Tuổi Sửu và tuổi Dậu có hợp nhau không? –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
1. Các loại sách nên được phân loại riêng biệt, rõ ràng
Bạn phải tiến hành phân loại các loại sách, đây lầ một yêu cầu cơ bản đối với phong thuỷ thư phòng.Chúng ta đều biết phòng làm việc là nơi để đựng sách và đọc sách hoặc có thể kiêm nhiệm chức năng như là một văn phòng làm việc. Nếu có quá nhiều các loại sách thì bạn phải phân loại kỹ càng, loại thường xuyên đọc đến và loại không thường xuyên đọc đến. Vì vậy, bạn phải cất giữ, phân loại sách thật rõ ràng. Như phân loại chức năng ra thành khu vực viết sách, khu vực tra cứu, khu vực lưu giữ,... như vậy không chỉ làm cho phòng có trật tự mà còn nâng cao hiệu quả công việc.
Nếu bạn tiến hành phân loại các loại sách tức là tạo thuận lợi cho công việc, càng có tác dụng cho tâm trạng cũng như phong thuỷ vượng văn.
Tránh chồng sách lên cao chót vót, bày sách lộn xộn
Có người khi tra tìm tư liệu, đã nhớ rõ ràng là để quyển sách đó trong phòng, nhưng tìm đến nửa ngày vẫn không thấy. Nguyên nhân là do người đó xem sách xong, tiện tay vứt lung tung nên khi cần không tìm thấy. Giá sách thì để sách lộn xộn, cộng thêm vài cuốn sách vứt lung tung vào đó đã làm các loại sách trở nên hỗn độn, kết quả là bạn tự làm khổ bản thân khi phải tìm những loại sách mình cần.
Sách vở và các đồ dùng phải được bày biện có trật tự, đây là yêu cầu cơ bản đối với thư phòng. Nếu bạn ở một phòng làm việc giống như một bãi rác với những chồng sách lộn xộn, không có trình tự thì bạn không thể tĩnh tâm để làm việc hoặc học tập.
Sách vở hoặc đồ dùng trong phòng làm việc để bừa bãi, không có trật tự là một đại kỵ đối với phong thuỷ thư phòng.

2. Diện tích phòng làm việc to nhỏ hợp lý
Diện tích phòng làm việc phải vừa đủ, diện tích to nhỏ vừa phải sẽ có lợi cho sức khoẻ, đồng thời đạt được mục đích vượng văn. Hơn nữa, đồ dùng trong phòng cũng phải lựa chọn sao cho khoa học và cần phải suy tính đến kích thước của đồ dùng.
Thư phòng là nơi mọi người học tập và làm việc, khi lựa chọn đồ dùng cho căn phòng, ngoài việc phải chú ý đến cấu tạo, chất lượng và màu sắc của đồ dùng trong phòng ra, bạn cần phải suy tính sao cho thích ứng với thói quen sinh hoạt của mọi người và phù hợp với yêu cầu cơ bản của phong thuỷ. Bạn cũng phải căn cứ theo quy luật hoạt động, hình dáng, tư thế của các cá nhân trong nhà khi sử dụng đồ dùng để quyết định kết cấu, kích thước và vị trí của các đồ dùng. Ví dụ: Khi đọc sách và khi nghỉ ngơi, ghế sa lông vừa phải mềm lại phải thấp, làm cho đôi chân có thể duỗi dài thoải mái, đạt được sự nghỉ ngơi thư giãn tối đa, làm xua tan đi sự mệt mỏi do phải ngồi lâu. Bàn sách thì nên cao một chút, để tránh gù lưng mỏi eo.
Các đồ dùng chủ yếu trong phòng là bàn sách, tủ sách, bàn viết và ghế ngồi hoặc ghế sa lông. Căn cứ vào cấu tạo sinh lý cơ thể người nước ta thì độ cao bàn viết nên từ 650 - 720 mm là hợp lý.
Tránh: Phòng làm việc quá lớn hoặc quá nhỏ

Phòng làm việc quá lớn hoặc quá nhỏ là một đại kỵ trong phong thuỷ thư phòng. Một phòng làm việc yên tĩnh có thể nhỏ mà lại thanh nhã, kỵ với phòng lớn mà không phù hợp. Phòng nhỏ có thể làm cho người đọc tập trung chú ý, không bị phân tán tư tưởng. Một số gia đình có phòng làm việc rộng, diện tích bày biện sách rất lớn, thực ra xem sách hoặc sáng tác trong phòng sách như vậy sẽ rất khó tập trung tinh thần. Bởi vì "tụ khí" là một trong những nguyên lý cơ bản trong phong thuỷ học nhà ở, nếu bạn ở trong phòng lớn như vậy sẽ khó đạt được hiệu quả "tụ khíNếu bạn là lãnh đạo cao cấp và làm việc trong phòng sách quá lớn sẽ có sự trở ngại đối với con đường phát triển sự nghiệp của bạn, cho nên bạn cần cẩn trọng về vấn đê này. Đương nhiên, phòng làm việc cũng không nên quá nhỏ.
3. Màu sắc phòng làm việc phải hài hoà
Màu sắc của phòng làm việc và phòng của chủ nhà phải hài hoà với nhau, đây là một trong những yêu cầu cơ bản của phong thuỷ nhà ở. Trong môi trường nhà ở, việc vận dụng màu sắc có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả công việc và học tập. Trong môi trường làm việc tương đối bận rộn và khẩn trương, bạn nên chọn màu nhạt để làm giảm áp lực, đem đến không khí ấm áp, nhẹ nhàng cho căn phòng. Đối với môi trường mà công việc tương đối đơn giản thì nên dùng màu sắc mạnh mẽ để làm tăng thêm không khí sinh động cho căn phòng. Nói một cách cụ thể là để nâng cao hiệu quả thì màu sắc căn phòng phải hài hoà với Ngũ hành bát quái và chủ nhà. Nếu phòng làm việc bô trí theo hướng Đông hoặc hướng Nam thì nên chọn màu xanh lá cây và màu xanh nước biển là chủ đạo, nếu phòng thuộc hướng Nam thì nên chọn màu tím, hướng Tây Bắc thì chọn màu xám tro hoặc màu cà phê nhạt, hướng chính Tây thì nên chọn màu trắng là chính.
Các bạn phải phân tích màu sắc cụ thể dựa theo trạng thái tĩnh, trạng thái động và trạng thái đặc biệt. Nhưng nên chọn mầu xanh lá cây nhạt làm màu sắc chủ đạo. Nguyên nhân của việc chọn màu sắc này là theo Ngũ hành thì sao Văn Xương thuộc Mộc, cho nên bạn nên chọn màu sắc của cây cối, tức là mằu xanh lá cây, như vậy mới có thể trợ giúp cho sao Văn xương trở nên tốt. Ngoài ra, chưa bàn đến phương diện phong thuỷ, chỉ nhìn từ góc độ sinh lý thì màu xanh lá cây có thể bảo vệ được mắt, rất thích hợp với những người do xem nhiều sách dẫn đến hiện tượng mỏi mắt, và còn có tác dụng dưỡng mắt. Màu xanh lá cây có thể trợ giúp cho tâm lý con người ổn định, khí huyết lưu thông, khiến con người linh hoạt và trí tuệ hơn.

Tránh: Màu sắc phòng làm việc lộn xộn, loè loẹt
Màu sắc phòng làm việc lộn xộn, loè loẹt là một trong những điều kỵ trong phong thuỷ nhà ở. Phòng lầm việc lầ nơi con người làm việc, học tập lâu dài, cần phải tránh những màu sắc rực rỡ kích thích nhãn quang, bạn nên chọn những màu trung tính như màu xanh lá cây hoặc màu tro, xám nâu. Để thống nhất màu cho căn phòng thì màu của đồ dừng trong phòng, màu trang trí phòng với màu tường phải đồng màu. Bạn cũng nên bày biện một số đồ vật trang trí, như: Các đồ thủ công mỹ nghệ nhỏ đặt trên tủ sách, các bức hoạ trên tường,... Khi mua các bức hoạ trang trí, bạn cần chú ý đến tác dụng của chúng là tô điểm cho căn phòng, vì vậy, hình thức phải bô" trí sao cho hài hoà với bô" cục tổng thể. Như vậy mới có thể phá vỡ được không khí đơn điệu vốn có của phòng làm việc. Nói tóm lại, các màu trong phòng không nên quá nhiều và quá rối. Màu sắc các nơi đêu hài hoà, nhẹ nhàng là hợp lý.
Thông thường màu sắc nền nhà nên để màu hơi sẫm một chút, cho nên, thảm trong phòng cũng nên chọn màu hơi sẫm và có nhiều màu sắc. Bạn nên suy tính đến hiệu quả chiếu sáng trong phòng khi xử lý trần nhà, thông thường dùng màu trắng, vì khi trần phản quang sẽ làm cho bốn bức tường trở nên sáng rõ. Màu của cửa ra vào, cửa sổ phải nổi bật trên cơ sở màu sắc tổng thể của căn phòng, để tạo thành điểm sáng cho căn phòng và có tác dụng tạo điểm nhấn cho mắt.
(Theo Phong thủy trong gia đình)
Tử Vi nhắc nhở người xem số về sự kiện liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố. Đều này tránh những ngộ nhận vội vàng hay phiến diện. Người giải đoán, nhờ nhãn quan tổng hợp của Tử Vi, phải gom góp, đối chiếu, cân nhắc, ngõ hầu có thể kết luận trên sự tổng hợp các nhận định cục bộ.
Tử Vi quan niệm con người một cách toàn diện, bao hàm cả thể chất lẫn tinh thần, cả di truyền lẫn bản tính cá nhân, cả môi trường gia đình và xã hội, cả công danh lẫn tài lộc. Khoa Tử Vi không tách rời các phương diện của con người. Con người trong Tử Vi được xem là một tổng hợp các phương diện chớ không phải là một phương diện riêng biệt nào.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Mệnh Thủy:
Ngũ hành tương sinh:
Kịm sinh Thủy: Kim thuộc về chất rắn, sau khi được làm nóng chảy sẽ từ thể rắn chuyển sang thể lỏng, chất lỏng thuộc Thủy.
Thủy sinh Mộc: Thủy là nguồn sinh trưởng của cây cối.
Ngũ hành tương khắc:
Thổ khắc Thủy: Nước đến đất ngăn.
Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa.
Nếu bạn mệnh Thủy thì nên xăm những tông màu như màu đen, xanh da trời. Ngoài ra người mệnh Thủy có thể kết hợp với các tông màu trắng và những sắc ánh kim (Màu trắng, Kim sinh Thuỷ).

Bạn tránh dùng những màu sắc kiêng kị như màu vàng đất, màu nâu (Hoàng thổ khắc Thuỷ).
Những chủ đề hình xăm bạn nên chọn: cá, dơi, uyên ương…
Bảng tra tuổi mạng Thủy:
– (1937, 1997) Tuổi Ðinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thuỷ( nước mù sương), xương con trâu, tướng tinh con trùn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- Cô bần.
– (1936, 1996) Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thuỷ(nước mù sương), xương con chuột, tướng tinh con rắn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Cô bần.
– (1923, 1983) Tuổi Quý Hợi, cung Cấn, mạng Ðại Hải Thuỷ(nước biển lớn), xương con heo, tướng tinh con gà, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
– (1922, 1982) Tuổi Nhâm Tuất, cung Ðoài, mạng Ðại Hải Thủy, xương con chó, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
– (1915, 1975) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Ðại Khê Thuỷ( nước khe lớn), xương con mèo, tướng tinh con dơi, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quý.
– (1914, 1974) Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Ðại Khê Thuỷ, xương con cọp, tướng tinh con trâu, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quý.
– (1907, 1967) Tuổi Ðinh Mùi, cung Ðoài, mạng Thiên Hà Thuỷ (nước sông Thiên Hà), xương con dê, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
– (1906, 1966) Tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thuỷ, xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng,khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
– (1953, 2013) Tuổi Quí Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thuỷ(nước chảy dài), xương con rắn, tướng tinh con chó, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng.
– (1952, 2012) Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thuỷ, xương con rồng, tướng tinh con chó sói, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng.
– (1945, 2005) Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thuỷ (nước trong giếng), xương con gà, tướng tinh con cua, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quý.
– (1944, 2004) Tuổi Giáp Thân, cung Khôn , mạng Tuyền Trung Thuỷ, xương con khỉ, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quý.
Dưới đây mời bạn tham khảo một số mẫu hình xăm hợp với mệnh Thủy:




![]() |
![]() |
| ► Cùng bói tình yêu theo cung hoàng đạo để biết hai bạn có hợp nhau không |
4 đường chỉ tay chính ai cũng tự xem được
Tuyển tập những câu nói hay của Beethoven. Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ở Wien, Áo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Ông có thể được coi là người dọn đường (Wegbereiter) cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Beethoven được khắp nơi công nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại và ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sỹ, và khán giả về sau.
Năm 1781, Beethoven 11 tuổi, ông đã biểu diễn như một nghệ sĩ piano điêu luyện tại Hà Lan. Cũng trong thời gian này, ông cũng được cử làm phụ tá chơi đàn organ trong nhà thờ tại Bonn. Năm 1782 chính Neefe đã cho xuất bản tác phẩm đầu tiên của Beethoven, bản “Các variation cho clavecin của bản march của Ernst Christoph Dressler”. Cũng chính trong năm này, Beethoven trở thành người đại diện cho Neefe ở dàn nhạc hoàng gia với vai trò nghệ sĩ đại phong cầm. Năm 14 tuổi, Beethoven giành được vị trí chính thức là nghệ sĩ chơi đại phong cầm trong dàn nhạc này. Tuy nhiên trong thời gian này ông vẫn tiếp tục luyện tập dương cầm.
Năm 1795, Beethoven bắt đầu nổi danh là một nghệ sĩ piano với bản Concerto cung do trưởng. Nhưng chẳng may từ năm 1780 ông bắt đầu bị lãng tai. Lúc đầu ông mất hết hy vọng nhưng rồi cố gắng thích nghi với điều kiện sống và bắt đầu tập trung tư tưởng tình cảm cao độ hơn bất cứ lúc nào hết trong sáng tác.
Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng 1803-1805 vượt trổi hẳn những gì mà ông sáng tác trước đó. Đó là bản Sonate Kreutzar (1803) viết cho violon và piano. Bản Giao hưởng Số 3 Anh hùng ca (1804) có sức cuốn hút mạnh mẽ và gây xúc động sâu xa, lúc đầu ông đề tặng Napoléon nhưng khi Napoléon lên ngôi Hoàng đế thì ông đã xé đi lời đề tặng. Các Sonate cho piano, Bình minh (1804) và Appasionta (1805), Bản Giao hưởng Số 4 (1806), Bản Giao hưởng Số 5 Định mệnh (1808) đều có giá trị nghệ thuận lớn lao. Ông muốn lột tả trong âm thanh về một cuộc sống trong sự đấu tranh với cái chết bằng một sức mạnh khủng khiếp cuối cùng đã ca khúc khải hoàn, như nhân vật nữ trong vở Opera Fidelio (1805) ra sức bảo vệ người chồng của mình chống lại sự xấu xa bạo tàn, và trong khúc Missa Solemnis là lời cầu nguyện để giải thoát khỏi đau thương chiến tranh.
Trong số những tác phẩm lớn của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Eroica (giao hưởng Anh hùng ca), Giao hưởng Định mệnh, số 9, The Pastoral (Giao hưởng đồng quê), các tác phẩm cho dương cầm như Für Elise và các sonata Thống thiết (Pathétique) và Ánh trăng (Moonlight)…
Âm nhạc là nhà hòa giải giữa cuộc sống thể xác và cuộc sống tâm linh.
Music is mediator between spiritual and sensual life.
Âm nhạc là sự giác ngộ cao hơn cả triết học và tri thức.
Music is a higher revelation than all wisdom and philosophy.
Âm nhạc khơi ngọn lửa trong tim người đàn ông và dâng lệ lên mắt người phụ nữ.
Music should strike fire from the heart of man, and bring tears form the eyes of woman.
Hãy dạy cho con cái anh đức hạnh; bởi chỉ có nó chứ không phải tiền bạc là có thể đem lại cho con cái anh hạnh phúc. Tôi nói điều này từ trải nghiệm bản thân.
Recommend virtue to your children; it alone, not money, can make them happy. I speak from experience.
Người nào nói dối không có trái tim trong trắng, và không thể nấu súp ngon.
Anyone who tells a lie has not a pure heart, and cannot make a good soup.
Nghệ thuật! Ai hiểu được nàng? Ta có thể gặp ai để hỏi về vị nữ thần vĩ đại này?
Art! Who comprehends her? With whom can one consult concerning this great goddess?
GS. LÊ TRUNG HƯNG
Trong công trình làm sang tỏ khoa lý học tử vi, những lúc gần đây người ta không thể quên tên của những loạt bài “Thần Kê định số”, của nguồn gốc khoa tử vi, của hình tượng của Nhật Nguyệt và những tác giả thâm lý vô cầu Võ Văn Châu, Vi Nhật, Phong Nguyên trên KHHB của năm cũ Giáp Dần 1974. Trước thềm xuân niên tuế Ất Mão, kẻ viết xin khai bút gọi là chút đóng góp (trong muôn một và đa diện của khoa Tử vi) với tâm ý: 1 ngày nào đó tử vi trở thành 1 học khoa của sinh hoạt đại học (trên các lĩnh vực nhân văn và quản trị). Chiều hướng trên có thể là 1 tham vọng, một khi những ai dấn than vào tử vi để hủ hóa thêm cho ngành này (bằng thái độ tự tôn, thành kiến, cố chấp, bảo thủ), mà cũng có thể là cao vọng khả chấp, một khi mọi giới thức giả trong vị thế và lãnh vực của mình, áp dụng tử vi trong sự cảnh giác: vừa nghiệm lý, vừa khai phóng. Có nghiệm lý mới thấy rõ hậu quả của bản số và thế tương quan cơ cấu giữa các tinh đẩu. Có khai phóng mới cập nhật hóa được những dữ hiện xưa trong hình thái hiện hữu, bới cung cách cổ điển vẫn tồn tại ẩn kín trong văn hóa kim thời.
Bài viết kỳ này xin triển khai “Mười Liên Đới Cơ Cấu của Tử Vi” – gọi là mở ngõ và gợi ý cho lĩnh vực xã hội học…
Tử vi có tất cả 14 chính diệu, được coi là các giới tinh “đỡ đầu cho cung trấn đóng và ai cũng phải nhìn nhận cặp Thái Dương – Thái Âm chủ về sự soi sang. Trực chiếu (hay còn gọi là xung chiếu thì mạnh mẽ hơn là tam hợp chiếu. Đại vận vào ngay cung của Nhật Nguyệt (vị thế sáng sủa) bị lòa sáng làm đẹp và không tốt bằng Đại vận ở cung được Nhật Nguyệt chiếu. thế nên khi Cự môn (là cửa thành, cửa nhà quan: nếu đóng ở Ngọ thì nên gọi là ngọ môn, cho chính danh nơi vua ở, và bên trong hẳn phải chất chứa bao điều bí mật về tài sản, về phong cách), đóng ở cung Tý luôn có Thái Dương ở cung Thìn rọi sang (tam hợp chiếu). Đèn chiếu tới cửa, nhưng cửa cài, then đóng, làm sao thấy được gì ở trong? Vậy cần phải có những yếu tố mở ngỏ (nội công thì ngoại kích mới hữu hiệu) nằm vùng ngay tại cung của Cự Môn, như Tuần Triệt, Song Hao, Kình Dương – nỗ lực làm sao cho cửa thành được mở ra, lúc ấy, đèn trời (Thái Dương) mới tỏa rạng ở cung của Cự môn, phơi bày cả 1 kho tang mà Cao chu Thần tướng cao hứng ngâm vịnh: "Kho trời chung mà vô tận của mình riêng".
Biện chứng tương tự cho trường hợp Cự Môn ở cung Ngọ (ngọ môn – khó khăn lắm mới mở được cửa nhà vua), luôn luôn có Thái Dương ở cung Tuất (lâm vào vị thế kém sang), nhưng nếu Thái Dương (ở Tuất) gặp Hóa Kị hay Thiên tài, hoặc giả được đám sao Đào hồng Linh Hỏa hội nhập (nhị hợp, tam hợp….) tiếp sức cho sao anh rọi sáng cung Ngọ, đồng thời Cự môn tại Ngọ bị Tuần Triệt, Song Hao, Kình đục phá thì rồi núi cũng phải lở huống chi chỉ là cửa thành? Mà khi cửa nhà vua bật mở tung, chắc chắn đèn trời Thái Dương còn được chói rạng hơn (vì trân châu, hột xoàn của kho vua lấp lánh). Thành ra “thạch trung ẩn ngọc” chỉ là 1 cách nói tượng trưng của người xưa (ý tại ngôn ngoại). Trong chiều hướng biện giải này, lá số của vị nguyên thủ quốc gia (đăng trong Tử vi Tổng hợp của ông Nguyễn Phát Lộc) có cách “Thạch trung ẩn ngọc” đặc biệt (tạm gọi là đệ tam cách) là Thái Dương ở Tị rọi sang (ngon lành) cho Cự Môn ở hợi (có Tuần, Đại Hao, Không Kiếp), hiệu lực của đệ tam cách chưa biết nghiệm lý ra sao? Có điều chắc chắn: Những bản số nào thuộc cách Cự môn tại Ngọ thiếu thời tân khổ lắm (đục cửa nhà vua tất nhiên phải vất vả)., qua trung niên và hậu vận lại phong túc, vẻ vang tột cùng
Căn bản của tử vi thuyết Thiên Lương là vòng Thái Tuế. Cho đến nay, tuy có nhiều gười hâm mộ sự phát kiến của cụ nhưng rất ít người hiểu rõ những hiệu lực nền tảng của vòng sao chất chứa mệnh tính này, thành ra ngộ nhận 1 cách bất thuận lợi cho khoa tử vi (chứ không phải cho người phát kiến) như tác giả 1 cuốn sách tử vi mới phát hành vào đầu năm 1975
Vòng Thái Tuế là tam giác liên kết 3 cung mạng năm sinh của tuổi (Ví dụ sinh năm Mão thì vòng Thái tuế là tam giác nối 3 cung Hợi Mão Mùi). Vòng này thiết lập ra để đối chiếu tính cách sinh khắc với tam giác của 3 cung Mệnh Quan Tài (được coi là vòng tha nhân, đã trình bày ở bài “10 điều tâm niệm khi đoán số tử vi”. Cụ Thiên Lương gọi vòng Thái tếu là vòng Thiên thời, để tìm xem đại vận nào tốt nhất trong đời (ông Trần VIệt Sơn đã khai triển nhiều lần). Nhưng có 1 khía cạnh tối quan trọng của vòng Thái tuế mà ít người lưu tâm là tính chất phẩm hạnh và tác phong của bản số tử vi. Một cách dễ hiểu hơn, người viết xin đặt tên cho vòng Thái Tuế là “Vòng Quản Trị” (Cycle of managerial functions), để góp phần hệ thống hóa mô thức điều hành xã hội trên thuật hướng vương đạo của tiền nhân. Mô thức phân quyền của Montesquieu tiên sinh nếu lồng vào Vòng Quản trị của khoa tử vi, sẽ diễn tiến như sau:
3 đỉnh của tam giác vòng quản trị là Thái Tuế - Quan Phù – Bạch hổ, mỗi đỉnh là 1 cục bộ của chủ quyền quốc gia: Lập pháp – Hành Pháp và Tư Pháp. Ý nghĩa dân chủ của thể chế chính trị tiến bộ là hình thái phân quyền để chủ quyền quốc gia được lành mạnh và quốc dân phú cường. hình thái học của khảo hướng phân quyền là như thế, nhưng động lực thực hiện được phân quyền tốt đẹp thuộc khoa quản trị học. Dùng người đúng chỗ là ưu điểm của nhà lãnh đạo, áp dụng vào mô thức vòng quản trị của tử vi, ta có ngay sự sắp xếp thích nghi:
Phép đối ngẫu của cổ văn chương Việt Hoa đối âm, đối tiếng và đối nghĩa. Trọng bộ Lục bại tinh của tử vi có đôi sao Địa Kiếp – Địa Không được an theo giờ sinh, xuất phát từ cung Hợi theo chiều Âm Dương (là căn bản của thuật số huyền học Đông phương). Sự hiệu nghiệm của 2 sao này đã quá rõ rang: Chúng đóng ở cung nào là y như có chuyện lình xình ở cung đó; chiến lược của phản trắc tính Không Kiếp không thể phủ nhận, tất yếu sự hiện hữu là 1 mặc nhiên. Nhưng có vị trí giả đề nghị hủy giải sao Địa Không vì cho rằng tính lý không hạp đôi với Địa Kiếp và thay vào đó bằng sao Thiên Không. Kẻ viết vốn rất ngưỡng mộ sự canh cải, để phục hồi giá trị cho khoa nhân văn tử vi, nhưng không thể vì định kiến chỉ nam ấy mà quên giá trị nghiệm lý của cơ cấu các sao trên lá số. Xin trình làng 2 lý do:
”Tuế tiền nhất vị thị thiên thiếu
Hậu nhất vị quán sách, Trực phù
(Thiên Không và Thiếu Dương ở cung đằng trước Thái Tuế và Quán Sách, Trực Phù ở cung đàng sau Thái Tuế). Người rành luật “bi sắc tư phong” (lý thừa trừ) của Vòng Thái Tuế, càng không thể phủ nhận sự đóng góp của sao Thiên Không khi nó luôn xuất hiện với “tam giác thiên tả” là Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức (1 hệ phái thoát ly của vòng Thái Tuế), để thử thách người đời. Bởi vì vào đại vận của tam giác thiên tả, đương số lọt ngay vào sự bảo bọc của bộ sao tứ đức (Phúc Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức, Long Đức) hợp chiếu, chưa kể các phúc tinh khác như Quan Phúc, Quang Quý, Khóa Khoa, luôn luôn là như vậy mà tại sao cứ vào Đại vận hay Tiểu vận này, thiên hạ long đong lận đận khôn cùng? Sự kiện này chỉ có thể hiểu được khi có bộ mặt Thiên Không phá đám, khuấy đảo và dụ dỗ đám hư tinh Đào hồng vào chỗ tuyệt lộ.
Vậy thì xin trả cái gì của César cho César để tử vi khỏi mất mát cái chính lý của nó
Khoa lý học Đông Á coi lẽ Âm Dương như định lý biến dịch, và lấy ngũ hành làm hệ luận sinh khắc. Chu trình Ngũ hành sinh và Ngũ hành khắc đều là 1 chu trình khép kín.
Ai nấy đều thông lý rõ rang và không có gì thắc mắc. Nhưng trường hợp đồng hành của Ngũ hành thì thật là phức tạp, nhiều ý kiến trái ngược: tốt có và xấu cũng có. Theo sách hồng Vũ cẩm Thư của Dương Quân Tùng (Trung Hoa) thì trường hợp Ngũ hành tương ngộ tạo ra 3 hình thái: Thắng – hòa và bại như sau:
Việc này đem áp dụng vào công dụng lý đoán các sao và các cung trên tính cách bản hành nhất là Đại vận của Thái Tuế sẽ thấy rõ hiệu lực của mức độ thành- bại mỗi người.
Ví dụ: người mạng Thổ nhập hạn Thái Tuế ở cung Mùi (Thổ) không thể thoải mái, vẻ vang bằng người mạng Kim mà lại nhập hạn Thái tuế ở cung Thân hay Dậu (Kim).
………………………..
(Còn 6 điểm quan trọng – kỳ sau)
Trong “Phong Thần Diễn Nghĩa”, một bài hát của Khương Tử Nha có một câu “Tẩy nhĩ bất văn vong quốc âm”, tức rửa tai không nghe điều khiến mất nước. Thời bấy giờ, khi Cơ Xương đang tìm người tài, nghe được có người hát câu này thấy vô cùng cảm khái, ông bèn kể cho những đại thần câu chuyện sau đây.
Trước đây, vua Nghiêu là người đức hạnh, nhưng hiềm nỗi lại không sinh được người con hiền đức, tài năng; về sau vua Nghiêu sợ rằng nếu để con nối ngôi sẽ khiến cho dân chúng bách tính thất vọng, ông bèn thân chinh đi tìm kiếm người tài đức để thoái vị nhường ngôi. Một ngày, ông đến một vùng quê thôn dã tĩnh mịch, ông nhìn thấy một người đứng bên dòng suối, dùng có mỗi cái hồ lô nhỏ mà đảo qua đảo lại dòng nước suối.
Vua Nghiêu hỏi người đó: “Vì sao tiên sinh cứ dùng cái hồ lô đó đảo qua đảo lại dòng nước suối đó vậy?”
Người kia cười nói: “Ta thấu rõ nhân tình thế thái, dứt bỏ danh lợi, loại trừ được tư tâm về gia đình, rời bỏ thê tử, xa lìa cánh cửa thị phi luyến ái, tránh được con đường hồng trần, ẩn cư tại núi sâu rừng thẳm, ăn cơm dưa muối, còn có thức ăn hoang dã, tự do tự tại chốn lâm tuyền, có thể an hưởng tuổi trời, bình sinh cũng đã thỏa mãn tâm nguyện của mình”.
Vua Nghiêu nghe xong rất đỗi vui mừng, nghĩ rằng: “Người này cả đời cái gì cũng xem nhẹ, quên hết vinh hoa phú quý, rời xa thế thái thị phi, thật sự có thể nói là nhân kiệt; có thể trao cho cho ông ta ngôi vị của ta rồi”.
Nghĩ vậy vua Nghiêu bèn nói: “Hỡi người hiền đức kia, ta không ai khác chính là vua Nghiêu; hôm nay gặp được người đức hạnh như ngươi, ta thật sự muốn tặng ngôi vị của mình lại cho ngươi, ngươi có đồng ý không?”
Người kia nghe xong, lập tức cầm hồ lô lên, đạp một cước nát bấy, hai tay che lỗ tai lại, vội vàng chạy đến dòng suối rửa tai.
Đang rửa tai, ông thấy một người dắt trâu đến bên suối uống nước, người này cất tiếng: “Quân tử, trâu đến uống nước đây rồi”.
Thấy người kia chỉ lo rửa tai của mình, người này lại nói: “Rốt cục tai của ông bẩn thế nào vậy? Sao ông chỉ lo rửa tai của mình vậy?”
Người kia sau khi rửa xong, mở miệng trả lời: “Vừa rồi vua Nghiêu nói muốn thoái vị cho ta, làm cho hai lỗ tai của ta ô nhiễm cả rồi, thế nên ta mới rửa tai cho sạch một lúc, làm trễ nải trâu của ngươi uống nước”.
Người này nghe xong, liền dắt trâu lên đầu nguồn uống nước. Người kia nói: “Sao vậy? Sao lại đi vậy?”
Người này nói: “Nước ở đây đã bị ông rửa tai làm ô nhiễm, vậy ta cớ gì lại để trâu của ta uống thứ nước ô nhiễm này chứ?”
Những thánh nhân ngày xưa, kể cả nghe đến việc vua Nghiêu nói đến chuyện thoái vị nhường ngôi cũng không muốn nghe, vì họ sợ những thứ đó quá rồi, sợ rằng sẽ làm bẩn lỗ tai của mình.
Thế mà, xã hội chúng ta ngày nay ngập tràn những tin tức thiếu đạo đức đủ loại, chúng ta lại chấp thuận lắng nghe, ganh đua, đầy ái ố hỉ nộ thị phi.
Bồi dưỡng năng lực phân biệt tin tức tốt xấu, dùng trí tuệ chọn lọc những gì là sạch sẽ, thanh khiết cho chính mình, đó mới là làm được câu “Rửa tai không nghe điều thất đức”.
Trong môi trường tự nhiên, kim tiền phát triển rất nhanh, có thể thành cây có bóng râm to cao. Nếu cột lên cây vài sợi chỉ đỏ hoặc vài đồng tiền vàng (tượng trưng) thì sẽ trở thành cây phát tài, có ý nghĩa về mặt phong thủy và rất đẹp mắt.
Được coi là loại cây "phú quý", có tác dụng chiêu tài nên kim tiền rất thích hợp làm quà tặng trong những dịp mừng lễ, tết, thăng chức, khai trương.

Bạn hãy chọn cây có thân xanh tươi, dày chắc, phiến lá hoàn chỉnh. Những cây đã nở hoa sẽ mang lại nhiều "lộc" nhất. Nên bày cây ở hướng Đông, Đông Bắc trong nhà ở, phòng hội họp, văn phòng, nhà hàng, khách sạn.
(Theo Hoa cảnh ứng dụng trong phong thủy)
Đông chí 2015 sẽ diễn ra vào ngày 22 tháng 12 dương lịch tức ngày 12 tháng 11 theo âm lịch.
1.Vận khí của Đông Chí ra sao ?
Đông Chí là giữa mùa Đông, là lúc mà Âm Khí thuần toàn ngập tràn vũ trụ, đánh dấu chu kỳ một năm chấm dứt để lập lại mùa Xuân cho năm mới.

Quẻ Phục
Tuy nói là mới giữa mùa Đông, nhưng sức sống của mùa Xuân năm mới đã bắt đầu manh nha ngay từ Đông Chí đây rồi. Dịch Lý tượng trưng sức sống của Đông Chí đó là quẻ PHỤC. Quẻ PHỤC trên có 5 hào ÂM, cuối cùng ở dưới có một hào DƯƠNG.
-- Năm hào ÂM tượng trưng cho thuần Âm,nghĩa là Dương Khí của năm cũ đã hết. Sinh khí của vạn vật đã tàng ẩn, không còn một sức sống gì hiển lộ ra bên ngoài. Năm hào ÂM cũng tượng trưng cho sự tàn lụng, vận hạn, hư vong, chết chóc.
-- Một hào DƯƠNG ở cuối dưới tượng trưng cho một sức sống mới vừa được manh nha khởi lập và vươn lên ngay từ lúc nầy để lập lại một mùa Xuân mới cho vạn vật.
Do đó mà Đạo Phật mới nói rằng Mùa Xuân năm mới đã bắt đầu ngay từ Đông Chí chớ không phải đợi đến lúc giữa đêm Giao thừa mới khởi lập mùa Xuân.

>>>Xem NGÀY TỐT trong năm mới 2016!!!
>>>Xem XÔNG ĐẤT trong năm mới 2016!!!
2. Vận khí đó ảnh hưởng đến vạn vật ra sao ?
Đông chí ứng về quẻ Phục. Đó là lúc mà sinh khí vũ trụ hồi phục. Trước ngày Đông Chí một chút là lúc mà vạn vật xem như đang chết cóng, tàn rụi vì mưa bão, gió giông, băng tuyết, thì đến ngày Đông Chí ở dưới lòng đất dương khí bắt đầu phục sinh để chuẩn bị cho trần gian một mùa xuân ấm áp mới, để đem lại cho muôn loài một sức sống mới.

Vận khí đó ảnh hưởng đến muôn vật, mà chúng ta dễ dàng nhận thấy qua các đối tượng như sau :
-- PHỤC đến với Thảo mộc : Đó là lúc mầm non vừa nhú ra ở nách lá, nách cành trong khi thân cây trơ trụi dường như chết. Bên ngoài tuy thấy dường như chết, nhưng mầm sống ẩn tàng bên trong đang nhú lên để ra lá non tua tủa mịn màng.
-- PHỤC đến với nhà Trồng tỉa: Đó là đầu mùa của các nhà trồng tỉa. Đây là lúc mà người ta lo ương hột, chiết cành, đào lỗ, xuống cây để đón mầm sống mới của Dương Khí đang nhô lên trong lòng đất.
-- PHỤC đến với con người: Mấy tháng qua, con người đã từng chịa đựng với mùa Hè oi bức, rồi mùa Thu ảm đạm, u trệ, ẩm ướt, lầy lội, mưa bão, gió giông, mùa Đông u ám, lạnh lẽo, cô quạnh, tàn lụi nay qua Đông Chí lại bắt đầu đón lấy bầu trời trong sáng, khô ráo, nghe như có cái gì hanh thông, nhẹ nhàng, sảng khoái, vui vẻ ở trong lòng. Mọi sinh hoạt ngoài trời đang bắt đầu nhộn nhịp như : đi đường xa, xây cất, du lịch, hội hè,….
-- PHỤC đến với Đạo gia: Đông Chí là mùa phục phát sanh cơ, là chỗ Âm Dương giao thới, là chỗ Kiền Khôn giao hội, là chỗ Long thăng Hổ giáng, là chỗ gặp gỡ của Anh Nhi Xá Nữ. Các Đạo gia nhắm ngay cơ hội đó mà hạ thủ công phu đúng lúc hầu tiếp thu sinh lực của đại vũ tụ đó mà bồi dưỡng tiểu nhân thân.
Các Đạo gia cũng nói:
-- Nhất kiếp tu vạn kiếp hưởng, Nhất thời thu liễm vạn thời xuân. Nghĩa là : tu một kiếp mà hưởng cả muôn kiếp. Hạ thủ công phu đúng lúc chỉ một thời mà hưởng cả vạn thời xuân.
Vậy, trong việc tu hành thế nào là đúng lúc, đúng chỗ, đúng phương pháp.
-- Đông Chí tháng 11 thuộc tháng TÝ. TÝ là đầu của 12 con giáp. TÝ là đầu của 12 năm. Tý là đầu của 12 ngày. TÝ là giờ đầu của 12 giờ. Cho nên mới nói "Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ, tu trì vạn pháp Tý qui tông".
Nghĩa là :
Trời có 4 mùa trong năm mà XUÂN là mùa đầu, mùa quí nhất. Vì Xuân thì sinh hóa. Còn việc tu trì tuy có pháp môn, nhưng chỉ có TÝ là quí nhất. Vì TÝ là lúc trở về GỐC.
Vậy, TÝ là PHỤC, là phục phát sanh cơ, là phục mạng qui căn, là phục hồi sinh lực. Phục cũng là qui nguyên phản bổn, hay là phản bổn hoàn nguyên - Phục là trở về gốc, trở về nguồn, mà nguồn gốc đó là Nguyên Khí của con người. TÝ thuộc hành THỦY, thiên nhứt sanh THỦY - Có THỦY rồi mới có vạn vật trong tiến trình tạo thiên lập địa.
Bởi Đông Chí là PHỤC, là TÝ nó quí như vậy đó. Cho nên Đức Tôn Sư mới chọn khí tiết này làm mùa tu hàm dưỡng cho các tịnh trường.
>>>Đã có TỬ VI 2016 – Xem ngay !!!
>>>Đã có LỊCH VẠN NIÊN 2016 – Xem ngay !!!
3. Vận khí đó ảnh hưởng đến con người ra sao ?
Quẻ Phục có 6 hào bàn về sự trở về cùng Đạo Lý theo nguyên tắc tu thân của người xưa như sau: " TU THÂN DĨ ĐẠO, TU ĐẠO DĨ NHÂN". Tu thân thì dùng Đạo, Sống Đạo thì dùng Nhân. Mà Nhân nơi đây tức là Nguyên Khí trong con người.
Quẻ PHỤC là hình tượng gợi cho ta tu hành, tu luyện thân tâm để phục hồi Nguyên Khí.
Mùa Đông, cây cối tuy thấy trơ trụi bên ngoài, coi dường như chết là tại vì nó đang thu hút nhựa sống đem vào tàng chứa bên trong để chờ cuối Đông sang Xuân mới phóng phát sinh lực đó cho xanh cành rậm lá.
Theo đó, nếu thảo mộc không hút nhựa trở lại thì không thế nào trở nên tươi tốt lại được.

Con người mà cứ làm việc mãi, bất chấp giờ giấc ngày đêm để nghỉ ngơi phục sức thì không thể nào làm việc lâu bền được.
Vì vậy, mỗi người phải biết trọng ở chỗ biết phục, mà cốt ở chỗ tịnh, tịnh rồi mới có thể cảm. Vì có uống rồi mới có mở, có thở ra rồi mới có thể hít vô và ngược lại.
Mùa Đông tàng nạp là mùa PHỤC của một năm.
Đêm trường tĩnh mịch lặng lẽ là lúc PHỤC của một ngày.
Lòng dục tĩnh lãng vắng lặng là lúc PHỤC của thân tâm con người.
Phục chính là bước đầu của con đường trở lại, là đem cái Chân Khí Tiên Thiên Nguyên Sơ đã bị tiêu tán cho nó trở về gốc, gọi là PHỤC.
Thần khí con người cũng vậy, nếu cứ dùng mãi, phóng tán tiêu hao mãi mà không có lúc lo phục trở lại thì sẽ cạn, cạn thì mau già, dễ bịnh hoạn, mau chết, gọi là già háp, chết non, chết yểu, hưởng dương đó vậy.
Tiểu chân thân của con người là bộ máy nhỏ trong guồng máy lớn của vũ trụ đất trời.
Trời đã tiêu hao sinh lực Dương Khí từ tháng Năm, Quẻ Cấu. Cho đến tháng 10 Quẻ Khôn, thì phải lo thu phục trở lại để làm lại mùa Xuân mới.
Bộ máy nhỏ của con người đã bị tiêu hao từ sau mùa tu Hạ Chí (Cấu) đến tiết cuối Thu Phân (Bát) thì phải lo phục hồi trở lại vào Đông Chí (Phục) để làm lại mùa xuân mới trong tâm hồn. Đây là phép phản bổn hoàn nguyên hay là phản lão hoàn đồng đó vậy.
Guồng máy lớn ngoài trời đã phục phát sanh cơ thì bộ máy nhỏ trong nhân thân cũng phải lo tu cho phục phát sanh cơ đó là thuận thiên, mà thuận thiên thì sống còn. Nếu không làm vậy là nghịch thiên, mà nghịch thiên thì chết mất.

Tóm lại, Đông Chí ứng quẻ Phục. Phục là trên đường hồi phục những gì đã phóng tán tiêu hao.
Phục là trở về đường ngay nẻo chánh.
Phục là trở về cùng Đạo Lý – không xa rời Đạo Lý.
Phục là trở lại Thiên Tâm, Phật Tánh của mình.
Phục là trở về nội thân, bồi dưỡng nội thân.
Phục là trở về Chân Tâm, tìm kiếm Chân Tâm, bồi dưỡng Chân Tâm, phát triển Chân Tâm.
Nếu càng ngóng, nghe, ngó, nghĩ ra ngoài càng nhiều thì càng hao tán ba báu. Càng thâu Thần vào trong thì Thần an, Tâm Định, Trí huệ. Thân thể nhờ đó mà mạnh lành, an vui, hạnh phúc.
Tiết Đông Chí được trải dài 15 ngày từ 22.11 đến mùng 5 tháng chạp. Chúng ta nên khép mình trong thanh tịnh để thu liễm suốt 15 ngày đó.
Vậy nên tém vén gia sự thế nào để cho có nhiều thì giờ tiếp thu Dương khí để hàm dưỡng thân tâm. Bởi vì một năm chỉ có một lần Đông Chí – một tiết rất thích hợp để tu nhất kiếp ngộ nhứt thời – mà nhất thời đó là PHỤC vậy.
Mùa Đông Chí năm nay mà làm được chừng ấy thì cũng cho là quí lắm vậy!
(P/S: Bài viết sưu tầm. Nội dung và từ ngữ mang quan điểm của Đạo Phật ).
1. Lông mày thưa và trắng
Người này lông mày khá thưa thớt, nhìn xa thì tưởng màu trắng, điều này tiết lộ phản ứng của người này không nhanh nhạy, tâm tư khá đơn giản. Nếu lại là kiểu lông mày hung thì vận mệnh của người này không được tốt cho lắm.
2. Lông mày nhạt và mỏng
Là người nhạy cảm, có khả năng làm việc tốt. Nếu là phụ nữ thì biết đối nhân xử thế rất tốt, năng lực làm việc cũng khá tốt, tham gia nhiều các hoạt động xã hội. Tuy nhiên, người này dễ bị tình cảm lấn át lý trí, duyên vận không tốt, thân thể cũng không được khỏe mạnh.
3. Lông mày lơ thơ
Người này tính tình nóng nảy nhưng lại rất thông minh, nhìn nhận sự việc một cách nhanh nhạy, chỉ cần thoáng qua cũng có thể hiểu rõ bản chất sự việc, nắm giữ trọng tâm rất nhanh và thường không để tâm vào chuyện vụn vặt. Thế nhưng, người này khá lập dị, dễ bị cảm xúc chi phối, khó nắm bắt và điều khiển cảm xúc của mình.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Người xưa quan niệm Thiên là căn bản gốc, Địa là ngọn ngành. Lập ra Thiên can người xưa lấy số Dương của Hà Đồ (số lẻ) là 1, 3, 5, 7, 9, lấy số 5 ở giữa gấp đôi lên để bao hàm cả âm can (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý) và cả dương can (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm), tất cả 10 can theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Địa chi lấy số âm (số chẵn) là 2, 4, 6, 8, 10. Lấy số 6 ở giữa nhân gấp đôi để tạo thành 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi bao gồm cả dương chi (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) và âm chi (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi).
Thời xa xưa lấy Mặt Trời làm gốc: "Mặt Trời mọc thì đi làm, Mặt Trời lặn thì nghỉ." Gặp hôm trời u ám không thấy Mặt Trời, thật chả biết dựa vào đâu. Tương truyền có một người tên là Đại Nhiêu đã lập ra Thập can và Thập nhi chi để tính thời gian.
Thập can và Thập nhi chi phối hợp với nhau để sinh ra Lục thập hoa giáp (chu kỳ 60 năm gọi là Nguyên).
Việc tính giờ theo can chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật.
Tý (23-1 giờ): Lúc chuột đang hoạt động mạnh.
Sửu (1-3 giờ): Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày.
Dần (3-5 giờ): Lúc hổ hung hãn nhất.
Mão (5-7 giờ): Việt Nam gọi mèo, nhưng Trung Quốc gọi là thỏ, lúc trăng (thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng.
Thìn (7-9 giờ): Lúc đàn rồng quây mưa (quần long hành vũ). Rồng chỉ là con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực.
Tỵ (9-11 giờ): Lúc rắn không hại người.
Ngọ (11-13 giờ): Ngựa có dương tính cao.
Mùi (13-15 giờ): Lúc dê ăn cỏ không ảnh hưởng tới việc cây cỏ mọc lại.
Thân (15-17 giờ): Lúc khỉ thích hú.
Dậu (17-19 giờ): Lúc gà bắt đầu lên chuồng.
Tuất (19-21 giờ): Lúc chó phải tỉnh táo để trông nhà.
Hợi (21-23 giờ): Lúc lợn ngủ say nhất.
Ý nghĩa tượng trưng của “12 con giáp”
Tại Việt Nam, lịch được lập theo các chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt Trăng. Vì sử dụng theo lịch âm nên các ngày chính xác của một năm mới luôn thay đổi theo từng năm. Mỗi năm đều được "hộ trì" bởi một trong số mười hai con vật.
Theo cung Hoàng đạo của người Việt, con đầu tiên là con Chuột (Tý), sau đó là con Trâu (Sửu) và tiếp đến theo thứ tự là con Hổ (Dần), Mèo (Mão), Rồng (Thìn), Rắn (Tỵ), Ngựa (Ngọ), Dê (Mùi), Khỉ (Thân), Gà (Dậu), Chó (Tuất) và cuối cùng là con Lợn (Hợi). Trong số các con giáp này thì con Rồng là con vật thần thoại và Tý, Dần, Tỵ và Thân là những con vật sống hoang dã và thường tránh gặp con người. Bảy con còn lại là những vật nuôi trong nhà. Cứ mỗi chu kỳ 12 năm, lại mang tên con vật cũ.
Ngoài ra, người Việt còn tính theo chu kỳ 60 năm. Chu kỳ này được lập theo sự kết hợp của mười hai con vật là các biểu tượng cụ thể theo cung hoàng đạo của người Việt và 10 dấu hiệu của bầu trời. Lịch của người châu Á được lập theo chu kỳ 60 năm tương đương với chu kỳ một thế kỷ 100 năm của người châu Âu. Mỗi năm ảnh hưởng đối với con người tùy theo những biểu tượng của họ là hội tụ hay phân kỳ.
Sau đây là 12 con vật đại diện 2 giờ đồng hồ trong một ngày 24 tiếng.
Tý (Chuột): Người mang tuổi Tý rất duyên dáng và hấp dẫn người khác phái. Tuy nhiên, họ rất sợ ánh sáng và tiếng động. Người mang tuổi này rất tích cực và năng động nhưng họ cũng thường gặp lắm chuyện vặt vãnh. Người mang tuổi Tý cũng có mặt mạnh vì nếu Chuột xuất hiện có nghĩa là phải có lúa trong bồ.
Sửu (Con Trâu): Trâu tượng trưng cho sự siêng năng và lòng kiên nhẫn. Năm này có tiến triển vững vàng nhưng chậm và một sức mạnh bền bỉ; người mang tuổi Sửu thường có tính cách thích hợp để trở thành một nhà khoa học. Trâu biểu tượng cho mùa Xuân và nông nghiệp vì gắn liền với cái cày và thích đầm mình trong bùn. Người mang tuổi này thường điềm tĩnh và rất kiên định nhưng rất bướng bỉnh.
Dần (Hổ): Những người mang tuổi hổ thường rất dễ nổi giận, thiếu lập trường nhưng họ có thể rất mềm mỏng và xoay chuyển cá tính cho thích nghi với hoàn cảnh. Hổ là chúa tể rừng xanh, thường sống về đêm và gợi lên những hình ảnh về bóng đen và giông tố. Giờ Dần bắt đầu từ 3 giờ đến 5 giờ khi cọp trở về hang sau khi đi rình mò trong đêm.
Mão (Mèo): Mèo tượng trưng cho những người ăn nói nhẹ nhàng, nhiều tài năng, nhiều tham vọng và sẽ thành công trên con đường học vấn. Họ rất xung khắc với người tuổi Tý. Người tuổi Mão có tinh thần mềm dẻo, tính kiên nhẫn và biết chờ thời cơ trước khi hành động.
Thìn (Rồng): Con rồng trong huyền thoại của người phương Đông là tính Dương của vũ trụ, biểu tượng uy quyền hoàng gia. Theo đó, rồng hiện diện ở khắp mọi nơi, dưới nước, trên mặt đất và không trung. Rồng là biểu tượng của nước và là dấu hiệu thuận lợi cho nông nghiệp. Người tuổi Rồng rất trung thực, năng nổ nhưng rất nóng tính và bướng bỉnh. Họ là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, thịnh vượng và của hoàng tộc.
Tỵ (Rắn): Người tuổi rắn nói ít nhưng rất thông thái. Họ thích hợp với vùng đất ẩm ướt. Rắn tượng trưng cho sự tiến hóa vĩnh cửu của tuổi tác và sự kế vị, sự phân hủy và sự nối tiếp các thế hệ của nhân loại. Người tuổi rắn rất điềm tĩnh, hiền lành, sâu sắc và cảm thông nhưng thỉnh thoảng cũng hay nổi giận. Họ rất kiên quyết và cố chấp.
Ngọ (Ngựa): Người tuổi Ngọ thường ăn nói dịu dàng, thoải mái và rộng lượng. Do đó, họ dễ được nhiều người mến chuộng nhưng họ ít khi nghe lời khuyên can. Người tuổi này thường có tính khí rất nóng nảy. Tốc độ chạy của ngựa làm người ta liên tưởng đến mặt trời rọi đến trái đất hàng ngày. Trong thần thoại, mặt trời được cho là liên quan đến những con ngựa đang nổi cơn cuồng nộ. Tuổi này thường được cho là có tính thanh sạch, cao quý và thông thái. Người tuổi này thường được quý trọng do thông minh, mạnh mẽ và đầy thân ái tình người.
Mùi (Dê): Người mang tuổi Mùi thường rất điềm tĩnh nhưng nhút nhát, rất khiêm tốn nhưng không có lập trường. Họ ăn nói rất vụng về, vì thế họ không thể là người bán hàng giỏi nhưng họ rất cảm thương người hoạn nạn và thường hay giúp đỡ mọi người. Họ thường có lợi thế vì tính tốt bụng và nhút nhát tự nhiên của họ.
Thân (Khỉ): Người tuổi Thân thường là một nhân tài có tính cách thất thường. Họ rất tài ba và khéo léo trong các vụ giao dịch tiền bạc. Người tuổi này thường rất vui vẻ, khéo tay, tò mò và nhiều sáng kiến, nhưng họ lại nói quá nhiều nên dễ bị người khác xem thường và khinh ghét. Khuyết điểm của họ nằm trong tính khí thất thường và không nhất quán.
Dậu (Gà): Năm Dậu tượng trưng cho một giai đoạn hoạt động lao động cần cù siêng năng vì gà phải bận rộn từ sáng đến tối. Cái mào của nó là một dấu hiệu của sự cực kỳ thông minh và một trí tuệ bác học. Người sinh vào năm Dậu được xem là người có tư duy sâu sắc. Đồng thời, gà được coi là sự bảo vệ chống lại lửa. Người sinh vào năm Dậu thường kiếm sống nhờ kinh doanh nhỏ, làm ăn cần cù như "một chú gà bới đất tìm sâu."
Tuất (Chó): Năm Tuất cho biết một tương lai thịnh vượng. Trên khắp thế giới, chó được dùng để giữ nhà chống lại những kẻ xâm nhập. Những cặp chó đá thường được đặt hai bên cổng làng để bảo vệ. Năm Tuất được tin là năm rất an toàn.
Hợi (Lợn): Lợn tượng trưng cho sự giàu có vì loài lợn rừng thường làm hang trong những khu rừng. Người tuổi Hợi rất hào hiệp, galăng, tốt bụng và dũng cảm nhưng thường rất bướng bỉnh, nóng tính nhưng siêng năng và chịu lắng nghe..
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Tuổi Tý, Dần và Thân
Ba con giáp này cá tính mạnh, có ý chí kiên cường về việc tạo dựng sự nghiệp lớn lao. Do đó, lời chúc ý nghĩa nhất dành cho con giáp này là những gì liên quan đến tiền tài, sự nghiệp, thành công.
![]() |
Bên cạnh đó, người tuổi Tý, Dần và Thân cũng sở hữu trái tim nồng hậu mặc dù bề ngoài họ không bao giờ thể hiện ra. Sau khi nói lời chúc về sự nghiệp, bạn cũng đừng quên nắm chặt tay họ hoặc dành cái ôm ấm áp để mang lại sức mạnh tinh thần người tuổi Tý. Có như vậy họ mới thực sự yên tâm phấn đấu cho những khát khao sự nghiệp của mình.
Tuổi Sửu, Mùi và Hợi
Có phần trái ngược với nhóm con giáp trên, người tuổi Sửu, Mùi và Hợi không màng danh vọng, thứ duy nhất họ cần chính là tình cảm chân thành. Chiếc thiệp bé nhỏ có kèm những lời yêu thương nồng nàn sẽ “đốn gục” trái tim những con giáp này trong dịp Noel tới. Đó cũng là cơ hội để bạn bày tỏ tình cảm đã cất giấu bấy lâu nay. Hãy mạnh dạn thổ lộ tâm tư thầm kín, chắc chắn cả hai bạn sẽ vỡ òa trong hạnh phúc.
![]() |
Tuổi Mão, Thìn và Dậu
Sở hữu trí tuệ thông minh, nhạy bén và tâm hồn lãng mạn, nhóm con giáp này sẽ ngất ngây nếu được nghe những lời chúc ở một nơi tuyệt đẹp chỉ có hai người. Bạn đừng nhầm tưởng vẻ bề ngoài mạnh mẽ và có phần lạnh lùng của họ mà quên đi những cử chỉ âu yếm ngọt ngào.
![]() |
Do đó, lời chúc ý nghĩa nhất dành cho người tuổi Mão, Thìn và Dậu chính là lời tâm tình thủ thỉ xuất phát từ trái tim. Thay vì viết ra tấm thiệp dễ thương, bạn có thể nhân cơ hội ở bên người tuổi Dần, trực tiếp nói ra lời chúc chân thành. Trái tim của họ sẽ hoàn toàn bạn bị chinh phục.
Tuổi Tỵ, Ngọ và Tuất
Mong muốn có được cuộc sống bình yên và hạnh phúc là điểm chung nổi bật trong nhóm con giáp này. Giáng sinh chính là thời điểm để người tuổi Tỵ, Ngọ và Tuất trải lòng, hòa mình vào không khí an lành để nguyện ước về một tương lai êm đềm, viên mãn.
![]() |
Lời chúc ý nghĩa đồng thời cũng là món quà tinh thần lớn nhất cho họ trong dịp này chính là mong ước họ có được cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Bạn hãy chọn một nơi cảnh vật thanh bình để nói ra những lời chúc chân thành này nhé. Nhóm con giáp này sẽ thực sự ngất ngây khi tâm nguyện của mình được như ý.
Mr.Bull (theo BDB)
Tám vị trí hướng ngồi bàn làm việc của văn phòng tại gia đều có lợi hoặc có hại.

– Ngồi Tây hướng Đông
Lợi cho việc tiến cử, hơn nữa càng thêm tỉ mỉ, tự tin, lạc quan. Chỗ hại là dễ dẫn đến dã tâm, muốn đứng trên cao ảo vọng.
– Ngồi đông hướng Tây
Lợi cho việc tích luỹ tài phú, cuộc sống thỏa mãn hơn nữa, tăng thêm sự lãng mạn.
Chỗ hại là dễ mạnh chân mạnh tay, tỳ tính tăng lên, hơn nữa dễ đào hoa.
– Ngồi Bắc hướng Nam
Lợi cho tứ ích kích tình, khiến người chú ý. giao tiếp linh hoạt.
Chớ hại là áp lực tăng lên. tình cám sóng gió. thị phi miệng lưôi nhiều.
– Ngồi Nam hướng Bắc
Lợi nhân thành thục ổn định, tạo ra tiềm năng, độc lập tự chủ.
Chỗ hại là dễ cô độc, để tâm điêu đàn, sự nghiệp có xu thế bình thường.
– Ngồi Tây Bắc hướng Đông Nam
Lợi cho tăng cường lãnh đạo, mở rộng tài năng và có trách nhiệm, cũng tăng cường tôn quý và uy tín.
Chỗ hại là dễ cương phục tự dụng, mệt mỏi quá độ.
– Ngồi Đông Nam hướng Tây Bắc
Lợi cho việc tăng cường năng lực lãnh đạo, đạt được tín nhiệm và tôn kính.
Chỗ hại là tôi làm tôi có, kiêu ngạo hư vi, can thiệp người khác.
– Ngồi Tây Nam hướng Đông Bắc
Lợi cho tự mình thẳng tiến, mục tiêu rõ ràng, phấn đấu công việc.
Chỗ hại là tham lam, tự tư, có phần căng thẳng, làm việc dã man.
– Ngồi đông Bắc hướng Tây Nam
Lợi cho gia đình hòa thuận, tiết kiệm, quý nhân tương trợ.
Chỗ hại là nghe theo người khác, đầu chuột hai đuôi, quá nhỏ nhen.
Yếu tố làm cho các tiểu hạn trung nhau thành ra khác biệt nhiều là do gốc đại hạn thay đổi, vì khi đoán tiểu hạn điều tiên quyết là phải xét đến đại hạn lúc đó được coi như là một cung Mệnh thứ hai di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn, nhưng ta vẫn không thể quên lãng cung Mệnh khi giải đoán. Để cho được linh động và bớt khô khan tôi tránh việc nêu ra các nguyên tắc và chỉ nêu ra dưới đây nhiều thí dụ điển hình:
- Nếu đại hạn có Liêm Tham hãm địa (tại Tỵ, Hợi) mà tiểu hạn có Địa không, Địa kiếp, Thiên không thì sự nghiệm hoạnh phát, nhất là khi được Địa không, Địa kiếp đắc địa (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) chỉ vì Liêm Tham hãm địa rất cần gặp Không (chính trong cuốn Tử vi đẩu số Tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng có nêu ra điểm này khi bàn đến bộ Sát Phá Liêm Tham hãm tại cung Quan lộc mà quý bạn vô tình không biết áp dụng cho cả đại tiểu hạn).
- Cũng trong trường hợp tiểu hạn trên, nếu gặp Đại hạn có Thiên Phủ hoặc Tử vi thì thực đáng buồn chỉ chờ ngày khuynh gia bại sản hoặc mất chức…nhất là khi có thêm Tuần, Triệt án ngữ (là yếu tố làm lợi thêm cho Liêm Tham hãm), vì Tử Phủ sợ nhất gặp Không Vong và Tuần, Triệt.
- Ngoài ra, ta vẫn phải xét đến Mệnh nữa, vì khi đại tiểu hạn tương hợp với nhau rồi nếu được thêm Mệnh hỗ trợ thêm mới đáng gọi là hanh thông thuận lợi, còn ngược lại vẫn giảm đi nhiều. Tỷ dụ như Mệnh có Vũ Sát tại Mão mà gặp được đại hạn Liêm Tham hãm và tiểu hạn Không Kiếp, Thiên không như trên thì còn gì hay bằng vì tất cả nhóm sao đó tương trợ lẫn nhau chặt chẽ. Còn trường hợp Mệnh có Thiên Phủ (tức là Mệnh ở Dậu) với đại tiểu hạn như trên thì chưa thể hanh thông được hoặc nếu có phát lên mạnh thì đương số cũng đau khổ, bực dọc trong tâm hồn vì nằm trong môi trường trái ngược với tư thế của mình, không khác gì một ông quan tòa mà phải đứng đầu một đảng cướp hoặc một nhóm buôn lậu quốc tế, như thế càng thành công càng thấy lương tâm cắn rứt, mặc dầu bề ngoài thật là thịnh vượng và có uy tín.
Khi Đại hạn có Nhật Nguyệt miếu vượng tại Mão và Hợi mà gặp tiểu hạn có Thiên Không, Thiên Hư và cung nhập hạn lại vô chính diệu thời tiền tài và công danh rất ngon lành, vì Nhật Nguyệt rất ưa cung vô chính diệu để rọi chiếu vào cho sáng sủa nhất là có thêm Thiên Không quét sạch mây mù và có Thiên Hư làm cho bầu trời thăm thẳm thực là đẹp biết bao!
Ngay cả khi có Tuần, Triệt án ngữ cũng vẫn hanh thông vì Nhật, Nguyệt khi chiếu gián tiếp (tức là ở đại hạn ảnh hưởng cho tiểu hạn) không hề sợ Tuần, Triệt mà có khi còn nhờ hai sao nầy làm tăng sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu nhập tiểu hạn nữa.
Ngoài ra, dù có thêm Không, Kiếp (bất luận miếu vượng hay hãm) nhập hạn cũng phát đạt như thường vì Không Kiếp không hại gì cho Nhật, Nguyệt. Nhưng với tiểu hạn như trên, nếu đại hạn gặp Thiên Phủ hội Song Lộc thì kết quả ngược hẳn lại, không lụn bại thì cũng không làm sao phát đạt nổi. Gặp trường hợp như thế nhiều người mới học tử vi hẳn phải thắc mắc không hiểu tại sao tiểu hạn trước mình phát mạnh mẽ mà tiểu hạn sau cũng vào cung đó lại xuống đến đất đen, nhất là cứ yên trí đại hạn có Thiên Phủ hội Song Lộc thì tiền để đâu cho hết…
Bây giờ ta lại phải xét đến Mệnh xem có gì mâu thuẫn hoặc thuận lợi cho đại tiểu hạn hay không: nếu trường hợp đầu (tức là đại hạn Nhật Nguyệt và tiểu hạn Thiên không, Thiên Hưu và cung nhập hạn vô chính diệu) mà được cung Mệnh cũng vô chính diệu hoặc có Phá quân cư Thân) thì năm đó rất thuận lợi, vì Phá quân rơi vào hạn có những sao trên không có gì trái ngược, cũng ví như một người liều lĩnh, thủ đoạn dữ dằn gặp được môi trường làm ăn bất chính (như buôn lậu) thì dễ thành công rực rỡ.
Nếu Mệnh có Cơ, Lương hoặc Tử, Phủ thì tuy hợp với Đại hạn Nhật, Nguyệt nhưng lại kỵ tiểu hạn Không Vong, Không Kiếp, Tuần, Triệt cho nên năm đó cũng khó thành công.
-Nếu đại hạn có Xương, Khúc, Khôi, Việt, Quan Phúc, Hóa Khoa, mà tiểu hạn lại gặp Hỏa Linh, Không Kiếp, Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Kình, Đà là ta đã thấy ngay sự mâu thuẫn, trái ngược giữa hai nhóm sao đó vì một bên toàn là sao chủ về văn học, tư cách thông minh, một bên chủ về dữ dằn, phá hoại, ngăn trở, lao động về chân tay, như thế làm sao có thể hanh thông được. Riêng trường hợp này, rất cần phối hợp với Mệnh.
Nếu Mệnh có Liêm Tham hãm địa hoặc có Vũ, Sát hay Cơ, Lương (nhưng 2 cặp sao sau không thuận lợi bằng Liêm Tham vì chúng rất sợ Tuần Triệt) thì năm đó không đáng ngại, cũng ví như người thợ máy tới lúc được bổ túc thêm phần kỹ thuật của mình (tỷ dụ như học thêm một khóa chuyên môn nào đó).
Còn trường hợp Mệnh có Thiên Tướng, Thiên Lương…thì tuy rất hợp với đại hạn đó nhưng tiểu hạn hoàn toàn bất lợi, nếu có đi thi tất rớt, có mưu cầu chức phận gì cũng bị cản trở. Do đó, nếu Mệnh và tiểu hạn tương hợp với nhau rồi phải có Đại hạn làm trung gian kết hợp mới tốt đẹp, cũng ví như người mai mối giữa hai họ nhà trai và nhà gái nếu thân thiết với cả hai bên thì người đó sẽ cố tác thành cho cặp trai gái, còn trường hợp không ưa một bên nào là thế nào cũng gây mâu thuẫn. Xem như vậy quý bạn thấy đoán tiểu hạn quả thực rất uyển chuyển vì phải kết hợp quá nhiều yếu tố.
Qua những thí dụ nêu trên, quý bạn hẳn đã có một khái niệm về sự khác biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau (cùng một cung). Đây mới chỉ căn cứ vào gốc đại hạn chứ chưa xét tới những yếu tố thay đổi khác, mà tôi xin nêu ra dưới đây:
(Xem tiếp phần 2)
Trên đường lập nghiệp có biết bao khó khăn, trắc trở. Mỗi lần gặp vướng mắc, cảm thấy bất lực, mệt mỏi, hãy hướng tới Phật đọc bài khấn Phật giúp vượng sự nghiệp, coi như một liệu pháp tinh thần cho bản thân.
![]() |
![]() |
Tân Sửu nam mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao. Cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, việc lựa chọn vợ chồng thế nào được trình bày chi tiết trong lá số tử vi trọn đời này.
Sanh năm: 1961, 2021 và 2081
Cung ĐOÀI. Trực THÂU
Mạng BÍCH THƯỢNG THỔ (đất trên vách)
Khắc THIÊN THƯỢNG THỦY
Con nhà HUỲNG ĐẾ (phú quý)
Xương CON TRÂU. Tướng tinh CON ĐƯỜI ƯƠI
Ông Quan Đế độ mạng
Tân Sửu mạng Thổ tuổi này,
Số cùng với mạng lắm lần khắc khe
Vận thời đời đổi ngửa nghiêng,
Nhiều phen lận đận lắm lần gian nan.
Nếu sanh mùa Hạ thời may,
Thanh nhàn thong thả ít ai dám bì.
Số này chết hụt nhiều khi,
Nhờ ơn trời Phật không thì mạng vong.
Anh em cha mẹ hai dòng,
Nếu không chồng vợ lòng dòng đôi ba.
Nếu không thay vợ đổi nhà,
Cuộc đời luống chịu vui chiều buồn mai.
Cho hay số phận Thiên Tài,
Tu nhân tích đức phước nhờ mai sau.

Tân Sửu, cuộc đời nhiều may mắn, đường công danh phát triển mạnh mẽ, có thể vào trung vận có nhiều kết quả về danh phận. Đời sống có thể lên đến tuyệt đỉnh của cuộc đời. Tóm lại tuổi Tân Sửu có nhiều hay đẹp về cuộc sống cũng như về danh vọng và sự nghiệp.
Tuổi Tân Sửu, phát triển mạnh về công danh, trung vận và hậu vận nhiều sung sướng. Số hưởng thọ trung bìn từ 55 đến 60 tuổi. Hiền đức thì tăng thêm niên kỷ, gian ác thì giảm kỷ.
Về vấn đề tình duyên tuổi Tân Sửu có chia làm ba giai đoạn như sau: Nếu bạn sanh vào những tháng này thì cuộc đời bạn có ba lần thay đổi về tình duyên và hạnh phúc, đó là bạn sanh vào những tháng 4, 8, 9 và 12 Âm lịch. Nếu sanh vào những tháng này thì cuộc đời có hai lần thay đổi về tình duyên và hạnh phúc, đó là bạn sanh vào những tháng 1, 2, 3, 5 và 10 Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng này thì cuộc đời bạn được hưởng hạnh phúc, một chồng một vợ mà thôi, đó là bạn sanh vào những tháng 6, 7 và 11 Âm lịch.
Công danh lúc trung vận có thể lên đến tuyệt đỉnh của dạnh vọng đời sống có phần sung túc về vấn đề này. Gia đạo yên hòa, không có gì xảy ra, nhưng về hậu vận thì hay lộn xộn và bê bối.
Phần sự nghiệp hay đẹp, liên quan đến vấn đề công danh, công danh lên cao thì sự nghiệp được vững chắc tiền bạc đầy đủ hoàn toàn sung túc cho cả cuộc đời.
Nếu trong sự làm ăn hay phát triển công danh, bạn nên lựa những tuổi này mà cộng tác hay hợp tác thì có phần tốt đẹp, thâu được những thắng lợi về tài lộc, đó là các tuổi: Quý Mão, Ất Tỵ, Bính Ngọ. Kết hôn hay làm ăn với những tuổi này thì được tốt.
Trong việc kết hôn, bạn nên lựa chọn những tuổi này thì cuộc sống bạn có nhiều tốt đẹp và có phần làm ăn được phát đạt giàu sang, đó là bạn kết hôn với các tuổi: Quý Mão, Ất Tỵ, Bịnh Ngọ, Kỷ Dậu, Canh Tý, Kỷ Hợi. Nếu kết hôn với những tuổi trên bạn sẽ tạo được cuộc sống giàu sang phú quý.
Nếu bạn kết hôn với những tuổi này thì bạn chỉ tạo được cuộc sống trung bình mà thôi, vì những tuổinày chỉ hạp vào đường tình duyên mà không hạp về đường tài lộc, đó là các tuổi: Nhâm Dần, Mậu Thân.
Nếu kết hôn với những tuổi này, đời sống của bạn chỉ tạo được một cuộc sống khả dĩ bảo đảm cho cuộc đời ở mức trung bình và chỉ sống trong sự nghèo khổ triền miên, đó là bạn kết duyên với các tuổi: Giáp Thìn, Bính Thìn.
Có những năm không hạp tuổi, nếu bạn tính việc hôn nhân sẽ không thành, hay thành thì sẽ gặp cảnh xa vắng triền miên, đó là những năm mà bạn ở vào số tuổi: 18, 24, 30, 36, 42, 48 và 54 tuổi. Những năm mà không nên cưới vợ, nếu cưới vợ thì gặp cảnh trên.
Sanh vào những tháng này cuộc đời bạn sẽ có nhiều vợ, đó là sanh vào những tháng: 1, 2, 3, 4, 8 và 9 Âm lịch.
Tuổi Tân Sửu có những năm khó khăn nhất là những năm ở vào số tuổi: 18, 24, 28 và 33 tuổi. Những tuổi này đề phòng tai nạn hay bịnh tật..
Những tuổi sau đây, bạn không nên kết duyên hoặc hợp tác làm ăn, vì kết duyên hay hợp tác làm ăn bạn sẽ bị biệt ly hay tuyệt mạng giữa cuộc đời. Đó là bạn kết duyên với những tuổi: Tân Sửu đồng tuổi, Đinh Mùi, Canh Tuất, Quý Sửu, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Ất Mùi.
Như đã nói ở trên, khi phạm nhằm tuổi Đại Kỵ, bạn nên giản dị và cẩn thận đến mức tối đa trong cuộc sống cũng như trong việc làm ăn. Về việc hôn nhân hạnh phúc, nếu gặp tuổi đại kỵ thì nên âm thầm kết duyên hơn là làm rầm rộ, kỵ nhất là mâm trầu hay ra mắt bà con cha mẹ. Đây là vấn đề tạm thời, chứ thật ra gặp tuổi Đại Kỵ mà hiệp hôn hay làm ăn thì quá khó khăn trong vấn đề tài lộc, lẫn công danh và sự nghiệp. Nên tùy theo năm mà cúng sao hạn, nếu gặp hạn trường hợp kết hôn, giao dịch với tuổi Đại Kỵ, vì sao hạn mỗi năm khác và thay đổi suốt 60 năm.
Tuổi Tân Sửu xuất hành vào ngày chẵn, giờ lẻ và tháng lẻ thì thuận tiện nhất trong việc làm ăn cũng như về tài lộc. Xuất hành vào những ngày, giờ nói trên thì rất tốt về tài lộc cũng như về tình cảm.
Từ 20 đến 25 tuổi: 20 tuổi, năm phát triển về công danh; tài lộc yếu kém; tình cảm dồi dào. 21 tuổi, năm này khá tốt đẹp về phần tài lộc và cuộc đời. 22 tuổi, kỵ các tháng 3, 4 và 6 Âm lịch, các tháng này không nên đi xa, ngoài ra những tháng khác tốt đẹp. 23 tuổi, năm này quá xấu, không nên làm những chuyện lớn. 24 tuổi, tạm được, làm ăn có đôi phần kết quả, nhưng về tình cảm thì khó khăn. 25 tuổi, được tốt đẹp, năm này đi xa làm ăn thắng lợi.
Từ 26 đến 30 tuổi: 26 tuổi nhiều hy vọng thành công về công danh, tài lộc cũng như tình cảm. 27 tuổi năm này khá tốt có thể vượng phát vấn đề tiền bạc, đi xa vào những tháng 4 và 6 có hại cho bản thân. 28 và 29, hai năm này tạm tốt đẹp nhưng rất nhiều tháng xấu: 28 tuổi xấu vào những tháng 4, 7 và 11; 29 tuổi xấu vào những tháng 1, 7 và 12. 30 tuổi, có thể lên cao về danh vọng, sự nghiệp và cuộc đời.
Từ 31 đến 35 tuổi: 31 tuổi có nhiều hay đẹp về việc gia đình cũng như ngoài xã hội. 32 và 33 hai năm này tạm yên tĩnh công việc làm ăn bình thường. 34 tuổi khá tốt đẹp, công danh và tài lộc lên cao. 35 tuổi, năm này có bịnh hay gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Từ 36 đến 40 tuổi: 36 tuổi khá tốt, bổn mạng vững, cuộc đời có nhiều may mắn. 37 và 38 tuổi hy vọng sẽ thành công hoàn toàn trong trong cuộc sống. 39 tuổi không được tốt hoàn toàn năm đều xấu! nên cẩn thận vào tháng 3 và 6 có tai nạn hoặc hao tài, tốn của. 40 tuổi ảnh hưởng của năm 39 còn, nên lo toan việc gia đình làm ăn lớn sẽ thất bại to.
Từ 41 đến 45 tuổi: 41 tuổi, năm này phát triển làm ăn xây dựng sự nghiệp rất tốt đẹp. 42 tuổi, thành công đôi chút về vấn đề tình cảm, gia đình. 43 tuổi, năm này nên đi xa hay hợp tác, giao dịch tiền bạc, sẽ gặp nhiều việc may. 44 tuổi, năm này trung bình không có gì quan trong xảy ra. 45 tuổi, năm này có thể làm ăn hay hùn hạp làm ăn khá tốt.
Từ 46 đến 50 tuổi: 46 tuổi, được phần thắng lợi về tài lộc cũng như về tình cảm, cuộc sống hay đẹp về công danh và sự nghiệp. 47 và 48, hai năm có hai tháng kỵ, có bịnh trầm trọng hay hao tài tốn của đó là tháng 1 của 47 tuổi và tháng 10 của 48 tuổi, ngoài ra những tháng khác trung bình. 49 và 50, hai năm này vượng phát mạnh, tiền bạc thêm dồi dào và nhiều tốt đẹp.
Từ 51 đến 55 tuổi: 51 tuổi, nhiều tốt đẹp. 52 tuổi, cẩn thận bổn mạng xấu. 53 tuổi trung bình. 54 tuổi khá tốt, trong gia đình, con cái có phần phát triển về danh vọng. 55 tuổi, tạm tốt đẹp về gia đình, bổn mạng có phần yếu kém.
Từ 56 đến 60 tuổi: Khoảng thời gian này nên cẩn thận về tài lộc lẫn tình cảm, bổn mạng có suy yếu. Những năm này rất kỵ việc đi xa.
Vận trình tử vi trọn đời 12 con giáp chi tiết
Xem bói tử vi tuổi Sửu
Xem tử vi năm mới
Đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên đỉnh núi Vặn (Tên mỹ là tự là núi Ốc Sơn), thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, có độ cao 170,2m so với mặt biển, nằm trong hệ thống “Tam sơn cấm địa” là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn.
Đứng trên đỉnh núi Vặn có thể bao quát một vùng rộng lớn sơn thuỷ hữu tình. Phía trước núi Vặn là núi Hùng, nơi thờ tự các vua Hùng. Núi Hùng trông xa giống như đầu con rồng lớn, mình rồng uốn lượn thành núi Trọc, núi Vặn ở phía sau. Bên tả có dòng sông Hồng, bên hữu có dòng sông Lô tựa như hai dải lụa đào, bao bọc lấy ba ngọn “Tổ Sơn” ở giữa. Phía sau núi Vặn là những dãy đồi lớn san sát như bát úp, gắn với truyền thuyết “Trăm voi chầu về Đất Tổ”. Cảnh thế ngoạn mục hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thủy tụ hội.
Lịch Sử: Theo truyền thuyết xưa: 3 ngọn “Tổ Sơn” là nơi lưu giữ dấu tích của Tổ tiên. Mẹ Âu Cơ kết duyên cùng cha Lạc Long Quân tại Động Lăng Xương – Thanh Thuỷ, về đến núi Hùng, sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai. Khi các con khôn lớn, Cha Lạc Long Quân đưa 50 người con xuôi về vùng biển mở mang bờ cõi. Mẹ Âu Cơ đưa 49 người con lên vùng núi sinh cơ lập nghiệp, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải xây dựng cuộc sống. Trong dân gian hình ảnh mẹ Âu Cơ là người mẹ đầu tiên khai sinh ra cả dân tộc.
Kiến Trúc: Đền Mẫu Âu Cơ là một công trình nghệ thuật kiến trúc có giá trị cao với các kết cấu kiến trúc đền chùa cổ, các pho tượng quý như tượng Âu Cơ, tượng Đức Ông, các bức chạm quý và nhiều cổ vật vô giá. Khu vực đền là một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài khoảng 200m và chiều rộng khoảng 150m với tường cao bao quanh.
Đền có kiến trúc bao gồm: Đền chính thờ Mẫu Âu Cơ, nhà tả vu, nhà hữa vu, nhà bia, trụ biểu, tam quan… được thiết kế theo phong cách xây dựng truyền thống, xen lẫn tính hiện đại. Các họa tiết trên trống đồng Đông Sơn: Cột gỗ có thớt đá kê, tường xây gạch mộc đỏ, mái đền có đầu đao cong vút như cánh chim Lạc, trụ biểu đá giống như cây bút đang viết lên trời xanh… cho nhân dân ta vừa cảm giác gần gũi với mẹ vừa thiêng liêng cao quý.
Trong Hậu cung đền đặt tượng Tổ Mẫu Âu Cơ được làm bằng đồng. Phía dưới đặt tượng Lạc hầu, Lạc tướng. Năm 1991, đền Mẫu Âu Cơ đã được Bộ Văn hóa – Thông tin nước CHXHCN Việt Nam cấp bằng công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
Ngày lễ chính của đền Mẫu Âu Cơ là ngày Tiên giáng mùng 7 tháng Giêng. Dân trong vùng từ lâu đã có câu ca lưu truyền: Mùng bảy trong tiết tháng Giêng, Dân Hiền lễ tế trống chiêng vang trời…. Lễ hội có lễ tế Thành Hoàng ở đình, rước kiệu từ đình vào đền, lễ dâng hương và lễ vật gồm 100 bánh ngọt, 100 phẩm oản, hoa quả. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày liên tục từ mùng 7-9 tháng Giêng. Ngoài ra, các ngày lễ khác trong năm: ngày 11-12 tháng Hai, ngày 12 tháng Ba, ngày 13 tháng Tám, ngày Tiên thăng 25 tháng Chạp
Đền thờ Mẫu Âu Cơ là một công trình văn hoá lớn của thời đại chúng ta – con cháu các vua Hùng xây dựng nên, nhằm mục đích “quy tụ” và “hội tụ” văn hoá “Đền Hùng”. Bổ sung cho quần thể kiến trúc tín ngưỡng trong Di tích lịch sử Đền Hùng, thể hiện tình cảm của nhân dân ta đối với Tổ Mẫu Âu Cơ người mẹ thiêng liêng huyền thoại của dân tộc Việt Nam.
Đền Mẫu Đồng Đăng còn có tên gọi khác là “Đồng Đăng linh tự”. Đồng Đăng không chỉ nổi tiếng bởi phố Kỳ Lừa, nàng Tô Thị, chùa Tam Thanh, nơi đây còn thu hút du khách bởi đền Mẫu, một ngôi đền cổ kính uy nghi nằm trên đỉnh núi. Đền Mẫu Đồng Đăng tọa lạc ở trung tâm thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Có câu ca dao, chắc hẳn ai cũng đôi lần nghe nhắc đến như một nét đặc trưng gì đó về xứ Lạng. Đấy cũng là nét văn hóa đáng tự hào của người dân Lạng Sơn.
“Đồng Đăng có phố Kì lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…”
Câu ca dao da diết trong lòng bất cứ du khách nào đã từng đôi lần đặt chân đến Lạng Sơn. Đền Mẫu Đồng Đăng là ngôi đền lớn có giá trị đặc biệt về kiến trúc, tín ngưỡng tôn giáo và lịch sử, là nơi nhân dân các dân tộc trong tỉnh, du khách tới đây nguyện cầu sự che chở của các đấng linh thiêng cho cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, qua đó gắn kết tinh thần cộng đồng và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Xưa kia, nơi đây là một ngôi chùa. Đồng Đăng linh tự gồm có 5 gian thờ:
Đền Mẫu Đồng Đăng là một trong những nơi thờ tự nổi tiếng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam. Ngoài ra, nơi đây còn lưu truyền câu chuyện gặp gỡ cảm động giữa Mẫu Liễu Hạnh (một trong “Tứ bất tử” trong văn hóa tâm linh của người Việt) và Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan, khi ông vừa đi sứ Trung Quốc trở về.
Tương truyền, Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng, tên là Quỳnh Hoa. Do có duyên nợ với trần gian nên bà thường hiển linh giúp đỡ nhân dân, được triều đình (thời Hậu Lê) sắc phong là công chúa Liễu Hạnh và là Thượng đẳng Phúc thần. Ngoài việc hiển linh giúp đỡ nhân dân, bà còn hay ngao du sơn thủy đến các thắng cảnh của nhiều vùng và đã nhiều lần gặp gỡ, họa thơ với danh sĩ Phùng Khắc Khoan, trong đó có lần hai người gặp nhau tại Đồng Đăng linh tự.
Lễ hội đền Mẫu Đồng Đăng được tổ chức vào mồng 10 tháng giêng hằng năm, thu hút hàng nghìn lượt du khách trong nước và quốc tế đến đây thưởng ngoạn nét văn hóa đặc sắc của người dân xứ Lạng. Đến với nơi đây, du khách còn được đắm mình trong văn hóa tâm linh, thắp hương cầu mong sức khoẻ, cầu tài, cầu một năm phát lộc, cầu cho quốc thái dân an.
Vào ngày chính hội, hàng chục nghìn du khách từ khắp nơi cùng đến đây để dự lễ, tham gia các hoạt động văn hóa tâm linh truyền thống, nhiều du khách trong nước nhân dịp này đã kết hợp tham gia các tuor du lịch quốc tế.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, thời nào đền Mẫu Đồng Đăng cũng được nhân dân góp công, góp của tôn tạo. Đến nay, ngôi đền đã mang diện mạo khác hẳn, tường bao hoa văn đẹp mắt; cây cối xanh rì tỏa mát cả sân đền, ghế đá, biển chỉ dẫn được sắp đặt gọn gàng, khoa học. Du khách khi đến thắp hương, vãn cảnh không phải bận tâm, bực mình vì gặp cảnh ăn xin đeo bám, không có cảnh xem quẻ, bói toán lộn xộn như ở một số đền chùa khác.
Thấp thoáng phía sau Tam bảo, một tòa tháp tráng lệ đang được hoàn thiện, như một minh chứng cho sự phát triển về kinh tế, văn hóa của vùng đất miền biên ải. Ngày nay, đền Mẫu Đồng Đăng còn là một điểm dừng chân trong tuor du lịch từ các tỉnh đến Lạng Sơn, đi cửa khẩu Tân Thanh và chợ Đông Kinh…
Di tích đền Mẫu Đồng Đăng là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tín ngưỡng đặc sắc đã thực sự trở thành một điểm đến trong hành trình du lịch tâm linh nơi cửa ngõ phía Bắc nước ta mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Xứ Lạng.
Trên cơ thể người đàn ông có rất nhiều nốt ruồi, ở nhiều vị trí khác nhau. Mỗi vị trí lại có 1 ý nghĩa nhất định và khác so với phụ nữ. Đặc biệt là Nốt ruồi ở ngực đàn ông có những ý nghĩa mà theo Nhân tướng học nhận định tương đối chuẩn xác.

Xem thêm:
+ Nốt ruồi ở ngực phụ nữ nói lên điều gì?
+ Nốt ruồi trên má bạn gái có ý nghĩa gì?
+ Xem bói nốt ruồi đoán tương lai, vận mệnh của bạn
Để xác định Nốt ruồi ở ngực đàn ông có ý nghĩa gì thì bạn cần xác định được vị trí của nốt ruồi đó. Bởi tên gọi Vùng Ngực là rộng, nốt ruồi có thể mọc ở các vị trí khác nhau và ý nghĩa của nó cũng trở nên khác nhau. Nhân tướng học đã nghiên cứu và rút ra được 3 vị trí Nốt ruồi ở ngực nam với các ý nghĩa tương ứng như sau:
Nốt ruồi ở ngực trái hoặc gần ngực:
Đây là nốt ruồi có tên gọi Trung sơn. Người sở hữu nốt ruồi này thường là người có nhiều con cái. Tuy nhiên, lại hay sầu muộn về chuyện vợ chồng nên cuộc sống lấy con cái làm niềm vui, hạnh phúc không trọn vẹn.
Nốt ruồi ở giữa ngực:
Nốt ruồi ở ngực đàn ông này có tên gọi là Sát Thê. Như tên gọi của nó đã chỉ nên ý nghĩa, người có nốt ruồi này có tướng hại vợ, sát vợ, không tốt.
Nốt ruồi trên ngực phải:
Đây là nốt ruồi có tên Trung Hòa. Nốt ruồi ở ngực nam vị trí này nói lên người đàn ông thường đủ ăn đủ tiêu, không đến nỗi giàu có.
Trên là các ý nghĩa của các vị trí Nốt ruồi ở ngực đàn ông. Bạn hãy cùng so sánh và đối chiếu nhé.
Ngoài các ý nghĩa Nốt ruồi ở ngực đàn ông thì nốt ruồi còn có ý nghĩa khác nhau khi ở các vị trí khác trên cơ thể đàn ông như sau:
Nốt ruồi ở trán: người có số hưởng phước lộc, giàu sang, gặp vận hạn vẫn vượt qua
Nốt ruồi ở đuôi mắt trái: là người đa sầu đa cảm, để lộ rõ tình cảm ra bên ngoài
Nốt ruồi ở đuôi mắt phải: là người hay mặc cảm về số phận, khóc mướn, thương vay
Nốt ruồi ở dưới miệng bên trái: là người có duyên thầm, giàu tình cảm
Nốt ruồi nằm ở bả vai bên trái và bên phải: là người suốt đời chỉ đi làm thuê, bần tiện, keo kiệt.
Nốt ruồi ngang cánh mũi về bên trái: là người dễ gặp tai nạn và có thể bất đắc kì tử.
Nốt ruồi ngang môi trên bên trái: là người khắc với vợ nhưng lại dễ tin người.
Nốt ruồi ở trên bắp tay trái: là người thường góa vợ sớm hoặc gặp trắc trở đường tình duyên, đau khổ không nguôi về tình yêu.
Nốt ruồi nằm trên cổ tay trái: là người có nhiều tham vọng, đua đòi theo cao sang quyền quý.
Nốt ruồi ở bàn tay trái: là người lãng mạn trong tình yêu, nhưng lại bạc tình.
Nốt ruồi dưới họng chếch về bên trái: là người dễ đổi thay, thường chia li vợ chồng.
Nốt ruồi bên cạnh sườn bên trái: người hay nịnh nọt, a dua, đời sống tình cảm thầm kín.
Nốt ruồi ở thắt lưng bên trái: là người hiền lành, tôn trọng tình cảm của bản thân.
Nốt ruồi giữa rốn: là người cực nhọc về thể xác, bảo thủ, đố kị với những kẻ hơn mình
Nốt ruồi ở phần xương chậu ở bên trái: là người hay ghen tuông, lãng mạn nhưng rất dâm đãng
Nốt ruồi ở đùi trên bên trái: là người thích tranh cãi, đấu lý, nhưng lại rất can đảm.
Nốt ruồi ở bộ phận sinh dục: là người ham mê thú vui về thể xác.
Nốt ruồi nằm trên đầu gối bên trái: là người hay gặp tai nạn bất ngờ
Nốt ruồi ở cổ chân bên trái: là kiểu người thích phiêu lưu mạo hiểm, đi du lịch.
Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại chuyên mục: Thư viên xem bói
Tìm kiếm liên quan: nốt ruồi ở ngực đàn ông, nốt ruồi trên ngực đàn ông, nốt ruồi ở ngực nam, not ruoi o nguc nam gioi, not ruoi tren nguc nam gioi
Để có được một ngôi nhà ở thích hợp với mình thì chất liệu của cửa sổ và rèm che cửa sổ đòi hỏi phải thoả mãn những yêu cầu nhất định. Dưới đây là một số ý kiến tham khảo:

(1) Cách giám định chât lượng lắp đặt cửa sổ hợp kim nhôm
1- Cửa sổ làm bằng hợp kim nhôm được lắp đặt tốt là khi đóng cửa phải kín khít đều. Độ sai lệch giữa cánh cửa và khung cửa hoặc đường riềm không vượt quá 2mm, cửa mở trơn, thuận.
2- Kiểm tra xem đường ray trượt bên dưới của cửa kéo có được lắp đặt phẳng và chắc chắn không, chú ý không được có hiện tượng lồi lõm, đẩy nhẹ thây cửa trượt trên ray trơn, thuận là được.
3- Khung đứng và khung ngang cửa sổ hợp kim nhôm ở ban công phải được lắp ghép chắc chắn và được cố định trên khung bảo vệ ban công và nóc ban công, thường dùng đinh bắn hoặc đinh bu-lông để cố định khung cửa vào tường xi măng, khi cố định nên dùng thép góc được sơn để gia cố. Không được cố định cửa trên gạch, cũng không được dùng các miếng gỗ chèn vào cửa thay cho đinh. Toàn bộ các khe tiếp giáp giữa đường ray trượt và bệ cửa trên dưới phải dùng xi măng cát trát kín, đề phòng nước nưa ngấm vào nhà.
4- Độ dầy vách nhôm làm mặt cánh cửa sổ hợp kim nhôm không nên nhổ hơn 1,4mm, độ dầy vách khung cánh cửa không nhỏ hơn 2mm. Độ dầy vách khung gắn vào tường không nhỏ hơn l,5mm.
(2) Cách giám định chất lượng lắp đặt cửa sổ gỗ
– Kết cấu cửa phải chắc chắn, phẳng, không có hiện tượng cong, vênh.
– Độ dầy khung cánh cửa 50mm, cánh cửa nên dùng mộng để ghép các bộ phận với nhau. Khi lắp khung cửa, cánh cửa, mộng v.v… phải ăn khớp nhau và nên dùng thêm keo gắn kết cho chắc chắn hơn. Đường tiếp giáp giữa khung cửa với tường phải kín.
– Đường cắt khung cửa phải thuận và thẳng, bề mặt phải phẳng. Đóng mở cửa linh hoạt, không có hiện tượng nghiêng lệch.
– Cửa sổ dùng sơn bề mặt phải phẳng, bóng sáng, không có dấu vết, màu sắc đều, không bị mất sơn.
(3) Cách chọn mua rèm cửa phổ thông
– Phát huy đầy đủ chức năng của rèm cửa. Nếu là rèm cửa dùng cho cửa sổ phòng sách tốt nhất chọn loại mỏng, như vậy sẽ làm cho phòng sáng dịu, không bị tối; dùng cho phòng ngủ chọn loại rèm dầy hơn một chút, giảm cường độ ánh sáng trong phòng, tạo không gian yên tĩnh và tương đối kín đáo. Mùa đông rèm cửa nhiều lớp sẽ tạo thành các lớp không khí có tác dụng ngăn cản đối lưu không khí nóng và không khí lạnh vào phòng, nâng nhiệt độ trong nhà lên; mùa hè dùng rèm cửa kiểu bán treo, mành trúc hoặc mành ngọc sẽ có hiệu quả thông gió rất tốt.
– Cân nhắc màu sắc rèm cửa sổ. Rèm cửa số phòng khách nên chọn loại màu đậm, phòng ngủ chọn màu nhạt tao nhã. Màu sắc rèm cửa sổ nên đậm hơn màu tường một chút, ví dụ như tường màu vàng nhạt thì dùng rèm màu lá, tường màu xanh da trời nhạt thì dùng rèm màu trà v.v…
– Chọn chất liệu rèm cửa sổ. Đa số các gia đình thường chỉ treo rèm một lớp, không cần quá dầy, cần có độ sáng nhất định, nhưng cũng không được quá mỏng nhằm tránh khí trong nhà bật đèn từ ngoài có thể nhìn thấy rõ các hoạt động bên trong nhà.
(4) Cách treo rèm cửa
– Cách cố định phần trên: cố định bộ phận trên của rèm vào khung cửa sổ, từ giữa vén rèm treo sang hai bên, như vậy nhìn thật mộc mạc mà trang nhã.
– Cách kéo sang ngang. Treo rèm trên một thanh ngang để có thể kéo qua lại theo chiều ngang, rèm treo như vậy sử dụng sẽ linh hoạt mà không ảnh hưởng đến ưu diểm lấy ánh sáng của cửa sổ.
– Cách nâng lên hạ xuống theo chiều thẳng đứng: Kiểu treo này thường dùng cho rèm trúc, rèm bạch diệp nhựa hoặc rèm kim loại bạch diệp, cách treo này có đặc điểm là lấy và che được ánh sáng từ nhiều góc độ.
(5) Cách giám định chất lượng lắp đặt hộp rèm cửa sổ
– Độ cao bề mặt hộp rèm cửa sổ thường là 140mm; khi lắp đặt với đường ray đôi, độ rộng tịnh bên trong hộp là 180mm, khi lắp đặt đường ray đơn, độ rộng tịnh bên trong hộp là 140mm.
– Độ dài của hộp rèm loại rèm 2 cánh nên kéo sang 2 bên theo độ rộng của động cửa, độ dài kéo sang mỗi bên không quá 180mm.
– Ngoại quan hộp rèm phải sáng và sạch, lắp ráp khít kín. Sau khi lắp xong, hộp bám chắc vào tường không có khe hở, phẳng và thẳng, mép dưới cân đối, độ cao hai dầu chênh lệch không đến 2mm.
– Hộp rèm cứa sổ được sơn, bề mặt ngoài phải sáng nhẵn, phẳng, không có dấu vết, màu sắc phải đều, không bị mất sơn.
Trong tử vi, Tứ trụ bao gồm giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh và năm sinh, quyết định nhiều tới số mệnh của cuộc đời một người. Xét về Thương Quan trong tử vi: Hàm nghĩa: người bà, vận động, tài ăn nói, nghệ thuật, sáng tác, thanh danh, con cái. Ưu điểm: dũng cảm, lãng mạn, tự do, thông minh, to gan, linh hoạt, tranh luận Nhược điểm: mất chức, thi trượt, vô kỷ luật, tùy hứng, thị phi, phản loạn, khắc chồng. Năm sinh có Thương Quan thì chủ tổ tiên có cuộc sống gian nan, cha không bằng ông, người có tâm lý phản loạn, dễ phải bươn chải từ sớm, không kế thừa tổ nghiệp. Năm làm Thương Quan vượng mà không có gì khắc chế thì người cha có tính tình táo bạo. Năm làm Thương Quan hỉ dụng thì ngày nhỏ gia đình tốt; vi tắc thì ngày nhỏ gia cảnh bần hàn. Thân nhược đặc biệt kị Thương Quan, người có cố tật, nếu không sửa được sẽ giảm thọ, có Kiêu Ấn thì sẽ hóa giải được. Năm xưa phạm Thương Quan thì khó có con. Tổ vượng phụ suy, đời cha không bằng đời ông. Năm thượng thương Quan khắc cha mẹ, không quá tuổi 25 thì mệnh ngạch cha mẹ không còn, trừ khi cả đời vất vả. Thương Quan ở tháng sinh thì là người có thiên phú nghệ thuật, tài buôn bán, thông minh trí tuệ, năng lực hành động vượt trội. Nguyệt lâm Thương Quan, anh em bất hòa, hôn nhân bất lợi, nữ mệnh có can của tháng sinh vướng Thương Quan thì duyên phận cực kém. Thương Quan cường vượng, dễ đắc tội với người khác, giúp người mà không được báo đáp. Thương Quan được lệnh thì không đủ ôn nhu, thêm Kiêu Ấn chủ lời nới không có thiện ý. Người này cao ngạo, lập dị, thích phủ định người khác, cậy mạnh hiếu thắng, tâm phục khẩu không phục. Thương Quan áp chế thân quá mức thì nghèo khó, tự cho là thông mình. Anh em ít, có anh em cũng không giúp đỡ được nhiều. Thái độ làm người thanh cao ngạo mạn, khôn khéo, tháng sinh lâm Thương Quan có Thân vượng thì có vận tài lộc tốt.
![]() |
Nhìn người bằng cách nghe cách nói, nhìn cách thức và sự biểu lộ tình cảm của một ai đó ta có thể phán đoán tính cách của người đó.
Dùng thời gian để nhìn người là ám chỉ sự quan sát lâu dài, không phải là ngay từ lần đầu gặp mặt đã vội vàng đưa ra kết luận tốt xấu về một người nào đó. Kết luận vội vàng sẽ dẫn đến việc nhìn nhận lầm giữa kẻ xấu và người tốt, từ đó ảnh hưởng đến sự giao tiếp của mình với người đó sau này.
Ngoài ra con người còn vì lợi ích sinh tồn, đa số đều mang trên mình một chiếc mặt nạ. Khi gặp bạn họ thường đeo một chiếc mặt nạ giả. Đây là một hành vi có ý thức. Những chiếc mặt nạ chỉ có thể dùng khi gặp bạn, và chỉ thể hiện ra ở những góc độ mà bạn thích. Nếu bạn chỉ căn cứ vào những điểm này mà phán đoán sự tốt xấu của một người, từ đó quyết định mức độ giao tiếp với người đó thì bạn có thể mắc phải sai lầm.
Tục ngữ có câu: “Thức lâu mới biết đêm dài, chơi lâu mới biết là người cố nhân”. Dùng thời gian để nhìn người chính là để áp dụng câu châm ngôn trên.
Người xưa dạy 10 cách nhìn người, chuẩn xác, không thể bỏ qua
Hàng ngày chúng ta đều phải làm việc, giao tiếp, hợp tác với rất nhiều người có tính cách khác nhau, vậy mà đôi khi ta không có một chút khái niệm nào về “nhìn người”. Cổ nhân đã dạy:
01. Muốn nhìn thấu suy nghĩ của ai, hãy nhìn vào đôi mắt của người đó.
02. Muốn biết địa vị của một người, hãy xem đối thủ của họ ra sao.
03. Muốn hiểu thêm về tính cách của người nào, hãy để ý bạn bè xung quanh họ.
04. Muốn đánh giá quyết tâm của một người, hãy xem cách người đó đứng dậy sau thất bại.
05. Muốn biết quan hệ giữa hai người thân thiết đến đâu, hãy xem phản ứng của họ khi nghe tin người kia gặp bất trắc.
06. Người bạn tốt sẽ không bao giờ xa lánh khi ta gặp khó khăn.
07. Người được dạy dỗ tử tế sẽ cư xử hòa nhã với người già và trẻ nhỏ.
08. Người tâm địa thật thà sẽ không nói xấu sau lưng người khác.
09. Người có tiềm năng làm nên việc lớn sẽ không ham lợi nhỏ.
10. Người có ý lợi dụng thường chỉ đến với ta khi họ gặp khó khăn.
| ► Lịch ngày tốt cập nhật thông tin Mật ngữ 12 chòm sao, Horoscope mới nhất gửi tới độc giả |
![]() |
| Tổng thống Mỹ Barack Obama |
![]() |
| Nữ ca sĩ Beyonce rất thân thiết với ngài Tổng thống. |
![]() |
| Không ngần ngại thể hiện tình yêu của mình dành cho vợ |
![]() |
![]() |
Hái lộc đầu xuân, rước phúc hay “chặt tài”![]() |
| ► Xem phong thủy nhà ở cầu tài lộc, tránh tai ương |
"hóa giải" chiếc cột giữa nhà nhằm tăng độ thẩm mĩ cũng như hài hòa về phong thủy cho căn nhà.
Theo KTS Phạm Cương, chuyên gia phong thủy, Công ty Cổ phần Nhà Xuân, cột ở giữa nhà là một vấn đề nan giải bất luận là trên phương diện kiến trúc hay phong thủy. Bố cục này khiến không gian bị chia tách không thuận mắt về thẩm mỹ, khó bố trí đồ đạc cũng như lối đi lại.
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Xét dưới góc nhìn phong thủy, một cái cột phạm vào khu vực trung cung ngôi nhà, tức khu vực chính giữa ngôi nhà, là một tình huống rất xấu. Điều này có thể ảnh hưởng đến khía cạnh sức khoẻ, nhất là của người trụ cột trong gia đình.
Hiện nay, cột trong nhà chủ yếu có hai loại là cột liền tường và cột đứng độc lập. Cột liền tường có thể dễ dàng xử lý, còn loại cột đứng độc lập thì khó khăn hơn. Thông thường chúng ta có thể "tàng hình" chiếc cột này bằng cách ốp gương để hoá giải, hoặc nếu có thể, sử dụng thủ pháp kiến trúc nối cột đó với một bức tường kế bên bằng cách xen vào giữa cột một giá sách hay một cái tủ, quầy bar rượu. Bằng những cách kể trên có thể hoá giải hiệu ứng cột ở giữa nhà.
(Theo Dothi.net)