Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Xem bói tử vi tuổi Tỵ

Xem bói tử vi tuổi Tỵ qua tính cách, tình yêu theo nhóm máu, các cột mốc sự nghiệp của tuổi Tỵ, bói tử vi theo tháng sinh & giờ sinh, hợp khắc 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chuyên đề tử vi 12 con giáp tuần này bàn về xem bói tử vi tuổi Tỵ qua tính cách, tình yêu theo nhóm máu, các cột mốc sự nghiệp của tuổi Tỵ, sự xung khắc của tuổi Tỵ với các con giáp còn lại. Chi tiết vận mệnh của Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý và Nhâm Tý theo tháng sinh và giờ sinh.

Một con rắn có thể xuất hiện thật lạnh lẽo và trơn trượt, nhưng bạn đừng để mình bị đánh lừa, vì người tuổi Tỵ gây ấn tượng, bí ẩn, khôn ngoan, hấp dẫn và khá lãng mạn. Người sinh năm Tỵ có khả năng đưa mọi thứ trở về trạng thái tĩnh, nhờ đó, gieo rắc sự tĩnh lặng qua chuyển động đầy gợi cảm, khiến người khác thấy lúng túng và bị quyến rũ.

1. Tính cách người tuổi Tỵ

Con Rắn có thể được xem như là một thứ tiêu khiển, nhưng phải cẩn thận, vì theo tử vi của người Việt Nam, con Rắn là biểu tượng chính của sự xấu xa. Vì thế, quan trọng là phải lưu ý đến người tuổi Tỵ, và không bao giờ đặt niềm tin tuyệt đối vào họ bởi vì họ có thể nhanh chóng phản lại bạn.

Khôn ngoan và kiên nhẫn, Rắn biết cách quan sát và chờ đợi. Họ không thuộc tuýp người bốc đồng, mà ngược lại, rất kín đáo, bình tĩnh, bảo thủ, và bí ẩn. Hơn nữa, ẩn sau đôi mắt tinh ý đó là một bộ óc luôn phân tích, giúp cho những ai thuộc cung mệnh này có được tính tinh tế, cẩn trọng và khả năng phán đoán đúng đắn để tìm ra mấu chốt cho từng vấn đề cũng như giải quyết chúng một cách ổn thỏa. Những người hay lo nghĩ này còn được phú cho sự thông thái và hiểu biết triết học một cách sâu sắc về những đổi thay của cuộc đời. Đó là tài năng và thực tế cũng là do họ cần có một cuộc sống bảo đảm về tài chính, vì thế mà Rắn còn được xem là những người canh giữ kho báu.

Một cuộc sống đầy xung đột và hỗn loạn không dành cho người tuổi Tỵ, bởi lẽ họ yêu hòa bình và thích tĩnh lặng. Họ hướng về tinh thần hơn là vật chất. Rắn thích ngồi suy ngẫm và ghét bị quấy rầy. Rắn thiên về chất hơn là lượng. Phong cách tao nhã, dễ chịu nhưng không kém phần sang trọng là những gì mà Rắn muốn trang trí tổ ấm thân yêu của mình.

Người sinh năm Tỵ có thể trở thành nhà triết học, thần học, nhà chính trị và cũng có thể là một nhà tư tưởng cực kì sâu sắc. Anh ta là nhân vật bí ẩn nhất trong số mười hai con giáp. Anh ta có trí tuệ đặc biệt bẩm sinh, ngoài ra còn là một người theo chủ nghĩa thần bí. Người tuổi Tỵ nho nhã, lịch sự, rất thích đọc sách nghe nhạc, thích ăn ngon và xem kịch. Anh ta bị thu hút trước mọi thứ đẹp đẽ của cuộc sống. Những cô gái xinh đẹp nhất, nổi bật nhất, các chàng trai cá tính mạnh mẽ thường sinh vào năm Tỵ, cho nên nếu bạn sinh năm Tỵ, chắc hẳn bạn sẽ có một vận mệnh tốt đẹp.

Người tuổi Tỵ thường dựa vào chính bản thân để phán đoán và hành sự. Anh ta hoặc là có tính tôn chỉ cao, hoặc là người theo chủ nghĩa hưởng thụ, bất luận thế nào, anh ta thà tin vào sự mù quáng của mình, chứ không muốn nhận lời khuyên của người khác. Nhưng thông thường, sự lựa chọn của anh ta luôn chính xác.

Giống như rồng, Rắn cũng tượng trưng cho vận mệnh của anh ta, cuộc đời anh ta hoặc ca khúc khải hoàn hoặc kết thúc một cách bi đát. Đằng sau vẻ ngoài đầy kinh nghiệm, từng trải, ẩn giấu sự nghi kị sâu sắc, dù anh ta phủ nhận điều này. Người thuộc các con giáp khác có lẽ đều muốn để kiếp sau trả nốt món nợ còn thiếu nhưng người tuổi Tỵ nhất định phải trả hết nợ nần trước khi rời cõi đời. Vì thế người sinh năm Tỵ thường nhiệt tình, chăm chỉ khi làm việc, anh ta luôn để tâm thanh toán bằng hết các khoản nợ.

Người tuổi Tỵ không bao giờ phải phiền muộn vì thiếu tiền. Anh ta thật hạnh phúc khi có đầy đủ mọi thứ mình cần. Nếu thiếu tiền, anh ta có thể nhanh chóng xoay ngược cục diện. Tuy nhiên người tuổi Tỵ không nên đi đánh bạc, nếu không anh ta sẽ mất trắng tay. Nếu như đã chịu thiệt hại nặng một lần, không bao giờ anh ta để điều đó tiếp tục xảy ra, anh ta sẽ tỉnh ngộ rất nhanh, cấp tốc hồi phục lại. Nói chung, anh ta thận trọng và nhạy bén trong kinh doanh. Người tuổi Tỵ vốn thông minh nên họ rút kinh nghiệm khá nhanh và không bao giờ bị thất bại đến lần thứ hai. Tuy vậy họ lại là người cực đoan, điều gì họ đã cho là đúng thì họ sẽ không nhường một ai cả.

Một người đã từng chịu cảnh nghèo nàn khi còn trẻ sẽ không bao giờ quên cảnh ngộ ngày nào, có thể anh ta sẽ dành dụm, tích lũy từng ly từng tí, trở thành con người tham lam, coi tiền như sinh mạng mình.

Xét về bản tính, người tuổi Tỵ rất đa nghi dù bề ngoài luôn tỏ vẻ tin tưởng tuyệt đối, nhưng khác với tuổi Dần, anh ta giấu kín lòng đa nghi, kể cả bí mật riêng tư cũng giấu thật kĩ trong lòng.

Người tuổi Tỵ rất thích lối thể hiện ngược, đó là dù trong lòng cực kì giận dữ, nhưng ngoài mặt lại rất thản nhiên, lạnh lùng. Họ thích biểu lộ sự bất mãn bằng thái độ, cử chỉ lạnh nhạt hơn là dùng lời nói chua cay, họ sẽ âm thầm chờ đợi thời cơ để báo thù.

Do nói năng lịch sự, cử chỉ nho nhã, nên người tuổi Tỵ không muốn chìm đắm vào những câu chuyện vô bổ hoặc vặt vãnh. Anh ta có thể hất đổ bất cứ ai cản đường mà không chút hối hận. Có một số người tuổi Tỵ nói năng chậm rãi, từ tốn, nhưng đó không phải là tốc độ tư duy và hoạt động của anh ta. Họ thích suy tư, tính toán và có thể trình bày quan điểm của mình một cách hệ thống. Nói chung, anh ta nói năng rất cẩn thận.

Nếu dự đoán người tuổi Tỵ sẽ thay đổi ra sao hoặc sẽ phát triển đến trình độ nào thì quả không đáng tin đâu, cái đầu óc luôn vận động, tính toán của anh ta sẽ chẳng nghỉ ngơi, mà không ngừng hoạch định sách lược, hơn nữa còn ghi nhớ rất lâu. Anh ta thuộc con giáp ngoan cường nhất trong số mười hai con giáp.

Trong mối quan hệ với mọi người, anh ta ưa thích chiếm hữu và yêu cầu người khác rất cao. Với bạn bè anh ta vẫn giữ thái độ thiếu tin tưởng ở một mức độ nhất định. Anh ta không tha thứ cho người nào lỡ hẹn. Khi anh ta cảm thấy sợ hãi hoặc nghi ngờ chuyện gì, thần kinh rất dễ bị kích động, thậm chí trở nên điên cuồng. Khi bị chọc giận anh ta căm tức nghiến răng nghiến lợi, nhưng hành động đối địch của anh ta lại âm thầm, lặng lẽ và để bụng rất dai. Anh ta thích biểu đạt sự bất mãn bằng vẻ chống đối lạnh lùng chứ không mỉa mai cay nghiệt hoặc cãi vã nặng lời. Người tuổi Tỵ thích đánh cho kẻ địch một đòn chí mạng, rồi tiêu diệt đến tận gốc rễ. Bản thân dòng tư duy của anh ta đã là một kiểu tính toán, và có thể đợi thời cơ báo thù sau. Với những kẻ chẳng may chọc giận anh ta, có trốn sang tận Siberia cũng chưa phải là chuyện quá bi đát.

Nữ giới tuổi Tỵ vốn là một mỹ nữ, gương mặt bình thản, an lành và xinh đẹp của cô khiến người ta ngây ngất. Cô tự tin, ung dung và thong thả. Tuy cô thường đi nhàn tản khắp nơi, tạo cho người ta ấn tượng rằng cô lười biếng, trốn việc công đi ở việc chùa, nhưng tuyệt đối không phải vậy, đầu cô luôn bận rộn đấy.

Làn da của người tuổi Tỵ rất đẹp, không nổi mụn hay tàn nhang, thậm chí ngay cả lúc không chú ý giữ gìn cũng vẫn vậy. Cứ như thể sự bực tức, lo lắng chỉ ảnh hưởng đến hệ thống tiêu hóa và thần kinh thôi còn chẳng hề hấn gì đến ngoại hình anh ta cả. Nhiều người tuổi Tỵ dễ qua đời vì bệnh dạ dày, đường ruột hoặc suy sụp tinh thần… những bệnh tật này đều do phiền muộn tạo nên.

Nữ giới tuổi Tỵ yêu thích thời trang, ăn mặc đúng mốt. Cô ưa thích trang sức châu báu, rất tỉ mỉ khi lựa chọn trang phục. Nếu điều kiện kinh tế cho phép, cô sẽ mua viên kim cương hay ngọc đẹp nhất. Sau khi kết hôn, cô sẽ trở thành người tiêu xài như nước. Chỉ cần chồng cô vẫn còn tiềm lực, cô sẽ tìm mọi cách giúp anh đạt được thành công. Cô sẽ trang điểm rực rỡ để làm một bà chủ hòan mỹ, đồng thời có thể chỉ ra cho chồng từng cơ hội trong cuộc sống một cách sắc sảo. Với một người vợ hết lòng hết sức ủng hộ vợ như vậy, anh chỉ có thể tiếp bước chứ còn cách nào khác nữa đâu.

Phụ nữ tuổi Tỵ không mấy quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ, cô chẳng khi nào đau buồn vì vấn đề quyền lực cho phái yếu. Khi cô dễ dàng dẫn dắt cánh đàn ông làm việc theo chủ ý của mình, cô cần gì phải tranh giành với họ nữa nhỉ? Về vấn đề nữ quyền, cô chỉ suy nghĩ mà thôi. Cho nên khi cô mụ cả đầu óc vì bị cuốn vào chuyện tranh cãi bình đẳng nam nữ, xin đừng trách cô. Vì cô vẫn luôn cho rằng các cô gái sinh ra đã là loại người nhất đẳng, tại sao phải vứt bỏ sự sắp đặt ổn thỏa, hợp lí đó chứ? Chỉ cần họ phục tùng ý nguyện của cô, cô sẽ vỗ về những anh chàng ấy, khiến họ mãn nguyện, vui lòng.

Nói chung người tuổi Tỵ ưa thích hài hước, song cũng có trường hợp ngoại lệ. Một số người lãnh đạm, lạnh lùng, một số khác lại thường trêu đùa, chế giễu người khác. Thời cơ tốt nhất để quan sát hết thảy điều này là khi anh ta hoặc cô ta đang ở trong tình thế bức bách. Lúc nguy cấp người tuổi Tỵ có thể hâm nóng bầu không khí bằng cách pha trò vui vẻ, ngay cả khi anh ta chịu áp lực nặng nề cũng chẳng chút hốt hoảng.

Một số người cho rằng rắn thâm hiểm, không thể nắm bắt. Tuổi thọ của nó kéo dài vì mỗi lần thay da là một lần được sống lại. Cái phẩm chất đặc biệt này tượng trưng rằng nó có năng lực tái sinh. Ngay sau trận chiến ác liệt, anh ta có thể nhanh chóng phục hồi sinh lực. Đến đây hẳn bạn đã biết đối phó với người tuổi Tỵ không phải là chuyện dễ như trở bàn tay rồi chứ? Thực tế, điều khó đối phó nhất chính là vẻ bề ngoài và trong lòng anh ta không thống nhất, đằng sau vẻ điềm nhiên, bình thản còn ẩn chứa một trái tim nhanh nhạy, cảnh giác từng giờ từng phút, hơn nữa vui buồn, yêu giận cũng không để lộ ra ngoài. Trước khi chuẩn bị hành động, anh ta đã sắp đặt kế hoạch tỉ mỉ, cặn kẽ từ lâu rồi. Ý chí kiên cường giúp anh ta bám chắc trận địa. Anh ta rất giảo hoạt, ngay cả khi bạn tưởng chừng đã nắm chặt được rồi, anh ta vẫn có thể tháo thân rút chạy. Khi anh ta đã quyết tâm làm chuyện gì dù trời có sập anh ta cũng chẳng bận lòng.

Người Trung Quốc cho rằng tuổi Tỵ sinh vào hai mùa xuân hạ là lợi hại nhất. Tuổi Tỵ sinh vào mùa đông thì hiền lành, điềm tĩnh. Vì mùa đông là thời kỳ Rắn ngủ. Người nào sinh vào lúc thời tiết đẹp thì vui nhộn, dễ thỏa mãn hơn ai sinh ra trong lúc trời xấu. Người tuổi Tỵ có thời niên thiếu và thanh niên khá êm đềm, mang bao mơ ước trong sáng bước vào đời và trưởng thành trong hoàn cảnh êm ả. Còn đến thời kì trung niên, rất nhiều phiền muộn không như ý dần dần xuất hiện, nhưng sẽ không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống bằng phẳng. Thế nhưng Tỵ phải đặc biệt chú ý đến tuổi già của mình. Vì bản tính vô cùng mẫn cảm, thêm vào đó còn ưa thích mạo hiểm, nên tuổi già của tuổi Tỵ gặp phải những trắc trở không cần thiết.

Người tuổi Tỵ đa tình, cặp mắt họ luôn ngầm sóng sánh làn thu ba. Nếu bạn cho rằng anh ta đang yêu thì hố to rồi. Do họ rất mẫn cảm trước bất cứ chuyện gì, nên khi khao khát hòan thành một vụ làm ăn lớn, mắt họ cũng nồng nàn như vậy, cứ như thể đó là mối tình đầu của họ vậy.

Người tuổi Tỵ thường sống rất sôi động, luôn luôn biến đổi và ngày đêm vắt óc suy nghĩ, tính tóan, đặc biệt là những ai thích nổi đình nổi đám, tranh quyền đoạt lợi. Trong cơn lao đao hay hoàn cảnh khó khăn, người tuổi Tỵ vẫn kiên cường, vững chắc, có thể lâm nguy mà chẳng hề run sợ, đương đầu với mọi thử thách cam go. Anh ta có tinh thần trách nhiệm cao. Mục tiêu rõ ràng. Một lí tưởng cao xa kết hợp với ưu thế bẩm sinh giúp anh ta đạt đến đỉnh cao của quyền lực.

Stress là một khó khăn lớn đối với vài con vật trong mười hai con giáp, bao gồm cả con Rắn. Người tuổi Tỵ dễ bị rơi vào căng thẳng khi cuộc sống của họ không theo đúng thứ tự. Họ thích một cuộc sống bình yên, họ chọn sự yên tĩnh chứ không chọn sự náo nhiệt và thích loại công việc dễ xử lý hơn là loại công việc bận rộn.

2. Tình yêu của người tuổi Tỵ

Rắn là người bạn chơi tốt nhưng rất nguy hiểm khi là kẻ thù. Những gì mà họ làm, họ đều cố gắng dành hết thời gian hoàn thành thật hiệu quả mà không cần sự giúp đỡ nào cả. Trong chuyện tình cảm, chắc chắn một điều Rắn luôn dành sự quan tâm và tình yêu sâu sắc dành cho người ấy. Nhưng phải thừa nhận một điều là Rắn rất ghen tuông và có tính sở hữu dù là một người yêu tuyệt vời. Dù tình cảm đã rạn nứt, không còn yêu đối phương, nhưng vẫn muốn chiếm hữu họ, vậy nên thường tạo ra nhiều rắc rối.

Những người tuổi Tỵ là người chịu trách nhiệm trong các mối quan hệ và họ sẽ là người quyết định xem có nên tiếp tục mối quan hệ đó hay không. Một khi đã lựa chọn được người bạn đời, họ sẽ không ngại công khai điều đó. Người bạn đời của họ sẽ giống như một phần thưởng mà họ giành được sau bao lâu mong ước, họ trở nên ghen tuông và thậm chí là bị ám ảnh khi họ bảo vệ người ấy. Quan trọng là không bao giờ được phản bội người tuổi Tỵ, vì một con rắn bị phản bội sẽ trả thù rất ghê gớm.

Nói chung nam giới tuổi Tỵ thường lãng mạn, hấp dẫn, có khiếu hài hước. Nữ giới tuổi Tỵ thường xinh đẹp, quyến rũ, luôn thành công trong sự nghiệp. Bất kể nam hay nữ, người tuổi Tỵ đều chú trọng ăn mặc và ngoại hình, có sức thu hút, song cũng tạo cho người ta một cảm giác hư vinh, phù phiếm.

Tuổi Tỵ rất giàu lòng trắc ẩn, thích giúp đỡ người khác nhưng ít khi giúp bằng tiền bạc. Đương nhiên, không kể đến những người họ thật lòng yêu mến, vì người tuổi Tỵ rất coi trọng tiền bạc.

Bất luận trong tình yêu hay cuộc sống gia đình, mọi chuyện của bạn đều suôn sẻ, hạnh phúc. Nhưng bạn nên chuẩn bị sẵn tâm lý để ứng phó với những bất trắc ngoài dự tính. Sau khi kết hôn, bề ngoài bạn tỏ vẻ yêu thương vô hạn nửa kia của mình, nhưng mặt khác bạn lại thường cảm thấy không hài lòng với tình trạng hôn nhân hiện nay, vì thế có lẽ sẽ tìm kiếm niềm an ủi ở bên ngoài. Hành động này dường như có thể thỏa mãn tâm trạng khó hiểu của bạn. Nhưng vẫn xin khuyên bạn một câu: Quay đầu là bờ! Nếu bạn đang yêu, cũng có thể sẽ chịu nhiều nỗi muộn phiền, trắc trở trong chuyện tình cảm. Nhưng đừng sợ, muốn tháo chuông phải tìm người buộc chuông, hết thảy đều do bạn và đối phương quyết định.

Nhìn bề ngoài, nữ giới tuổi Tỵ có số đào hoa rất cao. Nhưng trên thực tế, họ lại thường xuyên rơi vào tình cảnh đơn lẻ. Họ hay nhận được sự giúp đỡ của đồng nghiệp khác giới trong công việc. Những người này lại có tình cảm với họ. Lời khuyên cho những người phụ nữ tuổi Tỵ là nên mở rộng tấm lòng đón nhận tình cảm của người xung quanh. Nếu không, họ sẽ mất đi nhiều cơ hội để có được tình yêu đẹp. Sức hấp dẫn của người tuổi Tỵ thường ít thể hiện qua trang phục mà bằng ánh mắt và lời nói. Ánh mắt chăm chú, thân thiện của họ trong cuộc giao tiếp tạo ấn tượng mạnh cho người khác giới.

Nữ giới tuổi Tỵ hiền lương, thẳng thắn, trong sáng, thuần khiết, lễ phép. Tự đáy lòng, bạn luôn muốn có được một mối tình nồng nàn, lãng mạn; chưa bao giờ đòi hỏi người ta phải đền đáp gì cho bạn, có người tiếp nhận tình yêu của bạn, thế là đủ rồi. Tuy nom vẻ ngoài bạn rất vui tươi nhưng kì thực trong lòng bạn cũng chất chứa bao nỗi cô đơn, muộn phiền và cảm giác thất bại. Bạn hi vọng có thể tìm được người yêu thương suốt đời trong đám con trai quen biết, nhưng điều đó quả thực chẳng mấy dễ dàng. Có lúc bạn bỏ ra nhiều chỉ để đổi lại nỗi thất vọng sâu sắc. Trong cuộc sống gia đình, với chủ nghĩa “cái tôi” mạnh mẽ, có thể sắp xếp nhà cửa đâu ra đấy, bạn được chồng và người nhà nhất mực yêu mến. Bạn cũng có thể vì gia đình vứt bỏ tất cả, chỉ ở nhà giúp chồng dạy con, khi rảnh rỗi thì học cắm hoa, vẽ tranh, làm một người vợ hiền đảm đang.

Nam giới tuổi Tỵ thường hướng tới cuộc tình cháy bỏng, mãnh liệt. Vì vậy, trong suốt cuộc đời, bạn luôn được phái nữ vây quanh, là một mẫu phong lưu điển hình. Quan điểm tình yêu của bạn có tính công kích khá mạnh. Bạn rất biết cách biểu đạt tình ý bằng hành động, và giỏi nắm bắt tâm lí phái nữ, nói bạn là sát thủ tình trường cũng chẳng quá lời. Nhưng tuy biết hành động, song bạn không để lộ tâm sự, người khác không sao hiểu được nội tâm của bạn, nên bạn khó mà tìm được người yêu – một hồng nhan tri kỷ. Trong cuộc sống gia đình bạn có một quan điểm khá khắt khe, thường làm trụ cột gia đình và yêu cầu vợ và con cái phải tin tưởng, tôn trọng bạn. Nhưng bạn hay cảm thấy trống rỗng, biết rõ mình có lỗi song vẫn không xin lỗi người nhà. Hễ lời qua tiếng lại với vợ, bạn liền muốn ra ngoài tìm sự an ủi, vì vậy thường bị người nhà hiểu lầm.

Theo phong thủy, những vật dụng sau đây đem lại cho người tuổi Tỵ may mắn và tình yêu: hoa lan lưỡi rồng, quả nhót, đá ruby.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu B

Những người cầm tinh con rắn thuộc nhóm máu B luôn kiên trì với mục tiêu mà mình đã đề ra. Tình yêu với họ cũng không là ngoại lệ. Không ít người vì muốn nhanh chóng giành được tình cảm của người mình thương yêu mà trở nên thiếu tế nhị. Họ không biết rằng sự rung động của con tim bắt nguồn từ những cảm nhận rất tinh tế mà sâu lắng. Sự nhiệt tình của họ đôi khi lại trở nên phản tác dụng, khiến đối phương cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Tuy vụng về khi chinh phục tình yêu nhưng khá nhiều người trong số họ biết cách giữ người yêu. Lòng chung thủy là mong ước và cũng là đòi hỏi lớn nhất đối với người bạn đời của họ. Nó bắt nguồn từ mong muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng cũng một phần từ tính cách hay ghen của họ. Những mối quan hệ giao tiếp với người khác giới của chồng hay vợ mình luôn khiến người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu B không thoải mái, thậm chí họ trở nên cáu gắt. Tuy nhiên, không khí đầm ấm của gia đình sẽ nhanh chóng được tạo dựng trở lại bởi lẽ họ là những người rất yêu gia đình. Nữ giới tuổi Tỵ thuộc nhóm máu này nên chọn bạn đời là những người vui vẻ, chín chắn và bao dung. Nam giới rất hợp với những phụ nữ hiền thục, dịu dàng. Đó sẽ vừa là người vợ đảm vừa là người bạn tốt, giúp ích rất nhiều cho chồng trong công việc, sự nghiệp.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu A

Kiên trì theo đuổi mục tiêu là tính cách nổi bật của người tuổi Tỵ nhóm máu A. Thành công trong công việc và sự nghiệp của họ cũng bắt nguồn từ tính cách đó. Trong tình yêu, điều này cũng được thể hiện một cách rõ ràng. Tuy nhiên với họ, con đường tình không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Với vẻ ngoài hấp dẫn, họ thường tạo được ấn tượng tốt đối với người khác giới. Đây có thể là lợi thế nhưng cũng có khi gây cho họ khá nhiều rắc rối trong chuyện tình cảm, tình yêu. Mặc dù đã có ý trung nhân nhưng trước tình cảm của nhiều đối tượng khác nhau, không ít người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu A trở nên lúng túng hoặc con tim trở nên xao xuyến, lỗi nhịp. Tuy nhiên cuối cùng, họ cũng cân bằng được tình cảm của mình và hướng đến cuộc sống hôn nhân.Với người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu A, cuộc sống gia đình là tất cả. Họ luôn cảm thấy hạnh phúc khi được ở bên người bạn đời của mình và luôn vui sướng khi ngắm nhìn những đứa con tươi cười, đùa giỡn trong ngôi nhà ấm cúng.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu AB

Người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu AB thường có vẻ ngoài ưa nhìn cùng sự thông minh nên họ thu hút được sự chú ý của nhiều người khác giới. Trong công việc hay trong cuộc sống, để tạo dựng các mối quan hệ họ luôn dành thời gian để tìm hiểu kỹ. Trong tình yêu, sự thận trọng lại càng thể hiện rõ hơn. Những phút xao xuyến hay những ánh nhìn đầu tiên không đủ để tạo dựng tình yêu. Tuy nhiên điều đáng tiếc là không ít người trong số họ do quan niệm của bản thân đã không nhận thấy được giá trị đích thực của mái ấm gia đình. Với họ, đó có thể chỉ là sự gò bó với những phiền phức và khoảng trời riêng mà họ luôn ao ước là không có được. Chính vì không đặt nhiều kỳ vọng vào hôn nhân nên họ ít khi thực tâm muốn tạo dựng cuộc sống gia đình.Với một số người, có khi là tiếng chuông của tuổi tác, có khi là sức ép từ người thân hay cha mẹ mà họ bằng lòng bước vào khoảng trời thiếu tự do. Chính vì quan niệm sống như thế nên họ rất cần ở người bạn đời của mình tình yêu chân thành cùng nhiệt huyết xây dựng mái ấm gia đình. Sự hài hước và lòng cảm thông cũng là điều không thể thiếu.

Tình yêu của người tuổi Tỵ nhóm máu O

Với người tuổi Tỵ thuộc nhóm máu O, tình yêu là sự cố gắng không mệt mỏi. Họ có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách để chinh phục người mình yêu thương. Họ yêu bằng cả trái tim và cũng không ít người đã vô tình biến tình yêu thành sự chiếm hữu. Những giận hờn giúp hai người hiểu rõ tình cảm của nhau hơn nhưng đôi khi sự ghen tuông quá mức khiến mối quan hệ tình cảm trở nên căng thẳng. Tình yêu của họ có thể đứng trước nguy cơ tan vỡ nếu không biết cách tạo sự cảm thông và hòa hợp. Cuộc sống hôn nhân của người tuổi Tỵ nhóm máu O thường rất hạnh phúc bởi họ biết dành tâm sức chăm lo cho mái ấm gia đình. Do luôn dành tình cảm lớn cho người bạn đời của mình nên nền tảng để duy trì hạnh phúc lứa đôi của người tuổi Tỵ nhóm máu O là sự chung thủy tuyệt đối. Với họ, tình yêu không có sự lạc bước và cũng không có sự thứ tha sai lầm.

3. Sự nghiệp của người tuổi Tỵ

Người tuổi Tỵ thường có phong cách làm việc rất độc đáo. Họ kiên định với kế hoạch đã đề ra, luôn cố gắng hoàn thành tốt chúng và ít khi quan tâm đến những lời đàm tiếu bên ngoài. Sự nhạy cảm và cá tính độc lập đó cũng khiến họ bị bỏ qua không ít lời khuyên bổ ích của những người xung quanh trong việc lựa chọn ngành nghề.

Người tuổi Tỵ phù hợp với công việc cần sự tập trung tinh thần. Họ ghét làm những việc nặng nề, thô kệch, những công việc lặp đi lặp lại một cách cứng nhắc. Nhìn chung họ dễ đạt được danh lợi, nhưng nếu để có được sự nổi tiếng thì họ sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, vất vả. Lời khuyên dành cho người tuổi Tỵ là nên chọn lựa những ngành nghề như chính trị, giáo viên, nhà tâm lý học. Nếu thử sức ở lĩnh vực kinh doanh thì họ cũng sẽ trở nên thành công và giàu có.

Người tuổi Tỵ có thái độ thụ động khiến họ dễ bị lầm tưởng là kẻ lười nhác, nhưng sự thật không phải vậy. Những người sinh năm Tỵ rất giàu tính sáng tạo và làm việc chăm chỉ vô cùng. Họ đặc biệt giỏi về giải quyết vấn đề và tự hạn định thời gian cho mình rất chặt chẽ.

Người tuổi Tỵ thường giải quyết sự việc theo trực giác. Dường như trong Rắn có một chút xảo quyệt. Họ ngấm ngầm làm việc, và khi gần đến phút cuối, họ mới giở ra lá bài cuối cùng. Đây là những người rất tâm lý, sáng suốt, họ có thể nhìn thấu tâm hồn bạn. Ngoài ra, họ còn có khả năng thu thập thông tin, nắm bắt một cách vững vàng, hiểu thấu suốt về nhiều vấn đề.

Về mặt vận tài, quả thực bạn khá tốt số, nói chung, bạn hay gặp may, có quí nhân phù trợ, thường được nhiều tài lộc bất ngờ. Tuy nhiên, thu nhập của bạn không phải nhờ vào sức của bản thân hay tri thức phong phú mà chỉ do vận may thôi. Nhưng vận may như vậy không phải lúc nào cũng đến. Nếu không nắm chắc thời cơ, thì là có lỗi với bản thân. Thông thường, nguồn tiền tài của bạn không phải do kết quả vất vả kinh doanh mà là nhờ vào một số lần đầu tư mang tính chất đầu cơ. Bạn chẳng bao giờ rầu rĩ về chuyện tranh giành tiền bạc, dường như bạn luôn có vận may trời ban về tài lộc.

Từ nhỏ bạn đã hình thành thói quen xa xỉ, bạn chẳng thèm liếc mắt tới những vật phẩm “đại hạ giá” ngoài đường phố, vì bạn cho rằng, loại hàng xa xỉ đắt tiền mới đủ tư cách biểu hiện giá trị bản thân bạn. Muốn xây dựng cơ sở kinh tế ổn định, cách đáng tin duy nhất là tiết kiệm chi tiêu, và đầu tư tiền bạc vào những hạng mục có lợi.

4. Vận mệnh người tuổi Tỵ với tháng sinh

Sinh tháng giêng

Tiết Đầu xuân, dương khí sa vượng, sinh sôi nảy nở, nhiều cơ hội phát triển, nhưng phải qua khó khăn vất vả và sương gió, khó tránh hơi váng vất, mỏi mệt, tâm sự rối như tơ vò, muốn một bước lên đến tận trời nhưng thời cơ chưa đến.

Sinh tháng hai

Tiết Kinh trập, giật mình tỉnh giấc mơ màng u mê, tính tình nhu nhược, ý chí không cao, mưu việc khó thành, thanh cao cũng là hàn nho, ít lộc, có được phúc thì phải qua nhiều gập ghềnh, trắc trở vòng vèo.

Sinh tháng ba

Tiết Thanh minh, thông minh giỏi giang, là người chí cao liên khoa cập đệ, nhất cả thành danh, vì dân vì nước, danh vọng bốn phương, lộc khắp tứ hải, có thể thành sự đại nghiệp, vất vả thì nhiều công lao, tinh thần hăng say, vui vẻ, mưu sự đều toại nguyện, phúc lành không ai bằng.

Sinh tháng tư

Tiết Lập hạ, tôi thần phù trợ quân vương, tướng hộ giá, binh lực dồi dào, uy danh vang bốn phương, nho nhã, đôn hậu, bản tính thông minh, địa vị quyền quí cao sang, có chí lớn, tài cao, nghĩa hiệp can trường, mọi người kính trọng, hưởng phúc trời ban, tinh thông kỹ nghệ, thuận buồm xuôi gió, có chí lớn ắt thành đại sự.

Sinh tháng năm

Tiết Mang chủng, đảm lược, mưu trí hơn người, có thể khắc phục mọi hoạn nạn, công danh lợi lộc hiển đạt, nhìn xa trông rộng, biết đoán thời thế, có trí tuệ tài năng đầu óc của kẻ triết luận. Một đời bình an, cốt cách cao sang, phúc lộc dài lâu, vận thế hưng thịnh, tiến thoái như ý, tốt lành hơn người.

Sinh tháng sáu

Tiết Tiểu thử, vạn sự như ý, có phúc trời ban, sẽ có ngày thành công, hợp mưu cùng làm, tương trợ lẫn nhau, vợ chồng vinh đạt, con cháu hiển quí, tài đức kiêm toàn, quyền thế cao sang, nhiệt thành trung hậu, hiền từ đức độ, biết phát huy tài năng, cát tường tột đỉnh, danh tiếng cao quí, thông minh, giỏi giang, kiện toàn mà có đức vọng, danh lợi vẹn cả đôi đường.

Sinh tháng bảy

Tiết Lập thu, an hưởng lộc trời, tiêu dao tự tại, dựng quốc ắt thành, lập nghiệp tất được, thỏa chí, vạn sự như ý, trí dũng song toàn, văn võ tinh thông, thi cử đỗ đạt, mẫn tiệp thông minh hơn người, kinh doanh có lộc, tài lợi dồi dào, tính tình ôn hòa, đức độ, cao thượng, công thành danh toại, người người ngưỡng mộ, có số xuất ngoại, tay trắng gây dựng tất cả.

Sinh tháng tám

Tiết Bạch lộ, trung hậu cương trực, tính tình hòa đồng, được người thân vị nể, xóm giềng quí mến, anh em bạn hữu kính trọng, tiếng tăm lẫy lừng, mỹ đức mỹ thiện, nức lòng tổ tông, nhẫn nại ôn hòa, nhã nhặn đôn hậu, có tài năng, xây dựng cơ nghiệp, giá thuộc hữu duyên, sự nghiệp thuận lợi, hưởng phúc tự nhiên.

Sinh tháng chín

Tiết Hàn lộ, trí lực không đủ, ăn cây nào rào cây nấy, kịp thời thu hoạch thành quả canh tác của mình, dĩ hòa vi quí, mong điều bình an, khắc có ngày thành công, áo gấm vinh qui.

Sinh tháng mười

Tiết Lập đông, xương cứng da thô, phu thê hiền minh, sức khỏe không đủ, hoạt động bất tiện, có chí cao, thích giúp đỡ người, giỏi giao tiếp, ít tiền tài.

Sinh tháng mười một

Tiết Đại tuyết, khắp nơi băng tuyết phủ dày, ra vào không có đường, thiếu ăn thiếu mặc, mọi việc trắc trở, “bần cư trung thị vô nhân vấn,” thanh nhàn đạm bạc, tự tại an nhiên cũng là điều quí vậy.

Sinh tháng mười hai

Tiết Tiểu hàn, băng phủ giá lạnh, tuyết lất phất rơi, không thể ra khỏi hang, càng ít cơ hội xuất đầu lộ diện, rời xa trần thế, tu được hữu công, áo không đủ che thân, bữa no bữa đói, hoạn nạn trắc trở, vạn sự khó phát đạt, có người cứu giúp. Tuy vất vả buồn phiền, song về già được hạnh phúc.

5. Vận mệnh của người tuổi Tỵ

Sinh năm Kỷ Tỵ: Rắn phúc khí (thuộc mệnh Mộc trong ngũ hành)

Nhiệt tình, hào phóng và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người là điểm riêng của họ so với người tuổi Tỵ thuộc các mệnh khác. Đa số họ thường có vẻ ngoài ưa nhìn, dễ tạo được thiện cảm với người xung quanh. Đây cũng là người khá hoạt bát, năng động. Tuy nhiên, có khi họ tỏ ra nóng vội, dễ dẫn đến bất lợi trong công việc. Là người tuổi Tỵ, họ không tránh khỏi tính cách đa nghi cũng như luôn đặt ra những yêu cầu cao đối với người khác. Ngoài ra, họ cũng có khát vọng lớn về tiền bạc, danh tiếng và quyền lực. Giống người tuổi Tỵ mệnh Thủy, họ luôn kiên trì với mục tiêu đã lựa chọn. Một số người có tính cách bảo thủ, ít chịu lắng nghe mà chỉ thường áp dụng các nguyên tắc, phương thức hành động của bản thân vào việc đánh giá, phê bình người khác. Chính vì điều đó nên họ đã vô tình tự cô lập bản thân. So với nam giới, nữ giới tuổi Tỵ mệnh Mộc thường dễ phát tài, có thể giúp đỡ chồng con về cả sự nghiệp và cuộc sống.

Sinh năm Tân Tỵ: Rắn tránh đông ( thuộc mệnh kim trong ngũ hành)

Đây là người mưu lược, biết cách tùy cơ ứng biến, có chí khí hơn người. Cuộc đời họ không phải lo lắng nhiều đến việc mưu sinh. Họ cũng thường được quý nhân phù trợ nên ở vào tuổi trung niên dễ có sự thay đổi lớn lao trong cuộc đời, về già thường phát tài phát lộc và sống thọ. Họ thường thông minh, lanh lợi nên rất biết cách nhìn nhận đánh giá sự vật, sự việc và con người nên có thể đảm nhận tốt vai trò của một vị quân sư trong tập thể. Mọi người thường cho rằng họ túc trí đa mưu, bởi trong khi tất cả vẫn chưa rõ ràng thì họ đã đạt được những thành công nhất định. Những người thường xuyên tiếp xúc với Người tuổi Tỵ mệnh Kim đều cho rằng, họ là người có tấm lòng bao dung, rộng mở và nhân ái. Họ không phải là người thích nói nhiều và chỉ thích hành động 1 mình. Cách làm này của họ có thể mang lại cả điều lợi cũng như những điểm bất lợi, đặc biệt là việc chiếm được lòng tin và sự ủng hộ của bạn bè, đồng nghiệp.

Sinh năm Quý Tỵ: Rắn trong cỏ (thuộc mệnh Thủy trong ngũ hành)

Đây là người có tính cách mạnh mẽ, có năng lực quản lý tài chính. Sự thông minh, lanh lợi cùng tính kiên trì giúp họ luôn giữ vững mục tiêu trong công việc và cuộc sống. Với tầm nhìn xa trông rộng, họ biết gạt bỏ lợi ích trước mắt để hướng tới lợi ích lâu dài. Đa số Người tuổi Tỵ mệnh Thủy sống rất thực tế. Đôi khi, khát khao theo đuổi lợi ích vô cùng mãnh liệt ở họ khiến những người xung quanh có cảm giác sợ hãi. Bề ngoài, có khi họ tỏ ra thờ ơ với mọi việc nhưng thực tế thì ngược lại, họ luôn quan sát, nắm bắt mọi việc một cách tỉ mỉ. Người tuổi Tỵ mệnh Thủy có cuộc sống khá sung túc nhờ cách chi tiêu hợp lý và biết tích lũy tiền bạc. Đến tuổi trung niên, một số người có thể gặp khó khăn, tuy nhiên không phải là họ không đạt được những thành công đáng kể trong sự nghiệp. Nữ giới tuổi Tỵ mệnh Thủy khi về già thường được an nhàn, hạnh phúc.

Sinh năm Ất Tỵ: Rắn xuất hang (thuộc mệnh Hỏa trong ngũ hành)

Họ ham mê quyền lực và danh vọng, thường thích kết thân, gần gũi với người quyền cao chức trọng. Khả năng chịu đựng gian khổ bền bỉ, kiên cường giúp họ có được những thành công nhất định trong sự nghiệp. Khác với người mệnh Hỏa thuộc sinh tiêu khác, người tuổi Tỵ mệnh Hỏa không bao giờ nóng vội mà luôn bình tĩnh và khách quan khi nhìn nhận, giải quyết công việc. Giống người tuổi Tỵ mệnh Thủy, họ là người khá tiết kiệm. Việc chi tiêu của họ luôn được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng. Đối với công việc, họ cũng thường tính toán rất kỹ, từ chi tiết đến toàn cục, từ cái lợi trước mắt đến cái lợi lâu dài. Chính vì thế họ có cơ hội thành công trong ngành tài chính hoặc bất động sản. Nữ giới tuổi Tỵ mệnh Hỏa thường có vẻ ngoài khá xinh đẹp. Họ có cuộc sống gia đình hạnh phúc và thường không phải bận tâm nhiều về vấn đề kinh tế.

Sinh năm Đinh Tỵ: Rắn trong đầm (thuộc mệnh Thổ trong ngũ hành)

Họ thông minh, lanh lợi và có khả năng lập nên nhiều thành tựu sự nghiệp. Trong tình yêu, người này rất nhiệt tình và sâu sắc, đặc biệt là rất có sức hấp dẫn với người khác giới. Đời sống hôn nhân của họ khá thuận lợi. Nữ giới thường sống thân thiện, hòa đồng với mọi người và không phải lo lắng nhiều về chuyện kinh tế gia đình. Nam giới thì rất tài giỏi, mưu lược hơn người, năng động và cũng khá mẫn cảm. Đa số người tuổi Tỵ mệnh Thổ có khả năng dự cảm rất tốt. Họ cần có một không gian hoàn toàn tự do, riêng tư để suy ngẫm và cũng biết cách tốt nhất để biểu đạt suy nghĩ của mình. Họ thường rất nhạy cảm với thông tin và cũng có khả năng phán đoán tốt. Nếu có cơ hội, họ sẽ trở thành những nhà giám sát hoặc nhà đầu tư tài ba. Họ luôn mong muốn được người khác khen ngợi. Có thể nói, lời khen đối với họ giống như 1 động cơ, khích lệ họ tiến lên không ngừng và thể hiện mình ngày càng tốt hơn.

6. Tương hợp và xung khắc giữa người tuổi Tỵ và các tuổi khác

Tuổi Tỵ và Tuổi Tý

Chuột nhanh chán Rắn vì chậm chạp và thiếu hoài bão, bởi trên thực tế Chuột nhanh nhẹn và sắc sảo hơn. Ngược lại, tuổi Rắn sẽ không hài lòng lắm với tuổi Chuột quá khôn ngoan và theo suy nghĩ của Rắn, Chuột thường tự cho mình là suy nghĩ sâu sắc hơn người.

Mặc dù vậy, hai tuổi này vẫn có thể là một đôi uyên ương khá hợp nhau. Họ thực sự có sức hút và biết cách làm người kia say mê. Tuổi Rắn hút hồn tuổi Chuột thông minh nhanh nhẹn bằng sự đằm thắm và trí tuệ. Còn Chuột luôn biết cách để bảo vệ Rắn. Thường thường, tuổi Rắn có máu hoạn thư hoặc có tư tưởng sở hữu với người mình yêu. Mặc dù vậy, cặp đôi này vẫn như hình với bóng và khá chung thủy với nhau.

Khi là đối tác kinh doanh, họ cũng rất “hợp cạ”. Họ chỉ có vấn đề khi Rắn muốn đảo ngược vị trí, đó là muốn mình trở thành trung tâm của sự chú ý. Rắn rất nhanh chán những người không có năng lực và làm việc kém hiệu quả nhưng Chuột không phải là mẫu người này. Tuổi Tị đánh giá rất cao sự thông minh và năng lực của tuổi Tí. Còn tuổi Tí lại có cách giải quyết vấn đề rất tuyệt và luôn giữ vai trò trụ cột khi làm ăn với tuổi Tị. Vì vậy, hai “hành tinh” này sẽ cùng kết hợp để xây dựng một tập thể khá vững mạnh.

Tuổi Tỵ và Tuổi Sửu

Tuổi Trâu và tuổi Rắn có nhiều điểm chung hơn là sự khác biệt: Cả hai đều chăm chỉ, sâu sắc và coi trọng chất lượng hơn số lượng và vẻ hào nhoáng bề ngoài. Hai “hành tinh” này đều đặt gia đình ở ví trí hết sức quan trọng. Họ coi ngôi nhà của mình là nơi bình yên và thoải mái nhất sau những giờ phút mệt mỏi và thăng trầm trong cuộc sống. Người ngoài cuộc có thể coi đây là cặp đôi nhút nhát và có phần nhạt nhòa trong cuộc sống sôi động nhưng thực chất, bên trong con người của họ vẫn cháy lên sự nhiệt huyết, đam mê công việc trong đời sống thường ngày.

Khi là một cặp uyên ương, hai con giáp này thực sự rất “hút” nhau. Vẻ quyến rũ của tuổi Rắn sẽ kéo tuổi Trâu ra khỏi vỏ ốc thường ngày để năng động hơn và hấp dẫn dẫn hơn. Tuy vậy, người cầm tinh con Rắn rất mực khâm phục tấm lòng luôn hướng về gia đình của tuổi Trâu. Tuổi Trâu “kết” tuổi Rắn bởi sự thông thái và tư duy tốt. Trên thực tế, hai con giáp này luôn học hỏi và bổ sung cho nhau để không khí luôn hài hòa. Mỗi người có cách tiếp cận riêng nhưng quan trọng là họ biết người kia cần gì. Tuổi Sửu sẽ biết cách xoa dịu tính hay ghen và sở hữu của người yêu. Sống với tuổi Sửu đáng tin cậy, tuổi Tị chẳng có lý do gì mà cảm thấy mất an toàn hay đáng nghi ngờ.

Nếu là đối tác kinh doanh, Sửu và Tị khá “hợp cạ”. Phương pháp tiếp cận vấn đề hết sức thực tế và thận trọng của tuổi Sửu sẽ bổ sung cho tuổi Tị ở chỗ: Tị thường nhanh chóng và khá trực giác khi đưa ra quyết định. Rắn khá thông thái và linh hoạt trong chuyện kiếm tiền. Bên cạnh đó, Rắn còn khéo giao tiếp và khá nổi bật trong công việc. Điều này chính là niềm mong đợi của Trâu vì tuổi này thường hợp với vị trí hậu phương hơn.

Tuổi Tỵ và Tuổi Dần

Không cùng chung lý tưởng, vì cả hai đều không có một điểm chung nào. Bạn khó có thể sống hạnh phúc nếu đã không hòa hợp. Sẽ là một cuộc tình bi đát, thế nên hãy tìm kiếm một đối tượng khác. Dần dũng cảm, thích tự do, suy nghĩ thoáng và đặc biệt rất thích làm theo ý mình. Vốn có năng khiếu lãnh đạo bẩm sinh, tuổi Dần có năng lực và cơ thể luôn dồi dào năng lượng. So với Dần, Tỵ có phần nhẹ nhàng hơn. Nhưng vấn đề là ở chỗ, cả hai đều muốn hút người khác và làm theo những điều mình thích. Vì vậy, dần dần, họ rất khó tìm thấy điểm chung.

Hai “hành tinh” này nếu là đối tác kinh doanh thì tốt hơn là một cặp yêu nhau. Bởi sẽ có rất nhiều lý do tiềm ẩn để cặp đôi này nảy sinh mâu thuẫn. Rắn có tính sở hữu và rất hay ghen trong tình yêu. Rắn cần một bờ vai để dựa khi thấy buồn hoặc thích người yêu mình đưa đi đây đi đó. Tất cả những điểm trên đều rất khó tìm thấy trong con người Hổ bởi Hổ vốn là người thích tự do và thích làm theo cách riêng của mình.

Tuy vậy, họ lại cùng nhau làm ăn khá tốt. Tuổi Rắn vốn rất may mắn trong chuyện kiếm tiền nhờ khả năng đối ngoại và giao tiếp tốt. Bên cạnh đó, tuổi Hổ dũng cảm và tính tình khá thoáng sẽ biết cách để thúc đẩy sự nghiệp kinh doanh phát triển mạnh mẽ. Vậy nhưng vấn đề mấu chốt là hai con giáp này cần hiểu và hỗ trợ cho nhau.

Tuổi Tỵ và Tuổi Mão

Nếu Mão và Tỵ yêu nhau, mối quan hệ của họ sẽ gắn bó nếu cả hai biết cách cùng nhau xây dựng, biết nhún nhường đúng lúc. Mão và Tỵ có cách tiếp cận cuộc sống khác nhau, quan điểm cũng khá khác biệt nhưng họ vẫn có thể cùng nhau xây dựng một mối quan hệ khá thân thiết. Về mặt xã hội, hai con giáp này có nhiều điểm đối lập: Trong khi Mão nhút nhát, thích tận hưởng cảm giác ở nhà với người thân hoặc bạn bè thì Tỵ lại rất sôi nổi trước đám đông. Vẻ thông minh, hóm hỉnh và tài ăn nói khiến Tỵ thường xuyên nổi bật. Tuy nhiên, cả hai hành tinh này đều ứng xử theo trực giác hơn là lý trí. Bởi vậy, ở một chừng mực nào đó, họ có thể giao tiếp và kết hợp được với nhau, ít nhất là tại những thời điểm ban đầu.

Nếu Mão và Tỵ yêu nhau, mối quan hệ của họ sẽ gắn bó nếu cả hai biết cách cùng nhau xây dựng, biết nhún nhường đúng lúc. Mão với người ngoài hơi nhút nhát nhưng khi mối quan hệ của hai người thân thiết, Mão sẽ trở nên mạnh dạn hơn. Tuy vậy, mối quan hệ giữa Mão và Tỵ có thể xảy ra mâu thuẫn bởi Mão rất cần sự hỗ trợ từ người thân, đặc biệt là người mình yêu thương để cảm thấy tâm lý luôn bình an. Trong khi đó, tuổi Tỵ lại thấy rất khó khăn để mang lại sự bình yên và an toàn cho tuổi Mão bởi chính Tỵ cũng có những nỗi bất an riêng. Đó là vì Tỵ hay ghen và có tính sở hữu. Bởi vậy, cả hai cùng phải lựa nhau và cùng đảm nhiệm tốt nhiệm vụ của mình thì mối quan hệ của họ mới lâu bền được.

Khi là đối tác kinh doanh, hai con giáp này sẽ kết hợp rất tốt với nhau. Tỵ sẽ đóng vai trò làm người lãnh đạo. Bên cạnh đó, Tỵ nhờ giao tiếp tốt sẽ chịu trách nhiệm về ngoại giao và khách hàng. Trong khi đó, Mão sẽ lo chuyện hậu phương trong tập thể của hai người, đồng thời đảm nhiệm các việc liên quan đến tài chính.

Tuổi Tỵ và Tuổi Thìn

Thìn và Tỵ có thể trở thành một cặp ăn ý nếu người này biết được thói quen và động lực của người kia. Hai hành tinh này đều sexy và cuốn hút nhưng theo cách khác nhau. Tuổi Thìn thường nổi bật trước đám đông và giàu năng lượng hơn tuổi Tỵ. Cách tiếp cận của hai con giáp này với cuộc sống khá khác nhau nhưng không hoàn toàn là trái ngược hẳn nhau. Người cầm tinh con Rắn thường dựa vào trực giác hơn là các hiện tượng khách quan để đánh giá sự vật hiện tượng. Còn người cầm tinh con Rồng thường dựa nhiều vào may mắn và biết cách tận dụng lợi thế và cơ hội.

Khi yêu nhau, hai tuổi này sẽ tạo cho nhau lực hút rất lớn. Họ đều là những người khá thông minh và biết cách mang lại niềm vui cho nhau. Tuy nhiên, thỉnh thoảng giữa họ vẫn xảy ra mâu thuẫn. Tuổi Thìn thích đi đó đi đây, trong khi đó tuổi Tỵ thường lười đi và tự thỏa mãn với những gì mình có. Những câu hỏi mà tuổi Tỵ thường đặt ra là: Ở đây thật thoải mái, đi chơi chỗ khác làm gì? Điều này sẽ ăn mòn sự kiên nhẫn của tuổi Thìn. Bên cạnh đó, trong tình yêu, tuổi Rắn thường hay ghen và có tính sở hữu. Bởi vậy, cả hai tuổi đều cần kiên nhẫn và hiểu nhau hơn để đảm bảo mối quan hệ của họ luôn bền vững.

Nếu là đối tác kinh doanh, Thìn và Tỵ rất hợp nhau. Tuổi Tỵ sẽ là người tổ chức, lập kế hoạch và khá may mắn trong chuyện tiền bạc. Trong khi đó tuổi Thìn là người thích hợp nhất để biến những kế hoạch của tuổi Tỵ thành hiện thực. Bởi vậy, tổ chức mà hai tuổi này cùng tham gia sẽ làm ăn rất hiệu quả.

Tuổi Tỵ và Tuổi Tỵ

Hai người tuổi Tị có mối quan hệ khá mật thiết với nhau bởi họ có nhiều điểm chung. Người tuổi Tị thường hay lo lắng và thấy bất ổn, bởi vậy sự ổn định và tin tưởng lẫn nhau là hết sức quan trọng với con giáp này. Dù quan hệ của họ thân thiết hay chỉ dừng ở mức xã giao thì họ luôn vui vẻ và hài hước khi gặp nhau. Hai người tuổi Tị sẽ hấp dẫn nhau ngay từ thời điểm đầu, mặc dù có đôi lúc họ cạnh tranh nhau để giành vị trí trung tâm của sự chú ý.

Nếu là một cặp uyên ương, hai người tuổi Tị sẽ rất gắn bó. Họ biết cách tạo sức hút để luôn gợi cảm trong con mắt của nhau. Nếu hai người cùng con giáp này sống chung, ngôi nhà của họ sẽ rất thoải mái nhưng ít tiếng ồn, bởi cả hai đều sống có phần khép mình. Người tuổi Rắn hay ghen và có tính sở hữu trong tình yêu nhưng họ kết hợp với nhau lại không có sự mâu thuẫn. Người cầm tinh con Rắn trung thực và đáng tin, bởi vậy cả hai chẳng tìm ra lý do gì để nghi ngờ lẫn nhau.

Khi hai người tuổi Tị kết hợp cùng làm ăn với nhau, họ sẽ cùng tỏa sáng. Họ khá may mắn với chuyện tài chính và trực giác của họ khá phù hợp với công việc kinh doanh. Họ chỉ tin vào những điều có tính logic để chỉ ra hướng đi đúng. Bên cạnh đó, người tuổi Rắn khá thận trọng và sẽ không mạo hiểm với những tình huống không chắc chắn. Tuổi Tị khá năng động trong các cuộc họp và các cuộc gặp gỡ đối tác, bởi vậy, công việc kinh doanh của họ có chiều hướng phát triển. Vấn đề xảy ra khi một trong hai người tuổi Tị muốn cạnh tranh để trở thành sự trung tâm của sự chú ý. Do đó, cả hai cùng phải học cách tạo ra một mối quan hệ hài hòa, không có chiến tranh.

Tuổi Tỵ và Tuổi Ngọ

Theo con giáp thì hai tuổi này không hợp nhau, bởi tính cách họ khá khác biệt. Nếu như tuổi Ngựa lúc nào cũng tràn trề sinh lực, lúc nào cũng sẵn sàng cho mọi cuộc vui thì tuổi Tị lại có sức ì khá cao và là người hướng nội.

Nếu yêu nhau, đôi uyên ương có thể cãi cọ hàng ngày. Ban đầu, bởi tuổi Rắn khá cuốn hút và gợi cảm, nên tuổi Ngựa rất dễ bập vào. Nhưng sức hút của tuổi Rắn chỉ nằm ở ngoại hình, và nếu không có “chiêu” mới, thì tuổi Ngựa rất dễ chán và đi tìm “đồng cỏ” khác. Tệ hơn, tuổi Rắn có xu hướng thích chiếm hữu khi yêu, mà điều này là tối kỵ với người tuổi Ngựa.

Nếu hợp tác làm ăn, đôi bạn này có thể sẽ không cặp với nhau lâu dài. Tuổi Ngựa cả thèm chóng chán, bất kể ai thân thiết cũng có thể nhận thấy rõ điều này ở họ. Họ sẽ lao phăm phăm vào công việc khi mọi thứ còn mới mẻ, nhưng đừng chờ đợi sự hào hứng đó trong khoảng thời gian dài. Rõ ràng, tuổi Ngựa sẽ thấy tuổi Rắn có phần nhạt nhẽo vô vị, trong khi tuổi Tị bực mình vì sự thờ ơ, thiếu tập trung của Ngựa.

Tuổi Tỵ và Tuổi Mùi

Cả hai con giáp này đều cần giao tiếp với những người năng động hơn để cho cuộc sống thêm sôi động và có ý nghĩa. Tị có vẻ như năng động hơn Mùi, có sức hút, được nhiều người biết đến hơn Mùi. Tuy nhiên, về cơ bản, Tị sống khá khép mình và cũng thích nghỉ ngơi. Trong suy nghĩ, Mùi năng động và có nhiều suy nghĩ tiến bộ và sáng tạo nhưng Mùi lại cần không gian tĩnh lặng để giữ cân bằng về mặt tình cảm trong cuộc sống thường ngày.

Có thể nói, trong tất cả các mối quan hệ giữa hai “hành tinh” này thì họ kết hợp ăn ý nhất trong tình yêu. Tâm hồn họ gặp nhau ở chỗ, họ cùng rất nhạy cảm. Người cầm tinh con Rắn rất duyên dáng, gợi cảm và hấp dẫn. Con giáp này có thể tạo sức hút với rất nhiều đối tượng. Khi yêu, Rắn có tính sở hữu vì đôi khi họ cảm thấy bất an. Mùi ngại những cuộc khẩu chiến nên thường chiều Tị. Bên cạnh đó, họ hợp nhau ở chỗ: Mùi thích được người yêu đánh giá cao và tôn trọng. Bởi vậy, tính hay ghen và sở hữu của Tị lại làm Mùi thấy vui vì Mùi nghĩ rằng đó là cách thể hiện tình yêu nồng nàn của Tị. Nếu hai con giáp này sống chung trong một ngôi nhà, họ sẽ trang trí tổ ấm của mình rất đẹp, đặc biệt là nơi để đọc sách.

Khi là đối tác làm ăn, Tị và Mùi sẽ tạo thành một đế chế khá vững mạnh và có nhiều ý tưởng sáng tạo, với điều kiện: Khi họ có chung mục tiêu. Tị rất nhiệt tình trong công việc mà mình tin tưởng và Mùi rất tuyệt vời trong việc xây dựng các ý tưởng. Tị sẽ người ở ngoài “chiến tuyến” để mở rộng khách hàng và góp mặt trong các cuộc họp. Tuy nhiên, Mùi cũng thích đứng ở vị trí lãnh đạo. Bởi vậy, nếu tình huống này xảy ra, cả hai con giáp này sẽ rất vất vả khi cùng làm ăn.

Tuổi Tỵ và Tuổi Thân

Tị và Thân có rất nhiều những điểm trái ngược nhau hoặc những điểm chung không hề bổ sung cho nhau. Họ đều thích có nhiều thời gian vui chơi. Cả hai đều duyên dáng và khá nổi bật trước đám đông. Tuy nhiên, tuổi Tị có phần sống khép mình hơn tuổi Thân. Tị muốn dành nhiều thời gian ở nhà và đọc ngấu nghiến một quyển sách hay ho nào đó. Tuổi Thân thì lúc nào cũng muốn vui chơi, chạy theo hoài bão và ước mơ của mình.

Nếu là một cặp đôi, Tị và Thân sẽ có nhiều thời gian vui vẻ bên nhau cùng với bạn bè. Về thể xác, hai con giáp này cũng rất hấp dẫn nhau. Tuy nhiên, bản chất của người tuổi Tị là rất hay ghen và có tính sở hữu trong tình yêu. Bởi vậy, Thân sẽ rất khó để không để cho Tị có lý do “gây chuyện”. Thân vốn là con giáp khá chung tình và khó có thể trở thành kẻ phản bội trong tình yêu. Tuy nhiên, Thân vẫn thường đi chơi đêm với nhiều tầng lớp khác nhau. Điều này làm cho Tị hết sức lo lắng mặc cho Thân có trung thành tới đâu.

Khi là đối tác làm ăn, hai “hành tinh” này có thể cùng hợp tác, cùng phát triển nếu họ biết cách tự điều chỉnh. Nếu họ biết cách tránh những mâu thuẫn, những tính cách trái ngược nhau có thể trở thành những điểm bổ sung. Tuổi Thân vốn ưa thích những điều mạo hiểm. Tuổi Tị khá cẩn thận và chăm chỉ khi họ tin vào mục tiêu mình đề ra. Tuổi Tị khá may mắn với chuyện tiền bạc nhưng đôi khi thấy ngán ngẩm bởi tính cách ham vui của Thân. Hai con giáp này rất dễ cạnh tranh giành vị trí “người dẫn đường”. Trong hai tuổi này, Tị làm việc nhiều hơn Thân.

Tuổi Tỵ và Tuổi Dậu

Tuổi Tị hấp dẫn, quyến rũ và thích sự nổi tiếng. Còn tuổi Dậu thì rất thích rong chơi cùng bạn bè. Tuy nhiên, cả hai đều thích làm cho không khí gia đình thoải mái và an lành. Hai “hành tinh” này dù là bạn, người yêu, đối tác làm ăn hay các thành viên trong gia đình thì mối quan hệ của họ đều có sơ sở rất vững chắc và bền chặt.

Nếu là một cặp uyên ương, tình yêu của họ rất bền vững. Họ sẽ sống rất hòa thuận với nhau không chỉ vì sự bốc đồng mà vì điều đó có thể củng cố mối quan hệ giữa hai người. Người tuổi Dậu hay chú ý tới chi tiết của sự việc và thích giữ cho không khí gia đình luôn ấm cúng và thoải mái. Tuổi Dậu cũng đôi khi thích nhiều lời hoặc mặc cả. Người tuổi Tị lại hết sức may mắn với chuyện tiền bạc. Với Dậu, Tị chính là người mang thành công và của cải về gia đình chung của họ. Người tuổi Tị thường hay ghen và có tính sở hữu vì Tị hay cảm thấy bất an. Tuy nhiên, điều này chẳng ảnh hưởng gì tới mối quan hệ của hai người. Dậu trung thành và tận tâm sẽ chẳng để cho Tị có lý do gì để ghen cả.

Khi Tị và Dậu là đối tác làm ăn, công ty của họ sẽ phát triển thịnh vượng và có trật tự. Người cầm tinh con Gà hay chú ý đến tiểu tiết có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ quản lý tài chính. Bên cạnh đó, tuổi Gà còn giúp công ty lập ra những kế hoạch ít mạo hiểm. Cả Tị và Dậu đều thích những phương thức thực tế, ít mạo hiểm hơn là các phương thức mới có tính rủi ro cao. Bởi vậy, có thể nói rằng, hai “hành tinh” này khá đồng nhất quan điểm trong chuyện làm ăn.

Tuổi Tỵ và Tuổi Tuất

Điều tuyệt vời là nhờ có mối quan hệ chung này mà cả Tị và Tuất đều có thêm sức mạnh, nghị lực và trở thành chỗ dựa vững chắc của bạn bè, đồng nghiệp. Có thể nói rằng, hai hành tinh này không có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng không xung khắc. Người tuổi Tuất tốt tính và hay chiều người khác nhưng đa sầu đa cảm. Trong khi đó, người tuổi Tị rất cuốn hút, hấp dẫn nhưng có phần sống khép mình, thích sự yên tĩnh, ổn định hơn là sự ồn ã, náo nhiệt.

Khi là một cặp uyên ương, Tị và Tuất sẽ được tận hưởng cảm giác thật thoải mái, an toàn bên nhau. Mối quan hệ của họ khá bền chặt. Họ cũng có một số điểm khác nhau nhưng có thể dung hòa được. Vốn là tuổi Tị rất hay ghen và có tính sở hữu trong tình yêu. Còn tuổi Tuất thì rất trung thành và tận tâm. Bởi vậy, Tuất chẳng để cho Tị có lý do gì để ghen tuông cả. Khi Tuất lo âu hoặc cảm thấy bất an thì Tị sẽ là người động viên để người bạn đồng hành của mình có thêm nghị lực. Nếu hai con giáp này sống chung trong một mái nhà, căn phòng của họ sẽ luôn ấm cúng và thoải mái.

Tị và Tuất cũng sẽ tạo thành một tập thể vững mạnh và liên tục đi lên nếu cùng làm văn với nhau. Cả hai hành tinh này đều giỏi giao tiếp. Người tuổi Tuất phân biệt phải trái rất rõ ràng. Bên cạnh Tuất là Tị rất thông minh. Tị không chỉ tin vào logic mà còn dựa vào cả trực giác để phán đoán công việc. Bởi vậy, rất ít khi Tị mắc sai lầm trong kinh doanh. Hơn thế nữa, tuổi Tị còn rất may mắn với chuyện kiếm tiền. Do đó, chuyện làm ăn của họ liên tục phát triển, trong đó Tị sẽ đóng vai trò làm người ở “tiền tuyến”.

Tuổi Tỵ và Tuổi Hợi

Mâu thuẫn nằm ở chỗ giữa Tị và Hợi thiếu những cuộc hội thoại mang tính chất xây dựng. Tuổi Tị thường hay sống bằng trực giác hơn là dựa vào lô gíc của sự việc. Bởi vậy nên con giáp này thường hay đưa ra ý kiến chủ quan và hay nói vòng vo mà không đi thẳng vào vấn đề. Còn Hợi thì nhút nhát nhưng khá rộng lượng trong các mối quan hệ. Nhưng khi có hiềm khích xảy ra, ngôn từ của Hợi khá thâm hiểm.

Khi là một cặp yêu nhau, hai “hành tinh” có quan điểm chung về bạn bè thân, về cuộc sống gia đình. Đây là điều mà cả Tị và Hợi đều rất quan tâm. Bên cạnh đó, cả hai con giáp này đều làm việc rất chăm chỉ khi cần. Nhưng cả hai đều thích nghỉ ngơi trong điều kiện thoải mái và xa xỉ. Tị rất cuốn hút và hấp dẫn, còn Hợi sẽ là một người tình lý tưởng. Do đó, họ kết hợp với nhau khá ăn ý.

Trong tình yêu, Tị hay ghen vì thường cảm thấy bất an nhưng Hợi thì có quan niệm rất trung thành với người mình yêu. Tuy nhiên, đôi khi Hợi giữ những bí mật riêng cho mình, điều này luôn làm cho Tị nghi ngờ.

Nếu Tị và Hợp cùng hợp tác làm ăn với nhau, Tị thông minh, nhanh nhẹn sẽ đóng vai trò làm “tiền tuyến” và là trung tâm của sự chú ý. Điều này rất hợp với ý của Hợp vì tuổi này vốn thích hợp với công việc của “hậu phương”. Nơi làm việc của Tị và Hợi sẽ được trang trí theo kiểu cổ điển. Những bữa ăn cùng nhau của hai người tại các nhà hàng sẽ rất thường xuyên và trang trọng.

Tình yêu hôn nhân của người tuổi Tỵ với các tuổi khác

Tử vi Lục thập hoa giáp

Xem tử vi năm mới


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tử vi tuổi Tỵ

4 lưu ý phong thủy ngoại cảnh đảm bảo nhà vừa đẹp vừa tốt

Chọn nhà hợp phong thủy là phải chọn ngay từ hình thái, địa thế nhà. Muốn có ngôi nhà tốt, hãy lưu ý 4 điểm trong phong thủy ngoại cảnh nhà ở dưới đây.
4 lưu ý phong thủy ngoại cảnh đảm bảo nhà vừa đẹp vừa tốt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chọn nhà hợp phong thủy là phải chọn ngay từ hình thái, địa thế nhà. Muốn có ngôi nhà tốt, hãy lưu ý 4 điểm dưới đây.


► Xem tuổi làm nhà để xây nhà thuận lợi, tránh tai ương

4 luu y phong thuy ngoai canh dam bao nha vua dep vua tot hinh anh 2
 
1. Nơi ở không nên quá cao, vượt trội hơn hẳn so với khu vực dân cư xung quanh, vì sẽ tạo thành thế phong thủy “hạc giữa bầy gà”, rất không tốt. Nhà có phong thủy đẹp là phải đăng đối, cân xứng với phong thủy chung của khu vực. Còn vượt lên trên là lâm vào thế cao ngạo, âm dương không hòa hợp. Nên dùng thước lỗ ban để xây nhà.   2. Nơi ở không nên quá lớn, với hai hàm nghĩa: một là tương ứng với nhà cửa của khu dân cư xung quanh, hai là tương ứng với số người trong nhà. Nhà quá lớn so với những nhà xung quanh tạo ra thế “nhất trạch độc đại”, âm dương thất hành do dương thịnh âm suy, là đại hung. Nhà ít người mà quá rộng thì phạm thế “Trạch đại nhân tiểu”, âm thịnh dương suy, gây ra hung họa.
3 nguyên tắc phong thủy phải nằm lòng năm 2016 Mua nhà không xem phong thủy, tiền thì mất mà tật vẫn mang Thuê nhà cũng cần xem phong thủy, có kiêng có lành
3. Nơi ở không nên quá phô trương, phục sức lộng lẫy, dáng vẻ nổi bật. Nếu ngôi nhà vượt trội và lạc lõng so với phong cách của những nhà bên cạnh thì phạm phải thế “tài vận xuất lộ”, ảnh hưởng tới tài vận trong nhà. Còn nhà mà nhô ra trước só với các nhà khác thì phạm lỗi phong thủy nhà ở “ thương đả xuất đầu điểu”, nhà thường xuyên vướng phải thị phi.
4 luu y phong thuy ngoai canh dam bao nha vua dep vua tot hinh anh 2
 
4. Nơi ở không nên khác loại, hình thái thiết kế quá kì dị, sắc thái quá rực rỡ, khác biệt về hướng nhà so với đa số nhà còn lại (ví dụ, các nhà khác tọa Nam hướng Bắc, riêng nhà mình lại tọa Bắc hướng Nam). Loại nhà này thường vướng phải trường hợp “chúng bạn xa lánh”, lâm vào hiểm cảnh, bị cô lập.

Mẹo hay hóa giải nhà thấp hơn mặt đường Tránh xa những kiểu nhà tiêu tán tài lộc Nhà tốt hay xấu nhờ cả vào sắc khí phong thủy Thái Vân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 lưu ý phong thủy ngoại cảnh đảm bảo nhà vừa đẹp vừa tốt

Ý nghĩa ngày rằm tháng 7 - ngày lễ Vu Lan

Dân gian ta vẫn có câu “đi lễ cả năm không bằng ngày rằm tháng 7”, chỉ cần nghe vậy thôi có lẽ chúng ta cũng sẽ thấy được phần nào mức độ quan trọng của ngày rằm tháng 7

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dân gian ta vẫn có câu “đi lễ cả năm không bằng ngày rằm tháng 7”, chỉ cần nghe vậy thôi có lẽ chúng ta cũng sẽ thấy được phần nào mức độ quan trọng của ngày rằm tháng 7 trong đời sống tâm linh người dân Việt Nam. Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa ngày rằm tháng 7, hãy cùng Thư viện Phong thủy tìm hiểu rõ hơn ngay sau đây nhé.

Ý nghĩa ngày rằm tháng 7 - ngày lễ Vu Lan

1. Rằm tháng 7 là ngày gì?

Rằm tháng 7 tức là ngày 15 tháng 7 âm lịch. Người miền bắc quen gọi rằm tháng 7 là ngày xá tội vong nhân, còn người miền Nam thường gọi đây là ngày lễ Vu Lan. Tuy nhiên, trong tháng 7 có 2 ngày lễ lớn chính là ngày lễ Vu Lan và ngày cúng cô hồn, xá tội vong nhân, về cơ bản 2 ngày lễ này là khác nhau, tuy nhiên nó thường được tổ chức chung.

2. Ý nghĩ ngày rằm tháng 7

Ngày rằm tháng 7 hay còn gọi là ngày lễ vu lan, để hiểu hơn về ý nghĩa ngày rằm tháng 7, chúng ta hay cùng tìm hiểu về sự tích gắn với ngài Mục Kiền Liên, đệ tử của Đức Phật, một vị tôn giả tu luyện được nhiều phép thần thông.

Vì tưởng nhớ đến người mẹ đã mất, khi còn sống bà sống cực kỳ ác, do đó khi chết đi bà mẹ của Mục Kiền Liên đã bị nhốt xuống địa ngục, đày làm quỷ đói do kiếp trước gây nhiều ác nghiệp. Mục Kiền Liên dùng đôi mắt thần quán chiếu đã nhìn thấy cảnh mẹ phải chịu nhiều khổ cực, do thương mẹ nên ông đã làm phép xuống địa ngục dâng cơm cho mẹ. Tuy nhiên bà mẹ Mục Kiền Liên có tên Thanh Đề, do lâu ngày không được ăn cơm, quá đói nên khi nhận bát cơm của con, vừa ăn, vừa dùng tay che bát cơm lại vì sợ các cô hồn khác đến tranh cướp mất. Do khi chết đi vẫn còn tính tham sân si nên khi vừa đưa bát cơm lên đến miệng, tức khắc cơm hóa thành lửa đỏ, không thể ăn được. Quá đau xót khi phải chứng kiến cảnh trên, Mục Kiền Liên liền xin Đức Phật giúp mẹ mình.

Đức Phật dậy rằng, một mình ông không thể cứu được mẹ, muốn cứu mẹ phải nhờ hợp lực của các chư tăng khắp mười phương. Vào ngày rằm tháng 7, nhân lúc các chư tăng mãn hạ sau 3 tháng an cư kiết hạ, hãy sửa 1 lễ đặt vào trong chiếc chậu để dâng cúng và thành khẩn cầu xin như vậy sẽ có thể cứu rỗi vong nhân khỏi địa ngục.

Nghe lời phật dậy, Mục Kiền Liên liền làm theo, không chỉ cứu được mẹ mà còn cứu được biết bao vong hồn bị giam giữ, từ đó ngoài ý nghĩa mùa hiếu hạnh, báo hiếu, ngày rằm tháng 7 còn gọi là ngày xá tội vong nhân. Trong những ngày nay, các cô hồn sẽ được nhận thức ăn từ người dân, những người lập đàn cầu siêu hoặc cúng thí.

Theo tín ngưỡng truyền thống của dân tộc ta, ngày Vu Lan, ngày rằm tháng 7 chính là ngày để con cái có dịp tưởng nhớ tới công lao sinh thành của cha mẹ mình. Tưởng nhớ ở đây không phải là mâm cao cỗ đầy, tiền đầy túi mà quan trọng hơn cả chính là thái độ, chính là cách thể hiện giữa con cái với cha mẹ.

Trong ngày này, mọi người cần đến chùa làm lễ Vu Lan, cầu siêu để tỏ lòng biết ơn, báo hiếu tới ông bà tổ tiên những người đã mất. Bên cạnh đó làm mâm cơm thắp hương gia tiên, thần phật và cúng thí thực cô hồn, làm lễ phóng sinh.

Xem thêm: Bài văn khấn chúng sinh ngày rằm tháng 7


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa ngày rằm tháng 7 - ngày lễ Vu Lan

Mộ phần và cuộc sống

Mộ phần tổ tiên ảnh hưởng không nhỏ tới sự hưng suy của hậu duệ.  
Mộ phần và cuộc sống

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo quan niệm của phong thủy, mộ phần tổ tiên có ảnh hưởng không nhỏ tới hậu duệ. Ngoài ra, sự hưng vượng hay phá bại của mộ tổ còn được thể hiện ngay diện tướng (tướng mặt) các thành viên trong gia đình, dòng tộc.

(Ảnh minh họa)

Long Hổ chầu về, núi phía sau cao vút, khí đẹp trước mặt, đó là thần quang, đất linh đắc khí, người của đều vượng. Nếu người có ngũ nhạc cao (trán, 2 gò má, mũi và cằm), đó là mộ tổ đắc được long mạch địa thế tốt. Nếu khí tốt đầy mặt, đó là mộ tổ đắc khí.

Mặt khô héo, tất là mộ tổ bị thoát khí. Người mà xương thô là do mộ tổ bị phơi lộ. Xương nhỏ là mộ tổ ẩn tàng. Nếu xương thô, mắt to lộ là mộ tổ lộ rõ hoặc chôn nơi núi đá lởm chởm. 

Sau khi chôn mà có thành viên trong gia đình sinh hạ con trai, thịt thô xương rắn, ngũ nhạc không ngay ngắn, tất là thủy thần lan tràn. Nếu xương đầu cao đầy, gương mặt tròn đầy mà khí sắc khô héo, ánh mắt vô thần, tất là mộ bị thoát khí, chẳng bao lâu sẽ lụn bại.

Khuôn mặt đầy đặn, sáng sủa, nếp mặt, mụn ruồi phá cung, tiếng nói đứt đoạn là mộ phần bị thủy cảng, cầu đường xung phạm. Chân tay teo, lưng tàn khuyết, râu mọc như cỏ, ngu dốt tất là mộ tổ bị cây lớn xâm phạm. Thần sắc tiêu điều, thất thần vô khí, điên đảo thác loạn, đó là dấu hiệu long mạch mộ tổ ứ khí.

Cải tạo mộ như thế nào?

Sách Táng Kinh nói: "Phàm mộ có 5 điều không tốt thì nên cải tạo nhanh".

- Trũng thấp mà mộ vô cớ nứt nẻ, bát hương vỡ nứt.

- Trong nhà có nam nữ hay gây điều tiếng dâm loạn.

- Trai gái ngỗ nghịch hoặc con cháu phản loạn, ăn phải đồ độc, mắc bệnh điên cuồng, kiếp hại, hình trường.

- Nhân khẩu bất an, sự nghiệp thất bại, gia sản hao hụt.

- Mộ táng tại bát diệu sát, thủy khẩu chảy từ hoàng tuyền thủy.

Phàm sửa mộ gặp 3 điều sau thì dừng lại:

- Mở mộ thấy rùa sống, rắn ở đó là nơi có sinh khí, gia đình và hậu thế đại cát đại lợi.  

- Trong đất có suối nước ấm áp, màu như sữa hoặc như sương mù.

- Dây tơ hồng bám xung quanh quan tài là sinh khí đại quý.

Nếu sửa 3 điều nói trên tất gặp tai họa từ tốt chuyển sang xấu. 

(Theo Phongthuy)


 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mộ phần và cuộc sống

Xem tử vi tháng Hai của người tuổi Mùi

Tử vi tháng Hai của người tuổi Mùi gặp phải vận trình Thiên Can Thái Tuế tương khắc Nguyệt Lệnh.
Xem tử vi tháng Hai của người tuổi Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Tử vi tháng Hai của người tuổi Mùi gặp phải vận trình Thiên Can Thái Tuế tương khắc Nguyệt Lệnh, nhưng may mắn cục diện Mão Mùi hợp hóa Mộc cục khiến vận trình của bản mệnh rất tốt đẹp. Công việc bận rộn, bạn thể hiện rất xuất sắc trong mỗi nhiệm vụ được giao, được mọi người xung quanh tán dương.


Xem tu vi thang Hai cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc
 
Mặc dù bước vào tháng 2 âm lịch người tuổi Mùi gặp phải vận trình Thiên Can Thái Tuế tương khắc Nguyệt Lệnh, nhưng may mắn cục diện Mão Mùi hợp hóa Mộc cục khiến vận trình của bản mệnh rất tốt đẹp. Công việc bận rộn, bạn thể hiện rất xuất sắc trong mỗi nhiệm vụ được giao, được mọi người xung quanh tán dương.

Lời khuyên: Nếu có điều kiện, bạn nên dùng đồ phong thủy may mắn cát tường để hưng thịnh vận trình, phối hợp với vị Bồ Tát, Chư Phật tọa mệnh để cầu bình an, gia trạch, sự nghiệp thuận lợi. Ngoài ra, người tuổi Mùi còn độc thân có vận đào hoa rất tốt, nhất là bản mệnh nữ.

BIỂU ĐỒ TỬ VI THÁNG 2

Xem tu vi thang Hai cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc 2
 
SỰ NGHIỆP


Theo tử vi tháng Hai của người tuổi Mùi, quan hệ Mão Mùi tam hợp vượng đế nên công việc người tuổi Mùi rất đáng chờ đợi. Dù áp lực công việc khá lớn, không thể tránh khỏi nhưng “quả ngọt” bạn nhận được không thất vọng chút nào.

Ngoài ra lưu ý họa tiểu nhân ám hại, giữa tháng quý nhân cao chiếu sẽ giải vây cho bạn. Trong quan hệ đồng nghiệp đề phòng lời ăn tiếng nói, đừng để người khác nắm được điểm yếu. Bạn nên tận dụng các mối quan hệ xã giao để chuyển vận may về cho mình. Người làm ăn nên khéo léo, nhẫn nại hơn khi đàm phán, ký kết hợp đồng.

TÀI LỘC

Được sự hỗ trợ từ sự nghiệp, vận trình tài lộc của người tuổi Mùi rất ổn, nên tranh thủ thời gian để gia tăng thu nhập. Khối lượng công việc nhiều khiến bạn thường xuyên làm ngoài giờ, tuy vậy sự đền đáp về tài lộc lại rất tốt. Nên tránh việc cho vay mượn thường xuyên.

Xem tu vi thang Hai cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc 3
 
TÌNH CẢM


Xem tử vi thấy chuyện tình cảm của người tuổi Mùi khá phong phú trong tháng này. Người độc thân thích kết giao với nhiều người, tâm trạng bạn trở nên nhẹ nhàng, vui vẻ hơn. Người độc thân có hi vọng lớn nếu nỗ lực hết mình. Vì chưa có kế hoạch định sẵn cho tương lai, các cặp đôi sẽ xảy ra vài tranh cãi không đáng có. Người đã lập gia đình luôn có suy nghĩ nối lại tình cảm xưa, dễ động lòng với tình cũ. Tâm tư yếu mềm, nên biết khắc chế bản thân thì hơn.

SỨC KHỎE


Vì nguyên nhân công việc, người tuổi Mùi phải giao tiếp không ngừng, dễ nhiễm bệnh viêm họng, ho hắng. Vài lát chanh ngâm mật ong hay ít muối tinh sẽ đem lại cảm giác dễ chịu cho cổ họng bạn. Nhưng nên biết “phòng còn hơn chữa”. Công việc căng thẳng còn khiến bạn đau đầu, ăn ngủ không điều độ, sức đề kháng cũng đi xuống nhiều.

Nhìn chung, bước vào tháng 2 âm lịch, vận trình người tuổi Mùi tốt đẹp, cần chú ý mặt công việc bị tiểu nhân quấy nhiễu. Đường tài lộc ổn thỏa, nhưng cần tránh tuyệt đối những hoạt động đầu tư đỏ đen kẻo sẽ tan gia bại sản. Tháng này, người trong nhà bạn có tin vui thêm con cháu hoặc chuyển nhà mới, những việc này đều là hưng thịnh gia vận, có thể giúp bạn hóa giải những bất lợi trong tháng liên quan tới Thái Tuế. Mặt sức khỏe, trong bữa ăn hàng ngày nên hạn chế các món hải sản, thịt bò, nên uống nhiều nước và ăn nhiều rau quả.

Xem tu vi thang Hai cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc 4
 
Lichngaytot.com

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi tháng Hai của người tuổi Mùi

Văn khấn Rằm Trung thu (15/8 ÂL)

Tết Trung Thu là tết được cử hành vào đêm Rằm tháng 8, tết này còn gọi là ”Tết Trông Trăng’. Tham khảo bài viết văn khấn rằm trung thu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Ý nghĩa:

Tục xưa truyền lại rằng: Vào một đêm rằm tháng 8 trăng sáng như gương, bầu trời bao la huyền ảo, nhà Vua nhìn lên trời và nảy ra ý muốn lên thăm Cung Trăng. Pháp sư đi theo nhà Vua liền ném chiếc gậy đang chống lên không trung, chiếc gậy liền biến .thành một chiếc cầu bằng bạc đưa nhà Vua cùng pháp sư lên Cung Trăng.

Vào đến ”Phủ thanh hư Quảng Hàn’ nhà Vua và pháp sư được tiên nữ Hằng Nga đón tiếp nồng hậu. Hằng Nga sai tiên nữ mang bánh Tiên đến mời hai vị và lệnh cho các tiên nữ múa hát để nhà Vua xem. Sau khi về trần gian, đế tưởng nhớ ngày này, hàng năm vào Rằm tháng Tám, nhà Vua sai làm ”Bánh Tiên”- bánh có hình tròn như mặt Trăng nên còn gọi là ”Bánh Trăng’ và khi trăng Rằm toả sáng nhà Vua cùng quần thần ngắm trăng ăn bánh. Từ đó hình thành tục ăn Tết Trung Thu.

Tết Trung Thu là tết được cử hành vào đêm Rằm tháng 8, tết này còn gọi là ”Tết Trông Trăng’. Theo phong tục dân gian ngày Tết Trung Thu nhà nhà đều treo đèn kết loa rước đèn, ngắm trăng và làm “Bánh Trăng” – ngày nay là bánh nướng, bánh dẻo để cúng tổ tiên.

2. Sắm lễ:

Mâm lễ cúng gia tiên ngày Tết Trung Thu ngoài những món truyền thống thì bao giờ cũng phải có: bánh nướng, bánh dẻo, cốm, chuối, na, hồng, bưởi,… và tất nhiên phảị có hương, hoa, đèn, nến. Nhân dịp Tết Trung Thu mọi người đều gửi biếu ông, bà, cha, mẹ, người thân, người mà mình mang ơn bánh Trung Thu, cốm, chuối, hồng… để tỏ lòng biết ơn quí trọng.

3. Văn khấn:

Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
- Con kính tay Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là:...........
Ngụ tại:………………………..


Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám gặp tiết Trung Thu tín chủ chúng con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ.................., cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng. Xin các ngài độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn Rằm Trung thu (15/8 ÂL)

Chùa Trung Hành - Hải Phòng

Chùa Trung Hành là một ngôi chùa lớn, có bằng chứng nhận di tích lịch sử cấp quốc gia tọa lạc trên phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Chùa Trung Hành - Hải Phòng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trụ trì nơi đây là đại sư Sư Phúc. Chùa Trung Hành đến nay được xây dựng khang trang và thu hút nhiều lượt khách tham quan từ khắp mọi miền tổ quốc. Đặc biệt là vào ngày lễ chính được tổ chức Vào ngày 17-1 âm lịch hàng năm.

Chùa Trung Hành có tên chữ là Hưng Khánh Tự. Chùa Trung Hành thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chùa được xây dựng khá lâu, quy mô bề thế, phong cảnh thanh u, cổ kính. Chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1993.

Trung Hành vốn nổi tiếng là vùng đất địa linh, nhân kiệt – nhiều người đỗ đạt, nhiều văn quan, võ tướng có tài, hiện còn được ghi lại trên văn bia, gia phả các dòng họ. Theo lịch sử ghi chép lại thì chùa được khởi dựng từ khá sớm khoảng thời Lý – Trần. Song dấu vết vật chất còn để lại có niên đại sớm nhất là thời nhà Mạc (thế kỷ 16).

Chùa có quy mô khá lớn, có bố cục kiến trúc hình chữ 工 – Công: tam quan – gác chuông, tòa Phật điện, nhà thờ tổ, vườn bia, mộ tháp. Có thể nói chùa Trung Hành còn bảo lưu khá hoàn chỉnh về bố cục các công trình kiến trúc và quy hoạch không gian của một ngôi chùa làng thời Mạc điển hình ở Hải Phòng.

Dưới mái chùa cổ kính này, đang bảo lưu nhiều pho tượng Phật quý bằng gỗ, mang đậm phong cách dân gian với các đồ án trang trí nghệ thuật được thờ tại tòa phật điện như các pho tượng phật: Tam Thế, A Di Đà, Văn Thù, Phổ Hiền, Hộ Pháp,…

Đặc biệt tại đây còn lưu giữ pho tượng vị hoàng đế nhà Mạc. Tượng hoàng đế tạc bằng đá, pho tượng được đặt ở cuối Phật điện, toàn thân phủ một lớp sơn dày, trông thoáng qua giống như tượng gỗ.

Lễ hội ở chùa Trung Hành diễn ra từ ngày 16 – 18 tháng giêng âm lịch. Xưa có tục múa roi diễn lại khí thế xung quân, diệt giặc của quân đội thời Ngô Quyền. Lễ hội thu hút đông đảo nhân dân và du khách đến dự lễ và thưởng thức các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Trung Hành - Hải Phòng

Bí ẩn những lăng mộ cổ nằm sâu trong rừng tại Trung Quốc

Tại Trung Quốc có rất nhiều khu lăng mộ là nơi yên nghỉ của các vị cao thăng từ thời xa xưa, không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn là những công trình kiến
Bí ẩn những lăng mộ cổ nằm sâu trong rừng tại Trung Quốc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  trúc tuyệt vời.


Bi an nhung lang mo co nam sau trong rung tai Trung Quoc hinh anh 2
Trữ hạ Thanh Đồng hợp huyền tháp lâm: Tựa lên núi, hướng về sông, có tổng cộng 108 tòa tháp, kiến trúc khác lạ, sắp xếp theo dạng một hình tam giác lớn mang phong cách độc đáo. Không chỉ ở Trung Quốc mà trên cả thế giới cũng chỉ có một công trình duy nhất. 

Bi an nhung lang mo co nam sau trong rung tai Trung Quoc hinh anh 2
Sơn Đông trường thanh huyền linh nham tự tháp lâm: nằm tại vị trí phía Tây của bảo điện Đại Hùng. Khu mộ gồm 167 tòa tháp, 81 bia mộ, là mộ của các vị cao tăng trụ trì tại chùa, quy mô to lớn, độc nhất vô nhị tại Trung Quốc.  

Bi an nhung lang mo co nam sau trong rung tai Trung Quoc hinh anh 2
Hà Bắc hình thai tháp lâm: Nằm trong chùa Khai Nguyên và cũng là khu mộ của các vị cao tăng trụ trì, được xây dựng từ thời nhà Minh, nhà Thanh.

Bi an nhung lang mo co nam sau trong rung tai Trung Quoc hinh anh 2
Bắc Kinh đàm chá tự tháp lâm: Trải qua hơn 10 triều đại, không để đếm được số vị tu hành, là nơi yên nghỉ của các vị cao tăng. 

Bi an nhung lang mo co nam sau trong rung tai Trung Quoc hinh anh 2
Bắc Kinh Xương Bình ngân sơn tháp lâm: là một trong những thánh địa của Phật Giáo phương Bắc từ thời Liêu Kim, nằm cách trung tâm Bắc Kinh 30km về phía Bắc.

Bi an nhung lang mo co nam sau trong rung tai Trung Quoc hinh anh 2
Hà Nam lâm nhữ huyền phong huyệt tự tháp lâm: Hiện có 83 tòa mộ tháp của các vị cao tăng từ thờ nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh.

Bi an nhung lang mo co nam sau trong rung tai Trung Quoc hinh anh 2
Sơn Đông lịch thành đại âm thần thông tự tháp lâm: Hiện có 46 tòa tháp (có sách ghi là 41 tòa) có từ thời nhà Nguyên, nhà Minh. 

► Tham khảo thêm: Giải mã những giấc mơ và điềm báo hung cát

Phương Thùy
Vãn cảnh những ngôi chùa đẹp nhất Đông Nam Á Ngắm những ngôi chùa có phong cảnh hữu tình của châu Á

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí ẩn những lăng mộ cổ nằm sâu trong rừng tại Trung Quốc

8 bí quyết phong thủy

Các bậc thầy phong thủy khẳng định rằng phong thủy tốt không thể đem lại sự giàu có nếu bạn không cố gắng vì nó, nhưng nó cho bạn sự hỗ trợ cần thiết để tìm kiếm sự giàu có, của cải và sự thịnh vượng. Nó giúp bạn sử dụng nhiều giải pháp phong thủy khác nhau để tạo nên một môi trường – cả ở nhà và ở nơi làm việc – sẽ tiếp thêm sức mạnh cho bạn và thu hút những năng lượng phong thủy của sự thịnh vượng và giàu có.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sự giàu có không đơn thuần là chỉ về tiền bạc, mà nó gồm từ tài chính, cho tới sức khỏe và các mối quan hệ hòa hợp trong gia đình. Việc tạo ra sự giàu có cho gia đình không hề khó nếu biết áp dụng các lời khuyên phong thủy thích hợp.

Có rất nhiều lời khuyên phong thủy về lĩnh vực tiền bạc đơn giản và dễ dàng cùng với nhiều sản phẩm để sử dụng trong không gian của bạn dành cho năng lượng giàu có mạnh mẽ.

Các giải pháp phong thủy cổ điển như: bình tài lộc, cây tiền, thuyền tài lộc, tiền xu cổ, tượng Phật cười… đã được con người sử dụng trong nhiều thế kỷ qua để thu hút sự giàu có.

Chúng tôi chia sẻ với bạn một số bí quyết phong thủy cơ bản để “mời gọi” nguồn khí tài lộc như sau:

– Cửa ra vào mạnh mẽ: Hãy chắc chắn rằng cửa ra vào ngôi nhà của bạn có phong thủy mạnh mẽ. Bảo vệ nó – nếu cần thiết với biểu thượng phong thủy của sự bảo vệ, phong phú và may mắn.

– Giữ không gian ngăn nắp, sạch sẽ: Ngay bây giờ, bạn cần tống khứ sự lộn xộn, bẩn thỉu ra khỏi ngôi nhà hoặc nơi làm việc của bạn. Bởi vì, một không gian hỗn độn không thể thu hút hoặc giữ năng lượng của sự giàu có.


Luôn giữ cho không gian sinh sống và làm việc sạch sẽ để năng lượng giàu có lưu lại thật lâu.

– Khu vực tiền bạc tốt: Xác định rõ khu vực phong thủy tiền bạc trong nhà của bạn và chăm sóc nó thật tốt. Nếu một phần khu vực tiền bạc của bạn bị thiếu, hoặc nếu nó nằm trong phòng tắm, cần giải quyết vấn đề với những giải pháp thích hợp.

– Trưng bày các biểu tượng của sự giàu có: Sự hiện diện của biểu tượng phong thủy trong môi trường sống của bạn nói lên sự giàu có và thịnh vượng. Bạn có thể lựa chọn biểu tượng cổ điển như thuyền tài lộc, hoặc biểu tượng đại diện cho năng lượng giàu có của riêng bạn.

Nên trưng bày một vài biểu tượng phong thủy tượng trưng cho sự giàu có trong nhà.

– Sử dụng bể cá cảnh: Trang trí ngôi nhà hoặc văn phòng của bạn với một bể cá cảnh phong thủy để thu hút nguồn khí tài lộc, hoặc biểu tượng/hình ảnh phong thủy cụ thể về cá.


Bể cá được biết đến là một giải pháp tăng cường tài lộc hữu hiệu.

– Các loại đá phong thủy: Đá citrine được biết đến là có khả năng thu hút sự giàu có, vì thế, nó thường được sử dụng trong các ứng dụng phong thủy. Ngoài ra, một loại đá phong thủy đại diện cho sự giàu có cũng rất phổ biến khác là đá pyrit. Bạn có thể chọn trưng bày những loại đá này trên cây tài lộc phong thủy ở góc nhà.


Năng lượng đá citrine làm tăng lòng tự trọng, sự tự tin giúp chủ nhân vượt qua được nỗi buồn, khó khăn, đau khổ trong cuộc sống. Vì vậy, loại đá này là lựa chọn trang sức phong thủy tuyệt vời dành cho bạn.

Trang trí hoặc đeo đá phong thủy giúp cải thiện vận mệnh cho nhà ở cũng như bản thân chủ nhân.

– Sử dụng đài phun nước: Đài phun nước (hoặc biểu tượng phong thủy đại diện cho đài phun nước) là giải pháp phong thủy rất mạnh mẽ để “lôi kéo” năng lượng của sự giàu có và nguồn khí tươi mới. Bạn có thể sử dụng hình ảnh dòng nước chảy như thác nước, biển, dòng sông… đều rất tốt vì nước đại diện cho tài lộc.


Hình ảnh nước phong thủy với con sóng trắng xóa, tung bọt và khung cảnh thiên nhiên cởi mở, hùng vĩ có tác động đặc biệt mạnh mẽ trong các ứng dụng phong thủy giàu có.

Nước là yếu tố luôn đi liền cùng sự giàu có. Vì vậy, đài phun nước, hồ cá, hay những thứ có liên quan tới nước đặt trong nhà không chỉ còn vai trò là làm đẹp, mà còn kích thích sự thịnh vượng.

– Dòng chảy khí mạnh mẽ: Hãy chắc chắn kiểm tra dòng chảy khí thường xuyên, cả ở trong nhà và văn phòng làm việc. Một dòng chảy khí tươi mới và mạnh mẽ, đi kèm với các biểu tượng phong thủy tài lộc khác chắc chắn là mục tiêu của bạn nếu bạn đang tập trung vào việc hấp dẫn năng lượng của sự giàu có và thịnh vượng.


Bạn có biết rằng rất nhiều triệu phú Châu Á không bán nơi ở hoặc nơi  làm việc – thuộc sở hữu riêng – trong khí tích lũy được sự giàu có? Hiểu biết sức mạnh phong thủy của không gian, họ giữ chúng vì những may mắn tài lộc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 8 bí quyết phong thủy

Ý nghĩa của đá Thạch anh trắng –

Thạch anh trắng là một trong số 6 loại đá thạch anh chính được sử dụng trong y học và phong thủy hiện nay. Vậy theo phong thủy, đá thạch anh trắng có những tác dụng gì? Thạch anh trắng là gì Thạch anh trắng (pha lê) được biết đến như là “bậc thầy chữ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thạch anh trắng là một trong số 6 loại đá thạch anh chính được sử dụng trong y học và phong thủy hiện nay. Vậy theo phong thủy, đá thạch anh trắng có những tác dụng gì?

Nội dung

  • 1 Thạch anh trắng là gì
  • 2 Ý nghĩa của đá Thạch anh trắng
    • 2.1 Ý nghĩa đá thạch anh trắng đối với sức khỏe
    • 2.2 Ý nghĩa Thạch anh trắng trong phong thủy
  • 3 Sử dụng Thạch anh trắng

Thạch anh trắng là gì

Thạch anh trắng (pha lê) được biết đến như là “bậc thầy chữa lành” và nó có khả năng khuếch đại năng lượng và ý nghĩ, cũng như tác động của các tinh thể khác.

Là một trong những loại tinh thể thạch anh phổ biến nhất, thạch anh trắng có thể được tìm thấy ở tất cả các châu lục, dù vậy rất nhiều viên thạch anh trắng có tần số rung động rất cao. Chúng cộng hưởng mạnh mẽ với luân xa thứ tám, thường được gọi là luân xa ngôi sao linh hồn.

Ý nghĩa của đá Thạch anh trắng

Ý nghĩa đá thạch anh trắng đối với sức khỏe

Theo y học Do có cấu tạo về vật chất và địa chất đặc biệt nên thạch anh trắng đươc cho là cản trở bớt một số từ trường tác động lên cơ thể, tốt cho sức khỏe. Ngoài ra đá thạch anh trắng cũng được cho là có thể thúc đẩy hoạt động của não bộ và tăng cường mức độ tập trung cho trí não.

Sử dụng một cách thông minh, những sắc trắng này được coi là “lưới lọc”, nó lọc các khí bệnh và từ trường âm trong cơ thể, do đó, nó đặc biệt tốt cho sức khoẻ. Kích thích các chức năng hoạt động của não và tăng cường mức độ tập trung; ứng dụng tuyệt vời cho sự trầm tư mặc tưởng, tạo ra trạng thái cân bằng cho tâm hồn. Khi tình trạng sức khoẻ không được tốt, có thể thường xuyên cầm hai thỏi thạch anh trắng rồi ngồi, đầu nhọn ở trong tay trái hướng vào trong, đầu nhọn trong tay phải hướng ra ngoài, như vậy sẽ có tác dụng lọc tuần hoàn. Điều này giải thích vì sao dây chuyền đá thạch anh ngày càng được yêu thích dù giá có đắt!

Ý nghĩa Thạch anh trắng trong phong thủy

Đối với phong thủy, đá thạch anh trắng như một lá bùa hộ mệnh, người gặp vận rủi, người bị rất nhiều phiền toái giày vò, có thể cầm thạch anh trắng rồi ngồi thiền, như vậy có thể cải thiện được từ trường của bản thân, cũng là cải thiện vận mệnh của mình.

Bởi vậy mà khi sử dụng dây chuyền ở trước ngực hay vòng tay hoặc quả cầu thạch anh trắng có thể hóa giải được những vận xui xẻo , giúp kích thích năng lượng, trừ tà khí xấu , tạo sinh khí tốt, tài vận hanh thông, giúp chủ nhân tập trung công việc, giảm thiểu mệt mỏi.

Những bạn phải đi vào những nơi có từ trường xấu như bệnh viện, bệnh xá, nhà xác, nhà tang lễ, những nơi công cộng, có thể đeo thạch anh trắng hoặc bỏ vào trong túi áo, túi quần, ít nhiều đều có tác dụng ngăn ngừa được tà khí xâm nhập vào cơ thể. Nếu có thạch anh trắng hình trụ, hình hồ lô nhỏ, hoặc hình kim tự tháp, thì có thể đặt nó ở bên trong kính chắn gió của xe, có thể có tác dụng ngăn chặn sát khí, hoá giải xung đột, ngăn ngừa tai nạn xe cộ và các sự cố bất thường.

Có thể nói , đá thạch anh trắng phong thủy có tác dụng rất tốt đối với chúng ta, nó không chỉ là những món đồ trang sức thông thường dùng để làm đẹp mà còn có nhiều công dụng khác trong cuộc sống, giúp con người tránh được những vận rủi ro và bệnh tật.

Sử dụng Thạch anh trắng

– Đeo mặt dây chuyền thạch anh trắng trước ngực để có từ trường cân bằng nhất, nó bảo vệ sự bình an, làm lá bùa hộ mệnh đem lại bình an tốt nhất.

– Mặt Thạch anh trắng được sự dụng để làm dịu hay tan biến các căng thẳng giảm trầm uất và chữa trị các bệnh có tính chất dương.

– Với những người bạn khi ngồi thiền mà tâm bất an không tập trung, tinh thần phân tán có thể cầm quả cầu thạch anh trắng áp sát nơi Đan điền ở bụng dưới da tác dụng giúp tập trung tinh thần để chuyên tâm hơn.

– Đeo vòng tay thạch anh trắng trên tay có thể tăng từ trường ý thức, được dùng để cầu phúc cầu nguyện rất tốt.

– Đem Thạch anh trắng đặt vào phương tài lộc làm cho khí vượng, có tác dụng sinh tài sinh lộc.

– Đặt Thạch anh trắng phía sau bên phải của chủ quản để giúp củng cố uy danh, cấp dưới chấp hành mệnh lệnh tuyệt đối không dám chậm chạp ỷ lại.

– Đặt Quả cầu thạch anh trắng có kích thước phù hợp bày trên bàn làm việc hoặc đặt quanh máy vi tính, truyền hình, lò vi sóng và các đồ điện khác để giảm nhẹ độ phóng xạ bảo vệ cơ thể con người tránh nhiễm xạ.

– Đối với những góc nhỏ bên ngoài nhà có thể đặt thạch anh trắng ở những vị trí đối xứng nhau, để hoá giải sát trạch.

– Trong nhà khi có cửa đối cửa có thể để thạch anh trắng làm tuyến nối giữa hai cửa để hoá giải xung khắc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa của đá Thạch anh trắng –

Một, đại hạn ứng kỳ

Năm tháng vi sớm, nhật thời vi vãn, có đại hạnứng kì, đại vận xuất hiện hôn nhân chi ứng kì. Niên trụ:1 - 18 tuổi, nguyệt trụ:18 - 35 tuổi, nhậttrụ:35 - 55 tuổi, thời trụ: sau 55 tuổi.
Một, đại hạn ứng kỳ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Đại hạn ứng hung, như đại hạn khắc phụ, đại vận ứng cát, này vận không thể, qua vận thì hung.

Đại hạn ứng cát, đại vận ứng hung, này vận không cát, qua vận thì cát.

Đại hạn ứng hung, như có vận may, đại vận có cát, chưa tới cát vận cũng ứng hung.

Giao thoát quyết: Bát tự chi vận hạn ứng cát, nhưng gặp hung đại vận thì qua vận ứng cát, không xem ứng kì.

Bát tự chi vận hạn ứng hung, nhưng gặp cát đại vận thì qua vận ứng hung, không xem ứng kì.

Bát tự chi vận hạn ứng hung, nhưng sau khi gặp cát đại vận thì chưa tới cát vận nhất định thấy hung.

Nhàn chú: Tòng lấy thượng đại hạn cùng đại vận ứng kì quy luật nhìn ra: Đại hạn cùng đại vận vốn là cùng đích quan hệ, tức vi" Cùng" Đích quan hệ," Đại vận+ đại hạn" Vi cát thì không hung, hai người cũng vi hung thời ứng hung; hai người cũng vi giờ lành ứng cát.

Như:

Khôn: Ất giáp đinh tân  ất bính đinh

    Mão thân hợi hợi  dậu thú hợi

Bính tuất vận không thể kết hôn, nguyên nhân thương quan khứ quan rồi, tuất vận một qua, năm thứ nhất nhân tiện kết hôn. Chưa kịp đinh vận đích giáp thân năm, cứ việc thân hợi hại cũng giống nhau kết.( Tuất vận khắc không được phu, qua tuất vận, đinh vận năm thứ nhất giáp thân năm khắc phu, đại vận tạp rồi. Một qua sẽ chết, không xem lưu niên. Rốt cuộc vốn là khắc hay là kết hôn?)

Nhàn chú: Tòng lấy thượng văn tự ghi chép cùng bát tự xem: Đại hạn xem sớm đáng kết hôn đích, nguyệt đích quan tinh rất vượng, nhưng nguyên nhân thú vi thương quan vận, kết không được! Đinh vận giáp thân năm kết hôn rồi!( Trí vu khi nào khắc đã chết! Không ghi chép! Phu tinh ngồi thẳng vị, thân hại chi!)

Càn: Ất canh tân nhâm

    Tị thìn mão thìn

Đại vận: Kỷ mão mậu dần đinh sửu

 1 tuổi 11 tuổi 21 tuổi

Mới vu:1965 1975 1985

Đoạn thiếu niên khắc phụ, đại hạn trông nom đích,18 tuổi trước kia, nguyên cục mão hại bất tử. Cho nên mão vận không chết được. Tẩu dần vận mặc tị. Ứng kì tới rồi. Không thể lão bà, lão bà thân thể bất hảo.

Nhàn chú: Niên thượng ất mộc thiên tài vi phụ, hợp nhập nguyệt lệnh càng biểu phụ, ất= mão, nguyên cục trung lưỡng thìn kẹp hại, hại bất tử, cho nên tẩu mão vận phụ bất tử! Ất tại niên thượng ấn lý ứng thiếu niên khắc phụ đích, nhưng đại vận không thể, cho nên, thiếu niên bất tử phụ! Như đổi lại cái thời thần như nhâm giờ Thân thì mão vận nhân tiện khắc đã chết! Niên thượng ất tị vi mang tượng, tị dẫn theo ất đích tượng, đi tới dần vận, dần hại tị, phụ vong!( Này tạo phía sau có ghi chép phụ chết ở đinh sửu vận đích giáp thú năm, ứng chính là nhược thần giáp xung vượng thần canh vi vọt lên? Không biết cái kia đối với?!) cùng phương pháp thì định ứng kì!

Khôn: Tân ất tân canh bính đinh mậu kỷ

    Sửu mùi dậu tử thân dậu thú hợi

Khắc phụ,18-35 trong lúc đó, bính thìn năm tử phụ, trước mắt xem dậu lộc. Tử thực thương. Mẫu sinh hạ nàng đệ nhất tuổi sẽ chết, bởi vì năm mộ rồi. Thiên tài ngồi mộ. Nam chính là xã hội đen, nữ đích bán giả khói, phụ nữ lấy đen tài. Tân dậu nhật chủ xứng sửu thổ lấy đen tài, xã hội đen.

Nhàn chú: Này tạo nhìn kỹ có thể biết, nàng vốn là tân dậu nhật đích buổi tối23:00-24:00 sinh đích, chúc vãn tử. Ất mộc tại nguyệt lệnh, vi phụ rồi! Phụ ngồi mộ, thiếu niên khắc phụ, thêm ất canh hợp, tử mặc mùi, cũng là sớm tử chi tượng. Mậu vận năm thứ nhất bính thìn năm tang phụ! Mẫu vi thực thần cũng vi lộc, tân dậu một trụ nhập sửu mộ, tân vi mẫu, mẫu tử đích sớm hơn! Một tuổi tang mẫu. Tân dậu một trụ thấy sửu nhân tiện vào mộ, sửu vi âm u địa phương, lộc thêm vi tài, cho nên, loại này kết cấu vốn là lấy đen tài đích! Nam đích thì dễ vi xã hội đen. Ất mùi vi mùi thuốc lá tượng, làm giả khói đích. Nói chung, bát tự nói quý tiện, đại vận nói cát hung, lưu niên xem ứng kì. Lưu niên ứng kì đích cái nhìn phân dưới vài loại.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Một, đại hạn ứng kỳ

Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Bật mí những bí mật gia tăng vận đào hoa tuyệt diệu nhất trong ngày Rằm Tháng Giêng - Valentine phương Đông. Cách tăng vận đào hoa để tình yêu nảy nở
Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày Rằm Tháng Giêng ở Việt Nam còn gọi là ngày vía Phật Tổ, nhưng ít ai biết rằng Rằm Tháng Giêng còn được coi là mùa Valentine phương Đông. Thơ Đường xưa đã viết: "Nguyên tiêu chi dạ hoa lộng nguyệt", mùa trăng tròn lung linh sắc màu hoa đăng rực rỡ cũng là dịp nam thanh nữ tú thả đèn trời hẹn hò se duyên.


Dưới đây, ## xin được giới thiệu cho bạn đọc những bí mật gia tăng vận đào hoa tuyệt diệu nhất trong ngày Rằm Tháng Giêng này.



Bi quyet tuyet voi gia tang van dao hoa ngay Ram thang Gieng hinh anh

► Mời các bạn: Đổi ngày dương sang âm nhanh chóng và chuẩn xác nhất tại Lịch ngày tốt

Kiếm Phong

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết tuyệt vời gia tăng vận đào hoa ngày Rằm tháng Giêng

Nguồn gốc khoa tử vi

Bài viết tìm hiểu nguồn gốc khoa Tử Vi của tác giả Hoàng Quân rất hay. Mời mọi người cùng tham khảo!
Nguồn gốc khoa tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của G.S Hoàng-Quân

A- Nguồn gốc khoa Tử-Vi

- Tranh luận về khoa Tử -Vi hiện nay, người ta có ba giả-thuyết về nguồn gốc của nó:

- Giả-thuyết thứ nhất: Nói rằng đời người có nhiều sự kiện. Các sự kiện khi giao huy với nhau thành ra sự kiện mới. Trong khoa Tử-Vi, mỗi sao biểu tượng cho một sự kiện đó.

- Giả-thuyết thứ hai: Khoa Tử-Vi là một số sự kiện. Nguyên lý của khoa Tử-Vi không giải-thích được. Các ngôi sao chỉ giao huy với nhau trên một tờ giấy.

- Giả-thuyết thứ ba: lại cho rằng nguyên lý của khoa Tử-Vi là Dịch lý. Hi-Di tiên-sinh đã căn cứ vào Dịch lý mà san định ra Tử-Vi. Như đã trình bày ở trên: Các nhà nghiên cứu Tử-Vi ít để ý đến lịch-sử nguồn gốc của nó. Nên diễn tiến lịch-sử bị bỏ quên. Người đời nay muốn tìm, rất khó khăn, nên mới có những giả-thuyết đặt ra theo trí thông minh sâu sắc mà suy diễn.

Trở lại với nguyên lý khoa Tử-Vi, ta hãy căn cứ vào đoạn đối đáp sau đây của Tống-Thái-Tổ với Hi-Di tiên-sinh:

“.. Quả nhân đã đọc Tử-Vi Tinh-Nghĩa kinh do tiên-sinh ban cho. Tiên-sinh là Thần Tiên khác phàm, trên cảm cùng trời, dưới thông cùng nhân gian. Tiên-sinh đã khải ngộ đặt ra từ bao giờ vậy?

Ðáp:

- Không phải bần đạo đâu. Không phải bần đạo đâu. Khoa Tử-Vi uyên-nguyên từ đời Ðông-Tấn. Qua đời Lục-Triều vẫn chưa có qui-tắc nhất định. Ðời Ðường thịnh trị mấy trăm năm, không ai để tâm đến. Vừa qua thiên-hạ đại loạn, thế sự thăng trầm, chết sống vô định, nên Tử-Vi được san định lại. Bần đạo nhân học 6 khoa Thiên-Văn, Lịch-Phổ, Ngũ-Hành, Ngũ-Sự, Tạp-Chiêm và Hình-Tượng thấy cùng một gốc ở vũ-trụ biến dịch, nên tập lại vậy. Xưa kia các vị Chúc-Quan đã tốn nhiều tâm lực nghiên-cứu ra đây... (Triệu-thi Minh thuyết Tử-vi kinh, chương 1).

Như vậy, nguồn gốc khoa Tử-Vi rất xa, và nguyên-lý của nó ở 6 khoa và gốc ở vũ-trụ.

B– Sáu khoa tạo thành Tử-Vi

Uyên-nguyên khoa Tử-Vi là ở 6 khoa cổ trong thời kỳ văn-hóa sơ khai của Trung-Hoa. Thời đại thượng cổ Trung-Hoa: Hoàng-Ðế, Hạ-Vũ, Tây-Châu, Xuân-Thu, tính ra khoảng 2502 năm ( Từ 2752 đến 250 trước Tây-lịch) nói về tư tưởng rất kính sợ trời. Giữa trời và người có sự liên-hệ quan trọng, được biểu dương bằng câu:

Thiên nhân tượng dữ.
Nghĩa là giữa trời và người có cùng mối liên quan với nhau.

Kinh-Thư nói: Thiên sinh chúng dân.

Kinh-Thư nói: Duy Thiên âm chất hạ dân.

Lễ-Ký nói: Vạn vật bản hồ Thiên - Trời có toàn quyền soi xét khắp nơi, trời có phép tắc trị muôn vật, làm khuôn phép cho mọi ngươì, tức là cái nền tảng đạo đức.

Kinh-Thi nói:

Thuợng đế lâm hạ hữu hách
Giám quan tứ phương.

Lại nói:

Thiên giám tại hạ.
Thiên sinh chúng dân.
Hữu vật hữu tắc.

Kinh-Thư nói:

Thiên tự hữu điển.
Thiên trật hữu lễ.

Ấy bởi cái tư-tưởng đó mới phát sinh ra học thuật. Mà giữ về cái quan hệ học thuật ấy có hai chức quan: Quan Chúc coi việc trời, quan Sử coi việc người. Quan Chúc tức là khởi thủy của khoa Tử-Vi vậy.

a) Quan Chúc coi việc trời

Thời cổ chính trị tôn giáo vẫn chưa phân ra hai đường. Cái chức quan coi việc Thần-quyền rất quan trọng. Như tại Ai-Cập có chức Pháp-Lão, Do-Thái có chức Tế-Tự-Trưởng. Ấn-Ðộ phân ra làm 4 tộc: Bà-la-môn, Sát-lị là giòng Ðế-vương. Bà-la-môn chính là giòng Quan-Chúc. Tây-Tạng có chức Lạt-Ma chuyên giữ đại chính trong nước. Xưa kia Giáo-Hoàng La-mã còn có quyền trên cả vua chúa.

Chúc quan Trung-Hoa có hai loại:

* Một là quan Chúc coi việc cúng tế. Ðại biểu tư-tưởng nhân dân mà tâu lên trời để cầu lấy phúc lành. Sách Châu Quan trong thiên Xuân Quan Ðầu có nói về giòng dõi chi lưu chức quan Chúc ấy. Trong sách Tả truyện có chép, khi Tào-Uế luận chiến sự với Lỗ-Hầu, có bàn về các lễ tế thần để thắng trận.

* Hai là Quan-Chúc coi việc làm lịch. Chuyên giữ việc suy xét việc trời để ứng vào người. Ðời Tam-Hoàng có sai quan Nam-Chính là Trọng coi việc trời để họp các thần. Quan Bắc-Chính là Lê coi việc đất để họp dân. Ðời vua Nghiêu có sai quan Hi-Hòa-Kính thuận việc Trời xét về trình độ Nhật-Nguyệt tinh thần mà làm ra lịch để bảo cho dân biết bốn mùa mà làm ăn. Lại xét máy toàn cơ ngọc hành để so sánh 7 chính, tức mặt trời, mặt trăng, ngũ hành tinh: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ. Quan Chúc coi việc làm lịch có ba phần:

- Hiệp định ngày, tháng, 4 mùa làm ra lịch.

- Suy tính thủy chung năm đức để định mệnh trời. Như thiên Nghiêu-Ðiển có viết: Lịch số trời đã thuộc về mình vua. Ðời sau nói về các vua Tam Ðại chịu mệnh trời cũng gốc ở Lịch-Học. Thiên-Hồng-Phạm có nói về Ngũ-Hành và những lời sấm vĩ đều phát nguyên từ đó.

- Xem xét tinh tượng, bói toán, định cát hung. Ðến đời Xuân-Thu, bọn Tì-Táo, Tử-Thận đều là giòng Chúc Quan coi việc lịch.

b) Quan-Sử coi việc người

Quan Chúc, quan Sử quyền ngang nhau. Sách Châu Lễ có kể đến quan Ðại-Sử, Tiểu-Sử, Tả-Sử, Hữu-Sử, Nội-Sử, Ngoại-Sử.

- Kinh-Thi, do quan Thái-Sử đi nhặt về mà có các bài thơ Lão-Ðam (Lão Tử) cũng là quan Trụ-Hạ-Sử. Trong Hán-Thư, phần Nghệ-Văn-Chí, sử-gia Ban-Cố cũng cho rằng phái Ðạo-Gia là do Sử-Quan mà ra.

Tóm lại, tư-tưởng học thuật cổ Trung-Hoa, tư-tưởng “Thiên Nhân Tương Dữ” như sau:

Quan Chúc coi việc Trời (nguồn gốc Tử-Vi):

Quan Chúc coi việc tế tự.
Quan Chúc coi việc làm lịch (Lịch tương gia tức Thiên-Văn học. Lịch số học, tức âm Dương. Chiêm-tinh-gia tức Phương-thuật).

Quan-Sử coi việc nguời:

Nhà Sử học về sự thực (Tổ Nho-gia).
Nhà Sử học về suy lý (Tổ Ðạo-gia)

Tất cả Thuật số đều phát xuất từ Chúc-Quan làm lịch.

c) Thuật số cổ Trung-Hoa

Trong bộ Hán-thư của Ban-Cố, phần Nghệ-Văn-Chí có đoạn:

“Thuật số do các sử gia Thần-thoại là Hi-Hòa trong nhà Minh-Ðường đã sưu tầm và duyệt lại. Công việc ấy từ lâu bị hủy đi mà không dùng nữa. Sách vở đến nay không còn đủ. Tuy vậy, có phần sách thì còn, mà nguồn thì quá cố từ lâu. Kinh Dịch có câu: Nếu người chính đáng mà không có thì đạo không thể thi hành được đầy đủ. Ðời Xuân-Thu có Lỗ có Tân-Thuận, Trịnh có Lý Táo, Tần có Bốc Yểm, Tống có Tử-Vi. Thời Chiến-Quốc, Sở có Cam-Công, Vệ có Thạch-Thông-Phủ. Hán có Ðường-Ðô. Ðấy là những nhà thuật số giỏi”.

Các khoa thuật số Trung-Hoa là sáu khoa mà Hi-Di tiên-sinh bảo đó là các khoa có cùng nguyên-lý. Tiên-sinh nhân học, rồi hiệp tinh-hoa thành khoa Tử-Vi. Sách Tả truyện có nói nhiều đến các khoa này.

- Khoa Thiên-văn, trong bộ Sử-Ký 130 quyển của Tư-Mã-Thiên đã dành cả quyển 28 nói về Lịch, quyển 29 nói về Thiên-quan. Trong bộ Hán-Thư, Nghệ-Văn-Chí, Ban-Cố để một chương chép về khoa Thiên-văn. Theo Ban-Cố thì Thiên-Văn dùng để xếp đặt thứ tự, biến dịch của 28 sao 5 hành tinh Nhật, Nguyệt, nhờ đấy mà đoán ra tốt xấu. Khoa Tử-Vi đặt căn bản là vận hành tinh tú ảnh hưởng đến con người, nguồn gốc của nó là Thiên-Văn. Kinh Dịch rút từ nguyên-lý vũ-trụ tuần-hoàn, đồng nguồn gốc với Thiên-Văn, nên có câu:

Quan Thiên-Văn dĩ sát thời biến.
Nghĩa là ngắm tượng trời để xét sự thay đổi thời tiết.
(Chu Dịch, Quẻ Bí)

Nguyên-lý căn bản của Tử-Vi là Thiên-Văn. Thiên-Văn và Dịch đều có nguyên-lý là Vũ-Trụ. Chính vì vậy, có nhiều người lầm cho rằng nguyên-lý của Tử-Vi là Dịch lý cũng không lạ.

-Về Lịch-Phổ dùng vào việc đặt vị trí bốn mùa có thứ tự để tính thời tiết bốn mùa, đêm ngày, Hi-Di không mấy chú ý đến tính chất Ngũ-Hành của các sao tại 12 cung. Mà chỉ để ý đến các cách thường kết hợp lại với nhau thành một cường lực nào đó.

-Ngoài ra, khoa Ngũ-Hành, Ngũ-Sự, Tạp-Chiêm, Hình-Tượng cũng đều có nguyên-lý Vũ-Trụ mà Hi-Di tiên-sinh rút ra để đoán vận hạn, tính tình, sống chết, thành bại của con nguời.

Tóm lại, nguyên-lý khoa Tử-Vi có thể tóm lược như sau:

C- Khoa Tử-Vi và tiểu-thuyết thần thoại

Vì sự thiếu sót của Tử-Vi sử, nên hầu hết những nguời bình dân Việt-Nam đều lầm lẫn những nhân vật tiểu-thuyết Thần-kỳ chí-quái, ma trâu đầu rắn với các sao trong khoa Tử-Vi. Ðể rồi khi lo vận hạn, bầy ra cúng sao, coi như đó là những ông Thần có thể ban phước, ban ơn cho người ta. Thậm chí có nhiều nhà Tử-Vi thành danh mà cũng bị lầm lẫn, nguyên do chính vì không học sử Trung-Hoa và bị tiểu thuyết ảnh huởng đến độ tưởng thật (1)

a) Trần-Ðoàn không phải là Tiên-ông. Trần Hi-Di là một đạo-gia tu ở Hoa-Sơn, đời Tống-sơ. Tất cả sách vở đều chép như vậy. Nhưng đến đời Minh, phong trào chương hồi tiểu-thuyết ra đời. Nhiều tiểu-thuyết gia biến Tiên-sinh thành Trần-Ðoàn lão-tổ, có phép tắc vô cùng huyền bí, hô phong hoán vũ. Có tiểu-thuyết gia cho Tiên-sinh sống từ đời Bàn-Cổ. Ðời Ðông-Chu, Tùy, Ðường đều có xuất hiện đấu phép thu học trò. Tiên-sinh chỉ là Ðạo-gia, và trở thành Tiên trong sự tưởng tượng của người sau ông đến hơn 200 năm.

Các Sao trong Tử-Vi và nhân vật Thần-Thoại: Từ sự lầm lẫn Hi-Di tiên-sinh là một Tiên ông, người ta còn lầm lẫn trầm trọng thêm nữa là lầm các Sao trong Tử-Vi với các vị thần trong Tiểu-thuyết.

Rồi khẳng định rằng Hi-Di tiên-sinh căn cứ vào nhân vật Thần-thoại đời Thương-Chu chiến tranh mà đặt cho các ngôi sao. Sự lầm lẫn tai hại này chứng tỏ không hiểu tí gì về Văn-Học-Sử và Sử Trung-Hoa. Có ba điều chứng minh rằng Hi-Di tiên-sinh không hề căn cứ vào nhân vật đời Thương-Chu đặt tên cho các ngôi sao trong khoa Tử-Vi:

Thứ nhất: Các ngôi sao trong khoa Tử-Vi đều là những hành-tinh có thật trong Thiên-Văn. Ðọc bộ Tinh-Kinh của Cam-Hũu-Vu, hoặc của Lưu-Biểu sẽ thấy rõ tính chất tuần hành của Thiên-Hà. Tiểu-thuyết gia lấy các sao trong Thiên-Văn rồi đặt ra những nhân vật ấy là Thần của ngôi sao.

Ðáng buồn thay, có những nhà Tử-Vi khuyên người ta nên căn cứ vào nhân vật tiểu-thuyết để tìm hiểu tính chất các sao thì tránh sao khỏi sai lạc trầm trọng.

Thứ hai: Khoa Tử-Vi được phổ biến vào năm Càn-Ðức nguyên niên (963), vào đầu đời Tống. Còn nhân vật tiểu-thuyết mãi đời Minh mới xuất hiện. Không thể có việc người sống trước 2000 năm bắt chước người sau. Trong bộ

Trung-Quốc Văn-Học Sử của Dị-Quân-Tả Tự-Do thư xã ấn hành tại Hương-Cảng vào niên hiệu Trung-Hoa Dân-Quốc thứ 48, chương II, Minh Ðại văn-học, trang 397 có viết:
“.. Minh-Sử, Nghệ-Văn-Chí chÉp có tới 127 bộ tiểu-thuyết được viết trong đời này, gồm 3307 cuốn.. Nhưng xứng đáng được gọi là tiểu-thuyết có Trung-Quốc tứ đạo kỳ thư.. Mà Tứ-Ðại kỳ-thư tiểu-thuyết đời Minh truyền đến nay còn thực nhiều. Tiến cử ra đây một bộ đó là bộ Phong-Thần Diễn-Nghĩa hay còn gọi là Phong-Thần Bảng (2).. “

Ðoạn trích dẫn trên đầy đủ chứng minh rằng nhân vật Phong-Thần được bịa đặt ra sau Hi-Di tiên-sinh đến 200 năm.

Thứ ba: Tra cứu các bộ chính sử như Kinh Xuân-Thu, Tả truyện, Chiến-Quốc sách không hề thấy nói đến tên nhân vật thần-thoại trong Phong-Thần. Bộ Sử-Ký của Tư-Mã-Thiên:

- Cuốn 4 nói về Thương Kỷ.
- Cuốn 5 nói về Chu Kỷ.
- Cuốn 33 nói về Lễ, Chu-Công thế-gia.
- Cuốn 32 nói Tề, Thái-Công thế-gia.

Chỉ thấy nói đến các nhân vật lịch-sử như: Trụ-Vương, Võ-Vương, Khương-Thượng...vân. vân... Không hề thấy nói đến Dương-Tiễn, Lý-Tĩnh, Lý-Na-Tra, Long-Kiết công chúa, Nguyên-Soái Trương-Quế-Phương.v.v...

c) Kết luận. Tóm lại:

- Khoa Tử-Vi nguồn gốc ở chức Chúc quan đời cổ. Nguyên-lý của nó là vũ-trụ. Dịch lý cũng có nguyên lý từ vũ-trụ nên nhiều người lầm tưởng khoa Tử-Vi có nguyên lý là Dịch lý.

Tiểu-thuyết gia đời Minh tưởng tượng ra những nhân vật thần-thoại, rồi cho các nhân vật ấy thành thần, trấn mỗi người một tinh tú. Không có sự liên hệ khoa-học nào giữa các nhân vật đó và những sao trong Tử-Vi. Hi-Di tiên-sinh là một đạo-gia, không phải là Tiên ông.

  • Một giáo sư tốt nghiệp đại học, vì mê tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, bị xe cán gẫy ống chân không đi nhà thương bó bột. Nằm ở nhà tập vận nội công như Trương Vô Kỵ mong xương lành. Rút cuộc chân thối phải cưa.
  • Người Nhật có một bản đề tên Trá trọng Tâm, in đời Minh, 120 hồi.

Tài liệu tham khảo:

SÁCH CHỮ HÁN:

  • Tử vi tinh nghĩa: Trần Đoàn bản của cơ quan nghiên cứu Đông Á Châu.
  • Triệu thị minh thuyết Tử vi kinh: Triệu Thị bản của cơ quan nghiên cứu Đông Á Châu
  • Trung quốc Văn học sử: Dị quân Tả
  • Ẩm băng Thất văn tập: Lương Khải Siêu
  • Trung quốc Triết học sử: Phùng Hữu Lang
  • Trung quốc cổ đại xã hội nghiên cứu: Quách mạt Nhược

SÁCH TÂY PHƯƠNG:

  • Pensee Chinoise: M. Granet.
  • Naissance de la Chine: H.Glessner Greel.

KHHB số 74L1


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguồn gốc khoa tử vi

Đền Đồng Nhân - Hà Nội

Đền Đồng Nhân còn có tên thường gọi khác là đền Hai Bà Trưng hay đền Trưng Nữ Vương. Đền được dựng từ năm 1160 đời vua Lý Anh Tông ở phường Bố Cái
Đền Đồng Nhân - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đền Đồng Nhân còn có tên thường gọi khác là đền Hai Bà Trưng hay đền Trưng Nữ Vương. Đền Đồng Nhân được dựng từ năm 1160 đời vua Lý Anh Tông ở phường Bố Cái, tức là bãi Đồng Nhân, bên bờ sông Hồng. Năm 1819, vì bãi bị lở, dân dời đền vào khu vực trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên, tổng Thanh Nhàn huyện Thọ Xương tức địa điểm hiện nay tại số 12 phố Hương Viên, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Đền được xây dựng vào năm 1142 dưới triều vua Lý Anh Tông, Hai bà quê ở Mê Linh, đất Phong Châu. Chị là Trưng Trắc, em là Trưng Nhị. Lúc bấy giờ Thái thú nhà Hán là Tô Định tàn bạo, giết hại Thi Sách, là chồng của bà Trưng Trắc. Hai bà phất cờ nổi dậy và được dân chúng ở các nơi cùng hưởng ứng đánh đuổi quân Tô Định lấy được 65 thành trì ở Lĩnh Nam, tự xưng làm vua. Về sau, nhà Hán sai tướng là Mã Viện sang đàn áp, hai bà chống không nổi phải rút về giữ đất Cẩm Khê, sau cùng lên núi Thường Sơn và tự vẫn.

Cũng có thuyết cho rằng Hai Bà cùng nhảy xuống sông Hát Giang tự vẫn, sau đó khi thiêng hóa thành hai tảng đá trắng trôi trên sông Hồng về bến bãi Đồng Nhân, đêm thường phát sáng rực rỡ. Dân làng thấy vậy, bèn lấy vải đỏ rước tượng bà và lập đền thờ Hai Bà ở ngay bãi Đồng Nhân ven sông. Tương truyền tượng đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay giơ cao chỉ lên trời. Vua đã phát hai đôi ngà trang trí và hai pho tượng voi để thờ Hai Bà.

Do bãi sông bị lở dần, đền có nguy cơ bị đổ, dân phải dời về xã Đại Từ. Đến năm Gia Long 18 (1819) đền mới được chuyển vào tại Hương Viên, trên nền khu Võ Sở (thời Lê dùng làm nơi luyện và thi võ). Dân làng Đồng Nhân ở ngoài bãi cũng di chuyển vào đó và thờ cúng Hai Bà.

Phía trước mặt đền có hồ bán nguyệt, đường vào qua 4 cột trụ gạch đồ sộ, cây cối sum sê, bên trái là sân rộng, dưới bóng đa có tấm bia đá đặt trên lưng rùa. Khu đền thờ hiện nay được chia làm hai phần: đền thờ Hai Bà và chùa thờ Phật.

Đền Đồng Nhân kiến trúc theo kiểu “nội Công ngoại Quốc”, gồm tiền tế, đại bái và hậu cung. Tiền tế 7 gian. Trong tiền tế được bày 2 voi gỗ sơn đen, ngà của voi là ngà thật. Đây là 2 voi tượng trưng cho voi của Hai Bà cầm quân ra trận. Bên cạnh đó là các bức hoành phi, câu đối ca ngợi sự nghiệp cùng công đức của Hai Bà. Tòa bái đường được đặt ngai thờ và 1 tấm khảm thể hiện hình ảnh Hai Bà cưỡi voi đánh giặc.

Phương đình Chùa Đồng Nhân
Phương đình Chùa Đồng Nhân

Bên cạnh đó có nhang án, hoành phi, câu đối… Trong hậu cung đặt tượng Hai Bà cùng 6 tượng nữ tướng dàn hai bên, trong đó là các tướng Lê Chân, Hòa Hoàng, Thiên Nga, Nguyễn Đào Nương, Phùng Thị Chính và Bát nạn Công chúa Phạm Thị Côn. Hai Bà và các tướng lĩnh được thờ như nhiều nơi trên đất nước như ở đền thờ Hai Bà ở Hát Môn (huyện Phúc Thọ), ở Phụng Công (Hưng Yên), ở Mê Linh (huyện Mê Linh)… và có tới hơn bốn trăm nơi thờ các vị tướng của Hai Bà.

Trên bệ đá cao khoảng một mét là tượng Hai Bà bằng đất luyện, tư thế ngồi. Bà chị Trưng Trắc mặc áo vàng, bà em Trưng Nhị mặc áo đỏ, đầu đội mũ phù dung, tượng to hơn người thật, tay giơ cao trước mặt như đang hiệu triệu quần chúng, Hai bên là tượng12 nữ tướng đã theo Hai Bà khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định, rửa nhục nước, trả thù chồng.

Hàng năm vào mồng 6 tháng 2 âm lịch, nhân dân làng Đồng Nhân và nhân dân Hà Nội mở lễ hội kỷ niệm Hai Bà Trưng (ngày rước tượng về thờ) theo sự tích đền và chính là ngày Hai Bà Trưng tuẫn tiết vì nghĩa lớn của dân tộc. Cứ đến ngày mồng 5 tháng 2, dân làng Phụng Công (Văn Giang, Hưng Yên), nơi cùng thờ Hai Bà sang đền Đồng Nhân, cùng người dân Đồng Nhân rước lễ, lấy nước giữa dòng sông về tắm tượng. Lễ hội ở đền Đồng Nhân cũng như các di tích khác đều nhằm tưởng niệm những anh hùng dân tộc, những người có công với nước với dân. Qua lễ hội biểu hiện rõ tình cảm “uống nước nhớ nguồn” tâm linh người Việt. Đền đã được công nhận di tích lịch sử – văn hóa.

Đền Đồng Nhân đã được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia ngày 28-4-1962.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đền Đồng Nhân - Hà Nội

Con giáp nào sẵn sàng 'bố mẹ đặt đâu, con ngồi đấy'

Tuổi Hợi, Tuất, Tý... luôn xem trọng tình nghĩa gia đình và không muốn việc cá nhân làm ảnh hưởng tới tình cảm thiêng liêng ấy.
Con giáp nào sẵn sàng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Hợi

Thà hy sinh hạnh phúc cá nhân chứ không bao giờ từ bỏ bố mẹ

Từ bỏ tình cảm của mình để làm theo sự sắp đặt của người khác là chuyện không hề dễ dàng đối với người tuổi Hợi. Tuy nhiên, nếu bố mẹ đã đưa ra phán quyết cuối cùng, ép buộc bạn phải làm theo ý họ, con giáp này cũng đành “ngậm đắng nuốt cay” mà tuân mệnh.

Hoi-8135-1421937987.jpg

Gia đình luôn chiếm một vị trí quan trọng trong trái tim người tuổi Hợi. Khi phải đưa ra sự lựa chọn, họ thà hy sinh hạnh phúc cá nhân chứ không bao giờ có chuyện từ bỏ bố mẹ vì bất cứ lý do nào. Tất nhiên, tâm lý bị ép buộc khiến họ nổi giận lôi đình, thậm chí trách móc bố mẹ hoặc quay sang lạnh lùng với nàng đâu được định sẵn. Cuối cùng, vì gia đình êm ấm, người tuổi Hợi sẽ dần quen với sự gượng ép ấy để tạo cho mình một cuộc sống giản đơn và vui vẻ nhất có thể.

Tuổi Tuất

Người con có hiếu sẽ không bao giờ muốn làm tổn thương cha mẹ

Người tuổi Tuất có cá tính mạnh mẽ và quan niệm sống rõ ràng nên sẽ không chấp thuận “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” một cách dễ dàng. Nếu phụ huynh đưa ra những yêu cầu vô lý, ngay lập tức họ sẽ “hứng chịu” sự phản đối quyết liệt từ con giáp này.

Tuat-6488-1421937989.jpg

Tuy nhiên, khi được bố mẹ phân tích, khuyên bảo, thậm chí ngỏ ý cầu xin, người tuổi Tuất nhanh chóng bị lay động và cân nhắc lại chuyện tình cảm của mình. Là một người con hiếu thuận, con giáp này không bao giờ muốn làm tổn thương phụ huynh. Sau khi suy nghĩ đã thông suốt, họ sẽ đưa ra quyết định hợp tình hợp lý nhất có thể để làm yên lòng phụ huynh.

Tuổi Tý

Cư xử khéo léo làm hài lòng tất cả 

Là người bướng bỉnh và có chính kiến riêng nhưng trước mặt bố mẹ, người tuổi Tý cũng biết cách cư xử khéo léo, sao cho không làm phụ huynh phiền lòng. Họ thông minh, biết cách “sàng lọc” ý kiến đóng góp của người khác và đưa ra quyết định có thể làm hài lòng tất cả mọi người.

Ty-2543-1421937989.jpg

Theo quan điểm của con giáp này, hôn nhân nếu được các bậc tiền bối ủng hộ, chúc phúc thì sẽ có được hạnh phúc viên mãn và thêm tự tin để gánh vác cuộc sống gia đình. Khi gia đình phản đối, họ cũng đau buồn nhưng quyết không cãi lời cha mẹ. 

Tuổi Mùi

Coi trọng gia đình, sớm ‘sập bẫy’ khi phụ huynh ra tay

Trong số 12 con giáp, người tuổi Mùi dễ ảnh hưởng bởi các yếu tố xung quanh nhất. Tâm trạng vui buồn nhanh chóng đan xen và lẫn lộn khiến họ khó kiểm soát được cảm xúc của bản thân. Người tuổi Mùi rất coi trọng gia đình, hầu như chưa bao giờ có thái độ chống đối hoặc cãi lại bố mẹ.

Mui-7792-1421937990.jpg

Do đó, chuyện kết hôn phần lớn sẽ theo quyết định của phụ huynh và ý kiến đóng góp của người thân, bạn bè xung quanh. Họ sẽ nhanh chóng “sập bẫy” khi các bậc phụ huynh đã quyết định “ra tay”. 

Mr.Bull (theo Dyxz)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Con giáp nào sẵn sàng 'bố mẹ đặt đâu, con ngồi đấy'

10 điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư

Điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư đó là họ là người mong manh, yếu đuối, sống tình cảm và vô cùng mơ mộng vì thế, đừng là họ tổn thương khó nghe.
10 điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư đó là họ là người mong manh, yếu đuối, sống tình cảm và vô cùng mơ mộng vì thế, đừng là họ tổn thương bằng những lời nói nặng nề, khó nghe.
Song Ngư là người có trí tưởng tượng phong phú và cũng là người giàu cảm xúc nhưng lại không biết bày tỏ những mong muốn của mình ra ngoài. Những người này có xu hướng sống trong thế giới mơ mộng của mình hơn là thực tế. Chính vì thế, họ thường trông rất trẻ con và vui tươi. 
 

1. Họ cần tình cảm và rất nhiều… tình cảm

  Song Ngư không biết nói chính xác những mong muốn của mình nhưng họ lại khao khát được yêu thương và chăm sóc. Trong mối quan hệ yêu đương, họ luôn mong được người ấy chú ý. Vì thế, nếu bạn đang yêu một người đàn ông hay phụ nữ cung Song Ngư đừng ngại bày tỏ tình cảm với đối phương để họ cảm nhận được sự yêu chiều của bạn. Nếu bạn có thể đáp ứng mong đợi của họ, tình yêu của hai người vô cùng bền vững.
Tham khảo thêm bài viết sau: Cung Song Ngư hợp với cung nào? 
 

2. Họ đam mê sự sáng tạo

  Những người thuộc cung Song Ngư thường cảm thấy buồn chán cuộc sống hiện tại và họ thà tự tạo thế giới riêng bên trong tâm trí của mình còn hơn là chấp nhận thực tế. Họ không thích công việc nhàm chán, họ chỉ thích những hoạt động sáng tạo như vẽ, viết, không gian yên tĩnh...

Họ không phù hợp với những công việc công sở đơn thuần mà chỉ hợp với công việc được thể hiện sự sáng tạo. Vì thế, điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư đó là chấp nhận sự thật rằng họ luôn cần không gian sáng tạo và những điều mới lạ trong cuộc sống.
 
 
2dieu nen nho truoc khi yeu song ngu
 
 

3. Họ rất chung thủy

  Ngoài kia dù có rất nhiều cám dỗ nhưng Song Ngư sẽ không dễ dàng vì một ai khác mà từ bỏ mối quan hệ hiện tại của mình. Họ yêu hết lòng và rất chân thành. Họ thích có mối quan hệ nghiêm túc, vì vậy nếu bạn đã có được trái tim của Song Ngư, thì đừng khiến họ thất vọng mà hãy trao cho họ trái tim chân thành.
 

4. Họ thích sự lãng mạn và niềm đam mê trong mối quan hệ

  Song Ngư sẽ không nói cho bạn biết rằng họ khao khát đam mê như thế nào trong mối quan hệ này và bạn phải tự cảm nhận. Tuy nhiên, cũng không quá tốn nhiều công sức để làm Song Ngư cảm thấy hạnh phúc. Bữa tối dưới ánh nến đơn giản ở nhà, hoặc một bó hoa hồng chờ sẵn trên bàn làm việc cũng đủ Song Ngư lâng lâng vì hạnh phúc. Chỉ cần dành thời gian để cho Song Ngư thấy bạn yêu họ tới nhường nào bạn sẽ được đáp lại tình cảm tương ứng. 

Bạn có thể xem thêm tất cả những điều về Song Ngư: TẠI ĐÂY
 

5. Song Ngư thích những buổi trò chuyện sâu sắc

  Những cuộc nói chuyện với chủ đề đồ ăn hay thể thao không đủ hấp dẫn Song Ngư. Điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư đó là, họ thích những cuộc trò chuyện kích thích trí tưởng tượng và sự tò mò của mình như người ngoài hành tinh, không gian vũ trụ, sinh vật biển kỳ lạ, làm thế nào vũ trụ ra đời, tại sao chúng ta tồn tại trên thế giới này,… Vì thế, bạn nên trang bị kiến thức về vấn đề này để có thể chuyện trò cùng họ, hấp dẫn họ mỗi ngày. 

Xem thêm: Tiết lộ cách “hạ gục” từng cung hoàng đạo bằng buổi hẹn hò lý tưởng

dieu nen nho truoc khi yeu song ngu
 
 

6. Song Ngư là những người hào phóng

  Một trong nhwunxg điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư đó là họ sẵn sàng làm những để bạn cảm thấy hạnh phúc. Khi yêu, họ có xu hướng hy sinh và sẵn sàng thỏa hiệp để người ấy của họ hài lòng, vì vậy hãy bày tỏ rằng bạn đánh giá cao tình yêu, sự hi sinh của họ là đủ làm Song Ngư cảm thấy hạnh phúc.  

7. Họ hay "phiêu lãng" thoát khỏi thế giới thực

  Bạn sẽ không bất ngờ gì nữa khi thường xuyên thấy họ nhìn chằm chằm vào khoảng không. Họ không muốn thường xuyên mơ mộng giữa ban ngày như thế nhưng đó là bản chất tự nhiên của Song Ngư. Khi yêu một người cung Song Ngư tức là bạn chấp nhận cả việc họ đấu tranh, suy nghĩ trong tâm trí rất nhiều. Nhiệm vụ của bạn là kéo họ về thực tế.
ava2dieu nen nho truoc khi yeu song ngu
 
 

8. Họ thích những bữa tối yên tĩnh những nơi ồn ào

  Song Ngư thà chuẩn bị cho bạn một bữa ăn tối ngon ở nhà hay cả hai nằm dài xem phim hơn là chen chúc với đám đông ồn ào ở những địa điểm ăn chơi. Song Ngư thích tương tác giữa hai người hơn là đi ra ngoài cùng với nhóm bạn, do đó, được ngồi bên bạn một buổi tối yên tĩnh trên chiếc ghế dài đã đủ làm họ hài lòng.  

9. Họ tận hưởng thời gian ở một mình 

  Mặc dù họ thích được chú ý và quan tâm nhưng ngoài ra Song Ngư cũng cần thời gian một mình để nạp năng lượng. Thế giới hiện đại với sự vận động quá nhanh sẽ ảnh hưởng lớn đến một Song Ngư dịu dàng, từ tốn, vì vậy họ cần thời gian ở một mình để giữ cân bằng cuộc sống và giải thoát bản thân khỏi những năng lượng xấu từ tác động xung quanh.

Điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư đó là dù họ muốn ở một mình nhưng bạn lâu lâu nhắc họ rằng bạn rất quan tâm tới họ và mong chờ những phút giây hạnh phúc bên nhau khi họ rời khỏi nơi chốn yên tĩnh của mình.
 

10. Song Ngư có trái tim vô cùng mong manh

  Song Ngư có trái tim mong manh và rất dễ bị tổn thương. Nếu họ thích bạn, họ sẽ ngại ngùng và tinh tế cho bạn biết và sẽ tìm cơ hội để được ở bên bạn chứ không bày tỏ thẳng thắn. Họ cần cảm giác an toàn để không ai có thể làm tổn thương trái tim mình, do đó thường xuyên cho họ biết và cảm nhận tình cảm thật của bạn.
 
   Kate Nguyễn
8 lý do Song Ngư khó hiểu nhất trong các cung hoàng đạo Cung Song Ngư hợp màu gì để cuộc sống luôn sung túc, vương giả

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 điều nên nhớ trước khi yêu Song Ngư

Tử vi Bính Dần phân tích nạp âm lục thập hoa giáp –

BÍNH DẦN: LƯ TRUNG HỎA Trong tử vi Bính dần là con hổ tướng mạo uy nghi, cá tính trung thành chính trực. Lư trung Hỏa có tượng thiên địa là lò, âm dương là than, ánh sáng chiếu sáng vũ trụ, hun đúc trong Càn Khôn. Hỏa này là Hỏa viêm thượng, ưa được

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

BÍNH DẦN: LƯ TRUNG HỎA

Trong tử vi  Bính dần là con hổ tướng mạo uy nghi, cá tính trung thành chính trực.

Lư trung Hỏa có tượng thiên địa là lò, âm dương là than, ánh sáng chiếu sáng vũ trụ, hun đúc trong Càn Khôn.

Hỏa này là Hỏa viêm thượng, ưa được Mộc sinh, nhất là Mậu Tuất, Kỷ Hợi Bình địa Mộc. Trụ khác có Kim càng thêm tốt.

Hỏa này lấy Kim làm Dụng thần, nạp âm ưa Kim. Nếu Mộc nhiều thì Hỏa viêm, nếu không có Thủy chế ngự, chủ yểu mệnh.

TuoiDan

Bính Dần gặp Tân Hợi, Quý nhân trùng trùng, chủ phú quý dài lâu.

Bính Dần là Hỏa mãnh liệt, không có Thủy chế phục tất chủ gặp họa thiêu cháy, Thủy cũng không thể cứu được.

Bính Dần Hỏa chứa linh khí tinh túy, sinh vào bốn mùa đều có đức. Nhập quý cách chủ về người đứng đầu thiên hạ.

Trong tử vi cho rằng Bính Dần gặp Mậu Dần là tượng hồ mực chảy ra suôi vàng, chủ cát lợi, đỗ đạt trạng nguyên. Ngày nay nên làm nhà văn, hơn nữa còn có tiền tài, duy có điểm thiếu hụt là vợ chồng không được sống cùng nhau đến đầu bạc răng long.

Nạp âm ưa gặp Đinh Mùi Thiên hà Thủy, nếu tọa nhật trụ hoặc thời trụ, chủ vinh hoa phú quý dài lâu. Mệnh nữ là vô cùng tốt, chồng hiền lành, con hiếu thuận.

Chi khác không nên có Thân, Tỵ, là phạm hình, mệnh nữ tối kỵ. E rằng mệnh chủ lưu lạc phong trần, hoặc sảy thai, hoặc làm vợ lẽ.

Chi khác có Tỵ, cơ thể bị thương tật, hoặc trúng phong. Chi khác có Dần, vợ chồng n duyên mỏng. Chi khác có Thân, con cái duyên mỏng, không tốt.

Chi khác có Ngọ, phạm Dương nhẫn, mệnh chủ ly hương.

Nhật trụ là Quý Tỵ, hôn nhân không hoàn mỹ, thông gia không nhìn mặt nhau.

Can khác có Nhâm, nếu là Nhâm Dần nên làm quan võ, nhưng không được dài lâu. Là Nhâm Thân cũng luận như vậy.

Can khác có Đinh thì không được có thêm Kỷ. Can khác có Giáp thì không được có Nhâm, phạm vào tất chán nản thất vọng.

Can khác có Mậu ưa gặp Mậu Dần. Nếu có Giáp Tuất chủ ngưòi này giỏi văn chương, có thể thành nhà văn.

Nhật chi tọa cung Thìn, mệnh nam lấy được vợ giàu có, mệnh nữ lấy được chồng phú quý.

Gặp năm Dần, Thân là phạm Phục ngâm Phản ngâm, chủ trong nhà không yên ổn, không hại đến bản thân cũng hại đến người nhà.

Bạn đời nên tìm người sinh năm Canh, Tân. Không nên tìm người sinh năm Nhâm, Quý.

Bính Dần Không vong tại Tuất, Hợi, chi khác không nên có Tuất, Hợi.

Trong tử vi Người sinh năm Dần gặp Hợi là Kiếp sát, nếu tọa nhật chi chủ khắc bạn đời. Nếu tọa thời chi, con cháu nghèo khổ, còn chủ con cái yểu mệnh, cuối đời phá bại.

Nhật chi có Tuất, chủ khắc bạn đời.

Thời chi có Tuất, khắc con cái, nên nương nhờ nơi cửa Phật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi Bính Dần phân tích nạp âm lục thập hoa giáp –

4 chòm sao không khoái yêu đơn phương

Tình yêu của chòm sao dưới đây phải xuất phát từ hai phía, chứ nếu là tình đơn phương thì họ thà buông tay ngay từ đầu.
4 chòm sao không khoái yêu đơn phương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


4 chom sao khong khoai yeu don phuong hinh anh
 
Bạch Dương
 
Tình yêu của Bạch Dương giống như một trò chơi đối kháng vậy, phải có người qua kẻ lại. Bạch Dương khi yêu rất nồng nhiệt, chân thành nhưng không chấp nhận việc hi sinh không cần đền đáp. Với họ, yêu và được yêu luôn song hành với nhau, tình cảm bỏ ra phải được nhận lại xứng đáng. 
 
Song Tử
 
Yêu đơn phương với Song Tử là một khái niệm xa lạ, họ có thể theo đuổi người khác nhưng không thể yêu một cách thầm lặng. Người ồn ào, náo nhiệt và cảm xúc mạnh như Song Tử sao có thể chấp nhận được sự cô quạnh, một phía trong tình yêu.

Nhân Mã
 
Tình yêu của Nhân Mã cần kích thích, thử thách và thật nhiều niềm vui. Yêu đơn phương không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu ấy. Một khi nhận thấy đối phương không có tình cảm với mình, Mã Mã sẽ nhanh chóng rời đi. Họ không cố chấp và kiên nhẫn đeo bám chờ người ta đổi ý.

Thủy Bình

Thủy Bình yêu và tin rằng, nếu đó là “chân mệnh thiên tử” dành cho mình thì sẽ đáp lại tình cảm của mình, còn không sao phải cưỡng cầu. Chòm sao này hiểu đạo lý tình cảm và kèm theo một chút cao ngạo không ai vì thiếu ai mà không sống nổi nên lặng lẽ rời đi, tiếp tục theo đuổi những mục tiêu hay ho khác.
Trần Hồng (Theo Zodioscope)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 chòm sao không khoái yêu đơn phương

Xem tướng phụ nữ qua đặc điểm của mông

Nhân tướng học quan niệm, xem tướng phụ nữ thấy tướng mông tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là mông cong thì mới đúng chuẩn tướng cách
Xem tướng phụ nữ qua đặc điểm của mông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một khuôn mặt xinh xắn, một dáng hình thon thả và "vòng 3" săn chắc, gợi cảm là điều mơ ước của rất nhiều chị em phụ nữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có được "của trời cho" ấy. Vậy thế nào là một đôi mông đẹp, có tướng cách tốt theo tiêu chuẩn của thuật xem tướng phụ nữ ? 


(Ảnh chỉ có tính chất minh họa)


Theo quan niệm của nhân tướng học, một đôi mông đúng tướng cách phải lấy tiêu chuẩn bình mãn làm đầu. Bình mãn có nghĩa là mông phải tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là mông cong. 

Phụ nữ tướng cách tốt cần có đôi mông tròn, đều đặn, tương xứng với thân mình. Nếu mông quá to là người tính nóng nảy, không chịu nhún nhường người khác. Nếu đôi mông lép thì đôi chân lại trở nên thiếu cân đối, người đó khó mà an nhàn sung sướng được.

Phụ nữ có đôi mông nhỏ, thường ưa sống nội tâm; tính cách lúc nóng như lửa, lúc lại lạnh như băng; đầu óc minh mẫn, khả năng phán đoán linh hoạt và tư tưởng sắc bén. Về tình yêu, người này thường dễ rung động nhưng tình duyên không phải lúc nào cũng được suôn sẻ.

Phụ nữ có đôi mông hơi lớn thì tính tình lại độ lượng và hào phóng hơn. Trong chuyện tình cảm, người này yêu hết lòng và dám hi sinh tất cả vì người mình yêu. Tuy nhiên, đôi khi  cũng vì bản tính này mà họ dễ bị dụ dỗ, lừa gạt. Cuộc sống của người này khá suôn sẻ, đủ ăn đủ mặc, không có gì phải lo lắng.

Tướng người phụ nữ nhỏ bé mà cũng không có mông thì tuy học vấn cao nhưng thành công ít, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phụ nữ mập tròn mà không có mông thì hiếm muộn về đường con cái, cuộc sống dễ trở nên cô độc, buồn nản.

Về màu sắc của da mông, giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt nhiều. Đàn ông da mông nên có màu nâu mới khỏe mạnh, nếu nam mà mông trắng bệch thì tính cách mềm yếu, nhu nhược như đàn bà. Nhưng phụ nữ thì da mông phải thật trắng hồng mới đầy đủ nữ tính. 

(Theo Nhân tướng học toàn thư)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng phụ nữ qua đặc điểm của mông

Ánh sáng đèn hợp phong thủy

Đèn là một trong những loại đồ vật thường thấy, đèn có chức năng chiếu sáng. Ánh sáng của đèn xua tan đi bóng đêm. Đèn cũng chính là công cụ phong thủy mạnh và
Ánh sáng đèn hợp phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

hiệu quả, lúc lắp đèn nhất định không thể không chú ý.

Ánh đèn có hai đặc điểm lớn, một là ánh sáng, hai là nhiệt năng. Ánh sáng và sức nóng đều là biểu hiện của năng lượng. Nó đủ để ảnh hưởng tới sự thay đổi về cát hung trong phong thủy. Thường thì trong phòng làm việc thường có lắp bóng đèn chùm, và thường lắp đèn theo một quy cách thống nhất. Điều này sẽ làm cho chúng tương đối hài hòa, nếu dùng quá nhiều thì cần phải cẩn thận cân nhắc đến cách treo hoặc vị trí đặt.

Người lãnh đạo công ty muốn tăng thêm vẻ sang trọng hoặc muốn lắp đặt một đèn trang trí đặc biệt cho phòng làm việc của mình thì cần phải cân nhắc. Đặc biệt là một số đèn treo thủy tinh, nhìn chúng thì có vẻ đẹp lung linh, huyền ảo, thế nhưng khi chọn vị trí đặt cần phải chú ý đến một nguyên tắc lớn đó là không được để quá gần đỉnh đầu của người quản lý, nếu không có thể làm ảnh hưởng đến tài vận.

Anh sang den hop phong thuy hinh anh
Ánh sáng và nhiệt năng chính là năng lượng của tài khí phong thủy

Ánh sáng và nhiệt năng chính là năng lượng của tài khí phong thủy

Đèn treo sinh ra quang và nhiệt, đầu óc con người lại tương đối mẫn cảm với những điều đó.  Đầu óc muốn phát huy được chức năng tốt nhất thì phải đặt trong không gian yên tĩnh và thoải mái. Ánh sáng và nhiệt đều có thể kích thích đến đầu óc, có thể dẫn tới trở ngại cho suy nghĩ.

Đầu tiên, sức nóng có thể khiến đầu bị choáng, làm suy giảm năng lực tư duy, vì thế mà làm cho người ở môi trường đó trở nên khó chịu, tính khí cũng thất thường. Đây là điều cần tránh trong việc kinh doanh buôn bán.

Vì thế, đèn treo không được trực tiếp lắp vào nơi trên đỉnh đầu. Nếu như muốn lắp thêm đèn thì nên đặt ở nơi mà cách đầu tầm 3 thước... để cho ánh điện có khoảng cách chiếu sáng phù hợp. Điều này có thể giúp bạn tránh được những phiền nhiễu không đáng có, để khả năng của bộ não được phát huy một cách tốt nhất

 Theo Tuvisomenh


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ánh sáng đèn hợp phong thủy

Quẻ Quan Thế Âm Lý Tịnh Quy Sơn

Quẻ Quan Thế Âm Lý Tịnh Quy Sơn là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm !"Thác Tháp Thiên Vương" Lý Tịnh là nhân vật "Phong thần bảng" và "Tây du ký".
Quẻ Quan Thế Âm Lý Tịnh Quy Sơn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Ba bảy trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Lý Tịnh Quy Sơn (còn gọi là Lý Tịnh Quay Về Núi). Quẻ Quan Thế Âm Lý Tịnh Quy Sơn có bắt nguồn như sau:

Thác Tháp Thiên Vương” Lý Tịnh là nhân vật thần thoại trong các tác phẩm “Phong thần bảng” và “Tây du ký”. Nhưng trong lịch sử, thực sự cũng có một nhân vật Lý Tịnh, ông người Thiểm Tây, là danh tướng đầu đời Đường, giữ chức Binh bộ Thượng thư trong đời vua Đường Thái Tông, do có chiến công hiển hách, nên sau khi chết được phong làm Vệ Quốc công. Sau khi qua đời, ông thường hiển linh, giải cứu dân chúng khỏi tai ương nguy hiếm, vì thế dân chúng đã lập miếu để thờ phụng ông. Đến cuối đời Đường, Lý Tịnh dần dần được thần hóa.

Trong tiểu thuyết “Phong thần bảng”, Lý Tịnh là Tổng binh ở cửa ải Trần Đường. Lý Tịnh có ba người con trai, người con trưởng là Kim Tra, phụng sự cho Phật tố Như Lai; người con trai thứ hai là Mộc Tra, là đại đồ đệ của Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát; người con trai thứ ba là Na Tra, trợ giúp dưới trướng của ông. Đứa con trai thứ ba Na Tra từ nhỏ đã ương bướng nghịch ngợm. Một hôm, Na Tra cùng người bạn nhỏ vui đùa ở ven biến, làm kinh động đến Long Vương, Long Vương sai Dạ Xoa đi can thiệp, bị Na Tra giết chết. Sau đó Đông Hải Long Vương lại sai Tam thái tử đi chế phục, do Tam thái tử nói năng thiếu khiêm nhường, khiến Na Tra đại náo Đông Hải, đánh chết Tam thái tử của Đông Hải Long Vương, phá hủy Long cung, bắt Long Vương. Vì thế Lý Tịnh bị Ngọc Hoàng đại đế giáng tội vì quản giáo Na Tra không nghiêm. Không còn cách nào khác, Lý Tịnh đành phải buộc Na Tra tự sát. May nhờ Thái Ẩt Chân nhân dùng hoa sen giúp cho Na Tra hòi sinh, Na Tra được trở lại hình người, nhưng trong lòng không vui, muốn tìm Lý Tịnh đế trả thù, Lý Tịnh không thể chống lại được. Phật tố Như Lai ban cho ông một tòa bảo tháp xá lị bằng vàng, Lý Tịnh nhờ đó mà nhốt được Na Tra vào trong tháp, sau đó hóa giải được mối thù trước kia của hai cha con. Từ đó Lý Tịnh có được tòa bảo tháp, nên mới trở thành “Thác Tháp Lý Thiên Vương”.

Vì Trụ Vương vô đạo, suốt ngày chơi bời hưởng lạc, hoang dâm vô độ, không chú ý đến triều chính, tin lời gièm pha, nghe theo lời yêu quái, sát hại trung thần, khiến cho dân chúng lầm than, tiếng oán thán đầy đường. Vì thế, Chu Vũ Vương thuận theo lòng dân, dấy binh đánh vua Trụ. Na Tra vâng lờl thầy, cùng với cha là Lý Tịnh, anh trai cả là Kim Tra và anh trai thứ là Mộc Tra cùng tham gia đội quân diệt Thương, trở thành tướng tiên phong nơi trận tiền của Khương Tử Nha, lập nhiều chiến công.

Sau khi Chu Vũ Vương diệt vua Trụ, đã xây dựng nên nhà Chu, muốn luận công ban thưởng cho tướng soái các lộ, nên cha con họ Lý đã giúp đỡ Khương Tử Nha lập đàn để phong thần. Ngày phong thần, Khương Tử Nha đã dựa vào kiếp vận, tuân theo ngọc sắc, phong thần vị cho các trung thần lương tướng cùng các vị tiên không theo thiện đạo, gian thần nịnh thần, tất cả đều theo phận vị mà nắm quyền, được hưởng tế tự, bảo vệ đất nước và dân chúng, nắm giữ quyền hành gọi gió hô mưa, ban phúc cho người lương thiện và giáng họa cho kẻ hoang dâm. Thế nhưng cha con Lý Tịnh và Na Tra lại khéo léo khước từ việc phong thướng, không tham lam công danh lợi lộc trên trần thế, mà xin phép được trở về núi tu đạo. Khương Tử Nha bằng lòng, vì thế hai cha con về ở ấn trên núi, kiên trì tu Đạo. Sau này hai người đều trở thành bậc thánh, được xếp vào hàng thần tiên.

Quẻ Quan Thế Âm Lý Tịnh Quy Sơn là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm !


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Lý Tịnh Quy Sơn

Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần

Những chòm sao khó tính nhất vòng tròn hoàng đạo dưới đây mỗi người một vẻ, mỗi người một cách thể hiện khác nhau nhưng đều không dễ chung sống
Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn, những chòm sao khó tính nhất vòng tròn hoàng đạo dưới đây mỗi người một vẻ, mỗi người một cách thể hiện khác nhau nhưng đều không dễ chung sống, không được ưa thích. Người khác dè chừng bạn, bạn cũng nên tiết chế chính mình một chút nhé.  

Bạch Dương: không giữ thể diện cho người khác


Nhung chom sao kho tinh chang ai muon lai gan hinh anh
 
Nhìn chung, ai cũng tưởng rằng Bạch Dương là chòm sao dễ tính, phóng khoáng và không hay để bụng. Điều này hoàn toàn chính xác nhưng chưa đầy đủ. Ở nhiều thời điểm, vì thẳng thắn, thích gì nói nấy mà họ trực tiếp biểu đạt tình cảm, suy nghĩ của chính mình mà không hề để ý tới cảm nhận của những người xung quanh, không quan tâm điều ấy có thể làm tổn thương người khác hay không.   Đây là điển hình của tuýp người sống vì mình, điểm khó tính nhất ở họ là coi trọng bản thân, không quản rằng việc ấy có quan hệ tới mình hay không, cứ thích là nói, dễ dàng hại người. Vì thế không ít người rất ghét ở cùng một chỗ với Bạch Dương, ấn tượng khá xấu, tránh được lúc nào là tránh ngay.
Xem thêm bài viết Điểm mặt 4 chòm sao nói giỏi, làm dở
 

Xử Nữ: xoi mói tính toán, thích giảng đạo lý

  Chòm sao khó tính chắc chắn không thể bỏ qua Xử Nữ, phẩm chất tính toán, tỉ mỉ, tự cho mình là đúng của họ mạnh tới nỗi vô địch thiên hạ, không ai chống đỡ được. Chỉ cần là chuyện thấy “ngứa mắt” là trực tiếp xen vào, không màng rằng đấy có phải việc của mình không, mình lên tiếng có thích hợp hay không. Trong lòng có cảm giác là vô tư thể hiện, trực tiếp nói ra, cách làm này của Xử Nữ thật là không để lại mặt mũi cho người khác nên người ta chẳng ưa cũng có lý thôi. Mà cách nói chuyện của bạn thì đâu có nhẹ nhàng dễ chịu gì cho cam, lúc nào cũng giáo điều, chỉ trích, lên lớp giống như cô giáo giảng dạy học sinh vậy, cực kì mất mặt.   Thông thường, Xử Nữ hay sống một mình hoặc sống trong tập thể nhưng bị cô lập cũng vì lý do này. Nếu bạn không cải thiện được thì chắc chắn không có ai tình nguyện ở bên cả, hãy áp dụng nguyên tắc hoàn mĩ cho chính mình thôi nhé.
Xem thêm bài viết 5 cung hoàng đạo trong ngoài bất nhất

Hổ Cáp: tâm cơ sâu kín, không thành thật


Nhung chom sao kho tinh chang ai muon lai gan hinh anh
 
Người khéo quá thì khó ở chung, người giỏi bày binh bố trận quá thì không thể tự nhiên thẳng thắn được. Trường hợp của Hổ Cáp chính là không cùng một thế giới, dè chừng lẫn nhau, tốt nhất là không qua lại. Nhiều người thấy vẻ lạnh lùng, tính toán, mưu sâu kế hiểm của chòm sao khó tính này thì lập tức tự động tránh xa để giữ an toàn cho chính mình.   Tâm cơ nhiều, tâm sự nặng nề, chơi với ai cũng tính toán, làm việc gì cũng cân nhắc, thời điểm nào cũng có thể mang người khác ra làm quân cờ để đạt được mục đích. Hổ Cáp là đối tượng rất khó chung sống, ít bạn bè vì không ai muốn làm bạn với người có thể trở mặt nhanh như trở bàn tay.   Tình cảm cần nhất là sự chân thành, ở bên nhau không thể vô tư được thì rất khó để lâu dài. Có những người không thể tính toán và không nên tính toán, mình đối với người thế nào thì người sẽ đối lại mình như thế, Hổ Cáp nhớ nhé. 
Xem thêm bài viết 5 chòm sao "kín miệng" nhất vòng tròn hoàng đạo
 

Song Ngư: tâm tình phức tạp, làm việc tùy tiện

  Ở thời điểm Ngư nhi hài lòng, họ sẽ vô cùng vui vẻ, vô cùng hiền hòa nhưng lúc không vui thì điên loạn, bộc phát, bất chấp hậu quả như cả thế giới này đều đắc tội với họ vậy. Nói Song Ngư là chòm sao khó tính thì hơi oan những họ là điển hình của tuýp người tâm tình phức tạp vui buồn thất thường, tùy tiện hứng chí, không ai chiều được.   Trên thế giới này, không có ai phải chịu đựng sự khó chịu của bạn ngoài chính bản thân bạn cả. Vì thế chỉ một hai lần sau khi Song Ngư làm loạn, người ta cũng lập tức né bạn thật xa, người ta đâu phải bao cát để khi giận thì bạn đấm chơi đâu. Gây chuyện bất chấp tình huống cũng sẽ mang tới không ít phiền toái, rắc rối cho mọi người nên người ta chọn cách tránh ra để không bị liển lụy đấy.   Bạn đã là người trưởng thành, phải tự chịu trách nhiệm với cuộc đời của mình, bao gồm cả niềm vui và nỗi buồn chứ, phải không nào Song Ngư.
Chỉ mặt những bạn cùng phòng đáng sợ nhất vòng tròn hoàng đạo 3 chòm sao đặc biệt khó ở chung
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần

Xem bói nốt ruồi ở ngực đàn ông mang ý nghĩa gì

Trên cơ thể người đàn ông có rất nhiều nốt ruồi, ở nhiều vị trí khác nhau. Mỗi vị trí lại có 1 ý nghĩa nhất định và khác so với phụ nữ. Đặc biệt là Nốt ruồi ở ngực đàn ông có những ý nghĩa mà theo Nhân tướng học nhận định tương đối chuẩn xác.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trên cơ thể người đàn ông có rất nhiều nốt ruồi, ở nhiều vị trí khác nhau. Mỗi vị trí lại có 1 ý nghĩa nhất định và khác so với phụ nữ. Đặc biệt là Nốt ruồi ở ngực đàn ông có những ý nghĩa mà theo Nhân tướng học nhận định tương đối chuẩn xác.

Xem bói nốt ruồi ở ngực đàn ông mang ý nghĩa gì

Xem thêm:

+ Nốt ruồi ở ngực phụ nữ nói lên điều gì?

+ Nốt ruồi trên má bạn gái có ý nghĩa gì?

+ Xem bói nốt ruồi đoán tương lai, vận mệnh của bạn

1. Nốt ruồi ở ngực đàn ông có ý nghĩa gì?

Để xác định Nốt ruồi ở ngực đàn ông có ý nghĩa gì thì bạn cần xác định được vị trí của nốt ruồi đó. Bởi tên gọi Vùng Ngực là rộng, nốt ruồi có thể mọc ở các vị trí khác nhau và ý nghĩa của nó cũng trở nên khác nhau. Nhân tướng học đã nghiên cứu và rút ra được 3 vị trí Nốt ruồi ở ngực nam với các ý nghĩa tương ứng như sau:

Nốt ruồi ở ngực trái hoặc gần ngực:

Đây là nốt ruồi có tên gọi Trung sơn. Người sở hữu nốt ruồi này thường là người có nhiều con cái. Tuy nhiên, lại hay sầu muộn về chuyện vợ chồng nên cuộc sống lấy con cái làm niềm vui, hạnh phúc không trọn vẹn.

Nốt ruồi ở giữa ngực:

Nốt ruồi ở ngực đàn ông này có tên gọi là Sát Thê. Như tên gọi của nó đã chỉ nên ý nghĩa, người có nốt ruồi này có tướng hại vợ, sát vợ, không tốt.

Nốt ruồi trên ngực phải:

Đây là nốt ruồi có tên Trung Hòa. Nốt ruồi ở ngực nam vị trí này nói lên người đàn ông thường đủ ăn đủ tiêu, không đến nỗi giàu có.

Trên là các ý nghĩa của các vị trí Nốt ruồi ở ngực đàn ông. Bạn hãy cùng so sánh và đối chiếu nhé.

2. Ý nghĩa của nốt ruồi ở các vị trí khác của đàn ông:

Ngoài các ý nghĩa Nốt ruồi ở ngực đàn ông thì nốt ruồi còn có ý nghĩa khác nhau khi ở các vị trí khác trên cơ thể đàn ông như sau:

Nốt ruồi ở trán: người có số hưởng phước lộc, giàu sang, gặp vận hạn vẫn vượt qua

Nốt ruồi ở đuôi mắt trái: là người đa sầu đa cảm, để lộ rõ tình cảm ra bên ngoài

Nốt ruồi ở đuôi mắt phải: là người hay mặc cảm về số phận, khóc mướn, thương vay

Nốt ruồi ở dưới miệng bên trái: là người có duyên thầm, giàu tình cảm

Nốt ruồi nằm ở bả vai bên trái và bên phải: là người suốt đời chỉ đi làm thuê, bần tiện, keo kiệt.

Nốt ruồi ngang cánh mũi về bên trái: là người dễ gặp tai nạn và có thể bất đắc kì tử.

Nốt ruồi ngang môi trên bên trái: là người khắc với vợ nhưng lại dễ tin người.

Nốt ruồi ở trên bắp tay trái: là người  thường góa vợ sớm hoặc gặp trắc trở đường tình duyên, đau khổ không nguôi về tình yêu.

Nốt ruồi nằm trên cổ tay trái: là người có nhiều tham vọng, đua đòi theo cao sang quyền quý.

Nốt ruồi ở bàn tay trái: là người lãng mạn trong tình yêu, nhưng lại bạc tình.

Nốt ruồi dưới họng chếch về bên trái: là người dễ đổi thay, thường chia li vợ chồng.

Nốt ruồi bên cạnh sườn bên trái: người hay nịnh nọt, a dua, đời sống tình cảm thầm kín.

Nốt ruồi ở thắt lưng bên trái: là người hiền lành, tôn trọng tình cảm của bản thân.

Nốt ruồi giữa rốn: là người cực nhọc về  thể xác, bảo thủ, đố kị với những kẻ hơn mình

Nốt ruồi ở phần xương chậu ở bên trái: là người hay ghen tuông, lãng mạn nhưng rất dâm đãng

Nốt ruồi ở đùi trên bên trái: là người thích tranh cãi, đấu lý, nhưng lại rất can đảm.

Nốt ruồi ở bộ phận sinh dục: là người ham mê  thú vui về thể xác.

Nốt ruồi nằm trên đầu gối bên trái: là người hay gặp tai nạn bất ngờ

Nốt ruồi ở cổ chân bên trái: là kiểu người thích phiêu lưu mạo hiểm, đi du lịch.

Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại chuyên mục: Thư viên xem bói

Tìm kiếm liên quan: nốt ruồi ở ngực đàn ông, nốt ruồi trên ngực đàn ông, nốt ruồi ở ngực nam, not ruoi o nguc nam gioi, not ruoi tren nguc nam gioi​


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói nốt ruồi ở ngực đàn ông mang ý nghĩa gì

Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Một bài viết trình bày bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi rất hay! Vương Đình Chi là một bậc thầy tử vi!
Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vương Đình Chi phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung Phúc đức), đạo "xu cát tị hung", và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực Hậu thiên, để đưa ra lời giải.

Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế Tiên thiên (Thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một con người, còn có "Địa vận" và "Nhân vận".

"Địa vận" có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được.

Nhưng, "Nhân vận" thì không phải là như vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng từ Cha Mẹ, Thầy, bạn bè,.v.v... lúc lâm sự, sẽ có những phản ứng khác nhau. Đạo "xu Cát tị Hung" (theo cát tránh hung) thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc Hậu thiên, thường có thể thay đổi vận thế Tiên thiên. Đây chính là Tinh hoa của Tử vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.

Cho nên, người nghiên cứu phải tìm hiểu rõ tính chất "hợp Cục nhập Cách" này của Tử Vi Đẩu Số, lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị vận thế Tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội (Địa vận) và chủ chương hành động của con người (Nhân vận) thuộc Hậu thiên.

Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc Hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán, thấy một người năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được, nếu anh ta không nghe lời khuyên, thì nhất định sẽ gặp họa lao ngục?

Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép "theo cát tránh hung" là sự thực như sau:

Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư ký ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1996 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên cô ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm, mới phát hiện có tế bào ung thư ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985, thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa đích thực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN THIÊN BÀN

1- Lấy bối cảnh văn hóa xã hội làm nên tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến "cách" luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi nói: "Nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của Lưu niên, nếu như cung Tử tức của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, mà các sao của Lưu niên lại không tốt, chủ về sinh đẻ có nguy cơ". Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình Chi bị hố, ông xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không? Lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: "Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi", Vương Đình Chi nhíu mày, người phụ nữ nói thêm: "Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con". Thực sự, Ông không biết có phương pháp gây tê toàn thân để sinh con. Chiếu theo lý, "gây tê toàn thân" cũng là có vấn đề rồi, nhưng lúc sinh con người phụ nữ không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng. Đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này, lúc mới sinh ra được các Bác sỹ dùng kỹ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về Tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là tai nạn, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một vận mệnh, Hậu thiên có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển vận thế Tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là "túc mệnh luận", tức chẳng thể luận đoán ra chuyện "không thể thay đổi được". Bởi vì khuynh hướng Tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm Hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán "sinh con khó dưỡng" không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: "Tham lang Liêm trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm", nếu cứ y như sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng nhắc. Vương Đình Chi kể: ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo có địa vị khá, cung mệnh là hai sao "Tham lang Liêm trinh" tọa thủ, nếu nói phóng đãng, tính chất cũng chính xác, bởi vì người này "có máu" nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu.

Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ "phóng đãng" để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ, những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm "lãng tử", lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. Nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, đo đó biến thành không phải là "phóng đãng".

Năm xưa, Vương Đình Chi học Đẩu Số với thầy là Huệ Lão, Huệ Lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay, ông nói: "Theo kinh nghiệp luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mỹ". Đương nhiên thời cổ đại không có giải phẫu thẩm mỹ, vì vậy Huệ Lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu, mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa, Huệ lão rất tán dương hai vị Đẩu Số gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại. Một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyền, với bộ Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu, tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi, có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyền. Như Thái âm ở cung Tai Ách, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản. Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao.

Do đó có thể thấy, phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy mới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

2- Quan sát toàn diện 12 cung

Kỹ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm "tam phương tứ chính", sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau, tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt với một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán "tam phương tứ chính" của cung mệnh, cung Thiên Di, cung Tài bạch, cung Quan lộc một cách thái quá, mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lý chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rời vào luận đoán vụn vặt. Vương Đình Chi cho bết kinh nghiệm rằng, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lý giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

3- Các bước luận đoán mệnh bàn

Học Tử Vi Đẩu Số, thực ra chỉ cần nắm vững 3 điều:

3.1- Phương pháp an sao
3.2- Tính chất cơ bản của tinh hệ
3.3- Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để đoán vận trình.

Tiết này sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích để tạo hứng thú cho người mới học luận đoán, bởi vì rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

3.1- Trước tiên xem cung Phụ Mẫu, rồi xem cung Điền trạch

Từ cung Phụ Mẫu và cung Điền Trạch, có thể luận đoán xuất thân của đương số, và mức độ được hưởng sự che trở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh, mới có thể quyết định đương số thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp "tay trắng làm nên", hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung Phụ Mẫu và cung Điền trạch đều tốt, nhưng khi trong vận bàn lại hiện rõ vận trình "tay trắng làm nên", điều này chứng minh gia đình của đương số rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại cung Phụ mẫu và cung Điền trạch đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán đương số có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

3.2- Đồng thời quan sát cung Mệnh và cung Phúc đức

Thông thường sao hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Còn sự hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thể luận nhất định đương số có một gia đình tốt. Trái lại, nếu cung Mệnh tốt, còn cung Phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý hôn nhân của đương số có thể không như ý, hay có khả năng đương số chỉ dựa vào may mắn mà giầu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của đương số chẳng cao thượng, hoặc cảnh ngộ của đương số tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

3.3- Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ đương số hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung Phu Thê, nghi ngờ đương số mắc bệnh mãn tính khó khỏi thì cần phải kiểm tra cung Tai Ách, nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung Mệnh và cung Phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Xin đưa ra một ví dụ thực tế:

- Nữ mệnh, cung mệnh Thiên cơ Thái âm, trong đó Thiên cơ hóa Khoa, Thái âm hóa Lộc tại cung Thân
- Hội Thiên đồng hóa Quyền ở cung Tài bạch tại Thìn, là "Hóa Lộc Hóa Khoa Hóa Quyền hội", trong Đẩu Số là một kết cấu tốt.
- Cung Phúc có Cự môn hóa Kị, hội hợp với Phu thê gặp Hồng Loan, Hàm trì, đối cung lại gặp Thiên diêu (tức cung Tài)
- Kết cấu tinh hệ này, biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp tinh hệ ở cung Phu Thê.
- Thái dương Lộc tồn tọa thủ cung Phu ở Ngọ, chồng chẳng nghèo, nhưng hội Cự môn hóa Kị ở cung Phúc tại Tuất, xấu nhất còn hội hợp Thiên lương, Thiên hình, thêm sao Hỏa tinh ở đối cung (tức cung Quan ở Tý), tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng
- Nhưng không có duyên vợ chồng có mấy loại tính chất. Ví dụ như Phu và Thê không cùng chí hướng, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, chồng có tình nhân bên ngoài, chồng mắc nhiều bệnh,.v.v... Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn, thì không có cách nào giải quyết được, mà càn phải xem Đại vận và Lưu niên.

3.4- Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của Đại hạn và Lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán, và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chỉ cần xem xét mỗi một Đại hạn của cung Phu Thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25 - 34 tuổi, cung Tuất biến thành cung Mệnh của Đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung Phu Thê của Đại hạn.

Sao Lộc tồn của Đại hạn bay vào cung Phu Thê (tức lưu Lộc, bởi vì Lộc tồn của Đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có lưu Kình và lưu Đà của Đại vận giáp cung (gọi tắt là vận Kình vận Đà).

Cung Phu thê của nguyên cục có hiện tượng giáp Kình giáp Đà, thấy khéo trùng hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy tất phải có lý lẽ của nó. Vả lại, cung Phu thê của Đại vận còn hội hợp Thiên đồng hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong Đại hạn này vợ chồng tất có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi 1983, cung Phu thê của Lưu niên có vấn đề lớn. Cung Phu thê của Lưu niên ở cung Dậu, "Tử vi Tham lang" tọa thủ, nhưng Tham lang hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có lưu Kình của Đại hạn đồng cung. Sát diệu hội hợp Đà la của cung Tị, lưu Kình của cung Sửu, cho tới các sao Vũ khúc, Phá quân, Liêm trinh, Thất sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này, có tính chất là "không có niềm vui gia đình", xấu nhất tức là "lưu Kình của Lưu niên" xung động "lưu Kình của Đại hạn", đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ "Tử vi Tham lang".

Do đó luận đoán sơ bộ là: sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn một tháng thì phát hiện người chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung Tai Ách của người chồng, thì thấy "Thiên cơ Thái âm" tọa thủ, có Linh tinh Đà la đồng cung, hội hợp Thiên lương và Xăn xương hóa Kị, đồng thời "tam phương tứ chính" lại có các sao Hàm trì, Hồng loan, Đại hao, còn có thêm Âm sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm từ Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kỳ trước hôn nhân, người chồng này đã rất trác táng. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị người chồng gặp một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí. Kết quả đầu năm Ất Sửu 1985, đôi vợ chồng nọ tìm đến Vương Đình Chi để cám ơn đã cữu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

3.5- Kỹ thuật quan sát tình hình Cát Hung của các cung

Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kỹ thuật.

Dưới đây, tôi xin trình bầy các kỹ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo

- Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.

Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tả phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp chiếu, đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân - Tý, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tý chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tý là cung Ngọ để "mượn sao an cung", mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành cách: "tứ sát kèm sát", tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên dù có oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là "tinh diệu hỗ hiệp".

Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:

Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tý 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tý có tinh hệ "Thiên phủ Vũ khúc", Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiện đang ở Đại vận Quý Mão.

Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tý, cung mệnh ở Tý có "Thiên Phủ Vũ khúc", hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách là "Lộc Văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Ở đây cần chú ý "cung Mệnh của lưu niên" (cung Tý), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra "cung Phúc đức của lưu niên" của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung Mệnh và cung Phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).

Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là "đào hoa" tụ về cung Phúc đức.

Trong tình hình này, Vương Đình Chi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yêu đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến Vương Đình Chi.

Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc Văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc: "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".

"Sao đôi" xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Khi luận đoán Đẩu Số, một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là "Kiến tinh tầm ngẫu". Đây là kỹ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu, mà Vương Đình Chi được truyền thừa.

Gọi là "Kiến tinh tầm ngẫu" (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều cặp "sao đôi", khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi, thì sức mạnh được tăng cường. Về điều này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút.

Ví dụ cổ nhân đưa ra nguyên tắc: "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên phủ thì phải xem Thiên tướng), "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Thiên tướng thì phải xem Thiên phủ), bởi vì Thiên Phủ và Thiên Tướng là cặp "sao đôi". Nhưng cổ nhân thích giữ "bí mật", cho nên thường thường chỉ nói sơ qua mà thôi.

Liệt kê một số cặp "sao đôi" để tham khảo:

+ Chính diệu:
- Thiên phủ và Thiên tướng
- Thái Dương và Thái Âm
- Thiên Đồng và Thiên Lương
- Liêm Trinh và Tham Lang

+ Phụ diệu:
- Tử Phụ và Hữu Bật
- Thiên Khôi và Thiên Việt

+ Tá diệu:
- Văn Xương và Văn Khúc
- Lộc Tôn và Thiên Mã

+ Tạp diệu:
- Hồng Loan và Thiên Hỷ
- Hàm trì và Đạo hao
- Long Trì và Phượng Các
- Ân Quang và Thiên Quý
- Tam Thai và Bát Tọa
- Cô Thần và Quả Tú
- Thiên Khốc và Thiên Hư
- Thiên Phúc và Thiên Thọ
- Đài Phụ và Phong Cáo.

Nhưng, như thế nào mới gọi là "sao đôi" xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc dưới đây để định.

- Loại tình huống có sức mạnh nhất là "sao đôi đồng cung". Ví dụ như tình huống "Thái dương Thái âm" đồng cung tại Sửu, cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

- Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là "sao đôi chiếu nhau", ví dụ ở hai cung Thìn và Tuất, thì Thái dương và Thái âm chiếu vào nhau, sự phát huy sức mạnh lẫn nhau của chúng cũng không thể xem thường.

- Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp "Song phi hồ điệp thức", tức là "sao đôi" chia ra ở hai bên "hợp cung", ví dụ lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc, đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp "sao đôi" Khốc Hư lấy tư cách "song phi hồ điệp" hội hợp với cung Ngọ (là bản cung), đối với cung Ngọ phải chịu sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên khốc và Thiên hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp "Song phi hồ điệp thức".

- Cuối cùng là hội hợp "Thiên tà thức" (kiểu đối lệch). Ví dụ lấy cung Tý làm "bản cung", tương hội với Văn khúc ở cung Thân, và Văn xương ở đối cung (cung Ngọ), đối với cung Tý là "bản cung" mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện "sao đôi" kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện "sao đôi" theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung => Đối nhau.=> Tam hợp hội chiếu => Một ở tam hợp một ở đối cung hội chiếu => Các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên khốc và Thiên hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là "bí truyền". Cho nên dựa theo sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

"Tá cung an sao", "Tinh diệu hỗ thiệp", "Kiến tinh tầm ngẫu", là Vương Đình Chi được sư phụ bí truyền, đây là ba kỹ thuật trọng yếu, dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng không chịu tiết lộ những bí truyền này.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN ĐỊA BÀN

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu. Về cách an, toàn bộ giống như Thiên bàn, trong đó thì phép an sao Tử Vi có khác.

Tử vi của "Thiên bàn" là lấy thiên can của Năm sinh và ngũ hành Dần thủ, để tìm Nạp âm của cung mệnh, rồi lấy Nạp âm ngũ hành để tra Cục số, thì xác định được cung vị của Tử Vi.

Tử Vi của "Địa bàn" cũng vậy, ta lấy thiên can của Năm sinh, và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm ngũ hành nạp âm của cung Mệnh, mà là tìm ngũ hành Nạp âm của cung Thân. Do đó "Địa bàn" lấy cung Thân làm chủ. Sau đó tra được nạp âm của cung Thân, chiếu theo phương pháp của "Thiên bàn", căn cứ ngũ hành Cục số, để tìm cung vị Tử vi.

Sau khi đã biết "Địa bàn", ta rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất Tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy, ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội, nhưng họ lại có những hành vi nhỏ mọn rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh tại "Địa bàn" rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở "Thiên bàn" tiên thiên lại không cao quý cho lắm.

Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn, hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao, và hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao ở cung mệnh ở "Thiên bàn" phần nhiều là sao xấu, nhưng ở "Địa bàn" lại có nhiều sao rất tốt cung hội chiếu.

Các sao của "Địa bàn" cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vương hay tử mộ, để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, người sinh giờ Tị, ngày 17 tháng 5, năm Quý Sửu, Vương Đình chi tôi chú giải như sau: (sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú )

Lục tiên sinh chủ trương dùng "Địa bàn" để tìm "căn nguyên tiên thiên". Đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời. Nhưng dùng "Địa bàn" để tính "giao thế thời" thì Lục tiên sinh hoàn toàn không có nhắc đến.

Theo Vương Đình Chi, thì mỗi giờ sinh của một người có thể chia thành "tam bàn" Thiên - Địa - Nhân. Điều này, cần phải căn cứ vào Tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong "giao thế thời".

Liên quan đến phương pháp an sao ở "Địa bàn" và "Nhân bàn", điều mà xưa nay vẫn được coi là "bí truyền", thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên, cứ theo phương pháp an sao của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là "Thiên bàn", rồi lấy cung Thân của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, dùng can chi của cung Thân để định Cục và Ngũ hành, an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một bàn khác, gọi là "Địa bàn".

Nếu không dùng cung Thân, thì lấy cung Phúc Đức của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, rồi dùng can chi của cung Phúc Đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là "Nhân bàn", nói một cách chính xác thì đây là "nhân bàn của địa bàn".

Nếu cung Mệnh và cung Thân đồng cung, thì "Thiên bàn" và "Địa bàn" hoàn toàn giống nhau. Nếu cung Thân và cung Phúc đức đồng cung, thì "địa bàn" và "nhân bàn của địa bàn" hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, "Thiên bàn" - "Địa bàn" - "Nhân bàn", chỉ có cung Mệnh là khác cung độ, trong đó 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN NHÂN BÀN

1- Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu

Nguyên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung "Thiên bàn", thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hương Tiên thiên). Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc Năm hạn nào cũng tốt ; người có cách cục xấu, chưa chắc Năm hạn nào cung xấu. Do đó cần phải mang tinh bàn "phi động" ra để nghiên cứu tỷ mỉ, xem vận thế của Mệnh tạo trong mỗi một Năm hạn. Đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. (Thuyết "phi động" người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi).

Đẩu số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một Đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung Mệnh đại hạn 10 năm. Rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của Đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ), bày lần lượt 11 cung còn lại, mà không cần chú ý đến tên gọi gốc của "Thiên bàn".

Giả thiết mệnh tạo là Dương nam, thuộc mộc tam cục, Mệnh lập tại Dần, xét Đại hạn Mậu Thìn 23 - 32 tuổi, cung mệnh của Đại hạn ở cung Mậu Thìn, tức là cung Phúc đức của Thiên bàn tại Thìn, thế là từ cung Mậu Thìn, bầy bố theo chiều nghịch

- Cung Đinh Mão là cung Huynh đệ của Đại hạn
- Cung Bính Dần là cung Phu thê của Đại hạn
- Cung Ất Sửu là cung Tử Tức của Đại hạn
...v.v...
- Cho đến cung Kỷ Tị là cung Phụ Mẫu của Đại hạn

Tới đây, có thể căn cứ vào tổ hợp sao của các cung, tham khảo những điều đã luận thuật ở chương trước để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn 23 - 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.

Tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là "Thiên bàn", hoặc Địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của Đại hạn, còn phải thêm vào các "Lưu diệu" thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu có mấy loại như dưới đây:

1)- Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Hóa Lộc, lưu Hóa Quyền, lưu Hóa Khoa, lưu Hóa Kị, lưu Lộc (lộc tồn), lưu Dương (kình dương), lưu Đà (đà la), lưu Khôi (thiên khôi), lưu Việt (thiên việt), lưu Xương (xăn xương), lưu Khúc (văn khúc)

2)- Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Mã (thiên mã)

Theo ví dụ trên:
- Cung mệnh của Đại hạn từ 23 - 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên can Mậu là can của cung mệnh Đại hạn
- Vì vậy trong Đại hạn này, căn cứ vào can Mậu, thì lưu hóa Lộc là Tham Lang, lưu hóa Quyền là Thái Âm, lưu hóa Khoa là Thái Dương (??? kiểm), lưu hóa Kị là Thiên Cơ, lưu Lộc ở cung Tị, lưu Dương ở cung Ngọ, lưu Đà ở cung Thìn.
- Lại vì Thìn là chi của cung mệnh Đại hạn, cho nên lưu Mã ở cung Dần.

Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất nên điền các "lưu diệu" vào một tinh bàn mới (Nhân bàn), còn đối với người đã thuộc phương pháp an sao, thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái thì biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán "Lưu niên", "Lưu nguyệt", "Lưu nhật", giả dụ như điền hết các Lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng đế sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng phương pháp an sao là rất quan trọng. Nếu không thì nên lập nhiều tinh bàn - tức là nhân bàn của từng thứ loại.

Khi luận đoán Lưu niên - Lưu nguyệt - Lưu nhật, thì có một nguyên tắc cần phải biết như sau:

1) Phàm có các Lưu diệu thì lấy Lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng (xin nhắc lại là nếu không xung thì không sinh ra tác dụng). Ví dụ như, tinh bàn gốc có Lộc tồn ở cung Tị, lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở phương vị tam phương tứ chính. Hay như Kinh dương gốc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Dậu, còn Đà là gốc ở cung Thìn, lưu Đà ở cung Mùi, cung không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình dương, Đà la, Lộc tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của Đại hạn, nhưng tác dụng không lớn. Trái lại, lưu Lộc, lưu Dương, lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

2)- Nếu các sao ở trong tin bàn gốc, xung hội với "Lưu diệu" ở tam phương tứ chính, thì sác mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Ví dụ như Lộc tồn nguyên cục ở tại cung Tị, lưu Lộc ở cung Hợi, nguyên cục "Lộc" và "Lưu Lộc" hai bên đối xứng. Hoặc như Kình dương ở cung Ngọ mà lưu Dương ở cung Tí, Đà la ở cung Thìn mà lưu Đà ở cung Tuất, như vậy nguyên cục và Lưu hai bên cũng đối xứng, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của Đại hạn, toàn bộ 6 sao trong đó 3 sao của nguyên cục và 3 sao "lưu" đều có tác dụng.

3)- Các sao xung động với "lưu diệu" thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất ; trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó ; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.

4)- Khi luận đoán Đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với "lưu diệu" của Đại hạn.

Lúc luận đoán Lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của Đại hạn với lưu diệu của lưu niên. Các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ trường hợp có hai "lưu diệu" đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Theo như ví dụ trên, lúc luận đoán Lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc ở cung Tị, không có Lộc Tồn của Đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của Lưu niên hội chiếu. Nên khi luận đoán Lưu niên, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Nhưng Kình dương, Đà là, Lộc tồn của đại hạn thì có Kình dương, Đà la, Lộc tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung đột, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán Lưu niên, chỉ cần xem xét Kình dương, Đà la, Lộc tồn của Đại hạn và Lưu niên.

Như tình huống ví dụ đã nói trên, Lộc tồn gốc tại cung Tị, Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, theo đó Lộc tồn gốc tuy không hội chiếu với Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, nhưng xung hội với Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc tồn của Đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc tồn gốc tại cung Tị, thì sao Lộc Tồn này, do đồng thời có lưu Lộc của Đại hạn ở Dậu và lưu Lộc của Lưu niên ở Hợi, tam phương hiệp trợ, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.

Lúc luận đoán Lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của Lưu nguyệt và lưu diệu của Lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của Đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh, các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (Thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Lúc luận đoán Lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường lưu diệu của Đại hạn, và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý gì thêm.

Các nguyên tắc kể trên rất quan trọng, khi luận đoán Đại hạn, Lưu niên, Lưu nguyệt, Lưu nhật, không được xem thường. Nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào luận đoán. Nhất là khi luận đoán Lưu nhật, trong tinh bàn đầy dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng Cát Hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ, thì sẽ không biết định tính chất Cát Hung của các sao hội hợp như thế nào.

2)- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên

Sau khi biết rõ các nguyên tắc thuật ở trên, và đã tìm hiểu về "tinh bàn phi động", cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất ta nên bắt đầu từ Đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.

Để tiện cho việc thuyết minh, tốt nhất tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế:

Mệnh bàn của một phụ nữ, âm nữ, kim tứ cục, mệnh chủ Văn khúc, Thân chủ Thiên đồng, mệnh lập tại cung Ất Mùi vô chính diệu gặp Tuần Không.

Điều đáng chú ý là cung Phu ở Tị có Thiên cơ, Hữu bật, Thiên mã đồng độ, hội tinh hệ Thiên đồng, Cự môn hóa Lộc ở cung Tân Sửu (Di), Thái âm ở cung Kỷ Hợi, cung Đinh Dậu vô chính diệu (Phúc), vì vậy mượn Thiên lương, và Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt, Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giầu sang.

Nhưng Thiên cơ ở cung Phu vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên mã đồng độ, tính chất hiếu động trôi nổi càng tăng. Cung Phu không ưa Tả phụ Hữu bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung Phu. Ngoài ra, Thái dương và Thiên lương, Thiên đồng và Cự môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung Phu, cho nên cung Phu trong mệnh bàn có thể nói là cát - hung lẫn lộn. Cát hay Hung thì ảnh hưởng của Đại vận là tất lớn.

Lúc vào Đại hạn Bính Thân từ 14 - 23 tuổi, cung Phu ở cung Giáp Ngọ, thấy Tử vi xung chiếu Tham lang ở Tý, gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn xương hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liêm trinh hóa Kị của Đại hạn ở đồng cung ; sao Văn xương là sao lễ nhạc, Liêm trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời ký tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình dương và Linh tinh ở cung Mậu Tuất lại xung khởi lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.

Đến đại hạn Đinh Dậu từ 24 - 33 tuổi, cung Phu của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên đồng và Cự môn ở đối cung để "nhập cung an sao" cho cung Mùi. Trong đại hạn Đinh Dậu thì Cự môn hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ "Kị xung Lộc", đồng thời có Thái âm hóa Lộc ở cung Kỷ Hợi, Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão hội chiếu. "Âm Dương Lộc Quyền" hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn, nhưng có lưu Dương của đại hạn ở cung Ất Mùi và Cự môn hóa Kị cùng thủ cung Phu của đại hạn, nên đã ngầm phục nguy cơ; thêm vào đó "Thái dương Thiên lương" có Thiên nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Kỷ Hợi lại có Địa kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.

Năm Mậu Ngọ 1978, cung Mệnh của lưu niên và cung Phu của lưu niên cùng hội hợp Tham lang hóa Lộc ở cung Canh Tý, lại thêm các sao "đào hoa" đồng độ, vì vậy chủ về "thành hôn mà không có nghi lễ chính thức". Tốt nhất ta xem tình huống cung Phu của lưu niên (cung Nhâm Thìn) có lưu Đà đồng độ, xung hội với Đà là của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.

Cho nên sau khi kết hôn năm Kỷ Mùi 1979, vào năm Quý Hợi 1983 cung Phu của lưu niên mượn tổ hợp "thái dương Thiên lương" và Thiên nguyệt ở cung Tân Mão, để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu, bị Kình dương của lưu niên ở cung Tân Sửu hội chiếu, dẫn động lưu Đà của đại hạn ở cung Quý Tị, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là do chồng sử dụng ma túy (bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh).

Lại xem cung Phúc (Kỷ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn hội chiếu, ở tinh bàn gốc lại có Địa không, Địa kiếp (Kỷ Hợi), thêm vào đó lại xung chiếu Thiên cơ, Thiên mã, Hữu bật từ cung Quý Tị, cho tới mượn phép "an sao nhập cung" của cung Tân Sửu là tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" cho cung Ất Mùi, và "Thái dương Thiên lương", đều là nhóm sao chủ về điều tiếng thị phi.

Còn trùng hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất bối rối khó xử.

Năm Giáp Tý 1984, "Vũ khúc Thiên tướng" ở cung Phúc (Canh Dần) bị Thái dương hóa Kị ở cung Tân Mão và Kình dương của lưu niên, cùng với Cự môn hóa Kị ở cung Tân Sửu và Đà la của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng "Hình Kị giáp ấn", "song Kị giáp", "Dương Đà giáp", mà còn là cách xấu "Linh Xương Đà Vũ". Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc tồn của đại hạn ở cung Giáp Ngọ, nên không chết.

Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhật định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.

Bây giờ ta xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Nữ mệnh, âm nữ, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa linh, mệnh nguyên cục ở cung Giáp Tý có Tham lang tọa thủ. Trong mệnh bàn, cung vị xấu nhất là cung Đinh Tị (tức cung Nô), cung vị này có Kình dương và Đà la giáp cung, trong cung có Thiên cơ hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách xấu "Kình Đà giáp Kị", mà Thiên cơ lại có Hỏa tinh đồng độ, cũng đồng dạng bị Kình Đà giáp cung, tính cứng rắn hình khắc, cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.

Có 3 cung vị bị cung Đinh Tị gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu, trong đó có cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh tinh của cung Ất Sửu, tức là bị 2 sao Hỏa tinh và Linh tinh cùng chiếu xạ theo kiểu "song phi hồ điệp"

Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 - 43 tuổi (Tử nữ). Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra "tam phương ức hiếp" mà nó bị ảnh hưởng, tức là vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.

Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần  tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Ta có thể lưu ý cung Bính Thìn (quan lộc), trong cung nguyên cục có Thất sát và Đà la tọa thủ ; lúc vào đại hạn Tân Dậu thì Đà là của nguyên cục tương xung với lưu Đà của đại hạn của cung Canh Thân (Tài bạch), do đó tính cứng rắn hình khắc được phát động, hơn nữa còn đối diện với lưu Dương của đại hạn ở cung Nhâm Tuất, tính cứng rắn hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung Tai Ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung Tai Ách hay không.

Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.

Đến đây, ta quay trở lại cung Đinh Tị (cung Nô) của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình đồng độ, lại có lưu Dương của đại hạn và lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình dương và Đà la của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ khúc hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất của đại hạn, tiếp theo là tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.

Rồi ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung Tai Ách, là năm bị Văn xương lưu Hóa Kị của cung Kỷ Mùi, và Thiên cơ hóa Kị của cung Đinh Tị hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung Tai Ách của lưu niên, có Tử vi và Kình dương đồng độ, Kình dương này bị Kình dương của đại hạn xung động, hội hợp với "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham lang hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa kiếp của cung Giáp Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao

Sau đây ta tiếp tục phân tích một tinh bàn của nam mệnh làm ví dụ. Dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa tinh.

Mệnh bàn nguyên cục:

- Cung mệnh lập tại cung Quý Hợi, có Thiên cơ (Hóa Kị) Hỏa tinh, Thiên tài, Thiên nguyệt, Lâm quan tọa thủ.
- Phụ mẫu lập tại cung Giáp Tý, có Tử vi ngộ Tiệt không, Vượng
- Phúc đức lập tại cung Ất Sửu, có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên không, Tiệt không, Suy
- Điền trạch lập tại cung Giáp Dần, có Phá quân, Thiên mã, Địa không, Cô thần, Nguyệt giải, Thiên vu, Âm sát, Bệnh
- Sự nghiệp lập tại cung Ất Mão, vô chính diệu, có Thiên quan, Thiên phúc, Hồng loan, Thiên hình, Tử.
- Giao hữu lập tại cung Bính Thìn, có Thiên phủ, Liêm trinh, Đà la, Hữu bật, Hoa cái, Mộ.
- Thiên di lập tại cung Đinh Tị, có Thái âm, Lộc tồn, Thiên thọ, Kiếp sát, Phá toái, Nguyệt đức, Tuyệt
- Tật Ách lập tại cung Mậu Ngọ, có sao Tham lang (Hóa Lộc) Kình dương, Bát tọa, Tuần không, Thiên khốc, Thiên hư, Thai
- Tài bạch lập tại cung Kỷ Mùi, có Thiên đồng, Cự môn, Linh tinh, Thiên việt, Tam thai, Long đức, Dưỡng
- Tử tức lập tại cung Canh Thân, có Vũ khúc, Thiên tướng, Địa kiếp, Tam thai, Phỉ liêm, Trường sinh
- Phu thê lập tại cung Tân Dậu, có Thái dương, (Khoa) Thiên lương, Thiên hỉ, Hàm trì, Thiên đức, Mộc dục.
- Huynh đệ lập tại cung Nhâm Tuất, có Thất sát, Tả phụ, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Quả tú, Giải thần, Quan đới.

Mệnh bàn này, điều khiến ta chú ý nhất là cung Mệnh có Thiên cơ hóa Kị đồng độ với Hỏa tinh, nhưng cung Di (Đinh Tị) lại là Thái âm hóa Quyền đồng độ với Lộc tồn, vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.

Nhưng Thái âm lạc hãm, hội Thái dương hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị tinh hệ "Thái dương Thiên lương" ở Dậu và Thiên cơ ở Hợi xung chiếu, cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn "Thiên đồng Cự môn", Linh tinh, Thiên việt của cung Mùi để "an sao nhập cung" cho cung Sửu. Vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa, tuy có thể phát tài, nhưng điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.

Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi vào đại hạn Giáp Dần, cung Di của đại hạn này là cung Canh Thân có Vũ khúc hóa Khoa, cung mệnh của đại hạn này là cung Giáp Dần có Thiên mã có lưu Lộc tồn của đại hạn, thành cách "Lộc Mã giao trì", lưu Lộc còn xung động Tham lang hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.

Nhưng cũng trong đại hạn này, cung Phụ mẫu của đại hạn (cung Ất Mão) vô chính diệu, phải mượn thái dương hóa Kị (vốn là hóa Khoa) và Thiên lương để theo phép "an sao nhập cung" cho cung Phụ mẫu, dẫn đến tình hình có lưu Dương và Thiên hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.

Năm Canh Thân 1980 cung mệnh của lưu niên này có Vũ khúc (đại hạn thì hóa Khoa, lưu niên thì hóa Quyền), có Thiên tướng và Lộc tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung Di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng "Lộc Mã giao trì", vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.

Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh lưu niên tới cung Tân Dậu có Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên lương, hội hợp Văn khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên đồng và Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái âm hóa Quyền và Lộc tồn của tinh bàn gốc. Ta nên chú ý cung Dậu, có lưu Dương lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên hình từ cung Mão và Kiếp sát từ cung Tị đến hội. Cho nên năm đó (1981), tuy có Lộc tồn của lưu niên xung khởi Lộc tồn của tinh bàn gốc, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.

Đến năm Ất Sửu, cung mệnh lưu niên là cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên đồng Cự môn" và Linh tinh, Thiên việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà la của đại hạn đồng độ, rồi lại hội hợp với Thái âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.

Tương lai đến năm Đinh Mão, cung mệnh lưu niên là cung Mão, vẫn là cung vô chính diệu, lại mượn Thái dương hóa Kị từ cung Dậu là đối cung, để "an sao nhập cung" cho cung Mão, lại hội hợp với Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên cơ hóa Kị, mà còn kèm theo Đà la của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa tinh, Linh tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên hình, Đại hao, Thiên nguyệt, nên cẩn thận, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.

Ghi chú về phép định Tiểu hạn

Tiểu hạn là chủ về Cát - Hung của một năm. Do phái Trung Châu không dùng Tiểu hạn, mà chỉ dùng Lưu niên để luận đoán, nên Tôi không trình bày phép định Tiểu hạn trong chương này.

3)- Cách luận đoán Lưu nguyệt

Dùng Đẩu Số để luận đoán Lộc Mệnh, không nên thường xuyên luận đoán cát - hung của lưu Nguyệt, bởi vì quá tỉ mỉ, bất kể cát hay hung cũng đều sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của mệnh tạo. Nhưng cũng có một số tình huống, thí dụ như năm đó dễ xảy ra tai nạn giao thông, thì tốt nhất là luận đoán lưu Nguyệt để trợ giúp thêm, xem vào tháng nào có hung hiểm để cố tránh đi xa bằng xe cộ. Bởi vì trên thực tế khó mà hoàn toàn không đi xa trong vòng một năm, cho nên luận đoán lưu Nguyệt để bổ trợ.

Đơn cử một ví dụ:
Mệnh tạo bị tai nạn giao thông, vì vậy mà gãy xương, Vương Đình Chi tôi căn cứ vào mệnh bàn để truy tìm điềm báo của sự cố: Âm nữ, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Cự môn, Thân chủ Thiên cơ. Mệnh lập tại cung Ngọ, có Cự môn (hóa Kị), Lộc tồn tọa thủ.

Vào tháng 5 năm Ất Mão 1975, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thân, có "Thiên đồng Thiên lương" đồng độ, có Địa không và Địa kiếp đối củng, hội hợp Thiên cơ, Hỏa tinh ở cung Nhâm Tý (vốn là hóa Khoa, đại vận thì hóa Kị), với Thái âm (hóa Lộc) Thiên hình đồng độ ở cung Giáp Thìn.

Cung Di của lưu niên ở Giáp Dần vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để "an sao nhập cung", biến thành Địa không và Địa kiếp đồng cung (cung Dần) hội hợp với Cự môn hóa Kị (còn gọi là "Kình Đà giáp Kị"), còn hội hợp với Thái dương lạc hãm ở cung Canh Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi 1971 và năm Quý Sửu 1973 đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (bạn đọc thử luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão 1975, cung mệnh của lưu niên ở cung Ất Mão, trùng hợp với tình hình Kình dương của lưu niên và Đà la của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải "giáp Kị", nhưng do Thiên phủ ở cung Mão không hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô tính diệu, nên mượn "Liêm trinh Tham lang" của cung Tị để an sao, hai sao lại bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn giáp cung. Ngoài ra, ở đối cung là cung Dậu có "Vũ khúc Thất sát", cung Mùi là Thiên tướng của "Hình Kị giáp ấn".

Điều xấu nhất là, cung Tai Ách của lưu Niên bay đến cung Tuất có Thái dương lạc hãm ở đây, tương chiếu Thái âm (vốn gốc hóa Lộc, lưu Niên thì hóa Kị), Đà la của đại hạn, Kình dương của lưu Niên và Thiên hình; hội hợp với "Thiên đồng Thiên lương", Đà la của lưu niên ở cung Dần, và hội hợp với Cự môn hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên cơ hóa Kị của đại hạn) và lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát - kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu Nguyệt.

Năm Mão, Đẩu Quân tại cung Hợi, tức tháng Giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng Năm thì cung mệnh của lưu Nguyệt đến cung Mão, tức là trùng với cung mệnh của lưu Niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng Giêng), tháng Năm thì can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung Di có Vũ khúc Hóa Kị (cung Dậu), cung mệnh của lưu Nguyệt lại có Kình Đà của lưu Niên giáp cung, hơn nữa Kình Đà của lưu Nguyệt còn xung khởi Đà la Kình dương của lưu Niên, xung khởi Đà la Kình dương của đại hạn, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung Tai Ách của lưu Nguyệt ở cung Tuất. Cung Tuất còn bị Đà la của lưu Nguyệt đối nhau với Thiên hình ở cung Thìn, còn bị Thái âm hóa Kị từ cung Thìn vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng 5 mà xuất hành sẽ có hung hiểm.

Vũ khúc hóa Kị và Thất sát đồng độ ở cung Di (Dậu) đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc Kim.

Từ ví dụ này có thể biết, muốn luận đoán lưu Nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu Niên, tiếp sau đó rồi tìm lưu Nguyệt, thì mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu Nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc "xu cát tị hung". Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Thêm một ví dụ về Cách luận đoán lưu nguyệt

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất 1982, dương nữ, Thổ ngũ cục, Mệnh chủ Lộc tồn, Thân chủ Văn xương.

- Mệnh lập tại cung Kỷ Dậu, có Vũ khúc (khóa Kị), Thất sát

- Năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng: có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sỹ chuyên khoa kiểm tra thật kỹ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may mà chưa ác hóa, có hy vọng trị khỏi.

- Cung Tai Ách mệnh bàn này là Thái âm tọa thủ tại cung Giáp Thìn, nhưng có tứ sát Linh tinh, Kình dương ở Điền trạch cư Tý tam phương ức hiếp, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung Tai Ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiện thị bệnh tật khi còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

- Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu Niên Nhâm Tuất Vũ khúc hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

- Hạn 2 tuổi của bé gái ở cung Tài bạch tại cung Ất Tị, là năm Quý Hợi, gặp Kình Đà của lưu Niên của tam phương hội chiếu tiểu hạn tại cung Ất Tị, trong cung Tị lại có Tham lang hóa thành sao Kị, còn hội hợp với tạp diệu Thiên hình ở Sửu, Kiếp sát, Đại hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

- Hạn 3 tuổi ở cung Tai ách tại Thìn, lưu Niên là năm Giáp Tý, trong hạn Thái âm tọa thủ mà có Thái dương hóa Kị tại Tuất vậy chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên lương và Hoa cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Đà của thiên bàn chưa bị Kình Đà của lưu Niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

- Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên thọ vây chiếu nên không có tai biến gì. Mệnh này rất khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến Tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền hành, nên đại hạn lúc 3 tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban

Phụ lục: phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con

Cách tính tuổi để khởi Đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho tới khi vào vận có một khoảng trống, phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ xung.

Tính hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi 3 cung. Các cung tính hạn từ khi sinh ra cho tới khi vào đại hạn như sau:

- Một tuổi ở cung Mệnh
- Hai tuổi ở cung Tài bạch
- Ba tuổi ở cung Tật ách
- Bốn tuổi ở cung Phu thê
- Năm tuổi ở cung Phúc đức
- Sáu tuổi ở cung Sự nghiệp (quan lộc)

Khi xem tính hạn cho trẻ con, chỉ xem "tam phương tứ chính" của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung Mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh xung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính hạn cho trẻ con.

4)- Cách luận đoán lưu nhật

Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán "tử kỳ" cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.

Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm "can chi" ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.

Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân,.v.v...

Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tý đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Ví dụ như lưu Nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can Tân để tra lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tý, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:

- Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.
- Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ
- Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ
- Phúc đức tại cung Canh Tý, có Tham lang, Văn khúc
- Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.
- Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì
- Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không
- Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư
- Tật ách tại cung Quý Tị, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan
- Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương
- Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp
- Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc
- Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt.

Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội.

Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tý và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của Tai ách là gì? Do Vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tai ách của lưu niên.

Cung Tai ách của lưu niên ở cung Quý Tị, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương Đà la đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với "Thái dương Thiên lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, tam phương ứng hiếp, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu Nguyệt.

Tháng Nhâm Dần thì Vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với lưu niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với lưu niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên, tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng [ví lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tý, cung mệnh của lưu Nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên Vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cung Tai ách của lưu nhật, là cung Sửu có "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.

5)- Cách luận đoán lưu thời

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.

Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tý ở cung Tý, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu,.v.v... đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ Thử độn như sau:

- Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý
- Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý
- Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý
- Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý
- Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tý

Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tý khởi giờ Canh Tý, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Gợi ý trang trí nhà cửa theo phong thủy để thần may mắn tìm đến

Bạn và cả gia đình có thể sống trong hạnh phúc và bình an nếu áp dụng những mẹo phong thủy sau đây cho ngôi nhà của mình.
Gợi ý trang trí nhà cửa theo phong thủy để thần may mắn tìm đến

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Hoa tươi

goi-y-trang-tri-nha-cua-theo-phong-thuy-de-than-may-man-tim-den

Hoa tươi là biểu tượng của sự lạc quan, tích cực và may mắn

Hoa tươi mang lại dương khí, đem đến nguồn năng lượng tích cực dồi dào cũng như may mắn và lạc quan. Do đó, nên để hoa tươi trong nhà để mang lại vận may, nhớ là phải thay hoa ngay khi chúng héo nhé. Ngoài ra cần lưu ý là không được dùng hoa còn gai nhọn trong nhà vì những vật sắc nhọn lại là biểu tượng của điềm gở và xui xẻo. Bạn nên cắt bỏ phần thân có gai nhọn nếu muốn cắm hoa trong nhà.

2. Màu sơn cửa chính

goi-y-trang-tri-nha-cua-theo-phong-thuy-de-than-may-man-tim-den-1

Hãy sơn cửa màu đỏ nếu cửa nhà bạn đối diện phía Nam

Màu sắc cửa chính ngôi nhà có liên quan đến vận may của gia chủ. Theo phong thủy, nếu cửa nhà hướng về phía Nam, nên sơn cửa màu đỏ hoặc cam. Nếu hướng về phía Bắc, sơn màu xanh lam hoặc đen. Nếu hướng về phía Tây, sơn màu trắng hoặc xám. Còn là hướng Đông thì sơn màu nâu hoăc xanh lá cây.

3. Sắp xếp đồ đạc trong phòng

goi-y-trang-tri-nha-cua-theo-phong-thuy-de-than-may-man-tim-den-2

Không kê giường đối diện thẳng cửa ra vào và gương soi trong phòng ngủ

Bố trí đồ đạc trong phòng theo hình vòng tròn sẽ thu hút nguồn năng lượng tốt vào nhà. Hơn nữa, ở phòng ngủ, tuyệt đối không kê giường đối diện trực tiếp và nằm trên cùng một đường thẳng với cửa ra vào. Đây là "vị trí chết" trong phong thủy. Thay vào đó, kê giường chếch với cửa ra vào và cũng không được đối diện thẳng với gương soi trong phòng nhé để tránh phát sinh những mâu thuẫn trong đời sống tình cảm và hôn nhân của bạn.

4. Móng ngựa

goi-y-trang-tri-nha-cua-theo-phong-thuy-de-than-may-man-tim-den-3

Treo móng ngựa hướng lên hay hướng xuống đều đem lại may mắn cho gia chủ

Nhiều nơi tin rằng treo móng ngựa trước cửa chính ngôi nhà sẽ mang lại may mắn và tiền bạc cho gia chủ. Trong nhiều tín ngưỡng văn hóa, nếu treo móng ngựa hướng lên trên hình chữ U sẽ giúp gom may mắn cho chủ nhà, còn treo hướng xuống hình chữ U ngược thì may mắn sẽ như "mưa trút lên đầu bạn".

5. Dreamcatcher (Bùa đuổi bắt giấc mơ)

goi-y-trang-tri-nha-cua-theo-phong-thuy-de-than-may-man-tim-den-4

Bùa Dreamcatcher bảo vệ gia chủ khỏi những cơn ác mộng khi ngủ

Theo văn hóa người Mỹ, nếu treo một chiếc Dreamcatcher ở phòng ngủ sẽ giúp gia chủ tránh được những cơn ác mộng, mang lại giấc ngủ ngon và những giấc mơ đẹp. 

Alexandra V (theo housebeautiful)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Gợi ý trang trí nhà cửa theo phong thủy để thần may mắn tìm đến

Kiêng kỵ cửa lớn chính đối cửa lớn –

Hiện tượng: Hiện nay dương trạch theo kiểu nhà chung cư, nhà tập thể thường xảy ra tình trạng cửa nhà nọ chính đối với cửa nhà kia, hiệu ứng trực tiếp nhất của tình trạng này là ảnh hường bất lợi tới những yếu tố riêng tư của hai gia đình, bất lợi ch

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện tượng: Hiện nay dương trạch theo kiểu nhà chung cư, nhà tập thể thường xảy ra tình trạng cửa nhà nọ chính đối với cửa nhà kia, hiệu ứng trực tiếp nhất của tình trạng này là ảnh hường bất lợi tới những yếu tố riêng tư của hai gia đình, bất lợi cho sự chung sống hòa thuận của tình hàng xóm.

35235090c9f259.img

Phương pháp hóa giải:

Hai nhà đều nên treo rèm cửa để hóa giải, cũng có thể dùng phương pháp đặt một bức bình phong trong nhà để hóa giải. Hoặc trên cửa chính treo Bát Tiên Thái cũng có tác dụng tích cực.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiêng kỵ cửa lớn chính đối cửa lớn –

Ý nghĩa sao Tiểu Hao - Là một sao xấu chủ sự hao tán

Người thường hay thay đổi chí hướng, nghề nghiệp, tính hào phóng, thích tiêu pha, ăn xài lớn, hay ly hương lập nghiệp, thích đi đây đi đó.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Tiểu Hao - Là một sao xấu chủ sự hao tán

Ý nghĩa sao Tiểu Hao - Là một sao xấu chủ sự hao tán

Hành: Hỏa

Loại: Hao Tinh, Bại Tinh

Đặc Tính: Phá tán, hao tán

Tên gọi tắt thường gặp: Hao 

Là một sao phụ tinh, một trong sao bộ đôi Tiểu Hao và Đại Hao. Gọi tắt là Song Hao. Cũng là sao thứ 4 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.

Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Bại Tinh gồm các sao Tiểu Hao, Đại Hao, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư).

Vị Trí Ở Các Cung của sao Tiểu Hao:

Đắc địa: Dần, Thân, Mão, Dậu.

Hãm địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Mệnh:

Tướng Mạo: Cung Mệnh có sao Tiểu Hao, thì lùn, đẹt, ốm.

Tính Tình: Người thường hay thay đổi chí hướng, nghề nghiệp, tính hào phóng, thích tiêu pha, ăn xài lớn, hay ly hương lập nghiệp, thích đi đây đi đó hoặc làm các nghề lưu động, di chuyển.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Với Các Sao Khác:

Đại Hao, Tiểu Hao, Cự Môn, Thiên Cơ: Rất giàu có, tiền bạc thừa thãi vô cùng.

Sao Tiểu Hao gặp Hỏa, Linh: Bị nghiện (ghiền).

Sao Tiểu Hao với Tuyệt đồng cung: Xảo quyệt. Nếu Mệnh vô chính diệu thì càng giả trá và rất keo kiệt, tham lận.

Sao Tiểu Hao gặp Tham Lang đồng cung hay xung chiếu: Hiếu sắc, dâm dật nhưng rất kín đáo.

Sao Tiểu Hao gặp Hóa Kỵ: Vất vả, túng thiếu.

Đào, Hồng, Đại, Đại Hao: Tốn tiền nhân tình.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Phụ Mẫu:

Cha mẹ không được sống gần quê cha đất tổ, phải thay đổi nơi ăn chốn ở, nghề nghiệp.

Sao Tiểu Hao, Hóa Kỵ thì cha mẹ vất vả.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Phúc Đức:

Sao Đại Hao ở cung Phúc Đức có nghĩa là bần hàn, giòng họ ly tán, tha hương lập nghiệp. Đại Hao rất kỵ ở cung này.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Điền Trạch:

Không có điền sản (nếu thêm Không, Kiếp càng chắc).

Dù có cũng phải bán, hoặc phải hao tốn tài sản.

Gặp Không, Kiếp đắc địa thì điền sản được mua đi bán lại rất mau.

Hao tốn vì dọn nhà cửa, thay đổi chỗ ở, hoặc một kiểng hai hoa.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Quan Lộc:

Làm việc có tính cách lưu động, thường hay thay đổi chỗ làm hay đổi nghề nghiệp.

Tiểu Hao gặp Hóa Quyền: Người dưới khinh ghét.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Nô Bộc:

Bị tôi tớ trộm cắp, làm hao tốn của cải hoặc bị người dưới, bạn bè ăn chận.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Thiên Di:

Tiểu Hao ở cung Thiên Di có nghĩa là khi ra ngoài tốn tiền, thường phải tha hương lập nghiệp, thay đổi chỗ ở nhiều lần.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Tật Ách:

Giải trừ được tai nạn, nhưng nếu có thêm các sao xấu như Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ thì vì đam mê một thứ nào đó mà sinh ra bệnh tật.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Tài Bạch:

Trừ phi đắc địa, vì bản chất của Tiểu Hao là hao tán, cho nên đóng ở cung nào làm giảm cái tốt của cung đó. Đặc biệt Tiểu Hao rất kỵ những cung Tài, Điền, Phúc. Về điểm này, Tiểu Hao nghịch nghĩa với Đẩu Quân.

Sao Tiểu Hao ở cung này có nghĩa là tán tài, hao tài, nghèo túng, có dịp phải ăn tiêu luôn.

Sao Tiểu Hao gặp Đào, Hồng: Tốn tiền vì gái.

Nếu Tiểu Hao gặp Phá hay Tuyệt thì bị phá sản. Tiểu Hao gặp Không, Kiếp cũng bị phá sản.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Tử Tức:

Sinh nhiều nuôi ít.

Con cái không được ở gần cha mẹ.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Phu Thê:

Đi xa mà gặp duyên nợ, việc cưới xin dễ dàng.

Đà La, Thiên Hình, Thiên Riêu thì người hôn phối phong lưu, tài tử.

Ý Nghĩa sao Tiểu Hao Ở Cung Huynh Đệ:

Anh chị em ly tán, mỗi người một chí hướng.

Tiểu Hao Khi Vào Các Hạn:

Có dịp hao tài tốn của hoặc vì tang khó, bệnh tật hay bị mất trộm.

Có sự thay đổi hoặc nghề nghiệp, hoặc chỗ làm, hoặc chỗ ở, hoặc đi ngoại quốc.

Nếu có ốm đau, thì mau hết bệnh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Tiểu Hao - Là một sao xấu chủ sự hao tán
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd