Mơ thấy sát hại người khác: Đang chịu đựng áp lực tình cảm –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Trong các công trình phục vụ đời sống trong gia đình, đặc biệt là các gia đình nông thôn, hầu như nhà nào cũng đào giếng để chủ động lấy nước sinh hoạt.
Trong cái nhìn của phong thủy học, vị trí đào giếng cũng rất quan trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như gia đạo của gia đình đó, cho nên việc đặt giếng cũng có một số kiêng kị nhất định.

Trước tiên, giếng không được đặt tại phương tọa của căn nhà. Phong thủy học có câu “Sơn quản nhân đinh, thủy quản tài lộc”. Một ngôi nhà hợp cách phải có vượng khí chiếu tới phương tọa của căn nhà và căn nhà đó được dựa và núi, đồi hoặc phía sau có nhà hàng xóm cao tầng, như vậy người nhà mới khỏe mạnh, ít bệnh tật, thêm nhân khẩu.
Nếu ta đặt giếng tại phương tọa của căn nhà, đương nhiên là phá cục, thành ra vượng sơn hạ thủy, dân gian thường nói là vượng khí rơi xuống giếng, sẽ dẫn đến tình trạng sức khỏe người nhà đó kém, bệnh tật khởi phát.
Lấy ví dụ nhà tọa càn hướng tốn, lập vào vận 8.

Phương càn có vượng khí chiếu tới nên nhân đinh vượng, sức khỏe tốt. Nếu đào giếng tại phương càn thì sẽ phá cục, vượng tinh lạc thủy, gây tổn hại nhân đinh, tốt mà hóa xấu.
Ngoài ra theo phép xưa, đào giếng không nên đào trên 12 chữ địa chi (tý, sửu, dần…) vì thủy động thuộc dương cho nên nên đào trên các thiên can. (Giáp, ất, bính, đinh, canh, tân, nhâm quý.) Vì có câu: ” Vạn thủy vô tòng thiên thượng khứ. ” (Vạn dòng nước đều theo thiên can mà đi). Bốn chữ dương thiên can là giáp, bính, canh, nhâm tốt hơn âm thiên can là ất, đinh, tân, quý.
Điều quan trọng nữa là tuyệt đối không được đào giếng tại phương vị hoàng tuyền của căn nhà.
Hoàng tuyền có bát sát hoàng tuyền, tứ lộ hoàng tuyền.
Bát sát hoàng tuyền được tính toán dựa trên phương tọa của căn nhà.
Nhà tọa cung khảm ( bắc ) hoàng tuyền tại thìn
Nhà tọa cung cấn ( đông bắc ) hoàng tuyền tại dần
Nhà tọa cung chấn ( đông ) hoàng tuyền tại thân
Nhà tọa cung tốn ( đông nam ) hoàng tuyền tại dậu
Nhà tọa cung ly ( nam ) hoàng tuyền tại hợi
Nhà tọa cung khôn ( tây nam ) hoàng tuyền tại mão
Nhà tọa cung đoài ( tây ) hoàng tuyền tại tị
Nhà tọa cung càn ( tây bắc ) hoàng tuyền tại ngọ.
Tứ lộ hoàng tuyền được tính toán dựa trên hướng của căn nhà.
Nhà hướng canh, đinh hoàng tuyền tại khôn
Nhà hướng khôn hoàng tuyền tại canh, đinh
Nhà hướng ất, bính hoàng tuyền tại tốn
Nhà hướng tốn hoàng tuyền tại ất, bính
Nhà hướng giáp, quý hoàng tuyền tại cấn
Nhà hướng cấn hoàng tuyền tại giáp, quý
Nhà hướng tân, nhâm hoàng tuyền tại càn
Nhà hướng càn hoàng tuyền tại tân, nhâm
Như vậy ta thấy rằng trong 24 sơn hướng, chỉ có 8 thiên can và tứ duy khôn, tốn, cấn, càn là gặp tứ lộ hoàng tuyền.
Hoàng tuyền là hung sát dữ theo thuyết phong thủy, âm trạch hay dương trạch đều phải kiêng kị cả. Phương của hoàng tuyền không được mở cổng, cửa, đào ao, đào giếng. Phạm phải thì gia đạo gặp hung tai.
Đào giếng không được đối diện với bếp. Tỉnh táo đối diện nam nữ dâm loàn, mắc bệnh về mắt và hệ tim mạch.
Giếng cũng không nên đào tại cung đoài ( hướng tây ), vì kim thủy đa tình, tham hoa luyến tửu, là phương vị đào hoa sát. Cũng không nên đào tại cung càn ( hướng tây bắc ), sẽ phát bệnh về chân.
Người xưa có đề thơ nói về việc đào giếng như sau:
Đào giếng phương tý sinh điên loạn
Phương sửu anh em khó thuận hòa
Dần mão tỵ thìn đều bất lợi
Tuất ngọ tìm nước họa không xa
Giếng tại hợi mùi là cực xấu
Thân dậu hung rồi lại hóa may
Duy ở cung càn chân phát bệnh
Tại giáp canh nhâm mặc sức đào
Giếng bếp nhìn nhau nữ dâm loạn
Phương đoài khơi giếng quả không hay.
Trên đây là một số kiêng kị khi đào giếng, không những đào giếng kị mà suy rộng ra, đặt bể nước cũng phải tuân theo nguyên tắc này để tránh hung tìm cát.
![]() |
![]() |
| ► ## cung cấp thông tin Tử vi trọn đời chuẩn xác nhất theo khoa học xem bói |
| ► Mời các bạn đọc: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp và suy ngẫm |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
![]() |
Dường như, thủy tinh đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc trang trí nhà cửa. Từ hành lang bằng kính cho đến gạch thủy tinh trong phòng khách... Vậy trong phong thủy, thủy tinh có ý nghĩa huyền bí như thế nào?

Cùng với sự đổi mới không ngừng của trào lưu nhà ở, những người trẻ tuổi ngày nay có xu hướng thích dùng đồ trang trí được làm từ chất liệu thủy tinh để trang trí cho ngôi nhà của mình. Từ hành lang bằng kính cho đến gạch thủy tinh trong phòng khách... Một vài gia đình còn phá bỏ đi tường bằng gạch trong phòng ngủ và phòng khách để đổi sang tường kính vì nhận thấy rằng tường kính có thể khiến cho không gian trở nên rộng rãi hơn.
Tuy nhiên, thủy tinh là một loại chất liệu đặc biệt, vì vậy khi dùng thủy tinh trong nhà thì càng phải chú ý nhiều hơn.
Kiêng ngăn giữa phòng ngủ và phòng khách bằng kính
Theo như phong thủy, phòng khách là nơi để tiếp khách thuộc phần dương, còn phòng ngủ là nơi để gia chủ có thể nghỉ ngơi thuộc phần âm. Nếu sử dụng tường kính để ngăn cách hai phòng này thì có thể dễ dàng nhìn thấy nhất cử nhất động của gia chủ và khách trong phòng. Như vậy âm dương sẽ mất cân bằng khiến cho tâm trạng con người bất ổn, tinh thần hoảng loạn.
Kiêng lắp đặt phòng tắm kính trong phòng ngủ
Một vài cặp vợ chồng trẻ vừa mới kết hôn thích lắp đặt phòng tắm kính trong phòng ngủ vì cho rằng như vậy có thể làm tăng thêm độ mặn nồng cho tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên trong phong thuy thiết kế phòng tắm kính là điều kiêng kỵ. Vì nhà vệ sinh dù sao thì cũng là nơi chứa nhiều tà khí thuộc phần âm cần phải được che lại. Vì thế nên dùng tường bằng gạch thay cho tường kính trong suốt.
Kiêng dùng gạch thủy tinh cho ngôi nhà
Trong một vài thiết kế của những ngôi nhà gỗ hay biệt thự sang trọng có khi người ta sử dụng gạch thủy tinh để trang trí cho ngôi nhà bằng cách phủ một lớp gạch thủy tinh nên trên sàn nhà, đồng thời tạo các hình vẽ hoa văn lên đó để tạo vẻ đẹp tinh tế cho căn phòng.
Vì là thủy tinh trong suốt nên không thể tạo cho bạn cảm giác như đang bước trên sàn nhà thật, và chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy thiếu đi cảm giác an toàn. Mà sàn nhà lại cần phải vững chắc vì thế gạch thủy tinh không thích hợp để sử dụng cho ngôi nhà của bạn.
Kiêng đặt tường kính thẳng giường ngủ
Tường kính cũng là một giải pháp mà các kiến trúc sư thích sử dụng khi thiết kế nhà ở hiện nay. Thứ nhất là vì tường kính có thể tạo cảm giác thoáng đãng cho ngôi nhà, hai là làm cho căn phòng trở nên đa dạng nhiều màu sắc. Và tường kính còn có thể đem đến cho bạn nhiều niềm vui bất ngờ. Các chuyên gia khuyên rằng tường kính có thể sử dụng trong việc trang trí nhà ở, nhưng có một nguyên tắc cần phải lưu ý đó là không nên đặt thẳng giường ngủ.
Ngoài ra, tường kính nên dựa vào tường thật, nếu không sẽ có cảm giác hư ảo không rõ ràng. Tóm lại, tường kính không nên đặt quá nhiều trong nhà, phải sử dụng một cách hợp lý, mỗi một căn phòng lại có những cách sắp xếp khác nhau.
Chùa Cái Bầu hay còn gọi là Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm. Nơi đây là một trong 2 Thiền Viện ở tỉnh Quảng Ninh. Chính xác Chùa Cái Bầu tọa lạc tại thôn 1, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh do Ni sư Hạnh Mã trụ trì.
Đây là một ngôi chùa nằm rất xa khu dân cư, tựa sơn nhìn ra biển xanh. Tựa lưng vào núi, hướng mặt ra vịnh Bái Tử Long mênh mông sóng nước, Thiền viện Trúc lâm Giác Tâm được bao trùm bởi không khí thanh bình, tĩnh lặng khiến cho mỗi tiếng chuông chùa, mỗi tiếng tụng kinh gõ mõ như càng ngân vang hơn. Thiền viện được xây dựng trên nền ngôi Phúc Linh Tự (cách đây trên 700 năm), thờ các vị tướng nhà Trần trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông từ thế kỷ XIII.
Trải qua thời gian và những thăng trầm của lịch sử, chùa đã bị hư hỏng nặng. Năm 2007, chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác Tâm được khởi công xây dựng trên tổng diện tích 20 ha thuộc xã Hạ Long (Vân Đồn). Sau 2 năm, đến năm 2009, chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác tâm được khánh thành khang trang, xứng tầm với những giá trị lịch sử, văn hoá nơi đây.
Chùa Cái Bầu dấu ấn giống các ngôi chùa cổ về cả kiến trúc, trang trí, phù điêu, hoa văn trang trí, bậc thang… Hiện tại Chùa đã hoàn thành các hạng mục: thiền viện – Chánh điện cao 2 tầng rộng 6.000 m2, cổng tam quan, nhà tổ, lầu chuông, thất ở hòa thượng, nhà khách chư tăng- chư ni, bến bãi đỗ xe… Giai đoạn II chùa Cái Bầu sẽ được tiếp tục đầu tư gồm: Thất đường trụ trì, thất chuyên tu, thiền đường, nhà trưng bày trai đường và dựng 1 tượng Phật cao 50 m trên đỉnh núi sau Thiền Viện.
Chùa Cái Bầu không chỉ lạ về kiến trúc (đền kết hợp với chùa) mà nơi ở nơi đây không có chuyện đốt vàng mã, không có cảnh xô bồ bán hàng dong, bởi bất cứ ai đến nơi đây cũng chỉ lễ Phật bằng chính lòng thành kính của mình. Các du khách, phật tử thập phương đến chùa nếu muốn đều được phục vụ cơm chay miễn phí.
Chánh điện có tổng diện tích 6.000m2, gồm hai tầng; tầng trên đặt tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, phía sau là phù điêu bằng đồng mô tả lại quang cảnh của gốc cây Bồ đề, nơi Ngài giác ngộ. Hai bên là tượng của Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền Bồ Tát, tượng trưng cho trí tuệ và từ bi.
Trên bức tường quanh Chánh điện là các bức phù điêu tinh xảo bằng đồng, mô tả lại cuộc đời Đức Phật kể từ lúc Ngài đản sanh tại vườn Lâm Tì Ni cho đến khi nhập cõi Niết bàn.
Tầng dưới hiện nay là nhà tổ, thờ các chư vị tổ sư, Bồ Đề Đạt Ma khai sinh ra thiền phái Trúc Lâm, Phật hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa đại sư, Huyền Trang đại sư là các vị có công phát triển và duy trì thiền phái Trúc Lâm tại Việt Nam. Từ đây nhìn xuống, thấy vịnh Bái Tử Long mênh mông sóng nước trong không khí tĩnh lặng trong tiếng chuông chùa thanh tịnh, bao nhiêu muộn phiền, những toan lo của đời thường đều được xoá tan.
Chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác tâm được đánh giá là một công trình văn hoá tâm linh có kiến trúc và cảnh quan đẹp. Chùa được xây dựng trên núi cao khang trang, thoáng mát. Phong cảnh nơi đây thật sơn thuỷ hữu tình.
Từ trên chùa, du khách có thể phóng tầm mắt ra Vịnh Bái Tử Long để chiêm ngưỡng đảo núi đá chập chùng giữa biển cả bao la, những con thuyền rẽ sóng ra khơi và tận hưởng những làn gió mặn mòi từ khơi xa mang lại.
Quang cảnh trời nước tuyệt đẹp nơi đây sẽ đem lại cho du khách cảm giác bình yên, thanh thản, trải lòng với thiên nhiên khi vãn cảnh chùa. Thêm nữa, điều tạo cho du khách cảm giác ấn tượng đặc biệt khi đến đây, đó là tất cả những công trình kiến trúc xây dựng xung quanh chùa đều được bố trí khá tinh tế, hài hoà với cảnh trí xung quanh từ những con đường, bậc thang, những ngôi nhà lá, vườn cây… tất cả đều rất hài hoà.
Chùa Cái Bầu – Thiền viện Trúc lâm Giác tâm là một điểm đến du lịch hấp dẫn không thể thiếu trong hành trình của mỗi du khách khi đến huyện đảo Vân Đồn…
| ► Xem thêm: Những yếu tố phong thủy nhà ở ảnh hưởng đến tài vận gia đình bạn |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
1. Mặt kim cương
![]() |
Khả năng giao tiếp tốt, làm việc hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều khi họ thích kiểm soát và muốn làm mọi việc theo ý mình, nên mọi người khó chịu, dễ hiểu lầm.
2. Mặt tam giác
![]() |
Nỗ lực, kiên trì và thích kiểm soát, khả năng gặt hái được thành công trong cuộc sống là rất cao.
3. Mặt chữ nhật
![]() |
Tư duy tốt, xử lý vấn đề nhanh gọn, tuy nhiên ít bộc lộ cảm xúc cá nhân.
4. Mặt vuông
![]() |
Năng động, nhiệt tình, khả năng chịu áp lực tốt, được mọi người tin tưởng và giao cho những nhiệm vụ quan trọng.
5. Mặt trái xoan
![]() |
Thông minh, không khéo và biết cách chiều lòng người khác.
6. Mặt tròn
![]() |
Khuôn mặt tượng trưng cho sự phúc hậu, luôn quan tâm đến mọi người. Tuy nhiên, họ dễ thiệt thòi, hay bị lợi dụng.
7. Mặt trái tim
![]() |
Mạnh mẽ, bướng bỉnh, không thích nghe theo lời khuyên của người khác. Đôi khi tự cao thái quá về bản thân.
Dương Anh (theo cachitosdeplata)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật |
Nhâm Tý nam mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao. Cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, việc lựa chọn vợ chồng thế nào được trình bày chi tiết trong lá số tử vi trọn đời này.
Sanh năm: 1912, 1972 và 2032
Cung CHẤN. Trực CHẮP
Mạng TANG ĐỐ MỘC (cây dâu)
Khắc ỐC THƯỢNG THỔ
Con nhà THANH ĐẾ (quan lộc, tân khổ)
Xương CON CHUỘT. Tướng tinh CON HEO
Ông Tử Vi độ mạng
Nhâm Tý số mạng như vầy,
Phong sương cũng lắm tha phương cũng nhiều.
Số này cách trở quê hương,
Đi ra xứ khác sanh phương nên nhà.
Số phải khắc khẩu mẹ cha,
Ở gần cắng đắng đi xa thì buồn.
Số này cách trở lương duyên,
Thay nhà đổi bạn truân chuyên lắm bề.
Chẳng nhờ cốt nhục họ hàng,
Tự mình lập nghiệp cửa nhà mới nên.
Tiền vận chẳng đặng thành thơi,
Trở về vận cuối an nhàn tấm thân.
Nhâm Tý nhờ có quới nhân,
Tu nhân tích đức phước Trời ban cho.

Tuổi Nhâm Tý thuộc mạng Mộc, tuổi nhỏ cuộc đời hay lắm gian truân, cũng như một cây khi đơm bông kết trái, thì người khác hưởng, cuộc sống không được dồi dào từ lúc nhỏ. Không bao giờ được thảnh thơi, thường lao tâm khổ trí, tuổi càng cao càng nhiều lo nghĩ không lúc nào bằng. Bởi vậy số Nhâm Tý chỉ được hưởng sự an nhàn vào khoảng độ từ 49 tuổi trở đi mà thôi. Cuộc sống nhiều lao nhọc sôi động bất thường, ít khi có cơ hội phát triển về nghề nghiệp. Cuộc sống chỉ ở mãi trong mức độ trung bình.
Tuổi Nhâm Tý suốt đời lo nghĩ lao tâm khổ trí, tuy được an nhàn về bản thể, nhưng tâm não nhiều lo nghĩ. Cuộc sống chỉ ở mức trung bình về tài lộc cũng như về đường con cái. Con cháu nên danh mau lẹ nhờ có phúc đức. Sống hưởng thọ trung bình từ 57 đến 60, nếu làm phúc đức thì hưởng thêm niên kỷ.
Tuổi Nhâm Tý về vấn đề tình duyên thì buổi đầu khe khắt, sau mới thành có nhiều thay đổi lương duyên vào lúc tuổi nhỏ. Nếu sanh nhằm những tháng này thì có nhiều thay đổi lương duyên hay ít ra trong việc vợ chồng xảy ra lắm buồn phiền, đó là Nhâm Tý sanh nhằm những tháng 1, 3, 7, 6 và 12 Âm lịch. Nhưng nếu sanh vào tháng này thì phải qua 3 đời vợ, đó là những tháng 5, 7 và 11 Âm lịch; nếu sanh nhầm những tháng này phải qua 2 đời vợ, đó là những tháng Giêng, 3, 4, 6, 8 và 12 và nếu sanh vào những tháng này thì tình duyên chung thủy, đó là những tháng 2, 9 và 10. Trên đây là tháng sanh của sự quyết định lương duyên; nếu nhờ đúng tháng tháng sanh mà chưa thực hiện đúng như trên, thì chắc chắn sẽ còn có thêm nữa vậy.
Cuộc đời với công danh trầm lặng, dường như là bước công danh không có nhiều may mắn lắm, không tạo được một sự vững chắc về vấn đề nay, phần gia đạo lúc nhỏ có nhiều thay đổi, hay khác biệt về lối sống, nhưng qua 36 tuổi trở đi thì êm ấm và yên vui. Những việc nhỏ nhặt xảy ra không đáng kể. Việc to tát về xích mích gia đạo dường như không bao giờ xảy ra cả.
Sự nghiệp không mấy vững chắc vào những năm ở giữa cuộc đời, nhưng qua 47 tuổi thì có vài thành công nhỏ để tạo cuộc sống cho đến ngày nay. Tiền tài rất ít nhưng không thiếu kém quá đỗi, có thể tạo được rất nhiều nhưng thường hao hụt.
Nên chọn những tuổi này rất hợp cho sự làm ăn: Bính Thìn, Giáp Dần, Canh Thân. Những tuổi này làm ăn thì phát đạt vì hợp với Nhâm Tý.
Tuổi Nhâm Tý nếu lựa chọn được những tuổi này thì sống cao sang quyền quý, đó là những tuổi: Giáp Dần, Bính Thìn, Canh Thân, Quý Hợi, Canh Tuất, những tuổi này rất hạp và tạo được hiển vinh.
Những tuổi này kết hợp với Nhâm Tý chỉ tạo được cuộc sống trung bình mà thôi: Quý Sửu, Đinh Tỵ, Kỷ Mùi, Tân Hợi, Nhâm Tuất, Ất Sửu, Ất Tỵ,
Tuổi Nhâm Tý Nếu gặp phải những tuổi này thì cuộc sống rất bần tiện và cơ cực: Tân Dậu, Kỷ Dậu.
Nhâm Tý sanh vào những tháng này có nhiều vợ hay thường đau khổ về đ àn bà, đó là những tháng 1, 3, 7, 11 và 12 Âm lịch.
Nhâm Tý đại kỵ với những tuổi này: Nhâm Tý, Ất Mão, Mậu Ngọ, Giáp Tý, Đinh Mão, Canh Mão và Bính Ngọ. Gặp những tuổi này thì sanh cảnh biệt ly hay tuyệt mạng.
Về vấn đề làm ăn cũng như về lương duyên, khi gặp phải những tuổi kỵ như đã nói ở trên, thì tất cả công việc đều có thể bị rắc rối phiền phức và thất bại. Cần phải xem sao Hạn để cùng kiến và van vái Phật, Trời mỗi năm tuổi của bạn đều thay đổi vì sao, đó là luật tuần hoàn. Thí dụ như năm Bính Ngọ, bạn gặp hạn Tam Kheo, sao La Hầu. Trường hợp năm nào bạn gặp sao hạn thì phải cúng sao thế nầy: Tháng nào cũng được như thường thì nên cúng vào ngày 8 tháng Giêng, tháng 4, 8 và 12 Âm lịch, đốt chín ngọn đ èn, chín chén nước lã, lạy về hướng Bắc, thì được giải sao hạn ngay.
Tuổi Nhâm Tý xuất hành vào ngày lẻ, giờ chẵn, tháng chẵn thì có lợi hơn những ngày giờ khác.
Từ 20 đến 25 tuổi: Năm 20 tuổi có nhiều cay đắng trong cuộc đời nhưng phần tình duyên nhiều tốt đẹp, 21 tuổi có phần hay đẹp về công danh, làm ăn khá được tốt, 22 tuổi năm nầy cẩn thận về tiền bạc cũng như về cuộc sống, 23 tuổi không nên đi xa, làm ăn có phần thất bại, bổn mạng yếu, 24 tuổi nhiều trở lực, 25 tuổi tạm yên, không có gì xảy ra quan trọng.
Từ 26 đến 30 tuổi: Khoảng thời gian nầy rất tốt đẹp cho sự làm ăn, 26 tuổi kết quả tốt đẹp về việc phát triển làm ăn, 27 tuổi nhiều hy vọng về tài lộc, 28 tuổi kỵ tháng 3 những tháng khác đều tốt, 29 tuổi nhiều kết quả và có triển vọng tốt đẹp, cuộc sống hoàn toàn hay đẹp. 30 tuổi có phúc đức, năm nầy tài lộc dồi dào.
Từ 31 đến 35 tuổi: Năm 31 tuổi trung bình kỵ đi xa hay làm ăn lớn, 32 tuổi có nhiều triển vọng tốt đẹp trong nghề nghiệp và cuộc đời, 33 và 34 hai năm nầy, bổn mạng có phần suy yếu, đề phòng bịnh tật, 35 tuổi năm khá hay về hay về số mạng và cuộc đời.
Từ 36 đến 40 tuổi: Năm nầy nên thận trọng, tuổi 36 sao bản mệnh chiếu mạng không được tốt về bổn mạng, hao tài, 37 tuổi có nhiều hy vọng tốt đẹp về nghề nghiệp và cuộc đời, 38 tuổi, trừ tháng 2, 6 và 10 có hao tài ngoài những tháng khác yên tịnh, 39 tuổi đỡ khổ, năm nầy làm ăn thâu nhiều tài lộc, kỵ tháng 4 có đau bịnh, đi xa có tai nạn, 40 tuổi tài lộc có phần hao hụt, nên cẩn thận về tiền bạc.
Từ 41 đến 45 tuổi: Năm 41 tuổi, tạm được, kỵ tháng 4, 6, 8, 9 và 11 những tháng nầy bất lợi. Năm 42 và 43 tuổi, hai năm có nhiều trở ngại trong việc làm ăn. Năm 44 và 45 tuổi, hai năm có nhiều tiền bạc cũng như về tài lộc và cuộc sống.
Từ 46 đến 50 tuổi: Năm 46 tuổi, được tốt, hy vọng tốt đẹp về tài lộc và cuộc đời. Năm 47 và 48 tuổi, hai năm gia đạo có nhiều rối rắm trong gia tộc có đại nạn. Năm 49 và 50 tuổi, hai năm bình thường, việc làm ăn phát triển chậm chậm..
Từ 51 đến 55 tuổi: Năm 51 tuổi, không được tốt đẹp lắm, bổn mạng yếu. Năm 52 và 53 tuổi, hai năm nầy được khá tốt đẹp, việc làm ăn nên cẩn thận về tiền bạc. Năm 54 và 55 tuổi, không nên đi xa hay làm ăn lớn, bổn mạng yếu.
Từ 55 đến 55 tuổi: Năm 55 tuổi, bị hạn nặng gặp sao La Hầu và hạn Tam Kheo, cần phải lo liệu và cẩn thận trong mọi công việc, nhất là bản thân có nhiều bất an. Năm 56 và 57 tuổi, vượt qua được tuổi 55 thì 56 và 57 yên tịnh, cuộc sống an nhàn, sợ không vượt qua khỏi tháng 8, 9 và 10 năm Bính Ngọ.
Từ 58 đến 60 tuổi: Năm 58 tuổi, không được vững vàng lắm cho gia đạo, bản thân, có thể mang nhiều đại họa cho cuộc sống. Năm 59 tuổi, tạo được nhiều tình cảm mến thương, tóm lại những năm nầy, có nhiều tình cảm, con cháu thương mến nhiều cầu lấy phúc đức làm căn bản cho cuộc sống may ra còn có thể tăng thêm niên kỷ.
Xem thêm:
Vận trình tử vi trọn đời 12 con giáp chi tiết
Xem bói tử vi tuổi Tý
Xem tử vi năm mới
Tân Mão
Nhẫn đại diện cho chuyện tình cảm và tài chính nhé.
1. Mơ thấy hành động đeo nhẫn có ý nghĩa tình cảm đôi lứa đang rất hài hòa và mặn nồng.
2. Trong giấc mơ thấy tay mình đeo nhiều nhẫn, xin chúc mừng bạn, tài chính của bạn sẽ có sự thay đổi thần tốc theo chiều hướng tích cực như: tăng thu nhập đột phá, mua đồ có trúng thưởng, hoặc trúng vé số.
3. Con trai mơ thấy đeo nhẫn vàng, có nhiều khả năng sẽ gặp được ý trung nhân hoặc chuyện kế hôn sẽ trở thành hiện thực. Con gái (chưa kết hôn) mơ thấy đeo nhẫn vàng trên tay dự báo sẽ gặp được tình yêu sét đánh.

4. Khi đang yêu, con trai mơ thấy người yêu tặng nhẫn cho mình, điều đó có nghĩa đối phương yêu bạn thật lòng và thắm thiết. Ngược lại, nếu người con gái mơ thấy bạn trai tặng nhẫn, tương lai hai bạn sẽ vô cùng hạnh phúc và sung túc.
5. Chiếc nhẫn bị rơi xuống đất trong giấc mơ, chứng tỏ mối quan hệ của hai bạn đang có trục trặc nhỏ cần phải giải quyết ngay.
6. Trong giấc mơ thấy bắt được nhẫn hoặc có được chiếc nhẫn bằng cách tranh giành, đấu đá nhau thì đó là điềm không may mắn. Bản thân bạn sẽ bị tổn thương về tình cảm hoặc xuất hiện cáo gây tổn hao về tài sản.
7. Con trai khi mơ thấy bán nhẫn, có nghĩa là bạn sẽ đi công tác ở nước ngoài. Còn mơ thấy nhẫn xấu, không ưng ý chứng tỏ bạn thiếu tự tin, lo lắng sẽ không được người ấy chấp nhận lời tỏ tình của mình.
Việc sắp đặt phòng làm việc lý tưởng nhất cho người lãnh đạo là phía sau ghế ngồi phải có tường chắc chắn, bên trái chỗ ngồi là cửa sổ, nhìn qua cửa sổ thấy một phong cảnh thiên nhiên đẹp, không khí thoáng đãng.
Theo phong thủy học, việc đặt phòng làm việc đúng phương vị tốt lành sẽ giúp các sếp thêm đảm lược, trí tuệ, ảnh hưởng đến sự hưng suy trong quản lý, thành bại trong sự nghiệp.

Vị trí phòng làm việc đặt ở trung tâm nhiệm sở là tốt nhất.Nếu là nơi kinh doanh, bàn làm việc của người chủ phải đặt ở tầng một hoặc tầng hầm. Ngoài ra, khi bố trí bàn làm việc như vậy, cần chú ý tới một số yếu tố.
Bàn làm việc không được kê đối thẳng với cửa ra vào để tránh không bị những tạp âm bên ngoài quấy nhiễu và người ngoài nhòm ngó. Làm như vậy để ngăn “sát khí” rất không lợi cho người ngồi điều hành.
Sau lưng người ngồi phải có “chỗ dựa” như bức tường. Khoảng cách giữa lưng người ngồi với tường không được quá lớn. Phong thuỷ học cho rằng, làm như vậy sẽ tăng thêm tính tự tin cho người ngồi làm việc, tránh không có cảm giác trống trải.
Trong trường hợp gian phòng làm việc có cửa sổ, thì cửa sổ không được đối diện với những biểu tượng không lành theo quan điểm của phong thủy, như ống khói, cột điện… Tốt nhất là nhìn qua cửa sổ thấy khoảng rộng bao la, vườn cây xanh tốt, cảnh núi non xanh biếc… Bên ngoài cửa sổ không nên có đường đi qua.
Cửa ra vào ở góc bên phải phía trước bàn sẽ không bị tạp âm quấy nhiễu và không bị người ngoài nhìn ngó bất thường. Cửa ra vào mở ở phía bên trái bàn làm việc có thể thay đổi vị trí một chút, hiệu quả vẫn tốt.
Kỵ bày đặt bàn viết đối diện với cửa và khi ngồi làm việc quay lưng ra cửa. Phong thủy cho rằng, cửa là khí khẩu vừa nạp sinh khí mà đồng thời cũng nạp sát khí. Ngồi quay lưng ra cửa thì sau lưng không có “chỗ dựa”, thường xuyên thấy cột sống bị ớn lạnh vì sát khí.
Cả tạp âm từ ngoài truyền vào sẽ kích thích sống lưng làm cho đại não không yên. Người lãnh đạo ở vị trí này luôn ở trạng thái căng thẳng, tâm trí sẽ rối loạn, dễ mắc sai lầm khi ra quyết định.
Đặt bàn viết nên ở bên phải cửa ra vào, bàn làm việc với cửa ra vào hơi chếch với nhau và xa ra một khoảng cách. Nếu gần cửa ra vào quá, sẽ bị sát khí quấy nhiễu, sẽ giảm hiệu suất lãnh đạo, không những thế, phong thuỷ cho rằng sẽ gây bệnh.
Kỵ sau chỗ ngồi có cửa sổ. Nếu kê bàn làm việc theo lối này, người ngồi sẽ ngăn đường đi của gió và ánh sáng, theo cách nói của phong thuỷ là chặn lại sự lưu thông của khí, biến sinh khí thành sát khí, người ngồi làm việc ở tư thế này, trước sau cũng bị suy vi.
Kỵ gần cửa sổ có đường đi qua. Cửa sổ cũng là nơi nạp sinh khí và sát khí. Nếu gần đường qua lại, thường nạp vào phòng tiếng bước chân người đi, tiếng cười, tiếng nói, tiếng ta thán… chúng đều là sát khí theo cách nói của phong thủy, rất bất lợi cho việc điều hành và sự nghiệp của người làm việc tại đó.
Nếu vì một lý do nào đó phải kê bàn làm việc ở đây, phải có rèm che kín. Nhưng tốt nhất là dời phòng làm việc đi nơi khác.
Không kê bàn làm việc ở giữa phòng, vì sau lưng quá xa tường nhà, không có “chỗ dựa”, người lãnh đạo trước sau sẽ bị cô lập.
Và cuối cùng là áp dụng công thức “Nhất vị, nhị hướng”: Thứ nhất là Vị. Vị là vị trí ngồi làm việc, phải được một trong bốn phương vị tốt theo mệnh cung của người lãnh đạo (vị trí ngồi làm việc tốt được tính so với trung tâm phòng làm việc). Thứ nhì là hướng. Khi ngồi làm việc thì mặt của người lãnh đạo phải nhìn về một trong bốn hướng tốt theo mệnh cung của mình.
Phong thủy học cho rằng, người ngồi làm việc phải được tiếp nhận sinh khí tốt thì mới minh mẫn trong điều hành công việc. Để có điều đó, trên bàn làm việc nên đặt quả cầu phong thủy bằng thạch anh trên phương vị Đông-bắc, hoặc đặt trên phương vị Tây-nam (so với trung tâm bàn làm việc), sẽ tăng thêm lòng hăng say công việc và sự minh mẫn cho người lãnh đạo.
1. Có thể dùng tủ gỗ lấp đầy chỗ góc khuyết đó (gọi là tủ góc nhà), dùng loại tủ cao hoặc thấp đều được. Về hình dáng tủ có thể là tủ hình khối chữ nhật tựa che khuất góc nhọn, hoặc tủ hình khối tam giác mặt phẳng hay mặt lồi trám kín góc nhọn đó, miễn là đạt được hiệu quả lấp đầy che khuất được góc nhọn đó, từ đó tạo được hiệu quả hoá giải góc nhọn.
2. Có thể “lục hoá” không gian góc nhọn, với góc nhọn nhỏ, ta có thể đặt một chậu cảnh trồng cây xanh cao và rậm rạp lá cành, như vậy vừa cho được góc nhọn, lại vừa có không gian lục hoá với góc nhọn lớn, ta có thể xây bệ theo góc lượn đó và trồng cây cảnh làm đẹp trong nhà. Các cách này đều có thể làm giảm cảm giác tức mắt của ta đối với góc nhọn, khiến cho không gian phòng khách trở nên hài hoà hơn.

Phòng khách có thể đặt bể cá cảnh, khi chọn bể cá cần lưu ý phong thủy bể cá trong nhà.
3. Với chủ nhà thích chơi cá vàng, thì tại góc nhọn đó đặt một bể kính nuôi cá vàng cũng là cách hoá giải góc nhọn hay, bởi nước của bể cá sẽ làm ta giảm bớt cảm giác bị đè nén, về thị giác và tâm lý. Nhưng khi đặt bể cá cần lưu ý phong thủy bể cá trong nhà, bể kính cá vàng cũng không nên quá lớn, vì quá lớn sẽ chứa nhiều nước, gây cho ta cảm giác ngợp. Nhất là với phòng khách nhỏ lại càng không nên. Có nước có thể làm cho “khí” nơi góc nhọn này có khoảng dư để hồi chuyển, như vậy không những phù hợp với đạo phong thuỷ, mà còn góp phần làm đẹp ngôi nhà.
4. Có thể lựa theo thể góc nhọn, thưng bịt tạo nên một bức tường mặt lượn cong, ví như dùng tấm gõ ghép tạo nên bức tường gỗ bịt kín góc nhọn đó, sau đó trang sức trên bức tường bằng tranh chữ hay tranh phòng cảnh, về tranh phong cảnh nên là tranh sơn thuỷ là tốt nhất, dùng thể của núi cao để “trấn áp” cảm giác tức mắt của ta đối với góc nhọn. Hơn nữa còn có tác dụng làm đẹp căn phòng.
5. Có thể biến không gian góc nhọn đó thành giá kệ nhiều tầng (cắm luôn vào thành tường góc nhọn, chứ không phải tủ giá rời), để đặt chiếc độ bình lớn và bày biện chai rượu, đồ cổ sưu tầm và chậu cảnh … rồi lắp đèn màu chiếu sáng trang trí. Như vậy vừa lấp được góc nhọn lại vừa lợi dụng được không gian, làm tăng xẻ đẹp của gian phòng.
Nói tóm lại, sự tồn tại góc nhọn trong căn phòng rõ ràng là gây phiền toái, muốn hoá giải đòi hỏi phải động não, suy nghĩ thật thấu đáo, tiến hành sắp xếp, sao cho đạt mục đích vừa hoá giải được góc nhọn, lại vừa làm đẹp được căn phòng.
(Theo 100 câu hỏi về phong thủy nhà ở)
![]() |
| ► Cùng đọc: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp và suy ngẫm |
Hành: ThủyLoại: Hung TinhĐặc Tính: Sự sa sút, yếu đuối
Phụ Tinh. Sao thứ 6 trong 12 sao thuộc vòng sao Trường Sinh theo thứ tự: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Ý Nghĩa Suy Ở Cung Mệnh
Sao Suy ở Mệnh là người có tài khéo, thích hợp với ngành có sự tỉ mỉ, chính xác, có hoa tay. Sao Suy còn chủ sự suy yếu, sa sút, không thành đạt, yếu đuối về thể xác, bất định, hay lo, đưa đến lao tổn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
thủy, vẫn còn một số điều cần lưu ý.
1. Pha lên không thích hợp để ngăn cách phòng
|
2. Chú ý với pha lê trong nhà vệ sinh
|
|
|
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật |
Ngày sinh 12 chòm sao quyết định tính cách của họ một cách rõ nét. Ngoài 4 nhóm cung hoàng đạo theo nguyên tố nhóm Lửa, nhóm Nước, nhóm Đất và nhóm Khí; theo đặc tính có 3 nhóm với những phẩm chất rất nổi bật. Theo chiêm tinh, ngày sinh 12 chòm sao chi phối, ảnh hưởng tới cuộc đời của họ thông qua việc quy định tính cách, quan điểm, thái độ. Ngoài ra, sự di chuyển của các hành tinh qua các cung cũng tạo ra vận mệnh, biến cố trong cuộc đời mỗi người. Mỗi nhóm cung có những nét riêng, thể hiện trong suy nghĩ và các hành động thường ngày.
![]() |
![]() |
Đàn ông trong tình yêu không cần phải giàu có, tài giỏi hay đẹp trai. Điều duy nhất mà các nàng cần đó chính là sự thủy chung và có trách nhiệm. Những điều tưởng chừng thật đơn giản nhưng không phải chàng trai nào cũng làm được. Cùng xem con giáp nào xứng đáng để nàng trao gửi tình cảm nhé!
Hạng 1: Tuổi Mùi

Trong tình yêu, chàng trai tuổi Mùi có thái độ vô cùng chân thành và mang lại cảm giác an toàn cho đối phương. Hơn thế, con giáp này còn sở hữu diện mạo nam tính, tràn đầy sức sống. Tiếp xúc với họ, các nàng chắc chắn sẽ dễ “rung rinh”.
Dù vẻ ngoài phong độ ngời ngời đến vậy, họ không “ỷ thế làm càn”, khoe khoang chiến tích mà ngược lại, khá chung thủy với tình yêu của mình. Nếu đang có “gấu” tuổi Mùi, bạn hãy yên tâm tận hưởng niềm hạnh phúc với chàng và cùng nhau bước vào cuộc sống tương lai hạnh phúc.
Hạng 2: Tuổi Sửu

Chàng trai tuổi Sửu có đặc điểm chung là thành thực và nồng nhiệt trong tình yêu. Họ không ngại ngần bày tỏ tình cảm cũng như sự mến mộ của mình với đối phương. Với chàng trai tuổi Sửu, không có gì là không thể trong tình yêu. Các chàng bình thường mạnh mẽ là vậy, nhưng trong chuyện tình cảm thì cũng có trái tim yếu mềm không kém các nàng đâu nhé.
Đặc biệt, khi đã có gia đình bé nhỏ, chàng trai tuổi Sửu sẽ dốc toàn bộ sức lực để bảo vệ và chăm lo chu đáo cho mọi thành viên. Bạn sẽ không khó khăn khi bắt gặp hình ảnh con giáp này vội vàng trở về nhà quây quần với vợ con sau mỗi giờ tan ca. Hơn thế, họ không ngần ngại làm việc nhà giúp vợ, cùng vợ sẻ chia mọi vấn đề của cuộc sống. Chàng trai này xứng đáng để phái đẹp mơ ước, thậm chí là cạnh tranh để có được.
Hạng 3: Tuổi Tý

Sở hữu biệt tài ăn nói linh hoạt, cách cư xử khéo léo nên khi đi tới đâu, anh chàng tuổi Tý đều trở thành trung tâm của sự chú ý và được nhiều người dành tình cảm ưu ái.
Đa phần người tuổi Tý phóng khoáng, bao dung, dễ nhớ dễ quên, không bao giờ thù dai. Trong tình cảm, họ hết mực yêu thương và chăm lo cho nửa kia mà không hề mảy may toan tính. Cuộc sống gia đình sau này vì thế mà trong ấm ngoài êm, vô cùng hạnh phúc.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
I. XIN XÂM
Xâm ở đây gọi là Tướng Quân Linh Sám (xâm thường) và Tả Tướng Quân Hoàng Tiên Lương Phương (xâm thuốc). Với con mắt tự nhiên, xin xâm chỉ là một trò chơi may rủi, nhưng dưới con mắt tín ngưỡng, xin xâm là thỉnh Thần ý. Chính vì ý nghĩa thứ hai này mà hằng ngày đã thu hút khách thập phương tới lễ bái và xin xâm để thỉnh Thần ý tại Lăng Ông Bà Chiểu.
A.PHÂN LOẠI: Có 2 loại: Xâm thường và xâm thuốc.
1. Xâm thường: Gọi là Tướng Quân Linh Sám, gồm có 100 lá xâm, đánh số từ 1 tới 100. Xâm thường cho biết Thần ý về bổn mạng, gia đạo, mưu sự, cưới gả, bịnh tật, cầu tài, cầu quan, xuất hành, kiện cáo và mất trộm.
Xâm thường cũng có thể phân chia theo mức độ tốt xấu khác nhau: Theo bà Lư Thị Muội, thư kí lâu năm của Hội Thượng Công Qúy Tế, thì 100 lá xâm trong Tướng Quân Linh Sám được chia ra 3 loại: Xâm thượng, màu đỏ, là loại xâm tốt nhất; xâm trung, màu cam, là loại tốt trung bình; xâm hạ, màu vàng tươi, là loại không tốt. Trên thực tế, nếu chỉ quan sát theo màu sắc, người ta không biết chính xác trong 100 lá xâm ở đây, có bao nhiêu lá xâm tốt và bao nhiêu lá xâm xấu. Lí do là ngoài 3 màu đỏ, cam, vàng tươi, còn lẫn vào đó những lá xâm màu hồng, màu vàng đậm (2).
Khác với lối phân chia trên đây, thầy bàn xâm Lương Siêu cư sĩ cho rằng chỉ những nhà chuyên môn mới có thẩm quyền quyết định về mức độ tốt xấu của lá xâm. Theo ông, màu sắc của lá xâm không đáng kể, chỉ có Thần ý ghi trên lá xâm thích hợp cho từng trường hợp mới đáng kể mà thôi. Lương Siêu cư sĩ phân chia 100 lá xâm trong Tướng Quân Linh Sám ra như sau:
* Xâm thượng: 38 lá:
1,2,7,8,9,10,11,19,21,22,24,30,32,40,45,50,54,55,57,58,
60,64,65,66,68,69,74,78,79,80,87,89,92,93,97,98,99,100.
*Xâmtrung: 50 lá:
3,5,12,13,16,18,20,23,26,27,28,29,31,33,34,35,36,37,39,41,42,43,44,46,48,51,52,53,56,
61,62,63,67,71,72,73,75,76,77,81,82,83,84,85,86,88,90,91,94,95.
* Xâm hạ: 12 lá:
4,6,14,15,17,25,38,47,49,59,70,96.
2. Xâm thuốc: Còn gọi là Tả Tướng Quân Hoàng Tiên Lương Phương, cũng gồm 100 lá, chỉ một màu vàng, không phân biệt tốt xấu, đánh số từ 1 tới 100. Xâm thuốc cho biết Thần ý về mọi thứ bệnh tật.
B.CÁCH XIN XÂM: Tại Lăng Ông, khách thập phương có thể xin xâm tại Nhà Hương, Trung Điện hoặc Tây Điện. Tuy nhiên vẫn có nhiều khách thiện tín cố lên gần Chánh Điện để xin xâm, chừng như càng tới gần Chánh Điện thì càng gần Thần Linh và càng có nhiều hi vọng được Thần Linh cảm ứng vào lá xâm.
Dọc theo hai bên tường Nhà Hương gắn 50 khoen sắt tròn làm giá đựng 50 ống xâm. Ống xâm màu bạc, dài 0m50. Trong mỗi ống đựng 100 thẻ xâm bằng tre vót mỏng tanh, đánh số từ 1 tới 100. Mỗi thẻ dài 0m20, ngang 0m01, trên đầu cùng đề số thẻ bằng chữ nho, kế bên dưới là số thường, dưới cùng mỗi thẻ là số của ống xâm.
Việc xin xâm có thể chia ra 2 giai đoạn: Xin quẻ thẻ và bàn xâm.
1. Xin quẻ thẻ:
Thông thường, trước khi xin quẻ thẻ, khách xin xâm lễ Thần 4 lậy, 3 vái, rồi qùy hoặc ngồi bệt xuống chiếu, hai tay đưa cao ống xâm lên mà lắc một cách kính cẩn. Tiếng các thẻ chạm vào thành phía trong của ống xâm kêu lách cách. Khi một quẻ thẻ rớt ra ngoài, khách xá nhẹ vài xá hoặc lậy tạ Thần 4 lậy và nhớ kĩ số cái thẻ xâm đã rớt ra ngoài ấy, nếu không biết chữ phải nhờ người khác đọc giùm. Trường hợp có từ 2 thẻ trở lên rớt ra ngoài, khách xá nhẹ để xin Thần cho phép bắt đầu lại. Khi đã được Thần ban cho 1 quẻ thẻ, thông thường khách tiếp tục xin keo (sẽ nói tới sau) để biết chắc Thần ý hơn nữa. Nếu xin keo mà được một Âm, một Dương, khách sẽ vui mừng lậy tạ Thần rồi đi xin tờ giấy bàn xâm. Thỉnh thoảng có vị khách xin một lúc nhiều quẻ thẻ, một cho mình, còn những thẻ khác là xin giùm cho bà con.
Riêng loại xâm thuốc, người lớn phải xin 3 quẻ thẻ, thiếu niên 2 thẻ, trẻ em một thẻ.
2. Bàn Xâm thường: Sau khi xin được quẻ thẻ, khách đi sang Tây Lang để xin giấy bàn xâm. Trên tường Tây Lang có treo 10 kệ đựng lá xâm, đánh số từ 0 tới 9. Mỗi kệ có 10 hộc đựng lá xâm, xếp thứ tự hàng chục. Trường hợp khách không biết chữ thì tới quầy ở góc phòng xin người phát xâm giúp đỡ. Riêng về loại xâm thuốc, các lá xâm được xếp thứ tự trong một cái tủ có 100 hộc, kê phía trong quầy. Khách không được tự tiện tới lấy, phải xin người phụ trách lấy cho. Tuy nhiên, tất cả các thứ xâm đều phát miễn phí.
Để phục vụ bá tánh, Hội Thượng Công Qúy Tế đã phát hành 2 cuốn sách bàn xâm vào năm 1949: một cuốn bằng chữ Việt, một bằng chữ Hán. Thực ra cuốn sách bàn xâm 216 trang này là tổng hợp nguyên văn tất cả 100 lá xâm đựng trong các kệ ở Tây Lang. Khách căn cứ vào lời bàn trên lá xâm mà lãnh hội Thần ý.
Nội dung các lá xâm được trình bầy bằng một hình thức duy nhất như sau: Mỗi lá xâm viết 2 mặt:
• Mặt trước viết: Tướng Quân Linh Sám, số thứ tự quẻ xâm, một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt diễn tả Thần ý gồm 3 phần: nguyên văn bằng chữ Hán, phần phiên âm và phần dịch nghĩa.
• Mặt sau: Là lời bàn xâm viết theo thứ tự như sau: bổn mạng, gia đạo, mưu sự, cưới gả, bệnh tật, cầu tài, cầu quan, xuất hành, kiện cáo, mất trộm.
Tất cả những lời bàn có đặc tính chung là vắn tắt, mơ hồ, nặng về phương diện luân lí đạo đức. Vì vậy, nhiếu người muốn biết rõ lá số của mình hơn nên đã thuê các thầy bàn xâm giảng giải thêm cho. Theo quan sát, hàng ngày có khoảng 15 thầy bà bàn xâm hành nghề trong khuôn viên Lăng Miếu Đức Thượng Công. Thêm vào đó, còn có khoảng 20 thầy bà khác đặt bàn hành nghề bên ngoài bờ tường phía Đông Lăng Miếu. Các vị này phải đóng thuế hoa chi 40$00. Các Thày bà cũng nhận viết sớ khấn, đọc sớ khấn, viết liễn đối, coi tướng, coi bói, coi ngày, cưới gả…
3. Bàn xâm thuốc: Xâm thuốc viết bằng chữ Hán trên một mặt giấy, hầu hết người Việt không đọc được, phải nhờ hoặc thuê mướn người đọc giúp.
Lá xâm thuốc nhỏ hơn lá xâm thường, nội dung gồm một bài thuốc, một lời khuyên về luân lí đạo đức hoặc lời khuyên về việc tĩnh dưỡng. Tất cả những vị khách chúng tôi đã hỏi chuyện, đều tỏ ra tin tưởng sâu xa Đức Thượng Công linh hiển sẽ ban cho mỗi ngưòi một bài thuốc đúng bệnh tật của mình. Tả Tướng Quân Hoàng Tiên Lương Phương gồm 100 lá xâm với 100 bài thuốc, kèm theo những lời khuyên cho bách bệnh ở đủ mọi tình trạng nặng nhẹ khác nhau. Người lớn phải xin 3 lá xâm, thanh thiếu niên 2 lá và con nít 1 lá.
Vì các lá xâm thuốc không có phần phiên âm và dịch nghĩa cho nên chúng tôi xin viết phần phiên âm của vài lá xâm thuốc dưới đây để làm thí dụ:
Lá xâm 1: Tả Tướng Quân Hoàng Tiên Lương Phương
Đệ nhất phương
Kiền thành cảm cách não tiên linh
Triêu tịch đa nghi tụng thánh kinh
Thiện sự thường hành Thần ủng hộ
Bất tu phục dược bệnh đương kinh.
Nghĩa là:
Phương thuốc hay của Ngài Tả Quân Lê Văn Duyệt
Liều thuốc thứ nhất
Có lòng thành làm chính lại trí óc là thuốc tiên
Sớm chiều nên tụng kinh
Làm việc lành Thần sẽ ủng hộ
Không cần dùng thuôc bệnh cũng hết.
Ghi chú: Nội dung lá xâm thứ nhất này chỉ là một lời khuyên tu tâm dưỡng tính có tính cách đạo lí.
Lá xâm 21: Tả Tướng Quân Hoàng Tiên Lương Phương
Đệ nhị thập nhất phương
Hà dung đa ưu lự
Dĩ chí thử phương thần
Cốt thống bất kham thậm
Sự việc hữu lai nhân.
***
Du quy nhất tiền
Thích bối nhị tiền
Xuyên khung tiền bán
Tang kí tiền bán
Vân ninh nhị tiền
Bạch thược nhị tiền
Tiên phục.
Nghĩa là:
Phương thuốc hay của Ngài Tả Quân Lê Văn Duyệt
Liều thứ 21
Không cần chi phải lo nghĩ
Đến nỗi hại tới tinh thần
Và đau nhức xương cốt đến khó chịu
Cũng do sự lo nghĩ quá mà ra.
***
Du quy 1 chỉ
Thích bối 2 chỉ
Xuyên khung nửa chỉ
Tang kí nửa chỉ
Vân ninh 2 chỉ
Bạch thược 2 chỉ
Sắc lên mà uống.
Ghi chú: Lá xâm thứ 21 gồm 2 phần: phần đầu là những lời khuyên tĩnh dưỡng; phần sau là một bài thuốc gồm 6 vị thuốc.
II. XIN KEO
Sau khi xin xâm, nhiều vị khách xin keo để biết chắc Thần ý hơn nữa! Tuy nhiên có những vị không muốn xin keo vì cho rằng như thế tỏ ra còn hồ nghi linh xâm của Thần. Chẳng hạn như chính Hội Thượng Công Qúy Tế đã chỉ xin xâm mà không xin keo: Năm 1953, Hội xin được quẻ xâm số 58 có câu: ‘Cầu đâu được đó, mọi việc đều xứng ý’cho nên Hội đã bỏ lệ cúng vật ‘tam sanh’ (giết heo, bò (có khi là trâu), dê để làm lễ vật cúng tế) trong ngày lễ giỗ Đức Thượng Công (3). Tới năm 1954, Hội lại xin được quẻ xâm số 95 báo trước ngày đất nước hòa bình với 2 câu: ‘Hai bên ỷ thế mà gây chuyện rốt rồi cũng hòa hảo với nhau’. Vì thế, Hội đã đắp ‘Đảnh Hoà Bình’ dựng tại khuôn viên Lăng Ông để làm kỉ niệm (4).
Xin keo cũng phải theo thủ tục giống như xin xâm. Trước hết, đương sự phải qùy hoặc ngồi bệt xuống chiếu xá vài cái, rồi lấy 2 miếng gỗ hình bán nguyệt, mỗi miếng có một mặt phẳng và một mặt vòng, đưa lên ngang trán, miệng lâm râm cầu khấn. Khấn xong, người xin keo buông 2 miếng gỗ ra để cho rơi xuống mặt chiếu. Nếu được một mặt bằng và một mặt vòng, tức một Âm (ngửa) một Dương (xấp), có nghĩa là Thần đã xác nhận quẻ xâm đương sự đã xin. Được Thần ý xác nhận như vậy, đương sự hết sức vui mừng, sẽ qùy hoặc đứng mà lậy tạ 4 lậy. Nếu mà keo lên cả hai mặt bằng, tức 2 Âm; hoặc lên cả hai hình vòng, tức 2 Dương, nghĩa là Thần chưa xác nhận, cho nên đương sự phải xin keo lần nữa. Trường hợp tới lần thứ hai mà vẫn không được một Âm và một Dương, tức là ý Thần chưa định, phải bắt đầu lại tất cả, tức là phải xin xâm lần nữa. Các gia nhân Lăng Miếu kể rằng, có nhiều người lo âu khổ sở vì không xin được xâm và keo, nên đã phải trở lại nhiều lần, mỗi lần cách nhau cả tuần lễ, cho tới khi thỉnh được Thần ý mới thôi.
Hầu hết các khách tới xin xâm, xin keo hoặc xin bùa, v.v., đều dâng cúng một ít tiền tùy ý và tùy theo khả năng. Tiền dâng cúng bỏ vào các tủ sắt kê hai bên Nhà Hương, Trung Điện và Tây Điện. Số tiền bá tánh dâng cúng hàng tháng lên tới bảy, tám trăm ngàn; tháng có lễ giỗ Đức Thượng Công là trên 2 triệu (2,059,700$00, năm1971); tháng Tết là khoảng 6 triệu (5,928,295$00, tháng2/1972). Tổng cộng tiền bá tánh dâng cúng từ tháng 3 năm 1971 tới hết tháng 2 năm 1972 lên tới 16,381,295$00 (mười sáu triệu, ba trăm tám mươi mốt ngàn hai trăm chín mươi lăm đồng (5).
*Trần Vinh
(Trích trong tập Sự Thờ Cúng Đức Thượng Công Tả Quân Lê Văn Duyệt Tại Lăng Ông Bà Chiểu, 1974. Giữ nguyên nội dung nhưng có nhuận sắc).
GHI CHÚ:
(1) Tục xin xâm ở Miền Nam không khác xa bao nhiêu với tục xin quẻ thẻ tại Miền Bắc. Theo Toan Ánh, ‘Quẻ thẻ là một bài thơ giáng bút trong lúc phụ đồng vị thần linh thờ tại ngôi đền hoặc Miếu có thẻ. Bài thơ giáng bút được chép lại và ghi số, số bài thơ này ghi vào thẻ tre trong ống thẻ’. Toan Ánh. Tín Ngưỡng Việt Nam. Tập Thượng. Nam Chi Tùng Thư. Trang 226.
(2) Trong tập Nghiên Cứu Một Ngôi Đình Miền Nam (1973), tác giả Nguyễn Long Thao ghi nhận 100 lá xâm tại Đình Phú Nhuận được phân hạng như sau: Thượng thượng kiết: 1 lá; Thượng kiết: 13 lá; Đại kiết: 3 lá; Trung kiết 9 lá; Thượng thượng: 8 lá; Bình bình: 1 lá; Trung bình: 39 lá; Hạ hạ: 22 lá; Trung hạ: 3 lá (Trang 221).
(3) Kỷ Niệm 200 Năm Sanh Nhật Đức Tả Quân do Hội Thượng Công Qúy Tế phổ biến năm 1964. Trang 85.
(4) Kỷ Niệm 200 Năm Sanh Nhật Đức Tả Quân, Sđd..Trang 74.
(5) Phúc Trình Tài Chánh Niên Khoá 1971-1972 trong Đại Hội Thường Niên Hội Thượng Công Qúy Tế ngày 16.4.1972.
Trích từ dunglac.net
Chùa Phúc Thắng còn có tên gọi khác là Chùa Hội Tương truyền, vào thế kỉ IX sau công nguyên, một nhà phong thủy nổi tiếng kiêm trinh sát lành nghề về địa lí, kinh tế, quân sự đã đến làm kinh lược sứ An Nam đó là Cao Biền.
Suốt thời gian nhậm chức ông ta đi khắp các châu, quận xem xét ghi vẽ các thế đất, các kiểu đất. Sau đó, ông ra tay yểm triệt với hy vọng để đất An Nam không phát đế vương và không sinh ra được những con người kiệt xuất… Trong danh sách đó của Cao Biền có vùng đất Chiểu Lãng – Ba Đậu với dòng chữ nhấn mạnh bên cạnh: Địa phát khôi khoa (Đất phát khôi khoa).
Trung tâm chính của vùng đất Chiểu Lãng – Ba Đậu ấy chính là làng Lạng (xã Song Lãng, thuộc huyện Thư Trì cũ và Vũ Thư nay) và Cao Biền có dùng hết phép yểm triệt hay không mà đất đây vẫn phát nhiều người hiền tài đến thế. Đó là Trần Củng Uyên – đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn 1496 triều Lê Thánh Tông, Đỗ Lí Khiêm – đỗ Trạng nguyên khoa Kỉ Mùi 1499…Và đặc biệt đã xuất hiện một danh nhân văn hoá với tư cách là một nhà Thiền học có nhiều ảnh hưởng đến giáo phái Hoàng Giang ở Việt Nam đó là Đỗ Đô – đó là vị thiền sư được tôn thờ trong Chùa Phúc Thắng, làng Lạng, xã Song Lãng, huyện Vũ Thư , tỉnh Thái Bình.
Căn cứ vào những những dấu tích và hiện vật còn lưu lại trong chùa, những gia phả của những dòng họ lớn trong xã…có thể khẳng định chùa Phúc Thắng có từ thời Lí nơi thờ Đỗ Đô.
Theo ngọc phả Từ Thượng và truyền thuyết dân gian Đỗ Đô tức Đỗ Sinh Công sinh ngày 9 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (1042) tức là năm Minh Đạo thứ nhất triều Lý Thái Tông. Thuở nhỏ, mặc dù con nhà nghèo nhưng Ngài rất chăm học, học rất giỏi. Ông nằm trong số rất ít người đã đi du học và thi đỗ khoa Bạch Liên ở Trung Quốc.
Đỗ Đô bình sinh luôn có ý thức mở mang việc học cho quê hương. Có thể xem ông là người thầy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp học hành thi cử của làng Lạng. Đỗ Đô là bạn đồng đạo của Không Lộ và Đạo Hạnh. Ông được các phái đạo thuật thời bấy giờ suy tôn là Giáo chủ phái Hoàng Giang. Vừa có tài lại có đức nên Đỗ Đô được vua Lý Thánh Tông rất tin yêu, trọng dụng, phái thảo đường mà vua Lý Thánh Tông sáng lập ra đã truyền được 5 đời (với 17 vị thiền sư), Đỗ Đô thuộc đời thứ 3 tổ thứ 11 đứng sau Không Lộ thiền sư và Lí Anh Tông.
Với tài cao, đức rộng nên Đỗ Đô được vua Lý Thánh Tông rất tin yêu, kính trọng ban cho chức tăng quan đứng đầu hàng tăng sư, ban đạo hiệu Đạt mạn thiền sư không gọi tên để tỏ lòng kính trọng.
Ông có nhiều công lao đóng góp cho dân chúng trong làng, xã, huyện, tỉnh. Thương dân tình đói khổ khó khăn ông đã xin miễn thuế khoá tạp dịch cho dân, ngày ngày khuyên dân chăm việc nông tang, sửa bỏ thói hư tật xấu, sửa sang đường sá, góp công sức đắp đê sông Hoàng (khúc sông chảy qua địa phận Thư Trì cũ). Chính vì vậy mà Thái Bình – Song Lãng luôn được mùa no đủ.
Ông là người rất giỏi về y thuật tận tình chăm sóc cứu chữa chúng sinh. Ngay cả vua Lý Thánh Tông cũng đã được ông cứu chữa. Ngài còn tính được số mệnh nhà vua để vua sớm liệu việc triều chính.
Tháng Giêng năm Canh Tí (1071) vua Lí băng hà có di chiếu vời Thượng sư về triều giúp việc chính sự vì thái tử Càn Đức nối ngôi còn nhỏ quá. Sau khi thiền sư qua đời với những công lao đóng góp của Ngài, nên vua Lí đã cho dân làng lập đền thờ thiền sư trên nền hành cung hiện nay để dân Ngoại Lãng và du khách bốn mùa hương khói.
Hiện nay, Chùa Phúc Thắng còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị rất lớn về mặt lịch sử cũng như nghệ thuật như Cồng – được đúc vào năm Quí Dậu (1693) tức năm Chính Hoà thứ 14 đời vua Lê Hy Tông do cụ Nguyễn Chí Công vị thượng tổ họ Nguyễn cúng, được sử dụng vào đêm giao thừa (người trông nom đền được quyền đánh 3 hồi cồng – với ý niệm dùng để truyền tải, truyền đạt lòng dân trăm họ đến với thần linh mong được thần linh che chở và cũng là để báo cho nhân dân lên đền lễ thánh lấy lộc rồi về xông nhà, tiếng cồng còn là hiệu lệnh báo lễ rước kiệu bắt đầu), “cột tịnh truỳ” làm bằng gỗ trầm hương (là một cái chày thanh tịnh đường kính 15cm, dài 0m80 đầu chày ở phía dưới hơi thắt, trổ hoa sen đặt trên một giá đỡ) được dùng làm linh khí cầu chúc cho quốc thái dân an. Ngoài ra trong chùa còn lưu giữ nhiều binh khí thời Lí.
Trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc chống thực dân Pháp chùa Phúc Thắng là căn cứ nuôi dấu, che chở cho cán bộ, du kích…Toàn bộ cụm di tích gồm trang miếu Thái Bảo Đỗ Vinh Công (tức Đỗ Đô), đền Thượng nơi thờ cúng thượng sư khi Ngài hoá thạch Tượng Tháp nơi thờ bà Đỗ Thị Doanh người góp nhiều công của xây dựng chùa, nhà thờ Tổ. Tất cả được thiết kế theo kiểu chữ Vương. Để tưởng nhớ tới công lao của vị thiền sư này cứ 2 năm hội được tổ chức một lần, Lễ hội được mở từ ngày mồng 6 đến 11 tháng giêng âm lịch. Trong lễ hội có rước kiệu thánh, lễ phật, cúng khoa, khai bát trí thực và thông hành tịnh truỳ và nhiều trò chơi dân gian khác.
| ► Xem phong thủy số điện thoại theo tuổi theo công cụ luận giải khoa học |
![]() |
Lưu Bị là vị Hoàng đế khai quốc của nhà Thục Hán trong thời Tam Quốc, ông còn có một biệt danh khác là "tai to" và thường được quân địch gọi là "đại nhĩ tặc" (giặc tai to). Tương truyền Lưu Bị "tai to rủ xuống tận vai", tuy có phần hơi cường điệu nhưng chí ít cũng đủ để thể hiện rằng, đôi tai của Lưu Bị lớn, to hơn hẳn so với người thưòng. Tai to cũng là một trong những kiểu tướng phú qúy.
Xem tướng đôi tai phú quý có đặc điểm: Tai dài, rộng, đầy đặn, không khuyết; luân quách phải phân tách rõ ràng, màu sắc sáng, có màu ửng hồng hoặc trắng ngà, phần trên của tai cao quá lông mày,... Nếu không hội tụ đồng thời các đặc điểm trên, sự phú quý của chủ nhân bị giảm thiểu.

Xem tướng Tai đòi hỏi xem cả Hình lẫn Sắc.
Dưới đây là chi tiết một số nét tướng của đôi tai phú quý:
- Tai không khuyết, sắc tai trắng hơn da mặt, phần trên tai cao hơn lông mày là dấu hiệu của sự nổi tiếng, dễ vang danh trong thiên hạ.
- Tai lớn, dày và chắc, hình dáng thanh tú, màu sắc tươi sáng và phải cao ít nhất ngang mắt là đặc trưng của người có vị thế cao trong xã hội, được mọi người biết đến và ngưỡng mộ.
- Tai dày, thùy châu (dái tai) rõ và to, rủ xuống phía dưới là tướng phú quý, nếu hướng về miệng lại càng phú quý hơn.
- Tai lật ngửa (từ phía trước nhìn thẳng vào mặt thì không thấy tai) cho thấy chủ nhân là người có địa vị cao trong xã hội, sự nghiệp thông suốt, thuận lợi.
- Tai ép sát vào da đầu, luân quách (vành ngoài và vành trong của tai) rõ ràng, tai cao hơn lông mày thì chủ nhân là người thông minh, sáng suốt, có khả năng trở thành người lãnh đạo, cuộc đời có nhiều vinh hoa phú quý.
- Tai lớn và dày, lỗ tai rộng và màu sắc tươi nhuận, khi về già cuộc sống sung túc, dư dả tiền bạc.
- Tai có màu sắc ửng hồng pha lẫn màu trắng ngà hoặc tai có đường nét cong tròn đều là tướng người được hưởng thụ cuộc sống an nhàn.
- Hình tai dài và lớn, bên trên cao hơn lông mày, bên dưới ngang với góc miệng là tướng thọ. Cả đời ít khi ốm đau dù gặp nghịch cảnh cũng chẳng bao giờ buồn phiền.
- Tai màu ửng hồng minh nhuận biểu hiện tâm thần cường tráng. Sắc tai hồng hào là tướng có địa vị trong xã hội và được nhiều người yêu mến.Nhĩ thông thường đi đôi với mục minh.
- Tai đầy áp sát vào đầu, đứng trước mặt không trông thấy tai, đại phú.
- Trong lỗ tai mọc lông là đại thọ, vô bịnh. Có mục ruồi là thông minh quí hiển.
- Tai rủ gần vai, tai nhô cao tới óc đều là phú quí cung cách.
- Tai trâu là đần, nhưng hiền và thọ.
- Tai dày, cứng, vểnh mà dài là người trường thọ, có quan lộc. Vành tai rõ, không mỏng là người thông minh.
- Trong tai có nốt ruồi là người có trí tuệ và con cháu cũng rất thông minh. Lỗ tai rộng, đút vừa ngón tay là người thông minh, nhanh nhẹn, khoáng đạt.
- Tai có sắc trắng là người có địa vị cao trong xã hội. Tai dày mà tròn là người có phúc lộc.
- Tai trắng hơn mặt là người thông minh, có danh vọng. Phần trên tai cao vểnh là người có trí tuệ, có địa vị xã hội và thường được hưởng an nhàn, sung sướng.
- Dái tai dài, tròn, dày là người có quyền lực lớn hoặc có khả năng cảm thụ nghệ thuật cao độ.
Tuy nhiên, tất cả các đặc điểm trên phải đi đôi với sự cân xứng của cả 2 tai thì mới được coi là đôi tai phú quý.
Một số đặc điểm tướng tai xấu lịch vạn niên 365 tổng kết
- Tai thô, to, đen là người ngu si, bần tiện.
- Tai mỏng, mềm, vành tai lộn ra ngoài và hướng về phía trước là người bần hàn.
- Vành tai không tựa vào nhau, lệch và nghiêng ra sau là người thiếu ý chí, bần hàn, vô tình, vô nghĩa.
- Tai đen, vành tai lồi lõm là người phải sống xa nhà, nghèo khó. Tai trắng và mỏng như giấy là người đoản thọ.
- Tai nhỏ, thấp hơn mắt là người nghèo khó, chết sớm. Tai mỏng, to, gốc tai nhỏ là tướng đoản thọ.
- Tai không có vành, lật ra sau là người yếu sinh lý, xuất thân bần hàn, cuộc đời không có được sự giúp đỡ.
- Lỗ tai nhỏ là người kém thông minh, không nhanh nhạy, cuộc sống gia đình không hòa thuận, đoản thọ.
- Phần trên tai rất nhọn, là người không có trí tuệ, thường có dã tâm.
- Tai có sắc đen hoặc đỏ là nghèo khó.
- Tai trông tối thui, triệu chứng của tinh thần suy nhược, tất nhiên học bất thành, không thể đỗ đạt. Nếu tai vàng héo khô khốc, tính mạng sắp nguy.
- Tai mỏng lại vảnh ra đàng trước gọi là tai dơi, tai chuột là phá sạch sản nghiệp tổ tông, cờ bạc đến bán vợ đợ con cũng không hối hận.
- Tai lật nghiêng là người không có nhà. Lỗ tai lớn rộng là thông minh tài trí, dư ăn dư để, lỗ tai hẹp nhỏ, là bần cùng ngu độn yểu mạng. Tai chuột là trộm cắp nghèo khó suốt đời, có khi chết trong lao tù.
- Tai nhỏ ngắn mà lật ngược ra sau là ẩu thơ côi cút, tài tán gia vong phiêu bạt. Tai như tai cọp là giàu sang uy nghi, mà lòng dạ hung ác, thương ghét bất thường, hại người rất dễ.
- Tai nở banh ra như bông bụp nở thì phá sạch của tổ tiên rồi nghèo khó đến chết. Tai lừa tai ngựa là khốn đốn suy bại, mà lại dâm đãng.
- Tai khỉ là bạch thô thành gia. Tai heo là lúc giàu lúc nghèo không chừng nhưng đa sắc dục, lại sanh bệnh yểu. Tai mỏng mà nghệch ra trước gọi là tai quạt gió là phá sạch của tổ tông, hay đam mê, tới già cô độc.
- Hai tai mỏng vểnh về đằng trước, sách tướng gọi là Chiêu phong nhĩ (tai đón gió) chủ phá bại. Nếu nó lại mỏng lệch thì bán sạch nhà cửa ruộng vườn. Tướng bạt nhĩ lộn ra phía sau (đảo hậu), suốt đời không mua nổi cái nhà. Dù con nhà gia thế, nếu có hai loại tai đó rồi cũng thất cơ lỡ vận.