Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Sao Thiên Lương

Một bài viết sưu tầm về sao Thiên Lương. Mời bạn đọc tham khảo nghiên cứu.
Sao Thiên Lương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiên lương tổng luận

Thiên lương là sao thứ hai của Nam Đẩu, ngũ hành thuộc dương Thổ.

Trong Đẩu Số, Thiên Lương được ở vị trí “giám sát ngự sử”. Cổ nhân nói “Thanh danh vinh hiển ở vương thất, chức vị đến phong ninh” (Hiển thanh danh vu vương thất, chức vị lâm vu phong ninh). Thời xưa, quan phong ninh có nhiệm vụ là “nghe chuyện mà tấu vua” (văn phong tấu sự), can gián hoàng đế, đàn hạch đại thần, tuy không chủ quản về hình pháp, nhưng trong thực tế thì có ý vị của hình pháp, kỷ luật, nguyên tắc.

Thiên lương tuy được gọi là “ấm tinh” (sao che chở), nhưng về bản chất lại có tính “cô kị”. Thích hành động một mình, tính tình mạnh mẽ, tính nguyên tắc rất mạnh, đây là tính cách thuộc phương diện “cô kị”. Ở phương diện khác, thì căn cứ vào những nguyên tắc mà bản thân mình đã định hình, để giải quyết bất hòa, tranh chấp, phân xử thị phi, do vậy thường bị cuốn vào vòng nan giải khó khăn, kéo theo sự bất toàn của bản thân. Chính vì vậy, phàm người có Thiên lương thủ mệnh, rất nên theo ngành y dược, bảo hiểm, công tác xã hội,… tức những nghề liên quan đến “che chở” (ấm tinh).

Thiên lương không ưa Hóa Lộc, hoặc có Lộc tồn đồng độ, nếu không, sẽ vì tiền bạc mà bị đố kị, dẫn tới xảy ra thị phi; hoặc tiền bạc của Thiên lương thuần túy nhờ vào việc hóa giải khó khăn của người khác mà có, vì vậy Thiên lương thích hợp với những nghề có sắc thái giải nạn cho người, cởi bỏ khúc mắc cho người, xóa tan phiền toái cho người. Cùng là Thiên lương Hóa Lộc, đối với bác sỹ thầy thuốc, thì Thiên lương là sao hóa Cát, còn đối với thương nhân, thì Thiên lương là sao hóa Hung, bởi vì xóa tan phiền toái cho bệnh nhân là chức trách của bác sỹ và thầy thuốc; còn đối với thương nhân thì phải trải qua khó khăn mới kiếm được tiền.

Nhưng bất kể như thế nào, Thiên lương mà có sao Lộc, tất sẽ khơi động một tính chất mạnh mẽ nào đó thuộc về bản chất của nó. Ví như hệ “Thiên lương Thiên đồng” vốn chủ về mệnh tạo có phong cách đặc biệt, nhưng gặp sao Lộc thì trở thành “buông xuôi theo dòng nước”.

Lúc luận giải và luận đoán về sao Thiên lương, cần quan sát hai phương diện sau:

1- Các sao hội hợp có sảnh hưởng như thế nào đối với tính “cô kị” của nó? Làm mạnh thêm hay làm yếu đi?

2- Tính tình của sao Thiên lương sẽ vì các sao hội hợp mà thay đổi như thế nào?

“Cơ Nguyệt Đồng Lương” là một cách nổi tiếng. Cổ nhân nói “Cơ Nguyệt Đồng Lương chủ về làm lại người” (Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân).

Nhưng khi Thiên đồng và Thiên lương đồng độ, hay Thiên cơ và Thiên lương đồng độ, Thiên lương độc tọa, Thiên đồng độc tọa, Thiên cơ và Thái âm đồng độ… thì tình hình cung mệnh của cách “Cơ Nguyệt Đồng Lương” trên thực tế vẫn có sự phân biệt. Mói một cách khái quát, lấy Thiên lương độc tọa thủ mệnh là cách tốt, bởi vì so với các trường hợp khác, thì nó ít có tâm kế thủ đoạn hơn.

Nhưng bất kể như thế nào, trong tổ hợp “Cơ Nguyệt Đồng Lương”, đối với Thiên lương ắt có tính “cô kị”, gặp tứ sát Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, thì tính “cô kị” càng nặng, cần phải có Văn xương, Văn khúc hội hợp, mới có thể điều hòa. Nếu Thiên lương đi với các sao Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, có thêm Hóa Kị, thì tai nạn càng thêm nặng.

Cổ nhân nói “Thiên lương, Thiên đồng, Thiên cơ, Thái âm” ở Dần hoặc ở Thân, chủ về cuộc đời lợi về nghề nghiệp, thông minh” (Lương Đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị, nhất sinh lợi nghiệp thông minh), nói “lợi nghiệp thông minh”, nhưng tính “cô kị” vẫn là chuyện tất nhiên.

Ngoại trừ tứ sát ra, Thiên lương còn không ưa gặp Thiên mã, Địa không, Địa kiếp.

Thiên lương vốn có sắc thái hành động một mình, gặp Thiên mã sẽ biến thành “ngựa không cương”, dụng ý ngựa không có chủ là ngựa đi hoang, chủ về phóng đãng. Cổ nhân nói “Thiên lương Thiên mã ở hãm địa, chủ về trôi dạt, không còn nghi gì” (Thiên lương Thiên mã hãm, phiêu đãng vô nghi).

Phàm Địa không hay Địa kiếp ở cung Mệnh, vốn đã có sắc thái cuồng ngạo, không kềm chế, lạnh nhạt không chịu hòa hợp với người khác, lý tưởng chủ nghĩa xuông. Nếu Thiên lương đồng độ với một trong hai sát tinh này, thì tư tưởng của mệnh tạo càng trở nên khó hiểu.

Truyền thừa khẩu quyết của phái Trung Châu là “Thiên lương gặp Địa không hoặc Địa kiếp, chủ về người này là Nguyển Tịch, Kê Khang” (Thiên lương Không Kiếp, kỳ nhân Nguyễn Tịch, Kê Khang). Nguyễn Tịch, Kê Khang là danh sỹ đời Tấn trong nhóm “Trúc lâm thất hiền”, uống riệu như dùng thuốc, lại có nhiều lời bình luận về thế sự, chính vì những lời bình luận này mà bị giết.

Thiên lương đồng độ cùng với Thiên hình, làm mạnh thêm tính nguyên tắc của Thiên lương, có thể biến thành lòng dạ như sắt thép, nên nói gặp người Thiên lương không dễ thỏa hiệp. Nếu lại gặp Kình dương, thì tính càng thêm “cô độc”. Khẩu quyết của phái Trung Châu là “Thiên lương gặp Thiên hình, người này giống như Bao Chửng mặt sắt” (Thiên lương Thiên hình, kỳ nhân thiết diện Bao Chửng), truyền thừa này ví với “thiết diện vô tư” Bao Chửng đời Tống, con người không sợ quyền quý, rất sùng thượng pháp trị. Trường hợp ở Ngọ Mùi thì càng nặng.

Thiên lương là “hình tinh”, cho nên không thích đồng độ với Kình dương, Thiên hình, ba sao đều là “hình tinh”, bất luận ở một cung nào trong 12 cung, đều chủ về bất lợi, không bị bệnh thì cũng bị ngoại thương, hoặc thị phi kiện tụng.

Lúc “Thái dương Thiên lương” đồng độ, lại có Văn xương, Lộc tồn hội hợp, là cách nổi tiếng “Dương Lương Xương Khúc”. Cổ nhân nói “Dương Lương Xương Khúc, tên truyền đứng đầu” (Dương Lương Xương Khúc, lư truyền đệ nhất danh), đây là kết cấu tinh hệ có lợi về thi cử, cấu tạo này chủ yếu là vì Thái dương hóa giải tính “cô” của Thiên lương, hơn nữa tính nguyên tắc khô cứng của Thiên lương được nhuyễn hóa thành tính nguyên tắc trong học thuật. Vì vậy, ở xã hội hiện đại, cách “Dương Lương Xương Khúc” trở thành tinh hệ có lợi trong việc nghiên cứu học thuật. Nghiên cứu học thuật chú trọng việc “tự học”, tức là bản thân phải không ngừng phủ định mình, thì học thuật mới tiến bộ, cho nên không sợ các Sát tinh, Hình tinh đồng độ. Nhưng, khi nhìn từ góc độ tranh chấp có thuận lợi hay không thuận lợi, thì gặp các sao Sát Hình là không nên.

Thông thường, Thiên lương bất lợi khi gặp Sát tinh, cổ nhân nói “nếu tứ sát xung phá thì mạ không trổ đẹp” (Nhược tứ sát xung phá tắc miêu nhi bất tú), “Thiên lương ở hãm địa gặp Kình dương Đà la, thương phong bại tục” (Thiên lương hãm địa kiến Dương Đà, thương phong bại tục), “Thiên lương ở hãm địa gặp Hỏa tinh Kình dương là phá cục, chủ về thấp hèn, cô quả, chết yểu” (Thiên lương hãm địa ngộ Hỏa Dương phá cục, hạ tiện cô quả yểu triết).

Thiên lương ưa gặp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, cổ nhân gọi là “Có thêm Văn xương, Văn khúc, Tả phụ, Hữu bật hội hợp, là quan lớn cả văn lẫn võ” (Xương Khúc Tả Hữu gia hội, xuất tướng nhập tướng).

Thiên lương phân bố trong 12 cung, sẽ đồng độ hoặc đối diện với ba sao Thiên đồng, Thái dương, Thiên cơ, nên có mối quan hệ rất mật thiết.

- Ở Tý hoặc ở Ngọ, Thiên lương đối diện với Thái dương; Ở Mão hoặc ở Dậu, Thiên lương và Thái dương đồng độ. Cho nên, bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu, là tổ hợp “Thiên lương – Thái dương”.

- Ở Sửu hoặc ở Mùi, Thiên lương đối diện với Thiên cơ; ở Thìn hoặc ở Tuất, Thiên lương đồng độ với Thiên cơ. Cho nên bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi là tổ hợp “Thiên lương – Thiên cơ”.

- Ở Tị hoặc ở Hợi, Thiên lương đối diện với Thiên đồng; ở Dần hoặc ở Thân, Thiên lương đồng độ với Thiên đồng. Cho nên bốn cung Dần Thân Tị Hợi là tổ hợp “Thiên lương – Thiên đồng”.

Thông thường, trường hợp Thiên lương độc tọa ở Sửu hoặc ở Ngọ dễ cấu tạo thành cách cục tốt, khi Thiên lương độc tọa ở Tị hoặc ở Hợi thì cấu tạo dễ thành phá cách.

Thiên lương tọa mệnh, chủ về sống cô lập

Các chính diệu có quan hệ mật thiết với Thiên lương là Thái dương, Thiên đồng, Thiên cơ. Tình hình cụ thể như sau:

- Thiên lương độc tọa ở Tý hoặc ở Ngọ, đối nhau với Thái dương.

- Thiên lương độc tọa ở Sửu hoặc ở Mùi, đối nhau với Thiên cơ.

- Thiên lương đồng độ với Thiên đồng ở Dần hoặc ở Thân.

- Thiên lương đồng độ với Thái dương ở Mão hoặc ở Dậu.

- Thiên lương đồng độ với Thiên cơ ở Thìn hoặc ở Tuất.

- Thiên lương độc tọa ở Tị hoặc ở Hợi, đối nhau với Thiên đồng.

(Độc tọa ở 2 cung dương 4 cung âm, đồng độ ở 2 cung âm 4 cung dương)

Thiên lương và Thái dương cấu tạo thành hệ là tốt nhất, bởi vì Thiên lương vốn đã có tính “cô độc và hình khắc” được Thái dương hóa giải. Do đó có thể biết nên nhập miếu hoặc thừa vượng, ví dụ Thái dương ở Ngọ hay ở Mão, ánh sáng và nhiệt đều thịnh hơn ở Tý hay ở Dậu, vì vậy Thiên lương nên ở Tý để được Thái dương ở Ngọ đối chiếu, trường hợp Thiên lương ở Ngọ được Thái dương ở Tý vây chiếu sẽ không tốt bằng. Tương tự, hệ “Thái dương Thiên lương” ở Mão sẽ tốt hơn ở Dậu.

Khi Thiên lương và Thái dương cấu thành tinh hệ, thường hình thành cách “Dương Lương Xương Khúc”, tức có thêm Văn xương và Lộc tồn hội hợp. Mệnh cách này rất lợi về tham gia thì cử, nhất là các cuộc thi tuyển quốc gia, vì vậy người có cách này dễ thành chuyên viên nghiên cứu học thuật. Dù không gặp Văn xương và Lộc tồn, hệ Thái dương Thiên lương” vẫn có lợi về nghiên cứu học thuật, bởi vì làm việc trong chính giới, mức độ phong ba quá lớn, còn làm theo hướng công thương nghiệp thì cũng ba chìm bảy nổi.

Hệ Thiên cơ và Thiên lương, cổ nhân cho rằng “là người giỏi bàn luận binh pháp”, đây là do Thiên cơ có tài ăn nói, mà còn mưu trí và quyền biến, còn Thiên lương thì rất thích biểu hiện bộc lộ bản thân. Ở thời cổ đại, văn nhân có thể bàn luận binh pháp, được cho là văn võ toàn tài; nếu ở thời hiện đại, hệ “Thiên cơ Thiên lương” không nhất định là giỏi bàn luận binh pháp, mà có thể chuyển thành ba hoa, xảo ngôn, toan tính về đầu cơ cổ phiếu…

Hệ “Thiên lương Thiên đồng” dễ phát triển thành người cao ngạo, ỷ tài. Bởi vì Thiên lương ưa "bới móc soi bói", đã vậy còn rất cố chấp; còn đối với Thiên đồng thì thích hưởng thụ, hai tính chất này kết hợp nhuyễn hóa, kết quả là mệnh cách thường cảm thấy bất mãn với xã hội, chỉ muốn sống an nhàn qua ngày, thường nảy sinh ý nghĩ “hãy tha cho tôi đi”, bản thân không thích bôn ba mà chỉ thích ngồi “luận đạo”, nên thiếu lòng cầu tiến, hơn nữa, tâm ý thường cho rằng trong thiên hạ không có ai bằng mình. Nếu phát triển theo hướng tốt, thì mệnh cách là người có tâm tư "tinh tế sắc xảo" hoặc là người "liêm khiết chính trực", nhưng ít chịu hòa hợp với mọi người, có Thiên lương đồng cung, thì càng chủ về người sống cô lập.

Thiên lương có đặc tính “tiêu tai giải khó”?

Thiên lương là sao mà “Cổ thư” gây nhiều hiểu lầm nhất về luận đoán. Các sách cổ đều nói, Thiên lương là “thọ tinh”, hóa khí làm “ấm” (che chở), có công năng tiêu giải tai ách, che chở cho mệnh, phúc cho con cháu. Thâm chí còn nói “thanh danh vẹn toàn, hiển đạt ở vương nhất” … “nếu có thêm Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc hội hợp, thì làm quan văn lẫn quan võ …” Chủ ý toàn nói Thiên lương đem lại điềm cát tường.

Chỉ có Tuệ Tâm Trai Chủ là nói đúng chân tướng của sự tình, tiên phong khám phá đặc tính của Thiên lương. Bà nói: “Trong các sao, Thiên lương là sao có sức mạnh nhất về phùng hung hóa cát, gặp nạn thì mang lại điều lành. Bởi vì cần phải biểu hiện sức mạnh giải khó và mang lại điều lành, nên người có Thiên lương tọa mệnh bất kể ở cung vị nào, nếu không có Cát tinh hội chiếu, sẽ không tránh được phải tao ngộ cảnh khốn khó, để cho Thiên lương hóa giải”.

Sau đó, những người viết sách Đẩu Số cũng hiểu ra mà thay đổi cách nhìn về Thiên lương, không còn đồng ý toàn bộ những lời tán dương quá đáng trước kia của cổ nhân. Trong số các thuyết cổ, chỉ có thể căn cứ ca quyết “Thiên lương gặp Thái âm, chủ về nữ dâm bần”, để chỉ ra khuyết điểm của tinh hệ Thiên lương. Nhưng lại hiểu lầm ý của câu “Thiên lương Thiên đồng đối nhau ở Tị Hợi, nam thì phóng đãng, nữ thì đa dâm”, hầu như cho rằng nữ mệnh có cấu tạo này đều là người dâm đãng.

Thực ra Thiên lương không quá tệ, cũng không quá tốt, mà chỉ mang lại cho mệnh tạo khốn khó hoặc hung hiểm trước, sau đó mới hóa giải trong vô hình. Ví dụ như chịu phẫu thuật ắt sẽ không chết; hay sự nghiệp sắp lâm vào cảnh vỡ nợ, sập tiệm thì đột nhiên gặp cơ hội được phù trợ; hay đang gặp đủ thứ nạn tai, bệnh tật, kết quả một ngày nào đó mọi thứ xui xẻo đều qua khỏi … Chính vì vậy, nên người có Thiên lương tọa mệnh, khi qua tuổi trung niên, quay đầu hồi tưởng lại những chuyện trước kia, thường cảm thấy đời người là “hư ảo”, do đó tư tưởng phần nhiều có khuynh hướng tiêu cực.

Một tính chất khác của Thiên lương đó là thần bí. Người có Thiên lương tọa mệnh sẽ không tự biết khuynh hướng tín ngưỡng đối với sự vật thần bí của mình. Nếu phát triển theo hướng tích cực, thì họ sẽ thích tìm hiểu một số vấn đề, mà xã hội đương thời cho rằng rất khó thâm nhập, nhưng chỉ dừng lại ở lý luận mà thiếu thực tiễn. Nếu phát triển theo hướng xấu, thì sẽ có tính hay "soi bói, bới móc", vạch lá tìm sâu, khiến cho người ta cảm thấy khó tiếp cận.

Do đó nên nhìn nhận Thiên lương tọa mệnh là danh sỹ, đây mới là tính chất cơ bản của Thiên lương. Được gọi là “sao danh sỹ”, có phong cách danh sỹ, thực ra là chủ về thái độ sống thích nhàn tản, không thích bôn ba, chỉ muốn sống an nhàn qua ngày, thậm chí thái độ lười biếng. Biểu hiện cụ thể là thiếu lòng cầu tiến, trong xã hội hiện đại dễ biến thành kẻ chơi nhiều hơn làm, du thủ du thực, không hứng thú với nghề nghiệp.

Phân biệt tính chất tốt xấu của Thiên lương

Do tính chất của Thiên lương biến hóa đa đoan, bất kể là hệ “Thái dương Thiên lương”, Thiên cơ Thiên lương”, hay “Thiên đồng Thiên lương”, đều rất dễ có biến hóa cực đoan.

Thiên lương không nên gặp các sao có tính chất hiếu động, trôi nổi. Đây là đặc điểm thứ nhất, nên cổ nhân có thuyết “Thiên lương Thiên mã hãm địa, nhất định sẽ trôi nổi vô định”, “Thiên lương, Thái âm chủ về nữ dâm bần”, “Thiên lương ở Dậu, Thái âm ở Tị, là khách phiêu bồng”.

Thiên lương rất kị gặp Kình dương và Đà la. Đây là đặc điểm thứ hai, nên cổ nhân có thuyết “Thiên lương hãm địa gặp Kình dương Đà la, chủ về bại hoại phong tục”. Câu hỏi được nêu ra, Thiên lương đã làm những gì để phong tục bị bại hoại!

Thiên lương ưa ở cung miếu vượng, được các sao Phụ Tá đến chầu, vì vậy Thiên lương không ưa ở ba nơi Tị, Thân, Hợi, ở Dậu cũng bị chê bình thường. Nói các sao Phụ Tá, tức là chỉ Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Lộc tồn, Thiên mã, kế đến là tạp diệu Tam thai, Bát tọa, Long trì, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Thiên quan, Thiên phúc. Đây là đặc điểm thứ ba, nên cổ nhân có thuyết “Thiên lương thừa vượng nhập miếu, có Tả Hữu Xương Khúc hội hợp, chủ về làm quan văn lẫn quan võ”.

Lưu diệu của đại vận hay lưu niên, cũng có ảnh hưởng đối với Thiên lương. Thiên lương ưa gặp hai lưu diệu Thanh long và Tấu thư, gặp nó đều chủ về có chuyện vui về văn thư. Nhưng “văn thư” ở đây khác với “văn thư” của Văn xương Văn khúc. “Văn thư” của Văn xương Văn khúc, có thể chỉ là trái phiếu, chi phiếu, cổ phiếu; còn Thiên lương gặp “văn thư” của Thanh long, Tấu thư, là chỉ công văn của nhà nước hay của công ty, tập đoàn lớn. Thông thường, phần nhiều chỉ việc được thăng chức, hoặc được phong danh hàm, học hàm.

Thiên lương gặp Cát tinh thì hành động một mình, gặp Hung tinh thì tính tình cô độc, bất kể là cát hung đều có lợi về nghiên cứu học thuật. Cổ nhân nói “Thiên lương, Thiên đồng, Thiên cơ, Thái âm ở Dần Thân, chủ về một đời lợi nghiệp, thông minh”, đây là phát huy tính chất hiếu động, trôi nổi và cơ trí, lại còn thêm “cô khắc và hình kị”, nếu hậu thiên có tu dưỡng, biến tính cách hiếu động, trôi nổi thành linh động, mệnh tạo có thể trở thành nhân tài trong giới học thuật.

Thiên lương tương hội với Cát tinh, ở các cung Phu thê, Huynh đệ, Phụ mẫu, Giao hữu, sẽ thành cát, phát huy tác dụng của “ấm tinh” (sao che chở), chủ về được quý nhân nâng đỡ, trợ giúp, đề bạt. Song nếu thấy sát diệu Hóa Kị thì lại biến thành hình khắc. Lúc Thiên lương không cát lợi, tính cố chấp sẽ rất nặng, không chịu tin phục người khác, không dễ thỏa hiệp ngay cả với người thân bố mẹ, vợ con.

Thiên lương chủ về cô độc, tương hội sát diệu Hóa Kị ở cung Mệnh hoặc ở cung Phúc đức, chủ về quan hệ với người thân không lợi, nhất là không lợi cho nữ mệnh, không vô duyên với chồng thì cũng thiếu duyên phận với con cái.

Sao Thiên lương - Lục Bân Triệu

Sao Thiên lương ở trong ngũ hành thuộc dương thổ, ở trên trời, là sao thứ hai thuộc hệ thống sao Nam Đẩu, chủ về thọ, hóa làm ấm tinh (sao che trở). Sao Thiên lương bất luận ở Thân cung hay Mệnh cung, hoặc đến đại hạn hay lưu niên Thái tuế, đều chủ về có phong thái danh sỹ, tính tình tùy tiện, uể oải, lần nữa. Tuổi trẻ mà nó đến cung, gặp tai họa có thể giải hóa. Tuổi già được nó chiếu hay tọa, dù có nạn tai, bệnh tật nguy hiểm, cũng chủ về trường thọ.

Sao Thiên lương ở cung Mệnh hoặc cung Thân, đều chủ về "gặp hung hóa cát", gặp nạn mà không bị sao, do đó một đời thường gặp nhiều tai nạn hiểm nguy, hoặc tao ngộ phi thường. Sao Thiên Lương mà không gặp hung, thì sẽ không thấy đủ "sức mạnh cát hóa" (làm cho tốt lên) của nó, không gặp nạn thì sẽ không thấy đủ "công đức hóa lành" của nó. Cho nên, tinh diệu này mà lâm đến, tuy có thể hóa giải tai họa, hóa giải hung hiểm, chủ về trường thọ, sống lâu, nhưng cũng sẽ gặp nhiều tai, nhiều nạn, nhiều thị phi, nhiều bệnh tật, trường hợp sao Thiên lương đến cung Tị là ứng hợp nhiều nhất.

Người có Thiên lương ở cung Mệnh, cung Thân, hoặc cung Phúc đức, đều có khuynh hướng tín ngưỡng tôn giáo, theo Phật giáo là "có căn tu", "có thiện căn". Đồng độ với sao Thiên cơ phần nhiều đều là tăng đạo xuất thế, hoặc là người thấu hiểu cõi hồng trần. Đồng độ với sao Thái dương, hội chiếu các tinh diệu Văn xương, Văn khúc, Thiên tài, Phượng Các ở tại Mão, chủ về có kỹ năng chuyên môn, hoặc kỹ thuật xuất chúng. Bất kể về phương diện kỹ năng hay phương diện học vấn, đều có thể hơn người, hoặc lên tới đỉnh cao. Ở Dậu, tuy học có thành tựu, nhưng thanh danh vẫn kém xa ở Mão.

Sao Thiên lương ở Ngọ hay Mùi, đều chủ về tính tình dứt khoát, thẳng thắn, ưa thích chỉ ra sai lầm của người khác, tài năng quá lộ. Nếu tam phương tứ chính có tinh diệu cát tường hội chiếu, chủ về làm quan thanh liêm, làm ăn kinh doanh thành thực, xử sự ngay thẳng, tuy hay phê bình người khác, nhưng người khác cũng có thể chấp nhận được.

Nếu sao Thiên lương ở Ngọ hay Mùi, mà có sát tinh hội chiếu, hoặc đồng độ với Lộc tồn ở Ngọ, thì không nên phê bình người khác, nếu không dễ bị người khác oán kị, thiếu duyên với người, tiểu nhân bất mãn. Bởi vì, Thiên lương là ngự sử chính trực ở thanh cung, cho nên có thể khuyên can hoàng đế. Nếu có Tài tinh cùng đến, thì bản thân tài đã nhiều, nên không còn thanh cao (bởi vì người thanh cao phần nhiều là bần cùng), chỉ trích người khác, tất không thể làm người ta kính phục được. Không kính phục sẽ sinh oán hận, có oán hận sẽ có tiểu nhân "thị phi" vậy.

Sao Thiên lương ở Tý, cũng là thông minh thái quá, tài năng quá lộ, từ nhỏ đã không coi ai ra gì, kết quả là làm ơn mắc oán.

Hai sao Thiên lương và Thiên đồng ở Dần hoặc thân, có Lộc tồn hay Hóa Lộc đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về người thông minh mưu chí, lanh lợi, nhiều sự nghiệp, một đời thường kiêm phụ trách nhiều chức vụ. Không có Lộc tồn hoặc Hóa lộc, thì sự nghiệp nhiều biến động, hoặc có tính lưu động, lấy trường hợp ở Dần là nhiều nhất, ở Thân là kế đến. Ở Dần hoặc Thân, gặp Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, đều chủ về làm việc trong cơ cấu chính phủ, phát triển sự nghiệp mang tính đại chúng.

Người tự sáng lập sự nghiệp, cũng thích hợp lập công ty, tự chịu trách nhiệm với tư cách pháp nhân của mình. Sao Thiên lương ở Ngọ, có sao Văn khúc và Thiên tài đồng độ hoặc vây chiếu, tam phương tứ chính gặp các Cát tinh Thiên khôi, Thiên việt, Tam thai, Bát tọa, hoặc các phụ tinh Tả phụ, Hữu bật, chủ về người được chính chính giới thừa nhận, là nhân vật có công triển khai và thực thi pháp luật vào cuộc sống, hoặc có những đóng góp trọng yếu trong ngành lập pháp. Trong thương giới cũng chủ là người có chức năng và trách nhiệm giám sát thực thi pháp luật của các công ty, hoặc giữ chức vụ quan trong của công ty. Lấy trường hợp Văn khúc đồng độ làm thượng cách, lấy trường hợp Văn khúc vây chiếu làm thứ cách.

1. Thiên lương ở cung Mệnh viên

Sao Thiên lương đến cung Mệnh, chủ về người sắc mặt vàng trắng, khuôn mặt hình chữ nhật, mũi thẳng, lưỡng quyền cao, thân thể mập ốm bất nhất, nhưng phần nhiều hơi mập. Ở Ngọ thân hình phần nhiều lùn mập, còn ở Tị phần nhiều gầy cao, hoặc hơi mập.

Thái độ vững vàng ổn trọng, tính tình ngay thẳng. Cuộc đời tuy có tai họa, nhưng chủ về sống thọ. Thấy hung hiểm có thể tự hóa giải, gặp tai họa có thể qua khỏi. Thích được Thái dương hội chiếu hay đồng độ. Nếu có thêm Văn xương, Văn khúc cùng đến, thì thông minh xuất chúng, nhưng hay kiêu ngạo hiếu thắng.

Sao Thiên lương ở Ngọ mà gặp cát diệu, vừa chủ về phú vừa chủ về quý, nhưng tính ưa nói thẳng, không sợ tiểu nhân, nên thường thị tiểu nhân đố kị.

Có Thiên cơ đồng độ thì bác cổ thông kim, hiếu học, giỏi nói năng và hiểu biết binh cơ.

Sao Thiên lương ở Thân, ở Tị, ở Hợi, phần nhiều chủ về phiêu lãng, gặp tinh diệu cát tường, chủ về viễn du các nơi, hoặc xa vượt trùng dương. Nếu gặp sao Thiên mã, Hàm trì, Thiên diêu, Hồng loan, Thiên hỷ, mà không có Lộc tồn đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về phong lưu hiếu sắc, đa tình đa dâm, thích rong chơi, thích sống nhàn hạ.

Sao Thiên lương có Kình dương, Đà la hội chiếu, phần nhiều gặp tai nạn hung hiểm, có mối lo về tính mạng, có nạn tai về ngục tù, hoặc có bệnh nguy nan.

Sao Thiên lương đồng độ cùng với Hỏa tinh hoặc Linh tinh, chủ về nhiều lo sợ viển vông không đâu, dễ nảy sinh ý niệm xem nhẹ mạng sống mà tự sát, hoặc bị hỏa tai làm tổn thương.

Sao Thiên lương có Địa không, Địa kiếp, Đại hao đồng độ, chủ về thích rong chơi, không tích lũy mà hay phá tán.

Người có Thiên lương lập mệnh ở Tị, thường hay phụ trách sứ mạng hoặc chức vụ đặc biệt, hoặc một mình kiêm luôn mấy chức vụ, có công khai, có bí mật. Nếu gặp các sao Kình dương, Thiên hình, Đà la, thì vào năm Dậu hoặc năm Sửu sẽ gặp sát tinh, tất nhiên xảy ra tai họa đột ngột, nếu Sát mà nặng thì vô cùng nguy hiểm, chín phần chết chỉ một phần sống, nhưng rốt cuộc vẫn hóa nạn tai thành cát tường. Nếu sát tinh ở cung độ khác, thì lúc đại hạn, lúc thái tuế, lưu nguyệt đến, sẽ xảy ra tai họa, nhưng thế của tai họa khá nhẹ, hơn nữa, còn có chức vụ trong chính giới và giới kinh doanh, hoặc phần nhiều hay phát sinh quan hệ với người trong chính giới và giới quân đội.

Sao Thiên lương có Văn xương, Văn khúc, Phượng các hội chiếu, cũng chủ về văn sỹ trong giới văn hóa, hoặc làm công việc kinh doanh về văn hóa, báo chí.

Sao Thiên lương đến cung mệnh của nữ giới, thừa vượng nhập miếu, gặp tài tinh cát, chủ về phú quý song toàn, đa tài đa nghệ. Có Thái dương đồng độ ở Mão, gặp Văn xương, Văn khúc, Thiên tài, Phượng các, chủ về có sở trường đặc biệt, thông minh, giỏi ăn nói. Có Tả phụ, Hữu bật hội chiếu, thì giúp chồng dạy con, tâm từ ái, thích bố thí, mà thẳng thắn. Nếu Thiên lương rơi vào thế lạc hãm, có Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh hội chiếu, chủ về người nữ cô độc. Còn gặp thêm Hàm trì, Thiên diêu, Hồng loan, Thiên hỷ, Địa không, Địa kiếp, Đại hao, chủ về trôi nổi đó đây, không ở yên trong nhà, hoặc phiêu bạt không nơi nương tựa. Nếu gặp Văn xương, Văn khúc, chủ về dùng tài nghệ mưu sinh. Nếu cung Thiên di ở Mão có Kình dương, chủ về Phu tinh không rõ ràng.

Đại hạn, lưu niên có sao Thiên lương đến, gặp tinh diệu cát tường, chủ về phúc dày lộc trọng, gia quan tiến tước, sự nghiệp phát triển, hỷ khí đầy nhà, chủ về trường thọ. Nếu có Lộc tồn đồng độ, thì phải đề phòng tiểu nhân bất mãn chủ ý hãm hại, sự nghiệp vì thế mà bị khuynh đảo. Có Kình Đà Hỏa Linh và Thiên hình hội chiếu, chủ về hình khắc, tai nạn, tật bệnh, tù ngục, thương tổn. Có Địa không, Địa kiếp, Đại hao hội chiếu, hoặc có sao Thiên đồng Hóa Kị hội chiếu, chủ về tử vong, khuynh gia bại sản, hoặc xảy ra các tình huống âm mưu hãm hại.

Phàm, sao Thiên lương đến cung Mệnh, cung Thân, hoặc cung Thiên di, hoặc đến đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt, thì nên lui nhường ba bước, không nên kiêu ngạo, và phải đề phòng tiểu nhân hãm hại, thì mới có thể thành đại sự lập nên đại nghiệp.

2. Thiên lương ở cung Huynh đệ

Sao Thiên lương đến cung Huynh đệ, thừa vượng nhập miếu, có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt hội chiếu, chủ về anh em có hòa khí. Không có Tử phụ, Hữu bật, chủ về có anh em khác mẹ, anh em cùng mẹ có hai đến ba người, anh em thường ngầm tranh giành, khuynh đảo hoặc phân ly. Đồng độ với Thái dương ở Mão Dậu, chủ về anh em tranh đoạt gia sản, di sản, hoặc xảy ra chuyện hiểu lầm đố kị nhau. Có Thiên cơ đồng độ hoặc hội chiếu, chủ về có hai người. Có Thái âm, Hồng loan, Thiên hỷ hội chiếu, nhiều chị em. Đồng độ với Thiên đồng, có hai người ở chung, ở riêng có thể ba người. Có các sao Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên hình, Địa không, Địa kiếp hội chiếu, chủ về bất hòa, hình khắc, phân ly, nhiều rắc rối tranh chấp.

3. Thiên lương ở cung Thê (Phu)

Sao Thiên lương đến cung Thê, nên lấy người lớn tuổi, lấy người lớn hơn mình 3 tuổi là thích hợp (hoặc lấy người nhỏ hơn mình 3 tuổi trở lên). Có Thái âm hội chiếu, chủ về dung mạo mĩ lệ, nhưng lấy trường hợp chậm kết hôn hay tái hôn là tốt, nếu không sẽ chủ về "nhuyễn khắc" (ly dị). Có điều, tuy phân ly nhưng phần nhiều thường khó dứt tơ vương, lấy trường hợp trước khi kết hôn đã từng hủy hôn ước với người khác là tốt, hoặc nên kết hôn thật chậm thì có thể tránh khỏi.

Nữ mệnh, cung Phu có sao Thiên lương, lấy trường hợp chậm kết hôn hoặc làm kế thất, vợ lẻ, hoặc trước khi kết hôn đã từng hủy hôn ước với người khác, hay sống chung mà không có nghi thức kết hôn, thì có thể tránh được sự cố ly dị. Có Thiên đồng hội chiếu, nhưng Hóa Kị, chủ về sau khi ly hôn lại tiếp tục khắc, hoặc sau khi khắc lại ly hôn. Nhưng lấy trường hợp hội chiếu với Kình dương, Đà la, Thiên hình, Hỏa tinh, Linh tinh mới đúng.

4. Thiên lương ở cung Tử nữ

Sao Thiên lương đến cung Tử nữ, thừa vượng nhập miếu, có Tả phụ, Hữu bật, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Thiên vu, Ân quang, Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt hội chiếu, chủ về con cái phát đạt, thông minh nhiều tài, vừa phú lại vừa quý, có năm con trở lên. Đồng độ cùng với Thiên đồng, lấy trường hợp con gái trước con trai sau là tốt, chủ về ba người con. Có Thiên cơ đồng độ, đề phòng hư thai, chủ về hai người con. Có sao Hóa Kị hội chiếu, con cái nhiều tai nạn tật bệnh. Có Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh hội chiếu, chủ về hình khắc, nên cho làm con nuôi của người khác. Có Địa không, Địa kiếp, Đại hao, Thiên hình hội chiếu, là cô đơn.

5. Thiên lương ở cung Tài bạch

Sao Thiên lương đến cung Tài bạch, thừa vượng nhập miếu, có Hóa Lộc, Lộc tồn, Thái âm, Thiên vu hội chiếu, chủ về phát giầu có, hoặc được thừa hưởng di sản hay tài phú hiện có khác. Đồng độ với Thái dương ở Mão, tuy có thể hay phú hay phát, nhưng có xảy ra chuyện tranh đoạt tài sản. Đồng độ cùng với Thiên đồng, có thể sáng lập gia tài, từ nhỏ mà phát triển lớn dần, hoặc tay trắng làm nên sự nghiệp - nếu có tam cát hóa Khoa Quyền Lộc hoặc Lộc tồn hội chiếu, là công khanh ở nhà tranh. Có Thiên cơ đồng độ, tiền đến tiền đi, lúc phát lúc phá, hoặc nhờ cần cù làm cực nhọc mà được, thời vận thường thay đổi. Đến cung Tý, tiền tài có nguồn đến nhưng bị cắt xén rất nặng. Gặp sao Hóa Kị, chủ về vì tiền tài mà nhiều lời qua tiếng lại, nhiều rắc rối thị phi, hoặc vì tiền tài mà sinh ra đau khổ về tinh thần. Có Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp, Đại hao, Thiên hình hội chiếu, chủ về khuynh gia phá sản, hoặc vì tiền tài mà sinh ra tai họa, hoặc vì dính vào chuyện kiện tụng mà phá hao. Nếu có cát tinh hóa giải thì trước khổ sau yên, hoặc ăn trước trả sau, miễn cưỡng sống qua ngày. Có điều, sao Thiên lương mà tọa cung Tài bạch, tuy gặp khó khăn, nhưng rốt cuộc cũng có tiền.

6. Thiên lương ở cung Tật bệnh

Sao Thiên lương đến cung Tật bệnh, tuy có nạn tai tật bệnh nhưng phần nhiều đều chuyển nguy thành an; chủ về các triệu chứng của trường vị không điều hòa, tiêu hóa không tốt. Có Kình dương, Đà la, Thiên hình hội chiếu, chủ về ngoại thương ở tay chân, bên trong thì gân cốt ngực eo bị thương, hoặc lan vĩ viêm. Có Hỏa tinh, Linh tinh đồng độ chủ về các chứng ung thư vú, ung thư bao tử, ung nhọt khối u. Có Địa không, Địa kiếp, Đại hao hội chiếu hoặc đồng độ, cũng chủ về các bệnh đau nhức, như phong thấp, tê bại, nhức mỏi. Có thêm Thiên nguyệt, Âm sát đồng độ, chủ về các chứng cảm mạo, thương phong, đầu choáng.

7. Thiên lương ở cung Thiên di

Sao Thiên lương đến cung Thiên di, thừa vượng nhập miếu, xuất ngoại chủ về được quý nhân phù trợ, là người được kính trọng. Ở tại ba nơi Tị, Hợi, Thân, chủ về "đông bôn tây tẩu" vất vả bận bịu. Nếu có tam cát hóa Khoa Quyền Lộc hội chiếu, chủ về viễn du tha hương. Có Lộc tồn đồng độ, chủ về bị tiểu nhân khuynh đảo chủ ý hãm hại. Có Thiên cơ đồng độ, thì ra ngoài gặp nhiều cơ hội, nhưng nhiều biến hóa thay đổi, không yên định. Có Thái dương đồng độ thì ra ngoài thành danh. Đồng độ cùng với Thiên đồng thì ra ngoài yên định, nếu Thiên đồng Hóa Kị thì ra ngoài gặp nhiều "lời qua tiếng lại thị phi". Có tứ sát Kình Đà Hỏa Linh hội chiếu, chủ về ra ngoài gặp tai họa, hoặc ra ngoài bị tiểu nhân hãm hại.

8. Thiên lương ở cung Giao hữu

Sao Thiên lương đến cung Giao hữu, thừa vượng nhập miếu, có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, hoặc có tam cát hóa Quyền Lộc Khoa, chủ về có bạn ngay thẳng, chủ về được bạn bè trợ lực, hoặc được thuộc hạ ủng hộ. Có Thiên cơ đồng độ, chủ về bạn bè tuy nhiều nhưng thường thay đổi. Đồng độ cùng sao Thiên đồng chủ về có những đồng nghiệp hữu ích hoặc được bạn bè trợ lực. Có Thái dương đồng độ, chủ về trong đời kết giao được với người bạn quý, phần nhiều là người trong chính giới hay quân đội, công an, hoặc kết giao được với nhân vật quan trong trong thương giới, người có danh tiếng gây ảnh hưởng lớn đến những xu hướng trong xã hội. Có tứ sát Kình Đà Hỏa Linh đồng độ hay hội chiếu, chủ về vì bạn hữu mà tai họa, nhiều rắc rối thị phi. Có Địa không, Địa kiếp, Đại hao đồng độ hay hội chiếu hoặc xung chiếu, chủ về vì bạn hữu mà bị phá hao, hoặc vì thủ hạ không cẩn thận mà tổn thất tiền bạc.

9. Thiên lương ở cung Sự nghiệp

Sao Thiên lương đến cung Sự nghiệp, nếu ở Ngọ có cát diệu hội chiếu và xung chiếu hiệp trợ, chủ về là người quan trọng trong chính giới, thương giới, danh tiếng vang xa ra nước ngoài, quyền cao chức trọng. Có Thái dương đồng độ, văn hoặc võ đều lấy tài nghệ mà dương danh. Đồng độ cùng với Thiên đồng, chủ về người có năng lực chuyên sâu chỉnh lý nội vụ, nắm thực quyền bên trong, giỏi vạch kế hoạch. Có Thiên cơ đồng độ, chủ về một mình kiêm mấy chức, những loại công việc thường có nhiều biến động, việc có ẩn có hiện. Có Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp và Thiên hình hội chiếu và xung chiếu, chủ về người có sứ mệnh đặc biệt, hoặc vì sự nghiệp mà sinh tai họa, dính líu đến kiện tụng mà bị phá hao.

10. Thiên lương ở cung Điền trạch

Sao Thiên lương là tinh diệu "che chở", đến cung Điền trạch, chủ về được di sản của tổ tiên. Có Thiên cơ đồng độ thì phải tự tạo, nhiều dời đổi biến động, hoặc có tình hình "phiên tạo trùng kiến". Có Thái dương đồng độ, chủ về vì nhà cửa hoặc tài sản chung mà xảy ra tranh giành. Có tứ sát Kình Đà Hỏa Linh đồng độ hay hội chiếu và xung chiếu, chủ về gia trạch không yên, nhiều thị phi rắc rối, nhiều tranh chấp. Hội chiếu với sao Hóa Kị thì nhiều lời qua tiếng lại. Có Không Kiếp đồng độ, ở Tị, ở Hợi, ở Thân, thì trôi dạt. Sao Thiên lương và Thiên mã đồng độ, cũng chủ về trôi dạt bất định.

11. Thiên lương ở cung Phúc đức

Sao Thiên lương đến cung Phúc đức, thừa vượng nhập miếu, chủ về hưởng thụ an lạc. Đồng độ cùng với Thái dương, có Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Ân quang, Thiên quý, Thiên vu hội chiếu và xung chiếu, chủ về phúc dày lộc trọng, vừa quý vừa phú. Đồng độ cùng với Thiên đồng, chủ về yên định. Đồng độ cùng với Thiên cơ thì lao tâm nhọc thần, gặp Hóa Kị thì vô phúc, nhiều phiền não. Có Đà la đồng độ thì tự tìm bận rộn. Có Kình dương hội với Hỏa tinh hay Linh tinh, thì phúc bạc, nhiều tranh chấp rắc rối, nhiều thị phi không thể yên định. Sao Thiên lương nhập miếu đến cung Phúc đức, chủ về an nhàn, có phong thái danh sỹ, tư tưởng phóng túng, không chịu gò bó, lạc thiên an mệnh, không thích biến động. Thiên lương lạc hãm đến cung Phúc đức, chủ về lười biếng, lần nữa, thường để xảy ra tình trạng làm lỡ công lỡ việc. Sao Thiên lương ở ba nơi Tị, Hợi, Thân, gặp Thiên mã, Địa không, Địa kiếp, Đại hao, chủ về trôi nổi bất định không yên.

12. Thiên lương ở cung Phụ mẫu

Sao Thiên lương đến cung Phụ mẫu, thừa vượng nhập miếu, có tam cát hóa Khoa Quyền Lộc hội chiếu và xung chiếu, chủ về có phúc ấm hoặc thừa hưởng di sản của cha mẹ. Lạc hãm chủ về hình thương khắc hại, nên làm con thừa tự của người khác. Có Kình dương gặp Thiên mã hội chiếu hay xung chiếu, chủ về xa gia đình, hoặc làm con nuôi người ta, hoặc ở rể. Đồng độ cùng với Thiên đồng thì không hình khắc, nếu Hóa Kị hoặc hội chiếu và xung chiếu Kình Đà Hỏa Linh, vẫn chủ về hình thương, hoặc giữa cha con ý kiến bất đồng không hợp, nên làm con thừa tự người khác. Đồng độ cùng Thiên cơ, chủ về phân ly hoặc ở riêng. Đồng độ cùng Thái dương, có cát tinh hội chiếu và xung chiếu, không có sát diệu thì không hình khắc, ở Mão thì chủ về được cha mẹ che chở. Nếu có sát tinh hội chiếu và xung chiếu, chủ về hình khắc phân ly, nhận người khác làm cha mẹ.

Nguồn: http://tuvitinhquyet.blogspot.com


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thiên Lương

Vị trí ngồi tốt nhất trong văn phòng

Vị trí ngồi tốt nhất trong văn phòng là góc đối diện chéo với cửa chính là ở sâu bên trong văn phòng. Bạn nên đặt bàn làm việc của mình ở vị trí này để được
 Vị trí ngồi tốt nhất trong văn phòng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

vận may tốt nhất về nghề nghiệp.

Ngồi hướng ra cửa, không nên ngồi quay lưng ra cửa bởi vì trong phong thủy, điều này đem lại ý nghĩa rất xấu. Bạn sẽ thua trong bất cứ cuộc vận động nào để củng cố địa vị và quyền lực. Hoặc bạn có thể bị đồng nghiệp, nhân viên phản bội hay rất khó quản lý họ.

 Vi tri ngoi tot nhat trong van phong hinh anh
Vị trí ngồi cũng ảnh hưởng đến sự thành công trong công việc

Sau lưng phải là bức tường kiên cố, vững chắc. Không nên ngồi quay lưng với cửa sổ.

Dành một khoảng không gian rộng, thoáng hơn ở trước mặt bạn. Nếu có thể, hãy tạo một vùng không gian ít nhất cách khoảng 90cm trước mặt bạn. Hoặc ngồi ở vị trí có cửa sổ bên trái hay phía trước mặt.

Để kích hoạt góc Bắc (chủ về nghề nghiệp) của ngôi nhà hoặc văn phòng, điều quan trọng là bạn phải định hướng cho chính xác. Đứng giữa văn phòng và dùng la bàn để xác định hướng Bắc. Chia vùng không gian văn phòng thành 9 ô bằng nhau sẽ giúp bạn xác định dễ dàng khu vực phía Bắc.

Theo Sách Phong Thủy để thành công trong công việc và kinh doanh


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vị trí ngồi tốt nhất trong văn phòng

Phật chỉ ra 7 nàng dâu điển hình và 10 giới pháp của người vợ tốt

Phụ nữ lấy chồng, làm dâu là chuyện muôn đời. Phật chỉ ra 7 nàng dâu điển hình, người đã kết hôn thì soi chiếu với bản thân, người chưa kết hôn thì làm gương
Phật chỉ ra 7 nàng dâu điển hình và 10 giới pháp của người vợ tốt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

cho mình.


Phat chi ra 7 nang dau dien hinh va 10 gioi phap cua nguoi vo tot hinh anh
 
Trên đời có 7 nàng dâu điển hình, một là như mẹ, hai là như em, ba là như người cố vấn, bốn là như vợ, năm là như nô tỳ, sáu là như oan gia, bảy là như đoạt mệnh.    1. Nàng dâu như mẹ: ngoài tình yêu với chồng còn lòng từ mẫu, bên chồng từ sáng đến tối, luôn quan tâm đến chồng. Khi chồng ra ngoài, luôn lo sợ chồng bị người khác ức hiếp, yêu thương chồng không biết mệt mỏi.    2. Nàng dâu như em: luôn thành kính với chồng, tuyệt không hai lòng, tôn sùng như anh trai.   3. Nàng dâu như người cố vấn: luôn yêu thương chồng, lưu luyến không rời, những chuyện bí mật đều nói cho đối phương, giỏi giúp đỡ chồng bằng những ý kiến sáng suốt.    4. Nàng dâu như vợ: phụng dưỡng cha mẹ chồng, vâng lời khiêm tốn với chồng, thức khuya dậy sớm, cẩn thận tôn kính, không lời oán trách, luôn có tấm lòng chính chuyên, tự sửa đổi những khuyết điểm của mình, không vi phạm những điều thất lễ.    5. Nàng dâu như nô tỳ: luôn sợ hãi không dám nêu ý kiến, luôn cần cù không dám trốn tránh, tâm luôn cung kính hiếu thuận, lời nói dịu dàng, hiền lương thục đức, chất phác.    6. Nàng dâu như oan gia: không vui khi gặp chồng, luôn có oán niệm, ngày ngày có mong muốn phân ly, gia đình thường xuyên xuất hiện cãi vã, không chuyên tâm lo toan nhà cửa dạy dỗ con cái, hoặc có hành vi dâm loạn không còn thể diện.   7. Nàng dâu như đoạt mệnh: cả ngày lẫn đêm đều mang oán hận, lòng dạ độc ác, coi họ hàng gần xa như trộm.   Clip Chết không phải là hết - giá trị của sinh mạng
Con người thường sợ hãi và trốn tránh cái chết nhưng nó có thật đáng sợ đến vậy? Xem clip “Chết không phải là hết” để cùng ## tìm câu trả lời.

Trên đời có ai không thay đổi thông qua sai lầm, soi mình vào 7 trường hợp trên để trở thành nàng dâu tốt. Sửa mình theo 10 điều giới dành cho phụ nữ của Phật.
  Một là không sát sinh   Hai là không trộm tài sản người khác   Ba là không phong tình, có tình cảm với người đàn ông khác   Bốn là không uống rượu   Năm là không nói dối   Sáu là không ác khẩu   Bảy là không nói từ ngữ không đàng hoàng   Tám là không đố kỵ   Chín là không giận dữ oán hận   Mười là phải tin rằng làm điều thiện tích đức, làm điều ác sẽ gặp quả báo   Tin Phật, tin pháp, tin nhà sư là mười giới pháp của người vợ tốt, cả cuộc đời tuân theo không nên vi phạm.
► Xem thêm: Những câu nói hay về triết lý nhân sinh cuộc đời đáng suy ngẫm

Chi Nguyễn (Theo Ebaifo)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phật chỉ ra 7 nàng dâu điển hình và 10 giới pháp của người vợ tốt

3 con giáp giàu có top đầu trong 5 năm nữa

3 con giáp giàu sụ trong 5 năm nữa là những ai, cùng tìm hiểu nhé.
3 con giáp giàu có top đầu trong 5 năm nữa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Viễn cảnh tương lai trong 5 năm tới của người cầm tinh con Gà vô cùng tươi sáng. Bạn sẽ tạo ra kỳ tích vượt quá sức tưởng tưởng của chính mình.


1. Người tuổi Tỵ

Trong vòng 5 năm tới, những ai cầm tinh con Rắn có thể yên tâm vui sống, vô sầu vô ưu, trút được gánh nặng về tiền bạc hay chức tước đè nén trên đôi vai bấy lâu.

Thần Tài sẽ gõ cửa nhà bạn bất cứ lúc nào, hãy chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đón nhận những niềm vui tột cùng trong cuộc sống. Mọi ước muốn của bạn đều có cơ hội trở thành hiện thực khi thiên thời, địa lợi và bản thân nỗ lực không ngừng.

Nếu nói người tuổi Tỵ không thăng quan tiến chức cũng phát tài phát lộc trong vòng 5 năm tới cũng không hề quá phô trương.

3 con giap giau co top dau trong 5 nam nua hinh anh
 
2. Người tuổi Dậu


Viễn cảnh tương lai trong 5 năm tới của người cầm tinh con Gà vô cùng tươi sáng. Bạn sẽ tạo ra kỳ tích vượt quá sức tưởng tưởng của chính mình. Dưới sự soi đường dẫn lối của hàng loạt quý nhân, tin vui cả về sự nghiệp và tình duyên cùng lúc đến với bạn.

3 con giap giau co top dau trong 5 nam nua hinh anh 2
 
Tài lộc chỉ tăng không giảm, người tuổi Dậu có thể tích lũy khoản vốn kha khá trong 2 năm đầu (tính từ năm Bính Thân). 3 năm tiếp theo, tới lượt công danh sự nghiệp của bạn thăng hoa, không thăng chức thì cũng tăng lương ầm ầm, mọi sự thuận lợi, cầu được ước thấy. Đây là một trong 3 con giáp giàu sụ trong vòng 5 năm nữa.

Chọn ngày đẹp để cưới hỏi, kết hôn năm 2016
Hôn nhân là việc trọng đại của cả đời người. Vì vậy việc chọn ngày đẹp để kết hôn đóng vai trò rất quan trọng. Theo tín ngưỡng dân gian, ngày cưới hỏi ảnh
3. Người tuổi Sửu


Bắt đầu từ năm Bính Thân trở đi, cuộc sống của người tuổi Sửu luôn rộn ràng, nhiều biến động theo chiều hướng tích cực, thậm chí mang tính đột phá lớn.

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa chính là điều kiện cần và đủ để người cầm tinh con Trâu có cơ hội “thay da đổi thịt”, thay đổi vận mệnh. Trong 5 năm tới, nhờ cục diện ngũ hành Thổ sinh Kim, lại có Lục hợp trợ giúp, tài lộc của con giáp này khởi sắc mạnh mẽ, quan lộc thênh thang rộng mở.

► Lịch ngày tốt tổng hợp mọi thông tin về 12 con giáp bạn nên xem

An Khánh (Theo Fuyuandian)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 con giáp giàu có top đầu trong 5 năm nữa

Biết rõ đường Công danh để bách chiến bách thắng trong sự nghiệp

Ngoài 4 đường chỉ tay cơ bản, ít ai để ý tới đường Công danh trên bàn tay trong khi đường này khá quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người.
Biết rõ đường Công danh để bách chiến bách thắng trong sự nghiệp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Đoán vận mệnh, tài lộc của bạn qua việc tự xem chỉ tay

Trên bàn tay mỗi người đều có 4 đường chỉ tay cơ bản mà ai cũng có thể tự xem cho mình đó là đường Sinh đạo, Tâm đạo, Trí đạo và Định mệnh. Tuy nhiên ít ai để ý tới đường Công danh, cho biết mức độ thành đạt trong sự nghiệp của mỗi người.

Nắm biết được điều này, bạn có thể chủ động điều chỉnh cuộc sống sao cho phù hợp với tình hình thực tế để bách chiến bách thắng, làm gì cũng gặt hái được thành công.

Biet ro duong Cong danh de bach chien bach thang trong su nghiep hinh anh
4 đường chỉ tay cơ bản: 1. Đường Sinh đạo; 2. Đường Tâm đạo; 3. Đường Trí đạo; 4. Đường Định mệnh

1. Vị trí đường Công danh


Trong lòng bàn tay, đường Công danh là một đường vân dài song song với đường chỉ tay Định mệnh, đường này xuất phát từ ngón áp út và có thể kéo dài xuống tận đáy lòng bàn tay. Đường Công danh cho biết mức độ thành công trong sự nghiệp của mỗi người, biểu thị người đó gặt hái được những thành công gì cho sự nỗ lực, đóng góp của mình.

Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng, đường Công danh bắt đầu từ gốc bàn tay và kéo dài đến phía dưới ngón áp út. Đường chỉ tay này còn được gọi là đường Thái Dương vì nó nằm ở dưới ngón áp út – chính là ngón tay Thái Dương.

Biet ro duong Cong danh de bach chien bach thang trong su nghiep hinh anh 2
Số (1) chính là đường Công danh trên bàn tay

2. Tính chất đường Công danh


Giống như đường Định mệnh trên bàn tay, đường Công danh lúc ẩn lúc hiện và không phải ai cũng có. Trong trường hợp này, cần xem xét công danh ở những khu vực khác trên lòng bàn tay. Ngoài ra, những người không có đường Công danh vẫn có thể thành công, tuy nhiên nhiều khả năng sẽ không được công chúng biết đến.

Những dấu hiệu đặc biệt trên đường Công danh cho biết những sự kiện cụ thể xảy ra trong cuộc đời bạn. Có thể xem được 3 giai đoạn cuộc đời trên đường chỉ tay này đó là lúc nhỏ, khi đã trưởng thành và khi về già.

3. Đặc điểm đường Công danh hé lộ đời người


Đường Công danh sâu, sắc nét cho thấy sự nghiệp của chủ nhân mĩ mãn, gặt hái được nhiều thành công trong mọi mặt của cuộc sống.

Trường hợp đường Công danh bị đứt gãy cho thấy những thăng trầm trong quá trình phấn đấu của bạn. Nhưng nếu nỗ lực hết mình cũng sẽ có được thành quả ưng ý.

Đường Công danh kéo dài và chạy sang ngón tay út là dấu hiệu cho thấy chủ nhân có danh tiếng trong các ngành nghệ thuật.

Phía đầu đường Công danh gần ngón áp út mà chĩa ra như chiếc nĩa ám chỉ người này có thể thành công, nhưng thành công ấy không mang lại giá trị rõ ràng.

Đặc biệt, nếu đường Công danh tạo thành hình ngôi sao hoặc tam giác ở dưới ngón áp út, nhiều khả năng bạn sẽ đạt được những thành tựu vang dội trong nghệ thuật. Nếu đó là hình vuông, chủ nhân sẽ gặp quý nhân phù trợ, người đó chính là lãnh đạo, quản lí của bạn.

ST





 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Biết rõ đường Công danh để bách chiến bách thắng trong sự nghiệp

Chọn ngày tốt trong tháng Giêng để mẹ bầu sinh mổ bắt con

Hiện nay sinh mổ khá phổ biến và được rất nhiều chị em lựa chọn. Việc xem ngày giờ để sinh mổ bắt con vô cùng quan trọng. Đứa trẻ sinh vào ngày giờ tốt sẽ
Chọn ngày tốt trong tháng Giêng để mẹ bầu sinh mổ bắt con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Hiện nay sinh mổ khá phổ biến và được rất nhiều chị em lựa chọn. Việc xem ngày giờ để sinh mổ bắt con vô cùng quan trọng. Đứa trẻ sinh vào ngày giờ tốt sẽ vượng gia, ngược lại, sinh vào ngày giờ xấu dễ bại gia.


1. Chọn ngày sinh cát tường trong tháng Giêng để tiến hành mổ đẻ

Dù là Huyền học, phong thủy, mệnh lý, chiêm tinh... đều tính giờ theo can chi âm lịch. Phân chia theo 24 tiết khí, tháng 1 âm lịch (tháng Giêng) năm 2016 được tính từ Lập xuân tới Kinh chập (Dương lịch: 4/2/2016 đến 4/3/2016). Thiên can địa chi là năm Bính Thân, tháng Canh Dần.

Những ngày cát lành trong tháng Giêng có thể tiến hành mổ đẻ bắt con gồm: Ngày 14, 18, 20, 22 và 28 tháng 2 (Âm lịch là ngày mùng 7, 11, 13, 15 và 21 tháng Giêng). Chọn ngày tốt sinh con, mọi việc sẽ được tiến hành suôn sẻ, đồng thời những đứa trẻ sinh ra trong ngày này có vận mệnh tốt, cuộc sống bình yên, phú quý.

Chon ngay tot trong thang Gieng de me bau sinh mo bat con hinh anh
 
2. Giờ sinh quyết định vận mệnh phú quý sang hèn

Ngoài các yếu tố ngày, tháng, năm, giờ sinh cũng ảnh hưởng rất lớn tới vận mệnh phú quý sang hèn của mỗi người. Cho dù được sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm nhưng giờ sinh lại khác nhau thì vận mệnh không thể tương đồng.
Chon ngay tot trong thang Gieng de me bau sinh mo bat con hinh anh 2
 
Ví dụ: Khi sinh vào cùng ngày Nhâm Dần, bát tự có Vượng hỷ, Quan sát, mệnh cục có Thực Thần, thiếu Sát tinh.

Nếu sinh ra vào giờ Mậu Thân, Mậu Thổ là Sát tinh của mệnh chủ, Sát tinh ức chế quý hiển, nên người sinh vào giờ này có tính tình nóng nảy, thích áp chế, ra lệnh cho người khác.
Không khó để nhận ra tướng bàn tay có tiền cũng không biết giữ
– Có những dấu hiệu trên bàn tay mang lại giàu sang phú quý, nhưng cũng có một vài biểu hiện của sự phá tài. Nếu sở hữu những đặc điểm dưới
Nếu sinh vào giờ Đinh Mùi, lớn lên có thể trở thành thương nhân vì Đinh Nhâm cùng hợp thành Thương quan, Thương quan sinh tài phúc phú quý tự nhiên. Ngoài ra, đứa trẻ sinh giờ này thích tự do tự tại, ghét bị ràng buộc, dựa vào trí tuệ của mình để mưu sinh, lập nghiệp...

Do đó, trước khi tiến hành sinh mổ, bạn nên dành chút thời gian tìm hiểu về ngày giờ sinh cát tường trên website ## để đứa trẻ sinh ra mang nhiều may mắn, có được cuộc sống phú quý, bình an.

An Nhiên

Xem thêm video: Nghe thuyết giáo về cách nuôi dạy con thời hiện đại
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn ngày tốt trong tháng Giêng để mẹ bầu sinh mổ bắt con

Xem tướng có đúng không? Có nên tin không?

Xem tướng có đúng không, nhiều người băn khoăn xem bói xem tướng có nên tin không, luận cứ nào để xem bói tướng đưa ra phán đoán vận mệnh con người
Xem tướng có đúng không? Có nên tin không?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chắc hẳn rất nhiều người đều băn khoăn xem tướng có đúng không? Dựa vào cái gì để phán đoán? Chúng ta có nên tin không? Bài viết này sẽ mạn đàm về việc xem tướng, nguồn cơ, căn cứ, quan điểm về thực hư của xem tướng. Tại sao xem tướng lại đoán được lòng người?

Những người xem bói, xem tướng có câu: “Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt”, nghĩa là tướng từ tâm mà ra. Trong lòng mình thế nào, tâm tính ra sao sẽ lộ một phần tư cách của con người qua tướng mạo (khuôn mặt), tướng người (dáng đứng, dáng đi …). Bởi vậy người Việt mới có câu: “Trông mặt mà bắt hình dong.”

Xem tướng có đúng không?

Người xưa có câu: “Giàu ba mươi tuổi chớ mừng, khó ba mươi tuổi chớ đừng vội lo”. Còn Khổng Tử thì lại nói: “Tam thập nhi lập” – Ba mươi tuổi đã nhi lập mà cuộc đời còn bấp bênh chưa biết tương lai sẽ thế nào hỏi sao không e ngại.

Qua kinh nghiệm sống, con người nhận thấy không phải cứ cố gắng mà đạt được điều mình muốn. Cuộc đời thăng trầm nhiều khi dồn con người vào cảnh không phương xoay xở khiến ta phải tin rằng có cái được gọi là vận số. Nói vận sổ là bởi vì người ta không lí giải được nguyên nhân từ đâu.

Có rất nhiều người đã tự than vãn rằng tại sao có những người học hành chẳng ra gì mà cuộc đời luôn được thuận buồm xuôi gió, làm ăn phát đạt, lại có những người trông vẻ bên ngoài tầm thường nhưng lại giữ uy quyền muôn mặt…

Người ta vẫn nói “Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa…” – Thế nhưng ta lại thấy chỉ những người giàu không phải lo lắng bon chen với cơm áo gạo tiền mới có thể ngủ muộn, hay như người ta vẫn có câu: “Những người đói rách tả tơi, của Trời chớ phụ đừng ăn chơi quá nhiều” – Điều này thật sự trái với lẽ thường tình, bởi xét trong thực tế thì thường những kẻ thừa ăn thừa mặc mới phụ của, chứ kẻ đói rách thì làm gì có của mà phụ.

Có câu nói “Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện” – về mặt nào đó khuyên răn con người ta phải biết tiết kiệm, nhất là khi có của ăn của để, để dành những lúc nhỡ nhàng trong cuộc sống đầy biến cố, lúc có để lo cho lúc chẳng may, đừng vung tay quá trán. Tuy nhiên, nếu cho ràng đời người đã được phận số định sẵn làm sao “Có chí thì nên” và cứ vin vào vận số hanh thông của mình thì sẽ làm thui chột tinh thần và ý chí tiến thủ trong cuộc sống.

Nói về phương diện tâm tính dân gian ta có câu: “Những người lúa đụn tiền kho, ruột bằng sợi chi miệng to bằng lưỡi”. Thực ra mà nói thì những người nghèo hèn, tuy có lòng rộng rãi đấy nhưng lấy gì mà cho, cái rộng rãi của họ bị bó trong cảnh nghèo của chính mình. Hơn nữa, thực tế cho thấy, chỉ những người giàu có mới giúp được những người nghèo vì người đã nghèo thì chẳng có nên dù lòng muốn nhưng chính mình chưa lo nổi cho mình làm sao có thể giúp người.

Tuy nhiên, có những nhận xét về tướng diện con người nơi tục ngữ, ca dao dựa trên những gì nhìn thấy theo vẻ bên ngoài “Khôn ngoan hiện ra mặt, què quặt hiện chân tay”. Những nhận xét tướng diện dựa trên kinh nghiệm chi được phần nào áp dụng cho bản thân, và đồng thời được lồng trong khung cảnh kinh tế xã hội Việt qua nhiều thế hệ.

Dĩ nhiên, mặc dầu nói tổng quan về tướng diện nhưng không được coi là những định luật bất di bất dịch mà bao gồm nhiều loại trừ. Trên thực tế tướng diện bị ảnh hưởng bởi cái nhìn bề ngoài trong khi con người còn có ẩn tướng mà đã là ẩn tướng ai có thể nhìn thấy ngoại trừ chính người mang nó nhận ra hay không. Hơn nữa, nếu xét theo tướng học thì sự ảnh hưởng nơi người cha cũng góp phàn vào vận số của người con vì cũng người đàn bà có số sinh con làm tướng nhưng gặp ông chồng Sống thất đức, phá tướng, sẽ sinh con tướng cướp. Cùng là tướng nhưng quý tướng và phá tướng chắc chắn không thể giống nhau.

Xét tướng diện không phải là xem số hay xem bói. Xem bói toán, vận số tùy thuộc vào những điều người ta không thể kiểm chứng, số mạng của người này có thể trùng với số mạng của người kia theo một quy luật cửng ngắc bất di dịch của lá số, của lời giải đoán… Thế nên mới nói “Tử vi xem số cho người, số mình thì để cho ruồi nó bâu”. Tướng diện qua kinh nghiệm thấy sao nói lên vậy: “Nhân hiền tại mạo, trắng gạo ngon cơm” chứ không phải rập khuôn theo những kinh nghiệm vô căn cử.

Tướng diện được diễn tả qua tục ngữ, ca dao chỉ nói lên phần nào cá tính, tâm tính con người được thể hiện qua diện mạo bên ngoài và kinh nghiệm truyền lại bằng những câu nói ngắn gọn hoặc thêm phần sắp xếp cho có vần điệu. Phần diện mạo dựa trên cách đi đứng, ăn nói, tóc tai: “Cái răng cái tóc là góc con người” hoặc dáng dấp, hình thái kèm theo lối so sánh: “Cây khô không lộc, người độc không con”. Tuy nhiên, sự suy diễn, giải nghĩa tướng diện nơi tục ngữ, ca dao thật ra không theo nghĩa đen mà thường tùy thuộc vào lối ám chỉ, nghĩa bóng.

Xem tướng diện là bởi vì một phần tư cách con người được thể hiện qua phong thái, hình dáng là những nét bề ngoài mọi người có thể nhìn thấy.

Trước hết, hình thái phong cách nói lên một phần nào tâm tính con người do đó tướng diện bị lệ thuộc vào tâm đửc cá nhân. Tướng số có câu: “Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt”. Dĩ nhiên, ai cũng đều nhận ra những người ngay thẳng, chính trực không thể có cặp mắt láo liên hoặc lời ăn tiếng nói đặt điều xằng bậy. Tâm đức tạo nên phong thái bên ngoài cũng như giá trị con người, đó có thể là lý do tại sao “Cái đức bức cái tướng”. Cái đức nói theo kiểu bình dân ở đây cũng mang nghĩa thay đổi tướng diện, phong thái một người. Cũng qua kinh nghiệm tướng số, “Đức năng thắng số” đã trở thành châm ngôn cho người người cải thiện lối sống ngày một tốt lành hơn.

Tướng mặt phát từ tâm hồn con người và coi tướng diện để tự sửa đổi chính mình, nói theo Khổng Tử đó là tu thân. Muốn tu thân cần hiểu chính mình và xem tướng diện để tự tìm hiểu chính mình. Thành ngữ có câu: “Người ba đấng, của ba loài” – cuộc đời có kẻ thế này, người thế khác cũng như đồ vật, có thứ tốt, thứ xấu chứ không phải tất cả mọi người đều có tâm tính giống nhau, hay mọi vật đều giống nhau. Những người khôn thì chóng già vì tâm tính hay suy nghĩ, còn những người có tăm tiếng phần nhiều là người có tài, tuy nhiên, cũng có trường họp gian ngoa độc ác chuyên dùng mưu mô chước quỷ hại người khác để bước lên đài danh vọng. Nhìn vào tướng diện, ta cũng dễ dàng nhận ra loại người này.

Dân gian có câu “Nhất lé nhì lùn tam hô tứ lộ”. Nếu xét theo tướng học thì lé có nghĩa là: “Lưỡng mục bất đồng, tâm can bất chính”, nhưng cũng không hẳn là những người hai con mắt không ngay ngắn như nhau luôn luôn là bất chính.

Nếu nói rằng người lùn hay có tính kiêu căng bởi tâm tính thường hay đối nghịch với hình dáng bên ngoài nên lùn được xếp hạng thứ nhì thì càng hái ngược, nhưng trên thực tế thì có rất nhiều người lùn nhã nhặn, khoan hòa. Có điều, theo kinh nghiệm cho thấy một số người không được cao cho lắm rất khôn ngoan lại lắm mưu mô xảo quyệt cho nên tướng lùn được xếp vào một trong bốn loại dẫn đầu của tướng diện chăng. Còn răng hô được xếp hàng thứ ba cần phải kèm theo điều kiện môi cong bởi theo sách tướng: “Xỉ lộ thần hân tu phòng dã tử” – răng lộ môi cong đề phòng chết đường.

Theo Tướng mệnh khảo luận do Vũ Tài Lục biên soạn, một trong tướng lục ác là “thần bất hô xỉ”. Môi không che được răng là người bất hòa. Răng hô phải đầm xuống đều thì chất phác, răng đâm ngang hay ngưỡng lên, là kẻ cực kỳ đểu giả.

Có sách lại chép khác: “Nhất lé nhì lùn, tam hô tứ sún”. Có thể sún được xếp hàng thứ tư do không để ý chăm sóc cơ thể, gặp gì ăn nấy, có thể nói tham ăn nên răng bị hại. Tuy nhiên, đó chỉ là phỏng đoán vô căn cứ, biết bao người sún nên làm răng giả nào ai biết đâu. Chẳng lẽ tướng diện bị lệ thuộc nét sửa đổi và nếu như thế, đâu còn gì là tướng diện, mà tâm sinh do sửa hình dáng.
Kiếm người làm nhất là trong giới nông nghiệp người ta thường có câu “Khô chân gân mặt đắt mấy cũng mua”. Người chân khô không bị bệnh tê thấp, ảnh hưởng do sự thay đổi thời tiết không tác dụng nên sức khỏe đều đặn, dù nắng mưa, sương gió không cản trở công việc làm cùa họ nên mướn được người khô chân giúp, công việc mình không bị đình trệ.

Những người có đường gân máu nổi lên ở mặt chịu đựng cực khổ dẻo dai. Dùng người khô chân gân mặt để làm việc cho mình thì thật đáng đồng tiền bát gạo. Xét chung, sách tướng có câu: “Ăn nhanh đi chậm là tướng quý nhân”. Ản nhanh nhưng gọn gàng, cử điệu, thái độ chững chạc, không ngồm ngoàm, nhỏ nhặt như chuột, dáng đi khoan thai, đĩnh đạc, lưng thẳng, gót chân đặt xuống đất… mang phần quý tướng. Tuy nhiên, không phải quý tướng là bất cứ chi cũng quý bởi còn bị ảnh hưởng do các tướng khác nhất là tâm đức.

Một điều thường làm cho người có tướng quý lận đận là đã quý thường ít khi đi đôi với phú. Tục ngữ có câu: “Phi thương bất phú”, thường đã liên quan đến buôn bán thì tâm tính con người khó mà chân thành được. Nó cũng lí giải cho cái câu “Mặt vuông chữ điền đồng tiền chẳng có”- bởi người mặt vuông chữ điền, hơi nặng hàm, biểu hiện tâm hồn đoan chính, không tham lam, tự tin, không bon chen nên thường nghèo. Ngược lại với dáng đi thanh thản của người ăn nhanh đi chậm là tướng vội vàng hấp tấp, luôn đi chúi người về phía trước.

Những người lam lũ cực khổ thường có dáng đi này: “Cái đầu đi trước, gặp nhiều bước khó khăn”. Người khó tính, mặt hay cau có, khi giận thì làm gì cũng hỏng, ít có kết quả như mong muốn, cũng tương đồng với câu “Mặt khó đăm đăm, tát nước đầm không cạn”.
Khi ữong lòng có chuyện âu lo tất nhiên người ta hay thở dài, những người hay thở dài thường có nội tâm âu sầu thiếu đường giải thoát: “Những người chép miệng thở dài, chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ”. Trái ngược với chép miệng thở dài là vui tươi cởi mở: “Hay cười như thể đười ươi, làm ai cũng tưởng là người vô lo”. Tuy nhiên, người thâm ừầm chín chắn, dẫu trong cảnh âu lo vẫn không lộ nét ưu tư sầu khổ. Sự khác biệt giữa nét vui tươi, không ưu phiền lo lắng được thể hiện bởi nét cười là nét vô duyên: “Vô duyên chưa nói đã cười”. Vô duyên ở đây bao gồm nhiều khía cạnh qua cái cười: cười cầu tài, nịnh hót, lẳng lơ, khinh thị…

Tướng diện bao gồm toàn bộ con người từ hình dáng, cách đi đứng, sự cân đối, ưu điểm hoặc khuyết điểm được thể hiện qua diện mạo bên ngoài. Theo Việt Nam từ điển “Mía đõn đầu là mía sâu, người đõn đầu là người ngốc”. Kinh nghiệm cho biết, người nào có cái đầu ngắn mà bằng phăng ở trên là người không khôn cũng ví như cây mía nào mà lá ngọn còi là cây mía sâu nõn.

Trong dân gian còn có lối nói tắt như “mặt thịt” – mặt thịt dĩ nhiên là nhiều thịt hoặc nhìn thấy như nhiều thịt hơn xương. Mặt thịt còn được gọi là mặt nạc, mặt thịt mà dài được gọi là mặt mo vì thịt vun lên giống như chiếc mo cau khô úp vào “Những người phình phình mặt mo, chân đi chữ bát có cho chẳng màng”. Mặt thịt, mặt nạc, mặt mo biểu hiện thiếu khôn ngoan, ngu đần.

Mặt thịt kèm theo môi dày lại càng tệ “Những người mặt nạc môi dày, mịt mù trời đất biết ngày nào khôn”. Theo Vũ Tài Lục “môi thật dày không có khía môi, môi luôn luôn động là mã khẩu, chỉ sự bần tiện”.

Đàn bà tóc nhiều và dài thì tốt, thuộc tướng sang. Như thế, tướng sang của một người tự bẩm sinh chứ không phải cứ học tập kiểu cách phải thế này phải thế kia mà có thể sang được. Người đã không có tướng sang thì có “học làm sang” cũng không che dấu nổi nét tầm thường của mình. Có lẽ đó cũng là nguyên nhân cho câu “Trưởng giả học làm sang”.

Trái lại, người đã được sinh ra với cốt cách sang trọng, dù có bị sinh trưởng từ gia đình thuộc lớp nghèo hèn, bình dân, tự bản chất đã mang vẻ tướng của mình. Tuy nhiên, xét theo tướng diện, nếu đàn bà tóc rậm, óng mượt, dài, thuộc cốt cách sang trọng thì đàn ông với cái đầu rậm tóc chẳng lợi lộc gì: “Đàn bà tóc rậm thì sang, đàn ông rậm tóc chỉ mang nặng đầu”. Đàn ông, trên đầu không nên nhiều tóc thì dưới cằm lại cần râu. Đàn ông không râu thuộc loại tối kỵ, người không râu mà lại mặt trắng (bạch diện).

Sách tướng nói: “Bạch diện vô tu chung thân phá bại”. Mặt trắng không râu về già tán gia bại sản. “Đàn ông không râu mất nghi, đàn bà không vú lấy gì nuôi con”. Tuy nhiên, nếu đàn ông mà râu rậm hon lông mày lại đi kèm với cặp mắt sâu sẽ là người nham hiểm đáng sợ, thuộc tướng diện “Rậm râu sâu mắt”. Theo Vũ Tài Lục, râu rậm hay thưa phải tùy thuộc lông mày mới đúng cách. Phần trên cằm là miệng, ngoài miệng có môi. Đôi môi một người nói lên nhiều cá tính theo con mắt tướng diện. Môi cần che kín răng bởi “Môi hở răng lạnh”. Môi là cửa ngõ của miệng lưỡi nên tướng miệng đi kèm với môi. Ca dao nói lên: “Cong môi hay hớt, mỏng môi hay hờn, dày môi ăn vụng…” và đồng thời “Môi thâm hiểm độc trong lòng”.

Dầu tướng miệng tùy thuộc rất nhiều vào môi nhưng vẫn có những kiểu cách riêng. Thành ngữ dùng câu: “Miệng ngậm hạt thị” chỉ người ăn nói không ra lời, lúng búng trong miệng. Lời nói con người được thoát ra từ cửa miệng nên miệng còn được hiểu theo nghĩa bóng chỉ tâm tính chẳng hạn như là: “Miệng hùm gan sứa”. Người to giọng ra vẻ ta đây thường chính là kẻ nhát gan nhất. Đặc tính này thường ở nơi người hay làm oai bắt nạt hoặc thích kiếm chuyện gây khó dễ cho người khác. Một đặc tính của miệng thuộc tướng tốt nơi đàn ông thì lại không tốt nơi đàn bà: “Đàn ông rộng miệng thì tài, đàn bà rộng miệng điếc tai láng giềng”. Chẳng những thế, miệng rộng nơi đàn bà còn mang thiệt hại nơi gia đình: “Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà”. Có lẽ đàn bà miệng rộng thường là người tiêu xài không tính toán nên gây ra lắm cảnh thiếu hụt. Miệng không phải chỉ được dùng để nói mà còn để ăn thế nên mới có câu “Miệng gàu dai (dây) nhai hết sự nghiệp”, hay như “Miệng ống nhổ ăn đổ hết cửa nhà”.

Trên miệng là nhân trung và mũi. Người có nhân trung dài sống lâu: “Nhân trung dài sống dai như ông bành tổ”. Nói về sống như thế nào lại tùy thuộc về cái mũi bởi “Những người lỗ mũi hếch lên, của xe chất đống một bên cũng nghèo”. Hơn nữa, chẳng may ai có “Nốt ruồi trên mũi hay tủi tấm thân”. Bộ phận ảnh hưởng đến mũi nặng nề nhất là cặp mắt và đồng thời cũng là bộ vị quan trọng nhất của nhân thân.

Những người thành công đều có cặp mắt tốt kèm theo mũi ngay ngắn trường nhuận. Nhìn vào màu sắc của mắt, người xưa nói: “Người khôn con mắt đen sì, kẻ dại con mắt nửa chì nửa than”. Mắt còn nói lên cá tính hoặc sự khắc thuận của một người thế nào: “Những người con mắt ốc nhồi, trai thời đánh vợ gái thời sát phu”. Mắt trắng dã đi kèm với môi thâm chứng tỏ con người bạc bẽo, hiểm độc… thuộc tướng xấu: “Môi thâm mắt trắng”. Xét riêng về tướng đàn ông, thành ngữ có câu khá thâm thúy: “Xấu mặt dễ sai, đẹp trai khó khiến”. Điều này không lạ gì bởi cái đẹp bề ngoài đối với con mắt bình thường khác hẳn nét đẹp của tướng diện. Dĩ nhiên, những người đàn ông mặt hoa da phấn thường hay có số đào hoa. Người mang số đào hoa dễ coi thường những người phụ nữ theo đuổi nên sinh ra bất cần, khó khiến… Chắc chắn một điều, người có số đào hoa chưa chắc đã mặt hoa da phấn nhưng bình thường, nữ giới cũng như nam giới, ai không mang sẵn cá tính bẩm sinh yêu nghệ thuật, ai không dễ xiêu lòng với nét đẹp hợp nhãn…

Đàn ông có một điều tối kỵ đó là lông mọc nơi thân mình: “Mèo vằn chó vá đừng nuôi, râu ria lông ngực là tôi phản thần”. Người râu ria rậm rạp kèm theo lông ngực thuộc loại hay thay lòng đổi dạ. Lông bụng tự mình nó đã chứng tỏ con người giảo hoạt, nhỏ mọn, không chí lớn: “Quân tử lông chân, tiểu nhân lông bụng” hoặc “Cá khôn cá lội ra khơi, những người lông bụng chớ chơi mà lầm”. Ca dao có câu: “Người quân tử đắc ý rung đùi, kẻ tiểu nhân đắc ý gẩy đàn môi” nhưng thực tế mà nói thì tướng rung đùi lại là tướng xấu: “Đàn ông ngồi hay nhịp cẳng là sẵn tính phá sản”.

Dân gian cũng có câu: “Xem bếp biết nết đàn bà” điều này chẳng lạ gì vì đối với xã hội Việt Nam, đàn bà là nội tướng chuyên lo việc chăm sóc con cái, cơm nước trong gia đình. Dĩ nhiên, “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”. Nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, bếp núc gọn gàng… phải là kết quả do sự làm việc của người nội trợ.

Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh có nói: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” ám chì những người có tài thường hay bị gian truân lận đận… Đối với khách hồng nhan cũng thế: “Hồng nhan đa truân” những người đàn bà đẹp theo lối nhìn bình thường của nhân gian thường gặp lắm cảnh trớ trêu.

Tục ngữ có câu: “Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”.

Trước hét, không ai dùng tiếng mua vợ hoặc mua vợ cho con mà cưới vợ hay dựng vợ gả chồng cho con cái. Ngược lại, người ta chỉ dùng tiếng mua hầu thiếp, đôi khi lịch sự văn vẻ hơn thì mới nói “cưới nàng hầu” trong thời kỳ xã hội Việt Nam còn chấp nhận “Trai năm thê bảy thiếp…”. Hơn nữa, ca dao có câu lục bát nói về con mắt lá khoai, một loại mắt có hình dạng dài gần giống lá răm: “Những người con mắt lá khoai, liếc chồng, chồng chết, liếc trai, trai mù”. Phụ nữ đoan chính không thể bị ghép chữ “liếc trai” mà những hạng “liếc trai, trai mù” thì thuộc loại đa dâm. Thế nên những người “Con mắt lá răm, lông mày lá liễu” là người đa dâm, không thể là vợ một ai mà chỉ đáng nàng hầu nếu không nói đa số là kỹ nữ.

Câu tục ngữ dùng chữ ngược nghĩa “Đáng trăm quan tiền”. Tướng đa dâm nơi nữ giới còn bao gồm: trường túc, trường mi, xích diện và làn thu thủy. Người đàn bà phần chân dài hơn thân mình, lông mày dài và thẳng, mặt lúc nào cũng hồng đôi má và kèm theo cặp mắt ướt như luôn luôn đọng nước… tướng kỹ nữ hồng trần. Xét về hình dạng, lông mày phái nữ nên hơi cong theo vòng mí mắt; những chị em trang điểm vô tình không để ý thường hay phạm phải điều kỵ này nơi tướng diện.

“Những người béo trục béo tròn, ăn vụng bằng chớp đánh con cả ngày”. Lý do thật khó hiểu bởi đâu thiếu gì những bà vợ có da có thịt một chút chăm sóc chồng con cẩn thận… lại thuộc người vượng phu ích tử. Đâu phải cứ béo là hay ăn vụng mà người đã không được gầy cho lắm dẫu có cố gắng ăn ít vẫn cứ lên cân… rồi lại còn “đánh con cả ngày” càng thấy không hợp lý hợp tình tí nào.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, những người mập thường là những người có tính vui vẻ, bởi lẽ nếu người mập không vui vẻ cởi mở mà luôn cau có, khó tính, dễ bị bệnh áp huyết cao và chết bất đắc kỳ tử. Có thể rằng câu ca dao này bị giới hạn bởi kinh nghiệm riêng tư nào chăng. Ngược lại với hình tướng béo trục béo tròn là tướng thắt đáy lưng ong, eo con kiến: “Những người thắt đáy lưng ong, vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con”. Tướng nhiều con của người đàn bà là “Lưng chữ ngũ, vú chữ tâm”. Người có lưng hơi cong về phía trước, cặp vú ngang hơi thòng xuống sẽ có nhiều con cái. Ngày xưa, trong thời kỳ ấu thơ con cái được nuôi bằng sữa mẹ khác hẳn với ngày nay nên thường có quan niệm: “Cả vú bụ con” – hàm ý muốn nói vú lớn nhiều sữa cho con bú nên con bụ bẫm.

Sách tướng còn chia ra: nhất thanh, nhị sắc, tam hình. Chuông trống, dụng cụ âm nhạc làm bằng đồ tốt thì âm thanh tốt. Con người cũng thế “Tiếng cả nhà thanh” – người có tiếng nói âm hưởng lan rộng và ngân là quý tướng.

Âm thanh tiếng nói theo tướng diện khác với lời nói “Vàng thì thử lửa thử than, chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời”. Lời nói phát tự tâm, tiếng nói thuộc về âm thanh, được xếp vào hàng diện mạo. Theo tướng học, tâm đoan chính, âm thanh tiếng nói biểu hiệu chất hào sảng: “Người thanh tiếng nói cũng thanh, chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu”. Tiếng nói có âm thanh ữầm ấm, âm điệu đĩnh đạc, hơi dài là tốt, là thanh. Trái ngược với thanh là tục: líu lo, láu táu, thều thào, lí nhí, nói ngắn là xấu, là tục. “Lầm bầm như chó ăn vụng bột” – ý chỉ những kẻ vừa nói nhò, vừa cúi đầu là kẻ gian hoạt, thâm hiểm. Âm thanh tiếng nói hoặc kiểu cách nói của phụ nữ biểu hiện một vài đặc tính của tướng diện. Điểm tối kỵ của phụ nữ về âm thanh giọng nói là lanh lảnh ré lên như tiếng kèn đồng hoặc tiếng lụa xé, đôi khi được gọi sắc như chẻ tre hoặc sắc như dao chém nước: “Đàn bà lanh lảnh tiếng đồng, một tướng sát chồng hai tướng hại con”.

Theo Vũ Tài Lục “Đàn bà chỉ cần một tiếng nói sang cũng đủ làm mệnh phụ phu nhân”.

Sách tướng có câu: “Nữ hữu nam thanh tất hình phu khắc tử; nam hữu nữ thanh tất tiện bần”. Coi tướng âm thanh lại cần phải liên kết với thái độ của người nói chuyện. Nếu cười nói tự nhiên là người có tướng về âm thanh tốt. Nói chưa ra lời mà đã cười mang tướng xấu: “Vô duyên chưa nói đã cười, có duyên gọi chín mười lời không thưa”. Ca dao là thế nhưng gọi chín mười lời không thưa chưa chắc đã có duyên… Tuy nhiên, chắc chắn rằng chưa nói đã cười lại kèm thêm “đi như chạy” sẽ là người vô duyên: “Những người chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy là người vô duyên”. Ngoài ra lời ăn tiếng nói của người nữ giới cũng còn lệ thuộc vào tướng môi: “Cong môi hay hớt, mỏng môi hay hờn, dề môi ăn vụng”.
Trong thơ văn, thi sĩ hay dùng tiếng “gót son” để chỉ dáng mảnh mai tơ liễu của tướng đàn bà, tướng quý. Người xưa kinh nghiệm, những người đàn bà có gót chân đỏ sẽ được nhờ cậy nơi con cái sau này: “Những người gót đỏ như son, tướng xuất như vậy có con mà nhờ”. Qua cơ cấu gia đình Việt, danh phận người đàn bà lệ thuộc vào danh phận chồng. Ngược lại, theo tướng học, người vợ và người chồng ảnh hưởng lẫn nhau về phận số. Tướng đàn bà cổ cao, ba ngấn sẽ có chồng danh tiếng: “Hỡi cô má đỏ hồng hồng, cổ cao ba ngấn lấy chồng cao sang”. Một đặc tính thường có nơi đàn bà đó là ghen, lẽ thường vì thế mới có câu nói: “Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái không hay ghen chồng”. Nhất là đàn bà có tóc trán quăn là người ghen ghê gớm”. “Đàn bà tóc trán quăn quăn, như vậy mới biết người ghen quá chừng”.

Phần lớn những người lẹm cằm đều là những người vô ăn vô lo, Sống không cần biết đến ngày mai. Theo tướng diện, người lẹm cằm mang tướng xấu. cằm được gọi là “địa các” thuộc cung “bắc nhạc” chủ vê hậu vận. Thê nên “Thà răng chịu lạnh năm không, còn hơn lấy gái lẹm cằm răng hô”. Tướng đàn bà bất lợi cho đàn ông là tướng lưỡng quyền cao: “Đàn bà lưỡng quyền cao chỉ mưu mô hiếp chồng”. Ngược lại, ưên mặt có nốt ruồi nơi rãnh nước mắt sẽ khổ đau về đường chồng con: “Nốt ruồi dưới mắt sẽ nhắc khóc chồng”.

Trong tiết mục “Hỏi ông Hư Tử” ở cuốn Tướng học khảo luận, Vũ Tài Lục có chép: “Tướng có biến không? Tướng thường biến theo tâm. Theo lời Quỷ Cốc Tử nói: “Hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt. Hữu tâm hữu tướng, tướng bất tùy sinh; vô tâm vô tướng, tướng bất tùy diệt”. Trong cuộc sống, ai không nhận thấy “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”, có lẽ bởi vì khù khờ nên không biết hại ai, không mưu đồ gian ác do đó có tâm đức tốt, hướng thiện tất nhiên tướng tùy tâm sinh và số theo đức, trong khi những người ma lanh quỷ quyệt “Ăn cây táo, rào cây sung” hoặc “Đòn càn hai mũi, đâm bị thóc thọc bị gạo” dù cho có cố tình huênh hoang cũng bị trần ai khốn khổ dày vò, Nguyễn Du cũng đã nói: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Đoạn Trường Tân Thanh).

Người xưa có câu: “Ở hiền gặp lành” – Ở hiền tất nhiên tạo tâm đức. Xét như vậy, phận số con người không phải đã được an bài từ trước mặc dầu ai cũng tin rằng “Cha mẹ hiền lành để đức cho con” – cha mẹ hiền lành, con cái hưởng phần phúc đức, nhưng nếu con cái không biết lo sống đức độ mà dam mê chạy theo những ham muốn xẩu, tất nhiên tự mình phá đổ phần phúc đức, tự mình gieo tai họa cho mình bởi tướng tùy tâm diệt và số tòng tâm. Nghĩ như thế, thưởng phạt một phần nào cũng có ngay trong cuộc sống và do chính mình tạo ra, theo thuyết của nhà Phật thì cái này gọi là “Luật nhân quả”.

Lẽ đương nhiên, không ai kết án con người mà chỉ kết án hành động của con người. Hành động có nhiều cách, nhiều lối từ lời nói đến mưu mô hoặc thực hành sự việc… Một lời nói thất đức, hại đến danh dự hay dèm pha xúi bẩy tạo cho người khác đi vào ngả chẳng nên có khi gây tổn hại gấp trăm ngàn lần những lỗi lầm vô ý. Ngược lại cũng một lời nói giúp cho người khác thăng tiến, sống tốt lành hom, gây dựng đường tâm đức cho chính mình. Bình tâm nhận xét, tướng diện học có mục đích giúp mình tự nhận thấy những gì thiếu sót để làm sao sống tốt lành hơn để tạo thêm tâm đức.

Như vậy, dẫu một người có tướng diện không hay, chẳng nên ca thán hoặc nghĩ mình bị mang số hẩm hiu, nên nhớ câu “Đức năng thắng số”. Chỉ có một con đường duy nhất để cải số là sống đức độ. Con người được sinh ra với tướng không tự mình lựa chọn nhưng cải tướng, chuyển số lại phải tự chính mình. Nhận ra như thế, chẳng lạ gì, những ai “Gieo gió sẽ gặt bão” và đồng thời người nào “Trồng cây dâu ăn trái dâu”. Đó cũng là lý do người xưa có nói “Người trồng cây cảnh người chơi, ta trồng cây đức để đời về sau”. Người nhận ra tướng diện mình để tu thân chắc chăn không ai có thể “xem bói” hoặc “Trông mặt mà bắt hình dong” được nữa bởi đã tự cải số nên sinh ra “Tướng diện bất như tướng tâm”.

Tuy nhiên, không phải vô lý mà có câu “Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon”. Khi một người trong lòng vui tất nhiên mặt sẽ hiện lên nét vui tươi, cởi mở hoặc trong lòng buồn, nét mặt trở thành lo âu sầu khổ. Cái lý của tướng diện cũng tương tự như tâm lý để lộ qua hình hài, thái độ. Xét như vậy, nếu do tướng diện mà biết được tâm thì chắc chắn tâm ảnh hưởng tướng diện. Thế nên, muốn đổi tướng trước hết càn chuyển tâm, điều này chẳng có gì nghịch lý mà lại thuận theo nghĩa tương đồng vậy.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng có đúng không? Có nên tin không?

Những câu nói hài hước về tình bạn hay nhất

Những câu nói hài hước về tình bạn hay nhất. Trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người, điều mà không thể thiếu đó là xung quanh ta có rất nhiều bạn bè
Những câu nói hài hước về tình bạn hay nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những câu nói hài hước về tình bạn hay nhất. Trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người, điều mà không thể thiếu đó là xung quanh ta có rất nhiều bạn bè. Tùy vào mức độ chơi thân ta sẽ có nhóm bạn hay chơi, nhóm bạn nối khố , nhóm bạn tri kỷ… Dựa vào mức độ thân thiết của mỗi nhóm chúng ta sẽ ứng xử với hộ bạn khác nhau. Riêng đối với nhóm bạn tri kỷ thì không còn gì phải giữ hình ảnh trước mặt bạn bè nữa.

Chúng tôi có chia sẻ hình ảnh những câu nói hài hước về tình bạn mà trong đó, đa số là nhắc đến những“ thằng bạn thân “ nhưng “ thâm” không kém phần hài hước . Các bạn hay xem qua xem mình có những người bạn như thế này không nhé.

Những câu nói hài hước về tình bạn hay nhất

– Bạn thân là đứa có đánh chết cũng không chịu khen bạn một câu nhưng lại luôn nói tốt về bạn sau lưng với đứa khác.

– Khi thân nhau thì…kể cho nhau những chuyện bí mật. Khi trở mặt thì…khai quật những bí mật của nhau

– Đừng buồn vì nghĩ rằng bạn xấu. Hãy luôn tin rằng bạn có một vẻ đẹp tiềm ẩn mà càng “tìm” thì nó càng “ẩn”

– Bạn bè tốt là khi thấy té thì đỡ. Chứ không phải đợi mình tắt thở rồi đến thắp nhang

Hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thuộc có miếng cơm manh áo có thể giúp nhau nhưng mật khẩu wifi thì đừng có hòng

Tôi không cần có nhiều bạn. Ít thôi nhưng chân thành với nhau là đủ

Không tất cả những người cười với ta đều là bạn, cũng không phải những người làm ta bực mình dều là kẻ thù – Ngạn ngữ Mông Cổ

Sự khác nhau giữa tình bạn và tình yêu: Tình bạn càng đông càng vui còn tình yêu 3 đứa thôi cũng đủ giải tán rồi

Khi bạn ngã tôi luôn bên bạn. Ký tên: Mặt đất

Bạn tốt thì mãi mãi là bạn tốt

Bạn thân thì mãi mãi là bạn thân

Nhưng…

Chắc gì bạn tốt đã chơi thân

Chắc gì bạn thân đã chơi tốt!!!

Với bộ hình ảnh những câu nói hay hài hước về tình bạn mà chúng tôi chia sẻ, bạn có thấy mình ở trong đó không? Tình bạn của bạn có được vĩnh cửu và tốt đẹp như này không? Chắc chắn rồi, trong cuộc đời của mỗi người ít nhất cũng có những người bạn vì ta mà bo bê công việc, luôn luôn ở bên ta mỗi lúc ta khó khăn. Hãy trân trọng những tình bạn đó bạn nhé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những câu nói hài hước về tình bạn hay nhất

Nên chọn đá quý thế nào để phù hợp với mệnh của mình? –

Nhất Bạch tinh: Trân châu, kim cương. Nhị Hắc tinh: Đá opal (màu vàng nhũ) Tam Bích tinh: Đá lục bảo, đá phỉ thuý, đá Thồ Nhĩ Kỳ, hố phách. Tứ Lục tinh: Phỉ thuý, đá lam bảo. Ngũ Hoàng tinh: Đá mắt mèo, đá hoàng bảo. Lục Bạch tinh: kim cương , vàng t

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhất Bạch tinh: Trân châu, kim cương.

Nhị Hắc tinh: Đá opal (màu vàng nhũ)

Tam Bích tinh: Đá lục bảo, đá phỉ thuý, đá Thồ Nhĩ Kỳ, hố phách.

p12

Tứ Lục tinh: Phỉ thuý, đá lam bảo.

Ngũ Hoàng tinh: Đá mắt mèo, đá hoàng bảo.

Lục Bạch tinh: kim cương , vàng trắng, thuỷ tinh.

Thất Xích tinh: San hô (màu vàng nhũ)

Bát Bạch tinh: Ngọc, đá thạch lựu, đá ấn Độ.

Cửu Tử tinh: Đá hồng bảo, mã não, thuỷ tinh tím.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nên chọn đá quý thế nào để phù hợp với mệnh của mình? –

Phong thủy Hình Gia - kiến thức cơ bản khi chọn đất mua nhà

Bài viết dưới đây giới thiệu phong thủy Hình gia – lĩnh vực cơ bản và hữu dụng cho tất cả mọi ngôi nhà. Tham khảo kiến thức khi chọn đất mua nhà theo Hình Gia.
Phong thủy Hình Gia - kiến thức cơ bản khi chọn đất mua nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy là bộ môn khoa học tâm linh phức tạp, huyền bí và vi diệu. Với nhiều trường phái, nhiều quan điểm cùng bể kiến thức mênh mông, nhiều người muốn vận dụng phong thủy cho ngôi nhà của mình nhưng gặp khó khăn. Bài viết dưới đây giới thiệu phong thủy Hình gia – lĩnh vực cơ bản và hữu dụng cho tất cả mọi ngôi nhà.


Phong thuy Hinh Gia - kien thuc co ban khi chon dat mua nha hinh anh
 
Kiến thức phong thủy nhà ở rất nhiều, có đôi khi còn xung khắc, trái ngược nhau. Vì vậy, để tránh trường hợp không hiểu rõ mà dùng gây nên tai họa, chỉ cần chú trọng tới 3 yếu tố cơ bản khi áp dụng phong thủy nhà là ánh sáng tốt, thông gió tốt và nội ngoại cục không phạm hình sát. Đó là nguyên tắc trọng yếu của phong thủy Hình Gia.
 
Trong lý luận về dương trạch có một lĩnh vực không phân ra phái hệ, giống như các phái phong thủy Lý Khí, đó là Hình Gia (xem nội ngoại hình thế cách cục). Bất kể cách cục Lý Khí phong thủy bên trong bên ngoài tốt thế nào mà phạm hình sát nặng thì cũng không tốt (ví dụ, mở cửa ra gặp đường xung, đi vào cửa gặp nhà vệ sinh), chắc chắn sẽ phạm phải tai họa hình thương.
 
Lý Khí tốt mà hình thế chẳng ra gì thì cũng chỉ là hư hoa (hoa giả) mà thôi. Lý Khí xấu nhưng phong cảnh đẹp đẽ, phù hợp với từng cung vị của Lý Khí thì vẫn có thể tốt đẹp được.
 
Về cơ bản, Hình Gia coi trọng phân biệt các loại mũi nhọn, màu sắc hình thế để quyết định hung cát. Bên trong nhà các hình sát nếu phối hợp thêm với các yếu tố Lý Khí sẽ sản sinh sự phá hoại, tổn thương trong nhà. Các yếu tố cần lưu ý đó là cầu thang, nhà vệ sinh, nhà tắm, nhà bếp. 
 
Ví như trong nhà quá nhiều các cửa phụ, cửa sổ hoặc cửa sau gần cửa trước tất sẽ phạm phải khí dương thất tán, gác lửng hoặc mái hiên mà cao kỵ tạp loạn, trong phòng cũng không nên để ô thoáng quá thấp.
 
Hình Gia bao gồm Hình Gia nội cục và Hình Gia ngoại cục.
 
Hình Gia nội cục 
 
-Các hình sát sau có thể phối hợp với Lý Khí sản sinh phá hoại:
 
Kỵ nhà ở phía dưới có nước chảy, nhiều nước ở dưới.
 
Kỵ nhà ở lớn mà người ở ít.
 
Kỵ nhà ở bên trong ẩm thấp.
 
Không đặt bếp, cầu thang, nhà xí, phòng tắm ở giữa nhà.
 
Nơi tiếp nhận ánh sáng không nên đặt các vật to lớn, không đặt nhiều các vật che lấp, cần để ánh sáng vào trong nhà ở.
 
Cửa lớn, các ô văng cửa sổ không để thấm nước hắt nước.
 
Tại phòng ở, bốn phía xung quanh không bày đặt các vật có hình thể quái dị .
 
-Cửa ra vào:
 
Kỵ nhà bé cửa lớn.
 
Kỵ cửa cổng lớn đối diện nhà mình.
 
Kỵ cửa lớn nhà mình thông thẳng với cửa sau.
 
Kỵ mở cửa lớn mà thấy ngay nhà bếp, nhà vệ sinh, cầu thang.
 
Kỵ mở cửa mà thấy ngay vật kỳ hình quái dị .
 
Kỵ nhà ở không có cửa sau .   -Phòng khách:
 
Cần dễ ra dễ vào, không nên tạp loạn.
 
Trong phòng khách không nên nhìn thấy xà ngang, bàn uống nước không nên bị xà đè ngang.
 
Không dùng các vật lẻ, quái dị, hoặc sử dụng các vật có nhiều sắc nhọn bài trí.
 
Không nên mờ tối, phòng khách nên có ánh sáng đầy đủ, đèn sáng vừa đủ là tốt.
 
Nền phòng không nên cao thấp khác nhau.   -Ban thờ:
 
Nếu như tọa hướng nhà tốt thì nên bố trí ban thờ theo tọa hướng của nhà.
 
Nên thờ riêng từng Thần Vị là tốt.
 
Không nên đặt ban thờ tại phòng khách hoặc phòng ngủ.
 
Không nên đối diện với cửa vào.
 
Nên bố trí tựa vào tường.
 
Không nên để xà đè .   Hình Gia ngoại cục
 
Nhà ở nếu gần tòa nhà cao tầng rất dễ bị áp chế, bởi vì nó sẽ che chắn dương khí, âm dễ xuất hiện.
 
Nhà ở tránh gần đền, chùa, miếu mạo, nơi đặt bình đựng di cốt, nghĩa trang, lăng mộ, bệnh viện, nhà giam, vì những nơi này âm khí quá vượng, không tốt cho sức khoẻ, dễ bệnh tâm thần.
 
 Không nên bố cục nhà theo phong thủy Hình Gia có hình chữ “T” vì kiểu nhà này không thể tàng phong tụ khí, chủ dễ bị bần hàn.
 
 Nhà có khoảng trống phía trước (gọi là Minh Đường) nhỏ hẹp, như một đường kẻ vạch. Theo phong thủy hình thế “đường kẻ” này tạo ra luồng khí sát, không thể tụ khí, nếu nhà có minh đường rộng lớn, gia đình phúc lộc đầy đủ.
 
Ngoài ra, để biết cụ thể các thế Hình Gia ngoại cục, nên tham khảo bài viết về các thế hình sát trong phong thủy nhà ở.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy Hình Gia - kiến thức cơ bản khi chọn đất mua nhà

Giải mã vận mệnh người tuổi Nhâm Dần theo Lục Thập Hoa Giáp

Lục Thập Hoa Giáp của Nhâm Dần là con hổ từng trải qua khó khăn, là người dũng cảm, tướng mạo uy nghi, can đảm mạnh mẽ, học rộng biết nhiều, có chí khí.
Giải mã vận mệnh người tuổi Nhâm Dần theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lục Thập Hoa Giáp của Nhâm Dần là con hổ từng trải qua khó khăn, là người dũng cảm, tướng mạo uy nghi, can đảm mạnh mẽ, học rộng biết nhiều, có chí khí. 


► ## cung cấp công cụ Lấy lá số tử vi của mỗi người chuẩn xác

Giai ma van menh nguoi tuoi Nham Dan theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh
 
Vận mệnh người tuổi Nhâm Dần: Phàm những người thành tựu lừng lẫy đại đa số là người sinh năm Nhâm Dần. Kim bạc kim là mạ vàng mâm chén, tăng độ sáng cho cung thất, làm bóng Kim khác. Kim này rất nhỏ, nếu không có Mộc tất không có chỗ nương tựa.

Mộc lấy Mậu Tuất, Kỷ Hợi Bình địa Mộc làm thượng cát, không nên gặp Hỏa, gặp Hỏa chủ về yểu thọ.
 
Mệnh này trời sinh nên học triết học, mệnh lý, thuật số, giáo viên, nghệ thuật, có tài ăn nói, thông minh, tướng mạo thanh tú. Tốt nhất không nên làm công việc liên quan đến tài chính như kế toán, nhân viên tài vụ... Người tuổi Nhâm Dần nên sớm xa quê hương, đi nơi khác sẽ càng có cơ hội phát triển, tương lai sẽ có ngày áo gấm vinh quy.
 
Với tuổi Giáp Tuất, Ất Hợi Sơn đầu Hỏa; Bính Thân, Đinh Dậu Sơn hạ Hỏa có Thủy trợ giúp cũng cát lợi. Lục Thập Hoa Giáp của Nhâm Dần chỉ kỵ Bính Dần, Đinh Mão Lư trung Hỏa, chủ về mệnh yểu vong.
 
Nhật trụ, thời trụ gặp Giáp Thân, Ất Dậu Tỉnh tuyền Thủy; Bính Tý, Đinh Sửu Giản hạ Thủy; Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy, mệnh nữ chủ về xinh đẹp, mệnh nam chủ về anh tuấn, hơn nữa sự nghiệp có thành tựu. Nhưng nguyệt trụ có Mộc mới luận. Các trụ khác gặp Giáp Dần, Ất Mão Đại khê Thủy, chủ về phiêu dạt. Gặp Nhâm Thìn, Quý Hợi Đại hải Thủy mà không có Mộc làm nền tảng chủ hung tai.
 
Kim gặp Nhâm Thân, Quý Dậu Kiếm phong Kim; Canh Tuất, Tân Hợi Thoa xuyến Kim có thể trang sức, trợ giúp tạo ra sự thay đổi. Các Kim khác có Hỏa bổ cứu cũng cát lợi, không có Hỏa chủ về điềm hung.
 
Các trụ khác có Mậu Dần, Kỷ Mão Thành dầu Thổ, chủ về ăn nhờ ở đậu; gặp Canh Tý, Tân Sửu Bích thượng Thổ còn có thể an thân.
 
Nếu như các trụ khác có Mộc, có thể phú quý; lại có Phúc đăng Hỏa càng thêm hiển hách, gọi là Côn sơn phiến ngọc cách.
 
Nhâm lộc tại Hợi, các Địa chi của trụ khác ưa Hợi.
 
Nhâm quý tại Mão, các Địa chi của trụ khác ưa Mão.
 
Nhâm Dần Không vong ở Thìn, Tỵ, các Địa chi của trụ khác không ưa gặp Thìn, Tỵ.
 
Các Địa chi của trụ khác có Thân, phạm hình phạm xung, cả đời vất vả, bỏ mạng nơi đất khách.
 
Các Địa chi của trụ khác có Tỵ, đề phòng trúng gió, bệnh tiểu đường.
 
Các Địa chi của trụ khác có Tuất, nếu như tọa nhật chi, khắc bạn đời. Nếu tọa thời chi, nên hiến thân cho tôn giáo.
 
Người sinh năm Dần gặp Hợi là Kiếp sát. Nếu tọa nhật chi, khắc bạn đời. Nếu tọa thời chi, con cháu nghèo khổ, không thể đứng tên để mua bất động sản.
 
Nguyệt can có Giáp, hoặc các can khác có Giáp, chủ về giàu có.
 
Nguyệt can có Quý, chức quan nhỏ, tiền ít, mệnh nữ lấy chồng nghèo khó. Nguyệt chi hoặc nhật chi tàng Kiếp tài, luận tương tự.
 
Người sinh năm Nhâm Dần gặp năm Dần, năm Thân, trong nhà không yên ổn. Nếu bản thân không bị thương hại thì ngưòi nhà cũng khó tránh điềm hung.
 
Người tuổi Nhâm Dần chọn bạn đời không nên lấy người sinh năm Mậu, Kỷ. Nên tìm người sinh năm Bính, Đinh.

Theo Tử vi toàn tập
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã vận mệnh người tuổi Nhâm Dần theo Lục Thập Hoa Giáp

Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả theo hầu Phật A Di Đà, xưng tụng là Tây Phương Tam Thánh, tiếp dẫn và độ hóa chúng sinh.
Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đại Thế Chí Bồ Tát cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả theo hầu Phật A Di Đà, xưng tụng là Tây Phương Tam Thánh, tiếp dẫn và độ hóa chúng sinh bằng trí tuệ.

 

Mục Lục

  1. Danh xưng Đại Thế Chí Bồ Tát
  2. Sức mạnh của Đại Thế Chí Bồ Tát
  3. Hình tượng Đại Thế Chí Bồ Tát
  4. Ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát
  5. Đại nguyện của Đại Thế Chí Bồ Tát
  6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát

 

1. Danh xưng Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Đại Thế Chí Bồ Tát là tên phiên phiên âm từ tiếng Phạn Mahastamaprapta, dịch ý là Đại Thế Chí hoặc Đại Tinh Tiến, gọi tắt là Thế Chí Bồ Tát. Ngoài ra còn những tên khác như Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ Tát, Vô Biên Quang Bồ Tát. Mỗi cái tên, danh xưng đều có ý nghĩa quan trọng, gắn liền với đạo hạnh và chức trách mà Ngài mang.

 

Cái tên Đại Thế Chí xuất phát từ việc Ngài dùng ánh sáng trí tuệ chiếp khắp muôn nơi để chúng sinh mười phương thoát khỏi đau khổ, đạt thành tựu Bồ Đề, có đạo hạnh chuyên tu. Đắc Đại Thế Bồ Tát có nghiêng về diễn tả đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, dùng hạnh nguyện của mình để điều phục và tiếp độ chúng sinh trong thế giới Ta bà.

 

Đại Tin Tấn hay Đại Tinh Tiến tức là vị Bồ Tát có sức tinh tiến vĩ đại, vô biên, càng ngày càng tiến lên để hóa giải mọi phiền não và giáo hóa chúng sinh, không mệt mỏi, không lùi bước, không ngại chướng khổ. Vô Biên Quang là vị Bồ Tát có ánh sáng vô biên, tỏa khắp pháp giới để chúng sinh hữu duyên thấy được ánh sáng quang minh tinh diệu vô lượng của Ngài khắp mười phương.

 

2. Sức mạnh của Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Quán Vô Lượng Thọ Kinh có ghi, Đại Thế Chí Bồ Tát lấy ánh sáng trí tuệ làm ngọn đèn soi đường cho chúng sinh thoát khỏi ba cõi ác, đạt được sức mạnh vô biên, hướng tới thân tâm an lạc. Khi Ngài di chuyên, thập phương mười hướng như đang xảy ra một cơ địa chấn, trí tuệ quét sạch u mê nên có tên gọi Đại Thế Chí.

 

Ngài là một trong Tây Phương Tam Thánh, cùng Quan Thế Âm Bồ Tát theo hầu Phật A Di Đà, một trong các vị Thượng thủ trong chúng hội Bồ Tát. Đại Thế Chí bên phải, Quan Thế Âm bên trái, một bên đại diện cho tinh thần đại trí, một bên biểu thị cho tinh thần đại bi. Người tu hành muốn tu tập viên mãn, đạt thành tựu Phật giáo thì phải có cả hai yếu tố là tấm lòng và trí tuệ.

 

Từ bi bên trái, trí tuệ bên phải, trí tuệ dẫn đường cho từ bi để từ bi đi đúng hướng, từ bi thấm nhuần trí tuệ để trí tuệ không cứng nhắc, không trên đời mà giúp đời, cứu đời thoát khỏi u tối. Đó chính là ý nghĩa cao nhất, sự hòa hợp tốt đẹp nhất của Phật giáo. Là Phật tử, là những người hướng Phật nhất định phải hiểu được đạo lý này, đồng thời trang bị cho mình hai hạnh này, có như vậy thờ Phật mới chân chính, kính Phật mới chuyên tu.

 

Trí của Thế Chí Bồ tát là trí của ánh sáng và niềm tin, quyết tâm giáo hóa chúng sinh tránh khỏi đường mê lối lạc. Ngài là vị Bồ Tát Đẳng Giác hầu cận Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc, trợ giúp Phật hóa, tiếp dẫn chúng sinh mười phương thế giới, giáo hóa Thánh chúng tại Cực Lạc, chờ tới khi công quả viên mãn sẽ bổ xứ thành Phật.

 

Đây là vị Bồ Tát có nhân duyên sâu nặng với chúng sinh khắp cõi, tuy đã thành Phật trong kiếp quá khứ nhưng kiếp này thừa nguyện tái lai vì lòng thương chúng sinh, hiện thân làm Bồ Tát ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, trợ duyên cho Phật A Di Đà giáo hóa và tiếp dẫn chúng sinh thoát khỏi bể khổ.

 

Bồ Tát được Phật Bảo Tạng thọ ký rằng, trong vô lượng vô biên kiếp, sau khi Đức Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Sơn Vương Như Lai nhập Niết Bàn, tức là Quan Thế Âm Bồ Tát thành Phật trong đời vị lai thì Đại Thế Chí sẽ thay Ngài tiếp quản chánh pháp và thế giới Tây Phương, thành Phật hiệu là Thiện Trụ Trân Bảo Sơn Vương Như Lai.

 

Đại hùng đại lực đại từ bi của Thế Chí Bồ Tát chính là tinh thần và trí tuệ cao nhất để Ngài hoàn thành nguyện cũng như trọng trách mà Phật đạo giao phó. Sức mạnh ấy thể hiện ở các phương diện dưới đây:

 

  • Đại hùng: sự mạnh mẽ, can trường dám xả thân rời xa những tham muốn hưởng lạc của thế gian. Điều này không những cần tiến tu mà còn phải có đại hùng, tu đạo Bồ Tát, kham những công hạnh, quyết dấn thân vào những việc khó khăn, quyết nhẫn nhục những điều vượt qua giới hạn bằng sức mạnh của tu tập.

 

  • Đại lực: Tuy đã thành Phật nhưng Ngài không an trụ tại cảnh giới Niết Bàn, tận hưởng pháp lạc mà tiếp tục hiện thân Bồ Tát Đẳng Giác để xả thân cứu độ chúng sinh, giáo hóa giác ngộ lầm than. Cái ác của chúng sinh có sâu dày đến đâu, ác nghiệp có cường thịnh đến đâu Thế Chí cũng không nản lòng, thệ nguyện vào những nơi tối tăm nhất, chốn ngọc nhằn nguy khó nhất để giác ngộ chúng sinh.

 

  • Đại bi: có đại bi mới làm tròn được hành nguyện giáo hóa khó nhọc đến vậy, từ bi cũng là gốc rễ ngọn nguồn của Phật giáo. Trí tuệ là đại hùng nhưng được dẫn dắt bởi đại bi, dùng trí tuệ quan sát căn tính của chúng sinh ngay cả khi mạt pháp nghiệp mỏng chướng dày nhất, kể cả khi căn lành nông cạn nhất để chúng sinh vượt khổ nạn, đạt thành tựu.

 

Trong kinh Lăng Nghiêm, chương Niệm Phật viên thông, khi Đức Phật Thích Ca hỏi về pháp môn tu hành, Đại Thế Chí Bồ Tát cho biết Ngài tu theo pháp môn niệm Phật. Nhân lành mà Ngài gặt hái được là dùng tâm niệm Phật, vô sinh pháp nhẫn, vì thế Ngài quyết dùng đại hùng đại lực đại bi mà mình có để tiếp dẫn những người niệm Phật vãng sinh tịnh độ.

 

Khi niệm Phật, n hất định phải chuyên tâm, người lâm chung muốn vãng sinh thì độ niệm phải có tâm chuyên nhất. Nếu trong lòng tưởng nhớ đến Phật, thấy đường Phật hướng thì Phật cách không ca, không cần phương pháp tu nào khác mà thành được Phật. Nói cách khác, “Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối nhau, được Tam ma địa, đó là bậc nhất”. Đây là điểu quan trọng nhất là người tu niệm Phật cần phải nhớ khi hành trì.

Theo phong thủy và tâm linh, Bồ Tát Đại Thế Chí là Phật bản mệnh của người tuổi Ngọ.

 

3. Hình tượng Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Trong Tây Phương Tam Thánh, Thế Chí Bồ Tát đứng bên phải Đức Phật A Di Đà, bên phải là Quan Thế Âm Bồ Tát, hiện thân là hai cư sĩ có cách ăn mặc tương tự nhau. Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh, Quan Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy.

 

Xem thêm bài viết Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát được nhiều người kính ngưỡng?

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Trên chóp mũ của Bồ Tát có hình ngôi chùa, đại diện cho trí tuệ. Thân tỏa ra màu vàng tím lấp lánh, soi chiếu thập phương để chúng sinh hữu duyên đều có thể tận mắt nhìn thấy ánh sáng của Phật pháp và tịnh diệu. Vì thế mà Bồ Tát Đại Thế Chí cũng được gọi là Bồ Tát Vô Lượng Quang.

 

Thiên quan của Ngài có 500 bảo hoa, trên mỗi bảo hoa có 500 bảo đài, mỗi bảo đài hiện lên quốc độ tịnh diệu của chư Phật thập phương. Tóc búi hình hoa sen đỏ, trên có bảo bình, trong bảo bình chứa ánh sáng trí tuệ - nguồn lực để độ hóa chúng sinh.

 

Cũng có hình tượng Bồ Tát Đại Thế Chí hiện thân là tướng người cư sỹ, nơi cổ có đeo chuỗi ngọc anh lạc và trên tay cầm một hoa sen màu xanh, tượng trưng cho sự thanh tịnh. Có ý rằng nhờ trí tuệ sáng suốt mà dứt sạch được mọi phiền não mê lầm nơi tự thân và đưa tay cứu với chúng sanh ra khỏi mê lầm tội lỗi.

 

Trí tuệ là thanh gươm tinh nhuệ cắt đứt mọi ràng buộc, vướng mắc trong cõi trần ai mà đức Đại Thế Chí đã đạt được trải qua nhiều kiếp tu hành tích lũy biết bao công phu. Dùng trí của mình để độ kiếp lầm than, theo đúng tinh thần của Phật giáo.

 

Tại sao Bồ Tát lại hiện thân cư sĩ? Điều này cho thấy hạnh nguyện của Ngài gần gũi với chúng sinh, muốn chúng sinh nghe pháp, thấu hiểu pháp thì cần phải cảm thông cho chúng sinh. Chỉ khi gần gũi và trở thành bạn lành của chúng sinh thì mới có thể làm được điều này. Bồ Tát là vị cư sĩ giản dị, dễ dàng đi khắp nhân gian để tiếp xúc với mọi người.

 

Muốn cứu vớt chúng sanh về tịnh độ, trước phải dạy họ dứt sạch phiền não uế ô. Vì thế, danh hiệu Ngài đã nói lên ý nghĩa vận dụng ánh sáng trí tuệ chiếu soi cho chúng sanh thấy rõ những uế trược nơi mình, đồng thời giúp cho họ có sức mạnh đoạn trừ những uế tạp, hướng về tịnh độ.

 

4. Ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Ngày 13/7 âm lịch là ngày vía Đại Thế Chí Bồ Tát, tức ngày Bồ Tát đản sinh. Ngày này chúng Phật tử và những người hướng Phật cùng làm lễ kính ngưỡng công đức, hạnh nguyện của người. Không chỉ cúng dường, tụng niệm mà còn hướng về Phật pháp, học hỏi Phật pháp, noi gương Ngài ứng dụng vào đời sống để đạt tới lý tưởng tu hành của bản thân.

 

Ngoài ra, tích cực hành thiện, tổ chức phóng sinh, bố thí, gieo thêm căn lành, hạnh lành cho cuộc đời. Mỗi việc tốt là ngọn nguồn của một cây thiện, đâm ra trái ngọt quả lành mà con người cần phải nhân rộng, đẩy lùi xấu xa ác nghiệt, coi như hoàn thành ý nguyện của Bồ Tát Thế Chí.

 

Xem thêm bài viết Bố thí đúng cách - hưởng thụ khi học Phật

 

5. Đại nguyện của Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dưới đây là lời Bồ Tát Thế Chí nguyện hứa trước Đức Phật khi quyết đi theo con đường tiến tu, học đạo, hướng Phật và tu đạo Bồ Tát.

 

“Bạch Đức Thế Tôn! nay tôi xin đem công đức cúng dường Phật và chúng tăng trong ba tháng, và những hạnh tu tập của tôi đã từng làm, như là:

 

Ba nghiệp thân

 

  1. Không sát hại chúng sanh

 

  1. Không trộm cắp của người

 

  1. Không tà dâm

 

Bốn nghiệp miệng
 

  1. Không nói láo xược

 

  1. Không nói thêu dệt

 

  1. Không nói hai lưỡi

 

  1. Không nói độc dữ thô tục

 

Và ba nghiệp ý

 

  1. Không tham nhiễm danh lợi và sắc dục

 

  1. Không hờn giận oán cừu

 

  1. Không si mê ám muội, cùng các món hạnh tu thanh tịnh của tôi, mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và cầu được một thế giới rất trang nghiêm đẹp đẽ, như cõi Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quan Minh Sang Vương Như Lai.

 

Tôi xin tiếp tục tu đạo Bồ Tát, làm việc Phật sự, khuyên bảo chúng sinh, mang lại lợi ích cho chúng sinh để mau chóng hoàn thành những hạnh nguyện tôi đã thề. Đến chừng nào Phật Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai diệt độ, thì tôi sẽ thành đạo, kế ngôi Phật truyền Chánh Pháp mà độ hóa chúng sinh”.

 

6. Làm thế nào để thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát

 

Dai The Chi Bo Tat - anh sang vo bien do hoa chung sinh hinh anh 2
 

Thế Chí Bồ Tát là vị Bồ Tát có trí tuệ và tinh thần từ bi, cứu độ chúng sinh vô biên, vô điều kiện, muốn gặp Phật phải có Phật trong tâm, muốn được Phật độ chứng phải thành tâm tụng niệm. Muốn thỉnh nguyện tới Ngài thì hướng về Phật pháp, chuyên tâm tu dưỡng và cúng dường, làm lễ công quả.

 

Thế gian còn lao khổ, Thế Chí còn miệt mài cứu độ chúng sinh tiến tới cõi Niết Bàn. Cách thỉnh nguyện tốt nhất, hiệu quả nhất chính là học tập đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, không chỉ giữ lập trường tu hành, trọn vẹn tinh thần hoằng pháp mà còn đẩy lui phiền não khổ sở. Chẳng những để bản thân giác ngộ mà còn giác ngộ những người xung quanh để cuộc sống ngày càng tốt đẹp, ngày càng an lạc.

 

Chăm làm việc thiện, thiện giả thiện báo, phóng sinh cứu độ, giữ tâm chân thành, bố thí hoạn nạn, đường tới thỉnh nguyện Đại Thế Chí Bồ Tát ở ngay phía trước.

 

Địa Tạng Vương Bồ Tát - Địa ngục chưa trống thề không thành Phật Văn Thù Bồ Tát - bậc Đại Trí dùng trí tuệ dẫn đường chúng sinh


Tâm Lan


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đại Thế Chí Bồ Tát - ánh sáng vô biên độ hóa chúng sinh

Văn khấn Yết cáo Tổ tiên khi có tang

Sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính, hoặc tại nhà thờ của chi họ, nơi thờ ông bà nội, hoặc cụ nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính, nếu là gia đình nhà con thứ thì yết cáo tại nhà thờ của chi họ, nơi thờ ông bà nội, hoặc cụ nội.

van-khan-gia-tien-tang-le

Văn khấn yết cáo Tổ tiên như sau:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

- Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

- Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

- Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ họ………



Hôm nay là ngày… tháng… năm…

Hậu duệ tôn là………………………

Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ thân nếu là cha) và các chú bác, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại. Kính cáo Tổ Tiên:

Vì có: Hiển Khảo (hoặc Hiển Tỷ)…………thọ chung ngày …….. nay đã an táng xong, làm lễ hồi linh.

Kính theo lễ nghi phong tục, xin kính dâng lễ vật gồm hương hoa chuối oản, trầu cau, đèn nến, xôi gà thịt rượu, gọi là lễ bạc tâm thành. (Nếu sắp lễ có những thứ khác thì khi khấn tùy theo đồ lễ mà kể ra).


Kính cẩn quỳ trước linh vị của: Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, liệt vị Tiên linh. Trình thưa rằng:

Vật vốn nhờ trời
Người sinh nhờ Tổ.
Xót nay phụ thân (hoặc mẫu thân)
Theo Tiên theo Tổ
Sơ ngu vừa đặt tế điện
Nghĩ trước nghĩ sau
Vật mọn kính bày lễ số.
Ngửa trông chứng giám lòng thành;
Cúi nguyện phù trì bảo hộ.

Chúng con lễ bạc tâm thành tâm kính bái cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn Yết cáo Tổ tiên khi có tang

Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế

Quan sát cá tính bằng hữu : 1 - Loại bằng hữu hiệp nghĩa: Loại tướng bạn bè có tính hiệp nghĩa được biểu lộ ra ngoài bằng các đặc điểm sau đây:. - Cặp lông mày trông có vẻ thô nhưng nhìn kỹ thì thấy thanh tú và oai vệ : ánh mắt sáng nhưng không lộ, nhìn người hay vật đều nhìn thẳng mục tiêu. Mũi và lưỡng quyền cao thấp tương xứng với nhau; tiếng nói rõ ràng mạnh mẽ. Thấy việc phải dám làm dám nó , không sợ quyền uy, không ham tiền bạc.
Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


2 - Loại bằng hữu khẳng khái :Đặc diểm của bạn bè có tính khẳng khái bao gồm :- Mày đẹp, trán rộng, ánh mắt có vẻ cương cường nhưng không lạnh lẽo, mũi ngay thẳng và cao, phối hợp đúng cách với lưỡng quyền; tính tình độ lượng, thất việc đại nghĩa dám bất chấp mọi hiểm nguy, đứng ra đảm trách, thấy kẻ nguy khốn về tiền bạc dám dốc hết túi giúp đỡ một cách tự nhiên mà không hối tiếc .
3 - Loại bằng hữu trung hậu :Về mặt hình thức, loại bạn bè trung hậu thường có các đặc điểm: lông mày dài và thanh tú phối hợp thích nghi với cặp mắt không bị khuyết hãm về hình thể; mục quang ôn hoà nhưng không kinh kiếp; về mặt nội tâm, kẻ đó dù biết rõ bạn bè có lòng tham hay biển lận mà không tổn hại trực tiếp đến mình thì sẽ làm thinh, không vạch trần thói xấu của bạn bè cho người khác biết; không cưỡng cầu, không hại người để lợi cho bản thân, đối với bạn bè gặp lỗi nhỏ thì bỏ qua, gặp lỗi lớn thì thẳng tay phản kháng.
4 - Loại bằng hữu gian xảo âm hiểm:Ngoại biểu của hạng bạn bè kẻ trên là cặp lông mày thô và đậm quá mức bình thường, lòng trắng có nhiều tia máu hồng hoặc đỏ mũi gãy lệch, chuẩn đầu méo mó ánh mắt thường liếc xéo, không nhìn trực diện kẻ đối thoại, thích chơi gác người, thích nói xấu sau lưng người hoặc tọc mạch những chuyện kín của người không liên quan gì tới mình.
5 - Loại bằng hữu an phận thủ thừa:Loại này có bề ngoài dễ nhận thấy nhất là mũi nhỏ nhưng ngay thẳng, lưỡng quyền hẹp và thấp, nhãn cầu nhỏ không sáng, ánh mắt không giao động và ít biến thông, miệng nhỏ môi mỏng. Về cá tính, kẻ đó không dám mạo hiểm bất kể việc gì lớn nhỏ.
6 - Loại bằng hữu vô tình hoặc bạc tình:Loại này hình như toàn thể khuôn mặt đều mỏng manh. Mày thưa thớt và nhỏ, da mặt mỏng, mũi gãy dài và hình như không có thịt mang tai bạnh ra rất rõ ( nhìn từ sau vẫn còn thấy ), về mặt tâm tướng kẻ đó bất cứ làm gì đều chỉ biết có mình mà không biết tới người khác, hơn người chút đỉnh thì hớn hở còn thua sút thì bực dọc thịnh lộ.
7 - Loại bằng hữu tính nết hồ đồ:Loại bản hữu có tính hồ đồ nghĩa là kẻ ham tường việc đời, không có chủ kiến, dễ bị người thuyết phục. Bề ngoài của tướng người trên là lông mày mịn, nhỏ mọc lan xuống bờ mắt. Xương lưỡng quyền nhỏ, thấp, lòng đen, lòng trắng không rõ ràng, ánh mắt không có thân quang,giọng nói thiếu âm lượng, bước chân thiếu ổn định. Đó là loại người không phân biệt được xấu tốt rõ ràng.

Quan sát cá tính người giúp việc:
1 - Tướng người ngay thẳng:Tướng tổng quát của loại người giúp việc ngay thẳng là Ngũ quan đoan chín. Nhất là mũi cần đặc biệt chú ý. Mũi ngay ngắn nhưng hếch hoặc Chuẩn đầu như mỏ chim ưng là tướng nhười nguỵ quân tử dù cho Ngũ quan ngay thẳng.Trong trường hợp Mũi không có dạng mỏ chim, Ngũ đoan quan chính, ta vẫn phải dè dặt nếu chưa quan sát kỹ càng ánh mắt và ngôn ngữ. Kẻ mà ánh mắt nhìn thẳng, ăn nói không ba hoa rườm rà mới là người tâm địa ngay thẳng, thiện lương thực sự.
2 - Tâm tướng người ngu đần:Cặp lông mày đậm và lan xuống bờ mắt, Mắt ngắn và nhỏ, môi vẩu, răng khếp khểnh, cử chỉ châm lụt, cứng nhắc như cây gỗ mục nói năng hàm hồ.
3 - Tướng người ngang bướng:Các bộ vị giúp ta quan sát được tính người ngang bướng là lông mày và mắt. Lông mày thô đậm hoặc nghịch loạn, hoặc xương chân mày quá cao, quá thấp, mắt lồi hoặc tròn lốn hoặc lòng trắng hơi vàng đều là các chỉ dấu khá chính xác.
4 - Tướng người háo sắc:Loại tướng người háo sắc được biểu lộ ở phần ngoại biểu như hai mắt mục thần si daị như người ngái ngủ ( tuý nhãn ) hoặc ánh mắt ướt át, hoặc có dạng thức của Đào - hao - nhãn, trang phục chau chuốt quá đáng, mỗi khi nhìn thấy phụ nữ có chút nhan sắc hấp dẫn thì ánh mắt đưa đẩy, nói cười đon đả cầu thân dù rằng mới chỉ hội kiến lần đầu v.v… đều là những dấu hiệu bề ngoài của kẻ háo sắc.
5 - Tướng người giao tế giỏi:Mày thanh, Mắt sáng, Môi mỏng, Răng đều, nói năng hoạt bát, sắc mặt tươi tỉnh dễ thân cận v.v… đều biểu hiện của sự giao tế khéo léo. Loại người này có thể tốt hay xấu tuỳ theo mục đích mà họ đeo đuổi. Nếu có thiện ý, không mưu cầu tư lợi, loại này sẽ giúp được nhiều việc cho thượng cấp. Trái lại, nếu chỉ nhằm tư lợi, sử dụng tài hoạt bát để dèm pha khéo léo bạn đồng sự, lấy lòng thượng cấp, thì khi có cơ hội, kẻ đó sẽ là một kẻ bạc nghĩa. Muốn phân biệt tốt xấu, phải xem lỹ tác phong, quan sát ánh mắt khi đối thoại.
6 - Tướng người dễ phản phúc:Dấu hiệu bề ngoài là cặp mắt lồi và đỏ, nhìn người, tia mắt thường nhướng lên hoặc nhìn xuống, hay liếc xéo nhìn trộm chứ không bao giờ nhìn trực diện thượng cấp, Lông mày thưa thớt, Lưỡng quyền nổi ngang hoặc gồ cao không tương xứng với khuôn mặt, Trán có loạn văn, Sống mũi nghiêng lệch cong queo, Mang tai nẩy nở bất thường, tác phong giảo hoạt. Càng có nhiều các đặc trưng nói trên càng dễ quyết đoán. Tuy nhiên, chỉ cần một hai dấu hiệu rõ rệt cũng đủ khiến ta phải đề phòng tránh hậu hoạn. 
7 - Tướng người phục tùng:Mục quang ôn hoà, Mũi không lệch, Quyền không cao, không ham ăn uống, du hí, không ngại khó, không bao giờ tỏ vẻ oán hận ai đều là các dấu hiệu của sự phục tùng thượng cấp một cách ngay tình. Đây là mẫu người thừa hành lý tưởng cho các công việc thông thường
8 - Tướng người ích kỷ tư lợi:Ích kỷ tư lợi là thiên tính của con người, nhưng tướng người ích kỷ và tư lợi nói ở đây là loại người chỉ biết có mình, bất chấp tha nhân hậu quả. Dấu hiệu bề ngoài kẻ đó là*Đi đứng thường lao đầu về phía trước, đầu cúi thấp hoặc thường ngó trở lui*Cặp mắt trắng nhiều, đen ít*Mũi nếu hình dạng nhỏ thì lệch, còn nếu lớn thì cặp xuống như mỏ chim ưng*Bình thường nếu sai việc nhỏ thì tỏ ra siêng năng, ngoài mặt ra vẻ thành khẩn nếu việc đó khiến chủ nhân hay thượng cấp tin cậy thêm vào khả năng mình.
9 - Tướng người có tinh thần trách nhiệm:Đa số những người có tinh thần trách nhiệm đều có mặt mũi sáng sủa, Mục quang thuộc loại “ tàng nhi bất hối hoặc cương nhi bất cô” ( nghĩa là mục quang sáng nhưng vẻ sáng không quá lộ liễu, Nhìn qua ánh mắt khiến người phải kính nể nhưng không gây ra sự uý kỵ mất cảm tình ), Mũi của loại người này có thể lớn hoặc nhỏ, nhưng nếu kơn 1 thì phải cao, nếu nhỏ thì phải không lộ khổng và phối hợp tương xứng với Lưỡng quyền, ngôn ngữ của loại người có tinh thần trách nghiệm là khi làm việc thì chuyên tâm, không khinh xuất, thần khí trầm ổn.
Ngược lại, kẻ làm việc (dù việc đo rất thích hợp với đương sự hoặc làm việc không bị cưỡng bách) thiếu tinh thần trách nhiệm thì lông mày thô và quăn queo, mục thần lúc nào cũng như kinh hãi, Mũi và Lưỡng quyền cao rộng, tác phong lỗ mãng, cư xử thô bỉ.
10 - Tướng người cơ trí, ứng biến linh hoạt :Loại người này có đặc điểm dễ nhận thấy là mi thanh, mục tú, cặp mắt sáng sủa linh hoạt, đen trắng phân minh, sống mũi thẳng như ống trúc và không lệch lạc ( loại tiêm-đồng-tỵ ) phối hợp thích nghi với lưỡng quyền, Trán rộng và cân xứng, mục quang thuộc loại “ Phát nhi bất lộ, Nộ nhi bất tranh”, âm thanh trong sáng ấm cúng.
Đây là loại tướng người có thể giao phó các trọng trách. Đi xa thêm chút nữa nếu có thêm Sơn căn cao, địa các đầy đặn, vững vác không vát không gồ thì chẳng những kẻ đó đủ khả năng đảm nhận trọng trách một cách hữu hiệu mà còn duy trì trường cửu được địa vị quan trọng. Nếu Sơn căn thấy , địa các không đầy đặn và triều củng thì tuy có khả năng đảm nhận trọng trách, nhưng vì mạng vận vãn niên không tốt nên không thể ở lâu trong nhiệm vụ quan trọng, bởi lẽ địa các chủ về vãn vận .
Ngược lại, những kẻ mắt vượn, nhìn vật mà hếch mặt lên trời, cử chỉ khắc bạc trí trá, nói nhiều mà âm điệu thô trọc thì giao cho việc nhỏ có thể chu toàn, nhưng chấp chường đại quyền sẽ làm hư việc lớn. 
11 - Tướng người gian tham độc hại :Tướng người có tính gian tham được biểu lộ ra ngoài đầu nhỏ nhọn, lông mày xoắn tít, mắt có sắc hơi vàng tia mắt nhìn xuống hoặc liếc xéo, mắt hình tam giác, mũi ngắn và thấp. Địa các nhỏ nhọn. Loại người này khá khôn khéo. Làm việc giỏi nhưng hay có gian kế và có lòng tham. Tâm tính độc hại được thể hiện qua mắt rắn hoặc có dạng tam giác, mi cốt cao mà lông mày thô đậm hoặc mọc ngược, hoặc vút cao như dao: Mũi dài, cao nhưng hẹp và chuẩn đầu trơ xương hoặc cong như mỏ chim, tai thuộc loại khai hoa nhĩ, da mặt lúc nào cũng tái xạm ( do thiên bẩm chứ không phải vì bệnh hoạn hay mất ngủ).
12 - Tướng người nhút nhát, sơ việc: Kẻ có tướng nhát gan, sơ việc là kẻ có nhãn cầu nhỏ và mắt có sắc vàng khà rõ rệt, lòng đen tròng trắng thiếu sáng sủa, thân hình cao rộng mà mũi lại nhỏ thấp, nói năng thiếu thành tín, tham lam tiểu lợi. Nói chung, loại người này không hẳn là xấu nhưng không thể coi là đủ điều kiện để giao việc. Nếu vì ân tình mà kết nạp dưới trương hay cho giúp việc trong nhà thì cần quan sát thêm một vài điểm sau đây : Kẻ có tướng nhát gan nhưng đầu tròn không lệch lạc, mắt rùa, thân hình ngắn nhỏ, nói hay co đầu rụt cổ một cách tự nhiên là tướng rùa ( Quy cách ). Kẻ đó tuy làm việc không giỏi, nhưng tính nết hoà bình, đa phúc, đa thọ, không đem lại nguy hiểm cho người sử dụng.
13 - Tướng người điềm đạm, thâm trầm :Người có tính điềm đạm, thâm trầm được thể hiện ra ngoài qua một số đặc điểm sau đây :- Bất kể mũi cao hay thấp, miễn là ngay ngắn, phối hợp thích nghi với Lưỡng quyền - Mắt bất kể loại gì , miễn là mục quang ẩn tàng, nhưng không mờ tối, ôn hoà nhưng không nhu nhuyễn, môi hồng và trên dưới cân xứng. - Thần khí thư thái, thanh thản khiến người sơ kiến cũng có thiện cảm muốn tiếp cận, vui buồn không lộ .Có những đặc điểm đó là người được trời phú cho tính điềm đạm tự chế được sự hỷ nộ, công phu hàm dưỡng cao siêu hơn đồng loại. 

Quan sát cá tính người trên: 
1 - Tướng người trung hậu :Nhãn quang ôn hoà nhưng không nhu nhược, diện mạo khả ái, thường ngồi an tĩnh, ngôn ngữ khiêm cung, đối đãi với kẻ dưới có lòng khoan thứ, không hách xằng, hành sự chu toàn, không khinh bần tiện, không trọng sang giàu quý hiển, trong gia đình xử sự có điều lý, gia đạo an lạc. Bất cứ trong trường hợp bất bình với kẻ dưới ra sao đều không ỷ quyền thoá mạ .
2 - Tướng người hung ác :Nói đến hung ác, ta phân biệt đại ác và tiểu ác. Hơn nữa, có khi hung chưa hẳn là ác, có khía vừa hung vừa ác. Kẻ có hoả sắc ám tình (mắt đỏ) còn gọi là nhãn đới sát, được coi là nhãn hung, chủ về hung điểm cho chính bản thân, kẻ sắc mặt lúc nào cũng như dại hay ngái ngủ gọi là tầhn hung hay đới sát ….Tất cả các điều đó đều chủ về hung chứ không phải ác. Kẻ có thân thể lệch lạc, mặt có các thớ thịt phát triển theo chiều ngang, mày sắc như dao, mắt như rắn là kẻ tính ác và tham lam đê tiện. Trái lại, kẻ tóc cứng và thô như rễ tre. Trán gồ và phá hãm, mắt lồi và lộ hung quang kiêm nhãn thần vượng, lưỡng quyền có lông tơ rõ rệt, mũi lõm mà quyền cáo, mắt rắn và hay liếc xéo ánh mắt đảo điên, mũi chim ưng, mắt sói tiếng nói như chó sói tru, nhìn người hay cười lạnh là tướng người vừa hung vừa ác.
3 - Tướng người nhu nhược:Loại người nhu nhược, biểu hiện ra ngoài qua ánh mắt kinh nghi (bất kể loại mắt nào) chỉ thích nói chuyện nhàn hạ, không dám quyết đoán việc thuộc thẩm quyền của mình, nói năng khinh xuất. 
4 - Tướng người vô tình bạc nghĩa: Kẻ có tướng trên thì mang tai nở rộng quá đáng. Mắt nhỏ mà thiếu bề dài con người hơi vàng, môi mỏng như giấy, khi yếu thế hoặc chưa đắc thời thì đối đãi với người thân mật khắng khít, đến lúc đắc thế thì coi thiên hạ như cỏ rác hoặc thấy lợi thì quên hết mọi việc, lấy oán làm ân. 
5 - Tướng người bất cận nhân tình :Đặc điểm dễ nhận thấy nhất là tướng người thô trọc. Quyền thấp mũi cao, tính thích nịnh hót, dốt mà tự chuyên, nói năng tự tiện, lỗ mãng, hỷ nộ vô thường, đi đứng lao đầu uốn khúc tự cho là mạnh mẽ hiên ngang, không biết nhân tình thế cố mà tự cho là thông thái buộc người khác phải hiểu mình. 
6 - Tướng người giảo hoạt :Loại tướng này được thể hiện ra ngoài qua cặp mắt và mũi. Kẻ có mũi chim ưng bất kể nghiêng lệch hay không, mũi cao và lưỡng quyền cao thấp ra sao cộng thêm với cặp mắt không bao giờ nhìn thẳng (luôn luôn liếc xéo, nhìn lên, nhìn xuống) Miệng nói với người mà ánh mắt sáng láng giảo hoạt lại hướng về phía khác hoặc nhìn lén đều là tướng giảo hoạt. 
7 - Tướng người tinh tế :Tính tình tinh minh tế nhị được thể hiện ra ngoài bằng cặp lông mày thanh tú, nhỏ bề ngang mà mọc cao, mắt đẹp và mục quang thuộc loại Đinh nhi xuất (nhãn thần sáng rực, lúc ẩn lúc hiện) lòng đen trắng phân minh và sáng sủa hữu tình, ngôn ngữ ôn tồn, giọng nói không nhanh không chậm, cử chỉ ngay thẳng đàng hoàng, bề ngoài tuy có vẻ ôn nhu thuận hảo nhưng nội tâm cương trực không bị người chi phối. 
8 - Tướng người khó có thể bị dối gạt :Đa số những người có óc phân biệt bén nhạy và khó dối gạt được có mày cao mắt đẹp, thần khí sung mãn, đồng tử sáng sủa, lòng đen, tròng trắng phân minh, âm thanh cao và trong trẻo, ngữ điệu vừa phải, thích nghi, toàn thân như tỏa ra một vẻ oai nghiêm khiến người trông thấy phát sinh sợ hãi ngầm không dám đặt điều nói gạt.
Về cá tính, kẻ đó không thể lấy tình cảm để đã thông, không để lợi danh làm mờ mắt, gặp việc đáng làm thì trầm ngâm mặc suy tư cẩn thận, ít ba hoa biện giả, khi cùng người giao tiếp, không trọng hình thức, có lỗi thì vạch rõ, có công thì khen thưởng, không tư vị, dù cho kẻ đó là người xa lạ hay quen mình cũng vậy. 

1) Nhân tướng học & tiên liệu vận mạng
2) Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế
3) Tướng Phát  Đạt
4) Tướng Phá Bại
5) Thọ, Yểu qua tướng  người
6) Đoán tướng tiểu nhi
7) Phu Luân về tướng Phụ nữ
8) 36 tướng hình khắc
9) Những tướng cách phụ nữ
10) Nguyên lý Âm Dương Ngũ hành
11) Ứng dụng của Âm Dương trong Tướng Học
12) Tương quan giữa Sắc và con người
13) Ý niệm Sắc trong tướng học Á Đông
14) Bàn tay và tính tình
15) Quan điểm của  Phật giáo về vấn đề xem Tử Vi - Bói Toán


  (Trích Lược Tử Vi : Tuổi Mùi,  năm nay số mệnh ra sao ? 12 Con Giáp và những đặc tính)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế

Doanh nhân tuổi Mùi chọn đối tác

Đối với doanh nhân tuổi Ất Mùi (1955), cả nam giới và nữ giới nên hợp tác làm ăn với người tuổi Ất Mùi, tuổi Mậu Tuất (1958), tuổi Tân Sửu (1961).
Doanh nhân tuổi Mùi chọn đối tác

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)


Đối với doanh nhân tuổi Ất Mùi (1955), cả nam giới và nữ giới nên hợp tác làm ăn với người tuổi Ất Mùi, tuổi Mậu Tuất (1958), tuổi Tân Sửu (1961).

Đối với doanh nhân tuổi Đinh Mùi (1967), cả nam giới và nữ giới nên hợp tác làm ăn với người tuổi Mậu Thân (1968), tuổi Canh Tuất (1970) và tuổi Giáp Dần (sinh 1974).

Đối với doanh nhân tuổi Kỷ Mùi (1979), nam giới nên hợp tác làm ăn với người tuổi Canh Ngọ (1930), tuổi Quý Hợi (1923, 1983), tuổi Giáp Tý (1924, 1984). Nữ doanh nhân tuổi Kỷ Mùi nên hợp tác làm ăn với người tuổi Canh Thân (1920, 1980), tuổi Quý Hợi, tuổi Giáp Tý.

Đối với doanh nhân tuổi Tân Mùi (1931, 1991), nam giới nên hợp tác làm ăn với người tuổi Quý Dậu (1933), Ất Hợi (1935), Bính Tý (1936), Kỷ Mão (1939). Nữ doanh nhân tuổi Tân Mùi nên hợp tác làm ăn với người tuổi Quý Dậu (1933), tuổi Ất Hợi (1935), tuổi Bính Tý (1936).

Đối với doanh nhân tuổi Quý Mùi (1943), nam giới nên hợp tác làm ăn với người cùng tuổi Quý Mùi, tuổi Ất Mùi (1955), tuổi Đinh Hợi (1947), tuổi Kỷ Sửu (1949). Nữ doanh nhân tuổi Quý Mùi nên hợp tác làm ăn với người cùng tuổi Quý Mùi, tuổi Ất Dậu (1945), tuổi Đinh Hợi (1947).

(Theo Việt Báo)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Doanh nhân tuổi Mùi chọn đối tác

Cách đàn bà đa phu (nhiều chồng) trong tử vi

Tử vi đẩu số là trang kiến thức xem tử vi 2017, lấy lá số tử vi và luận giải, xem tuổi vợ chồng, ngày lành để cưới hỏi, làm nhà, khai trương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách đàn bà đa phu (nhiều chồng) trong tử vi

Cách đàn bà đa phu (nhiều chồng) trong tử vi

Cách đa phu tại cung Phu:

Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia đạo đặc biệt là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là "ngọc có vết", ám chỉ duyên số phụ nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng cho đến hậu quả trên hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là có hai đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn bà bị hắt hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ có Kỵ đơn thủ thì chỉ có nghĩa là bất hòa mà thôi.

Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn hãm địa sẽ bất lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài lần. Trái lại, nếu ba cung trên tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà thôi.

Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh: khắc phá, dễ đi đến tan vỡ, chắp nối.

Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê dù là đắc địa. Tuần, Triệt báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao thường báo hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba lần. Chỉ riêng Tuần hay Triệt cũng đủ hủy hoại một lần hôn nhân.

Tuần, Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung: chỉ sự gãy đổ một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau khi có lễ hỏi, nặng nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần, Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó tránh và có thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc phải ở vậy nuôi con, dù có "lắm mối" mà tối vẫn "nằm không". Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có. Hai sao này phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ nặng nhẹ, số lần tan hợp còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.

Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia đạo nhiều lần, đặc biệt là khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.

Tử Vi, Tham Lang hội Tả, Hữu: Riêng Tả, Hữu ở Phu ám chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai đời chồng hoặc nếu Mệnh, Thân có nhiều sao tình dục thì có chồng và có cả nhân tình.

Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì Thiên Hình chỉ sự ghen tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám chỉ một vụ ngoại tình nào đó của người chồng (hay vợ) làm đổ vỡ gia đạo, sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính quá ghen tuông của người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn có Đào Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường tái diễn và việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.

Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có phần nặng hơn vì Thiên Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi Đào Hoa có thể chỉ bay bướm lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa là chồng ngoại tình song đây cũng là cách gái hại chồng, phản chồng để thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ khi Riêu thủ ở Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng, ngoại tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương tích) hoặc kiện ly dị.

Đào Hoa hay Hồng Loan gặp Hóa Kỵ: không nhất thiết phải có hai chồng. Chắc chắn nhất là bộ sao này chỉ sự đắc mèo của chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu là có sự lục đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan chính thì vấn đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa "phu". Nếu nhân duyên bị gián đoạn, người đàn bà tái giá rất nhanh, nhờ luôn có kép hờ.

Long Trì, Phượng Các, Tả Hữu: Long Phượng chỉ hôn nhân, còn Tả Hữu ngụ ý có sự song đôi hay tái sinh, tái hợp nhiều lần. Vì bản chất tốt đẹp của Long Phượng nên trong cả hai lần, phụ nữ đều gặp nhân duyên ưng ý.

Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng và vợ đi đôi với Tả Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình hoặc tình trạng có gia đình mà có nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng sáng, hai mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ ám, thường là ngang trái, chia ly.

Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.

Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Riêu: Cự ở Phu chỉ trắc trở gia đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu chỉ sắc dục. Đây là trường hợp ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự ở Phu thường chỉ hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình xác thịt cho nên cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh lý.

Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới hợp thức hóa (tiền dâm hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ hoặc chồng có một đời con trước rồi mới họp nhau.

Cách đa phu tại cung Mệnh hay Thân:

Đào Hoa hay Hồng Loan với Thiên Riêu: đa tình, đa dâm, dù đã có chồng.

Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung: chỉ sự dâm đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi và vô điều kiện. Riêng bộ Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự hiện diện của sao Thai còn có nghĩa "không chồng mà chửa".

Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn đề sinh lý và là biểu hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do thể xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp Riêu tại đó thì có thể là giang hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.

Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục: Mộc Dục và Hoa Cái chỉ sự chưng diện, se sua và háo dâm. Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm đãng vào tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh lý. Đây là người chưng diện sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi người phải chết mê, chết mệt vì họ.

Tướng, Khúc, Mộc, Cái, Đào: chỉ sự hoa nguyệt của hạng người quý phái, ngoại tình với các nhà tai mặt, quyền thế, sang trọng.

Tham Lang hay Thất Sát ở Dần, Thân: chỉ người con gái bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái hay quyền lợi hơn là vì tình yêu

Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội thêm Tả Hữu, có thể có hai đời chồng.

Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng trong tình trường, cụ thể như gặp nhiều mối tình hết sức ngang trái hoặc phải tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử. Người đàn bà như vậy gặp nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng tan, mỗi lần như thế đều phải điêu đứng, đau khổ, có khi đến tự tử (sát tinh).

Chính tinh hãm địa ở Mệnh: cũng là một bất hạnh có thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm Tham không bao giờ hợp với phụ nữ về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể quyền quý cao sang nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn, chắp nối.

Cách đa phu ở cung Nô:

Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có chồng.

Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên Đồng: háo dâm, hay thay đổi tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ có Riêu ở Mão, Dậu thì tương đối kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh giá, tai tiếng. Nếu có Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn thận, nhờ tài khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa là yêu trộm, thương thầm, có khi chỉ một chiều.

Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang chạ.

Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể có thai. Thông thường, có sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục Binh và Tướng Quân chỉ thủ đoạn, làm liều, táo bạo. Và cũng vì có Phục Binh nên có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình bị bắt ghen tại trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.

Cách đa phu ở cung Tử:

Khi cung Tử là âm cung thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai chồng: Thiên Tướng, Tuyệt - Thái Âm, Thiên Phúc - Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung - Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu - Phục Binh, Tướng Quân - Thai, Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.

Cách đa phu ở cung Thê của phái nam:

Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.

Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm hay ngoại tình.

Đào, Thai hay Hồng Riêu hay Riêu Thai: vợ ngoại tình, lang chạ, đôi khi mang con người về cho chồng nuôi.

Thất Sát hay Phá Quân ở Thìn, Tuất: vợ hai lòng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách đàn bà đa phu (nhiều chồng) trong tử vi

Cách chọn tòa nhà lý tưởng nhất trong khu dân cư –

Khi chọn mua nhà, có thể bạn sẽ rất chú ý đến các vấn đề “cục bộ” như loại hình nhà, diện tích lớn nhỏ, nhưng vị trí của ngôi nhà trong khu dân cư tốt hay xấu thì lại chưa quan tâm đúng mức. Đương nhiên, có không ít công trình khi bán ra thì thường

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

namlong6

là bán hết mới xây một công trình mới, nếu nó bán chạy, người mua có thể không có cái nhìn tổng thể, bao quát toàn bộ, nhưng đổi vối một số khu dân cư vừa và lớn, vị trí vĩ mô nói trên có ảnh hưởng nhất định đến sự thoải mái và thuận lợi của chủ nhà. Do đó, nếu có thể, căn nhà nằm ở tòa nhà đẹp nhất trong khu dân cư rất đáng để chờ đợi.

Khi chọn nhà nếu có cái nhìn tổng quát thì nên bắt đầu từ đánh giá về diện mạo và sa bàn (mô hình địa hình) (đương nhiên điều kiện tiên quyết là bản đồ quy hoạch và sa bàn phải có thật, không có hiện tượng lừa đảo, gian trá), sau đó tổng hợp các nhân quan trọng sau đây để có thể lựa chọn được căn nhà ưng ý trong tòa nhà lý tưởng nhất.

(1) Vị trí lý tưởng nhất: phía Táy Bắc có che chắn, phía Đông Nam có cây cối

Thường thì vị trí tòa nhà có nhiều diện tích dành cho cây cối nhất trong khu dân cư là tốt nhất, màu xanh của cây cối không chỉ là khung cảnh đẹp khiến con người vui vẻ mà nó còn có tác dụng tốt trong việc ngăn cách tạp âm, bụi bặm, tạo khí hậu dễ chịu (như độ ẩm đầy đủ, ấm áp).

Nhìn từ góc độ này, tòa nhà có phong thủy tốt nhất là nằm ở góc Đông Nam, vừa đón được ánh sáng mặt trời vừa có được cảnh quan xung quanh, lại có được thời tiết dễ chịu. Sau đó là hướng chính Nam, rồi lần lượt đến Tây Nam, Đông Bắc, chính Đông, chính Tây, Tây Bắc, chính Bắc.

(2) Chú ý sự cân bằng của “đi lại thuận tiện ” và “không gian yên tĩnh ”

Nếu trong nhà có người đi làm, có con cái đi học phải thường xuyên ra vào thì nên cân nhắc đến sự thuận tiện trong đi lại. Đối với một khu dân cư vừa và lớn, nếu đi ra khỏi khu dân cư mất hơn 5 phút đi bộ thì sẽ nảy sinh không ít phiền toái, nhưng nếu các thành viên trong nhà vừa có già, trẻ là những người không đi làm thì còn phải xem xét đến việc tránh xa sự ồn ào, ầm ĩ. Phương pháp cân bằng hai vấn đề nêu trên là: chọn nhà vừa không được quá xa, vừa không được quá gần đưòng, cửa ra vào điểm để xe dưói lòng đất, điểm chờ xe trên mặt đất, sân quần vợt trên mặt đất, trường học trong khu dân cư, đặc biệt là nhà ở nhiều tầng. Đối với nhà cao tầng, chọn nhà ở tầng 7, tầng 8 trở lên là có thể giải quyết được vấn đề tạp âm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách chọn tòa nhà lý tưởng nhất trong khu dân cư –

Trang trí bàn ăn nổi bật suốt những ngày Tết

Có thể nói, bàn ăn là nơi chúng ta sử dụng đến nhiều nhất trong những ngày này, vậy thì tại sao lại không đầu tư một chút vào việc trang trí để vừa mang lại ấn tượng cho khách vừa mang lại niềm vui cho cả nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm hết Tết đến, người Việt thường có truyền thống dọn dẹp và tân trang lại tổ ấm của mình với hy vọng bước sang năm mới sẽ tống khứ những điều không may mắn của năm trước đi, đón chào những điều tốt đẹp nhất của năm mới vào nhà. Nếu như những ngày trước Tết, nhà nhà tất bật với việc trang trí, sắm sửa thì khi bước qua giao thừa, chúng ta lại sẽ thường xuyên bận rộn với việc tiếp đón và chiêu đãi khách hay đặc biệt hơn là tận hưởng những khoảnh khắc ấm áp cùng với các thành viên bên mâm cơm gia đình.

Chọn chiếc bàn ăn phù hợp

Một trong những quyết định đầu tiên mà bạn phải làm là chọn chiếc bàn ăn nếu nhà bạn chưa sẵn có hoặc là xem xét hình dạng chiếc bạn muốn sử dụng để trang trí. Việc này tương đối dơn giản hơn rất nhiều so với trang trí và sắp đặt cho bữa ăn.

Bàn ăn hình chữ nhật là phổ biến và được yêu thích nhất vì chúng vừa tinh tế với các đường nét dứt khoát vừa đủ sức phục vụ các nhu cầu của bạn một cách hoàn hảo.

 trang tri ban an noi bat suot nhung ngay tet - 1

Bàn ăn hình tròn hoặc hình oval là lựa chọn tuyệt vời khi bạn muốn tiết kiệm không gian. Không những thế, bàn tròn còn tạo cảm giác thân mật hơn do chia sẻ không gian đồng đều giữa các thành viên. Nếu có ít hơn 6 người, đây là lựa chọn tối ưu nhất.

Bàn ăn hình vuông hiển nhiên là ít được ưa chuộng nhất và bạn cũng sẽ hiếm khi nhìn thấy chúng hiện diện trong các bản thiết kế của các chuyên gia tư vấn nội thất. Tuy nhiên đây là một lựa chọn hợp lý nếu bạn tổ chức tiệc dành cho 4 người trong một căn phòng dài và hẹp. Dùng kèm với một tấm thảm sẽ giúp bạn tạo ra hiệu ứng một căn phòng nhỏ trong một căn phòng lớn

Chọn phong cách sắp đặt

Vì là dịp Tết cổ truyền nên có lẽ phong cách Việt Nam sẽ chiếm ưu thế hơn, tuy nhiên nếu bạn cảm thấy muốn đổi mới không khí một chút thì phong cách phương Tây cũng không tồi đâu. Đối với phong cách Việt thì điều bạn cần làm là chọn một bộ chén bát có hoa văn, hoạ tiết mùa xuân hoặc là màu sắc mang đến sự vui vẻ may mắn. Mỗi vị trí sẽ đặt một chiếc bát và một đôi đũa, giữa bàn là những tô, dĩa có kích thước lớn hơn để đựng thức ăn chung cho mọi người. Ngoài ra bạn cũng đừng quên thêm vào những chén nhỏ đựng nước chấm. Ly cốc nên đặt phía bên phải của mỗi người để tiện sử dụng.

 trang tri ban an noi bat suot nhung ngay tet - 2

Phong cách phương Tây cầu kỳ hơn với nhiều phụ kiện, bạn cần chuẩn bị dĩa và bộ dao muỗng: dĩa đặt trước mặt, khoảng cách từ mép bàn đến dĩa bằng chiều dài ngón cái, dao đặt bên phải, nĩa đặt bên trái, muỗng dành cho món tráng miệng đặt phía trên. Mỗi người đều được chuẩn bị ít nhất 2 ly một ly rượu và một ly nước lọc đặt phía tay phải. Khăn ăn là vật không thể thiếu, bạn có thể chọn một vài kiểu gấp như đài sen, nón của giáo hoàng hoặc túi đựng dao nĩa để trang trí thêm cho bàn ăn.

 trang tri ban an noi bat suot nhung ngay tet - 3

Chọn khăn trải bàn

Người Việt thường ít dùng khăn trải bàn trong các bữa ăn, tuy nhiên để tăng sự trang trọng cho bữa tiệc cũng như góp phần tôn vinh những món ăn ngon, chúng ta nên dùng một chiếc khăn trải bàn làm phông nền cho chủ đề của bữa tiệc. Nếu có một chiếc bàn đẹp nhưng vẫn muốn tạo điểm nhấn khác biệt ngày thường, bạn có thể dùng 1 dải khăn đặt giữa bàn.

 trang tri ban an noi bat suot nhung ngay tet - 4

Những chiếc khăn trải bàn đơn sắc màu sáng rất dễ dùng nhưng hãy chú ý tạo điểm nhấn cho bàn ăn bằng bộ chén dĩa có hoạ tiết, hoa lá nổi bật hoặc các tấm lót có màu sắc bắt mắt.

Màu đỏ không thể thiếu trong các bàn tiệc ngày Tết, bạn có thể dùng chung khăn trải bàn màu đỏ với bộ chén bát có màu trắng, với các hoạ tiết đơn giản, tránh các hoạ tiết nhiều màu rối rắm.

Chọn hoa trang trí

Mùa xuân không thể không nhắc đến hoa. Những loài hoa có màu sắc tươi sáng, rực rỡ như vàng, đỏ… thường là lựa chọn tối ưu cho ngày Tết. Vì những gam màu này thường mang ý nghĩa tượng trưng cho sức sống, sự may mắn, hơn thế nữa, nó còn tạo cảm giác ấm áp cho cả ngôi nhà của bạn trong những ngày Xuân. Nếu yêu thích sự trẻ trung, tươi vui bạn có thể chọn hoa lưu ly, hoa đồng tiền. Hoa hồng và hoa lan rất phù hợp trong những bữa tiệc trang trọng, lãng mạn. Ngoài ra nếu bạn thuộc tuýp người yêu thích phong cách mộc mạc, đơn sơ thuần Việt thì hoa sen hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu này

 trang tri ban an noi bat suot nhung ngay tet - 5


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trang trí bàn ăn nổi bật suốt những ngày Tết

Tết đi du lịch, trái với thuần phong mỹ tục?

Một năm chúng ta có thể đi du lịch nhiều lần nhưng với Tết, không có lần thứ hai trong năm để sum họp bên gia đình người thân....

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện nay, có nhiều người chán Tết và luôn có tư tưởng đi du lịch nước ngoài. Họ cho rằng, Tết truyền thống đã nhàm chán, đón Tết ở nhà cũng rất mệt mỏi nên muốn thay đổi không khí bằng việc, đi ăn Tết ở nước khác.

Không biết quan điểm của nhiều người thế nào nhưng với tôi, việc Tết đi du lịch ở nước ngoài là trái với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.

Nghe nhiều người nói chán Tết, muốn bỏ Tết truyền thống vì Tết thật sự quá vất vả, mệt mỏi, không cần thiết, tôi thấy có chút buồn. Vì căn bản, Tết là dịp nghỉ dài duy nhất trong năm, là dịp để con cháu, ông bà, bố mẹ sum họp với gia đình. Với những người ở gần thì điều đó không có gì đáng bàn, vì họ thường xuyên được về ăn Tết cùng bố mẹ. Nhưng với những người ở xa, một năm được về một lần, thậm chí vài năm mới về một lần thì Tết là một dịp đặc biệt, là một dịp nghỉ dài người ta trân trọng. Đó là những ngày thiêng liêng nhất họ được ở bên bố mẹ, gia đình, người thân yêu. Có khi họ phải chờ cả năm, cả vài năm mới được đón một cái Tết bên gia đình.

Khi bạn ở gần, những dịp sum họp như thế không khó, thích thì có thể về với bố mẹ vài ngày. Nhưng với những người con xa nhà, dịp ấy thật sự quá khó khăn, quá là mong mỏi.

 tet di du lich, trai voi thuan phong my tuc? - 1

Mỗi dịp Tết về, trong lòng mỗi người con Việt Nam lại thổn thức, lại bổi hổi bồi hồi nhớ về quê hương, nhớ về gia đình nhất là những người nơi xa. (ảnh minh họa)

Nhiều người chọn cách ra nước ngoài du lịch để ‘trốn Tết’, đứng ở cương vị cá nhân, tôi cho rằng, đó là một tư tưởng đi ngược lại truyền thống.

Bạn có thể nghĩ đơn giản rằng, Tết nhiều rồi, một năm đổi không khí không sao? Tết nhiều rồi, đi ra ngoài chút cũng không vấn đề gì. Năm nào chả có Tết, lại chỉ cỗ bàn, lại chỉ cơm nước, lại chỉ bận rộn với những việc rửa bát, nấu nướng, mệt mỏi vô cùng. Nhưng, trong thâm tâm bạn có thể không nghĩ sâu xa rằng, bố mẹ sẽ rất buồn khi một cái Tết không có con cái sum vầy.

Những quảng cáo trên truyền hình, trên mạng xã hội chẳng phải luôn nhắc nhở những bậc làm con rằng, Tết dù bận thế nào, dù ở đâu thì cũng đừng quên về bên ba mẹ. Vì chẳng phải ba mẹ có thể sẽ nói không buồn nhưng trong lòng thì luôn mong ngóng con cái hay sao?

Mỗi dịp Tết về, trong lòng mỗi người con Việt Nam lại thổn thức, lại bổi hổi bồi hồi nhớ về quê hương, nhớ về gia đình nhất là những người nơi xa. Mùi hương ngày Tết sẽ nhắc nhở người ta nhớ tới tình cảm ấm áp thiêng liêng, nhắc đến giây phút sum vầy. Đó mới là điều quan trọng, chứ không phải là chuyện chúng ta được ở bên bố mẹ rất nhiều lần trong năm không phải chỉ là ngày Tết.

Du lịch, ngày này không đi, ngày sau có thể đi, bất cứ lúc nào chúng ta muốn chúng ta đều đến được. Nhưng với ba mẹ và những người thân yêu, một dịp để vui vẻ, sum vầy bên nhau không phải dễ. Nên với tôi, Tết đi du lịch nước ngoài là trái với thuần phong mỹ tục, là việc không nên chút nào. Nên các bạn, hãy nhớ, ngày Tết cùng với gia đình, ở nơi mình sinh ra và lớn lên, đó mới là điều khiến ta cảm thấy thổn thức trong lòng nhất, khiến ta cảm thấy được trở về nguồn cội, quê hương hơn bao giờ hết…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tết đi du lịch, trái với thuần phong mỹ tục?

Những con giáp nam sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc

Đàn ông hẳn đều khao khát sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc. Điều này rất khó song cũng có những con giáp nam tài giỏi, gia đình sự nghiệp đều trọn vẹn
Những con giáp nam sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đàn ông ai cũng khao khát có được sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc. Đây là điều không phải ai cũng làm được, song cũng có những con giáp nam vô cùng tài giỏi, gia đình và sự nghiệp đều xuất sắc, viên mãn.   Trong cuộc đời, mỗi người lại có những mục tiêu theo đuổi khác nhau. Có những người quyết tâm xây dựng sự nghiệp, bỏ bê gia đình và người thân. Có người lại rất có trách nhiệm với gia đình, chu đáo với vợ con, song sự nghiệp lại không có gì nổi bật. 


Nhung con giap nam su nghiep thanh cong, gia dinh hanh phuc hinh anh 2
 

Sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc chắc hẳn là mục tiêu lý tưởng mà tất cả mọi người đàn ông từ cổ chí kim đều mơ ước. Đáng tiếc là mục tiêu ấy không phải ai cũng có thể đạt được. Cán cân gia đình và sự nghiệp quả thực rất khó để có thể cân bằng. Tuy nhiên, vẫn có một số ít người làm được điều đó, gia đình và sự nghiệp đều trọn vẹn. Vậy trong số 12 con giáp, những con giáp nam nào là người tài giỏi ấy? Chúng ta hãy cùng khám phá xem nhé.

 

1. Tuổi Hợi
 

Nhung con giap nam su nghiep thanh cong, gia dinh hanh phuc hinh anh 2
 

Người tuổi Hợi trời sinh đã có phúc khí, bản thân họ cũng rất tài năng, tính cách lại trung hậu, thật thà. Người tuổi Hợi được đánh giá rất cao trong công việc, họ làm bất cứ việc gì cũng rất tập trung và giàu tinh thần trách nhiệm, tận tâm tận lực, dốc hết sức mình để hoàn thành công việc được giao. Người này được rất nhiều quý nhân phù trợ trên con đường sự nghiệp, công việc trôi chảy thuận lợi, mối quan hệ với cấp trên cũng rất tốt. Sự nghiệp của con giáp nam này vô cùng thành công, công danh, tài lộc đủ đầy.
 
Đàn ông tuổi Hợi cũng rất coi trọng gia đình, họ biết cách cân bằng mối quan hệ giữa gia đình và sự nghiệp.  Vốn là người tài năng nên họ rất có đầu óc sắp xếp, phân bổ thời gian. Chỉ cần có chút thời gian rảnh rỗi, người đầu tiên họ nghĩ đến chính là người thân. Mong ước của họ là dành cho người thân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Gia đình cũng chính là chỗ dựa vững chắc về tinh thần để họ yên tâm phát triển sự nghiệp.
 

2. Tuổi Thìn
 


Nhung con giap nam su nghiep thanh cong, gia dinh hanh phuc hinh anh 2
 

Người sinh năm Thìn vốn thông minh đĩnh ngộ, từ nhỏ đã tỏ rõ tài trí hơn người. So với những người khác, cuộc đời của họ yên bình hơn, ít khi gặp phải khó khăn, trở ngại. Theo tử vi tuổi Thìn năm Đinh Dậu 2017, người tuổi này hợp Thái Tuế, mọi phương diện đều thuận lợi, thuận buồm xuôi gió. Đàn ông tuổi Thìn rất coi trọng sự nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao. Vì công việc, họ có thể bỏ ăn bỏ ngủ, chuyên tâm với mục tiêu mình đã chọn. Nhờ có tài năng và nỗ lực không ngừng nghỉ, con đường công danh sự nghiệp của họ ngày càng rộng mở thênh thang.
 
Đàn ông tuổi Thìn là người chồng, người cha tốt trong gia đình. Họ luôn biết cảm thông, thấu hiểu với phụ nữ nên sẵn sàng làm việc nhà hay giúp đỡ vợ đảm đương nội trợ, chăm sóc con cái, nhờ đó mà gia đình luôn ấm êm, hạnh phúc. Đàn ông tuổi Thìn là mẫu người điển hình mà mọi người phụ nữ đều mơ ước được lấy làm chồng.
 

3. Tuổi Tuất
 


Nhung con giap nam su nghiep thanh cong, gia dinh hanh phuc hinh anh 2
 

Đàn ông tuổi Tuất tính tình ngay thẳng, cương trực, trọng tình trọng nghĩa. Họ luôn đem lại cảm giác yên tâm cho mọi người, dù là trong gia đình hay nơi làm việc. Người tuổi Tuất rất có trách nhiệm trong công việc, không bao giờ xao nhãng hay có thái độ xuề xòa, thiếu nghiêm túc khi làm việc. Họ luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, lại trung thành với cấp trên, hòa đồng thân thiết với đồng nghiệp, vì thế mà sự nghiệp thành công, giàu sang phú quý.
 
Khi về nhà, đàn ông tuổi này cũng rất quan tâm đến người thân, chăm sóc chu đáo cho tất cả mọi người trong gia đình. Đó gần như là bản năng tự nhiên của con giáp này. Đối với họ, gia đình hạnh phúc và sự nghiệp thành công đều quan trọng như nhau, đều là những điều cần phải có và nhất định phải nỗ lực đạt được trong đời.
 

4. Tuổi Tị
 


Nhung con giap nam su nghiep thanh cong, gia dinh hanh phuc hinh anh 2
 

Con giáp này có đầu óc lanh lợi, khả năng tự kiềm chế cao. Họ luôn xác định rõ ràng điều mình cần trong từng thời điểm. Khi làm việc, trí thông minh và tài xử lý linh hoạt giúp công việc của họ được tiến hành rất hiệu quả, giành được sự đánh giá cao từ cấp trên. Người này cũng gặp nhiều may mắn trên đường đời, được nhiều người giúp đỡ mỗi khi khó khăn, hoạn nạn. Họ gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp, đường công danh tài lộc sáng lạn. Tuổi Tị cũng được đánh giá là 1 trong 4 con giáp sự nghiệp thăng tiến ầm ầm năm 2017.
 
Sự nghiệp thành công giúp đàn ông tuổi Tị thỏa mãn ước mơ danh vọng, còn gia đình là nơi để họ có thể buông bỏ mọi sự nghiêm túc, khắc nghiệt ngoài xã hội. Họ luôn khao khát mang lại cho người thân cuộc sống tốt đẹp hơn, mong muốn được chia sẻ với người thân mọi niềm vui trong cuộc sống. Gia đình và sự nghiệp là 2 mảnh ghép không thể thiếu trong cuộc đời của con giáp này. Đàn ông tuổi Tị quả thực là người chồng tận tụy và người cha ấm áp trong gia đình, là chỗ dựa vững chắc cho vợ con, là trụ cột của gia đình.
 
Sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc là mẫu số chung trong cuộc đời con người. Sự nghiệp hay gia đình đều là những điều quan trọng, làm tốt vị trí của mình ở cả hai lĩnh vực không phải là một điều dễ dàng, song nếu bạn thực sự mong muốn và dụng tâm thực hiện thì không có khó khăn nào là không thể vượt qua, ước mơ dù xa vời đến đâu cũng đều có thể trở thành hiện thực.     Hy Vũ
Điểm mặt các con giáp sinh ra đã thành công 4 con giáp dễ đối mặt với nghịch cảnh tán gia bại sản trong năm 2017 Điểm danh các yếu tố phong thủy ảnh hưởng tới nam giới năm 2017

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp nam sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc

12 trực và ngày tốt - xấu

Trong tục xem ngày tốt, ngoài việc coi cát tinh (sao tốt) và hung tinh (sao xấu) người ta còn xét đến kiến trừ thập nhị khách (12 trực). Có tất cả 12 trực, mỗi
12 trực và ngày tốt - xấu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong tục xem ngày tốt, ngoài việc coi cát tinh (sao tốt) và hung tinh (sao xấu) người ta còn xét đến kiến trừ thập nhị khách (12 trực). Có tất cả 12 trực, mỗi ngày 1 trực theo trình tự:

1. Kiến; 2. Trừ; 3. Mãn; 4. Bình; 5. Định; 6. Chấp; 7. Phá; 8. Nguy; 9. Thành; 10. Thu; 11. Khai; 12. Bế.

12 truc va ngay tot - xau hinh anh
Nhị thập khách


Thời kỳ đầu, 12 trực dùng để chỉ tên 12 tháng âm lịch. Về sau 12 trực được chuyển hóa, dùng để chỉ ngày tốt, ngày xấu.

Theo sự vận hành của sao tốt và sao xấu thì có một số sao vận hành tương ứng với ngày trực: sao Nguyệt Phá trùng với trực Phá, sao Thiên Hỷ trùng với trực Thành...

Trong 12 trực nói trên, Trừ, Định, Nguy, Khai là Tứ Hộ Thần tức là thần cát lợi. Chấp, Kiến là thần nửa hung nửa cát. Bế, Mãn, Bình, Phá, Thành, Thu là thần hung.

Lịch sử kỷ niên của Trung Quốc có từ lâu đời và họ lấy thứ tự của 12 chi để tính tháng, được gọi là Nguyệt Kiến. Ví dụ, tháng 1 kiến Dần, tháng 2 kiến Mão... lần lượt quay vòng đến hết 12 tháng.

Theo Bàn về lịch vạn niên


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 trực và ngày tốt - xấu

Phong thủy ngọn đồi thiêng của nhà Nguyễn

ĐÓ LÀ ĐỒI HÀ KHÊ NỔI DANH VỀ PHƯƠNG DIỆN PHONG THỦY VỚI THẾ ĐẤT “RỒNG CUỘN HỔ NGỒI” (LONG BÀN HỔ CỨ) TỪNG CHIẾM VỊ TRÍ ĐẶC BIỆT TÔN NGHIÊM TRONG TÂM THỨC VÀ KÝ ỨC CỦA CÁC VUA CHÚA NHÀ NGUYỄN…

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ĐÓ LÀ ĐỒI HÀ KHÊ NỔI DANH VỀ PHƯƠNG DIỆN PHONG THỦY VỚI THẾ ĐẤT “RỒNG CUỘN HỔ NGỒI” (LONG BÀN HỔ CỨ) TỪNG CHIẾM VỊ TRÍ ĐẶC BIỆT TÔN NGHIÊM TRONG TÂM THỨC VÀ KÝ ỨC CỦA CÁC VUA CHÚA NHÀ NGUYỄN…

Nơi dồn tụ linh khí

Sau ngày dẫn quân bản bộ vượt biển vào đất Quảng Trị để gầy dựng một giang sơn riêng nằm về phía Nam của dải Hoành Sơn, chúa Nguyễn Hoàng đã mở cuộc dò tìm địa thế, đi xem xét hình thể núi sông vùng tả ngạn sông Hương và phát hiện:

“Giữa đồng bằng xã Hà Khê (cách trung tâm TP. Huế hiện nay khoảng 5-6 cây số về hướng Tây) nổi lên một gò cao (đồi Hà Khê) có hình tựa như đầu một con rồng đang ngoảnh lại, phía trước đồi có con sông lớn uốn khúc bọc quanh, phía sau có hồ nước lớn, tạo thành phong cảnh tốt tươi. Nhân đó, chúa thượng hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò nầy rất thiêng, tục truyền một đêm kia bỗng có một bà già mặc áo đỏ quần xanh hiện ra trên đỉnh gò nói rằng: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến xây chùa trên gò này để kết tụ khí thiêng và giữ bền long mạch”. Nói xong liền biến mất, người trong vùng gọi bà là Thiên Mụ – tức bà già ở cõi trời xuống. Chúa (Nguyễn Hoàng) cho nơi ấy có linh khí, mới dựng chùa, gọi là chùa Thiên Mụ” (theo Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam thực lục).

Những học giả phương Tây như A. Bonhomme cũng  đề cập tới việc Nguyễn Hoàng đi dò long mạch “không một hòn núi nào mà ngài không đặt chân đến – không một dòng sông nào mà ngài chẳng lưu tâm” để rồi tìm ra thế đất tốt của đồi Hà Khê và lập chùa Thiên Mụ trên ấy, dẫn đến những câu chuyện được dân gian thần bí hóa như: “khi chùa xây xong chưa bao lâu thì có một con rùa khá lớn từ dưới sông Hương bò lên đồi Hà Khê để vào khuôn viên chùa cư trú và mỗi lần khát nước rùa lại bò về hướng hồ nước sau chùa để uống, dần dà rùa đã làm đổ hàng rào (La thành cao 2,30m) phía sau chùa. Con rùa kỳ quặc trên đã bị sét đánh trong một cơn giông hãi hùng và bị hóa đá tại chỗ, đến nay vẫn nằm đó” (tạp chí BAVH-1915).

Cạnh những câu chuyện dân gian tương tự như đã nêu, thực tế lịch sử cho thấy đồi Hà Khê và ngôi Quốc tự Thiên Mụ được rạng rỡ hoặc bị điêu tàn cũng tùy theo thịnh suy của từng thời.

Chùa Thiên Mụ

Rạng rỡ nhất là thời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu với hàng chục công trình kiến trúc mới, cho đúc đại hồng chung, tức quả chuông lớn nhất thời ấy (1710) nặng đến 2.052kg, cao 2,50m, đường kính ở miệng rộng 1,34m.

Tiếng đại hồng chung này đã đi vào ca dao: Gió đưa cành trúc la đà/ Hồi chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương và vang vào hồn thơ của vua Thiệu Trị sau này để nhà vua viết bài thơ Thiên Mụ chung thanh (Tiếng chuông Thiên Mụ) với mấy câu  mở đầu: “Thiên Mụ tự, Đình độc trừ tinh. Sơn xuyên Linh sàng. Long bàn hồ thủ đao củng kinh thành. Hổ khiếu cao tôn phủ lâm Hương phái”. Nghĩa là chùa Thiên Mụ là nơi kết tụ linh khí của trời đất và núi sông, nơi rồng uốn khúc nhìn lại chốn kinh thành (long bàn hồi thủ) và nơi cọp ngồi trên cao cất tiếng rống vang động cả dòng sông bên dưới (hổ khiếu cao tôn).

Rõ ràng nhà vua đã nói đến thế đất “long bàn hổ cứ” của đồi Hà Khê. Nếu không có đồi Hà Khê chắc chắn sẽ không có chùa Thiên Mụ như ta đã thấy. Chùa được trùng tu năm 1665 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, năm 1738 – 1744 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát nữa. Các tác giả biên soạn tập Thần Kinh nhị thập cảnh – thơ vua Thiệu Trị (NXB Thuận Hóa 1997) cho biết chùa tọa lạc trên đồi Hà Khê là “một ngọn đồi chạy theo hướng Bắc Nam, có bề mặt gần như hình chữ nhật, kích thước 313m x 76m (…) địa thế của chùa đúng là “sơn triều thủy tụ” hết sức hữu tình.

Từ xa nhìn lại, đồi Hà Khê tựa như hình dáng một con rùa khổng lồ, cõng trên lưng ngôi chùa cổ kính đang cúi đầu xuống để uống nước sông Hương”. Một tác giả khác ghi rõ: “trong viễn tượng địa lý phong thủy xưa thì chùa Thiên Mụ tọa ở phương vị “Cấn” (Tây – Bắc) để hướng về phương vị “Tốn” (Đông – Nam) đúng với hướng của kinh thành Phú Xuân”.   

Điêu tàn nhất là thời quân Trịnh từ phía Bắc tràn vào chiếm Phú Xuân (1774) và thời Tây Sơn tiếp đó (1786 – 1801) đã đẩy cơ nghiệp gầy dựng hơn 200 năm sụp đổ khiến chúa Nguyễn phải chạy về phía Nam, để lại đồi Hà Khê hoang vắng và cảnh chùa Thiên Mụ tàn tạ trong binh lửa. Trọng thần của nhà Tây Sơn là Phan Huy Ích khi đến đó đã ngậm ngùi ghi nhận những đổ nát, nền chùa bị san bằng để làm đàn tế lễ.

Khi vua Gia Long khôi phục Phú Xuân và lên ngôi (1802) đã cho tôn tạo lại chùa Thiên Mụ (1815) và nói với quần thần đại ý rằng: “đây là nơi linh thiêng của tiên đế ta đã chọn”. Vua Minh Mạng tiếp tục công trình (1831) và các đời Thiệu Trị, Thành Thái, Khải Định đều có dựng bia ở chùa, nay vẫn còn.

Nơi "Sơn triều thủy tụ" 

Khoa phong thủy ngày nay được hỗ trợ và soi sáng thêm bởi một số ngành khoa học như địa chất học và khảo cổ học. Về địa chất học, tài liệu của Hà Xuân Dương cho biết đồi Hà Khê là một khối đá hoa cương nằm trong dãy núi đá vôi vùng Long Thọ – Lại Bằng.

Dưới chân đồi  có một vực nước rất sâu với dải đá nhọn lởm chởm dưới đáy. Đó là kết quả của quá trình cấu tạo địa chất trong khu vực đồi Hà Khê. Cụ thể, dòng nước ngầm dưới đáy sông Hương chảy qua hàng thiên niên kỷ đã bào mòn lớp đá vôi để lộ ra phần đá hoa cương cứng cáp. Vì thế, khi sông Hương chảy đến đó không thể băng qua được, nên phải lượn vòng trước mặt đồi, góp nước từ xa đổ về vực sâu, tạo thành thế “thủy tụ”.

Từ đỉnh đồi nhìn xuống, chỗ “thủy tụ” như một thế giới huyền ảo vào những ngày đầu thu sương giáng và long lanh ánh nguyệt vào những đêm rằm, mà có lẽ nhạc sĩ Văn Cao từng giong thuyền đến đó nên đã viết: Một đêm đàn lạnh trên sông Huế – Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh…

Từ đỉnh đồi nhìn lên, thấy xa xa hiện rõ dãy núi “trấn sơn” Kim Phụng: “dãy núi này rất cao,ở về phía Tây Nam. Nó cùng chạy với Trường Sơn hùng vĩ, nhưng vào đến sơn phận của huyện Phong Điền thì một ngọn đồi tách khỏi dãy Trường Sơn để chạy xuyên theo hướng Đông Nam vào đến tận sơn phận của làng Cổ Bi”.

Từ đó, trên đường đi, sơn mạch của dãy núi ấy có đoạn nổi lên (thành rú Lại Bằng), có đoạn lại chìm xuống dưới các cánh đồng, rồi  nổi lên lần nữa thành gò, thành đồi – cứ thế kéo dài ra trông như một con rồng đang uốn lượn lên xuống qua nhiều núi, nhiều rừng (như Phụ Ô, Bồn Trì, Bồn Phổ) cho đến “xã Hà Khê thì đột khởi thành đồi Hà Khê (…) mà người ta thường cho là “đầu rồng nhìn ngoảnh lại” tức là thế đất “long hồi cố tổ” trong khoa địa lý phong thủy” (Hà Xuân Dương – Kiến trúc chùa Thiên Mụ).

Đến cuối thế kỷ 20, chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê là một trong các di tích quan trọng đã góp phần cùng thành quách, cung điện, lăng tẩm tạo nên diện mạo và giá trị của Quần thể di tích Huế – một quần thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1993.

Đó không chỉ là danh lam thắng cảnh tuyệt vời của đất nước, mà theo nhiều nhà nghiên cứu đã ảnh hưởng sâu đậm “đến cả cuộc tồn vong của một nền văn hóa” và “đã gắn liền đời sống tâm linh của dòng họ Nguyễn từ vị chúa đầu tiên cho đến vị vua cuối cùng” (Phan Thuận An).

Hoặc như nhận định của Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm trong công trình biên soạn về Phật giáo xứ Huế: “Sở dĩ chùa Thiên Mụ càng ngày càng có ảnh hưởng lớn là vì ngọn đồi Hà Khê – nơi có sơn triều thủy tụ, có long mạch phát đế vương cho dòng họ chúa Nguyễn và triều Nguyễn kể từ 1558 (năm Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa) cho đến 1945 (năm vua Bảo Đại thoái vị)” – theo đó tính ra, họ Nguyễn có ngót 387 năm đăng quang, thăng trầm và tồn tại trong lịch sử vương quyền Việt Nam.

Nguồn: Tạp chí Duyên dáng Việt Nam


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy ngọn đồi thiêng của nhà Nguyễn

Những điều người trung niên không nên làm trong dịp xuân

Lại một xuân mới sắp đến, tu thân đối với người trung tuổi là rất tốt. ## đưa ra 3 điều không nên làm trong xuân Bính Thân để bạn đọc cùng tham
Những điều người trung niên không nên làm trong dịp xuân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lại một xuân mới sắp đến, đón xuân tu thân đối với người trung tuổi là rất tốt. Nhưng dưỡng sinh thế nào cho hợp? ## đưa ra 3 điều không nên làm trong xuân Bính Thân để bạn đọc cùng tham khảo.

 
Nhung dieu nguoi trung nien khong nen lam trong dip xuan hinh anh
 
1. Không “tĩnh”   Mùa xuân, dương khí của trời đất bắt đầu thăng phát, con người cũng muốn nhân cơ hội này để dưỡng sinh, bồi dưỡng thân thể, nâng cao sinh khí, dưỡng dương. Dưỡng dương mấu chốt là “động”, phải tránh “tĩnh”. Người trung niên phải tích cực ra ngoài rèn luyện, tận dụng không khí có nhiều ion để tăng cường hiệu suất cho vỏ đại não cùng tim phổi, phòng ngừa xơ cứng động mạch.

Sức khỏe mạnh mẽ phải bồi dưỡng từng ngày, chỉ đi bộ hoặc tập những bài dưỡng sinh cơ bản là có thể khiến cơ thể tốt lên rất nhiều. Các môn thể thao luyện tập sức bền hoặc những bộ môn dẻo dai và không nặng nề như yoga rất thích hợp. Kết hợp với đó là các hoạt động bình thường như làm việc nhà hoặc đi dạo.
  Người trung niên không cần tập luyện quá sớm, phòng ngừa sáng sớm nhiệt độ thấp, sương mù nhiều gây cảm mạo, viêm phế quản. Thời điểm tốt nhất để dưỡng sinh là sau khi Mặt Trời mọc. Mặt khác, trước khi tập nên uống chút nước ấm và ăn nhẹ để khí huyết lưu thông.   10 bí quyết Phật dạy giúp tướng mạo từ xấu hóa đẹp
Theo kinh Phật, hành động quyết định tướng mạo, muốn đẹp đẽ hãy chăm làm điều thiện.

2. Không “giận”
Điều không nên làm trong xuân Bính Thân chính là giận dữ. Mùa xuân khí dương thịnh, nên thả lỏng tâm trạng, thể xác hài hòa cùng tinh thần rất tốt cho sức khỏe của người cao tuổi. Tâm tính không vui sẽ khiến gia tăng các bệnh về gan, ảnh hưởng hệ thống thần kinh nội tiết, suy giảm miễn dịch, dễ phát bệnh về thần trí.  
Khống chế tâm trạng, điều phối cảm xúc là phương pháp dưỡng tâm rất có lợi để năm mới an khang. Người có tuổi nên giữ tâm thanh tịnh, tâm tình thoải mái, không chấp nhặt. Con cháu có phúc khí của con cháu, không nên chuyện gì cũng quản khiến tổn hại thân thể.
 
3. Không “vọng”

Nhung dieu nguoi trung nien khong nen lam trong dip xuan hinh anh 2
 
Sau khi bước vào giai đoạn trung niên, người thiếu dương khí, mà mùa xuân là thời cơ tốt nhất để tăng cường sức khỏe, không nên vội vàng gấp gáp trong chuyện phòng the khiến dương khí thêm hao tổn. Vì vậy, tiết chế tình cảm, làm chủ cảm xúc.
T
ình cảm của người trải qua năm tháng đôi khi cần hơn sự sẻ chia và giao lưu tâm hồn. Mùa xuân dương khí vượng, sức lực dồi dào, người trung niên muốn hồi xuân, bồi dưỡng tình cảm cũng nên thận trọng, điều độ và hợp lý để không chỉ cảm thấy thỏa mãn mà còn vui vẻ, thân thể an khang, cùng bạn đời bước vào một mùa xuân mới nồng ấm tình yêu, tình thân.

► Xem lịch âm và giờ hoàng đạo chuẩn xác tại Lichngaytot.com

Tâm Lan
 Xem Clip Phúc phận của mỗi người

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều người trung niên không nên làm trong dịp xuân

Hình nhân thế mạng là gì ?

Ở nước ta chưa có "Tục tuẫn táng" nhưng đời trước có tục đốt hình nhân thế mạng, vốn xuất xứ từ tục tuẫn táng, nhân đạo hơn so với tuẫn táng.
Hình nhân thế mạng là gì ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Để vua chúa xuống dưới âm cung có người hầu hạ, tục ta không chôn người sống mà dùng hình nộm làm bằng tre nứa, quấn bằng rơm rạ hoặc nhào nặn bằng đất sét, ngoài dán giấy làm quần áo rồi vẽ mặt mũi, sau đó khi tế lễ xong thì đốt hình nhân đó cùng với vàng mã.

Nếu lễ thuỷ thần, long vương, hà bá thì làm thuyền bằng giấy kết trên thân cây chuối rồi đặt hình nhân vào thuyền và thả trôi sông. Có người nghe theo lời bói toán nhảm nhí sắp đến vận hạn bị hung thần quỷ dữ bắt, phải nhờ thầy cúng làm lễ, đốt hình nhân thế mạng. Có người vì mối tư thù nhưng yếu thế không trả thù được bèn nghĩ cách làm hình nhân rồi đề tên họ, huý, hiệu của kẻ thù vào trước ngực hình nhân, cắm ở ngã ba, ngã tư đường cái, thắp hương cắm lên đầu hình nhân để nhờ thần linh bắt tội người đó.

Đây là một tập tục chứa đầy tính chất mê tín, dị đoan đã bị đả phá, bãi bỏ từ đầu thế kỷ. Chính quyền phong kiến đã ra lệnh cấm hủ tục này. Kẻ nào cố tình vi phạm, nếu phát hiện được sẽ bị phạt nặng. Địa phương nào để những tục đó xảy ra, nếu phát hiện được thì lý trưởng nơi đó bị cách chức. Thế mà ngaỳ nay, chúng tôi thấy hủ tục này lại có cơ phát triển, cho nên việc bài trừ hủ tục nhảm nhí này là cần thiết, phù hợp với việc xây dựng nền văn. 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình nhân thế mạng là gì ?

CÂU CHUYỆN PHONG THỦY

Tản mạn về phong - thủy địa lý, truyện có ý nghĩa khuyên răn con người nên có cái nhìn thông thoáng, sâu sắc về mọi vấn đề trong cuộc sông
CÂU CHUYỆN PHONG THỦY

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

    Trước khi đưa truyện này lên, tôi cũng nói luôn rằng, không nhằm mục đích đề cao, hay bênh vực cho một học thuyết, hay trường phái nào, mà chỉ mang tính chất tham khảo mà thôi.

     Ngày trước vào thời vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn thập nhị sứ quân. Có hai chàng hào kiệt, một người họ Trần, một người họ Phạm, võ giỏi văn hay, dẫn một nhóm nghĩa sỹ đến xin gia nhập. Hai tướng này cùng vua Tiên Hoàng đánh đông dẹp bắc, xông pha rất anh dũng. Chiến sự trải dài trong vòng hai năm 965 – 967, thì đất nước bình yên, mây tĩnh biển hòa. Nhà vua đăng cơ, còn hai ông xin được trở về cầy ruộng, làm ăn. Vua thuận theo ý nguyện.

    Khi ấy giặc giã vừa tan, dân tình còn đói khổ. Hai ông bạn đồng sinh đồng tử này cùng nhau dẫn gia đình  của mình vào vùng Thanh Hóa để khai khẩn đất hoang, xây dựng kinh tế.

    Thời ấy vùng Thanh Hóa còn hoang vắng, cỏ mọc um tùm, rừng rậm, đầm lầy, muỗi vắt, thú giữ rất nhiều. Phải nói một cách khách quan rằng đó là nơi rừng thiêng nước độc. Hai họ Trần – Phạm giúp sức nhau, phát quang bờ bãi, dựng nhà cửa và làm nông nghiệp. Được vài năm thì kinh tế của họ đã khấm khá đầy đủ hơn rất nhiều.

    Vào một ngày nọ, nhân lúc rỗi việc, bỗng đâu có một anh học trò đi ngang qua, người học trò này vóc hạc dáng tùng, dung mạo khôi ngô thanh tú, khí chất toát lên một vẻ thanh cao, thoát tục, nhẹ nhàng. Chàng mặc bộ đồ the thâm khăn xếp, truyền thống của Nho gia nước Việt. Dừng chân ở nhà ông Trần và trò chuyện.

    Nho sỹ :  - Tôi là học trò bị lỡ độ đường qua đây, xin uống cho tôi một bát nước cho đỡ khát

   Ông Trần : - Mời ông vào nhà.

   Rồi lấy nước mời người học trò, tiếp đãi rất ân cần chu đáo, cung kính, tôn trọng.

    Nho sỹ : - Tôi vốn biết về phong thủy, địa lý. Xin được xem căn đất của nhà ông !

    Ông Trần : Mời Tiên sinh cứ tự nhiên, có điều gì xin được Tiên sinh chỉ rõ cho.

    Sau một hồi quan sát kỹ lưỡng từ địa hình, địa thế và cách bài trí nội thất phòng ốc trong nhà. Vị Nho sỹ lấy giấy bút viết lên tường nhà của ông một đoạn văn như sau: “Nhà này có trăm người chết cả trăm, ngàn người chết cả ngàn, vạn người chết cả vạn. Bao giờ cũng thế. Cha chết trước, con chết sau. Vợ chết trước, chồng chết sau”

    Ông Trần thấy những dòng chữ viết vậy thâm trầm suy nghĩ. Tuy không nói gì, nhưng trong bụng ông rất hài lòng. Ông lấy một nén bạc để tạ ơn vị Nho sỹ đó. Nhưng vị Nho sỹ đó từ chối không nhận, ông Trần, giữ lại nén bạc để làm kỷ vật, xem như một thứ bùa hộ mệnh, và thường dùng để đánh cảm, đánh gió.

    Người học trò từ biệt ông Trần, đi sang nhà ông Phạm, cách đó một quãng. Sau khi chào hỏi xong. Anh học trò xem phong thủy và xin được để lại vài chữ. Những dòng chữ này y như những dòng chữ bên nhà ông Trần  vậy : “Nhà này có trăm người chết cả trăm, nghìn người chết cả nghìn, vạn người chết cả vạn. Bao giờ cũng thế, cha chết trước, con chết sau, vợ chết trước. Chồng chết sau.”. Ông Phạm xem xong dòng chữ đó nổi giận đùng đùng toan đánh Nho sỹ. Khiến anh chàng này sợ hãi quá, van xin rối rít. Ông Phạm bắt chàng phải viết lại. Và chàng sửa lại rằng : “Nhà này chỉ chết duy nhất một người thôi”. Viết xong cũng cáo từ đi luôn.

     Ngay sau đó, ông Phạm sang nhà ông Trần, thấy những dòng chữ đó, mới kể chuyện vừa diễn ra tại nhà mình, nhân đó mới hỏi : “ Tại sao bác để cho anh ta viết bậy bạ vậy mà cũng chịu”. Ông Trần hỏi rõ sự việc rồi mới thất kinh, kêu ông Phạm đi tìm lại nho sinh nọ. Nhưng than ôi ! Vị Nho sinh đó đã đi mất từ bao giờ. Không thể tìm thấy nữa…

     Ông Phạm ở căn nhà đó được vài năm, rồi mắc bệnh qua đời đột ngột, vợ chồng ông không có con cái. Bà vợ ông, cải giá cùng một thương nhân rồi theo người thương nhân, thành ra căn nhà trở thành hoang phế.

     Còn ông Trần, gia đình ông ngày càng làm ăn thịnh vượng và giàu có. Vợ ông sinh con trai, và dòng dõi của ông trải qua bao đời, lúc thăng trầm, lúc vinh hiển. Một người cháu của ông là bạn chơi thân với tôi. Cậu ta kể lại câu truyện từ xa xưa của tổ tiên dòng họ, còn tôi là người ghi chép lại…

      Cái nghĩa lý uyên thâm sâu sắc từ câu văn của vị Nho sinh : “Nhà này có trăm người chết cả trăm, ngàn người chết cả ngàn, vạn người chết cả vạn, Bao giờ cũng thế, cha chết trước, con chết sau, vợ chết trước, chồng chết sau”. Câu nói trên nói nghe thực ra rất hung, rất xấu, nhưng là lối văn phản ngữ thật sâu sắc, thú vị. Ngôi nhà mà có bao nhiều người sống thì bấy nhiêu người chết ở đó, tức là căn nhà được ở rất lâu đời, truyền từ thế hệ này sang nhiều đời khác, sang nhiều thế hệ khác, vậy thì căn nhà ấy phải là một căn nhà tốt, che chở, bảo vệ được con người trong tất cả các biến cố lịch sử, chính trị, thiên tai, địch họa, bệnh tật, bão giông. Ở căn nhà này thì ngày càng thịnh vượng, bởi có một người đầu tiên ở mà sau sinh ra trăm người, nghìn người, vạn người, thì hẳn cuộc sống phải ngày càng sung túc, no ấm, hạnh phúc thì mới có điều may mắn ấy. Theo như đạo lý thông thường, cha già hơn thì chết trước là quá đúng rồi, thuận theo quy luật tự nhiên rồi, nếu như có gặp phải nghịch cảnh, trớ trêu, thì vợ chết trước, chồng chết sau giữ lại cái gốc gác, nền tảng để gây dựng lại về sau. Cho nên trong thực tế, họ Trần đến nay vẫn nhiều người vinh hiển, sang giàu. Ngôi nhà của cụ tổ họ bằng gỗ lim, qua nhiều đời, được tu sửa bảo tồn, vì giá trị kiến trúc, và giá trị lịch sử của nó.

   Còn nhà của ông Phạm, chỉ chết có một người. Vài năm sau ông mất, không có con cái, vợ ông cải giá, theo chồng mới. Thực là ứng quá ! Nghiệm quá !

    Câu chuyện này tuy có yếu tố, siêu hình, hoang đường, chưa được kiểm nghiệm dưới góc độ tử vi và khoa học. Nhưng nó khiến tôi có cái nhìn sâu sắc về một vấn đề, một câu chuyện, và gợi cho ta một bài học trong cuộc sống. Đó là thói quen suy nghĩ mọi việc theo chiều hướng tỉ mỉ, chi tiết, cụ thể, tinh vi, hàm ý. Tiện đây, tôi dẫn truyện ra để các bạn tham khảo.

  Học Trò nghèo ghi chép


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: CÂU CHUYỆN PHONG THỦY

Ý nghĩa sao Đẩu Quân

Sao Đẩu Quân có nghĩa là nghiêm nghị, chặt chẽ, khắc kỷ. Người có Đẩu Quân thủ Mệnh thường cô độc, ít bạn do sự khó tính hoặc câu chấp. Về điểm này, Đẩu Quân giống đặc tính của Cô Thần, Quả Tú. Nếu gặp sát tinh thì gian xảo, quỉ quyệt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Đẩu Quân

Ý nghĩa sao Đẩu Quân

Hành: Hỏa

Loại: Ác Tinh

Đặc Tính: Cô độc, khó tánh, ngăn nắp, giữ của lâu bền

Ý Nghĩa sao Đẩu Quân Ở Cung Mệnh:

Tính Tình:

Đẩu Quân có nghĩa là nghiêm nghị, chặt chẽ, khắc kỷ. Người có Đẩu Quân thủ Mệnh thường cô độc, ít bạn do sự khó tính hoặc câu chấp. Về điểm này, Đẩu Quân giống đặc tính của Cô Thần, Quả Tú. Nếu gặp sát tinh thì gian xảo, quỉ quyệt.

Công Danh Tài Lộc:

Đẩu Quân chủ sự gìn giữ của cải lâu bền. Do đó, sao này rất đắc dụng ở cung Tài, Điền và biểu tượng cho sự cầm của, giữ của.

Ý Nghĩa sao Đẩu Quân Ở Cung Quan Lộc:

Thường làm việc cố định, ít dời chỗ, làm chỗ nào rất lâu. Duy trì được chức vụ, quyền hành. Tuy nhiên, vì Đẩu Quân là sao cô độc nên đóng ở Quan sẽ ít được người giúp việc.

Ý Nghĩa sao Đẩu Quân Ở Cung Thiên Di Hay Nô Bộc:

Ít bạn, không thích giao thiệp với bạn bè.

Ý Nghĩa sao Đẩu Quân Ở Cung Tử Tức:

Đẩu Quân là sao hiếm muộn, chủ sự chậm con, hiếm con, giống như sao Lộc Tồn, Cô Thần, Quả Tú, Phi Liêm...

Ý Nghĩa sao Đẩu Quân Ở Cung Phu Thê:

Nói chung, sao Đẩu Quân ở cung Phu Thê thì cô đơn, ít được người bạn đời hiểu biết. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt hai trường hợp:

Gặp nhiều sao tốt đẹp: Vợ chồng hòa thuận.

Gặp nhiều sao xấu: Thường bị hình khắc, tai ương hoặc ít ra là cô độc, bị bỏ quên (như vợ cả có chồng ngoại tình).

Ý Nghĩa sao Đẩu Quân Ở Cung Tài Bạch:

Có khả năng giữ của, hà tiện, tiêu xài kỹ..

Đẩu Quân sao Khi Vào Các Hạn:

Hạn có sao Đẩu Quân, Kình Dương, Thiên Hình, là hạn bị hình thương, bị cưa cắt hay bị mổ xẻ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Đẩu Quân

Tướng mặt người nghèo khó và cách thoát nghèo

Tướng mặt người nghèo khó có những đặc điểm nhất định. Cùng xem tướng mặt nghèo và cách thoát nghèo bằng việc cải thiện một số đặc điểm nhân tướng học nhé.
Tướng mặt người nghèo khó và cách thoát nghèo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong Nhân diện học, lông mày lộn xộn, đứt đoạn là biểu hiện của đời sống tình cảm phức tạp. Chủ nhân của tướng lông mày này thường yếu đuối, dễ bị yếu tố ngoại cảnh tác động, cuộc sống đầy khó khăn, trở ngại.


► Xem bói tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình

1. Lông mày lộn xộn, ánh mắt vô thần – 30 đến 40 tuổi vẫn thất nghiệp

Trong Nhân diện học, lông mày lộn xộn, đứt đoạn là biểu hiện của đời sống tình cảm phức tạp. Chủ nhân của tướng lông mày này thường yếu đuối, dễ bị yếu tố ngoại cảnh tác động, cuộc sống thăng trầm, khó ổn định sớm.

Bên cạnh đó, lông mày chỗ đậm chỗ nhạt cũng là biểu hiện của trí lực kém, cộng thêm đôi mắt vô thần, chứng tỏ sức khỏe yếu, khó tập trung làm việc nên hiệu quả công việc không cao. Đây cũng là một trong những đặc điểm tướng mặt người nghèo khó, cuộc sống vất vả, bếp bênh.

Cách cải thiện: Chăm chỉ làm việc “cần cù bù thông minh”, không tham vọng quá nhiều ắt có ngày gặt hái được thành quả tốt. Đồng thời, không nên nhảy việc quá nhiều, chú trọng đến các mối quan hệ xã giao, tạo điều kiện cho sự nghiệp phát triển thuận lợi.

Tuong mat nguoi ngheo kho va cach thoat ngheo hinh anh
 
2. Chất tóc khô rối, trán hẹp – 30 tuổi vẫn chỉ đủ tiêu


Chủ nhân của chất tóc khô rối, không óng mượt thường có thời thơ ấu khó khăn, điều kiện kinh tế gia đình không tốt, không có người che chở, bao bọc. Ngoài ra, trán hẹp, thấp cũng là một trong những biểu hiện của thể lực và trí lực kém, đường công danh sự nghiệp gặp nhiều trở ngại.

Tuong mat nguoi ngheo kho va cach thoat ngheo hinh anh 2
 
Cách cải thiện: Nên thực hiện theo phương châm “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết”, học chuyên sâu 1 lĩnh vực, làm tập trung 1 ngành nghề để có thể gặt hái được thành công lớn. Bên cạnh đó, làm việc gì cũng cần giữ thái độ điềm tĩnh, tiết kiệm thì sau 30 tuổi sẽ chuyển vận tốt.

“Bắt bệnh” qua những dấu hiệu bất thường trên khuôn mặt đàn ông
Một buổi sáng thức dậy, nếu phát hiện trên khuôn mặt mình xuất hiện quầng thâm mắt hay sắc mặt sạm đen, u ám, bạn hãy nghĩ ngay tới bộ phận thận trong cơ thể
3. Cằm nhọn trơ xương, dái tai mỏng – 40 đến 50 tuổi vẫn chưa trả hết nợ

Trong nhân tướng học, chiếc cằm đầy đặn và dái tai dầy, to bản là biểu hiện của người được hưởng nhiều phúc lộc, tài vận hanh thông.

Ngược lại, nếu cằm nhọn, gày trơ xương, cộng thêm với dái tai mỏng, vành tai bé thì tài vận kém sắc, cuộc sống nghèo khó, phải lo từng bữa ăn qua ngày.

Cách cải thiện: Ngay từ khi còn trẻ, cần phải học hành chăm chỉ, lớn lên nỗ lực làm việc. Không nên kì vọng vào việc con cháu sẽ nuôi dưỡng mình sau này. Kể cả khi đã nghỉ hưu, nên tìm kiếm công việc phù hợp để có thu nhập, chủ động trong cuộc sống.

Nhật Minh (Theo 14944)


 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng mặt người nghèo khó và cách thoát nghèo
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd