Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Bí kíp hay cho căn bếp gọn, đẹp

Một căn bếp gọn gàng, sạch sẽ không chỉ giúp chúng ta tiết kiệm thời gian mà còn đem lại cảm giác nhẹ nhàng và thoáng đãng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bếp là nơi lưu trữ rất nhiều món đồ lặt vặt – từ đồ ăn đến đồ dùng. Và đôi khi những món đồ lặt vặt ấy lại trở thành "kẻ xâm lăng" trong gia đình, khiến chúng ta mệt mỏi với những ngăn tủ lộn xộn và chật cứng, rất khó tìm kiếm và sử dụng. Trong bài viết này, mình xin chia sẻ một số giải pháp và kinh nghiệm riêng trong việc tổ chức những ngăn đựng đồ lặt vặt, làm gọn đẹp tủ bếp và thuận tiện khi sử dụng.

 



 

1. Kiểm kê và phân loại

Hãy định kỳ kiểm tra các loại đồ dùng và thực phẩm của bạn. Loại bỏ bớt một số món đã không còn phù hợp hoặc hết hạn sử dụng. Với những món còn dùng được, hãy phân chia nhóm sản phẩm để sắp xếp có hệ thống và tập trung.

2. Phân khu chức năng phù hợp

Sau khi đã phân loại, hãy đưa các nhóm đồ dùng vào các ngăn chức năng phù hợp, ví dụ: thực phẩm khô, đồ ăn vặt, đồ làm bếp, chén bát, thiết bị nhỏ, đồ làm vệ sinh và chất tẩy rửa… Cần đề cao tính thuận tiện khi sắp xếp. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm không gian cũng như thói quen sinh hoạt của từng nhà, tuy nhiên có một nguyên tắc chung là những món thường xuyên sử dụng được tập trung một chỗ, để gần tầm với; những thứ ít sử dụng có thể để xa hơn.



 

 

3. Sử dụng các hộp đựng

Thường thì rất nhiều món lặt vặt mà chúng ta mua về không có hộp đựng: đường, muối, hạt nêm, đậu, mè, bánh kẹo, các thể loại gia vị… Nếu cứ để bao bì thì sẽ rất lộn xộn và khó sử dụng, nên tốt hơn hết là cho vào các loại hộp đựng. Gia vị có chai lọ riêng, phù hợp với chế độ bảo quản cũng như tần suất và cách thức sử dụng của từng loại. Ngũ cốc, bánh kẹo, đồ khô… cũng có thể cho vào hộp với kích thước phù hợp và tương đối đồng nhất để dễ sắp xếp, ưu tiên các loại hộp đựng có nắp đậy kín để tránh kiến, tránh ẩm và có màu trong suốt hoặc trắng mờ để dễ nhìn thấy bên trong. Nhớ là khi loại bỏ các bao bì, hãy ghi lại hạn sử dụng của từng món trên những mẩu sticker nhỏ và dán dưới đáy hộp. Nên dùng loại sticker chuyên dùng cho văn phòng, dính tốt nhưng rất dễ lột ra chứ không bám chết như các loại keo dán mua ở siêu thị.



 

 

4. Dùng các đồ vật giúp tiết kiệm không gian

Những ngăn tủ đóng sẵn với kích thước như nhau có thể hạn chế phương án sắp xếp của chúng ta, do đó hãy sử dụng những đồ dùng giúp tiết kiệm diện tích, tổ chức khu vực nhỏ và tận dụng chiều cao không gian như giá phân tầng, thanh chia ngăn kéo, hộp đựng chia ngăn, các kệ xếp chồng lên nhau, khuôn xếp chén dĩa thành chồng cao mà không bị đổ, khuôn đựng đồ hộp, các đồ đựng chuyên biệt để tiết kiệm không gian tủ lạnh… Trong trường hợp dùng kệ phân tầng, nên sắp xếp hợp lý để dễ lấy. Những đồ ở phía dưới không quá cao và ở phía trên không quá nặng, nếu cần rổ nên dùng loại có tay kéo để rút ra dễ dàng.


 
 

5. Sử dụng những đồ dùng xếp gọn

Đồ đạc của chúng ta không phải lúc nào cũng giữ số lượng cố định mà khi nhiều khi ít, cũng có khi loại bớt kha khá đồ thừa, cũ sau khi kiểm kê nên các loại đồ đạc dùng để chứa nó vô tình lại trở thành vật thừa chiếm diện tích. Tất nhiên, bạn không thể vứt đi khi nó còn tốt và có thể sử dụng cho những lần sau. Một giải pháp là hãy sử dụng những đồ dùng xếp gọn. Rất nhiều thứ ở nhà mình như hộp đựng đồ, kệ phân tầng, bàn ghế nhỏ... đều có thể xếp gọn khi không cần sử dụng để dễ lưu trữ.

 



 

6. Chuẩn bị những bộ đồ ăn đẹp

Bữa ăn gia đình nên là thời gian để thưởng thức, chứ không phải "cố nuốt cho trôi" – nhất là vào những khi rảnh rỗi, dịp cuối tuần hay ngày kỉ niệm. Chất lượng cuộc sống ngày càng cao khiến chúng ta không chỉ cần ăn ngon mà còn muốn tận hưởng trong một không gian đẹp. Một chút trang trí hoa lá thiên nhiên ở góc bếp hay bên bàn ăn sẽ gúp khung cảnh lãng mạn hơn. Chén bát, thìa nĩa là những thứ bình thường phục vụ nhu cầu ăn uống cơ bản, nếu biết chọn lọc thì bữa ăn càng thêm thú vị và tiện lợi.



 


 

Căn bếp gọn đẹp không nhất thiết phải là một căn bếp hiện đại và cầu kì (tất nhiên nếu có điều kiện thì chẳng tội gì lại không đầu tư một cái bếp thật ưng ý). Cái đẹp có thể nằm trong sự đơn giản, không quá tốn kém mà vẫn thể hiện sự tinh tế và khoa học. Ra đường, chúng ta đã phải đối mặt với sự ô nhiễm quá nhiều từ khói bụi, kẹt xe, khí thải, môi trường độc hại… nên đừng để bản thân phải chịu thêm sự "ô nhiễm tầm nhìn" khi trở về mái nhà yêu dấu, mà ở đó bếp là nơi thắp lửa hồng cho tổ ấm.

 

 

(Theo Đẹp)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí kíp hay cho căn bếp gọn, đẹp

Nữ Thiên Yết nam Song Ngư - Cặp đôi ăn ý nhất

Nữ Thiên Yết nam Song Ngư thoạt nhìn có vẻ trái dấu nhau nhưng thực chất có sức hút mãnh liệt. Cả hai tìm thấy ở nhau điều còn thiếu.
Nữ Thiên Yết nam Song Ngư - Cặp đôi ăn ý nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Cùng xem những tiết lộ thú vị về 12 cung hoàng đạo tình yêu

Nu Thien Yet nam Song Ngu - tuong khong hop ma hop khong tuong hinh anh
 
Mối quan hệ của nữ Thiên Yết nam Song Ngư này có thể là một trong những mối quan hệ hoàn hảo nhất nhì vòng tròn hoàng đạo với cái nhìn sâu sắc và sự hiểu biết.
 
Cả hai chòm sao đều thuộc cung Nước nên về tính chất khá hòa hợp. Đôi bên bền bỉ và có sự thấu hiểu không nói nên lời. Thiên Yết tạo cho Song Ngư sự ổn định và an tâm. Song Ngưu mang đến nhiều hứng thú cho Thiên Yết.
 
Hành tinh thống trị của Thiên Yết là sao Hỏa và sao Diêm Vương lan truyền sự mạnh mẽ tới Song Ngư; hành tinh phán quyết Song Ngư là sao Mộc và sao Hải Vương lan tỏa sự hài hòa và vẻ đẹp tới Yết Yết.
 
Song Ngư là chòm sao cực kì quyến rũ, gần như gây được ấn tượng với người xung quanh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Thiên Yết cũng không ngoại lệ. Nhưng quan trọng là tuy thu hút được nhiều người nhưng Song Ngư lại không tạo được sự hấp dẫn mạnh mẽ với những người khác. Chỉ có nàng Thiên Yết thích thú với dáng vẻ ấm áp, nhu hòa là bị chàng mê mẩn.
 
Ngược lại sự mạnh mẽ của con gái Thiên Yết là chìa khóa mở tung trái tim chàng Thiên Yết. Nàng thông minh, cuốn hút, bí ẩn và đầy trí tuệ. Nàng là minh chứng của sự an toàn và điểm tựa cho những chông chênh trong cuộc sống.
 
Đàn ông Song Ngư không thích bị cuốn vào thói quen và nghĩa vụ. Họ cần sự tự do để khám phá và tận hưởng thế giới của trí tưởng tượng. Đây là điểm mấu chốt quyết định mức độ lâu bền của mối quan hệ giữa nữ Thiên Yết nam Song Ngư
 
Cô gái tránh những hành động chiếm hữu hoặc kiểm soát thái quá còn chàng trai thì bớt tung “mê hồn trận” với các nàng xung quanh đi. Đôi khi, những mâu thuẫn, xung đột ngầm còn đáng sợ hơn cả cơn cãi vã ầm ĩ đấy nhé.   Trần Hồng (Theo Horoscopecompatibility)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nữ Thiên Yết nam Song Ngư - Cặp đôi ăn ý nhất

Văn khấn Tam Bảo ở Chùa

đến chùa lễ Phật, thành tâm cầu khấn hồng ân chư Phật, chư đại Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng gia hộ cho bản thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi,..

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tam bảo được hiểu như là “ba ngôi báu”, và được kể ra bao gồm Phật, Pháp và Tăng. Phật là “ngôi báu thứ nhất”, hay Phật bảo, là đấng giác ngộ đầu tiên, người đã tìm ra chân lý và phương pháp tu tập để hướng đến sự giải thoát, làm giảm nhẹ và xóa bỏ những khổ đau vốn có trong cuộc đời này. Pháp là “ngôi báu thứ hai”, là phương pháp tu tập do Phật truyền dạy. Tăng là "ngôi báu thứ ba" chỉ những chư tăng, là những người rời bỏ đời sống gia đình để dành trọn cuộc đời thực hành theo giáo pháp của đức Phật, hướng đến sự giải thoát, sự giác ngộ. 

van-khan-tam-bao

Theo phong tục cổ truyền, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ Phật giáo, Tết nguyên đán, hoặc những ngày gia đình có việc hệ trọng, người Việt thường đến chùa lễ Phật, thành tâm cầu khấn hồng ân chư Phật, chư đại Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng gia hộ cho bản thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc v.v. Tuy nhiên, việc sửa soạn đi lễ chùa, hoặc sắm lễ vật để đi lễ chùa, người đi lễ cần phải biết những quy định căn bản của nhà chùa mà người hành lễ phải tuân thủ

1. Lưu ý

- Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi chè… không được sắm sửa lễ mặn chư cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt mồi, gà, giò, chả…

- Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Thánh, Mẫu và chỉ dâng ở đó mà thôi. Tuyệt đối không được dâng đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính diện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Lễ mặn (nhưng thường chỉ đơn giản: gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) cũng thường được đặt tại ban thờ hay điện thờ (nếu xây riêng) của Đức Ông - Vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa.

- Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.

- Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.

- Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại…

2. Thứ tự hành lễ ở Chùa cần theo thứ tự như sau:

1. Đặt lễ vật: Thắp hương và làm lễ ban thờ Đức Ông trước.

2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang.

3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái Đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu)

5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tuỳ tâm công đức.

3. Văn khấn tam bảo

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.
Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm .....
Đệ tử con là ..........................................
Ngụ tại ......................................................
Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.
Chúng con xin dốc lòng kính lễ:
- Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.
- Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.
- Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.
- Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.
- Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.
Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ....................................(công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).
Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai qua nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khỏe, trên dưới thuận hòa an khang thịnh vượng.
Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.
Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.

Cẩn nguyện.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn Tam Bảo ở Chùa

Luận sơ lược Tử vi Tuổi Sửu

ĐINH-SỬU 17 TUỔI: (Sinhtừ 7/2/1997 đến 28/1/1998) Mệnh: Giản Hạ Thủy (Nước dưới khe)
Luận sơ lược Tử vi Tuổi Sửu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


NAM:  Cung Chấn, sao Thái-Am, hạn Diêm-Vương: Tánh tình ngay thẳng, hiếu học, nhiều tham vọng, đặt nặng hai chữ công danh. Tiền vận thường gian nan tân khổ, đến hậu vận mới thành công. Ở đời có ba điều đáng tiếc: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù tài giỏi thông minh tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ học hành 4 năm đại học thôi, có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này.

“Tuổi trẻ thanh xuân bước vào đời

Chớ nên liều lĩnh mãi mê chơi

Dấn thân học tập sau thành đạt

Khoa bảng rỡ ràng mới thảnh thơi”.

Năm nay có sự thay đổi tốt về chỗ ở hay trường học. Thành tích học hành rất xuất sắc nhờ chăm chỉ. Theo đúng chương trình, được chuyển lên lớp 10. Chuẩn bị thi  SAT thử. Sang năm lớp 11 sẽ thi SAT. Nếu được điểm cao sẽ dễ xin học bổng, dễ chọn trường. Tránh chơi game nhiều qúa, sẽ bị đau mắt.

NỮ: Cung Chấn, sao Thái-Bạch, hạn Thiên-La: Tính tình ngay thẳng, lương thiện, thường là rường cột của gia đình. Có sự nghiệp sớm. Tuy nhiên tình cảm ủy mỵ và qúa lý tưởng nên ít khi được hạnh phúc trọn vẹn trong hôn nhân. Ở đời có ba điều đáng trách: Một là việc làm được hôm nay lại bỏ qua. Hai là hiện tại đời này không lo học. Ba là thân này lở hư. Một người dù thông minh tài giỏi tới đâu mà không nắm lấy cơ hội học hành cho đúng lúc, chỉ chuốc lấy ân hận mà thôi. Ngay cả thiên tài cũng chỉ là những cố gắng lâu dài. Cha mẹ không thể sống mãi để lo cho mình suốt đời. Chỉ cần chăm chỉ 4 năm ở đại học thôi, cũng có thể thảnh thơi 40 năm trong cuộc đời sau này:

“ Cơm cha áo mẹ công thầy

Tuổi xuân học tập tháng ngày chăm lo

Ngày mai vinh hiển ấm no

Yêu cuồng sống vội, hẹn hò không nên”

Giờ nào việc ấy. Phải hết sức học tập mới khỏi phụ công ơn cha mẹ. Nay chưa phải là lúc yêu đương mất cả ngày giờ. Đường vào tình yêu không phải toàn là hoa hồng thắm tươi ngào ngạt, mà có thể đầy dẫy những gai góc và vực thẳm. Đường còn dài và xa xôi lắm, đừng biến mình thành con nai vàng ngơ ngác bước vào hố thẳm chông gai. Năm nay đủ tuổi lái xe, nhưng phải hết sức cẩn thận, đề phòng tai nạn rủi ro trong tháng 5.

ẤT-SỬU  29 TUỔI: (Sinh từ 21/1/1985 đến 8/2/1986)

Mệnh: Hải-Trung-Kim ( Vàng dưới biển).

NAM: Cung Càn, sao Thổ-Tú, hạn Ngũ-Mộ: Bản tánh hào hoa nhưng giản dị, tự trọng. Kỵ màu đỏ, hạp màu vàng.  Chữ “ Ất “ có thể biến thành chữ “Tân” là khổ. Cho nên cuộc đời phải sớm tự lập, đừng ỷ lại vào cha mẹ. Tình duyên hạp với bạn gái tuổi Ất-Sửu (1985), Giáp-Tí (1984), Mậu-Thìn (1988), Kỷ-Tỵ (1989) và Tân-Mùi (1991). Nếu người yêu hạp tuổi, có thể tiến đến hôn nhân. Hướng nhà cửa và làm ăn tốt nhất trên  Đông Bắc, Tây Nam và Tây Bắc.

“ Ất-Sửu cuộc đời sớm lập thân

Tự mình học tập thật chuyên cần

Tương lai tươi sáng đường danh lợi

Phước báu gia đình đẹp hôn nhân”

Năm nay lái xe phải cẩn thận đề phòng rủi ro trong tháng 4 và tháng 8. Tuy nhiên có sự thay đổi chỗ ở, chỗ làm, thì cứ xuôi theo tự nhiên, mọi việc cuối cùng cũng đi vào trật tự. Trong hãng xưởng dễ được lên chức lên lương. Kinh doanh thương mãi cũng thành công. Tiền tài sung túc. Muốn đi xa xuất ngoại cũng có cơ hội thực hiện.

NỮ:  Cung Ly, sao Vân-Hớn, hạn Ngũ-Mộ: Mẫu người thông minh sáng suốt. Biết tính toán kỹ lưỡng trước khi thực hiện.  Đồng thời cũng rất chăm chỉ, nhẫn nại, cần mẫn, an phận, trung thành. Tánh tình hiền hậu, thành thật, hay giúp người nhưng ít khi được đền đáp. Đời nhiều gian nan, thăng trầm, hôn nhân trắc trở. Phải tự lập và ly hương mới gặp may mắn. Kỵ màu đỏ, hạp màu vàng. Lấy chồng chọn tuổi Đinh-Tỵ (1977), Ất-Sửu (1985), Quý-Hợi (1983), và Kỷ-Mùi (1979). Rất kỵ Canh-Thân (1980). Bất luận cưới hỏi vào năm nào cũng nên chọn ngày giờ trong tháng 5 và 11 âm lịch là tốt nhất. Hướng làm ăn thích hợp là Đông và Bắc.

“ Tính người mẫn cán chuyên cần

Giúp người sau trước góp phần dựng xây

Trung thành an phận thơ ngây

Qúi nhân giúp đỡ người ngay hưởng lành

 Các bạn độc thân, có thể cưới hỏi trong năm nay. Tuy nhiên lái xe phải cẩn thận, dễ bị giấy phạt vi phạm luật giao thông. Phải bảo trì xe cộ trước khi đi xa mới tránh bị nằm đường. Đầu năm kỵ đầu tư chứng khoán. Cuối năm ăn nói phải cẩn thận, dễ bị miệng tiếng thị phi. Tình trạng tài chánh rất khả quan. Muốn sinh con thì nên có thai sau tháng 6, để sinh con năm Giáp-Ngọ, có thể tốt cho cha mẹ 20 năm.

QÚY-SỬU 41 TUỔI: (Sinh từ 3/2/1973 đến 22/1/1974).

Mệnh: Tang-Đố-Mộc ( Gỗ cây dâu).

NAM: Cung Ly, sao Thái-Dương, hạn Tán-Tận: Bản tánh hiền lành đạo đức, trọng chữ tín, có tài năng và kiến thức sâu rộng. Mặc dầu rất năng nỗ nhưng dễ thay đổi lập trường, đôi khi quá cứng rắn quyết liệt, nóng nảy, nên tiền vận khó thành việc lớn. Hậu vận mới an vui. Cuộc đời ít lo, an nhàn. Bạn nào độc thân sẽ cưới vợ năm nay. Bạn trăm năm hạp với các tuổi Giáp-Dần (1974), Quý-Sửu (1973), Tân-Dậu ( 1981), Mậu-Ngọ (1978). Hướng nhà và kinh doanh tốt nhất là chánh Đông và chánh Bắc.

“Số người phú qúi thông minh

Tài ba tháo vác hiển vinh cuộc đời

Giàu sang phát đạt thảnh thơi

Thủy chung hạnh phúc trọn đời an vui!

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Ngũ Thọ Tử”, không tốt cho vấn đề xây cất, hay chỉnh trang nhà cửa. Tuy nhiên, bạn nào đang thất nghiệp sẽ tìm được việc làm tốt. Bạn nào đang làm hãng xưởng sẽ được lên chức, lên lương. Bạn nào kinh doanh thương mãi, tiền vô nhanh như ngựa chạy. Muốn thay đổi chỗ ở chỗ làm hay đi xa xuất ngoại đều gặp hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện.

 

NỮ: Cung Càn, sao Thổ-Tú, hạn Hùynh-Tuyền: Mẫu người thông minh sáng suốt, biết tính toán kỹ lưỡng trước khi làm việc nhưng tôn trọng sự công bằng. Ít tham vọng nên khỏi sóng gió lo toan buồn phiền. Từ trung vận đã có đất đai, nhà cửa, cơ sở làm ăn thương mãi. Tự lập mà nên sự nghiệp nhờ mẫn cán và trung thành. Bạn trăm năm hạp với tuổi At-Mão (1975), Đinh-Mùi (1967), Quý-Sửu (1973), Ất-Tị (1965), Tân-Hợi (1971), và Quý-Mão (1963). Hướng làm ăn tốt nhất là Đông Bắc, Tây Nam, và Tây  Bắc.

“Quý-Sửu nữ nhân sống dễ dàng

Tiền vô như nước số cao sang

Danh lợi hanh thông đường xuất ngoại

An nhàn vui hưởng cảnh vinh quang”

Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm“Ngũ Thọ Tử”, không tốt cho việc xây cất nhà cửa. Tháng 4, tháng 8 có người đau ốm bệnh hoạn trong  gia đình hay tang chế bà con. Lái xe cũng phải cẩn thận trong 2 tháng nói trên. Tuy nhiên bạn nào làm công chức sẽ được lên chức lên lương, kinh doanh thương mãi sẽ phát đạt thịnh vượng. Muốn đi xa xuất ngoại hay thay đổi chỗ ở, chỗ làm, đều thực hiện được.

TÂN-SỬU 53 TUỔI: (Sinh từ 15/2/1961 đến 4/2/1962)

Mệnh: Bích Thượng Thổ ( Đất trên vách tường)

NAM: Cung Chấn, sao Thái-Am, hạn Diêm-Vương: Người có tài năng, tự hào, can đảm, thích lãnh đạo chỉ huy nhưng cuộc đời rất thăng trầm. Không ly hương cũng xa cha mẹ anh em mà tự lập. Nhiều tự ái, hành sự độc đoán, không muốn nhờ cậy ai nên từ công việc làm ăn cho đến hôn nhân thường gặp nhiều trở ngại. Hạp màu đỏ, vàng. Hướng nhà cửa và kinh doanh tốt nhất là chánh Nam và chánh Đông. Bạn đời lý tưởng chọn trong các tuổi Ất-Tị (1965), Đinh-Tị (1977), Giáp-Thìn (1964), Bính-Thìn (1976), At-Mão (1975), Quý-Mão (1963), Kỷ-Dậu (1969), Nhâm-Dần (1962), và Tân-Sửu (1961). Kỵ tuổi Nhâm-Tí (1972).

“Người có tài năng cũng thăng trầm

Bởi nhiều tự ái chuyện trăm năm

Xa cha cách mẹ thân tự lập

Ly hương thành đạt nổi tiếng tăm”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Nhị Nghi” nếu muốn xây cất nhà cửa hay chỉnh trang cơ sở thương mãi, có thể thực hiện.  Bạn nào làm việc nhiều bằng computer sẽ bị đau mắt. Lái xe đi xa phải bảo trì xe cộ tránh nằm đường. Đề phòng những giấy tờ rắc rối về hành chánh như lái xe bị chụp hình và tránh thưa kiện.Tuy nhiên, nếu vì công vụ mà phải thay đổi chỗ ở, chỗ làm, thì cứ xuôi theo tự nhiên; rồi mọi việc sẽ đi vào trật tự.

 

NỮ: Cung Chấn, sao Thái-Bạch, hạn Thiên-La: Mẫu người thông minh sáng suốt bén nhạy, ăn nói khôn ngoan, có tài hùng biện và rất cần cù nhẫn nại, mẫn cán và trung thành. Tuy nhiên thiếu thời gặp bước thăng trầm, hôn nhân trắc trở, khó nhờ cậy ai. Hậu vận mới đạt thành mộng ước. Tuổi già sẽ hướng thượng, thích triết thích đạo lý và có khuynh hướng tu hành. Không ly hương cũng xa cha mẹ anh em. Kinh doanh tốt nhất trên hướng Đông và Nam. Hạp màu đỏ, vàng. Tuổi chồng hợp nhất là Ất-Mùi (1955), Tân-Sửu (1961), Tân-Mão (1951), Quý-Mão (1963), Ất-Tị (1965), và Đinh-Dậu (1957). Rất kỵ tuổi Canh-Dần (1950).

“ Mẫu người cần mẫn lại trung thành

Dấn bước phong sương với lợi danh

Hôn nhân trắc trở nhiều thay đổi

Hậu vận an lành hết cạnh tranh”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Nhị Nghi” nếu muốn xây cất hay chỉnh trang nhà cửa, cơ sở thương mãi, có thể thực hiện. Tuy nhiên phải cẩn thận khi lái xe. Xấu nhất là tháng 5. Phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng trước khi đi xa tránh nằm đường. Nếu phải thay đổi chỗ ở hay nơi làm việc, cứ xuôi theo tự nhiên rồi mọi việc cũng được hoá giải.

 

KỶ-SỬU 65 TUỔI (Sinh từ 29/1/1949 đến 16/2/1950.)

Mệnh: Thích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét).

NAM: Cung Càn, sao Thổ-Tú, hạn Ngũ-Mộ: Số đào hoa và nóng nảy, nhưng biết tin tưởng vào phúc đức, lẽ phải và sự công bằng nên thường thích đảm nhận công tác xã hội để giúp đời. Làm việc phước thiện không kể công lao. Tánh tình hào hoa phong nhã nhưng tiền vận trước 30 rất gian nan, vợ con trắc trở. Tuy nhiên, ly hương tự lập thì hậu vận an nhàn. Nhất là khi hiền nội nhằm vào những tuổi Kỷ-Hợi (1959), Bính-Thân (1956) , Canh-Tí (1960), Tân-Sửu (1961) thì qúy ông chẳng khác nào như rồng có mây ngũ sắc: Công danh tài lộc đều được thanh vân đắc lộ. Con cái cũng làm nên. Đại kỵ màu đen, đi xe đen. Hướng nhà cửa và thương mại tốt nhất là Đông Bắc, Tây Bắc, và Tây Nam.

“ Kỷ-Sửu một đời lắm linh đinh

Cũng nhờ ngay thẳng tánh thật tình

Trước lắm gian nan sau thành đạt

Phước báu giàu sang trọn đức tin.”

Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Ngũ Thọ Tử” không tốt cho việc xây cất nhà cửa hay tạo lập cơ sở thương mãi. Tháng 4, tháng 8 lái xe phải cẩn thận, rất dễ bị phạt. Nếu phải lái xe đi xa trong 2 tháng này, nên bảo trì kỹ lưỡng mới khỏi bị nằm đường. Tất cả mọi việc, từ  làm ăn tới chỗ ở, chỗ làm đều phải giữ nguyên tình trạng cũ. Hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại, tránh hao tán vì những rủi ro.

NỮ: Cung Ly, sao Vân-Hớn, hạn Ngũ-Mộ: Mẫu người thông minh, có chí lớn, hay mưu đồ đại sự. Với tài ngoại giao khôn khéo lanh lợi, hùng biện nên dễ thành công trên thương trường. Bản tính cần kiệm, không thích xa hoa. Tiền vận trước 30: ba chìm, bảy nổi, nhưng lấy chồng Qúi-Mùi (1943), Tân-Mão (1951), Kỷ-Sửu (1949) hay Đinh-Hợi (1947) thì lại dễ thành sự nghiệp. Tình cảm đã hết những nỗi cay đắng và cuộc đời cũng chấm dứt những thăng trầm. Gây dựng nên sự nghiệp cho gia đình do chính bàn tay khéo léo và sự tảo tần của bản thân mình. Tình đầu bao giờ cũng đẹp, nhưng tình cuối mới là mối tình bất diệt. Đại kỵ màu đen, rất hạp màu đỏ. Kinh doanh thương mãi nên chọn hướng chánh Đông, và chánh Bắc là tốt nhất.

“ Tài năng đức độ phi thường

Trải bao cơ cực tình trường đắng cay

Cần cù nhẫn nhục xưa nay

Thành danh do chính bàn tay của mình”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Ngũ Thọ Tử”: Không tốt cho việc xây cất nhà cửa chỉnh trang cơ sở thương mãi. Đầu năm không nên đầu tư chứng khoán. Cuối năm dễ bị khẩu thiệt, thị phi. Tháng 4, tháng 8 trong gia đình có người ốm đau lặt vặt hay có tang chế bà con. Hạn chế đi xa, phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng tránh nằm đường. Mọi thay đổi đều bất lợi; thành thử cố gắng giữ nguyên tình trạng cũ.

Xin Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo, nếu Quý khách hàng muốn có bài luận giải tử vi đúng của chính mình, xin vui lòng đóng phí ở dịch vụ Xem tử vi trọn đời để được chuyên gia gửi bài luận giải qua địa chỉ email.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận sơ lược Tử vi Tuổi Sửu

Để gia đình hạnh phúc chớ quên phong thủy

Đây là những giải pháp phong thủy phổ biến, đơn giản mà hiệu quả nhằm thu hút điều tốt lành và hạnh phúc đến với ngôi nhà cũng như cuộc sống của bạn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dưới đây là 9 giải pháp tuyệt vời sẽ mang đến phong thủy tốt lành cho ngôi nhà của bạn và hạnh phúc đến với cuộc sống của bạn:

1. Ánh sáng và gương soi

Ánh sáng và gương soi ở đây bao gồm tất cả các đồ vật có khả năng phản chiếu và các loại ánh sáng khác nhau. Từ đèn trần, đèn để bàn, đèn chùm, nến, dải ruy băng... cho tới hầu hết các bề mặt phản chiếu đều là giải pháp chữa trị. Tinh thể đá thạch anh sáng lấp lánh đóng một vai trò rất lớn.

Mọi người đều biết rằng hành lang tối tắm dẫn vào nhà làm cho những vị khác tới chơi cảm thấy ảm đảm. Vì thế, thêm ánh sáng để mang lại phong thủy tốt.

 de gia dinh hanh phuc cho quen phong thuy - 1

2. Cá vàng

Trên thế giới, các chuyên gia phong thủy sử dụng giải pháp mạnh mẽ bậc nhất này để tăng thêm nguồn năng lượng hài hòa. Đó là lý do vì sao bạn thường nhìn thấy bể cá vàng trong các phòng chờ tại bệnh viện, phòng khám và nhất là phòng khám nha khoa.

3. Thú nuôi

Chó và mèo là hai loại thú nuôi thực sự tốt cho bạn. Bất kỳ loại thú nuôi nào, có nhiều hay ít lông, đều có khả năng tăng cường năng lượng hài hòa ngay lập tức.

 de gia dinh hanh phuc cho quen phong thuy - 2

4. Cây cảnh và hoa cảnh

Cây cảnh và hoa cảnh sẽ làm bất kỳ căn phòng nào trở nên sinh động hơn. Đặt một chậu cây xanh bên dưới cầu thang sẽ giúp đẩy năng lượng và nguồn khí khỏe mạnh, dồi dào lên các tầng tiếp theo.

5. Màu sắc

Màu sắc là cách nhanh chóng để chuyển đổi một căn phòng có năng lượng xấu. Hãy cẩn thận với nội thất và ngoại thất toàn màu trắng. Chúng có thể làm tiêu hao năng lượng và báo hiệu chuyện buồn, trừ khi bạn kết hợp thêm một chút màu sắc rực rỡ, tươi sáng với màu trắng.

6. Đồ vật chuyển động

Đài phun nước, quạt gió, điện thoại di động và thậm chí cả đồng hồ quả lắc đều được liệt kê vào danh sách đồ vật chuyển động trong nhà. Những giải pháp này chuyển động theo hướng vòng tròn hài hòa vẫn mời gọi được phong thủy tốt. Đó là lý do vì sao quạt trần được đánh giá là giải pháp tuyệt vời.

7. Đồ vật có trọng lượng nặng

Thử trang trí thêm bức vách ngăn bằng gỗ rộng lớn, tượng hoặc tác phẩm điêu khắc trong nhà. Chúng có khả năng ngăn cản hoặc làm chệch hướng đi của nguồn năng lượng xấu không mong muốn và cả nguồn năng lượng tiến tới quá đột ngột.

Tượng và tác phẩm điêu khắc có tác dụng cực kỳ hữu ích nhằm cân bằng lại hình dạng không đồng đều, ví dụ như một ngôi nhà hình chữ L.

 de gia dinh hanh phuc cho quen phong thuy - 3

8. Âm thanh hài hòa

Âm thanh có thể bao gồm tiếng chuông leng keng, tiếng chuông gió, tiếng chim hót, tiếng nước chảy, tiếng gió thì thầm qua hàng tre hoặc cây cối, hoặc thậm chí là tiếng kêu của côn trùng. Khi bạn treo một chiếc chuông gió trong nhà, bạn đã thể hiện sự hài hòa, tinh thần và sự chuyển động.

9. Nhạc cụ

Dù đặt ở bất kỳ vị trí nào trong nhà, sáo luôn bảo vệ tinh thần cho bạn và người thân. Bên cạnh sáo trúc - một trong những loại nhạc cụ lâu đời nhất trên thế giới, giờ đây, bạn có thể chọn sáo làm từ thủy tinh, gỗ, bạc hoặc pha lê.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Để gia đình hạnh phúc chớ quên phong thủy

Mơ về đàn ông là gặp may

Giấc mơ về người đàn ông ẩn chứa rất nhiều điều, có thể là điềm lành nhưng cũng có thể là điềm dữ.
Mơ về đàn ông là gặp may

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giấc mơ về người đàn ông ẩn chứa rất nhiều điều, có thể là điềm lành nhưng cũng có thể là điềm dữ. 

Bạn mơ thấy người đàn ông lội qua mương rạch. Đây là điềm báo tốt lành rằng bạn sắp nhận được tin vui có thể là về tình cảm hoặc công việc...    Nếu một người đàn ông bé nhỏ xuất hiện trong giấc mơ của bạn, đây không phải là điều mà bạn phải băn khoăn, lo lắng. Giấc mơ này chuyển tới bạn một thông điệp rằng, trong tương lai bạn sẽ trở nên giàu có, sung túc.
Mo ve dan ong la gap may hinh anh
Bạn mơ thấy đàn ông có mái tóc vàng hoe là điềm may mắn đấy nhé
  Bạn mơ thấy một người đàn ông đang làm lụng vất vả, có lẽ hình ảnh của cuộc sống khổ cực và nghèo khó này sẽ luôn ẩn hiện trong tâm trí bạn. Nhưng bạn hãy vui lên vì đó là một điềm báo tốt đẹp rằng bạn sắp có cuộc sống  giàu có, phát đạt trong nay mai.   Mơ thấy người đàn ông có mái tóc vàng hoe là điềm may mắn: Bạn sẽ được quý nhân phù trợ.   Tuy nhiên, nếu mơ thấy người đàn ông đang ngủ thì lúc này bạn nên lưu ý tới các mối quan hệ với những người xung quanh. Giấc mơ báo rằng có thể bạn sẽ xảy ra xích mích với hàng xóm.   Nếu mơ thấy người đàn ông giàu sang thì bạn hãy chú ý hơn tới của cải của mình. Giấc mơ này là điềm báo bạn có thể sẽ bị hao hụt tài sản. Nếu trong giấc mơ của bạn nằm mơ thấy người đàn ông, giấc mơ này ám chỉ đến một nhân vật có quyền lực với bạn hoặc đó là người cha của bạn. Giấc mơ này cũng nhắc nhở bạn cần phải kết hợp các phẩm chất quyết đoán, hợp lý, tích cực và cầu tiến vào bản thân mình. Nếu người đàn ông trong giấc mơ này là người quen thì điều này đang thể hiện cảm xúc của bạn và mối quan tâm của bạn về họ.    Nếu bạn là một người đàn ông và bạn nằm mơ thấy chỉ có những người đàn ông trong một bữa tiệc, giấc mơ này cho thấy rằng bạn đang đặt câu hỏi về khả năng của bạn. Bạn lo sợ rằng mình đang bị bỏ qua và bị trở thành người ngoài cuộc, hoặc bạn có cảm giác mình không bằng người khác.    Nếu bạn là một người phụ nữ và bạn nằm mơ thấy mình đang ở trong một căn phòng với nhiều người đàn ông, giấc mơ này ám chỉ đến cá tính nam tính của bạn. Bạn cần phải khẳng định quyền lực của mình hơn. Nếu bạn nằm mơ thấy mình đang nằm trong vòng tay của một người đàn ông nào đó trong giấc mơ, giấc mơ này cho thấy bạn đang chấp nhận và càng ngày càng thể hiện cá tính quyết đoán và mạnh mẽ của bạn. Nó cũng thể hiện những ham muốn của bạn trong một mối quan hệ với những người đàn ông lý tưởng theo kiểu mẫu của bạn.   Nếu bạn là phụ nữ và bạn nằm mơ thấy một cậu bé hay một chàng thanh niên, giấc mơ này thể hiện cảm xúc của bạn về một người con trai thực tế cuộc sống của bạn, họ là người quan trọng và có ý nghĩa đối với bạn. Cũng có thể trong thực tại bạn đã phải lòng một chàng trai và bạn đang suy nghĩ về người ấy cả trong lúc ngủ.   Nếu bạn là một người đàn ông trưởng thành và bạn nằm mơ thấy mình là một cậu bé, giấc mơ này thể hiện cho con người hồn nhiên và tính cách vui tươi như con trẻ của bạn. Ngoài ra, nó cũng nhắc nhở bạn cần phải phát triển một số khía cạnh cá tính vẫn chưa trưởng thành của mình.

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ về đàn ông là gặp may

Mơ thấy đom đóm: Để lộ tung tích bí hiểm –

Đom đóm thường có màu đỏ cam hay vàng xanh, phần đuôi có thể phát quang, cho thấy hành tung bí hiểm của bạn sẽ bị phơi bày tất cả. Cho nên, nếu bạn đang dự định làm việc gì không chính đáng, tất nhất hãy đừng thực hiện.Các con số liên quan đến giấc m
Mơ thấy đom đóm: Để lộ tung tích bí hiểm –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy đom đóm: Để lộ tung tích bí hiểm –

Văn khấn dâng sao giải hạn sao Kế Đô vào ngày 18 hàng tháng

Sao Kế Đô là Hung tinh xấu nhất về mùa xuân hạ, vậy nên cúng giải hạn sao Kế Đô như thế nào, nên cúng giải hạn sao Kế Đô vào ngày nào, giờ nào chọn hướng nào thì đại cát.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sao Kế Đô là Hung tinh xấu nhất về mùa xuân hạ, nhưng xuất ngoại đi xa lại gặp điều tốt lành. Sao Kế Đô chiếu mệnh nữ xấu hơn đối với nam. Đối với mệnh nam thì gặp phải bất lợi, lục súc khó nuôi. Đối với mệnh nữ thì nên đề phòng tiếng thị phi, ốm đau buồn rầu.

“Hành niên trực Kế Đô, tai hại bất thời vô

Âm nhân phòng khẩu thiệt, do khả thị thượng phu”

Sao Kế Đô chiếu mệnh nam nữ vào những năm tuổi sau đây:

Bảng tính tuổi xem sao chiếu mệnh

Cách cúng giải hạn sao Kế Đô

Lễ cúng sao Kế Đô chiếu mệnh vào ngày 18 hàng tháng, mệnh chủ thắp 21 ngọn nến xếp theo hình dưới đây. Bài vị màu vàng có viết dòng chữ sau: “Thiên cung phân vĩ Kế Đô tinh quân”. Lập bàn thờ hướng chính Tây để làm lễ để được đại cát.

Theo phong tục dân gian thì lễ cúng giải hạn sao Kế Đô thường được thực hiện vào ngày 18 âm lịch hàng tháng, bắt đầu từ 21 giờ đến 23 giờ.

Văn khấn dâng sao giải hạn sao Kế Đô vào ngày 18 hàng tháng

Sắm lễ giải hạn sao Kế Đô chiếu mệnh

  1. Bài vị màu vàng
  2. Mũ vàng
  3. Hương hoa phẩm oản
  4. Tiền vàng
  5. 36 đồng tiền
  6. 21 ngọn nến

Văn khấn giải hạn sao Kế Đô chiếu mệnh

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Con lạy chin phương trời mười phương đất chư Phật mười phương.

Nam mô hiệu Thiên Chí Tôn Kim Quyết Ngọc hoàng Thượng đế.

Nam mô Trung Thiện Tinh chúa Bắc Cực Tử Vi Trường Sinh Đại đế.

Nam mô Tả Nam tào Lục Ty Duyên Thọ tinh quân.

Nam mô Hữu Bắc đẩu Cửu Hàm Giải Ách tinh quân.

Nam mô Thượng Thanh Bản Mệnh Nguyên Thần Chân quân.

Chúng con là: …………………………………………………………………………

Địa chỉ: ………………………………………………………………………………..

Hôm nay ngày lành tháng tốt, chúng con thành tâm sắm lễ hương hoa, thảo quả, tịnh tâm lập hương án, cầu lễ giải sao Kế Đô.

Chúng con người trần mắt thịt, khó biết thiên cơ, trên có chư thánh chư Phật hiển linh thông suốt, tỏ rõ chân ngụy, chuyện họa phúc, sinh tử dương gian. Chúng con thành tâm khấn vái, chư thánh chư Phật phù hộ độ trì, giải tai hóa ách, cầu cuộc sống bình an, con cái khỏe mạnh, gia đình hòa thuận.

Dẫu biết phúc người có mệnh, chẳng dám được hơn dài, nhưng mong chư thánh hiển linh, tỏ lòng thương xót, ban phúc ban ơn, hóa phúc thêm phúc, hóa họa thành không. Chúng con xin đội ơn sâu biển cả, một lòng hành thiện, tu tạo phúc đức ở đời này kiếp này để tạ ơn thánh ân ban xuống.

Nay có chút lễ bạc, tâm thành, cúi lạy trước hương án, cúi xin chư thánh.

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Xem thêm: Hướng dẫ cách cúng giải hạn các sao Thái Dương, Thái Âm, Thái Bạch, Sao Thổ Tú, sao Vân Hán, Thủy Diệu


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn dâng sao giải hạn sao Kế Đô vào ngày 18 hàng tháng

Những tổ hợp Phi tinh nào có thể đem Quý nhân cho bạn? –

“Tam bàn quẻ” cũng là một kết cấu vô cùng tốt trong tổ hợp Phi Tinh. Lấy Khôn Sơn Cấn hướng bàn trong Bát vận làm ví dụ: Bát vận đương thời đắc lệnh “hướng tinh” tiến nhập vào “tọạ phương” của hướng Tây Nam, còn “tọạ tinh” Bát vận lại tiến nhập vào “

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

hướng phương” của phía Tây Bắc. Nếu chỉ nhìn hai điểm này, kết cấu của nó là “Thượng sơn hạ thuỷ” và “Đinh tài lưỡng thất” (tiền tài đều mất). Nhưng trên thực tế thì không phải vậy, trong trạch bàn này xuất hiện “Tam bàn quẻ”.

p15

Cái gọi là “Tam bàn quẻ” là chỉ trong tổ hợp Phi Tinh xuất hiện tổ hợp “1. 4. 7”, “2. 5. 8″ và “3. 6. 9”. Đây gọi là “nhân hoà quẻ”, có nghĩa được rất nhiều quý nhân phù trợ, biến hung thành cát. Nhưng trong tinh bàn xuất hiện “tam bàn quẻ” thì có nghĩa là nhân duyên tốt, quý nhân nhiều.

Trong Bát vận còn có một kết cấu “Thượng sơn hạ thuỷ” khác: Tuất Sơn Chấn hướng (toạ Tây Bắc hướng Đông Nam). Đây cũng là quẻ nhân hoà biến hung thành cát. Trong tinh bàn xuất hiện “Liên chu tam bàn quẻ”, cũng có nghĩa Phi Tinh xuất hiện giống như tổ hợp “1. 2. 3”, “3. 4. 5”.

Chúng có thể hoá giải mọi tai nạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những tổ hợp Phi tinh nào có thể đem Quý nhân cho bạn? –

Xem mệnh Quý Dậu –

Người sinh 1933, Quý Dậu có Ngũ hành năm sinh là Kiếm Phong Kim, nhưng Mệnh Cung của Nam và Nữ khác nhau: 1. Nam Cung TỐN, hành MỘC, hướng Đông Nam, quái số 4, sao Tứ Lục, Đông tứ mệnh (Nhà hướng tốt: Bắc, Nam, Đông, Đông Nam ). Đeo đá màu Đen, Xanh
Xem mệnh Quý Dậu –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem mệnh Quý Dậu –

Loài hoa nào đem lại may mắn –

Ngôn ngữ của loài hoa không bị giới hạn bởi đặc trưng văn hóa. Ở đâu, hoa cũng là biểu tượng của cái đẹp, sự duyên dáng, tinh tế và rất nhạy cảm. Bạn nên thường xuyên sử dụng hoa tươi trong nhà vì chúng mang năng lượng tốt. Hoa lụa cao cấp cũng thườn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngôn ngữ của loài hoa không bị giới hạn bởi đặc trưng văn hóa. Ở đâu, hoa cũng là biểu tượng của cái đẹp, sự duyên dáng, tinh tế và rất nhạy cảm.

loai-hoa-nao-dem-lai-may-man-1

Bạn nên thường xuyên sử dụng hoa tươi trong nhà vì chúng mang năng lượng tốt. Hoa lụa cao cấp cũng thường được dùng trong phong thủy. Tuyệt đối không bài trí hoa đã khô héo, các loài cây hoa có gai sắc nhọn. Ngoài ra, để đảm bảo về mặt sức khỏe, nên hạn chế bày hoa tươi trong phòng ngủ.

1. Mẫu đơn

Hoa mẫu đơn màu hồng, thơm ngát biểu tượng cho tình yêu. Nó gợi lên hình ảnh người phụ nữ. Tranh ảnh hoa mẫu đơn kích hoạt vận may về tình yêu. Vì vậy, vợ chồng lớn tuổi không nên bài trí hình ảnh hoa mẫu đơn trong phòng ngủ vì dễ nảy sinh chuyện ngoại tình.

2. Hoa sen

Biểu tượng hoa sen chứa đựng nhiều ý nghĩa cao đẹp cho cả tình yêu, hôn nhân và sự hòa hợp. Bạn có thể cắm hoa tươi trong phòng, sử dụng tranh ảnh có hình sen hay các vật dụng khác có liên quan để kích hoạt vận may.

3. Hoa anh đào

Hoa anh đào mang lại năng lượng của sự khởi đầu mới, 1 cảm giác tươi mát và ngây thơ. Trong phong thủy, nó dùng để hóa giải các vấn đề về tình yêu, hôn nhân, có thể dùng để cải thiện sức khỏe.

4. Hoa lan

Loài hoa xinh đẹp này được coi là biểu tượng cổ điển về khả năng sinh sản. Nó còn chứa đựng nguồn năng lượng hàn gắn và tái tạo sự cân bằng. Nó cũng tượng trưng cho việc tìm kiếm sự hoàn hảo trong cuộc sống, thúc đẩy sự tích cực về tinh thần. Chính vì lý do đó, lan trở thành 1 loài cây trồng trong nhà phổ biến ở phương Tây.

5. Thủy tiên

Năng lượng của cây thủy tiên được xem là có thể giúp thúc đẩy tài năng và sự nghiệp thăng tiến. Bạn sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng cho sự cố gắng trong công việc. Trong phong thủy, thủy tiên trắng được sử dụng nhiều hơn so với thủy tiên vàng.
HoaTocTienHong.jpg

6. Hoa cúc

Hoa cúc biểu trưng cho sự thuận lợi và cân bằng trong cuộc sống. Đồng thời, hoa còn chứa đựng nguồn năng lượng dương mạnh mẽ. Do đó, nó còn mang đến vận may cho bạn và gia đình.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Loài hoa nào đem lại may mắn –

Hình dáng đôi môi tiết lộ chuyện tình của bạn –

Bạn sở hữu một đôi môi nhỏ xinh hay một đôi môi dày, đều đặn? Hãy xem những gì chúng “bật mí” về chuyện tình yêu của bạn có đúng không nhé! 1. Đôi môi đầy đặn, cánh môi khép khít hài hòa: Mạnh mẽ Khi yêu, bạn tỏ ra vô cùng quyết liệt, mạnh dạn. Với b
Hình dáng đôi môi tiết lộ chuyện tình của bạn –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình dáng đôi môi tiết lộ chuyện tình của bạn –

Giá như một lần con hiểu được tấm lòng của mẹ

Trong cuộc sống, có những thứ bạn được nhận, nhưng cao cả nhất vẫn là tấm lòng của người mẹ. Mẹ là người có thể chấp nhận hy sinh cả cuộc đời mình cho bạn
Giá như một lần con hiểu được tấm lòng của mẹ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tấm lòng của người mẹ không phải ai cũng hiểu thấu, nhất là người đó lại là mẹ kế của mình. Từ bao giờ, như một thói quen ăn sâu tận trong tâm thức, nó rất ghét, ghét cay ghét đắng bà mẹ kế, người đàn bà tật nguyền suốt đời phải ngồi trên chiếc xe lăn, đã thế bà ta lại bị bỏng nặng, khuôn mặt đỏ ửng hằn những vết sẹo loang lỗ hệt như 1 cương thi, chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ sợ mất hồn…

Thời thơ ấu

Từ lâu nó rất ghét bà mẹ kế. Vì ghét bà ấy, nó ghét lây sang ba nó, nó nghĩ hoài, nghĩ mãi. Không hiểu bà ta bỏ bùa mê thuốc lú gì mà ba nó lại rước gánh nặng ấy về. Thà nuôi 1 con vật giữ nhà còn có ích hơn. Đời này thiếu gì đàn bà để ba nó phải làm như vậy, khiến nó xấu hổ đến nỗi chưa bao giờ dám dẫn bạn về nhà.

Thế nhưng cuộc đời đúng là tréo nghoe, trêu ngươi con người, nó càng ghét bà ấy chừng nào thì bà ấy càng thương nó chừng ấy, bà ấy càng thương nó thì ba nó càng thương bà ta nhiều hơn. Hài không tả nỗi vì gia đình nhà nó.

Hồi còn nhỏ tính nó đã tinh nghịch, phá phách, lại háo thắng, 1 lần đánh nhau với thằng nhóc con nhà hàng xóm tơi bời, nguyên do chỉ vì thằng kia trêu nó có bà mẹ dễ thương, xinh đẹp. Nỗi uất ức bao ngày qua cố kìm nén nay được nhỏ kia khơi dậy. nó đánh thằng kia tăm tối mặt mày, sứt đầu mẻ trán đến nỗi cha mẹ nhận không ra, ông hàng xóm dẫn con sang tận nhà mắng vốn luôn cả ba nó, bảo rằng ông không biết dạy con. Kết quả là nó bị ba ”dạy dỗ” cho trận đòn thừa sống thiếu chết.

Lúc ấy mẹ kế còn đi được nhưng khó khăn lắm, phải lê lết, chống nạn. Thấy ông giận dữ ước chừng có thể vồ lấy nó ăn tươi nuốt sống, bà nhoài người đưa thân ôm nó đỡ trận đòn roi. Nào ngờ không những không chút  tấm lòng cảm kích biết ơn, nó dùng chút sức lực yếu ớt còn lại vùng vẫy, xô bà lăn nhoài xuống đất.

Bà khỏi giả nhân giả nghĩa trước mặt ba tôi đi, thấy tôi bị vậy bà vui lắm chứ gì, bà cướp ba khỏi tay mẹ tôi, khiến mẹ tôi chết, khiến gia đình tôi tan cửa nát nhà. Vậy chưa đủ sao. Bà còn muốn gì nữa, nhìn lại bà coi, người không ra người, ma chẳng ra ma, bà đi chết đi”. Nó nói không chớp mắt như lập trình sẵn, đôi mắt đỏ ngầu hằn sâu tia lửa hận. Suy nghĩ của 1 thằng nhóc con mấy lớn khiến ba nó và bà vô cùng ngạc nhiên. Bà hoàn toàn nín lặng.

Đồ trời đánh”… Ba nó thét lên

Anh đừng nói con như vậy mà, nó còn nhỏ chưa hiểu gì đâu” ….Bà đỡ lời, nước mắt rơi hối hả.

Ông càng đánh nó càng im lặng, mặt cứ nhơn nhơn như thể trêu ngươi, chọc tức 2 người.

Thời gian trôi nhanh, nó ngày càng lớn dần theo năm tháng, tiếp nối nỗi hận thù với bà cũng tăng dần đều theo tỉ lệ thuận.

Về phần bà, bị hoại tử đến nỗi liệt cả 2 chân, không thể đi được. Người người thấy bà ai cũng đau lòng, thương xót. nó thì cười, cho đó là điều tất nhiên, là quả báo. Rồi nó học đại học, họa hoằn lắm tết nhất mới miễn cưỡng mò về nhà, vì gặp bà, thấy mặt bà nó lại chướng tai gai mắt, khó ưa.

Giữa kỳ 1 năm 2.

Đang cắm bút ôn bài thi giữa học kỳ, gần 12h đêm nó nhận được điện thoại của ba nó.

“Con hả? Đến bệnh viện với ba gấp, Mẹ con bệnh nặng lắm, phải chuyển tuyến lên thành phố”… Ba nó nói trong gấp gáp.

“Dạ, ba thông cảm, giờ con bận học thi rồi ba ơi, không đi được đâu”.. Nó nói chống chế nhưng trong lòng mừng rơn, bà đâu phải mẹ tôi đâu, đáng lắm.

“Không đi được hả con?”

“Dạ….”

Cứu người hơn cứu hỏa, biết nó chẳng giúp được gì nên ba nó đành tặc lưỡi cúp máy.

3 ngày sau…

“Con nghe ba…?”

“Mẹ con mất rồi. ba đang làm thủ tục với bệnh viện đưa mẹ về quê an nghỉ. Con về nhà ngay nhé.”

Ngày mai con thi ba ơi, lý do quá chính đáng mà. Nó lại đưa ra lý do, có lẽ lương tâm nó bị quỷ cướp mất rồi, nếu còn là con người, nó có thể xin nghỉ rồi mai mốt thi lại cũng được, chí ít cũng một lời chua xót với người đã khuất chứ.

Cuối cùng cũng thi xong, lần này nó bỗng háo hức muốn về nhà kì lạ.

Bắt xe đò về nhà, nhìn lên bàn thờ nó thập phần ngạc nhiên, kế bên tấm ảnh mẹ ruột nó là bức chân dung một người phụ nữ, so với mẹ nó thì người kia nhìn trẻ, đẹp hơn gấp bội phần.

“Chứ ảnh mẹ kế đâu mà ba trưng tấm hình này?” nó hỏi

“Đó… Mẹ con đó”

Nó há hốc mồm, mắt trợn tròn.

Chuyện dài lắm, con thắp nhang cho mẹ rồi đi tắm rửa…”

“Để con tắm rửa rồi thắp sau cũng được mà ba”… Nó chống chế, vẫn còn hận bà ấy nhiều đến vậy, ngay cả 1 nén nhang với người đã khuất cũng nỡ lòng tính toán.

“Thôi được rồi, con ngồi xuống đây ba kể con nghe chuyện này”, ba chỉ nó ngồi xuống ghế đối diện với vẻ mặt nghiêm nghị.

“Con hận Mẹ lắm phải không?”

“Dạ không, sao ba nghĩ vậy?” Mẹ nào ở đây, nó thầm nghĩ.

“Từ đầu tới cuối đừng nghĩ con làm vậy là con đúng. Nhầm rồi, nhầm to rồi con ạ. Tất cả chỉ con có lỗi, con sai, sai hoàn toàn và người con suốt đời phải mang ơn chính là người đang ngồi trên bàn thờ kia đang nhìn con mà không phải mẹ ruột con.”

“Con không hiểu ý ba muốn nói gì?” Nó bắt đầu thấy hồi hộp lẫn tò mò về điều ba nó sắp nói ra. Ba nó từ từ, chậm rãi kể.

Sự thật nghẹn lòng

“Ngôi nhà mình đang sống thực ra là nhà của mẹ kế con, mạng sống của con là do bà ấy cứu…Ngày xưa ba với mẹ ruột con yêu nhau thắm thiết, cưới nhau tuy nghèo nhưng vô cùng hạnh phúc. Khi con hơn 1 tuổi bỗng mẹ con thay lòng đổi dạ, không chịu nổi cuộc sống cơ cực nên bỏ mặc ba con mình theo người đàn ông khác, một lần mẹ con đi với người kia thì cả 2 cùng bị tai nạn rồi qua đời. Ba vẫn mang danh nghĩa là chồng của mẹ con nên phải làm tròn trách nhiệm của 1 người chồng, người cha lo phần hương hoả.

Ngày mẹ con mất ba sống tưởng như đã chết, dẫu rằng mẹ không còn thương nhưng ba vẫn yêu mẹ con nhiều lắm, đầu óc lúc nào cũng bần thần, vô định.

Quãng thời gian ấy, để tìm quên nỗi nhớ của người chồng mất vợ, nỗi đau vì bị vợ cắm sừng cùng những lời bàn tán, dị nghị của người đời, lúc mẹ bỏ ba con mình, con cứ khóc hoài khi đêm khuya khát sữa giật mình tỉnh giấc lần tìm hơi mẹ, ba chỉ biết ngập trong cơn say của rượu.

Một ngày nọ con lên cơn sốt phải nằm viện cả tháng trời, mẹ kế con lúc ấy là một y tá xinh đẹp, nhiều người thầm thương trộm nhớ muốn kết tóc xe duyên nhưng bà chưa chịu. Thấy con thông minh, dễ thương, lại nhìn ba cực khổ bỏ công bỏ việc chăm lo cho con nên bà đem lòng thương cảm. Ngày ngày bà ấy giúp ba săn sóc con, tới khi con về nhà điều trị, hôm nào bà cũng qua thăm hỏi, thuốc men.

Rồi ba và bà ấy có cảm tình với nhau, yêu nhau lúc nào không hay.

Khi gia đình bên ấy biết chuyện thì ra sức cấm cản, thứ nhất do gia đình mình nghèo, thứ 2 ba đã qua 1 đời vợ, thứ 3 nữa là vợ chết, họ sợ bà ấy quen ba rồi sẽ nhận lại kết cục của mẹ con.

Ba cũng suy nghĩ nhiều lắm. Sợ đi thêm bước nữa sau này con riêng con chung con chồng con vợ về sau con sẽ chịu khổ, ba đã nhiều lần buông tay, nhưng bà không chịu, vẫn 1 lòng với ba, nhìn cách bà ấy yêu thương con như con ruột ba tin tưởng, không thể kìm lòng.

Mẹ với ba cưới nhau mà không hoa không đèn, không mâm cao cỗ đầy, không bạn bè, bà con hai họ. Thiệt thòi lắm.”

Nói đến đây mắt ông chớm đỏ, giọng ông khuất nghẹn như khựng lại.

“Thế thì có liên quan gì tới con hả ba?”

“Mẹ chấp nhận từ bỏ công việc về ở với ba con mình trong ngôi nhà ván đơn sơ lụp xụp mà ngày trước ba với mẹ con từng sống. Từ một tiểu thư đài cát, danh gia vọng tộc, ngập trong nhung lụa gấm vàng, nay phải thay đổi bản thân sống cùng ba con mình trong cơ cực.

Hôm ấy ba có việc ra ngoài, con nghịch ngợm, mãi chơi làm đổ cây đèn dầu, gặp tiết trời mùa hè hanh khô, cộng thêm nhà ván dễ bắt lửa, lúc ba về tới nơi thì hoảng hồn nghe mọi người hô hoán, tìm cách dập lửa. Trong nhà lúc ấy chỉ có 2 mẹ con. Mẹ vừa thoát ra ngoài sân đã hỏi con đâu.

Khi nghe con còn ở trong bà đã chạy ngược vào.

Khi mẹ bế con ra khỏi nhà lúc ấy con đã bất tỉnh vì ngạt khói, nhờ mẹ dùng trọn thân mình che chở con mới thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, mặc cho người mẹ lúc ấy bị bắt lửa phừng phực như một ngọn đuốc sống.

Nhờ đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời nên giữ được tính mạng nhưng khuôn mặt, hai chân mẹ kế con bị bỏng hoàn toàn. Trong cơn mê sảng bà ấy vẫn cứ gọi tên con thống thiết.

Ngày ra viện, gia đình bà ấy hận ba con mình lắm, nhưng vì thương mẹ kế con nên đã tạo điều kiện, cho nhà để ba, con, và mẹ con về sống. Hi vọng cha con mình chăm lo bà ấy như chuộc lại lỗi lầm. Nhưng con trước giờ thì…”

“Sao ba mẹ không nói cho con biết?” Từ mẹ lần đầu được phát âm rõ ràng mấp máy trên môi nó.

“Mẹ bắt ba hứa không nói cho con biết.”

“Sao mẹ lại làm thế với con hả ba…?“. Nước mắt nó đã rơi.

“Nhãn quan của người mẹ mách bảo cho bà ấy biết, con là đứa yêu rất đậm mà hận ai đó cũng rất sâu. Thà cứ để con hiểu lầm còn hơn để con biết sự thật, chắc chắn hình tượng mẹ ruột trong lòng con sẽ phôi phai, và trọn suốt đời con sẽ hối hận, cảm thấy có lỗi vì những gì con gây ra khiến bà phải hứng chịu. Lúc nào bà ấy cũng hi sinh bản thân mình vì con.

Ba hối hận vì từ đầu đã không đủ dũng cảm nói ra sự thật. Để đến khi bà ấy nằm viện, sắp sửa lìa đời cứ muốn gặp con 1 lần mà không được…”

Ông từ từ đi lại tủ quần áo lấy ra 1 chiếc áo len: “Cái áo này lúc gần mất mẹ đã tự tay đan cho con, còn dặn dò ba nhắn với con là trời chuẩn bị vào đông lạnh lắm, chỉ mang áo khoác ngoài sẽ không đủ ấm, con sức khoẻ yếu rất dễ cảm lạnh. Ra đường phải mặc vào.”

Ông đưa tận tay nó rồi đập vào ngực nó thì thầm: “Ba đã không muốn nói, sao con bắt ba phải vậy…”

Nó đứng yên bất động, từng giọt nước mắt lại tuôn trào hối hả. Trong cơn nghẹn đắng, lần đầu tiên sau nhiều năm nó gào to thật to.

“… Mẹ…. Con xin lỗi”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giá như một lần con hiểu được tấm lòng của mẹ

Đón cát tránh hung cho ngôi nhà

Bất kỳ ai cũng muốn sống trong một ngôi nhà tốt, không muốn sống trong một ngôi nhà hung, đặc biệt là ngôi nhà nhều âm khí, cũng tức là ngôi nhà của linh giới.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bất kỳ ai cũng muốn sống trong một ngôi nhà tốt, không muốn sống trong một ngôi nhà hung, đặc biệt là ngôi nhà nhều âm khí, cũng tức là ngôi nhà của linh giới. Khi vào trong ngôi nhà trống, làm thế nào đế phân biệt ngôi nhà đó có linh giới hay không?

Trong phong thủy học thì phương pháp có nhiều, có thể áp dụng cách mang theo một con chó vào nhà, vì chó có phản ứng cực mạnh với từ trường. Nếu như ngôi nhà có linh giới, con chó nhất định có hành động lạ.

Phương pháp thứ hai là đem theo một đứa trẻ dưới 8 tuổi vào nhà. Trẻ nhỏ thường có khả năng thiên bẩm, có thế phân biệt trong nhà này có linh giới hay không, bởi vì trẻ nhỏ dưới 8 tuối thiên nhãn chưa khép lại, có thể cảm nhận được, thậm chí là nhìn được linh giới. Đặc biệt là những trẻ nhỏ dưới 3 tuổi, sau khi vào nhà không ngừng khóc lóc, điều đó thể hiện trong ngôi nhà có khí âm tà

don-cat-tranh-hung-ngoi-nha

Thầy phong thủy làm thế nào để phân biệt được nhà đó có phải là nhà ma hay không? Phương pháp rất đơn giản, chỉ cần mở la bàn nếu trong ngôi nhà có linh giới, kim ở chính giữa la bàn sẽ có những chuyến động bất thường, thể hiện trong nhà xuất hiện một trường không rõ ràng hoặc hỗn độn, cũng chính là chỉ ngôi nhà Linh giới xâm nhập. Nếu như trên la bàn tìm thấy nơi tập trung của Ngũ hoàng, trông âm u, ẩm ướt thì góc đó chắc chắn có linh giới. Trong phòng ấy, Ngũ hoàng sát đại diện cho linh giới.

Phương pháp thứ ba để kiểm tra linh giới, là sau khi vào nhà t nhiên cảm thấy nổi da gà, ra mồ hôi, lúc nóng lúc lạnh.

Nếu có những hiện tượng trên xuất hiện thì ngôi nhà đó không tốt theo phong thủy, không thích hợp để ở.

Trong một ngôi nhà vì sao có linh giới tụ tập?

 Nguyên nhân có nhiều. Trường hợp khá thường gặp, đó là chủ nhà cũ chiêu tà môn  thuật. Khi chủ nhà mới đến ở phải chịu ảnh hưởng. Mặc dầu thông qua pháp sự có thể làm tan rã từ trường trong nhà nhưng tốt nhất không nên lựa chọn ngôi nhà này, lý do đây nhà từng có âm khí cực nặng, người bình thường chỉ mời pháp sư đến làm pháp sự một lần, qua một khoảng thời gian, cơ hội linh giới đến lần nữa vẫn rất cao, khi vận của bản thân ngưng trệ rất dễ gặp lại linh giới. Giả dụ bạn sống trong ngôi nhà có linh giới mà không muốn chuyến đi, sau khi bạn mời pháp sư chính tín đến siêu độ linh giới xong, tốt nhất qua một khoảng thòi gian lại mời pháp sư tiến hành pháp sự thêm một lần hoặc tự mình duy trì tụng kinh mới có thể làm tan rã triệt để từ trường âm khí trong nhà. 

Rốt cuộc trong trường hợp nào dễ gặp linh giới nhất?

Khi nhập trạch chọn phải ngày xung thì rất dễ bước vào không gian của hồn quỷ, bị linh giới quấy nhiễu. Gặp phải trường hợp này chỉ cần chọn lại ngày tốt làm pháp sự niệm kinh hoặc mở đĩa nhạc Phật trong nhà đều có thể làm tan rã năng lượng của linh giới. Cũng có một cách rất nhanh là tìm ra vị trí của Ngũ hoàng trong nhà, đặt một chiếc đồng hồ bằng đồng hoặc một chiếc chuông vào chỗ này, có thể nhanh chóng làm tan rã linh giới.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đón cát tránh hung cho ngôi nhà

Nước hoa và tính cách của chàng

Nếu bạn muốn khẳng định cảm nhận về chàng hãy tìm hiểu loại nước hoa mà chàng ưa dùng.
Nước hoa và tính cách của chàng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Ảnh chỉ mang tính minh họa)

1. Người đàn ông bí ẩn với nhiều điều bất ngờ thường chọn mùi Lolita Lempicka Au Masculin.

2. Cool Water (Davidoff) dành cho những người đàn ông tự tin vào bản thân và biết giá trị của cuộc sống.

3. DKNY dành cho người đàn ông thích cuộc sống náo nhiệt chốn thị thành.

4. Celine Pour Homme hợp với những người đàn ông thích sự sành điệu và luôn hướng tới những gì độc đáo.

5. Những người đàn ông tháo vát, sáng tạo chắc hẳn sẽ đánh giá cao hương thơm tươi mát và phóng khoáng của Pure Vetiver (Azzoro).

6. Người đàn ông “kết” mùi hương Bvl Pour Homme (Bvlgari) thường là một người mạnh mẽ và nhiều đam mê.

7. Marc Opolo là hương thơm tinh tế hàng ngày dành cho những người đàn ông có phong cách Marc Opolo.

8. Hương thơm tươi mát, sống động, trong trẻo của Acqua Di Gio (Giorgio Armani) phù hợp cho những người đàn ông tràn đầy sức sống.

9. T- Fraiche (Givenchy) dành cho những người đàn ông táo bạo và phóng khoáng.

10. Người đàn ông sử dụng Basala For Men (Shiseido) là người sẵn sàng làm bất cứ việc gì vì tiếng gọi của con tim.

11. Người đàn ông chọn mùi nước hoa Romance Men (Ralph Lauren) là người sẽ mang đến cho bạn mối tình lãng mạn và những cảm xúc bay bổng.

12. Lalique Pour Homme (Lalique) là hương thơm độc đáo dành cho những người đàn ông luôn khát khao khám phá và sáng tạo.

13. Những người đàn ông yêu thích thể thao và cuộc sống năng động rất phù hợp với Nike Man.

14. Hương thơm tươi mát của rừng cây của Vetiver (Guerlain) là món quà phù hợp nhất đối với người đàn ông cởi mở và tự tin.

15. Những người đàn ông thích sự thư thái nhất định sẽ đánh giá cao Ez Up For Men (Debon).

16. Aqua - Fitness (Biotherm) sẽ mang đến sự sảng khoái và sức sống cho những người đàn ông luôn vươn tới vẻ đẹp cường tráng.

17. Miracle Homme (Lancome) là hương thơm của sự cởi mở dành cho những người đang yêu, đang hạnh phúc.

18. Monte Cristo Club (Franck Olivier) mùi hương ngọt ngào này dành cho các quý ông thích hội hè, tụ tập.

19. Hương thơm quyến rũ của Ultraviolet Man (Paco Rabanne) được tạo ra để dành riêng cho những người đàn ông sống độc thân.

20. Kenzo Pour Homme (Kenzo) là nước hoa dành cho những người đàn ông thích phong cách cổ điển.

21. Hương thơm ngọt ngào của hoa quả pha chút cay nồng của Higher Dior (Christian Dior) là sự lựa chọn lý tưởng của người đàn ông luôn vươn tới sự hoàn thiện.

22. Hương thơm độc đáo của Legendary Harley Davison rất phù hợp với những người đàn ông có khí phách mạnh mẽ, nam tính.

23. Hương thơm Pour Monsieur (Pierre Cardin) là quà tặng độc đáo dành cho những người đàn ông sành mốt.

24. Những người đàn ông cởi mở, yêu đời rất “kết” Clinique Happy For Men (Clinique).

25. Những quý ông lịch lãm không bao giờ bỏ qua Dunhill X-Centric.

(Theo Việt Báo)

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nước hoa và tính cách của chàng

Những cuốn sách ma quỷ gây ám ảnh nhất mọi thời đại

Sách được xem là tri thức của nhân loại nhưng có những cuốn sách của quỷ, chứa đựng bên trong sự huyền bí, tâm linh và nhiều bí ẩn chưa thể giải mã.
Những cuốn sách ma quỷ gây ám ảnh nhất mọi thời đại

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sách được xem là tri thức của nhân loại nhưng có những cuốn sách ma quỷ, chứa đựng bên trong sự huyền bí, tâm linh và nhiều bí ẩn chưa thể giải mã.


► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật

Nhung cuon sach gay am anh nhat moi thoi dai hinh anh
 
Bản hướng dẫn ma thuật quỷ dữ Munich
Còn được biết đến với cái tên bản hướng dẫn của Necromancer, tài liệu này là một tư liệu nguyên bản để chiêu hồn quỷ dữ.
 
Bản hướng dẫn Munich chứa những đoạn miêu tả sự hiến tế các sinh vật huyền thoại. Tuy nhiên, điều kỳ lạ nhất là cuốn sách ma quỷ không hề nhắc tới những huyền thoại về thiên thần mà chỉ tập trung vào ma thuật đen và miêu tả các lễ trừ quỷ cổ điển. Các nhà khoa học hiện vẫn chưa giải mã được những bí ẩn xung quanh nó.
 
Codex Seraphinianus Đây được coi là cuốn sách kỳ bí nhất mọi thời đại, được viết từ những năm 1970. Sự khó hiểu, phi cú pháp cũng như sự đam mê những loài động thực vật kỳ lạ và chứa “những chiếc xe tải có đầu người, các xương được ghép vào những cơ thể mới và những loài động vật kỳ quái không tồn tại” khiến người ta gọi nó là cuốn sách ma quỷ.

Heptameron Tác giả cuốn sách, Pietro d'Abano, là một tù nhân mắc tội Dị giáo (vô thần) đã qua đời trong tù. Ông tin vào thứ gọi là ma thuật hành tinh mà con người có thể dùng để triệu tập các thiên thần. Bởi vậy nên cuốn sách của ông mang màu sắc dị thường, chứa đựng những phép thuật, nghi lễ mà đến nay vẫn còn chưa được lý giải hết.
 
Picatrix Cuốn sách viết về ma thuật Ả Rập huyền diệu ở thế kỷ 11 này chứa đựng khá nhiều nội dung kỳ lạ thú vị như “làm sao để đầu độc người khác trong giấc ngủ hoặc bằng một ánh mắt” hay “làm thế nào để chiếm hữu được tình yêu của người khác, vượt ngục và chữa lành vết bọ cạp cắn”. Cuốn sách cũng miêu tả về một loại “kẹo” đặc biệt làm từ máu, não và nước tiểu người. Tất cả những điều đó khiến nó trở thành cuốn sách ma quỷ và có sức mạnh ghê gớm.
 
Cuốn sách Oera Linda Tư liệu này được cho là chứa trí thông minh cổ đại từ 4000 năm trước, bao gồm các bài giảng từ lục địa Atlantis huyền thoại và được coi là “bảo bối” của các sĩ quan Đức quốc xã với nhiều nội dung ghê rợn. Thậm chí nó còn được mệnh danh là “Kinh thánh của Himmler”. Những tội ác của Đức quốc xã được cho là bắt đầu từ cuốn sách ma quỷ này.
 
Cuốn sách Rồng đỏ Được phát hiện trong hầm mộ của vua Solomon những năm 1750, cuốn sách Rồng đỏ/Tin vui từ quỷ Satan ra đời vào năm 1520 sau Công Nguyên. Sách được viết bằng tiếng Do Thái và cả tiếng Aram. Cuốn sách trình bày những bằng chứng chiêu hồn quỷ Satan cũng như việc các Giáo hoàng mới sẽ dần dần bị Quỷ dữ nắm giữ linh hồn. Ngày nay cuốn sách ma quỷ này vẫn được những người mê tà thuật sử dụng. Người ta đồn rằng nó không hề bắt lửa.

ST
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những cuốn sách ma quỷ gây ám ảnh nhất mọi thời đại

3 chòm sao có Diêm Vương tinh chiếu mệnh, đón sóng gió cuộc đời

Một trong nhưng yếu tố tạo ra sự biến động trong vận trình là chuyển động của các chòm sao chiếu mệnh. Đặc biệt là 3 chòm sao có Diêm Vương Tinh chiếu mệnh
 3 chòm sao có Diêm Vương tinh chiếu mệnh, đón sóng gió cuộc đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, bất kể tình thân, tình bạn hay tình yêu đều như sóng biển lúc lên lúc xuống. Một trong nhưng yếu tố tạo ra sự biến động trong vận trình là chuyển động của các chòm sao chiếu mệnh. Đặc biệt, 3 chòm sao có Diêm Vương Tinh chiếu mệnh sẽ phải đối mặt với khá nhiều thử thách.


 3 chom sao co Diem Vuong tinh chieu menh, don song gio cuoc doi hinh anh
 
Diêm Vương tinh là ngôi sao dương tính, đi một vòng hoàng đạo, chừng 14 đến 32 năm đi hết một cung, đại diện cho hủy diệt hoặc cải cách, tái sinh và sa đọa. Vì thế, Diêm Vương Tinh gây ra những thay đổi to lớn, khiến vận trình gập ghềnh hơn. 3 chòm sao có Diêm Vương tinh chiếu mệnh chắc chắn cuộc đời không ít sóng gió.  

Diêm Vương tinh ở chòm sao Sư Tử

  Diêm Vương tinh rơi vào chòm sao Sư Tử sẽ khiến người cung này có năng lượng mới mẻ nhưng khấ hung hăng, bộc phát, hoàn cảnh cuộc sống thay đổi một trời một vực. Ý chí phản kháng của Sử Tử cũng rất mạnh nhưng càng phản kháng thì càng cô đơn, cuối cùng sẽ gặp thất bại.   Sư Tử nên chú ý khống chế bản thân, không lạm quyền, đứng trên góc độ của người khác để xem xét vấn đề thì sẽ hóa giải được phần nào.  

Diêm Vương tinh ở chòm Bạch Dương

 

Được Diêm Vương tinh khởi động, sẽ làm Bạch Dương không cam chịu hiện trạng, xem thường lề thói cũ, muốn lật đổ quá khứ, có khởi đầu mới, nhân sinh tràn đầy cảm xúc mãnh liệt. Có thể bởi quá mức cấp tiến, phương thức xử sự bạo lực, cực đoan nên thất bại, bị tổn thương.
 3 chom sao co Diem Vuong tinh chieu menh, don song gio cuoc doi hinh anh
 
Mục tiêu rất cao, cải cách cũng không phải một sớm một chiều là có thể hoàn thành, căn cứ năng lực hiện thực cùng hoàn cảnh lập ra mục tiêu phù hợp và không sử dụng bạo lực, mới có thể đạt được nguyện vọng Bạch Dương nhé.  

Diêm Vương tinh ở chòm Song Tử

  Được Diêm Vương tinh chiếu mệnh, ý thức đổi mới của Song Tử rất mạnh, yêu thích thử nghiệm, mặc dù khó khăn lớn hơn nữa cũng không ngăn cản được dục vọng của chòm sao này. Nhưng vì thành công nhỏ nên càng kích động, bất chấp hậu quả nên gặp đả kích lớn.   Suy nghĩ chín chắn, tìm người hỗ trợ, động viên nhau cùng tiến lên là điều mà Song Tử nên làm để đạt được mục tiêu, thành công đến cùng.
Toát mồ hôi khi chinh phục 3 chòm sao nữ cao thủ Chòm sao lận đận tình duyên, khó tìm thấy hạnh phúc đích thực Hé lộ con đường tình yêu của chòm sao Thiên Bình
Trình Trình
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 chòm sao có Diêm Vương tinh chiếu mệnh, đón sóng gió cuộc đời

Cách họa, những sao gây họa.

1. Cách họa qua các sao : a. Sát tinh: gây họa nặng nhất. Sát tinh làm cho mất mạng, chấm dứt luôn sự nghiệp, tài sản, gia đạo, ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực. Đối với công danh, sát tinh tiêu diệt quý cách, chấm dứt cơ nghiệp. Đối với tài sản, sát tinh tiêu diệt phú cách. Sự hiện diện của sát tinh ở những cung chỉ phú quý có nghĩa là đương số vừa nghèo, vừa hèn tức là không có tài sản, không có chức phận. Đối với gia đạo, sự hiện diện của sát tinh ở Phu Thê báo hiệu cho sự sát phu, sát thê, sự gián đoạn vợ chồng dưới hình thức ly hôn, ly thân hoặc vợ chồng phải sống xa cách nhau lâu năm, chưa kể các trường hợp bị ruồng bỏ vì ngoại tình hoặc đâm chém nhau vì xung đột hay khảo của. Đối với con cái, sát tinh là dấu hiệu sự sát con, con cái không vẹn toàn, sinh nhiều nuôi ít, hoặc bị tàn tật hoặc thuộc thành phần côn đồ, du đãng, gây phiền nhiễu cho cha mẹ, phá tán tài sản, ăn hết di sản lại còn mắc nợ, tạo nợ cho cha mẹ. Được xem là sát tinh có 8 sao: Địa Kiếp, Địa Không, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Không, Kiếp Sát. Càng hội tụ nhiều, càng bị hãm địa nhiều, những tai biến và thiệt hại kể trên càng dễ xảy ra sớm, mau, nặng nề. Sát tinh tụ hội ở cung nào thì cung đó bị ảnh hưởng nhiều nhất.
Cách họa, những sao gây họa.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


b. Hình tinh: tạo ra hình ngục, ảnh hưởng đến tự do cá nhân, kiện cáo di lụy đến uy tín cá nhân. Gặp hình tinh, trong trường hợp là nạn nhân, đương số sẽ bị giam cầm, tra tấn, đói khát, hành hạ thể xác và tinh thần, có thể bị đau ốm hay tật nguyền trong thời gian bị bắt giữ, có thể bị đầy ải ở chỗ rừng thiêng nước độc hoặc bị cầm cố ở xà lim chật hẹp, dơ dáy. Mức độ nhẹ hơn, hình tinh là dấu hiệu của sự kiện tụng, sự điều tra. Trong trường hợp này, uy tín, tài sản có thể bị hao hụt, chưa kể những lo lắng cạnh tranh, thù hằn phải gánh chịu. Hình tinh là các sao: Thiên Hình, Quan Phù, Thiên La, Địa Võng, Thái Tuế, Quan Phủ, Liêm Trinh (chỉ hình ngục, quan tụng một cách trực tiếp).

c. Bại, hao tinh: làm cho lụn bại, hao tán chẳng hạn như bị bệnh nan y, bị giáng chức, mất của, hao tài, tang khó, thân nhân đau ốm, tai nạn, vợ chồng nghi kỵ, anh em bất hòa, nhân tình ruồng bỏ. Hao bại tinh gồm có: Tang Môn, Bạch Hổ, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư. Sát tinh và hình tinh nhất định góp phần tăng cường hiệu lực cho hao, bại tinh hoặc là nguyên nhân, hoặc là hậu quả của hao bại tinh.

d. ám tinh: là những sao gây trở ngại, trục trặc, ứng dụng cho cá nhân, ám tinh có thể là vài tính nết đặc biệt kìm hãm sự tiến thủ của con người về mặt công danh tài lộc. Trường hợp đương số là nạn nhân, ám tinh tượng trưng cho tiểu nhân, đố kỵ, phá hoại, ganh ghét làm cản trở bước tiến của mình. ứng dụng cho công danh, ám tinh chỉ sự cạnh tranh trong quan trường, sự trục trặc về thủ tục, hoàn cảnh bất lợi cho thăng tiến. Các hình thái này cũng ứng dụng cho tài lộc. ứng dụng cho gia đạo, ám tinh là sự cản trở hôn nhân, sự phá hoại hôn nhân hoặc là sự xâm nhập của một người thứ ba vào đời sống vợ chồng, sự bắt ghen, sự gièm pha, chim vợ/chồng người khác ... ám tinh gồm các sao: Hóa Kỵ, Cự Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên Không Phá Quân, Thái Tuế, Tử Phù, Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt, Cô Thần, Quả Tú, Tuế Phá, Thiên Thương, Thiên Sứ.

e. Sao trợ họa: Hầu hết sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đều hỗ trợ cho nhau để gây tác hại dây chuyền. Những sao trực tiếp trợ họa bao gồm: Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền, Quan Đới làm xấu thêm, nặng hơn. Riêng sao Thiên Tài thì làm xấu ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm miếu, vượng địa.

2. Họa cho cá nhân

a. Họa của phái nam:

+ Họa đến tính mạng hoặc cơ thể:
Không, Kiếp, Binh, Hỏa, Linh: tai nạn binh lửa. Có khi không cần phải hội đủ cả 5, chỉ cần 3 cũng đủ (tối thiểu phải có Địa Không hoặc Địa Kiếp và Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh). Kiếp Không chỉ các tai nạn bất khả kháng, dữ dằn, nặng nề, thủ phạm rất lợi hại và hung bạo, hành động bất ngờ và nhanh chóng. Phục Binh chỉ sự ám hại, phục kích, thường có tòng phạm giúp đỡ. Hỏa hay Linh chỉ họa lửa như phỏng lửa, chết cháy, bị bom, bị đạn, bị chất nổ ... Nếu có thêm sát tinh, hình tinh, hao bại tinh khác thì càng dễ chết. Nếu gặp trợ họa như Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền thì họa hại càng khó tránh. May ra gặp được nhiều sao giải mạnh mẽ hội tụ trong bối cảnh Phúc, Mệnh, Thân tốt mới khỏi, có thể chỉ bị thương.
Phi, Việt: hội với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp Hỏa, hai sao này chỉ lằn tên mũi đạn, đặc biệt là sao Phi Liêm. Bộ sao này thường ứng cho các tai nạn trên phi cơ hoặc họa về điện hay bị sét đánh.

Lưu Hà hoặc Cự, Kỵ: đi với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp, Lưu Hà chỉ họa ở dưới nước.

Kình, Đà: ám chỉ thương phế nhưng đi với Không, Kiếp vẫn có thể chết. Thương phế thường xảy ra cho tay chân. Đi với Hỏa, Linh thì phỏng ở tay chân.

Hình, Kiếp Sát: chỉ tai nạn nói chung, cụ thể là thương tích có thể đi đến mổ, cưa. Đi với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp, có thể chết vì binh đao hay vì bị mổ xẻ.

Quan Đới: đi với sát tinh chỉ cái chết bất đắc, chết mau chóng.

Tử, Tuyệt: chỉ cái chết nếu đi chung với sát tinh.

La, Võng: gặp sao tốt thì thành hung, từ đó góp phần gây họa vào các hạn xấu.

Thương, Sứ: chỉ dùng để xem hạn. Đi với sát tinh, Thương Sứ tác họa, không hẳn là họa binh đao.

Tướng, Hình - Tướng, Tuần hay Triệt: tác họa rất thảm khốc, cụ thể như chết trận, rớt máy bay, bị phục kích, thông thường chết nát thây có khi không tìm ra xác. Bộ sao này đóng ở Phúc, Mệnh, Thân, Tật hoặc Hạn đều nguy hại như nahu, không kém gì Không Kiếp Binh Hỏa Linh kể trên.

Mã, Hình: báo hiệu điềm bất tường, tai họa thảm thương.

Tướng, Binh, Tử, Tuyệt: chỉ họa binh đao hay họa chiến tranh.

Mã, Tuần hay Triệt hay Kình, Đà: chỉ thương tích tay chân do binh đao hay tai nạn.

Kình, Đà, Tuần hay Triệt hoặc Không, Kiếp: như trên.

Kiếp, Hình, Quan Đới: chết bất đắc, do mổ xẻ hoặc binh đao.

Sát, Hình hay sát tinh: bị ám sát, bị ám hại, tử trận.

Hỏa hay Linh, Kiếp, Không: tai họa rất dễ xảy ra, nhất là khi nhập hạn gặp phải.

Sát, Liêm ở Sửu Mùi - Sát, Hỏa, Hao - Phá, Hỏa, Hao - Sát (hay Phá), Việt, Hình: báo hiệu tai nạn binh đao.

+ Họa ngục hình, quan tụng hại đến tự do và uy tín cá nhân:

Thiên Hình: trừ phi đắc địa, trừ phi đương số hành nghề cảnh sát, thẩm phán, tình báo, trạng sư, Thiên Hình bao giờ cũng có nghĩa hình tù. Số tốt lắm thì Hình ứng về sự điều tra của cảnh sát, của tòa án, của giám sát viện hay của cơ quan an ninh tình báo. Trong trường hợp hành nghề thẩm phán, luật sư, cảnh sát, tình báo, tố tụng, Hình chỉ nghề nghiệp, chức vụ, quyền hành bắt giam hay xét xử người khác hoặc kiện thưa kẻ khác. Đi với cát tinh, hao bại tinh, ám tinh, hình tinh khác, Hình càng có nghĩa kiện và tù và bao giờ đương số cũng là nạn nhân. Có thêm sát tinh, tù tội nặng thêm, hình ngục khó thoát, làm cho tán mạng hay tán tài vì hình ngục. Đi với hao bại tinh, đương số khốn quẫn về tinh thần lẫn vật chất như lo sợ hoang mang, chán nản, tuyệt vọng, trốn tránh, mai danh ẩn tích mà lúc nào cũng sợ bị bắt, hoặc phải nuôi chí trả thù mà khổ sở. Cũng có thể hao bại tinh có nghĩa là trong thời gian thọ hình, đương số phải chịu nhiều cực hình như tra tấn, bỏ đói, hành hạ, đầy ải, mắc bệnh nan y.

Liêm Trinh hãm địa: chỉ sự bắt bớ, giam cầm, ở tù. Dù hành nghề gì mà Mệnh, Thân, Quan có Liêm hãm thì vẫn có thể bị hình tù như thường. Do đó, Liêm Trinh hãm địa ác hiểm hơn Thiên Hình nên đi với sát tinh rất dễ bị tù, bị kiện: Liêm, Kình, Đà, Linh, Hỏa - Liêm Hổ - Liêm, Kiếp, Hình ở Mão, Dậu - Liêm, Tham ở Tỵ và Hợi - Liêm, Kình - Liêm, Cự, Kỵ. Tuy nhiên, trường hợp Liêm Tham ở Tỵ và Hợi có Hóa Kỵ hay Tuần, Triệt đồng cung sẽ hóa giải hình tù của Liêm.

Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: chỉ bị kiện, bị điều tra, bị chỉ trích, bị vu cáo, bị nói xấu. Đi với sát tinh, khó tránh tù hay thanh toán vì tư thù, thưa kiện rất lôi thôi. Quan tụng liên hệ đến ba sao này thường là tội lường gạt, bội tín, quỵt nợ, sang đoạt. Quan Phù, Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự lợi dụng lòng tin, sự xé lẻ, rã đám. Thái Tuế chỉ khẩu thiệt, cãi vã, chửi bới, chỉ trích, bút chiến, công kích.

Thiên La, Địa Võng: chỉ sự bắt bớ, giam cầm hoặc tối thiểu cũng gây trở ngại cho công việc, kìm hãm sự thăng tiến. Hình tụng, kiện tụng chỉ có khi La Võng đi kèm với sát hay hình tinh trong cục diện Mệnh, Thân xấu.

Hóa Kỵ: có nghĩa kiện tụng. Chất của Hóa Kỵ là ganh ghét, ích kỷ, đố kỵ, nói cấu, vu khống để hãm hại người khác một cách tiểu nhân, nhỏ mọn. Quan tụng của Hóa Kỵ tương tự như Thái Tuế. Đi với Thái Tuế, Hóa Kỵ luôn nói xấu thiên hạ, ngồi lê đôi mách, đưa đến đôi co, đối chất, kiện thưa vì ngôn ngữ bất cẩn.

Đà La: chỉ sự ngoan cố, ngỗ ngược, bướng bỉnh, hẹp hòi, câu chấp và có ý nghĩa kiện tụng. Đặc biệt đi với Kỵ, Tuế thì quan tụng rất rõ. Có Đà La, thua kiện cũng không đầu hàng, còn tìm cách chống án, chạy chọt, vận động cho được phần hơn.

Cự Môn hãm địa (ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ): có ý nghĩa kiện cáo, nhất là đi chung với Hóa Kỵ, Thiên Hình hoặc sát tinh, ý nghĩa giống như Hóa Kỵ.

Cách kiện tụng và ngục hình còn do một số bộ sao dưới đây quảng diễn: Xương, Khúc ở Tỵ và Hợi - Xương, Khúc, Phá ở Dần - Nhật, Nguyệt, Riêu, Đà, Kỵ - Binh, Kỵ, Hình - Binh, Phù, Hình.

+ Họa sắc dục:

Nếu cung Phúc có Tang Môn, Đào Hoa, Hồng Loan và Thai thì dòng họ có người chết vì thượng mã phong. Nếu 4 sao đó đóng ở Mệnh, Thân hoặc Tật thì họa đó xảy ra cho mình.

Họa bị đánh đập vì đam mê tửu sắc có ba bộ sao: Tham, Đà ở Tý - Tham, Đà ở Dần - Tham, Vũ đồng cung gặp Phá.

Đau khổ vì tình: Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư, Lưu Tang, Lưu Hổ, Lưu Khốc, Lưu Hư.

Ngăn trở ái tình: Phục Binh, Hóa Kỵ, Cự Môn, Thiên Không, Kình Dương, Đà La hãm địa, Tuần, Triệt.

Sao chỉ sự phản bội: Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế.

Sao chỉ sự xui xẻo: Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình

Sao thay cũ đổi mới: Thiên Mã, Thiên Đồng, Đại Hao, Tiểu Hao, Thai.

b. Họa của phái nữ:


+ Họa trinh tiết:

Thai, Phục, Kiếp hay Không: chỉ sự hiếp dâm, có thể là hiếp tập thể.

Thai, Phục - Thai, Kiếp hay Không - Riêu, Phục - Riêu, Không, Kiếp - Tham, Phục - Tham, Không, Kiếp - Đào, Phục - Đào, Không, Kiếp - Đào Riêu, Không, Kiếp - Đào, Thai, Không, Kiếp: thất trinh thất tiết.

Đào, Riêu: lăng loàn, đàn bà ngoại tình, có khi không phải với một người. Hồng Loan, Riêu cũng có nghĩa tương tự.

Đào, Thai: tiền dâm hậu thú.

Đào, Thai, Riêu: gái giang hồ.

Cự, Kỵ hay Tham, Kỵ: ám chỉ sự mất trinh, sự bất hạnh trong tình ái.

Thai, Hình, Hỏa, Tang, Hổ, Kiếp: chỉ sự hiếp dâm đi liền với án mạng, tượng trưng cho sự thanh toán vì tình, sự trả thù của tình nhân ác độc.

3. Họa cho nghề nghiệp:

a. Cách chức, thôi việc:

Tuần, Triệt ở cung Quan: trắc trở cho quan trường bằng nhiều hình thái: chậm công danh, công danh vất vả, thấp kém, không bền vững, thăng giáng thất thường. Sao Triệt báo hiệu sự gãy đổ ít nhất một lần trong sự nghiệp. Sao Tuần tác họa nhẹ hơn nhưng lâu dài hơn. Gặp cả Tuần, Triệt đồng cung thì tai họa nghề nghiệp vừa nặng, vừa nhiều. Tuy nhiên:
– Tuần, Triệt gặp Âm, Dương ở Sửu, Mùi thi không phá mà làm vượng quan.
– Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hãm tối hay bại tinh mờ ám cũng làm vượng quan.
– Tuần, Triệt gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa thì bất lợi cho chức vụ rất nhiều như chậm quan, chóng tàn, gặp hung họa, thăng giáng thất thường. Nếu tám sao trên mà hãm địa thì khá hơn, tức là gặp khó khăn, thất thường trong việc thăng tiến nhưng tựu chung có chức vị khá lớn, nhất là về sau.
– Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa cũng còn đỡ khổ, không đáng lo ngại về sự thăng giáng hay gãy đổ sự nghiệp. Nếu hãm địa thì lại đẹp: công danh bộc phát mạnh mẽ.

Cung Quan vô chính diệu cần có Tuần, Triệt trấn thủ tại đó mới hay. Bằng không thì dễ sa sút. Nếu chính tinh xung chiếu mà sáng sử thì còn khá, ngược lại nếu mờ tối thì bất lợi.

Thiên Tướng gặp Tuần, Triệt thì dù được đắc địa, quan chức không những bị truất giáng mà còn dễ chết thảm khốc. Tướng Quân gặp Tuần, Triệt cũng lâm vào họa hại như thế.

Không, Kiếp: chỉ sự thăng trầm, lên voi xuống chó. Hãm địa thì càng nguy, chắc chắn phải ít ra một lần mất chức nhục nhã, bị đổi đi xa vì kỷ luật, chưa kể những hung họa dẫy đầy, dễ chết vì binh lửa, chiến nạn. Như vậy, sự gián đoạn chức vụ có thể bắt nguồn từ hai nguyên nhân bị chết hoặc bị cách chức. Còn những họa nhỏ khác như vất vả, đè nén, đố kỵ thì khỏi kể. Tai họa công vụ của Không Kiếp cũng còn do tật xấu của chính mình. Người có Không Kiếp có lá số xấu thường xử xự bằng thủ đoạn, bá đạo, ám muội, phi pháp, kiểu như tham lận, cướp của, hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, biển thủ đưa đến việc mất chức.

Thiên Hình, Thiên Tướng, Tuần, Triệt: Hình hãm địa ở Quan có nghĩa gián đoạn công vụ vì bị ngục tụng, những tai bay vạ gió làm cho viên chức phải bị liên lụy trong quan trường, chẳng hạn như bị khiển trách, bị điều tra, bị ngưng chức, bị truy tố, bị sa thải. Nếu đi với sát tinh, dễ bị hình tù vì Thiên Hình chỉ hình phạt, bằng kỷ luật hay bằng tòa án. Cho dù Hình gặp Tuần hay Triệt, ngục tụng cũng khó tránh. Cũng đồng nghĩa đó nếu Hình đi với Thiên Tướng ở cung Quan. Nếu có thêm Thiên Khôi, sẽ có thể bị mất đầu. Những họa nói trên sẽ tránh được nếu đương sự bị đau phải mổ hay bị chết nhưng dù sao, Tướng Hình Khôi ở Quan bao giờ cũng đập nặng vào chức vụ: Thiên Hình ở Quan là hình thương đến công vụ. ý nghĩa này vẫn tồn tại nếu Hình đi chung với Liêm Trinh; với Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ; với Hóa Kỵ; với Cự Môn hãm địa ...

Hóa Quyền, Thiên Hình hay Tuần, Triệt: Hóa Quyền tượng trưng cho quan tước, gặp Hình hay Tuần, Triệt thì có gián đoạn công vụ, thông thường là bị bãi nhiệm, bị đổi chỗ hoặc phải thôi việc. Nếu có chức phận cũng không giữ được lâu bền, phải từ bỏ vì một nguyên nhân nào đó. Những sao đồng nghĩa với Hóa Quyền mà gặp một trong ba sao này cũng rơi vào tai họa tương tự. Đó là các bộ sao: Quốc ấn, Thiên Hình hay Tuần, Triệt; Phong Cáo, Thiên Hình hay Tuần, Triệt; Thái Dương hãm, Thiên Hình hay Tuần, Triệt. Thông thường, ý nghĩa mất việc chỉ rõ ràng nếu bộ sao này đóng đồng cung ở Quan, nếu chỉ hội chiếu thì việc mất chức không rõ ràng lắm, có thể là tự ý thôi việc. Một số quý tinh khác như Thai Phu, Đường Phù gặp Tuần, Triệt hay Hình không đến nỗi nặng lắm, có thể có nghĩa như hụt thăng trật, hụt huy chương ...

Tuế, Đà, Kỵ: hội ở cung Quan chỉ mọi sự xui xẻo liên tiếp do sự tố cáo, chỉ trích, vu khống, xuyên tạc, đố kỵ, cạnh tranh làm cản trở bước tiến quan lộc, từ đó có thể đưa đến sự thôi việc, sự thay đổi công việc. Vì có Đà La, bộ sao này cho thấy có sự tranh cãi, gây lộn, ăn thua, khiếu nại, có khi ẩu đả giữa đồng nghiệp, xô xát với cấp chỉ huy để rồi cuối cùng gián đoạn công vụ.

b. Đè nén, đố kỵ:

Phục Binh: điển hình cho sự hãm hại bằng thủ đoạn ngầm, sự đố kỵ, ghen ghét giữa đồng nghiệp hay giữa mình với cấp chỉ huy. Phục Binh còn có nghĩa âm mưu, kết bè, kết phái để đào thải, loại trừ đối thủ, có khi tổ chức phục kích, ám sát, thanh toán hoặc gài đương sự vào chỗ chết, chỗ kẹt, chỗ bị án, bị tù, bị quy trách. Thông thường, Phục Binh hay sử dụng mánh lới, thủ đoạn bất chính và bí mật để phá hoại đồng nghiệp, có khi liên kết với tòng phạm, bè cánh, tổ chức. Nếu có Tả Phù, Hữu Bật đi kèm thì nạn nhân phải chạm trán với cả một hệ thống chằng chịt bao gồm nhiều tay sai ở nhiều ngõ ngách, muốn khiếu nại cũng không được như ý, nhiều khi chẳng đi đến đâu.

Hóa Kỵ: chỉ đó kỵ, ganh ghét, cạnh tranh bằng thủ đoạn gièm pha, thêm bớt, thọc gậy. Hóa Kỵ là người bị nghi ngờ, bị theo dõi, bị để ý. Đi chung với Phục Binh, sự đố kỵ có tính cách ám hại, tầm thù, chẳng những bằng lời nói mà còn bằng hành động. Đi với Thiên Hình, Hóa Kỵ dễ sinh quan tụng, thưa gửi, khiếu nại, điều trần, cảnh cáo, khiển trách, ẩu đả lẫn nhau. Chỉ trừ khi đi với Thanh Long mới đẹp.

Thiên Không: chỉ phần tử lưu manh trong công/tư sở, chuyên môn phá hết kẻ này đến người khác, thọc gậy bánh xe, cản trở bước tiến của đồng nghiệp với ác tâm, có tà ý, âm mưu phá hoại. Bị Thiên Không, viên chức khó lòng ngóc đầu lên nổi, bị khép trong kỷ luật, khống chế, mình làm mà thiên hạ hưởng, bị cấp trên hay cấp ngang cướp công.

Đà La, Kình Dương: chỉ sự ngăn trở quan trọng vì ganh đua, cạnh tranh gay gắt. Tại vị trí hãm địa, đương số là nạn nhân của chia rẽ, phân hóa trong nghề nghiệp, làm việc nặng nhọc, gánh trách nhiệm mà bị tội vạ, hiểu lầm, khiển phạt. Những bạc bẽo của nghề thường do hai sao này quảng diễn.

Cự Môn hãm địa: đồng nghĩa với Hóa Kỵ nhưng nặng nề hơn. Con người Cự Môn cũng như Hóa Kỵ lúc nào cũng bất mãn, mưu tìm sự canh cải theo ý mình, không bảo thủ mà đấu tranh thay đổi thành phần bảo thủ. Nếu đắc địa thì việc đấu tranh có cơ hội thành công, trái lại, Cự Kỵ sẽ là nạn nhân của thái độ cấp tiến của mình, gánh lấy hậu quả của sự kìm chế, đè nén, cô lập. Đi chung với các sao ám khác như Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Phục Binh, là những người hay kết bè kết đảng để đấu tranh. Nếu có sát tinh đi kèm thường có đổ máu, hình ngục, thanh toán, trả thù qua lại.

Tuế, Đà, Kỵ: tượng trưng cho những xui xẻo liên tiếp trong quan trường, trong nghề nghiệp, trong đó có sự đè nén, thị phi, gièm pha, đố kỵ.

Đại Hao, Tiểu Hao: đi chung với quyền, quý, dũng tinh, Nhị Hao thường chỉ sự sa sút hậu thuẫn, sự sút kém tín nhiệm, sự mất mát thế lực. Viên chức có Song Hao ở Quan, ngoài ý nghĩa hư danh, hư quyền, bị tổn thương uy tín, thất sủng, từ đó làm việc gì cũng không lâu bền, ở với ai cũng khó hòa hợp, có thể ngồi xơi chơi nước hay được giao những công việc chạy vặt, liên lạc, kém quan trọng. Về mặt tâm lý, Đại Tiểu Hao ở Quan còn chỉ những người đứng núi này trông núi nọ, bất mãn không khí đang sống, lúc nào cũng chực hờ, tìm chỗ tốt, chỗ bở, hay thay đổi chức vụ mà chũng chẳng hiển vinh gì bao nhiêu. Tính tình của Nhị Hao thường bất nhất, không bền chí, không kiên tâm tiến thủ trên cái gì đã có mà chỉ lo đổi chỗ để tìm lợi lộc, tìm thăng tiến. Nếu được đắc địa thì Nhị Hao có lợi hơn về mặt tài lộc, kinh nghiệm.

Thiên Khốc, Thiên Hư hay Tang Môn, Bạch Hổ: Trừ phi đắc địa ở Tý Ngọ, Khốc Hư ở Quan biểu tượng cho những ưu tư, lo buồn, hoang mang, sợ sệt khi hành nhiệm. Ngoài ra, còn có đặc tính bị khinh ghét, chê bai vì bất lực, bất hòa. Người có Khốc Hư ở Quan không thoải mái trong công việc, phải quan tâm lo lắng nhiều mối, vì nhiều lý do, có khi phải gánh chịu nhục nhã, xấu hổ bởi tai tiếng, bởi thị phi. Nếu đắc địa, các sao này chỉ uy tín và hoạt động chính trị cũng như năng tài hùng biện, giáo khoa, tâm lý chiến.


c. Bất dụng, sai dụng, thiểu dụng:

Lực Sỹ, Kình Dương: tượng trưng cho sự bỏ quên, việc ngồi chơi xơi nước, việc nghỉ giả hạn. Lực Sỹ chỉ tài năng, sự tháo vát, linh hoạt, lanh lợi đồng thời cũng ám chỉ thành tích, công lao, chiến tích. Kình Dương chỉ sự ngăn cản, trở lực, trục trặc trong công danh. Cả hai hội ý chỉ sự thi thố không hết mức tài năng, sự đãi ngộ bất xứng với thành tích, sự thiểu dụng, từ đó nảy sinh sự bất mãn, bất đắc chí. Kình Lực không nhất thiết ngụ ý người có tài mà lắm khi ngụ ý người tự cho rằng mình có tài, vì bị bạc đãi nên bất mãn. Kình Lực đôi khi chỉ tham vọng, sự cậy tài, sự ỷ lại quá đáng làm cho quần chúng ghét bỏ, xa lánh.

Thiên Mã, Tràng Sinh ở Hợi: Thiên Mã thông thường chỉ tài năng. Gặp thêm Tràng Sinh là có cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì ở cung Hợi cho nên năng tài này bị chìm trong bóng tối. Đây là hạn người kém may, không có cơ hội thi thố được, hoặc chỉ có danh mà không có quyền, chỉ có hư vị hơn là thế lực, hoặc bị đặt vào chỗ tượng trưng để lợi dụng uy tín chứ không phải để hành sử quyền binh. Công lao của Mã Sinh ở Hợi thường chỉ ở trong bóng mờ, hay bị người khác lấn át. Nếu gặp Phục Binh, ngụ ý người có tài mà bị ruồng bỏ, bị gièm xiểm, bị đào thải ...

Thiên Mã, Tuần, Triệt: không chỉ tai nạn xe cộ mà chỉ sự bất dụng, sự thiếu may mắn trong nghề nghiệp, làm cái gì cũng thất bại, tai ương, xui xẻo khiến cho thượng cấp mất dần tín nhiệm, không dám giao phó đại sự. Cho nên, công danh của Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.

Lộc Tồn, Tuần, Triệt: Lộc Tồn cũng chỉ tài năng như Thiên Mã, đặc biệt là tài tổ chức, quyền biến, khai sơn phá thạch, có nhiều sáng kiến giải quyết mọi việc. Gặp Tuần Triệt, tài năng, cơ may bị tiêu tán. Đó là trường hợp những người bị thiểu dụng, bị uổng dụng, bị sai dụng.

Thiên Tài: đi chung với Nhật, Nguyệt sáng sủa sẽ làm mất đi sự tốt đẹp, làm giảm ánh sáng của Nhật, Nguyệt. Đó là trường hợp tài năng thiếu cơ hội.

Tại cung Quan vắng bóng những sao trợ quyền, những sao may mắn thì tài năng thường cô độc, thiếu người công lực, nâng đỡ, thiếu may mắn của thời cuộc. Đó là những sao Ân Quang, Thiên Quý, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thanh Long-Lưu Hà, Thanh Long-Hóa Kỵ, Thiên Mã-Tràng Sinh (trừ ở Hợi), Bạch Hổ-Phi Liêm, Tràng Sinh-Đế Vượng, Thiên Hỷ-Hỷ Thần, Tứ Linh, Tam Hóa ...

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách họa, những sao gây họa.

Tết Trùng Cửu - Sự thật và Ý nghĩa của nó.

Thực tế theo các nhà nghiên cứu, Tết Trùng Dương uống rượu cúc hoa, đeo cành thù du cũng có tác dụng giống như Tết Đoan Ngọ uống rượu hùng hoàng và treo cành xương bồ, trần ngải. Mục đích là phòng trừ bệnh tật, côn trùng.
Tết Trùng Cửu - Sự thật và Ý nghĩa của nó.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tết Trùng Cửu hay còn gọi là Tết Trùng Dương vào ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch hàng năm. Cũng như nhiều ngày lễ, tết khác ở Việt Nam, ngày Tết Trùng Cửu được bắt nguồn từ Trung Quốc rồi du nhập vào nước ta. Thời kỳ Lý – Trần, nho sĩ Việt Nam cũng tổ chức leo núi, uống rượu hoa cúc gọi là thưởng tết Trùng Dương.

“Năm ngoái giữa rừng không có lịch

Nhìn hoa cúc nở biết trùng dương”

Câu thơ trên là của một Vị thiền tăng nổi tiếng của Việt Nam, gắn liền với một ngọn núi – núi Yên Tử – nơi phát tích một dòng thiền của Việt Nam – dòng thiền Trúc Lâm nổi tiếng với tứ quý “Tùng, Cúc, Trúc, Mai”. Bây giờ ít có nơi tổ chức Tết Trùng Cửu và biết về một phong tục khá phổ biến xưa kia, mang nhiều nét đẹp về văn hóa cũng như đối với sức khỏe,đời sống.

Không phải ngẫu nhiên mà Tết trùng cửu vào ngày mồng 9 tháng 9. Theo quan điểm dân gian cửu (số 9) là số dương và là đỉnh cao nhất trong một vòng lặp, một chu kỳ (như cuộc đời chẳng hạn). Bất cứ cái gì đạt đến số 9 là đã đạt đến đỉnh cao nhất và là tốt nhất, trân quý nhất. Trong truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh, khi thách cưới Vua Hùng cũng ra lễ thách cưới bao gồm:

“Voi 9 ngà, Gà 9 cựa, Ngựa 9 hồng mao”

Tết Trùng cửu lại lấy sự lặp của hai số 9 càng nói lên một thời điểm ở đỉnh cao nhất. Đó là tiết khí cao nhất, đẹp nhất trong mùa của một năm. Đó là sự trường thọ trong cuộc sống.

 Đăng cao hay Đăng sơn có nghĩa là leo núi - Một phong tục đặc sắc trong ngày Tết Trùng Cửu

(Hình minh họa)

 - Tết Trùng Cửu còn có một cách nói khác là ‘Từ thanh’, có nghĩa là ‘tạm biệt thảm cỏ xanh’. Sau ngày Trùng Cửu tiết trời bắt đầu sang mùa đông. Điều này cũng lý giải đúng với quan điểm “cực thịnh tất suy” của cổ nhân, qua thời điểm đẹp nhất của thời tiết mùa thu trong một năm là mùa đông lạnh lẽo, hoang tàn. Cây cối mất đi sức sống, héo rũ, úa vàng không thích hợp để đi chơi. Vì thế, tết Trùng Cửu cũng là cơ hội đi chơi, thưởng ngoạn sau cùng của mọi người khi thời tiết sang đông. Nhân dịp tết Trùng Cửu, nhiều người thường đến vùng ngoại thành để leo núi, thưởng ngoạn phong cảnh, hít thở bầu không khí trong lành. Và phong tục “Đăng sơn” hay “Đăng cao” vào ngày Tết Trùng Cửu có lẽ cũng bắt nguồn từ đó. Cổ thi đã có câu: "Gặp ngày Trùng Cửu đăng cao" là như vậy.

Hoa Cúc - Loài hoa tượng trưng của Tết Trùng Cửu

- Một phong tục khác cũng được thực hiện trong ngày Tết Trùng Cửu là ngắm hoa cúc, uống rượu hoa cúc và đeo cành thù du. Tương truyền bên Trung Quốc có rất nhiều điển tịch, truyền thuyết về phong tục này. Nhưng truyền thuyết thì cuối cùng cũng chỉ là truyền thuyết mà thôi. Các nhà nghiên cứu cho rằng những câu truyện truyền thuyết của nguồn gốc các phong tục tập quán dân gian loại này, phần lớn đều có sau các phong tục dân gian. Người ta không hiểu những phong tục này vì sao lại sinh ra và lưu hành, nên mới dựng ra một câu chuyện để giải thích hoặc kèm theo khi câu chuyện lưu truyền để tạo ảnh hưởng rộng rãi trong dân gian. Trải qua một thời gian dài, người đời sau không còn biết, thế là giả thiết biến thành thật.

Thực tế theo các nhà nghiên cứu, Tết Trùng Dương uống rượu cúc hoa, đeo cành thù du cũng có tác dụng giống như Tết Đoan Ngọ uống rượu hùng hoàng và treo cành xương bồ, trần ngải. Mục đích là phòng trừ bệnh tật, côn trùng. Sau ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, thời tiết thay đổi, mưa lất phất, trời âm u, đêm – sáng trở lạnh, trưa vẫn còn nóng. Vào lúc chuyển mùa mọi vật dễ trúng độc, con người dễ sinh bệnh tật, cảm cúm. Vì thế, vào thời gian này phải hết sức chú ý phòng côn trùng, phòng nóng lạnh. Mà rượu cúc hoa có tác dụng bình can (gan), sáng mắt, giải nhiệt, tiêu độc, giải cảm. Mùi của cây Thù Du có tính cay nóng, đắng, hương thơm, có thể đuổi muỗi, sát trùng trị hàn (lạnh), khử độc. Qua đó có thể thấy, vào tiết này, đeo thù du, uống rượu cúc hoa rất có lợi cho sức khỏe con người. Đây chính là ý nghĩa quan trọng của phong tục uống rượu cúc hoa và đeo thù du đối với con người vào mùa thu./


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tết Trùng Cửu - Sự thật và Ý nghĩa của nó.

Hình thể khu vườn

Theo khoa Phong Thủy, hình thể của lô đất mà trên đó chúng ta xây cất, hoặc là nơi căn nhà của chúng ta đang an vị, là rất quan trọng. Hình dáng bình thường, đều đặn, không có chỗ nào bị khuyết là tốt nhất. Chúng ta có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để tạo cho khu đất có hình dáng bình thường hơn so với hình dáng sẵn có của nó.
Hình thể khu vườn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những hàng rào hoặc giàn cây leo có thể chia lô đất có hình dáng xô lệch, không thẳng hàng thành các khu đất riêng biệt để dễ dàng xử trí hơn.

Việc sử dụng các chất liệu khác nhau để tạo ra các bờ đê có thể giúp phân ranh và, tất nhiên, cây trồng cũng có thể góp phần khai mở hoặc che đậy những không gian khó khăn nhất. Những sáng tạo trong việc trồng cây dường như có khả năng tạo ra mọi ảo giác mà chúng ta muốn.

Lô đất hình chữ nhật

Theo Phong Thủy, một lô đất hình chữ nhật được xem là lý tưởng. Căn nhà nên được đặt ngay giữa lô đất để khu vườn quanh nhà có tỉ lệ cân xứng với căn nhà.

Lô đất hình tam giác

Lô đất hình tam giác không được coi là tốt trong Phong Thủy vì các điểm nhọn của nó khiến cho chúng ta có cảm giác của một lưỡi dao. Thế đất này thật khó giải quyết vì chúng tạo ra ba khu vực chứa năng lượng ứ đọng.

Tuy nhiên, chúng ta có thể hóa giải bằng cách bố trí cây trồng và thiết lập những cảnh trí một cách cẩn thận để tạo ra ảo giác rằng đây là một lô đất có hình dạng bình thường. Một phương án khác là trồng cây dọc theo đường ranh thật dày và xây dựng các lối đi uốn lượn bên trong khu vườn.

Lô đất hình tròn và hình chữ l

Lô đất hình tròn rất khó. Mặc dầu luồng khí có thể luân lưu tự do, thoải mái nhưng thật khó lưu giữ nó và nên tạo một hình thể khác, ổn định hơn bên trong khuôn viên hình tròn để kê ghế ngồi. Với thế đất hình chữ L và các hình bất thường khác, tốt nhất nên phân thành các khu vực có hình dáng bình thường để dễ xử lý.

Tiền sảnh sáng sủa

Tiền sảnh sáng sủa nguyên thủy là một hồ nước phía trước nhà. Chức năng của nó là tụ khí và duy trì vùng không gian thông thoáng ở đó. Đó cũng có thể là hình thức của một khu vườn bị nhận chìm hoặc đơn giản là một không gian tụ họp rộng thoáng.

Ngày nay đó là không gian ngay cửa trước. Khu vực này nên cân xứng với mặt trước của căn nhà và nên được chăm sóc cẩn thận để luôn được sạch sẽ, gọn gàng.
Theo Nghệ thuật bài trí nhà cửa theo khoa học Phương đông.

Phong thủy tổng hợp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình thể khu vườn

Lễ hội ngày 10 tháng 10 âm lịch - Tết Trùng Thập hay Song Thập

Tết Song thập hay Trùng Thập (mùng 10 tháng 10 hoặc 15 tháng 10 Âm lịch) còn gọi là tết của các thầy thuốc, hay Tết Cơm mới tháng mười.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lễ hội ngày 10 tháng 10 âm lịch - Tết Trùng Thập hay Song Thập

Lễ hội ngày 10 tháng 10 âm lịch - Tết Trùng Thập hay Song Thập

Tết Trùng Thập

Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 10 tháng 10 âm lịch.

Nội dung: Theo sách Dược lễ thì ngày 10 tháng 10 Âm lịch, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông) trở nên tốt nhất. Vì vậy, các thầy thuốc rất coi trọng tết này.

Ở nông thôn Việt Nam, ngày này người ta thường làm bánh giầy, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc. 

Cũng theo Phan Kế Bính: ''Tết ấy (tức 10-10  âm lich ) phần nhiều là các nhà đồng cốt và nhà thầy thuốc mới ăn thôi. Nhưng về nhà quê cũng nhiều nơi ăn, có nơi ăn to lắm, như ở vùng phủ Hoài,.."

Các nhà thầy thuốc thì vì thu lễ thu tiền mà ăn tết một là để cung cấp, hai là để khoản đãi các đệ tử và các bạn hàng.

Nói chung Tết này là của ông Đồng, bà Cốt, họ làm cỗ bàn linh đình. Còn đối với một số vùng nông thôn gọi nôm na là tết Cơm mới, tết Thường tân. Các nhà lấy gạo mới làm bánh dày, thổi cơm và luộc gà dâng cúng gia tiên và thần, Phật mừng được mùa.

Có nơi tổ chức Tết Cơm mới tháng mười (còn gọi là Tết Hạ nguyên) vào ngày rằm Tháng Mười hay ngày 31 tháng 10 để nhớ đến công của Tiên Nông (tiên của ruộng đồng) và để ăn mừng việc gặt hái của vụ mùa đã xong.

Hội Hà Thạch

Thời gian: tổ chức vào ngày 10 tháng 10 âm lịch.

Địa điểm: xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn vua Hùng, thánh Tản Viên, Chử Đồng Tử, hai Bà Trưng, Thủy Thần.

Nội dung: Lễ hội có sự tham gia của ba thôn là: Thượng, Hạ, Trung với lễ rước kiệu về đình Cả cùng làm lễ đại tế, múa rồng rắn, lễ hạ điền (cúng Thần Nông trước khi cấy), cuộc thi bởi trải.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ hội ngày 10 tháng 10 âm lịch - Tết Trùng Thập hay Song Thập

Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả theo hầu Phật A Di Đà, xưng tụng là Tây Phương Tam Thánh, tiếp dẫn và độ hóa chúng sinh.
Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả theo hầu Phật A Di Đà, xưng tụng là Tây Phương Tam Thánh, tiếp dẫn và độ hóa chúng sinh bằng trí tuệ.

 

Mục Lục

  1. Danh xưng Đại Thế Chí Bồ Tát
  2. Sức mạnh của Đại Thế Chí Bồ Tát
  3. Hình tượng Đại Thế Chí Bồ Tát
  4. Ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát
  5. Đại nguyện của Đại Thế Chí Bồ Tát
  6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát

 

1. Danh xưng Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Đại Thế Chí Bồ Tát là tên phiên phiên âm từ tiếng Phạn Mahastamaprapta, dịch ý là Đại Thế Chí hoặc Đại Tinh Tiến, gọi tắt là Thế Chí Bồ Tát. Ngoài ra còn những tên khác như Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ Tát, Vô Biên Quang Bồ Tát. Mỗi cái tên, danh xưng đều có ý nghĩa quan trọng, gắn liền với đạo hạnh và chức trách mà Ngài mang.

 

Cái tên Đại Thế Chí xuất phát từ việc Ngài dùng ánh sáng trí tuệ chiếp khắp muôn nơi để chúng sinh mười phương thoát khỏi đau khổ, đạt thành tựu Bồ Đề, có đạo hạnh chuyên tu. Đắc Đại Thế Bồ Tát có nghiêng về diễn tả đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, dùng hạnh nguyện của mình để điều phục và tiếp độ chúng sinh trong thế giới Ta bà.

 

Đại Tin Tấn hay Đại Tinh Tiến tức là vị Bồ Tát có sức tinh tiến vĩ đại, vô biên, càng ngày càng tiến lên để hóa giải mọi phiền não và giáo hóa chúng sinh, không mệt mỏi, không lùi bước, không ngại chướng khổ. Vô Biên Quang là vị Bồ Tát có ánh sáng vô biên, tỏa khắp pháp giới để chúng sinh hữu duyên thấy được ánh sáng quang minh tinh diệu vô lượng của Ngài khắp mười phương.

 

2. Sức mạnh của Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Quán Vô Lượng Thọ Kinh có ghi, Đại Thế Chí Bồ Tát lấy ánh sáng trí tuệ làm ngọn đèn soi đường cho chúng sinh thoát khỏi ba cõi ác, đạt được sức mạnh vô biên, hướng tới thân tâm an lạc. Khi Ngài di chuyên, thập phương mười hướng như đang xảy ra một cơ địa chấn, trí tuệ quét sạch u mê nên có tên gọi Đại Thế Chí.

 

Ngài là một trong Tây Phương Tam Thánh, cùng Quan Thế Âm Bồ Tát theo hầu Phật A Di Đà, một trong các vị Thượng thủ trong chúng hội Bồ Tát. Đại Thế Chí bên phải, Quan Thế Âm bên trái, một bên đại diện cho tinh thần đại trí, một bên biểu thị cho tinh thần đại bi. Người tu hành muốn tu tập viên mãn, đạt thành tựu Phật giáo thì phải có cả hai yếu tố là tấm lòng và trí tuệ.

 

Từ bi bên trái, trí tuệ bên phải, trí tuệ dẫn đường cho từ bi để từ bi đi đúng hướng, từ bi thấm nhuần trí tuệ để trí tuệ không cứng nhắc, không trên đời mà giúp đời, cứu đời thoát khỏi u tối. Đó chính là ý nghĩa cao nhất, sự hòa hợp tốt đẹp nhất của Phật giáo. Là Phật tử, là những người hướng Phật nhất định phải hiểu được đạo lý này, đồng thời trang bị cho mình hai hạnh này, có như vậy thờ Phật mới chân chính, kính Phật mới chuyên tu.

 

Trí của Thế Chí Bồ tát là trí của ánh sáng và niềm tin, quyết tâm giáo hóa chúng sinh tránh khỏi đường mê lối lạc. Ngài là vị Bồ Tát Đẳng Giác hầu cận Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc, trợ giúp Phật hóa, tiếp dẫn chúng sinh mười phương thế giới, giáo hóa Thánh chúng tại Cực Lạc, chờ tới khi công quả viên mãn sẽ bổ xứ thành Phật.

 

Đây là vị Bồ Tát có nhân duyên sâu nặng với chúng sinh khắp cõi, tuy đã thành Phật trong kiếp quá khứ nhưng kiếp này thừa nguyện tái lai vì lòng thương chúng sinh, hiện thân làm Bồ Tát ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, trợ duyên cho Phật A Di Đà giáo hóa và tiếp dẫn chúng sinh thoát khỏi bể khổ.

 

Bồ Tát được Phật Bảo Tạng thọ ký rằng, trong vô lượng vô biên kiếp, sau khi Đức Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Sơn Vương Như Lai nhập Niết Bàn, tức là Quan Thế Âm Bồ Tát thành Phật trong đời vị lai thì Đại Thế Chí sẽ thay Ngài tiếp quản chánh pháp và thế giới Tây Phương, thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương Như Lai.

 

Đại hùng đại lực đại từ bi của Thế Chí Bồ Tát chính là tinh thần và trí tuệ cao nhất để Ngài hoàn thành nguyện cũng như trọng trách mà Phật đạo giao phó. Sức mạnh ấy thể hiện ở các phương diện dưới đây:

 

  • Đại hùng: sự mạnh mẽ, can trường dám xả thân rời xa những tham muốn hưởng lạc của thế gian. Điều này không những cần tiến tu mà còn phải có đại hùng, tu đạo Bồ Tát, kham những công hạnh, quyết dấn thân vào những việc khó khăn, quyết nhẫn nhục những điều vượt qua giới hạn bằng sức mạnh của tu tập.

 

  • Đại lực: Tuy đã thành Phật nhưng Ngài không an trụ tại cảnh giới Niết Bàn, tận hưởng pháp lạc mà tiếp tục hiện thân Bồ Tát Đẳng Giác để xả thân cứu độ chúng sinh, giáo hóa giác ngộ lầm than. Cái ác của chúng sinh có sâu dày đến đâu, ác nghiệp có cường thịnh đến đâu Thế Chí cũng không nản lòng, thệ nguyện vào những nơi tối tăm nhất, chốn ngọc nhằn nguy khó nhất để giác ngộ chúng sinh.

 

  • Đại bi: có đại bi mới làm tròn được hành nguyện giáo hóa khó nhọc đến vậy, từ bi cũng là gốc rễ ngọn nguồn của Phật giáo. Trí tuệ là đại hùng nhưng được dẫn dắt bởi đại bi, dùng trí tuệ quan sát căn tính của chúng sinh ngay cả khi mạt pháp nghiệp mỏng chướng dày nhất, kể cả khi căn lành nông cạn nhất để chúng sinh vượt khổ nạn, đạt thành tựu.

 

Trong kinh Lăng Nghiêm, chương Niệm Phật viên thông, khi Đức Phật Thích Ca hỏi về pháp môn tu hành, Đại Thế Chí Bồ Tát cho biết Ngài tu theo pháp môn niệm Phật. Nhân lành mà Ngài gặt hái được là dùng tâm niệm Phật, vô sinh pháp nhẫn, vì thế Ngài quyết dùng đại hùng đại lực đại bi mà mình có để tiếp dẫn những người niệm Phật vãng sinh tịnh độ.

 

Khi niệm Phật, n hất định phải chuyên tâm, người lâm chung muốn vãng sinh thì độ niệm phải có tâm chuyên nhất. Nếu trong lòng tưởng nhớ đến Phật, thấy đường Phật hướng thì Phật cách không ca, không cần phương pháp tu nào khác mà thành được Phật. Nói cách khác, “Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối nhau, được Tam ma địa, đó là bậc nhất”. Đây là điểu quan trọng nhất là người tu niệm Phật cần phải nhớ khi hành trì.

Theo phong thủy và tâm linh, Bồ Tát Đại Thế Chí là Phật bản mệnh của người tuổi Ngọ.

 

3. Hình tượng Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Trong Tây Phương Tam Thánh, Thế Chí Bồ Tát đứng bên phải Đức Phật A Di Đà, bên phải là Quan Thế Âm Bồ Tát, hiện thân là hai cư sĩ có cách ăn mặc tương tự nhau. Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh, Quan Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy.

 

Xem thêm bài viết Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát được nhiều người kính ngưỡng?

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Trên chóp mũ của Bồ Tát có hình ngôi chùa, đại diện cho trí tuệ. Thân tỏa ra màu vàng tím lấp lánh, soi chiếu thập phương để chúng sinh hữu duyên đều có thể tận mắt nhìn thấy ánh sáng của Phật pháp và tịnh diệu. Vì thế mà Bồ Tát Đại Thế Chí cũng được gọi là Bồ Tát Vô Lượng Quang.

 

Thiên quan của Ngài có 500 bảo hoa, trên mỗi bảo hoa có 500 bảo đài, mỗi bảo đài hiện lên quốc độ tịnh diệu của chư Phật thập phương. Tóc búi hình hoa sen đỏ, trên có bảo bình, trong bảo bình chứa ánh sáng trí tuệ - nguồn lực để độ hóa chúng sinh.

 

Cũng có hình tượng Bồ Tát Đại Thế Chí hiện thân là tướng người cư sỹ, nơi cổ có đeo chuỗi ngọc anh lạc và trên tay cầm một hoa sen màu xanh, tượng trưng cho sự thanh tịnh. Có ý rằng nhờ trí tuệ sáng suốt mà dứt sạch được mọi phiền não mê lầm nơi tự thân và đưa tay cứu với chúng sanh ra khỏi mê lầm tội lỗi.

 

Trí tuệ là thanh gươm tinh nhuệ cắt đứt mọi ràng buộc, vướng mắc trong cõi trần ai mà đức Đại Thế Chí đã đạt được trải qua nhiều kiếp tu hành tích lũy biết bao công phu. Dùng trí của mình để độ kiếp lầm than, theo đúng tinh thần của Phật giáo.

 

Tại sao Bồ Tát lại hiện thân cư sĩ? Điều này cho thấy hạnh nguyện của Ngài gần gũi với chúng sinh, muốn chúng sinh nghe pháp, thấu hiểu pháp thì cần phải cảm thông cho chúng sinh. Chỉ khi gần gũi và trở thành bạn lành của chúng sinh thì mới có thể làm được điều này. Bồ Tát là vị cư sĩ giản dị, dễ dàng đi khắp nhân gian để tiếp xúc với mọi người.

 

Muốn cứu vớt chúng sanh về tịnh độ, trước phải dạy họ dứt sạch phiền não uế ô. Vì thế, danh hiệu Ngài đã nói lên ý nghĩa vận dụng ánh sáng trí tuệ chiếu soi cho chúng sanh thấy rõ những uế trược nơi mình, đồng thời giúp cho họ có sức mạnh đoạn trừ những uế tạp, hướng về tịnh độ.

 

4. Ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Ngày 13/7 âm lịch là ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát, tức ngày Bồ Tát đản sinh. Ngày này chúng Phật tử và những người hướng Phật cùng làm lễ kính ngưỡng công đức, hạnh nguyện của người. Không chỉ cúng dường, tụng niệm mà còn hướng về Phật pháp, học hỏi Phật pháp, noi gương Ngài ứng dụng vào đời sống để đạt tới lý tưởng tu hành của bản thân.

 

Ngoài ra, tích cực hành thiện, tổ chức phóng sinh, bố thí, gieo thêm căn lành, hạnh lành cho cuộc đời. Mỗi việc tốt là ngọn nguồn của một cây thiện, đâm ra trái ngọt quả lành mà con người cần phải nhân rộng, đẩy lùi xấu xa ác nghiệt, coi như hoàn thành ý nguyện của Bồ Tát Thế Chí.

 

Xem thêm bài viết Bố thí đúng cách - hưởng thụ khi học Phật

 

5. Đại nguyện của Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dưới đây là lời Bồ Tát Thế Chí nguyện hứa trước Đức Phật khi quyết đi theo con đường tiến tu, học đạo, hướng Phật và tu đạo Bồ Tát.

 

“Bạch Đức Thế Tôn! nay tôi xin đem công đức cúng dường Phật và chúng tăng trong ba tháng, và những hạnh tu tập của tôi đã từng làm, như là:

 

Ba nghiệp thân

 

  1. Không sát hại chúng sanh

 

  1. Không trộm cắp của người

 

  1. Không tà dâm

 

Bốn nghiệp miệng
 

  1. Không nói láo xược

 

  1. Không nói thêu dệt

 

  1. Không nói hai lưỡi

 

  1. Không nói độc dữ thô tục

 

Và ba nghiệp ý

 

  1. Không tham nhiễm danh lợi và sắc dục

 

  1. Không hờn giận oán cừu

 

  1. Không si mê ám muội, cùng các món hạnh tu thanh tịnh của tôi, mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và cầu được một thế giới rất trang nghiêm đẹp đẽ, như cõi Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quan Minh Sang Vương Như Lai.

 

Tôi xin tiếp tục tu đạo Bồ Tát, làm việc Phật sự, khuyên bảo chúng sinh, mang lại lợi ích cho chúng sinh để mau chóng hoàn thành những hạnh nguyện tôi đã thề. Đến chừng nào Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai diệt độ, thì tôi sẽ thành đạo, kế ngôi Phật truyền Chánh Pháp mà độ hóa chúng sinh”.

 

6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Thế Chí Bồ Tát là vị Bồ Tát có trí tuệ và tinh thần từ bi, cứu độ chúng sinh vô biên, vô điều kiện, muốn gặp Phật phải có Phật trong tâm, muốn được Phật độ chứng phải thành tâm tụng niệm. Muốn thỉnh nguyện tới Ngài thì hướng về Phật pháp, chuyên tâm tu dưỡng và cúng dường, làm lễ công quả.

 

Thế gian còn lao khổ, Thế Chí còn miệt mài cứu độ chúng sinh tiến tới cõi Niết Bàn. Cách thỉnh nguyện tốt nhất, hiệu quả nhất chính là học tập đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, không chỉ giữ lập trường tu hành, trọn vẹn tinh thần hoằng pháp mà còn đẩy lui phiền não khổ sở. Chẳng những để bản thân giác ngộ mà còn giác ngộ những người xung quanh để cuộc sống ngày càng tốt đẹp, ngày càng an lạc.

 

Chăm làm việc thiện, thiện giả thiện báo, phóng sinh cứu độ, giữ tâm chân thành, bố thí hoạn nạn, đường tới thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát ở ngay phía trước.

 

Địa Tạng Vương Bồ Tát - Địa ngục chưa trống thề không thành Phật Văn Thù Bồ Tát - bậc Đại Trí dùng trí tuệ dẫn đường chúng sinh


Tâm Lan


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Trần Đoàn và sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư

Cụ Nguyễn Công Trứ có làm một bài ca trù vịnh Trần Đoàn như sau:
Trần Đoàn và sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sườn non bầu rượu túi thơ
     Thảnh thơi ngồi gẫm cuộc cờ Trường An
     Vạc Hậu Chu vừa khi mới đổi
     Trần Hi Di lên ẩn núi Hoa Sơn
     Mấy mươi năm trong cuộc bùn than
     Lửa văn võ chưa rặc lò đan táo
     Hà vật lão ẩu
     Nặng trên vai hai chúa thái bình
     Liếc trông chừng Tống nhật đã khai minh
     Mây thúc quí hẳn từ rầy trong leo lẻo
     Trần Kiều mộng lý giang sơn tiểu
     Vãn quán xuân thâm nhật nguyệt trường
     Rượu một bầu, thơ một túi, cờ một cuộc, cầm một xoang
     Khi đắc ý gật trên lừa cười ra rả
     Ngoài cung kiếm mặc ai xa mã
     Luy trần bất đáo thử giang san
     Trời riêng cho một cuộc nhàn.
Trong chính sử không thấy nói đến Trần Đoàn, tên ông chỉ được ghi trong dã sử, truyền ký và chính thức trong các sách về tướng pháp và lý số, thành thử đời sau không thể có một tiểu sử liên tục và rõ ràng về ông.
Căn cứ vào bài Ca trù của Nguyễn Công Trứ để lấy thứ tự đồng thời cộng với một số truyền kỳ, ta có thể hình dung một cách đại khái thân thế Trần Đoàn như sau:
Từ nhà Đường chuyển sang nhà Tống trải qua giai đoạn lịch sử quá độ trung ương tập quyền biến ra địa phương hùng cứ rồi chuyển thành đời Ngũ Đại đã rồi nhà Tống mới thống nhất.
Trần Đoàn lớn lên giữa lúc nhiễu nhương binh lửa, giết chóc loạn lạc, ông lên núi tu ẩn để tránh họa. Khi đã nắm được lẽ huyền vi của âm dương, ông thường đi đây đó để tìm anh hùng và chân chúa. Có một lần gặp người đàn bà gánh kĩu kịt trên vai hai đứa trẻ mỗi thúng ở đầu đòn gánh một đứa. Ông mới hỏi: “Hà vật lão ẩu? Này bà gánh kia chi vậy?” Người đàn bà mở nắp thúng cho Trần Đoàn coi rồi thở dài nói: “Tôi dẫn hai con tôi đi chạy loạn đây”.
Vừa nhác trông thấy hai đứa nhỏ, Trần Đoàn đã kêu lên: “Một vai bà mà gánh những hai vị thiên tử sao?”
Lòng ông vui mừng khôn xiết, vì thiên hạ sắp hưởng đời thái bình nên mới có hai vị chân chúa anh hùng xuất thế. Trần Đoàn liền lấy trong bọc ra mười lạng đưa biếu người đàn bà không quen biết rồi lên lưng lừa đi thẳng.
Hậu Chu là gì?
Là Chu Thế Tôn người đi bước đầu trong công cuộc thống nhất nhưng chưa được năm năm đã mất.
Phải đợi đến lúc có vụ binh biến Trần Kiều do hai anh em ông Triệu Khuông Dận và Triệu Khuông Nghĩa (hai đứa trẻ Trần Đoàn gặp trước đây nay lớn lên) cầm đầu đánh dẹp nốt các phương chấn bấy giờ đại nghiệp thống nhất mới hoàn thành.
Khi nghe tin Triệu Khuông Dận là Tống Thái Tổ thì Trần Đoàn đang ngồi trên lưng lừa ngửa mặt cười ra rả nói: “Thiên hạ thái bình rồi”.
Về sau, Tống Thái Tôn tức Triệu Khuông Nghĩa có cho người vời Trần Đoàn ra làm quan nhưng ông từ chối, bỏ vào núi đi mất không ai biết ở đâu.
     Gốc thông hỏi chú học trò
     Rằng thầy hái thuộc lò mò đi xa
     Chỉ trong dẫy núi đây mà
     Mây che mù mịt biết là nơi nao
                  (Tản Đà dịch thơ Giả Đào bài Tầm ấn giả bất ngộ).
Gốc gác khoa Tử Vi có tự bao giờ?
Không ai rõ chỉ biết đời nhà Gia Tĩnh thuộc Minh triều có lưu truyền cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tựa ở đầu nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.
Bài tựa viết như sau:
“Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.
Tôi vì muốn biết nên đã tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa cho tôi cuốn sách mà bảo: “Đây là Tử vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh”.
Mang về mở ra xem, ban đầu các sao nghĩa lý thật ảo diệu nhưng càng đọc càng thấy lời bàn luận sắc đáng, đem ra đoán thử thấy lời đoán rất thần nghiệm, càng học càng thấy hay lạ. Bất giác phải kêu lên: “Tạo hoá chí huyền chí hư mà soi sáng được đến thế này, nếu con tâm bậc đại hiền không nhập vào với tạo hoá thì làm sao biết nổi. Tinh tú ở xa muôn triệu dậm mà tính hết vào trong một bàn tay, nếu bậc đại hiền không phải là người hung tàng tinh đẩu (trong ngực có tinh đẩu) thì làm sao tính nổi. Ngôi trời ở trên, ngôi đất ở dưới, loài người đứng giữa. Hi Di tiên sinh đã tìm được lẽ con người thiên hợp và lẽ trời nhân hợp qua sự biến hoá của các vi tinh đẩu để tính ra số mệnh hay dở của từng người, nếu không có cái học quán thiên nhân thì ai làm nổi. Hi Di tiên sinh xứng đáng là một bậc cao nhân, một thần nhân vậy.
Bởi thế tôi muốn đem những lời dạy của Hi Di Tiên Sinh phổ biến cho khắp thiên hạ trong cõi thế gian thấp kém này được hiểu cuộc đời là có mệnh số”.
Cuốn Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn do La Hồng Tiên biên soạn chia làm 4 tập:
Tập một và tập ba nói về tính chất ảnh hưởng các sao, các cung vào vận, vào mệnh con người qua các chương: Thái vi phú – Hình tinh phú – Tinh viên luận - Đẩu số chuẩn thắng - Tục hình tinh phú – Phát vi luận - Đẩu số cốt tủy chú giải - Nữ mệnh cốt tủy phú chú giải - Định phú quí bần tiện thập thập đẳng luận – Thập nhị cung chư tinh thất hãm quyết – Chư tinh đắc địa phú quí luận – Chư tinh thất hãm bần tiện luận - Định phú cục - Định quí cục - Định bần tiện cục - Định tạp cục – Đàm tinh yếu luận – Luận nhân mệnh nhập cách - Luận cách tinh số cao hạ - Luận nhân tính cách hà như - Luận nam nữ mệnh đồng dị - Luận tiểu nhi mệnh - Định tiểu nhi thời sinh quyết - Luận nhân sinh thời an mệnh cát hung - Luận tiểu nhi khắc phụ mẫu - Luận mệnh tiền bần hậu phú - Luận đại hạn thập niên họa phúc hà như - Luận nhi hạn thái tuế cát hung - Luận hành hạn phân nam bắc đẩu – Luận lưu niên thái tuế cát hung tinh sát - Luận kinh đà diệt tính - Luận thất sát trùng phùng - Luận đại tiểu hạn tinh thần quá thập nhị cung ngộ thập nhị chi sở kỵ quyết - Luận lập mệnh hành hạn cung ca - Luận thái tuế tinh thần miếu hãm ngộ thập nhi cung cát hung - Luận chư tinh đồng vị viên các tư sở nghi phân biệt phú quí bần tiện yểu thọ.
Tập hai dạy cách lấy số an các sao.
Tập bốn là những lá số của các danh nhân, thường nhân với lời phê.

Về tập hai tức cách an sao lập thành lá số thiết tưởng đã có nhiều sách làm kỹ càng rồi nên ở đây xin bỏ qua tập đó, chỉ nói một vài dị biệt giữa Tử Vi đẩu số toàn thư của Trần Đoàn với những sách Tử Vi ở nước ta. Tập một và tập ba cần chú ý hơn hết, chúng tôi sẽ dịch nguyên văn kèm theo lời bình và chú thích. Dùng chữ bình, chúng tôi tự thấy có vẻ hơi lạm thực ra chỉ là những thắc mắc mà chúng tôi tìm thấy đó thôi. Nhưng chúng tôi sẽ không dịch nguyên văn toàn bộ vì có nhiều điều lập đi lập lại hoặc do mất chữ trở thành vô nghĩa. Đồng thời, chúng tôi cũng đưa thêm vào ít khám phá mới của vài tác giả như Trương Huy Văn với các cuốn “Tử Vi Xiển Vi”, “Tử Vi phát bí”, như “Vô Muộn” với cuốn “Đẩu số mệnh lý tân biên”. Tuy nhiên, chúng tôi cố gắng không để rơi lọt một tinh hoa nào của khoa Tử Vi có ghi trong sách Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn tiên sinh.

NHỮNG THUẬT NGỮ CẦN BIẾT
Bất cứ nghề gì cũng có thuật ngữ, người thợ sửa xe hơi có những tiếng như “pan nóng”, “pan nguội”, “súp bắp”, “đen cô”... Thuật ngữ để chỉ dụng cụ hay tình trạng.
Khoa Tử Vi đẩu số, chữ đẩu đây nghĩa là ngôi sao cho nên tên sao và tính chất sao cùng với sự kết hợp các sao lại thành từng chùm mang những thuật ngữ riêng biệt.
Tử Vi đẩu số có bao nhiêu sao tất cả?
Ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ thấy nhóm sao chính là 14 vị: Tử Vi – Thiên Cơ – Thái Dương – Vũ Khúc – Thiên Đồng – Liêm Trinh – Thiên Phủ - Thái Âm – Tham Lang – Cự Môn – Thiên Tướng – Thiên Lương - Thất Sát – Phá Quân
Sau đây là các phụ tinh như: Văn Xương – Văn Khúc - Tả Phụ - Hữu Bật – Thiên Khôi – Thiên Việt – Thiên Mã - Lộc Tồn – Kình Dương – Đà La - Hỏa Tinh – Linh Tinh – Hoá Quyền – Hoá Lộc – Hoá Khoa – Hoá Kỵ - Thiên Không - Địa Kiếp – Thiên Thương – Thiên Sứ - Thiên Đức – Nguyệt Đức – Long Trì - Phượng Các – Thai Phụ - Phong Các - Hồng Loan – Thiên Hỉ - Tam Thai – Bát Tọa – Thiên Hình – Thiên Diêu - Đẩu Quân.
Rồi đến chòm sao đi theo Thái Tuế, chòm sao đi theo Lộc Tồn, chòm sao Tràng Sinh. Mỗi chòm 12 vị:
Rồi đến Triệt lộ không vong và Tuần trung không vong cộng lại là 85 vị.
Nhưng sách Tử Vi ở Việt Nam do tổ tiên chúng ta truyền lại thì thấy có thêm nhiều sao khác không ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư của Trần Đoàn như các sao: Đào Hoa – Thiên Tài – Thiên Thọ - Phá Toái – Kiếp Sát – Thiên Y – Thiên Trù – Thiên Giải - Địa Giải - Giải Thần - Địa Không – Ân Quang – Thiên Quí – Cô Thần - Quả Tú – Lưu Hà – Thiên Quan – Quí Nhân – Thiên Phúc.
Tổng cộng lại là 104 vị.
Các cụ đã căn cứ vào đâu mà thêm vào không hiểu hoặc giả sách Tử Vi đẩu số toàn thư chính bản đã sang bên ta, nên bản lưu bên chính quốc bị ghi chép thiếu sót. Nếu vậy, tại sao không có những lời giải rõ ràng về các sao: Giải Thần - Địa Giải – Thiên Trù – Thiên Giải mà chỉ có vài lời nghe thật gượng ép. Trừ sao Đào Hoa thì có thể nói Tử Vi đẩu số toàn thư bị thiếu, vì sao này rất quan trọng trong phép tính số Tử Bình và cách an sao không khác phép tính số Tử Vi.
Tính (sao) còn gọi là Diệu. Ví dụ 14 sao thuộc chòm Tử Vi Thiên Phủ là chính diệu (sao chính) nếu cung mệnh không có sao chính thì gọi là mệnh vô chính diệu.
Sách đẩu số mệnh lý cho rằng: Tả Phụ - Hữu Bật – Văn Xương – Văn Khúc - Lộc Tồn cũng là chính tinh nữa. Còn cổ truyền khoa Tử Vi của ta thì căn cứ vào Tử Vi đẩu số toàn thư nên chỉ có 14 vị là chính tinh mà thôi.
Các sao: Kình Dương – Đà La - Hỏa Tinh – Linh Tinh – Thiên Khôi – Thiên Việt gọi là Thiên diệu.
Hoá Lộc – Hoá Quyền – Hoá Khoa – Hoá Kỵ gọi là hoá diệu hay tứ hoá.
Ngoài ra các sao khác là tạp diệu.
Lại có những tên gọi riêng như Tứ Cát (bốn sao tốt) là Lộc, Quí (gồm Khôi Việt), Quyền, Khoa.
Tứ hung hay tứ sát (bốn sao hung) là Hỏa, Linh, Dương, Đà.
Những sao đi đôi, đi cặp là: Tử Phủ (hay Tử Vi – Thiên Phủ), Tử - Tướng, Phủ - Tướng, Nhật - Nguyệt, Tả - Hữu, Xương – Khúc, Không - Kiếp, Hỏa – Linh, Dương – Đà, Khôi - Việt.
- Tam hợp là gì?
Mỗi lá số tử vi có 12 cung theo 12 chi, mỗi cung khi tính sao được tính theo tam hợp tức là hội các sao của 3 cung lại. Ba cung nào? Phải theo nguyên tắc sau: Thân Tý Thìn, Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất.
- Lục xung là gì?
Tý - Ngọ xung, Sửu – Mùi xung, Dần – Thân xung, Mão - Dậu xung, Thìn - Tuất xung, Tị - Hợi xung.
- Thủ đồng là gì?
Một chính tinh đóng ở mệnh cung là thủ mệnh. Hai chính tinh đóng ở mệnh là đồng cung hoặc đóng ở các cung khác cũng vậy.
- Lâm - Nhập là gì?
Hai chữ trên mang cùng một nghĩa, nhưng sao tốt đóng ở đâu gọi là Lâm, sao xấu đóng ở đâu gọi là nhập.
- Miếu – Hãm là gì?
Mỗi sao cần phải đứng tại vị trí đúng chỗ của nó, đứng sai chỗ gọi là Hãm, đứng đúng chỗ gọi là Miếu. Còn có những danh từ khác chỉ sự đúng chỗ như vượng địa, đắc địa, tuy nhiên miếu địa vẫn là nhất. Đúng chỗ mới lợi, sai chỗ vô ích hoặc bất lợi, Ví dụ: vua Văn Vương bị bắt giam trong tù, Tỉ Can đi thờ vua Trụ.
- Tọa - Cứ là gì?
Tọa chỉ sao tốt ngồi tại cung nào.
Cứ tức chiếm cứ chỉ sao xấu xâm nhập tại cung nào.
- Bản phương - Hợp phương – Lân phương là gì?
Bản phương là cung chủ yếu ta căn cứ vào đó để tính. Ví dụ: Mệnh ở cung Mão thì Hợp phương theo tam hợp thì có Hợi và Mùi.
Còn lân phương là cung bên cạnh. Ví dụ: Thìn và Dần là lân phương của Mão.
- Triều và xung là gì?
Sao tốt đóng tại cung khác theo tam hợp và chiếu hướng về cung chủ yếu gọi là Triều. Sao xấu cùng một trường hợp trên gọi là Xung. Riêng sao Thái Âm, Thái Dương không dùng chữ Triều mà dùng chữ Chiếu. Riêng sao Lộc Tồn và Hoá Lộc không dùng chữ Triều mà dùng chữ Củng.
- Giáp - Chiếu - Hiệp là gì?
Các sao tốt đóng hai cung bên cạnh cung mệnh (lân phương) gọi là Giáp.
Ví dụ: giáp Nhật - Nguyệt, giáp Tả - Hữu
Chiếu là sao ở cung đối xung ảnh hưởng tới, ví dụ: Ngọ chiếu Tị, Dậu chiếu Mão hoặc ngược lại.
Về câu: “Chính không bằng Chiếu, Chiếu không bằng Giáp” không thể áp dụng cho bất cứ sao nào.
Ví dụ: Thái Âm, Thái Dương cần Chiếu, Tả Phụ, Hữu Bật cần Giáp.
TỨ YẾU - THẬP DỤ - BÁT PHÁP
Các sao phân phối đóng tại 12 cung, biến hoá vô cùng. Có bốn điểm trọng yếu để phân biệt:
a). Cát hung – b). Hư thực – c). Chủ khách – d). Cường nhược.
Sao có sao thiện, sao ác, thiện là cát tinh, ác là hung tinh. Hung hay cát không phải chỉ căn cứ trên tính chất mỗi vị sao mà còn căn cứ trên chỗ đứng của nó đúng hay sai, miếu địa hay hãm địa.
Hư thực thế nào? Sao tốt làm miếu địa mới là thực cát, thực cát thì không hung dù gặp hung cũng chẳng sợ. Sao xấu rơi vào hãm địa mới là thực hung, thực hung thì không cát, dù gặp cát cũng khó lòng giải. Sao tốt ở hãm địa là hư cát, hư cát là không tốt, còn có thể biến cát thành hung. Sao xấu ở miếu địa là hư hung, hư hung là không hung, còn có thể biến hung thành cát.
- Chia chủ khách ra sao?
Lấy các sao ở bản phương làm chủ, các sao tại cung tam hợp hay xung chiếu là khách. Nếu như bản phương không có chính tinh tức không có chủ thì phải mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ, các sao cung tam hợp làm khách. Trong trường hợp cả hai cung xung chiếu cung vô chính tinh thì chỉ lấy sao khách mà luận cát hung.
Cường nhược đây ý nói cường nhược trong tương quan chủ khách. Khách với chủ đều tốt là khách chủ tương đắc hay khách chủ đều xấu là một bầy bạo nguợc thì khỏi phải đặt vấn đề cường nhược. Chủ khách vừa hung vừa cát thì phải xét chủ mạnh hay khách mạnh. Nếu chủ mạnh thì khách theo chủ, nếu chủ yếu thì khách kéo chủ đi. Cát cường cát thắng, hung cường hung thắng.
Thập dụ là gì? Là mười điều căn bản cho việc xem số ở mỗi cung cùng với cát cung tam hợp và cung xung chiếu:
1). Bản phương tốt (cát) “do nội tự cường” mạnh từ bên trong mạnh ra.
2). Bản phương xấu (hung) là “tòng căn tự phát” hư từ gốc rễ.
3). Cung xung chiếu tốt là “nghênh xuân tiếp phúc” chờ xuân đón phúc.
4). Cung xung chiếu xấu là “đương đẩu ác bổng” giơ đầu chịu búa đập.
5). Cung tam hợp tốt là “tả hữu phùng nguyên”, lắm chân tay giúp đỡ.
6). Cung tam hợp xấu là “tả hữu thụ địch”, địch từ bên phải, bên trái đánh tới.
7). Lân phương (cung đằng trước đằng sau) tốt là “lưỡng lân tương phù” hai bên hàng xóm phù trợ.
8). Lân phương xấu là “lưỡng lân tương vũ, hai bên hàng xóm mưu hại.
9). Cả bốn cung cùng tốt là “ Thiên tường vân tập” mây ngũ sắc kéo về chầu.
10). Cả bốn cung cùng xấu là “tứ diện sở ca” bị vây tứ phía không lối thoát.
Bát pháp là tám lối định cách cục khi xem sổ. Mệnh ai cũng thế, đều có cách cục ví như hình vuông, hình tròn, to, nhỏ, đẹp, xấu, lành vỡ của đồ vật. Cách cục của mệnh nói cho hết thì nhiều vô cùng nhưng đây dùng lối quy nạp để đưa thành tám lối. Chia ra như sau:
A. Thành phá tứ pháp:
Phàm mệnh thân bản phương có sao tốt gặp các sao khác ở cung tam hợp và xung chiếu nếu gặp:
- Khoa Quyền Lộc Quí thì kể như cách cục thành, đáng phê mấy chữ “giao long đắc vận vũ” (con rồng gặp mây nước).
- Nếu gặp tứ hung Hỏa Linh, Dương Đà thì kể như phá cách loại “miêu nhi bất tú” (chỉ nẩy mầm mà mầm không xanh tốt).
- Nếu vừa gặp tứ hung lẫn tứ cát thì kể như trong thành có phá, chẳng khác chi “bạch khuê hữu điềm” (viên ngọc trắng bị vết nứt, vết mẻ).
Cả tứ hung lẫn tứ cát đều không thì kể là cách chưa thành nhưng không bị phá, chờ xem hạn ra sao giống như “hỗn kim phác ngọc” (vàng còn lẫn các khoáng chất tạp nhạp, ngọc chưa được lấy ra khỏi đá).
B. Cửu khí tứ pháp:
Phàm mệnh thân cung mà các cung xung chiếu tam hợp đều có hung nếu:
- Gặp Lộc Quí Quyền Khoa là cứu cách, hạn hán lâu ngày được cơn mưa “cửu hạn phùng cam vũ”.
- Gặp Hỏa Linh Dương Đà là khí cách (bỏ đi), cây gỗ mục không thể khắc đẽo làm gì được “hử mộc nan điêu”.
- Gặp vừa tứ cát vừa tứ hung là vừa cứu vừa khí cách, giống như ăn gân gà “thực kê lặc”.
- Không gặp cả tứ cát lẫn tứ hung là cách “thủ tàu bão khuyết” nấn ná đợi thời.
CHƯ TINH VẤN ĐÁP LUẬN
Các sao trong Tử Vi đẩu số chia làm 3 loại: Thiện cát, hung ác, và hoà giải. Tuy nhiên, đừng quên rằng sự sắp xếp vị trí của sao trong lá số mới quan trọng về cát hung chứ không phải chỉ căn cứ vào bản chất cố hữu của từng sao vì như đã nói ở trên dịch lý là biến, biến cát thành hung, hung thành cát tùy theo mỗi sao ở miếu hay hãm địa.
Sách có câu: “Cát tinh nhập miếu tắc vi cát, hung tinh thất địa tắt vi hung” là nghĩa vậy. Tất sẽ có người thắc mắc hỏi: “Nếu phải chờ miếu hãm rồi mới định cát hung, rồi hung biến cát, cát biến hung thì còn phân định sao thiện cát, hung ác làm gì cho rắc rối?”.
Người xưa giảng rằng: “Bản chất cố hữu của sao rất cần, nếu ta luận nó qua quan niệm “tính mệnh” tính thế nào, mệnh sẽ do tính mà thành. Người có nhiều hung tinh mà vinh hiển thường vất vả, gian nan. Người có nhiều cát tinh thường đến với vinh hiển dễ dãi hơn, từ từ và chắc chắn, trong khi hung tinh đắc cách phát dã như lôi, lên như sấm sét thật đấy nhưng cũng phải vượt nhiều hiểm nguy.
Xét vị trí xong rồi, điểm quan trọng thứ hai là tìm hiểu những sao bạn đi cặp với sao chủ. Bạn hư chủ hỏng.
Về khả năng hoá giải cả sao hung lẫn sao cát đều có. Nhưng sao cát thường ở vai trò này nhiều hơn sao hung. Một khi sao hung đã được giao phó nhiệm vụ hoá giải, nó sẽ thi hành triệt để hơn sao cát.
Do những lẽ kể trên, khi luận về các sao phải lưu ý nhiều mặt chỉ sơ một ly sẽ sai đi một dặm.
Tử Vi khác với Tử Bình, ở chỗ cái lý nó tản mạn không có nguyên tắc nhất định, dĩ nhiên, nếu bây giờ được ông Hi Di Trần Đoàn mà nói chuyện trực tiếp thì nguyên tắc nhất định kia tất phải có. Chỉ vì nó tam sao thất bản mất mát hay bị bí truyền nên mất đi đó thôi. Bởi thế xem Tử Bình chỉ cần thuộc lý ngũ hành cho chắc rồi cứ thế luận ra.
Còn xem Tử Vi thì lý ngũ hành không tìm thấy mấu chốt vững chắc để làm cơ sở luận bàn cho nên phải thuộc từng sao, từng cung, sao nào ở chỗ nào, nếu hãm, đắc địa, bất đắc địa để hạ đoán.
Ví dụ: trong chương “Đẩu cốt số tủy phú” quyển I của Tử Vi đẩu số toàn thư có câu: “Tham Vũ mộ trung cư, tam thập tải phát phúc” nghĩa là: Sao Tham lang, Vũ khúc đóng tại mộ địa (Thìn Tuất Sửu Mùi) ở mệnh cung thì ngoài ba mươi tuổi mới phát.
Rồi ở dưới lại thấy có câu giảng rằng:
“Tham vũ bất phát thiếu niên nhân” (Sao Tham Vũ đi đôi, tuổi thiếu niên không phát được).
Câu phú trên đây dùng lý ngũ hành âm dương nào mà giảng nếu không nắm được cái nguyên lý ngũ hành đã mang ra áp dụng riêng cho khoa này. Mà cái nguyên lý ấy cho đến nay vẫn chưa thấy ai làm sách giảng ra, sở dĩ như vậy là vì nguồn gốc của nó bị thất lạc rồi. Rút cuộc đoán số trước sau Tử Vi chỉ có một chỗ bám vững chắc nhất là các câu phú và những định lý làm sẵn. Có thể ví như định lý tất cả mọi vật đều rơi xuống mà không có lời giảng nguyên nhân rơi xuống của mọi vật là sức hút của trái đất.
Dưới đây là tính chất của các sao cùng các cung miếu hãm của mỗi sao ghi trong các chương “Chư tinh vấn đáp luận”.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trần Đoàn và sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư

Cách xem tuổi làm nhà theo tử vi –

Xem tuổi làm nhà, xem tuổi xây nhà, xem ngày, xem giờ, Chọn ngày làm nhà, ngày động thổ, ngày cất nóc theo tháng và năm, xem tuổi làm nhà. Xem tuoi xay nha có phạm kim lâu,... Hãy Xem tuổi hợp tuổi đẹp xây nhà năm 2012. Việc xem tuổi làm nhà là một v

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tuổi làm nhà, xem tuổi xây nhà, xem ngày, xem giờ, Chọn ngày làm nhà, ngày động thổ, ngày cất nóc theo tháng và năm, xem tuổi làm nhà. Xem tuoi xay nha có phạm kim lâu,…

Hãy Xem tuổi hợp tuổi đẹp xây nhà năm 2012. Việc xem tuổi làm nhà là một việc hệ trọng, theo quan niệm của phong thủy, khi xây dựng nhà ở cần xem tuổi của chủ nhà với năm làm nhà. Không được vi phạm vào các năm: Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai.

1_3

1. Tra cứu tuổi Phạm Kim Lâu khi xem tuổi làm nhà

Xem tuổi làm nhà tính theo tuổi âm lịch, ví dụ sinh năm 1968 dương lịch, năm nay 2012 là bao nhiêu tuổi Âm Lịch, lấy 2012 – 1968 = 44 + 1 = 45 tuổi, các tuổi khác cũng tính như vậy.

Năm 2012 những tuổi sau phạm phải Kim Lâu:

Tuổi âm lịch: 21, 24, 26, 28, 30, 33, 35, 37, 39, 42, 44, 46, 48, 51, 53, 55, 57, 60, 62, 64, 66, 69, 73, 75

2. Tra cứu tuổi Phạm Hoang Ốc khi xem tuổi xây nhà

Năm 2012 những tuổi sau phạm Hoang Ốc:

Tuổi âm lịch: 21, 23, 34, 27, 29, 30, 32, 33, 36, 38, 39, 41,42, 45, 47,48, 50, 51, 52, 54, 56, 57, 60, 63, 65, 66, 69, 72, 74, 75

3. Tra cứu tuổi Phạm Tam Tai khi xem tuổi làm nhà

Tuổi âm lịch: 21, 25, 29, 33, 37, 41, 45, 49, 53, 57, 61, 65, 69, 73, 77

4. Những tuổi đẹp nhất xây nhà năm 2012 khi xem tuổi xây nhà

Các tuổi dưới đây sẽ không phạm: Kim Lâu, Tam Tai, Hoang Ốc là:

1993 (20 tuổi – Quý Dậu);

1991 ( 22 tuổi – Tân Mùi);

1982 ( 31 tuổi – Nhâm Tuất);

1979 (34 tuổi – Kỷ Mùi);

1973 ( 40 tuổi – Quý Sửu);

1970 ( 43 – Canh Tuất);

1955 ( 58 tuổi – Át Mùi);

1946 ( 67 tuổi – Bính Tuất);

1945 ( 68 tuổi – Ất Dậu);

1943 ( 70 tuổi – Quý Mùi);

1942 (71 tuổi – Nhâm Ngọ);

1937 ( 76 tuổi – Đinh Sửu);

Lưu ý:

– Khi xem tuổi làm nhà, nếu phạm vào 1 trong 3 yếu tố trên như Hoang Ốc hoặc Tam Tai thì còn có thể dùng được;

– Khi xem tuổi làm nhà, nếu phạm tuổi Kim Lâu thì không nên xây nhà;

– Khi xem tuổi làm nhà, nếu phạm vào 2 trong 3 yếu tố trên thì không nên tiến hành xây dựng, tu tạo nhà ở, vì sẽ xảy ra tai nạn đáng tiếc.

Cách tính tuổi xấu và ý nghĩa khi xem tuổi làm nhà

A- Phạm phải Kim Lâu?

Theo các tài liệu mà tác giả đọc được thì đều khuyên không xây nhà năm Phạm Kim Lâu. Kim Lâu có mấy dạng sau đây:

Tuổi Kim Lâu 1 ( Kim Lâu Thân): Làm nhà vào tuổi này thì bản thân người làm nhà sẽ bị hại ( ốm đau, bệnh tật, tai nạn…có thể chết người) nên rất kỵ nếu bạn phạm phải Kim Lâu 1.

Tuổi Kim Lâu 3 ( Kim Lâu Thê): Mang đến tai họa cho vợ

Tuổi Kim Lâu 6 ( Kim Lâu tử): Mang hại cho con

Tuổi Kim Lâu 8 ( Kim Lâu Lục Súc): Hại cho vật nuôi, làm ăn thất bát.

Cách tính Kim lâu đó như thế nào ? Đó là việc dựa vào nguyên lý Cửu Cung theo Cửu tinh đồ. Nếu bạn không có kiến thức về Phong Thủy thì có thể làm theo cách tính đơn giản như sau:

– Sinh năm: 1982 => tuổi âm của bạn: 2012-1982+1=31 (tuổi). 3+1 = 4: =>Không phạm Kim Lâu

– Sinh năm: 1980 => tuổi âm của bạn: 2012-1980+1=33 (tuổi). 3+3 = 6: =>Phạm Kim Lâu tử, sẽ có hại cho con.

– Sinh năm: 1974 => tuổi âm của bạn: 2012-1974+1=39 (tuổi). 3+9 = 12 ( Khi tổng vượt quá số 9 bạn đem trừ cho: 9, vậy được số: 3: => Phạm Kim Lâu Thê, sẽ mang hại cho vợ;

B – Phạm phải Hoang Ốc ?

Hoang Ốc có nghĩa là ngôi nhà hoang. Nhà hoang là nơi ma quỷ. Nên tránh làm nhà năm phạm phải Hoang Ốc.

Cách tính phạm Hoang Ốc dựa theo nguyên tắc Âm Lục ( 6 cung) của Dịch Học. Phần này tác giả xin không trình bày vì sẽ làm bạn đọc khó hiểu hơn, nhưng việc tính ra tuổi phạm Hoang Ốc tác giả đã trình bày trong bài này rồi, các bạn nên đọc kỹ để áp dụng.

C – Phạm phải Tam Tai ?

Xem tuoi xay nha cho thấy Năm Tam Tai mà làm nhà thì dễ gặp điều không may hay gặp các tai họa không lường trước được.

Cách tính năm Tam Tai như sau:

Sinh năm Thân, Tý, Thìn sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Dần, Mão, Thìn;

Sinh năm Tị, Dậu, Sửu sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Hợi, Tý, Sửu;

Sinh năm Hợi, Mão Mùi sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Tị, Ngọ, Mùi;

Sinh năm Dần, Ngọ, Tuất sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Thân, Dậu, Tuất;

Tuổi của tôi không hợp xem tuoi lam nha thì có thể xây nhà được không?

Nếu do yêu cầu bắt buộc phải xây nhà trong năm nay, mà các bạn bị vi phạm những yếu tố trên cũng đừng nên lo ngại,. Bạn có thể tiến hành mượn tuổi của những người nam giới không bị phạm trong năm để nhờ xây dựng nhà cửa. Nếu được thì nên chọn những người đứng tuổi, thọ, phúc lộc dồi dào, con cháu đông là tốt nhất. Tuy nhiên cần nhớ rằng, việc mượn tuổi để xây nhà là một biện pháp thiên nhiều về tâm lý, mọi chuyện tốt xấu sẽ vẫn xảy ra với chủ nhà chứ không phải vì mượn tuổi mà xảy ra với người kia.

Hướng dẫn làm thủ tục mượn tuổi, khi xem tuổi xây nhà bị phạm:

+ Trước khi làm nhà, gia chủ làm giấy tờ bán nhà tượng trưng cho người mượn tuổi
+ Khi Động thổ, người mượn tuổi thay gia chủ tiến hành khấn vái và động thổ.
+ Trong thời gian làm lễ, gia chủ phải lánh xa khỏi khu vực hành lễ.
+ Các công đoạn Đổ mái, người mượn tuổi vẫn tiến hành thay gia chủ làm lễ, gia chủ tiếp tục tránh mặt
+ Khi Nhập trạch, người mượn tuổi làm nốt các thủ tục dâng hương, khấn thành, rồi bàn giao lại nhà cho gia chủ.
+ Gia chủ làm giấy tờ mua lại nhà (với giá cao hơn giá bán nhà ở trên) và khấn cầu lễ nhập trạch.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xem tuổi làm nhà theo tử vi –

Luận giải vận số của người tuổi Tỵ theo ngày sinh

Người tuổi Tỵ sinh ngày Tý có sao Tử Vi chiếu mệnh, cuộc đời nhiều may mắn, mọi sự thuận lợi. Tuy có nạn nhưng không bị tổn hại lớn.
Luận giải vận số của người tuổi Tỵ theo ngày sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sinh ngày Tý: Người tuổi Tỵ sinh ngày này có sao Tử Vi chiếu mệnh, cuộc đời nhiều may mắn, mọi sự thuận lợi. Tuy có nạn nhưng không bị tổn hại lớn.

(Ảnh minh họa)

Sinh ngày Sửu: Được sao Hoa Cái chiếu mệnh nên là người hiền thục, thông minh, có năng lực trong lĩnh vực kỹ thuật và nghệ thuật. Tuy nhiên, bị sao Bạch Hổ chiếu mệnh nên phải thận trọng trong mọi chuyện.

Sinh ngày Dần: Là người khỏe mạnh, có số may mắn, mưu sự đều thành, kinh doanh phát đạt.

Sinh ngày Mão: Số ít may mắn, hay gặp khó khăn, trở ngại, buồn nhiều hơn vui.

Sinh ngày Thìn: Sinh vào ngày này là người hay lo nghĩ nhưng gia đình êm ấm. Đề phòng mắc bệnh kinh niên.

Sinh ngày Tỵ: Là người có cuộc sống không yên ổn, thành đạt muộn. Bị sao Chỉ Bối chiếu mệnh, cần thận trọng trong việc kết giao bạn bè.

Sinh ngày Ngọ: Người tuổi Tỵ sinh giờ này có số vui vẻ. Tuy có lúc gặp chuyện buồn phiền nhưng được sao Thái Dương chiếu mệnh nên gặp hung hóa cát.

Sinh ngày Mùi: Sinh vào ngày này số phận không thuận lợi, gia đình thường không hòa thuận.

Sinh ngày Thân: Là người ít may mắn, hay gặp chuyện tranh cãi, may được quý nhân phù trợ nên vận xui được hóa giải.

Sinh ngày Dậu: Nhờ có sao Thiên Tướng chiếu mệnh nên số có địa vị, quyền lực, tiền của dồi dào, buôn bán phát đạt, mọi việc thuận lợi.

Sinh ngày Tuất: Số phải bôn ba, vất vả và ít gặp may mắn. Sức khỏe không tốt nhưng nhờ sao Nguyệt Đức chiếu mệnh nên có bệnh sẽ khỏi.

Sinh ngày Hợi: Người sinh ngày này bị sao Dịch Mã chiếu mệnh nên cuộc đời thiếu ổn định, thường nay đây mai đó, gặp nhiều vất vả.

(Theo Nhân duyên & tướng cách đàn bà)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận giải vận số của người tuổi Tỵ theo ngày sinh

12 con giáp gốc Việt

Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam. Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.

Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại


Theo văn hóa Phương Đông, lịch được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng. Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.


Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.

Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa. Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (California, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.


“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.


Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài... hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.


Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo... Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.

Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”... vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt/chuột chính là các cách đọc của Tý sau này.


Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?


Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hóa Trung Quốc có xuất phát từ văn hóa Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Mát qua cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Ðế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”... Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hóa là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Ðường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.



Theo ông Thông, ngoài hai chi Tý/Tử/chuột, Mão/ Mẹo/mèo là dễ nhận thấy nhất thì những chi còn lại khi so sánh trong tương quan ngữ âm, ngữ nghĩa cũng đều cho ra những kết quả khá bất ngờ.


Ví dụ với trường hợp của Thân là chi thứ 9 trong bản đồ Hoàng Đạo. Nếu xem cách viết chữ Thân bằng bộ điền với nét giữa dài hơn với cách viết chữ Khôn (một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh. Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và Khôn, tuy nhiên tiếng Việt cổ có chữ khọn là con khỉ (người Huế hay người xứ Nghệ hiện nay một số chỗ vẫn còn những câu cửa miệng “tuồng mặt con khọn” để ám chỉ những người vô tích sự, chẳng làm chẳng nên trò trống gì). Thành ra, Thân chính là khỉ, tiếng Việt cổ dù biến âm th-kh rất hiếm gặp trong tiếng Việt ngày nay nhưng nó vẫn còn dấu tích của những từ cặp đôi như: thân- cận- gần, thận- cẩn (thận trọng, cẩn trọng).


Tương tự với trường hợp của con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng rồng là một con vật tiêu biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con vật có mặt trong 12 con giáp của cung Hoàng Đạo. Nhưng ít ai biết được rằng rồng thực sự là con vật chủ của người Việt cổ và ngày xưa người Việt đã có những từ ngữ riêng để nói đến rồng hay thìn. Thìn/Thần dấu tích còn lại trong giọng Bắc Kinh hiện nay chỉ còn chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần của Hán Việt. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là tlan (Tiếng Việt cổ - âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts - mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản...) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn - thằn lằn, tlian - thuồng luồng... cho thấy vết tích của rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.

Lý giải về nguyên nhân dẫn đến việc bị “lẫn lộn” về nguồn gốc 12 con giáp, ông Thông cho rằng “Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá Trung Quốc, từ đời Hán và sau đó là Đường, Tống... với sức ép của giai cấp thống trị từ phương Bắc tên 12 con vật tổ đã từ từ được thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá Trung Hoa hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ) trong đời sống người Việt”


Sự phát hiện mới mẻ này đã chứng minh cho sự phát triển của người Việt xưa trong cách tính lịch và làm nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ ở phía Nam Đông Nam Á.

12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ 


Lâu nay người ta vẫn lầm tưởng 12 con giáp tượng trưng cho 12 chi trong hệ can chi có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, trước đây đã có các học giả phương Tây nghiên cứu cho thấy, các con giáp này vốn có xuất xứ từ phương Nam.

Tên 12 con giáp thuộc

Tên 12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ (Ảnh: Internet)

Khi được du nhập vào Trung Quốc, qua nhiều lần biến cải, những con giáp này vừa biến dạng cả chữ viết và hình tượng, cùng với ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa làm cho mất dần đi nguồn gốc ban đầu của nó.
Dựa vào nghiên cứu ngữ âm học lịch sử, nhà ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông gần đây đã chứng minh rất thuyết phục rằng tên 12 con giáp thuộc "tác quyền" của người Việt cổ.

Ví dụ năm Ngọ là năm Ngựa, khác xa với từ Mã của người Trung Hoa. Đặc biệt là năm Mão/Mẹo hoàn toàn là gốc Việt bị thay bằng con Thỏ cho phù hợp với quan niệm của người phương Bắc.

Truy tìm gốc gác nhiều tên gọi cũng thấy được xuất xứ ban đầu của nó trong tiếng Việt cổ, như Tí gắn với Chuột, Dần gắn với Hổ, Mùi gắn với Dê, Hợi gắn với Lợn, Thìn gắn với Rồng...

Hà Tùng Long

Nguồn: An Việt Toàn Cầu
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 con giáp gốc Việt

Bảng “Cửu diệu tinh quân” – Chín ngôi sao hợp tuổi hằng năm –

STT Tuổi Tên sao ứng với mỗi tuổi Nam Nữ 1 10 19 28 37 46 55 64 73 82 91 La Hầu Kế Đô 2 11 20 29 38 47 56 65 74 83 92 Thổ Tú Vân Hán 3 12 21 30 39 48 57 66 75 84 93 Thuỷ Diệu Mộc Đức 4 13 22 31 40 49 58 67 76 85 94 Thái Bạch Thái Âm 5 14 23 32 41 50

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

201401153459_9_sao_cuu_tinh_nam_2014_1

STT

Tuổi

Tên sao ứng

với mỗi tuổi

Nam

Nữ

1

10

19

28

37

46

55

64

73

82

91

La Hầu

Kế Đô

2

11

20

29

38

47

56

65

74

83

92

Thổ Tú

Vân Hán

3

12

21

30

39

48

57

66

75

84

93

Thuỷ Diệu

Mộc Đức

4

13

22

31

40

49

58

67

76

85

94

Thái Bạch

Thái Âm

5

14

23

32

41

50

59

68

77

86

95

Thái Dương

Thổ Tú

6

15

24

33

42

51

60

69

78

87

96

Vân Hán

La Hầu

7

16

25

34

43

52

61

70

79

88

97

Kế Đô

Thái Dương

8

17

26

35

44

53

62

71

80

89

98

Thái Âm

Thái Bạch

9

18

27

36

45

54

63

72

81

90

99

Mộc Đức

Thủy Diệu


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng “Cửu diệu tinh quân” – Chín ngôi sao hợp tuổi hằng năm –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd