Tướng phụ nữ mắt nhỏ –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Chùa Vạn Đức tọa lạc số 23/4 đường Tô Ngọc Vân, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.
Chùa Vạn Đức có lịch sử từ một ngôi nhà xưa do thí chủ Nguyễn Thị Hương hiến cúng. Sau khi tiếp nhận, Hòa thượng đã xây dựng lại thành chùa và đặt hiệu là “Vạn Đức tự”. Kể từ đó, chùa được mở rộng vào các năm 1964, 1989, 1993 và từ năm 2003 đến năm 2005, đại trùng tu toàn bộ ngôi chùa, trở thành như ngày nay. Chùa nằm trên khu đất rộng, kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên.
Kiến trúc chùa gồm cổng tam quan, chánh điện và đài Liên hoa. Tam quan xây ba tầng, mái lợp ngói lưu ly màu xanh, trên các đầu đao có gắn hoa văn hình hoa sen cách điệu, nóc gắn hình “lưỡng long chầu Pháp luân”. Qua khỏi tam quan là khoảng sân rộng trồng các loại cây kiểng, bonsai, tạo cảm giác mát mẻ và thanh tịnh.
Bên trái sân chùa có cội bồ đề rợp mát. Đối diện cội bồ đề là một ao sen, giữa có đài Liên hoa vọt lên khỏi mặt nước, bên trong tôn trí tượng Quan Thế Âm Bồ tát. Phía sau sân chùa là những hàng cau cảnh và những bụi trúc xanh um, trông giống như một bức tranh thủy mặc sống động…
màu xám. Cửa và cầu thang trong chùa đều làm bằng thép trắng. Hoa văn trang trí được đúc bằng xi-măng. Nền chùa là những mảnh gạch men, vừa mang tính truyền thống nhưng lại tân kỳ.
Tòa chánh điện của chùa cao 43,5m, đây là ngôi chùa có chánh điện cao nhất hiện nay, nhìn từ xa trông giống như một ngọn tháp chín tầng và hai tháp nhỏ năm tầng nhưng bên trong chỉ có hai tầng chính. Tầng trên là nội điện thờ Phật, có nhiều ô cửa sổ, bên ngoài có lan can, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca và Tam thế Phật. Xung quanh có bốn lớp lan can giống như những tầng mây trắng, và mỗi vì sao là những ô cửa gió có hình chữ “Phật”. Hai bên lan can là hai cầu thang dẫn lên nội điện. Nổi bật trên nền kiến trúc nội điện là bức phù điêu cội bồ đề và phong cảnh sông Ni Liên Thiền.
Tầng dưới là giảng đường, dùng làm nơi thuyết pháp cho Phật tử; sát vách giữa thờ Tổ sư Đạt Ma tạc bằng đá cẩm thạch màu trắng toát và linh vị Hòa thượng Thiện Quang (1895-1953), bổn sư của Hòa thượng viện chủ.
Kiến trúc sư Đỗ Thành Phương phải mất thời gian khá dài để hoàn thành bản vẽ về công trình độc đáo này, đồng thời phải mất 2 năm với hơn 60 thợ xây mới thực hiện xong phần chánh điện.
Chùa Vạn Đức là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo có quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại. Chùa Vạn Đức không chỉ là nơi lễ phật mà còn là nơi tham quan lý thú cho mọi người đến đây.
tiêu chuẩn để đo sự vượng suy của can chi năm, ngày, giờ. Nó có thể trợ giúp yếu hoặc khống chế mạnh, là cương lĩnh của tháng, chủ tể quyền sinh sát của một tháng. Cho nên bàn về tứ trụ trước hết phải xem lệnh tháng, sau đó mới xem nhật nguyên (trụ ngày).
|
| Tháng sinh được ví như hình ảnh cành cây |
Tháng chủ về anh chị em (trong sách cổ cũng có nói chủ về cha mẹ). Nếu can chi của tháng tương sinh cho nhau hoặc can của tháng gặp vượng địa lại được những trụ khác (năm, giờ, ngày) đến sinh trợ, không bị xung khắc phá hại thì đó là tượng anh chị em hòa thuận.
Nếu can tháng bị khắc hoặc can chi của tháng xung khắc nhau thì đó là tượng anh chị em không nương tựa vào nhau hoặc bất hòa.
Tháng có quan hệ mật thiết với mệnh suốt cả đời người. Trong suốt cuộc đời, bất kể là nam hay nữ, vận thuận hay ngược, thời kỳ từ 50-69 tuổi đều xảy ra vận cả tháng xung khắc với 10 năm trong gia đoạn ấy, cho nên trong thời gian đó nói chung là xảy ra nhiều việc và phức tạp, biến động nhiều. Người mà mệnh cục mạnh, trụ ngày mạnh thì ít gặp biến động hoặc vô sự, ngược lại trụ ngày yếu thì sẽ gặp nhiều bất trắc.
(Theo Dự đoán tứ trụ)
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Ngày nay người tụng kinh niệm Phật không nhất định phái xuất gia tu hành, chỉ cần có lòng, bất cứ ai cũng có thể hướng Phật. Nhưng niệm Phật mà không hiểu Phật thì không có ý nghĩa gì hết. 12 điểm lưu ý tụng kinh niệm Phật dưới đây phải ghi nhớ thật kĩ trước khi bước vào Phật đường.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
hiểu ý nghĩa và không biết có hợp với mình hay không thì chưa chắc đã mang tới hiệu quả phong thủy như mong đợi. Gợi ý một vài đuôi số điện thoại đẹp và tốt về phong thủy.
![]() |
|
| Phan Huy Chú nổi tiếng với bộ Lịch triều hiến chương loại chí |
Cha ông là Phan Huy Ích, mẹ là Ngô Thị Thục - em gái Ngô Thì Nhậm.
Phan Huy Chú là danh nhân có tài, một nhà bác học về nhiều lĩnh vực: y học, sử học, thơ ca... Ông còn là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng: Hoàng Việt dư địa chí, Hoa thiều ngâm lục, Hoa trình ngâm lục...
Sự nghiệp sáng tác lớn nhất của Phan Huy Chú được đánh dấu với bộ Lịch triều hiến chương loại chí. Ông đã bỏ ra 10 năm (1809-1819) để hoàn thành bộ sách này. Đây là một công trình nghiên cứu lịch sử văn hóa đồ sộ, một kho bách khoa toàn thư của đất nước. G.P.Muraseva, nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam người Liên Xô đã đánh giá: "Lịch triều hiến chương loại chí xứng đáng là bộ bách khoa toàn thư mà không có công trình nào sánh nổi về bề rộng phạm vi các vấn đề sử học Việt Nam thời phong kiến".
Phan Huy Chú đã nêu cao tấm gương về tinh thần say mê nghiên cứu khoa học, cống hiến cho đất nước công trình nghiên cứu có giá trị to lớn. Ông xứng đáng là danh nhân văn hóa lớn của dân tộc.
(Theo Anninhthudo)
Tử vi đẩu số là bộ môn khoa học huyền bí, được xây dựng dựa trên tổng hòa các yếu tố dịch học, số học, thiên văn học, kinh nghiệm thực tế..., nhằm luận đoán vận mệnh con người. Lá số tử vi là một trong những khái niệm quan trọng nhất của bộ môn này.
![]() |
![]() |
1. Tên đầy đủ của tượng Nữ thần tự do là Tự do soi sáng thế giới (Liberty Enlightening the World).
2. Trước khi sự kiện 11/9/2001 xảy ra, tượng nữ thần tự do được mở cửa để du khách tham quan có thể leo lên cao tới tận vương miện của bức tượng này và ngắm quang cảnh của bến cảng New York. Sau sự kiện kinh hoàng 11/9, năm 2004, các nhà chức trách đã cho phép mở cửa lại bức tượng. Tuy nhiên, đến tận năm 2009, khu vực vương miện của nữ thần mới được mở trở lại.

3. Ngọn đuốc trên tay phải của nữ thần là tượng trưng cho ánh sáng dẫn đường tới sự tự do, bình đẳng, bác ái. Ngọn lửa trên ngọn đuốc được mạ vàng 24k vào năm 1986. Đây chính là ngọn lửa mà Promete đã mang đến cho con người. Đây cũng là biểu tượng cho nền độc lập Hoa Kỳ.
4. Vào những năm 1980, tượng nữ thần tự do đã được tu sửa với chi phí lên tới hàng triệu đô la Mỹ. Cũng chính trong thời gian này, ngọn đuốc cũ trên tay phải nữ thần đã được thay bằng một ngọn đuốc mới. Có sự thay đổi này là do ngọn đuốc cũ đã bị ăn mòn tới mức không thể tu bổ lại được. Còn tay trái của nữ thần vẫn giữ tấm bảng (nhiều nguồn tin lại cho rằng đây là quyển sách) có khắc dòng ngày 4 tháng 7 năm 1776 bằng số La Mã (VII IV MDCCLXXVI). Đây chính là ngày mà nước Mỹ dành được độc lập.
5. Cầu thang trong tượng nữ thần gồm 192 bậc, còn muốn từ bậc cầu thang cao nhất lên tới vương miện của nữ thần thì du khách cần đi tiếp 354 bậc vòng xoáy trôn ốc nữa.
6. Đôi dép mà nữ thần đi dài tới 7,5m, nói cách khác đôi xăng đan của nữ thần có size là 879. Điều này cũng khá phù hợp với trọng lượng cơ thể 225 tấn của nữ thần. Hàng năm có hơn bốn triệu khách du lịch tới thăm tượng nữ thần tự do.

7. Vương miện của nữ thần có 25 cửa sổ và 7 mũi nhọn tượng trưng cho tia nắng mặt trời. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, 7 mũi nhọn này tượng trưng cho 7 đại dương.
8. Những người Mỹ cũng đã làm một bản sao tượng nữ thần tự do tặng cho người Pháp. Vào ngày 5 tháng 11 năm 1889, bức tượng bản sao này đã chính thức được giới thiệu tới công chúng và nhân dân Pháp bên bờ sông Seine - Paris.
9. Khi được dựng lên vào năm 1886, tượng nữ thần tự do khi đó là bức tượng cao nhất thế giới. Đến năm 1984, bức tượng chính thức được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
10. Màu xanh của tượng nữ thần tự do là do phản ứng hóa học giữa lớp đồng mỏng bao phủ bức tượng với các yếu tố bên ngoài. Ban đầu, bức tượng có màu nâu đỏ.

Màu sắc của bức tượng thay đổi theo thời gian
11. Tượng nữ thần tự do còn trờ thành biểu tượng của dân nhập cư trong suốt nửa cuối thế kỷ 19 do bức tượng là thứ đầu tiên những người nhập cư nhìn thấy trước khi cập bến. Trong suốt những năm từ 1886 cho đến 1902, bức tượng còn được sử dụng như là một ngọn hải đăng chỉ đường cho người đi biển.
12. Hình ảnh của Nữ thần tự do còn được in trên tờ 10 USD.
13. Và không chỉ có một bản sao của tượng nữ thần tự do, trên thế giới có rất nhiều tượng nữ thần tự do như ở Na Uy, Nhật Bản, Đài Loan, Anh, Philippin. Đến cả Việt Nam, cũng có một bản sao của tượng nữ thần tự do. Ở Cửa Nam, Hà Nội, bức tượng Bà đầm xòe cũng được xem là một bản sao của tượng nữ thần tự do.
Trên đây là một vài thông tin về bức tượng nữ thần tự do ở Mỹ. Chúc bạn đọc sẽ có cơ hội tới thăm bức tượng nổi tiếng này và lên được vị trí cao nhất trên bức tượng.
| ► Mời bạn đọc: Tiểu sử nhà tiên tri Vanga và những lời tiên tri của Vanga đáng sợ nhất lịch sử |
![]() |
| ► Tham khảo thêm: Giải mã việc mơ thấy cá, mơ thấy máu theo thế giới tâm linh |
![]() |
| Ảnh minh họa |

BẢNG TRA TUỔI THEO NGŨ HÀNH
| Năm | Năm âm lịch | Ngũ hành | Giải nghĩa | Mệnh nam | Mệnh nữ |
| 1905 | Ất Tỵ | Phú Đăng Hỏa | Lửa đèn to | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1906 | Bính Ngọ | Thiên Hà Thủy | Nước trên trời | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1907 | Đinh Mùi | Thiên Hà Thủy | Nước trên trời | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1908 | Mậu Thân | Đại Trạch Thổ | Đất nền nhà | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1909 | Kỷ Dậu | Đại Trạch Thổ | Đất nền nhà | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1910 | Canh Tuất | Thoa Xuyến Kim | Vàng trang sức | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1911 | Tân Hợi | Thoa Xuyến Kim | Vàng trang sức | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1912 | Nhâm Tý | Tang Đố Mộc | Gỗ cây dâu | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1913 | Quý Sửu | Tang Đố Mộc | Gỗ cây dâu | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1914 | Giáp Dần | Đại Khe Thủy | Nước khe lớn | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1915 | Ất Mão | Đại Khe Thủy | Nước khe lớn | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1916 | Bính Thìn | Sa Trung Thổ | Đất pha cát | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1917 | Đinh Tỵ | Sa Trung Thổ | Đất pha cát | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1918 | Mậu Ngọ | Thiên Thượng Hỏa | Lửa trên trời | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1919 | Kỷ Mùi | Thiên Thượng Hỏa | Lửa trên trời | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1920 | Canh Thân | Thạch Lựu Mộc | Gỗ cây lựu | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1921 | Tân Dậu | Thạch Lựu Mộc | Gỗ cây lựu | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1922 | Nhâm Tuất | Đại Hải Thủy | Nước biển lớn | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1923 | Quý Hợi | Đại Hải Thủy | Nước biển lớn | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1924 | Giáp Tý | Hải Trung Kim | Vàng trong biển | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1925 | Ất Sửu | Hải Trung Kim | Vàng trong biển | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1926 | Bính Dần | Lư Trung Hỏa | Lửa trong lò | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1927 | Đinh Mão | Lư Trung Hỏa | Lửa trong lò | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1928 | Mậu Thìn | Đại Lâm Mộc | Gỗ rừng già | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1929 | Kỷ Tỵ | Đại Lâm Mộc | Gỗ rừng già | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1930 | Canh Ngọ | Lộ Bàng Thổ | Đất đường đi | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1931 | Tân Mùi | Lộ Bàng Thổ | Đất đường đi | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1932 | Nhâm Thân | Kiếm Phong Kim | Vàng mũi kiếm | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1933 | Quý Dậu | Kiếm Phong Kim | Vàng mũi kiếm | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1934 | Giáp Tuất | Sơn Đầu Hỏa | Lửa trên núi | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1935 | Ất Hợi | Sơn Đầu Hỏa | Lửa trên núi | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1936 | Bính Tý | Giảm Hạ Thủy | Nước cuối khe | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1937 | Đinh Sửu | Giảm Hạ Thủy | Nước cuối khe | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1938 | Mậu Dần | Thành Đầu Thổ | Đất trên thành | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1939 | Kỷ Mão | Thành Đầu Thổ | Đất trên thành | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1940 | Canh Thìn | Bạch Lạp Kim | Vàng chân đèn | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1941 | Tân Tỵ | Bạch Lạp Kim | Vàng chân đèn | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1942 | Nhâm Ngọ | Dương Liễu Mộc | Gỗ cây dương | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1943 | Quý Mùi | Dương Liễu Mộc | Gỗ cây dương | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1944 | Giáp Thân | Tuyền Trung Thủy | Nước trong suối | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1945 | Ất Dậu | Tuyền Trung Thủy | Nước trong suối | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1946 | Bính Tuất | Ốc Thượng Thổ | Đất nóc nhà | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1947 | Đinh Hợi | Ốc Thượng Thổ | Đất nóc nhà | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1948 | Mậu Tý | Thích Lịch Hỏa | Lửa sấm sét | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1949 | Kỷ Sửu | Thích Lịch Hỏa | Lửa sấm sét | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1950 | Canh Dần | Tùng Bách Mộc | Gỗ tùng bách | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1951 | Tân Mão | Tùng Bách Mộc | Gỗ tùng bách | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1952 | Nhâm Thìn | Trường Lưu Thủy | Nước chảy mạnh | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1953 | Quý Tỵ | Trường Lưu Thủy | Nước chảy mạnh | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1954 | Giáp Ngọ | Sa Trung Kim | Vàng trong cát | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1955 | Ất Mùi | Sa Trung Kim | Vàng trong cát | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1956 | Bính Thân | Sơn Hạ Hỏa | Lửa trên núi | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1957 | Đinh Dậu | Sơn Hạ Hỏa | Lửa trên núi | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1958 | Mậu Tuất | Bình Địa Mộc | Gỗ đồng bằng | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1959 | Kỷ Hợi | Bình Địa Mộc | Gỗ đồng bằng | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1960 | Canh Tý | Bích Thượng Thổ | Đất tò vò | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1961 | Tân Sửu | Bích Thượng Thổ | Đất tò vò | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1962 | Nhâm Dần | Kim Bạch Kim | Vàng pha bạc | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1963 | Quý Mão | Kim Bạch Kim | Vàng pha bạc | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1964 | Giáp Thìn | Phú Đăng Hỏa | Lửa đèn to | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1965 | Ất Tỵ | Phú Đăng Hỏa | Lửa đèn to | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1966 | Bính Ngọ | Thiên Hà Thủy | Nước trên trời | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1967 | Đinh Mùi | Thiên Hà Thủy | Nước trên trời | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1968 | Mậu Thân | Đại Trạch Thổ | Đất nền nhà | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1969 | Kỷ Dậu | Đại Trạch Thổ | Đất nền nhà | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1970 | Canh Tuất | Thoa Xuyến Kim | Vàng trang sức | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1971 | Tân Hợi | Thoa Xuyến Kim | Vàng trang sức | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1972 | Nhâm Tý | Tang Đố Mộc | Gỗ cây dâu | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1973 | Quý Sửu | Tang Đố Mộc | Gỗ cây dâu | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1974 | Giáp Dần | Đại Khe Thủy | Nước khe lớn | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1975 | Ất Mão | Đại Khe Thủy | Nước khe lớn | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1976 | Bính Thìn | Sa Trung Thổ | Đất pha cát | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1977 | Đinh Tỵ | Sa Trung Thổ | Đất pha cát | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1978 | Mậu Ngọ | Thiên Thượng Hỏa | Lửa trên trời | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1979 | Kỷ Mùi | Thiên Thượng Hỏa | Lửa trên trời | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1980 | Canh Thân | Thạch Lựu Mộc | Gỗ cây lựu | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1981 | Tân Dậu | Thạch Lựu Mộc | Gỗ cây lựu | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1982 | Nhâm Tuất | Đại Hải Thủy | Nước biển lớn | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1983 | Quý Hợi | Đại Hải Thủy | Nước biển lớn | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1984 | Giáp Tý | Hải Trung Kim | Vàng trong biển | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1985 | Ất Sửu | Hải Trung Kim | Vàng trong biển | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1986 | Bính Dần | Lư Trung Hỏa | Lửa trong lò | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1987 | Đinh Mão | Lư Trung Hỏa | Lửa trong lò | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1988 | Mậu Thìn | Đại Lâm Mộc | Gỗ rừng già | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1989 | Kỷ Tỵ | Đại Lâm Mộc | Gỗ rừng già | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1990 | Canh Ngọ | Lộ Bàng Thổ | Đất đường đi | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 1991 | Tân Mùi | Lộ Bàng Thổ | Đất đường đi | Ly Hoả | Càn Kim |
| 1992 | Nhâm Thân | Kiếm Phong Kim | Vàng mũi kiếm | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 1993 | Quý Dậu | Kiếm Phong Kim | Vàng mũi kiếm | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 1994 | Giáp Tuất | Sơn Đầu Hỏa | Lửa trên núi | Càn Kim | Ly Hoả |
| 1995 | Ất Hợi | Sơn Đầu Hỏa | Lửa trên núi | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 1996 | Bính Tý | Giảm Hạ Thủy | Nước cuối khe | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 1997 | Đinh Sửu | Giảm Hạ Thủy | Nước cuối khe | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 1998 | Mậu Dần | Thành Đầu Thổ | Đất trên thành | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 1999 | Kỷ Mão | Thành Đầu Thổ | Đất trên thành | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 2000 | Canh Thìn | Bạch Lạp Kim | Vàng chân đèn | Ly Hoả | Càn Kim |
| 2001 | Tân Tỵ | Bạch Lạp Kim | Vàng chân đèn | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 2002 | Nhâm Ngọ | Dương Liễu Mộc | Gỗ cây dương | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 2003 | Quý Mùi | Dương Liễu Mộc | Gỗ cây dương | Càn Kim | Ly Hoả |
| 2004 | Giáp Thân | Tuyền Trung Thủy | Nước trong suối | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 2005 | Ất Dậu | Tuyền Trung Thủy | Nước trong suối | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 2006 | Bính Tuất | Ốc Thượng Thổ | Đất nóc nhà | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 2007 | Đinh Hợi | Ốc Thượng Thổ | Đất nóc nhà | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 2008 | Mậu Tý | Thích Lịch Hỏa | Lửa sấm sét | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 2009 | Kỷ Sửu | Thích Lịch Hỏa | Lửa sấm sét | Ly Hoả | Càn Kim |
| 2010 | Canh Dần | Tùng Bách Mộc | Gỗ tùng bách | Cấn Thổ | Đoài Kim |
| 2011 | Tân Mão | Tùng Bách Mộc | Gỗ tùng bách | Đoài Kim | Cấn Thổ |
| 2012 | Nhâm Thìn | Trường Lưu Thủy | Nước chảy mạnh | Càn Kim | Ly Hoả |
| 2013 | Quý Tỵ | Trường Lưu Thủy | Nước chảy mạnh | Khôn Thổ | Khảm Thuỷ |
| 2014 | Giáp Ngọ | Sa Trung Kim | Vàng trong cát | Tốn Mộc | Khôn Thổ |
| 2015 | Ất Mùi | Sa Trung Kim | Vàng trong cát | Chấn Mộc | Chấn Mộc |
| 2016 | Bính Thân | Sơn Hạ Hỏa | Lửa trên núi | Khôn Thổ | Tốn Mộc |
| 2017 | Đinh Dậu | Sơn Hạ Hỏa | Lửa trên núi | Khảm Thuỷ | Khôn Thổ |
| 2018 | Mậu Tuất | Bình Địa Mộc | Gỗ đồng bằng | Ly Hoả | Càn Kim |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Bí mật 12 cung hoàng đạo cùng những tin tức Horoscope được cập nhật mới nhất |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nên dọn dẹp chuyển hết đồ đạc vào bên trong nhà rồi mới tiền hành dọn cúng sau.
Và một điều cần lưu ý khi vào nhà mới thì mọi người ai cũng phải cầm một thứ gì đó trên tay, không được đi tay không vào nhà. Tuổi dần thì nghiêm cấm phụ dọn nhà kể cả phụ nữ có thai cũng không được.Trong giờ tốt, gia chủ tự tay cầm tiền bạc nữ trang, tài sản quý giá cất vào tủ.
Và nếu bạn đi đám nhà mới hay còn gọi là Tân gia, bạn nên mua theo một số vật dụng trong gia đình đến tặng bạn bè, những thứ vật dụng như soong nồi, chén bát, nó có ý nghĩa mang lại sự sung túc cho gia đình gia chủ.

Khi cúng động thổ, quý vị hãy chuẩn bị các lễ vật sau : ngũ quả ( là 5 loại trái cây ), bông tươi, nhang đèn,1 bộ tam sên ( 1 miếng thịt luộc, 1 con tôm luộc, 1 trứng vịt luộc ), xôi thịt, 3 miếng trầu cau ( đã têm ), giấy vàng bạc, 1 dĩa muối gạo, 3 hũ nhỏ đựng muối-gạo-nước.
Sau khi cúng xong, đốt giấy vàng bạc và rải muối gạo hãy động thổ. Riêng 3 hũ muối-gạo-nước thì cất lại thật kỹ. Sau này khi nhập trạch thì đem để nơi Bếp, nơi thờ cúng Táo Quân.
Nhớ mỗi kỳ đổ mái -đổ thêm tầng đều phải sắm lễ cúng vái.
Hôm nay là ngày……tháng……năm……
Gia đình chúng con dọn đến đây là……………………..(ghi địa chỉ)
Hôm nay chúng con thiết lập hương án, sắm sanh phẩm vật, trước linh vị kính trình các Cụ tổ Tiên nội ngoại 2 bên : nhờ hồng phúc Tổ Tiên, nhờ Âm Đức cha mẹ, chúng con đã tạo được ngôi gia. Nay hoàn tất thi công, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt để di cư nhập trạch, kính rước chư Hương linh Tiên Tổ về đây để chúng con sớm hôm hương khói tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin, ông Bà Tổ tiên nội ngoại 2 bên thương xót con cháu, chứng giám lòng thành giáng lâm linh án thụ hưởng lễ vật. Độ cho chúng con phước lộc song tu, gia đạo hưng long, xuất nhập bình an, lộc tài thạnh vượng.
Cúi mong Anh linh Tiên Tổ chứng giám, thọ cảm ân sâu.
Kính cáo.
Ví dụ Can ngày là Giáp Mộc, Mộc sinh vào xuân, Thuỷ có thể sinh Mộc cho nên chi tháng nếu gặp tháng xuân thì thuộc về vượng. Gặp về mùa Đông, coi là tướng đều thuộc gặp thời. Nếu như Can ngày Giáp Mộc không sinh vào tháng đông xuân, mà chỉ sinh vào tháng Mộc có thể sinh Hoả, Hoả sinh Mộc vào tháng hạ, tháng Mộc có thể khắc Thổ, Thổ vượng Mộc tù tức là vào tháng 3, 6, 9, 12, thậm chí sinh vào tháng thu Kim có thể khắc Mộc, Kim thịnh Mộc tử, đều thuộc vào không gặp thời. Gặp thời thì bản thân cường vượng, không gặp thời thì bản thân suy nhược, về mối quan hệ cua Ngũ hành với Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử của bốn mùa trong năm, ở trên đã nói kỹ rồi, cứ địa là hiểu. Ngoài ra, quan sát mối quan hệ Can ngày và Can tháng, còn có lợi cho việc nhận định cách cục Bát tự của một coi người. Sau khi xem mối quan hệ của Can ngày và Chi tháng, lại xem ô dưới Can ngày thuộc về Địa Chi nào, Địa Chi này đối với Can ngày mà nói, nó ở vào trạng thái nào trong 12 cung ký sinh, là Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Đế vượng hay là Suy, Bệnh, Tử, mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng? Ngoài ra không được quên xem Can Chi của Can chi giờ và trụ tháng ở bên phải trái sát ngay Can Chi của chi ngày, còn như Can Chi của trụ năm, những Âm Dương ngũ hành đại biểu cho những Can Chi này với Can Chi ngày của bản thân mà nói thì tình hình sinh khắc phù ức như thế nào.
Cách xem này, nói đúng ra trên cơ sở lấy Can ngày làm chủ, lấy Chi năm làm gốc, có thể biết được thịnh suy của cuộc đời. Lấy trụ tháng làm mầm giống, có thể biết được người thân khác của bố mẹ không, anh em có tốt hay không tốt, lấy trụ Nhật chủ làm bản thân, Chi ngày làm vợ, có thể biết vợ có hiền thục hay không, lấy trụ giờ làm hoa quả, có thể biết con cái có hưng vượng hay không.
Ở đây điều quan trọng là: chúng ta không thể nào được quên, căn cứ vào nhu cầu sinh khắc phù ức của Ngũ hành Can ngày lấy ra Dụng thần, sau đó lại xem Dụng thần này thích cái gì, kỵ cái gì. Có như vậy mối suy xét được toàn diện để luận đoán. Bây giờ đem cách xem Can, cách cục và Can Chi Hợp Hoá hình Xung trong mệnh phân tích cụ thể như sau:
1. Trước tiên xem xét Can ngày cường nhược
Can ngày có nhiều cách gọi tên, như gọi là chủ, mệnh chủ, thân chủ, nhật nguyên, nhật thần. Trong Bát tự của một con người, địa vị của Can ngày được cân nhắc nặng nhẹ rất kỵ vì Can ngày đại biểu cho bản thân con người. Vì vậy từ điểm này xuất phát, đầu tiên phải đoán định Can ngày của bản thân một người suy vượng cường nhược như thế nào, trở thành điều kiện đầu tiên của xem mệnh.
Phương pháp đoán định Can ngày của một người cường nhược chủ yếu có 3 điểm.
Thứ 1, xem can ngày ở tháng sinh có được lệnh hay không được lệnh. Ví dụ Can ngày Giáp, Ất gặp Chi tháng Dần, Mão, Bính, Đinh gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, Mậu, Kỷ gặp Chi tháng Tỵ, Ngọ, hoặc Thìn, Tuất, Sửu Mùi, Canh Tân gặp Chi tháng Thân, Dậu, Nhâm Quý gặp Chi tháng Hợi Tý, đều ở vào trạng thái được lệnh sinh vượng tốt nhất, cho nên Can ngày này cường ngược lại, Can ngày sinh trong nguyệt lệnh nếu như ở trạng thái hoặc Hưu, hoặc Tù, hoặc Tử, như vậy là nhược.
Thứ 2, Can ngày trong tứ trụ được trợ giúp nhiều hay ít. Ví dụ Can ngày thuộc Giáp, Ất, Mộc nếu trong tứ trụ được Thuỷ Mộc trợ giúp nhiều thì là vượng mà đắc thế, ngược lại Can ngày Giáp, Ất Mộc không được thuỷ Mộc trong tứ trụ trợ giúp, thậm chí gặp phải Kim chế Hoả tiết, thì là nhược mà không đắc thế.
Thứ 3, đem Can ngày bản thân đối chiếu với Chi tứ trụ nếu gặp Trường sinh, Mộc dục, Quan đái, Lâm quan (lộc), Đế vượng hoặc Mộ khố thì là đắc địa đắc khí, bản thân tự nhiên cường vượng, ngược lại là thất địa thất khí, cường vượng không vươn lên được. Ba cái đắc lệnh, đắc địa, đắc thế tập trung vào một người, Can ngày ở vào trạng thái cực nhược. Lại còn phân ra vượng, cường, trung, suy, nhược. Vượng là Can ngày ở vào trạng thái cực vượng, cường là Can ngày ở vào trạng thái tương đối cường, trung là Can ngày ở vào trạng thái trung hoà, suy là Can ngày ở vào trạng thái tương đối suy, nhược là Can ngày ở vào trạng thái cực nhược, về nguyên tắc phù ức vượng, cường, suy nhược của Can ngày, đại thể là cực vượng thì nên tiết, cường thì nên khắc, suy thì nên phù, nhược thì nên ức. Xem ví dụ dưới đây:
Mệnh có ngày sinh cực vượng:
Tháng thương cung Ất Mão Ất Mộc đế vượng Năm Tỷ kiên Giáp Dần lộc
Ngày Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục
Giờ Giáp Tý Quý Thuỷ Mộc dục
Mệnh này được tạo nên, Can ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Mão trọng xuân, ở trạng thái hưng phấn, cho nên đắc lệnh. Giáp Mộc trong tứ trụ, sinh ra nó có 2 Chi ngày và Chi giờ đều là Quý Thuỷ, coi là An thụ (Chính ấn), nó có Can năm, Can giò đều là Giáp Mộc đồng loại, coi là Tỉ kiên và Ất Mộc trong Chi tháng Mão coi là Kiếp tài, cho nên đắc thế.
Giáp Lộc đến Dần, Chi năm Dần là Lộc của Giáp, với Chi tháng Mão ở Giáp thì ở vào trạng thái thiếu Đế vượng nên lấy là đắc địa, mệnh Giáp Mộc này đắc lệnh, đắc thế, đắc địa, được 3 cái đắc nên Nhật chủ cực thịnh.
Mệnh của Nhật chủ tương đối vượng:
Mệnh của Nhật chủ cực nhược: Mệnh này được tạo nên, Can ngày Kỷ Thổ sinh vào tháng Tý tức mùa đông tuyệt địa, không đắc lệnh. Do Chi ngày Chi giờ là Tỵ Hoả, là quê Đế vượng của Can ngày Kỷ Thổ mà Chi năm Mậu Thổ lại là dưỡng địa của Kỷ Thổ cho nên đắc địa. Cộng vào Can Chi tứ trụ Tỉ Kiếp trùng trùng, có Ấn sinh phù cho nên đắc thế. Nhìn vào toàn cục của mệnh là đắc địa, đắc thế. Từ nhược chuyển cường, cho nên lấy Can tháng chính quan Giáp Mộc làm Dụng thần, đó là thân cường kham nhậm tài quan mà sách mệnh học nói.
Mệnh mà nhật chủ tương đối nhược: Mệnh này được tạo nên, Căn ngày Giáp Mộc sinh vào tháng Thân đầu thú Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh Giáp Mộc trong tứ trụ, trụ tháng Canh Thân và Chỉ năm, Chỉ tháng Thân Kim đều là Thất sát khắc nó, còn Chi ngày Chi giờ Đinh Hoả lại ra sức tiết nó, thêm vào lại có Tỷ, Kiếp trợ giúp cho nên thất lệnh. Giáp Mộc trong địa Chi giờ, ngày, năm, tháng đều ở vào trạng thái Tử Tuyệt cho nên thất địa. Thất lệnh, thất thế, thất địa, cả ba đều mất sạch, cho nên là mệnh của Nhật chủ cực nhược.
Mệnh mà nhật chủ trung hoà:Năm Tháng Ngày Giờ Mệnh này được tạo nên, Nhật chủ Mậu Thổ, sinh vào tháng Thìn Quan đái, Thìn lại là Thổ và ngày sinh lại đúng vào thời tiết Thổ vượng trước Lập hạ 18 ngày, cho nên đắc lệnh. Nhưng Mậu Thổ tuy đắc lệnh, nhưng địa Chi Dần Mão Thìn sẽ thành Đông phương Mộc cục mà Can Chi năm Mậu Thổ ra thiếu Ấn, Tỷ trợ giúp, nên phải xem khắp toàn cục. Bị Mộc thế cường vượng chế ước, mệnh chủ ở vào thế nhược tương đối
Năm kiếp tài Giáp Dần đế vượng
Tháng thiên ấn Quý Dậu tuyệt
Ngày Ất Hợi tử
Giờ thương quan Bính Tý bệnh
Mệnh này được tạo nên nhật chủ Ất Mộc, sinh vào tháng Dậu giữa thu Mộc tuyệt, cho nên không đắc thời lệnh. Ất Mộc trong tứ trụ, được can tháng, chi ngày chi giờ và trụ năm Thuỷ Mộc trợ giúp nên là đắc thế. Ất Mộc tuy trong chi tháng chi ngày ở vào đất tuyệt, bệnh nhưng chi năm đế vượng đắc khí, cho nên trung hoà.
Tổng hợp lại thất thời, đắc thế, địa khí trung hoà, cho nên mệnh này nhật chủ trung hoà hoặc thiên về cường một chút. Nhìn chung về tình hình nhật chủ cường nhược. Trần Tố Am trong sách Cách xem nhật chủ đã nói lên chủ trương của mình:
“Sách cũ nói về cường nhược của nhật chủ hoặc chuyên chủ thích nhấn mạnh về cường nhược, nếu cường quá thì phải ức mạnh, nếu nhược quá thì phải phù nhiều, thuyết này là “có bài thuốc chữa bệnh là quý”, như vậy là thiên kiến. Hễ nhật chủ rất quý trung hoà, tự nhiên cát nhiều hung ít, chỉ có thể phải ức cường phù nhược thì còn gì tác dụng. Các tác dụng là như ngày Mộc cường thì dùng Kim khắc, dùng Hoả tiết, ngày Mộc nhược dùng thuỷ để sinh, dùng Mộc trợ giúp, nếu đắc Thổ mà sát thế của nó, cũng phải ức, mượn Thổ để bồi bổ gốc của nó, cho nên phải phù, rốt cục quy về trung hoà mà thôi. Sách cũ nói nhật chủ nam giới không hiềm can cường, nhưng cường quá cũng phải ức, nhật chủ nữ giới không hiềm can nhược, nhưng nhược quá cũng hỏng. Còn về chi của nhật chủ, tương đối thân thiết, nhưng cát thần toạ ở tài quan cũng cần được tứ trụ thấu xuất phù trợ, hung thần toạ thương kiếp, tứ trụ cũng phải phạt mà khử đi.
Xem cách cục trong mệnh.
Trong mệnh lý học tứ trụ, xem cách cục cũng là một khâu quan trọng không thể xem thường, tuy nhiên về khâu này lại có cách xem khác nhau, có nhà mệnh lý học cho rằng vứt bỏ cách cục đi cũng có thể xem được mệnh, nhưng trong phần lớn trường hợp, xem cách cục vẫn tốt hơn nhiều so với bỏ cách cục. Theo cách nói của sách đoán mệnh, có sự khác nhau giữa chính cách và biến cách, chính cách có chính quan, thất sát, chính tài, thiên tài, chính ấn, thiên ấn, thực thần, thương quan tất cả 8 loại, nếu bỏ đi chính thiên của hai cách tài, ấn vẫn còn 6 loại, còn như biến cách thì thiên biến vạn hoá, khó mà lần mò được.
Thế thì làm thế nào xem cách được cụ thể? Đầu tiên dùng nguyên tắc “chi tháng tàng can” để xem cách cục. Gọi là “chi tháng tàng can” có nghĩa là thiên can nào ẩn chứa trong địa chi của tháng (như đã trình bày ở phần mở đầu và các phần trên đây). Khi áp dụng nguyên tắc này, đầu tiên phải xem thiên can ẩn chứa trong chi tháng, nguyên khí của nó có thấu đến can tháng, can năm, can giờ không, nếu có ví dụ như can tháng Dần thấu (tàng) Giáp, can tháng Mão thấu Ất, can tháng Thìn thấu Dậu, can tháng Tỵ thấu Bính, can tháng Ngọ thấu Đinh, can tháng Mùi thấu Kỷ, can tháng Thân thấu Canh, can tháng Dậu thấy Tân, can tháng Tuất thấu Mậu, can tháng Hợi thấu Nhâm, can tháng Tý thấu Quý, can tháng Sửu thấu Kỷ, đều có thể căn cứ vào thiên can tìm ra này mà xem môi quan hệ sinh khắc của nó với thiên can nhật chủ, lấy làm cách cục. Nếu như Chi tháng thấu ra là chính tài thì là chính tài cách, nếu Chi tháng thấu ra là thiên tài thì thiên tài cách,Chi tháng thấu ra là chính quan thì là chính quan cách, Chi tháng thấu ra là thiên quan thì là thiên quan cách; Chi tháng thấu ra là ấn thụ thì là ấn thụ cách, Chi tháng thấu ra là thiên ấn thì là thiên ấn cách, Chi tháng thấu ra là thương quan thì là thương quan cách, Chi tháng thấu ra là thực thần thì là thực thần cách.
Ngoài ra trong chi những tháng Tý, mão, Dậu chỉ hàm chứa một thiên can nguyên khí, nếu như nguyên khí này không thấu ra ở năm, tháng, giờ, cũng có thể căn cứ mối quan hệ của chi tháng can ngày mà lấy làm cách cục. Thứ 3, nếu như thiên can của nguyên khí can ẩn chứa trong chi tháng không thấy ra ở năm, tháng, giờ, thế thì lại xem những thiên can khác ẩn chứa trong chi tháng có thấu ra không, ví dụ nguyên khí của chi tháng Dần là Giáp Mộc, nhưng nếu ở Giáp Mộc không có thiên can thấu ra mà Bính Hoả hoặc Mậu Thổ ẩn tàng trong đó có thấu ra thì cũng có thể căn cứ mỗi quan hệ giữa
Bính Hoả hoặc Mậu Thổ với thiên can trụ ngày mà lấy làm cách cục. Còn như nên lấy Bính Hoả hoặc lấy Mậu Thổ thì phải xem lực lượng của hai cái mạnh nhiều hay ít. Thứ 4, nếu như nguyên khí của chi tháng và một trong những ngũ hành ẩn tàng không thấu ra thiên can, thế thì phải căn cứ vào các can ẩn chứa trong chi tháng, so sánh sự cường nhược thịnh suy giữa chúng nó, chọn lấy một cái tương đối đắc lực hơn, sau đó lại căn cứ vào mối quan hệ giữa thiên can này với thiên can khác mới lấy làm cách cục. Ngoài ra, nếu mối quan hệ giữa can ẩn tàng trong chi tháng với trụ ngày thuộc về tỉ, kiếp, lộc, nhận thì thông thường không lấy làm cách cục chính thức mà phải đặc biệt lấy làm biến cách. Ví dụ ngày Giáp tháng Dần, ngày Ất tháng Mão, ngày Bính tháng Tỵ, ngày Đinh tháng Ngọ, ngày Mậu tháng Tỵ, ngày Kỷ tháng Ngọ, ngày Canh tháng Thân, ngày Tân tháng Dậu, ngày Nhâm tháng Hợi, ngày Quý tháng Tý, do Giáp Lộc ở Dần, Ât Lộc ở Tỵ, Đinh Lộc ở Ngọ, Mậu Lộc ở Tỵ, Kỷ Lộc ở Ngọ, Canh Lộc ở Thân, Tân Lộc ở Dậu, Nhâm Lộc ở Hợi, Quý Lộc ở Tý (xem nội dung các phần trên đây), cho nên có thể mở ra cách chính cách khác, lấy làm biến cách kiến lộc, biện pháp xem cách cục nói trên, không thể không lấy ví dụ để nói rõ, để hiểu được tận nguồn gốc.
Ví dụ: Mệnh chọn:
Năm Tân Sửu
Tháng chính cung Mậu Tuất, Mậu
Thổ, Tân Kim, Đinh Hỏa
Ngày Qúy Mùi
Giờ Nhâm Tý
Mệnh này sinh vào ngày Quý, chi tháng Tuất chứa Mậu Thổ, Tân Kim, Đinh Hoả, trong đó Mậu Thổ thấu ra can tháng, Tân Kim thấu ra can năm, do nguyên khí của Tuất là Mậu Thổ nên lấy Mậu Thổ để định cách cục. về Quý Thuỷ mà nói, Mậu Thổ khắc chính quan của nó, cho nên cách cục của mệnh này là chính quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Kỷ Tỵ
Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,
Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ
Ngày Bính Thìn
Giờ Kỷ Sửu
Mệnh này sinh vào ngày Bính mà chi tháng Thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó nguyên khí của Thân Canh Kim có thể thấu ra 3 trụ năm, tháng, giờ, mà chỉ có Nhâm Thuỷ thấu ra can tháng, cho nên căn cứ giữa Bính Hoả và Nhâm Thuỷ dương nọ khắc dương ta là Thiên quan, lấy cách cục là thiên quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Giáp Thìn
Tháng Bính Tý chính quan
Ngày Bính Thân
Giờ Kỷ Hợi
Mệnh này sinh vào ngày Bính mà trong chi tháng Tý tàng chứa Quý Thuỷ, vì rằng 3 chi Tý, Mão, Dậu chỉ tàng có nguyên khí cho nên căn cứ điều 2 ở nguyên tắc lấy cách, theo mối quan hệ hình thành chính quan giữa Quý Thuỷ và Bính Hoả, nên lấy chính quan cách.
Mệnh chọn:
Năm Giáp Dần
Tháng Nhâm Thân, Canh Kim,
Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ
Ngày Nhâm Thân
Giò Ất Tỵ
Mệnh này sinh vào ngày Nhâm mà trong chi tháng thân tàng chứa Canh Kim, Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, trong đó Nhâm Thuỷ tuy thấu ra can tháng nhưng do giữa can tháng và can ngày hình thành quan hệ Tỷ kiên, cho nên không lấy làm cách, lại thấy Canh Kim Mậu Thổ trong Thân, do Canh Kim thuộc nguyên khí của chi thân, sức mạnh rõ ràng vượt qua Mậu Thổ, cho nên lấy quan hệ thiên ân giữa Canh Kim và Nhâm Thuỷ, định cách cục là thiên ấn cách.
Trong mệnh còn có nhiều loại cách cục khác, chúng tôi sẽ có một thiên chuyên nói về vấn đề này.
2. Ba lần xem hình xung hợp hoá của Can Chỉ
Hình xung hợp hoá giữa thiên can và thiên can, địa chi và địa chi trong Bát Tự, có ảnh hưởng tới âm dương ngũ hành trong mệnh cục, cho nên các nhà mệnh lý học cũng rất coi trọng, cách xem đại thể là:
Hai Can tương hợp, quý Thổ đắc trung. Ví như Giáp Kỷ hợp Thổ địa Chi cả hai đều hưởng sinh vượng , đó là được trung mà không thiên. Nếu như Giáp quá mạnh, Kỷ quá nhu, như vậy một bên thái quá, một bên bất cập, sẽ không trung hoà. Dương đắc âm hợp, âm đắc dương hợp, sách đoán mệnh nói: thiên can hợp, dương đắc âm hợp, phúc đến chậm, âm đắc dương hợp, phúc đến nhanh, ví như dương ở Giáp đắc âm ở Kỷ hợp thành tài, âm ở Kỷ đắc dương ở Giáp hợp thành quan, tuy đều là phúc nhưng cái trước phúc chậm, cái sau phúc nhanh khác nhau. Lại có người cho rằng, trong mệnh hợp nhiều thì tính thích dầm lạc, cho nên nữ mệnh tối kỵ hợp nhiều, nhưng với Giáp Kỷ và Ất Canh hợp nhau, lại không kỵ với nữ mệnh.
Hai can tranh hợp, Ảm Dương thiên khố, nếu như gặp hai thiên can hợp với một thiên can, trong sách đoán mệnh gọi là âm dương thiên khô, ví như trong hai giáp hợp một kỷ, hoặc hai kỷ hợp một giáp khác nào chồng nhiều vợ ít, hoặc vợ nhiều chồng ít cũng vậy. Khó tránh bất đồng xung khắc cho nên không phải là chuyện tốt.
Can ngày hợp hoá, thông báo thừa vượng. Đây là nói can ngày hợp với thiên can năm, tháng, giờ, phải sinh vào ngày mà ngũ hành bản can sinh vượng, như vậy là vượng mà có gốc. Ví như Thân Kỷ hợp mà hoá Thổ, phải sinh vào tháng Thổ vượng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ất Canh hợp mà hoá Kim, phải sinh vào tháng, Kim vượng Tỵ, Dậu, Sửu hoặc Thân, Bính Tân hợp mà hoá Thuỷ, phải sinh vào tháng Thuỷ vượng Thân, Tý, Thìn hoặc Hợi, Đinh Nhâm hợp mà hoá Mộc, phải sinh vào tháng Mộc vượng, Hợi, Mão, Mùi hoặc Dần, Mậu Quý hợp mà hoá Hoả, phải sinh vào tháng Hoả vượng Dần, Ngọ, Tuất hoặc Tỵ, nếu không thì không thể nói là hoá.
Gián cách càng xa, tuy hợp khó hoá. Thiên can hoá hợp, ngoài phải kết hợp tháng sinh ra, còn phải xem vị trí xa gần. Nếu can năm thuộc Ất, can giờ thuộc Canh, hai can gián cách xa, sức hợp đơn mỏng, thì cũng không hẳn là hoá.
Thiên Can tương hợp, có cát có hung. Sau khi thiên can hợp với nhau rồi, phần lớn bản thân hãy còn 6-7 phần lực lượng ví như Ất Canh hợp Kim, Kim tuy bị hợp nhưng tính chất bản thân vân còn tồn tại quá nửa. Thiên can sau khi tương hợp là cát hay là hung, phải căn cứ tình hình cụ thể mà định. Trong tình hình chung, hợp lại không phải là việc xấu nhưng một khi nếu hỉ thần hoặc dụng thần của can ngày bị hợp thì chủ hung thần loạn ý, tình hình không tốt nữa.
Địa Chi lục hợp phân biệt đối xử. Tức là nói, địa chi mà mệnh cục hỉ sau khi bị lục hợp mất thì phải giảm cát, địa chi phải kỵ sau khi bị hợp sẽ bị giảm hung. Ngoài ra địa chi hợp cục sẽ loại bỏ hình xung không cát. Tình hình cụ thê phải được phân tích cụ thể. Ví như mệnh cục thích Tý. Trong địa chi có Sửu hợp mà hoá Thổ sẽ giảm phần trăm cát, ngược lại mệnh cục kỵ Tý nhưng gặp Ngọ xung, lúc này nếu có Mùi đi hợp Ngọ, như vậy sẽ giải được tương xung giữa Tý Ngọ. Điều cần chú ý ở đây là, địa chi lục hợp phải gắn chặt với nhau,như chi ngày và chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa, ngoài ra, địa chi tháng gắn chặt với nhau, chi ngày và chi giờ gắn chặt với nhau, nếu không sẽ đứng cách nhau, sẽ không hợp nữa. Ngoài ra, địa chi nếu là nhị Mão hợp nhất Tuất hoặc nhị Tuất hợp nhất Mão, nhị Dần hợp nhất Hợi, hoặc nhị Hợi hợp nhất Dần, được gọi là ghen ghét mà hợp.
Địa chi tam hợp, luận cát luận hung, ở địa chi Thân, Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão, Mùi, hợp Mộc, Dần Ngọ Tuất hợp Hoả, Tỵ Dậu Sửu hợp Kim, trong cục tam hợp này nếu hợp cục đem hỷ đến cho mệnh là cát, đem kỵ đến là hung. Ví như mệnh cục hỷ Thuỷ mà trong địa chi xuất hiện Thân Tý Thìn tam hợp Thủy cục thì gọi là hung. Ngoài ra nếu địa chi xuất hiện Thân Tý hoặc Tý Thìn hợp Thuỷ, Hợi Mão hoặc Mão Mùi hợp Mộc, Dần Ngọ hoặc Ngọ Tuất hợp Hoả, Tý Dậu hoặc Dậu Sửu hợp Kim thông thường gọi đó là hợp cục, bán hợp cục lấy sát liền là hay. Nhưng dù cho tam hợp cục hay là bán hợp cục đều sợ phùng, tạo thành phá cục.
Địa Chi tam hội, xem hội cát hung. Ở địa chi Dần Mão Thìn hội đông phương Mộc, Tý Ngọ Mùi hội đông nam Hoả, Thân Mùi Tuất hội Tây phương Kim, Hợi Tý Sửu hội bắc phương Sửu, trong tam hội phương hướng cũng như địa chi tam hợp cục, nếu hội cục trong mệnh hỷ thì cát, mà kỵ thì hung, ví như mệnh cục hỉ Thuỷ, trong địa chi xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ thì gọi là cát, ngược lại mệnh cục kỵ Thuỷ, trong địa chi lại chỉ xuất hiện Hợi Tý Sửu hội thành bắc phương Thuỷ, thế thì gọi là hung, về lực lượng, nếu uy lực của phương hướng địa chi tam hội lớn hơn tam hợp cục mà uy lực tam hợp cục lại lớn hơn lục hợp, vì vậy nếu trong tứ chi tam hợp cục hoặc tam hội phương hướng đồng thời xuất hiện, thông thường bỏ hợp lấy hội
Địa Chi lục xung, bản khí là trọng. Địa chi trong mệnh tương xung, lấy bản khí làm trọng, ví như Dần Thân tương xung bản khí của Dần là Giáp Mộc, bản khí của Thân là Canh Kim, cho nên hai cái đó tương xung, đầu tiên thể hiện ở Giáp Mộc và Canh Kim xung khắc, trong trường hợp thông thường vẫn là Thân Kim thắng mà Dần Mộc bại. Nhưng nếu như thời mệnh gặp Hoả vượng Kim suy, hoặc Thuỷ vượng Hoả suy, lại có thể tạo thành Dần Hoả thắng mà Thân Kim bại hoặc Thân Thuỷ thắng mà Dần Hoả bại. về cát hung nếu địa chi mà mệnh cục hỷ bị xung bại thì hung, địa chi mà mệnh cục kỵ bị xung bại thì cát. Điều cần bổ sung ở đây là, địa chi tương xung phải ở sát liền kề nhau mới coi là xung, nếu xa cách chỉ coi là giao động chút ít. Lục xung và tam hợp cục cùng xuất hiện, do lực lượng của tam hợp lớn hơn lục xung, cho nên lấy hợp cục. Nhưng nếu bán hợp cục có lúc phùng xung, cũng có thể giải bỏ hợp đi. Ví nhu giò Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giờ Tỵ, ngày Hợi, tháng Dậu, năm Dậu mà địa chi tháng Dậu, giò Tỵ bán hợp nhưng chi ngày Hợi và chi giò Tỵ tương xung thì giải bỏ bán hợp cũng chi tháng Dậu và chi giờ Tỵ.
Địa Chi Hình Hại, động giao chút ít. Địa chi Tý hình Mão, Mão hình Tý vốn là Thuỷ Mộc tương sinh, Tỵ hình Thân, Tỵ Thân vốn hợp, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi, đều là Thổ đồng loại, còn như Thân hình Dần, Mùi hình Sửu, không phải là tương xung mà thôi. Cũng vậy, địa chi tương hại cũng giống như địa chi tương hình, ảnh hưởng không lớn, chỉ là động giao chút ít mà thôi.
Hình xung hoá hợp của can chi nói trên, sách Trích thiên thuỷ còn có cách nói: chi dương động và cường, lành dữ hiện lên nhanh, chi âm tĩnh và chuyên, lành dữ phải qua năm. Trong 12 địa chi thì Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ là dương, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là âm nhưng phần lớn các nhà tinh mệnh học lại lấy Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương, lấy Sửu Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là âm. Do chi dương tính động mà cường, cho nên nghiệm số cát hung thường hiện nhanh, chi âm tính tình mà nhược nên hoạ phúc thường đến chậm, ngoài ra, Trích thiên Thuỷ còn nói: “sinh phương sợ động khố nên khai, bại địa phùng xung cần tính kỹ”. Dần, Thân, Tỵ, Hợi, là sinh phương. Bảo rằng sinh phương sợ động là vì, nếu có xung động, dễ dẫn tới kết cục lưỡng bại đều bị thương, như Dần, Thân phùng xung, Canh Kim trong Thân tuy khắc Giáp Mộc trong Dần nhưng Bính Hoả trong Dần không hẳn khắc được Canh Kim trong Thân, Nhâm Thuỷ trong Thân tuy khắc Bính Hoả trong Dần nhưng Mậu Thổ trong Dần không hẳn khắc được Nhâm Thuỷ trong Thân. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là “tứ khố”, thông thường trong khố chứa đựng Ấn thụ tài quan của ngày, nên xung thì khai, nhưng vẫn phải xem tình hình cụ thể, không thể nói chung chung, Tý, Ngọ, Mão, Dậu là địa chi của “Tứ bại” do khí nó tàng chứa chuyên mà không tạp, cho nên nếu phùng xung, phải tính kỹ nên hoặc không nên, không được câu nệ.
Do tình hình “tứ sinh” “tứ khổ” “tứ bại” phùng xung, Nhậm Thiết Tiểu trong trích thiên tuỷ đã nêu ví dụ nói:
Ví dụ: sinh phương phùng xung
Năm Quý Tỵ Tháng Quý Hợi
Ngày Giáp Thân Giờ Nhâm Thân
Đại vận Nhâm Tuất
Tân Dậu Canh Thân
Kỷ Mùi Mậu Ngọ Đinh Tỵ
Giáp Mộc can ngày sinh vào đầu mùa đông tháng Hợi, Mộc lạnh thích Hoả nhưng tứ trụ Nhâm Quý Thuỷ tràn, không có Thổ chế ước, Nhâm Thuỷ trong Hợi lại xung Bính Hoả trong Tỵ là tai hoạ, xem ra tựa hồ không đẹp. Nhưng hay ở chỗ Dần Hợi hợp Mộc khiến cho Kỷ Hoả ở tuyệt địa phùng sinh mà được hung phát. Kết hợp hành vận, tuổi trẻ vận nhập Tây Phương Kim địa, sinh Thuỷ chế Thuỷ, cho phong sương đầy tràn, lâu chảy không ngừng, sau tuổi 40 vận lâm nam phương Hoả Thổ, trợ giúp dụng thần, bỏ ấn lấy tài, cho nên nguồn tài sung mãn, lấy thiếp sinh con, qua đó thì thấy, ấn tuy tác dụng phùng tài. Gây hoạ không nhỏ: không dùng tài đến, phát lúc lớn nhất.
Ví dụ: sinh phương phùng xung
Năm Giáp Dần Tháng Nhâm Thân
Ngày Quý Tỵ Giờ Quý Hợi
Đại vận Quý Dậu
Giáp Tuất Ất Hợi Bính Tý
Đinh Sửu Mậu Dần Kỷ Mão
Canh Thìn
Nước mùa thu thêm nguồn, Thân Kim đương lệnh, Thuỷ trọng Mộc tù phùng xung, không đủ để dùng, Hoả tuy hưu mà ở sát chi ngày, khí dư của thu chưa tắt, dụng thần phải ở Tỵ Hoả, xấu ở Tỵ, Hợi Tỷ hàng xóm phùng xung, các kiếp phân tranh, cho nên đây khắc tam thê, không con, vận lại đi đến bắc phương Thuỷ địa, dẫn tới phá hao khác thường. Đến Mậu Dần, Kỷ Mão vận chuyển đông phương, thích dụng hợp nên, đã được no ấn. Canh vận chế thương sinh kiếp, lại gặp năm Dậu, Hỉ, dụng hai thương, không lộc.
Ví dụ: đại bại phùng xung
Năm thương. Tân Mão. quan
Tháng Ấn. Đinh Dậu. thương
Ngày Mậu Tý. tài
Giờ tỉ. Mậu Ngọ. ấn. kiếp
Đại vận Bính Thân
Ất Mùi Giáp Ngọ Quý Tỵ
Nhâm Thìn Tân Mão
Ở thương quan dụng ấn “này”, hỉ thần tức quan tinh, không như dân gian thường nói “Thổ Kim thương quan kỵ quan khẩn”. Chi tháng Dậu trong cục xung chi năm Mão, dẫn tới ấn tinh Đinh Hoả ở tháng mất đi thần sinh trợ, chi ngày Tý xung chi giờ Ngọ làm cho Đinh Hoả trong Ngọ, khó được hưởng cái của thương quan cho. Từ đó có thể biết, do địa chi Kim vượng Thuỷ sinh, Mộc Hoả xung khắc đến hết, cho nên thiên can Hoả Thổ hư thoát, không có rễ để cắm, quan sát cả đời mệnh chủ, học hành không đến nơi, kinh doanh trục trặc, lại thiên can trung vận, Kim Thuỷ nhất khí, không tránh khỏi có chí mà khó triển khai. Tuy nhiên tốt ở Thuỷ không thấu can, là người nho nhã phong lưu, giỏi về thư pháp nhưng không hề làm cho mệnh chủ nhờ đó mà thoát khỏi tù túng. Từ đó có thể thấy, hễ thương quan đeo ấn, hỉ thần dụng thần ở Mộc Hoả, thông thường đều kỵ gặp Kim Thuỷ.
Ví dụ: Địa Chi toàn là tứ khố
Năm Tân Mùi Tháng Tân Sửu
Ngày Mậu Thìn Giờ Nhân Tuất
Đại vận Canh Tý
Kỷ Hợi Bính Thân
Mậu Tuất Đinh Dậu Ất Mùi
Mệnh này đẹp, không phải ở các chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, đề tứ khố mà là Tân Kim nguyên thần thấu xuất trong chi tháng Mùi, thương quan Thổ tú, tiết ra tinh anh của cường Thổ, cộng thêm Mộc Hoả của tứ trụ, ẩn mà không thấy, cho nên mệnh cục thuần thanh không hỗn tạp. kết hợp hành vận, đến Dậu vận giò Tân Kim đắc địa học thi đỗ cao, sau đó vận đi về nam Phương, Mộc Hoả cùng vượng, dụng thần Tân Kim bị làm tổn hại, cho nên không tiến lên phát tích được.
Ví dụ địa chi toàn tứ khố
Năm Mậu Thìn Tháng Nhâm Tuất
Ngày Tân Mùi Giờ Kỷ Sửu
Mệnh này được tạo nên bởi Tân Kim nhật nguyên, toàn cục ẩn thụ, Nhâm Thuỷ thương tận, không đủ để dùng. Nếu thấy Ất Mộc tàng chứa ở chị Mùi, chị Thìn để dùng, chỉ đợi vận đến dẫn đi là có thể phá ấn nhưng hai khố Sửu Tuất song song xung phá khố Mùi khố Thìn, chém phạt Ất Mộc, cuối cùng dẫn tới khắc thê không còn, từ đó mà bàn, cách nói tứ khố phải xung khai, mấu chốt toàn ở thiên cần điều chỉnh mà được nên, càng cần dụng thần có lực, sau đó tuế vận phụ giúp mới có thể sống được bình yên, vận may đi thăng, nếu không sẽ không tốt.
Nguồn: Quang Tuệ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Trong phong thủy, một số loại sát khí tạo nên do cách bài trí nội thất có thể dễ dàng hóa giải. Ví dụ như phạm mũi tên độc do góc tủ thì chỉ cần điều chỉnh vị trí tủ và giường ngủ, hay như phá bỏ cây khô chết để trồng cây mới. Tuy nhinê, một số hung sát do miô trường xung quanh tạo nên đôi khi làm chủ nhà lúng túng trong cách hóa giải như nhà gần sây bay, nghĩa trang, chùa chiền,...
Một trong những loại sát khí tạo ra do môi trường xung quanh thường gặp nhất ở đô thị lớn là "Thanh sát". Thanh sát xảy ra khi gia đình thường xuyên phải chịu đựng tiếng ồn lớn từ những căn nhà kế bên do xây dựng, lò rèn, xưởng cơ khí, hàng sửa xe,...Những người sống trong ngôi nhà bị thanh sát sẽ rơi vào tình trạng tâm tình bất ổn, lòng dạ bồn chồn, khó có thể làm được việc lớn.
Để hóa giải tình trạng này, trước hết cần giảm bớt tiếng ồn trong nhà bằng cách xây phòng cách âm, đóng chặt cửa nẻo khi ra vào. Tiếng ồn giảm bớt cũng giúp tâm trạng bình ổn hơn. Hoặc bạn có thể mở những bản nhạc dịu nhẹ mà mình ưa thích để át đi tiếng chát chúa xung quanh.
Trong phong thủy, chuông gió được sử dụng làm vật khắc chế những nguồn năng lượng xấu đồng thời nó có vai trò cực kỳ to lớn trong việc phát tán, luân chuyển năng lượng tích cực trong nhà. Do vậy, khi vị trí của ngôi nhà phạm thanh sát, các dòng năng lượng tiêu cực xung quanh sẽ bị xua tan bởi những cây chuông gió treo ở cửa ra vào, cửa sổ hay bốn góc nhà. Âm thanh leng keng do chúng tạo ra luôn khiến tinh thần cảm thấy dễ chịu.
Tuy vậy, nếu tiếng ồn quá lớn diễn ra trong thời gian dài và vào thời điểm gia đình cần nghỉ ngơi thì không nên chịu đựng mà phải ý kiến với hàng xóm hoặc báo chính quyền.
![]() |
| Tuổi Ngọ |
Trong quan hệ làm ăn, doanh nhân tuổi Ngọ khá chân thành, đáng tin cậy. Họ luôn giữ chữ tín với bạn hàng. Họ cũng không ngại khi phải đối mặt với hiểm nguy để giải quyết vấn đề nếu có sự cố nảy sinh. Doanh nhân tuổi Ngọ là những người nhanh nhạy trong cả lời nói và hành động. Họ giỏi quan sát thị trường cũng như nắm bắt sự biến động của nó để tìm ra hướng đi đúng cho công việc của mình. Họ cởi mở, vui tính, thích sự tự do và luôn muốn được làm việc theo sở thích.
Nhược điểm của doanh nhân tuổi Ngọ là thiếu kiên nhẫn, thường "đứng núi này trông núi nọ". Nữ doanh nhân tuổi Ngọ là người ham hoạt động. Họ cũng có khả năng đảm nhiệm và thực hiện nhiều công việc khác nhau trong cùng một thời gian.
Theo Việt Báo
1. Rèm cửa 2 lớp
Chọn loại rèm cửa nào để vừa đảm bảo được sự riêng tư, vừa tận dụng được ánh sáng tự nhiên là câu hỏi khiến nhiều người đau đầu. Giải pháp cho bạn chính là loại rèm cửa 2 lớp - một lớp voan, một lớp bằng vải dày. Khi cần chắn sáng, bạn có thể đóng cả 2 lớp rèm, còn khi muốn tận hưởng ánh sáng dịu nhẹ, bạn chỉ sử dụng lớp rèm voan mỏng là đủ. Rèm cửa màu đỏ cam và be sẽ giúp không gian phòng của bạn ấm áp nhưng vẫn toát lên được sự hiện đại và tinh tế.

Rèm 2 lớp vừa đảm bảo riêng tư vừa đẹp mắt và tận dụng được ánh sáng.
2. Màn cửa tre - trúc
Lấy cảm hứng từ thiên nhiên, rèm cửa từ chất liệu tre trúc không chỉ phát huy tác dụng trong việc chặn sáng mà còn thân thiện với môi trường. Đồng thời loại rèm này cũng phát huy được sự độc đáo, ấn tượng trong trang trí nhà. Đối với những người ưa sự mộc mạc thì rèm cửa bằng tre - trúc là lựa chọn khá hoàn hảo. Trên thị trường có khá nhiều loại rèm tre - trúc với cách phối màu và kiểu đan đẹp mắt.

Rèm cửa tre - trúc mộc mạc.
3. Rèm cửa đính các hạt pha lê
Những tấm rèm không chỉ có chức năng che nắng, che gió mà còn góp phần tạo điểm nhấn cho căn phòng và thể hiện khiếu thẩm mỹ của gia chủ. Rèm cửa gắn hạt pha lê hiện được rất nhiều người ưa thích trong trang trí nhà. Ánh sáng long lanh hắt ra từ các hạt pha lê đính trên rèm sẽ mang lại vẻ đẹp tinh tế cho ngôi nhà của bạn.

Rèm cửa đẹp hơn nhờ hạt đính pha lê.
4. Rèm cửa có hoa văn
Rèm cửa có hoa văn sẽ giúp cho không gian sống của bạn bớt đơn điệu. Mỗi loại hoa văn đều có một đặc trưng riêng: Sọc thẳng tăng chiều cao cho phòng; đường kẻ ngang làm cho không gian thấp xuống và rộng thêm; những họa tiết nhỏ trên rèm cửa làm căn phòng sâu rộng hơn, còn hoa văn lớn in đậm tạo cảm giác ngược lại. Một lưu ý nhỏ là bạn nên sử dụng màu sắc và họa tiết tương đồng cho những chiếc rèm cửa trong cùng một không gian.

Hoa văn trên rèm cửa mang đến điểm nhấn cho không gian sống.
Theo ttvn.vn
Một khu vườn thiết kế hợp lý sẽ giúp cho toàn bộ các thành viên trong ngôi nhà trở nên sảng khoái và tràn đầy năng lượng.
Phong thủy tốt cho khu vườn bên ngoài cũng đồng nghĩa với việc mang vận khí đến toàn thể căn nhà.
Một khu vườn thiết kế hợp lý sẽ giúp cho toàn bộ các thành viên trong ngôi nhà trở nên sảng khoái và tràn đầy năng lượng. Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn một số sản phẩm phong thủy trong vườn được ưa thích nhất để mang lại hạnh phúc và may mắn cho gia chủ.
Bồn nước ngoài trời
Như ta đã biết, phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về địa hình địa thế xung quanh nhà ở, hướng gió, dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng. Trong các yếu tố, nước đóng vai trò là nhân tố quan trọng hàng đầu, bạn có thể lựa chọn nhiều kiểu dáng bồn nước khác nhau tuy nhiên cẩn trọng trong việc sắp đặt vị trí, đồng thời kết hợp hợp lí với các vật dụng mang yếu tố thủy khác như bồn nước cho chim uống hay quả cầu thủy.

Chuông gió
Hầu hết những người yêu chăm sóc vườn tược và quan tâm đến phong thủy đều dành tình cảm đặc biệt với chuông gió. Chỉ cần một làn gió nhẹ, tiếng chuông thánh thót kết hợp với tiếng nước chảy róc rách từ bồn nước như khiến “phong” và “thủy” như hòa quyện vào nhau hơn bao giờ hết. Hãy chắc chắn rằng chuông gió nhà bạn được làm bằng chất liệu tốt khi chiếc chuông này sẽ phải vượt qua nhiều trạng thái thời tiết khác nhau ngoài vườn. Điều tối quan trọng là không để một chiếc chuông gió quá lớn ở phía Đông của khu vườn.
Ánh sáng trong vườn
Ánh sáng mặt trời chính là thứ ánh sáng thuần khiết nhất mà các nhà phong thủy hướng tới. Một khu vườn có ánh sáng mặt trời hài hòa sẽ mang yếu tố hỏa, kèm theo đó là một cảm giác hưng phấn tràn đầy năng lường. Hãy ghi nhớ mang lại ánh sáng đến tất cả các vị trí trong vườn, không nên để bất kì khoảng vườn nào ở vị trí quá tối hay mất cân bằng ánh sáng.
Các bức tượng trong vườn
Một khu vườn có phong thủy tốt phải bao gồm những yếu tố như âm thanh, màu sắc, hình ảnh và sự chuyển động. Bạn thử nghĩ xem còn điều gì hoàn hảo hơn khi đặt những bức tượng điêu khắc trong vườn, đó có thể là thiên thần, hài nhi, chim muông, ngựa… tất cả những bức tượng đó sẽ mang đến nguồn năng lượng vào với khu vườn và căn nhà bạn.
- Tháng 1 an tại Dần
- Tháng 2 an tại Tị
- Tháng 3 an tại Tuất
- Tháng 4 an tại Thân
- Tháng 5 an tại Ngọ
- Tháng 6 an tại Thìn
- Tháng 7 an tại Dần
- Tháng 8 an tại Tị
- Tháng 9 an tại Tuất
- Tháng 10 an tại Thân
- Tháng 11 an tại Ngọ
- Tháng 12 an tại Thìn
Như vậy sao Âm Sát chỉ nằm trong 3 trục Dần Thân, Tị Ngọ, Thìn Tuất, ko nằm trên trục tâm linh và âm dương. Âm Sát tính chất là nghi tâm, Âm Sát vào quan hệ giao tế là tiểu nhân. Âm Sát vào tư tưởng tâm lý là ảo giác thiên về những điều quái dị. Sao Âm Sát qua luận đoán của các vị tu hành là sao thuộc về linh giới.
Âm Sát vào Mệnh thì hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi nghi hoặc hoặc nên dễ bị phiền não vô ích, nếu thấy cả Đà Kị Không Kiếp hãm thì dễ dàng đi dến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn hoặc vì ma túy mà thành người đầu óc lơ mơ. Tuy nhiên nhiều thầy bói có tiếng hay có Âm Sát ở Mệnh.
Âm Sát ở cung Di, con nười cô độc, ít hợp khó hòa hay ngại ngùng nghi kị, mê muội với sự vật hư ảo.
Âm Sát ở Tật thêm sát tinh, tư tưởng hành động thiếu thăng bằng, dễ bệnh về tâm trí.
Âm Sát ở Phụ ưa những vọng tưởng không thực về gốc gác của mình
Âm Sát ở Nô hay uất ức với bè bạn, với công việc hợp tác, nghi kị.
Âm Sát ở Bào, thường bị phản từ bên trong.
Âm Sát ở Phối, hay đau khổ ngẩn ngơ vì người thương yêu mất đi do sinh ly hay tử biệt.
Âm Sát ở Quan, dễ làm việc mê muội mà hại đến sự nghiệp, mê vợ, mê nhân tình hoặc cả tin vào bạn, người dưới quyền, người trên mà khốn khổ.
Âm Sát ở Tài, vì tự cao tự đại, vì tham mê mà dễ phá sản.
Âm Sát ở Phúc, tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính, gặp thêm các sát kị có thể thành thần kinh.
Âm Sát ở Tử thì con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng con cái mình giỏi hơn, đang kính yêu hơn bất cứ ai khác.
Âm Sát ở Điền thường gặp những nhà cửa có ma quỉ, hoặc vì vợ mất đi, con chết mà cứ lởn vởn thấy linh hồn vợ con phảng phất.
Còn sao Thiên Khố các sách thấy ít nhắc tới, chỉ nói sơ qua là một tiểu Thiên Phủ, chủ về tiền bạc. Đóng cung Tài Bạch và cung Mệnh thì là người quản thủ tiền bạc giỏi.
Một số cách giải tử vi mới được bộc lộ, cần kiểm chứng.
- Mối quan hệ giữa Cục và Mệnh để luận độ số tăng giảm. Có câu phú:
Cục mà sinh Mệnh thời hay
Cục mà khắc Mệnh tai ương có ngày
Mệnh mà sinh Cục có ngày tổn hao…
Một số điều thú vị về các trục trong Tử Vi trong mối tương quan Lục Thân.
- Cung Ngọ có đặc điểm là “Cao”. Mệnh đóng ở cung Thân thì cung Thê đóng ở cung Ngọ: Vợ dáng người cao. Cung Huynh Đệ đóng ở Ngọ thì anh em có người cao hơn mình. Mệnh đóng ở cung Ngọ thì người đó dáng cao. Điền trạch ở cung Ngọ thì nền nhà chỗ ở cũng cao hơn chung quanh. Nhưng chú ý, đây là trường hợp không gặp Tuần Triệt.
- Trục Tí Ngọ là trục thuộc về Bố Mẹ, chịu ảnh hưởng nhiều từ Bố Mẹ, kể cả về cung số và cung nhập hạn. Ví dụ hạn cung Tử tức đóng ở cung Tý thì con cái chịu ảnh hưởng nhiều về bố mẹ, phụ thuộc vào bố mẹ, phải nghe theo bố mẹ. Cung Tài ở Ngọ có Song Hao mà xấu lại gặp Triệt thì chẳng được nhờ tiền của bố mẹ. Khi Triệt hết tác dụng thì Song Hao phát huy tác dụng phải lo tiền của để cung phụng bố mẹ.
- Trục Sửu Mùi là trục thuộc về anh em, ảnh hưởng chi phối, phụ thuộc về anh em. Ví dụ cung Tử tức đóng ở Mùi có Tham Vũ gặp Triệt thì khi mình ngoài 30, con cái được nhờ anh và em vợ (vì ở cung Âm).
- Trục Dần Thân là thuộc về con cái, vì con cái, ảnh hưởng của con cái, được nhờ con cái. Cung Quan Lộc ở Dần, ảnh hưởng con cái về đường làm ăn sinh sống, do đó mà mình được hưởng nhiều. Cung Thê đóng ở Thân thì vợ nặng về tình cảm với con hoặc vợ mình cũng ảnh hưởng của con cái v.v.
Tương tự:
- Trục Thìn Tuất là về bè bạn (tốt cũng như xấu)
- Trục Tỵ Hợi là về nhà cửa, đất đai
Ngòai ra, cứ cung Nhị Hợp là chủ về đằng nhà vợ hay phía ngoại. Ví dụ cung Phụ Mẫu cha mẹ đẻ ở Hợi thì cung chủ về cha mẹ đằng nhà vợ là Dần. Cung Huynh Đệ ở Dậu thì anh em đằng nhà vợ ở cung Thìn. Cung Tài của mình ở Ngọ thì tài của vợ ở Mùi v.v..
Trên đây là một số điều mới biết, cần được nghiệm lý thêm. Cũng như vòng Tràng Sinh đại diện cho các thứ bậc cá nhân trong một đại gia đình. Kết hợp những điều này vào luận đoán vận hạn sẽ làm cho sự luận đoán trở nên đặc biệt phong phú và chi tiết.
![]() |
Chọn cây phong thủy để bàn trợ lực nghề nào phát nghề đó![]() |
Tuổi Tý:
Tình cảm tháng này bình thường, có lúc vui có lúc buồn, chủ yếu là do những chuyện vụn vặt hằng ngày mà ra. Khi tâm trạng không được tốt hãy tâm sự với đối phương về điều đó. Nửa kia sẽ cảm nhận được bạn đang cần gì thay vì cứ im lặng việc ai nấy làm.
Nam giới nên chủ động trong mọi tình huống, hãy cảm ơn người bạn đời của mình khi người ấy giúp mình bất kỳ việc gì. Nữ giới thì nên làm chỗ dựa vững chắc trong gia đình, để đối phương cảm nhận được sự yên tâm. Còn những bạn đang độc thân thì tháng này tạm thời chưa nên thổ lộ tình cảm của mình với đối phương.
Mức độ chủ động làm quen: ★★★
Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★
Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★★
Cầu hôn, hôn nhân: ★★★
Tình cảm vợ chồng: ★★★
Vận đào hoa của bản thân: ★★★
Tuổi Sửu:
Chuyện tình cảm trong tháng 3 khá tốt, đôi bên tương đối hiểu nhau. Đối phương luôn dành cho bạn sự cổ vũ, động viên trong mọi tình huống. Có những lúc bạn có thể chọn họ là nơi tin tưởng để chia sẻ những vấn đề xảy ra trong cuộc sống thường nhật để đôi bên cảm thấy cần nhau hơn.
Nam giới cần chủ động vun đắp tình cảm. Nữ giới thì chủ động tiếp xúc với đối phương nhiều hơn để rút ngắn khoảng cách của hai bên. Những bạn còn đang độc thân hãy chọn thời cơ tốt để gián tiếp bày tỏ tình cảm của mình chứ không nên biểu lộ trực tiếp.
Mức độ chủ động làm quen: ★★★
Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★★★
Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★
Cầu hôn, hôn nhân: ★★★
Tình cảm vợ chồng: ★★★
Vận đào hoa của bản thân: ★★★★

Tuổi Dần:
Tình cảm tháng này lúc lên lúc xuống, đôi bên chưa thực sự hiểu nhau lắm. Bản thân người tuổi Dần do quá nhiều khía cạnh xuất hiện tình trạng lúc xấu, lúc tốt nên tình cảm cũng không được ổn định. Lúc thì họ nhiệt tình, vui vẻ, lúc lại trầm ngâm, im bặt nên khiến đối phương có cảm giác khó lòng giữ chặt. Nếu hai bên hiểu nhau thì không sao, nếu không hiểu nhau bạn rất dễ đẩy đối phương dần xa mình hơn, vậy nên cần điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm của mình cho hợp lý.
Mức độ chủ động làm quen: ★★
Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★★
Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★
Cầu hôn, hôn nhân: ★★
Tình cảm vợ chồng: ★★★★
Vận đào hoa của bản thân: ★★★
Tuổi Mão:
Vận thế tình cảm tháng này khá tốt. Hai bên rất hiểu nhau, nhưng những vấn đề rối ren xảy ra xung quanh cuộc sống của tuổi Mão hay suy nghĩ của đối phương ít nhiều có ảnh hưởng đến tình cảm của cả hai. Do vậy trong tình yêu không nên chỉ dừng lại ở việc tạo nên sự lãng mạn khi gặp nhau mà có thể đi du lịch, dành những kỳ nghỉ dài ngày cùng nhau để vun đắp thêm cho tình cảm hai bên.
Nam giới thì hãy quan tâm nhiều hơn đến đối phương. Nữ giới thì thể hiện sự chăm sóc của mình trong chính cuộc sống sinh hoạt thường nhật. Những bạn còn độc thân tạm thời chưa nên thổ lộ tình cảm với đối phương tránh trường hợp đối phương từ chối.
Mức độ chủ động làm quen: ★★
Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★
Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★
Cầu hôn, hôn nhân: ★★
Tình cảm vợ chồng: ★★★★
Vận đào hoa của bản thân: ★★

Tuổi Thìn:
Tình cảm tháng này theo chiều hướng tốt. Đối phương đã cảm thấy tin tưởng bạn hơn. Nếu muốn tình cảm mặn nồng hơn nữa thì bản thân cần chủ động gặp gỡ nhiều hơn. Mọi nỗ lực trong thời điểm này đều có tác dụng gia tăng tình cảm. Với những bạn còn đang độc thân mặc dù đôi bên đã khá hiểu nhau nhiều nhưng thời gian này cũng chưa nên tính chuyện lâu dài đề phòng xảy ra mâu thuẫn.
Mức độ chủ động làm quen: ★★★★★
Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★★★
Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★
Cầu hôn, hôn nhân: ★★★
Tình cảm vợ chồng: ★★★
Vận đào hoa của bản thân: ★★★★
Tuổi Tỵ:
Tình cảm tháng này khá tốt. Những mâu thuẫn nhỏ cũng không khiến bạn quá lo lắng, dần dần mọi việc đều sẽ được thu xếp ổn thỏa. Nên vun đắp tình cảm nhiều hơn nữa không nên để mọi thứ quá ảm đạm. Có thời gian hãy thu xếp đi du lịch cùng nhau để gia tăng tình cảm cũng như hoài niệm về khoảng thời gian đẹp đã từng có trước đây.
Mức độ chủ động làm quen: ★★★
Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★
Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★
Cầu hôn, hôn nhân: ★★
Tình cảm vợ chồng: ★★★★
Vận đào hoa của bản thân: ★★
Đây là điển cố thứ Ba chín trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Khương Nữ Tầm Phu (còn gọi là Mạnh Khương Nữ Tìm Chồng). Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu có bắt nguồn như sau:
Mạnh Khương Nữ tương truyền là người thời Tần. Vào thời đó, Tần Thủy Hoàng bắt trai tráng khắp nơi đi phu xây Trường thành. Có một thư sinh tên là Vạn Hỷ Lương chạy khỏi nhà, trốn vào sau một bức tường. Bên trong bức tường đó vốn là hậu hoa viên của nhà họ Mạnh, vừa hay lúc đó có nàng Mạnh Khương Nữ cùng a hoàn đi ra vườn hoa, nhìn thấy thư sinh Vạn Hỷ Lương tướng mạo tuấn tú, liền cùng a hoàn trở vào nói với viên ngoại. Viên ngoại thấy Hỷ Lương thực thà, am hiểu học vấn lại thông đạt lễ nghĩa, liền tạm thời giấu anh ta trong nhà.
Vạn Hỷ Lương ẩn nấp trong nhà họ Mạnh đã mấy ngày, đôi vợ chồng già thấy anh là một nhân tài, cử chỉ đường hoàng, bèn bàn bạc muốn chọn anh làm rể. Con gái cũng đòng ý, vì thế việc thành thân đã được định liệu. Có câu ngày vui ngắn chẳng tày gang, đôi vợ chồng trẻ thành thân chưa được ba ngày, bỗng hôm đó, một đám nha dịch xông thẳng vào trong nhà, không giải thích nửa lời, lập tức bắt tân lang giải đi.
Mạnh Khương Nữ ở nhà mong ngóng, chẳng những không thấy người về, mà ngay cả tin tức cũng không có. Mạnh Khương Nữ không thể yên lòng, may áo ấm cho chồng suốt mấy đêm ròng, rồi tỏ ý muốn đến Trường Thành tìm chồng. Cha mẹ thấy nàng quyết tâm, nên cũng đồng ý. Mạnh Khương Nữ chuẩn bị hành trang, từ biệt cha mẹ, ngày đêm vượt núi băng sông, đi thẳng về phương bắc. Một hôm, Mạnh Khương Nữ đã đi đến mức kiệt sức, khắp người lạnh toát, vừa định nghỉ chân một lát, bỗng thấy trước mắt tối sầm, rồi ngã xuống ngất xỉu. Đến khi tỉnh lại, thấy mình nằm trên chiếc giường ở trong nhà một bà lão. Nàng toát mồ hôi, cảm thấy đỡ hơn một chút, lại gắng gượng tiếp tục lên đường. Bà lão rơm rớm nước mắt giữ Mạnh Khương Nữ lại mà: “Cô đang sốt nóng như hòn than, sao già có thể nhẫn tâm để cô đi được? Hãy nhìn bàn chân của cô kìa, chúng đã thành hai cục máu, đâu còn là bàn chân nữa!” Mạnh Khương Nữ vội nhìn xuống bàn chân mình, da thịt đều đã rách tướp ứa máu. Nàng lại ở nhà bà lão hai ngày, bệnh còn chưa thuyên giảm đã lại lên đường.
Vượt qua biết bao gian khố, cuối cùng, Mạnh Khương Nữ đã đến được Trường Thành. Nàng hỏi thăm những người phu xây Trường Thành về tung tích của Vạn Hỷ Lương, mọi người đều nói không biết. Sau đó, Mạnh Khương Nữ gặp được một người phu ở thôn bên cạnh, bèn hỏi: “Các anh có xây Trường Thành cùng Vạn Hỷ Lương không?” cả nhóm đều đáp: “Có!” “Vậy Vạn Hỷ Lương đâu?” cả nhóm người này nhìn người kia, không ai lên tiếng. Mạnh Khương Nữ lo sợ hỏi dồn: “Chồng tôi Vạn Hỷ Lương ở đâu?” Mọi người thấy không giấu được, mới ấp úng nói: “Tháng trước Vạn Hỷ Lương vì quá đói đã chết rồi!” Mạnh Khương Nữ đau đớn hỏi: “Vậy thi thế chàng ở đâu?” Họ đáp: “Nguời chết quá nhiều, không chôn cất được, đều cho vào bên trong Trường Thành cả rồi!” Câu trả lời còn chưa dứt, Mạnh Khương Nữ đã vỗ vào Trường Thành, khóc lóc thảm thiết. Mạnh Khương Nữ khóc mãi, khóc mãi, khiến cho nghìn vạn người ai cũng cúi đầu rơi lệ, gió thu phải sầu thảm, nước biển phải sôi trào, mặt trời mặt trăng đều ảm đạm, trời đất tối tăm. Bỗng nhiên dậy lên một tiếng ầm vang như trời long đất lở, Trường Thành trong chốc lát đố sụp một đoạn lớn, lộ ra một đống hài cốt.
Truyền thuyết “Mạnh Khương Nữ khóc đố Trường Thành” từ lâu đã được lưu truyền trong dân gian. Tập tục phụ nữ thủ tiết, tương truyền được bắt đầu từ Mạnh Khương Nữ.
Quẻ Quan Thế Âm Khương Nữ Tầm Phu là quẻ thẻ Hạ trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 39 !
Quẻ này là tượng an phận thủ thường.
Những việc mong cầu nên an phận sẽ được tốt đẹp.
Tại phòng ngủ, nếu đặt máy tính và các hồ sơ, giấy tờ có liên quan đến công việc sẽ gây bất lợi cho gia chủ. Những vật đó sẽ khiến năng lượng trong phòng ngủ chủ về xung đột, mâu thuẫn.
Màn hình máy vi tính có bề mặt phản chiếu giống như gương, có thể gây ra những ảnh hưởng xấu. Không những thế, thời gian làm việc bên máy tính cũng khiến bạn quên đi việc dành tình cảm và sự chăm sóc tận tình tới người bạn đời của mình.
|
| Không nên đặt máy tính trong phòng ngủ |
Đối với phụ nữ, việc mang máy tính vào phòng ngủ càng nên hạn chế. Theo phong thủy, đây là hành động trực tiếp đối kháng với năng lượng Thổ của quẻ Khôn, là quẻ tượng trưng cho đất, phụ nữ, người mẹ.
Xét về phương diện ngũ hành tương khắc, máy tính để bàn có hại hơn máy tính xách tay. Đơn giản vì khi không sử dụng máy tính xách tay nữa, bạn có thể gấp máy lại; trong khi màn hình của máy tính để bàn đặt trong phòng ngủ lại trở thành bề mặt phản chiếu gây bất lợi cho bạn.
Nếu sống trong căn hộ chỉ có 1 phòng, nên dùng vách ngăn để ngăn cách giường ngủ và nơi làm việc. Ngoài ra, cũng nên sắp xếp hồ sơ và các giấy tờ có liên quan đến công việc một cách gọn gàng để khí trong phòng được lưu thông tốt hơn. Phòng ngủ là nơi cần nhiều năng lượng âm hơn năng lượng dương, vì vậy tốt nhất là nên giữ cho không gian này được yên tĩnh.
(Theo Phong thủy trong tình yêu)