 30 phối kinh dưới 34, quẻ không bầy bằng, hào không đều bằng, mà trên dưới đều bằng đều 18 cung, thời lấy kinh dưới Trung phu, Tiểu quá bất dịch, dùng 2 quẻ dương kinh trên Di, Đại quá bất dịch, dùng 2 quẻ bất dịch phối kinh trên với Càn-Khôn-Khảm-Ly, dùng 4 quẻ bất dịch phối kinh dưới với Chấn-Cấn-Tốn-Đoài, hỗ dịch dùng 4 quẻ. Cho nên quẻ không bầy bằng, hào không đều nhau mà gần đều vậy, theo nhiều ít làm đối nhau, hết thẩy đều hợp tự nhiên vậy. Vị tế 64 là số trùng quái, tính gồm cả 8 kinh quái tự nó ở khoảng quay về vần chuyển mà 72 số toàn vẹn vậy. Kinh chỉ 64 quẻ gồm 2 quẻ làm 1 cung, ứng chỉ 32 cung, lại thêm 4 vậy mà gồm 8 quẻ cùng bèn 36 cung. Xét trên dưới 2 kinh đều 3 khu, mỗi khu 12 quẻ có 72 hào. Càn khôn đầu khu thứ nhất, là Thái Bĩ đầu khu thứ 2, là Bác Phục đầu khu thứ 3, ba (3) theo 12 thì ở kinh trên 30 quẻ thực bao 6 quẻ ở trong phản đối trùng kiến, Hàm Hằng đầu khu thứ 4, Quải Cấu đầu khu thứ 5, Phong Lữ đầu khu thứ 6. Lại 3 theo 12 thì ở kinh dưới 34 quẻ thực bao 2 quẻ ở giữa phản đối trùng kiến, kinh trên ít hơn 4 quẻ mà quẻ sở bao lại nhiều hơn 4, kinh dưới nhiều hơn 4 quẻ mà quẻ sở bao ít hơn 4, cho nên đều 18 cung, đều 36 quẻ mà đến quân bình, thông mà nói theo phản Dịch 28 quẻ, 2 quẻ hợp 1 cung, bất dịch 8 quẻ, mỗi 1 quẻ chuyên 1 cung, chia nói chuyên danh của quẻ, 64 quẻ, 1 quẻ chỉ về 1 lần xem, hợp nói cung gồm lệ 36 cung thì 1 quẻ đều làm 2 lần xem, tuy không đổi chuyển cung, cũng đều làm 2 lần xem. Kinh trên 6 quẻ gồm 6 mà 30 thêm 6, kinh dưới 2 quẻ gồm 2 mà 34 thêm 2, cho nên số vừa tương đương vậy. Kịp đến kinh trên dương 52 âm 56, kinh dưới dương 52 âm 56, đều 108, hợp lại là 216 ứng số Càn sách, gồm 2 quẻ trùng toàn thời 432 hào, 432 này là số hào của 72 quẻ, thâu tóm làm 36 cung biến hóa. Quẻ 64 được 384 hào, lấy 24 hào của 4 quẻ, đúng hợp sách 360 của Càn Khôn, chỉ lấy hào số của 60 quẻ đương đấy, còn thừa 4 quẻ 24 hào. Hoàng cực đã tạo cho Thiệu ta lấy ý ở Hy đồ 4 chính Ly-Càn-Khảm-Khôn, 4 quẻ chính của Kinh Phòng quái khí lấy ý ở Văn đồ là Khảm-Chấn-Ly-Đoài, 4 quẻ chính này chia thẳng 24 khí, thâu tóm 72 hậu, đều chuẩn cho Đại diễn (số 50), treo 1 lần đếm 4 về kỳ (lạ) tượng, phép Nhuận cũng đi khắp Trời 360 độ 4 phân, số phân đủ của 1 độ, mà đó lại bao 8 quẻ 48 hào ở cung phản đối trùng kiến thì dựa vào 4 theo 12, kinh trên được Càn sách qua số sắp xếp làm 12 ấy 3, kinh dưới được Càn sách số cơ chứa làm 12 ấy 1 để hợp ở đương kỳ sách số chung lẻ, gồm 24 dùng 48 được 72 sách, so sánh giờ của ngày gồm thừa 6 ngày. Chính Ngu thư 400 có 6 tuần có 6 ngày lấy tháng Nhuận định 4 mùa, tháng rằng năm.. Thiệu ta tán Thái nguyên, biết phép lịch, lại biết lịch lý, trộm bảo rằng tức là tự tán (khen), xem lời nói về xem 36 cung, khá lấy biết vậy. Song trong thơ nói: Thiên căn bảo rằng Phục, Nguyệt quật bảo rằng Cấu, từ Phục đến Cấu, từ Cấu đến Phục, giữa Tý-Ngọ chia đều 32 quẻ mà đều có quẻ bất dịch, ở phía tả thì Di, Lý, Trung phu và Càn Ly, ở phía hữu thì Đại quá, Tiểu quá gồm cả Khảm Khôn, qua lại tráo trở mà suy, như Dịch số cung ở kinh trên dưới: cung ở Phục về phương tả mà phản đối quẻ hữu phương cùng cung, ở Cấu về phương hữu mà phản đối quẻ phương tả, đều 14, lại hư hợp trùng kiến dùng 4, thâu tóm cả tả hữu đều 18 cung, thời cung lấy đồ tham thác làm chỉnh tề, theo số là quân bình thì 1, thực là khí bình phân của 4 mùa, suốt 72 hậu. Mùa Xuân là cao nguyên đầu 4 mùa, lưu đi trong sự trăng sinh thu tàng, cho nên rằng 36 cung đều là Xuân vậy, đến dùng Nguyệt quật là biết vậy. Thiên căn là biết người, Hoàng cực bầy Nhân và Vật làm 32 vị, đều chia 16 bậc, là Vật thì lấy bay-chạy-cây-cỏ, dùng chạy-bay-cây-cỏ sánh với Tốn-Khảm-Cấn-Khôn, người thì là khu lấy sỹ-nông-công-thương sánh với Càn-Đoài-Ly-Chấn, đại khái khi Càn giao với Tốn làm 1, thì 1 lần biến theo lúc đầu mà làm Cấu, tán khác chia lớn làm nhỏ, lấy khoảng đến Khôn làm ngàn, ngàn thời trên mà khởi ở bay, bay dùng lớn, dưới mà cùng cực đến cỏ, cỏ dùng nhỏ, mà loài Vật khá biết. Theo Cấu đến Nguyệt quật là xem (quan) vậy, Khôn dùng giao Chấn, Khôn làm ngàn, ngàn lần biến theo lúc đầu làm Phục, thâu tóm thể dài nhỏ làm to. Lấy Khảm đến Càn làm 1, 1 thời dưới mà khởi ở thượng, thượng dùng nhỏ, trên mà cùng cực thì đến sỹ, sỹ dùng lớn mà nhân phẩm khá biết. Theo Phục đến Thiên căn là Quan (xem) vậy. Cho nên Thi rằng: “vậy tường ở trong. Thiên thứ 11”. Vì Thiệu ta xem Người và Vật, không lìa số cung dùng qua lại, ấy thể vậy. Có kẻ nói: lời nói 36 cung không nhất trí. Có thuyết lấy 12 vạch đơn 12 vạch kép đương đấy ấy. Có thuyết lấy Càn 1 đến Khôn 8 đương đấy ấy. Hợp trở đi trở lại để tìm giải này, vốn hợp để xem kỷ ý thơ đường có mỗi quẻ đều được ý thứ 36 cung, đến Cấu Phục mà bàn qua đi thì từ dưới xem lên trên, theo hào Sơ biến đến hào Trên, lộn lại thì từ trên xem xuống dưới, theo hào Trên biến xuống đến hào Sơ. Phàm 1 hào biến 1 quẻ, 1 quẻ lại được 6 hào, làm 6 lần 6 là 36, tức là hào ấy biến theo thâu tóm mà gọi đấy làm cung, như quẻ Phục thâu tóm: Khôn, Lâm, Minh di, Chấn, Truân, Di, đều 6 hào, quẻ theo thẳng là quẻ Cấu thâu tóm: Càn, Độn, Tụng, Tốn, Tỉnh, Đại quá, đều 6 hào dùng loại quẻ sở trực. Trong lúc nhàn dỗi qua lại xem ngắm quẻ Tùy mà được 36 cung, càng diễn càng nhiều, tức là khá được sinh, sinh là cái cơ không nghỉ ở Nguyên, Nguyên dùng trong cùng nối tiếp nhau mà 1, 1 xuống đến ngàn ngàn, ngàn ngàn lên đến 1, 1 đem lên Người và Vật to nhỏ đều thâu tóm ở khoảng trong, xem thuyết này mà Thiệu ta vịnh Hoàng cực quan vật ở Nguyên-Hội-Vận-Thế mà thấy lòng thiền định, không phải đem Dịch nói phiếm mà nói vậy, nghĩa tức là căn cứ ở Dịch mà suy, cũng chẳng gì mà chẳng cùng với lời nói, cùng hiệp hợp vậy, giữa lại để đợi đính sau, gồm nghĩ miệng đạo ngay. 36 cung chia trùng 6 cung, Càn-Khôn-Ly qua Khảm-Ly thông ở trên, lại chia 6, 4 lại trùng 2, Tiểu quá, Trung phu 18 cùng (ở dưới), kinh trên kinh dưới toàn 36 qua lại hào hợp 8 sơ cuối cùng, chở theo tráo trở song song bầy ra, đều là Xuân tìm 1, 1 dương ở trong quẻ. Thiệu ta điền đồ phát minh công Phục Hy, bỗng nhón lấy thẻ thần suy ý thơ, Nguyệt quật Thiên căn hỏi ông này.

Đồ tâm chứa tổng Hội. Đồ lấy số 4 quẻ làm ngang, mà trên dưới giao nhau làm dọc. 1, 2, 3, 4 là số Càn-Đoài-Ly-Chấn. 5, 6, 7, 8 là số Tốn-Khảm-Cấn-Khôn. Trong ngoài ngang đấy mà đều liên hệ lấy 2. Liên hệ ở ngoài vẫn là tròn, đồ đổi hợp dùng thứ tự quẻ. Liên hệ ở trong vốn là vuông, tròn là thẳng liền dùng thứ tự quẻ, trở đi trở lại để bầy, đều bảo rằng 1 ngang 8 dọc, là khá vậy. Ngang cùng với ngang đối, bỏ 9 ấy 4. Dọc cùng với dọc hợp, đều trùng ở 9 ấy cũng 4. Bỏ 9 ấy 4, 1 đến dùng 2 đến dùng 7 ; 6 đến dùng 6 ; 4 đến dùng 5 gồm 4 lần 9 là 36 mà mang toàn vẹn vậy, đều trùng ở 9 ấy 4, như Quải đến Bác, Lý đến Khiêm, Phục đến Cấu, Tiểu súc đến Dự, 1 thời Càn Khôn đến 9 (đồ tròn từ Càn đếm thuận hay nghịch đến 9 thì đều biến), tráo trở Đoài Cấn dùng 9, 1 thời Càn Khôn đến 9, tráo trở giao Chấn Tốn dùng 9, lệ mà tìm đấy đều được 2 lần 18 là 4 lần 9 thành 36 số, mà dọc hết thẩy lấy đủ vậy. Cho nên 8 quẻ giao lẫn, chẳng gì là không 0-9 số. Đồ hợp cả lại, trên dưới cắt mà làm đôi, thời âm dương cương nhu thái thiếu chia vậy, cũng trên dưới suốt mà 4 đấy, sen hàng ngũ lẫn lộn biến hóa là hợp vậy. Lấy lòng giải đồ này, dọc ngang như một, số thâu tóm ở Hà Lạc, lý hội ở Hy Văn, hoặc dùng đấy tùy việc mà xem, tức số mà được quẻ, nhân số quẻ mà giờ ngày định hào, lại có thần minh ở trong đó vậy.

HẾT QUYỂN 3

LỜI BẠT

Một quyển Hoàng Cực Kinh Thế, luận suy số năm xưa nay, bắt đầu từ năm Giáp Thìn đời vua Nghiêu, đều chép đạo trị loạn. Soi gương đời xưa làm khuôn phép cho đời nay, biết được lại do ở số. Trước kia, Khổng Tử san định Kinh Thư, sau cùng là Thiệu Khang Tiết làm Hoàng Cực tóm ở 1 Nguyên, trước đã biết triều nối đời mà bảo kín cái ý chưa có thể biết vậy. Lưu Đẩn chép lại Tự ngôn, rộng ý nghĩa sâu xa có công cho thế đạo, sách này mới đến chỗ nghĩa khó để làm cho sáng rõ ra, chú thích thêm, hay làm bản đồ để rõ ràng thêm, tuy chưa có thể mở rộng được ý nghĩa sâu kín, dẫu không khỏi chê là làm rối, cũng không lấy ra ngoài các thuyết. Song lấy việc xưa nay đều bàn về Dịch lý thấy Dịch là rộng lớn, chỉ ở người ta tự giác ngộ. Biết đâu người sau đọc Hoàng Cực lại sinh thêm cái ý nghĩa thần diệu mà rõ cùng Trời Đất vậy.

QUAN VẬT NGOẠI THIÊN

HÀ ĐỒ THIÊN ĐỊA TOàN SỐ

Số trời 5, số đất 5, hợp mà làm 10, số trọn vẹn vậy. Trời lấy 1 mà biến 4, đất lấy 1 mà biến 4. Số 4 này có Thể vậy, mà số 1 không có Thể vậy, ấy rằng Có Không đến cùng cực vậy. Thể trời số gồm 4 mà dụng lấy 3, không dụng ấy 1 vậy. Thể đất số gồm 4, mà dụng lấy 3, không dụng ấy 1 vậy. Cho nên, không thể chưng dụng 1 lấy cảnh huống tự nhiên vậy, chẳng chưng dụng 1, lấy cảnh huống Đạo vậy, dùng lấy 3, đó là cảnh huống trời-đất-người vậy.

Số Hoàng cực gốc ở Hà đồ, đầu tiên sáng tỏ toàn số trời đất, cử cương lĩnh (rường lưới và cổ áo) vậy. Số của Đồ toàn ở 1 – 3 – 5 – 7 – 9 là số trời gồm 5 số, 2- 4 – 6 – 8 – 10 là số đất gồm 5 số vậy. 2 và 5 hợp mà 10 số toàn vậy. Số trời đất đều 5, đều lấy 1 biến 4. Càn là trời dùng 1 mà âm dương thái thiếu chia, Khôn là đất mà cương nhu thái thiếu chia vậy. Phàm biến mà 4 tượng, tượng du! Trời đất dùng 4 Thể, rõ ở có số thoái đều 5 dùng 1 ; Thể âm ở không có, Thể thời 1 động 1 tĩnh, đều là Thể ở cùng cực ; sinh số cực ở 4, thành số cực ở 9, cũng làm 4 ấy làm có dùng cực ; đại diễn (số đại diễn có 8 cái) chưng dụng số lấy đấy, không thể thời trông 1 động 1 tĩnh, đều chẳng xét đến số cùng cực. Sinh số trống không 5, thành số trống không 10, cũng làm 5, đó là không dùng cùng cực. Đại diễn dùng khai số lấy đấy thẳng hoặc cũng ý, vô cực mà thái cực du! Bảo rằng số 5 không dùng cùng cực, thành số 10 là có dùng cùng cực, tựa như chẳng phải dẫu ý, duy đó toàn số 5 mà thể 4, Thể số 4 mà dụng 3. Càn 3 hào biến Đoài Ly Tốn, bỏ Tốn về Khôn, thời Tốn là 1 chẳng dùng. Khôn 3 hào biến Cấn Khảm Chấn, bỏ Chấn về Càn, thời Chấn là 1 chẳng dùng, dẫu như không thể dùng 1 bọc ở trong Thể, mà 4 biến hóa vẫn tự nhiên, bởi đấy mà ra chẳng dùng 1, còn ở cái chọn dùng 3, đầy rỗng đến đạo rất mực, bởi đây lấy suy, đều có 4 mà chỉ dùng 3, là sao vậy? Bốn mùa sinh vật, dùng Xuân Hạ Thu Đông, thời cùng cực vậy, bốn phương sinh sản vật, dùng Đông Nam Tây Bắc, thời hoang mong vậy, 4 thì 1 xem vật thấy trước, sau tả hữu, sau nữa thời là lưng vậy. Trời đất người chăng, chẳng phải 4, đủ dùng chỉ 3, khá biết vậy. Phương chỉ rằng đấy, nói chẳng hết ý, dẫu cảnh tượng như thế, cho nên ước lượng để nói, huống chi là vậy.

Xét số Hà đồ 5 số sinh, 5 số thành, là số Hoàng cực gần gốc đấy, sinh số là số lẻ. Lấy 1, 2, 3, 4 ghi theo thứ tự, 5 là số ở giữa, không dùng thành số, đó là số sách (thẻ gấp, việc to biến vào, cái thẻ từng mảng to gấp lại được gọi là sách). Lấy 9, 8, 7, 6 ghi theo thứ tự, sự thực số là 10, là số danh (đầy) chẳng dùng. Số sinh-thành đều dùng chỉ gồm có 4 số. 4 gập 9, được số của Lão dương, có sách số là 36. 4 gập 8 được số của Thiếu âm, có sách số là 32. 4 gập 7 được số của Thiếu dương, có sách số là 28. 4 gập 6 được sách số của Thái âm, có sách số là 24. Mà lại 6 nhân 9, 8, 7, 6 được 54, 48, 42, 36. Theo bản sách số trước, thì đều là nửa sách số thêm vào, để hợp toàn sách 18, 16, 14, 12 đó vậy. Bèn tính gần 54 ở 36 làm 10 ấy 9. gồm 48 ở 32 làm 10 ấy 8, gồm 42 ở 28 làm 10 ấy 7, gồm 36 ở 24 làm 10 ấy 6, còn như vậy 9, 8, 7, 6 đều hợp 5 với 10, để trôi đè bên trong, há chẳng phải tự nhiên sao?

Lại xét số trời đất bắt đầu 1 với 2, hợp 2 số này mới được một số “thực”, số ỷ là số dựa vào, 1 dựa 2 mà được 3, cũng như 2 dựa 1 vậy, số giữa trời đất là 5 cùng 6 hợp 2 giữa được số, Càn số chỉ 2, 50, 2, 60 vậy. Dẫu rằng số 5 và 6 là số giữa trời giữa đất hợp đó vậy, sau cùng số 9 với 10 hợp 2, sau được dụng số và thể số là 10 còn 1 mà 9 bỏ 1, cho nên 10 thì ở mà 9 thì đi vậy. 10 bỏ 1 mà 9 tức là bỏ 15, bỏ 1 mà 4 dùng tức bỏ 5, 50 cũng chẳng phải bỏ cái bao trống, dẫu như giữa 1, 4, 2, 3 thì chẳng dùng chẳng phải 5, hơn nữa 1, 9, 2, 8 chẳng dùng chẳng phải 10, chẳng dùng mà diệu dụng vậy, bèn 4 mà lại bỏ 1 vậy. Trời đất người lấy chẳng chưng dụng 1, thừa thãi dẫu rằng chưng dụng 3, là Đạo rõ rệt điều nhân, dẫu sự dùng nầy há ngoài tự nhiên đó sao? Này, 1 mà giao 4, thì 1 thực mà 1 hư, rất hư mà ngậm rất thực. 4 mà dùng 3, thì 3 động mà 1 tĩnh, rất tĩnh mà đủ rất động vậy.

Kinh Dịch có (số đầu) thực số là 13 thôi. Tham (sen vào) trời ấy 3, 3 mà lại 9. Lưỡng (hai) đất ấy gấp 3 mà 6. Tham trời lưỡng đất, mà số dựa vào chẳng phải số chính của trời đất vậy. Ỷ (dựa) là phỏng theo, là nghĩ định vậy phỏng theo số chính trời đất mà sinh vậy.

Lấy số bắt đầu của trời đất mà nói: trời 1 đất 2 mới hợp mà làm 3, đó là số gốc của Thái cực. Ta, âm dương chia 2 nghi, bên tả lẻ, bên hữu chẵn, là số gốc du! Chân (thực) là Nguyên (đầu) ấy vậy. Cho nên Dịch có số chỉ đều 3 mà thôi. 3 hợp 3 mà 9 đó là tham thiên, Càn 3 vạch, mỗi vạch bao hết đó vậy. Gấp 3 mà 6, đó là lưỡng địa, Khôn 3 vạch, mỗi vạch chia 2 đó vậy. Cho nên Càn vạch rằng 9, Khôn vạch rằng 6. 6 đoạn bớt 9 dùng 3. 3 liền thêm 6 dùng 3, số dùng đó thấy Càn Khôn số toàn thiếu vậy. Duy ấy Càn số tự 3 mà 9, mà 4 gặp 9 được 36 thẻ. Khôn số tự 3 mà 6, mà 4 gặp 6 được 24 thẻ. Lấy Nguyên kinh Hội 360 vận, gấp 10 thẻ chia 4 đấy, đều 90, nhân Càn 9 vậy. Lấy Hội kinh Vận 240 vận, cũng gấp 10 thẻ, chia 4 đấy, đều là 60 nhân Khôn 6 vậy. Phàm Tuế sai Phân Sao Ngày Tháng đầy rỗng, bởi đó mà suy, dẫu có vô cùng không có thể ngoài vậy. Cho rằng ỷ số đó là thế nào? Là đếm thẻ, số thẻ ỷ dựa vào số đó mà khởi, tức là vuông tròn vây tắt, thừa trừ thêm bớt, chẳng phải câu nệ chính số trời đất, cốt yếu đều nương nhờ nghĩ định chính số để sinh ra, do vậy “ỷ” là nghĩ định vậy, nhờ thẻ cỏ thi để nghĩ định trời đất, mà hào lý chẳng mất, Thánh nhân sở dĩ giúp ngầm thần minh đó vậy, hạ duy đếm cỏ thi, người nay tỏ rõ phép toán, mà nghĩa ỷ số khá thấy vậy.

Đại diễn Kinh Dịch là số gì vậy? Là ỷ số của Thánh nhân vậy. Số trời 25 hợp lại làm 50, số đất 30 hợp lại làm 60. Do đó 5 ngôi cùng được mà có số hợp. Thi là Tiểu diễn cho nên 50 làm Đại diễn. Bát quái (8) là qủe dùng Tiểu thành, thì 64 quẻ làm Đại thành. Đức Thi tròn, lấy số hướng trời, cho nên lần thứ 7 là 49. 50 ấy còn 1 mà nối đấy. Đức quẻ vuông, lấy số hướng đất, cho nên 8 lần 8 là 64 ; 60 là bỏ 4 mà nói đấy. Thế là số dụng, quẻ là số Thể. Dụng lấy Thể làm nền, do vậy còn 1 Thể lấy Dụng làm gốc, cho nên bỏ 4 vậy. Tròn ấy vốn 1, vuông ấy vốn 4, cho Thi còn 1 mà quẻ bỏ 4. Thi chưng dụng số 7, để làm phân trừ, cũng nghĩa còn 1, là nghĩa treo “dùng 1 bỏ 1”. Dụng số của Thi, tức 1 lấy tượng 8, thì 48 thời là thẻ của 1 quẻ. 4 gặp 12 làm 48 vậy. 12 bỏ 3 mà dùng 9, ấy 4 lần 3 là 12 là thẻ bỏ. 4 lần 9 làm 36 là số thẻ dùng. Lấy đương Càn 36 là hào Dương ; 12 bỏ 5 mà dùng 7, 4 lần 5 làm 20 là thẻ bỏ ; 4 lần 7 làm 28 là số thẻ dùng, lấy đương Đoài Ly 28 là hào dương ; 12 bỏ 6 mà dùng 6 ; 4 lần 6 làm 24 là số thẻ dùng ; lấy đương Khôn là số 24 làm hào âm ; 12 bỏ 4 mà dùng 8 ; 4 lần 4 là 16 là thẻ bỏ ; 4 lần 8 làm 32 là thẻ dùng. Lấy đương Khảm Cấn 24 hào lên quẻ trên 8 âm làm 32 hào. Cho nên 7-9 làm dương, 6-8 làm âm. 9 là số cùng cực của dương, số cùng cực thời phản lại, cho nên làm biến, Chấn Tốn không thẻ ấy, lấy đương số chẳng dùng. Trời lấy cương làm Đức, cho nên nhu ấy chẳng thấy. Đất lấy nhu làm thể, cho nên cương ấy chẳng sinh, ấy lấy Chấn Tốn chẳng dùng được vậy.

Lấy số giữa trời đất nói, xem số thì số quẻ đều có thể biết. Đại diễn đếm Thi mà thành quẻ. Thánh nhân ỷ vào số tham thiên lưỡng địa mà sinh ấy vậy. Nguyên Hà đồ hợp 25 thiên số làm 25 Thi số, hợp 30 số đất làm 60 là số quẻ. Ở 5 ngôi cùng được mà đều có hợp, thời 5-6 làm giữa trời đất hợp 10 đấy, còn đó vậy, trăm ngàn khá biết vậy. Số Thi và số Quẻ đều nhân đấy, 5 làm Tiểu diễn Thi, 1 diễn mà 4, 1 và 4 hợp làm 5, 2 và 3 cũng làm 5, nên 5 mà 10 dùng là diễn lớn Thi, diễn thành kinh bầy quẻ 64 mà được 1 vậy, trải 18 biến, được quẻ nhân đôi, ấy rằng đợi số thành, dẫu kinh quái thời 8, 8 lần biến mà lẻ chẵn chia, thái thiếu lập nên, mới thành “thể” của hào, đủ quẻ tượng 9 đến 10, 8 lần biến, hợp những cái nhỏ thành cái to, tức là nhân đôi đó vậy. Cho nên 8 làm Tiểu thành của quẻ, 8 gập 8 thành bèn to. Thi số dùng 49, đức thi tròn, lấy 7 lần 7 hướng số trời, rỗng 1 chẳng dùng, rằng 50 còn 1 mà nói đấy, vì Thi lấy 7 đủ số cùng vậy. Càn 1 thời dùng lấy “thể” làm nền, không “thể” mà dùng không kèm. Quẻ 64 dùng 60, đức quẻ vuông, lấy 8 lần 8 hướng số đất đủ 4 bèn toàn, rằng 60 bỏ không mà nói đấy. Vì quẻ lấy 8 vòng khắp “thể” của số, bỏ 1 thời “thể” lấy dụng làm gốc, gốc tròn thì 1 mà gốc vuông thì 4. Thi dùng 7, 7 thẻ 49, mà thẻ Càn thực dùng 36, số thừa 13, dẫu 1 thời 4 dùng 3 là 12 vậy. Cái nghĩa còn 1 mà chẳng phải trước còn dùng 1, lấy mà treo đấy cũng bỏ 1 ở trong, 7 lần 7 chẳng chọn cũng dùng, là khá thấy vậy. Nhật dẫu toàn thể làm 12 ấy, 4 trừ treo 1 số, chỉ kẻ lấy 8 quẻ 6 hào đương đấy, lấy mỗi vị 8 quẻ cách đồng đều 48, thời Thi chưng dùng vừa cũng quẻ hợp, tóm làm 12 mà 4 nhân đó vậy. Trong 12 bỏ 3 dùng 9, đương thẻ Càn bỏ 5 dùng 7, đương Đoài Ly bỏ 6, đương thẻ Khôn bỏ 4 dùng 8, đương Khảm Cấn 4 mà nhân đấy, thời trong 48 bỏ 4, ấy 3 dùng 4, ấy 9 đương Càn chưng 36 là hào dương bỏ 4, ấy 5 dùng 4, còn 7 đương Đoài Ly chưng 28 là hào dương bỏ 4, ấy 6 dùng 4, mà 6 đương Khôn chưng 24 hào âm bỏ 4, ấy 4 dùng 4, mà 8 đương Khảm Cấn chưng 24 hào, gồm quẻ trên chưng 8 âm làm 22. Phàm thẻ bỏ, dùng gấp lên mà 4 vậy, chỉ ở Khảm Cấn gồm quẻ trên là ở đâu? Thửa quẻ dưới đều 24, quẻ trừ hào 12, bỏ 4 dùng 8, hợp 8 ở 24 thời 32 vậy. Lại xét Đại diễn 7 làm Thiếu dương, 4-7 thuộc trai thứ 3, mà đấy lấy Đoài Ly đương đấy, 8 làm Thiếu âm, 4-8 thuộc gái thứ 3, mà đấy lấy Khảm Cấn đương đấy. Ở đây dường như nhặt thẻ chẳng hợp, hoặc xét do vua Hy nói tả dương hữu âm, có thuyết riêng biệt còn vậy, đến dùng 7-9 làm dương, dùng đương hào dương, 6-8 làm âm dùng đương hào âm ; nhặt Thi dùng 9-6, mà không dùng 7-8, ấy 7 dương dùng tiến mà chưa đến cùng cực, mà 9 thời là số cùng cực của dương ; ấy 8 âm dùng tiến, cũng chưa đến cùng cực, mà 6 thời là số cùng cực của âm. Cực thời phản lại, phản lại thời biến, 9 lần biến làm 8 mà không dùng 1 vậy ; 6 lần biến làm 7, mà không dùng 1 vậy. Cho nên 6 tới cực thì Khôn biến Chấn, 9 tới cực thì Càn biến Tốn, quẻ Cấu quẻ Phục đương giao, cực trở lại thì hầu mà biến đó vậy. Nếu nói rằng Chấn-Tốn không có thẻ, mà không phải không có “thể”, Chấn theo Càn mà nhu nhiều, trở lại phụ ở Khôn mà dùng Khảm-Cấn, đức của trời chủ cương nên nhu ấy chẳng thấy, thần là nơi chọn của Nhật Nguyệt Tinh vậy. Tốn theo Khôn mà cương nhiều, trở lại phục ở Càn mà dùng Đoài-Ly, đức của đất rất nhu, nên cương ấy chẳng sinh, đã làm hết Thủy-Hỏa-Thổ vậy. Thể của trời đất đều 4 mà chỉ dùng 3, không dùng ấy 1, Chấn-Tốn lấy đương số không dùng, dẫu có thể cũng như không vậy.

Dương số 1, âm số 2, âm dương tương hợp, 1 thêm 2 bằng 3, tích của 3 phân theo 4 hướng. Phía Đông cung Chấn là 3, 3 nhân 3 là 9 là số của cung Ly, 3 nhân 9 vằng 27 thì 7 là số của cung Đoài, 3 nhân 7 bằng 21 thì 1 là số của cung Khảm, 3 nhan 1 bằng 3 thì lại quay về cung Chấn phía Đông là 3.

Số âm bắt đầu từ 2 hướng Tây Nam cung Khôn, 2 nhân 2 được 4 là số cung Tốn, 2 nhân 4 được 8 là số cung Cấn, 2 nhân 8 được 16 thì 6 là số cung Càn, 2 nhân 6 được 12 thì lại quay về cung Khôn số 2.

Bàn về thẻ Thi dùng biến dụng 2 lão 9-6, đều 4 nhân đấy, số thẻ Càn được 216, Khôn được 144 (4 x 9 x 6=216=12 x 18, 4 x 6 x 6=144=12 x 12), hợp làm 360, âm dương dùng thuần đó vậy, để dùng năm (đương cơ) dùng ngày 6 Tý, Thiếu dương 7 Thiếu âm 8 như trước nhân 4, Thiếu dương được 168, Thiếu âm được 292, cũng hợp làm 360 âm dương lẫn đó vậy. Theo thẻ của Càn Khôn, chỉ dùng Càn 9 Khôn 6, lấy Nguyên kinh Hội, dùng thẻ Càn dụng 4x9, gồm Đoài Ly dụng 4x7 lấy vòng khắp độ trời, lấy Hội kinh Vận, dùng thẻ Khôn dụng 4x6 gồm Khảm Cấn dụng 4x8 để chia quẻ đất. ôi, Tốn thời Càn dùng biến mà vào Khôn, cho nên Càn “thể” 4 mà chẳng liệt vào Tốn dùng Đoài-Ly, đó là dùng số dương gộp vào mà dụng đấy, ấy Càn chẳng dùng Tốn, bèn dụng Chấn thời còn thế vậy, lấy đang dùng được mà hãy còn non, còn suy yếu để phụ vào Khôn loại vậy. ôi, Chấn thời Khôn dùng làm biến để vào Càn, ấy Khôn chẳng dùng Chấn, bèn dùng Tốn khởi còn như vậy, lấy âm chứng còn khỏe mạnh mà phụ vào Càn loại vậy. Cho nên, dẫu thẻ đều có thể chẳng dùng, đó chỉ là trộm lấy ý mà thôi, Khôn mà dùng Chấn, Càn mà dùng Tốn, dùng hay chẳng dùng, hứa lấy nghĩa vậy.

Dịch thời Càn dùng 9, vì vậy thẻ dùng cũng 9, để lấy ứng với 4 mùa thì 4 hợp 9, 1 mùa gồm 90 ngày, 4 lần 9 thời vòng khắp 36 vòng mà 4 mùa thành vậy. Khôn dùng 6, thẻ dùng cũng 6, ấy 4 lần 6 lấy sách 4 mùa, một mùa đều sai số 6 ngày, 4x6 thời 24 khí mà 4 mùa trải qua vậy, quân bình về điều này, Khôn thuận tiếp Càn, Càn 9 mà dương đầy, đều lấy Khôn 6 mà âm hư, dẫu có đều tiết khí như vậy, thì cũng là điều khó tưởng tưởng nổi. Thiệu ta nói rõ trái luật các sách, Hoàng cực xem trời lấy Nguyên kinh Hội, xem đất lấy Hội kinh Vận, số chẳng lìa 9-6 mà dùng để thừa-trừ đấy vậy.

Thi số chẳng lấy 6 mà lấy 7, là sao vậy? Là dùng để phân thừa (nhân) vậy, bỏ phân thừa thời 6, thì số thẻ 36 vậy, lấy số 64 quẻ là thẻ để dùng cho năm Nhuận, còn khi dùng số Thi 7x7= 49, thì 60 quẻ là số thẻ của năm không Nhuận vậy, là đạo của Thi số 36 + 24 = 60 vậy, bởi lẽ khi treo 1 như tính cho 1 năm Nhuận vậy. Quẻ thẳng bỏ 4 dùng 60 là sao vậy? Là do trời biến mà đất bắt chước theo đấy, tức là bỏ 1 thì quẻ bỏ 4 đó vậy. Là sao vậy? Là nói về “thể” của 1 quái vậy, ví như nói về quẻ Càn gồm 3 hào dương, là “thể” gốc 1 vậy, khi biến hào 1 thành quái Tốn, là “thể” thứ 2 vậy, khi biến hào 2 thành quái Ly, được “thể” thứ 3 vậy, khi biến hào 3 được quái Đoài, thì được “thể” thứ 4 vậy, như vậy có 1 “thể” gốc và 3 “thể” biến, gộp lại là 4 vậy.

Thi lấy 7, đủ 7 lần 7 là 49 thẻ, sao không lấy 6 lần 6 là 36 là cớ sao vậy? Bởi vì 36 thời 4 lần 9 dùng số thẻ của Càn, phân lưỡng được 13, dụng đủ 12 bỏ 3 thời còn 1, khi số danh 10 bỏ 1 dùng 9 thẻ, hay 12 bỏ 3 dùng 9 thẻ, thì đều có 1 để phân thừa còn lại vậy. Khi dụng số thẻ của Càn, thì Lão âm, Thiếu dương, Thiếu âm đều là số thẻ dựa vào số thẻ của Càn vậy. Lấy 360 thẻ vòng khắp năm, thì thừa 24 thẻ, là đương thẻ tháng Nhuận vậy, thẻ năm Nhuận bảo rằng 13 tháng, Nhuận 1 năm bảo rằng dùng năm thừa chứa 12 ngày đó vậy, nên nói Thi dùng bỏ đi trống rỗng ấy 1, hợp khí đầy sóc (mồng 1) trống rỗng mà được đó vậy. Cho nên, thẻ Thi toàn số 50 chỉ dùng 49, Thi 4 mà tương đương 1, là 50 rỗng còn 1, tức là nói 4 vậy. Thi tròn mà Thần là Thiên (Trời) dùng để biến quẻ, vuông mà trí (Khôn) đất bắt chước, đất Bắc dưới trời biến, 4 lấy tương đương 1, vuông theo tròn làm nên, thời dùng 1 mà bỏ 4, bỏ 4 là Càn-Khôn-Khảm-Ly vậy.

Số Cơ (lẻ) gồm 4 số là 1, 2, 3, 4. Số sách (thẻ) gồm 4 số là 6, 7, 8, 9 hợp nhau mà làm 8 số, lấy ứng với phương thì số dùng 8 biến. Số về lẻ hợp treo có 6, rằng: 5 với 4 thì 4 vậy, 9 với 8 thì 8 vậy, 5 với 4 thì 8 vậy, 9 với 4 thì 8 vậy, 5 với 8 thì 8 vậy. Để ứng số trên, dùng ở 9 mà 10 chẳng dùng, 5 thời 1 vậy, 10 thời 2 vậy, cho nên bỏ 50 mà dùng 49 vậy, Cơ (lẻ) chẳng dùng 5, thẻ chẳng dùng 10, có hay không chỉ dùng số cùng cực vậy, đây lấy số huống chi là tự nhiên vậy.

Đây phát minh không thể dụng 1, huống chi là tự nhiên, vốn là ý trong trống không của Hà đồ, số cơ lẻ mà số thẻ chứa đựng vậy. Nói về số Cơ (lẻ) lấy 4 làm cùng cực, bỏ 5 chẳng dùng. Nói về số Sách, lấy 9 làm cùng cực, bỏ 10 chẳng dùng. Đó gọi là số vô “thể” vậy. Mà 5 thì Trời dùng 1, với 10 thì Đất dùng 2, khi trời đất hợp lại thời dùng 3 vậy, lấy “Không” bao “Có” thực đủ 7 phân, 7 lần 7 là 49 là lấy “Có” mà “thể” lại “Không”, chẳng gì chẳng phải, huống chi sự của trời đất, chẳng phải có ý riêng an bầy bố trí ở khoảng giữa ấy vậy.

Số về cơ hợp trao, được 5 với 4, 4 thời số sách 4-9 vậy, gần 9 với 8, 8 thời số sách 4-6 vậy, được 5 với 8, 8 được 9 với 4, 8 thời số sách 4-7 vậy, được 9 với 4, 4 được 5 với 4, 8 thời số sách 4-8 vậy. Làm 9 ấy 1 biến lấy ứng Càn vậy, làm 6 ấy 1 biến lấy ứng Khôn vậy, làm 7 ấy 2 biến để ứng Đoài với Ly vậy, làm 8 ấy 2 biến để ứng Cấn với Khảm vậy. 5 với 4, thì 4 bỏ số treo 1, thời 4 lần 3 là 12 vậy, 9 với 8, 8 bỏ số treo 1 thời 4x6 là 24 vậy. 5 với 8-8. 9 với 4, 8 bỏ số treo 1, thời 4x5 là 20 vậy. 9 với 4-4. 5 với 4, 8 bỏ số treo 1, thời 4x4 là 16 vậy. Cho nên bỏ số 3, 4, 5, 6, để thành sách 7, 8, 9, 6 vậy. 9 tiến làm 36 đều số dương vậy, đó là dương trong dương. 7 tiến làm 28, trước dương sau âm, đó là âm trong dương. 6 tiến làm 24, đều số âm vậy, đó là âm trong âm. 8 tiến làm 32, trước âm sau dương đó là dương trong âm vậy.

Số về cơ hợp treo đều là chọn 9, 6, 7, 8 để Càn-Khôn-Đoài-Ly-Cấn-Khảm sẽ thấy chứa ở trên mà chẳng kịp Chấn-Tốn không thẻ đó vậy. Ở 9-6 thì Càn Khôn dùng biến đều 1. Ở 7-8 thì Đoài-Ly, Cấn-Khảm dùng biến đều 2, mà dẫu ban đầu đều là 5, nên 9 hợp số quẻ vậy. Số bỏ đầu tiên treo 1, tóm đấy làm 4x3, 4x4, 4x5, 4x6 mà làm 12, 16, 20, 24, thông quẻ chọn 3 lần biến, số bỏ đi là 3, 4, 5, 6 để thành 7, 8, 9, 6 mà thẻ số được định vậy. Xét Càn dùng 9 thì Chấn trước, Khảm Cấn sau, tức là biến hào từ hào Sơ, hào 2, rồi tới hào 3 vậy, ở đây số đều theo 7. Xét Khôn dùng 6, thì Tốn trước, Ly Đoài sau, số đều theo 8. Khi lấy Ly Đoài dùng biến thuộc 28, lấy Khảm Cấn dùng biến thuộc 32. Hoàng cực có phép thông lệ riêng, mà ở ngoài khác phép thường, để làm rõ sự biến hóa vậy, đợi đính chính vậy.

Dương được âm mà sinh, âm được Dương mà thành, do vậy số Thi 4 mà 9, số quẻ 6 mà 10 vậy. Ví như thân và cành của cây cũng lẫn lộn vậy, Can làm thân cây lấy 6 chọn để hết, mà Chi làm cành cây lại lấy 5 chọn để hết, số Thi toàn thẻ dương 36 hợp 28 làm 64 vậy. Số quẻ bỏ 4, nên thẻ âm 24 cùng hợp 32 làm 56 vậy. 4 mùa chỉ ở 3 tháng, 1 tháng chỉ ở 30 ngày, mà đều bỏ số Thần (vì sao), bởi vì 8 lần 8 dùng quẻ 64 mà không biến đó là 8, còn khi dùng biến đó là 7 lần 8 làm 56, dẫu có chọn nghĩa cũng ở đây mà thôi.

Thi chọn dùng 49, dương 9 âm 4, dương được âm bèn sinh, rằng 9 được 4 bèn sinh Thi vậy, 4 đây là lưỡng (hai) đất dùng để gấp bội, 9 đây là tham (sen vào) trời dùng để nhân vậy. Quẻ chỉ dùng 60, ấy 6 với 10 ngờ ở không dương, mà 6 gấp bội trời 3 với dương cùng số. Cái lý 6 sẽ dùng dương, thành 10 sẽ dùng âm, nên nói âm được dương bèn thành là đúng vậy. Cho nên 4 mà 9 ấy là dụng số của Thi, 6 mà 10 ấy là dụng số của quẻ vậy. Còn như thân cây (Can) làm dương, cành cây (Chi) làm âm, cùng lẫn lộn giao nhau, số thân cây (Can) đều 5 mà ghi vòng khắp ở Tý-Dần-Thìn-Ngọ-Thân-Tuất, thời làm 6 Giáp, mà lấy 6 trọn để hết. Số cành cây (Chi) đều 6 mà nguyên thứ tự ở Giáp-Bính-Mậu-Canh-Nhâm dùng làm 5 Tý, thì lấy 5 trọn để hết. Nếu lấy Chi dùng 6 trọn để hết, Can dùng 5 trọn để hết, để nói dương được âm hoặc âm được dương sao? Đó là nhân lấy thuyết cũ mà bàn vậy, là ý 6 can lai lịch, 5 chi chia lìa như vậy.

Trộm lấy 5 sinh 5 thành, sinh làm số Cơ, thành làm số Sách. 4 bầy số sinh ở trong số Cơ, tựa như âm tiến đến dương vậy, huống chi Thi lấy 4 làm Cơ dương, làm Sách dương, 9 bầy số thành ở trong số Sách, thì dường như dương mà phụ về âm vậy. Phép của Thi lấy 9 làm chẵn, nên làm thẻ âm, lấy đó mà nói bảo rằng: 4 dương được 9 âm bèn sinh, 9 âm được 4 dương bèn thành. Còn lẻ được chẵn mà sinh, chẵn được lẻ mà thành, nên bảo rằng 4 mà 9, là nói về Thi đó vậy. Đức Thi tròn mà Thần vậy, như số quẻ 8 x 8=64, dùng chỉ 60, so sánh với Can-Chi cũng lẫn lộn, ấy 6 là nửa số Chi, ấy 10 là toàn số Can, ở phép quẻ 6 làm hào âm, 6 mà 10 đấy, tựa như lấy Chi theo Can, mà số can 10 tóm số Chi 2 x 6. Ở âm dương thì cùng đợi nhau, mà lý sinh thành chẳng thay đổi. Cho nên lấy ngay nghĩa 6 trọn 5 để mà minh chứng vậy, 5 là nửa 10, 6 mà 10, tới quẻ nói quẻ, đức quẻ vuông lấy trí vậy. Số tròn thông, số vuông định, thuyết này đã biện rõ rồi vậy.

Một năm 4 mùa, 1 mùa 3 tháng, 1 tháng 30 ngày, 4 mùa là số “thể” của 1 năm vậy, tháng 30 ngày là số “dụng” của 1 tháng vậy, “thể” tuy đủ 4 mà 1 thường không dụng vậy, cho nên dụng chỉ ở 3. Số “thể” thường chẵn như 4 hay 12, còn số dụng thường lẻ như 3 hay 9. Số to thường chẳng đủ mà số nhỏ thường đầy, là sao vậy? Đấy là số to thường không thể thấy, mà số nhỏ thường khá thấy, cho nên mùa chỉ ở 4, tháng chỉ ở 3, mà ngày đầy ở 10 vậy, ví như con người, chi thể 4 mà ngón tay có 10 vậy, cũng như phía trước, phía sau cùng tả hữu, cũng 4 vậy. Mặt trời lúc hiện lúc chìm ở Bắc, cùng cực ở 6 mà thừa ở 7, trời thể số 4 mà dụng 3, đất thể số 4 mà dụng 3, trời khác đất, đất khác trời, mà cái khác này là do phần dư của ngày và đêm dài ngắn có khác nhau vậy. Lấy trời 3 mà đất 4, trời có 3 Thần (sao) đất có 4 hành vậy, còn như hành Hỏa của đất lúc ẩn lúc hiện, là nguyên nhân tạo ra phần dư của ngày và đêm vậy.

Nói về thẻ Thi dùng 7 thừa 7, đều dụng số trời mà tôn dương, cho nên hợp số thẻ Thái dương với số thẻ Thiếu dương là 36 + 28 = 64 thẻ hợp với số quẻ là 64. Hợp số thẻ Thái âm với số thẻ Thiếu âm 24 +32 = 56 thẻ, là số quẻ toàn âm tóm nhau ở chính biến. Trời đất đều có 4 chính mà làm quẻ bất biến, nên chỉ ở 56 thì 8 bỏ 1, ấy 8 bỏ 1 là nghĩa bởi 4 bỏ 1 vậy, là bỏ số Thần vậy (sao). Trời có 4 mùa, mùa chỉ 3 tháng, tháng chỉ 30 ngày, đấy tức là Thiên Thần (sao) chẳng thấy. Càn Đoài Ly Chấn gồm 4 quẻ, mà chẳng dùng 1 đó là Chấn làm Thần vậy. Thế cho nên, mùa có 4, theo số thể tháng ngày đều dùng 3, theo dụng số và thể số đều đủ 4, dụng số bỏ 1, ấy 1 thường chẳng dùng, dùng chỉ ở 3, ấy 3 nhân thời 9, bởi vậy 3 tháng cộng 90 ngày mà thành 1 mùa, 1 năm 4 mùa mà chỉ dùng 3, bỏ 1 là lúc trời đất bế tắc mà thành mùa Đông vậy. Lấy 1 ngày mà nói, 3 giờ Hợi-Tý-Sửu, lấy 1 năm mà nói, 3 tháng Hợi-Tý-Sửu, đều ở số bất dụng vậy. Nên nói, thể số của trời đất đều 4, dùng ấy 3, chẳng dùng ấy 1, đây khá xem vậy.

Duy số có chia to nhỏ, mà to thường chẳng thấy đủ, nhỏ lại thường thấy đầy, nghĩa ấy ở đâu? To bao bọc mọi cái nhỏ, nhỏ dẫu đầy mà chẳng khá thấy, mọi cái nhỏ chia, to bao bọc to, không gì chẳng có thể thấy theo đầy vậy. Nên năm tóm mùa mà mùa chỉ 4, mùa tóm tháng mà tháng chỉ 3, đều chẳng đầy 10 ngày từ Giáp đến Quý bèn đầy 10 ngày vậy. Mùa như chi thể người chỉ có 4, ngày thì như ngón tay đầy 10, chi thể to mà ngón tay thì nhỏ, to chẳng thấy đầy mà nhỏ thường thấy đầy, nghĩa là như thế. Theo thể số 4 mà tóm bàn đều làm số lớn để xem, theo dụng số 3 mà phân tích bèn đều làm số nhỏ để xem, hay nói số lớn xem thể, số nhỏ xem dụng. Số dụng chẳng ra ngoài số thể, thực biết vậy.

Mở cửa Trời, thì âm đi vào mà Dương đi ra, theo đó ngày dần dần dài ra, đêm dần dần ngắn lại, khí hậu từ lạnh chuyển dần sang ấm nóng. Vào cửa Đất, nghĩa là Dương đi vào mà âm đi ra, theo đó thì ngày dần ngắn lại, đêm dần dài ra, khí hậu từ nóng ấm chuyển sang giá lạnh. Trời Đất đóng mở tạo ra giao khí giữa Thiên Địa, là đầu mối khí hóa âm dương vậy.

Nói dùng lấy 3 gồm Trời-Đất-Người, theo độ Trời ra vào ở Đất để mà xem vòng khắp độ Trời, nửa ở trên Đất, nửa ở dưới Đất, đều 182 độ nửa mạnh, lấy Nam-Bắc chia đều 91 độ, 4 phân độ dùng 1 nửa mạnh. Trời từ Nam đến Bắc cho cùng cực ra, mà đầy ở trên Đất ấy, trừ 36 độ ngoại, thì ở phía đầu Nam thường thấy, phía đầu Bắc thường ẩn, ẩn thì chẳng gồm được phần dư ở trên, do vậy ẩn chỉ cùng cực ở phần chính dùng 6, mà thấy gồm phần dư thời đầy dàn mà 7 vậy. Hà đồ 1 hợp 5 thành 6 ở Bắc thường u mờ chẳng thấy, theo số lấy 6 mà cùng cực. 2 hợp 5 thành 7 ở Nam thường sáng mà lợi thấy, Càn 2 dùng rằng thấy vậy, nói dư ở 7, theo số lấy 7, dự ở 6 cùng cực mà ra ẩn lấy thấy vậy. Cho nên muôn vật cùng thấy ở Ly, mà cùng về cất dấu ở Khảm. Đồ vua Văn và đồ vua Hy dùng 1 Trời đương Càn ở Nam, Thần (sao) âm tiếp Khôn ở Bắc, thuyết u mờ hiện thấy 6, còn 7 rõ như mắt thấy vậy. Đến như biết trước, tối sau, mà qua loa tả hữu, người đều bỏ 1 dùng 3 cùng Trời Đất không khác, cho nên lấy huống chi vậy. ôi, số Trời Đất đều thể 4 dụng 3, mà cùng nhau làm khác lẫn nhau. Trời khắc đất, ấy là phần Trời âm dương Thái Thiếu mà khắc đi Thiếu âm, cho nên Chấn chẳng dụng mà thiên thần (sao) chẳng thấy. Chấn âm nhiều mà không phụ phận Đất vậy, cho nên nói Trời khắc Đất. Đất khắc Trời, đó là phân Đất cương nhu Thái Thiếu khắc đi Thiếu cương, cho nên Tốn không dùng mà đất đá không sinh, Tốn dương nhiều mà trên phụ phận Trời, cho nên nói Đất khắc Trời. Lấy hai khắc cùng so sánh, mà Trời khắc ấy ở Đất, Trời không dùng mà về dùng Đất, Chấn còn nạp ở Khôn, như Trời chủ về ngày, Đất chủ về đêm, bớt phần dư dương ở ngày, mà chuyển hết về phần đêm, như Tý, Sửu, Dần về phần ngày mà vẫn còn ở giờ đêm dày chưa hết, ấy phần ngày dùng theo tài thành, đến phần đêm dùng theo chịu. Đó là Trời dương dùng 3, nhật-nguyệt-tinh hiện ra mà “thần” ẩn, 3 ngôi sáng đều hội ở “thần”, nên Trời dụng 3 “thần”. Như Đất tuy khắc Trời, bỏ Tốn không dùng, thì cũng không thể nói bỏ phần dư sáng sớm mà về ở ngày, Đất tuy bỏ Tốn mà thủy-hỏa-thổ-thạch, 4 ấy đều đi, đó còn khá thấy, mà không phải thiên thần (sao) dùng ẩn mà chẳng thấy, ví vậy. Đất thấy 4 hành, dẫu thấy rất rõ mà không ẩn, mà dấu ở đó với trong cây, hoặc nửa hiện nửa ẩn, đương khi dùi cây đánh đá để lấy, làm dũng rất nhiều, dẫu như Chấn thần (Sao) ở đêm theo thần vậy thay.

Trời dùng biến 6, 6 theo 6 được 36, làm Càn 1 hào dùng thẻ, chứa số 6 hào cộng được 216. Đất dùng thể 4, 6 theo 4 được 24, làm Khôn 1 hào dùng thẻ, chứa số 6 hào, cộng được 144. Theo 2 lệnh dùng thẻ, bèn 1 vạn 1520 (360x32). Nói về thể thời Trời chia mà làm Đất. Đất chia mà làm muôn vật, mà Đạo thì không thể chia. Theo trọn cùng thời muôn vật về Đất, Đất về Trời, Trời về Đạo, bởi vậy mà quân tử quý Đạo. Nói Đất dùng thể 4 là nói Đất dùng thể gấp đôi làm 4.

Lấy 32 làm số của thiên thần (Sao) Chấn, thì số của Càn là 216 x 32= 6912, số của Khôn là 144 x 32= 4608, hợp cả được 11520 là số thông chứa đổi, thẻ trên dưới 2 thiên, đều hết ở đây vậy. Nói về hợp 2 số Lão sách, theo 2 thiếu 32, nhân theo số thẻ còn ấy vậy, nhưng Thiếu tóm ở Lão, dùng Lão mà không dùng Thiếu, lấy số này mà đương với số của muôn Vật. Càn cha Khôn mẹ tượng Trời-Đất, 2 Thiếu tóm 3 trai 3 gái, tượng muôn Vật, đều gốc ở Thái cực trong khoảng động-tĩnh 1 âm 1 dương dùng bởi Đạo, tức là theo số để nói về thể vậy, thời Trời 3 chia đôi làm Đất, cho nên Trời 9 Đất 6, Trời 36 Đất 24, đều 3 phần chia 2, Đất tiếp theo ở phận Trời, trước gấp 3 gấp 4 cũng 9 đấy, cho nên nói rằng Trời chia mà làm Đất, theo sinh muôn Vật thời Đất tiếp theo Trời, mà lại chia các số theo chịu đôi, tùy ở Thái, Thiếu, Cương, Nhu, diễn ấy làm vạn, cho nên nhà trước ấy là Càn, nhờ sinh ấy là Khôn, đất chia mà làm muôn vật, theo đây thì biết vậy. Thẳng nhanh chóng thì Hà đồ Trời 1 chia làm Đất 2, đại diễn chia 2 ấy là tượng đôi, gồm treo 1 nhặt 4 về lẻ, treo thẻ dùng 49 mà doanh lấy 18 lần biến, số muôn vật Trời-Đất tóm đủ ở đây. Lấy thứ bậc theo thứ tự mà nói, đến sinh Vật 1 âm dương, âm dương 1 Thái cực, Thái cực tức là Đạo, khá chia ấy số trong Đạo, chẳng khá chia ấy Đạo trong số, tán khác thời muôn vật, muôn cực toàn thế, thời muôn vật 1 cực vậy, lại chia gì du! đại diễn rỗng 1 để ẩn tàng dùng, Đạo cố nhiên còn ở trong đó vậy, nên nói dùng trọn dùng xét sau muôn vật chứa số 2 thiên trên dưới, về ở Khôn số thẻ 24 mà dùng 6, về ở Càn số thẻ 36 mà dùng 9 vậy, đó là số về của Càn Khôn đều 4 thể vậy. Số Trời thẻ 36 tóm mà về ở trống rỗng 1 là số tàng ẩn, dùng mà thấy với cực làm thể dùng Đạo, bèn biết Đạo ở giữa 1 động 1 tĩnh, số khá suy mà xét, số chẳng khá hết, đồ bầy ra mà xét, đò chẳng khá tìm, quân tử quý đấy, nói chẳng lìa ấy vậy.

Biết 3 theo 4 là 12 vậy, 2 theo 6 cũng 12 vậy, 2 theo 12 là 24 vậy, 3 theo 8 cũng 24 vậy, 4 theo 6 cũng 24 vậy, 3 theo 12 là 36 vậy, 4 theo 9 cũng là 36 vậy, 6 theo 6 cũng là 36 vậy, 4 theo 12 là 48 vậy, 3 theo 16 cũng là 48 vậy, 6 theo 8 cũng là 48 vậy, 5 theo 12 là 60 vậy, 3 theo 20 cũng là 60 vậy, 6 theo 10 cũng là 60 vậy, đều là phép tự nhiên vậy.

Lão dương số lẻ dùng 4 đều lấy 12 nhân lên, ban đầu lấy 3 theo 4, 2 theo 6 đều 12; 4 theo 6, 3 theo 8, 2 theo 12 đều là 24; 4 theo 9, 6 theo 6, 3 theo 12 đều là 36; 6 theo 8, 3 theo 16, 4 theo 12 đều 48; 3 theo 20, 5 theo 12, 6 theo 10 đều là 60. Đố đều là phép tự nhiên. Năm 12 tháng, 24 khí, tháng lại đều 30 ngày, 1 từ 6 khí, 1 khí 6 biến, nhặt thẻ Thi trừ treo thời 48 thẻ, 8 vị đều 8 quẻ gồm 48 hào, 6 Giáp 5 Tý vòng quanh ghi 60, tất thảy theo đây mà định số.

Lấy suy cơ “tham - lưỡng”, ỷ số nói 4 cùng 9 và 6 cùng 6, mà Lão dương thẻ chỉ nói 4 theo 9, không nói 6 theo 6, đó là dương dùng 9 vậy. 9 lấy dương, 6 gồm âm, nửa của 6 để mà dùng đó vậy. Quẻ biến 1 Trinh 3 Hối, quẻ dưới Trinh làm quẻ gốc, quẻ trên Hối làm quẻ biến. Quẻ biến trước 4 vị, làm trời gồm 4 quẻ Càn-Đoài-Ly-Chấn. Quẻ gốc sau 4 vị làm đất gồm Tốn-Khảm-Cấn-Khôn. Lão dương quẻ Càn thể trùng 8 x 3 là 24 vạch dương (Thuần Càn, Trạch Thiên, Hỏa Thiên, Lôi Thiên, Phong Thiên, Thủy Thiên, Sơn Thiên, Địa Thiên, tổng hào dương quẻ trên là 12, hào dương quẻ dưới là 24, đây là cốt lõi của mọi thuận toán), gồm thể ngoài 8 quẻ có 12 vạch dương, hợp cả thể trong thể ngoài là 24 +12 là 36, theo thể trong vốn 24 hào dương, 6 theo 4 dùng rằng dương, 6 theo quẻ biến, 6 mà lưỡng đấy, tức 6 mà 2 đấy, chỉ làm âm 6 dùng nửa, bèn hợp 9 theo 4 của quẻ biến mỗi 1; 6 thêm 3 làm 9, 4 theo 6 đều thêm 3 vào thì được 4 x 9 làm 36, 3 này là nửa của 6, 6 gồm 3 làm 9. Số Khôn sao 1 lại không như vậy? Khôn dùng 6 vị làm Càn, gồm biến thể trên về vị thứ, trừ hào Sơ và hào Thượng, chỉ còn 24 thẻ, không phải 9 là khá nói vậy. Lấy thể trên dưới 2 quẻ chính biến mà nói, hào đều 3 âm 3 dương, ngôi vị Sơ- 3-5 là của dương, ngôi vị 2-4-Thượng là của âm. Phàm làm 6 hào 6 vạch, thì hào 5 hào 6 là Trời, hào Sơ hào 2 là Đất, hào 3-4 là Người, nói quẻ 3 vạch thì hào 3 hào 6 là Trời, hào Sơ hào 4 là Đất, hào 2-5 là Người, đều gồm 3 tài mà đôi đấy, cho nên đều 2 vậy. Tóm mà nói, trong âm dương 2 nghi đủ 3 tài, Trời-Đất-Người đều có đủ ở trong âm dương. Trời-Đất-Người đều đủ 3 tài, đủ 2 nghi âm dương đều có ở trong Trời-Đất-Người vậy. Rằng 2 quẻ âm dương đều 3, đôi mà ỷ (dựa) 3, rằng 6 hào, Trời-Đất-Người đều 2, tham (sen) mà ỷ đôi. Rằng âm dương đều có Trời-Đất-Người, đôi mà ỷ 3. Rằng Trời-Đất-Người đều có âm dương, 3 mà ỷ đôi, đó là thuyết tham lưỡng ỷ số vậy.

Xét quẻ 6 vạch, thì vị trí hào 1-3-5 là trên Trời, vị trí hào 2-4-6 là dưới Đất, như vậy Trời-Đất đều gồm 3. Người có đủ ở Trời-Đất, bèn gồm 4 khi bỏ hào Sơ và hào Thượng, trong đó hào 3-5 nửa hợp Trời, hào 2-4 nửa hợp Đất. Có thể nghĩ Người ở trong khoảng Trời-Đất theo để mà lập cùng Trời-Đất vậy.

Nói về “hào số”, thì “dương thất chi tĩnh thủy vô Khảm”, “dương thất” chỉ hào Dương trong quẻ Khảm vì là số 7, số 7 là số Thiếu dương, là số khởi đầu dương số. “Dương cửu chi động thủy vô Chấn”, dương cửu là hào Dương trong quẻ Chấn vì là số 9, số 9 là số Dương thịnh tới cực. “âm bát chi tĩnh thủy vô Ly”, âm bát chỉ hào âm trong quẻ Ly vì là số 8, là số Thiếu âm, là khởi đầu của số âm. “âm lục chi tĩnh thủy vô Đoài”, âm lục là số chỉ vào hào âm quẻ Đoài, là số 6 là tinh túy của âm, là số cực âm.

Dương số 1 dưới diễn đấy mà 10 là loại 10 Can. âm số 2 diễn đấy mà 12 là loại 12 Chi. 10 Can là Trời vậy, 12 Chi là Trời-Đất vậy, Can-Chi sánh Trời-Đất đều dùng vậy. Cán có nghĩa là Cán (thân cây) là dương vậy.Chi có nghĩa là cành, là âm vậy. (Một thân cây gọi là dương, nhiều cành tán gọi âm). Can 10 Chi 12 đó là trong số dương có âm, trong số âm có dương vậy. 1, 10, 100, ngàn, vạn, ức,… làm Cơ (lẻ), số Trời vậy. 2, 12, 20, 12 trăm, 20 vạn, 12 ức, … làm chẵn, số Đất vậy. Thi 4 tiến đấy thời trăm, quẻ 4 tiến đấy thời trăm 20 (120). Trăm thời 10, trăm 20 thời 12 vậy.

Số dương 1, số âm 2, 10 Can thời 1 diễn mà 10, Giáp đến Quý là loài tuần ngày vậy. 12 Chi thời 2 diễn mà 12, Tý đến Hợi là loại 12 tháng vậy. 10 đôi theo 5, 12 gấp bội theo 6, Can làm Trời, Chi làm Đất, mặt Trời thì Sao là dương sánh Can, mặt Trăng thì Thần là âm sánh Chi, Trời-Đất đều dùng vậy. 10 số Can thì Giáp-Bính-Mậu-Canh-Nhâm là 5 Can dương, Ất-đinh-Kỷ-Tân-Quý là 5 Can âm, đó là trong số dương có âm. 12 số Chi thì Tý-Dần-Thìn-Ngọ-Thân-Tuất là 6 Chi dương, Sửu-Mão-Tị-Mùi-Dậu-Hợi là 6 Chi âm, đó là trong số âm có dương. Tới Can-Chi mà Trời-Đất dùng 5-6 số giữa lập dùng số thấy vậy. Do vậy mà có thể diễn tới vô cùng, biết 1 diễn mà 10, 10 diễn mà 100, càng diễn tới vô cùng thì vẫn không lìa 10, số 1 và số 10 lần lượt tích lũy, vốn số trời mà lẻ vậy. 2 diễn mà 12, 12 diễn mà 120, càng diễn tới vô cùng đều dùng gồm 2, đều chẳng lìa 1 với 12 lần lượt tăng thêm, vốn số Đất mà chẵn vậy. Số Trời 25, Thi 4 tiến được số Trời là 100, số Đất 30 thẻ, Thi 4 tiến số Đất là 120. Như vậy, 100 coi là 10, 120 coi là 12, diễn ra đấy càng nhiều, giữ lấy đấy thì càng buộc lại vậy.

Số 50 chia đấy thời làm 5 theo 10, khi tham dùng lưỡng đấy thời làm 6, đôi Đất lại lưỡng đấy làm 4, đó là Trời-Đất chia số Thái cực vậy. Khí này là nhà của Thần vậy. Thể ứng là nhà của Khí vậy. Khí lấy 6 biến, Thể lấy 4 chia, Thể 4 mà biến 6, bao gồm thời cùng Khí vậy. Khí biết tất là 6, cho nên là 360 vậy.

5 là nửa 10; 10 là gấp của 5, thông 5 cùng 10, 10 mà 5 cùng 5, không gì chẳng phải 10, phương Chi 1 với 9, 2 với 8, 3 với 7, 4 với 6, có 1 chẳng hợp làm 10 sao? Như lưỡng theo tham Trời thì làm 6, lưỡng theo lưỡng Đất thì làm 4, hợp Trời cùng Đất theo đôi số, đều lấy động-tĩnh chia Thái cực dùng thành số. Thái cực rỗng ở giữa. 50 tức theo số vậy. Rỗng 1 không dùng, theo diệu mà dùng như vậy là rất mực vậy. Khi nói dùng 6 với 4, lại gồm dùng nghĩa với Thể. Khí dương làm Trời là nhà của Thần, mà Thần là Khí linh diệu nơi biến hóa. Thể âm làm Đất, lại là nhà của Khí vậy, Khí làm Thể nơi chỗ lưu động đầy đủ vậy. Khí tuy là nhà của Thần, khi biến lấy 6, 6 gấp Thiên tham, Càn vận 6, 6 mà biến vòng khắp. Thể tuy là nhà của Khí, theo chia lấy 4, 4 gấp Địa lưỡng, Khôn chứa 4, 4 mà chịu thành vậy. Cho nên, 6 Khí Trời lấy thần diệu muôn vật mà buổi trăng ứng đấy 4 Thể. Đất lấy Khí hợp, tiếp Trời mà vật tượng nhân đất, xét đấy. Lấy Thể cùng Khí gồm vậy, nên Khí biến, tóm lấy 6 vòng khắp, 6 nhân theo 6 mà 1, 10, 100, 1000 đấy, tuy trải 360 vận còn như 360 ngày vậy.

Trời 6 Đất 4. Trời lấy “khí” làm “chất”, lấy “thần” làm “thần”. Đất lấy “chất” làm “chất”, lấy “khí” làm “thần”, duy Người có đủ gồm muôn vật mà làm muôn Vật dùng thông, nhe tiếng chim muông lấy theo loài mà điều bầy đều theo 1, chẳng gì chẳng hay đó là Người vậy. Suy đến việc khác cũng chẳng việc gì chẳng thế, duy Người được Trời Đất giao cho để chịu mệnh, còn tất cả các loài khác thì không vậy. Đời người thực nói là rất quý vậy. Trời Đất cùng theo quý mà không tự quý là trái với lẽ của Trời Đất, sự chẳng lành chẳng gì to bằng vậy.

Lại nhân đồ tròn 6 theo 4 mà nói, Trời gấp “tham” mà 6, Đất gấp “lưỡng mà 4. “Khí” lấy 6 biến, tuy là nhà của “thần”, Trời nổi lên trên mà “khí” chuyển làm “chất”, “thần” ứng vi diệu theo để dụng nên lấy “thần” làm “thần”, chết ở trong mà “thần” lấy làm thiêng đó vậy. Thể lấy 4 phần, là nhà của “khí”, Đất ngưng đọng xuống dưới mà “chất lấy làm “chất”, “khí” lưu hành theo để biến hóa, nên lấy “khí” làm “thần”. Do đó, “chất” lấy làm thực, “khí” lấy làm hư vậy. Càn tư thủy, nên “thần” dụng “thần”, Khôn tư sinh nên “khí” dụng “thần”. Cho nên loài Vật có vạn Trời vạn Đất, mà “thần khí” trọn vẹn duy chỉ có loài người. Vậy Xuân mà loài Người thiêng, tiếng thú đều hay 1, mà Người không gì không hay biết, mọi việc khác đều thế. Ở loài khác, khi gốc ở Trời mà chia bẩm thụ ở mặt Trời dương thì ở âm thường chẳng đủ. Còn khi gốc ở Đất mà chia bẩm thụ bên trong âm thì ở dương thường chẳng đủ vậy. Người thì hợp Trời Đất, mặt Trời dương mặt Trăng âm cùng giao nhau biến hóa, mà gồm được lấy làm dùng, cho nên 1 hay “không” theo chẳng hay, coi loài khác dùng sinh quý như thế nào đây. Trời Đất sinh Người, cùng lấy rất quý, chẳng tự quý mà cam hạ xuống cùng với Vật, đó là trái với lý sinh, há chẳng phải bất tường dùng to lớn du! Cho nên, quân tử dẫm lên “tình”, trở lại “tính” dùng làm quý vậy.

âm không 1, dương không 10, dương không 10 cho nên không đủ ở sau, âm không 1 cho nên không đủ ở đầu.

Trời khởi ở số “1” trước tiên, Đất bắt đầu khởi ở số “2” làm đầu, cho nên âm không có số “1”. Số Đất sau cùng là 10, số Trời sau cùng là 9, cho nên dương không có 10, không 10 thì 1, 3, 5, 7, 9 là số không đủ ở sau, không “1” thì 2, 4, 6, 8, 10 là số chẳng đủ ở đầu. Việt Châu bàn: trước không nói 1, còn lấy đấy để làm “thể”, sau không nói 10, dấu đi lấy đấy để làm “dụng”. 10 dùng sau cũng như 1 dùng theo trước, như đồ quẻ Phục thì 1 dùng trước cũng như 10 theo sau ở đồ quẻ Khôn vậy, trước sau dùng hội Trinh nguyên cùng giao, theo 1 động 1 tĩnh mà dùng ở khoảng giữa. Điều này như ở ngoài ý gốc, sẽ sinh giải vậy.

Tham hàng ngũ lấy biến, lẫn đầu theo số mà Trời Đất xung nhau, ngày đêm giao nhau. Số “1” này là số đầu mà chẳng phải số vậy, cho nên 2 với 2 mà làm 4, 3 với 3 làm 9, 4 với 4 làm 16, 5 với 5 làm 25, 6 với 6 làm 36, 7 với 7 làm 49 đó là đều dùng theo biến. Số đại diễn là gốc của toán pháp sao? Lấy tóm số dùng khai triển lên chẳng qua ở vuông tròn cong thẳng vậy, số trừ là số tiêu vậy. Toán pháp dẫu nhiều chẳng qua dùng ở đây vậy.

Bầy Hà đồ số Trời Đất mà tỏ rõ sen hàng lấy biến, lẫn lộn hợp cả theo ganh đua để mà dùng. Số trời đất với số cùng xung nhằm ngày đêm cùng biến, cùng giao nhau. Xung ấy là trước sau biến mà khẩn tiếp. Giao ấy là kia với đây hợp mà cùng đắp đổi nhân lên. “Tham” thì trời 1 đất 2 liền hợp, hàng ngũ thì 1-4 hay 2-3 dùng đắp đổi gồm tính, bởi thế mà “tham” nhân hàng ngũ nhân lên làm lẫn lộn làm hợp cả lại, số “không” chẳng cùng cực, biến “không” chẳng thông, theo mà chẳng biến ấy là “1” vậy, “1” làm số dùng đầu là lấy số sinh tóm số, mà chẳng phải khá lấy số mệnh vậy. Cho nên một vật chẳng rằng số vật 1, 1 như 1 vậy. Từ 1, 1 trở lên 2, 2 rồi 3, 3 rồi 4, 4 rồi 5, 5 rồi 6, 6 rồi 7, 7 nhân mà nhân lên đấy, làm 4, làm 9, làm 16, làm 25, làm 36, làm 49, chẳng phải số dùng chửa theo biến vậy. Phàm cất lên Trời 25 số, Càn số sách là 36, đại diễn dùng 49 số, quẻ 64 số, Tỉnh Nguyên phạm 81 số, đều tùy sở dụng dùng biến, mà lần lượt đủ vòng khắp vậy. Bèn biết 1 chẳng biến, là thể tóm dương vậy, sau 1 trở lên đều biến, dùng để hợp với âm vậy. Đại diễn rằng 1 phân, đôi treo 1 đếm 4 về lẻ, hợp đốt ngón tay mà dùng 49 thẻ, biến hóa suy Trời theo tức là gốc toán pháp vậy. Lấy vuông tròn vòng kính (lối tắt) vẹo, thẳng, câu, huyền, toán phép nhiều ít, số chẳng qua ấy. Theo nhân lên thời sinh, trừ thời tiêu, số thực có phép, coi đấy làm dùng, bỏ đây thời biệt, không bởi đâu toán vậy.

Dương tôn mà thần, tôn cho nên soi được vật, thần cho nên dấu được cách dùng. Lấy đạo sinh Trời Đất muôn vật, mà không tụ thấy. Trời Đất muôn vật cũng lấy phép dùng đạo, dương là đạo chưng dùng, âm là đạo chưng thế. Dương dùng âm, âm dùng dương. Khi lấy dương làm dùng thời tôn âm, lấy âm làm dùng thời tôn dương.

Trời dương thể tròn rất tôn mà nhà ở thần, vì tối đất thấp mà nhà ở khí đó vậy. Khi tôn như vậy thì vật đều bị sai khiến. Càn sai khiến Khôn cùng với 6 Tý, mà mặt Trời sai khiến chẳng cùng Tinh Thần, khi Thần vậy dấu dùng, Khôn cùng 6 Tý dấu cách dùng ở Càn, Nguyệt cùng Tinh Thần dấu cách dùng ở nhất Nhật đó vậy. Sai khiến vật mà các loài ứng theo, theo rõ rệt điều nhân đợi nói. Dẫu như dùng thời về theo ở đạo Thái cực, trời đất muôn vật, đều gốc ở đạo sinh ra, mà dấu cách dùng mà chẳng tự thấy, đó là nhà ở thần diệu mà cấp ngàn vạn vậy. Bèn biết dấu cách dùng là cái gốc sai khiến vật. Trời Đất dùng to, muôn vật dùng yên, phạm vi khúc thành, ít chẳng phải lấy phép ở đạo vậy. Đạo cùng làm cách dùng dương đạo 1 mà thôi. Tự theo chia mà nói, âm làm Thể mà dương làm Dụng, mà lần lượt dùng giao tôn âm Dương, Nguyên hợp Chấn đến Đoài đều dùng Dương, âm trên Trời tôn âm, từ Tốn đến Cấn đều dùng âm, trên Dương thời tôn Dương. âm vốn thấp mà sai khiến ở Dương, ở dấu cách dùng, thời có lý tôn âm. Dương vốn tôn mà sai khiến ở âm, tuy Dương ở dấu cách dùng, thời càng thấy thực lý tôn Dương. Cho nên sai khiến vật lấy dùng âm vậy, dấu cách dùng là để tôn Dương vậy.

âm ngõ hầu ở Đạo, đó là lấy cảnh hướng tới Đạo, 6 biến mà thành 36, 8 biến mà thành 64, 12 biến mà thành 384 cũng như 49 biến mà thành 384 vậy.

Đạo hợp âm Dương mà Dương rõ rệt còn âm lại dấu, dấu mà chẳng thấy Đạo không khá trỏ, song âm tĩnh lấy thai, Dương dùng động âm thể lấy ý kín Dương chưng dùng, theo ngõ hầu ở Đạo vậy. Cũng rõ rệt vậy, cho nên Đại diễn lấy số chẳng dùng bỏ dùng, cảnh huống đấy, phương cho dùng Đạo vậy. Tới Thi sách quái biến mà nói, Đạo tức là số mà còn, theo 6 biến, 7 biến, 8 biến, 12 biến, 49 biến, 64 biến, biến với biến nhận lên nhau không chẳng phải Đạo càng biến mà càng có, bèn lấy thành 36, 47, 64, mà số đếm thì Càn sách gồm cả quái số, hào số, không gì chẳng đủ vậy. Ấy lại số với số cùng chức, cùng lấy cảnh huống Đạo dùng, càng diễn mà càng vô cùng vậy, mà gốc ở theo Đạo dùng theo khắp biến ấy, dương làm chưng dùng đều có chẳng biến ấy, âm làm chưng thể vậy. Cho nên âm ngõ hầu theo Đạo vậy.

Dương chẳng thể đứng một mình, tất được âm mà sau đứng. Cho nên Dương lấy âm làm nền. âm chẳng thể tự thấy, hẳn đợi Dương mà sau thấy, cho nên âm lấy Dương làm sướng, Dương biết theo đầu hướng theo tới thành, âm bắt chước phép ở Dương mà trọn theo công lao.

Độc Dương chẳng đứng, lấy âm làm nền, âm một mình chẳng thấy, đợi Dương bèn sướng, lẻ chẵn cùng dựa nhau, thể dụng cùng nên nhau. Cho nên, Càn biết trước mà hướng Khôn dùng thành, là được âm vậy. Khôn bắt chước mà trọn công lao Càn, là âm theo Dương vậy. Xem Trời từ Lâm trở lên, xem Đất từ Độn trở xuống theo tượng, nên du! Trời lấy Thái biến Tỉnh, Đất lấy Tỉnh biến Thái, theo sướng dùng tượng du!

Dương hay biết mà âm chẳng hay biết, Dương hay thấy mà âm chẳng hay thấy. Hay biết hay thấy ấy có làm cho nên tính dương “có” mà tính âm “không”. Dương có theo chẳng lệch, mà Am không theo cũng chẳng lệch. Dương có đi mà âm thường ở, “không” chẳng lệch mà thường ở ấy làm thực, cho nên thể của Dương thường hư mà thể của âm thường thực vậy.

Tính Dương sáng, tính âm mờ. Sáng thì hay biết, hay thấy mà rõ rệt cách dùng, rõ rệt “có”. Mờ thì chẳng hay biết, hay thấy, mà dấu cách dùng “không”. Cho nên rõ nhân là Dương, mà dấu cách dùng là âm. Nhưng Dương lấy biết làm trước, âm lấy tác thành làm trước, lấy mờ dùng thành mà chửa xét theo thành, cho nên có theo cũng chẳng lệch, thành lấy hết mà dùng trước, mà đã thâu tóm theo trước, cho nên không theo chẳng lệch Dương tạo ra “có” mà mới, mới mà ráo đi cũ, thời “có” bỏ đi vậy. âm giữ “không” mà cũ, cũ mà ngậm mới, thời thường ở vậy. Vì dùng làm thể ở, Dương động mà làm khách, âm tĩnh mà làm chủ. Thực rằng ấy, nhà khí lấy thể thấy làm hư mà thể thực làm thuộc vậy. Theo “không” chẳng lệch mà thường ở ấy phải du! Hư rằng ấy, nhà thần lấy khí thấy làm thực, mà thực lại hư vậy, theo “có” chẳng lệch, mà “có” đi ấy phải du! Nếu Thần thời Nhật Nguyệt Tinh dùng theo trải, “không” theo chẳng lệch, mà thường Tinh lấy ở Nhật Nguyệt Tinh tượng “có” mà thể hư, Thần thời tượng “không” mà thể thực, song Nguyệt cũng thể âm, mà cùng với Nhật Tinh đồng ấy là đồng ở Trời chưng dùng mà Thần thời chẳng dùng chưng thể, cho nên chuyên nói tới Thần vậy.

Khí biến mà Hình hóa, Hình có thể chia, mà Thần không thể chia. Dương sinh âm cho nên Thủy thành trước. âm sinh Dương cho nên Hỏa thành sau, âm Dương cùng sinh vậy, thế Tinh cùng đợi vậy. Ấy lấy Dương đi thời âm kiệt (hết), âm hết thời Dương diệt. âm đối Dương làm 2, song Dương đến lại thời sống, Dương đi thời chết. Trời Đất muôn vật sống chết chủ ở Dương thời về đấy dùng 1 vậy.

Nói về biến hóa, thì có chia Khí với Hình, Khí dương thuộc Trời, biến là Khí thuộc Trời, lấy vật theo biến. Hình âm thuộc Đất, hóa là Hình thuộc Đất, lấy vật để hóa. Cho nên, Nhật Nguyệt Tinh Thần thành tượng ở Trời, đó là đều ứng với Khí dùng biến. Thủy Hỏa Thổ Thạch thành chất ở Đất, đó là đều theo Hình dùng hóa. ông Việt Châu lấy thượng quái biến thuộc về Khí, còn hạ quái biến thì thuộc về Hình. Biết lại 1 thấy vậy. Song Khí ấy là nhà Thần, Khí biến thành Hình mà Thần đủ vậy. Hình thì có thể phân chia, như Ngũ hành đều thành mà Hình có thể phân chia mà gọi đấy. Thần thì chu lưu mà không thể phân chia, cũng như Ngũ hành chưa thành Hình trở về trước, cùng thành Hình trở về sau, không gì không phải 1 Khí ấy gây nên đi quanh ở trong, thần diệu mà chẳng phải bởi đâu phân chia ra vậy. Kia 1 lấy 4 biến, Hình phân chia mà Thần hợp, theo khá biết vậy. Thử xem Thủy Hỏa đã thành, cái nào trước cái nào sau, bèn lấy cái cớ âm Dương đợi nhau, Dương sinh ở âm, trước thành là Thủy, âm sinh ở Dương, sau thành là Hỏa. Thủy dùng sinh lấy ở Trời 1, Hỏa dùng sinh lấy ở Đất 2, Thủy đã thành lấy ở Đất 6, Hỏa đã thành lấy ở Trời 7. Như vậy, 1 với 2, 6 với 7 mà trước hay sau chẳng đợi phải nói, bèn biết âm làm Thể, Dương làm Tính, âm cũng sinh Dương, Thể đợi Tính, Tính cũng đợi Thể, cả đôi chẳng thể thiếu nhau. Nếu Dương đi là có Thể mà không có Tính, theo đó mà xét, âm lấy kiệt mà âm hết, nếu âm hết là có Tính mà không có Thể, Thể xét vậy Dương lấy diệt, ấy cho nên động tĩnh đổi gốc sinh thành Đạo để dùng, hết thảy đều đầy đủ ở số vậy. Đạo để dùng nói rằng: âm Dương đều 1 vậy, lấy âm đối Dương thì làm 2, mà sở chủ duy nhất Dương, Dương tôn mà Thần lấy để sai khiến âm đó vậy. Cho nên, Dương lại (đến) Phục, muôn vật quay về sinh, Dương đi hết thì muôn vật tới chết, hợp Trời Đất là hợp sinh với thành, muôn vật biến và hóa, theo sống và chết đều là 1 chủ ở Dương đến hay đi, dẫu có 2 mà quy về ở 1 đó vậy.

Trong Dương là dương Nhật vậy, trong Dương là âm Nguyệt vậy, trong âm là dương Tinh vậy, trong âm là âm Thần vậy, trong Nhu là nhu Thủy vậy, trong Nhu là cương Hỏa vậy, trong Cương là nhu Thổ vậy, trong Cương là cương Thạch vậy. ôi, 4 tượng ấy nếu lẫn lộn với nhau mà dùng đấy, Nhật Nguyệt là âm Dương của Trời, Thủy Hỏa là âm Dương của Đất, Tinh Thần là Cương Nhu của Trời, Thổ Thạch là Cương Nhu của Đất. Trăng ban ngày khó thấy, nên làm âm ở trong Dương, Tinh ban đêm khó thấy, nên làm Dương ở trong âm. Mặt Trời thấy ở ban ngày, mặt Trăng thấy ở ban đêm, mà nửa chẳng thấy là sao vậy? Tinh (sao) nửa thấy ở đêm, là bậc sang hèn vậy. Mặt Trời theo bầu Trời mà chuyển, mặt Trăng theo mặt Trời mà đi, Tinh (sao) theo mặt Trăng mà thấy. Cho nên, Tinh (sao) bắt chước mặt Trăng, mặt Trăng bắt chước mặt Trời, mặt Trời bắt chước Trời. Trời nửa sáng nửa tối, mặt Trời nửa đầy nửa thiếu, mặt Trăng nửa đầy nửa khuyết, Tinh (sao) nửa động nửa tĩnh, đó là ý nghĩa âm Dương vậy. Trong Dương có âm, trong âm có Dương, đó là đạo Trời vậy. Trong Dương dùng mặt Trời dương là đạo nắng đó vậy, trong Dương dùng âm vậy, lấy theo Dương dùng loại, cho nên thấy nắng ở ngày. Trong âm dùng Dương là Tinh (sao) vậy, sở dĩ hay thấy ở đêm, trong âm dùng âm là Thần vậy. Trời Đất vậy, Thần số 12 (1 với 2) Nhật Nguyệt giao hợp, rằng là thần thần, Thể Trời đó vậy, Thể của Trời là Khí không có Vật đó vậy, Tinh làm mặt Trời theo, Thần làm mặt Trăng theo.

Trong Thiên, Thái dương làm mặt Trời, đó là Dương trong Dương, Thái âm làm mặt Trăng nên làm âm trong âm, Thiếu dương làm Tinh đó là Dương trong âm, Thiếu âm làm Thần đó là âm trong Dương. Càn Đoài đều 4 tượng dùng Thái dương, Càn 1 Đoài 2 mà Đoài làm mặt Trăng, là âm đẹp ở trong Dương, lấy chia ở ngang cắt nửa trên Thiên dương, cho nên Đoài làm âm ở trong Dương Càn. Ly 3 Chấn 4 tượng dùng Thiếu âm, mà Chấn làm Thần, là âm ẩn ở trong âm, lại chia ở ngang cắt nửa ở dưới Địa âm, cho nên Chấn làm âm ở trong âm Ly. Đến Khôn Cấn cúng làm 4 tượng dùng Thái âm, ở Đất nói rằng Thái nhu mà Khôn 8 Cấn 7, lại chia cương với nhu làm Thủy làm Hỏa giống như Càn Đoài vậy. Khảm Tốn đồng làm 4 tượng dùng Thiếu dương, ở Đất nói rằng Thiếu cương là Khảm 6 Tốn 5, trong cương lại chia cương với nhu làm Thổ làm Thạch, giống như Ly Chấn vậy. Tuy Dương dùng nội Thiên có khác đôi chút, mà theo bên trong mà biệt bạch gãy gọn vậy. Cho nên suy ra nói 4 tượng chưng dùng, lại như có lẫn lộn dùng biến Càn mặt Trời, Đoài mặt Trăng thuộc Trời, trong Dương dùng Dương, cùng với âm là Khôn thủy Cấn hỏa, lấy Đất theo Trời, thì cũng thuộc Đất. Trong âm dùng Dương, trong âm có Ly làm Tinh, Chấn làm Thần đều thuộc Hỏa, trong Dương dùng dương Cương mà âm Nhu, Khảm làm thổ Tốn làm thạch, đó là lấy Trời coi Đất, thì tự thuộc Đất. Trong âm dùng dương Cương mà Nhu âm, đó là đạo lập nên Trời, nói rằng âm với Dương mà Cương với Nhu đã đủ. Đạo lập nên Đất nói rằng Nhu với Cương mà âm với Dương đều còn, cho nên có thể nói rằng giao cùng lẫn mà hợp lẫn lộn với nhau, không có gì khác là trong Trời có Đất, trong Đất có Trời. Lại suy cho tỏ tường, ngày là Dương, mà mặt Trăng cũng có thể thấy, đó là âm đẹp ở trong Dương. Đêm là âm, mà Tinh có khi mới thấy có khi không thấy, đó là Dương thấy ở trong âm. Duy Trời ngày Dương đêm âm thì lúc nào cũng vậy, không lúc nào chẳng thấy như vậy, mặt Trời thì thấy ở ngày, mặt Trăng thì thấy ở đêm, nửa chẳng thấy này thì theo Tháng dùng Sóc (1), Vọng (15), Hối (30), Huyền (8 và 25), đầy với chẳng thường, mà Tinh dùng thấy ở ban đêm, cũng nửa thấy ẩn lặn. Thần mà thấy ở ban ngày là quý, nửa thấy mà theo về đêm là tiện (hèn). Theo Dương tôn âm sai khiến, cũng như thứ bậc vua tôi đó sao? Hay nửa thấy, lại chẳng những Nguyệt Tinh là thể, Nhật dùng chuyển theo Trời, Nguyệt dùng đi theo Nhật, Tinh dùng thấy theo Nguyệt, cho nên Tinh dùng nửa mà thấy về đêm, lấy theo bắt chước Nguyệt mà Nguyệt phần nửa chẳng thấy ở đêm, theo lúc đầu thì chẳng phải bắt chước theo Nhật với Trời. Trời dùng sáng tối làm hai phần nửa, mà đầy với cùng với mỗi phần nửa. Tinh theo Nguyệt bắt chước mà động tĩnh cũng theo phần nửa, âm dương theo nhau nghĩa vốn như thế. Cho nên đạo Trời âm dương thay đổi nhau đều dấu cái gốc, cùng giao nhau cùng làm “có”. Nhật Dương trong Dương đạo làm nắng, mà Nguyệt thì âm trong Dương mà chẳng nói rét, lấy theo loài Dương mà hay thấy ở ngày. Còn Tinh là Dương trong âm chỉ thấy về đêm. Thần thì âm trong âm mà làm Trời dùng Đất, xưa nói rằng: chỗ không Tinh thì đều là Thần, cũng như nơi không Thạch thì đều là Đất. Số Thần gồm 12 mà bảo rằng là nơi Nhật Nguyệt giao hợp. Vì Thần là Thể của Trời, theo đầy khắp đều Khí, mà không có vật tượng trưng có thể chỉ ra được, lấy phụ ở Nhật Nguyệt dùng theo, thì Tinh làm Nhật theo, chia Dương sáng mà có thể thấy, Thần làm Nguyệt theo, theo âm tối nên chẳng dễ thấy. Cho nên Nhật Tinh chép lấy 10 Cán (phần thân cây, Can vậy) Nguyệt Thần chép lấy 12 Cành (Chi vậy), chính theo để dùng mà chia đều thâu tóm ở đây vậy.

Trời lấy cương làm đức nên nhu chẳng thấy. Đất lấy nhu làm Thể nên cương chẳng sinh. Đó là do lấy Chấn của Trời dùng làm âm, lấy Tốn của Đất mà dùng làm Dương. Đất thuộc âm, khi có Dương mà âm bắt chước theo, bởi vậy rất âm đó là Thần vậy, rất Dương đó là Nhật vậy. Bắt đầu khởi ở dùng Trời, mà Đất theo thì chỉ có Thủy Hỏa mà thôi, đó là lấy trên Đất thì đều là Vật có Chất vậy, âm phục Dương mà Hình Chất sinh, Dương phục âm mà Tính Tình sinh. Dương sinh âm, âm sinh Dương, Dương khắc âm, âm khắc Dương. Dương khi dùng chẳng khá phục âm mà chẳng thấy ở Đất, âm khi dùng chẳng khá khắc Dương mà chẳng thấy ở Trời. Phục Dương dùng Đất thì Thể tất nhu, đó là do sợ Dương mà làm Dương theo dùng. Phục Dương dùng Trời thì Thể tất cương, đó là do chống đối Dương mà làm âm theo dùng. Cho nên, Thủy Hỏa động mà theo Dương, Thổ Thạch tĩnh mà theo âm. Nhật ở chung thủy thì sinh (có đầu có cuối), khi lìa xa thì chết, giao với không giao bởi dùng, rằng nói vậy.

Chấn làm Thần của Trời, mà sao không thấy, đức Trời cương mà nhu lấy phục vậy, do bởi phục nhu cho nên chẳng thấy. Tốn làm đá đất chẳng sinh ấy, thể đất nhu mà cương lấy nhắc nhở vậy. Khắc thì chẳng thể sinh, Chấn dương mà âm hào nhiều, Tốn âm mà hào dương nhiều. Đất sinh âm mà âm bắt chước dương, bắt chước dương để làm tôn dương thành tượng, dùng để nói rằng Càn dương để cho âm bắt chước theo đấy, bắt chước theo phép dùng đó là Khôn, cho nên rất mực âm chẳng bằng thần, rất mực dương chẳng bằng nhiệt. Chấn đến dùng Càn là đức ở số Trời, như Đất thì Khôn làm Thủy, Cấn làm Hỏa, đó là bắt chước theo Trời dùng Nhật và Thần mà thôi. Phàm đã là tôn dương mà sai khiến vật, đó đều bởi âm (thấp) mà dùng làm chưng dụng vậy. Khi lấy bầy ra ở trên Đất như Thủy Hỏa Thổ Thạch, thì mọi vật chẳng gì chẳng thành chất, nguyên theo hình chất bàn về sinh, thì trong âm phục (nép) dương sẽ suy theo Tính Tình cũng dùng sinh, khi dương phục âm, lại lần lượt thay nhau làm gốc rễ dương bèn sinh âm, ví như Ly dùng dương tiêu, Khảm dùng âm sinh đó vậy. âm cũng sinh dương, như Khảm dùng âm tiêu thì Ly dùng dương sinh, ngày theo cùng với sinh, biết theo cùng khắc. Đây sinh kia, là âm dương loại vậy. Cho nên Đất âm bắt chước theo Trời cách dùng, cốt do xem ở cách dùng là phục với khắc vậy. Dương có thể rễ phục mà cũng chẳng dễ phục, như Khảm một hào dương có thể phục, trên Tốn hai hào dương thì chẳng dễ phục, chẳng dễ phục thời chẳng thấy ở Đất, cho nên Đất Hỏa thường thấy ngấm ở Thạch. âm có thể dễ khắc mà cũng chẳng dễ khắc, như Ly một hào âm có thể dễ khắc, trên Chấn hai hào âm thì lại chẳng dễ khắc, chẳng dễ khắc này chẳng thấy ở Trời, cho nên Thần của Trời thường thấy hợp ở Nguyệt. Khi bàn về dương phục, lại có ít có nhiều, như Khôn có 12 hào dương và 36 hào âm (Khôn, Bác, Tỷ, Quan, Bĩ, Tụy, Tấn, Dự), Cấn có 20 hào dương và 28 hào âm (Khiêm, Cấn, Khiển, Tiệm, Độn, Hàm, Lữ, Tiểu quá), đây là dương phục ít, đó là âm theo thể của nhu mà sợ dương, bèn làm dương theo dùng, Khảm có 20 hào dương và 28 hào âm, Tốn có 28 hào dương và 20 hào âm, đây là dương phục nhiều, đó là âm theo thể của cương mà chống dương, bèn làm âm theo dùng. Cho nên Khôn Thủy và Cấn Hỏa, thì Tính của Hỏa cương mà Thể lại nhu, cùng với Thủy đều động chẳng tĩnh nên đều theo dương, đó là vì còn biết sợ dương vậy, Khảm Thổ với Tốn Thạch thì Tính nhu mà Thể lại cương, Thổ với Thạch đều tĩnh mà không động nên đều theo âm, vì chống đối với dương vậy. Qua đây, biết âm bắt chước theo dương cũng còn dương dùng cách phục để làm đứt vậy. Nhật Càn giữa Nam cung Ngọ, Thủy Khôn giữa Bắc cung Tý, Nhật mà ở Thủy cung Tý đó là Càn giao với Khôn, đây là dương lại đến, là quẻ Phục rồi quẻ Lâm quẻ Thái, muôn vật bèn theo sinh. Nhật mà ở Hỏa giao với Khôn cung Ngọ, thì Nhật với Thủy xa lìa, đây là dương lại đi, là quẻ Cấu rồi Độn rồi Bĩ, muôn vật thì 9 phần chết. Theo đây bảo rằng, Nhật ở Nam cung Ngọ thì muôn vật bắt đầu chất biến đổi đó vậy, cho nên Nhật Thủy ở trên thì giao nhau mà chẳng nên lìa vậy.

Dương ở trong Dương thì không dễ mà biến, là Càn vậy, nên một năm chỉ cất lên 12 tháng. âm ở trong âm cũng chẳng dễ biến, là Chấn vậy, nên một ngày dùng chỉ có 12 giờ thôi vậy. Đoài là âm ở trong Dương là Thái dương, Ly là Dương ở trong âm là Thiếu âm, đều có thể biến, nên số ngày trong tháng có thể không đồng đều vậy. Lấy số âm thì lấy 12 để khởi, lấy số dương thì lấy 30 để khởi, mà thường còn 2 và 6 vậy. Cất lên Năm thấy Tháng, cất lên Tháng thấy Ngày, cất lên Ngày thấy Giờ, đó là dương thâu tóm âm vậy, đó là Trời có 4 biến ngậm Đất có 4 biến, Nhật dùng biến ngậm Nguyệt và Tinh Thần dùng biến vậy. Kinh Dịch dùng sinh số 129600, chia ra làm 4320 Thế, đó là số to tiêu trưởng diễn ra làm 30 năm dùng Thần số, tức là theo số vậy. Một năm có 360 ngày, chia ra có 4320 Thần, lấy 30 nhân lên đấy được theo số vậy. Phàm Giáp Tý và Giáp Ngọ làm đầu của Thế, đây là số làm kinh Thế, như Can ngày Giáp tháng Tý, đó là Tinh Giáp Thần Tý, lại nói rằng: đó là số kinh Thế mà Nhật Giáp Nguyệt Tý, Tinh Giáp Thần Tý cũng theo đấy vậy. Vốn chỉ có 1 khí, khi sinh thì làm Dương, khi tiêu thì làm âm, cho nên 2 đó mà lại chỉ 1 mà thôi, 4 đó mà chỉ 2 mà thôi, 6 đó mà chỉ 3 mà thôi, 8 đó mà chỉ 4 mà thôi. Đây chỉ nói về Trời mà chẳng nói về Đất, cũng như chỉ nói về Vua mà không nói về bề tôi, nói Cha mà không nói về Con, nói Chồng mà không nói về Vợ. Song Trời có được Đất thì muôn vật mới có sinh, Vua có được bề tôi thì muôn giáo hóa mới được thi hành, Chồng được Vợ, Cha được Con thì đạo nhà mới thành. Cho nên, có 1 thì tất có 2, có 2 thì tất có 4, có 3 thì tất có 6, có 4 thì tất có 8, Nhật-Nguyệt-Tinh-Thần cộng vào làm Trời, Thủy-Hỏa-Thổ-Thạch gộp vào làm Đất, tai-mắt-mũi-mồm hợp làm cái đầu, tủy-máu-xương-thịt cộng làm thân, đó là 5 dùng số vậy.

âm Dương có khí có tượng, khí thuộc “không” mà chẳng dễ thấy, tượng thuộc “có” mà chẳng dễ biến, lấy 4 quẻ tượng của Trời mà nói thì Càn là dương ở trong dương, đó là thuần dương, là lẻ đó vậy. Lấy năm để dùng 1 tượng của Trời là quẻ Càn, khi cất lên 12 tháng thì có thể biết về 1 năm. Chấn là âm ở trong âm, là chẵn vậy, Nhật dùng 1 tượng này, chẳng khá khi cất lên 12 Giờ mà có thể thấy được. Đó là rất chuẩn mực của tượng khi dùng to hay nhỏ, ở đây cũng chẳng dễ biến đó vậy. Theo nhau mà chẳng khó biến ấy, thì khi nói về Năm phải kể tới Tháng, nói về Ngày thì phải kể tới Giờ. Ngoài số dùng là 12 ra, dẫu Năm có sai đầy hay rỗng theo Phân, mà cũng chẳng lấy biến theo số thường vậy.

Quẻ Đoài và Ly đều 2 lẻ 1 chẵn, Đoài thì làm âm ở trong dương, đó là Tháng (Nguyệt) dùng theo số của Ngày vậy. Ly thì làm dương ở trong âm, là Tinh dùng theo Tháng, đều có thể biến, rằng nói vậy. Năm lấy Tháng để chép, mà Tháng thì được chia làm 12 tháng, Ngày thì lấy Sao, Tinh tú để chép, mà Ngày được chia theo số là 30 ngày, có thể phân chia thì có thể biến, lấy số âm theo Chi của Tháng, tức là lấy theo 12 phần khởi từ Tý đến Hợi là đủ khắp vòng. Số dương theo Can của Ngày, tức là lấy theo 30 phần khởi từ Giáp Tý đến Quý Tị thì cũng đủ một nửa của khắp vòng vậy. Như vậy, thì 12 làm số của 1 Nguyên, cũng là số của Hội, còn 30 là số của 1 Hội dùng số của Vận đó vậy, mà Vận dùng số của 12 Thế, thế dùng 30 năm, cũng tức là còn ở ấy vậy. Nói rằng thường còn 2 và 6, tức là 12, nói rằng số đương lấy số 30 thì thường còn số âm là 12, hoặc lấy số âm là 30 thì số dương thường còn là trong 12, đó tức là Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần lấy theo để suy ra Nguyên, Hội, Vận, Thế, thông qua đây có thể nhận biết vậy. Cho nên, cất lên Năm thì có thể thấy được số của Tháng, cũng như cất lên Nguyên thì thấy được Hội; cất lên Tháng thì có thể thấy được số của Ngày, cũng như cất lên Hội thì thấy được Vận; cất lên Ngày thì có thể thấy được số của Giờ, cũng như cất lên Vận thì thấy được Thế. Tất cả đều lấy số dương 30 thâu tóm số âm 12 mà thấy được vậy. Khi dương thâu tóm âm, thì Trời bèn ngậm Đất, gồm Thủy-Hỏa-Thổ-Thạch là 4 biến của Đất, tương đương với 4 biến của Trời là Nhật-Nguyệt-Tinh-Thần. Trong 4 biến của Trời lại quy về ở Nhật (thâu tóm về), Nhật 1 biến mà ngậm 2, mọi biến thông để đầy đủ thì 1 quẻ biến thành 4 quẻ, bỏ hào Sơ, lấy giao biến hào Thượng, trong hào dương thâu tóm hào âm thì có thể thấy vậy. Bởi đó để suy 64 quẻ biến thành 256 quẻ, đều là dùng cái lý 1 ngậm 4. Cũng là nói lấy số sinh của Dịch 1, 2, 3, 4, 5 đó vậy.

Lấy số 1 làm số của Nguyên, 2 làm số của Hội, 3 làm số của Vận, 4 làm số của Thế, tương đương với số 129600. Lấy số 4320 mà kể là số thâu tóm của Thế về 1 Nguyên thẻ số lẻ, thì bỏ số 5 lại dùng 1 là ý đó vậy. Phàm chứa âm dương tiêu trưởng số lớn mà diễn 30 năm làm 1 Thế, số của Thần cũng là số này vậy. ôi, 6 tháng làm 1 biến, có thể làm 1 năm tiêu trưởng của số nhỏ, 6 Hội 1 biến tương đương với 1 Nguyên khi tiêu trưởng số lớn, lấy số nhỏ để thấy được số lớn, theo số lần 1 Thế được số năm 1 Nguyên, còn khi lấy số lớn để thấy được số nhỏ thì số năm 1 Nguyên, tức là số Thần của 1 Thế đó vậy. Suy theo số mà diễn ra, từ 1 năm khởi, 1 năm có 360 ngày, 1 ngày có 12 giờ, thì số giờ của 1 năm là 4320, 30 năm làm 1 Thế, lấy 30 x 4320 = 10800 giờ, đó là 30 năm theo 360 ngày, 30 x 4320 = 129600, đó là 30 năm theo 4320 giờ của 1 năm, Thần tức là Thế vậy, là Giờ đó vậy. Nếu chia mỗi 10 năm làm 4320 giờ, mà Thế thì lấy số 30 tương ứng với Giáp Tý Giáp Ngọ làm khởi đầu. Giáp Tý thì Đông chí dương đến được quẻ Phục, Giáp Ngọ thì Hạ chí âm đến được quẻ Cấu, mà đến Quý Hợi thì 6 âm cùng cực, Quý Tị thì 6 dương cùng cực, đều tương đương với 30 năm. Theo đồ số kinh Thế (kinh Giờ) thì Nhật theo Giáp, Nguyệt theo Tý, Tinh theo Giáp còn Thần theo Tý, có nghĩa là Nhật và Tinh thì theo dương Can, Nguyệt và Thần thì theo âm Chi, thay đổi nhau theo thứ bậc, Nhật Giáp dùng 1, thì biết rằng 1 là số đứng đầu của Đạo, Nhật làm rường cột cho Vua, mà còn theo đều phép của bầy Tôi vậy. Càn thâu tóm Khôn với 6 Tý, Nhật thâu tóm Nguyệt, Tinh, Thần vốn chỉ làm 1 khí mà thôi, mà lần lượt sinh từ quẻ Phục đến quẻ thuần Càn, sinh này là dương đó vậy, từ quẻ Cấu đến quẻ thuần Khôn mà lần lượt tiêu, tiêu này là do âm đó vậy. Dương sinh thì vật mở, âm tiêu thì vật đóng, nên âm dương là 2 kỳ thực chỉ là 1 khí dùng làm biến đổi vạn vật vậy. Thái Thiếu gồm 4, vốn là 2 khí dùng để chia, nên hào thì có 6 hào mà cũng không lìa ở 3 vạch, quẻ thì có 8 cũng chỉ trong có 4 biến. Xét đấy, thâu tóm làm 1, 1 này làm dương, là Trời vậy, là Vua, là Cha, là Chồng, nói rằng dùng làm cương (rường) theo ra thì là âm Đất vậy, tôi vậy, vợ vậy, con vậy, có thể nói rằng dùng làm kỷ (phép) âm thâu tóm dùng dương, nói cương mà chẳng nói kỷ là khá vậy. Cho nên Nguyệt Tinh đều tóm dùng theo Nhật, đó là dương vốn tôn vậy. Song dương vốn chẳng vần chuyển một mình, tất có được âm để sánh đôi, như Trời, như Vua, như Chồng, như Cha, tất sẽ có Đất, có bề tôi, có vợ, có con, để hợp mà sinh muôn vật mà thành Đạo của Trời Đất, đạo vua tôi, đạo cha con đạo nhà vậy. Nên có 1, 2, 3, 4 thì có 2, 4, 6, 8 theo nhau cùng sánh đôi, cùng diễn ấy thế vậy. Số 5 là sinh số tới cực ở giữa để mà tóm theo 1 chẳng dùng, mà biến 1 duy thì chỉ có 4 biến theo vậy. Cho nên, Nhật-Nguyệt-Tinh-Thần hợp làm 1 Trời, Thủy-Hỏa-Thổ-Thạch hợp làm Đất, tai-mắt-mũi-môm hợp làm 1 đầu, tủy-máu-thịt-xương hợp làm 1 thân, đều 4 cộng mà thành số 5 vậy, nhưng vẫn tóm theo 1 mà thôi.

Dịch có 64 quẻ 384 hào, đều từ ở trong đồ hết, mà Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần thay nhau đắp đổi trái phải ở Trời, lẫn lộn giao qua lại, điều lý rành rành, tự nhiên thành tượng dọc dùng văn (vẻ sáng) là văn của Trời thấy đó vậy. Theo tới số sinh mà nói, Càn lấy 1 làm đầu đứng trước, dùng làm gốc của Trời. Theo tới số thành mà nói, Khôn lấy 2 làm thành, làm hình dùng gốc ở Đất. Từ Phục cho tới quẻ Càn dương sinh dùng thành, từ Cấu đến Khôn, thì thành trở lại dùng sinh. Phàm theo tiến đổi không phương, không gì chẳng phải Đạo cư ngụ ở trong, Đạo ấy là tông tổ Trời Đất muôn vật, ở Trời Đất sinh ra vật, thì vật dùng vạn đấy mà thôi, ở Đạo sinh Trời Đất, cũng ở muôn vật, vật dùng vạn đấy mà thôi. ôi, Đạo ấy là gì? Thái cực vậy. Dịch có Thái cực vốn dĩ đã thâu tóm Trời Đất muôn vật theo ở trong vậy.

Trở lên là Hà đồ Trời Đất toàn số thiên thứ nhất, lấy tiết đầu làm cương lĩnh, các tiết theo sau để phát minh nghĩa của tiết đầu. Tóm bàn theo số 1 mà 2, 2 mà 4, 4 mà 8, 8 mà 16, 16 mà 32, 32 mà 64 là Đạo sinh Trời, Trời sinh Đất, Đất sinh muôn vật, là Thái cực 1 âm dương vậy. Theo ngược, 64 mà 32, 32 mà 16, 16 mà 8, 8 mà 4, 4 mà 2, 2 mà 1 là muôn vật về Đất, Đất về Trời, Trời về Đạo, âm dương 1 Thái cực đó vậy, thấy Hoàng cực tóm ở 1 Nguyên, kinh Thế xem vật, đủ ở đây vậy.

TIêN THIêN TƯỢNG SỐ

Trời Đất định ngôi, tỏ rõ Phục Hy làm 8 quẻ, 8 quẻ tỏ rõ giao lẫn lộn nhau mà thành 64 quẻ. Số đi qua là thuận (số vãng), là số thuận Trời mà đi quay theo bên tả (trái), thì đều là quẻ đã sinh, đó là số vãng vậy. Biết lại đó là ngược (tri lại), như ngược Trời mà đi, đều là quẻ chưa sinh, cho nên nói ràng “tri lai” vậy. ôi, Dịch từ ngược mà thành vậy, nói thẳng giải ý đồ, như ngược mà biết 4 mùa vậy.

Theo thuận số Trời quay bên Trái (tả) mà tiến thì được quẻ đã sinh, đều nói rằng “số vãng” (số đi). Theo ngược Trời đi bên phải (hữu) tiến mà được quẻ chư sinh, đều nói rằng “tri lai” (biết lại). Duy có định ngôi thì chẳng thay đổi, rằng thông khí, rằng chẳng cũng tìm nhau, rằng lẫn lộn nhau, đều Dịch nói ngược lại vậy. Ngược thì “biết lại”, dùng lấy ngược lại để biết 4 mùa. Chấn sơ là Đông chí, Ly Đoài trung là Xuân phân, Càn cuối giao là Hạ chí, đây là dương Nhật tiến mà thứ tự thuận sinh. Dịch mà Hạ chí, dương bèn đi ngược bên phải trong âm mà tiêu dần đó vậy, Tốn sơ là Hạ chí, Khảm Cấn trung là Thu phân, Khôn cuối giao là Đông chí, âm Nhật tiến mà thứ tự thuận sinh, Dịch mà sau Đông chí âm bèn đi ngược bên trái trong dương mà cũng tiêu đó vậy. Qua lại đẩy nhau, tiêu trưởng nhân lên với nhau, 4 mùa vòng quanh, số âm dương thuận ngược, theo đó mà có thể hiểu biết vậy. Làm Trời rất trơn, tựa như lấy Trời đi bên trái đi bên phải, lấy cảnh huống thuận - nghịch, mà đều dùng chữ “nhược” (nếu như) mà suy nghĩ, chưa thể chấp nê, sau nói rằng: dương đi trong dương, âm đi trong âm, số đi đều thuận. Dương đi trong âm, âm đi trong dương, số đi đều nghịch.

Thái cực động tĩnh chia, 2 nghi lập, là 1 chia 2 vậy. Dương trên giao với âm, âm dưới giao với dương, 4 tượng sinh vậy, Dương giao với âm, âm giao với Dương mà 4 tượng Trời sinh vậy, cương giao với nhu, nhu giao với cương, mà Đất sinh dùng 4 tượng vậy. 8 quẻ lẫn lộn giao nhau mà muôn vật sinh, chia âm chia dương, thay đổi dùng nhu cương, cho nên Dịch có “ngôi” mà thành dùng đó vậy. 10 chia làm 100, 100 chia làm 1000, ngàn chia làm vạn, nha gốc có thân, thân có cành, cành có lá, càng to thì càng nhỏ, càng bé thì càng nhiều, hợp dùng làm 1, diễn ra ấy làm vạn. Cho nên Càn lấy chia đấy, Khôn lấy hợp đấy, Chấn lấy làm trưởng đấy, Tốn lấy làm tiêu đấy. Trưởng thì chia, chia thì tiêu, tiêu thì hợp, là 4 chia 8 vậy.

Gốc mà thân, thân mà cành, cành mà lá, đều lấy chia mà có, hợp mà tóm. Lấy 1 càng to thì số theo càng nhỏ, diễn mà chia đấy lấy vạn, càng ít theo số càng nhiều. Diễn mà càng nhiều, là theo ở dương mở, Càn thì chia, là ở dùng ngôi Vua đó vậy, cho nên Càn lấy chia dùng hợp mà càng to, theo ở âm dùng Khôn hợp hấp thụ dùng dấu, nên Khôn lấy hấp. Theo mở mà bầy ra ở nghi bên trái, bắt đầu từ Chấn, mà Nhật rải đều ở trưởng, nên Chấn lấy theo trưởng. Theo hấp mà bầy ra ở nghi bên phải, theo Tốn, mà Nhật theo về ở tiêu, nên Tốn lấy theo tiêu. Lớn còn gốc lớn mà cành lấy chia, lại cành lớn thì lá lấy chia. Phục mà đến Càn, càng lớn thì càng chia, do đó Càn là cùng cực số chia vậy, cho nên Nhật lớn thì chia, kịp đến số chia cùng cực, Càn chuyển Cấu, thì tiệm tiêu vậy. Tiêu thì lá tiêu mà cành lấy hấp, cành tiêu mà thân cây lấy hấp, từ Cấu đến Khôn, càng tiêu càng hấp, Khôn là cùng cực của số hấp. Cho nên nói tiêu thì hấp, khi đến số hấp cùng cực thì lại lớn, do đó Ly Đoài lớn để chia, đi theo bởi đang trong cảnh tiến, Khảm Cấn tiêu để hấp, theo bởi đang ở vào cảnh về.

Càn Khôn định ngôi, Chấn Tốn mới 1 giao, Đoài Ly Khảm Cấn lại giao. Cho nên Chấn dương hãy còn ít mà âm vẫn nhiều, Tốn âm ít mà dương hãy còn nhiều, Đoài Ly dương dần nhiều, Khảm Cấn âm dần nhiều, ấy lấy Thần với hỏa mà chẳng thấy đó vậy.

Càn Nam sáng, Khôn Bắc tối, Trời Đất định ngôi, khi chưa giao âm dương, trên dưới chia vậy. 1 giao gồm Chấn Tốn là mới giao, Đoài Ly Khảm Cấn lại giao, là giao ở giữa và giao ở cuối. Chấn là Càn dương mới giao với Khôn âm, nên dương ít mà âm còn nhiều, Đoài với Ly thì dương dần nhiều. Tốn là Khôn âm trên giao với Càn dương, âm ít mà dương còn nhiều, Khảm với Cấn thì âm dần nhiều, Chấn làm thiên thần, Cấn làm địa hỏa, cả hai đều dương ít mà âm hãy còn nhiều khắc, cho nên Thần thường ẩn mà Hỏa ít âm nhiều chẳng thấy vậy. Ấy từ ích trở xuống đến Dự, sở dĩ là không, vô số đó vậy.

Trước Vô cực, âm hợp dương, sau Vô cực thì có tượng dương chia âm, âm làm mẹ dương, dương làm cha âm, cho nên mẹ dựng con trai trưởng mà làm Phục, cha sinh gái trưởng làm Cấu, ấy lấy dương khởi từ Phục, âm khởi từ Cấu vậy.

Trước nói 4 thì có thể, còn 1 thì không có thể, Trời dùng 4 biến đầy đủ mà 1 lui ở 5, Đất 4 biến đủ là 1 thì lui ở 10, đó là “có” “không” dùng tới cùng cực. Cho nên cơ cực nói rằng dựng mới mà “có” “không” vô cực, đó là Nhật hóa mà “không” vậy. Nói rằng, trước Vô cực vô thoán khá nghĩ thuần dùng âm hấp mà ngậm gốc dương, lấy âm làm mẹ dương mà nghẽn trai trưởng ở trong bụng, dương bèn theo bởi dấy lên từ Phục. Theo dùng dương mở mà chia cành dương, lại là dương làm cha âm mà sinh gái trưởng lúc ban đầu, âm bèn theo bởi khởi ở Cấu. Từ Tốn tiêu mà đến Khôn hấp, tĩnh ngậm dùng cực gốc Trời để sinh, từ Chấn trưởng mà đến Càn chia, động mở dùng cực hang nguyệt để ẩn núp, bèn biết ngàn biến vạn hóa linh diệu trong khoảng 1 động 1 tĩnh.

Ly ở Trời mà đương đêm, nên trong dương có âm. Khảm ở Đất mà đương ngày, nên trong âm có dương đó vậy. Chấn mới giao âm mà dương sinh. Tốn mới tiêu dương mà âm sinh. Đoài dương trưởng, Cấn âm trưởng. Chấn Đoài ở Trời thì dùng âm, Tốn Cấn ở Đất thì dùng dương. Trời lấy mới sinh mà nói, thì âm trên dương dưới, đó là nghĩa giao thái. Đất lấy đã thành mà nói đấy, cho nên dương trên mà âm dưới, ngôi tôn ti vậy.

Dương lấy âm làm “thể”, âm lấy Dương làm “tính”, động là “tính” vậy, tĩnh là “thể” vậy. Tại Thiên thì dương động mà âm tĩnh, tại Địa thì dương tĩnh mà âm động.

Hết tập 7

(Bài viết của cụ Hà Uyên)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: HOÀNG CỰC KINH THẾ TỰ NGÔN

Khuôn mặt của đại gia có đặc điểm gì nổi trội

Chỉ cần sở hữu một trong những đặc điểm tướng cách này, bạn đã có số trở thành đại gia giàu có.
Khuôn mặt của đại gia có đặc điểm gì nổi trội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Tướng mũi đầy đặn

Theo nhân tướng học, mũi là dấu hiệu nhận biết tài vận và quan vận của mỗi người. Khi đánh giá tài vận của ai đó, người ta thường nhìn tướng mũi đầu tiên.

Tướng mũi được coi là đẹp khi đầu mũi có thịt, cánh mũi phải đầy đặn và sống mũi khá cao. . Người có tướng mũi đẹp, cả đời dồi dào tài khí, cuộc sống vô cùng sung túc, không phải lo cái ăn cái mặc. Đây chính là tướng mặt đại gia thường thấy, tiền bạc họ kiếm được nhiều như nước nên phong cách sống cũng vô cùng phóng khoáng.

Ngược lại, nếu lỗ mũi bên to bên nhỏ hoặc cánh mũi hai bên to nhỏ bất nhất là dấu hiệu cho thấy bạn không có duyên trong những khoản kiếm thêm. Chính tài khá nhưng phụ tài kém, ít gặp may mắn về chuyện tiền bạc.

Khuon mat cua dai gia co dac diem gi noi troi hinh anh
Ảnh minh họa

2. Tướng thiên thương sáng

Trên khuôn mặt, thiên thương nằm ở vị trí đuôi lông mày và đuôi mắt. Tướng thiên thương tốt là phải dày mà bằng, khí sắc hồng hào, không khuyết hãm.

Thiên thương đầy đặn là dấu hiệu cho thấy người này có tâm sinh lí hoàn thiện, xử lí công việc một cách thận trọng. Ngoài ra, họ biết cách quản lí tài chính, chi tiêu theo kế hoạch rõ ràng nên điều kiện kinh tế bao giờ cũng từ khá trở lên.

3. Tướng cằm tròn dày

Tục ngữ có câu: “Thiên đình bão mãn, địa các phương viên” (ý chỉ đỉnh trán và cằm đầy đặn phúc hậu) để mô tả những người có tướng mạo tốt.

Trong nhân tướng học, cằm là nơi thể hiện khả năng thu nạp nhiều thứ, như tiền bạc hoặc phúc khí. Cằm càng tròn đầy, dày dặn càng chứng tỏ chủ nhân có khả năng tích trữ tiền tốt, hiếm khi tiêu xài hoang phí. Theo đó, người này cuộc sống an nhàn hưởng nhiều phúc lộc, hậu vận vô cùng tốt đẹp.

4. Tướng tai dày và đều đặn

Theo quan điểm nhân diện học, tai tượng trưng cho phúc khí và tài vận của con người. Người có tướng tai tốt thì vận mệnh cũng tốt đẹp và thường hưởng nhiều phúc khí.

Một cách đơn giản để nhận biết tướng tai dày dặn là khi sờ vào, tai hoặc dái tai phải dày, chắc nịch, tròn và có thịt mới. Chủ nhân của kiểu tai này luôn gặp may mắn về tài vận, đặc biệt là may mắn ở những khoản thu nhập ngoài luồng, ngoài công việc chính.

► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Theo Kiến thức

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khuôn mặt của đại gia có đặc điểm gì nổi trội

Những lời chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 hay nhất

Những lời chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 hay nhất. Ngày 20/11 đang đến gần, nhớ ơn thầy cô đã dạy chúng ta nên người cùng gửi những lời chúc tốt đẹp
Những lời chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 hay nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những lời chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 hay nhất. Ngày 20/11 đang đến gần, nhớ ơn thầy cô đã dạy chúng ta nên người cùng gửi những lời chúc tốt đẹp, ý nghĩa nhất dành tặng thầy cô nhân ngày đặc biệt này – ngày nhà giáo Việt Nam.

Sau đây là những tổng hợp những lời chúc 20/11 tốt đẹp và ý nghĩa nhất dành tặng cô giáo được đánh giá là hay nhất. Hãy tham khảo những gợi ý bên dưới nhé bạn.

Những lời chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 hay nhất

Dẫu đi khắp 4 phương trời, cũng không quên nổi lời thầy/cô khắc ghi “tiên học lễ, hậu học văn”. Con không thầy/cô con không lớn nổi thành người. Kính chúc thầy/cô ngàn lời tốt đẹp, con mong thầy/cô mạnh khỏe để chở thêm những chuyến đò sớm mai.

——–

Dù ngày hôm nay trò đã ở vị trí không phải là một người học sinh, nhưng trò vẫn luôn hướng về một nơi, một mái ấm gia đình thân yêu nhất và trong mỗi bài giảng của thầy/cô dành cho học sinh, sinh viên, trò vẫn nhớ đến những người thầy/cô của mình, nhớ về mái trường đã cho trò vững bước vào đời, với niềm tự hào, lòng biết ơn vô hạn.

———-

Tháng 11 đầy ưu tư nhung nhớ, nhớ ký ức của một thời nhỏ dại. Nhớ thầy/cô của những buổi đến trường, chúc cho thầy/cô thân yêu của con mãi mạnh khỏe và thanh đạt.

Ngày 20/11 em xin được dành những lời chúc ý nghĩa nhất, những bó hoa tươi thắm nhất của mình, và tất cả những lời chúc đó, đều là dành cho thầy/cô, em cũng như bao bạn khác được như ngày hôm nay đó là kết quả của thầy/cô mang lại cho chúng em.

Tháng năm dầu dãi nắng mưa, con đò trí thức thầy/cô đưa bao người. Qua sông gửi lại nụ cười, tình yêu xin tặng người thầy/cô kính thương. Con đò mộc – mái đầu sương. Mãi theo ta khắp muôn phương vạn ngày

Dù đi khắp bốn phương trời, mãi nhớ về Người! Thầy/cô như ánh nến soi tỏ đêm khuya. Như tấm bảng đen vẽ nên kiến thức trong mỗi học trò Dẫu mai đi bốn phương trời Những lời thầy/cô dạy đời đời khắc ghi . 20 tháng 11 đã đến em chúc thầy/cô sức khỏe dồi dào, hạnh phúc!

Con biết khóc trước những tấm lòng hi sinh cao cả, con biết đau trước những số phận éo le của đời người, con biết nhặt lấy chông gai trên đường để bảo vệ những người đi sau… Tất cả đều nhờ công ơn của thầy/cô, 20/11 con xin gửi tới cô lời chúc tốt đẹp nhất.

Cứ mỗi mùa 20/11 về, những kỉ niệm về thầy/cô cô, bè bạn, mái trường lại ùa về trong tâm trí con. Gương mặt gầy gầy, xương xương, giọng nói ấm áp và những lời dạy của thầy/cô luôn in sâu trong trí nhớ con. Con cảm ơn thầy/cô vì đã hết lòng dạy dỗ.

Mọi lời hay ý đẹp đều chẳng đủ để nói hết được công ơn của thầy/cô dành cho chúng em. Dù đã khôn lớn, đã trưởng thành nhưng con luôn là cậu học trò bé nhỏ của ba trong ngôi nhà thứ hai đầy yêu thương ấy.

Cô, người thầy, người chị kính yêu của em, người khiến em cảm phục và cho em động lực trong cuộc sống để e có được ngày hôm nay, người gieo những hạt giống ước mơ vào tâm hồn bé nhỏ của em giá tri đích thực đúng nghĩa của cuộc đời mình. Bao nhiêu ân tình của cô, em không bao giờ quên,em chỉ ngồi đây và cầu chúc cho những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với cô. Nhân ngày nhà giáo Việt Nam, em không thể về thăm cô đươc, em chúc cô luôn khỏe mạnh để cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, để dạy dỗ lớp lớp thế hệ học trò như chúng em. Em mãi mãi là cô trò bé nhỏ của cô.

Thầy là một biển lớn kiến thức, em lái con thuyền nhỏ, thả sức quăng lưới đánh bắt, phải không thưa Thầy? Cô đã cống hiến cả tấm lòng chân thành cho trẻ thơ, cho sự nghiệp. Cô ơi! Cô chính là người mẹ tốt nhất trên thế gian này..

Không phải chỉ vào ngày này em mới nhớ đến thầy nhưng nó sẽ đặc biệt hơn khi lời chúc của em được gửi đến thầy vào những giây phút mà thầy cảm thấy hạnh phúc nhất trong sự nghiệp nhà giáo của mình là được gặp lại học trò cũ, được nghe bọn em tâm sự và kể chuyện lúc học đã chép phao trong giờ thi của thầy…thầy hạnh phúc vì thầy biết bọn em sẽ không bao giờ quên thầy.

Đâu đó bóng thầy theo sau dìu dắt từng bước cuộc đời con. Ơn thầy mãi mãi em ghi trong lòng. Chúc thầy những điều tốt đẹp nhất.

Nhân ngày 20/11, em chúc tất cả các thầy các cô luôn có một sức khỏe thật tốt để những học sinh thân yêu chắp cánh những ước mơ bay cao bay xa hơn nữa

Nếu thầy/cô của bạn còn trẻ, hãy gửi lời chúc bằng tin nhắn tạo hình đặc biệt sau đây. Chắc hẳn thầy/cô của bạn sẽ vui và bất ngờ lắm đó.

。、★、•、、、
、、 ☆ 、\*•
•☆\•\☆\、*
\、*• \☆\、
╭⌒╮⌒⌒╮\*
•╱◥██◣ ★、
|田|田田| \ •、
╬╬╬╬╬╬╬╬
Lớp học trò ra đi,
còn cô ở lại
Mái chèo đó là những viên phấn trắng
Và cô là người đưa đò cần mẫn
Cho chúng em định hướng tương lai!

__ __ )__ll___)
)___ll____)
)____ll_____)
,__,_l;;;;l=:Ỉ:=:Ỉ:=:Ỉ:=:Ỉ:=Ỉ:-*’/
_/__Nhà__Gíao__Việt__,/
Tháng năm dầu dãi nắngmưa,
Con đò trí thức thầy đưabao người.
Qua sông gửi lại nụ cười
Tình yêu xin tặng người thầy kính thương.
Con đò mộc – mái đầu sương
Mãi theo ta khắp muôn phương vạn ngày


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lời chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 hay nhất

Xem xét một cách khoa học cách sắp xếp và bố trí trong nhà ở –

Thông thường, khi tiến hành trang trí nhà cửa, các gia đình luôn đặt các tiêu chí đẹp mắt, mới lạ, và có giá trị sử dụng lên hàng đầu mà quên mất một yếu tố cũng không kém phần quan trọng khác, đó chính là tính khoa học. Trong xã hội khoa học tri th

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

25_DOOL_20110310_YEN_TT_38

ức ngày nay, quan niệm này cần phải được thay đổi. Chẳng hạn như những chiếc ghế và bàn làm việc trước khi được bán ra thị trường đều phải trải qua giai đoạn thiết kế sao cho phù hợp với chiều cao trung bình của người sử dụng, những người quá cao hay quá thấp nếu sử dụng các sản phẩm này chắc chắn sẽ không cảm thấy thoải mái. Để giải quyết vấn đề này cần có những bộ óc tư duy sáng tạo một cách khoa học của nhà sản xuất cũng như cách lựa chọn thông minh của người tiêu dùng.

Việc sản xuất và chọn mua đồ dùng gia đình phải phù hợp với yêu cầu của việc phát triển bình thường của cơ thể con người. Không nên chỉ quan tâm quá đến kiểu dáng, màu sắc và chất lượng của sản phẩm mà còn phải chú ý đến đặc điểm cơ thể của từng thành viên trong gia đình cũng như những yêu cầu đặt ra về chức năng của thứ đồ dùng mà mình sắp mua. Cụ thể hơn, cần căn cứ the0 quy luật hoạt động, kích thước từng bộ phận cũng như tư thế của từng người khi sử dụng sản phẩm để xác định kết cấu, kích thước và vị trí đặt sản phẩm. Chẳng hạn, với một ngưòi có nhu cầu nghỉ ngơi hoặc đọc sách thì cần một chiếc ghế sôpha mềm và hơi thấp, như vậy đôi chân có thể co duỗi tự do, tạo cảm giác thoải mái và quên hết mệt mỏi. Khi viết chữ thì một chiếc ghế có độ cao vừa phải so với bàn làm việc là lí tưởng nhất. Nếu đã nắm rõ những quy luật trên thì có nghĩa là bạn đã kết hợp thống nhất được các tiêu chí về chức năng, tính ứng dụng và tính thẩm mĩ trong quá trình sản xuất cũng như lựa chọn các sản phẩm đồ dùng gia đình. Như vậy không những tăng cường được hiệu quả nghệ thuật trong trang trí nội thất mà còn có thể bảo vệ được sức khỏe và tránh mắc phải những khiếm khuyết về hình thể.

Với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh hiện nay, các tòa nhà cao tầng mọc lên san sát, trong khi đó, có những cặp vợ chồng mới cưới lại không xoay sở nổi một mảnh đất để xây nhà. Họ phải sống trong những ngôi nhà tồi tàn và thiếu thốn về mọi thứ. Tuy vậy, trên thực tế, chỉ cần để tâm một chút đến cách bài trí các vật dụng trong nhà thì vấn đề trên sẽ không còn là chuyện gây đau đầu nữa, thậm chí ngôi nhà của bạn sẽ trở nên “hấp dẫn” hơn.

Đối với các phòng ngủ có mái nghiêng, tốt nhất nên trang trí bằng các vật dụng làm từ mây tre đan, khăn trải bàn hay trải ghế có thể dùng vải bông hoặc vải thô sơ chế. Cách tô điểm căn phòng bằng những vật dụng có nguồn gốc thiên nhiên như vậy làm cho người ta có cảm giác đang được hòa mình trong không khí của một vùng quê thanh bình. Đây cũng là một trong những phong cách thiết kế nội thất thịnh hành hiện nay. Nếu trần nhà bạn hơi thấp thì họa tiết của các bức tường bao quanh nên là dạng kẻ carô, còn với một căn phòng có các đồ dùng không quá cao, cũng có thể áp dụng phong cách trang trí theo lối đồng quê.

Phong cách trang trí đối với các phòng ngủ có trần nhà cao cũng có điểm thú vị riêng. Có một số kiến trúc cổ, diện tích thì hẹp, nhưng trần nhà lại quá cao, làm cho ngưòi ta có cảm giác về một nơi chật hẹp và âm u tĩnh mịch. Với những căn phòng như vậy, nên đặt vài chiếc dầm ngang ở độ cao cách mặt đất khoảng 2,5 m, chú ý sao cho vân gỗ lộ ra ngoài, ngoài ra có thể trang trí thêm vải màu, treo vài giỏ quả nhựa như nho, táo, hoặc trải vài tấm thảm, như vậy không khí trong phòng sẽ trở nên ấm áp hơn.

Nếu độ sáng không tốt, có thể tạo ra một không khí yên tĩnh bằng nhiều kỹ xảo khác nhau, phương pháp chủ yếu là sơn màu các bức tường hơi đậm một chút, trần nhà mặt đất và đồ dụng trong nhà đều sử dụng tông màu sáng, ánh đèn có thể chiếu lên trên hoặc hướng xuống mặt đất, làm cho căn phòng có vẻ thoáng hơn. Đương nhiên các màu sử dụng trong phòng nên càng đơn giản càng tốt, và căn phòng nên có độ thông gió nhất định.

Việc tạo dựng một góc không gian vui chơi giải trí không những làm tăng tính nghệ thuật và cá tính riêng của căn phòng, mà còn có tác dụng khá tốt đối với việc làm phong phú đời sống của trẻ nhỏ, đồng thời góp phần vào quá trình phát triển trí não của chúng. Nếu cảnh tưởng thiên nhiên bên ngoài đẹp mắt, bạn hãy nghĩ cách đưa cảnh tượng ấy vào trong nhà của mình, hoặc cũng có thể dùng những vật liệu có sẵn ở bên ngoài để trang trí bên trong, thậm chí có thể vẽ lên tường các hình tượng thiên nhiên như cây xanh, hoa cỏ, chim bay bướm lượn…, tạo cho căn phòng một không khí sống động như bên ngoài. Như vậy, bạn có thể ngồi trong phòng mà tận hưởng cảm giác như đang sống giữa thiên nhiên.

Trong đời sống thường ngày, chúng ta thường hay giữ lại những thứ đồ đựng khác nhau như bình rượu, vò rượu, hay các đồ vật khác như bộ đổ trà, dụng cụ để ăn, đĩa đựng hoa quả, gạt tàn thuốc lá, ống đựng bút hay lọ đựng trà… Có thể nói, chúng tạo một thể thống nhất không những đẹp về mặt thẩm mĩ mà còn có giá trị sử dụng. Bỏi thế chúng ta không nên xem nhẹ vai trò của những vật này trong trang trí nhà cửa. Nhờ có chúng mà căn phòng của chúng ta mới trở nên có hồn và có sức sống. Giá trị sử dụng của chúng làm cho căn phòng trở nên tiện nghi hơn, đồng thời với cách tạo hình đẹp mắt và độc đáo có vai trò làm điểm nhấn cho cả căn phòng.

Còn về các bức thư họa, hàng thủ công mĩ nghệ hay các thứ đồ chơi quý hiếm… vốn đã là những thứ dùng để trang trí, chúng có kiểu dáng bắt mắt và được chế tác với nhiều phong cách rất riêng. Vẻ đẹp tiềm ẩn của chúng nằm ở chỗ có thể khơi dậy ở người thưởng thức những cảm xúc, những ý tưởng và lí tưởng riêng.

Đặc điểm của phong cách thiết kế nội thất truyền thống là đưa lí tưởng cũng như hoài bão thực hiện lí tưởng của con người vào thể hiện trong không gian bài trí nội thất, mục đích là để thể hiện quyết tâm thực hiện lí tưởng của chính con người, ngay cả khi ở trong môi trường sống thường ngày.

Với kiểu thiết kế này thì thư pháp là một công cụ khá phù hợp. Thư pháp có tính biểu đạt, nó có thể diễn đạt rất chuẩn xác một tâm trạng hay tư tưởng nào đó cũng có thể miêu tả một sự vật và ranh giới của nó. Treo một bức thư pháp trong phòng, vừa có tính thẩm mỹ vừa có tác dụng mở lối cho người thưỏng thức chúng.

Để ngôi nhà của bạn tăng thêm ý vị và tràn đầy sức sống thiên nhiên thì vài chậu cây cảnh hay một lọ hoa tươi được xem là lựa chọn sáng suốt. Điều đó không những tạo không khí trong lành, mà còn làm cho ngôi nhà của bạn thêm sống động, nhiều màu sắc. Đây cũng là một trong những phương pháp trang trí nội thất lí tưởng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem xét một cách khoa học cách sắp xếp và bố trí trong nhà ở –

Khám phá duyên vận trong lòng bàn tay

Đường chỉ tay Tình cảm thể hiện đầy đủ mọi điều có thể xảy ra trong vận trình tình duyên của bạn. Đường hôn nhân là một đường nhỏ ở phía dưới ngón út, bắt đầu
Khám phá duyên vận trong lòng bàn tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Đường chỉ tay Tình cảm thể hiện đầy đủ mọi điều có thể xảy ra trong vận trình tình duyên của bạn. Đường hôn nhân là một đường nhỏ ở phía dưới ngón út, bắt đầu từ rìa ngoài bàn tay kéo dài vào phía trong bàn tay. Những người có nhiều đường hôn nhân sẽ thể hiện sự chia cắt trong hôn nhân. 

  Đường Tình cảm đậm, rõ nét nhất là đường có ý nghĩa hôn nhân, còn những đường nhỏ và mảnh xung quanh là thể hiện sự lãng mạn của những cuộc tình. Đường này càng gần ngón út thì hôn nhân càng đến muộn.
 
Số đường giao cắt với đường Tình cảm sẽ tiết lộ số cuộc hôn nhân mà bạn sẽ trải qua. 
 
Những đường không cắt mà chỉ gặp đường “Hôn nhân” sẽ biểu thị là số con cái của bạn.

Kham pha duyen van trong long ban tay hinh anh
Đường màu đỏ là đường Tình cảm

 
Đường hôn nhân có những đường tách lúc đầu cho thấy bạn phải trải qua một thời gian dài yêu đương trước khi đi đến hôn nhân.
 
Đường hôn nhân có những đường tách ở phía cuối thể hiện sự chia cắt trong hôn nhân.
 
Nếu đường hôn nhân bị đứt đoạn, không liền mạch thể hiện sự tạm chia ly, nhưng sau đó hai bạn sẽ đoàn tụ.
 
Nếu nửa kia của bạn có một đường chỉ tay ngắn song song với đường hôn nhân thì có thể họ đã có mối quan hệ trước hoặc sau hôn nhân với bạn. Nếu đường chỉ tay ngắn ngay dưới đường hôn nhân chứng tỏ người ấy luôn có mối quan hệ ngoài luồng trong suốt thời gian hôn nhân.
 
Nếu đường Tình duyên cách xa gò Thủy tinh (khu thịt dày lên dưới ngón út) gần đường tâm đạo, thì bạn sẽ kết hôn sớm. Ngược lại, nếu đường này gần ngay ngón út bạn sẽ kết hôn muộn.

Xòe bàn tay đoán ngay ra tài vận
Muốn biết vận mệnh của mình hung hay cát thì bạn hãy quan sát ngón tay cái của mình. Nếu ngón cái không quá cong, không cứng quá cũng không mềm quá thì người
Nếu bạn có đường hôn nhân chằng chịt, thì mỗi đường sẽ thể hiện một lần hôn nhân của bạn. Đường dài và đậm nhất thể hiện cuộc hôn nhân tốt đẹp nhất.
 
Một đường hôn nhân đậm nét và ít đường giao cắt sẽ là điều tốt nhất dành cho bạn, chúng hé lộ một cuộc hôn nhân bền chặt với người bạn yêu.
 
Trước khi xem đường hôn nhân, chúng ta cần hiểu rõ vị trí của nó trong lòng bàn tay. Có thể có nhiều hơn một đường ở ngay phía dưới ngón út. Nó không đậm và dễ nhận biết như 3 đường cơ bản khác, nhưng nếu xem kĩ thì bạn có thể nhận ra rõ ràng.   
► Bói tình yêu để biết nhân duyên của bạn và một nửa của mình

Phạm Yến (Theo Hypnotism)   
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khám phá duyên vận trong lòng bàn tay

Điểm danh 4 chòm sao nhỏ nhen, có thù tất báo

Nhưng nhiều người tâm địa không được rộng mở. không thể chịu thiệt. Chính xác là những chòm sao nhỏ nhen ấy là ai, điểm danh xem nào.
Điểm danh 4 chòm sao nhỏ nhen, có thù tất báo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Làm người phải rộng lượng, mọi việc phóng khoáng, không cần quá chấp nhặt những chuyện nhỏ, trong lòng cũng đừng tính toán chi li. Nhưng nhiều người tâm địa không được rộng mở như vậy, không thể chịu thiệt, chỉ cần đụng phải họ thì chắc chắn ghi nhớ trong lòng, thừa dịp có thù tất báo. Chính xác là những chòm sao nhỏ nhen ấy là ai, điểm danh xem nào.

Diem danh 4 chom sao nho nhen, co thu tat bao hinh anh
 

Bạch Dương

  Trước đây vẫn thấy Bạch Dương là chòm sao dịu dàng, phóng khoáng nhưng bây giờ mới biết, họ thực sự là chòm sao nhỏ nhen. Nhìn qua tưởng nhiệt tình, không câu nệ tiểu tiết nhưng lại táo bạo và có phần hung hãn, chỉ cần bị chọc phải thì nhất định sẽ không để yên.   Không bao giờ có chuyện cừu trắng bỏ qua cho người đã làm mình khó chịu. Kể cả chỉ là việc vô tình, không hề cố ý nhưng họ cũng ghi nhớ, một mực làm theo ý mình, bất chấp đối phương có thành ý tới mức nào. Như thế này là quá trẻ con, quá ngông cuồng rồi đấy, cẩn thận sẽ làm ra những việc không thể tha thứ được.
Xem thêm bài viết Tuổi Dần cung Bạch Dương: Tài năng và trung thực
 

Sư Tử

  Ai cũng biết Sư Tử là chòm sao rất coi trọng mặt mũi, thích thể hiện, lúc nào cũng muốn có sự xuất hiện hoàn hảo nhất. Nếu người khác làm họ mất mặt, mất sĩ diện thì quả thực là chuyện lớn rồi. Không nuông chiều, không dung túng, không nhân nhượng, tìm cách báo thù thật nhanh để hả lòng hả dạ.   Sư Tử thích được sùng bái, họ coi điều ấy cao cả hơn tất thảy mọi thứ nên có người dám xâm phạm thì cứ chờ mà đợi chòm sao này đi hỏi tội đi. Nhưng cũng có lúc mặt mũi không phải là cái quan trọng nhất đâu Sư Tử, có những người chỉ muốn tốt cho bạn mới góp ý chân thành, thẳng thắn thì bạn cũng ghi hận rồi làm ra những việc chẳng quân tử, đàng hoàng chút nào cả. Như vậy thì có xứng đáng không?
Xem thêm bài viết 10 điều nhất định phải nhớ khi yêu người cung Sư Tử
 

Bảo Bình


Diem danh 4 chom sao nho nhen, co thu tat bao hinh anh
 
Bảo Bảo là chòm sao giống như một làn gió mát, bình thường đối xử với người khác hết sức ôn hòa, nhã nhặn, hiểu ý nhưng tuyệt đối không nên cho rằng họ dễ bắt nạt, có thể xuề xòa bỏ qua mọi chuyện. Thực chất đây là chòm sao nhỏ nhen, không thù dai nhưng rất sòng phảng, luôn ghi nhớ thái độ của mọi người đối với mình.   Ai tốt với họ thì họ tốt lại, ai không tốt với Bảo Bình tuyệt đối không thể sống yên. Có chuyện liền nói, có thù tất báo, đố mới chính xác là phong cách của họ. Thế nên, không ít người bị vẻ bề ngoài dễ dãi, thoải mái của chòm sao này đánh lừa, qua loa với họ rồi phải nhận kết quả đau đớn, Chú ý nhé, ở nhà họ có treo biển “cấm chơi đểu đấy”.
Xem thêm bài viết Bảo Bình - lập dị và dẫn đầu
 

Ma Kết

  Chòm sao mang chủ nghĩa đại nam tử rất mạnh, có tính gia trưởng bất kể là nam hay nữ, nhất định không thể chịu đựng được chuyện người khác ở chốn đông người vạch trần khuyết điểm, điểm chưa tốt của mình. Họ coi trọng tình cảm, người biết điều thì Kết Kết rất quý, người không biết điều, tuyệt đối không dung tha.   Nói họ là chòm sao nhỏ nhen cũng được nhưng đó là nguyên tắc sống của Ma Kết, không thay đổi. thế nên chọc ai thì chọc chứ đừng chọc tới họ nhé. Có thể chỉ vì một câu nói không đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ mà họ sẽ ghi nhớ suốt đời, tuyệt giao quan hệ, làm ra những chuyện khiến người khác phải sợ đấy.   Sống trên đời, nếu có thể nghĩ thoáng được thì thoáng ra một chút nhé, không chỉ cho người khác đường sống mà cũng để bản thân thoải mái hơn. Cứ ghi thù ghi hằn mãi cũng đâu phải chuyện tốt lành gì đúng không nào. Người hiền đức sẽ được ông trời báo đáp, không hiền lành dễ bắt nạt nhưng cũng đừng quá khắt khe thì cuộc sống sẽ ấm áp hơn rất nhiều đấy Bạch Dương, Sư Tử, Bảo Bình, Ma Kết ạ. Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần Gợi ý điểm du lịch lý tưởng cho 12 cung hoàng đạo 5 chòm sao ngốc nghếch, yêu cũng chậm như rùa
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh 4 chòm sao nhỏ nhen, có thù tất báo

Màu sắc nội thất hợp với người mệnh Thổ

Theo quan niệm phong thủy, người mệnh Thổ hợp với không gian nội thất mộc mạc, đơn giản và được bài trí gọn gàng, tự nhiên.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi bắt đầu khám phá hay sử dụng không gian, màu sắc có nhiều tác động trực tiếp tới thị giác. Trong nhà ở, việc chọn lựa màu sắc thường dựa trên nhiều yếu tố và tiêu chuẩn nhưng điều quan trọng nhất là phải phù hợp với tính cách, cảm xúc và sở thích của người dùng. Đặc biệt, đối với người Á Đông, còn tính toán màu sắc ngôi nhà dựa trên quy luật Ngũ hành tương khắc, tương sinh theo quan niệm phong thủy.

màu sắc nội thất 
Chủ nhà mệnh Thổ trên 40 tuổi nên sử dụng khhông gian nội thất này

Theo phong thủy, màu sắc sẽ hình thành nên những trường năng lượng tác động tới môi trường nhà ở và các thành viên trong gia đình. Vì thế, chọn màu sắc phù hợp có thể giúp hài hòa, cân bằng nguồn năng lượng âm dương, phát huy điều tốt và hạn chế những bất lợi từ môi trường tới cuộc sống con người.

Hành Thổ tượng trưng cho trái đất, có tính cân bằng và trung tâm. Hành Thổ cũng là biểu tượng, nguồn gốc của việc nuôi dưỡng, ươm trồng và phát triển, giúp hướng tới nguồn cội, vững chải của sự sống. Vì thế, năng lượng từ hành Thổ mang sự vững chải, người có mệnh Thổ thường có tính cách điềm đạm, ôn hòa, sâu sắc và thận trọng. Sự kiên nhẫn, thủy chung, bền bỉ và trung thành cũng là những tính cách nổi bật của người mệnh Thổ.

trang trí nhà 
Gia chủ mệnh Thổ nên chọn màu bản mệnh như cam đất, nâu, nâu đất
hoặc màu tím, đỏ, hồng của mệnh hỏa

Theo đó, gia chủ mệnh Thổ nên lựa chọn màu sắc căn nhà như sau:

- Chọn màu tím, hồng, đỏ của mệnh Hỏa vì Hỏa sinh Thổ (theo nguyên tắc tương sinh với bản mệnh).

- Chọn màu bản mệnh của Thổ gồm cam đất, nâu, nâu đất.

- Không nên sử dụng màu xanh lá của mệnh Mộc bởi Mộc khắc Thổ (theo nguyên tắc tương khắc với bản mệnh).

trang trí nhà theo phong thủy 
Không nên sử dụng màu xanh lá của mệnh Mộc vì Mộc khắc Thổ

Ngoài việc lựa chọn màu sắc, gia chủ mệnh Thổ nên chú ý tới phong cách thiết kế của căn nhà và vật liệu sử dụng trong nhà. Phong cách thiết kế thô mộc, truyền thống hoặc thô mộc hiện đại (modern brutalism, modern rustic) phù hợp hơn cả. Các gam màu trung tính nóng như nâu nhạt, cam nhạt, xám nâu, vàng nhạt, vừa được người Việt Nam ưa chuộng vừa ăn ý với không gian theo mệnh Thổ. Chúng được dùng khá nhiều trên các sàn, mảng tường, trần, gắn với sự mộc mạc, ấm cúng và mang đến cảm giác sạch sẽ. Đặc biệt, màu nâu đậm chỉ nên nhấn vào một vài vị trí nhỏ như ghế sofa, một mảng tường đặc biệt, gối, thảm, bộ bàn ghế ăn hoặc các vật dụng trang trí.

màu sắc nhà đẹp 

Người mệnh Thổ hợp với không gian nội thất dành cho thường khá mộc mạc, đơn giản, ít phá cách, không cầu kỳ và được bài trí gọn gàng, ngăn nắp, tự nhiên. Không gian hướng tới sự thoải mái, tiện nghi và tiện dụng cho người dùng, ưu tiên yếu tố công năng. Vật liệu đá, đất, gạch, sỏi, bê tông, sành sứ thường phù hợp với không gian này, chất mộc mạc có khả năng kết nối ngôi nhà với môi trường thiên nhiên.

(Theo Vnexpress)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Màu sắc nội thất hợp với người mệnh Thổ
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd