Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Bạn đang gặp rắc rối nghiêm trọng nào trong tình yêu?? - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Bạn đang gặp rắc rối nghiêm trọng nào trong tình yêu??, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Bạn đang gặp rắc rối nghiêm trọng nào trong tình yêu??, tu vi Bạn đang gặp rắc rối nghiêm trọng nào trong tình yêu??, tu vi Bói tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn đang gặp rắc rối nghiêm trọng nào trong tình yêu??

Xem bói bạn đang gặp rắc rối nghiêm trọng nào trong tình yêu?? Bằng cách trả lời tình huống sau, và xem đáp án bạn sẽ biết tình cảm của bạn đang rắc rối ở chỗ nào??

Tình huống: Trong tình yêu, điều gì quan trọng nhất với bạn?

A. Tin tưởng

 

B. Thấu hiểu

C. Trung thành

D. Vật chất

 

Đáp án:

A. Quá đa nghi

Khi yêu sâu sắc ai đó, bạn sẽ nảy sinh tâm lý nghi ngờ. Đối phương tỏ ra chân thành với bạn thế nào chăng nữa, bạn vẫn lo lắng họ sẽ phản bội bạn. Không biết tại sao bạn nhận định chuyện này nhất định sẽ xảy đến với bạn.

Không những thế, bạn luôn cảm thấy mình không đủ hấp dẫn để giữ chân “một nửa”, cho nên trong quá trình yêu, bạn không những quản đối phương rất chặt, mà còn nghĩ đủ cách để giám sát họ. Nếu không có niềm tin, tình yêu sẽ không thể bền vững được bạn à.

B. Không chịu thấu hiểu đối phương

Đặt mình vào vị trí của người khác – điều này quan trọng hơn bất cứ mối quan hệ xã hội nào khác. Nếu không hiểu, không đứng ở góc độ người khác để suy nghĩ, sẽ dẫn đến những hiểu lầm, và bạn đang như vậy đấy.

Bạn luôn lấy suy nghĩ của mình để đoán cách nghĩ của người yêu, nên thường dẫn tới những hiểu lầm không đáng có. Khi đối phương giải thích, bạn không chịu nghe hết câu, khiến cho quan hệ hai người bị tổn thương. Thực tế muốn hiểu đối phương rất đơn giản – bạn chỉ cần kiên nhẫn nghe người ấy nói, tình hình sẽ cải thiện hơn rất nhiều.

C. Cả thèm chóng chán

Lúc mới yêu, bạn thấy thật ngọt ngào, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau bạn bắt đầu thấy chuyện tình cảm trở nên nhạt nhẽo, buồn tẻ, rồi vô cớ nảy sinh cảm giác khó chịu với đối phương. Thậm chí, bạn muốn thay đổi đối tác để tìm cảm giác tươi mới, thú vị… Cứ thế, bạn khó mà tìm được tình yêu đích thực.

D. Không tin tồn tại tình yêu đích thực

Trong quá trình yêu, bạn luôn lấy vật chất ra để cân đo tình yêu. Với bạn, tiền bạc càng nhiều, tình cảm càng lớn. Ngược lại, bạn sẽ thấy đối phương không yêu mình. Thực tế, bạn vẫn biết tiền bạc không quan trọng bằng tình cảm, chỉ là bạn không tin tình yêu tồn tại, nên không ngừng thử đối phương. Hơn nữa, bản thân bạn cũng không mấy tự tin vào mình, không nghĩ rằng mình xứng đáng được trân trọng, nên mới lấy tiền ra làm thước đo tình cảm. Nếu không vượt qua được suy nghĩ này, tình cảm của bạn sẽ ngày càng rời xa thực tế.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bạn đang gặp rắc rối nghiêm trọng nào trong tình yêu?? - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn tiềm ẩn cả niềm vui và nỗi lo lắng

Giải mã giấc mơ, những gì chúng ta mơ thấy khi ngủ có thể tiết lộ sự thật thú vị về cuộc sống. Mơ thấy nếp nhăn hé lộ nhiều điều sẽ xảy đến trong tương lai.
Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn tiềm ẩn cả niềm vui và nỗi lo lắng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những gì chúng ta mơ thấy khi ngủ có thể tiết lộ sự thật thú vị về cuộc sống. Nó cho ta biết mình thực sự là ai, những điều cần thiết và cả những thứ ta tin tưởng.  

1. Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn là điềm báo tốt lành

 

- Vốn chẳng ai ưa thích những nếp nhăn, nhưng sự xuất hiện của nó trong mơ lại được mọi người chào đón. Đa phần những giấc mơ về nếp nhăn trên khuôn mặt biểu thị rằng bạn đang sở hữu sức mạnh hoặc cơ thể khỏe mạnh. Vậy mới nói chúng ta có thể hiểu đời hiểu người qua nếp nhăn trên mặt.   - Những giấc mơ của phụ nữ đã lập gia đình với những nếp nhăn gợi lên rằng chồng cô sẽ yêu cô nhiều hơn.  
Giai ma giac mo Mo thay nep nhan tiem an ca niem vui va noi lo lang hinh anh
 
- Những người phụ nữ chưa lập gia đình nằm mơ thấy những nếp nhăn trên khuôn mặt báo hiệu rằng mọi người khen ngợi về sự trẻ trung và vẻ đẹp của cô ấy.   - Những người đàn ông chưa lập gia đình nằm mơ thấy những nếp nhăn trên khuôn mặt có nghĩa là anh ấy rất hấp dẫn và sẽ có nhiều cô gái xinh đẹp sẵn sàng kết hôn với anh ta.   - Giấc mơ của bệnh nhân khi đối mặt với nếp nhăn có nghĩa là cơ thể của họ sẽ sớm phục hồi.  

2. Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn là biểu hiện của sự lo lắng

 
Giai ma giac mo Mo thay nep nhan tiem an ca niem vui va noi lo lang hinh anh
 
Bên cạnh những mặt tích cực như trên thì giấc mơ về cơ thể, về nếp nhăn cũng biểu hiện một số lo lắng.   - Giải mã giấc mơ, một khả năng khác khi mơ thấy những nếp nhăn là bạn đang gặp áp lực hoặc bị quá tải bởi rất nhiều công việc gia đình.   - Khi nằm mơ về khuôn mặt của một ai đó có nếp nhăn, nó báo hiệu rằng bạn đang lo lắng về điều gì đó.   - Nếu bạn nhìn thấy một vầng trán nhăn nheo trong giấc mơ, điều này tượng trưng cho nỗi lo lắng và gánh nặng mà bạn đang có. Giấc mơ này báo hiệu, bạn cần phải có những suy nghĩ sâu sắc hơn trong cuộc sống.   - Giấc mơ về da nhăn là cảm giác về việc nhận ra những người khác có kinh nghiệm cao hơn bản thân mình và điều này đôi khi làm bạn cảm thấy thiếu tự tin trong cuộc sống.   - Mơ thấy nếp nhăn còn phản ánh cảm giác buồn bã, thất vọng về việc bản thân lạc hậu, nhàm chán và kém hấp dẫn, trong khi những người khác có nhiều niềm vui hoặc hấp dẫn hơn.   - Trong mơ thấy làn da của chính mình trở nên nhăn nheo chứng tỏ bản thân bạn đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, nghiêm túc, khôn ngoan hơn và già dặn hơn. Nhưng chính vì thế mà bạn kém hấp dẫn hơn trước.  
Giai ma giac mo Mo thay nep nhan tiem an ca niem vui va noi lo lang hinh anh
 
- Khi mơ về bàn tay nhăn nheo, đó là biểu hiện cho cảm xúc hụt hẫng, thất vọng khi thấy người khác hơn mình. Đồng thời, nó cũng phản ánh sự buồn bực với những gì bạn không thể thực hiện được trong quá khứ.    Bên cạnh đó, giấc mơ về một bàn tay nhăn có thể phản ánh sự ghen tuông, sự thiếu trung thực với người khác. 

Chúng ta không chỉ biết được ý nghĩa giấc mơ nếp nhăn mà còn có thể biết đích xác vận mệnh giàu nghèo qua những nếp nhăn.
  Thủy Nguyễn
Giải mã giấc mơ ngủ kép Giải mã giấc mơ về chúa sơn lâm Giải mã giấc mơ: Mơ thấy quạ, diều hâu, kền kền và một số loại chim khác


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn tiềm ẩn cả niềm vui và nỗi lo lắng

Tránh xa những kiểu nhà không tốt tiêu tán tài lộc

Dù là ngôi nhà để ở hay dùng vì mục đích cho thuê, làm cửa hàng… nếu phạm phải những điều tối kị dưới đây, người sống trong đó sẽ tự rước họa vào thân.
Tránh xa những kiểu nhà không tốt tiêu tán tài lộc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Theo phong thủy nhà ở, mỗi ngôi nhà dù là dùng cho mục đích gì đi nữa, nếu phạm phải thế hung sát thì mọi mặt trong cuộc sống như tài lộc, sức khỏe, công việc sự nghiệp… của gia chủ, người sinh sống trong đó đều bị ảnh hưởng theo một cách nào đó.

Do đó, khi đi chọn mua hoặc thuê nhà, gia chủ nên tránh xa những kiểu nhà tiêu tán tài lộc dưới đây.

1. Nhà ở gần đường cao tốc hoặc đường điện cao thế

Tranh xa nhung kieu nha tieu tan tai loc hinh anh
 
Sống lâu trong ngôi nhà ở vị trí gần đường cao tốc hoặc đường điện cao thế, mọi thành viên trong gia đình sẽ bị ảnh hưởng về các mặt như sức khỏe, sự nghiệp, giáo dục do bị tiếng ồn ào, bụi bặm, nhiều sát khí vây quanh.

Đặc biệt nếu cửa chính của ngôi nhà đối diện với đường cao tốc sẽ khiến gia chủ cảm thấy bất an khi nguồn ánh sáng mặt trời gần như bị che khuất.

Ngoài ra, nếu ngôi nhà gần đường điện cao thế, sức khỏe của mọi người sẽ bị đe dọa khi phải hứng chịu lượng bức xạ quá lớn.

2. Nhà ở vị trí cô lập, tối tăm u ám


Theo phong thủy nhà ở, ngôi nhà ở vị trí cô lập, tách biệt với những nhà khác lại còn tối tăm, u ám thì âm khí vượng, chứa nhiều nguồn năng lượng tiêu cực. Sống trong ngôi nhà này lâu ngày sức khỏe và tinh thần của bạn đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Từ đó gây ra những hệ lụy đáng tiếc khác. Đây là một trong những kiểu nhà tiêu tán tài lộc, tiền bạc chỉ có đường ra mà không có đường vào.

3. Nhà ở ngay cạnh đền chùa, nghĩa trang, bệnh viện

Tranh xa nhung kieu nha tieu tan tai loc hinh anh
 
Những nơi này đều có nguồn khí âm rất mạnh. Do đó, ngôi nhà ngay sát đền chùa, nhà thờ, nghĩa trang, bệnh viện đều chịu ảnh hưởng lớn, không tốt về mặt phong thủy cũng như sức khỏe của mọi thành viên trong gia đình.

4. Nhà lọt thỏm giữa các tòa cao tầng khác

Điều bất lợi đầu tiên có thể thấy rõ chính là ngôi nhà này sẽ thiếu ánh sáng tự nhiên một cách nghiêm trọng nên thường xuyên trong tình trạng tối tăm, ẩm thấp và sản sinh ra nhiều năng lượng âm hơn, rất có hại cho sức khỏe.

5. Nhà gần đồn công an, cảnh sát

Tranh xa nhung kieu nha tieu tan tai loc hinh anh
 
Không ít người cho rằng, nhà ở cạnh đồn công an, cảnh sát là điều tốt vì được đảm bảo vấn đề an ninh. Tuy nhiên, theo quan điểm phong thủy, nguồn năng lượng đại diện của nơi đây sẽ cuốn bạn vào những vụ kiện tụng rắc rối, ảnh hưởng xấu tới sự nghiệp và cuộc sống.

► Xem hướng nhà chuẩn phong thủy để đại cát đại lợi

Theo Khám phá
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tránh xa những kiểu nhà không tốt tiêu tán tài lộc

Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Ngọ

Tử vi tháng 4 của người tuổi Ngọ, ngũ hành địa chi tương khắc Nguyệt Lệnh giúp vượng đường tài lộc. Quan hệ bán hợp với Thái Tuế cũng làm giảm bớt phần nào rắc
Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Ngọ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Tử vi tháng 4 của người tuổi Ngọ, ngũ hành địa chi tương khắc Nguyệt Lệnh giúp vượng đường tài lộc. Quan hệ bán hợp với Thái Tuế cũng làm giảm bớt phần nào rắc rối do Thái Tuế gây ra.


=> Tử vi trọn đời chuẩn xác theo Lịch âm được cung cấp bởi Lichngaytot.com

tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Ngo hinh anh goc
 
QUAN HỆ HÒA HỢP NGUYỆT LỆNH NÂNG ĐỠ NHÂN DUYÊN   Tử vi người tuổi Ngọ trong tháng Quý Thủy, ngũ hành địa chi tương khắc Nguyệt Lệnh giúp vượng đường tài lộc. Quan hệ bán hợp với Thái Tuế cũng làm giảm bớt phần nào rắc rối do Thái Tuế gây ra.   Trong tháng bạn chỉ gặp chút khó khăn do khách hàng hoặc đối tác gây ra, còn lại toàn chuyện tốt. Chỉ cần bạn tỉnh táo xử lý gọn gàng công việc chuyên môn thì mọi chuyện sẽ đi vào quỹ đạo. Mặt tình cảm, bạn cần chủ động hơn trong các mối quan hệ, dành nhiều thời gian cho gia đình, quan tâm vợ/chồng, con cái và cha mẹ, họ hàng thân thiết.   
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Ngo hinh anh goc 2
 
SỰ NGHIỆP    Vận trình sự nghiệp của người tuổi Ngọ tháng này cần bước chậm nhưng chắc, khối lượng công việc nhiều khiến bạn khó mà sắp xếp ổn thỏa. Trong công việc, bạn tỏ ra hấp tấp, không tìm hiểu kĩ yêu cầu từ phía lãnh đạo hay chưa tìm được nguồn khách tiềm năng. Quan hệ hòa hợp với Nguyệt Lệnh sẽ khiến vận nhân duyên của bạn cứu giúp những khó khăn trong công việc. Cuối tháng vận khí tốt hơn, bạn sẽ được người có chức quyền trợ giúp, nâng đỡ vận trình công việc.   
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Ngo hinh anh goc 3
 
TÀI LỘC    Lục Thần cát tinh tọa Quý Tỵ đem tới nhiều cơ hội kiếm tiền và hợp tác cho người tuổi Ngọ. Tuy nhiên chút thứ tài sẽ không giúp tăng thêm nhiều tiền bạc trong quỹ tiết kiệm của bạn, chủ yếu vẫn nhờ nỗ lực bản thân mà thôi. Với quan hệ tam hợp tốt đẹp, vận may của bạn cũng được tăng lên đáng kể, bạn có thể thử sức mình với các lĩnh vực mang tính mạo hiểm như bất động sản, cổ phiếu…   TÌNH CẢM    Chuyện tình cảm của người tuổi Ngọ tốt đẹp. Người độc thân có cơ hội tìm thấy tình yêu đích thực. Công việc và cuộc sống thuận lợi giúp bạn yên tâm vui chơi, gặp gỡ bạn bè, tham gia hội hè, tìm hiểu đối tượng… Các cặp đôi có chút mâu thuẫn vì kế hoạch cho tương lai của hai người không giống nhau.   SỨC KHỎE    Người tuổi Ngọ không gặp nhiều vấn đề về sức khỏe. Nhưng đừng vì cậy tuổi trẻ mà coi thường sức khỏe, thường xuyên thức khuya, ngủ muộn sẽ khiến bạn rơi vào tình trạng ngủ gật ban ngày. Nếu có thói quen xấu này, bạn cần thay đổi càng sớm càng tốt. Khi cuộc sống được sắp xếp khoa học, công việc sẽ phát triển thuận lợi hơn.   Nhìn chung, quan hệ tam hợp tốt đẹp, quý nhân che chở, hóa hung thành cát, người tuổi Ngọ không cần quá lo lắng. Có bệnh thì kiên trì chữa trị, ắt sẽ khỏi. Tài lộc tốt đẹp, thích hợp đầu tư mạo hiểm, kiếm lợi nhuận cao. Tình cảm mặc dù vận tốt nhưng dễ rơi vào tình trạng “long tranh hổ đấu”. Đây là tháng có vận trình cát lợi, rất thích hợp để tiến hành các việc hóa giải với Thái Tuế. 
 
 
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Ngo hinh anh goc 4
 
Lichngaytot.com

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Ngọ

Lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Điểm qua các lịch đã được sử dụng ở Việt Nam từ xưa đến nay: Việc nghiên cứu, phục hồi cổ lịch vượt ra ngoài nội dung này nên chỉ trình bày một số tóm lược dựa chủ yếu vào các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này của Gs. Hoàng Xuân Hãn và Pgs. Lê Thành Lân - những trích lục từ các nguồn sử liệu khác cũng được lấy lại từ hai tác giả trên. Ngoài ra có một số ý kiến chưa được kiểm chứng kỹ hay nhất trí rộng rãi cũng được đưa vào để bạn đọc tham khảo, hy vọng trong tương lai sẽ có một bức tranh đầy đủ hơn về lịch Việt Nam qua các giai đọan lịch sử.
Lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lịch trong xã hội xưa:

Lịch giữ một vị trí đặc biệt trong quan niệm của người á đông thời xưa, ở Trung Hoa lịch được xem là lệnh trời bày cho dân để theo đó mà làm nông vụ cũng như tế lễ, còn vua là thiên tử, thay trời trị vì thiên hạ và hàng năm ban lịch cho thần dân và các nước phiên bang. ở Việt Nam mỗi năm lễ ban lịch gọi là Ban Sóc cũng được tổ chức rất long trọng có nhà vua và hàng trăm văn võ bá quan tham dự. Các cơ quan làm lịch ở nước ta trước đây rất quy củ, Thời Lý có Lầu chính Dương, Thời Trần có Thái sử Cục, thời Lê có Thái Sử Viện, thời Lê Trung Hưng có Tư Thiên Giám, thời Nguyễn có Khâm Thiên Giám…Các cơ quan này không chỉ làm lịch mà còn "Coi các việc": suy lượng độ số của trời, làm lịch, báo thời tiết, như thấy việc tai dị hay điềm lành, được suy luận làm khải trình lên’

Trích từ Nguyên sử và Đại việt sử ký toàn thư” thì vào thời trần (1301), Đặng Nhữ Lâm khi đi sứ sang Nguyên đã bí mật vẽ đại đồ Cung Uyển, thành Bắc Kinh, mang sách cấm về, sự việc lộ ra và bị vua Nguyên trách cứ. Có thể trong các sách cấm đó có thư tịch về lịch pháp nên sau này con cháu ông là đặng Lộ ra làm quan Thái sử cục lệnh Nghi hậu lang đã chế ra Lung linh nghi để khảo sát hiên tượng tỏ ra rất đúng và vào năm 1339 đặng Lộ trình vua Trần Hiến Tông xin đổi lịch thụ thời sang lịch Hiệp kỷ đã được vua chấp thuận.

Như vậy các cơ quan làm lịch bao gồm cả chức năng dự báo thời tiết, thiên văn và chiêm tinh học. Tuy nhiên, hiện nay tư liệu về lịch Việt Nam còn lại rất ít nguyên nhân một phần do khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chiến tranh liên miên tàn phá, một phần do lịch pháp gần như là một thứ bí thuật không phổ biến, cộng với việc khoa học nhất là khoa học tự nhiên không được chú trọng phát triển trong thời phong kiến. Điều này gây trở ngại cho việc tìm hiểu về lịch Việt Nam trong quá khứ và đó cũng là lý do khiến các nghiên cứu về lịch ở nước ta rất hiếm hoi.

Các nhân vật nổi tiếng trong lịch pháp thời xưa có Đặng Lộ, Trần Nguyên Đán vào cuối thời Trần (1325-1390) và Trần Hữu Thận (1754-1831), Nguyễn Hữu Hồ (1783-1844) ở thời Nguyễn … Trần Nguyên Đán là người thông hiểu thiên văn , lịch pháp và đã viết sách Bách thế Thông kỷ tiếc rằng đến nay không còn, ông chính là cháu tằng tôn Trần Quang Khải là ngoại tổ Nguyễn Trãi.

Liên quan đến nguồn sử liệu còn có các cuốn lịch cổ đáng chú ý sau: Khâm định vạn niên thư (lưu trữ tại thư viện quốc gia Hà Nội) in lịch từ năm 1544 đến năm 1903, trong đó các năm từ 1850 trở đi là lịch dự soạn cho thời gian tới, Bách Trúng kinh ( lưu giữ tại Viện hán nôm) in lịch thời Lê Trung HƯng ( Lê - Trịnh) từ năm 1624 đến năm 1785, Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh (lưu giữ tại Viện hán nôm ) in lịch từ năm 1740 đến năm 1883, ngoài ra còn cuốn Bách trúng kinh khác thấy ở Hà nội năm 1944, sách này chép lịch từ năm 1624 đến năm 1799 nhưng nay không còn.

Lịch Việt cổ và nguồn gốc Lịch Âm Dương Á Đông:

Lịch âm Dương Á Đông mà Trung Quốc và Việt Nam đang sử dụng hiện nay được xem là lịch nhà Hạ (2140 trước c.n -1711 trước c.n , tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng Lịch Âm Dương là kết quả của sự giao thoa văn hoá giữa hai vùng Hoa Bắc và Hoa NAm của Bách Việt hay Việt cổ. Vùng Hoa Bắc trồng kê mạch và chăn nuôi còn vùng hoa Nam tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước. Lịch với chức năng chính là phục vụ nông nghiệp (tục gọi là lịch nhà nông) nên phải phù hợp với thời tiết khí hậu của vùng hoa Nam là vựa thóc chính của trung Hoa. Mặt khác sử sách cũng ghi lại một số tư liệu về sự tồn tại lịch của người Việt cổ như truyền thuyết về lịch rùa mà Việt Thường thị khi sang chầu đã dâng lên vua Nghiêu đời Đào đường ( Sách Việt sử thông giám cương mục) hoặc theo thư của Hoài Nam Vương Lưu An gửi vua nhà Hán (Thế kỷ 2 trước c.n) thì “ từ thời Tam đại thịnh trị đất Hồ đất Việt không tuân theo lịch của Trung Quốc” (Đại việt sử ký toàn thư).Ngoài ra cũng có những bằng cớ chứng tỏ là từ lâu trước thời kỳ Bắc thuộc cư dân nước Văn Lang đã sử dụng một thứ lịch riêng, chẳng hạn các tư liệu về lịch của dân tộc Mường và nhứng điều được miêu tả trong Đại Nam thống nhất chí: “ Thổ dân ở huyện Bất Bạt và Mỹ Lương, hàng năm lấy tháng 11 làm đầu năm, hàng tháng lấy ngày 2 làm đầu tháng, gọi là ngày lui tháng tiến, lại gọi là ngày nội, dùng trong dân gian, còn ngày quan lịch, thì gọi là ngày ngoại, chỉ dùng khi có việc quan”.


Lịch Việt Nam trong các giai đoạn khác nhau

Các sự kiện lịch sử ở nước ta vốn được ghi chép theo theo Lịch âm Dương Á Đông và để có một niên biểu lịch sử chính xác cần biết rõ loại lịch nào đã được sử dụng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. tuỳ thuộc vào quan hệ bang giao giữa hai nước trong từng thời kỳ mà lịch Việt Nam có lúc trùng có lúc lại lại khác với lịch Trung Quốc. Mặt khác bản thân lịch Trung Quốc đã trải qua nhiều lần thay đổi, cải cách (tính từ Thế kỷ 14 trước c.n là năm bắt đầu xuất hiện đến nay riêng lịch Trung Quốc đã trải qua hơn 50 cải cách khác nhau), điều này làm cho việc so sánh đối chiếu niên đại lịch sử giữa hai nước thêm phức tạp. Các kết quả khảo cứu của Gs. Hoàng Xuân hãn và pgs. Lê Thành Lân cho biết:

Trong 1000 năm Bắc thuộc (từ khi Triệu Đà đánh bại nhà Thục và xâm chiếm nước ta đến lúc Đinh Bộ Lĩnh lập nên Đại Cồ Việt) lịch dùng chính thức ở nước ta là lịch Trung Quốc hoặc thuộc phần phía nam Trung Quốc bị phân chia (Việt sử ở thời kỳ này được ghi chép rất sơ sài gây khó khăn cho việc khảo cứu).Trong thời kỳ đầu của nền độc lập từ đời Đinh (969) đến hết thời Lý Thái Tông (1054) nước ta vẫn tiếp tục sử dụng lịch nhà Tống ( như lịch Ung Thiên hoặc lịch Sùng Thiên).

Từ đời Lý Thánh tông lên ngôi cuối năm 1054 Việt Nam có lẽ bắt đầu tự soạn lịch riêng, Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt, chấn hưng việc nhà nông, việc học. Lý Nhân Tông nối ngôi năm 1072 và 3 năm sau chiến tranh bùng nổ giữa Đại Việt và Tống ( Lý Thường Kiệt xuất quân đánh Tống đẻ ngăn chặn), bang giao gián đoạn giữa hai nước cho đến năm 1078,trong thời gian này chắc chắn nước ta đã dùng lịch riêng.

Các đời Lý và Trần từ 1080 đến năm 1399; lúc đầu nước ta dùng lịch được soạn theo phép lịch đời tống , sau chuyển sang sử dụng lịch Thụ Thời ( có từ năm 1281 đời Nguyên) và năm 1339 vua Trần Hiến Tông đổi tên lịch Thụ Thpì thành lịch Hiệp kỷ.

Năm 1401 nhà Hồ ( thay nhà Trần tè năm 1399 đổi lịch Hiệp kỷ sang lịch Thuận thiên, không rõ chỉ đổi tên hay phép làm lịch cũng thay đổi.

Năm 1407 nhà Hồ bị mất, nhà Minh đô hộ nước ta và dùng lịch Đại Thống ( nhà Minh lên thay nhà Nguyên năm 1368 và dến năm 1384 thì đổi tên lịch Thụ thời thành lịch Đại Thống, nhưng phép lịch vẫn như cũ. Năm 1428 nước ta được giải phóng nhưng triều Lê tiếp tục sử dụng phép lịch Đại thống cho đến năm 1644 và theo Gs. Hoàng Xuân hãn thì phép lịch này còn tiếp tục được sử dụng cho đến năm 1812 (Gia Long thứ 11 đời Nguyễn) mặc dù từ năm 1644 nhà Thanh đã thay thế nhà Minh và khoảng 3 năm sau thì chuyển sang dùng lịch Thời Hiến.

Gs. Hoàng Xuân hãn rút ra kết luận trên dựa vào sự phục tính lịch Đại Thống từ đời nhà Hồ đến năm 1812 và đem so sánh với quyển Bách trúng kinh do ông sưu tầm được, quyển này in lịch từ năm Lê Thần Tông Vĩnh Tộ thứ 6 (1624) đến năm Tây Sơn Cảnh Thịnh thứ 7 (1799). Theo một số tư liệu thì vào thời Lê Trịnh( từ năm 1593 đến năm 1788) lịch nước ta có tên là lịch Khâm thụ và Gs. Hoàng Xuân Hãn đồ rằng tên này có từ đầu triều Lê, tên khác nhưng phép lịch có thể vẫn là phép lịch Đại thống nếu như kết quả phục tính của Gs. Hoàng Xuân Hãn ở trên là đúng. Nhà Mạc từ năm 1527-1592 nằm trong khoảng thời gian giữa đầu triều Lê và thời Lê- Trịnh có lễ đã dùng lịch Đại thống do nhà MInh phát hành ít nhất cũng là từ năm 1540.

Về giai đọan từ thời Lê - Trịnh đến năm 1802 có một số ý kiến khác:

Qua khảo cứu cuốn Khâm định vạn niên thư (hiện lưu giữ tại thư viện quốc gia Hà Nội) Pgs. Lê Thành Lân cho biết trong vòng 100 năm từ năm Giáp thìn 1544 đến năm 1643 lịch Việt Nam và Trung Quốc khác nhau 12 lần, trong đó có 11 ngày Sóc , 1 ngày nhuận và tết. Điều này khác với nhận định của Gs. Hoàng Xuân hãn cho rằng trước năm 1644 vào thời Lê Trinh lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc cùng dùng theo phép lịch Đại thống nên Giống nhau. Cũng theo Pgs. Lê Thành Lân từ năm Tân Mùi (1631)đến năm Tân Dậu (1801)lịch ở đàng trong trong cuốn Khâm Định vạn niên thư khác với lịch Trung Quốc 92 lần. lịch ở đàng trong tồn tại song hành với lịch Lê- Trịnh (hai lịch khác nhau 45 lần) và lịch Tây Sơn ( hai lịch khác nha 5 lần), mặt khác lịch thời Tây Sơn từ năm Kỷ dậu (1789) đến năm Tân Dậu (1801) khác với lịch nhà Thanh nhưng chưa có sử liệu chứng minh điều này. Lịch đàng trong lúc này có tên là lịch Vạn Toàn (hay Vạn Tuyền, phải đổi tên kị huý).

Từ năm 1813 đến năm 1945: Nhà Nguyễn dùng phép lịch thời Hiến ( giống như nhà Thanh)và gọi là lịch Hiệp Kỷ. Sau khi Pháp cai trị nước ta họ cũng lập các bảng đối chiếu Lịch Dương với Lịch âm Dương lấy từ Trung Quốc, trong khi nhã Nguyễn vẫn soạn và ban lịch của mình ở Trung Kỳ.

Việc chuyển sang dùng phép lịch thời Hiến là do công của Nguyễn Hữu Thuận, khi đi sứ sang Trung Quốc ông đã mang về bộ sách có tên là lịch tượng khảo thành và dâng lên vua Gia Long, sau đó vua sai Khâm Thiên Giám dựa vào đấy để soạn lịch mới. Bộ sách về thiên văn và lịch pháp này do vua Khang Hy sai các lịch quan Trung Hoa cùng với các giáo sỹ Tây phương kết hợp biên soạn và vua Ung Chính sai đem khắc vào năm 1723. Vào tháng chạp năm 1812 lịch Vạn Toàn được đổi tên thành Hiệp Kỷ.

Từ năm 1946 đến năm 1967: Trong giai đọan này Việt Nam không biên soạn Lịch âm Dương mà các nhà xuất bản dịch từ lịch Trung Quốc sang.

Từ năm 1968 đến năm 2010: vào năm 1967 Nha khí tượng công bố Lịch âm Dương Việt Nam soạn theo múi giờ 7 cho các năm từ 1968 đến năm 2000 (Sách lịch Thế kỷ XX). Trước đó vào năm 1959 Trung Quốc cũng công bố Lịch âm Dương mới soạn theo múi giờ 8. Sau đó BAn lịch do K.s Nguyễn Mậu Tùng phụ trách tiếp tục biên soạn l Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010 in trong cuốn lịch n 1901-2010 (xuất bản năm 1992).

(Tổ biên soạn Nha khí tượng được chuẩn bị Thành lập từ năm 1959 dưới sự chỉ đạo cuẩ Gs. Nguyễn Xiển là giám đốc Nha khí tượng. Tổ làm nhiệm vụ quản lý lịch nhà nước và biên soạn, dịch thuật lịch Thiên văn Hàng hải cung cấp cho Hải quân. Đến năm 1967 tổ soạn được 33 năm Âm lịch, thi hành ở miền Bắc từ 1968. Lịch Thiên văn Hàng hải xuất bản đến năm 1989,1990 thì kết thúc. Năm 1979 theo quyết định của Chính Phủ, phòng Vật lý khí quyển và Thiên văn cùng bộ phận tính lịch chuyển từ tổng cục Khí tượng thuỷ văn sang viện khoa học Việt Nam. Bộ phận quản lý lịch nhà nước được đặt trụ sở thuộc Uỷ ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam. Trong các năm từ 1968-1992 Ban lịch đã soạn thêm được một số năm Âm lịch và kết quả thành bảng lịch Việt Nam (1901-2010). từ năm 1993-1997 do thay đổi về tổ chức hành chính (Uỷ ban vũ trụ giải tán ) nên Ban lịch (thực tế chỉ còn một vài người) chuyển về văn phòng thuộc trung tâm KHTN&CNQG. Ngày 16/4/1998 Giám đốc Trung tâm KHTN&CNQG (gọi tắt là ban lịch nhà nước) trực thuộc Trung tâm thông tin Tư liệu.)

Để thống nhất việc tính giờ và tính lịch dùng trong các cơ quan nhà nước và giao dịch dân sự trong xã hội, ngày 8-8-1967 chính phủ đã ra quyết định số 121/CP do cố thủ tướng Phạm Văn Đồng ký (ngày 14-10-2002 Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã ký quyết định số 134/2002/QĐ-TTg sửa một vài câu chữ trong Điều 1 của QĐ 121/Cp cho chính xác hơn nhưng về cơ bản tinh thần của QĐ 121/CP không có gì thay đổi). Theo QĐ 121/Cp giờ chính thức của nước ta là múi giờ thứ 7 bên cạnh Dương lịch (lịch Gregorius) được dùng trong các cơ quan với nhân dân thì Âm lịch vẫn dùng để tính năm tết dân tộc, một số ngày kỷ niệm lịch sử và lễ tết cổ truyền. QĐ 121/Cp cũng nêu rõ Âm lịch dùng ở Việt Nam là Âm lịch được tính theo giờ chính thức của nước ta chư Chỉ thị số 354/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Thông tư liên bộ số 88-TT/LB ngày 23-11-1970 của Bộ Văn Hoá và Nha Khí tượng, Quyết định 129-CP ngày 26-3-1979 của Hội đồng Chính phủ…

Những thay đổi về giờ pháp định trong Thế kỷ 20 ở Việt Nam:

Mặc dù hầu hết đát liền nước ta nằm dọc theo múi giờ 7 (kinh tuyến 105 độ đông đi qua gần Hà Nội) nhưng trong Thế kỷ 20 này giờ pháp định của nước ta đã bị nhiều lần thay đổi) theo ý định của chính quyền thực dân và hà đương cục. sự biến động chính trị trong Thế kỷ qua ở Việt Nam đã khiến cho giờ pháp định trong cả nước hay từng miền bị thay đổi tới 10lần. Sau đây là các mốc thay đổi giờ pháp định trong 100 năm qua ở nước ta kể từ khi hình thành khái niệm này:

Ngày 1/7/1906

Khi xây dựng xong Đài thiên văn Phủ Liễn, Chính quyền Đông dương ra Nghị định ngày 9/6/1906 (Công báo Đông Dương ngày 18/6/1906)ấn định giờ pháp định cho tất cả các nước Đông Dương theo kinh tuyến đi qua Phủ Liễn (104°17’17” đông Paris) kể từ 0 giờ ngày 1/7/1906

Ngày 1/5/1911

Sau khi nước Pháp ký Hiệp ước quốc tế về múi giờ, theo nghị định ngày 6/4/1911 (Công báo Đông Dương ngày 13/4/1911-trang 803) quy định giờ mới lấy theo múi giờ 7 (tính từ kinh tuyến đi qua Greenwich) cho tất cả các nước Đông Dương bắt đầu từ 0 giờ ngày 1/5/1911.

Ngày 1/1/1943

      Chính phủ Pháp ra nghị định ngày 23/12/1942 (Công báo Đông Dương ngày 30/12/1942)liên kết Đông Dương vào múi giờ 8 và do vậy đồng hồ được vặn nahnh lên 60 phút vào lúc 23 giờ ngày 31/12/1942.

Ngày 14/3/1945

      Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp và buộc các nước Đông Dương theo múi giờ của Tokyo (Nhật Bản) tức là múi giờ 9 nên giờ chính thức lại được vặn nhanh lên 1 giờ vào 23 giờ ngày 14/3/1945.

Ngày 2/9/1945

      Sau cách mạng tháng Tám Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố lấy múi giờ 7 làm giờ chính thức (Sắc lệnh số năm/SL Của Bộ nội vụ).

Ngày 1/4/1947

      Theo nghị định ngày 28/3/1947 của chính quyền thực dân (Công báo Đông Dương ngày 14/10/1947) thì trong các vùng bị tạm chiếm ở Việt Nam, ở Lào và Campuchia giờ chính thức là múi giờ 8 kể từ ngày 1/4/1947. Tuy nhiên trong các vùng giải phóng vẫn giữ múi giờ 7 và sau Hiệp định giơnevơ các vùng giải phóng ở miền bắc cũng theo múi giờ 7 (Hà nội từ 10/1954 và Hải phòng cuối tháng 5/1955); riêng Lào trở lại múi giờ 7 vào ngày 15/4/1955.

Ngày 1/7/1955

      Miền Nam Việt Nam trở lại múi giờ 7 từ 0 giờ ngày 1/7/1955.


Ngày 1/1/1960

      Chính quyền Sài Gòn ra Sắc lệnh số 362-TtP ngày 30/12/1959 quy định giờ chính thức của Nam Việt Nam là múi giờ 8, đồng hồ phải vặn nhanh lên 1 giờ kể từ 23 giờ đêm ngày 31/12/1959 (tức 0 giờ ngày 1/1/1960)

Ngày 31/12/1967

      Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Quyết đinh 121/CP ngày 8/8/1967 khẳng định giờ chính thức của nước ta là múi giờ 7 kể từ 0 giờ ngày 1/1/1968.

Ngày 13/6/1975

      Sau khi miền nam được hoàn toàn giải phóng, chính phủ cách mạng Lâm thời đã ra quyết định chính thức trở lại múi giờ 7 và giờ Sài Gòn được vặn chậm lại 1 giờ.


 (Theo Lịch Việt Nam Thế kỷ XX-XXI, tác giả Thạc sỹ Trần Tiến Bình, Việt Nam)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Chu Dịch Tướng Học

Cách thức lập bài toán dự đoán Tên Họ: Theo các bước sau : - Ghi Họ Tên người bạn muốn dự đoán. Mẫu tự phải ghi theo chữ quốc ngữ của dân tộc người ấy. VD: Người Nhật phải ghi theo chữ Nhật. - Chia đôi số lượng Tên-Họ. Trường hợp số lượng là Lẻ, thì chia theo nguyên tắc “Trước ít, Sau nhiều” . VD: Dương / Kiện Toàn ; Nguyễn Trần / Lệ Hằng. - Đếm số lượng ký tự theo ký âm. VD: Các dấu “Sắc, Huyền, Ngã, Hỏi “ trong tiếng Việt được tính là 1, nhưng trong tiếng Pháp không được tính (e') vì nó không phải là 1 ký âm riêng của chữ e. Hoặc số nét trong chữ Hán.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu :
@ Số lượng ký tự nhỏ hơn 8 (<8) ta giữ nguyên trị số
@ Số lượng ký tự bằng, lớn hơn 8 , ta trừ đi 8. VD: Số lượng 8, 8 – 8 = 0. ta lấy 0.
Số lượng ký tự bằng hoặc lớn hơn 16, ta trừ đi 16. VD: Số lượng 18 – 16 = 2, ta lấy 2.
VÍ DỤ : Trịnh Kiến Vy. Trịnh: 6 ; Kiến: 5 ; Vy: 2.
Trịnh / Kiến Vy : 6 / 7. Tra bảng 3, ta có: Thuỷ Sơn Kiển, với :

Tính Cách Trội :

- Thuyết Âm Dương cho ta 4 trạng thái: Âm, cực âm, dương, cực dương. Căn cứ vào đây, tôi thiết lập 4 trạng thái của 1 hình thái tính cách:
Bản chất, tôi gọi là Tính Cách Thật
Khi thể hiện thái quá, gọi là Thật Thái Quá
Khi tính cách thật thể hiện ngược, tôi gọi là Tính Giả
Khi tính giả thể hiện thái quá, tôi gọi là Giả Cực Đoan.

- Do vậy ví dụ trên sẽ được trình bày như sau:
Tính cách thật: Siêng năng
Thật thái Quá : Siêng năng thái quá
Tính Giả : Biếng nhác
Giả Cực Đoan : Biếng nhác cực đoan.

- Tôi giới thiệu bảng Định vị thành phần xã hội sau:

BẢNG ĐỊNH VỊ



NHẬN XÉT BẢNG ĐỊNH VỊ
1. Cách phân định 6 nhóm người cho thấy rằng : Sự Thành Đạt & Hạnh Phúc không phụ thuộc vào Tính Cách mà phụ thuộc vào Cách Gieo Tính Cách.
2. Phương pháp này cho rằng không có cô gái xấu. Một cô gái không đẹp vẫn có thể tìm được cho mình 1 người chồng xứng đáng, nếu biết điều chỉnh tính cách theo nhóm A , B, C hoặc E.
3. Phương pháp này cho rằng tài năng bẩm sinh sẽ thui chột, nếu gieo Tính Cách theo nhóm D, E & F.
4. Phương pháp này cho rằng tài năng không dành riêng cho ai. Gieo Tính Cách của đứa trẻ theo nhóm A & B, tài năng sẽ xuất hiện trong tương lai.
5. Thành Đạt đi cùng với Hạnh Phúc chỉ dành cho cách gieo tính cách của 2 nhóm A & B.
6. Hạnh phúc dành cho 3 nhóm A, B & C
7. Phương pháp này cho rằng trẻ em trở nên thành phần bất hảo của xã hội, khi gieo tính cách thuộc nhóm D, E, F trong môi trường không tốt. Vì thế:

- Dù thất học và sống trong môi trường không tốt, đứa trẻ cũng không thể hư hỏng nếu được giáo dục theo nhóm A, B, C.
- Ngược lại, đứa trẻ thuộc 1 trong 3 nhóm D, E, F dù được học hành đầy đủ, vẫn có thể trở nên hư hỏng, dễ bị lôi kéo khi sống trong môi trường không tốt. Một cách đơn giản để xác định đứa trẻ có phải thuộc nhóm D & F như sau: Đứa trẻ mang tính cách cực đoan , ví dụ: Quá hiền, quá ngoan, quá tốt, quá hiếu động, quá nhạy cảm.... Đứa trẻ nhóm E: Luôn nói dối.

8. Phương pháp này cho rằng con người xấu chỉ xuất hiện khi gieo tính cách theo 3 nhóm D, E, F trong môi trường không tốt. Tức là “Không có Tính Cách Xấu-Tốt. Chỉ có Con Người Xấu & Con Người Tốt” Qui luật hoạt động của tính cách không mang định tính Tốt-Xấu.

Dự đoán Tên Họ là một phương pháp xem tướng
- Dự đoán tên họ cung cấp 4 trạng thái của tính cách. Bốn trạng thái này là dữ liệu cơ bản khi đưa vào một cá thể để so sánh, sẽ xác định được: Bản chất, khí chất, tính tình, sở thích cá nhân, tương lai nghề nghiệp, suy nghĩ, trạng thái tâm lý của đối tượng hướng đến.
- Là phương pháp xem tướng người qua Tên Họ, cho nên, nó rất đơn giản, dễ học và dễ dàng đưa ra nhận định hơn so với môn tướng học nhân thể. Tướng học nhân thể khởi nguồn từ kinh nghiệm, người thực hành cũng cần phải giàu kinh nghiệm. Tướng học qua Tên Họ có cơ sở lý luận từ Chu Dịch, vì thế, chỉ cần nhìn thấy thái độ biểu hiện của đối tượng là có thể đưa ra nhận định, xét đoán.



Xem Tướng Người Qua Tên Họ
Căn cứ vào bảng định vị thành phần, tôi có lập ra 2 bảng Nhận Diện Con Người qua Tên Họ cho nam & nữ. Khi lên mạng internet, tôi đã thực hiện việc thẩm định 2 bảng nhận diện này. Qua hơn 12 tháng, hai bảng nhận diện đã hoàn chỉnh về cấu trúc bảng & nhu cầu thực tế.

Ban đầu khi lập 2 bảng, số đề mục tính cả hai giới tính lên đến 132. Qua thẩm định, còn lại 22 đề mục. Những đề mục không phù hợp với nhu cầu của đa số, tôi lược bỏ.

Dưới đây tôi trình bày ví dụ mẫu:









TÓM LƯỢC


1. PHƯƠNG PHÁP GIEO ĐỒNG TIỀN Dự đoán trạng thái tinh thần ngay thời điểm gieo. Dự đoán vận khí ngay thời điểm gieo.
Phương pháp này chỉ dùng riêng cho từng cá nhân để dự đoán cho bản thân.
Phương pháp cần dữ liệu là kết quả gieo & sự kiện là người gieo muốn biết điều gì sẽ xảy ra khi hành sự.
Các phương pháp lập quẻ khác như: chiết tự, ký tự số, ký hiệu, tiếng động, tiếng kêu, kích thước dùng dự đoán tương tự như phương pháp gieo đồng tiền.

2. PHƯƠNG PHÁP LẬP QUẺ THEO PHƯƠNG HƯỚNG Dự đoán trạng thái tinh thần đối tượng. Sắp xếp vị trí trong công việc. Điều chỉnh tâm thức khi ngủ nghỉ.
Phương pháp dùng 1 lần hoặc nhiều lần cho một sự kiện.
Phương pháp cần dữ liệu là phương hướng & một sự kiện đang, sẽ diễn ra.

3. PHƯƠNG PHÁP LẬP QUẺ THEO THỜI GIAN Dự đoán diễn tiến sự kiện. Dự đoán cho kết quả YES – NO. Dự đoán kết quả của 1 sự kiện mà không rõ thời điểm khởi đầu & kết thúc của sự kiện ấy. Điều kiện tiên quyết khi thực hiện công kiện dự đoán: Phải có sự kiện
Khi tiên lượng dự đoán rằng: Trong tương lai, nếu sự kiện xảy ra không phù hợp với mục tiêu & lợi ích đặt ra thì ta có thể điều chỉnh sự kiện ấy bằng các biện pháp:
Hoặc chấm dứt sự kiện ấy ngay khi chúng vừa xảy ra.
Hoặc kéo dài sự kiện ấy sang 1 thời điểm khác phù hợp với mục tiêu & lợi ích đặt ra .
Hoặc không để sự kiện ấy xảy ra.
Không thể sử dụng pp này trong trường hợp nhằm tìm kiếm 1 thời điểm để đạt được những điều mang tính chất may rủi, ví dụ: Trúng thưởng, trúng số…..
Phương pháp dùng dự đoán ở mọi thời điểm, mọi cá thể có hay không có tham gia sự kiện.
Phương pháp cần dữ liệu là khung giờ & phải có sự kiện.

4. PHƯƠNG PHÁP LẬP QUẺ NGÀY SINH dự đoán 3 giai đoạn của 1 đời người (hay sự kiện), nó mô tả tiến trình vận động 6 tính cách cơ bản, tiến trình của 6 hình thái vận động cơ bản để từ đó suy ra số phận của 1 con người (hay 1 sự kiện) mang Tính định tính (không mang định lượng)
Phương pháp được dùng cho mọi đối tượng, mọi sự kiện ở thời điểm khởi sinh.
Phương pháp cần dữ liệu là thời điểm khởi sinh & một cá thể (hay 1 sự kiện) phát sinh

5. PHƯƠNG PHÁP LẬP QUẺ TÊN HỌ dự đoán 4 trạng thái của tính cách thật ở một con người. Bốn trạng thái này là dữ liệu cơ bản để xem tướng nhằm xác định số phận mang Tính Định Lượng ở 1 con người.
Phương pháp được dùng cho mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.
Là môn Tướng học qua Tên Họ, đơn giản hơn so với môn tướng học nhân thể.
Phương pháp cần dữ liệu là tên họ & sự kiện là hoạt động sống của đối tượng.

6. DỰ ĐOÁN VẬN KHÍ CUNG CẤP CÁC THÔNG TIN:
Vận khí năm chỉ đến giá trị vận khí tổng kết trong năm.
Vận khí tháng chỉ đến giá trị vận khí trong tháng.
Trong 12 tháng, có 1 tháng mang vận khí trùng với vận khí năm.
Vận khí ngày chỉ đến giá trị vận khí trong ngày.
Vận khí giờ chỉ đến giá trị vận khí trong giờ.
Ứng dụng thực tiễn:
Khi dự đoán cần tuân thủ nguyên tắc: “Tính tác động bao trùm đi từ năm đến giờ”
Trong thực tiễn, vận khí tháng & ngày thường được sử dụng.
Vận khí giờ thường lấy theo pp dự đoán sự kiện. PP này cho kết quả chi tiết hơn pp dự đoán vận khí giờ.

7. NGUYÊN TẮC CHUNG KHI ÁP DỤNG TƯ DUY ĐỊNH HƯỚNG:
Tư Duy Định Hướng dành cho người sử dụng ở cấp cao nhất.
Dùng Tư Duy Định Hướng để chọn người vào các vị trí chủ chốt.
Dùng Tư Duy Định Hướng để kiểm định các chiến lược, các phương án.
Dùng Tư Duy Định Hướng để tạo môi trường đặc thù cho công ty qua điều lệ, nội qui, khẩu hiệu…
Dùng Tư Duy Định Hướng để kiểm tra định kỳ hoạt động của công ty.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chu Dịch Tướng Học

Gợi ý thiết kế phòng bếp hợp mệnh để sinh tài lộc, gia đạo ấm êm

Nhiều gia chủ vẫn biết, bếp ăn theo Ngũ hành thuộc Hỏa. Vậy nhưng bài trí vật dụng như tủ bếp, hay đá ốp lát, các vật dụng như thế nào để quân bình Ngũ hành, gia tăng vượng khí thì không phải ai cũng tường tận.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong căn nhà, mọi đồ vật hay không gian được bài trí hợp (hay không đúng) phong thủy đều có thể gây ảnh hưởng cho gia chủ. Bếp ăn, không gian quen thuộc với mọi hộ gia đình cũng không ngoại lệ. Nhiều gia chủ vẫn biết, bếp ăn theo Ngũ hành thuộc Hỏa. Vậy nhưng bài trí vật dụng như tủ bếp, hay đá ốp lát, các vật dụng như thế nào để quân bình Ngũ hành, gia tăng vượng khí thì không phải ai cũng tường tận.

Nguyên tắc quân bình Ngũ hành

 goi y thiet ke phong bep hop menh de sinh tai loc, gia dao am em - 1

Trong thư gửi đến chuyên mục Phong thủy Gia đình, anh Nguyễn Trần Linh (Q. Đống Đa, TP. Hà Nội) đưa ra ý kiến rất đáng quan tâm. Căn bếp của gia đình, anh Linh áp dụng nguyên tắc Mộc tương sinh với Hỏa để chọn màu sắc và chất liệu vật liệu. Chẳng hạn với tủ bếp, anh chọn chất liệu gỗ. Trong khi đá ốp tường thì chọn màu trắng (hành Kim) để khắc chế bớt Hỏa trong bếp.

Theo KTS Hà Anh Tuấn, anh Linh tỏ ra là người rất cẩn trọng và có hiểu biết. Nhờ vậy, việc bài trí vật liệu trong không gian bếp của gia đình anh rất đúng với nguyên tắc phong thủy căn bản. KTS Hà Anh Tuấn giải thích: “Không phải cứ bếp theo Ngũ hành thuộc Hỏa thì gia chủ tăng cho Hỏa vượng lên bằng Mộc là tốt. Nếu làm vậy, Hỏa trong bếp quá vượng sẽ dẫn đến xung đột giữa các thành viên trong gia đình, làm sứt mẻ tình cảm. Theo nguyên tắc sinh khắc Ngũ hành, gia chủ cần kết hợp hài hòa giữa vật liệu giúp tăng thuộc tính Hỏa, đồng thời phải kết hợp với vật liệu giúp hạn chế bớt thuộc tính Hỏa. Như vậy, môi trường nấu bếp sẽ thư giãn, dễ chịu hơn. Trong gia đình, hòa khí cũng được duy trì tốt hơn”.

KTS Hà Anh Tuấn cũng đặc biệt lưu ý gia chủ yếu tố quân bình Ngũ hành, cụ thể là những màu dịu đem lại cảm giác thư giãn, như tông màu trắng, xám và xanh lá cây thuộc các hành Kim (bị Hỏa khắc) và Mộc (tương sinh với Hỏa). Những màu đậm và ấm cũng có thể sử dụng cho phần nền và tường để mang tính bình ổn, vững chãi. Nhưng cần tránh dùng màu chói lọi hoặc quá tương phản trong khu bếp vì dễ gây… hưng phấn quá mức với không gian bếp vốn sẵn nóng nực.

Từ nguyên tắc chung đó, các loại gạch ốp tường hay kính ốp bếp sẽ chọn lựa sao cho phong phú hơn và mang tính cá nhân tùy theo mệnh Ngũ hành của người sử dụng. Có thể căn cứ theo bảng dưới đây để tìm ra màu sắc, hoa văn gạch đá ốp tường hợp theo mệnh tuổi. Gạch, đá granite có màu xanh biển, màu đen là thuộc Thủy, nếu có ánh kim loại, kim sa thì thêm tính Kim. Đá granite đỏ là thuộc Hỏa, thêm các sắc độ vàng thì tăng thêm tính Thổ. Đá trắng và xám vốn thuộc Kim. Các loại tủ gỗ màu từ vàng cam đến nâu đậm thuộc 3 hành liên hoàn Mộc - Hỏa - Thổ (hình 2). Còn hệ thống tủ inox thuộc Kim, có lớp sơn phủ bề mặt màu gì thì cộng thêm yếu tố của hành đó, ví dụ sơn phủ màu cam thì tăng thêm Hỏa, phủ màu xanh biển thì thuộc Thủy.

Soi “mệnh” bài trí không gian bếp

Từ các tính ngũ hành cơ bản đã phân tích ở trên, cần chọn lựa thêm cách thức tạo dáng và màu sắc chất liệu để tủ bếp hài hòa với người dùng. Tùy thuộc gia chủ mệnh nào (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) sẽ có sự lựa chọn tương ứng khác nhau. Dưới đây, KTS Hà Anh Tuấn đưa ra những gợi ý cụ thể:

Gia chủ mệnh Kim thì nên chọn kiểu tủ bếp có bo tròn phối hợp với vuông để Thổ sinh Kim, bề mặt có ánh nhũ, bạc hay đồng, màu từ vàng nhạt đến trắng, xám có điểm đen.

Gia chủ mệnh Thủy thì nên chọn thiết kế mặt bếp có dạng sóng uốn lượn, kiểu tủ không cần ngang bằng mà có thể nhấp nhô cao thấp, màu từ xanh dương đến xanh đen, Những tấm kính màu đậm hoặc kính rạn cũng hợp tường bếp gia chủ mệnh Thủy.

Gia chủ mệnh Mộc nên dùng dạng tủ dài hay chữ nhật, nhiều họa tiết, đường nét theo chiều đứng, màu từ xanh dương, xanh ngọc đến xanh lá cây. Ngoài ra có thể điểm thêm màu cam và đỏ, gạch nhấn hoa lá và một số họa tiết phương Đông.

Gia chủ mệnh Hỏa thì nên phối kết xen kẽ đường thẳng và đường chéo, màu từ đỏ đậm đến vàng cam, có thể điểm thêm nâu và xanh lá (Mộc sinh Hỏa). Lưu ý bổ sung đèn có ánh sáng lạnh để hạn chế Hỏa quá vượng.

Gia chủ mệnh Thổ có thể chọn tủ bếp vuông, phẳng và nhẹ nhàng, nhiều đường nét ngang, màu từ vàng đến nâu, có điểm nhấn đỏ, cam hay trắng là tương sinh. Những bình gốm, bệ đặt chậu cây… là vật trang trí bổ sung hợp mệnh chủ thuộc Thổ.

Hướng lý tưởng đặt bếp

Hướng lý tưởng để đặt bếp nấu là Đông Bắc. Ngoài ra bếp nấu có thể đặt hướng chính Tây hay Nam. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng là cần tránh tuyệt đối đặt bếp ngoảnh lưng với hướng nhà, người nấu bếp đứng quay lưng lại thẳng với cửa chính. Bếp đối diện với cửa nhà cũng là hướng xấu. Kết cấu xuyên tâm thông từ cửa chính đến bếp dễ khiến gia chủ hao tán tài sản, lục đục trong nhà. Trong trường hợp bếp đã thiết kế sẵn như vậy có thể dùng bình phong hoặc chậu cây chắn giữa hoặc chuyển bệ bếp đặt ngang lại.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Gợi ý thiết kế phòng bếp hợp mệnh để sinh tài lộc, gia đạo ấm êm

Tướng bàn tay qua ngũ hành theo quan niệm phương Tây –

Các tướng gia phương Tây như Joselt Renald hay bác sỹ người Mỹ Ray Hymann khi nghiên cứu tướng pháp Á Đông trong phần tướng pháp và quan niệm Ngũ Hành Âm Dương tương sinh, tương khắc, các ông này đã đề xuất quan niệm rằng bàn tay được chia làm 4 phần
Tướng bàn tay qua ngũ hành theo quan niệm phương Tây –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng bàn tay qua ngũ hành theo quan niệm phương Tây –

Tài lộc của người tuổi Ngọ theo từng tháng (P1)

So với tháng trước, tài lộc của người tuổi Ngọ có phần tốt đẹp hơn. Mọi vấn đề rắc rối giảm dần và sớm được giải quyết ổn thỏa. Tuy nhiên, sóng gió vẫn chưa
Tài lộc của người tuổi Ngọ theo từng tháng (P1)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tháng 1 (Âm lịch)

Tháng Dần, tài lộc của người tuổi Ngọ tương đối tốt. Họ nhận được nhiều sự giúp đỡ từ người khác. Nếu biết nắm chắc cơ hội, nghiêm túc làm việc, người này sẽ thành công rực rỡ. Trong tháng này, người tuổi Ngọ nên giữ vững ý chí và quyết tâm, mọi kế hoạch của họ sẽ đạt kết quả tốt hơn mong đợi. Bên cạnh đó, họ cũng cần cân đối tài chính, tránh tình trạng thu nhập dồi dào mà chi tiêu hoang phí.

Tháng 2 (Âm lịch)

Tháng Mão, vận thế của người tuổi Ngọ xấu đi nhanh chóng, khó khăn, trở ngại ập đến bất ngờ khiến họ không thích ứng kịp. Thu nhập của người này cũng giảm dần, họ bắt đầu đối diện với những khó khăn về kinh tế. Lời khuyên cho người tuổi Ngọ lúc này là nên giữ vững tinh thần trách nhiệm của mình ở mọi lúc mọi nơi, tránh nóng vội hay nản trí kẻo hỏng việc, không thu lại được lợi lộc gì.

Tháng 3 (Âm lịch)

thực sự qua đi, người này vẫn phải cẩn trọng trong mọi tình huống và công việc. Hơn nữa, nọ nên tập trung vào một lĩnh vực nhất định để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã đặt ra, tránh “tham công tiếc việc”.

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Tháng 4 (Âm lịch)

Tài lộc của người tuổi Ngọ chuyển biến tốt lên trong tháng Tỵ. Những khó khăn, tranh chấp nhân sự tạm thời lắng xuống, họ thu được lợi  nhuận trong kinh doanh. Tuy nhiên, người này vẫn chịu một số áp lực trong công việc. Họ nên hợp tác thân thiện, cùng đối tác gánh vác trách nhiệm, hợp sức tiến lên. Có như vậy, việc đầu tư mới đạt hiệu quả, lợi nhuận mới tăng cao.

Tháng 5 (Âm lịch)

Tháng 5 (tháng Ngọ), người tuổi Ngọ có sao xấu chiếu mệnh nên tài lộc không tốt. Họ không nhận được sự đồng tình ủng hộ của mọi người, một mình đương đầu với công việc nên khó tránh khỏi những trắc trở, gian nan. Tháng này, người tuổi Ngọ nên nhiệt tình, tạo thiện cảm nhiều hơn với đồng nghiệp. Mặt khác, họ nên đầu tư công việc đúng hướng, tránh nhầm lẫn kẻo chịu nhiều thiệt hại hơn.

Tháng 6 (Âm lịch)

Vận thế vào tháng Mùi của người tuổi Ngọ có chiều hướng tốt lên. Những trở ngại, thách thức trong công việc đã được giải quyết. Hơn nữa, người tuổi Ngọ còn nhận được sự giúp đỡ của đồng nghiệp và người thân xung quanh nên gặt hái được nhiều thành công vang dội. Tài lộc tháng này của người tuổi Ngọ tốt lên, thu nhập dồi dào. Song, họ vẫn nên chú trọng nhiều hơn đến tài chính, tránh thu thì nhiều mà chi hoang phí.

(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tài lộc của người tuổi Ngọ theo từng tháng (P1)

kiêng kỵ cửa nhà vệ sinh mở vào phòng bếp –

Hiện tượng: Hiện nay rất nhiều nhà thiết kế phòng bếp sát nhà vệ sinh, hơn nữa cửa nhà vệ sinh lại mở ra phòng bếp, uế khí từ nhà vệ sinh sẽ xông thẳng vào phòng bếp. ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh an toàn thực phẩm, hơn nữa còn ảnh hưởng đến sức

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện tượng: Hiện nay rất nhiều nhà thiết kế phòng bếp sát nhà vệ sinh, hơn nữa cửa nhà vệ sinh lại mở ra phòng bếp, uế khí từ nhà vệ sinh sẽ xông thẳng vào phòng bếp. ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh an toàn thực phẩm, hơn nữa còn ảnh hưởng đến sức khỏe dạ dày, ruột… hộ thống tiêu hóa của người trong nhà.

6

Phương pháp hóa giải: Nếu có thể thì đặt một bức bình phong hình chữ L để chắn uế khí, nếu không thể đặt bức bình phong được thì cửa nhà vệ sinh hãy treo một tấm rèm vài dài và ngưởng cửa nhà vệ sinh đặt một chuỗi đồng tiền Ngũ Đế để hóa giải.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: kiêng kỵ cửa nhà vệ sinh mở vào phòng bếp –

Sao Tử Vi

Phương Vị: Cả Nam lẫn Bắc Đẩu Tinh Tính: Dương Hành: Thổ Loại: Đế Tinh Đặc Tính: Quyền Uy, Phúc Đức, Tài Lộc Tên gọi tắt thườ...
Sao Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phương Vị: Cả Nam lẫn Bắc Đẩu TinhTính: DươngHành: ThổLoại: Đế TinhĐặc Tính: Quyền Uy, Phúc Đức, Tài Lộc
Tên gọi tắt thường gặp: Tử

Tử Vi là sao chủ của chòm sao Tử Vi gồm có sáu sao: Tử Vi, Liêm Trinh, Thiên Đồng, Vũ Khúc, Thái Dương, Thiên Cơ. Sao Tử Vi là một trong 14 chính tinh và còn là sao chính trong khoa tử vi nên còn gọi là đế tinh (sao vua) và được an đầu tiên trong lá số tử vi.
Hai chòm sao Tử Vi và Thiên Phủ hợp lại để tạo thành 14 chính tinh (sao chính) trong lá số tử vi. Trường hợp một cung trên lá số không có chính tinh thì được gọi là cung Vô Chính Diệu tức là cung này không có sao chính tọa thủ.
Sao Tử Vi được an theo cục và ngày sinh.
Vị Trí Ở Các Cung

  • Miếu địa (tốt nhất) ở các cung: Tỵ, Ngọ, Dần, Thân.
  • Vượng địa (tốt) ở các cung Thìn, Tuất.
  • Đắc địa (tốt vừa) ở các cung Sửu, Mùi.
  • Bình hòa (bình thường) ở các cung Hợi, Tý, Mão, Dậu.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Cung Mệnh có Tử Vi miếu, vượng hay đắc địa thì thân hình cao lớn, hồng hào. Còn Tử Vi bình hòa thì thân hình vừa phải.
Tính Tình
  • Miếu địa: Thông minh, trung hậu, nghiêm cẩn, uy nghi, sáng tạo, lãnh đạo.
  • Vượng địa: Thông minh, đa mưu túc trí, bất nghĩa, có oai phong.
  • Đắc địa: Thông minh, thao lược, can đảm, liều lĩnh.
  • Bình hòa: Kém thông minh, nhân hậu.
Công Danh Tài Lộc
Nếu Tử Vi ở các vị trí miếu, vượng hay đắc địa thì không cần các phụ tinh tốt khác đi kém theo cũng vẫn có sự phú quý và quyền uy. Tuy nhiên nếu được các sao sau đây đi kèm thì sự phú quý càng chắc chắn hơn.
- Có Thất Sát đồng cung: Thất Sát như lưỡi gươm báu, đi chung với Tử Vi càng làm cho Tử Vi có thêm uy lực hơn.
- Thiên Phủ đồng cung hay hội chiếu: Thiên Phủ là kho trời nên càng có ý nghĩa dồi dào về tài lộc khi đi kèm với Tử Vi.
- Thiên Tướng đồng cung: Thiên Tướng có nghĩa là tướng Trời, cho nên Tử Vi có Thiên Tướng đi kèm như vị vua có tướng tài bên cạnh phò tá nên càng thêm vững chắc trên đường lãnh đạo chỉ huy.
- Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt: Đây là các sao phụ như quần thần theo hộ giá cho vị Vua. Các sao này sẽ khiến cho Tử Vi bảo đảm thêm phần tài lộc, công danh. Sự hội tụ của các sao này chung quanh Tử Vi làm nổi bật khả năng lãnh đạo, chỉ huy của sao vua.
Ở vị trí bình hòa, Tử Vi cần phải có các sao tốt đi kèm mới bảo đảm được sự phú quý hưng vượng.
Tử Vi gặp các sao xấu như Tuần, Triệt, Kình, Đà, Không, Kiếp thì diễn tả một tính nết xấu xa và thường gặp tai nạn trong cuộc đời. Nếu là nữ mệnh thì tính tình đê tiện, dâm đãng, khắc hại chồng con tuy là có tiền bạc khá giả.
Phúc Thọ Tai Họa
Tử Vi là một phúc tinh nên còn đem đến phúc đức cho cung tọa thủ. Đặc biệt Tử Vi chế giảm được hung tính của hai sao Hỏa Tinh và Linh Tinh. Tuy nhiên năng lực cứu giải tai nạn của Tử Vi sẽ bị kém đi rất nhiều khi đóng tại các cung Hợi, Tý, Mão, Dậu. Thêm nữa nếu Tử Vi bị hai sao Tuần hoặc Triệt án ngữ hay sát tinh xâm phạm thì càng bất lợi hơn. Trường hợp này đương số sẽ gặp phải những nghịch cảnh trong cuộc đời như:
  • Sớm mồ côi cha mẹ, hoặc phải chịu cảnh góa bụa, cô độc.
  • Khắc anh chị em hay khắc chồng con, hay vợ con.
  • Thường bệnh hoạn hay yểu tử.
  • Phải tha phương lập nghiệp.
  • Gặp nhiều cảnh hiểm nguy trong cuộc đời.
  • Nghèo khổ, xui xẻo.
  • Công danh trắc trở, khổ nhọc cả đời.
  • Nữ mệnh thì phải chịu cảnh muộn chồng hay vợ lẽ.
Riêng trường hợp Tử Vi ở cung Mão hoặc Dậu và đồng cung với Tham Lang thì Tử Vi tượng trưng cho sự bi quan, yếm thế, thường gặp nghịch cảnh và luôn có chí xuất trần. Nếu đương số đi tu thì sẽ đạt được sự thanh nhàn và phúc đức.
Những Bộ Sao Tốt
  • Tử Vi, Thiên Phủ tọa thủ (ở ngay cung Mệnh) hay giáp Mệnh (ở hai bên cung Mệnh).
  • Tử Vi, Thiên Tướng.
  • Tử Vi, Thất Sát.
  • Tử Vi, Vũ Khúc
  • Tử, Phủ, Vũ, Tướng
  • Tử Vi và các sao tốt Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Khoa, Quyền, Lộc, Long, Phượng, Quang, Quý, Đào, Hồng v.v...
  • Tử, Phủ, Kỵ, Quyền hay Tử, Sát, Quyền ở Tỵ hoặc Hợi.
Nhất là cách Tử Phủ Vũ Tướng có kèm các sao tốt kể trên. Đây là cách đế vương, báo hiệu một sự nghiệp lãnh đạo to lớn của một vị nguyên thủ quốc gia. Nếu không gặp sát tinh thì ngôi vị vững vàng, dễ tạo quyền bính trong thời bình. Ngược lại, nếu bị Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh đắc địa đi kèm thì sẽ đắc vị trong thời ly loạn, chiến tranh hoặc đất nước gặp cảnh gay go thử thách cần phải có sự tranh đấu với nhiều khó khăn, trở ngại.
Những Bộ Sao Xấu
  • Tử Vi gặp Tuần hay Triệt thì trong đời thường gặp tai nạn, dù có chí lớn cũng không thể mưu thành đại sự được.
  • Tử Vi, Thất Sát gặp Tuần hay Triệt thì mưu sự bất thành, chỉ có hư danh và hay gặp tai nạn trong cuộc đời.
  • Tử Vi ở các cung Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) diễn tả một con người bất trung, bất nghĩa, bất hiếu vì khi Tử Vi đóng ở các vị trí này sẽ gặp Thiên La, Địa Võng (Thìn, Tuất) và có Phá Quân đi kèm. Nếu có được cát tinh đi kèm thì mới có uy quyền và danh tiếng. Tại các vị trí này, nếu Tử Vi gặp cả sao tốt lẫn sao xấu thì sẽ là người rất đặc biệt có nhiều mưu lược, và thủ đoạn, dám làm những việc bất nhân, bất nghĩa nhưng vẫn sử dụng được cả người tốt lẫn người xấu.
  • Nếu Tử Phá thiếu các sao tốt thì con người bất nhân, bất nghĩa, độc ác, khát máu, tham nhũng và thường bị thất bại nặng hoặc phải phá sản một lần trong đời.
  • Tử Vi có Tham Lang đồng cung biểu diễn một cuộc đời của một vị tu hành, xuất thế. Nhất là khi có hai sao Địa Không và Địa Kiếp thì điều này càng chắc chắn hơn nữa.
  • Tử Vi gặp Không, Kiếp, Đào, Hồng là sổ yểu tử, chết sớm.
  • Tử Vi gặp Kình, Đà, Quyền, Lộc là người có quyền lực danh vọng nhưng lòng dạ hung hiểm, độc ác, vô đạo, bất nhân.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Phụ Mẫu
Tử Vi ở các cung Ngọ, Tý, hay có thêm Thiên Phủ, hoặc Thất Sát đồng cung thì cha mẹ giàu sang, sống lâu, giúp đỡ được con cháu, và có di sản để lại cho con cái.
Riêng trường hợp Tử Sát hay Tử Tham tại cung Phụ Mẫu thì cha mẹ bất hòa với nhau hay cha mẹ bất hòa với con cái. Trường hợp cung Phụ Mẫu có Tử Vi và Phá Quân đồng cung thì người con khắc cha mẹ, hoặc phải chịu cảnh mồ côi, hoặc phải sống xa cha mẹ, hạnh phúc gia đình bị kém. Gặp trường hợp này cần phải xét thêm hai sao Thái Dương (cha) và Thái Âm (mẹ) để biết rõ thêm sự tốt xấu nghiêng về cha hay mẹ.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Phúc Đức
Những trường hợp tốt của sao Tử Vi với cung Phúc Đức là:
  • Ở Ngọ hay Tý. Tốt nhất là ở Ngọ.
  • Thiên Phủ hay Thiên Tướng đồng cung.
  • Thất Sát đồng cung. Nhưng trường hợp này vì gặp sát tinh nên phải xa họ hàng hay sống cuộc đời lưu lạc tha phương mới tốt.
Những trường hợp xấu cho cung Phúc Đức có sao Tử Vi là:
  • Tử Vi, Phá Quân đồng cung.
  • Tử Vi, Tham Lang đồng cung.
  • Tử Vi gặp các sao xấu, nhất là Không, Kiếp, Kình, Đà, Linh, Hỏa. Đây là trường hợp bất lợi nhất.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Điền Trạch
Tương tự như cung Phúc Đức, nếu cung Điền Trạch có sao Tử Vi và ở vào các trường hợp đã ghi cho cung Phúc Đức thì đương số sẽ có nhà cửa rộng lớn, tài sản phát triển dồi dào, có thể do thừa hưởng gia tài hoặc tự tay tạo dựng sự nghiệp vẻ vang.
Nếu cung Điền Trạch có Tử Vi mà gặp phải các sao Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang thì không giữ được của dù có gia sản lớn lao, hoặc phải chịu cảnh sa sút dần và có thể đi đến phá sản khi có Phá Quân đồng cung. Đặc biệt nếu có thêm các hung tinh khác thì có thể đi đến khánh tận và chịu cảnh vô sản, nghèo khổ.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Quan Lộc
Những bộ sao tốt và xấu cho sao Tử Vi ở cung Mệnh đều có thể áp dụng cho cung Quan Lộc. Tốt nhất là Tử Vi ở Ngọ hoặc đồng cung với ba chính tinh Thiên Phủ, Thiên Tướng và Thất Sát. Nếu cung Quan Lộc có Tử Vi đi với Thiên Tướng thì con người độc tài, hay tranh giành quyền lực. Tử Vi đi với Thất Sát thì có năng khiếu về võ nghiệp. Nếu đồng cung với Phá Quân và Tham Lang thì sẽ gặp sự thăng trầm, tai họa trong đường công danh, quan lộc, để cuối cùng phải chuyển qua doanh nghiệp, thương mại.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Thiên Di
Các cách Tử Vi ở Ngọ, Tý hay Tử Phủ, Tử Tướng, Tử Sát đều tốt. Có nghĩa là đương số sẽ gặp hoàn cảnh xã hội thuận lợi tốt đẹp, cuộc sống luôn gặp môi trường thuận tiện. Đây là một con người sinh ra đã gặp mọi thời cơ thuận lợi, tốt đẹp, nhiều người giúp đỡ, thường giao tiếp với bậc quyền quý, cao sang, càng ra ngoài xã hội nhiều thì cuộc đời càng may mắn, luôn được nhiều người tín nhiệm giúp đỡ.
Trái lại nếu Tử Vi ở cung Thiên Di mà gặp các sao Phá, Tham hay các sát tinh khác thì thường gặp nhiều nghịch cảnh xã hội, thường bị người ngoài dèm pha, hãm hại, có thể chết tha phương hoặc bị ám sát.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Tật Ách
Tử Vi là sao vua và là phúc tinh nên đóng ở cung Tật Ách có năng lực giải trừ mọi tai nạn, bệnh tật, hiểm họa trong đời. Đây là sao cứu giải hoạn nạn mạnh nhất trong các sao và có hiệu lực cứu giải như Thiên Phủ, Thiên Lương. Trong trường hợp cung Tật Ách có sao Tử Vi và đồng cung với sao Phá Quân thì năng lực giải cứu của sao Tử Vi cũng không bị suy giảm.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Tài Bạch
Tử Vi cũng là một sao chủ về tài bạch cho nên Tử Vi đóng ở cung Tài Bạch mà được miếu địa hay vượng địa và không gặp Tuần hay Triệt án ngữ thì sẽ bảo đảm được một gia sản tiền bạc đồi dào.
Thêm nữa, nếu sao Tử Vi đi kèm với các sao chủ về tiền bạc, của cải như Thiên Phủ, Vũ Khúc thì càng thịnh vượng hơn nữa. Gặp những trường hợp này, đương số sẽ có trách nhiệm giữ về tiền bạc, kho lẫm như ngân hàng hay tài chánh. Nếu đồng cung với Thất Sát cũng sẽ làm giàu dễ dàng nhanh chóng. Nhưng nếu cung Tài Bạch ở Tý thì sẽ kém hơn các trường hợp trên. Nếu Tử Vi đồng cung với Phá Quân thì trong đời sẽ trước nghèo sau giàu nhưng cũng có lần phá sản. Đồng cung với Tham Lang thì tài sản sư nghiệp tầm thường, dù có của cải gia sản thì cũng sẽ bị sa sút dần. Cuối cùng nếu Tử Vi ở cung Tài Bạch mà gặp các sát tinh nặng khác thì trong đời ít nhất cũng có một lần bị phá sản.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Tử Tức
Tử Vi ở cung Tử Tức thì đương số sẽ có cả con trai lẫn gái. Nếu miếu địa, vượng địa hay đắc địa hoặc đồng cung với Thiên Phủ hay Thiên Tướng thì nhiều con cái và con cái đều khá giả. Nếu Tử Vi đi với Thất Sát thì khó nuôi con, nhất là gặp thêm các sao xấu thì có thể ít con hoặc phải chịu cảnh hiếm muộn. Nếu cùng với Phá Quân hay Tham Lang thì ít con cái và con sẽ xung khắc với cha mẹ.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Phu Thê
Tốt nhất là cung Phu Thê ở Ngọ và có Tử Vi đồng cung với Thiên Phủ. Trường hợp này diễn tả một gia đình vợ chồng tương đắc tâm đầu ý hợp, luôn có hòa khí và chung thủy trong đời sống vợ chồng.
Cung Phu Thê có Tử Vi và Thiên Tướng thì cả hai vợ chồng đều rất can trường cứng cỏi. Vì vậy vợ chồng có thể gặp cảnh xích mích, bất hòa nhưng cuộc sống gia đình vẫn tốt đẹp. Thông thường thì vợ hay chồng sẽ là người con trưởng trong gia đình, nếu không là con trưởng thì cũng sẽ đoạt trưởng, nghĩa là có quyền quyết định trong gia đình và được các anh chị em nể phục, kính trọng.
Nếu Tử Vi gặp Sát hay Tham thì muộn lập gia đình mới tốt. Nếu gặp Phá thì vợ chồng thường bị hình khắc chia ly. Nếu gặp Tham thì chỉ sự bất hòa vì Tham Lang là sao chỉ về sự ghen tuông, chiếm hữu.
Ý Nghĩa Tử Vi Ở Cung Huynh Đệ
Cung Huynh Đệ có sao Tử Vi thì đương số có anh cả hoặc chị cả vì sao Tử Vi chỉ về người đứng đầu trong anh chị em. Trường hợp cung Huynh Đệ có sao Tử Vi ở Ngọ hoặc đồng cung với Thiên Phủ hay Thất Sát thì gia đình có đông anh em, khá giả và hòa thuận. Nếu có Thiên Tướng đi kèm thì anh em tuy khá giả nhưng hay có sự bất hòa vì Thiên Tướng là sao chủ về sự cạnh tranh, cứng cõi, ương ngạnh. Trường hợp Tử Vi đồng cung với Phá Quân thì sẽ có anh em dị bào, cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha và anh em ruột thường hay bất hòa. Nếu Tử Vi đi với Tham Lang thì anh em ly tán, nghèo khổ, vất vả và nếu gặp các sát tinh khác thì anh em có thể có người bị tử nạn, hao hụt lần lần hay trong anh chị em có người là phần tử xấu trong xã hội.
Tử Vi Khi Vào Các Hạn
Sao Tử Vi là đế tinh, không có vị trí hãm địa nên khi vào các đại hạn, hay tiểu hạn tại các cung miếu, vượng hay đắc địa hoặc đồng cung với các sao Thiên Phủ, Thiên Tướng, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc thì rất tốt mọi việc đều may mắn, thuận lợi. Nếu gặp Khôi, Việt thì càng vẻ vang hơn. Riêng các vị trí bình hòa như Tý, Hợi, Mão, dậu thì năng lực sẽ kém tốt hơn, nhưng nếu gặp bất lợi thì khó tránh khỏi.
Sao Tử Vi gặp các sát tinh Không, Kiếp, Kỵ, Hình thì bị đau ốm, bệnh hoạn hoặc mất của hay bị kiện tụng. Gặp Kình, Đà, Kỵ thị bị đau ốm hay bị lừa gạt. Đặc biệt khi Tử Vi gặp Tuần và Triệt ở cả đại hạn lẫn tiểu hạn lại thêm Kình, Đà, Không, Kiếp (chưa kể các nguyệt hạn, nhật hạn và thời hạn) như một vị vua mà bị nhiều quân phiến loạn vây hãm thì tính mạnh có thể bị lâm nguy.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Tử Vi

Kết hôn với thần linh - mặt trái của tâm linh

Thế giới tâm linh có sức mạnh lớn không tưởng tới bất cứ một con người nào, nó xoa dịu và hàn gắn nhiều nỗi đau nhưng cũng có thể trở thành sự kìm kẹp, gây bất
Kết hôn với thần linh - mặt trái của tâm linh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thế giới tâm linh có sức mạnh lớn không tưởng tới bất cứ một con người nào, nó xoa dịu và hàn gắn nhiều nỗi đau nhưng cũng có thể trở thành sự kìm kẹp, gây bất hạnh. Kết hôn với thần linh là một trong những tục lệ viện cớ tôn giáo rất khắc nghiệt ở Ấn Độ.


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

tam linh
 
Hình thức hôn nhân kỳ lạ này xuất hiện tại khu vực phía Nam Ấn Độ, theo đó một cô gái trẻ sẽ kết hôn với thần linh trong truyền thuyết hoặc một ngôi đền. Tục lệ devadasi dịch ra có nghĩa là "người phục vụ thần linh".
 
Theo đó, một số bé gái sau khi xem ngày sinh kỹ lưỡng sẽ được cho kết hôn với thần linh trước khi cô bé chào đời. Sau đó những bé gái này phải trở nên thật hấp dẫn, chăm chỉ, thông minh và múa giỏi.
 
Nhiệm vụ của các bé gái này là múa hát vào mỗi sáng và tối cho các vị thần, đổi lại họ sẽ nhận được công quả từ các tín đồ quyên góp trong đền. Ngoài ra các cô gái còn được chào đón tại các đám cưới với hy vọng sẽ mang lại những điều tốt lành cho các cặp đôi mới cưới. Những "devadas" được tôn trọng và có địa vị cao trong xã hội so với những người phụ nữ thông thường.
 
Điều khắc nghiệt của tục lệ kết hôn với thần linh là những cô gái này bị cấm kết hôn, bởi theo quan niệm, tình yêu của họ đã dành hết cho các thần linh hoặc nữ thần. Họ không được phép có quan hệ trai gái và phải sống một mình cho đến khi chết. Những người làm trái quy định, cố tình kết hôn hoặc có quan hệ với nam giới sẽ phải trả giá bằng những hình phạt tàn độc.
 
Các cô gái được chọn từ khi chưa sinh ra và không có quyền từ chối “đặc ân” này. Họ bắt đầu những bài tập luyện nghiêm khắc ngay từ khi còn rất nhỏ và gánh trên vai trách nhiệm phải trở nên hoãn mỹ. Bất cứ một cô gái nào không đủ "tiêu chuẩn" đều bị loại bỏ bằng cách hiến tế cho thần linh như một sự chuộc tội.
 
Đáng buồn hơn nữa là hiện nay, devadasi đã bị vấy bẩn và trở thành một hình thức mại dâm cho những thầy tu và những kẻ lắm tiền nhằm kiếm chác cho các ngôi đền vùng nông thôn. Những cô gái con nhà nghèo hoặc có địa vị thấp sẽ bị bán vào các ngôi đền và giao dịch mại dâm một cách kín đáo. Họ thậm chí còn không dám lên tiếng hay nhờ pháp luật can thiệp bởi rào cản tôn giáo và sự kìm kẹp của tâm linh từ chính phía cộng đồng, gia đình và bản thân.

ST
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kết hôn với thần linh - mặt trái của tâm linh

Tướng phụ nữ có nhiều lông |

Những phụ nữ có nhiều lông mọc ở bụng, cánh tay, hay những bộ phận khác trên cơ thể thì ham muốn về “chuyện ấy” sẽ cao hơn so với những phụ nữ khác. Đa phần những chị em phụ nữ khi bị xuất hiện nhiều lông trên cơ thể thường tìm mọi cách để tẩy hoặc c
Tướng phụ nữ có nhiều lông |

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phụ nữ có nhiều lông |

Cách Làm Quan và những sao Qúy

Cách Làm Quan và những sao Qúy trong tử vi, hãy cùng thảo luận xem lá số tử vi của bạn có thuộc cách này không nhé.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách Làm Quan và những sao Qúy

Cách Làm Quan và những sao Qúy

Thảo luận về Cách Làm Quan và những sao Qúy trong khoa tử vi:

1.Các chính tinh có nghĩaquan lộc trực tiếp:

Tử Vi: Tử Vi đắc địa ở cung Quan có nghĩa quyền quý.  Tử Vi chỉ người có dịp chỉ huy, điều khiển, giữ những chức vụ quan trọng trong công quyền, có nhiều thuộc hạ cao cấpl có tài lãnh đạo, có bản lãnh chế phục người khác. Ngôi thứ quan lộc cao thấp tùy thuộc vị trí miếu địa hay đắc địa: càng đắc địa thì ngạch trật càng cao. Nếu Tử Vi được nhiều quyền tinh, dũng tinh đi kèm thì chức quyền càng lớn, có nhiều thuộc hạ đông đảo trợ lực. Nếu thiếu trợ tinh, Tử Vi chỉ loại viên chức hay sĩ quan cao cấp làm việc tham mưu, phục vụ trong ngành chuyên môn, ít có dịp cầm quyền, cầm quân, hoặc nếu có, thì chỉ điều khiển một số thuộc hạ giới hạn và thời gian chỉ huy không lâu.

Thái Dương: Nam số có Thái Dương sáng sủa ở Quan lộc đều quý hiển, cụ thể là có phẩm trật cao, có chức vụ lớn, thành công trong sự nghiệp nhờ sự thông minh, tài năng và đạo đức của mình. Thông thường, Thái Dương chỉ ngành văn hơn là ngành võ.

Liêm Trinh: đắc địa trở lên chủ về quan lộc, giống như Thái Dương, cho nên tọa thủ ở Quan lộc rất hợp vị. Liêm Trinh chủ yếu chỉ về võ nghiệp nhưng cũng có khi kiêm nhiệm cả chính trị nếu đóng ở hai cung Dần và Thân. Cái hay của Liêm về quan lộc bắt nguồn trước hết từ khả năng toàn diện đó. Trong cả hai ngành đều sáng chói, hiển đạt trong thời bình lẫn thời chiến, nhờ ở tài thao lược, khả năng thích ứng với nhiều hoàn cảnh. Ngoài ra, Liêm Trinh đắc địa ở Dần và Thân còn ban cho san này những điều kiện tốt đẹp để thành công: sự liêm khiết, thẳng thắn, mực thước, rất trong sạch, có đạo đức, không chịu làm điều trái phép, trái lương tâm chức nghiệp. Nếu Liêm Trinh đi với Thiên Tướng thì sự chính trực càng nổi bật. Liêm Trinh hãm địa ở Quan báo hiệu chức vụ nhỏ, thấp, thường gặp hung sự trong công vụ, đặc biệt là hình tù.

Thiên Tướng: sao này là quyền tinh, dũng tinh, thích hợp với ngành võ. Càng đắc địa (ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ, Dần, Thân Sửu, Mùi, Tỵ và Hợi), công danh càng sáng chói. Thiên Tướng là người đảm đang, tháo vát, có chí khí lớn, nhất là có ý thức công bằng, bình đẳng rất cao, có hoài bão mang trật tự xã hội. Nếu Thiên Tướng đi kèm với Tử Vi ở cung Quan đó là người có tài lãnh đạo, có tài thừa hành, dám làm dám quyết, có khí phách hơn người, có hoài bão cao xa. Tuy nhiên, cặp sao này nói lên tính tự phụ và khuynh hướng á quyền (do sao Tử Vi). Tử Tướng đồng cung có tài và có tham vọng lãnh đạo chỉ huy. Nếu Thiên Tướng được Tướng Quân xung chiếu hay ngược lại thì rất hiển đạt trong võ nghiệp.

Thất Sát: ở Quan là quân nhân, đặc biệt thích hợp với quân nhân cầm binh xuất trận đi tiên phong, nghênh địch ở vùng hỏa tuyến. Sao này không thích hợp với trách nhiệm phòng thủ hậu phương và không đắc dụng ở ngành tham mưu, nhất là hành chính, chính trị. Đi với Hóa Quyền, là loại sĩ quan có binh lính dưới trướng, có khả năng tác chiến cao, lập được nhiều chiến công trên trận địa.

Thiên Phủ: là quyền tinh, chỉ cách làm quan văn đồng thời là nghề liên hệ đến tài chính. Nếu Phủ ở miếu và vượng địa, chức vụ tài chính sẽ cao hơn ở đắc địa. Nếu có thêm phụ tinh tốt, nhất là trợ tinh và tài tinh, đương số có thể là người đứng đầu cơ quan tài chính. Bằng không, sẽ có nghĩa là tiền bạc, giàu có hơn các đồng nghiệp khác.

2.Những chính tinh có nghĩa quan lộc gián tiếp:

Vũ Khúc: Đắc quý cách ở Thìn Tuất Sửu Mùi (miếu địa), Dần Thân Tỵ Ngọ (vượng địa) và Mão Dậu (đắc địa). Trong trường hợp này, Vũ chỉ võ nghiệp đặc biệt nếu đi cùng với các sao võ như Tướng, Sát, Phá, Tham. Đi với Văn Khúc thì có tài về cả văn lẫn võ. Vũ là người có chí lớn, có tài thao lược, tính toán giỏi, dám mưu đại sự, lại can đảm, quả cảm. Đây là ngôi sao tham mưu, đánh giặc bằng mưu lược nhiều hơn là bằng binh đao và hỏa lực. Nếu Vũ đi cùng với Tướng hay Sát thì sĩ quan đó kiêm cả tham mưu lẫn tác chiến, và có dũng vừa có mưu. Nếu hãm địa, năng tài của Vũ Khúc bị phai mờ, hoặc kém cỏi, hoặc không có chỗ dụng, hoặc thất bại. Trong trường hợp đơn thủ hoặc đồng cung với Phủ, Vũ Khúc làm quan văn, coi về ngành kinh tế rất đắc dụng. Đó là người có tài kinh doanh mang lợi lộc cho quốc gia, vận dụng tiền bạc giỏi, biết bắt mạch và khai thác cơ hội. Trong bất cứ trường hợp đắc địa nào, Vũ cũng là người có tiền bạc dư dả.

Tham Lang: Trừ phi miếu địa ở Thìn Tuất, Tham Lang tầm thường, có thể nói là bất tài, hám lợi. Ngay trong trường hợp đắc dụng, sĩ quan có Tham Lang ở Quan có nhiều nét xấu: từ hiếu thắng, tự phụ cho đến tính hình thức, ham vui, bê trễ và nhất là lòng tham dưới nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, nếu Tham miếu địa đi với Linh hay Hỏa miếu địa thì lại rất hay cho võ nghiệp.

Phá Quân: Quan có Phá miếu (ở Tý, Ngọ), vượng (ở Sửu Mùi), đắc địa (ở Thìn, Tuất) thì can đảm, hoạt động nhưng hiếu thắng, tự kiêu, mưu cơ, gian trá và nhất là bất nhân. Bản chất của Phá Quân ở Quan là không được trung tín, hay lấn lướt người trên. Trong trường hợp hãm địa, quan cách của Phá Quân rất tầm thường, hay gặp tai nạn khó thoát, hay hại người và bị người hại.

Thái Âm: là phú tinh, chỉ điền trạch. Nếu sáng sủa, cũng có quan cách nhưng không rực rỡ bằng Thái Dương. Tuy nhiên, người tuổi Âm, sinh ban đêm, lúc trăng lên có Thái Âm sáng sủa ở Quan thì quý cách rực rỡ hơn người tuổi Dương, sinh ban ngày. Nếu có thêm trợ tinh thì càng sáng lạng: đó là trường hợp người sớm phát đạt, toại ý, vừa có danh, vừa có lợi. Nếu là tuổi Dương, sinh ban ngày thì công danh có ít, lợi lộc nhiều hơn. Thái Âm chỉ cách làm quan văn. Nếu hãm địa, quan cách tầm thường, chậm phát, thường gặp những hoàn cảnh không toại ý, thiếu cơ hội thi thố tài năng. Nếu Âm Dương đồng cung ở Sửu Mùi thì có lộc nhưng không quý hiển. Muốn đắc quý, phải có Tuần, Triệt án ngữ hay Hóa Kỵ đồng cung.

Thiên Đồng: chỉ có ý nghĩa quan lộc nếu đắc địa trở lên. Thông thường, sao này chỉ quan cách nhưng riêng ở Mão thì văn võ kiêm toàn. Đồng chỉ thực sự quý hiển nếu ở cung Tý, cung Dần và cung Thân. Trong mọi trường hợp, Đồng chỉ loại viên chức làm việc lưu động, thường hay đổi công việc, cụ thể như thanh tra, đại sứ, liên lạc viên, giao liên hoặc gặp hoàn cảnh phải đổi nghề, đổi chỗ làm tương đối mau chóng. Nếu đồng cung với Thiên Lương, Đồng rất xuất sắc trong các ngành chính trị, y khoa, sư phạm. Đồng cung với Nguyệt ở Tý, Đồng cũng lỗi lạc. Nếu hãm địa, quan cách nhỏ thấp, thăng giáng thất thường và bất đắc chí trong nghề nghiệp.

Thiên Lương: là cách quan văn. Đắc địa trở lên, Lương là người có tài mưu sĩ, cố vấn, khuyến cáo đường lối chiến lược, chính sách, đặc biệt khi đóng ở Thìn Tuất (đồng cung với Thiên Cơ) hay ở Mão (đồng cung với Thái Dương). Tại những vị trí này, Lương là người hay tìm tòi, hiếu học, có khả năng nghiên cứu và thiết kế các chương trình lớn, rất thích hợp với công việc tham mưu. Nếu có thêm các sao khoa bảng thì công danh rất sáng chói, được ở cạnh chức quyền cao cấp. Nếu Lương ở Sửu Mùi thì quan cách tầm thường còn hãm địa ở Tỵ Hợi thì chức vị càng thấp, tính tình phóng đãng, hay thay đổi chí hướng, ưa phiêu lưu, không toại chí, phải bôn ba lưu lạc, tha phương cầu thực. Trường hợp đồng cung với Nhật ở Dậu cũng có ý nghĩa tương tự.

Cự Môn: Miếu, vượng  và đắc địa, sao này chỉ quan văn, đặc biệt là chính trị gia hay luật gia hoặc nhà ngoại giao. Sao này rất thích hợp cho quan tòa, trạng sư, giáo sư, dân biểu, nghị sĩ, những người có học lực uyên bác, năng khiếu hùng biện, thiên về chính trị. Viên chức có Cự Môn sáng sủa thường có hoài bão cải tạo xã hội, có ý chí muốn làm việc lớn, có xu hướng chính trị cấp tiến, muốn thay đổi hoàn cảnh chứ không bảo thủ, chấp nê hiện trạng. Do đó, Cự Môn đắc địa thường là người bất mãn hiện tại, nhưng lại không chịu thúc thủ chờ thời, trái lại muốn đóng góp để tạo thời thế. Chỉ khi nào hãm địa, Cự Môn mới là người bất đắc chí, bất mãn mà bất lực, thường bị tụng ngục, kìm hãm không hoạt động được. Đi chung với Thiên Cơ ở Mão Dậu, đi chung với Thái Dương ở Dần Thân thì quan chức cao, có cả phú lẫn quý cách. Nếu hãm địa ở Tỵ thì quan chức nhỏ, ở Hợi thì có cao vọng, thường bất mãn; ở Thìn Tuất tuy có tài và có chức phận trong hậu vận nhưng thường gặp thị phi, đố kỵ, cạnh tranh, gièm xiểm.

Thiên Cơ: là kỹ năng, kỹ thuật, sự tinh xảo trong ngành chuyên môn, đặc biệt là máy móc. Nghề của Thiên Cơ có thể là kỹ sư, kỹ nghệ. Ngoài ra, Cơ trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương chỉ nghề công chức, quan lại, cụ thể là ngành y khoa hay dược khoa. Đồng cung với Cự Môn ở Mão Dậu, đồng cung với Thiên Lương ở Thìn Tuất, Thiên Cơ là viên chức tham mưu, giỏi về kế hoạch, chính sách, chiến lược. Tại bất cứ vị trí đắc địa nào, Cơ cũng là viên chức khéo léo, tinh xảo, tinh thục, có lương tâm chức nghiệp cao.

3.Những phụ tinh có ý nghĩa quan lộc:

a. Phụ tinh chỉ quyền uy, chức phận:

Hóa Quyền: biểu tượng cho quyền hành và thế lực, đặc biệt nếu đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu bình thường hoặc hãm địa (ở Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) thì quyền không cao, không nhiều, không quan trọng, hoặc chỉ có hư quyền hoặc quyền chỉ có trong bóng tối hoặc có thế lực mà không có quyền hoặc quyền tước hàm. Hóa Quyền có nhiều địa hạt: võ quyền, văn quyền, giáo quyền tùy theo cách làm quan nhưng cách nào có Quyền cũng đều hiển hách. Nếu đi với Hóa Kỵ trong bối cảnh cung Quan tốt đẹp thì hai sao này chỉ người có quyền và có mưu, hết sức quyền biến, không ngoan nhưng do có Kỵ nên thường bị người ta e ngại. Nếu đi với Kiếp Không ở Tỵ Hợi, Quyền càng phát nhanh và phát lớn do sự đưa đẩy của thời thế để tạo ra anh hùng nhưng vì có Kiếp Không nên có thể không lâu bền. Thông thường, người có Hóa Quyền hay tự đắc, tự tôn, kiêu căng, lấn lướt, hiếu thắng cho nên sao này tuy có lợi cho công danh nhưng không mấy hay về tính nết. Phải có thêm các sao đức hạnh thì Quyền mới hướng thiện. Nếu gặp hung tinh, vận xấu, Hóa Quyền tác họa cấp kỳ cho đương số. Hóa Quyền ở Quan tượng trưng cho sự tham chính, cho cách làm quan hiển đạt, đặc biệt là khi đi với Khoa và Lộc.

Quốc ấn: chỉ người có chính chức và có quyền vị. ý nghĩa của ấn giống như Quyền nhưng không mạnh bằng. Nếu ấn đi chung với Binh, Hình, Tướng thì võ nghiệp rất vinh hiển: đó là quân nhân có binh, có quyền, có uy. Người có ấn ở Quan là viên chức có công, được thưởng công bằng sự thăng chức, thăng trật, hoặc bằng sắc phong huy chương, tưởng lục. Nếu ấn ở vị trí các cung ban đêm, có thể là sự khen ngợi thông thường, cũng có thể là sự truy tặng (sau khi chết). Dù sao, Quốc ấn ở Quan, Mệnh, Thân là người dễ tiến đạt, được trọng vọng, được ghi công trên đường hoan lộ.

Long, Phượng, Hổ, Cái (tứ linh): là quý cách khá cao, do những biểu tượng đi kèm.

Thanh Long, Long Đức ởThìn: tượng trưng cho quyền tước, tài năng được dùng đúng chỗ.

Phong Cáo, Thai Phụ, ĐườngPhù: chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành nhưng không mạnh bằng Quyền hay ấn. Đường Phù có nghĩa kém nhất.

Tiền Cái hậu Mã: cung Quan trước giáp Hoa Cái sau giáp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái), có ngựa (Mã) theo chầu. Duy cách này nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.

Quan Đới: biểu tượng cho chức vị, quyền hành (là cái đai). Chức quyền có thể cao.

Bạch Hổ, Tấu Thư: hai sao này họp thành cách hổi đội hòm sắt, cũng khá tốt cho công danh. Ngụ ý được tín nhiệm, trọng dụng, nhất là đồng cung và ở cung Dần (hổ cư hổ vị).

Bạch Hổ, Phi Liêm ở Dần: chỉ công danh thăng tiến dễ dàng, nhất là ngành võ.

Tướng Quân: chỉ cách làm quan võ có cầm quân nhưng thuộc loại thấp, chỉ huy đơn vị nhỏ. Nếu đi cùng với Thiên Tướng là võ quan cao cấp  và có nắm quyền chỉ huy. Cách quan của Tướng Quân tuy có can đảm, hiên ngang nhưng táo bạo, có tinh thần sứ quân, tự tôn, tự phụ, sử dụng binh quyền đôi khi sai mục đích nên Tướng Quân gặp sao xấu dễ bị nguy kịch. Đi với cát tinh, Tướng Quân rất đắc dụng: đó là viên chức hay quân nhân rất tháo vát, có tinh thần xung phong, tình nguyện làm việc khó, có sáng kiến, đôi khi có quá nhiều sáng kiến nên đi sai lệch đường lối ở trên. Đi với Thiên Tướng, nhất là ở thế xung chiếu thì rất hiển hách trong binh nghiệp.

b. Phụ tinh chỉ tài năng tổng quát:

Thiên Mã: ngụ ý tháo vát, may mắn, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Thiên Mã ở Quan hay Mệnh thường nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải nên đa hiệu, đa nhiệm. Đây là bộ sao rất cần cho công danh, rất lợi và rất hợp với các công việc có tính lưu động. Vì đa hiệu, Mã là sao có rất nhiều phối cách rất hay với một số phụ tinh khác để làm cho năng tài đắc dụng hơn. Ví dụ như cách Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc Tồn, Mã Hỏa hay Linh, Mã Tướng, Mã Khốc Khách. Mặt khác, cách hay trên còn tùy vị trí của Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tỵ (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả, còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ. Tốt khi Mã ở Dần (Mộc) mà Bản Mệnh thuộc Mộc, Mã ở Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với (Thủy Mệnh). Bao giờ gặp nghịch khắc giữa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở ngại gia tăng, công danh không rạng.

Lộc Tồn: chỉ tài năng, đặc biệt là tài tổ chức, tài thích ứng với hoàn cảnh. Lộc Tồn có nhiều sáng kiến, biết tùy theo nhu cầu mà quyền biến, xử sự tùy hoàn cảnh, lúc cương lúc nhu, một cách chừng mực. Đi với Thiên Mã, Lộc Tồn là người khai sơn phá thạch, mở đường cho kẻ khác đi theo, rất đắc dụng trong các trách nhiệm tiền phong, khai quang an vị, tổ chức cơ sở. Đặc biệt, sao này chỉ về tiền bạc nên rất lợi cho nhà kinh doanh khai thác tài nguyên kinh tế, tổ chức nền móng sản xuất. Đi với Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần, Triệt hay sát tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội hoạt động, bị khiếm dụng, bị dùng phí phạm, bị dùng không đúng chỗ, tài năng bị tiêu mòn hoặc bị dùng vào việc sái đạo đức. Trong lãnh vực tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, xài kỹ, xài có quy tắc, sự chắt mót, giữ của, có lợi cho các chức vụ quản trị ngân sách.

Thiên Khôi, Thiên Việt: Miễn là đừng gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, Khôi Việt chỉ năng tài xuất chúng, uy tín và hậu thuẫn, phần lớn nhờ ở tài văn học, mô phạm, tính tình cao thượng, thanh khiết, tinh thần cạnh tranh và thi đua.

Bạch Hổ, Tang Môn đắc địa ở Dần: chỉ sự tài giỏi, quyền biến, thao lược, ứng phó được nhiều nghịch cảnh, đồng thời cũng có khả năng xét đoán, lý luận, hùng biện phù hợp với các chức vị chính trị, ngoại giao, tư pháp, sư phạm. Ngoài ra Tang Hổ đắc địa còn có khả năng về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy nhất là khi được sao võ đi kèm. Do đó, Tang Hổ đặc biệt là Hổ có nhiều phối cách rất hay với Tấu Thư, với Phi Liêm, với Long Phượng Cái, với Kình Hình. Với Tấu Thư, Bạch Hổ chỉ năng tài hùng biện rất khích động, xuất sắc về tâm lý chiến, vận động quần chúng. Với Phi Liêm, Bạch Hổ rất tháo vát, lanh lợi như Thiên Mã lại được thời cơ thuận lợi.  Với Kình hay Hình, Bạch Hổ có chí khí, mưu lược cả văn lẫn võ.  Với Long Phượng Cái, Bạch Hổ chỉ sự hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa giáp.

Thiên Khốc, Thiên Hư đắcđịa ở Tý, Ngọ: chỉ người có chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu hoạt động chính trị, đặc biệt là về hậu vận. Khốc Hình Mã thì hiển đạt võ nghiệp, nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư Sát hay Phá đắc địa thì có quyền cao chức trọng, uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục.

c. Phụ tinh chỉ thờithế, hoàn cảnh:

Ân Quang, Thiên Quý: Đóng ở Mệnh, Quan, Thân, Di viên chức được tín nhiệm, trong dụng nâng đỡ, che chở của người trên. Ngoài ra, Quang Quý có nghĩa là viên chức đó trung tín, hết lòng, có lương tâm chức nghiệp, xứng đáng với sự tín nhiệm của thượng cấp dành cho. Quang Quý có nghĩa gặp nhiều dịp may trong hoạn lộ, cụ thể như được thời thế thích hợp, được sử dụng đúng năng khiếu, làm việc vừa ý, được hạnh phúc trong nghề nghiệp.

Thanh Long, Lưu Hà hayHóa Kỵ đồng cung: có vận may tốt, cơ may lớn để ra làm quan, không cần cầu cạnh và lúc ra làm quan thì đắc dụng, đắc thời theo ba ý nghĩa nêu trên của Quang Quý. Ngoài ra, Thanh Long gặp Long Đức ở Thìn cũng rất tốt đẹp vì rồng đóng ở cung Thìn chỉ đắc danh, đắc lộc mà không cần cầu cạnh, được nhiều may mắn trên hoạn lộ.

Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú; áp dụng vào quan trường, công danh sẽ dồi dào, năng tài đa diện trong nhiều lĩnh vực, chức quyền tương đối cao. Người có Sinh, Vượng ở Quan có nhiều sáng kiến trong công vụ, được giao phó nhiều trách nhiệm, dễ thăng tiến.

Thiên Mã, Tràng Sinh: gặp vận hội tốt, có ý nghĩa giống như hai bộ sao Thanh Long Hóa Kỵ và Thanh Long Lưu Hà. Cách này có ý nghĩa tiền bạc, cụ thể là đắc lợi trong quan trường. Nếu ở cung Hợi thì kém hay.

Phi Liêm, Bạch Hổ: gọi là hổ mọc cánh, rất tốt ở cung Dần, tượng trưng cho thời vận đang lên, sự may mắn đặc biệt, sự thăng chức, thăng cấp dễ dàng.

Đào Hoa, Hồng Loan: ở Quan, Đào Hoa và Hồng Loan rất hợp cách: chỉ làm quan lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ tài cao, công danh tảo đạt, nhẹ bước thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh.

d. Phụ tinh chỉ nhâ sự trợ giúp:

Tả Phù, Hữu Bật: chủ sự giúp đỡ của người đời, đặc biệt là đồng sự, đồng song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang hàng cộng lực. Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người phục tùng. Tả thuộc văn tinh nên hợp với Tử Phủ, Hữu chiếu vào Tử Phủ thì tốt hơn đồng cung. Trong cả hai trường hợp, Tả Hữu không nên đi chung với sát tinh. Tả Hữu còn có nghĩa là đa nghệ, là hệ số của tài năng, của quyền hành.

Thiên Quan, Thiên Phúc: chỉ sự giúp đỡ của ân nhân, bạn bè, cảm tình viên, cổ động viên ...

Tướng Quân, Phá Quân, Phục Binh: nếu cung Quan có Thiên Tướng mà được thêm ba sao này hội tụ thì sẽ tăng thêm uy quyền cho Thiên Tướng có có nghĩa như tướng có quân, cầm quân.

Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng: là bộ sao phụ tùy cho quan cách.

Binh, Hình, Tướng, ấn: chỉ cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

Ân Quang, Thiên Quý: chỉ ân sủng của thượng cấp và sự hậu thuẫn trung kiên và lâu bền  của thuộc hạ.

4.Sát, hung tinh trong quan cách:

a. Những loại võ cách:

Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay Vũ Tướng đắc địa:báo hiệu sự hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Bộ sao này có cả phú lẫn quý, tức là vừa có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, phát nhanh nhưng cũng tàn lẹ. Gặp bộ Vũ Tướng đắc địa thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạch phá. Nếu hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa cũng không quân bình được bất lợi: công danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

Hung sát tinh hãm gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng hãm:giảm chế công danh khiến quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn, nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa, thậm chí còn gây họa cho chính mình. Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung họa. Trái lại nếu Vũ Tướng đắc địa thì rất hay: chẳng những có uy danh mà còn khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

b. Hung sát tinh với Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương (văn cách):văn cách trong mỗi bộ sao này phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh, quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí, gian nan, chưa kể những hung họa hiểm nghèo khả hữu. Để thắng những sát tinh đó thì mỗi sao trong bộ phải đắc địa trở lên. Nếu chính tinh trong mỗi bộ sao mà hãm địa nốt thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm nguy đến bổn mạng.

c. Đặc điểm của hung sát tinh trong võ cách:

Địa Không, Địa Kiếp: chỉ khi nào đắc địa mới lợi cho công  danh trong khuôn khổ võ cách. Không Kiếp giúp bộc phát rất nhanh, đặc biệt là trong thời loạn. Dù sao, võ nghiệp của Không Kiếp hết sức cực nhọc, khó khăn và nguy hiểm, phải đương đầu với nhiều địch thủ lợi hại trong môi trường đầy nguy hiểm. Tuy nhiên, Kiếp Không dù đắc địa cũng thăng trầm, chỉ giúp võ nghiệp hiển đạt một thời mà thôi. Trong giai đoạn hiển đạt, nếu Kiếp Không đắc địa được trợ lực bởi các sao khác, cụ thể như Tướng Quân, Thiên Mã hay Binh, Hình, Tướng, ấn thì quan cách thêm hiển hách. Thiếu những trợ tinh này, Kiếp Không đắc địa chỉ một tài năng cô độc. Mặc dù Kiếp Không đắc địa tương hợp  với cách Sát Phá Liêm Tham đắc địa nhưng sự hoạnh phát không tránh được cảnh hoạnh tán: con người tuy có võ chức cao, có thành công lớn nhưng vẫn dễ bị phá sản trong một giai đoạn nào đó. Chỉ trừ phi đi chung với Vũ Tướng đắc địa thì quan toàn mỹ (rất hiếm). Nếu hãm địa, Kiếp Không chẳng những vất vả gian truân mà còn bất đắc chí và thường gặp hung sự hiểm nghèo, có hại đến tính mệnh hoặc bị bệnh tật nặng nề, tai họa về binh lửa. Có ba biệt lệ tốt đẹp cho trường hợp hãm địa: i) Không Kiếp hãm đi chung với Vũ Tướng đắc địa: trở lực nhiều nhưng con người khắc phục được, có công danh sự nghiệp lớn; ii) Không Kiếp hãm gặp Tử Phủ sáng sủa, Cự Nhật hay Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc địa: tài quan tuy lớn lao nhưng có nhiều bất trắc, vất vả, gian truân, chỉ được sự hậu thuẫn của người trên mà ít được sự trợ giúp của kẻ dưới; iii) Không Kiếp hãm gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa: công danh cao nhưng người còn bất đắc chí, được người trên giúp đỡ nhưng thiếu nhân sự ở dưới trợ lực, phần lớn hạ cấp đều bất tài, tham nhũng, sát chủ.

 

Kình Dương, Đà La: chỉ hay khi hai sao này miếu địa: Kình ở Thìn Tuất Sửu Mùi, Đà thì đắc địa thêm ở Tý và Hợi. Kình Đà nếu đắc địa thì cương nghị, quả cảm, khí phách, cơ mưu, thủ đoạn, có tinh thần bất khuất, có tài và đắc dụng. Nếu được thêm Hỏa, Linh đắc địa hội tụ thì rất khét tiếng trong binh nghiệp, có khả năng chế phục địch quân. Được Tướng Quân, Thiên Mã, Khoa, Quyền, Lộc thì quan cách hết sức lẫy lừng, thường bách chiến bách thắng. Nếu gặp hung tinh như Không, Kiếp, Hình, Kỵ thì cũng tài giỏi nhưng phải gặp nhiều thăng trầm, hung họa lớn lao, chết thảm. Nếu hãm địa, Kình Đà là người rất bướng bỉnh, ngoan cố, ngỗ ngược, liều lĩnh và gian trá do đó tai họa dễ xảy đến từ hình tù cho đến thương phế và chết thảm. Kình Đà hãm ở Quan tượng trưng cho trở lực, khó khăn gặp phải, sự gian nan cơ cực và hiểm nghèo của công tác, có làm mà không được hưởng, chung quy dễ gặp nạn. Riêng sao Kình ở Ngọ thì rất hung hiểm, dễ chết bất đắc, trừ phi được cát tinh như Tướng, Mã, Khoa, Quyền, Lộc hội tụ mới hiển đạt. Nếu Kình (đắc hay hãm địa) đi chung với Lực Sỹ thì người đó khó tiến đạt, bị bỏ quên, bị đè nén. Đắc địa thì có tài mà không được biết hoặc biết mà không được dùng hoặc được dùng mà bị kiềm tỏa. Hãm địa thì là hạng vô dụng, bị bỏ xó, ngồi chơi xơi nước. Riêng Đà La ở Dần Thân, vô chính diệu thì đắc cách quý hiển cả về văn lẫn võ. Nếu bị Tuần Triệt án ngữ thì sẽ mất hết cái hay. Trong mọi trường hợp Kình Đà hãm địa mà bị thêm sát tinh khác hãm địa đi kèm thì hung họa, cơ cực không sao kể xiết: nghèo thì trộm cướp, hình tù, khá thì bất nhân bất nghĩa, thông thường thì yểu vong và chết không toàn thây.

Hỏa Tinh, Linh Tinh: Tính tình Hỏa Linh giống như Kình Đà. Nếu đắc địa (ở những cung ban ngày), nhất là hội với Tham miếu địa, đều có tài năng, có chí khí, có uy danh và thường hiển đạt trong binh nghiệp. Nếu hãm địa thì công danh trắc trở, chậm lụt nhất là hay gặp tai nạn, thường phải bôn ba đâu đó. Có hai biệt lệ của Hỏa Linh hãm địa sau: ở Sửu Mùi có Tham Vũ Việt đồng cung t hì võ cách hết sức hiển hách nhất là về hậu vận nhưng kỵ hai sao Không Kiếp sẽ làm phá tán hết cái hay; ở Hợi, đồng cung với Tuyệt có Tham Hình hội chiếu cũng rất vang danh trong binh nghiệp.

Kiếp Sát: chỉ sự đa sát, chém giết, gieo họa, hay xuống tay mạnh, thường dùng biện pháp cứng rắn, cực đoan lúc xử thế, nóng tính, không chịu nổi những sự bất bằng, hay tầm thù. Kiếp Sát là người lợi hại và nguy hiểm, có thể ví như hung đồ nên nếu ở Quan dễ gặp ha và có nhiều kẻ thù. Đi với các sao hung khác rất dễ thành phiến loạn, cướp của giết người, bất lương, vô loại.

Thiên Không: rất kỵ cung Quan lộc vì tượng trưng cho sự cản trở. Có Thiên không, khó thăng tiến, chậm thăng, thăng chật vật, thăng không cao, bị đè nén, kìm chế trong hoạn lộ. Thiên Không ở Quan là người bất mãn, hay làm hỏng việc, giữ chức vụ gì lớn không bền vững, lên thì chậm, xuống thì nhanh, quan trường hay bị đó kỵ, ganh ghét và chính đương số cũng có bụng tiểu nhân, ganh hiềm, đâm thọt, xuyên tạc, phá phách, gây chia rẽ, ly gián.

Phục Binh: ở Quan, sao này chỉ sự đố kỵ, hãm hại bằng thủ đoạn ngầm, có khi đi đến chỗ phục kích, ám sát để loại trừ địch thủ. Phục Binh có thể hoặc là nạn nhân của bọn tiểu nhân, hoặc chính mình là tiểu nhân, hoặc vừa là nạn nhân vừa là tiểu nhân, do sự trả đũa qua lại.

Hóa Kỵ: trước hết có nghĩa đố kỵ, ganh tỵ, thấy người hơn mình thì không thích. Thủ đoạn của Hóa Kỵ cũng bí mật, lén lút, thường là dùng miệng lưỡi để gièm pha, chỉ trích xuyên tạc, vu khống. Do đó, Hóa Kỵ ở Quan tượng trưng cho thị phi, khẩu thiệt, vạ miệng. Mặt khác, Hóa Kỵ hãm địa có nghĩa là nông nổi, xu thời, thiếu lập trường, ai mạnh thì theo, dễ bỏ bạn bè để theo danh lợi. Trong trường hợp đắc địa (ở Thìn, Tuất, Sửu và Mùi) thì là người có khuynh hướng cách mạng, muốn thay cũ đổi mới, ý nghĩa tương đối hướng thượng, quan cách dễ thành công nếu được cát tinh hỗ trợ.

Thiên Hình: đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu. Thiên Hình chuyên về quân sự, có dũng khí, có uy phong, có tài cầm binh, thiên về sát phạt. Nếu là quan văn thường là thẩm phán, trạng sư, có năng khiếu luật pháp, xét xử công minh. Nếu thêm Thiên Y đi kèm, có thể là bác sĩ giải phẫu, châm cứu. Thiên Hình là người nóng tính, khắt khe, cương nghị, làm việc theo nguyên tắc, không chấp nhận trái lệ, trái luật, có tinh thần liêm chính, công bình, có tinh thần chu đáo, tinh vi, kỹ lưỡng, hay chú ý đến chi tiết. Quân nhân có Thiên Hình đắc địa ở Quan thường rất mực thước, vô tư, ngay thẳng, có lương tâm chức nghiệp, có bản lĩnh hành xử trách nhiệm một cách khả quan. Đi với Binh, Tướng, ấn thì là võ cách tham mưu, có uy dũng và mưu lược, thường được giao phó trọng trách. Nếu Hình hãm địa thì quan cách hay gặp hung sự, tụng ngục, bị điều tra, bị tố cáo. Gặp Tuần, Triệt án ngữ thì có thể bị giáng chức, cách chức, ở tù, bị kiện.

5.Tuần, Triệt ở cung Quan:

Thông thường, Tuần Triệt là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó: ở Mệnh, thì thiếu thời lận đận, ở Thân thì trắc trở, gian truân; ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ; ở Tử thì hao con; ở Tài thì kém tiền bạc. Chỉ có Tật, Tuần Triệt phá tán bệnh tật, họa, tạo sức khỏe cho đương số.

Vì vậy, Tuần Triệt đóng ở Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, thể hiện dưới nhiều hình thái: hoặc chậm công danh; hoặc công danh phải lận đận, chật vật; hoặc công danh không mấy cao, thăng giáng thất thường; hoặc không bền vững. Nếu gặp Triệt, cong danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông. Nếu gặp Tuần, sự trục trặc có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời.

a. Trường hợp cung Quan có chính tinh:

Nếu chính tinh sáng sủa, Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung sự xảy ra, có thể là mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất toại, hay gặp những sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được. Nếu tại Quan mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần mất chức, bị cách chức. Tuy nhiên, có hai chế giảm cho cung Quan bị Triệt, Tuần: i) cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm. Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt-Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự; ii) cung Quan ở Sửu, Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung: quan lộc được rực rỡ, đặc biệt là về sau vì tại Sửu Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần, Triệt thì sáng lại và tại Sửu Mùi vốn là âm cung nên tốt cho hậu vận.

 

Nếu chính tinh ở Quan mà hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển nhưng không tránh khỏi trắc trở: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác hãm địa.  Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, như quân nhân chết trận, viên chức bị cách, giáng.

 

b. Trường hợp cung Quan vô chính diệu:

Cung Quan vô chính diệu, dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ (công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện hãm địa. Duy có hai biệt lệ quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

Cung Quan có Tuần hoặc Triệt án ngữ: cách này nói chung không hoàn hảo nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường tuy nhiều trở ngại nhưng vẫn có thể hiển đạt trong vãn vận. Nếu tảo đạt và phát nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tán.

Cung Quan được Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu: cách này trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạn, chức vụ lớn, quyền hành cao, có triển vọng đắc phú, tóm lại vừa giàu vừa sang. Nếu cung Quan có Tuần hay Triệt trấn thủ tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến nhiều hơn nữa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách Làm Quan và những sao Qúy

Phong thủy cho bàn thờ Phật –

Với những người theo đạo Phật thì tín ngưỡng thờ cúng luôn được coi trọng - Cách bài trí tượng Phật cũng có những quy tắc phong thủy nhất định. Một câu hỏi đặt ra là có nên lặp bàn thờ Phật, Bồ Tát tại nhà riêng không? Câu trả lời: việc lập bàn thờ l

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Với những người theo đạo Phật thì tín ngưỡng thờ cúng luôn được coi trọng – Cách bài trí tượng Phật cũng có những quy tắc phong thủy nhất định. Một câu hỏi đặt ra là có nên lặp bàn thờ Phật, Bồ Tát tại nhà riêng không? Câu trả lời: việc lập bàn thờ là được, nhưng còn tùy thuộc vào nhà riêng thế nào.

Nếu có điều kiện lập bàn thờ Phật, thì chọn vị trí chính trong phòng khách, lưng của tượng Phật không nên để sát cửa sổ, mà để sao cho mặt tượng huớng ra cửa chính, ánh sáng đầy đủ, người vào có thể nhận ra ngay được… Bàn thờ Phật là trung tâm của gia đình, có tác dụng tạo ra sự an tâm và cảm giác an toàn cho người trong nhà.

Chú ý một điều: không để tượng Phật hướng về nhà vệ sinh, vào bếp và vào giường ngủ.

Nếu ai có điều kiện thiết lập Phật đường tức nơi thờ riêng Phật, thì chọn nơi yên tĩnh, chó mèo không vào ra, không phải là nơi hội họp, tiếp khách, nơi nói chuyện, tiệc tùng; nơi đây chỉ để lễ Phật, tụng kinh hay tu thiền.

ban-tho-phat

Nếu như trong nhà trước đó đã có bàn thờ thần, gia tiên, khi rước tượng Phật về thì nên để yên vị đã, nhưng để tượng Phật, Bồ Tát chính giữa, thần và gia tiên ở hai bên. Bởi vì tất cả thiện thân và tổ tiên sẽ hộ trì và thân cận Tam Bảo, sẽ được lợi ích lớn trong Phật Pháp. Đợi khi có điều kiện lập riêng bàn thờ Phật hay Phật đường, thì tượng thần có thể coi là đồ cổ đem cất đi. Còn bài vị tổ tiên đem thờ dưới tượng Phật hay nơi khác, cũng có thể đem bài vị tổ tiên lên chùa.

Trong nhà không nên thờ nhiều thánh tượng, vì sẽ gây ra tạp loạn. Mỗi vị Phật sẽ đại diện cho vạn vị Phật, mỗi vị Bồ tát đại diện cho vạn Bồ tát. Cho nên thường thì thờ tượng Phật A di đà, tượng Quan thế âm Bồ tát là được. Khi bày thì để tượng Phật chính giữa phía sau, tượng Bồ tát phía trước, cũng có thể đặt tượng Phật trên cao so với tượng Bồ tát. Kích thước tượng to nhỏ nên tùy thuộc vào không gian nơi thờ, sao cho hài hòa.

Khi thỉnh thượng Phật hay Bồ tát về, nhiều người thích làm lễ khai quang, theo quan điểm Phật giáo thì không nhất thiết phải thế. Vì tượng Phật hay Bồ tát chỉ là tượng trưng để ta nương vào đó mà hành đạo còn Phật, Bồ tát luôn hiện diện ở khắp nơi, tùy cơ duyên mà cảm ứng với ai tâm chí thành, nghiêm trang đến với các vị. Việc ta có thánh tượng Phật và Bồ tát là để mọi người có đối tượng tỏ lòng cung kính, cúng dường đảnh lễ, chính nhờ phương tiện tu hành này mà ta thu được nhiều lợi ích trong Phật giáo. Cho nên điều quan trọng nhất là ta phải có tâm tin tưởng, tâm chí thành, tâm cung kính, mà chẳng phải ở thánh tượng, do vậy có khai quang hay không cũng không là điều quan trọng.

Khi thắp hương, cần dùng những loại có mùi hương thoang thoảng, đồ cúng dường phải sạch, khi cúng xong phải dọn không để khô héo trên bàn thờ. Mỗi ngày nên có khóa tụng vào sáng vào tối với hai buổi cúng hương và cúng nước. Trước khi ra khỏi hay về nhà cần làm lễ Phật trước để tỏ lòng biết ơn và cung kính, chính niệm.

Cách bài trí tượng Quan âm

Tối kị đặt tượng Quan âm cùng các tượng thần khác

Rất nhiều gia đình, cửa hàng hay nhà hàng đặt tượng Quan âm cùng các tượng khác như Quan đế. Như vậy rất không tốt, bởi những lý do sau:

– Nếu trong nhà hàng, cửa hàng ăn uống thờ Quan âm sẽ không thích hợp bởi Quan âm vốn thanh tịnh, tinh khiết và ăn chay. Khi dâng đồ cúng Quan âm thường chỉ cần hoa tươi và các loại quả. Bởi vậy nếu đặt tượng Quan âm cùng các tượng Thần khác sẽ không tốt khi cúng đồ mặn.

Thiên địa nên đặt hướng ra cửa chính còn Quan âm tốt nhất nên “tọa Tây hướng Đông”.

3 hướng không nên đặt tượng Quan âm

– Hướng nhà vệ sinh.
– Hướng cửa phòng ngủ.
– Hướng bàn ăn.

Cách bài trí tượng Phật

Thờ Phật tại gia bảo hộ bình an có những quy tắc nhất định:

– Tượng Phật đem về nhà không nên coi là đồ cổ hay vật báu mà cất giữ cẩn thận, như vậy sẽ ảnh hưởng tới mọi thành viên trong gia đình.

– Không nên đặt tượng trong phòng ngủ.

– Không nên mua quá nhiều tượng về nhà.

– Không được đặt tượng tại những nơi không sạch sẽ, ẩm thấp.

– Tượng nếu đặt trên xe phải quay mặt hướng về phía trước.

– Nên đặt tượng trên một chiếc đĩa lót giấy đỏ.

– Tranh ảnh Phật không nên cuộn tròn lại.

– Tượng cũ bị mờ mắt hoặc tay nên tô vẽ, lau chùi lại.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho bàn thờ Phật –

Radio và ý nghĩa trong giấc mơ

Radio (đài cat-set) là một trong những phương tiện chuyển tải thông tin đến mọi người. Điều đặc biệt, thông tin được phát ra bằng âm thanh nên rất dễ đi vào bộ
Radio và ý nghĩa trong giấc mơ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

nhớ của thính giả.


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Radio va y nghia trong giac mo hinh anh
Ảnh minh họa

Trong giấc mơ, bạn nghe thấy tiết mục phát thanh bất kỳ phát ra từ radio thì điều này dự báo bạn sẽ duy trì tốt mối quan hệ với người xung quanh.

Chiêm bao thấy tiếng của một người nổi tiếng và có quyền lực trên radio là bạn đang ấp ủ những ước vọng chính đáng về danh vọng, địa vị. Hãy cố gắng phấn đấu để biến ước mơ của mình thành hiện thực nhé.
 

Ngoài ra, điều này còn cho thấy bạn nắm bắt được tình hình thế sự; hiểu rõ ý kiến những người xung quanh. Nó cũng tượng trưng cho cuộc đối thoại nội tâm của bạn với những người quan trọng trong cuộc sống. Điều đó giúp bạn gắn kết và tạo dựng được những mối quan hệ mới tốt đẹp hơn.
 

Chiêm bao thấy radio còn thể hiện ước muốn giao lưu về mặt tinh thần của bạn với mọi người. Người mơ thấy radio muốn được hòa mình vào thế giới bên ngoài, muốn cảm nhận sự sôi động của cuộc sống hoặc có những người bạn tâm giao để chia sẻ mọi nỗi niềm.
 

Theo Giấc mơ và vận mệnh con người trong cuộc sống.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Radio và ý nghĩa trong giấc mơ

Những điều hợp, kỵ của Mộc trong bốn mùa

Mộc của tháng mùa xuân, cái lạnh vẫn còn sót lại, được lửa sưởi ấm, được nước tưới mát, nên mang vẻ đẹp thư thái. Nhưng nếu như nước nhiều thì cây ẩm ướt; nước
Những điều hợp, kỵ của Mộc trong bốn mùa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mùa xuân

ít thì cây khô héo, Thủy - Hỏa hài hoà là tốt nhất. Nếu Thổ nhiều thì Mộc sẽ hao tổn sức lực, nếu Thổ mỏng thì tiền tài dồi dào. Nếu gặp Kim nhiều thì gặp Hỏa vẫn không tổn thương, nếu Mộc mạnh thì có gặp Kim cũng vẫn phát triển.

(Ảnh minh họa)

2. Mùa hạ

Mộc của tháng mùa hạ cành lá khô héo, cần nước làm cho ẩm ướt, kỵ lửa nóng, làm cháy cây. Hợp với Thổ mỏng; Thổ dày sẽ thành tai họa. Nếu Kim nhiều cũng là điều xấu, nhiều qúa sẽ bị khắc chế. Cây cối mọc nhiều sẽ tạo thành rừng, hoa ra tầng tầng lớp lớp nhưng không kết quả.

3. Mùa thu

Mộc của tháng mùa thu, hình dạng dần úa tàn. Đầu mùa thu, khí nóng của Hỏa vẫn còn, đất cần nước để cây tiếp tục sống. Giữa thu, quả đã chín, cần dao (Kim) để cắt tỉa. Sau tiết Sương giáng thì không cần nhiều nước, nước nhiều cây sẽ bị trôi. Trước tiết Hàn lộ lại cần được lửa sưởi ấm, lửa nóng sẽ giúp cây rắn chắc. Cây cối nhiều sẽ cho nhiều gỗ, nhưng đất dày thì không có khả năng tự lập.

4. Mùa đông

Mộc của tháng mùa đông thì vẫn còn co quắp, ẩn náu trong đất. Cần đất nhiều để nuôi dưỡng, sợ Thủy mạnh sẽ mất đi hình dạng. Kim dù nhiều, bị khắc chế nên không gây hại, gặp Hỏa nhiều sẽ được ấm áp. Khi quay về mệnh số, bệnh của cây làm sao có thể được phù trợ?

(Theo Ngũ hành và tứ thời ngũ phương)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều hợp, kỵ của Mộc trong bốn mùa

Ngày xuân bàn câu đối Tết

Không biết tự bao giờ, “câu đối đỏ” đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong ngày Tết của người Việt. Mỗi độ xuân về, người người thi nhau tìm cho mình những câu đối hay nhất để treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Đó là một thú chơi tao nhã, một mỹ tục trong ngày Tết Nguyên Đán đã và đang được các thế hệ người Việt Nam ra sức gìn giữ. Nhân dịp xuân về, chúng ta cùng nhau dành chút thời gian thả hồn lãng du cùng câu đối Tết.
Ngày xuân bàn câu đối Tết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong chương trình hôm nay, giáo sư Nguyễn Khắc Thuần sẽ minh thị một số chi ktiết đáng chú nhất của mỹ tục này. Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh, ông là một học giả kỳ cựu và có nhiều công trình đóng góp quan trọng trong lĩnh vực lịch sử văn hóa Việt Nam.

Câu đối trong văn hóa truyền thống Việt Nam

Lê Phước : Thân chào giáo sư Nguyễn Khắc Thuần. Trước tiên xin chân thành cám ơn giáo sư đã nhận lời tham gia chương trình. Nhân dịp xuân về, Ban biên tập RFI Việt Ngữ tại Paris xin kính chúc giáo sư cùng toàn thể gia quyến một năm mới :Vạn sự như ý.
Thưa giáo sư, câu đối là một thú chơi tao nhã thể hiện tinh hoa của chữ nghĩa. Vậy trước tiên, xin giáo sư cho biết đôi điều về câu đối trong văn hóa Việt Nam nói chung ?

GS. Nguyễn Khắc Thuần : Thân ái chào quý vị và các bạn. Trước hết, cho phép tôi được gửi tới quý vị và các bạn lời chúc một năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công. Tôi xin được trình bày đôi điều tản mạn về câu đối Tết của người Việt.

Người Việt chúng ta có truyền thống trọng chữ. Trong lịch sử, người Việt thường sử dụng nhiều loại chữ khác nhau. Nhưng ngày xưa, loại chữ quý giá và được tôn sùng nhất vẫn là chữ Nho, thường được gọi là “chữ của thánh hiền”. Trong lịch sử cũng có hai quy ước bất thành văn, thường được người Việt rất chú ý tuân thủ. Thứ nhất là không viết chữ khiếm nhã lên các tờ giấy, thứ hai là không vứt những tờ giấy có chữ vào chỗ rác bẩn.
Vậy chữ được dùng để làm gì ?

Có bốn mục đích khác nhau. Một là để ghi chép sự việc, từ đó tạo ra văn tự, từ đó tạo ra khế ước. Hai là chuyển tải suy tư, từ đó tạo ra sử sách, từ đó tạo ra hi phú văn chương, triết lý.

Thứ ba, chữ để làm quà tặng, từ đó tạo ra lời hay và ý đẹp. Xuân về người ta thường có những chữ như : Cung hạ tân xuân, xuất nhập bình an, vạn sự như ý, ngũ phúc lâm môn, khai trương hùng phát, bình bút hoa khai, an khang thịnh vượng ... Đây là những chữ làm quà tặng quá quen thuộc, nên tôi xin phép không dịch lại. Và từ chỗ chữ làm quà tặng, nó tạo ra cả những câu đối-câu liễn với nhiều nội dung phong phú khác nhau.
Mục đích thứ tư là chữ để trang trí công đường hoặc nhà ở, từ đó tạo ra thư họa hay thư pháp, từ đó tạo ra những bức tranh chữ.

Nét riêng của câu đối Việt

Lê Phước : Thưa giáo sư, trong văn hóa Trung Quốc và văn hóa Việt Nam đều có câu đối. Vậy không biết câu đối của người Việt ta có những nét đặc sắc gì ?

GS. Nguyễn Khắc Thuần : Trong các thể cổ văn, câu đối được dùng rất phổ biến. Ở đây có ba vấn đề chúng ta cần lưu ý.

Vấn đề thứ nhất, người Trung Quốc gọi câu đối là “đối liên”, và chia làm ba loại. Loại thứ nhất là “Tiểu đối”, tức mỗi vế có từ 4 chữ trở xuống. Loại thứ hai là “Thi đối”, mỗi vế là một câu đối ngũ ngôn hoặc một câu thất ngôn, cũng có khi gồm cả hai câu ngũ ngôn và thất ngôn. Loại thứ ba là “Phú đối”, tức là câu đối viết theo niêm luật của thể phú, là một thể cổ văn. “Phú đối” được chia thành: Câu đối “Song quan”, mỗi vế có từ 6 đến 9 chữ, ghép lại thành một đoạn; Rồi câu đối “Cách cú”, mỗi vế chia thành hai đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài; Rồi câu đối “Hạc tất”, mỗi vế có từ ba đoạn trở lên.

Vấn đề thứ hai, trong câu đối người Việt, ta có thể chia làm mấy loại sau đây. Thứ nhất là câu đối Tết. Thứ hai là câu đối bày tỏ sự chung vui, ví dụ như chung vui lễ hội hay chung vui trong các cuộc giao lưu. Thứ ba là câu đối chia sẽ, ví dụ như chia sẽ về những tổn thất trong thiên tai địch họa, vì đau ốm hay trong các đám ma chay. Thứ tư là câu đối để chúc mừng, như câu đối mừng tân gia, mừng tân hôn, mừng đỗ đạt, mừng thăng quan, mừng sinh quý tử. Thứ năm là câu đối để ghi nhớ một sự kiện hay một vấn đề, ví dụ như trùng tu chùa chiền, đình miếu, tôn tạo hay xây dựng một số công trình công cộng, dựng bia…

Vấn đề cần chú ý thứ ba, đó là câu đối người Việt thường được viết bằng nhiều loại chữ khác nhau, trong đó nổi bậc lên có ba loại chữ. Một là câu đối viết bằng chữ Hán. Với loại câu đối này, bạn đọc là những người trẻ tuổi, chưa có điều kiện tiếp xúc với chữ Hán, thì phải có người dịch ra mới hiểu được. Thứ hai là câu đối viết bằng chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ viết của dân tộc, nhưng không phải ai cũng đọc được. Ngày nay, số người Việt đọc được chữ Nôm là quá ít. Thứ ba, là câu đối viết bằng chữ Việt hiện đại, và là câu đối phổ biến nhất hiện ngày nay. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, rồi trên các công sở hiện nay, câu đối viết bằng chữ Việt rất phổ biến.

Các loại câu đối Tết tại Việt Nam

Lê Phước : Trong các loại câu đối đó, thì câu đối Tết có vai trò như thế nào, thưa giáo sư ?

GS. Nguyễn Khắc Thuần : Trong tất cả các loại câu đối, nổi bật hơn cả vẫn là câu đối Tết. Câu đối Tết trở thành sinh hoạt văn hóa rất phổ biến và lâu đời. Ngày nay tuy không ai dùng chữ Hán và chữ Nôm nữa, hay nói đúng hơn là quá ít người dùng chữ Hán và chữ Nôm, nhưng không phải vì thế mà câu đối ít đi. Xưa cũng như nay, câu đối trở thành một món quà không thể thiếu.

Xem lại, câu đối Tết của người Việt có 07 loại sau đây :

1) Loại câu đối Tết dùng chung cho tất cả mọi nhà, ai treo cũng được, gia đình sang hèn, nghèo giàu đều treo được. Ví dụ như câu :

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

Đây là câu đối viết bằng chữ Nôm. Rồi cũng có câu đối viết bằng chữ Hán mà nhà nào treo cũng được :

Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh
Phúc sinh phú quý tử tôn vinh

(Tài lộc dẫn đến sự vinh hoa, nhà thì ngày một thêm thịnh đạt
Phúc sinh ra sự phú quý, con cháu trở nên vinh hoa)

2) Loại câu Tết thường để ở các đình làng hay công sở. Chẳng hạn như :

Chúc Tết đến trăm điều như ý
Mừng xuân sang vạn sự thành công

(Câu đối viết bằng chữ Nôm)

Hoặc câu đối viết bằng chữ Hán:

Sơn thủy thanh cao xuân bất tận
Thần tiên lạc thú cảnh thần tiên

(Núi sông thanh cao, mùa xuân bất tận
Thần tiên vui vẻ lạc thú cảnh thần tiên ở nơi trần thế)

3) Loại câu đối Tết thường để ở đền chùa miếu mạo. Ví dụ câu đối chữ Nôm sau đây :

Mừng xuân hỉ xả thêm công đức
Đón Tết từ bi bớt não phiền

Hoặc câu đối chữ Hán:

Pháp luân vô ánh oanh thiên hạ
Tâm niệm vô thanh chấn tứ phương

(Pháp luân tuy không có tỏa sáng nhưng có thể làm run cả trời đất
Tâm niệm tuy không phát ra thành tiếng nhưng nó có thể gây chấn động cả bốn phương)

4) Loại câu đối Tết thường có trong các nhà quyền quý. Ví dụ như :

Xuân tái đáo, môn tiền phúc đáo
Hoa hựu khai, thiên ngoại thi khai

(Xuân lại đến, trước cửa phúc lại đến
Hoa lại nở, ngoài trời thơ lại mở ra)

Hoặc câu :

Tiên tổ phương danh lưu quốc sử
Tử tôn tích đức hiển gia phong

(Tổ tiên để lại tiếng thơm trong sử sách
Con cháu tích đức thì gia phong được hiển hách)

Hay là :

Nhập môn tân thị kinh luân khách
Mãn tọa dai đồng cẩm tú nhân

(Vào cửa khách toàn là người hiểu kinh luân
Ngồi đầy nhà toàn là những bậc mặc áo gấm áo thêu, tức là những người sang trọng quyền quý trong xã hội).

5) Loại câu đối Tết thường có trong các gia đình nghèo khó. Chẳng hạn như câu :

Tết đến gượng cười, mong con cháu chăm ngoan, nhà có dư gạo thóc
Xuân sang gắn vui, cầu vợ hiền mạnh khỏe, vườn đủ quả đủ rau

Hay là câu :

Nợ nần theo gió lạnh bay đi, vợ lại tươi như hoa nở thắm
Của cải cùng khí ấm tràn vào, lòng chồng vua tựa trống hội vang

Ta thấy ở đây là những ước muốn bình dị, thể hiện ước nguyện giản dị nhưng cũng rất sâu sắc và mãnh liệt của những người bình dân nghèo khó trong xã hội.

6) Loại câu đối Tết viết theo lối tự trào, viết để cho vui, ai nghe cũng được, không phải treo ở đâu cả, mà để gắn vào tâm tưởng của mỗi người, kích động suy nghĩ của mọi người, và cùng vui với mọi người. Ví dụ như câu đối sau đây của Nguyễn Công Trứ :

Chiều ba mười nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông phúc vào nhà
Hoặc là câu đối sau đây của Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ lừng danh cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19:
Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt kẻo Ma Vương đưa quỉ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang cho thiếu nữ rước xuân vào

7) Loại câu đối Tết thường thấy trong các gia đình Việt Kiều.

Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới và gặp gỡ các Việt kiều, thấy trong gia đình họ cũng có những câu đối Tết. Đọc qua tôi thấy rất cảm động, chẳng hạn như :

Nghi ngút tỏa khói hương, xa đất mẹ vẫn nhớ về nguồn cội
Tôn nghiêm mâm ngũ quả, chốn quê người nặng trĩu nghĩa cố hương

Hoặc như câu :

Xuân tha hương, vấn vương thương đất mẹ
Tết xa nhà, xao xuyến nhớ quên cha

Đó là những lời thể hiện tình nghĩa nồng nàn đầm thắm của những người con xa quê, thực sự xứng đáng là dòng giống con Lạc cháu Hồng. Đó không chỉ là lời bày tỏ tình cảm, mà quan trọng hơn đó còn là lời thể hiện một truyền thống viết câu đối của người Việt dù ở bất cứ nơi đâu.

Nhân dịp Tết đến, tôi hy vọng rằng, những câu đối hay của bà con Việt kiều lại tiếp tục lan tỏa từ gia đình này đến gia đình khác, từ địa phương này sang địa phương khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Và lời câu đối chính là lời nhắc nhở về một truyền thống lâu đời của dân tộc.

Thực trạng văn hóa câu đối Tết tại Việt Nam

Lê Phước : Thưa giáo sư, mấy mươi năm trước, trong bài thơ Ông Đồ, nhà thơ Vũ Đình Liên miêu tả cảnh câu đối Tết ngày càng bị “thất sủng”. Mở đầu bài thơ, Vũ Đình Liên Viết :

Mỗi năm hoa đào nở,
Lại thấy ông đồ già
Bày mực hàng giấy đỏ
Trên phố đông người qua.

Ngày tháng trôi qua, không biết hiện tại mỹ tục câu đối Tết tại Việt Nam có còn được lưu giữ không, thưa giáo sư?

GS. Nguyễn Khắc Thuần : Ở Việt Nam hiện nay, truyền thống viết câu đối Tết vẫn được lưu giữ và được phổ biến khá mạnh. Bằng chứng là trên tất cả các báo xuân, hầu như báo nào cũng có một vài câu đối, và thường là những câu đối viết bằng tiếng Việt hiện đại. Bằng chứng thứ hai, đó là ở nhiều thành phố lớn và các khu đô thị luôn luôn có những người ngồi viết câu đối Tết, và họ gọi đó là “ông đồ” mặc dù họ chỉ viết chữ Việt hiện đại chứ không phải là chữ Hán hay chữ Nôm.

Tôi là thành viên của Hội đồng Tư vấn về kỷ lục, có lúc tôi đã chứng kiến sự hội ngộ của cả trăm ông đồ cùng viết câu đối. Tất nhiên, câu đối ở đây là những câu đối đã được phổ biến rộng rãi hoặc những câu đối chủ yếu do khách yêu cầu họ viết và viết câu đối theo thư pháp hiện đại.
Đó là một trong những biểu hiện của việc tiếp nối truyền thống và phổ biến văn hóa câu đối Tết ở Việt Nam.

Như đã nói ở trên, câu đối là một thú chơi tao nhã, nhưng rất khó chơi, nó thể hiện trình độ học vấn và chữ nghĩa của những người được gọi là có ăn có học. Các cụ thường cho rằng: “nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”.

Ngày xưa, dân gian ta có tục đến gặp ông đồ xin chữ. « Xin chữ » là bởi vì trong làng xã các ông đồ-tức các nhà nho, được xem là người nắm giữ tri thức xã hội. Mỗi câu đối gồm có hai vế. Gọi là « câu đối » vì hai vế này phải “đối nhau” một cách tinh tế về mặt chữ nghĩa. Người xưa thường lấy câu đối ra để thử tài nhau, và lấy việc đối hay đối dỡ để đánh giá trình độ học vấn.

Riêng về câu đối Tết, như giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đã nói bên trên, ta thấy rằng, câu đối Tết đã trở nên phổ biến trong dân gian. Nó vẫn luôn còn đó chứ không hề bị mai một. Bên cạnh những bằng chứng đã nêu trên, ta còn thấy ở miền quê Việt Nam, ngày Tết nhiều người vẫn đi tìm mua câu đối Tết. Câu đối được viết bằng chữ Việt hiện đại người mua hiểu đã đành, nhưng có khi người ta còn mua cả câu đối viết bằng chữ Hán dù không biết trong đó nói gì. Không biết ý nghĩa cụ thể mà vẫn mua vì mọi người ai cũng hiểu rằng, tất cả các câu đối Tết đều có một mục đích chung là : cầu mong những điều tốt lành trong năm mới.

Một điểm đáng mừng nữa, đó là hiện tại, không chỉ có hình ảnh “ông đồ già” mà đã xuất hiện nhiều “ông đồ” tuổi mới đôi mươi mặc áo dài khăn đóng ngồi viết câu đối Tết. Và như giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đã nhận định, đó là một biểu hiện của việc bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, mà cụ thể ở đây là câu đối Tết.
Thưa quí vị, Tết Nguyên Đán là truyền thống lâu đời và có thể được xem là một bản sắc của văn hóa Việt Nam, trong khi đó câu đối Tết chính là một bản sắc của ngày Tết Nguyên Đán.

Trong thời đại toàn câu hóa ào ạt như ngày nay, việc bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là một yêu cầu cấp thiết để tránh việc các nền văn hóa trên thế giới bị đồng nhất. Trong ý nghĩa đó, tình trạng “khỏe mạnh » của câu đối Tết như đã nêu trên tại Việt Nam rõ ràng là một tin vui.

Niềm vui đó hòa chung vào niềm vui bất tận của năm mới. Nhân dịp xuân về, chúng ta nâng ly cùng nhau tận hưởng niềm vui bất tận đó :

Già trẻ gái trai đều khoái Tết,
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân.

Trich tu: viet.rfi.fr


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngày xuân bàn câu đối Tết

Rước Tài Lộc chỉ với 30 phút dọn nhà đón Tết

Người Việt thường quan niệm, đầu năm mới nhà cửa gọn gàng sạch đẹp thì cả năm gia đình sẽ gặp nhiều may mắn. Mách bạn một số mẹo bày trí nhà cửa vừa đẹp mắt
Rước Tài Lộc chỉ với 30 phút dọn nhà đón Tết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một công việc không thể thiếu mỗi khi Tết đến đó là trang trí lại nhà cửa, người Việt thường quan niệm, đầu năm mới nhà cửa gọn gàng sạch đẹp thì cả năm gia đình sẽ gặp nhiều may mắn. ## sẽ mách bạn một số mẹo bày trí nhà cửa vừa đẹp mắt lại vừa hợp phong thủy.


► Những vật phẩm phong thủy giúp gia chủ phát tài, phát lộc
  Chọn loại hoa nở đúng Tết

Đào, quất hay mai là những loại hoa không thể thiếu được trong mỗi dịp Tết. Tuy nhiên, khi chọn mua, bạn cần những cành hoặc cây có hoa nở đúng vào mấy ngày Tết. Hoa nở sớm quá thì tới ngày đầu năm sẽ tàn, mà ngày mùng 1 hoa vẫn chưa nở thì cũng thật không hay. Nếu là hoa đào thì nên chọn loại đào bích, bông to, màu tươi sắc thắm, cành đào nên có nụ và chồi non. Nếu là quất hãy chọn cây quất có đủ cả quả xanh, quả vàng, hoa và lộc.

Ruoc Tai Loc chi voi 30 phut don nha don Tet hinh anh
Nên chọn loại đào bích có bông to và nhiều nụ
  Với các loại hoa khác, bạn có thể chọn những loại hoa có bông nở to, tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi nảy nở như hoa ly, hoa thược dược, hoa hồng Đà Lạt… hoặc những loại hoa tượng trưng cho sự giàu có và địa vị xã hội như lan, tuy nhiên cũng nên chọn những cành hoa tươi, nở vào dịp Tết. Điều này như một sự tin tưởng năm mới sẽ an khang và thịnh vượng.
 
Bày trí lại ban thờ
 
Bàn thờ là nơi linh thiêng nhất trong căn nhà, là nơi con cháu thể hiện lòng hiếu kính với gia tiên, chính vì vậy cần đặt bàn thờ ở vị trí trung tâm và cao nhất trong nhà.    Vào ngày 23 tháng Chạp, người Việt thường có tục lệ lau dọn lại bàn thờ, đây là công việc đòi hỏi sự cẩn thận và tỉ mỉ.

Mang tội bất kính vì bày đồ giả trên bàn thờ
Bàn thờ là nơi linh thiêng và là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu trong gia đình đối với tổ tiên. Vì vậy, nếu không muốn mang tội bất
  Trước khi tiến hành công việc, chúng ta cần thắp hương và cầu khấn, xin phép ông bà tổ tiên cho mình được lau dọn bàn thờ. Tốt nhất là nên dùng nước ấm hoặc nước gừng để lau chùi đồ thờ. Hãy loại bỏ những loại đồ giả như hoa quả, quả giả, cành vàng lá ngọc… và đồ vàng mã của năm cũ cần hoa hết ngay.   Trưng bày phòng khách

Khay mứt Tết là thứ không thể không có trên bàn tiếp khách của mỗi gia đình trong dịp Tết. Hãy chọn những loại khay hình tròn gồm 6 hoặc 8 ngăn, đây là những con số may mắn và tượng trưng cho hình ảnh gia đình sum họp đầm ấm. Sự ngọt ngào của khay mứt Tết cũng chính là sự ngọt ngào của năm mới.

Ruoc Tai Loc chi voi 30 phut don nha don Tet hinh anh 2
Khay mứt Tết nên chọn loại có 6 hoặc 8 ngăn
  Mâm ngũ quả của người dân miền Bắc không thể thiếu được nải chuối xanh, quả bưởi vàng… Và mâm ngũ quả của người miền Nam sẽ không thể thiếu được “Cầu sung vừa đủ xài” – Mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Dù bất kể ở đâu thì bạn cũng nên chọn những quả còn tươi ngon, không có dấu hiệu héo hoặc thối. Khi quả có dấu hiệu hư hỏng thì cần bỏ ngay đi, không nên lưu lại lâu trên ban thờ.
 
Với những gia đình có người cao tuổi, chắc chắn sẽ cần có những câu đối với nội dung liên quan đến lời chúc Tết hoặc hình ảnh của ngày xuân. Những câu đối này thường có ba phần, hai câu dài treo dọc hai bên cửa, một cái ngắn hơn treo ngang trên cửa.
 
Treo tranh trang trí

Bạn cũng nên lựa chọn những bức tranh với khung cảnh lễ hội hoặc những loại cây, loại hoa của ngày Tết để trang trí trong nhà. Hoặc dán, treo những hình ảnh về cặp bé trai bé gái ở cửa ra vào, đây chính là biểu tượng may mắn, hạnh phúc cho năm mới.
 
Tổng hợp  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Rước Tài Lộc chỉ với 30 phút dọn nhà đón Tết

Sao Bạch Hổ

Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh Hành: Kim Loại: Bại Tinh Đặc Tính: Hình thương, tai nạn, bệnh tật, thị phi, khẩu thiệt, hùng dũng. Tên gọi...
Sao Bạch Hổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phương Vị: Bắc Đẩu TinhHành: KimLoại: Bại TinhĐặc Tính: Hình thương, tai nạn, bệnh tật, thị phi, khẩu thiệt, hùng dũng.Tên gọi tắt thường gặp: Hổ
Phụ tinh. Sao thứ 9 trong 12 sao thuộc vòng sao Thái Tuế theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.
Một trong 4 sao của bộ Tứ Linh là Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái. Gọi tắt là bộ Long Phượng Hổ Cái.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Bại Tinh gồm các sao Tiểu Hao, Đại Hao, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư). Phân loại theo tính chất là Bại Tinh.

Vị Trí Ở Các Cung

  • Đắc địa: Dần, Thân, Mão, Dậu.
  • Hãm địa: Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Mệnh
Tính Tình
Bạch Hổ đắc địa: Người can đảm, quả cảm, có nghị lực, tài giỏi, quyền biến, ứng phó được với mọi nghịch cảnh, khả năng xét đoán, lý luận giỏi, có tài hùng biện. Riêng với người nữ thì người có khí phách, có ý chí mạnh như đàn ông, có tâm tính của nam giới.
Bạch Hổ hãm địa: Người ương ngạnh, ngoan cố, cứng đầu, bướng bỉnh. Tính ưu tư, hay lo lắng, phiền muộn, cô độc. Thích ăn ngon mặc đẹp, không nặng về gia giáo.
Công Danh Tài Lộc
Bạch Hổ đắc địa, khi đi với các bộ sao tốt thì rất hiển đạt về công danh, sự nghiệp, tài năng sắc sảo, can đảm, nghị lực, ứng phó được với mọi nghịch cảnh. Đối với người nam thường hiển đạt về chính trị nếu được nhiều văn tinh hội chiếu, hiển đạt về quân sự nếu được võ tinh đi kèm.
Phúc Thọ Tai Họa
Sao Bạch Hổ bất lợi cho cả cha mẹ, gia đạo và con cái, chưa kể ảnh hưởng xấu đối với chính mình về mặt tâm lý, tính tình, vận số. Đặc biệt nếu đi với sát tinh thì tai họa rất nhiều và ảnh hưởng đến nhiều phương diện, cụ thể như:
  • Khổ cực, cô độc.
  • Khắc vợ, chồng, góa bụa, cô đơn.
  • Bị bắt bớ, giam cầm.
  • Bị bệnh tật trầm kha.
  • Bị tai nạn nguy hiểm đến tính mạng.
  • Yểu tử.
Riêng phái nữ thì gia đạo, hôn nhân thường bị trắc trở, phải muộn chồng, phải cưới chạy tang nếu không thì góa bụa hoặc đau khổ ưu phiền vì chồng con. Đây là sao bất lợi nhất cho đại gia đình (mồ côi) và tiểu gia đình (xung, khắc, ly cách). Mặt khác, vì Bạch Hổ cũng bất lợi cho sự sinh nở. Phải cần sao giải mạnh mới chế giảm được bất lợi đó.
Những Bộ Sao Tốt
  • Bạch Hổ, Tấu Thư: Cả hai sao này hợp nghĩa nhau về khoa ngôn ngữ, tài hùng biện. Đây là người có khả năng diễn thuyết hùng hồn, lời lẽ lưu loát và khích động, có sức quyến rũ bằng ngôn ngữ rất sâu sắc. Các chính khách, ứng viên tranh cử, giáo sư, quan tòa, luật sư rất cần đến bộ sao này. Nếu đi chung với các sao hùng biện khác như Lưu Hà, Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, Văn Xương, Văn Khúc thì tài hùng biện đạt mức quốc tế.
  • Bạch Hổ, Phi Liêm đồng cung (gọi là hổ mọc cánh): chủ sự vui vẻ, nhanh nhẹn, tháo vác, cũng lợi ích cho việc thi cử, cầu danh, đạt quyền chức, may mắn nói chung.
  • Hổ, Cái, Long, Phượng (gọi là Tứ Linh): cũng rất hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, uy tín, khoa giáp.
  • Hổ Kình hay Hổ Hình đồng cung hay hợp chiếu: người có chí khí hiên ngang, có mưu lược, có tài quyền biến, rất đắc lợi về võ nghiệp và văn nghiệp.
  • Hổ ở Dần (gọi là Hổ cư hổ vị): ví như cọp ở rừng núi, có thể vùng vẫy tung hoành như ý muốn. Có nghĩa như gặp được thời, gặp vận hội may mắn, có thể phát huy tài năng, đạt chức quyền cao. Vị trí này rất hợp với hai tuổi Giáp và Kỷ, thường lỗi lạc về võ nghiệp, lưu danh hậu thế. Rất độc với tuổi Bính, Mậu.
Những Bộ Sao Xấu
  • Bạch Hổ, Tham Lang: Bị thú dữ cắn chết.
  • Tang, Hổ, Điếu, Binh (gọi là Tứ Hung): rất độc, báo hiệu cho tang tóc, tai nạn chết người, họa lớn. Nếu có Thiên Đồng thì hóa giải được.
  • Bạch Hổ gặp Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ: tang tóc liên tiếp, ưu phiền rất nặng, đại tang.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Phụ Mẫu
Cha mẹ mồ côi, nếu không thì cũng gặp chuyện phiền lòng về làm ăn, cực nhọc, vất vả.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Phúc Đức
  • Bị giảm thọ.
  • Gia đình không toàn vẹn.
  • Trong họ có người chết non, vất vả, nghèo khổ, cô độc.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Điền Trạch
Hay thay đổi nơi ăn chốn ở, hoặc có nhà mà thường phải đi xa, hoặc nội bộ gia đình hay có chuyện bất hòa, tranh chấp về đất đai, nhà cửa.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Quan Lộc
Đi với sao tốt thì công danh hiển đạt, đi với sao xấu thì tai họa rất nhiều, bất lợi.
  • Bạch Hổ, Phi Liêm, chủ sự vui vẻ, nhanh nhẹn, tháo vác, cũng lợi ích cho việc thi cử, đạt quyền chức, may mắn nói chung.
  • Bạch Hổ ở Dần, gặp thời vận tốt, cơ hội may mắn, phát huy được tài năng, đạt chức quyền cao, tốt cho tuổi Giáp, tuổi Kỷ, xấu cho tuổi Bính, tuổi Mậu.
  • Gặp bộ sao Bạch Hổ, Hoa Cái, Long Trì, Phượng Các (gọi là Tứ Linh ), rất hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa bảng.
  • Bạch Hổ, Kình Dương hoặc sao Thiên Hình đồng cung hay hợp chiếu, người có chí khí hiên ngang, có mưu lược, có tài quyền biến, rất đắc lợi về võ nghiệp và văn nghiệp.
  • Bạch Hổ, Tấu Thư, có tài hùng biện, văn học.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Nô Bộc
Bè bạn, người giúp việc ương ngạnh, bướng bỉnh, dũng mãnh, hay có sự lấn lướt.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Thiên Di
Ra ngoài hay gặp nguy hiểm, vất vả mới tranh đoạt được danh lợi.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Tật Ách
Bạch Hổ chỉ máu, xương trong cơ thể con người. Bạch Hổ là bại tinh cho nên báo hiệu hai loại bệnh tật:
  • Bệnh về tinh thần, biểu hiệu bằng sự âu sầu, u buồn, uỷ mị, bi quan.
  • Bệnh về vật chất, cụ thể là máu huyết, gân cốt như hoại huyết, áp huyết cao, đau gân, đau tim, nhức xương, tê thấp. Vì vậy, đối với phụ nữ, tình trạng khí huyết kém hay đưa đến sự đau yếu về kinh nguyệt, về tử cung, có ảnh hưởng đến sự sinh nở.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Tài Bạch
Kiếm tiền cực nhọc, tự tay tạo dựng tiền bạc.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Tử Tức
Có một trong các ý nghĩa sau:
  • Khó sinh, sinh non ngày tháng
  • Sinh con khó nuôi hoặc sinh con nhưng không được nuôi.
  • Gặp Kình Dương, Thất Sát, có thể không con.
  • Gặp Địa Không, Địa Kiếp, sinh nhiều nuôi ít.
  • Gặp Thai, sẩy thai, con chết non.
  • Gặp Địa Không, Địa Kiếp, sao Thai, có thể phá thai. Nếu thêm sao Thiên Hình, có mổ xẻ lúc sinh nở, con chết trong bụng mẹ, khó sinh, phá thai.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Phu Thê
Có những ý nghĩa hoặc một trong những ý nghĩa sau:
  • Cưới chạy tang.
  • Có tang chồng hay vợ hoặc ly thân, ly hôn.
  • Ở góa (nếu Phúc, Mệnh, Thân xấu).
  • Lấy vợ hay chồng có tật, mù lòa mới tránh được hình khắc, chia ly.
Ý Nghĩa Bạch Hổ Ở Cung Huynh Đệ
  • Anh chị em chết non.
  • Bạch Hổ, Tang Môn, Thái Tuế, anh chị em bất hòa, xung khắc, khắc khẩu, không hợp tính nhau.
  • Bạch Hổ, Tang Môn, Thiên Mã, anh chị em ly tán, xa cách.
Bạch Hổ Khi Vào Các Hạn
Có tang trong các trường hợp sau:
  • Bạch Hổ, Bệnh, Khách.
  • Gặp Lưu Tang, Lưu Hổ, Lưu Khốc, Lưu Hư (có nhiều tang liên tiếp, có đại tang).
  • Bạch Hổ, Khốc Mã (súc vật chết vì bệnh tật).
Bị ác thú cắn nếu gặp:
  • Hổ Riêu hay Hổ Đà Kỵ Nhật.
  • Hổ Đà Hình hay Hổ Khốc Riêu.
  • Hổ ở Dần, Địa Kiếp ở Tuất.
Bị kiện tụng, khẩu thiệt, ốm đau nếu gặp:
  • Hổ, Phục.
  • Hổ, Tuế, Phù, Phủ.
Đại Tiểu Hạn cần lưu ý xem kỹ Bạch Hổ và Lưu Tang, Lưu Hổ. Nếu đồng cung thì sự hung hiểm càng nhiều.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Bạch Hổ

Tục thờ và nghi lễ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định

Việc thờ Thần của người Việt từ xưa đã có sự chọn lọc theo quan điểm ai có công với dân với nước thì thờ. Tất nhiên không ngoại lệ các trường hợp chết vào giờ “thiêng” có ảnh hưởng đến cuộc sống của một địa phương nào đó. Tuy nhiên các trường hợp này ít được sùng bái rộng rãi, được sắc phong cũng như ít được bảo tồn, thường chỉ có các miếu nhỏ, đống đất có dầu tích và nén nhang do từ tâm ở các vùng Trung, Nam, Bắc.
Tục thờ và nghi lễ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lại còn có một số Thần người nước ngoài xâm lăng nước ta, khi chết tạo sự bất an cho dân, như Nguyễn Bá Linh theo nhà Nguyên đánh Đại Việt, Trương phụ là tướng nhà Minh…cũng được thờ ở Ninh Bình, Quảng Ninh cho bớt sự quấy đảo… Nhưng các Thần người nước ngoài có công với chúng ta, thể hiện đạo đức phù hợp với bản chất dân tộc Việt được nhân dân tôn thờ, sùng kính. Ví như đền thờ Mỵ Ê ở Lý Nhân, Hà Nam, là vợ vua Chiêm có khí tiết đáng kính. Triệu Trung là tướng nhà Tống theo Đại Việt đánh giặc Nguyên được thờ ở Cao Đài - Mỹ Thành – Nam Định và đặc biệt Tứ Vị Thánh Nương, triều đình Nam Tống kháng chiến đế quốc Mông – Nguyên không thành, cơ đồ nhà Tống tan nát, hận mất nước mang nặng, tình nguyện âm phù cho Đại Việt đánh giặc cũng như nhân dân Việt làm ăn, phát triển sĩ, nông, công, thương… được dân gian chiêm ngưỡng rộng rãi khắp Trung, Bắc, Nam và lịch đại phong tặng danh hiệu Thượng đẳng thần.

Việc sùng bái này tuy có thời sóng gió, nhưng một vài thập kỷ gần đây được phục hồi, Nhà nước quan tâm tu bổ di tích như đền Cờn - Nghệ An, đền Mẫu – Hưng Yên, đền Lộ - Hà Nội, đền Ninh Cường, đền thờ Mẫu ở Thái Bình, đền các xã Quần Anh cũ, đền xã Trực Khang – Nam định… Phải chăng đạo nghĩa dân tộc, tầm nhìn tổ tiên đã vượt qua biên giới, nói cách khác là đã có quan điểm toàn cầu. Quý hoá thay, đáng kính thay!
  Riêng với Nam Định nay (vì Nam Định xưa, đầu thế kỷ 19 quản lãnh cả Thái Bình và một phần Hưng Yên) tục thờ Tứ Vị Thánh Nương còn được khôi phục ở khá nhiều nơi, đặc biệt vùng biển, nay thuộc huyện Hải Hậu, huyện Trực Ninh.   Xin dẫn chứng lịch sử tôn thờ Tứ vị, với công trình khẩn hoang mở đất phía Nam sông Cường Giang (nay là sông Ninh Cơ) để có được phần lớn đất đai huyện Hải Hậu, huyện Trực Ninh ngày nay.   Theo di tích, truyền thuyết địa phương thì các cụ tổ sáng lập đất Quần Anh là Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập (địa chí ghi là Tứ tính) cùng chín họ Lại, Nguyễn, Lê, Bùi… (địa chí ghi là Cửu tộc) vượt sông Cường Giang, từ vùng Tương Đông - Trực Ninh sang khai hoang lấn biển vào cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, khi điền địa hình thành, lập xóm trại, họ đã lập đền thờ. Phần này trong sách chép tay Quần Anh tiểu sử của Tiêu Viên Hoàng Diễn (1872-1914), do Phương Châu Đoàn Ngọc Phan dịch và chú thích năm Ất Sửu 1985, mục xây dựng đền, miếu, đàn, chùa và bi ký có ghi:   “Nguyên trước đền thờ Tống Thái hậu (người họ Dương là vợ vua Tống Độ Tông, mẹ Tống Đế Bính cùng hoàng hậu và hai công chúa bị nạn giặc Mông - Nguyên chết đuối ở bể năm Kỷ Mão 1279). Đền Bóng trước tại xứ Cồn Khuôn bị xã Cát Chử chiếm mất, bèn lập lại đền Bóng tại phía Bắc sông Trệ (nay thuộc cầu Xẻ, xã Thượng).   Tương truyền khi Tú Tổ khai trương, phía đông có đền xã Quần Mông, phía tây có đền thờ Tống hậu còn gọi là Tứ Vị Thánh Nương  (do ai xây, xây từ bao giờ?... Các tổ nhân sẵn đền cũ tu bổ lại, đúc tượng đồng phụng sự… Niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 13 mới đúc tượng đồng ở đền Bóng sông Trệ lại trang hoàng từ vũ. Diện tích khu đền rộng hơn một mẫu, nước hồ trong vắt, cây cối um tùm, nhân dân kỳ đảo linh ứng, trải qua nhiều triều đại có sắc phong…   Sau khi Quần Anh phân làm ba xã (1804) đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821), xã Hạ lập đền Bóng tại phía bắc chợ Đông Cường, xã Trung, xã Thượng vẫn thờ tại đền Bóng phía bắc sông Trệ.   Năm Thành Thái thứ 10 (1890), xã Trung mới lập đền Bóng ở phía nam sông Trà, phía đông Cầu Đông. Từ đó các xã đều có đền Bóng riêng, tục gọi là đền Chánh. Còn đền tại Vĩ Châu do Ninh Cường phụng sự, nhưng hai xã Thượng và Trung thay phiên nhau hàng năm lên kinh tế”…   Như vậy, trong vòng 5-7 km, các  xã giáp nhau đều có đền Bóng thờ Tứ Vị Thánh Nương. Theo truyền thuyết đây là đời sống tinh thần của dân khai hoang mở đất Quần Anh.   Sách Quần Anh dấu xưa mở đất của Trần Xuân Mậu (Hội Văn học nghệ thuật Nam Định - 2002) còn ca ngợi đền Chánh xã Trung là công trình kiến trúc tuyệt đẹp. Thợ nề Quần Anh có tài nặn, đắp, tạo hình…Đôi nghê chầu do hai phó nề quây cót đắp thi khá thành công, đã có thơ ca ngợi…   Gần 4 ngôi đền phía nam sông Cường Giang, phía bắc sông có đền Lạc Chính nay thuộc xã Trực Khang, huyện Trực Ninh. Lịch sử lập đền vào cuối thế kỷ 19, xin chân nhang ở đền Ninh Cường (cửa biển Lác) về thờ và ngày càng tu bổ đẹp đẽ, lại là cơ sở cách mạng, kháng chiến của địa phương.   Đơn cử một số điểm thờ Đại Càn Thánh Mẫu, hoặc Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định để chúng ta tìm hiểu về nguyên nhân cũng như ảnh hưởng của Tứ Vị Thánh Nương đối với cộng đồng dân tộc Việt. Có thể có sự đồng cảm bởi Vương hậu, Vương phi nhà Tống vì kháng chiến chống kể thù chung Mông – Nguyên. Có thể bởi đức độ giữ chư tiết nghĩa mà ngọc phả dẫn, phù hợp với chất đạo lý dân tộc, hoặc do sự âm phù vua Trần Anh Tông cho nên biển lặng, sóng yên giúp quân Trần nhanh chóng chinh phạt kẻ thù phương Nam thành công, hay có sự anh linh, một niềm tin nào đó cho sĩ, công, nông, thương Đại Việt trước kia, rồi Đại Nam, Việt Nam chúng ta ngày nay cầu được ước thấy, mưa thuận gió hoà, thuận buồm xuôi gió…dẫn đến đời sống ấm no, hạnh phúc mà dân gian hết lòng tôn kính, lập đền thờ tự.

Hoặc do dân quê thuần phác, đời sống khó khăn, trong công cuộc khai hoang lấn biển, nhiều lần nước mặn phá vỡ đê biển, nhiều lần tràn ngập cướp đi hàng ngàn, hàng vạn ngày công… dân quê không còn cách nào hơn là lập đền ở Vĩ Châu, rồi sau là đền Chánh, đền Bóng thờ Tứ Vị Thánh Nương mong sự cứu độ và đây là liều thuốc an thần, giúp dân khai phá thành công, thiết lập làng xã với một nếp sống nông thôn nghĩa tình, có từ đường thờ tổ, văn đàn, võ đàn, đền, miếu, chùa cảnh, thờ Thần, Phật, Tổ lập lăng. Còn chấn hưng việc học, xây cầu, lập quán tạo cuộc sống đầy đủ vật chất, chu đáo về tâm linh cho dân.
  Đây là văn hoá bản địa, văn minh bản địa khá tiêu biểu ít nơi có. Và để minh chứng xin trích dịch “Tân đình bi ký” (1815) tại xã Trung, nay là Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định.   … “Đất ta cổ truyền là đất chua mặn, cát chữa nên ruộng, bằng phẳng bốn bề, chỗ cao có thể dựng nhà cửa, chỗ thấp có thể cấy dâu gai, ngàn mẫu tạo nên mà trăm nhà dựng, xanh tươi sầm uất thành vũ trụ trời Nam… từ niên hiệu Hồng Thuận chung nhau một xã, đình làng cùng chung, chợ cùng nhau họp, cầu cùng nhau leo, đều cùng nhau cúng. Năm Giáp Tý (1804) mới cắm mốc chia làm ba làng”…   Văn bí chùa Phúc Sơn (Quần Phương Trung, Phúc Sơn tự ký) lập năm 1932 còn ghi:   … “Năm Hồng Thuận thứ 3 (1511) lập thành tên xã Quần Anh, dựng đền Quốc Mẫu tối linh Thần ở thôn An Cường, nguyên trước là thôn Tây Cường, nay là xã Ninh Cường, cửa bể sông Lác bãi Vĩ Châu, dựng thêm đền Bóng ở cửa sông Trệ, dựng chùa thờ Phật gọi là chùa Phúc Lâm”. Những dòng chữ Hán của người xưa, muốn cho cộng đồng cư dân Nam Định ghi nhớ dấu tích đời sống tinh thần trong đó có tục thờ Tứ vị, cũng như đức tin của người Nam Định đối với các vị Thần Tổ lập biển lập làng, tạo an sinh xã hội”
Nhìn chung các di tích thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định khá lớn, khá nhiều, thường có hai hoặc ba toà chính, có hệ thống tường hoa, cột trụ vây quanh tạo khuôn viên nội chữ đinh, hoặc nội chữ công, ngoại chữ quốc, quy mô hoành tráng.   Phần thư tịch, câu đối đều có nhắc tới nạn xâm lăng của nhà Mông – Nguyên, triều đình Nam Tống bị diệt vong, thái hậu cùn ba con bị nạn trôi đến Càn Môn - Quỳnh Lưu - Nghệ An, nêbn dân gian coi đền Cờn - Nghệ An là nơi phát tích, hàng năm vẫn có người vào đền Cờn dâng lễ tỏ rõ lòng thành, không 1uên gốc.   Đơn cử câu đối đền Lạc Chính nay là xã Trực Khang ghi:   Nam Hải thần phong thiên hữu sắc   Cần môn ba tố địa giai binh   Tạm dịch: Nam Hải thần do trời ban sắc,   Cầu môn nổi sóng đất anh linh.   Lễ hội ở đây, ngoài việc tế lễ, ngày 7 tháng giêng có lệ thi trâu béo, khoẻ. Để làm việc này, ngay từ ngày 6 tháng giêng các giải pháp tắm rửa cho trâu, cho trâu ăn no, lại trang trí trên đầu, trên sừng trâu. Các nhà trong giáp góp gạo thổi xôi làm lễ, tối mồng 6 thắp đuốc rước trâu. Người cưỡi trên lưng trâu giơ cao ngọn đuốc và đoàn người trống chiêng hối hả theo sau. Đoàn rước có tới hàng chục con trâu béo, trâu đẹp được tập trung để dự thi, con nào đạt thì được giải. Lệ này được duy trì cho mãi đến ngày nay, vừa khích lệ tinh thần chăn nuôi tạo sức kéo, vừa nhớ lại chuyện xưa trẻ trâu thấy đền Cửa Lác thờ, bắt chước đắp đất làm đèn, vì thế các cụ mới sang Ninh Cường xin chân nhang về thờ…   Theo sách Thần tích Việt Nam của Lê Xuân Quang – Nxb Thanh Niên, 2003, thì thôn Thiện Đăng, xã Thời Mại, huyện Tây Châu, Nam Định có 2 tướng Đinh Thuyên và Nguyễn Phụng dưới trướng Trần Quốc Điền, theo lệnh của Hưng Đạo Đại vương đem 500 quân vào Châu Hoan do thám tình hình địch, trong cuộc kháng chiến lần thứ II – 1285. Nhưng kế hoạch bại lộ, bị địch truy đuổi, các ông cho quân sĩ lên bờ rút lui, bỗng trông thấy đền thờ Tứ vị, liền vào đền khẩn cầu kêu xin âm phù. Ít phút sau trời đất tối sầm, sấm chớp nổi lên, gió bão ập đến làm cho thuyền giặc gãy cột buồm trôi dạt trở lại. Quân ta thừa cơ tấn công, địch rút chạy, thu được hon chục thuyền chiến… Biết chuyện đánh thắng quân Toa Đô có nhờ sự âm phù của Thần ở Càn Hải. Vua Trần ban phong “Càn Hải Tứ vị linh thần”. Lại cho vàng bạc tu sửa đền thờ…   Đáng tiếc một thời, các đền thờ Tứ vị nhiều nơi bị cấm đoán, thậm chí phá công trình, tẩu tán đồ thờ. Nhưng do ý thức tôn trọng Tứ vị trong dân gian, họ vẫn ngấm ngầm tìm đi các nơi cầu đảo Thánh Nương phù hộ. Các tư liệu, câu đối còn lưu, ca ngợi sự âm phù của Tứ vị cho triều đình chống ngoại xâm thắng lợi, âm phù cho các thuyền buôn, thuyền đi trên biển, trên sông an toàn. Tài liệu của ông Lê Xuân Quang còn ghi lại đạo sắc ngày 4/12 Quang Trung thứ 5 (1793) trong văn có câu: “Phi tự Đại Tống ngật kim tích tại Tiên tảo, danh tại sử, tướng duy ngã Việt lập quốc, công ư đế thế, trạch ư dân”.   Tạm dịch:   - Trải từ thời Đại Tống đến nay, dấu tích ghi trong sổ người Tiên, tiếng tâm ghi tự điển.   - Âm phù nước Việt ta lập quốc, công giúp nhà vua, ơn sâu với dân cũng thấm nhuần khắp mọi nơi.   Đạo sắc trên đây ở đền Hương Nại, xã Yên Nhân, Yên Mô, Ninh Bình phong Tứ vị là người Tiên. Liệu đây có là nguyên nhân để trong điện Thần tứ phủ có văn chầu Đại Càn Thánh Mẫu. Ảnh hưởng của Tứ vị được nhân lên, được dân gian hàon toàn đưa vào nội đạo của dân gian Việt Nam. Xin giới thiệu lại văn chầu Đại Càn Thánh Mẫu, sưu tầm trong những người hát văn ở Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng.   Gương tứ đức sáng cùng nhật nguyệt,   Nghĩa tam tòng tỏ hết Bắc Nam,   Ngàn thu thơm nức hương lan,   Đời càng ca tụng, tích càng hiển dương…   Đức lồng lộng muôn dân khôn lượng,   So bể, trời hình tượng cao sâu   Sáng soi khắp chốn đâu đâu,   Thơm danh Dương Thị hồi đầu Tống gia   Trăm họ nức âu ca cổ vũ,   Bốn bộ đều áo mũ đai xiêm.   Khắp hoà Thuấn nhật, Nghiêu thiên,   Đã vui cõi thọ lại lên xuân đài,   Đang vui lúc lòng trời yên thuận,   Quốc gia đều hoà khí xuân phong.   Sau vì nhất quốc tam công,   Người Nguyên ác độc đặt bày mưu mô.   Nhà Tống phải thiên đô châu Quảng,   Bóng tà dương soi rạng bể Nam.   Thợ trời khôn tỏ cơ hoàn,   Chúa tôi một dạ những toan phục hồi.   Giang sơn Tống dẫu mười còn một,   Có lẽ đâu chịu mất ngay đi.   Ngoài thì tướng sĩ phù trì,   Trong thì Thánh Mẫu khuê nghi luận bàn.   Người son phán mà gan vàng đá   Việc binh nhung vững dạ kiên tâm.   Thần dân báo đáp quân ân,   Nặng tình sơn hải mấy thân liễu bồ.   Quyết giữ lại cơ đồ nhà Tống,   Hẳn không dung những giống bất nhân.   Lại khuyên võ tướng mưu thần,   Gắng công vì nước đền ơn sinh thành…   Nghe dụ chỉ quân dân quyết đánh,   Nhưng khôn đua sức mạnh quân Nguyên   Mới hay thành bại do thiên,   Cơ huyền vẫn giữ, cơ huyền vẫn xoay.   Cuộc thế sự hết bày trò rối,   Trận Nhai Sơn hết đỗi gian nan…   Lênh đênh trên biển liều thân,   Quyết lòng thu thập quan quân phục thù,   Nhược chẳng được mặc cho thuyền lắng,   giãi gan cùng trời trắng bề trong.   Ôi thôi thả lá giữa dòng,   Qua ba bực sóng đều cùng thảnh thơi.   Ấy mấy biết người trời khác giá,   Trải gian nguy vẫn dạ trung trinh.   Chí thành Phật cũng chứng minh.   Bè từ đã đón thênh thênh lên ngồi   Phép Phật độ tỉnh rồi mới biết,   Chùa La Sơn Nam Việt là đây.   Ung dung ở chốn am mây   Khấu đầu lễ Phật giãi bày vân vi…   Độ bốn vị đều nên Thần phúc,   Hoá chân thân bốn khúc trầm hương.   Gió đưa thoảng ngát một phương,   Hào quang trước mắt ngư phường khô hay.   Thuyền qua lại mấy ngày mới hiển,   Rước lên thờ kính tiến khói hương.   Nhờ ơn từ đấy mấy làng   Lưới chài phong vận bạc vàng đầy chen.   Đua cầu phúc lập đền tế lễ   Độ cho người sông bể biết bao   Kể chi giông tố ba đào   Kêu cầu khắc ứng chuyện nào cũng yên…   Công hộ quốc thơm ghi Nam sử,   Lễ suy tôn khởi sự Đông – A   Mẫu về chắc giáng điện toà   Khuông phù đệ tử vinh hoa thọ trường.   Như trên đã nói về ý thức người Quần Anh trong việc tôn thờ Đại Càn Thánh Mẫu. Ý thức trân trọng này được ghi vào tục lệ của làng. xin trích dẫn đôi điều cần thiết.   Ngay trang đầu “tục lệ vào đám” có ghi:   “Khoảng thế kỷ thứ 15, tiên tổ Quần Anh từ Tương Đông xuống khẩn điền lập ấp. Lúc đó đắp đê bể rất gian khổ nên đã lập đền thờ Tống hậu ở ngay cửa bể Lác Môn (đền Ninh Cường ngày nay) để cầu Thần ủng hộ”…   “Khi xã Trung chưa làm đền Chánh, mỗi lần vào đám phải xuống xã Thượng rước kiệu Thần về đình… phải hưng công lập dịch bồi trúc con đường rước Thánh cho thật cao ráo, bằng phẳng. Ngoài ra các con đường khác cũng phải sửa chữa cho tiện đi lại và đón khách gần xa”.   Theo lệ tục, những người rước Thánh phải là đàn ông, con trai đi rước, hoặc đi xem hội trên đường, còn các cụ già, đàn bà, em nhỏ thì đi thuyền dưới sông, nên sông Giữa, sông Múc nằm cạnh đường rước phải sửa, vét lại. Phàn đường, phần sông xã phân giao cho các giáp, các xóm, các tư nhân đảm nhận dưới sự kiểm soát của ban đốc công.   … Đền Chánh là nơi khởi đầu cuộc rước phải tu sửa cho thật uy nghi, xứng đáng như cung điện Tống triều. Còn các đền khác cũng sửa sang cho tốt để quan khách trông vào. Xã lo phí tổn tu sửa đền Chánh, còn các đền khác các giáp tự lo…   Khoản đồ rước như cờ, áo, kiệu, võng, tàn quạt, chiêng trống, gươm, roi… phải bắt tay từ năm, bảy tháng trước. Thợ thêu, thợ mộc, thợ sơn… mỗi hiệp hàng chục người phải làm liên tục…”.   Tục vào đám còn ghi tỉ mỉ các khoản đóng góp, phân công cử người vào đám, đề chương trình tế lễ, đề nhật ký tiến cúng cho các giáp, quy định bầy đám, bầy điểm để phô trương văn vật địa phương. Đám do xã lo, thường bày giữa đình là gian thờ kiệu Thần nên phía trên và 4 mặt căng phủ màn thêu, hai gian bên thì đơn giản hơn, ngoài rạp cũng căng phủ màn, treo câu đối, cửa võng…Đồ thờ Thần có sập ngữ, võng ngự theo nghi thức hoàng hậu, hai bên tả hữu thiết đồ thờ theo nghi thức vương công.   Điếm hát do các giáp lo nhưng cũng phải tươm tất, xứng với danh vị chủ nhân của giáp. Lại phân chia điếm văn, điếm võ,điếm thể sát để giải quyết mọi pháp lý, điếm đoàn áp (trị an, tuần phòng), điếm tổng cờ (chỉ huy thi đấu cờ), điếm tướng cờ nam, nữ…   Phần rước Thần được ghi chép tỉ mỉ, nào phân công cầm “lộ bộ” (đi rước kiệu Thánh), nào người cầm mã đao, cầm cờ “thanh đạo” (dẹp đường), cầm tán, biển có chữ “tĩnh túc” (nghiêm tĩnh),  “hồi tỵ” (tránh lại), cờ nhật nguyệt, bộ trống ngũ lôi (10 người), cầm thập kỳ (cờ đỏ viền xanh trắng, hoả xanh) rồi cầm tán, cờ ngũ hành “kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ”, cờ bát quái, tán, tàn…   Ngay các hiệu lệnh, trống, chiêng cũng ghi chép tỉ mỉ, các phường hội sư tử, múa rồng, phường động, phường chèo, các trò đi kheo, đô vật… cũng được phân công, trước sau rất cụ thể.   Nêu vấn đề trên để thấy việc tế lễ trịnh trọng như thế nào, nghiêm chỉnh như thế nào nhất là vai trò Thàn đền Chánh – Tứ Vị Thánh Nương là chủ chốt, oai linh nhất đối với dân Quần Anh – Nam Định nh thế nào.   Phần cỗ rất linh đình. Có cỗ mặn, cỗ chay. Xin đề cập lễ rước cỗ chay tại xã Trung, nay là xã Hải Trung. Ngày 7 tháng giêng lễ khai hạ, lại là dịp kỷ niệm Đại Càn Thánh Mẫu cùng Tam vị, nên ngoài việc tế lễ, sang đêm ngày 8 tháng giêng tổ chức rước cỗ chay. Rước cỗ chay thường làm hai lễ, một lễ sang đền Chánh thờ Tứ vị, một lễ rước sang đền Khải xã, thờ liệt tổ khai sáng Quần Anh.   Cỗ đặt trên “mân dàn” (mâm có nhiều tầng). Giữa bày hòn non bộ, bốn góc bầy tứ linh. Đi rước kiệu có đinh nam bưng mâm bồng có trầu rượu cùng cờ, quạt, chiêng trống… Cỗ chay thường có các loại bánh như bánh xu xê, nhựa mận, bánh dứa, bánh quế, bánh nhãn… Những cỗ chay cũng là nét riêng của từng địa phương, dùng sản phẩm riêng của địa phương. Ví như dùng quả đu đủ trổ thành các hoạ tiết, nấu thành mứt trong như kính rồi cắm vào tấm bánh, bày lên đĩa xung quanh có các thứ bánh chay.   Mâm cỗ chính có 120 đĩa, các mâm bồng phụ, khoảng 12 đĩa làm toàn bằng ngũ cốc, nông sản, hoa quả. Điều đặc biệt là khi rước Thánh qua thôn xóm nào đèu có sự nghênh tiếp trịnh trọng. Việc này còn có câu đối lưu lại.   Tạm dịch:   Đền Thần mới sửa bên sông Trệ   Kiệu Thánh mừng qua trạm xã Trung   Hoặc câu:   Âu ca một hội Xuân sau trước,   Lễ nhạc trăm năm nghĩa láng giềng.   Câu đối trên còn chứng tỏ đất Quần Anh sau khi tách làm ba, vẫn giữ được tình nghĩa làng cũ, nhất là ý thức đối với Tứ vị. Thần linh, coi như Thành hoàng che chở cho dân khẩn điền, lấp biển thành công.   Riêng xã Hạ (nay là xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu) lễ hội trong khu di tích thờ Phật, thờ Đại Càn Thánh Mẫu, thờ Liệt tổ, thờ Mẫu Liễu Hạnh, thờ Trần Hưng Đạo, xưa vẫn lấy ngày 6, ngày 7 tháng giêng là trọng tâm. Truyền thuyết cho ngày này là kỷ niệm Liệt tổ và Tứ Vị Thánh Nương.   Ngoài việc tế lễ, rước kiệu Thánh du xuânb còn có các trò vui như tổ tôm điếm, đấu cờ tướng, cờ người, hát chèo, hát Ả Đào.   Hát chèo, hát Ả Đào ở đây có truyền thống. Bởi xưa đây là xóm chuyên nghề này, sau xóm chuyển thành phố với tên phố Cô đầu, nhân dân sống nhờ nghề này và đã lập miếu thờ “Cầm ca nhĩ tổ” (Tổ nghề đàn, ca). Hiện miếu thờ không còn, nghề cũ cũng mai một, nhưng trong ký ức về rạp hát Thanh Kỳ do nghệ sĩ Quách Thị Hồ mở hàng chục năm, rồi nghệ sĩ Linh Nhâm, người con quê hương cũng ít nhiều gợi lại về một địa phương có nghề cầm ca. Xa xưa nghề cầm ca phục vụ các đám hát trong ngày hội Thánh, hầu Dương hậu, vương phi có các chức sắc, quan lại về dự, sau nghề cũ không phù hợp, nhưng truyền thống nghề nghiệp còn bảo lưu, giúp cho phong trào ca hát, đội văn nghệ địa phương trưởng thành. Và ngày hội hiện tại có các chiếu chèo, hoặc các nghệ sĩ hát ca trù dưới con thuyền trôi lững lờ trên sông nước trước đền chùa, gợi cảnh lệ vào đám xưa kia của tiên tổ Quàn Anh.   Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định nhen nhóm từ thế kỷ 15-16, thịnh hành vào các thế kỷ 17, 18, 19 và đầu thế kỷ 20. Đặc biệt nhân dân ở các cửa lạch, cửa sông và người làm nghề trên sông biển. Dân gian tin Tứ Vị Thánh Nương lúc nào cũng từ bi cứu độ muôn dân, như xưa đa âm phù giúp vua Trần, tướng Trần, cùng vua Lê đánh giặc, lại âm phù cho ngư dân vào lộng ra khơi đánh bắt cá, thương thuyền buôn bán sóng lặng, bể yên. Phù hộ cho việc khẩn hoang lấn biển, ngự trị được nước cường, sóng lớn cho đê biển vững bền… Sự hiển linh tạo thành đức tin và để đền đáp, kính cẩn thần linh, dân gian lập miếu tôn thờ, theo cách nhìn: Ai có công giúp nước, giúp dân thì thờ.   Việc thờ tự có lễ, lễ dâng hương tưởng niệm và hàng năm hoặc 3 năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu làng vào đám. Vào đám để biểu hiện lòng thành cao độ. Nhưng vào đám cũng bày vẽ quá đáng, khiến dân thôn phải phục vụ hao tổn sức người, sức của. Ấy vậy mà không ai bảo ai cứ cố gắng hoàn thành tục lệ tế lễ, hội hè do làng xã quy định. Bởi tâm linh mọi người; đây là giờ phút thể hiện sự thành tâm của con dân đối với liệt tổ mở đất, đối với Tứ vị thần linh âm phù cho nước bình yên, cho dân hạnh phúc theo đạo lý dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Phải chăng đây là bản chất ưu việt của cộng đồng cư dân Nam Định và như câu nói cổ nhân:   “Thực kỳ tự giả, bất huỷ kỳ khí, ấm kỳ thụ giả, bất chiết kỳ chi”.   (Ăn cơm không đập vỡ mâm bát, đứng dưới bóng cây không bẻ gẫy cành).
Hồ Đức Thọ - Chi hội trưởng Chi hội VHDG tỉnh Nam Định

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tục thờ và nghi lễ Tứ Vị Thánh Nương ở Nam Định

Bài trí phong thủy văn phòng cho người tuổi Tý dễ phát tài

Các xác định phong thủy văn phòng tốt xấu cho người tuổi Tý sẽ mang lại lợi ích nhất định cho những ai muốn thăng tiến trong sự nghiệp.
Bài trí phong thủy văn phòng cho người tuổi Tý dễ phát tài

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Lichngayot.com) – Các xác định phương vị hung cát trong văn phòng hợp phong thủy sẽ góp phần thúc tài lộc của người tuổi Tý thịnh vượng, dồi dào.


3 cách xác định Tài vị trong nhà chuẩn không cần chỉnh 8 lưu ý cho tài vị để tài vận được hanh thông Xác định phương vị Thần Tài trong năm 2017
1. Xác định phương vị tốt xấu trong phong thủy văn phòng   - Phương vị hung hại: Tọa Nam hướng Bắc. Trong 24 sơn hướng là Ngọ sơn và Mùi sơn, hướng Bắc.   - Phương vị cát lành: Nhâm sơn, Tý sơn, Quý sơn, Bính hướng, Ngọ hướng, Đinh hướng; Giáp sơn, Mão sơn, Ất sơn, Canh hướng, Dậu hướng, Tân hướng. Phuong vị là tọa Bắc hướng Nam, tọa Đông hướng Tây hoặc tọa Tây hướng Đông.   - Tài vị: Người tuổi Mậu Tý (sinh năm 1948): Tài vị văn phòng ở hướng chính Bắc. Tuổi Canh Tý (sinh năm 1960), tài vị ở hướng chính Đông; tuổi Nhâm Tý (sinh năm 1972), tài vị ở hướng Đông Nam; tuổi Giáp Tý (sinh năm 1984), tài vị ở hướng Tây Nam; tuổi Bính Tý (sinh năm 1996), tài vị ở hướng chính Tây.  
Bai tri phong thuy van phong cho nguoi tuoi Ty de phat tai hinh anh
 

Phong thủy có thực sự hiện hữu trong cuộc sống con người? Mỗi không gian sống một rèm cửa hợp phong thủy Tháp Văn Xương bao nhiêu tầng là tốt nhất?
2. Bài trí phong thủy văn phòng cho người tuổi Tý
  - Bản mệnh Tý thiếu Kim: Ý chỉ người tuổi Tý có ngày sinh trong khoảng từ 19/2 đến 4/5. Trên bàn làm việc có thể bài trí biểu tượng Khỉ bằng đồng. Với nữ giới, còn có thể trưng bày biểu tượng Gà đồng, Rồng đồng trên bàn làm việc để thúc vượng vận khí, tạo ra mối quan hệ hữu hảo với cấp trên, đồng nghiệp.   
Bai tri phong thuy van phong cho nguoi tuoi Ty de phat tai hinh anh
 
- Bản mệnh Tý thiếu Mộc: Ý chỉ người tuổi Tý sinh trong khoảng từ 8/8 đến 7/11. Trên bàn làm việc có thể bài trí Trúc phú quý, 2 trái táo, 4 tượng Mèo nhỏ (đối với nữ giới), tượng Rồng (đối với nam giới). Mèo sẽ lấp đầy chỗ khuyết Mộc, nâng cao trí tuệ, còn Rồng lợi cho khởi nghiệp lớn, phúc lộc dồi dào.   - Bản mệnh Tý thiếu Thủy: Ý chỉ người tuổi Tý sinh trong khoảng từ 5/5 đến 7/8. Trong văn phòng, nữ giới có thể bài trí bể cá (trong đó có 1 con cá màu đen, 2 con màu trắng), bình hoa tươi, bình được đổ đầy nước. Nam giới đặt bể cá gồm 2 con màu trắng, tượng Cóc vàng, trúc phú quý. Tất cả những vật phẩm phong thủy này sẽ giúp trí tuệ minh mẫn, thúc đẩy tài năng nở rộ.   - Bản mệnh Tý thiếu Hỏa: Ý chỉ người tuổi Tý sinh trong khoảng từ 11/8 đến 18/2. Trên bàn làm việc có thể bài trí biểu tượng long quy. Với nữ giới có thể đặt thêm bình hoa tươi có cắm 3 bông hoa hồng màu đỏ. Nam giới đặt quả cầu thủy tinh mà đỏ. Vị trí ngồi tọa Nam hướng Bắc là tốt nhất.
Ngân Hà

18 cấm kị phong thủy về nữ giới không thể không tin
Cửa sổ phòng khách đối diện cửa ra vào, hoặc các cửa trong nhà đối nhau, sức khỏe giảm sút, tình duyên trục trặc; Giày dép trong tủ giày hướng mũi ra ngoài

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bài trí phong thủy văn phòng cho người tuổi Tý dễ phát tài

Các lễ hội ngày 18 tháng 1 Âm Lịch - Hội Côn Sơn

Các lễ hội tiêu biểu diễn ra trong ngày 18 tháng 1 âm lịch: Hội Côn Sơn, Hội Làng Huỳnh Cung,Hội Ninh Hiệp,các lễ hội tháng giêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 18 tháng 1 Âm Lịch - Hội Côn Sơn

Các lễ hội ngày 18 tháng 1 Âm Lịch - Hội Côn Sơn

1.Hội Ninh Hiệp

Thời gian: tỗ chức vào ngày 18 tháng 1 âm lịch.

Địa điểm: làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Nhằm tôn vinh tổ sư nghề thuốc nam là bà Lý Nhũ Thái Lão.

Nội dung: Lễ hội diễn ra các hoạt động dâng hương để tạ ơn Tổ sư. Đặc biệt, khi mọi người đến hội là để làm lễ và xin thuốc.

2.Hội Làng Huỳnh Cung

Thời gian: tổ chức từ ngày 18 tới ngày 21 tháng 1 âm lịch.

Địa điểm: Đình Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Nhằm suy tôn Uy Mang và Hồng Bác (là hai con của vua Hùng đời thứ 17), Đức thánh hiền Chu Văn An.

Nội dung: Ngày khai hội, sẽ có một đội ngũ người làng chọn lựa vào bao sái (lau tượng) tượng và đồ lễ trong đình trong trang phục quần áo tế lễ cổ truyền để tế lễ.

Ngày 20 tháng 1 là ngày hội chính, diễn ra lễ rước kiệu được tổ chức hoành tráng. Mở đầu là đoàn múa sư tử của các võ sinh trong làng, tiếp theo là ảnh Bác Hồ của các cháu thiếu nhi... Ngoài ra, trong lễ hội còn diễn ra các trò chơi như: đá gà, đánh cờ, bóng đá, hội diễn văn nghệ truyền thống...

Ngày cuối của hội, từ sáng sớm diễn ra lễ tạ tại đình làng và dã hội.

3. Hội Côn Sơn

Thời gian: Tổ chức hội xuân từ ngày 18 tới ngày 22 tháng 1 âm lịch; hội thu bắt đầu từ ngày 15 tới ngày 20 tháng 8 âm lịch.

Địa điểm: xã Cộng Hòa, huyện Linh Chi, tỉnh Hải Dương.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Nguyễn Trãi (nhà quân sự, chính trị thiên tài và là một nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam ở thế kỉ 15), sư Huyền Quang (một trong ba vị sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm).

Nội Dung: Côn Sơn một năm có hai mùa hội. Hội mùa xuân bắt đầu từ kỉ niệm ngày mất của Trúc Lâm đễ tam tổ Huyền Quang (ngày 22 tháng 1). Hội mùa thu bắt đầu từ kỉ niệm ngày mất của Nguyễn Trãi (ngày 16 tháng 8).

Hội xuân, các cụ bà đến đây tụng kinh niệm Phật, nam nữ thanh niên leo núi du xuân. Buổi tối thì có các trò chơi dân gian.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 18 tháng 1 Âm Lịch - Hội Côn Sơn

Bố cục căn nhà tọa Khôn hướng Cấn và tọa Thân hướng Dần –

Bố cục căn nhà toạ Khôn hướng Cấn và toạ Thân hướng Dần: Đây là bố cục tài tinh đến núi, tài vận không tốt. Cửa chính mở tại hướng Tây đại thái cực, tuy gặp cát tinh Thiên Y nhưng tài vận không vượng cho nên không giúp đỡ được gì cho tài vận. Tài

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bố cục căn nhà toạ Khôn hướng Cấn và toạ Thân hướng Dần: Đây là bố cục tài tinh đến núi, tài vận không tốt. Cửa chính mở tại hướng Tây đại thái cực, tuy gặp cát tinh Thiên Y nhưng tài vận không vượng cho nên không giúp đỡ được gì cho tài vận.

p45

Tài vận: Trên bệ cửa sổ của căn phòng hướng Đông đặt tỳ hưu, đồng tiền ngũ đế có thể cải thiện được tài vận.

Sức khỏe nhân đinh: Đinh thần vị của hướng Nam thuộc nhà bếp nên đặt bếp. Đồng thời hướng Nam tiểu thái cực của phòng khách đặt nồi cơm điện có thể tăng cường vận sức khoẻ và gia nhân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bố cục căn nhà tọa Khôn hướng Cấn và tọa Thân hướng Dần –

Ngày sinh nói lên những công việc phù hợp với bạn, chuẩn không cần chỉnh

Em thấy cũng thú vị ạ. Mọi người xem qua cho biết. Nếu biết hợp với nghề gì thì biết đâu thành công hơn, làm việc tốt hơn. Mà dù sao cũng mang tính tham khảo nhé, mọi người chú ý.
Ngày sinh nói lên những công việc phù hợp với bạn, chuẩn không cần chỉnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày mồng 1: Bạn logic và độc lập. Bạn phù hợp với những công việc tự làm chủ vì bạn không thích làm theo lệnh của người khác.

Ngày mồng 2: Bạn là một người nhẹ nhàng và biết quan tâm người khác mặc dù bạn sống cảm xúc và hay lo lắng. Công việc tốt nhất dành cho bạn là những nghề nghiệp làm việc theo nhóm.

Ngày mồng 3: Bạn thân thiện và ấn tượng, rất được lòng mọi người xung quanh. Bạn phù hợp với những nghề tiếp xúc với nhiều người.

Ngày mồng 4: Bạn chăm chỉ, trung thành và thực tế. Bạn thích hợp với làm kinh doanh.

Ngày mồng 5: Thông minh, dí dỏm và đa tài chính là con người bạn. Bất cứ công việc nào liên quan tới du lịch và sự đa dạng đều phù hợp với bạn.

Ngày mồng 6: Bạn là một người cầu toàn và luôn tin rằng tình yêu có thể chinh phục tất cả. Những người này thích được chăm sóc người khác, cho nên những nghề liên quan tới giáo dục, y tế, nhà tù hay làm cha mẹ sẽ phù hợp với bạn nhất.


Ngày mồng 7: Hiếu học và nghiêm túc. Rất khó để có thể hiểu những người này vì họ không dễ dàng chia sẻ cảm xúc của mình. Họ phù hợp nhất với những công việc liên quan tới khoa học.

Ngày mồng 8: Bạn khôn ngoan nhưng không ích kỷ. Bạn thường gặp may mắn về tiền bạc và thích hợp nhất với công việc kinh doanh.

Ngày mồng 9: Bạn rất thông minh và hào phóng. Bạn nên kết hôn sớm và có thể làm hầu hết các công việc.

Ngày mồng 10: Bạn nên làm nhiều hơn một thứ cùng một lúc vì bạn là người rất dễ chán. Bạn có thể dễ dàng leo lên đỉnh cao của bất cứ nghề nghiệp nào.

Ngày 11: Bạn có lý tưởng, rất thông minh, là người có trực giác tốt. Bạn sẽ thoải mái khi được làm việc trong các ngành khoa học duy tâm.

Ngày 12: Bạn sáng tạo, có trí tưởng tượng tốt và hòa đồng. Bạn xuất sắc trong ngành thiết kế hoặc ngành luật.

Ngày 13: Bạn thực tế, có kỷ luật và có thể là một nhà quản lý xuất sắc.

Ngày 14: Bạn ưa mạo hiểm và sáng tạo. Bạn sẽ là một nhà phê bình xuất sắc.

Ngày 15: Bạn tư duy độc đáo, hấp dẫn và tham vọng. Bạn có thể phù hợp với công việc trong các cơ quanchính quyền địa phương hoặc một số dự án cộng đồng.

Ngày 16: Có vẻ bạn là một kẻ lười biếng và luôn hành động theo cảm tính. Bạn cũng là một người sắc sảo. Bạn cần làm những công việc luôn có người khác ở xung quanh mình.

Ngày 17: Bạn bảo thủ, thích làm theo kiểu của mình và bị thu hút bởi quá khứ. Bạn sẽ là một giáo viên lịch sử giỏi hoặc phù hợp với những nghề viết lách.

Ngày 18: Gần như bạn lúc nào cũng có hơn 1 nghề nghiệp.

Ngày 19: Bạn thích hợp với những công việc mà bạn có thể làm mọi thứ theo cách của mình.

Ngày 20: Bạn là người hay buồn bã, không thích ở một mình. Công việc thích hợp nhất với bạn là làm cho một công ty nhỏ – nơi mà bạn có cảm giác như là gia đình mình.

Ngày 21: Bạn sinh ra đã may mắn và là một người thú vị. Công việc lý tưởng của bạn là bán hàng.

Ngày 22: Bạn là người mơ mộng, hay lo lắng, có xu hướng tâm linh. Bạn nên làm những công việc mang lại lợi ích cho người khác.

Ngày 23: Bạn là người nhạy cảm và thích hợp với những công việc liên quan tới hóa học và vật lý.

Ngày 24: Bạn chủ động, bướng bỉnh, thích tranh cãi và thích hợp với những công việc mang lại niềm vui cho mọi người.

Ngày 25: Bạn có trực quan tốt, khôn ngoan và kiên nhẫn. Công việc tốt nhất cho bạn liên quan tới lĩnh vực khoa học duy tâm.

Ngày 26: Bạn có cách tiếp cận cuộc sống tràn đầy năng lượng. Bạn là người có khả năng tổ chức xuất sắc và sẽ làm việc tốt nhất trong lĩnh vực kinh doanh.

Ngày 27: Bạn có khả năng lãnh đạo nhưng tính khí thất thường. Bạn có niềm đam mê với du lịch và vận tải nên bạn sẽ làm tốt trong lĩnh vực này.

Ngày 28: Có nhiều triệu phú sinh ra vào ngày này. Ý chí mạnh mẽ và độc lập. Bạn làm việc tốt nhất khi có một cộng sự trong bất cứ công việc nào mà bạn chọn.

Ngày 29: Những người sinh ngày này có khả năng trở thành một nhà ngoại cảm xuất sắc.

Ngày 30: Bạn là một người hấp dẫn và có khả năng bắt chước tài tình, nên công việc phù hợp nhất với bạn là diễn viên.

Ngày 31: Bạn kỷ luật nhưng cũng có khả năng thích ứng nhanh. Bạn thường rất nhớ những người tốt với bạn và những người không tốt với bạn để đáp trả lại khi có cơ hội. Bạn sẽ rất hợp trở thành một hiệu trưởng giỏi.

Theo: Langnhincuocsong


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngày sinh nói lên những công việc phù hợp với bạn, chuẩn không cần chỉnh

Bảy yếu tố của phong thủy

Các bậc hiền triết xưa nghiên cứu phong thủy, đã từng nêu ra khái niệm “Trường huyền không tạo hóa”, có thể thấy phong thủy học kết giao giữa những sự vật nhìn không thấy, sờ không tới.
Bảy yếu tố của phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các bậc hiền triết xưa nghiên cứu phong thủy, đã từng nêu ra khái niệm “Trường huyền không tạo hóa”, có thể thấy phong thủy học kết giao giữa những sự vật nhìn không thấy, sờ không tới. Thế nhưng , những kết quả tốt và xấu do chúng tạo ra thì ai cũng có thể nhìn thấy.Đó chính là nguyên nhân sâu xa vốn có đầy mầu sắc thần bí của môn phong thủy.

     Vậy thì, phong thủy học luôn luôn làm bạn với những cái gì?

Quy gọn lại thì có 7 yếu tố:

           1: Khí, 2: dòng khí,3:Quang,4: Thủy,5: Phương vị, 6: Trường hạt cực nhỏ, 7: Trường thân thể.

-      Khí, loại khí này không đồng nghĩa với khí của không khí.Những năm gần đây, kết quả nghiên cứu của những nhà thiên văn học bức xạ chỉ ra rằng nó thuộc vào bức xạ vi ba ở trong bối cảnh vũ trụ vào thời kỳ vũ trụ mới hình thành , nó cũng bao gồm cả bức xạ điện từ của các thiên thể. Đó là nội dung cơ bản nhất nhưng lại thần bí nhất của phong thủy học, trước đây đó là những lĩnh vực còn bỏ trống, ngày nay khoa học đã vén lên tấm màn bí mật của phong thủy.

-      Khí, là không khí, dưỡng khí, dòng khí.Không khí chuyển động thì tạo thành gió.”Khí gặp gió thì tan”, gió ở đây chỉ gió mạnh, gió nóng , gió to, gió lạnh, Trung y gọi là tà phong.Cái gọi là” Gió là môi giới để tống khí” chỗ này muốn chỉ gió nhẹ, gió dịu, gió ấm.

Vì vậy, phong thủy học nhấn mạnh cần phải tránh xa gió mạnh, tìm đến gió nhẹ.

-       Quang, chủ yếu là ánh sáng mặt trời. Kì thực, bản chất ánh sáng là sóng điện từ mà ánh sáng chỉ là một bộ phận rất nhỏ, sóng điện từ mắt thường trông thấy được ( quen gọi là ánh sáng bảy sắc).Vì ánh sáng có hai tính chất quan trọng: sóng và hạt, cho nên ánh sáng cũng là từng hạt cực nhỏ.

-      Thủy, định luật phong thủy là” Sơn hoàn thủy bão tất hữu khí”, vì cớ gì mà với thủy bão thì tất hữu khí? Vốn là nước rất rễ hấp thu sóng vi ba. Đó là duyên cớ để “khi” gặp thủy thì dừng, nước hấp thụ khí của vũ trụ.

-      Phương vị, tức là 8 phương, 4 chính, 4 ngung của Dịch Kinh bát quái. Về thực chất, đó là thuộc tính và sự mạnh yếu của trường năng lượng không gian của vũ trụ và hệ mặt trời, nó cũng bao gồm cả phương hướng và sự lớn, nhỏ của địa từ trường, gọi chung là “hiệu ứng trường xoắn vũ trụ”.

-      Trường hạt nhẹ cực nhỏ , năm 1988 những nhà khoa học của Liên xô cũ đã phát hiện xung quanh vật thể  có một trường hạt nhẹ cực nhỏ, mỗi con người ta cũng đều có trường hạt này của riêng mình. Nó là bộ phận hợp thành hữu cơ của quả đất, và còn tiếp xúc qua lại và tác động lẫn nhau với trường hạt nhẹ cực nhó của các vật thể khác nhau như công trình kiến trúc ( nhà ở, lầu làm việc, hàng quán), phương tiện giao thông.

Trường hạt này của người hoặc vật thể trong trạng thái được kích thích, có thể trở thành chất truyền tải thông tin, chỉ trong chớp mắt có thể truyền phát tin tức ấy ra ngoài nghìn dặm. Đây cũng là nguyên nhân tại sao có người khi gặp điều bất hạnh, tuy ở xa người thân thuộc hàng nghìn dặm, lại cùng lúc có thể cũng có dự cảm về điều này.

Có người cho rằng, điều đó rất có khả năng là nguyên nhân khiến thầy phong thủy hỉ nhìn khí của phần mộ, thường lại có thể nói ra được sự hưng thịnh suy vong của đời sau.

-      Trường năng lượng nhân thể là sực phát hiện trải qua phấn đấu gần 100 năm của 8 nhà khoa học trên thế giới, nguồn gốc sự tìm tòi này, là sự say mê được khơi dậy lên từ vùng hào quang trên đầu phạt tổ và Chúa Giêsu trong truyền thuyết . Trường năng lượng nhân thể là thứ giống như làn sương mỏng manh chẳng khác gì cái túi lưới ba chiều (lập thể) bao bọc bốn xung quanh cơ thể con người. Nó có quan hệ đến tình trạng sức khỏe của cơ thể, hơn nữa còn chịu ảnh hưởng từ trạng thái tình cảm của con người.Trong trường năng lượng nhân thể có rất nhiều “ Tiêu điểm tích tụ điện từ”, hoàn toàn ăn khớp với những huyệt vị châm cứu Trung y.

Trường năng lượng nhân thể được hợp thành bởi” bộ phận điện từ” và “bộ phận phi điện từ”bộ phận phi điện từ ở đây rất có thể bao hàm cả “trường hạt nhẹ cực nhỏ” nói trên.

    Những công trình kiến trúc sản sinh ra trường hạt nhẹ cực nhỏ vô hình,còn cơ thể con người cũng sản sinh ra trường hạt nhẹ cực nhỏ, nói mộ cách chuẩn xác, phải là trường năng lượng nhân thể toàn bộ , sống động và chịu ảnh hưởng của tư duy, của cảm xúc. Cái trước một khi đã sản sinh ra, trường của nó cố định không biến đổi, đương nhiên có phụ thuộc vào vật liệu và hình dáng của nó, còn cái sau thì thay đổi theo thể chất và cảm xúc.

    Kết quả của sự tác động tương hỗ giữa hai loại trường hạt nhẹ cực nhỏ và trường năng lượng thân thể, nếu như cùng nhất trí , cùng ăn khớp với nhau thì là điều cát, tương sinh trong phong thủy học, trái lại, nếu không nhất trí , không nhịp nhàng cân đối , chính là điều hung, tương khắc theo thuật ngữ phong thủy. Sự phát triển mới của môn khoa học vật lý vi mô này có thể khiến người ta nhận thức lại một cách khoa học là tại sao nhưng chiếc cổng của vườn hoa cây cảnh ngày xưa phần nhiều là cổng tròn hình mặt trăng.Thì ra là để cho trường hạt nhẹc cực nhỏ của cổng cùng ăn khớp với trường năng lượng nhân thể của phần đầu, phần thân người, phần này trên đại thể là hình tròn lập thể, nên con người sẽ cảm thấy thoải mái.

    Trong phần “Bản chất của khí”, chúng ta đã rút ra kết luận rằng:khí là những hạt siêu nhỏ và trường hạt siêu nhỏ, đoó là khái niệm cực kỳ vi mô.Ở đây, đưa dẫn vào trường hạt cực nhẹ và nhỏ, trường năng lượng nhân thể, là vì chúng đã được quan trắc thấy gắn bó chặt chẽ với người và vật thể.Nhưng chúng chỉ là vật tiếp cận với bản chất của khí, chứ không phỉ là vật cuối cùng.Vì thế, giữa hạt siêu nhỏ, trường hạt siêu nhỏ, trường hạt nhẹ cực nhỏ, trường năng lượng nhân thể, không hề có mâu thuẫn. Chúng tôi tạm thời gọi chung nó là “trương khí”. Theo đà phát triển không ngừng của nghiên cứu khoa học, việc xây dựng nên”trường thống nhất”(sự tác động lẫn nhau mạnh, tác động lãn nhau yếu, trường dẫn lực, trường điện từ) có khả năng sẽ gộp trường hạt nhẹ cực nhỏ và trường năng lượng nhân thể và cả đến ánh sáng mặt trời, vào trong khái niệm khí.kì thực, người xưa trên chỉnh thể, đã nhìn nhận cả loạt năng lượng không nhìn thấy, sờ không được này. Nhưng những môn học của khoa học hiện đại được chia ra rất tỷ mỉ, mục đích là để tiện cho việc nghiên cứu chiều sâu. Căn cứ vào sự phân loại của thành quả nghiên cứu khoa học hiện đại thì chia những yếu tố nghiên cứu của phong thủy thành 7 loại. Rồi một ngày nào đó, tất nhiên sẽ” phân lâu tất hợp”.

                       Có lẽ đến lúc ấy, sẽ có những nhận thức mới hơn về khí.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảy yếu tố của phong thủy

Xem nhân duyên tiền định cho nam giới: Tuổi Giáp, Ất

Hôn nhân hạnh phúc là điều ai cũng đều mong muốn. Cùng xem nhân duyên tiền định cho nam giới sinh năm Giáp, Ất khi ghép đôi với 12 con giáp như thế nào nhé.
Xem nhân duyên tiền định cho nam giới: Tuổi Giáp, Ất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Có lẽ trước giờ chúng ta đã quen với việc xem tuổi nào hợp với tuổi nào trong tình yêu hôn nhân. Đó là cách xem nhân duyên theo địa chi 12 con giáp. Song còn có một cách nữa mà cổ nhân thường dùng để chọn vợ cho nam giới, đó là xem tuổi hợp duyên theo thiên can.
  Khi dựng vợ gả chồng, ngoài tuổi của nữ giới thì còn phải xem cả tuổi nam giới. Chính vì vậy, người xưa đã quy cách hóa cho 10 tuổi Can theo năm sinh, nhằm mục đích xem nhân duyên tiền định cho nam giới. Với cách này, nữ giới cũng có thể tự suy ra người chồng tương lai của mình nên là tuổi Can nào để có hôn nhân hạnh phúc bền lâu.


nhan duyen tien dinh cho nam gioi
 
  Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ chia sẻ với các bạn cách để xem nhân duyên tiền định cho nam giới sinh năm Giáp, Ất. Hy vọng những thông tin bổ ích dưới đây có thể giúp các bạn phần nào trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc của mình.  

1. Trai sinh năm Giáp

  Nam giới sinh năm Giáp gồm có các tuổi Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân.  

Lấy vợ tuổi Tý

  Theo tử vi, trai tuổi Giáp mà kết đôi với gái tuổi Tý thì sẽ có mối nhân duyên tốt đẹp, hạnh phúc trọn vẹn, bền vững lâu dài. Tuy nhiên một trong hai người nên tránh làm nghề tư pháp, nếu không con cháu dễ gặp tai họa khó lường.  

Lấy vợ tuổi Sửu, tuổi Dần

  Sự kết hợp giữa nam giới tuổi Giáp với nữ giới tuổi Sửu, tuổi Dần dễ khiến cho cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn, bất hạnh. Khó khăn về đường con cái, con sinh ra dễ ốm đau bệnh tật, lớn lên cũng kém phần hiếu thuận với mẹ cha, đường học hành thi cử không được thuận lợi, sự nghiệp cũng bấp bênh, không được hanh thông.

Bạn đã biết 15 lỗi phong thủy cản trở nhân duyên thường gặp là gì hay chưa?
 

Lấy vợ tuổi Mão

  Trai sinh năm Giáp mà lấy vợ thuộc con giáp này thì khó có được hạnh phúc như ý muốn, hôn nhân kém phần hòa hợp, hai vợ chồng dễ lâm vào cảnh ly biệt, không được sống bên nhau lâu dài.


nhan duyen tien dinh tuoi giap
 
 

Lấy vợ tuổi Ngọ

  Nói chung hôn nhân giữa nữ giới tuổi Ngọ với nam tuổi Giáp không được hòa hợp. Ban đầu khi mới kết hôn, có thể vận trình tài lộc sẽ tăng tiến không ngừng nhưng dần dà dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố mà suy yếu dần.  

Lấy vợ tuổi Mùi, tuổi Thân

  Trai tuổi Giáp và gái tuổi Mùi, tuổi Thân mà lấy nhau thì khắc nhiều hơn là hợp, người nam sẽ bị suy giảm vận trình, như rồng không gặp nước thì khó bề thăng hoa tăng tiến. Nếu có công danh thì cũng không được bền lâu, nhanh chóng bị thoái vận.  

Lấy vợ tuổi Dậu, tuổi Tuất

  Đây là tuổi đẹp để nên duyên đôi lứa với nam giới sinh năm Giáp. Hai người sẽ có mối duyên lành, hạnh phúc ân ái bên nhau, con cái hiếu thảo, thông minh lễ nghĩa, vừa có tài lại vừa có lộc.  

Lấy vợ tuổi Hợi

  Nếu kết đôi với cô nàng tuổi Hợi thì nam giới sinh năm này sẽ có được gia đình hạnh phúc mĩ mãn, nhưng bạn sẽ phải hy sinh phần nào đường công danh sự nghiệp của mình, trước tốt đẹp nhưng càng về sau vận trình càng suy giảm.  

2. Trai sinh năm Ất

  Nam giới sinh năm Ất gồm các tuổi sau: Ất Mão, Ất Tị, Ất Mùi, Ất Dậu, Ất Hợi. Vậy nhân duyên tiền định cho nam giới tuổi Ất với các tuổi khác như thế nào, mời các bạn theo dõi nội dung sau.  

Lấy vợ tuổi Tý

  Hai vợ chồng mà vợ tuổi Tý, chồng tuổi Ất thì hạnh phúc mĩ mãn, công danh sự nghiệp dễ thành, con cháu sau này thành danh khá giả. Có điều hai vợ chồng không được nhiều tài lộc mà phải tích cóp dần dần.  

Lấy vợ tuổi Sửu, tuổi Dần

  Trai tuổi Ất mà lấy vợ thuộc hai con giáp này thì hôn nhân cực kì hòa hợp, công danh sự nghiệp thăng tiến ầm ầm, song về sau gặp chút rắc rối khó khăn. Con cái trưởng thành, song có đứa kinh tế dư dả, có đứa lại chỉ bình thường.  

Lấy vợ tuổi Mão

  Cô nàng tuổi Mão nếu kết đôi với nam giới sinh năm Ất thì giai đoạn đầu hai vợ chồng làm ăn rất phát đạt, nhưng về sau lại gặp khó khăn, kinh tế bình thường, không quá dư dả. 

Có thể bạn quan tâm: Dấu hiệu nào cho thấy nhân duyên trời định từ kiếp trước.


nhan duyen tien dinh tuoi At
 
 

Lấy vợ tuổi Thìn, tuổi Tị

  Hai vợ chồng sống bên nhau hòa thuận, hạnh phúc, con cái thông minh đỗ đạt. Vợ chồng có phúc hưởng lộc tuổi già.  

Lấy vợ tuổi Ngọ

  Nếu đã ngoài 20 tuổi thì nam giới sinh năm Ngọ lấy vợ thuộc con giáp này sẽ có cuộc sống ổn định, kinh tế khá giả, làm ăn kinh doanh phát đạt. Song nếu kết hôn sớm khi chưa đầy 20 tuổi thì sẽ gặp nhiều ngang trái, ban đầu mọi sự thuận buồm xuôi gió, vợ chồng hạnh phúc ân ái nhưng chẳng được dài lâu, về sau sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn và vấn đề.  

Lấy vợ tuổi Mùi

  Trai tuổi Ất lấy gái tuổi Mùi, vợ chồng tâm đầu ý hợp, phú quý đầy nhà, con cháu đỗ đạt hiển vinh, dâu hiền rể thảo.  

Lấy vợ tuổi Thân

  Vợ chồng lấy nhau thì cuộc sống sung túc, làm ăn xuôi chèo mát mái, song về sau dễ gặp vấn đề, nhân duyên mỏng manh khó bền lâu.  

Lấy vợ tuổi Dậu

  Nên duyên vợ chồng với cô gái tuổi Dậu, ban đầu người nam mà hiển vinh, kinh tế vững vàng, công danh rộng mở thì càng về sau càng nảy sinh nhiều vấn đề. Còn nếu kết hôn còn nghèo khó thì sau lại thảnh thơi, tiền bạc dư dả.   

Lấy vợ tuổi Tuất, tuổi Hợi

  Cuộc sống gia đình khá bình an. Khi còn trẻ mà gian nan vất vả thì sau này sẽ được hưởng phú quý. Nếu theo nghiệp học hành thì một trong hai người sẽ thi đỗ rất cao. Tuy nhiên trong cuộc sống sẽ có vài sự cố, cần cẩn trọng đề phòng.   Thiên Thiên

Xem bói tình duyên 12 con giáp: Tuổi Dần, tuổi Mão Xem cung mệnh vợ chồng, quan trọng không kém gì xem tuổi Nam nữ tuổi xung khắc có nên kết hôn với nhau hay không?
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem nhân duyên tiền định cho nam giới: Tuổi Giáp, Ất
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd