Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

SAO ĐẠI HAO - TIỂU HAO TRONG TỬ VI

đại hao (Hỏa) Tiểu hao (Hỏa) *** 1. Ý nghĩa cơ thể: Nhị Hao ở Mệnh chỉ bộ máy tiêu hóa kém. 2. Ý nghĩa bệ...
SAO ĐẠI HAO - TIỂU HAO TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

đại hao (Hỏa) Tiểu hao (Hỏa)




***



1. Ý nghĩa cơ thể:

Nhị Hao ở Mệnh chỉ bộ máy tiêu hóa kém.





2. Ý nghĩa bệnh lý:

Tại Mệnh, nhị Hao chỉ sự trục trặc về tiêu hóa (tiêu chảy, ăn không tiêu, dễ trúng thực, thổ tả ...). Ngoài ra, vì là bại tinh nên nhị Hao gây tật cho bộ phận đi kèm:

Tả Hữu Nhị Hao: vai cao vai thấp

Thiên Tướng Nhị Hao: mặt nhỏ, choắt

Nhị Hao ở Mệnh: lùn, đẹt, bị bệnh lùn, ốm

Nhưng ở cung Tật, nhị Hao lại tốt: ít bệnh, có bệnh thì mau hết. Đây là hai sao giải bệnh hiệu nghiệm, giống như Tuần, Triệt.





3. Ý nghĩa tính tình:

- khôn ngoan nhưng không quả quyết

- cẩu thả, lơ đễnh, không bền chí

- dễ say mê những thú vui (đánh bạc, chơi bời, rượu chè), do đó thường bị ghiền một, hai thứ nào đó.

- tiêu pha ăn xài lớn, không tiếc tiền, có tính hào phóng

- thường thay đổi chí hướng, nghề nghiệp

- hay ly hương lập nghiệp, thích ngao du, đi du lịch hoặc làm nghề có đi đây đi đó như thủy thủ, phi công. Đặc tính này giống như Thiên Mã, Thiên Đồng.

- Nếu đắc địa ở Mão Dậu thì thông minh, tuy ham chơi nhưng cũng có lúc ham học, muốn trông xa biết rộng. Trong trường hợp này, nhị Hao là người có tiền, dù thích ăn tiêu chơi bời nhưng lại không bị túng thiếu.





4. Ý nghĩa của nhị hao và một số sao khác:



- Đại, Tiểu Hao Cự Cơ: rất giàu có, tiền bạc thừa thãi vô cùng



- Nhị Hao Hỏa Linh: bị nghiện



- Hao Tuyệt đồng cung: xảo quyệt. Nếu Mệnh vô chính diệu thì càng giả trá và rất keo kiệt, tham lận.



- Hao Tham đồng cung hay xung chiếu: hiếu sắc, dâm dật nhưng rất kín đáo



- Hao Kỵ: vất vả, túng thiếu



- Đào Hồng Đại Tiểu Hao: tốn tiền nhân tình





5. Ý nghĩa của nhị hao ở các cung:

Trừ phi đắc địa, bản chất của Nhị Hao là hao tán cho nên đóng ở cung nào cũng làm giảm cái tốt của cung đó. Đặc biệt Song Hao rất kỵ những cung Tài, Điền, Phúc. Về điểm này, Nhị Hao nghịch nghĩa với Đẩu Quân.



a. ở Tài:

Tán tài, hao tài, nghèo túng, có dịp phải ăn tiêu luôn

- Hao, Đào, Hồng: tốn tiền vì gái

- Nếu gặp Phá hay Tuyệt (hay Không Kiếp) : phá sản



b. ở Điền:

- không có điền sản (nếu thêm Không Kiếp thì càng chắc)

- dù có cũng phải bán, hoặc phải hao tốn tài sản

- gặp Không Kiếp đắc địa thì điền sản được mua đi bán lại rất mau

- hao tốn vì dọn nhà cửa, thay đổi chỗ ở, hoặc 1 kiểng 2 hoa



c. ở Phúc:

- bần hàn

- dòng họ ly tán, tha hương lập nghiệp



d. ở Nô:

Bị tôi tớ trộm cắp, làm hao tốn của cải hoặc bị người dưới, bạn bè ăn chặn.



e. ở Quan:

- làm việc có tính cách lưu động, thường hay thay đổi chỗ làm hay đổi nghề nghiệp

- Hao Quyền : người dưới khinh ghét



f. ở Di:

- ra ngoài tốn tiền

- thường phải tha phương lập nghiệp, thay đổi chỗ ở nhiều lần



g. ở Hạn:

- có dịp hao tài tốn của hoặc vì tang khó, bệnh tật hay bị mất trộm

- có sự thay đổi hoặc nghề nghiệp, hoặc chỗ làm, hoặc chỗ ở, hoặc đi ngoại quốc

- nếu có ốm đau, thì mau hết bệnh

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO ĐẠI HAO - TIỂU HAO TRONG TỬ VI

Ý nghĩa sao Thiên Đồng - Thông minh và ôn hòa

Thiên Đồng đắc địa thì thân hình nở nang, hơi thấp, chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông vắn và đầy đặn. Còn Thiên Đồng hãm địa thì mập và đen.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Thiên Đồng - Thông minh và ôn hòa

Ý nghĩa sao Thiên Đồng - Thông minh và ôn hòa

Phương Vị: Nam Đẩu Tinh

Tính: Dương

Hành: Thủy

Loại: Phúc Tinh

Đặc Tính: Phúc thọ

Tên gọi tắt thường gặp: Đồng

Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 5 trong 6 sao thuộc chòm sao Tử Vi theo thứ tự: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh.

Vị Trí Ở Các Cung của sao thiên đồng

Miếu địa ở các cung Dần, Thân.

Vượng địa ở các cung Tý.

Đắc địa ở các cung Mão, Tỵ, Hợi.

Hãm Địa ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Ngọ, Dậu.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Mệnh

Tướng Mạo

Thiên Đồng đắc địa thì thân hình nở nang, hơi thấp, chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông vắn và đầy đặn. Còn Thiên Đồng hãm địa thì mập và đen.

Tính Tình

Sao Thiên Đồng ở cung miếu địa và vượng địa: thông minh, ôn hòa, đức hạnh, từ thiện, không có tánh quả quyết, hay thay đổi ý kiến, công việc, hoặc hay gặp cảnh bị bỏ dở nửa chừng, được hưởng sự phong lưu, khá giả, sống lâu. Người nữ thì đảm đang, ăn ở có đức, có niềm tin về thần linh, tôn giáo, làm lợi cho chồng con.

Sao Thiên Đồng cung đắc địa: thích phiêu lưu, nay đây mai đó, hay thay đổi chỗ ở, công việc lưu động, phong lưu, có niềm tin về thần linh, tôn giáo, làm phước, hay thay đổi chí hướng, không có lập trường dứt khoát, xử lý nặng về tình cảm, ân tình nghĩa lụy hơn là dùng lý trí, nguyên tắc, số ly hương, khó cầm giữ tiền của vững chắc.

Sao Thiên Đồng cung hãm địa: hay thay đổi thất thường, hay gặp sự trắc trở, dễ gặp thị phi, hiểu lầm, không cẩn trọng về ngôn ngữ, làm gì cũng phải nương vào người khác mới làm được, không có định kiến, phiêu bạt, ly hương. Riêng sao Thiên Đồng ở Ngọ là người có óc kinh doanh, thích mua bán.

Tài Lộc Phúc Thọ

Sao Thiên Đồng đắc địa thì chỉ sự giàu sang.

Sao Thiên Đồng hãm địa thì phải lo lắng về tiền bạc, tài sản khi có, khi tán, có lúc phải túng thiếu vất vả.

Sao Thiên Đồng ở Ngọ thì chỉ năng khiếu kinh doanh. Nhưng về mặt phúc thọ, vì Thiên Đồng là phúc tinh nên dù hãm địa cũng thọ.

Những Bộ Sao Tốt đi với thiên đồng

Thiên Đồng, Kình ở Ngọ: Có uy vũ lớn, được giao phó trấn ngự ở biên cương.

Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần, Thân: Làm nên, danh giá. Ngoài ra có khiếu về y khoa, dược khoa, sư phạm rất sắc bén.

Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cách: Phúc thọ, làm công chức.

Thiên Đồng, Thiếu Âm đồng cung ở Tý: Phúc hậu và thọ; đẹp đẽ.

Những Bộ Sao Xấu đi với thiên đồng

Thiên Đồng, Không, Kiếp, Hỏa Linh: U mê, nghèo khổ, sống qua ngày, ăn mày.

Thiên Đồng, Thái Âm ở Tý, Hổ, Khốc, Riêu: Đàn bà đẹp nhưng bạc phận, khóc chồng.

Thiên Đồng, Hóa Kỵ ở Tuất: Rất xấu trừ phi tuổi Đinh thì phú quý.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Phụ Mẫu

Sao Thiên Đồng tại Mão, Tỵ, Hợi: Cha mẹ khá giả.

Sao Thiên Đồng tại Dậu: cha mẹ bình thường, mẹ thường hay đau yếu (vì có Thái Âm hãm xung chiếu).

Sao Thiên Đồng tại Thìn, Tuất: cha mẹ và con cái xung khắc.

Thiên Lương tại Dần, Thân: cha mẹ giàu sang và thọ (ở Dần tốt hơn ở Thân).

Thái Âm tại Tý: Cha mẹ giàu sng và thọ.

Thái Âm tại Ngọ: cha mẹ vất vả, sớm xa cách nhau.

Cự Môn ở Sửu, Mùi: sớm xa cách hai thân. Trong nhà thiếu hòa khí.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Phúc Đức

Thiên Đồng ở Mão, Tỵ, Hợi: Được hưởng phúc, sống lâu, họ hàng đi xa làm ăn.

Thiên Đồng ở Dậu, Thìn, Tuất: Phúc đức không được tốt. Cuộc đời lúc vui lúc buồn, ra ngoài hay vướng vào chuyện thị phi, đàm tiếu, cãi cọ lôi thôi. Họ hàng ly tán, thường có sự tranh chấp lẫn nhau.

Thái Âm đồng cung tại Tý: Được hưởng phúc, sống lâu. Nên lập nghiệp xa quê hương, bản quán. Trong họ có nhiều người quý hiển, giàu sang.

Thái Âm đồng cung tại Ngọ: Phúc đức không được tốt, phải ly hương, họ hàng ly tán, phiêu bạt.

Thiên Lương đồng cung: Suốt đời thanh nhàn, được hưởng phúc, sống lâu. Trong họ có nhiều người quý hiển, giàu sang.

Cự Môn đồng cung: Phúc đức không được tốt, thường phải ly hương, bôn ba, thời trẻ tuổi thì nghèo khó, vất vả, dễ xa cách người thân, cô độc, tình cảm lận đận, cần phải có nhiều sao tốt mới đỡ xấu ở hậu vận về già.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Điền Trạch

Thiên Đồng ở Mão, Nguyệt đồng cung tại Tý: Giàu có lớn. Tay trắng lập nghiệp, càng ngày càng thịnh vượng.

Thiên Đồng ở Dậu, Nguyệt đồng cung tại Ngọ: Thành bại thất thường, nhưng về già cũng có chốn nương thân.

Thiên Đồng ở Tỵ, Hợi: Có nhà đất nhưng rất ít, hay phải thay đổi mua vào bán ra luôn luôn.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất: Tạo dựng nhà đất khó khăn, dù có tạo dựng được cũng phải gặp rủi ro, hoàn cảnh thời cuộc làm cho mất mát. Dễ gặp cảnh tranh chấp về điền sản.

Thiên Lương đồng cung: Tạo dựng nhà đất trước ít sau nhiều.

Cự Môn đồng cung: Về già mới có nhà đất.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Quan Lộc

Thiên Đồng ở Mão: có công danh, nhưng phải nay đây mai đó.

Thiên Đồng ở Dậu: công danh muộn màng, Chức vị nhỏ, hay thay đổi. Nên chuyên về kỹ nghệ hay buôn bán.

Thiên Đồng ở Tỵ, Hợi: có công danh lúc có lúc không, hay di chuyển, lưu động, chóng chán, hay thay đổi.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất: có công danh, nhưng phải nay đây mai đó, có tài ăn nói lý luận. Công danh trước nhỏ sau lớn.

Thái Âm đồng cung tại Tý: công danh hiển hách, có tài can gián người trên.

Thái Âm đồng cung tại Ngọ: hạp ngành nghề công kỹ nghệ hoặc kinh doanh.

Thiên Lương đồng cung: có công danh tốt đẹp. Rất nổi tiếng nếu chuyên về y khoa hay sư phạm.

Cự Môn đồng cung: thường gặp sự chật vật trong công danh, phải cần có cấp trên nâng đỡ mới tốt, hay bị lôi thôi kiện tụng, thị phi, bị dòm ngó.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Thiên Di

Thiên Đồng ở Mão: Ra ngoài mới tốt, không nên ở lâu một chỗ. Hay gặp quý nhân phù trợ.

Thiên Đồng ở Dậu: Thường hay đi xa, xa nhà. Ra ngoài vất vả, thường hay gặp chuyện phiền lòng. Sau này chết ở xứ người.

Thiên Đồng ở Tỵ, Hợi: Đi xa, nay đây mai đó, dù có nhà cũng không ở nhà, hay thay đổi nơi ăn chốn ở.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất: Ra ngoài nên cẩn trọng, làm gì cũng nên có sự suy tính kỹ lưỡng, dễ gặp chuyện thị phi, tranh cãi.

Thiên Đồng, Thái Âm đồng cung tại Tý, Thiên Lương đồng cung: Luôn gặp quý nhân phù trợ. Được nhiều người kính trọng, nếu đi buôn, làm kinh doanh cũng phát tài.

Thiên Đồng, Thái Âm đồng cung tại Ngọ: Ra ngoài rất bất lợi, hay gặp sự cạnh tranh và ghen ghét.

Thiên Đồng, Cự Môn đồng cung: Ra ngoài hay được vào nơi chốn sang trọng quyền quý, hoặc gặp người có chức quyền, lời nói của mình được tin phục, sau này chết ở xa nhà, dễ ly hương. Nhưng cũng nên cẩn thận về ngôn ngữ, lời nói, không nên nói sai sự thật, hoặc đùa giỡn quá đáng dễ bị hiểu lầm, và làm việc gì cũng phải lo nghĩ luôn luôn.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Tật Ách

Sao Thiên Đồng chỉ toàn thể bộ máy tiêu hóa, không đích danh chỉ bộ phận nào rõ rệt trong bộ máy này. Tùy theo đắc hay hãm địa, bộ máy này sẽ bị ảnh hưởng tốt hay xấu. Ngoài ra, đi với sát tinh, bộ máy tiêu hóa bị tổn thương.

Thiên Đồng, Thiên Khốc, Thiên Hư hay nhị Hao: Hay đau bụng, có khuynh hướng tiêu chảy, sình bụng, khó tiêu, trúng thực.

Thiên Đồng, Kỵ: Hay đau bụng, có khuynh hướng tiêu chảy, sình bụng, khó tiêu dễ bị trúng thực, trúng độc.

Thiên Đồng, Không Kiếp, Hình: Lở bao tử, có thể mổ xẻ ở bộ máy tiêu hóa, cắt ruột, vá ruột. Ngoài ra, Thiên Đồng thường thiên về nghĩa thích ăn uống rượu chè, trà dư tửu lậu, do đó bộ máy tiêu hóa bị liên lụy.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Tài Bạch

Thiên Đồng tại Mão hay Thái Âm đồng cung tại Tý: Tay trắng làm giàu, càng về già càng nhiều của.

Thiên Đồng tại Dậu: Tiền bạc tụ tán thất thường.

Thiên Đồng tại Tỵ, Hợi: Phải lang thang nay đây mai đó, làm nghề lưu động mới có tiền, nhưng cũng dễ bị hao tán.

Thiên Đồng tại Thìn, Tuất: Tiền vào tay này lại ra tay khác, hay túng thiếu.

Thái Âm đồng cung tại Ngọ: kiếm tiền khó khăn, chậm chạp, vất vả, thường phải bôn ba, nay đây, mai đó mới có tiền, làm đủ mọi nghề. Ở tuổi trung niên tiền bạc mới yên ổn.

Cự Môn đồng cung: Tiền bạc vào ra thất thường, dễ gặp cảnh túng thiếu, dễ có sự tranh chấp tiền bạc, hoặc thưa kiện. Phải xa xứ làm ăn mới tốt.

Thiên Lương đồng cung: Khá giả. Rất thích hợp với ngành nghề kinh doanh, mua bán.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Tử Tức

Rất tốt nếu Thiên Đồng ở Mão: đông con, đồng cung với Lương, Nguyệt ở Tý: đông con, con quý hiển.

Kém tốt nếu ở Dậu: ít con, thay đổi chỗ ở luôn mới có nhiều con, ở Tỵ, Hợi: hai con, nếu có nhiều con thì mất một số, con cái ly tán, chơi bời.

Xấu nếu Thiên Đồng ở Thìn Tuất, hiếm con và nhất là đồng cung với Cự Môn thì ít con, con khó nuôi, bất hòa, ly tán, có thể có con riêng.

Ý Nghĩa Thiên Đồng Ở Cung Phu Thê

Thiên Đồng ở Mão: nên muộn đường hôn nhân mới tốt, hoặc việc hôn sự hay gặp trắc trở, xa cách ở buổi ban đầu, về sau thì hạnh phúc lâu dài. Nam nên là con trưởng, đoạt trưởng, nữ là con thứ.

Thiên Đồng ở Dậu: hay có sự bất hòa trong gia đình, hoặc thường phải xa cách nhau.

Thiên Đồng ở Tỵ: dễ có duyên nợ, cũng dễ xa nhau, hoặc hay có chuyện buồn phiền, hoặc vì làm ăn mà thường xa cách, duyên nợ ở xa.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất: khắc khẩu, nếu không thì hạnh phúc không trọn vẹn, lâu dài.

Thiên Đồng, Thiên Lương đồng cung: Sớm lập gia đình. Hai người thường có họ hàng với nhau, hoặc người cùng xứ, hoặc có quen biết trước với anh chị em, người thân trong nhà mà thành duyên nợ. Vợ chồng đẹp đôi và giàu sang.

Thiên Đồng, Thái Âm đồng cung tại Tý: Sớm lập gia đình. Hai người thường quen biết nhau trước, hoặc hai họ đã có quen nhau. Vợ chồng khá giả, đẹp đôi.

Thiên Đồng, Thái Âm đồng cung tại Ngọ: Phải muộn lập gia đình mới tốt.

Thiên Đồng, Cự Môn đồng cung tại Tý: Duyên nợ dễ chia ly, hoặc phải xa cách một thời gian mới đoàn tụ. Hoặc lập gia đình gặp sự trắc trở rồi mới thành.

Thiên Đồng Khi Vào Các Hạn

Nếu sáng sủa thì hưng thịnh về tài, danh, may mắn. Nếu xấu xa thì hậu hạn xấu (hao của, bị kiện, tụng, bị đổi chỗ...).


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Thiên Đồng - Thông minh và ôn hòa

Xem tướng nốt ruồi ở mông –

Nốt ruồi có thể mọc ở bất cứ đâu trên cơ thể của phụ nữ và nam giới. Thậm chí đó là ở Mông. Và ở mông thì nốt ruồi cũng mang một ý nghĩa nhất định. Nốt ruồi ở mông Nốt ruồi ở mông tuy ở vị trí khuất lấp nhưng ý nghĩa của nó khá đặc biệt dù là ở giới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nốt ruồi có thể mọc ở bất cứ đâu trên cơ thể của phụ nữ và nam giới. Thậm chí đó là ở Mông. Và ở mông thì nốt ruồi cũng mang một ý nghĩa nhất định.

Nội dung

  • 1 Nốt ruồi ở mông
    • 1.1 Nốt ruồi ở mông đàn ông
    • 1.2 Nốt ruồi ở mông phụ nữ
  • 2 Nốt ruồi ở các vị trí gần mông khác
    • 2.1 Nam giới nốt ruồi ở vùng kín
    • 2.2 Phụ nữ nốt ruồi ở vùng kín 

Nốt ruồi ở mông

Nốt ruồi ở mông tuy ở vị trí khuất lấp nhưng ý nghĩa của nó khá đặc biệt dù là ở giới tính nào, ý nghĩa chung của nó là: Những người sở hữu nốt ruồi ở môn đều là người có năng lực, có khả năng làm việc lớn những không xác định được mục tiêu rõ ràng và kế hoạch cụ thể. Do đó tuy có năng lực nhưng họ thường thất bại do lười biếng và thường nhụt chí.

Người sở hữu nốt ruồi này thường không có ý chí quyết tâm,do đó dù có tài năng nhưng họ lại không phát huy ra được, mất dần đi tư chất. Họ chỉ như hòn ngọc thô mà không được mài dũa thì cũng không phát huy được giá trị thực sự.

Nốt ruồi ở mông đàn ông

Tuy nhiên không phải ai sở hữu nốt ruồi này cũng có những đặc điểm trên. Người đàn ông có nốt ruồi ở mông còn có tính cách khá khôn khéo và được mọi người quý trọng. Họ thông minh và biết cách giao tiếp tốt, nên hay được giúp đỡ. Vè chuyện tình duyên, đời sống vợ chồng khá hòa thuận tuy không được khá giả về tiền bạc nhưng chuyện tình cảm lại khá thành công.

Nốt ruồi ở mông phụ nữ

Người phụ nữ sở hữu nốt ruồi mọc ở mông trái hay phải đều có năng lực nhưng lại không có phương hướng nhất định, thấy sao hay vây, thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh. Người phụ nữ có nốt ruồi ở mông thường có thiên hướng nghệ thuật cao, phù hợp với những công việc như hội họa, kiến trúc…

Nốt ruồi ở các vị trí gần mông khác

Ngoài ý nghĩa Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ thì chúng ta có thể tìm hiểu ở một số vị trí khác gần mông như: vùng kín, phần bắp đùi v.v

Nam giới nốt ruồi ở vùng kín

Nếu là nốt ruồi đen: đề phòng chứng thượng mã truy phong. Hay còn gọi là đột tử trong quá trình quan hệ của nam giới.

Nếu là nốt ruồi đỏ: nghĩa là có mệnh sinh quý tử, nhiều con cháu

Nếu nốt ruồi mọc ở đầu ngọc hành: cũng có mệnh sinh quý tử, con cháu đầy đàn.

Nốt ruồi ở phần bắp đùi kể cả trước hay sau, kể cả nốt ruồi đen hay nốt ruồi son thì đều là người gian xảo, mưu hèn kế bẩn, nói vậy mà không làm vậy.

Phụ nữ nốt ruồi ở vùng kín 

Nếu là nốt ruồi đen thì duyên tình dang dở, con cái ngu hèn, đề phòng mắc nạn vì người khác lừa đảo, lừa tình

Nếu là nốt ruồi son thì có chồng giàu sang, phú quý, rất tốt


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng nốt ruồi ở mông –

Phong thủy giường ngủ –

Giường ngủ là nơi để nghỉ ngơi, do đó cần đặt ở vị trí hợp với phương vị của người sử dụng. Có như vậy, tinh thần mới thoải mái và tạo được giấc ngủ ngon.   Cần chọn vị trí đầu giường hợp với tuổi. Theo những nguyên tắc về phong thủy áp dụng tro

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giường ngủ là nơi để nghỉ ngơi, do đó cần đặt ở vị trí hợp với phương vị của người sử dụng. Có như vậy, tinh thần mới thoải mái và tạo được giấc ngủ ngon.

đặt-giường-ngủ-theo-phong-thủy

 

Cần chọn vị trí đầu giường hợp với tuổi.
Theo những nguyên tắc về phong thủy áp dụng trong thuật kiến trúc và nghệ thuật sắp xếp nội thất, “mệnh Đông tứ” nên ngủ ở “giường Đông tứ”, còn “mệnh Tây tứ” thì nên ngủ ở “giường Tây tứ”. Những người thuộc ngũ hành Thuỷ, Mộc, Hoả đều thuộc “mệnh Đông tứ” do đó, giường ngủ đặt ở hướng Bắc, Đông, Nam và Đông Nam sẽ tốt. Những người thuộc mệnh Kim, Thổ trong ngũ hành thuộc “mệnh Tây tứ” giường ngủ nên đặt ở hướng Đông Bắc, Tây Bắc , Tây Nam và Tây. Việc sắp xếp phòng ngủ thiên biến vạn hoá, nhưng việc đặt giường ngủ thì không thể vượt ra ngoài những phương thức mà phong thuỷ học:

– Giường ngủ nên đặt ở hướng cát của bản mệnh: “Giường mệnh tương xứng” rất quan trọng, điều đó có nghĩa là “mệnh Đông tứ” nên ngủ “giường Đông tứ” ngược lại “mệnh Tây tứ” nên ngủ ở “giường Tây tứ” như thế sẽ ngủ ngon và tinh thần sảng khoái.
– Đầu giường nên gối về hướng của bản mệnh: Chức năng của ngủ, nghỉ là để cho não được nghỉ ngơi. Vì thế gối đầu ở hướng cát sẽ thu hút được liên tục khí cát trong giấc ngủ giúp ngủ ngon và khi tỉnh dậy tinh thần thoải mái. Nên chú ý, nếu giường ngủ đặt ở vị trí là hướng cát của bản mệnh nhưng đầu giường không đặt theo hướng cát của bản mệnh thì vận khí sẽ giảm sút rất nhiều.
 Phòng ngủ sáng sủa không nên tối tăm: Môi trường phòng ngủ lý tưởng nhất là ban ngày thông thoáng, ánh sáng tràn ngập tránh tù túng tạo âm khí, còn ánh đèn ban đêm thì dịu mắt khiến tâm hồn thư thái, yên tĩnh. Phòng ngủ tối tăm sẽ làm cho ý chí tiêu trầm, trong trường hợp này nên kê giường ngủ tới gần cửa sổ để có nhiều ánh sáng hơn.
Ngoài ra, giường ngủ nên đặt ở “sao phục vị” của bản mệnh vì “sao phục vị” có nghĩa là tĩnh tại bất động.

“Sao phục vị” của “mệnh Đông tứ”:
Mệnh “Chấn – mộc”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Đông.
Mệnh “Tốn – mộc”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Đông Nam.
Mệnh “Ly – hoả”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Nam.
Mệnh “Khảm – thuỷ”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Bắc.

“Sao phục vị” của “mệnh Tây tứ”.
Mệnh “Khôn – thổ”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Tây Nam.
Mệnh “Cấn – thổ”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Đông Bắc.
Mệnh “Càn – kim”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Tây Bắc.
Mệnh “Đoài – kim”, giường ngủ nên đặt ở sao phục vị hướng Tây.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy giường ngủ –

NGUỒN GỐC CỦA NHỊ THẬP BÁT TÚ

Hai mươi tám vì tinh tú và cách lý giải nguồn gốc của chúng theo quan niệm xưa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhị thập bát tú là 28 ngôi sao có thật trên bầu trời. Các nhà Thiên văn học đã phát hiện, quan sát, ghi chép về nó từ rất lâu, như vậy các sao này luân phiên theo chu kỳ, chi phối ảnh hưởng đến Trái đất, chứ không phải là những chuyện viển vông hoang đường, ảo tưởng.

Hai mươi tám sao này phân thành bốn chòm sao.

Thanh long (thuộc phương Đông): Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ

Bạch hổ (thuộc phương Tây): Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm

Chu tước (thuộc phương Nam): Tinh, Quỷ, Liễu, Tỉnh, Trương, Dực, Chẩn

Huyền Vũ (thuộc phương Bắc): Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích

Người Trung Quốc lý giải nguồn gốc của nhị thập bát tú bằng một câu chuyện rất ly kì hấp dẫn. Vào thời Thượng cổ, vua Trụ nhà Ân hoang dâm tàn bạo khiến triều chính thối nát, kỷ cương nghiêng đổ, khắp thiên hạ như vạc dầu sôi. Vũ vương nhà Chu dấy quân nhân nghĩa, trừng phạt kẻ có tội. Đúng lúc này, trên tiên giới diễn ra một cuộc đàm luận, gồm có hai nội dung, thứ nhất trong số các tiên có nhiều người chưa đủ đức hạnh, và tu luyện chưa đạt cảnh giới thượng thừa. Thứ hai, trời đất tam giới khi ấy còn thiếu các thần linh để cai quản các công việc. Chính vì lẽ đó, mấy vị đứng đầu trong chư tiên họp bàn, muốn nhân cuộc biến loạn này, giáng một số vị tiên xuống làm thần linh cai quản trong các lĩnh vực. Mấy vị đứng đầu thượng giới gồm có, Thái thượng Lão quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn (hai ông này đứng đầu Xiển giáo, tôn chỉ trong tu hành là chọn người có đức hạnh, cốt cách đặc biệt mới thu nhận làm đệ tử và truyền dậy), Thông Thiên Giáo Chủ, đứng đầu Triệt giáo (Phương châm của Triệt giáo là vạn vật chúng sinh đều bình đẳng, ông không phân biệt giữa người với người, hay vạn vật, chỉ cần có nhu cầu được học đạo thì ông sẽ dậy, học trò của ông rất đông, có nhiều người xuất thân từ động vật). Chính vì hay chủ trương đường lối của mấy vị lãnh đạo tiên giới đó đã dẫn đển mâu thuẫn về sao. Ba vị tổ sư này nghị luận và lập ra bảng phong thần, trong cuộc chiến Thương – Chu chiến tướng nào chết, mà có tên trong bảng phong thần thì sẽ về cai trị, thực hiện nhiệm vụ của thần đó. Trong số các thần này thì học trò Triệt giáo chiếm số lượng đông nhất. (nguyên nhân vì học trò của ông đông về số lượng, nhưng về chất lượng thì chưa thật sự đảm bảo).

Thông Thiên Giáo chủ lúc đầu đồng ý, chỉ định khoanh tay đứng nhìn, vô vi tu đạo, nhưng không ngờ, trong số đệ tử của ông xúi giục ông, khiến ông cũng nhảy vào cuộc chiến. Thái thượng Lão quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, và toàn bộ học trò Xiển giáo giúp đỡ bên nhà Chu, vì số trời của nhà Thương đã tận, và nhà Chu sẽ kế tiếp vai trò sứ mệnh của nhà Thương. Thông Thiên Giáo Chủ và toàn bộ học trò Triệt giáo giúp bên nhà Thương, vì cho rằng bên Xiển giáo phân biệt đối xử và khinh rẻ giáo phải của mình.

Thông Thiên Giáo Chủ lập ra trận Tru Tiên, nhằm cản bước Khương Tử Nha và Vũ Vương trên con đường tiến vào kinh đô Triều Ca để hỏi tội Trụ vương.  Trận Tru tiên được xây dựng bằng bốn thanh gươm phép Tru tiên, Lục tiên, Hãm tiên, Tuyệt tiên, thần tiên mà chưa có pháp lực cao cường rơi vào đều không toan mạng.  Trong trận Tru Tiên này, phe Xiển giáo thắng thế, tịch thu bốn thanh gươm phép này làm chiến lợi phẩm.

Thông Thiên Giáo chủ chưa chịu dừng lại, ông không trở về Bích Du cung mà tiếp tục lập trận khác thách thức quân Chu và Xiển giáo. Trận này là trận Vạn Tiên, có quy mô và mức độ khó hơn nhiều. Với sự giúp đỡ của hai vị giáo chủ Tây phương là Chuẩn Đề và Tiếp Dẫn, phe Xiển giáo và Khương Tử Nha lại một lần nữa phá xong trận này. Đáng lưu ý hơn, trong trận này, mấy vị Kim tiên trong Xiển giáo, quăng mấy thanh gươm phép lên trên trời, và đọc thần chú. Những thanh gươm này bay lung tung, loạn xạ, gặp phe đối phương là giết hại. Những vị đạo sĩ, học trò trong  Triệt giáo hầu hết là các loài vật tu luyện thành, cho nên sau khi chết hiện nguyên hình là các giống vật đó. Nhị thập bát tú là những học trò trong Triệt giáo thiệt mạng trong trận này, vốn họ đã có tên sẵn trong bảng Phong thần, chỉ đợi lúc lâm nạn thì hồn phách trở về cai quan địa vị của mình được giao phó.

Vì vậy, các ngôi sao trong nhị thập bát tú đều mang hình của một con vật, và tên người.  

Giác mộc giao, con giao long,  Bá Lâm

Cang kim long, con rồng, Lý Đạo Thông

Đê lạc thổ, tướng tinh con Lạc đà, Cao Bính

Phòng nhật thố, tướng tinh con Thỏ, Dao Công Bá

Tâm nguyệt hồ, tướng tinh con Chồn, Tô Nguyên

Vĩ hỏa hổ, con hổ, Châu Chiêu

Cơ thủy báo, con báo, Dương Chân

Đẩu mộc giải, con cua, Dương Tín

Ngưu kim ngưu, con trâu, Lý Hoằng

Nữ thổ bức, con dơi, Trịnh Nguyên

Hư nhật thử, con chuột, Châu Bảo

Nguy nguyệt yến, con chim én, Hầu Thái Ất

Thất trư hỏa, con lợn, Cao Chấn

Bích du thủy, con rái cá, Phương Tiết Thanh

Khuê mộc lang, con chó sói, Lý Hùng

Lâu kim cẩu, con chó, Trương Hùng

Vị thổ trĩ, con chim trĩ, Tống Canh

Mão nhật kê, con gà, Huỳnh Thương

Tất nguyệt ô, con quạ, Kim Thằng Dương

Chủy hỏa hầu, con khỉ, Phường Tuấn

Sâm thủy viên, con vượn, Tôn Tường

Tỉnh mộc can, con dê trừu, Thẩm Canh

Quỷ kim dương, Triệu Bạch Cao

Liễu thổ chương, con gấu ngựa, Ngô Khôn

Tinh nhật mã, con ngựa, Lữ Năng

Trương nguyệt lộc, con nai, Tiết Dụng

Dực hỏa xà, con rắn, Vương Giáo

Chẩn thủy dẫn, con giun, Hồ Đạo Nguyên.

                                                Nguồn gốc của Nhị thập bát tú

Hai ngôi nhị thập bát tú trong phim Tây du ký

Nhị thập bát tú, luôn phiên trực chiếu và tác động đến trái đất, nên nó ảnh hưởng tới các hiện tượng thiên văn, địa lý, người xưa dựa vào đó để đoán định việc mưa gió thiên tai, phục vụ cho cuộc sống và trong sản xuất nông nghiệp. Đoán các việc thịnh suy, hưng vượng của chế độ, thời đại, chính quyền…

Không những thế, hai mươi tám sao này còn được vận dụng trong việc lựa chọn các ngày tốt, ngày xấu, phù hợp với nội dung và mục tiêu công việc của mỗi cá nhân. Xưa Gia Cát Lượng lập Thất Tinh đàn để cầu gió Đông Nam, giúp Chu Du thắng trận Xích Bích. Đến khi bệnh nặng ông lập đàn tế sao cầu xin thêm tuổi thọ, nhưng việc này không thành.

Theo tiểu thuyết Phong thần thì ngoài 28 sao này, còn có nhiều các sao khác trong Tử vi đẩu số, như Khương Tử Nha cai quản sao Thiên cơ, thần của mưu trí, Khương hoàng hậu cai quản sao Thiên Phủ, chủ về tài sản, của cải, sao Tham lang do Đát Kỷ cai quản, là thần của tài hoa nghệ thuật, cầm kỳ thi họa, và dục vọng, tình ái… Các bậc trung thần nghĩa sỹ, trong thời loạn lạc khi mất đi được phong làm thần, các vị tiên chưa đủ đạo hạnh, pháp lực cũng tử trận trong cuộc chiến Chu – Thương mà giáng xuống làm thần. Cát thần luôn ban phước lành, của cải, sự may mắn và tuổi thọ. Hung thần trừng trị kẻ gian ác, gây nhiều tội ác. Tuy rằng cuộc chiến Chu – Thương, phe Triệt giáo tổn thất nặng nề, đệ tử bị tử nạn rất nhiều, nhưng so với tiên giới và vũ trụ, sự đóng góp của họ không phải nhỏ.

Đọc Phong thần, tìm hiểu về nhị thập bát tú, ta sẽ thấy được hai mặt âm dương sáng tốt rất rõ rệt, hai mặt này luôn cân bằng hài hòa, nếu bên nào mạnh hơn tất sẽ diễn ra một cuộc biến động, xáo trộn, thay đổi. Triết học Mác – Lê Nin quy nó về vấn đề mâu thuẫn, mặt đối lập, cặp phạm trù... Và trong quá trình phát triển song song, khi mâu thuẫn không thể dung hòa, cân bằng được, tất diễn ra cách mạng.

Ứng dụng của hai mươi tám sao trong thời kỳ hiện nay là dùng để chọn ngày tốt xấu rất là hữu ích và quan trọng.

Phong thủy số


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: NGUỒN GỐC CỦA NHỊ THẬP BÁT TÚ

Quý tướng có đặc điểm như thế nào

Đầu là chủ của ngũ tạng, là bá chủ của các bộ vị trên cơ thể, bốn phương tám hướng đều phải đoan chính, xương đầu thuộc các kiểu xương này thì đều có tướng quý, làm quan,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong Nguyệt Ba động trung ký viết: Đầu là chủ của ngũ tạng, là bá chủ của các bộ vị trên cơ thể, bốn phương tám hướng đều phải đoan chính. Tai trái là hướng Đông, tai phải là hướng Tây, mũi là hướng Nam, Xương ngọc chẩm là hướng Bắc. Gò má trái là hướng Đông Nam, gò má phải là hướng Tây Nam. Các hướng phải đoan chính, tiếp đến lại quan sát tới xương đầu.

tuong-phu-quy-2

Có 9 loại cốt pháp là tướng quý.

Đầu không có xương khác loại thì khó có thế đoán biết được tướng quý. Gọi là 9 kiểu xương: Một là xương gò má, hai là xương dịch mã, ba là xương tướng quân, bốn là xương nhật giác, năm là xương nguyệt giác, sáu là xương long cung, bảy là xương phục tê, tám là xương cự ngao, chín là xương long giác.

Đông nhạc, Tây nhạc nhô cao tạo thành xương gò má. Xương gò má nhô cao nối liền với Thiên thương tạo thành xương dịch mã. Nối tiếp với tai đó là xương tướng quân. Gờ mi trái nhô lên là xương nhật giác. Gò mi phải nhô lên là xương nguyệt giác. Vòm mắt nhô lên là xương long cung. Trên mũi có một xương nhô lên kéo dài tới sau đầu gọi là xương phục tê. Sau tai có một đoạn xương vòng ra phía sau đầu nhô lên là xương cự ngao. Xương hai bên lông mày nhô lên là xương long giác, cũng còn có tên gọi là xương phụ. Có 9 kiểu xương trên đây đều thuộc tướng cách của người làm quan hàng tam phẩm.

Bạch Vân Tử nói: Trán nhọn như dao, đầu vú nhỏ, đàn ông thì là nô bộc, phụ nữ thì sẽ là người lưu lạc phong trần.

Trong Thời hậu ca lại viết: Bộ vị Biên địa lệch không cao, rộng không được một ngón tay đặt vào, người như vậy cả đời không được vinh hoa phú quý.

Tống Tề Khưu nói: Nếu Ấn đường của trán đi lên tới Thiên đình mà có xương gồ lên, người như vậy phát đạt từ nhỏ, hơn nữa còn có được vinh hoa phú quý.

Bộ vị Biên địa và Sơn lâm đều phải đầy đặn, nếu lõm xuống là tướng bần tiện.

Khi Quách Lâm Tông xem tướng người, cho rằng có Tứ học đường:

Một là Quan học đường, mắt là Quan học đường, mắt dài lại thanh tú là quan hiển quý.

Hai là Lộc học đường, trán là Lộc học đường, người có trán rộng mà đầy đặn nhô cao, chủ phú quý.

Ba là Nội học đường, 2 hàm răng thẳng mà khít, cho thấy người này trung thực tín nghĩa; nếu 2 hàm răng thưa, nhỏ nhọn, cho thấy người này cuồng vong tự đại.

Bốn là Ngoại học đường, nằm ở trước cửa tai, nếu đầy đặn, sáng bóng cho thấy tài văn chương xuất chúng lưu danh bốn bể; nếu xám đen như bụi cho thấy là kém cỏi.

Trong Tam phụ tân thư viết: Trên trán có sắc tối mờ mịt, quanh năm gặp nạn, khốn đốn. Khóe mắt có màu xanh đen, người quân tử sẽ bị phá sản, kẻ tiểu nhân sẽ bị hình trượng.

Trên bộ vị Bác sỹ thường xuất hiện sắc đỏ, tím, vàng. Phụ nữ mang thai ở bộ vị này nếu xuất hiện màu xanh đen cũng sẽ bị tai ương.

Mắt mũi cùng đỏ mưu sự khó thành. Đồng thời cũng phải cẩn thận khi cưỡi ngựa, đề phòng tai nạn về chân tay.

Bộ vị Lực sỹ phải nhô lên, 2 gò má có sắc xanh đen, đàn ông có nạn quan trường, phụ nữ hiếm muộn đường con cái.

Khóe miệng có khí đen như khói như sương, mắt, tai, miệng, mũi, Nhân trung, Ngũ quan không tề chỉnh phần đa đều có tai ương.

Bộ vị Tang môn dưới mắt, trắng như bột, không những sẽ có chuyện buồn đau khóc lóc mà còn báo hiệu tương lai sẽ bị khốn đốn mà khắc khổ.

Ấn đường hiển hiện màu đỏ vàng, cả năm cát tường, nếu không phải là thay triều đổi đại còn có thể triều kiến quân vương.

Hai bên Dịch mã trái phải xuất hiện sắc đỏ tía thông lên Thiên thương là điềm báo sẽ có chuyện vui.

Màu sắc hai bên cánh mũi thanh khiết cho thấy không có tai họa, thân tâm an lạc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quý tướng có đặc điểm như thế nào

Nghề coi số tử vi bạc bẽo

Dưới đây là mộ số câu chuyện ngắn ngắn của cụ Hòang Hạc về Tử Vi, nhưng chuyện lý thú, lạ và có ích. Cụ Hòang Hạc vừa làm một số nhận xét, vừa kể những câu chyện có thật về Tử Vi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dưới đây là mộ số câu chuyện ngắn ngắn của cụ Hòang Hạc về Tử Vi, nhưng chuyện lý thú, lạ và có ích. Cụ Hòang Hạc vừa làm một số nhận xét, vừa kể những câu chyện có thật về Tử Vi. Thời gian của các câu chuyện được xác định, có thể là khi cụ Hòang Hạc còn trẻ, có thể là mới xảy ra gần đây. Nhưng chắc chắn bạn đọc cũng nghĩ rằng thời gian của các việc không cần thiết lắm.

Nghề coi số bạc bẽo

 Xem Tử Vi, cũng còn có nhiều tay giải, trong đó có một số là những nhà học giả. Tôi biết nhiều nhà học giả cừ khôi rất sành Tử Vi, nhưng các ông này dấu tài thật kỹ. Chỉ khi nào họ biết mình đứng đắn, họ mới nói chuyện với mình về Tử Vi thôi. Các ông này không thích cho ai biết tài, lại cũng không thích coi cho ai. 

nghe-xem-tu-vi

Họ nghiên cứu và vui trong công việc nghiên cứu của họ, coi cho con cái, bạn bè chí thân mà thôi, vì coi số là một cái việc làm … bạc bão lắm. Nói tốt thì người ta thích, nhưng không tốt mà bảo tốt sao được. Lợi lộc gì mà đi nói láo! Nhưng nói thẳng thì đâu nỡ.

Chuyện thứ nhất: Sao Thai mà ngộ Đào Hoa

Một người kia có người giới thiệu, đến nhà một người bạn tôi, mượn coi số Tử Vi đã làm sẵn. Bạn tôi coi một hồi, trao tôi xem và nói.

– Anh đóan dùm tôi đi! Tôi coi không nổi.

Tôi xem qua chẳng thấy gì là khó. Mới hỏi:

– Khó khổ nào?

 – Ậy, cứ coi đi, rồi tự tiện mà giải đóan dùm.

Tôi bảo:

– Thì anh đóan đi. Bà chị đây cậy anh mà. Tôi thì đóan ẩu, vì học lăng nhăng.

Bạn tôi nhấp nháy tôi, bảo:

– Thôi anh cứ đóan đi

Tôi hiểu ý, bèn chỉ vào sao Thai và Đào Hoa ở tại mạng, cười hỏi:

– Đóan sao cha nội?

 – Thì cứ nói? Có sao? (nhưng hỏi vậy mà anh ta nháy mắt láy tôi một cái).

Tôi ngụ ý bèn nói:

– Có cái này không mấy tốt, bà chị tha lỗi thì mới dám nói:

 – Dạ, không sao cả ạ,

 – Bà chị coi chừng, đàn ông nó thấy bà chị nó hay để ý lắm. Phải coi chừng vì số đào hoa mà.

 – Nghĩa là gì sao gọi là số đào hoa?

 – Nghĩa là ai thấy cũng thương. Bời vậy mà khổ, và coi chừng hay mang tiếng. Người ta thấy bà chị vui vẻ, tưởng bà chị không đứng đắn nên hay trêu ghẹo và nói xấu.

 – Đúng quá í, họ nói xấu tôi, tôi cứ bị mang tiếng mãi. Chứ tôi đứng đán lắm.

 – Nhưng bà chị nhẹ dạ lắm. Hay tin là vì thật thà, tưởng ai cũng thật như mình, mà thiên hạ thì quỷ quyệt lắm

Tùy cái “Đào Hoa mà ngộ sao Thai”

Bà ấy nghe liền phân bua với bạn tôi:

– Ông này là ai mà đóan hay hết sức. Đúng phong phóc.

Rồi tới chừng bà ra về, dĩ nhiên bà hết sức cảm ơn.

Bạn tôi nói

– Tôi ghét không thèm nói. Muốn mắng con mẹ vài tiếng cho bỏ ghét. Ngại mết lòng cũng chỗ quen lớn.

Tôi cãi

– Anh nói sai, bà ấy có gì mà đáng ghét?

 – Con mẹ ấy dâm dật số dách. Còn gì nữa! Đào Hoa mà ngộ sao Thai, chồng vừa đi khỏi rước trai vô nhà!

 – Không anh quên rằng bà này đâu đến nỗi. Là vì còn có sao Lộc Tồn thủ mạng, thì đã biến thể sao Đào Hoa thành vị sao đa cảm, đa tình thôi, chứ đâu phải còn dâm đãng? Anh lầm rồi.

Sao Lộc Tồn trong Tử Vi lạ lung lắm, nó có 2 tánh chất: Phúc tinh hay Lộc tinh. Nó lại cũng có công dụng là sao thanh cao gọi là “chân nhân chi tú” và nó biến tất cả những tính cách dâm đãng của các sao Đào Hoa và Hồng Loan. Tôi từng xem Tử Vi cho một người đàn bà đứng đắn lắm (một vị nữ giáo sư) vậy mà lá số tử vi có Đào Hoa và sao Thai thủ mạng lại có thêm Lộc Tồn

Anh bạn bảo:

 – Lạ nhỉ để tôi kiếm lại

Chuyện thứ hai: Hạn chết đói

Khi lớn tuổi, tôi có gặp một ông trong tử vi có Song Hao đắc địa, nhưng không có cách Thạch Trung Ẩn Ngọc, nhưng ông đó lại được cách Song Lộc. Một ông thầy bảo Song Lộc triều viên là giàu lắm. Nhưng ông đó đến 50 tuổi chả thấy gì cả.

Tôi đã nói với ông bạn đó là Đại Hao và Tiểu Hao ở Tý – Ngọ; Mão – Dậu là đắc địa, nhưng gặp Song Lộc là xấu. Tuy vậy mà không nghèo khổ rách rưới đâu mà lo. Là vì Song Hao ở Mão Dậu thì của có bao nhiêu rồi cũng sẽ hết, mà là hết cái này thì lại sẽ có của khác vào. Ngòai ra người có Song Hao đắc địa là người xem tiền bạc như không có, tức là kẻ trọng nghĩa khinh tài, thích giúp đỡ bạn bè.

Thường thì Lộc rất ghét Hao. Hạn của Hao gặp Lộc không ăn thua gì. Sợ nhất khỏang về già, vào hạn Thiên Thương ngộ Hao. Gặp hạn đó thì phải có lúc đói ngang xương. Nếu may sao đó lại đóng vào cung Giải Ách, sợ đau và chết vì không ăn được, chứ không phải nghèo đến nỗi không có cơm ăn.

Một câu chuyện ngồi trên đống bạc mà chết đói

Tôi còn nhớ có một Ông Cậu có cái số này.

Đã lâu rồi, hồi tôi còn trẻ tuổi. Cậu tôi là tay cự phú. Của cải ông suốt đời làm sao ăn cho hết. Một khi kia, tôi đã nói thẳng sự thật về lá số của ông, thì ông cười to lên.

– Thằng này láo. Tao mà chết đói. Năm nay tao 55 tuổi rồi, của cải điền sản của tao ăn 3 đời cũng không hết.

Tất cả nhhững người xung quanh đều cho rằng ông nói đúng. Mợ tôi nói:

– Không phải nói phách, giấy bạc của tao đem ra chợ này, đốt 3 ngày cũng chưa tắt. Mày coi sai rồi.

Có một ông thầy đồ trong làng cũng phụ họa:

– Song Lộc triều viên mà. Cậu coi không đến chỗ tinh vi. Cần học kỹ lại.

Nhưng tôi quả quyết:

– Để xem! Tôi không nói cậu chết đói vì thiếu ăn mà chết đói vì không ăn được.

 – Sao vậy?

 – Không biết. Mà cũng gần tới rồi, số cậu không hơn 60 tuổi – cỡ 58 lo lần là vừa.

Cậu tôi đổi sắc. Là vì biết tôi miệng hay ăn mắm ăn muối hay nói ẩu mà nói thật, nói đúng. Mẹ tôi ngồi đó rầy tôi:

– Con ăn nói vô lễ, thôi nín đi.

Về sau mẹ tôi còn rầy:

– Dù có thật như vậy, mày cũng đừng nói. Huống chi việc u u minh minh, con đừng quả quyết. Hãy bỏ tánh hiếu thắng và tự phụ của mày đi.

Tôi nói:

– Con quả quyết là cậu sắp chết vì hạn đáo Thiên Thương lại gặp cả Song Hao. Để mẹ xem. Nhưng có điều không rõ, là lý do nào lại có thể đói mà chết.

Vậy mà sau quả thật Cậu tôi bị bao tử ung thư vào nhà thương, họ không cho ăn, chỉ tiêm thuốc bổ. Cậu tôi lúc gần chết cứ kêu: “Tao đói quá, cho tao a7n chút cũng được, chích đau quá”

Chuyện thứ thứ ba: Nói chuyện ác tinh

Có một ông bạn chỉ thắc mắc lo sợ các ác tinh. Có một lần tôi mới bảo:

– Đừng nên sợ ác tinh lắm, không có chúng thì làm ăn gì nổi Bầy ác tinh. Nếu hợp cách thì tốt lắm. Có bậc phi thường đều là được hung tinh (ác tinh) đắc cách cả.

Người bạn đó có hỏi thêm, và tôi đã trả lời:

– Nếu cả 6 cặp ác tinh đều đác địa, thì nên biết lá số đó là của người làm nên việc phi thường. Mạng, Thân tuy không gặp, nhưng gặp hạn Tiểu Hao hay Đại Hao gì cũng vậy, sẽ hay lắm. Ta không nghe nói “hung tinh đác địa, phát giả như lôi” đấy hay sao?

Tôi đã nêu lên một vài ví dụ, xin kể ra đây để cống hiến quý bạn:

– Sao Đà La xấu lắm, nhưng nếu nó ở cung Phúc Đức mà Phúc Đức lại ở cung Thân, và ở đây không có chính tinh, thì ta gọi đó là cách Đà La độc thủ, tức là đời mình sẽ lên cao bất thường, họanh phát kinh khủng.

– Sao Cô Thần – Quả Tú xấu lắm, nhưng ở cung Điền hay cung Tài, thì là sao giữ bền tiền của hay đáo để

– Sao Tang Môn xấu, nhưng nó là Thiên Môn, (cửa trời) ở vào cung Điền thì nhà cao cửa rộng. Nếu lại gặp cả sao Cự Môn (tức là cách Tang – Cự) cùng một chỗ thì gọi là Lương Môn, tức là ở lâu đài như dinh Gia Long hay dinh Độc Lập, nếu cung Quan tốt, còn không thì cũng ở lâu đài nguy nga.

– Sao Thái Tuế rất xấu, vậy mà gặp Văn Xương – Văn Khúc, hay Khoa Quyền thì văn chương lừng lẫy ấy, gọi là cái thế văn chương.

– Ai lại chả sợ Thiên Không, nhưng nếu Thiên Không mà gặp Hồng Loan thì mưu trí ai bằng.

Không có gì là thật xấu hay thật tốt, miễn là đúng vị, đúng cách thì hay.

HÒANG HẠC ( Cụ Hoàng Hạc chính là học giả Nguyễn Duy Cần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghề coi số tử vi bạc bẽo

Phong thủy nhà ở những thứ xui xẻo không nên trang trí trong nhà - Phong thủy - Xem Tử Vi

Phong thủy nhà ở những thứ xui xẻo không nên trang trí trong nhà, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Phong thủy nhà ở những thứ xui xẻo không nên trang trí trong nhà, tu vi Phong thủy nhà ở những thứ xui xẻo không nên trang trí trong nhà, tu vi Phong thủy
Phong thủy nhà ở những thứ xui xẻo không nên trang trí trong nhà - Phong thủy - Xem Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy nhà ở những thứ xui xẻo không nên trang trí trong nhà

 Tiền xu dễ lôi kéo ma quỷ, quần áo cũ dễ mang tới điều chẳng lành nếu bạn thường xuyên để chúng trong nhà. Cùng xem phong thủy nhà ở và khám phá nguyên nhân khiến những thứ này sẽ mang lại xui xẻo khi bạn trang trí trong nhà nhé!

1.Tiền xu

Không ít người cho rằng, tiền xu là vận cát tường, mang lại nhiều phúc khi. Tuy nhiên, nó chỉ đúng khi bạn mang theo tron người. Trường hợp bày biện tiền xu trong nhà sẽ mang lại vận xui cho chủ nhân, đặc biệt là tăng âm khí, dễ lôi kéo ma quỷ.

Từ xa xưa, phong thuy các thầy bói đã biết dùng tiền xu để phục vụ công việc bói toán, xem âm dương. Do đó, theo quan điểm phương Đông, tiền xu có thể tập hợp các linh hồn lại với nhau. Nếu không muốn có thêm nhiều “vị khách vô danh” tới thăm, bạn cần bỏ sở thích tích trữ và trưng bày tiền xu trong nhà nhé.

2. Cây xương rồng

Bày biện cây xanh là cách tạo phúc khí tốt lành. Tuy nhiên, không phải loại cây nào cũng phù hợp để trang trí trong nhà.

Theo Phong thủy học cổ xưa, xương rồng là loại thực vật rất dễ sống trong mọi hoàn cảnh. Nó chỉ phát huy tác dụng trong trường hợp ngôi nhà vừa mới bị hỏa hoạn hoặc có tang. Sức sống mãnh liệt của loài cây này sẽ làm giảm âm khí, xua đuổi tà ma. Do đó, xương rồng bị liệt vào danh sách vật trưng bày xui xẻo cho ngôi nhà.

Nếu yêu thích xương rồng, bạn có thể đặt chúng ở ngoài ban công. Tốt nhất, bạn chỉ nên dùng hoa lan hoặc hoa hướng dương để tăng vận khí tốt lành nếu muốn trang hoàng nhà cửa.

3. Quần áo cổ

Không ít gia đình thích bày biện đồ cổ, đặc biệt là quần áo cũ của người cổ xưa trong nhà. Điều đó không mang lại may mắn, thậm chí còn tạo xui xẻo cho chủ nhân. Bởi quần áo cũ chứa âm khí của người đã khuất còn vương lại.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy nhà ở những thứ xui xẻo không nên trang trí trong nhà - Phong thủy - Xem Tử Vi

Xem tử vi tháng 5 âm lịch của người tuổi Dậu

Tử vi tháng 5 âm lịch của người tuổi Dậu có thể coi như đại vận rực rỡ nhất trong cả năm, phát triển sự nghiệp dễ dàng.
Xem tử vi tháng 5 âm lịch của người tuổi Dậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Tử vi tháng 5 âm lịch của người tuổi Dậu có thể coi như đại vận rực rỡ nhất trong cả năm. Cung mệnh vừa xuất hiện Thiên Ất Quý Nhân lại lâm vào Chính Quan đại vận, rất thích hợp để phát triển hoặc xây dựng kế hoạch mới cho sự nghiệp. 



Xem tu vi thang 5 am lich cua nguoi tuoi Dau hinh anh goc
 
THIÊN ẤT CÁT TINH VÀ CHÍNH QUAN ĐẠI VẬN ĐEM TỚI MỘT THÁNG ĐẦY HI VỌNG 

Vận trình tháng 5 âm lịch của người tuổi Dậu có thể coi như đại vận rực rỡ nhất trong cả năm. Cung mệnh vừa xuất hiện Thiên Ất Quý Nhân lại lâm vào Chính Quan đại vận, rất thích hợp để phát triển hoặc xây dựng kế hoạch mới cho sự nghiệp. Vận khí cũng đem tới vận may và tìm kiếm quý nhân cho đường tài lộc của bản mệnh.
 
Tháng Giáp Ngọ được coi là tháng “tiêu hết tiền lại có cơ hội kiếm tiền mới” khiến người xung quanh phải ghen tị.    Cung tử vi cũng cho thấy, chuyện tình cảm người này phát triển rất rực rỡ, người độc thân có cơ hội rơi vào lưới tình, người đã lập gia đình thì tình cảm phát triển đa đoan.    SỰ NGHIỆP    Vận sự nghiệp của người tuổi Dậu nhận được sự hậu thuẫn to lớn từ Chính Quan thần sát và Thiên Ất quý nhân. Vậy nên những ai có kế hoạch thay đổi công việc, hoặc có ý tưởng làm việc mới thì nên tận dụng thời gian này để triển khai. Quý nhân xuất hiện dẫn dắt nhiều cơ hội thắng lợi trong công việc. Người làm chủ nên chủ động tuyển dụng. Cơ duyên trời ban sẽ đem tới cho bạn một “quý nhân nhân viên" giúp chuyện làm ăn thăng tiến.    Vì mặt nghề nghiệp có nhiều khả phát triển, nên bạn hãy dốc toàn bộ sức lực, thể hiện khả năng lãnh đạo của mình. Người làm công ăn lương sẽ được lãnh đạo tán dương, ngoài ra sự xuất sắc của bạn cũng được đền đáp bằng mặt tài vận. Đặc biệt Thiên Ất quý nhân đem đến một tư duy nhanh nhạy, bản mệnh nên học thêm một kiến thức mới giúp tăng cường kỹ năng nghiệp vụ.   
Xem tu vi thang 5 am lich cua nguoi tuoi Dau hinh anh goc 2
 
TÀI LỘC    Tháng Giáp Ngọ, gặp Thiên Tài tàng Giáp Mộc, lại thêm Ngọ Hỏa khắc chế Dậu Kim sinh vận tài lộc. Vậy nên tháng này người tuổi Dậu không cần phải lo lắng quá nhiều về mặt tiền nong, bạn sẽ tự mình kiếm được một khoản không nhỏ. Tính tháo vát vốn có cộng thêm quý nhân dẫn dắt nên cơ hội tích trữ tiền bạc trong tháng không phải là nhỏ. Nhưng nghiêm cấm các suy nghĩ tiêu dùng đồ xa xỉ, nên khống chế ham muốn vật chất của mình. Đây là tháng thích hợp để bạn cầu tài cầu lộc.    Người mới lập nghiệp có vận trình được Thiên Cát và Thiên Phúc tinh trợ mệnh, khả năng kiếm tiền trở nên nhạy bén và gặp nhiều may mắn hơn.    TÌNH CẢM    Vận trình tình cảm của người tuổi Dậu tương đối ổn định. Người đã có nửa kia thì tình cảm thuận hòa. Đây là khoảng thời gian đáng để bạn trân trọng và tạo nhiều kỉ niệm đẹp bên nhau. Cùng nhau chụp những khoảnh khắc đời thường nhất, cùng nhau chia sẻ việc nhà, cùng nhau dạo bước trên con đường quen thuộc... đó sẽ là những ký ức tuyệt vời sau này.    Ngoài ra vì quan hệ xã hội của bạn phát triển rực rỡ trong tháng, nên bạn cũng phải hạn chế thái độ quá nhiệt tình đối với đồng nghiệp, đối tượng hợp tác… tránh để hiểu nhầm phát sinh.    Người độc thân có vận đào hoa hưng vượng, Thiên Phúc quý nhân đem tới nhiều tin vui về nhân duyên bạn bè hơn. Hãy tích cực tham gia các cuộc vui với bạn bè đồng nghiệp, duyên lành sẽ tự tìm tới bạn.    SỨC KHỎE    Tử vi tháng 5 âm lịch, tháng Hỏa khí tiêu hao gây Thủy yếu, gây cơ thể khô khan, tim thận phải hoạt động quá nhiều. Hệ miễn dịch của người tuổi Dậu trở nên kém đi, sinh nhiều mụn, các bộ phận như miệng thường xuyên bị viêm, nhiệt…    Thời tiết khô nóng khiến bản mệnh thường xuyên lạm dụng các loại nước uống như nước ngọt, coca, bia hơi… Những loại nước này không thể thay cho nước lọc vì chúng mang nhiều đường và chất điện giải, khiến khó tiêu hoá, ăn không ngon miệng. Cách tốt nhất để có một cơ thể khỏe mạnh đó là rèn luyện thể thao thường xuyên, ăn đồ ăn thanh đạm có lợi cho đường tiêu hóa.    Nhìn chung, bước vào tháng Giáp Ngọ vận trình của người tuổi Dậu khá tốt. Dù hung tinh Hối Khí tọa cung mệnh năm gây chuyện thị phi, quan trường kiện tụng giấy tờ nhưng các quý nhân trong đường quan lộc lại giúp đỡ bạn vượt qua. Thiên Ất soi đường giúp bạn tìm được quý nhân có chức vụ hoặc nghiệp vụ cao chỉ dẫn để bạn chiến thắng thị phi, kiện tụng.    Vận tài lộc hưng vượng, luôn xuất tiền bạc đúng lúc để bản mệnh thuận lợi trên đường sự nghiệp. Chuyện tình cảm nhiều màu sắc, người đã kết hôn cần kiềm chế bản thân hơn nữa. Người sinh năm 1969 có điềm phá tài mạnh nhất, nên cần tránh các giao dịch có nhiều mạo hiểm. 
Xem tu vi thang 5 am lich cua nguoi tuoi Dau hinh anh goc 3
 
► Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi tháng 5 âm lịch của người tuổi Dậu

Top 4 con giáp thiện lương đại phúc đại quý

Những người làm nhiều việc thiện tất sẽ có quý nhân phù trợ, gặp nhiều may mắn, dưới đây là top 4 con giáp thiện lương nhất.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Top 4 con giáp thiện lương đại phúc đại quý

Tuổi Sửu Đứng đầu trong danh sách này là những người tuổi Sửu. Người tuổi Sửu có tính cách hướng nội, chính trực, thuần phác, giàu tình thương người, hơn nữa họ rất cần cù, giàu nghị lực. Họ thích được giúp đỡ mọi người, làm việc cẩn thận nhưng quá thành thật nên có lúc thành ra cố chấp, có khi còn đắc tội người khác, nhưng thật ra, người tuổi Sửu rất có tấm lòng ấm áp. Họ khá cứng nhắc, nên học cách đề phòng người khác, học cách ứng biến với sự thay đổi của xã hội. Vì bản chất lương thiện, hay giúp đỡ người khác nên tuổi Sửu được nhiều người quý mến, được quý nhân phù trợ, gặp hoạn nạn cũng không lo.

Tuổi Mão Người sinh năm Mão vốn thiện lương, nhiệt tình, ôn hòa, nên luôn là người đứng ra giải quyết các mâu thuẫn. Nội tâm đơn thuần của họ không chấp nhận được cảnh người khác bị tổn thương cho dù bản thân gặp bất lợi. Sự thiện lương của con giáp này ảnh hưởng đến vận thế của họ, luôn có quý nhân phù trợ, nhân sinh hanh thông thuận lợi.

Tuổi Mùi Những người tuổi Mùi tính cách mềm dẻo, ôn hòa, ngoài nhu trong cương. Họ có vẻ ngoài dịu dàng yếu đuối nhưng rất có chính nghĩa, mạnh mẽ, thông minh.

Người tuổi Mùi thích giúp đỡ người khác, lấy việc hỗ trợ người khác làm niềm vui. Dù người tuổi Mùi không giỏi giao tiếp xã hội, có lúc vì quá chính trực mà gặp phiền nhiễu, khó khăn nhưng luôn luôn "trong cái rủi có cái may", họ sẽ luôn được người khác giúp đỡ lúc nguy nan nhất. Có lẽ là do may mắn vì bản tính lương thiện nên được người giúp đỡ.

Mô tả ảnh.
Bạn có thuộc top con giáp thiện lương may mắn (Ảnh minh họa)

Tuổi Tuất Mệnh chủ năm Tuất trung thành, phúc hậu, thà bản thân gặp khó khăn cũng không muốn phiền người khác. Họ luôn tháo vát nhanh nhạy, thường dành thời gian rảnh rỗi để làm việc từ thiện: thăm viện dưỡng lão, trại trẻ mồ côi… Hành thiện tích đức, vậy nên phúc báo sẽ nhanh chóng đến với người tuổi Tuất, hóa giải khó khăn trong cuộc đời, đại cát đại lợi.

Theo Khỏe và Đẹp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 4 con giáp thiện lương đại phúc đại quý

Phong thủy 2014: Nhà phạm Tam sát và cách hóa giải Tam sát –

Hướng nhà, hướng văn phòng, … phạm Tam sát, thì gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ. Trong phong thủy lấy hướng phạm tam sát là đại kỵ. Ngoài việc nhà ở, văn phòng, cửa hàng, phòng ngủ, phòng khách, phạm phải hướng có sao xấu “Ngũ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng nhà, hướng văn phòng, … phạm Tam sát, thì gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ. Trong phong thủy lấy hướng phạm tam sát là đại kỵ.

044fd569a_am_duong_ngu_hanh

Ngoài việc nhà ở, văn phòng, cửa hàng, phòng ngủ, phòng khách, phạm phải hướng có sao xấu “Ngũ Hoàng Đại Sát” chiếu, và sao xấu “Nhị Hắc” chiếu ngay hướng nhà mình đang ở, hoặc hướng văn phòng, hướng cửa hàng, mỗi năm mỗi hướng, thì bên cạnh đó cần phải chú ý đến hướng nhà, hướng văn phòng, hướng cửa hàng, hướng phòng ngủ phạm Tam sát.

Hướng nhà, hướng văn phòng, hướng cửa hàng, hướng phòng ngủ phạm Tam sát, thì người nhà mắc nhiều bệnh, gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ. Trong phong thủy lấy hướng phạm tam sát là đại kỵ.

Câu quyết đả nói : Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc. Thân, Tý, Thìn: Sát Nam. Hợi, Mẹo, Mùi: Sát Tây. Tỵ, Dậu, Sửu: Sát Đông.

Dần,Ngọ,Tuất hợp Hỏa cục, hòa vượng ở phương Nam,phương Bắc (Hợi, Tý, Sửu) và sự xung của nó là tam sát. (Hợi là kiếp sát, Tý là tai sát, Sửu là tuế sát, Tuế sát cũng gọi là mộ khố sát).

Thân,Tý,Thìn hợp Thủy cục, thủy vượng ở phương Bắc, phương Nam (Tỵ,Ngọ,Mùi) và sự xung của nó là tam sát. (Tỵ là kiếp sát,Ngọ là tai sát,Mùi là tuế sát).

Hợi,Mẹo,Mùi hợp Mộc cục,mộc vượng ở phương Đông, phương Tây (Thân,Dậu,Tuất) và sự xung của nó là tam sát. (Thân là kiếp sát,Dậu là tai sát,Tuất là tuế sát).

Tỵ, Dậu, Sửu hợp Kim cục, kim vượng ở phương Tây,phương Đông (Dần, Mẹo, Thìn) và sự xung của nó là tam sát. (Dần là kiếp sát, Mảo là tai sát, Thìn là tuế sát).

Lấy năm mà nói, như năm Dần, Ngọ, Tuất, Bắc phương đều nói là năm tam sát. Năm tam sát ở hướng, không thể tọa. Tọa tam sát tức tọa sát, đại kỵ: Năm, tháng, ngày, giờ Dần, Ngọ, Tuất, đều kỵ tu tạo ở Bắc phương. Các phương khác cứ thế mà suy ra.

Như vậy tam sát là tên gọi chung của kiếp sát,tai sát và tuế sát,mổi năm chiếm ba hướng tuyệt,thai và dưởng là tam hạp của ngủ hành.

Cụ thể: Năm nay là năm Giáp Ngọ (2014), theo câu quyết : Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc. Có nghĩa là nhà ta ở hướng Bắc là phạm phải tam sát.

Nếu gặp phải tam sát, người nhà mắc nhiều bệnh, gặp hạn xấu về thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ.

Phương pháp hóa giải: Là đặt 3 con Kỳ lân hoặc 3 con Sư tử, và đặc biệt là 3 con Tỳ Hưu (vừa hóa giải hạn Tam sát, vừa chiêu tài lộc cho gia đạo). Đầu Kỳ lân hoặc Sư tử, hoặc Tỳ Hưu hướng ra ngoài cửa chính, muốn ngăn ngừa Tam sát, ta phải xếp liền 3 con Kỳ lân, hoặc 3 con Sư tử, hoặc 3 con Tỳ Hưu cùng một chỗ. Về chất liệu của Kỳ lân hoặc Sư tử, hoặc Tỳ Hưu, thì bằng đá, bằng ngọc, hay kim loại đều sử dụng được.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy 2014: Nhà phạm Tam sát và cách hóa giải Tam sát –

Giữ chặt 3 chòm sao nam si tình nhất vòng tròn hoàng đạo

Tuy nói: Nam nhi chí ở bốn phương tuy nhiên từ xưa anh hùng khó qua được ải mỹ nhân. Cùng điểm danh 3 chòm sao nam si tình bậc nhất nhé !
Giữ chặt 3 chòm sao nam si tình nhất vòng tròn hoàng đạo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuy nói "Nam nhi chí ở bốn phương", nhưng từ xưa anh hùng khó qua ải mỹ nhân. Trên đời không chỉ có nhi nữ tình trường mà đàn ông cũng có lúc vì yêu mà mềm lòng. Cùng điểm danh 3 chòm sao nam si tình bậc nhất nào.


► ## cập nhật thông tin Tử vi hàng ngày, Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất gửi tới bạn đọc

Giu chat 3 chom sao nam si tinh nhat vong tron hoang dao hinh anh 2
 

Cự Giải 

  Chòm Cự Giải nam rất có trách nhiệm, coi trọng tình cảm. Khi yêu, chòm sao nam si tình này coi người yêu như người thân, hết lòng, tận tình chăm lo. Họ lấy tình cảm làm động lực để phấn đấu sự nghiệp, mong muốn người mình yêu thương sẽ có cuộc sống tốt đẹp nhất, thoải mái nhất. Thậm chí, khi phải chọn lựa giữa sự nghiệp và ái tình, chàng trai Cự Giải sẽ không ngần ngại chọn ái tình. Hơn nữa, Cự Giải nam bản thân khá mẫn cảm, khuyết thiếu tự tin, luôn khát vọng từ trong tình yêu tìm được cảm giác an bình nên rất chân thành, để được đền đáp lại đúng như vậy.  

Thiên Bình


Tính cách nổi bật nhất của chòm sao Thiên Bình là do dự, thiếu quyết đoán, trong chuyện tình cảm cũng không ngoại lệ. Đối diện với tình yêu, Thiên Bình lưỡng lự không biết làm thế nào cho phải, không hiểu lựa chọn thế nào cho đúng. Nhưng trải qua thời gian suy nghĩ, chòm sao nam si tình này của chúng ta vẫn cứ là quyết định đặt tình yêu lên đầu, sự nghiệp còn không ngừng biến hóa, cũng có thể không ngừng phấn đấu, thế nhưng đâu có phải lúc nào cũng may mắn gặp được người mình yêu thương.
Giu chat 3 chom sao nam si tinh nhat vong tron hoang dao hinh anh 2
 

Kim Ngưu 

  Chòm sao Kim Ngưu tính tính biết điều, chất phác, hơn nữa có tính tự bảo vệ rất cao, thường không chủ động bắt đầu một mối quan hệ tình cảm. Thế nhưng một khi đã cùng đối phương trở thành bạn bè trai gái, sẽ toàn tâm toàn ý đối tốt với người yêu. Bất luận chuyện lớn nhỏ của người yêu, chòm sao nam si tình này đều muốn gánh vác, sẻ chia. Một khi tiến vào ái tình, trong cuộc sống của Kim Ngưu nam sẽ mọc rễ nẩy mầm, trở thành một phần không thể thiếu bọn họ, đây là sự nghiệp to lớn huy hoàng không cách nào thay thế mà Kim Ngưu đạt được.
Top 3 chàng trai hoàng đạo là soái ca mà vẫn FA 5 chòm sao nam không chưng diện thì không ra khỏi cửa Kỳ lạ 4 chàng trai hoàng đạo thích sư tử Hà Đông

Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giữ chặt 3 chòm sao nam si tình nhất vòng tròn hoàng đạo

SỰ THẬT VỀ NGÀY TAM NƯƠNG

Ngày Tam nương - Bản chất và những quan niệm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xưa nay, mỗi khi có việc gì đó quan trọng người ta thường tiến hành thao tác chọn ngày lành tháng tốt, để mong giành được may mắn và vượng khí. Tìm ngày lành, tránh ngày hung từ rất lâu đời đã trở thành một niềm tin trong tiềm thức của con người. Các tài liệu và phương pháp xem ngày được các học giả nghiên cứu và đưa vào ứng dụng cho cuộc sống. Trong số các ngày xấu cần tránh đó là ngày Tam nương. Theo tất cả các tài liệu xem ngày đều đánh giá ngày này là một ngày hung kỵ đối với tất cả mọi công việc.

Ngày Tam nương là những ngày 03, 07, 13, 18, 22, 27 âm lịch hàng tháng. Trong quá trình tìm hiểu về các phương pháp xem ngày tôi luôn đặt câu hỏi, rằng tại sao người ta lại kiêng kỵ 6 ngày này một cách chặt chẽ như vậy… Và cuối cùng bức màn bí mật về nó đã được hé lộ.

Theo Lịch sử cổ đại Trung Hoa có ba người phụ nữ nhan sắc tuyệt trần, nhưng ba mỹ nhân này được sử sách đổ tội làm sụp đổ ba triều đại phong kiến vĩ đại trong lịch sử Trung Hoa

Người đầu tiên phải kể tới đó là Muội Hỷ, người phụ nữ này sống trong thời kỳ nhà Hạ (Thế kỷ 21 – thế kỷ 16 TCN), vua cuối cùng của nhà Hạ là Kiệt, một người hung ác, đam mê chiến tranh, hiếu sát, hoang dâm, tửu sắc vô độ. Trong thời gian trị vì, Hạ Kiệt say mê Muội Hỷ bỏ bê việc triều chính, bóc lột nhân dân tàn bạo, làm lắm điều dâm ô, mọi rợ. Thành Thang khởi nghĩa lật đổ hôn quân, lập nên triều đại mới. Và người ta coi Muội Hỷ là người khiến cơ đồ nhà Hạ sụp đổ.

Thành Thang dựng nên nhà Thương, qua mấy lần rời đô đến đất Ân nên còn gọi là nhà Ân (Thế kỷ 17 – thế kỷ 11 TCN). Mặc dù bài học mỹ nhân và giang sơn ở ngay trước mắt thế nhưng con cháu Thành Thang lại một lần nữa sa chân vào vết xe đổ cũ. Cuối đời nhà Ân, Trụ vương hoang dâm vô độ, gây chiến tranh liên miên, thuế má nặng nề, phu phen lao dịch không lúc nào ngơi, khiến trăm họ lâm vào cảnh “chim treo đầu lửa, cá nằm dưới dao”. Không những thế, từ khi có được Đát Kỷ - con gái của Ký Châu hầu Tô Hộ, Trụ vương ngày càng tàn bạo, trong số những việc làm tàn bạo của Trụ vương có phần của Đát Kỷ xúi giục. Nào chế bào lạc để hại tôi trung, lập sái bồn để diệt cung nữ, chặt chân người để xem tủy xương, móc tim hoàng thúc Tỷ Can… Những tội ác của tập đoàn độc tài Trụ vương – Đát Kỷ đã đầy trời, suốt đất. Vua Vũ nhà Chu cùng Khương Thượng khởi binh, hiệu triệu chư hầu tiêu diệt Trụ vương, cứu nhân dân ra khỏi cảnh lầm than, rên siết, đầy đọa. Và như vậy Mỹ nhân thứ hai bị mang tội “khuynh quốc, khuynh thành” đó là Đát Kỷ. Theo các truyền thuyết thì Đát Kỷ vốn là một con hồ ly thuộc hạ của Cửu Thiên Huyền Nữ nương nương, một lần đi săn Trụ vương qua miếu của bà và buông lời trêu cợt. Bà giận lắm, nên mới sai con hồ ly đến phá tan nát cơ đồ nhà Ân…

                                                  Sự thật về ngày Tam nương

              (Đát Kỷ, đại mỹ nhân đã khiến Trụ vương mê đắm - Ảnh được thu lại từ một bộ phim truyền hình)

Đến cuối thời Chu, vua U vương say mê Bao Tự đến nỗi làm lắm điều bạo ngược, chư hầu nổi dậy, thời đại Tây Chu chấm dứt, đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh loạn lạc, phân ly (Thế kỷ 11 – 771 TCN), Mỹ nhân Bao Tự lại được liệt thêm vào danh sách người đẹp khiến nước mất, nhà tan.

Từ đó, nhân dân Trung Hoa coi sáu ngày trên, (tương truyền là ngày sinh và ngày mất của ba mỹ nhân trên,) báo hiệu một điềm bất lành, khiến cờ đồ nghiêng ngửa diệt vong. Nên tháng nào người ta làm việc gì cũng đều tránh sáu ngày trên, lâu lầu trở thành một tập tục ăn sâu vào tư duy, tiềm thức cho đến ngày nay. Phong tục trên trong quá tình giao lưu kinh tế văn hóa đặc biệt giữa Trung Hoa và nước ta nên lan truyền, ảnh hưởng đến quá trình chọn lựa ngày tốt, ngày xấu của dân tộc ta.

Sau khi nghiên cứu tìm ra được sự thật, bản chất của vấn đề, cá nhân tôi thiết nghĩ: Việc lựa chọn ngày lành tháng tốt để tiến hành những công việc quan trọng là một nét đẹp truyền thống, nó mang tính chất khoa học và màu sắc tín ngưỡng quan trọng. Một xã hội mới ra đời có tính chất phủ định biện chứng, có nghĩa là kế thừa những truyền thống, nền tảng, bản sắc quý báu, tốt đẹp và khơi trong, gan đục xây dựng, phát huy những nét đẹp mới mang tầm vóc thời đại. Thế kỷ XXI, kỷ nguyên của khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ không ngừng, việc kế thừa giá trị truyền thống và xây dựng nâng cao chúng là một công việc được soi xét, cân nhắc kỹ lưỡng dưới góc độ khoa học. Chính vì lẽ đó, nếu như Mộc tinh (Thái tuế) vận động quanh mặt trời có chu kỳ 12 năm, và hệ quả của nó là hệ thống địa chi, hệ thống thập nhị trực. Hệ thống này dùng để chọn lựa ngày tốt, tránh những ngày xấu rất hiệu quả. Chúng được nhà khoa học lỗi lạc Đông Trọng Thư thời Tây Hán biên soạn thành tác phẩm Đổng Công tuyển nhật, mà ngày nay nhiều người vẫn còn sử dụng.

Nhị thập bát tú là những vì tinh tú có thật trong vũ trụ, chúng thay nhau trực chiếu và ảnh hưởng tới Trái đất và con người. Vì trong vũ trụ các hành tinh và thiên thể luôn luôn tương tác với nhau với một hằng số hấp dẫn, con người ở trên Trái đất nên không thể nào tách ra khỏi những quy luật tất yếu đó. Quá trình chịu ảnh hưởng này có cả tốt và xấu, cát và hung…

Góc chiếu của Mặt trời trong quá trình chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời sẽ có những thời điểm khác nhau về ánh sáng và nhiệt độ, từ ảnh hưởng tới môi trường trên bề mặt Trái đất, tạo ra trường khí khác nhau giữa các ngày, đó chính là các ngày Hoàng đạo, Hắc đạo. Ngày Hoàng đạo là những ngày tốt cho nhiều công việc, mang lại may mắn, và xác suất thành công cũng cao, còn ngược lại, ngày Hắc đạo thì kém may mắn hơn, mức độ thành công hoàn hảo của công việc sẽ giảm đi…

Những phương pháp chọn ngày trên rất có cơ sở khoa học. Còn như việc kiêng kỵ ngày Tam nương nhuốm đầy màu sắc mờ ảo huyền bí trong dân gian từ rất lâu đời. Mà chúng ta cũng chưa thấy có ai phản hồi rằng mưu sự vào ngày Tam nương gặp hậu quả xấu. Việc kiêng hay không kiêng, tránh hay không tránh là tùy tâm tín ngưỡng của một người. Nhưng sự thật về ngày này, được nhiều người thống nhất với nhau một quan điểm, vậy thì bản chất của ngày này theo như cá nhân tôi không đến mức độ xấu như thế, và nó thiếu hẳn một cơ sở lý luận về khoa học, nặng màu sắc: “Kính thần sợ cả cây đa”…

Phong Thủy số


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SỰ THẬT VỀ NGÀY TAM NƯƠNG

YẾU QUYẾT CHỌN NGÀY TỐT, VÀ TRÁNH NGÀY XẤU

Phương pháp chọn ngày tốt và tránh ngày xấu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xưa nay, mỗi khi dự định làm một việc gì đó có tính chất quan trọng, người ta thường chọn lấy những ngày tốt và kiêng kỵ, tránh những ngày xấu.

Ngày tốt là gì? Ngày tốt là những ngày có nguồn khí may mắn cát lợi, khiến cho công việc được thuận lợi hanh thông. Có những ngày thơi tiết mưa, có những ngày trời nắng, vậy thì cũng có những ngày thuận lợi cho công việc, và cũng có những ngày trắc trở, bất lợi, gặp toàn những việc không đâu. Tại sao lại như vậy?

Trời nắng trời mưa là hiện tượng tất yếu của quy luật thiên nhiên. Nó được ảnh hưởng chi phối bởi các hiện tượng thiên văn, địa lý. Cụ thể như khí hậu, thời tiết, chế độ gió, áp suất khí quyển, độ ẩm, lượng mưa…

Còn những ngày tốt, công việc tiến hành vào thời điểm được các hành tinh trong hệ mặt trời tương tác với Trái đất và tạo ra trường khí cát lợi, may mắn. Còn những ngày không tốt là do ảnh hưởng bất lợi của các hành tinh tác động lên Trái đất. Con người sống nên Trái đất và đương nhiên không thể thoát ra khỏi những ảnh hưởng mang tính chất quy luật đó. Tự do và tất yếu là hai phạm trù cơ bản. Tất yếu là những quy luật có tính chất chắc chắn sẽ xảy ra. Tự do là một trạng thái của con người, trạng thái này chính là thoải mái, không bị gò bó câu thúc. Vì chịu nhiều quy luật mang tính tất yếu của tự nhiên và xã hội nên con người không có tự do, bị lệ thuộc, ràng buộc, nhiều khi cảm thấy rất khổ sở và bất hạnh. Nắm được các quy luật tất yếu thì con người sẽ có những ứng xử phù hợp với hoàn cảnh, gặp lành tránh dữ, và vì thế cuộc sống ngày càng ổn định và hạnh phúc hơn, tiền dần đến tự do.

Từ cổ chí kim, phương pháp lựa chọn ngày lành tháng tốt của con người luôn là một tâm điểm quan trọng. Bằng thực nghiệm khách quan trong cuộc sống, và những công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu uyên bác, phương pháp chọn ngày có rất nhiều. Mà phương pháp nào cũng có cơ sở, chính vì lẽ đó, người rất nhiều người thắc mắc và phân vân trong quá trình chọn ngày. Điểm sơ lược về các tài liệu chuyên môn về xem ngày chúng ta sẽ thấy: Đổng Công tuyển nhập, Hiệp Kỷ biện phương thư, Ngọc hạp thông thư, Cát trạch thần bí, Phong tục Việt Nam…

Không những thế, những người nghiên cứu chuyên sâu về Tử vi, Tứ trụ, Lục nhâm, Mai hoa dịch số, Kỳ môn độn giáp…luôn biết rõ việc cát hung, hỷ kỵ nên dùng nhật hạn để chọn ngày tốt xấu, phương pháp này rất ưu việt, thế nhưng nó là một môn khoa học đòi hỏi tính chuyên sâu uyên bác. Mà chính vì lẽ đó, phương pháp này ít người biết đến và sử dụng, chỉ lưu truyền trong giới trí thức, hay các bậc thầy về dự đoán học

Nhiều người khi đứng trước một vườn hoa mà không biết sẽ lựa chọn bông hoa nào cho riêng mình. Đôi khi còn có chuyện mâu thuẫn vì theo sách này thì tốt mà theo sách khác lại là không nên??? Cái nào đáng coi trọng và cái nào nên xem nhẹ, hoặc ảnh hưởng không lớn. Tình huống được đặt ra và đòi hỏi chúng ta phải sử dụng một thao tác đó là xâu chuỗi, logic, hệ thống hóa, quy nạp…để lựa chọn. Theo cá nhân tôi, trong quá trình chọn lựa, chúng ta nên thiết lập một hệ thống thang biểu, parem.

Trước tiên, để chọn được một ngày tốt thì ta sẽ tính xem ngày hoàng đạo và ngày hắc đạo ra sao. Theo tài liệu đáng tin cậy từ nguồn webside bachkhoatrithuc.vn thì Hoàng đạo là quỹ đạo chuyển động của mặt trời mà người xưa quan sát được. Và mặt trời thường có các thần hộ vệ đi kèm. Nếu gặp các thần thiện thì sẽ gặp được cát khí và may mắn. Ngược lại nếu các thần hộ về là hung thần thì  luồng khí phát ra bất lợi cho nhiều mặt, công việc sức khỏe…

Ngày Hoàng đạo gồm các ngày như sau: Thanh long, Minh đường, Kim quỹ, Kim đường, Ngọc đường, Tư mệnh.

Ngày Hắc đạo gồm: Thiên hình, Chu tước, Bạch hổ, Thiên lao, Nguyên vũ, Câu trần.

Tiếp theo dùng phương pháp tính Lục diệu để xem xét xem ngày đó thế nào. Có ba ngày tốt: Đại an, Tốc hỷ, Tiểu cát. Ba ngày không tốt: Lưu niên, Xích khẩu, Không vong.

Nhị thập bát tú là 28 ngôi sao có thật trong vũ trụ, nó tác động chi phối Trái đất và cuộc sống con người. có bốn chòm sao

Thanh long: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ

Bạch hổ: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm.

Chu tước: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực Chẩn

Huyền vũ:  Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.

Hai mươi tám vì tinh tú này thay nhau trực chiếu chi phối vũ trụ, có sao tốt, mà cũng có sao xấu. Có sao tốt với việc này mà không tốt với việc kia.

Đổng Trọng Thư là một danh Nho uyên bác thời Hán, ông là một trí thức vĩ đại, am hiểu sâu sắc về đạo lý, xã hội, nhân sinh và vũ trụ. Trong số các trước tác lừng danh thì có một cuốn Đổng Công tuyển nhật. Nội dung của cuốn này là một phương pháp chọn ngày dựa trên Trực ngày. Gồm có 12 trực: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế. Mỗi trực có tính chất phù hợp, với nội dung công việc mà người chọn lựa cần phải lưu ý tới.

Ngọc hạp thông thư là một cuốn sách về Lịch được lưu truyền lại từ thời nhà Nguyễn nước ta. Sách này thống kê các thần cát, và thần sát trong ngày. Rất đáng được lưu tâm.

Ngoài ra, kỹ lưỡng hơn người ta chọn các phương hướng Hỷ thần, Tài thần, Hạc thần và tuổi hợp, tuổi kỵ với ngày đó nữa.

Cuối cùng là thao tác chọn giờ, trong một ngày có 12 canh giờ thì có 6 giờ hoàng đạo và 6 giờ hắc đạo

Trên cơ sở đó phân định một ngày tốt phải dựa vào: 1 Hoàng đạo, 2 Lục diệu, 3 Các sao, 4 Trực ngày, 5 Thần cát, thần hung, 6 phương hướng và tuổi người tiến hành công việc, 7 chọn giờ. Đây là một nguyên tắc cơ bản nhất để lựa chọn một ngày tốt. Dùng 1 hoặc hai tài liệu, và phương pháp tất sẽ có những khiếm khuyết. Thao tác cuối là xem xet yếu tố cát lợi nắm ưu thế hay yếu tố bất lợi vượt trội mà quyết định.

Ngày xấu, thường có những đặc điểm như sau:

  1. Lỗi khuyết những yếu tố kể trên
  2. Gặp những yếu tố bất lợi khác:

Ngày Tam nương: là các ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27 âm lịch hàng tháng

Ngày Thọ tử:

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Ngày

Bính Tuất

Nhâm Thìn

Tân Hợi

Đinh Tị

Mậu Tý

Bính Ngọ

Ất Sửu

Quý Mùi

Giáp Thân

Mậu Thân

Tân Mão

Tân Dậu

 

Ngày Sát chủ:

Ngày sát chủ trong tháng:
Tháng Giêng: Sát chủ ở ngày Tý
Tháng 2, 3, 7, 9: Sát chủ ở ngày Sửu
Tháng 4:  Sát chủ ở ngày Tuất
Tháng 11:  Sát chủ ở ngày Mùi
Tháng 5, 6, 8, 10,12:  Sát chủ ở ngày Thìn
Sách xưa cho rằng: Xây dựng, cưới gả chủ chầu Diêm Vương.

Ngày sát chủ ( Kỵ xây cất, cưới gả)
Tháng 1: 
Sát chủ ở ngày Tỵ
Tháng 2: 
Sát chủ ở ngày Tý
Tháng 3: 
Sát chủ ở ngày Mùi
Tháng 4: 
Sát chủ ở ngày Mão
Tháng 5: 
Sát chủ ở ngày Thân
Tháng 6: 
Sát chủ ở ngày Tuất
Tháng 7: 
Sát chủ ở ngày Hợi
Tháng 8: 
Sát chủ ở ngày Sửu
Tháng 9: 
Sát chủ ở ngày Ngọ
Tháng 10: 
Sát chủ ở ngày Dậu
Tháng 11: 
Sát chủ ở ngày Dần
Tháng 12:
Sát chủ ở ngày Thìn

Bốn mùa đều có ngày sát chủ
Mùa Xuân:
Sát chủ ở ngày Ngọ
Mùa Hạ:
Sát chủ ở ngày Tý
Mùa Thu:
Sát chủ ở ngày Dậu
Mùa Đông:
Sát chủ ở ngày Mão.

Mỗi tháng lại ấn định một ngày Sát chủ
Tháng 1,5,9:
Sát chủ ở ngày Tý
Tháng 2, 8,10:
Sát chủ ở ngày Mão
Tháng 3,7,11:
Sát chủ ở ngày Ngọ
Tháng 4, 6,12:
Sát chủ ở ngày Dậu

Ngày Nguyệt kỵ: Ngày 5, 14, 23

Ngày không phòng: Bài ca kỵ ngày “không phòng”
( Kị các ngày cưới gả, làm nhà )
Xuân Long,Xà Thử kị không phòng
Hạ Khuyển Trư Dương bị tử vong
Thu Mão Hổ Mã phùng bất tử
Đông Thân Dậu Sửu kết hôn hung

Nghĩa là
Mùa Xuân kị ngày Thìn, Tị, Tý
Mùa Hạ kị ngày Tuất, Hợi, Mùi
Mùa Thu kị ngày Mão, Dần, Ngọ
Mùa Đông kị ngày Thân, Dậu, Sửu

Bài ca kỵ ngày “hoang vu tứ quý”
(Kị cất nhà, hôn thú )
Mùa Xuân kị ngày thân
Mùa Hạ kị ngày Dần
Mùa Thu kị ngày Thìn
Mùa Đông kị ngày Tị

Ngày Thập ác đại bại:

Tránh ngày “Thập ác đại bại” trong các tháng của các năm sau:
( ky cưới gả, xât cất và vô lộc)
Đây là những ngày không nên làm những việc liên quan đến lợi lộc như khai trương, ký hợp đồng, đi giao dịch, mua chứng khoán, gửi tiền ngân hàng v.v...
Ngày này coi theo hàng can của mỗi năm theo bảng lập thành như sau:

* Năm Giáp Kỷ 
Tháng 3 ngày Mậu Tuất 
Tháng 7 ngày Quý Hợi 
Tháng 10 ngày Bính Thân 
Tháng 11 ngày Đinh Hợi

* Năm Ất Canh 
Tháng 4 ngày Nhâm Thân 
Tháng 9 ngày Ất Tị

* Năm Bính Tân 
Tháng 3 ngày Tân Tị 
Tháng 9 ngày Canh Thìn 
Tháng 10 ngày Giáp Thìn

* Năm Mậu Quý 
Tháng 6 ngày Kỷ Sửu

* Năm Đinh Nhâm không có ngày Thập Ác đại bại.

Trên cơ sở sưu tầm, so sánh từ nhiều nguồn khác nhau, chắt lọc những điểm chung nhất và trình bày lại ở nội dung này, quý bạn có thể tham khảo và tự chọn ngày tốt, ngày hoàng đạo và tránh ngày hắc đạo khi cần thiết

chọn ngày tốt và tránh ngày xấu

(Hệ mặt trời, sự chuyển động của các thiên thể, các hành tinh, chi phối ảnh hưởng tới Trái đất và tạo ra các ảnh hưởng tốt xấu ) 

Phong Thủy số


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: YẾU QUYẾT CHỌN NGÀY TỐT, VÀ TRÁNH NGÀY XẤU

Ông Bà Tổ Tiên

Giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Việt liên hệ với việc truyền giáo Lm Vũ Kim Chính, SJ Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan
Ông Bà Tổ Tiên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðề cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của nfười Việt cũng thế, là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở đây khi chọn đề tài "Ông bà tổ tiên" liên hệ với việc truyền giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới vấn đề "lễ nghi" đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình. Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính ông bà tổ tiên?

1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên

Tuy ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau thảo luận những tranh chấp về "lễ nghi" thì những tài liệu của các quốc gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.

Việt ngữ dùng danh từ "tôn giáo" để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ "tôn" cũng còn một âm nữa là "Tông" nguyên ủy chỉ ông "thứ tổ" (ông tổ thứ hai), rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo phái, học phái. Như vậy, "tôn giáo" theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na theo lối bình dân như:

"ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn"
, hoặc:

"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con"
.

Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:

"Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân"
.

hay ở đoạn khác:

"Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời"
.

Như vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn kính "Thần Thánh" theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã chép: "Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế. Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì "vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ" (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như Kinh Thi chép: "Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức" (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, mới có đức tốt).

"Ông Trời" là nguyên ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi vui khi buồn đều có thể gọi "Trời ơi" được, nhưng họ không được phép trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: "Việc thờ Trời, thờ quỉ thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả, và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở Á đông". Dù được trực tiếp tế tự "Trời" hay chỉ gián tiếp qua Thần Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới "Thiên nhân tương dữ". Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý, để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với Thiên đạo. Nói cách khác: "Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả, cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ".

Nho gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm và dưỡng tính của bậc quân tử". "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (Luận Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ lòng chân thành: "tế thần như thần tại" (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch: tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời "kính quỉ thần nhi viễn chi" (Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ sự" (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? "là Cung, khoan, tín, mẫn, huệ". Khổng tử giải thích thêm: "Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người" (Luận Ngữ: Dương Hóa, XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này, mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng riêng, một người coi trọng "Nhân" là bảo tồn tính bản thiện của con người, một người trọng "Lễ" để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.

Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: "sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận Ngữ: Vi chính II). Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: "Thận chung, truy viễn, đức qui hậu hĩ" (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).

Tư tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số quần chúng Việt Nam được coi là theo "đạo Ông Bà" thường có phong tục làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên, như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con... hay nhiều khi chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại. Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một... Ngoài những biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,... Tất cả những kính cáo, trình khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: "Con cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng".

Nói tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương, nến sáp... Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có bàn thờ riêng thờ ông "Thủy Tổ" của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông, biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn thờ Thủy Tổ.

Quần chúng tuy một đàng muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân biệt rõ ràng như những nho sĩ "vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi", nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá. Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh... để bảo vệ che chở mình hay giúp phát tài,... Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần "lễ nghi" tôn kính ông bà tổ tiên.

2. Tôn Kính Tổ Tiên Liên Hệ Tới Việc Truyền Giáo:

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa bắt đầu bằng những bước dò dẫm, va chạm những khó khăn về phiên dịch, vì hai loại ngôn ngữ biểu tả hai văn hóa quá khác nhau, nên không biết phải làm sao mới có thể đạt tới việc "bản vị hóa" chân chính được. Thoạt đầu những nhà truyền giáo tiên khởi dùng ngôn ngữ địa phương để phiên âm những từ căn bản của Kitô giáo, như thánh Phanxicô Xavier đã Nhật âm hóa tiếng Latinh: Deus Pater, Deus Filius, Deus Spiritus Sanctus là: Deusu Patere, Deusu Hiiruo va Deusu Spiritusu Santa (có khoảng 50 ngữ vựng căn bản như thế). Nhưng cách phiên âm này đã gặp những khó khăn lớn, vì hoặc là âm đó có một nghĩa khác trong ngôn ngữ là "Deusu" làm trò cười cho nhiều Phật đồ Nhật, vì họ liên tưởng tới một âm tương tự là "daiuso", có nghĩa là "Nói dối đại tài". Thấy cách phiên âm này không ổn, nên các nhà truyền giáo kế vị các bậc tiên khởi này như A. Valignano, M. Ricci, A. Schall, A. de Rhodes v.v... đã học hỏi ngôn ngữ và tư tưởng địa phương để Kitô giáo được thích ứng với môi trường mới. Trong lúc phiên dịch và thích ứng này đã xảy ra cuộc tranh chấp về "lễ nghi". Cuộc tranh chấp này mặc dù đầu tiên là bàn về hai phương pháp truyền giáo được hai phe (một bên là dòng Tên, một bên là dòng Ðaminh, dòng Phanxicô và hội Thừa Sai Balê) chủ trương, nhưng dần dần đã vượt qua phạm vi thuần túy truyền giáo và tôn giáo trở thành một tranh chấp bị những ảnh hưởng chính trị, quyền bính chi phối, nên đã trở thành một tấm bi kịch của lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông. Ở đây chúng ta chỉ có thể chú tâm tới những dự kiện chính yếu mà thôi.

Trước tiên chúng ta bàn về vấn đề phiên dịch. Sau khi thảo luận những khả thể dịch chữ, "Deus", các nhà truyền giáo đã đồng ý dùng chữ "Thiên Chúa". Nhưng dùng cách thế nào để giải thích chữ "Thiên Chúa" thì hai phe có những lập trường khác nhau. Một bên cho rằng dùng chữ "Thiên Chúa" để chỉ Deus thì phải hiểu hoàn toàn khác, hoàn toàn độc lập, không thể dùng một từ ngữ nào như "Thiên", "Thượng Ðế" để diễn giải được, vì "Thiên" theo ý họ "chỉ có nghĩa là bầu trời" (ciel materiel et visible), còn quan niệm "Thượng Ðế" là quan niệm dân ngoại thường dùng, nếu ta dùng sẽ rơi vào giới "vô thần" như dân ngoại. Một bên khác cho rằng chữ "Thiên Chúa" mặc dù là chữ ghép mới để chỉ Deus, nhưng có thể dùng những quan niệm sẵn có trong kinh điển Trung Hoa xưa như "Thiên", "Thượng Ðế" để người Trung Hoa có một mấu cứ để thăng hóa, nhờ đó mới dễ dàng hiểu rõ nghĩa thực sự của "Thiên Chúa" được. Thực ra, hai bên dùng hai phương pháp thần học cổ điển vẫn dùng là: phương pháp "phủ nhận" (via negotiva) và phương pháp "sánh loại" (via analogia). Ðứng trên phương pháp học không có chi đáng bàn cãi, nhưng động lực nao khiến họ chọn hai phương pháp này để nói lên thái độ của họ đối với nền văn hóa địa phương. Ðó mới là điều quan trọng. Dù sao đi nữa, sự kiện xẩy ra trong lịch sử là: Giám Mục Charles Maigrot, đặc sứ tông tòa ở Phúc Kiến đã nhân danh Thánh Bộ truyền giáo tuyên bố: từ ngữ "Thiên Chúa" phải được dùng để chỉ chữ "Deus" còn những tiếng khác như "Thiên" và "Thượng Ðế" thì không được dùng.

Ðối với người Công Giáo Việt Nam hiện nay, ta dùng chữ "Thiên Chúa" trong văn chương, nhưng cũna dùng chữ "Ðức Chúa Trời" theo nghĩa bình dân để chữ "Deus". Trong khi đó những người không Công Giáo thường dùng "Ông Trời" (Trung Hoa dùng chữ Lão Thiên) để chỉ Ðấng Tối Cao. Thực ra, quan niệm "Trời" không phải chỉ là "bầu trời", nhưng cũng là "Hóa Công", đấng sinh thành vũ trụ, vì vậy tại sao chúng ta không thể dùng những quan niệm đã có sẵn trong kinh điển Trung Hoa, đã được nhiều người biết tới để giải thích một quan niệm chí ư "trừu tượng", đối với họ hoàn toàn mới lạ như Deus. Phải chăng phản đối dùng những quan niệm như "Thượng Thiên", "Hiển Thiên", "Hoàng Thiên", "Thượng Ðế" để giải thích chữ "Thiên Chúa", vì các nhà truyền giáo sợ người Trung Hoa, Việt Nam không hiểu xác thực được nghĩa Deus của Kitô giáo, hay là các nhà truyền giáo đó đã không hiểu rõ được những quan niệm trên trong tư tưởng Trung Hoa? Trần Văn Hiến Minh còn đi xa hơn nữa, khi ông quả quyết: "Quan niệm một Tiên Chúa có ngôi vị, Thượng Ðế là một trực giác đầu tiên của người Trung Hoa từ xa xôi bao ngàn năm trước. Tất cả cuộc sống Trung Hoa cổ kính đều qui hướng vào đó". Ðề mục họ Trần nêu ra có thể là một đề tài thảo luận hào hứng, nhưng vượt qua phạm vi của bài nói chuyện này. Dù "Thượng Ðế" theo người Trung Hoa hiểu có "ngôi vị" hay không, cũng không thể là lý do chính đáng không dùng những quan niệm đó để "giải thích" tiếng "Thiên Chúa" được.

Như vậy ta thấy được tranh luận về mấy danh từ trên không phải chỉ là một cuộc thảo luận lý thuyết thần học hay ngôn ngữ, văn chương, nhưng là tỏ rõ đường hướng của hai phe đối với vấn đề truyền giáo: giáo hội có thể dùng di sản văn hóa của địa phương để diễn đạt giáo lý, nghi lễ của mình hay không? Mà được phép dùng tới mức nào? Tại sao có thể dùng hay bị cấm dùng như vậy?

Bây giờ chúng ta trực tiếp đề cập tới cuộc tranh luận "lễ nghi". Vấn đề chính của cuộc tranh chấp này là câu hỏi: lễ nghi đối với tổ tiên là "tôn thờ" tổ tiên vì nghi thức này có tính cách tôn giáo. Tôn thờ tổ tiên là những người theo "đạo Ông Bà". Nói cách khác, nghi lễ tôn thờ này được cử hành trong những nơi nhất định (chủ đường hay tông đường hoặc tại gia, trước bàn thờ tổ), có những qui định riêng (thành văn hoặc bất thành văn) và đối tượng của đạo này là "tôn thờ Bài Vị" của những người quá cố, Bài Vị này là chỗ của các Hồn người quá cố "cư ngụ". Khi hành lễ gia trưởng chắp vái hay quì lạy, dâng hương, báo cáo, cầu xin trước bàn thờ vong linh có đốt nến và bày những lễ cúng như hoa quả, bánh rượu... lễ nghi này cũng giống như lễ nghi trước phần mộ khi mai táng hay trong các dịp kỵ lễ. Sau khi đã mô tả những chi tiết trên, cộng thêm sự ghi chú những tính cách tôn giáo của đạo ông bà, các vị thừa sai này đã đặt những câu hỏi xin thánh bộ giải quyết, như: xin hỏi người Kitô hữu có được phép cử hành những nghi lễ và dâng cúng trước bài vị theo như tập tục ở chủ đường hoặc nơi phần mộ hay trước linh cửu? Và nếu họ được phép làm như vậy thì họ có thể tham dự với dân ngoại hay hành lễ một mình? Hay câu hỏi: Người Kitô hữu có được dựng bài vị tổ tiên ở trong nhà mình với chữ khắc "Thần Chủ" không? Dĩ nhiên những câu hỏi này đã được sửa soạn bằng những "mô tả" hàm xúc một câu trả lời phủ nhận. Có người còn đi xa hơn nữa, coi việc "Tôn thờ tổ tiên" ở Trung Hoa giống hệt như việc thờ phượng các thầ Manes xưa ở Hy lạp hay La Mã: "Theo lịch xưa của người La Mã khi thời thờ ẩu thần còn hiển trị, có nhắc tới một dịp lễ gọi là "Feralia", bắt đầu từ 20 tháng 2 kéo dài tới cuối tháng 2. Lễ này là dịp tôn thờ các Thần Manes. Dân ngoại đem thịt đặt trên mộ các người quá cố để họ hưởng, như tiến sĩ Varron đã giải thích. Ðó cũng là những việc mà những người Trung Hoa hành lễ ở các chùa chiền, trên phần mộ hay trong tư thất trước bài vị tổ tiên". Sự so sánh này đặt người hữu trách trước một sự lựa chọn không thể chối được: Nếu xưa giáo hội đã hủy bỏ phong tục thờ tà thần Manes, tại sao ngày nay lại có thể cho phép làm như thế ở trung Hoa. Lý chứng này càng ảnh hưởng tới người hữu trách khi người đó không hiểu thấu hiện trạng phức tạp ở miên Viễn Ðông.

Trong khi đó, phe khác coi nghi lễ đối với ông bà tổ tiên là sự "tôn kính" bày tỏ lòng hiếu đễ của con cái đối với bậc tiền nhân, dù khi còn sống hay đã quá cố. Trước tiên họ nhận định những nghi lễ trong các chùa chiền hay trước những thần tượng bày rải rắc khắp nơi là có tính cách tôn giáo và nhuốm nhiều màu sắc mê tín, dị đoan. Họ cũng công nhận thái độ mê tín này có thể ảnh hưởng tới việc tôn kính tổ tiên, nếu không được giải thích minh bạch giữa nơi tôn thờ và tôn kính: Ngược với "chùa miếu" là nơi tôn thờ các thần thánh, "đường" nơi có tính cách "trung tính" (có thể dùng liên quan tới tôn giáo hay không). Do đó, "chủ đường" hay "tông đường" (hay nói nôm na là "chỗ dành cho tổ tiên") là "nơi" kính nhớ ông bà tổ tiên để tỏ lòng biết ơn với những người quá cố, cũng như phong tục tập quán địa phương có những "nơi" riêng trọng kính các vị tiền bối lúc sinh thời. Còn Bài Vị thực ra không phải là "bàn thờ" thực, nhưng thường là một thanh gỗ được sửa soạn tươm tất ở trên đó có ghi danh tánh ông bà tổ tiên được bày trên án hương. Tuy Bài Vị "là biểu tượng" cho vong linh người quá cố, nhưng không phải là chỗ "cư ngụ" của hồn linh đó. Các vị này giải thích: trong quá khứ người Trung Hoa có thói quen tìm một người "thay thế" cho một người thân quá cố. Phong tục này được chuyển hóa bằng việc dùng bài vị như là biểu tượng của người quá cố ở giữa con cái. "Bài vị được dựng nên không phải để đánh dấu sự hiện hữu của một linh hồn mà người ta tin rằng linh hồn đó cư ngụ ở bài vị, nhưng đúng hơn là để thức tỉnh một thái độ luân lý và sự biểu tượng này có thể coi như sự hiện diện của một thân xác". Trong khi đó, việc "hóa" vàng giấy, đốt những đồ vật làm bằng giấy cho tổ tiên dùng là những điều mê tín, dị đoan cần cấm bỏ. Ngược lại, những cử chỉ bái lạy hay quỳ gối là những cung cách người Trung Hoa thường dùng để tỏ lòng tôn kính đối với bậc trên, dù những người này còn sống hay đã qua đời. Ðiều đáng chú ý là, chính vua Khang Hy ngày 30.11.1700 đã tự tay chứng thực bản văn do các cha dòng tên thảo nói những lễ nghi tôn kính Khổng Tử, tổ tiên là những hình thức bày tỏ lòng thành kính mà thôi: "Nói là Khổng Tử được thờ phượng để xin sự khôn ngoan hay để xin được thăng chức hay thêm bổng lộc là không đúng... Dựng bài vị tiền nhân quá cố không có nghĩa là linh hồn tổ tiên được nghĩ là thực sự ngự trị trong miếng gỗ này... Mục đích thực sự của nghi lễ tôn kính tổ tiên là con cháu trong một dòng tộc không được phép quên, nhưng luôn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên cho đến muôn đời". Nhưng lời chứng thực của vị hoàng đế trung Hoa, người có thẩm quyền nói lên ý nghĩa thực sự của phong tục tập quán, đã không được tòa thánh thời đó lưu ý tới.

Trên đây là lược thuật tổng quát lập trường của hai phe phái về vấn đề đối với tổ tiên có liên hệ đến việc truyền giáo. Cuộc tranh chấp "lễ nghi" này đã tạm thời kết thúc khi Ðức Giáo Hoàng Clement XI ngày 20.11.1704 đã quyết định:

- Cấm dùng chữ "Thiên" hay "Thượng Ðế" để giải nghĩa "Thiên Chúa". Theo đó không được dùng "mensa seu altare" (bàn thờ) để "kính Thiên" trong nhà thờ.

- Người Kitô hữu không được phép tổ chức hay tham gia những lễ nghi theo như phong tục đối với Khổng Tử hay những người quá cố. Do đó cũng không được phép lập "chủ đường", miếu đường", cũng không được phép dâng lễ vật trong miếu đường hay gia thất vì những nghi thức này liên hệ tới mê tín ("tamquam superstitione inseparabilia"). Tông huấn (Ex illa die) đã được quyết định, đã được đặc sứ tòa thánh, Hồng Y De Tournon mang sang Trung Hoa để ban hành. Sau ba lần De Tournon hội kiến với Hoàng Ðế Khang Hy, Tông huấn đã không được chính thức ban hành cho tới ngày 19.3.1715 mới được Giám Mục đầu tiên của địa phận Bắc Kinh Charles Castorano ban hành. (Trong khi đó De Tournon đã mất ngày 8.6.1710 ở Macao). Tông huấn "Ex illa die" được chính thức ban hành gây ra nhiêu phản ứng khác nhau, nhưng khi phải quyết định phát thệ "chống lễ nghi" theo chỉ thị của tòa thánh, các nhà truyền giáo đã anh dũng bỏ lập trường riêng để chấp nhận tông huấn "Ex illa die". Về phần Khang Hy, ông thấy Công Giáo chống đối lễ nghi và tập tục Trung Hoa đối với Khổng Tử và tổ tiên, đã đổi thái độ từ thân thiện sang nghịch thù. Nhưng cuộc tranh chấp chưa kết thúc, vì chính Ðức Clement XI lại sai một đặc sứ khác là Charles Ambrose Mezzabarba, tân giáo phụ của Alexandria tới Bắc Kinh ngày 26.12.1720. Sau khi đã hội kiến, lắng nghe các nhà truyền giáo báo cáo và đã được tiếp kiến Hoàng Ðế, C. A. Mezzabarba đã trở về Maccao và thảo một bức thư mục vụ ca ngợi tinh thần phục tùng và thống nhất của các nhà truyền giáo, đồng thời đã liệt kê "Tám điều được phép" để dễ dàng thực hành mục vụ. "8 điều được phép này" đã được ban hành ngày 4.11.1721, nới rộng những điều cấm ngặt của tông huấn "Ex illa die". Tỉ dụ: được lập "bài vị" trên đó chỉ được phép ghi tên người quá cố. Tất cả các lễ nghi trung Hoa đối với tổ tiên nếu không pha trộn mê tín mà chỉ có tính cách "dân sự" (Civil) thì đều được phép tổ chức hay tham dự. Hay là: được phép dùng nến, hương, hoa quả, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với người quá cố... "8 điều được phép này" đã làm sống lại cuộc tranh chấp "lễ nghi" một lần nữa, nhất là sau khi đặc sứ C.A. Mezzabarba đã trở về Âu Châu. Một đàng khác, Dũng Thành kế vị Khang Hy được một năm thì ra chỉ thị trục xuất những nhà truyền giáo trừ những người được mời ở lại. Tình trạng hỗn độn này cuối cùng đã được chấm dứt với Tông huấn "Ex Quo Singulari" do Ðức Benedictus XIV ban hành ngày 11.1.1742. Tông huấn này là tông huấn cuối cùng cấm ngặt "lễ nghi" đối với tổ tiên và rút lại tất cả những điều cho phép trước kia. Ðức Benedictus XIV đã minh định: "không phải xấu vì bị cấm, nhưng bị cấm vì xấu".

3. Bàn Về Việc Tranh Chấp "Lễ Nghi"

Trong quá trình tranh chấp như chúng ta thấy ở trên khó mà phân định được "bị cấm vì xấu" hay "xâu vì bị cấm". Ngay cả khi đã bị cấm nhưng trên thực tế chỉ là tránh né vấn đề hơn là giải quyết vấn đề. Bằng chứng là sau gần 200 năm bị cấm ngặt, ngày 8.12.1939 thánh bộ truyền giáo đã hủy bỏ việc bắt các nhà truyền giáo phải tuyên thệ chối bỏ "lễ nghi" mà tông huấn năm 1742 đã đòi buộc và đồng thời tuyên bố các Kitô hữu và các nhà truyền giáo ở trung Hoa, Việt Nam... đối với việc tôn kính Khổng Tử và tổ tiên cần có một cái nhìn "mới". Cái nhìn mới này sau công đồng Vaticanô II đã trở thành một khía cạnh quan trọng để thành lập một nền thần học bản vị hóa. Như vậy Bản vị hóa không những chỉ được phép mà phải được khuyến khích. Ðứng trên một thái độ mới này nhìn lại lịch sử tranh chấp chúng ta dễ có cái nhìn khách quan hơn.

Trước tiên chúng ta nhận định "mạch sống" của hai phe. Một bên đứng trên quan điểm của người trí thức, của tân nho gia đời Minh, để tìm hiểu ý nghĩa của các nghi lễ. Nếu lễ nghi đối với hổng Tử, tổ tiên thuộc về tôn kính hơn là tôn thờ thì hiển nhiên thuộc về phạm vi luân lý hơn là tôn giáo. Quả thực các nhà trí thức Trung Hoa đã hiểu như thế, vì vậy lập trường của các nhà truyền giáo này đã được Hoàng Ðế Khang Hy chứng thực. Chúng ta thấy hiện nay những "lễ nghi" tưởng niệm Khổng Tử hay các vị tiên đế đã mang một ý nghĩa hoàn toàn "dân sự". Các nhà trí thức Việt Nam như Trần Văn Chương, Hồ Ðắc Diễm, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim v.v... cũng cho những nghi lễ tôn kính ông bà là bày tỏ lòng con cái hiếu thảo đối với tổ tiên, là hành động muốn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên mà thôi. Vì thế cúng bái ông bà tổ tiên theo như tập tục không phải là hành động của "niềm tin", nghĩa là qua đó cắt nghĩa một sự mầu nhiệm liên quan tới sự sống và sự chết, cũng không phải là hành động "phi lý" nhưng là những củ chỉ "tự nhiên" (theo phong tục tập quán của một nền văn hóa) do tấm lòng hiếu thảo thôi thúc. Cũng vì thế những việc dâng hương cúng quả, tiến rượu bày cỗ trước Bài vị không mang một ý nghĩa phụng dưỡng vật chất nào cả. Quan trọng nhất là vì nhớ tới ông bà tổ tiên nên con cái cháu chắt thấy họ có bổn phận phải sống như một người tốt, một tôi trung, một đệ tử thành tín, một người chồng gương mẫu, một người vợ hiền, một người con thảo... để khỏi làm nhơ danh tiền nhân. Ðây là quan niệm tôn kính tổ tiên trong mạch suấng của trueỳn thống nho học đặt nặng trên bổn phận luân lý.

Trong khi đó các nhà truyền giáo khác đứng trên phương diện của giới bình dân coi việc tôn kính ông bà tổ tiên là một lễ nghi tôn giáo, vì vậy họ nghĩ rằng cho phép cử hành những nghi thức này tức là hỗn hợp các tôn giáo, làm tha hóa, làm tha hóa Kitô giáo và làm hoang mang lòng các tín hữu. Do đó, họ xin tòa thánh qui định rõ ràng để dễ thực hành mục vụ. Ở đây ngôn ngữ là vấn đề then chốt. Nhưng để giải quyết nạn ngôn ngữ thiếu minh bạch mà cấm dùng ngôn ngữ đó thì không phải là giải pháp thỏa đáng, vì nếu không dùng chữ "Thiên" để giải thích "Thiên Chúa" thì khi dùng chữ "Thiên Chúa" người địa phương cũng không thể hiểu khác hơn mạch sống văn hóa của họ được. Cũng vậy, gọi Khổng Tử là "Thần nhân" thì ý nghĩa của chữ "Thần" này không thể hiểu theo một mạch văn hóa khác được (tỉ dụ như thánh nhân theo nghĩa hẹp của Giáo Hội Công Giáo). Cũng thế, những hạn ngữ như "Altare", "Sacrificium", genuflectio, templum... là những từ ngữ tùy theo nền văn hóa Âu Châu hay Trung Hoa, Việt Nam mà mang một ý nghĩa khác nhau. Nếu dùng cái nhìn của nền văn hóa Âu châu phán đoán những hiện trạng của nền văn hóa Á Châu tức là đã tách những dự kiện, hình ảnh tượng trưng ra khỏi mạch sống văn hóa. Nếu hai nền văn hóa đó quá khác nhau và chưa hiểu nhau được, thì làm sao tránh khỏi được những ngộ nhận. Nếu quyền phán quyết dành cho một phía khi chưa thấu triệt vấn đề thì phán đoán đó làm sao tránh khỏi những thiên kiến?

Tóm lại, cuộc tranh chấp "lễ nghi" nói lên những khó khăn mà một thần học bản vị hóa trong một môi trường cụ thể đã gặp phải và dần dần vượt qua. Cuộc tranh chấp trên không những chỉ bộc lộ hai phe đứng trên hai phạm vi khác nhau để nhìn một vấn đề mà cũng đứng trong những giai đoạn tiến tới thần học bản vị hóa khác nhau, nên gặp nhau trong đối thoại. Sự tranh chấp lễ nghi trở thành một thảm kịch trong lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông, vì giải quyết sự tranh chấp đã không nằm trong mạch sống đó, nhưng ở ngoài và ở trên mạch sống văn hóa, nên không thấu đáo được những nhu cầu sống của giáo hội địa phương.

Như vậy, đề cập tới vấn đề "Ông Bà Tổ Tiên" có liên quan tới việc truyền giáo tức là phản tỉnh một nền thần học bản vị hóa. Bản vị hóa không có nghĩa là chỉ hội nhập và chấp nhận những gì có sẵn trong nền văn hóa đó, nhưng đồng thời cũng thăng hóa những giá trị đó. Vậy theo đó ý nghĩa của lễ nghi đối với ông bà tổ tiên là gì? Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ tiên là cách bày tỏ lòng hiếu đễ, tức là thực thi một bổn phận luân lý, thì chưa chứng minh lý do tại sao con người đòi buộc phải thực hành luân lý như vậy. Nếu ta coi sự đòi buộc đó là một sự tự minh (self-evident) thì hoặc là rơi vào chủ nghĩa độc đoán (dogmatism) hoặc chủ trương thuyết "vô tri thức" (agnosticsm) như khuynh hướng của một số nhà nho tân thời ở Ðài Loan hiện nay. Cả hai khả thể trên chỉ là né tránh vấn đề mà không giúp chúng ta hiểu tại sao con người phải thi hành bổn phận luân lý với tổ tiên. THực ra khi những nhà truyền giáo dòng Tên chủ trương coi lễ nghi tôn kính ông bà thuộc phạm vi luân lý, họ tin rằng một khi đã tìm ra ý nghĩa nguyên ủy và chính yếu của lễ nghi này, họ có thể giáo dục quần chúng gọi bỏ những mê tín mọc rườm rà bên ngoài và cuối cùng có thể biến hóa những bổn phận luân lý đó cho họp với niềm tin Kitô giáo. Như vậy, mặc dù học nhấn mạnh "lễ nghi" này thuộc phạm vi luân lý, nhưng ngầm xác định cn bản của luân lý không thể tách rời khỏi niềm tin tôn giáo được. Mối liên hệ giữa luân lý và tôn giáo này có thể dùng tư tưởng sẵn có trong kinh điển Trung Hoa như niềm tin "Thiên nhân tương dữ" và "vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ" để giải thích. Theo đó tôn kính ông bà không thể độc lập với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc kính Thiên được, vì con người cũng là thành phần của vạn vật mà nguyên ủy của vạn vật là Thiên. Hiểu như thế, việc tôn kính ông bà tổ tiên không những không phản với đạo Công Giáo mà còn bộc lộ được tính cách đặc biệt đông phương, đạo hiếu của người Việt, đồng thời qua việc đưa hành động tôn kính này hòa hợp với tinh thần Kitô giáo, chúng ta vừa thăng hóa vừa qui tụ những giá trị luân lý và những hình thức bày tỏ trên về cội gốc của muôn loài: chúng ta hiếu thảo cha mẹ vì Chúa là Cha chúng ta đã dậy như thế. Nói cách khác, một khi việc tôn thờ "Trời". "Thượng Ðế"... những danh từ chỉ Thiên Chúa ẩn hình (Deus absconditus) được niềm tin do Ðức Kitô mặc khải soi chiếu, canh cãi và hoàn hảo hóa, thì những hành động có tính cách nhân bản của một nền văn hóa cũng được xác định và thăng hóa theo đúng mức nahn bản của nó.

4. Kết luận

Thảo luận việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ tới việc truyền giáo là dịp may hiếm có để chúng ta suy tư về một khía cạnh của nền thần học bản vị hóa Việt Nam. Trong bài học lịch sử trên chúng ta nhận ra hậu quả của một cuộc tranh chấp lễ nghi mà đã bị tách rời khỏi mạch sống văn hóa và bị phán quyết do những người chưa thấu đáo ý nghĩa của nó. Tấm bi kịch này là một điển hình của bước khó khăn trong cuộc gặp gỡ của hai nền văn hóa cổ truyền, mạnh mẽ nhưng khác nhau, khi hai nền văn hóa đó thiếu uyển chuyển nên ngăn cản việc thăng hóa tới một hợp đề bao gồm một nền nhân bản phong phú hơn. Sau công đồng Vaticanô II việc tích cực tìm hiểu nền văn hóa địa phương, xác định những giá trị nhân bản chân chính của những tôn giáo khác, những luồng tư tưởng khác trở thành một nhu cầu thường nhật của mỗi giáo hội địa phương. Chúng ta nghiên cứu việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ với việc truyền giáo ở Việt Nam, ở Trung Hoa, không phải để nuối tiếc một dịp may đã qua, nhưng quan trọng hơn là tìm thấy những ý nghĩa có liên quan tới cuộc sống đạo hiện tại của chúng ta. Nói cách khác sau khi đã nhận định lòng hiếu thảo là một giá trị nhân bản căn bản của nền văn hóa ảnh hưởng nho học, và ý thức được những lễ nghi tôn kính khác với những mê tín dị đoan, chúng ta tự hỏi, chúng ta có thể thực hiện những hình thức, "lễ nghi" nào để biểu tỏ lòng thành kính, hiếu đễ của chúng ta? Nhưng để những nghi thức đó không rơi vào trạng thái "vụ hình thức" "cố chấp" chiếu lệ. điều quan trọng nhất là tấm lòng người Việt thành kính mà chúng ta có thể gọi là "Tâm Việt". Tâm Việt đối với ông bà tổ tiên là một khía cạnh biểu lộ của Tâm Việt. Khía cạnh này không thể tách rời khỏi lòng thành đối với Thượng Ðế được, nếu không Tâm Việt này sẽ thiếu nguồn sống và trở thành độc đoán. Bởi đó Tâm Việt là nguồn sống của "Việt tính". Dĩ nhiên Tâm Việt này còn có thể biểu lộ theo những cách thế khác tùy theo ta nhìn từ Phật Giáo hay Lão Giáo mà trong bài này chúng ta không có dịp để bàn tới. Có Tâm Việt như vậy chúng ta mới có thể bước thêm một bước nữa là đi tìm một hợp đề của Tâm Việt trong môi trường cụ thể mà chúng ta đang sống ở hải ngoại này. Hợp đề này là một mức độ nhân bản cao hơn vì nó được cải hóa và bổ túc do hai nền văn hóa khác nhau. Tiên chuẩn canh cải và hoàn thiện này không gì khác hơn là một nhân bản thuần túy: Hiện Thân của một mẫu mực Thiên Nhân tương dữ, Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Chúa Nhập Thể.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ông Bà Tổ Tiên

Những điều cần biết về phong thủy trong gia đình bạn –

Ngôi nhà đúng phong thủy sẽ tạo ra nguồn năng lượng cân bằng, dồi dào, cảm thấy thoải mái, vui tươi và đầy sức sống, thậm chí cuộc sống bạn sẽ sung túc hơn. Nhiều người giải trí các vật dụng trong nhà theo cảm tính. Tuy nhiên, nếu biết cách sắp xếp c

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngôi nhà đúng phong thủy sẽ tạo ra nguồn năng lượng cân bằng, dồi dào, cảm thấy thoải mái, vui tươi và đầy sức sống, thậm chí cuộc sống bạn sẽ sung túc hơn.

diendanbaclieu-50569-ngay-gia-dinh-viet-nam

Nhiều người giải trí các vật dụng trong nhà theo cảm tính. Tuy nhiên, nếu biết cách sắp xếp chúng theo phong thủy, bạn sẽ tạo ra nguồn năng lượng cân bằng, dồi dào. Chúng sẽ khiến bạn cảm thấy thoải mái, vui tươi và đầy sức sống, thậm chí cuộc sống bạn sẽ sung túc hơn.

Phòng khách:
Phòng khách là nơi quan trọng nhất vì đây là “bộ mặt” của gia đình, là nơi đón khách, cả nhà họp mặt… Do đó, cần tạo không gian cân bằng và thoải mái nhất cho phòng này.
1. Phòng khách đẹp nhất là hình hộp chữ nhật. Nếu phòng của bạn không phải hình chữ nhật, bạn có thể giảm năng lượng xấu bằng cây xanh, gương, vách ngăn phòng hoặc một đài phun nước nhỏ.
2. Bàn ghế sử dụng trong khách tốt nhất là có cạnh tròn. Đặc biệt chú ý không nên để góc nhọn của các vật dụng trong phòng khách chĩa vào phòng ngủ.
3. Không nên xếp các ghế ngồi đều hướng vào màn hình ti-vi, vì điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang “khai tử” cuộc họp mặt gia đình.
4. Nên đặt dàn máy nghe nhạc càng xa chỗ ngồi càng tốt để tránh tác hại của bức xạ điện từ.
5. Nên sắp xếp phòng khách tách biệt khỏi nhà bếp và phòng ăn.
6. Tranh ảnh trong phòng phản ánh và ảnh hưởng đến nội tâm của cả nhà. Không nên treo ảnh kinh dị và các vật sắc nhọn. Bầu không khí phòng khách sẽ tích cực hơn nếu bạn treo tranh ảnh về hoa cỏ, cầu vồng với màu sắc tươi tắn, trang nhã.

Hành Lang:

Lối dẫn luồng không khí vào căn nhà và vào từng phòng, nên bạn cần chú ý những yêu cầu sau:
1. Hành lang cần sạch sẽ, thông thoáng, đủ ánh sáng, một hành lang hẹp, tối, bừa bộn, sẽ gây ức chế tinh thần những người sống trong nhà, gây tâm trạng chán chường, thất vọng, bệnh tật…
2. Nếu hành lang là một đường thẳng kéo dài từ cửa trước ra cửa sau hoặc cửa sổ, không khí sẽ nhanh chóng bị hút ra ngoài. Bạn nên đóng cửa sau lại hoặc để những chậu cây nhỏ trên bệ cửa sổ.
3. Nếu cửa chính của căn nhà dẫn thẳng tới cầu thang, khí sẽ không luân chuyển trong nhà. Vì vậy, nên che tầm nhìn bằng một chậu cảnh, kệ sách hay món đồ nào đó. Thậm chí, bạn có thể dùng tấm thảm chùi chân hình tròn hoặc chùm đèn pha lê treo trên trần. Nếu thích, bạn có thể dùng một chuông gió phát ra âm thanh mỗi khi mở cửa để làm giảm tốc độ thoát khí.
4. Cầu thang dốc sẽ làm thoát khí rất nhanh nhưng cầu thang xoắn lại có ý nghĩa không tốt trong phong thủy. Để cải thiện, bạn có thể quấn dây lụa màu xanh lục quanh cầu thang và để đèn chiếu sáng từ trên xuống dưới.
5. Cầu thang có các bậc hở sẽ làm khí tiêu tán hết, do đó hãy đặt một chậu cây nhỏ (thật hoặc giả), tượng trưng cho hành Mộc để giữ luồng khí lại.

Cửa ra vào và cửa sổ
Cửa ra vào tượng trưng cho sự tự do và sự tiếp cận của bạn với môi trường bên ngoài. Cửa sổ là “con mắt” của bạn để quan sát thế giới. Cửa ra và vào cửa sổ đều rất quan trọng trong phong thủy.
1. Nhà bạn nên có cửa chính và cửa hậu để không khí bị dồn nén trong nhà, gây áp lực cho các thành viên.
2. Nếu các cửa nằm đối diện nhau, bạn nên để một vật cản để làm chậm luồng khí như bàn, kệ sách…
3. Nếu nhà bạn có từ ba cửa nằm thẳng hàng, tốc độ lưu thông của không khí tăng lên rất nhiều. Để hạn chế, bạn hãy treo những chiếc đèn xuống thấp hoặc đặt chiếc bàn hình bán nguyệt.
4. Nếu các cửa không thẳng hàng, bạn có thể treo thêm gương hoặc tranh ảnh ở mỗi phía để tạo thế cân bằng.
5. Không nên trổ quá nhiều cửa sổ trong phòng ăn vì cần để khí tụ quanh bàn ăn và thức ăn chuẩn bị cho gia đình.
6. Điểm cao nhất của cửa sổ phải ngang tầm với của người cao nhất trong nhà.
7. Không nên để màn cửa sổ buông rủ vì sẽ làm giảm lượng khí trong phòng một cách đáng kể. Bạn có nguy cơ bị trầm uất hoặc dễ tổn thương.

Phòng ngủ
Phòng ngủ của bạn cần những cảm giác yên tĩnh, tĩnh lặng, tránh xa mọi căng thẳng, náo nhiệt ở thế giới bên ngoài. Bạn phải sắp xếp phòng ngủ như thế nào để có giấc ngủ ngon?
1. Nơi kê giường tốt nhất là chéo góc từ cửa trở vào, không nên đặt giường mà khi nằm, chân bạn hướng ra cửa.
2. Phòng ngủ nên có cửa đóng kín và hoàn toàn không thông với bên ngoài nhằm tạo một không gian tuyệt đối yên tĩnh.
3. Giường kê đủ cao để khí và hoàn toàn không thông bên dưới. Không lưu trữ bất cứ thứ gì dưới gầm giường để nguồn năng lượng luân chuyển dễ dàng hơn.
4. Để tăng cường sự gắn kết trong mối quan hệ vợ chồng, cần đặt giường sao cho có sự cân bằng ở không gian hai bên giường. Nếu một bên giường kê sát tường, có thể gây bất hòa giữa vợ chồng.
5. Không nên để bàn làm việc trong phòng ngủ vì nó sẽ tạo nguồn năng lượng bất cân bằng.
6. Không nên đặt gương soi ở nơi có thể phản chiếu hình ảnh của bạn khi đang nằm trên giường. Điều này không tốt cho sự tĩnh tâm lẫn năng lượng của bạn.
7. Không đặt thiết bị điện tử trong phòng ngủ để tránh tác hại của sóng điện từ.
8. Giường nên được làm bằng các vật liệu tự nhiên như gỗ hoặc tre. Giường nước không được khuyên dùng vì chúng xung khắc với hành Hỏa của các nguồn sưởi ấm và làm bạn không ngon giấc.
9. Hình ảnh trong phòng ngủ nên có đôi. Hình của cha mẹ, con cái, bạn không nên đặt trong phòng của vợ chồng.

Phòng ngủ của bé
1. Phía Đông của căn nhà là địa điểm tuyệt vời để làm phòng cho trẻ. Nên là phần tích cực, tươi sáng của căn nhà. Nó khuyến khích sự phát triển tâm và trí tưởng tượng của trẻ.
2. Không nên đặt đồ vật có năng lượng cao trong phòng ngủ của trẻ như truyền hình, máy vi tính…
3. Không nên dùng loại giường tầng vì chúng sẽ ép khí lên trẻ nằm trên cao, gần với trần và trẻ nằm dưới thường là những đứa đứng ngồi không yên. Nếu bạn có hai con, xếp hai chiếc giường song song là lý tưởng nhất.
4. Hãy cố gắng tránh những đồ nội thất lớn và cồng kềnh, luôn giữ cho phòng trẻ gọn gàng.

Phòng tắm
Nhiều người không biết rằng phòng tắm tuy nhỏ bé nhưng cũng thể hiện tiền tài, sự thịnh vượng. Nếu bạn muốn kinh tế gia đình khá hơn, hãy chú ý hơn trong cách bài trí phòng tắm.
1. Nhà vệ sinh nên xây ở vị trí khuất tầm nhìn, có thể dựng thêm một bức tường nhỏ che bớt. Cửa nhà vệ sinh luôn đóng kín vừa nắp bồn cầu luôn đóng lại.
2. Phòng tắm phải có cửa sổ và thông khí. Nếu không, bạn hãy đặt một vật trang trí chứa dầu thơm và quạt hút.
3. Trong phòng tắm nên có vòi nước, bình phun, vòi tắm hoa sen phun nước theo nhiều hướng khác nhau. Điều này sẽ mang lại sự giàu có, dồi dào.
4. Gương trong phòng được đặt sao cho nước trong vòi cũng phản chiếu vào gương. Không đặt gương ở vị trí có thể phản chiếu toilet.

Phòng ăn
Phòng ăn là nơi mọi người thưởng thức các món ngon, là trung tâm thể hiện sự giàu có của mỗi gia đình.
1. Bạn nên để một chiếc gương phản chiếu thức ăn trên bàn để tăng gấp đôi số lượng thức ăn. Như thế, tài chính của gia đình bạn sẽ dồi dào và vững chắc hơn.
2. Tranh ảnh thích hợp với phòng ăn là phong cảnh mát mẻ, trái cây hoặc về bữa ăn thịnh soạn. Nên tránh treo tranh ảnh về ăn bắt, bạo lực.
3. Ghế ngồi nên có chỗ dựa. Tránh vị trí ngồi quay lưng với cửa chính và cửa sổ.

Nhà bếp
Nhà bếp thường là nơi “hỗn tạp” nhất. Bạn có xu hướng cất vào nhà bếp những thứ sẽ sử dụng vào một ngày nào đó. Tuy nhiên, hãy luôn sắp xếp mọi thứ trong nhà bếp thật gọn gàng, sạch sẽ để dòng chảy năng lượng không bị chặn lại ở một vật cản nào đó, kể cả kệ để giày dép.
1. Bếp là nơi nguồn năng lượng luôn tồn tại nên bạn hãy dành cho bếp một vị trú tốt nhất ở nhà bếp. Bếp lửa càng sạch và sử dụng thường xuyên, khả năng tạo ra của cải càng dồi dào.
2. Khi nấu ăn, người đầu bếp phải nhìn thấy cửa ra vào. Nếu bếp không thể di chuyển, bạn có thể đặt thêm một chiếc gương soi phía trên.
3. Nếu cửa bếp trổ thẳng ra cửa chính, khí trong bếp sẽ ra ngoài. Bạn nên đặt chiếc tủ lạnh hoặc kệ cao bên cửa bếp để cản bớt luồng không khí.

Gương
Chiếc gương là yếu tố quan trọng trong phong thủy. Nếu trong nhà bạn có những chỗ tối hoặc khiếm khuyết về năng lượng, bạn có thể đặt một chiếc gương để cải thiện không khí ở những vị trí này.
1. Gương chỉ nên phản chiếu những hình ảnh tươi vui, đẹp đẽ để mang lại cảm giác thoải mái, dễ chịu.
2. Bạn nên lưu ý không bao giờ để gương phản chiếu biến dạng hoặc cắt lẹm hình ảnh của một người nào đó vì như thế sẽ bóp méo hoặc cắt đứt luồng nguyên khí của họ.
3. Không nên treo gương soi đối diện cửa chính hay cửa sổ.
4.Tuyệt đối không nên để các gương đối diện nhau vì sẽ gây cho bạn cảm giác bồn chồn, bất an.
5. Ở những góc tối hoặc góc cua nên gắn thêm gương, tạo điều kiện cho không khí lưu thông ở khu vực này.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều cần biết về phong thủy trong gia đình bạn –

Bảng tra cứu 10 thần

Việc tìm ra 10 thần trên cơ sở thiên can của trụ ngày (nhật chủ) là điều rất quan trọng để dự đoán là tổ hợp tứ trụ tốt hay xấu. Bạn có thể căn cứ vào can ngày
Bảng tra cứu 10 thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Việc tìm ra 10 thần trên cơ sở thiên can của trụ ngày (nhật chủ) là điều rất quan trọng để dự đoán là tổ hợp tứ trụ tốt hay xấu. Bạn có thể căn cứ vào can ngày sinh của mình sau đó đối chiếu với các can của trụ năm, trụ tháng và trụ giờ để tìm ra 10 thần.

 

 

Giáp

 

Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Giáp Ngang
 vai
Kiếp
 tài
Thực
 thần
Thương
 quan
Thiên
 tài
Chính
 tài
Thất
 sát
Chính
quan
Thiên
 ấn
Chính
 ấn
Ất Kiếp tài Ngang
vai
Thương
 quan
Thực
 thần
Chính
 tài
Thiên
 tài
Chính
 quan
Thất
 sát
Chính
 ấn
Thiên
 ấn
Bính Thiên ấn Chính
 ấn
Ngang
 vai
Kiếp
 tài
Thực
 thần
Thương
 quan
Thiên
 tài
Chính
 tài
Thất
 sát
Chính quan
Đinh Chính ấn Thiên
 ấn
Kiếp
 tài
Ngang
 vai
Thương quan Thực
 thần
Chính
 tài
Thiên
 tài
Chính quan Thất
 sát
Mậu Thất sát Chính
 quan
Thiên
 ấn
Chính
 ấn
Ngang
 vai
Kiếp
 tài
Thực
 thần
Thương
 quan
Thiên
 tài
Chính
 tài
Kỷ Chính quan Thất
sát
Chính
 ấn
Thiên
 ấn
Kiếp
 tài
Ngang
 vai
Thương
 quan
Thực
 thần
Chính
 tài
Thiên
 tài
Canh Thiên tài Chính
 tài
Thất
sát
Chính
 quan
Thiên
 ấn
Chính
 ấn
Ngang
 vai
Kiếp
 tài
Thực
thần
Thương quan
Tân Chính tài Thiên
 tài
Chính quan Thất
 sát
Chính
 ấn
Thiên
 ấn
Kiếp
 tài
Ngang
 vai
Thương
 quan
Thực
 thần
Nhâm Thực thần Thương
 quan
Thiên
 tài
Chính
 tài
Thất
 sát
Chính
 quan
Thiên
 ấn
Chính
 ấn
Ngang
 vai
Kiếp
 tài
Quý Thương quan Thực
thần
Chính
 tài
Thiên
 tài
Chính
 quan
Thất
sát
Chính
 ấn
Thiên
 ấn
Kiếp
 tài
Ngang
 vai

(Theo Dự đoán tứ trụ)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng tra cứu 10 thần

Phong thủy cho màu sắc cho văn phòng

Theo các chuyên gia tâm lý, màu sắc và tâm lý có mối quan hệ vô cùng mật thiết. Căn cứ vào đó, muốn tạo ra môi trường làm việc hiệu quả thì phải biết cách
Phong thủy cho màu sắc cho văn phòng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

thiết kế, trang trí màu sắc cho phù hợp.

Màu sắc phòng ảnh hưởng đến chất lượng công việc

Căn cứ vào tính chất công việc

Nếu nhân viên làm việc thiên về lĩnh vực nghiên cứu khoa học hoặc các công việc đòi hỏi sự cẩn thận, tỉ mỉ thì nên dùng màu xanh nhạt.

Nếu nhân viên hoạt động ở các lĩnh vực sáng tạo, thiết kế thì nên trang trí phòng bằng gam màu sáng, sinh động.

Căn cứ vào diện tích văn phòng

Những văn phòng làm việc kiểu cũ có diện tích không lớn nhưng phòng thường rất cao nên dễ nảy sinh cảm giác trống trải. Trong khi đó, phòng làm việc kiểu mới thì diện tích lớn nhưng lại thấp và có nhiều người. Do vậy, không gian chật hẹp gây cảm giác ức chế. Để điều tiết cảm giác khó chịu đó, việc lựa chọn màu sắc là 1 giải pháp thông minh.

Đối với văn phòng kiểu cũ đều sử dụng những bức tường gỗ với tông màu đậm. Đây là màu sắc chấn áp tinh thần. Vì vậy, tường nhà nên dùng gam màu sáng kết hợp màu đậm cho nền nhà. Như vậy tránh được tình trạng “đầu nặng chân nhẹ” và mang lại không gian làm việc thoải mái cho nhân viên.

Đối với văn phòng làm việc hiện đại, màu xám giữ vai trò chủ đạo, tạo cảm giác rộng rãi, thoáng mát. Những bức tường màu xanh lá cây hay xanh da trời nhạt đều rất thích hợp.

Lưu ý, tránh sử dụng màu vàng nơi làm việc vì dễ gây cảm giác buồn ngủ. Mặt khác, khi có bụi bẩn thì càng lộ rõ.

Căn cứ vào mức độ ánh sáng

Văn phòng có đầy đủ ánh sáng tự nhiên là điều kiện lý tưởng. Nguồn ánh sáng này luôn mang lại cho người làm việc sự  vui vẻ, sảng khoái. Với những nơi không có đủ ánh sáng tự nhiên, phòng luôn ẩm thấp, lạnh lẽo.

Để không gian phòng ấm hơn nên sơn tường bằng màu hồng. Ngoài ra, có thể sử dụng màu sắc có chức năng phản quang để không gây ảnh hưởng đến thị lực của nhân viên. Như thế sẽ đảm bảo hiệu quả công việc.

Căn cứ vào môi trường làm việc

Ở nhiều công ty, phòng họp và phòng làm việc có mô hình khá giống nhau. Một số phòng họp được thiết kế giống như phòng lãnh đạo. Điều này tạo cho nhân viên và cấp lãnh đạo cảm giác thân thiện, gần gũi. Từ đó, mọi người tham gia cuộc họp đều cảm thấy bình đẳng, đóng góp ý kiến nhiệt tình.

(Theo Phong thủy văn phòng làm việc nơi công sở)

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho màu sắc cho văn phòng

3 phương vị giúp sự nghiệp "một bước lên mây"

3 phương vị thúc đẩy sự nghiệp dưới đây sẽ giúp bạn vững vàng và thăng tiến tốt hơn trong công việc đấy. Bố trí hợp lý 3 phương này là bạn đã “một bước lên
3 phương vị giúp sự nghiệp "một bước lên mây"

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

mây” rồi đấy!


3 phuong vi giup su nghiep mot buoc len may hinh anh
 
Năm 2015, Cửu cung Phi tinh bay tới Đông Bắc, chính Nam, Tây Bắc, biến 3 phương vị này trở thành hướng cát lợi đối với sự nghiệp.

1. Hướng Đông Bắc vượng tài

 
Đặt văn phòng hướng Đông Bắc là bí quyết phong thủy thúc đẩy sự nghiệp đầu tiên mà bạn có thể dễ dàng áp dụng. Nơi đây ngũ hành thuộc Thổ, hội đủ 8 bạch tinh chủ quản tiền tài, là cát vị, có lợi cho việc chiêu tài.

Nếu làm các việc liên quan đến tài chính, ngân hàng, bán hàng thì nên đặt văn phòng ở vị trí này. Tuyệt đối không đặt thùng rác, tập phẩm, hoặc để đồ đạc bừa bộn ở đây, nếu không Tài thần sẽ đi mất.
 
2. Hướng chính Nam nhiều niềm vui
 
Hướng chính Nam ngũ hành thuộc Hỏa, chủ có việc vui mừng, vận thế tăng lên. Phương vị may mắn này cần phải giữ gìn sạch sẽ để phát huy điểm cát lợi của nó.

Nên đặt chậu cây xanh tốt hoặc loài hoa màu đỏ tại phương vị Nam để tăng thêm may mắn, hanh thông cho công việc. Kị đặt bể cá hoặc cây tàn hoa héo, sẽ chèn ép không khí vui mừng.
 
3. Hướng Tây Bắc lợi nhân
 
Nếu muốn gia tăng tình cảm đồng nghiệp, thúc đẩy quan hệ hợp tác, tăng cường mối liên kết với nhân viên hoặc cầu quý nhân trợ giúp trong công việc thì không thể bỏ qua phương Đông – phương vị thúc đẩy sự nghiệp.
 
Ở phương vị này trong văn phòng trang trí đồ vật màu vàng hoặc màu đồng là hợp phong thủy. Nên lựa chọn vị trí này để đặt phòng tiếp khách, chỗ giao lưu, hoặc phòng nghỉ ngơi của nhân viên. Màu đỏ là màu cấm kị ở vị trí này.
► Xem bói theo khoa học tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình

Trần Hồng (Theo d1xz)
   
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 phương vị giúp sự nghiệp "một bước lên mây"

Các ngày kỵ nhập trạch, cưới hỏi –

  Tân Mão Mậu Thìn Kỷ Tị Mậu Tý Mậu Dần Mậu Tuất Nhâm Tuất Mậu Ngọ Nhâm Ngọ Kỷ Dậu Kỷ Sửu Tân Sửu Quý Tị Kỷ Hợi Tân Ti Mậu Thân.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

  1. 16nghile10iTân Mão
  2. Mậu Thìn
  3. Kỷ Tị
  4. Mậu Tý
  5. Mậu Dần
  6. Mậu Tuất
  7. Nhâm Tuất
  8. Mậu Ngọ
  9. Nhâm Ngọ
  10. Kỷ Dậu
  11. Kỷ Sửu
  12. Tân Sửu
  13. Quý Tị
  14. Kỷ Hợi
  15. Tân Ti
  16. Mậu Thân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các ngày kỵ nhập trạch, cưới hỏi –

Luận về Tả Phù Hữu Bật

Tiền nhân khi luận mệnh bảo số trai cần Tả Phụ, số gái cần Hữu Bật. Điều này không đúng. Tả Hữu là hai sao đi cặp thường phải đủ cả hai thì mới hoàn hảo dù rằng mỗi sao có một đặc tính riêng biệt. Tả và Hữu đều an qua tháng sinh.
Luận về Tả Phù Hữu Bật

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tả Phụ thuộc dương thổ, hóa khí là “hỉ”. Thổ của Tả Phụ là Thìn thổ hay đông phương thổ, đất màu mỡ, xốp cho nên tính tình đôn hậu, ẩn trọng, phân minh rộng rãi, nhưng cũng có mưu lược. Thìn cung là thủy khố nên thổ lúc nào cũng nhuận thuần, nên tài hoa mà không bừa bãi.

Tả Phụ ẩn trọng không hợp với thương trường xông xáo. Khởi nghiệp không giỏi bằng giữ nghiệp. Tả Phụ giao thiệp dễ được lòng người bởi thái độ khoan dung, ăn nói trầm ấm. Bởi vậy Tả Phụ rất sợ bị sát tinh xung phá.

Tả Phụ đứng với Liêm Trinh là phá cách thường gặp quan tụng bất chợt, thêm Kình Dương càng rắc rối. Tả Phụ không hợp với Cự Môn và Phá Quân, vì Cự Môn chủ thị phi còn Phá Quân chủ bạo loạn. Gặp Phá Quân Kình Dương sẽ theo con đường phản loạn như cổ nhân nói: “Phá Kình Tả Hữu chớ ngờ. Gặp thời biến động ắt là loạn quân”. Gặp Cự Môn thì thành nhiễu sự. Gặp Kình Dương trở nên xung động kém sáng suốt, dễ bị lợi dụng.

Hữu Bật thuộc âm thủy giữ chế lệnh chủ về thiện. Hữu Bật khởi từ cung Tuất vì Tuất ở Tây Bắc phương vào buổi thu, thời tiết thâu liễm, Hữu Bật chấp hành trách nhiệm thâu liễm ấy nên mới nói là giữ thế lệnh. Khi đã bảo là chế lệnh tất phải ép buộc . Tuất là hỏa khố, Hữu Bật loại thuộc thủy, thủy hỏa giao chiến không dung hòa dễ dàng. Cho nên tính tình Hữu Bật nóng nảy, kiên cường, ưa can thiệp khác với Tả Phụ vốn ẩn trọng. Nhưng khi có cả Tả lẫn Hữu thì tùy theo sao chủ, Tả Hữu sẽ biến đổi bản chất để thi thố.


Trên khả năng thì Tả với Hữu giống nhau. Ở điểm này Tả Phụ lực chủ động mạnh hơn Hữu Bật. Ẩn trọng tất nhiên chủ động hơn nóng nảy. Tả Hữu là hai sao phò tá cần phải dựa vào chủ tinh để hành động.


Tiền nhân coi Tả Hữu là hai quan lộc tinh, Tả Phụ chính, Hữu Bật phó. Tả Phụ tiến thân theo đường chính, Hữu Bật theo dị lộ. Trung Châu phái bên Trung Quốc đưa ra lập luận: Tả Phụ chủ về sang quí, trong khi đó Hữu Bật chủ về giàu có.

Đẩu Số Toàn Thư viết: “Tả Hữu đồng cung, phi la y tử” (Mệnh có Tả Hữu đứng cùng áo tía lọng vàng) câu trên rõ ràng về hình ảnh công danh. Vấn đề áo tía lọng vàng không phải chỉ Tả Hữu đồng cung mà thành, còn tùy thuộc vào đồng cung với sao chủ nào? Và có bị hung sát tinh đánh phá hay không? Các câu phú khác như: “Tả Hữu đồng cung thân vô hoạnh lự”. Tả Phụ Hữu Bật chung thân phúc hậu, cùng một qui luật cũng phải xem xét như trên.

Sự phối trí của Tả Hữu đẹp nhất là vào các cung: Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc. Nếu các chủ tinh ưu tú thì cuộc đời hanh thông với địa vị, với phú quí. Hay nhất Tả Hữu đứng cùng hoặc hiệp hội với Tử Vi Phá Quân, nếu không bị xung hung sát phá thường là người sáng tạo sự nghiệp

Trường hợp vừa Tả Hữu, vừa Xương Khúc hội tụ lại càng cần có chủ tinh của Mệnh cung hợp cách mới tốt. Chủ tinh xấu thì cuộc đời thăng trầm, mà số nữ biến ra thành hồng nhan mệnh bạc.

Trường hợp Tả Hữu gặp Khôi Việt vẫn tiếp tục xem chủ tinh tại mệnh thế nào? Nếu hợp cách thì chỉ sang quí địa vị thôi, không giàu có. Ta thấy Tả Hữu hội hợp với Khôi Việt tốt hơn hội hợp với Xương Khúc.

Tả Hữu hội hiệp một đứng ở Tài Bạch và một đứng ở Quan Lộc chiếu về Mệnh tốt hơn đồng cung tại Mệnh vì đồng cung vất vả hơn hội hiệp. Đồng cung phải tự mình, hội hiệp thì được người giúp và hoàn cảnh đỡ nâng.


Tả Hữu từ cung Tài Bạch gặp Hóa Lộc giàu có. Tả Hữu từ cung Quan Lộc gặp Quyền Khoa sang quí. Vẫn tiếp tục theo qui luật tùy thuộc vào chủ tinh


Trường hợp Mệnh không chính tinh chỉ có Tả Phụ Hữu Bật thủ mà nhìn sang cung Phụ Mẫu thấy Hỏa Linh qua kinh nghiệm thường là con nuôi hay con của dòng thứ nhất hoặc có cha kế, mẹ kế.


Phu Thê cung mà chỉ thấy có một Tả Phụ hay một Hữu Bật thôi kể như xấu, hay đưa đến cuộc duyên tay ba. “Hữu Bật hội Phu cung, vi nhân hữu tiền tình chi phận” (Hữu Bật đóng cung Phu hoặc mình có chồng trước, hoặc chồng có vợ trước). Nếu cung Phu Thê có Cự Môn và Cự Môn Hóa Kị tình hình duyên phận càng nghiêm trọng cho sự băng hoại hơn nữa.


Tả Hữu rất không ưa Linh Hỏa. Mệnh cung hoặc Phu cung mà thấy Tả Hữu Linh Hỏa dễ làm thứ, làm lẽ mọn. Tuy nhiên vẫn còn cần tham khảo chủ tinh trước đã.
Trường hợp Tả Hữu một ở Mệnh, một ở Phu Thê cung thấy cả Sát Kị thì bất luận nam hay nữ đều vài bận kết hôn. Nếu có thêm Đào Hoa thì đưa tới ngoại tình. Có câu phú rằng: Sao Tả Hữu đồng cung, gặp gỡ Mệnh Đào Hoa trước dở sau hay, ý nói hai bận lấy chồng. Tuy nhiên nguyên nhân tan vỡ thường là một vụ ngoại tình do chồng hay vợ.

Trường hợp Tả Hữu một vào Mệnh cung, một vào Phúc Đức cung, hôn nhân không suôn sẻ do bị ép uổng, hoặc vợ hay chồng đau ốm triền miên, ta vẫn thường gọi là “bạc phước” vậy. Trường hợp này tính hay hay dở của chủ tinh vẫn giữ vai trò quan trọng cho luận đoán.

Với số nữ Tả Hữu không nên đứng cùng với Tham Lang Phá Quân Thất Sát dù ba sao này đắc địa, vì như thế tình cảm không chuyên nhất. Về câu phú: “Tả Hữu Xương Khúc ngộ Kình Dương Đà đương sinh dị chí” (Tả Hữu Xương Khúc gặp Dương Đà có nốt ruồi lạ). Điều này qua kinh nghiệm không mấy chính xác. Đôi khi “dị chí” là cái bớt chứ chẳng phải nốt ruồi

 Những câu phú cần biết về Tả Phụ Hữu Bật:
- Hữu Bật phùng Quả Tú tất dã trường sinh
Tả Phụ phùng cát tinh bất vi yểu chiết
(Sao Hữu Bật hội Quả Tú ở Mệnh thì sống thọ)

- Phụ Bật phùng Thiên Tướng đích thị lương y
(Thiên Tướng gặp Tả Hữu làm nghề thầy thuốc giỏi)

- Tả Hữu đơn thủ, chiếu Mệnh ly tông thứ xuất
(Một sao Tả hay Hữu ở Mệnh hay chiếu Mệnh vô chính diệu thì là con bà thứ và phải xa rời quê quán)

- Tả Hữu Trinh Dương tao hình lục
(Liêm Trinh hội Tả Hữu Kình Dương hay vướng vào tù tội)

- Hữu Bật Thiên Tướng phúc lai lâm
(Thiên Tướng tại Mệnh được Hữu Bật thường gặp may mắn)

- Phụ Bật ái nhập mộ cung, nhược phùng đế tượng, văn đoàn, võ cách hoạnh phát tài danh
(Tả Hữu đóng Thìn Tuất Sửu Mùi gặp Tử Vi hay Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Sát Phá Tham có cơ hoạnh phát công danh tài lộc)

- Tả, Phủ đồng cung tôn cung vạn thừa
(Tả Phụ đứng cùng Thiên Phủ là người có chức vị cao)

- Tả Hữu Tài Quan kiêm hiệp củng, y lộc phong doanh
(Tả Hữu hội hiệp ở Tài, Quan tiền tài sung túc)

- Phụ Bật giáp Đế phúc lai lâm
(Tả Hữu giáp Mệnh cung có Tử Vi thì vinh hiển)

- Phụ Bật vị Phu cung vi nhân hữu tiền tình chi phận
(Hữu Bật đóng Phu làm vợ bé)

- Tả Hữu tại Phu cung, vô môi tự giá
(Phu cung thấy Tả Hữu thì theo trai mà thành chồng vợ)

- Phụ Bật Thiên Phúc đồng viên
Ngôi danh chính viện danh truyền y quan

- Phụ Bật gặp Thái Âm nhàn
Số làm bà đỡ cứu phường sơ sinh

- Mộ phùng Tả Hữu đồng lai
Thăng quan tiến chức miếu đài rạng danh

- Giáp Long giáp Phượng đôi nơi
Tả Hữu Thai Tọa lâu đài thiếu niên

- Tả Hữu đắc vị đồng sang
Ấy là được cách thanh nhàn hiển vinh.

- Cự Cơ hợp Khúc Xương Tả Hữu
Ở Mão cung rạng rỡ công danh

- Lộc Tồn ám tật miên trường
Khúc Xương Tả Hữu tai ương phải phòng
(Nói về Tả Hữu Khúc Xương ở Tật Ách)

- Vũ Tướng Tả Hữu đồng lưu
Nhất hô nhất nặc ai đâu dám bì.
(Nô Bộc có Vũ Tướng Tả Hữu thì tay đàn em đắc lực)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về Tả Phù Hữu Bật

Cách chọn dáng cho bàn ăn –

Khi bàn đến chuyện ăn uống, một chiếc bàn đẹp và có thể dùng được là không thể thiếu. Các nhà phong thủy học cho rằng, bàn ăn kị nhất là có góc ở bốn cạnh. Loại bàn hình chữ nhật của người châu Âu không thích hợp để làm bàn ăn, đặc biệt là những chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

banan

ếc bàn có góc nhọn thì càng không thích hợp. Nếu nhất định phải dùng loại bàn kiểu Âu này thì ít nhất cũng nên chọn loại có bốn góc tròn, như vậy mới mong có được may mắn và tránh khỏi điều đen đủi. Cụ thể, có thể tham khảo các gợi ý dưới đây:

Bàn hình tròn

Bàn hình tròn được coi là lí tưởng và thích hợp nhất để dùng làm bàn ăn cho các gia đình vì hình tròn tượng trưng cho sự đoàn viên, nó làm cho các thành viên trong gia đình trở nên bình đẳng, không có sự phân biệt cao thấp về thân phận.

Quây quần quanh chiếc bàn tròn, cả nhà bạn sẽ có cơ hội gần gũi và hiểu nhau hơn.

Bàn hình chữ nhật

Đa phần được sử dụng bởi các gia đình khá giả hoặc những gia đình có diện tích phòng ăn khiêm tốn. Dù là vì lí do gì thì ở các gia đình sử dụng loại bàn này rất dễ có chiều hướng phân biệt chủ khách. Vị trí của ngưòi đóng vai trò làm chủ trong đình bao giò cũng nổi bật nhất. Xét về phương diện tình cảm, trên một bàn ăn như thế này, rất dễ xảy ra hiện tượng chỉ đạo hoặc đưa ra mệnh lệnh người chủ nhà.

Bàn hình vuông

Rất ít người sử dụng loại bàn này. Ngoài mục ích dùng vào việc ăn cơm, một số ngưòi chọn loại bàn hình vuông chủ yếu là để phục vụ mục địch khác như chơi mạt chược. Ngồi ăn trên một chiếc bàn như vậy dễ tạo ra một sự đối lập hay mâu thuẫn xung đột giữa các thành viên. Không chỉ có thế, những người trong gia đình dễ bị mang quái thai. Hơn thế, bàn hình vuông chỉ cho phép số lượng bốn người ngồi ăn, điều này sẽ gây cảm giác lạnh nhạt, và cô đơn.

Bàn hình thoi

Ở các gia đình dùng bàn ăn hình thoi, thành viên trong gia đình dễ tách ra hoặc chia bè phái và có sự cạnh tranh lẫn nhau. Tốt nhất là không nên dùng, đặc biệt là các gia đình lớn.

Bàn nhiều cạnh hoặc các cạnh không đều nhau

Loại bàn này rất ít gặp. Gia đình nào sử dụng loại bàn này thì bất cứ việc gì cũng sẽ rất bấp bênh, không ổn định, mọi thành viên trong gia đình không đoàn kết, phân tán và đoàn tụ rất thất thường, đặc biệt dễ bị mắc chứng tâm thần phân liệt.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách chọn dáng cho bàn ăn –

Tướng chỉ tay đường đáng kể khác –

Vòng Kim tinh ở giữa hai ngón trỏ và ngón giữa, đôi khi nó chạy sang cả ngón nhẫn. + Vòng Kim tinh - Sao Kim chỉ ra rằng con người giàu cảm xúc và dục tính cao nên nó tràn dài như một đường tâm tính phụ đó là dâu hiệu cuồng dâm ở cả hai phái. + Nếu c
Tướng chỉ tay đường đáng kể khác  –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng chỉ tay đường đáng kể khác –

5 lời phán khủng khiếp của nhà tiên tri Vanga khiến thế giới sợ hãi

Nhà tiên tri lừng danh Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời mình ở vùng làng quê hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Năm lên 12 tuổi, bà Vanga mất đi thị lực sau khi bị cuốn bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vanga làm bạn với bóng tối từ đó và đưa ra lời tiên tri đầu tiên vào năm bà 16 tuổi để tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc.   Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực tới 70%. Trong đó, có 5 tiên đoán nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của bà.   1. Tàu ngầm Krusk   Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: "Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó." Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk. Con tàu ngầm nguyên tử của Nga được đặt tên theo thành phố này đã gặp sự cố  khủng khiếp và mãi mãi chìm dưới đáy đại dương. Cả thế giới đều luyến tiếc và rơi lệ cho những nạn nhân mắc kẹt trong tai nạn này.   2. Sự bùng nổ của chiến tranh   Nhà tiên tri dự đoán trong năm 2008, sẽ diễn ra nhiều cuộc xung đột trong tiểu lục địa Ấn Độ (gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng), trong thế giới của những người Hindu. Sau đó cuộc mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ cố gắng vào bốn người đứng đầu chính phủ sẽ trở thành một trong những nguyên nhân bùng nổ Thế chiến III vào năm 2010.   3. Tiên đoán về vụ khủng bố tháp đôi ngày 11/9/2001   Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy”  dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.   Tháp đôi cũng có nghĩa khác là “sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay - “những con chim sắt” - và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.   4. Sự hồi sinh của nước Nga   Năm 1988 khi tiên tri về nước Nga, bà Vanga vẽ một vòng tròn lớn trong lòng bàn tay và nói: "Nga sẽ một lần nữa trở thành đế chế vĩ đại, chỗ dựa tinh thần cho toàn thế giới. Tuy nhiên phải đợi rất lâu khi con số 8 xuất hiện và có những ký kết về Trái Đất." Và trên thực tế, nếu nước Nga trở thàn cường quốc lớn mạnh và tham gia nhóm G7 để biến nó thành G8 thì họ sẽ có tác động tới tiến trình chiến tranh và hòa bình thế giới.   5 Đại dịch Ebola năm 2014   Nhà tiên tri Vanga đã dự đoán năm 2014,phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.   Và 2015 mặc dù không có cuộc chiến hóa học xảy ra nhưng đại dịch Ebola khiến thế giới kinh hãi.     Các lời tiên đoán về nhân loại trong hàng ngàn năm sau của nhà tiên tri Vanga     Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống.   Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.   Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi.    Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.   Năm 2028 - Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.   Năm 2033 - Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.     Năm 2043 - Nền Kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.   Năm 2046 - Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.   Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.   Năm 2076 - Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.   Năm 2084 - Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên.   Năm 2088 - Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây"     Năm 2097 - Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.       Năm 2100 - Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.   Năm 2111 - Con người sẽ trở nên kiệt sức.   Năm 2123 - sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.   Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.   Năm 2130 - Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.   Năm 2164 - Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú)   Năm 2167 - Xuất hiện tôn giáo mới.   Năm 2170 - Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.     Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.   Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.    Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau   Xem thêm Lời nói đùa định mệnh của hành khách MH17 Một hành khách người Hà Lan đã đăng hình ảnh về MH17 trước khi máy bay cất cánh kèm theo câu nói đùa mà nay trở thành định mệnh. Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.   Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.   Năm 2256 - Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.   Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.   Năm 2271 - Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.    Năm 2273 - Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.    Năm 2279 - Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.     Năm 2288 - Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.   Năm 2291 - Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.    Năm 2296 - Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng.   Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.   Năm 2302 - Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.   Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng   Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.   Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.   Năm 2371 - Xảy ra nạn đói lớn.   Năm 2378 - Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.   Năm 2480 - Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau, Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.   Năm 3005 - Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.   Năm 3010 - Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.   Năm 3797 - Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác. Cuối cùng cũng kết thúc.   Nguồn Ngày Nay




Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 lời phán khủng khiếp của nhà tiên tri Vanga khiến thế giới sợ hãi

Cách lựa chọn số hiệu địa chỉ của cửa hàng –

Trong mắt các nhà phong thủy, số hiệu địa chỉ cửa hàng rất có ý nghĩa. Các số 2; 5: 6; 8; 9; 10 đều là những chữ số cát lợi: số 2 có nghĩa là dễ dàng, số 5 chì sự hài hoà với 5 nguyên tố, số 6 đại biểu cho tài phú; số 8 ý chỉ phú; số 9 có nghĩa là t
Cách lựa chọn số hiệu địa chỉ của cửa hàng –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

rường thọ, số 10 chì xác định. Chính vì vậy, giống như địa chỉ số 289 như thế này, chính là có ý nghĩa: “Dễ dàng chi phú lâu dài” hoặc “làm ăn phồn vinh lâu dài”. Ngược lại, số 744 có ý chỉ “khẳng định phải chết” hoặc “làm ăn nhất định không thành rông”. Số 1 cũng không bình thường, tuy nó không hẳn là không cát lợi.

a

Các nhà phong thủy luôn yêu thích các chữ số là số chẵn, chính vì vậy điều này biểu thị thành song thành đối, để tránh cảm giác cô độc lẻ loi. Tuy rằng chữ số 3 không nằm trong những số xấu, nhưng nó cũng không phải là số cát lợi. Chính vì vậy, có người lại rất thích dùng lực như số cân: số 3 trong 7373 thì số 7373 có ý chì “khẳng định sinh tồn”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách lựa chọn số hiệu địa chỉ của cửa hàng –

Ý nghĩa phong thủy của đá cẩm thạch –

Người xưa cho rằng, đeo ngọc trên người tốt cho vận khí, tốt cho sức khỏe, tốt cho tiền tài… Vàng thời có giá, mà ngọc lại vô giá. Người ta đã chọn trang sức cẩm thạch để làm phụ kiện và với mục đích chính là đem lại may mắn cho mình, đồng thời xua

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

đuổi ma quỷ.

Cẩm thạch là loại đá quý rất được ưa chuộng ở khu vực châu Á, nhiều nhất là Trung Quốc. Dân chúng của xứ sở này đã sử dụng cẩm thạch từ hơn 1000 năm nay, họ dùng chúng làm đồ trang sức hoặc giữ gìn như báu vật. Người dân Việt Nam từ xưa đến nay cũng rất ưa thích đá cẩm thạch.

Cẩm thạch được cấu tạo bởi những hạt và sợi cực nhỏ kết dính vào nhau. Chúng có độ cứng thấp hơn nhiều loại đá quý như kim cương, ruby, saphia, topaz, thạch anh. Tuy nhiên nhờ cấu tạo vi sợi và hạt nên chúng có độ dai chắc cao nhất, nhờ tính chất này mà người ta có thể cắt cẩm thạch thành những miếng rất mỏng và làm thành những món đồ trang sức cực kì đẹp và hấp dẫn.

Khái niệm dân gian từ xa xưa “đeo lâu ngày cẩm thạch lên nước” có thể hiểu với ý nghĩa sau: mồ hôi và sự cọ sát vào da người lâu ngày và thường xuyên có thể tác động một chút lên bề mặt đá, có thể là hơi bóng hơn hoặc hơi bị thay đổi màu.

camthach1

Bởi người xưa cho rằng, đeo ngọc trên người tốt cho vận khí, tốt cho sức khỏe, tốt cho tiền tài… Vàng thời có giá, mà ngọc lại vô giá. Người ta đã chọn trang sức cẩm thạch để làm phụ kiện và với mục đích chính là đem lại may mắn cho mình, đồng thời xua đuổi ma quỷ. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ về những bí ẩn của cẩm thạch, dẫn đến những sai lầm khi lựa chọn mua loại đồ trang sức này. Do đó khi đeo đồ cẩm thạch, chẳng những chúng không giúp gì trong việc đem lại may mắn, xua đuổi ma quỉ cho bản thân mà lại có tác dụng ngược lại.

Vậy làm thế nào để khi đeo cẩm thạch, bạn cảm thấy rất ưng ý với sự lựa chọn của mình, đồng thời phát huy hết tác dụng của nó là đem lại may mắn và xua đuổi tà khí?

Thay đổi trang sức thường xuyên

Nhiều bậc thầy Phong thủy và chuyên gia đá quý thường khuyên chúng ta mang trang sức khác nhau trong những năm khác nhau. Trong thực tế nếu những món đồ cẩm thạch mà bạn mua là loại thật, khi đeo chúng vào, bạn luôn hi vọng chúng sẽ giúp bạn tránh tà khí, thì tốt nhất là bạn nên đeo chúng thật thường xuyên, càng lâu càng tốt.

Một trong những món đồ cẩm thạch cực tốt mà bạn nên thường xuyên đeo đó là hình, tượng Đức Phật. Chính vì thế việc bạn thay đổi xoành xoạch các món đồ trang sức là một việc không nên làm. Điều đáng lưu ý nhất là mặc dù bạn có thường xuyên đeo cẩm thạch bên mình nhưng bạn lại không tin tưởng vào sức mạnh của cẩm thạch thì bạn cũng không được bảo vệ hay gặp nhiều may mắn do những món đồ đó đem lại.

Bất cẩn khi chọn cẩm thạch

Cẩm thạch thật và tốt rất có lợi cho cơ thể bạn, nó có thể phát huy hết tác dụng để xua đuổi ma quỷ, đồng thời mang lại may mắn cho người sử dụng nó. Nhưng nếu bạn không đeo nó được bên mình thì bạn nên chọn đặt nó ở vị trí tốt nhất của cung hoàng đạo trong nhà bạn hay văn phòng để mang lại may mắn.

Sử dụng cẩm thạch giả và kém chất lượng

Hiện nay trên thị trường thật giả lẫn lộn khó mà phân biệt. Tuy nhiên nếu mua nhầm cẩm thạch giả thì khi bạn đeo chẳng có tác dụng gì cả. Hãy chọn cửa hàng uy tín và mua cho mình trang sức cẩm thạch thật không tì vết nó sẽ có lợi hơn cho cơ thể và tâm trí bạn. Cẩm thạch như là bùa hộ mệnh cho bạn khi bạn sử dụng nó bạn hãy an tâm vì bạn đã được bảo vệ và may mắn luôn tìm đến bạn.

Sử dụng trang sức quá tình cờ

Mục đích của việc đeo đồ trang sức cẩm thạch là để luôn luôn bảo vệ bạn, vì vậy sẽ tốt hơn bạn nên đeo chúng cả ngày lẫn đêm. Thậm chí ngay cả khi đi tắm hoặc đi vệ sinh, miễn bạn luôn tôn trọng và tin tưởng vào khả năng vô hình mà cẩm thạch mang lại. Không phải thích thì bạn đeo, còn không thì bạn cởi ra và để lung tung, tùy tiện.

Tuy nhiên bạn phải lưu ý rằng, nếu bạn đeo đồ cẩm thạch có hình ảnh của Đức Phật thì bạn nên cởi ra, để lên chỗ cao ráo, sạch sẽ trước khi vào nhà tắm, nhà vệ sinh. Đó là chính là thể hiện sự tôn kính của bạn đối với Ngài.

Vẫn sử dụng cẩm thạch bị vỡ

Nếu cẩm thạch bị nứt hay vỡ, vai trò của phước lành sẽ biến mất, trừ khi nó được chế biến thành trang sức hoàn chỉnh. Kể từ khi bạn sử dụng cẩm thạch và bạn đã cầu nguyện để cẩm thạch bảo vệ bạn, đem lại may mắn cho bạn, nhưng bạn nên nhớ rằng không phải loại cẩm thạch đắt nhất mới bảo vệ được bạn, mà bạn phải chọn loại cẩm thạch hợp với bạn cùng với lòng tin cùng với trái tim chân thành thì sẽ xua đuổi được linh hồn ma quỷ và bảo vệ sự an toàn cho bạn.

Ý nghĩa và tính chất của cẩm thạch

Cẩm thạch chính là những vật tinh túy và quý báu nhất của trời và đất, người dân Việt từ xưa đến nay cũng rất ưa chuộng cẩm thạch. Bởi người xưa cho rằng, đeo ngọc trên người tốt cho vận khí, tốt cho sức khỏe, tốt cho tiền tài. Cẩm thạch mang đến sự tinh khiết, ngọt ngào và nuôi dưỡng năng lượng may mắn và yêu thương cho người sử dụng nó.

Cẩm thạch đem lại sự an tâm và làm giảm bớt lo lắng. Tính cân bằng của nó làm cho nó hài hòa tất cả các khía cạnh của cuộc sống. Những người mang cẩm thạch hoặc thiền định với nó, làm cho họ cảm thấy tích cực hơn, hạnh phúc, tràn đầy năng lượng, tự tin và khỏe mạnh hơn. Nếu đá cẩm thạch được đeo như một chiếc vòng cổ ở gần trái tim, hoặc như bông tai, họ sẽ thoát những cơn ác mộng và sự bồn chồn.

Còn được gọi là “đá từ Trời”, cẩm thạch màu xanh lá cây được cho là mang đến sự bình tĩnh, làm sạch hệ thống tư tưởng không trong sạch của mình. Nó còn giúp người đeo tránh giận dữ, chấn thương, đau buồn, và suy nghĩ tiêu cực.

Đeo cẩm thạch cũng là chất tẩy rữa tuyệt vời giải phóng năng lượng tiêu cực bị mắc kẹt trong hệ thống thần kinh, tim, gan, thận, túi mật và bàng quang. Cẩm thạch còn giúp loại bỏ độc tố khỏi cơ thể, làm giảm nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm bàng quang. Loại đá này cũng giúp giảm đau ở các khớp và cơ bắp và bảo vệ người sử dụng nó khỏi bị nhiễm trùng và bệnh tật.

Các loại đá quý cẩm thạch cũng được cho là phục hồi và cân bằng năng lượng trong chu trình sinh sản và khả năng sinh sản ở nam giới và phụ nữ. Cẩm thạch giúp tăng khả năng sinh sản của phụ nữ và bảo vệ thai nhi cũng như người mẹ khỏi bị tổn hại. Nó cũng xử lý các rối loạn liên quan đến hệ thống sinh sản và làm giảm chứng đau bụng trong khi hành kinh của phụ nữ

Các khoáng chất jadeite được gọi là đá quý cẩm thạch. Cẩm thạch mờ không có giá trị bằng cẩm thạch trắng có giá trị nhất và có đặc tính chữa bệnh. Cẩm thạch cổ được đánh giá cao ở Trung quốc vể màu sắc, độ cứng, độ tinh khiết cho vẻ đẹp và cả sức mạnh của nó.

Trong Phong thủy, cẩm thạch đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ tạo ra cảm giác thanh bình, hài hòa và cân bằng cho người sử dụng. Bạn có thể chạm khắc với những hình ảnh khác nhau như: mặt dây chuyền Phật Quan Âm, Phật Di lặc, hay hình các con giáp chẳng hạn.

– Ngọc màu xanh lá cây truyền thống: giúp xóa đi sự hiểu lầm, bế tắc trong quan hệ tình cảm.
– Ngọc đỏ: kích thích sự yêu thương cho người đeo nó.
– Cẩm thạch trắng: giúp giải quyết các vấn đề tồn động trong tâm trí.
– Cẩm thạch màu vàng: làm tăng năng lượng cho những người thiếu nghị lực, ù lì, hoặc đang  bị trầm cảm.
– Cẩm thạch màu xanh: làm tăng khả năng tập trung và ngăn chăn sự phân tâm.-


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa phong thủy của đá cẩm thạch –

Nhìn môi, bắt thóp tính cách 'gà bông'

Nếu tinh ý, bạn sẽ nắm bắt được 80% tính cách của hội con trai chỉ qua đặc điểm của đôi môi.
Nhìn môi, bắt thóp tính cách

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

moi-1-9804-1440896962.jpg moi-2-5604-1440896962.jpg moi-3-9872-1440896963.jpg
1. Môi dày, miệng rộng 2. Môi bình thường, miệng nhỏ 3. Môi mỏng
moi-4-5644-1440896963.jpg moi-5-1256-1440896963.jpg moi-6-7290-1440896963.jpg
4. Hai khóe môi chùng xuống 5. Khóe miệng hếch lên 6. Môi trên nhô ra hơn môi dưới

Mr.Bull (theo DZYX)

chungtinh-1440170593-144017060-7608-2488

Nhận diện tướng mạo chàng trai chung tình


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn môi, bắt thóp tính cách 'gà bông'
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd