Nét “dị tướng” nhưng lại đem tới tài vận vượng phát
1. Ngón tay ngắn, thô
![]() |
2. Cằm ngắn hoặc hai cằm
![]() |
3. Hai bên lông mày không cân xứng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
![]() |
![]() |
1. Dọn đống bừa bộn quanh cửa
Khu vực sự nghiệp trong nhà bạn liên quan đến cửa ra vào, vì vậy nếu cửa bị chặn, sự nghiệp của bạn sẽ gặp trở. Sự bừa bộn làm giảm năng lượng và ngăn chặn dòng chảy tiền bạc. Đảm bảo cửa trước của ngôi nhà luôn thông thoáng và không có rác thải. Và nếu cánh cửa bị kẹt cũng là điều bất lợi vì nó làm năng lượng tốt bị hao hụt đi. Hãy thường xuyên kiểm tra tình trạng cửa nẻo.
2. Thắp sáng cửa ra vào
Ánh sáng mang tới cơ hội tốt cho cuộc sống cả bạn. Hãy luôn để nguồn năng lượng dương tràn ngập cửa ra vào. Nếu không bạn có thể bật đèn cửa trước, kể cả vào ban ngày. Nếu bạn lo ngại về tiền điện, có thể bật khoảng 3h/ngày. Nếu bạn không có đèn ở ngoài, hãy bật đèn bên trong phòng. Sự chú ý của bạn tới ánh sáng sẽ giúp thúc đẩy sự nghiệp.
3. Chữa những thứ hư hỏng
Chiếc chuông cửa bị hỏng sẽ làm nảy sinh khó khăn trong công việc. Vì vậy, hãy đảm bảo nó luôn hoạt động. Ngoài ra, chú ý tới những hỏng hóc có thể làm giảm nguồn năng lượng tích cực của bạn. Hãy làm giàu thêm ngân quỹ bằng cách tự tay sửa chữa các hư hỏng.
4. Bật bếp lửa
Hãy khởi động bếp lửa trong vài giây mỗi ngày. Bếp ám chỉ đồ ăn và sự dồi dào. Vì vậy, bạn cần phải kích hoạt sự dồi dào này bằng cách làm nóng bếp thường xuyên. Ngoài ra, cần phải giữ mặt bếp sạch sẽ bởi nó là dấu hiệu của sự thịnh vượng. Treo 1 chiếc gương nhỏ phía trên bếp để giúp kích thích vận may về tiền bạc. Giữ gương luôn sạch sẽ, không bám bụi bẩn, nếu không nó sẽ làm "lu mờ" nguồn thu nhập của bạn.
(Theo Xzone)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
- Dù ngồi trên chiếu hay trên ghế, nửa thân trên của bạn không cách nào giữ được sự ổn định, cho thấy bạn thiếu chủ kiến, buồn nhiều hơn vui.
- Tư thế ngồi giống như bị người ta đẩy, cho thấy bạn có tinh thần rất mơ hồ, kinh doanh thường hay thay đổi, cuộc sống gia đình luôn cảm thấy bất an.

- Thích ngồi dựa vào đồ vật, cho thấy bạn có tính cách tùy hứng, thích phụ tình người ta, thiếu tự tin.
- Khi ngồi xuống, nửa trên cơ thể dao động ra trước sau, trái phải, cho thấy bạn thiếu kiên nhẫn, hay thay đổi. Nửa trên cơ thể ngả về phía trước, cho thấy bạn dịu dàng, thiếu tự tin, dễ bị người khác thao túng. Nếu nửa trên cơ thể ngả về phía sau, cho thấy bạn rất kiêu căng, cố chấp, thiếu sự khiêm tốn.
- Tư thế ngồi không thẳng và thường dùng hai tay để chống đỡ cơ thể, cho thấy bạn thiếu kiên nhẫn, tâm tình không ổn định.
- Khi ngồi xuống thích cầm nắm đồ vật trong tay, cho thấy bạn rất tham vọng, không dễ bộc lộ bản thân.
- Khi ngồi xuống rất thờ ơ, ánh mắt không ngừng chuyển động, cho thấy bạn có suy nghĩ hỗn loạn, không dễ nói cho người khác biết bí mật của mình.
- Khi ngồi vững thì hai chân dang ra, dáng ngồi lười biếng, cho thấy bạn nói nhiều hơn làm, có khả năng hùng biện, thường suy nghĩ phóng đại mọi chuyện.
- Ngồi trong xe, tay thích gác lên cửa sổ, cơ thể hơi nghiêng về một bên, chân phải gác trên chân trái, tư thế ngồi như vậy cho thấy bạn rất lạnh nhạt, suy nghĩ không ổn định, không có chủ kiến.
Chocopie (theo Sina)
>> Năm mới 2016 sắp tới. Ai XÔNG ĐẤT nhà bạn phù hợp nhất mang lại tài lộc, may mắn cho bạn cả năm. Hãy XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất nhé!
1./ Hiểu thế nào về hạn tam tai?
Hạn tam tai tức là hạn của 3 năm liên tiếp đến với mỗi tuổi. Trong một đời người, cứ 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai. Thường thì hạn năm giữa là nặng nhất.
Có lý thuyết giải thích :
Tam: Ba, số 3, thứ ba.
Tai: Tai họa, họa hại.
Tam tai là ba tai họa, gồm: Hỏa tai, Thủy tai, Phong tai.
+ Hỏa tai là tai họa do lửa cháy, như cháy nhà, cháy rừng.
+ Thủy tai là tai họa do nước gây ra, như lũ lụt, sóng thần.
+ Phong tai là tai họa do gió gây ra, như bão, lốc.
Ngoài ra còn có Tiểu Tam tai là ba thứ tai họa nhỏ, gồm: Cơ cẩn chi tai (đói khát) Tật dịch tai, Đao binh tai.
+ Cơ cẩn chi tai là tai họa do mất mùa lúa và rau.
+ Tật dịch tai là tai họa do bịnh dịch truyền nhiễm.
+ Đao binh tai là tai họa do chiến tranh.
2./ Họa tam tai mang lại như thế nào?
Quan điểm chung cho rằng: Không phải lúc nào cũng tai họa nhưng thường đến năm Tam tai hay gặp nhiều vất vả khó khăn xảy ra. Nhập hạn tam tai thường gặp nhiều trở ngại, rủi ro , hoặc khó khăn trong công việc. Việc tạo mới hay mua bán, làm nhà, tu sửa trong những năm hạn này phải hết sức cẩn thận. Với việc kết hôn có quan điểm cho rằng ảnh hưởng, có quan điểm không. .
Một số việc xấu thường xảy đến cho người bị Tam tai:
+ Tính tình nóng nảy bất thường.
+ Có tang trong thân tộc.
+ Dễ bị tai nạn xe cộ.
+ Bị thương tích.
+ Bị kiện thưa hay dính đến pháp luật.
+ Thất thoát tiền bạc.
+ Mang tiếng thị phi.
+ Tránh cưới gả, hùn vốn, mua nhà và kỵ đi sông đi biển.
Tiếp tục làm những việc đã làm từ trước thì thường không bị ảnh hưởng nặng. Không nên khởi sự trong những năm bị Tam tai.
Về cơ bản:
Năm đầu Tam tai, không nên bắt đầu làm việc trọng đại;
Năm giữa tam tai, không nên dừng việc đang tiến hành (vì thường sau đó tiếp tục dễ gặp trở ngại);
Năm cuối Tam tai, không nên kết thúc việc quan trọng vào đúng năm này.
3./ Cách tính hạn tam tai
Hạn tam tai sẽ tính theo nhóm tuổi Tam hợp, nghĩa là những người sinh năm con giáp tam hợp sẽ chịu chung một hạn tam tai.
Cụ thể:
(1) Các tuổi Thân, Tý, Thìn: Tam tai tại các năm : Dần, Mão, Thìn
+ Vào năm Dần thì gặp Thiên Cổ Tinh Quân tắc vật hại nhân hoặc vi trùng vi hại hoặc bị mê hoặc chi bệnh
+ Vào năm Mão phùng Thiên Hình Tinh Quân tắc bị pháp luật hình phạt hoặc cập đao thiết nhi xuất hành dã, bị giải phẫu
+ Vào năm Thìn ngộ Thiên Kiếp Tinh Quân tắc cướp đạo nhi thất tài vật hoặc bị uy quyền bức bách, cướp bóc tổn thất tài vật
(2) Các tuổi Dần, Ngọ, Tuất: Tam tai tại các năm : Thân, Dậu, Tuất
+ Vào năm Thân thì gặp Thiên Hoàng Tinh Quân tắc bị thiên hành chi hữu, khủng cụ chi họa
+ Vào năm Dậu thì gặp Thiên Đối Tinh Quân tắc hữu đối thủ hoặc đối thủ dĩ hoàng thiên
+ Vào năm Tuất thì gặp Địa Tai Tinh Quân tắc hữu tai hại vi thổ địa
(3) Các tuổi Hợi, Mão, Mùi: Tam tai tại các năm : Tỵ, Ngọ, Mùi
+ Vào năm Tỵ ngộ Âm Mưu Tinh Quân tắc hữu thù địch chi nhân mưu vi hại (bị người mưu hại)
+ Vào năm Ngọ phùng Hắc Sát Tinh Quân tắc hữu hắc ám sự (việc mờ ám có hại)
+ Vào năm Mùi ngộ Bạch Sát Tinh Quân tắc tổn thất tài vật hoặc hữu tang sự bạch y bạch cẩn. (cử mặc đồ trắng)
(4) Các tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: Tam tai tại các năm: Hợi, Tý, Sửu.
+ Vào năm Hợi ngộ Thiên Bại Tinh Quân tắc bị bại hoại sự nghiệp hoặc bại hoại tài sản hoặc bại hoại gia phong
+ Vào năm Tý ngộ Địa Vong Tinh Quân tắc bị tai hại vi thổ địa nhi tổn thất hoặc thổ động nhi bệnh tật
+ Vào năm Sửu ngộ Thổ Hình Tinh Quân tắc vi thổ địa nhi cập hình phạt hoặc tổn thất điền địa hoặc vị thổ địa đông nhi hữu tai
Như vậy, có 4 tuổi sẽ gặp hạn tam tai năm thứ 3 vào năm tuổi của mình: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Vào năm này, những ai gặp hạn sao La Hầu (nam) và Kế đô (nữ) sẽ có cùng lúc 3 hạn: Tam tai, năm tuổi, sao hạn.
Vậy nên, sẽ có một nhóm người có hạn Tam tai rơi vào giai đoạn sao hạn Thái bạch – Thủy Diệu – Kế đô (nữ giới). Sao Thái bạch và Kế đô là những sao xấu đối với nữ giới. Cũng có nhóm người sẽ có hạn Tam tai bắt đầu vào tuổi 30 (tức 31 tuổi âm) như: Quý Hợi, Canh Thân. Theo Ngũ hành, nếu được tương sinh thì năm hạn Tam tai cũng nhẹ. Điều này đồng nghĩa nếu tương khắc (bị khắc chế), năm hạn Tam tai có thể có nhiều tai ương.
4./ Cách giải hạn tam tai
Để giải hạn Tam tai người ta thường hay cúng giải hạn.
Quan niệm có các vị thần giáng hạ cho từng năm (năm - thần - ngày cúng - hướng):
+ Năm Tý, ông thần Địa Vong, cúng ngày 22, lạy về hướng bắc.
+ Năm Sửu, ông Địa Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng đông bắc.
+ Năm Dần, ông Thiên Linh, cúng ngày rằm, lạy về hướng đông bắc.
+ Năm Mão, ông Thiên Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng đông.
+ Năm Thìn, ông Thiên Kiếp, cúng ngày 13, lạy về hướng đông nam.
+ Năm Tỵ, ông Hắc Sát, cúng ngày 11, lạy về hướng đông nam.
+ Năm Ngọ, ông Âm Mưu, cúng ngày 20, lạy về hướng nam.
+ Năm Mùi, ông Bạch Sát, cúng ngày mồng 8, lạy về hướng tây nam.
+ Năm Thân, ông Nhân Hoàng, cúng ngày mồng 8, lạy về hướng tây nam.
+ Năm Dậu, ông Thiên Hoạ, cúng ngày mồng 7, lạy về hướng tây.
+ Năm Tuất, ông Địa Tai, cúng ngày mồng 6, lạy về hướng tây bắc.
+ Năm Hợi, ông Địa Bại, cúng ngày 21, lạy về hướng tây bắc.
Xác định ngũ hành ứng với từng năm (năm nào hành đó):
+ Hành KIM : Thân - Dậu.
+ Hành MỘC : Dần - Mão
+ Hành THỦY : Hợi - Tý.
+ Hành HỎA : Tị - Ngọ
+ Hành THỔ : Thìn - Tuất - Sửu - Mùi.
Cách cúng giải hạn của người xưa :
Ngày cúng tắm rửa sạch sẽ, rôì cắt một ít tóc, một ít móng tay móng chân, cắt một miếng vạt áo cũ của người đó, gói chung lại thành một túi nhỏ.
+ Thời gian: 18-20 giờ.
+ Địa điểm: Ngã ba đường (lớn càng tốt)
Vật cúng gồm có:
3 ly rựợu nhỏ,
3 ngọn đèn cày,
3điếu thuốc hút,
3 bộ tam sênh,
3 đồng tiền bạc cắc,
2 bộ đồ thế (nam hoặc nữ)
1 bài vị có tên vị thần viết bằng giấy đỏ,chữ mực đen
Gói tóc và móng tay lấy dĩa đựng để trên bàn
Cúng vị thần nầy cho đến khi tàn nhang và đèn. Xong rồi người cúng không được nói chuyện với bất cứ ai, đem gói tóc móng tay ra ngã ba đường mà bỏ, nhớ đừng ngoái lại xem, 3 đồng tiền bạc cắc nhớ để vào gói tóc , bỏ luôn tóc và móng tay (phải của người bị tam tai mới được) khi vái cũng phải nói rõ tên họ của người mắc tam tai.
Cách này có phần hơi tỉ mỉ quá. Thực ra đối với các vị thần nói chung chỉ cần ý tâm nghiêm chỉnh là ứng, lễ tại tâm, lấy công đức làm lễ là chuẩn nhất.
>> Xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất!
>> Xem ngay NGÀY TỐT XẤU 2016 mới nhất!
- Sau khi an táng xong, có lễ ba ngày, 49 ngày, 100 ngày, lễ giỗ đầu, lễ giỗ thứ hai.v.v... lễ nào là lễ chính ?
Đáp: Thời xưa chưa thấy ghi trong điển lễ, nhưng thời nay lại là vấn đề rất thiết thực, vì nhà nào cũng vậy con cháu nội ngoại công tác cư trú phân tán mỗi người một nơi, không mấy gia đình không có người đi xa, trong một năm chỉ có điều kiện tụ hội gia đình một hoặc hai lần nhân ngày lễ trọng của gia đình, hoàn cảnh kinh tế eo hẹp, muốn mời bà con khách bạn trước là tới dự lễ gia tiên cùng thoả nguyện tâm linh, sau là để tỏ tình thân hiếu, không thể rải ra nhiều lần, vậy phải xác định tập trung vào lễ chính.
Về lễ giỗ thì phong tục các nơi nói chung đều thống nhất lấy giỗ cha mẹ là chính (chú ý cha mẹ của người tôn trưởng nhất trong nhà ) còn lễ tang thì phong tục mỗi nơi một khác. Có nơi chú trọng lễ 49 ngày là chính, có nơi lễ 100 ngày là chính, có nơi làm lễ 3 ngày xong xuôi tốt đẹp là được, bởi lẽ trong khi tang gia bối rối, việc thù đáp đối với thân bằng cố hữu và những người đến hộ tang có thể còn nhiều khiếm khuyết nên lấy lễ ba ngày làm lễ trọng, để nhân lễ này tang gia tạ ơn những người săn sóc cha mẹ mình khi đau yếu và giúp đỡ gia đình lo xong phần an táng. Có nơi coi trọng lễ giỗ đầu (gọi là "Tiểu tường") có nơi coi trọng lễ giỗ thứ hai (gọi là "Đại tường", còn gọi là "giỗ hết"). Có lập luận cho rằng: Đã gọi là "Tiểu tường". Xét theo lễ nghi thì ngày nay kết hợp đại tường và đàm tế có nhiều nghi tiết phức tạp hơn tiểu tường (xem phần: "Cách tiến hành đàm tế").
Tóm lại: Hoàn cảnh kinh tế, hoàn cảnh sinh hoạt thời xưa thời nay khác nhau, đây là vấn đề thiết thực, nhất là đối với những gia đình còn nhiều khó khăn về kinh tế và con cháu làm ăn xa nên tuỳ theo phong tục từng nơi. Hoàn cảnh cụ thể từng nhà mà thoả ước với nhau, có điều kiện thì hội tụ gia đình, ai ở xa nhớ ngày nhớ tháng làm lễ tưởng niệm cũng được.
Những đồ vật không nên để trong phòng ngủ
Dao, kiếm là những thứ đại kỵ trong phòng ngủ vì sát khí rất nặng, dễ gặp áp lực công việc, đau đầu, bất an, thậm chí bị thương… vì vô ý đụng vào.
Nhiều người có sở thích sưu tầm dao, kiếm và coi đó là một thú vui của cuộc sống, thậm chí để thỏa ý thích họ còn bày chúng trong phòng ngủ để “tiện ngắm”. Tuy nhiên, theo phong thủy đó là những thứ đại kỵ trong phòng ngủ vì sát khí rất nặng, dễ gặp áp lực công việc, đau đầu, bất an, thậm chí bị thương… vì vô ý đụng vào.
Không nên đặt di ảnh người đã mất trong phòng ngủ vì dễ khiến cho gia chủ mộng mị, bóng đè, không tốt cho sức khỏe và giấc ngủ. Nên đặt di ảnh ở phòng khách, ban thờ hay một nơi yên tĩnh, sạch sẽ để tiện thờ phụng, cúng bái.
Chúng ta biết rằng, di vật hay cổ vật là những đồ vật quý báu và có giá trị. Do vậy, ai cũng muốn trưng bày, cất giữ ở chốn riêng tư. Lúc này, phòng ngủ dường như là một lựa chọn thích hợp nhưng thực tế, điều đó khiến tâm trí gia chủ bất an, hay mơ kỳ quái và mất tinh thần làm việc…
Với góc độ tín ngưỡng và sự tôn kính lễ giáo thì đặt tượng thần, Phật trong phòng ngủ là điều đại kỵ. Còn trong phong thủy thì đó lại là cách “cất giấu” tài lộc, may mắn, khiến công danh sự nghiệp của bạn luôn chỉ ở mức trung bình.
Những đồ vật không nên để trong phòng ngủ
Việc đặt bể cá, bồn rửa mặt, treo tranh vẽ hồ nước, sông, suối, biển… trong phòng ngủ dễ gây hiểu lầm, bất hòa, ngủ không yên giấc…
Khi đi xem bói tay, bạn hay nghe đến câu "trai xem tay trái, gái xem tay phải". Vậy chuyện này thực hư ra sao, khi xem bói tay thì xem tay nào, cùng Lịch ngày tốt khám phá nhé. Từ xưa tới nay, mỗi khi xem bói tay, người ta đều tuân theo quy tắc “nam tả nữ hữu”, tức là nam giới thì xem tay trái, còn nữ giới thì xem tay phải. Vậy điều này có thực sự chính xác hay không, hay phía sau nó còn rất nhiều điều cần phải chú ý khác nữa?
![]() |
![]() |
|
|
|
![]() |
Sự tích suy nguyên về bánh chưng và bánh dày mà ngày nay chúng ta đều biết và xác tín là do Tiết Liêu/ Lang Liêu - một trong các người con của vua Hùng - làm ra là câu chuyện được ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái (thế kỷ XV).
Truyện kể rằng: Sau khi vua Hùng Vương phá được giặc Ân, nhân quốc gia vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi vị quan lang và công tử lại mà phán rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”.
Thế là các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp trên cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duy có vị công tử thứ 18 là Tiết Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, mắc bệnh mà chết, tả hữu ít người giúp đỡ, khó xoay xở, nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Các vật trên trời đất và mọi của quý của người không gì bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh và ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình đất và trời rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”. Tiết Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói rằng: “Thần nhân giúp ta vậy!”.
Nói rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh, lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo cho sạch, lấy lá xanh bọc chung quanh làm hình vuông, cho trân cam mỹ vị vào bên trong để tượng trưng cho việc đại địa chứa chất vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh chưng. Lại lấy gạo nếp nấu chín, giã cho nát, nặn thành hình tròn, tượng trưng cho trời gọi là bánh dày.
Đến kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật dâng tiến. Xem qua khắp lượt, thấy không thiếu thức gì. Duy có Tiết Liêu chỉ tiến dâng bánh chưng và bánh dày. Vua kinh ngạc mà hỏi, Tiết Liêu đem giấc mộng thuật lại. Vua đem nếm, thấy ngon miệng không chán, hơn hẳn các thức của các con khác, tấm tắc khen hồi lâu rồi cho Tiết Liêu được nhất.
Đến ngày Tết, vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước (1).
Câu chuyện này có một số chi tiết cần phải xem xét:
1. Trước hết, khái niệm “trời tròn đất vuông” vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc (2). Từ thế kỷ thứ X, An Nam dần dần thoát ly khỏi uy quyền phương Bắc, và đến triều Lý (1009-1225), nước Đại Việt mới thực sự là một quốc gia độc lập. Phật giáo được coi là quốc giáo, Tăng lữ tham gia vào hàng ngũ quan lại, và một số vị vua thời Lý, Trần đã tự mình đứng ra thành lập các tông phái, thiền phái (Lý Thánh Tông mở phái Thảo Đường, Lý Cao Tông tự xưng là Phật, Trần Nhân Tông là sơ Tổ Trúc Lâm yên Tử, được tôn là Điều Ngự Giác Hoàng). Tuy vậy, về mặt quản lý nhà nước, do tiếp nhận văn hoá phương Bắc, nước Đại Việt độc lập vẫn tổ chức theo quan niệm vương quyền Nho giáo. Ngoài các khái niệm Thiên Vương, Phật-Vua, vẫn còn thừa nhận khái niệm Thiên Tử (Ông vua Con Trời). Như vậy, vua vẫn phải lưu tâm đến việc tế cáo "Cha Trời, Mẹ Đất" cũng như phong thần các xứ (Thiên Tử phong bách thần) để tỏ rõ uy quyền với các thần linh trong nước. Đàn Xã Tắc lập năm 1048 và đàn Viên Khâu (Gò đất hình tròn, theo nguyên tắc đàn xây ở phía Nam kinh thành để tế trời, gọi là đàn Nam Giao), đàn Vu ở phía Nam kinh thành được nhắc tới vào các năm 1137-1138 (3). Nói chung, việc tế Trời-Đất đến thời Lê mới thực sự hoàn bị theo nghi lễ Nho giáo. Song kể từ thế kỷ XI, việc dựng đàn tròn, đàn vuông để tế "Cha Trời, Mẹ Đất" đã cho thấy khái niệm “trời tròn đất vuông” đã tồn tại trong nếp nghĩ của người dân nước ta từ lâu
2. Các tác giả Lĩnh Nam Chích Quái sau đó đã khuôn công năng của hai loại bánh này vào việc cúng tổ tiên, tôn vinh chuẩn mực hiếu đạo, một giá trị luân lý cốt lõi của Nho giáo; để vua Hùng nói: “Tiến cúng tiên vương cho ta tròn đạo hiếu”, và cuối truyện xác định: “Đến ngày Tết vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước…”. Tục cúng bánh chưng, bánh dày vào ngày Tết được mô tả từ câu truyện này, về sau được xác tín là tập tục ra đời từ thời Hùng Vương.
Nhưng Tết, xét từ nguyên uỷ là lễ thức, lễ hội được tiến hành sau mùa gặt hàng năm hay bắt đầu mùa gieo cấy. Thời điểm này tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và tập quán canh tác của mỗi tộc người. Tết như vậy có chức năng kép: tạ ơn thần linh và tổ tiên về kết quả vụ mùa đã qua và cầu mong kết quả cho vụ mùa năm tới. Nói chung, các cư dân nông nghiệp luôn tiến hành một loạt nghi lễ theo các tiến trình phát triển của cây lúa. Với những lễ vật tương ứng.
- Lúa vừa chín tới: lễ cúng ăn cốm.
- Lúa chín gặt: lễ cúng cơm mới.
- Gặt xong đưa vào kho: lễ mừng lúa mới, với lễ vật là các thứ chế biến từ gạo tẻ và nếp như: cơm, xôi, bánh…
Cốm là lễ vật phổ biến trong lễ cúng mừng lúa lúc đã cứng hạt. Cốm là sản phẩm chế biến bằng cách rang lúa nếp, giã cho dẹp lại và sàng sảy để bỏ trấu đi. Dữ liệu của nhà dân tộc học Từ Chi viết về loại cơm chul (cơm chùn), lễ vật trong dịp Ăn cơm mới của người Mường, tuồng như đã hé mở cho chúng ta biết về nguyên ủy của cốm: lúa gặt về còn ướt sũng, không có thời gian phơi khô, mới được làm thành lễ vật dâng cúng ngay để mọi người bắt tay vào gặt. Chỉ còn một cách là đem “rang” (có hạt bung ra) rồi giã nhẹ để tách vỏ. Gạo đó chế thành cơm chul (4). Lúa nếp rang nở bung ra mà người miền Bắc gọi là bỏng thì ở Trung Bộ (kể cả Nam Bộ) gọi là nổ. Bánh nổ là lễ vật truyền thống vào dịp Tết ở Trung Bộ, và nổ là lễ vật bắt buộc trong nhiều đám cúng việc lề ở Nam Bộ. Phải chăng đó là di duệ của cốm, và xa xưa hơn là cơm chul?
Cơm là lễ vật bắt buộc trong lễ cúng cơm mới của nhiều tộc người, và cũng là lễ vật của nhiều lễ cúng khác. Tuy nhiên, vì sự bình dị của nó mà cơm không được người ta coi là lễ vật thực sự như xôi. Rõ ràng trong nếp nghĩ phổ biến của nhiều tộc người, xôi là lễ vật bởi nó phải có trong các cuộc lễ mà hiếm hoi trong bữa ăn thường ngày. Gạo nếp quý hiếm hơn gạo tẻ, và vì có hương thơm nên được chọn làm lễ vật dâng cúng. Nói chung, gạo là thức ăn chính của con người nên nó có ý nghĩa thuộc về nghi lễ. Lúa gạo luôn được coi là có nguồn gốc thiêng liêng, là hạt ngọc trời; nó biểu trưng cho sự sung túc, sự sinh sản dồi dào, nhờ trời mới có và sự thanh khiết nguyên sơ. Người Thái đồ, nấu xôi có nhuộm màu: xôi đỏ tượng trưng cho Mặt Trời, xôi vàng tượng trưng cho Mặt Trăng (Tết Cầu mùa: Xíp Xì)(5). Người Nùng làm xôi bảy màu để “tượng trưng cho chặng đường lịch sử bảy tháng đầy ý nghĩa trong một năm đất trời xoay chuyển, nhưng gắn liền với lịch sử dân tộc” (mỗi màu tượng trưng một tháng, từ tháng Giêng đến tháng Bảy)(6). Cơm cúng đơm vào chén, bát, thậm chí còn nèn, gọi “chén cơm in”. Còn xôi đơm ra đĩa hay mâm, phổ biến từ “mâm xôi”, luôn gợi cho ta hình ảnh của một sự vun cao lên tròn trịa và sung mãn, biểu thị cho sự phồn thực.

Từ xôi đến bánh dày chỉ là một bước ngắn: lấy xôi nếp giã nát ra và vun lên thành mâm bánh dày. Loại bánh làm bằng nếp như vậy vẫn là lễ vật “thanh khiết nguyên sơ” như xôi. Với người Chăm, lễ vật trong Tết Rija Nưga của họ có xôi, bỏng (nổ) và bánh đúc(7). Với người Dao, trong Tết nhảy của họ có lễ vật không thể thiếu là bánh bằng bột gạo nắn tròn, treo tòng teng trên những cây mía đặt ở gian giữa bàn thờ Bàn Vương(8). Đó là hai ví dụ về hai loại bánh “tròn đầy”, thuộc thứ lễ vật được chế biến bằng bột gạo có phần kỳ công hơn bánh dày. Bánh dày không chỉ là đặc sản của người Việt, mà nó còn là thứ lễ vật bắt buộc, đã thành tục lệ trong văn hóa của nhiều tộc người. Tết của người H'mông là một ví dụ: “Bánh dày là hương vị không thể thiếu, một biểu tượng trên bàn thờ tổ tiên trong ngày Tết của người H'mông”(9). Ở người H'mông Hang Kia, Pà Cò cũng có truyền thuyết suy nguyên về bánh dày của dân tộc mình. Nội dung truyền thuyết hoàn toàn khác với sự tích bánh chưng bánh dày của người Việt, mà chủ ý là nói về nguồn gốc lúa nếp: ông Tổ người Hmông lấy được từ xứ sở của người tí hon dưới lòng đất, và hàng năm, người Hmông làm bánh dày để tưởng nhớ tổ tiên và tạ ơn con chim đại bàng đã cứu ông Tổ mình ngày xưa(10). Một tập tục liên quan đến loại bánh dày này là trong mấy ngày đầu năm phải ăn bánh dày trắng, tuyệt đối không được nướng bánh dày. Nếu nướng, người H'mông cho rằng năm đó nương rẫy sẽ bị hạn hán(11). Điều này cho chúng ta thấy: bánh dày theo quan niệm của người H'mông là biểu thị nương rẫy, là đất, nói rộng ra là “không gian sinh tồn” .
3. Nói chung, bánh dày là một lễ vật được hình thành trong một quá trình nhất định, khuôn theo một tâm thức thuần khiết từ quan niệm thiêng về gạo (tẻ và nếp) của cộng đồng các cư dân trồng / tỉa lúa. Nó vừa là nhân vừa là quả của nền văn hóa lúa; ở đó, nó là biểu tượng của tín lý phồn thực hơn là tín lý tư biện về vũ trụ. Điều này cũng có phần tương tự đối với cái bánh chưng.
![]() |
| Ảnh minh họa |
– Trong tâm tưởng mỗi người đều có sự hiện hữu của Đức Phật từ bi, đức độ. Tu Phật chính là tu tâm, người hữu duyên với nhà Phật ắt hiểu được điều này. Dưới đây là những con giáp có mối thâm duyên với nhà Phật.
![]() |
![]() |
![]() |
Mũi hếch Người có tướng mũi hướng lên trời lại là người có tâm lý nhạy bén, đầu óc cực kỳ linh hoạt vật nên khả năng thích ứng cũng như năng lực giao tiếp thể hiện rất mạnh. Tuy nhiên, những suy nghĩ của họ lại khá ngây thơ, hời hợt, thiếu dũng khí và sự kiên nhẫn nên đôi khi khó chấp nhận sự thật. Nếu muốn thành công thì người này phải có người hướng dẫn và giúp đỡ.
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
Điều tu dưỡng lớn nhất trong mỗi cuộc đời con người ![]() |
Mẫu người Thân Cư Quan Lộc trong tử vi
Trong tử vi những người sinh vào giờ Dần (3am tới 5am) hoặc vào giờ Thân (3pm tới 5pm) là những người có số Thân cư Quan Lộc. Như chúng ta đã biết, cung Quan Lộc trong lá số của mỗi người biểu hiện con đường công danh và sự nghiệp của người đó. Hai chữ “Công Danh” và “Sự Nghiệp” nghe có vẽ rộng lớn và mơ hồ quá. Nếu nói một cách gần gũi và rõ ràng hơn thì cung Quan Lộc diễn tả nghề nghiệp của một người và có thể chỉ rõ một ngành nghề nào đó như y khoa, điện tử, giáo sư, cảnh sát, quân nhân, ngân hàng, ngoại giao, văn học, nghệ thuật, kinh doanh thương mại v.v…

Cung Quan Lộc cũng nói lên sự thành bại trong nghề nghiệp của một người. Như chúng ta đã nói trước đây, Thân cư cung nào thì cung đó sẽ trở thành lãnh vực sinh hoạt chính yếu trong cuộc đời của người ấy. Do đó, người Thân cư Quan Lộc ngay từ khi còn trong trường học, họ đã có những ý tưởng rõ ràng về ngành học mà họ chọn lựa vì đó là cửa ngõ đưa họ vào đời, là nghề nghiệp của họ sau này. Họ rất cân nhắc và thận trọng trong việc chọn nghề và thường là những nghề mà họ đã có sẵn năng khiếu và ưa thích. Người Thân Cư Quan Lộc không thích làm những nghề có tính cách tạm bợ. Cho nên khi họ đã bước vào một ngành nghề nào thì đó sẽ là công việc mà họ sẽ theo đuổi suốt cả một đời.
Mẫu người này cho dù làm công hay làm chủ cũng không thích đổi nghề. Nếu đi làm công thì ít khi bị mất việc. Có thể nói, họ là những người mà việc tìm họ chứ họ không phải vất vả đi tìm việc như những người khác. Thân cư Tài Lộc là mẫu người thừa hành đắc lực nhất. Họ là những nhân viên, những thuộc cấp và là những người cộng tác rất có tinh thần và trách nhiệm trong chức vụ của họ. Điều này dễ hiểu vì họ là những người yêu nghề, thích học hỏi. Người Thân cư Quan Lộc coi sự làm việc như một lạc thú ở đời chứ không phải là một nghề để sinh sống. Họ rất hăng say với công việc. Những đặc điểm nêu trên là mẫu người Thân cư Quan Lộc mà có cung Quan Lộc tốt đẹp. Ngược lại nếu cung Quan Lộc xấu xa thì đó là hình ảnh của một người chậm công danh, lận đận trên đường công danh, và đây cũng là người sống chết với nghề của mình một cách vất vả, lao đao, hoặc là trường hợp đặc biệt của những người mà chúng ta thường gọi là “sinh nghề, tử nghiệp” chết vì tai nạn nghề nghiệp, thân bại danh liệt, hay bị tù tội vì nghề nghiệp nếu có thêm hung sát tinh, bại tinh hội hợp. Như vậy, quan niệm cho rằng người có Thân cư Quan Lộc sẽ làm Quan là một điều sai lầm. Làm quan hay làm công, thành đạt hay thất bại trong nghề nghiệp cũng phải tùy thuộc vào cung Quan Lộc tốt hay xấu. Nhìn xa hơn, trong khoa Tử Vi Đẩu Số, sự sắp xếp của 12 cung trên một lá số rất có ý nghĩa.
Trong tử vi, cung Quan Lộc nằm đối diện với cung Phu Thê cho nên cung Quan Lộc có thể xem như cái bóng phản chiếu của cung Phu Thê vậy. Do đó khoa Tử Vi cho rằng đối với những người có số 2 đời vợ, 2 đời chồng thì cung Quan Lộc là hình ảnh của người vợ hay người chồng thứ hai của đương số. Điều này rất có ý nghĩa đối với những người Thân cư Quan Lộc, cuộc đời còn lại của họ và cả nghề nghiệp của họ sẽ bị ràng buộc một cách chặt chẽ với người vợ/chồng thứ hai. Điều này chúng ta sẽ bàn kỷ hơn trong mẫu người Thân cư Phu Thê. Riêng đối với nữ Mệnh, các bà có số Thân cư Quan Lộc thì ngoài những nét đặc biệt đã nêu trên, cung Quan Lộc trong trường hợp này còn có ý nghĩa như một cung Phu, và một vài trường hợp điển hình mà chúng ta nói đến như: Một người đàn bà có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị Tuần hay Triệt án ngữ thì đường tình duyên cũng trắc trở không khác gì Tuần hay Triệt án ngữ ngay tại cung Phu vậy.
Trong trường hợp như vừa nêu trên, một quan điểm khác của nhà tướng số Thiên Đức trong một bài viết về “Tai Nạn Trinh Tiết” ông khẳng định một cách mạnh mẽ rằng “…bất cứ là lá số của một người phụ nữ nào khi cung Quan Lộc hay cung Thân có Tuần hoặc Triệt, bất luận về yếu tố sao, chắc chắn sẽ không còn là con gái khi về nhà chồng” Như vậy theo quan điểm này thì bất cứ cung Thân an tại đâu và bất kể cung Thân hay Quan Lộc cho dù có các sao đoan chính tọa thủ, nếu bị Tuần/Triệt thì hai chữ “trinh tiết” của đương số cầm bằng như không có khi bước lên xe hoa lần đầu trong cuộc đời. Cũng trong trường hợp nữ Mệnh có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị Tuần/Triệt án ngữ mà còn gặp nhiều hung tinh hay sát tinh thì đương số nên lập gia đình muộn hoặc lập gia đình với một người đã trải qua một lần đổ vỡ trên đường tình thì mới có thể tránh được cảnh cô đơn góa bụa về sau. Một điểm đặc biệt nữa là đàn bà có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị nhiều hung tinh sát tinh ảnh hưởng thì đó cũng là số của những người có thể gặp những hoàn cảnh hay tai nạn làm mất danh tiết của mình.
Riêng đối với các ông, nếu là những người có quan niệm sống bảo thủ như ông bà của chúng ta ngày xưa, cho rằng người vợ chỉ là người hiền nội, chỉ là người đàn bà ở trong nhà lo việc nhà, săn sóc cho chồng cho con thì mẫu người đàn bà Thân cư Quan Lộc hoàn toàn không thích hợp với quý ông có quan niệm “chồng chúa, vợ tôi” Lý do dễ hiểu là những người đàn bà có Thân cư Quan Lộc có khuynh hướng độc lập rất mạnh. Họ muốn ra đời và muốn có một nghề nghiệp như đàn ông để suốt đời không bị lệ thuộc vào người chồng. Cuối cùng, trong ý nghĩa về nghề nghiệp, dù nam hay nữ, khi cung Quan Lộc bị Tuần/Triệt thì trong đời của đương số phải thay đổ nghề nghiệp ít nhất 1 lần. Bao nhiêu lần và đổi qua những ngành nghề gì thì còn tùy thuộc vào cung Quan Lộc và toàn bộ lá số. Đặc biệt đối với những người Thân cư Quan Lộc thì nghề nghiệp mà họ thay đổi thường là cùng nghề hay cùng trong một lãnh vực với người chồng hay người vợ thứ hai của đương số. Tóm lại, cung Quan Lộc biểu hiện cho công danh, sự nghiệp, tiền tài và danh vọng của một người, cho nên những người có số Thân cư Quan Lộc thì những yếu tố trên là mục đích mà họ sẽ mang hết tâm huyết của họ để đạt được.
Có những người may mắn thành đạt từ khi còn trẻ, nhưng có nhiều người lại thành đạt khi đã đứng tuổi. Khi họ còn trẻ, thường sẽ gặp phải khó khăn trắc trở, khó giành được thành công. Theo thời gian, họ dần trở nên trầm ổn, cũng tích lũy cho mình thêm nhiều kinh nghiệm, trí tuệ cũng được trau dồi. Chẳng có gì khó hiểu khi mà những người này càng già lại càng có nhiều cơ hội phát tài.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Biết cách chọn địa thế tốt để việc làm ăn phất như vũ bão![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Giờ sinh còn đại diện cho mối quan hệ về con cái, nô bộc và sự nghiệp. Vì vậy thông qua giờ sinh người ta cũng có thể dự đoán được phần nào tính cách, vận mệnh của người đó ra sao.
![]() |
| Ảnh minh họa. |
c lại sẽ đem đến những kết quả trái ngược.

Trong những vật phẩm ngăn chặn hung khí, thực vật và bình phong là những vật được cốc tháy phong thủy sử dụng nhiều nhất; những vật dụng khác, như gương bát quái, chuông đồng, nước muối, phù giấy và bảo kiếm…. do có liên quan đến những bộ phận chuyên ngành hơn nữa có một số đồ vật lại có sắc thái của mê tín phong kiến, chính vì vậy, nếu không có sự hướng dẫn của thầy phong thủy, thì xin bạn đừng sử dụng bừa bãi.
Lựa chọn bình phong, đầu tiên phải xem chất liệu; tốt nhất là lựa chọn dùng bình phong chất liệu gỗ, bao gồm bình phong trúc và bình phong giấy bên trong, đều thuộc loại bình phong gỗ. Những loại bình phong bằng nhựa và kim loại hiệu quả sẽ kém, đặc biệt là bình phong bằng kim loại, bản thân từ trường chính là không ổn định, hơn nửa cùng sẽ gây ra nhiều từ trường đối với cơ thể con người, tốt nhất không nên lạm dụng. Hơn nữa độ cao của bình phong cũng không được cao quá, tốt nhất là không nên vượt quá độ cao khi đứng của người bình thường: bình phong quá cao sẽ mất căn bằng trọng tâm, ngược lại đem lại cảm giác áp lực cho con người, vô hình chung tạo thành gánh nặng cho người sử dụng.
Thực vật và bình phong, có thể sừ dụng trong những trường hợp sau:
Bồn cây để cách ly với uế khí (khí không tốt). Nếu vị trí của bạn đúng vào phía trước hoặc bên cạnh có nhà vệ sinh, có thể đặt ở vị trí giữa ngăn cách nhà vệ sinh, đặt một số bồn cây lớn có lá to rộng, một là nó có thể hâp thụ những uế khí từ nhà vệ sinh (giống như công dụng của máy làm sạch không khí), hai là có thể ngăn chặn những từ trường không tốt; nhưng bạn phải nhớ thay đổi thường xuyên; nếu không cũng cần cách vài tháng đặt chúng ra ngoài không khí để đổi khí (ểể cây được quang hợp). Như vậy, cây mới nhả khi sạch và sẽ không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người.
Dùng bình phong để tạo thế cục “quân thần chi lễ” (lễ đối đãi vua và bề tôi), cho dù bạn là một viên chức bình thường hay quản lý, vị trí của bọn ở đối thẳng với phòng của ông chủ, tốt nhất là nên sử dụng những bồn cây có lá to rộng thay bình phong, chứ không thích hợp dùng bình phong; nếu không thì quan hệ giữa bạn và ông chủ sẽ bị bình phong kia cách ly hoàn toàn.
Vị trí ngồi đối diện với một người nào đó, dây là xung đối giũaa người và người, tốt nhất là giữa hai người nên đặt một bồn cây nhỏ hoặc một số đồ vặt như các loại văn bản giấy tờ; nên nhớ rằng: Tuyệt đối không đặt những loại nhọn săc hoặc kim loại ở giữa hai người, nếu không lực hung khí xung với đối phương sẽ càng mạnh, từ trường giữa hai người sẽ càng nhiều, mâu thuẫn thường xảy ra.
Vị trí ngồi vừa đúng chỗ đối tháng với hành lang đi lại, có thể đặt một bồn hoa lá to ngay trước bàn, để ngăn chặn những hung khí đến từ hành lang; nhưng độ cao của bồn cây nên phù hợp, không quá cao, cũng không được quá thấp; khi người ngồi, có thể che được tầm nhìn phía trước là dược. Phía trước chỗ ngồi đúng vào nơi dòng khi lưu động của văn phòng hoặc cửa ra vào, có thể đặt hàng cây thực vật lá to, để ngăn chặn luồng hung khí của người đi lại.
Bên cạnh chỗ ngồi khi có thùng rác hay đống rác, dùng những bồn cây lá to cách ly sẽ có hiệu quả ngăn chặn trường khi xấu, tốt hơn dùng bình phong. Nhưng mặc dù đã có hàng cây chắn, chúng ta vẫn phải gọn gàng, không vứt rác bừa bãi, nơi để thùng rác luôn được giữ vệ sinh. Cuối cùng, thực vật giúp ta ngăn chặn được hung khí, đều chỉ là một tác dụng sạch hoá trường khí, không thể hoàn toàn một trăm phần trăm hóa giải và ngăn chặn được hung khí, uế khí. Chính vì vậy, có thể giảm bớt được mức độ không tốt đến từ uế khí. Mà những thực vật ngăn chặn hung khí này, cũng giống như màng lọc của máy làm sạch, một thời gian sau nên thay đổi hoặc đưa ra bên ngoài cho cây quang hợp khí sạch hơn.
| ► ## cung cấp công cụ xem thước lỗ ban online chuẩn xác |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Chùa Linh Ứng Bà Nà hoàn thành năm 2004, và là 1 trong ngôi chùa trong các Chùa Linh Ứng tại Đà nẵng: Chùa Linh Ứng Bãi Bụt, Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn. Đây là khu du lịch nằm cách thành phố Đà Nẵng 28 km về phía Tây, thuộc thôn An Lợi, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng, mới được khai trương vào tháng 9 năm 1998.
Chùa thuộc phái Bắc Tông. Thượng tọa Thích Thiện Nguyện, trụ trì chùa Linh Ứng – Ngũ Hành Sơn, đã tổ chức trọng thể lễ đặt đá xây dựng chùa Linh Ứng – Bà Nà và Thích Ca Phật đài vào ngày 21 – 9 – 1999 (12 – 8 năm Kỷ Mão).
Chùa Linh Ứng Bà Nà gần giống với kiến trúc của chùa Tam Thai, cả khoảng sân rộng được lót bằng đá. Phía trước chùa có một cây thông rất đặc biệt với 03 loại lá khác nhau. Đặc biệt, trong khuôn viên chùa, Thượng tọa Thiện Nguyện đã cho xây dựng Thích Ca Phật đài bằng xi măng cốt sắt do thợ cả Nguyễn Quang Xô đảm nhận. Tượng đức Phật Thích Ca cao 27m, ngang gối 14m, thiền định trên đài sen cao 6m, là pho tượng Phật lớn nhất nước ta hiện nay. Phật đài được chùa tổ chức lễ khánh thành trọng thể vào ngày 06 – 3 – 2004 (16 – 2 năm Giáp Thân).
Từ thành phố Đà Nẵng, vào những ngày nắng ráo, có thể nhìn thấy bức tượng trắng muốt này nổi bật trên cái nền xanh của khu du lịch nổi tiếng Bà Nà – Núi Chúa.
Xây dựng trên núi cao, chùa Linh Ứng vô cùng linh thiêng, những nét kiến trúc tinh tế của chùa làm cho không khí thiền môn thêm thanh tịnh, lòng người vãn cảnh chùa thêm thanh tao, thư thái. Cảm giác mệt mỏi dường như tan biến khi được chiêm ngưỡng tượng Phật Thích Ca tạo thiền thuộc vào hàng lớn nhất châu Á.
| ► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi trọn đời chuẩn xác |
![]() |
| ► Cùng đọc: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp và suy ngẫm |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất |
![]() |
![]() |
| ► Tra cứu ngày âm lịch hôm nay chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
![]() |
| ► Tra cứu: Tử vi 2016 theo cung, mệnh bản thân chuẩn xác |
Người tuổi nào không giàu sang thì phú quý trong 3 năm tới?
Có một vị giáo sư Trung học ở Nha Trang, từng nghiên cứu Tử vi tìm hỏi tôi và nêu thắc mắc về lá số của Vua Bảo Đại in trong sách tử vi của Vân Đằng Thái Thứ Lang và cũng có đăng trong một số báo Xuân Công Luận.
Tôi xin sơ lược vài nét: Tuổi Quý Sửu, sinh tháng 9, ngày 23, giờ Dần, thân cư Quan Lộc, có Liêm Tướng ngô Triệt.
Vị giáo sư ấy thắc mắc rằng:
Dù không lừng lẫy thì ông Bảo Đại cũng đã hai lần làm Vua, hưởng đủ tước lộc của một vị Vua, thế mà thân cư Quan Lộc có Liêm Tướng ngộ Triệt. Vậy lá số đó có thật là lá số của ông Bảo Đại hay chỉ do một số học giả tử vi nào đó đặt ra cho có chuyện vậy thôi.
Cũng có một vị giáo sư Cử nhân Toán học, nghiên cứu tử vi từ Quy Nhơn vào Nha Trang gặp tôi mấy lần nói chuyện về Tử vi, hứa tặng tôi một số tài liệu về Toán học và Thiên văn của Trung Hoa xưa kia và cũng nêu nên một số thắc mắc tương tự.
Những câu chuyện ấy, những thắc mắc ấy đã đưa tôi đến ý nghĩ bài viết này.
Có lẽ vì Vua ở ngôi vị cao nhất, có nhiều uy quyền nhất, hưởng nhiều tiện nghi nhất, cho nên, dù không có mộng làm Vua, ai cũng có thể có lần tự hỏi: "Có ông sao nào chiếu mạng mà lại được làm Vua, sung sướng thế".
Nhìn vào các sách Tử vi, có sách nói đến các bộ sao làm Vua, có sách lại gọi tổng quát là Phi thường cách .
"Mệnh hội Tử - Phủ - Vũ - Tướng cách, thân hội Sát - Phá - Liêm - Tham cách, lại thêm Tả - Hữu; Khôi - Việt; Xương - Khúc; Long - Phượng; Hồng - Đào; Khoa - Quyền - Lộc …".
Vua ở ngôi vị cao nhất, nhiều quyền uy nhất, hưởng nhiều tiện nghi nhất… cái gì cũng phải hạng nhất, một quan niệm này đã đưa đến việc gom hết các bộ sao tốt nhất rồi nói rằng đó là cách của bộ sao làm Vua. Thật là một quan niệm giản dị, không cần nhiều suy luận. Thật là một quan niệm "Quân (Vua) vi quý - Xã tắc thứ chi - Dân vi kính".
Đúng về phương diện nghiên cứu Tử vi, chúng ta không thể chấp nhận một công thức giản dị như vậy được, vì những lý do sau đây:
Nếu Mệnh, Thân đã gom hết tất cả các sao tốt nhất, ắt chỉ còn các sao xấu ở các cung khác; Mệnh, Quan, Tài, Di, Phúc đã quy tụ quá nhiều, đã vơ hết các sao tốt, thì khi đại hạn đi đến các cung Huynh Đệ, Phụ Mẫu, Tử tức, hoặc Điền Trạch ắt chỉ còn các sao xấu dồn lại, lúc này làm Vua với ai. Một là số mà cứ một cung này được quá nhiều các sao tốt chiếu vào, đến một cung kế đó lại chỉ có toàn các sao xấu là một lá số mất quân bình, không thể làm thành việc lớn. Cứ một đại hạn quá tốt lại đến một đại hạn quá xấu; cứ một tiểu hạn quá tốt lại đến một tiểu hạn quá xấu thì làm ăn được việc gì lớn, lâu dài. Do đó chúng ta không thể làm một công việc giản dị như là tưởng tượng ra một công thức gồm toàn các sao tốt quy tụ hết về Mệnh, Quan, Tài, Di, Phúc Đức rồi nói rằng những sao này thì được làm Vua, là Phi thường cách.
Dù cung Mệnh có gom được hết cao sao tốt, thì cũng không có nghĩa là vừa lọt lòng mẹ đã làm Vua rồi và làm Vua cho đến lúc mãn đời.
Đến đây chúng ta chú trọng đến sự quân bình trong lá số. Mất sự quân bình trong các cung đại, tiểu hạn thì khó thành việc lớn được, hoặc nếu có thành thì cũng chỉ thành trong nhất thời mà thôi. Cần chú trọng đến sự quân bình, sự kết hợp đúng cách giữa các bộ sao ở cung Mệnh và các bộ sao ở Đại hạn.
Xin lấy một ví dụ khác cho dễ hiểu: Tôi đã xem nhiều lá số Mệnh có chính tinh đắc địa, hội khá nhiều các bộ sao như: Xương - Khúc; Long - Phượng; Khôi - Việt; Quang - Quý; Tam hoá… thế mà cũng chẳng đỗ đạt được cao, chỉ vì đại hạn tuổi thanh niên ở cung Huynh đệ hoặc cung Phụ mẫu lại có quá nhiều sao xấu (Mệnh đã gom hết cả các sao tốt rồi, còn gì cho những cung khác) thế là việc học gián đoạn nửa chừng. Đó chỉ là những người thông minh để mà thông minh vậy thôi, chứ chẳng đạt được gì cả. Trái lại, những người đỗ đạt được cao, đến Cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ … là những người được chính tinh miếu, vượng toạ thủ mệnh hoặc có tính cách thông minh như Thiên Cơ, Thái Âm, Thái Dương … mệnh chỉ cần một bộ văn tinh như: Khôi - Việt, hoặc Xương - Khúc. Liên tiếp mấy đại hạn kế đó như cung Huynh, Thê hoặc cung Phụ, Phúc Đức có chính tinh miếu, vượng và các sao khác (hợp cách với các bộ sao sẵn có ở Mệnh) như Long, Phượng, Phụ, Cáo, Ấn, Khoa, Lộc… thì đỗ đạt được rất cao. Đó là sự kết hợp giữa Mạng và Đại hạn, Mạng đã chứa sẵn sự thông minh, đi đến đại hạn có các sao thuận lợi cho sự thi cử thì mới đỗ đạt được cao. Mạng có quá nhiều văn tinh mà đi đến các đại hạn kế tiếp toàn các sao xấu thì cũng chẳng thành đạt gì.
Một khía cạnh trong việc nghiên cứu một lá số tử vi là cần chú ý đến sự quân bình, tương xứng giữa các cung. Một cung gồm toàn các sao tốt, lại đến một cung có quá nhiều sao xấu là một lá số mất quân bình. Có khi là người có tài mà ba chìm bẩy nổi, không thành công lớn được. Về khía cạnh này chúng ta cần chú ý đến sự kết hợp đúng cách giữa cung Mệnh và các sao trong cung đại hạn để có thể thành sự lớn. Mệnh Viên thì Viên là bức tường thấp xây xung quanh một khu đất, chỉ về một cái cốt cái trung tâm, cái căn bản, cái nền tảng. Gọi là Mệnh - Viên hoặc gọi là cung Mệnh - Nếu gọi là Cung - Mệnh - Viên, thì hoặc là thừa chữ Cung, hoặc là thừa chữ Viên chẳng khác nào khi nói dư chữ như Nhà - Văn - Sí. Trong một số những lá số tử vi xưa kia, học giả còn dùng chữ Bản Mệnh để gọi thay cho chữ Mệnh Viên.
Những bộ sao Mệnh Viên là những tính chất cát, hung đã có sẵn trong cái Mạng của mình, lại kết hợp với những bộ sao tốt, xấu ở đại hạn thì sẽ thành ra kết quả tốt hoặc xấu nhiều.
Đây không phải là phương pháp luận đoán tử vi của riêng tôi, mà phương pháp này đã thể hiện qua các câu phú của Trần Đoàn. Tôi xin trích một vài câu làm ví dụ:
"Đế tinh tại Thuỷ, nan giải tai ương, Hạn hữu sát tinh Thìn Tuất, hình hao khôn vị thoát…".
"Tử Phá Một cung, vô ưu hoạ ách, Vận lai Phụ Bật Thổ cung, nguyện vọng đắc như cầu…".
Dĩ nhiên là việc áp dụng các câu phú và việc luận đoán một lá số thì luôn luôn phải chú ý đến sự chế hoá. Nhưng, những câu phú kể trên, cũng như còn nhiều câu phú khác nữa, cho chúng ta thấy rằng cần kết hợp các sao ở cung Mệnh và cung đại hạn để luận đoán.
Thí dụ: Tử Vi cư Ngọ nhập miếu, đại hạn lại đến cung Mão có Nhật (và Nguyệt ở Hợi). Thế là Tử Vi gặp Nhật, Nguyệt rất rực rỡ được bộ chính tinh quá tốt đã, nếu lại được các bộ sao khác cũng hợp cách thì sự nghiệp thật là to lớn khó tả. Đó là cách Tử Vi gặp Nhật, Nguyệt chứ nào có phải như là "Công thức ma"; Tử Vi có Thái Âm, Thái Dương hợp chiếu, ở các cung tam hợp chiếu lên (như tôi đã có dịp đọc được trong một vài cuốn sách tử vi và trong một tờ tuần báo nói về Tử vi).
Vua cũng năm bảy đường Vua, có những ông Vua u mê, văn chương chẳng giỏi, sáng suốt cũng không, chỉ thừa hưởng sự nghiệp của Tiên Đế, rồi nghe lời nịnh thần, đánh mất Ngai vàng chắc là không có các bộ sao thông minh ở cung Mệnh. Có những ông Vua gần trọn đời khổ công chiến đấu lập quốc, lại có những ông Vua mãi quốc cầu vinh; có những ông Vua uy danh lừng lẫy, và có những ông Vua không có mấy thực quyền.
Sao lại có thể đưa ra một công thức các bộ sao làm Vua.
Một vài người không biết Tử vi lại gặp phải ông Thầy Tử vi phỉnh nịnh: "Mạng của ông chỉ thiếu một vị sao này, một vị sao nọ là làm Vua…". Không hiểu mấy ông Thầy đó tính cho người ta làm Vua gì đâya Vua Nghiêu, Vua Thuấn hay Vua Trụ, Vua Kiệt; Vua Lê Thái Tổ hay Vua Lê Chiêu Thống.