Các bước tiến hành xem tướng chính xác –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Tháng 7 âm lịch thường được nhiều người gắn cho là tháng cô hồn, tháng quỷ lễ, tháng tâm linh và đặt ra muôn điều cấm kị. Nhưng nếu tinh ý một chút sẽ nhận ra, đối với người phương Đông, tháng 7 là tháng của ân tình.
![]() |
![]() |
Cự Môn là một bắc đẩu tinh, thuộc hành Thủy. Có lẽ hành Thủy khiến cho Cự Môn trở nên uyển chuyển theo hoàn cảnh, “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” Cự Môn đắc địa đi với những võ tinh thì sẽ hỗ trợ cho võ tinh thêm mạnh mẽ để phát về võ nghiệp. nếu đi với những sao văn tinh thì sẽ thành công trong lãnh vực văn học, nghệ thuật, nếu đi với những sao có khuynh hướng về kinh doanh thì sẽ trở thành những tay kinh doanh cự phách, và tương tự, khi đi với dâm tinh thì Cự Môn rất buông thả.
Cự Môn miếu địa ở Mão Dậu, vượng địa ở Tý Ngọ Dần, đắc địa ở Thân và Hợi, hãm ở Thìn Tuất Sửu Mùi, Tỵ. Mặc dù bị xếp hạng là ám tinh nhưng Cự Môn miếu vượng thủ Mệnh là người thông minh và nhân hậu. Cự hãm thì thật sự đúng với biệt danh là ám tinh.
Cự Môn là biểu tượng của cái miệng, của lời ăn tiếng nói…cho nên khi đắc địa thì khéo ăn nói, có tài hùng biện, có khả năng thuyết phục người. Nhưng nếu hãm thì lời nói thiếu suy nghĩ, dễ mất lòng người và dễ bị tai tiếng thị phi, đôi lúc còn đưa đến tai họa cũng vì cái miệng của mình thiếu thận trọng.
Với bản tính bất nhất như đã nói trên, may mắn cho Cự Môn tại hai vị trí miếu địa Mão Dậu, ám tinh này gặp được thiện tinh Thiên Cơ, thuộc nam đẩu tinh, hành Mộc. Và Thiên Cơ cũng góp một phần bản chất vào mẫu người doanh thương Cự Cơ Mão Dậu này. Thiên Cơ miếu ở Thìn Tuất Mão Dậu, vượng ở Tỵ, Thân, đắc ở Tí Ngọ Sửu, hãm ở Dần Hợi. Thiên Cơ là một phúc thiện tinh cho nên dù hãm cũng không hề mất hết thiện tính của mình. Khi đắc địa, Thiên Cơ chỉ sự khéo léo về tay chân, sáng suốt về trí óc, có mưu trí nhưng lại xử sự nhân từ và cởi mở. Nếu ở vị trí miếu vượng thì chủ về phú quý, phúc thọ, và đặc biệt là có năng khiếu về kinh doanh.
Như vậy, hai sao Cự Cơ cùng miếu tại Mão Dậu. Hành Thủy của Cự Môn càng sinh vượng cho hành Mộc của Thiên Cơ, hơn nữa, cũng tại vị trí này, Thiên Cơ đặc biệt có năng khiếu về kinh doanh, cho nên Cự Môn trở thành kẻ đồng hành rất tốt. Với bản tánh gan dạ, liều lĩnh, Cự Môn đã hỗ trợ Thiên Cơ mạnh mẽ trong lãnh vực này.
Người Cự Cơ Mãu Dậu là những người trong thương trường. Nhưng chúng ta cần phân biệt lãnh vực hoạt động của đôi bên. Người Tham Vũ Đồng Hành thường hoạt động trong lãnh vực kỹ nghệ chuyên môn v.v… Còn người Cự Cơ Mão Dậu không chuyên về một lãnh vực nào cả, có thể là ngành hàng tiêu dùng, có thể là những sản phẩm về văn học nghệ thuật v.v…Hay nói một cách khác là bản tính uyển chuyển của Cự Môn, cho nên những sao đi kèm với Cự Cơ sẽ quyết định đương số sẽ kinh doanh trong lãnh vực nào.
Ví dụ: Mệnh ở Mão hay Dậu có Cự Cơ với Hổ Tuế Phù, thì đây là những người có năng khiếu về luật pháp, những nhà làm luật, những quan tòa hay những danh sư danh tiếng, và chắc chắn những tổ hợp luật sư sẽ là những lãnh vực kinh doanh của họ.
Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ thêm Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa, Tấu là người có năng khiếu về văn học, nghệ thuật, cho nên khi vào đường kinh doanh thì lãnh vực hoạt động thường là những nhà xuất bản sách, báo chí, nhạc, hay phim…
Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ thêm Tả Hữu, Lộc, Hình, Y, Quang, Qúy là người kinh doanh trong các ngành y dược học. Nhỏ thì là phòng mạch, một pharmacy, lớn thì một clinic, một bệnh viện, một viện bào chế dược phẩm…
Nhưng cách Cự Cơ Mão Dậu cũng chỉ mới là giới tiểu thương, nếu muốn kinh doanh với tầm vóc lớn thì phải có thêm Song Hao mới gọi là đắc cách Chúng Thủy Triều Đông, có nghĩa là tất cả các dòng sông đều chảy về hướng Đông.
Khi nói về cách Song Hao ở Mão Dậu, chúng ta thấy có hai nguyên nhân. Đầu tiên là do địa thế của nước Trung Hoa, tất cả những dòng sông đều chảy về hướng Đông, cho nên cổ thi có câu: “tự cổ nhân sinh thường hận, thủy thường đông” có nghĩa là từ xưa đến nay người đời ai mà không ôm một mối hận lòng, điều này cũng tự nhiên như dòng sông chảy về hướng Đông.
Song Hao thuộc hành Thủy, lại được hành Kim của cung Dậu tương sinh, cho nên nguồn nước sẽ được dồi dào bất tận. Trong thiên nhiên, nước là biểu tượng của tiền bạc. Song Hao lại là biểu tượng của số nhiều. Những dòng sông từ Dậu là phương Tây, chảy về Mão là phương Đông, khiến cho hành Mộc của Thiên Cơ được hưng thịnh, và đây mới đúng là tầm vóc của mẫu người kinh doanh Cự Cơ Mão Dậu. Cũng vì thế mà Mệnh an tại Mão tốt hơn ở Dậu, tốt nhất đối với những tuổi Ất, Tân, Kỷ và Bính, những tuổi này sẽ đạt phú quý một cách dễ dàng hơn những tuổi khác. Nếu Mệnh ở Dậu, thì đương số cũng là người kinh doanh mà trở nên giàu có, nhưng càng giàu thì tuổi thọ càng giảm:
“Cự Cơ Dậu, thượng hóa cát dã Túng hữu tài quan, dã bất chung”
Nhưng Cự Cơ Mão Dậu đắc cách Chúng Thủy Triều Đông thì lại có người cho rằng Cự Cơ đã gặp Song Hao thì chớ nên có Hóa Lộc mà bị phá cách. Lý do quan điểm này cho rằng Hóa Lộc hành Thổ, khắc với hành thủy của Song Hao khiến cho Thiên Cơ thiếu nước. Lý luận này xét ra không được ổn vì cũng có nhiều sao khác thuộc hành Thổ như Lộc Tồn, tại sao chỉ áp dụng cho Hóa Lộc mà thôi?
“Song Hao Mão Dậu ái ngộ Cự Cơ, tối hiềm Hóa Lộc”
Thật ra Song Hao ở Mão Dậu kỵ với Hóa Lộc không phải nguyên nhân chính là do sự sinh khắc của ngũ hành mà là do ý nghĩa của Song Hao mà ra.
Hao là hao tốn, tiêu hao. Với ý nghĩa đó cho nên Hóa Lộc, Lộc Tồn không nên gặp Hao, nếu gặp thì khác nào mang tiền thả trôi theo dòng nước. Tóm lại, Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ + Song Hao + Hóa Lộc hay Lộc Tồn thì đương số cũng là ra tiền một cách dễ dàng, nhưng tiền vào tay mặt thì ra tay trái.
Đối với nữ phái, Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ là người đàn bà có tay làm ăn buôn bán, trên thương trường đương số không thua gì những đấng mày râu. Tuy nhiên, một Thiên Cơ hiền lành không thể trói buộc nổi Cự Môn với bản tánh liều lĩnh, phóng khoáng. Cự Môn dù miếu vượng cũng có điều bất lợi cho phái nữ bởi vì Cự Môn là cái miệng, là lời ăn tiếng nói, là khẩu thiệt thị phi, khắc khẩu, vợ chồng xa nhau thì thương nhớ, gần nhau thì cãi vã suốt ngày…Cho nên đàn bà có Cự Môn thủ Mệnh hay Thân thì bên ngoài giỏi, tháo vát nhưng bên trong gia đạo thường vẫn có điều không ổn, ít nhiều hạnh phúc gia đình bị những đám mây đen của Cự Môn lãng vãng đâu đó. Đó chính là nguyên nhân khiến cho Cự Môn phải mang danh là ám tinh.
Nhưng nếu dùng lăng kính của Freud mà chiếu rọi cho tận cùng, thì một phần chính cũng vì đàn bà Cự Cơ Mão Dậu có khá nhiều tham vọng và khuynh hướng tình dục rất mạnh mẽ. Với bản chất đặc biệt đó chúng ta thấy có hai mẫu người đàn bà Cự Cơ Mão Dậu:
1. Họ có thể che dấu hay dồn nén khuynh hướng tình dục của mình thành những tham vọng trên lãnh vực làm ăn kinh doanh của họ, và đây chính là con đường mà Freud gọi là “tình dục thăng hoa thành tài năng”
Trong những trường hợp tương tự như thế, chúng ta mới thấy quan điểm của Freud đã được khoa Tử Vi chứng nghiệm. Thật vậy, khi xét đến những là số của những vị chân tu chúng ta đều thấy hầu hết những lá số này đều có bóng dáng của Đào Hồng hay những dâm tinh khác. Điều này không có gì nghịch lý, kẻ chân tu vốn cũng đầy đủ thất tình lục dục như mọi người, có khi còn mạnh hơn, nhưng cái hay là họ đẩy tất cả những thất tình lục dục đó vào một chữ “không” biến tình dục thành tài năng, và được như vậy họ mới quán triệt được chữ “đạo”, rồi mới hiểu được chữ “ngộ” là gì.
2. Là người có cuộc sống buông thả, phóng khoáng. Họ dùng những thành qủa, giai cấp mà họ đạt được trong xã hội đễ biện minh cho quan niệm sống của họ. Và trên thương trường, đây cũng là người đàn bà không thua sút ai, mà cả trong cuộc chơi, họ cũng là người dám bỏ ngàn vàng để mua lấy trận cười làm vui…Đó chính là mẫu người đàn bà mà chúng ta thường gọi là “đàn bà dễ có mấy ai.”
Địa thế, cấu trúc, kiến trúc ngôi nhà, bố trí và trang trí các phòng để đạt được phong thủy cát tường.

1. Không làm nhà ở vào những khu, điểm đất có thuỷ động và thủy động hung hỏa.
2. Không làm nhà ở những nơi có thủy đọng mà phong thuỷ thay đổi lúc tốt, lúc xấu.
3. Các điểm đất xung quanh các loại nhà máy sản xuất đều thuộc đất có phong thủy hung.
4. Các điểm đất xung quanh các nơi có cơ sở thờ cúng công cộng luôn có phong thủy hung.
5. Các điểm đất xung quanh gần các loại nghĩa trang đều thuộc đất hung.
6. Các điểm đất gần nơi thường sạt, lún đều thuộc đất dữ.
7. Cấu trúc ngôi nhà về hình dạng không phù hợp phép phong thủy Ngũ hành đều thuộc phong thủy xấu.
8. Mờ Huyền quan – cứa lớn không hợp hướng khí theo chủ gia cư hay không đúng phương vị bát quái phi tuyến đều hung.
9. Bố trí cầu thang không hợp cách, hợp yêu cầu phong thuỷ đều thuộc hung.
10. Bố trí các phòng không đúng thuộc tính tốt xấu của thửa đất đều thuộc xấu.
11. Trang trí ngoại cảnh của gia cư không phù hợp các phép phong thuỷ ngũ hành đều xấu.
12. Bố trí các phòng chính của gia cư: Phòng gia chủ, phòng ngủ, phòng thờ, bếp, không phù hợp phong thủy và ở điểm đất xấu là hung.
13. Bố trí phòng vệ sinh ở khu trung tâm ngôi nhà. Không bố trí phòng vệ sinh ở khu giữa các tầng.
14. Không bố trí bể phốt ở điểm trung tâm miếng đất.
15. Trang trí nội thất các phòng không phù hợp phong thuỷ. Ngũ hành đều hung.
16. Không mở cửa phòng vệ sinh đối diện các cửa phòng ngủ; đối diện với các miệng cầu thang ở các nhà tầng.
17. Nhà vệ sinh ở ngoài ngôi nhà không bố trí ở phía trước ngôi nhà hay ờ nơi đầu gió thường thổi về phía nhà.
18. Không bố trí nhà chứa đồ buồng chứa đồ hay gara ôtô ở phía trước nhà là nơi đấu gió thổi về phía nhà.
19. Không dùng gương tròn trong phòng ngù.
20. Giường ngủ tránh “lộ không” (đầu giường không có điểm tựa vào tường, tủ v.v…)
21. Không kê đầu giường sát ngay cửa sổ hay giường kê thẳng cửa ra vào.
22. Không mở cửa số và cửa ra vào thẳng diện nhau.
23. Không mở 2 cửa trong một phòng.
24. Không dùng hai khóa cho một cửa ra vào.
25. Không để bàn thờ trong phòng ngủ hay phía trên giường ngủ.
26. Phòng thờ không bố trí phía trên buồng vệ sinh, phòng tắm, phòng đồ.
27. Không trang trí tranh, ảnh phong cảnh ở phòng thờ, không đặt các tạp đồ trên bàn thờ.
Bố trí phòng cho các thành viên trong ngồi nhà trong 8 phương hướng theo phép định vị gia tộc để môi thành viên trong gia đình được hưởng phong thủy cát tường.
Vị trí Huyền quan không dựa vào năm sinh, tuổi sinh của chủ gia hay chủ công trình theo phương vị bát quái phí tuyến.
Vị trí huyền quan – cửa lớn thuộc cát – tốt.
Vị trí huyền quan – cửa lớn biếu thị hung – xấu.
NGỌ
Công việc: Năm nay, do có sao Thái Tuế, những người tuổi Ngọ không nên quá mạo hiểm trong những vụ đầu tư. May mắn là sao Kim Tinh xoay về cung hoàng đạo này và có thể mang đến những điều tốt đẹp trong công việc và tiền của, miễn đừng liên quan đến những loại đầu tư ăn cả ngã về không.
Tình yêu: Tình yêu của người tuổi Ngọ có thể gặp nhiều mâu thuẫn trong năm nay.
Sức khỏe: Sức khỏe không tốt lắm, tránh các đồ vật sắc bén vì dễ bị đứt tay chân nhẹ.
2014 là năm thích hợp để bạn làm mới bản thân như tham gia các lớp học thiền, Yoga, các môn thể thao giữ cân bằng hay đơn giản chỉ là hít thở không khí trong lành ở công viên, những nơi dễ đi bộ đến.
Giáp Ngọ là một năm thiếu Thủy, những người tuổi ngựa nên ăn nhiều trái cây và uống nhiều nước ép trái cây hơn để cân bằng sự thiếu nước.
Đây là thời điểm tốt để bạn sinh em bé, có con cũng là một cách hiệu quả để hóa giải vận xui.
MÙI
Đối với những người tuổi Mùi, năm nay còn tốt hơn năm 2013 vì Ngọ và Mùi là hai cung hoàng đạo hỗ trợ nhau. Những ai sinh vào năm 2003 và 1943 đặc biệt may mắn, bạn không cần phải chần chừ hay lùi bước khi cơ hội đến. Hơn nữa, sao Thái Dương rơi vào tử vi cho thấy bạn sẽ được nhiều người giúp đỡ cũng như nhiều sự ủng hộ từ xung quanh.
Nói chung đây sẽ là một năm tốt cho tuổi Mùi, trong công việc, học hành, phát triển kinh doanh, tình yêu và cả sức khỏe.
Đeo một hình con rắn như mặt dây chuyền/nhẫn hoặc để chung quanh những đồ vật liên quan đến rắn và uống nhiều nước có thể làm bạn khỏe mạnh hơn.
THÂN
Công việc: 2014 là năm tốt cho những người tuổi Thân, nhất là những ai có công việc đòi hỏi di chuyển nhiều. Những người làm công việc ngồi một chỗ cũng có một năm khá tốt, dù cơ hội thăng tiến không nhiều bằng. Tuy nhiên, không có các vì sao tốt giúp đỡ nên bạn sẽ phải “tự thân vận động” để hoàn thành công việc.
Sức khỏe & tình yêu: Sức khỏe và tình yêu của bạn ở mức trung bình, không có nhiều ảnh hưởng lớn.
DẬU
Đây là một năm rất may mắn cho người tuổi Dậu về mọi thứ từ tình yêu, công việc, kinh doanh đến sức khỏe, những phụ nữ ở vị trí lãnh đạo sẽ đặc biệt may mắn hơn.
Năm nay là thời điểm tốt để bạn thực hiện những thay đổi, bước chuyển lớn trong cuộc sống, kể cả chuyện hôn nhân. Nếu còn độc thân, tình duyên cũng sẽ tìm đến bạn. Tuy nhiên, dù nhiều cơ hội mỉm cười với bạn, bạn vẫn nên tập trung vào một số việc quan trọng để tránh sơ suất.
Những người tuổi Dậu nhạy bén nhưng thường không giỏi quản lý tài chính và phát triển kinh doanh. Để tránh hao hụt tiền của, bạn nên đeo hình con rồng hoặc tiếp xúc, làm ăn nhiều hơn đến những người tuổi Thìn.
TUẤT
Bạn có thể mỉm cười thật tươi vì bất cứ vấn đề gì không vui và tiêu cực trong năm 2013 sẽ hóa tốt vào năm nay. Đây là thời điểm thích hợp để bạn mở rộng giao thiệp vì các mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp sẽ giúp bạn giải quyết những vấn đề rắc rối.
Công việc: Bạn sẽ gặp nhiều may mắn trong công việc mang tính cạnh tranh, có cơ hội thăng tiến cũng như phát triển kinh doanh. Tuy nhiên, bạn không nên mạo hiểm và đầu tư lớn vì vận may về của cải chỉ ở mức trung bình, những bước đi đều đặn và vững chắc sẽ sinh lợi hơn.
Tình yêu: Tình yêu của bạn ở mức trung bình.
Sức khỏe: Sức khỏe không tốt là điều những người tuổi Tuất cần quan tâm trong năm nay, nhất là những người lớn tuổi. Nếu hướng nhà ở, phòng ngủ hoặc phòng ngủ ở hướng Tây Bắc hoặc Đông, bạn cần lưu tâm nhiều hơn vì tác hại sẽ lớn hơn.
Tham khảo những gợi ý phong thủy phía dưới để khắc phục.
HỢI
Công việc & tình yêu: Một năm trung bình trong công việc, của cải và tình yêu. Mặc dù có một vài ngôi sao tiêu cực rơi vào tử vi, sao Mộc Đức sẽ biến đồng nghiệp và những người gần gũi thành quý nhân giúp ích cho cuộc sống của bạn. Cứ theo việc cũ mà làm sẽ tốt hơn, vì vận may của bạn chỉ ở mức trung bình. Các gợi ý phong thủy ở phần dưới có thể giúp thu hút nhiều vận may hơn.
Sức khỏe: Vấn đề chính của những người tuổi Hợi năm nay là sức khỏe không tốt. Bạn cần ăn uống đủ chất và tập thể dục đều đặn hơn.
Đeo một hình con hổ có thể ngăn chặn mất mát tài chính do trộm cắp hoặc ăn cướp.
TÝ
Nhìn chung, 2014 không phải là một năm nổi bật dành cho người tuổi Tý.
Công việc: Tý xung đột với Ngọ nên những người tuổi Tý có thể mất mát về của cải và hay gặp chuyện buồn. Tốt nhất, bạn không nên đầu tư hoặc tiến hành việc kinh doanh, mua bán một cách hấp tấp để đề phòng người khác hãm hại, lừa gạt. Duy trì công việc và kinh doanh như cũ sẽ an toàn hơn.
Sức khỏe & tình yêu: Không phải tất cả mọi việc đều không như ý muốn, sức khỏe của bạn tốt và tình yêu cùng sự lãng mạn cũng đang đến tốt đẹp.
Năm nay, bất cứ những thứ liên quan đến nước sẽ giúp bạn may mắn hơn. Bạn có thể đeo một hình con trâu hoặc trưng một tượng hình con Trâu ở hướng Bắc trong nhà.
SỬU
So với hầu hết các tuổi khác, tử vi những người tuổi Sửu cũng khá tốt.
Công việc: Duy trì công việc hiện tại là điều nên làm vì vận may của bạn đến từ cấp trên như trưởng phòng, trưởng nhóm. Những thay đổi trong công việc hoặc bắt đầu việc kinh doanh mới có thể không suôn sẻ. Bất cứ điều gì bạn làm tuân theo cấp trên đều đạt được kết quả tốt, ngược lại có thể gặp thất bại.
Sức khỏe & tình yêu: Tình yêu và sức khỏe khá tốt. Để tình duyên như ý muốn, bạn có thể đặt 11 viên sỏi trong bất cứ đồ vật gì bằng thủy tinh ở hướng Tây Nam trong nhà.
Đeo một vật hình con Rắn là lời khuyên dành cho bạn. Ngoài ra, nên tham khảo những gợi ý phong thủy bên dưới để thu hút những vận may.
DẦN
Không có ngôi sao tốt nào trong tử vi, người tuổi Dần có thể gặp khá nhiều biến động và xui rủi trong năm nay như sức khỏe kém, gặp tai nạn và có người hãm hại. Bạn nên tốt bụng với mọi người và cứ theo việc cũ mà làm. Giao tiếp hoặc hợp tác làm ăn với những người tuổi Mẹo và Tuất có thể làm giảm nhẹ những điều xấu.
Nhớ làm theo các lời khuyên phong thủy ở phần dưới bạn nhé.
MẸO
Chúc mừng bạn vì Mẹo là một trong những cung hoàng đạo may mắn nhất trong năm 2014. Bạn được quý nhân giúp đỡ nên mọi khía cạnh trong cuộc sống đều như ý muốn, công việc thăng tiến, kinh doanh sinh lợi… Đây còn là thời điểm lý tưởng để kết hôn hoặc có con. Những cô nàng còn độc thân sẽ sớm tìm được ý trung nhân.
Quá may mắn trong mọi thứ sẽ dễ mang lại nhiều lời đồn dẫn đến hiểu lầm, do đó bạn nên cẩn thận lời nói, giữ bình tĩnh và chân thật trong mọi việc.
Đeo một hình con chó bên người có thể bảo vệ bạn khỏi rắc rối.
THÌN
2014 với tuổi Thìn là một năm tốt hơn mức trung bình một chút.
Công việc: Những khó khăn của bạn sẽ sớm được giải quyết và có nhiều người hỗ trợ bạn.
Sức khỏe & Tình yêu: Sức khỏe tốt nhưng những cô nàng tuổi Thìn có thể cảm thấy hơi cô đơn vì ngôi sao Cô Độc rơi vào tử vi. Tốt hơn, bạn nên đi ra ngoài để mở rộng giao tiếp và quan hệ xã hội để cảm thấy yêu đời hơn. Các mối quan hệ với bạn bè và đồng nghiệp sẽ tiến triển tốt đẹp.
Bạn có thể tăng vận may bằng cách đeo một hình con gà.
TỴ
Nếu như năm 2013 không được suôn sẻ thì năm nay mọi việc sẽ biến chuyển tốt hơn với cô nàng tuổi Tỵ.
Công việc: Công việc có thể không ổn định, bạn nên cố gắng duy trì và khiêm tốn trong công sở. Im lặng là vàng là lời khuyên dành cho bạn để những mâu thuẫn có thể xảy ra.
Tình yêu: Tình yêu và sự lãng mạn của bạn sẽ thăng hoa vì tuổi Tỵ và Ngọ đều là yếu tố hỏa. Bạn nên cẩn thận vì Sức mạnh hỏa gấp đôi có thể làm bạn vướng vào tình tay ba. Tốt hơn nên dành năng lượng vào công việc và giải quyết những vấn đề tài chính bạn nhé.
Sức khỏe: Sức khỏe có thể không tốt lắm, đặc biệt bạn có thể gặp những vấn đề liên quan đến phổi, hoặc lo lắng, căng thẳng đầu ốc. Tránh hút thuốc và thường xuyên tập thiền, yoga, những môn thư giãn tâm trí sẽ giúp ích cho bạn.
Môn thể thao thích hợp nhất cho bạn là đi bơi, bởi vì 2014 là năm yếu tố Hỏa rất mạnh, thêm vào Rắn cũng là yếu tố Hỏa, tất cả đều thiếu nước. Giảm nhẹ hỏa bằng nước còn giúp mang đến cho bạn những nguồn thu nhập mới.

HƯỚNG ĐẠI KỴ VÀ CÁCH HÓA GIẢI
2014 là năm không tốt lắm do hầu hết các hướng đều có các ngôi sao mang năng lượng tiêu cực, xấu nhất là hướng chính Nam và 322-337 độ Tây Bắc.
Ngôi sao số 8 Tài Lộc xoay vào hướng Nam, nhưng các ngôi sao xấu như Thái Tuế và sao Hỏa Tinh, đều là những ngôi sao mang năng lượng tiêu cực, cũng ở hướng Nam.
Sao Thái Tuế sẽ gây ra mất mát về của cải và mang đến tai họa. Những người sử dụng hoặc ở hướng Nam cần kiềm chế hai nguồn năng lượng tiêu cực lớn nhất này ở mức thấp nhất để tránh gặp hậu quả không tốt. Bạn không nên làm những việc quan trọng ở hướng Nam như xây dựng, sửa chữa, đào đất, tụ tập lớn như tiệc tùng. Nếu bắt buộc phải sử dụng hướng Nam, tốt nhất, bạn nên nhờ đến chuyên viên phong thủy chọn ngày thích hợp và cách hóa giải.
Không giống những năm năng lượng trung bình khác, vào năm 2014 chúng ta không thể tiếp thêm quá nhiều năng lượng cho hướng Nam vì sao Thái Tuế sẽ dễ dàng làm tăng năng lượng của sao Tài Lộc một cách quá mức. Trước tiên, bạn nên đặt một con dê bằng đá hay ngọc bích hoặc tỳ hưu ở hướng Nam để hóa giải sao Thái Tuế.
Để hạn chế những tranh cãi, xung đột, bạn không nên đặt thêm bất cứ vật dụng bằng kim loại nào khác vào hướng Nam. Sao này là biểu hiện cho cho gươm kiếm (kim loại), càng nhiều kim loại ngôi sao xấu này sẽ càng mạnh mẽ hơn.
Để tăng năng lượng cho sao Tài Lộc, bạn có thể để tượng tỳ hưu hoặc dê, sau đó là đặt 8 viên sỏi trong một ly nước (nhớ thay nước mỗi ngày) hoặc một đồng hồ màu đỏ ở hướng Nam trong nhà.
Ở vị trí 322-337 độ Tây Bắc, bạn cũng nên hạn chế năng lượng càng nhiều càng tốt bằng cách đặt một tượng con hổ hoặc mèo bằng bất cứ chất liệu gì, miễn là không phải màu đỏ và không dẫn điện ở hướng này.
CÁC HƯỚNG KỴ KHÁC VÀ CÁCH HÓA GIẢI
Hướng xấu thứ hai là 43-337 độ Bắc/Tây Bắc, vị trí của sao Tam Sát và hướng Tây Bắc, vị trí của sao số 5 thuộc hành Thổ. Sao số 5 ảnh hướng không tốt đến sức khỏe và của cải, sức phá hoại của sao Tam Sát còn mạnh mẽ và nhiều hơn.
Để hóa giải, ở hướng 43-337 độ Bắc/Tây Bắc bạn nên đặt ba con kỳ lân và ở hướng Tây Bắc đặt những đồ vật bằng kim loại hoặc nhạc cụ, trừ trống hoặc dàn âm thanh nổi Hifi/Stereo. Nếu bạn nhất thiết sửa chữa nhà cửa ở hai hướng này, tốt hơn nên nhờ chuyên gia phong thủy cho ngày tốt và cách hóa giải phù hợp.
Ngôi sao số 9 Tình Duyên và Lãng Mạn nằm ở hướng Bắc, tuy nhiên bạn cũng nên hạn chế năng lượng ở cả hai hướng Bắc và Tây Bắc như đối với hướng Nam. Ngoài cách hóa giải như trên, ở hướng Bắc bạn có thể đặt 9 viên pha lê màu hồng hoặc hoa hồng để kích thích vận may về tình yêu và sự lãng mạn. Ở hướng Tây Nam, để chín con cá vàng hoặc 11 viên sỏi màu xám trong một ly nước sẽ tăng thêm năng lượng cho tình yêu và của cải.
Tất cả những vị trí khác, sao số 2 thuộc Thổ ở hướng Đông, sao số 3 thuộc Mộc ở hướng Đông Nam, sao số 6 thuộc Kim ở hướng Tây và sao số 7 ở hướng Đông Bắc đều không quá xấu. Để duy trì sức khỏe tốt, bạn có thể đặt một ly nước ở hướng Đông Bắc và một tô đồng tiền kim loại hoặc một hồ lô bằng đồng ở hướng Đông. Hướng Đông Nam cũng không xấu vì sao học thức ở vị trí này có thể kích thích sự học hành và trí thông minh. Bạn nên giữ hướng Đông Nam sạch sẽ và sử dụng nó.
Ở hướng Tây, đặt 6 viên sỏi trắng trong một ly nước có thể giúp mang đến thu nhập bất ngờ, nhớ thay nước sạch mỗi ngày.
1. Zeus và Hera
Thần Zeus có hàng chục người con với 12 vị thần, chưa kể là rất nhiều người phàm, tiên nữ khác. Trong đó, người vợ quyền lực nhất phải kể tới nữ thần Hera, cũng là chị của thần Zeus.
Sau khi được giải cứu khỏi tên vua cha bạo chúa, Hera sống xa kinh thành Olympus một thời gian dài, cho đến khi Zeus vĩ đại tình cờ nhìn thấy nàng trong chuyến du hành của mình. Ban đầu, Hera không chấp nhận Zeus làm chồng vì dù sao đây cũng là em trai nàng. Hơn thế nữa, Hera đã chứng kiến Zeus nuốt vợ cả của mình là Metis Titaness nên nàng đã từ chối Zeus trong 300 năm.
Khi hết thời hạn 300 năm dài đằng đẵng ấy, Zeus trở lại và tạo nên một trận bão rất lớn. Thần tự biến mình thành một chú chim nhỏ, bay lạc vào cửa sổ căn phòng của Hera. Hera thấy chú chim đáng thương liền ôm vào ngực vỗ về. Zeus ngay lập tức trở về hình dạng chính mình và quyết liệt tán tỉnh Hera. Chỉ đến lúc này, Hera mới đồng ý làm vợ thần Zeus.
Các vị thần đã tổ chức cho họ một đám cưới linh đình. Nữ thần Cầu Vồng Iris cùng các Nữ thần Duyên Dáng mặc cho Hera bộ váy áo đẹp nhất, làm cho nàng đẹp lộng lẫy và rạng rỡ hẳn lên giữa các thần linh trên núi Olympus. 
Zeus và Hera xung quanh các con trên đỉnh Olympus.
Hera và Zeus có 4 người con là Ares (thần Chiến tranh), Hebe, Eris, Eileithyia (thần Kỹ nghệ). Theo truyền thuyết, Hera là một bà vợ rất nóng tính và hay ghen. Khi Zeus đem lòng yêu thần sông Nin (Ios), sợ bị Hera phát hiện nên Zeus đã biến Ios thành một con bò trắng. Hera thấy vậy nên đã mang con bò trắng về, nhờ người khổng lồ Argos với các con mắt dày đặc trên người canh giữ ngày đêm.
Ngoài ra, vì không ưa Hercules, là con trai của Zeus với một người phàm trần, nên Hera cũng đã gây ra rất nhiều bi kịch cho cuộc đời Hercules.
Máu ghen của nữ thần Hera "kinh khủng" đến nỗi thần Zeus cũng phải sợ.
Hera là Nữ thần Hôn nhân, bảo trợ cho sự bền vững và thánh thiện của cuộc sống gia đình. Cũng như chồng, Hera toàn quyền thống trị như một vị Nữ hoàng trên đỉnh Olympus.
2. Bi kịch anh hùng Hercules và công chúa Deianeira
Hercules là con của thần Zeus với một phụ nữ phàm trần tên là Alcmena. Vì là một á thần (một nửa là thần tiên, một nửa là người phàm trần) nên Hercules có sức khỏe phi thường. Nhưng cũng chính từ đây mà chuỗi bi kịch gia đình của chàng bắt đầu.
Người vợ đầu tiên của Hercules là công chúa Megara (con gái vua Creon, chúa thành Thebes). Họ có với nhau ba cậu con trai kháu khỉnh. Những tưởng hạnh phúc đã đến thì trên đỉnh Olympus, Hera nguyền cho Hercules hóa điên, khiến chàng ra tay giết chết vợ và con của mình. 
Hercules anh hùng là thế nhưng vẫn không tránh được bi kịch gia đình.
Để rửa sạch tội lỗi, Hercules đã phải thực hiện 12 nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Trải qua nhiều gian truân, Hercules trở về quê hương rồi đến Calidon cầu hôn công chúa Deianeira (Deana). Với tiếng tăm anh hùng của mình, chàng đã nhận được lời đồng ý của công chúa và nhà vua.
Trong một ngày đẹp trời, Hercules dắt vợ đến thành Tyrins chơi. Họ đến một khúc sông chảy xiết. Từ đây, mâu thuẫn bắt đầu được nhen nhóm. Khi Nesxus (tên Nhân mã làm nghề chở người qua khúc sông này) nảy sinh lòng tham, định bắt cóc nàng Daena, hắn đã bị Hercules hạ gục ngay tức khắc. Tuy nhiên, trong lúc hấp hối, Nesxus đã kịp hứng lấy một ít máu của mình, trao cho Daena và nói rằng đây là phương thuốc giúp nàng công chúa giữ chồng.
Tranh miêu tả nhân mã Nesxus cướp nàng Daena khỏi tay Hercules.
Ít lâu sau, trong cuộc chinh phạt xứ Okhali, Hercules bắt sống được công chúa Ioler, người con gái sắc nước hương trời. Sợ chồng bị Ioler mê hoặc, Deana đã nhỏ những giọt máu xưa kia vào bộ lễ phục của Hercules.
Ngay khi khoác áo vào người, Hercules bỗng cảm thấy toàn thân mình nóng như lửa đốt. Máu long xà Hydra hòa với máu Nhân mã đã tạo thành một chất độc khủng khiếp. Biết mình không qua khỏi, Hercules đã lập giàn thiêu cho mình. Về phía Deianeira, do quá tủi nhục nên đã vào phòng riêng thắt cổ.
Khi Hercules lên giàn thiêu, chàng được cha mình là Zeus cứu sống. Sau đó, chàng đã sống hạnh phúc với người vợ thứ 3 của mình là Hebes (con gái Zeus và Hera) trên đỉnh Olympus.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Đường nước dùng để chỉ đường dẫn nước vào và ra. Người xưa một mặt ý thức được việc dòng nước có thể ảnh hưởng đến khí, “ khí dương thổi theo gió, khí âm thổi theo nước” - “Nơi có khí thuận theo âm dương thích hợp để sinh sống”, mặt khác cũng cho rằng, nước là nguồn mang lại sự giàu có vì thế đặc biệt coi trọng đường nước, coi nó là thần bảo hộ và đường sinh mệnh
Tiêu chuẩn đường nước hợp lý là: “thiên môn khai, địa hộ bế”. Nơi nào nước chảy đến gọi là cửa trời, nước đến mà không thấy nguồn gọi là cửa trời mở. Nơi nước chảy đi gọi là cửa đất, nơi không thấy nước chảy đi gọi là của đất đóng. Nước chảy đi tượng trưng cho của cải, cửa mở của cải đến, cửa đóng thì của cải dùng không hết. Cửa trời cửa đất đã giới định cả một khu vực xóm làng, tượng trưng cho nhà cửa và linh hồn của xóm làng.
Trước cửa nhà có nước gọi là tiền đường tụ thủy, tư tưởng truyền thống cho rằng thế là có phúc trạch, nước đã trở thành biểu tượng của Phúc.
Kiến trúc ngày nay muốn bù đắp sự thiếu hụt nước tự nhiên do thiên nhiên ban tặng nên đã dùng phương pháp thủ công đào ao hay suối phun nước. Những tia nước vút lên ngụ ý mong muốn cho của cải đến nhiều.
Nước là nguồn gốc cuộc sống của nhân loại, cũng có người cho rằng nước là nguồn gốc của của cải. Trong phong thủy quan niệm, nếu cửa mở ở vị trí tốt, trước nhà có nước sẽ tự nhiên sinh của cải, sẽ mang đến sự giàu có cho chủ nhân. Nếu cửa mở ở vị trí xấu dòng nước đó sẽ mang đến những điều không hay cho người ở.
Đoan Trang
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tra cứu: Tử vi năm 2016 theo cung, mệnh bản thân chuẩn xác |
Tuổi Đinh Thiên Đồng cư Tuất hóa Quyền, Cự Môn hóa Kỵ thành cách Quyền Kỵ, có khả năng tạo dựng sự nghiệp trong cảnh khó khăn. Ngoài ra lại có Thái Âm hóa Lộc ở Dần (hãm), Lộc Tồn ở Ngọ chiếu về, ứng với tài lộc, may mắn. Thiên Đồng cư Thìn cũng rất tốt, nhưng không bằng Tuất vì thiếu Lộc Tồn tam hợp, và Thái Âm ở Thân (vượng) hóa Lộc không tốt bằng ở Dần (hãm).
Tuổi Tân Cự Môn cư Thìn (hãm) hóa Lộc, có Thái Dương ở Tý (hãm) hoá Quyền nên là kỳ cách tốt đẹp. Cự Môn cư Tuất cũng tốt đẹp, nhưng kém hơn ở Thìn vì Thái Dương ở Ngọ (miếu) hóa Quyền không bằng Thái Dương ở Tý (hãm).
Chú ý 1: Tuổi Bính Thiên Đồng hóa Lộc, Thiên Cơ hóa Quyền nên Thiên Đồng ở Thìn Tuất cũng tốt nhưng không bằng tuổi Đinh vì hai lẽ : Thứ nhất Thiên Cơ uy lực kém hơn Thái Âm , thứ hai bị Lộc Tồn ở vị nghịch lẽ âm dương.
Chú ý 2: Tuổi Quý Cự Môn ở Thìn (hãm) hóa Quyền được thêm Lộc Tồn ở Tý chiếu về nên cũng tốt đẹp, nhưng vẫn không bằng tuổi Tân có Thái Dương hãm cát hóa. Cự Môn ở Tuất thì kém hẳn.
Giai thoại cùng với những lời sấm tiên tri của ông vẫn còn được truyền tụng tận đến ngày hôm nay và nhiều khi ứng nghiệm đến bất ngờ, chẳng hạn như hai câu “Bao giờ Tiên Lãng xẻ đôi/Sông Hàn nối lại thì tôi lại về”…
Học được nhiều điều từ mẹ
Tương truyền, thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là Nguyễn Văn Đạt, với ý là sẽ thành đạt. Mẹ ông là Nhữ Thị Thục, con gái Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lân, là bậc nữ lưu tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ. Bà giỏi văn chương và tài học về lý, số., tử vi, toán học và phong thủy. Biết trước những gì có thể xảy ra và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua.
Do đó trong quá trình dạy dỗ, bà đã truyền cho Đạt ước vọng ấy. Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và tình cờ hát: “Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”. Không ngờ Đạt nhanh nhảu ứng đối lại ngay: “Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”. Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách: “Nuôi con mong làm vua làm chúa, cớ sao lại mong làm bầy tôi “ (Nguyệt chỉ bầy tôi).
Lại một lần khác, bà dạy cậu bé Đạt câu hát: “Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng”. Ông Định hoảng sợ vì nếu triều đình hay được sẽ mất đầu về tội khi quân, nên sửa lại: “Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con vịn ngai vàng”. Nhiều lần như vậy, bà rất bất bình nên bỏ đi khiến Văn Đạt lớn lên chỉ được ở cạnh bố.
Đến tuổi trưởng thành, Văn Đạt đã cất công vào tận xứ Thanh để học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, một quan đại thần hồi hưu sớm. Vốn sáng dạ lại chăm chỉ nên chẳng bao lâu Đạt đã trở thành học trò xuất sắc nhất của người thầy họ Lương. Bởi vậy mà trước khi qua đời, Lương Đắc Bằng đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học là “Thái Ất thần kinh”. Gặp thời đại loạn, trông gương thầy mình, lại biết “bấm độn” nên Văn Đạt đã bỏ qua tới 9 kỳ đại khoa (trong đó có 6 khoa thi dưới triều Lê sơ và 2 khoa thi đầu tiên dưới triều Mạc).
Tới năm 1534, dưới thời Mạc Thái Tông, ông mới quyết định đi thi. Trước khi đi thi, ông đổi tên khai sinh Nguyễn Văn Đạt thành Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nghĩa của hai chữ “Bỉnh Khiêm” được hiểu là “giữ trọn tính khiêm nhường”. Khoa thi Hương năm 1534 ông đỗ đầu, sau đó ông đỗ đầu hai kỳ thi Hội, thi Đình năm 1535, đoạt danh hiệu Trạng nguyên nhà Mạc.
Thầy địa lý phương Bắc cũng bái phục
Đồn rằng, do được thầy Lương Ðắc Bằng truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” nên Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông về lý học, tướng số, có thể tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Chẳng thế mà có đôi câu đối ở đền thờ Bạch Vân am “Kế tuyệt, phù suy Chư Cát Lượng/ Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu” (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Chư Cát Lượng/Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu). Tiếng tăm của ông không chỉ nổi ở trong nước mà còn vang đến tận Trung Hoa, khiến giới học giả ở đó cũng ngưỡng mộ xưng tụng: “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”.
Sau khi Trạng Trình mất, có thầy địa lý nổi tiếng ở Trung Quốc muốn xem thực, hư chuyện Trạng thế nào đã lặn lội sang tận mộ cụ. Đến nơi, thấy ngôi mộ đặt đúng vào huyệt đất tốt nhưng huyệt phát ở đằng chân mà mộ lại đặt ngược, ông thầy Tàu cho là Trạng Trình cũng chỉ có danh mà không có thực, mới tự đắc bảo: “Cái huyệt ở đàng chân sờ sờ thế kia mà không biết lại tự đem để mả thế này. Có thánh nhân cái gì đâu, hay là thánh nhân mắt mù đó”.
Con cháu cụ Trạng nghe thấy vậy liền khẩn khoản nhờ thầy đặt lại mộ cho. Ông thầy Tàu đồng ý và bảo: “Không cần phải đem đâu xa cả, chỉ cần đào lên rồi xoay lại quan tài và nhích lên một chút là được”. Y lời, con cháu cụ Trạng đào mộ lên, đến gần quan tài thì thấy có tấm bia. Ông thầy mới bảo rửa sạch đi để xem bia viết gì. Thì ra tấm bia có khắc một bài thơ: “Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu/ Ngũ thập niên hậu mạch quy túc/ Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri/ Hà vị thánh nhân vô nhỉ mục?” (Nghĩa là: Ngày nay mạch lộn xuống chân/Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu/ Biết gì những kẻ sinh sau/ Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?). Đọc xong tấm bia, ông thầy Tàu kinh hãi, toát cả mồ hôi hột, thì ra Trạng đã tiên liệu mọi việc.
“Tư vấn” cho nhiều anh hùng, chính khách
Vào thời Lê – Mạc, giữa Trịnh Kiểm (con rể Nguyễn Kim) và Nguyễn Hoàng (con Nguyễn Kim) có cơ xảy ra mâu thuẫn một mất, một còn. Khi Nguyễn Hoàng xin ý kiến Trạng về đường đi nước bước, ông đã tặng cho hai câu: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, với ý bảo rằng hãy tìm đường vào phía Nam dựa vào dãy Trường Sơn mà tồn tại. Nguyễn Hoàng nghe theo, nên xin Trịnh Kiểm vào trấn giữ từ Đèo Ngang trở vào. Nhờ thế Nguyễn Hoàng chẳng những bảo toàn được tính mạng mà còn lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài đến mấy trăm năm.
Năm Mậu Thân (1548) Vua Lê Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi, tức Lê Trung Tông, được 8 năm thì mất, không có con nối nghiệp. Trịnh Kiểm muốn làm vua nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ý khiến Trạng Trình. Ông chỉ bảo: “Chịu khó mà thắp nhang, thờ Phật thì ăn oản” (có nghĩa rằng, phải thờ nhà Lê thì có lộc). Hiểu ý Trạng, sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu họ Lê, đưa lên làm vua, tức là Lê Anh Tông.
Nhà Mạc suy vong, trước khi Trạng mất đã đến xin ý kiến nên tồn tại thế nào, ông đã đọc hai câu: “Cao Bằng tàng tại, Tam đại tồn cô” (nghĩa rằng rút về đất Cao Bằng thì sẽ kéo dài thêm được ba đời nữa). Con cháu nhà Mạc đã theo kế ấy, thu về đất Cao Bằng và đã tồn tại được thêm ba đời là Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan và Mạc Kính Vũ.
Ứng nghiệm cả ở đời sau
Trước lúc mất, Trạng có giao cho con cháu một ống tre sơn son thếp vàng, bịt kín hai đầu và dặn đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Thống đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan. Trạng còn dặn thêm là tuyệt đối không được mở ống ra xem trước thời hạn và trừ quan Tổng đốc ra, không ai được mở ống.
Sau khi Trạng mất, con cháu Trạng lâm vào cảnh đói nghèo, sa sút. Nhưng phải đến đời thứ bảy, cái ống tre ấy mới được rước lên dinh quan Tổng đốc, đúng ngày giờ đã ghi trong gia phả. Đang nằm nghỉ, nghe tin con cháu cụ Trạng mang thư đến gặp, quan Tổng đốc rất ngạc nhiên, không biết vì cớ gì, nên truyền cho vào, đồng thời quan ngồi dậy để đi ra cửa. Quan Tổng đốc vừa bước khỏi giường nằm được mấy bước thì bỗng “rầm” một cái, chiếc xà nhà bằng gỗ nặng không biết bị mọt ăn hỏng từ bao giờ, rơi ngay xuống chỗ giường vừa nằm.
Thật là một phen hú vía! Quan Tổng đốc mở ống tre ra xem, thấy bên trong có một cuộn giấy, đề hai câu thơ:”Ngã giải nhĩ thượng lương chi ách/ Nhĩ cứu ngã tử tôn chi bần” (Nghĩa là: Cứu ngươi thoát nạn đổ nhà/ Ngươi nên cứu cháu con ta khỏi nghèo). Quan Tổng đốc biết rằng Trạng Trình đã cứu mạng, nên ông ta đã giúp con cháu cụ Trạng nhiều tiền của để đền ơn.
Năm Minh Mạng thứ 14, Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ được Vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương. Vấn đề là cần phải đào con sông, mà đào sông thì phải phá đền thờ Trạng Trình. Ông bèn ra lệnh cho dân phu phá đền để đào sông.
Trước khi phá, sai người đào vào đền mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều. Sau khi lau sạch, tấm bia lộ ra dòng chữ: “Minh Mạng Thập tứ/ Thằng Trứ phá đền/ Phá đền phải làm đền/ Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay”. Thất kinh, Nguyễn Công Trứ chẳng những bãi bỏ lệnh phá đền mà còn cho sửa sang lại khang trang hơn.
| ► Xem bói theo khoa học tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
![]() |
![]() |
![]() |
rong dân gian có rất nhiều cách tính tuổi Kim lâu. Mỗi cách đều có cái hay và dở với độ chính xác chưa được kiểm chứng.
Mỗi Kim lâu một loại tai họa
Lương y Vũ Quốc Trung cho biết, theo kinh nghiệm dân gian và cổ thư để lại thì “một, ba, sáu, tám thị kim lâu”. Theo đó: Nam lấy số tuổi âm lịch chia cho 9, số dư mà = 1, 3, 6, 8 thì là phạm Kim lâu (tính để xem tuổi làm nhà, sửa nhà). Nếu dư 1 là phạm Kim lâu thân (gây tai họa cho bản thân người chủ). Nếu dư 3 là phạm Kim lâu thê (gây tai họa cho vợ của người chủ). Nếu dư 6 là phạm Kim lâu tử (gây tai họa cho con của người chủ). Nếu dư 8 là phạm Kim lục súc (gây tai họa cho con vật nuôi trong nhà. Nữ: Hàng đơn vị của tuổi âm lịch mà = 1, 3, 6, 8 là phạm Kim lâu (tính để xem tuổi lấy chồng).
Cách tính này dựa vào Hà đồ, Cửu cung, Hậu thiên bát quái. Nếu ở vào các cung Càn thuộc mệnh Chủ, cung Chấn thuộc về vợ, cung Cấn thuộc con cái hoặc người thân, cung Tốn thuộc gia súc đề ở 4 góc của cửu cung là phạm Kim lâu không nên xây nhà.
Bắt đầu tính khởi 1 góc ở Tây Nam (Khôn), 2 đến Tây (Đoài), 3 đến Tây Bắc (Càn), 4 đến Bắc (Khảm), 5 vào cung giữa (trung ương), 6 ở Đông Bắc (Cấn), 7 ở Đông (Chấn), 8 ở Đông Nam (Tốn), 9 ở Nam (Ly), đến 10 lại về cùng giữa rồi tiếp hàng đơn vị ở hướng Tây Nam… Tính như vậy thì ta luôn luôn thấy 1 – 3 – 6 – 8 ở các phương, góc có Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) có Tứ Sinh (Dần, Thân, Tị, Hợi). Vừa có “Mộ” lại vừa là “Sinh” nên gọi Kim lâu, ẩn chứa nhiều hung nguy hơn cát tường nên cần phải kiêng tránh.
Cụ thể như sau:
Phạm cung Khôn: Nhất Kim lâu thân: Chính kỵ nhất.
Phạm cung Càn: Nhị Kim lâu thê: Kỵ người vợ.
Phạm cung Cấn: Tam Kim lâu tử: Kỵ cho con cái.
Phạm cung Tốn: Tứ Kim lâu lục súc: Kỵ súc vật nuôi.
Có tám tuổi không cấm kỵ Kim lâu khi tạo tác và khi chết cũng không sợ trùng là tuổi: Kỷ Sửu – Tân Sửu, Kỷ Mùi – Tân Mùi; Canh Dần – Canh Thân; Nhâm dần – Nhâm Thân. Tránh những năm phạm Kim lâu: Là những năm: 12, 15, 17, 19, 21, 24, 26, 28, 39, 33, 35, 39, 42, 44, 46, 48, 51, 53, 55, 57, 60, 62, 64, 66, 69, 71, 73, 75 âm lịch. Ngoài Kim lâu tạo tác (xây nhà) nói trên còn Kim lâu cho cưới gả, chỉ cần xem tuổi âm lịch nữ giới (đàn bà) nếu hàng đơn vị là 1, 3, 6, 8 là phạm Kim lâu, không nên cưới gả. Do cách vận hành của cửu cung, Hà đồ khác nhau nên có kết quả này (không trình bày ở đây).
Hãy tự tính cho mình
Ông Nguyễn Văn Chung cho biết, theo cổ học phương Đông, 24 phương vị gồm 8 thiên can, 12 địa chi và 4 quẻ Khôn, Càn, Cấn, Tốn được mô tả theo hình vẽ dưới (ảnh tròn).

Các số dư 1, 3, 6, 8 đều thuộc Tứ Mộ (tức 4 cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) và Tứ Sinh (tức 4 cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi). Mùi và Thân thuộc Tây Nam. Tuất và Hợi thuộc Tây Bắc. Dần và Sửu thuộc Đông Bắc. Thìn và Tỵ thuộc Đông Nam. Đây cũng chính là phương vị của 4 quẻ Khôn, Càn, Cấn, Tốn. Từng quẻ nằm giữa hai ngôi Tứ Sinh và Tứ Mộ. Phong thủy quy định Nam ở phía trên, Bắc ở phía dưới (khác với cách nhìn ở bản đồ), Đông bên tay trái hình vẽ, Tây bên tay phải hình vẽ. Như vậy: Kim Lâu Thân là số 1 ở cung Khôn góc Tây Nam. Kim Lâu Thê là số 3 ở cung Càn góc Tây Bắc. Kim Lâu Tử là số 6 ở cung Cấn góc Đông Bắc. Kim Lâu Súc là số 8 ở cung Tốn góc Đông Nam.
Theo đó, có 8 tuổi không kỵ Kim Lâu là: Tân Sửu, Tân Mùi, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi, Canh Dần, Nhâm Dần, Canh Thân và Nhâm Thân. Với 8 tuổi này, nếu Hoàng ốc cũng tốt thì có thể xây nhà. 52 tuổi còn lại trong hoa giáp, nếu phạm Kim lâu, phải kiêng kỵ. Cách tính Hoàng ốc: Dùng 6 đốt của 2 ngón tay theo hình dưới để tính Hoàng ốc. Mỗi đốt ngón tay có tên tượng trưng như sau:
3 cung tốt là: Nhất Kiết, Nhì Nghi và Tứ Tấn Tài. 3 cung xấu là: Tam Địa Sát, Ngũ Thọ Tử và Lục Hoàng Ốc. Cách tính: Khởi 10 tuổi tại Nhất Kiết, 20 tuổi tại Nhì Nghi, 30 tuổi tại Tam Địa Sát, 40 tuổi tại Tứ Tấn Tài, 50 tuổi tại Ngũ Thọ Tử, 60 tuổi tại Lục Hoàng Ốc.
Việc xét theo bàn tay Kim lâu được tính như sau:
Dùng 9 đốt của 3 ngón tay theo hình dưới để tính:

5 cung Khảm, Ly, Chấn, Đoài và Trung cung được xây nhà. 4 cung Khôn, Càn, Cấn, Tốn kiêng kỵ không xây nhà.
Cách tính: Khởi 10 tuổi tại cung Khôn. 20 tuổi tại cung Đoài. 30 tuổi tại cung Càn. 40 tuổi tại cung Khảm. 50 tuổi tại Trung cung. 60 tuổi tại cung Cấn. 70 tuổi tại cung Chấn. 80 tuổi tại cung Tốn. 90 tuổi tại cung Ly. Ví dụ, người 28 tuổi âm lịch làm nhà. 20 tuổi bắt đầu từ cung Đoài, 21 tuổi tại cung Càn, 22 tuổi tại cung Khảm, 23 tuổi tại cung Cấn, 24 tuổi tại cung Chấn, 25 tuổi tại cung Tốn, 26 tuổi tại cung Ly, 27 tuổi tại cung Khôn, 28 tuổi tại cung Đoài. Như vậy, người này làm nhà vào năm 28 tuổi âm, thì được.
Trường hợp đặc biệt, nếu người chồng của gia đình đó đã mất thì lấy tuổi của con trai để tính việc xây nhà. Nếu gia đình đó không có con trai thì lấy tuổi của người đàn bà tính Hoàng ốc và Kim lâu cũng như trên để xây nhà.
Cách hóa giải vận hạn
Các chuyên gia cho biết, theo tài liệu cổ và kinh nghiệm dân gian nếu gặp những năm “tứ kim lâu”, “lục hoàng ốc” hoặc “tam tai” thì không nhất thiết không xây dựng hoặc cưới gả. Theo cách “có đóng, có mở” rất linh hoạt và giải toả tâm lý cho gia chủ có thể hoá giải như sau:
Nếu gặp năm Tứ kim lâu hoặc Tam tai thì gia chủ có thể “mượn tuổi” nghĩa là nhờ một người khác (thường là người thân) có tuổi không phạm phải Tứ kim lâu và Tam tai đứng ra thay để thực hiện công việc (cúng bái, động thổ, trông coi việc xây cất…). Nếu gặp năm Hoàng ốc thì sau khi xây cất xong, gia chủ trước khi đến ở (nhập) cho người khác (thường là người thân, không chạm Hoàng ốc) đến ở một thời gian, sau đó mới dọn đến ở chính thức. Việc cưới xin nếu gặp Kim lâu thì “xin dâu hai lần” để hoá giải việc “đứt gánh giữa đường”.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
1. Mũi bị thương
Theo tướng số, mũi là bộ phận liên quan đến tài vận. Mũi bị thương chứng tỏ phương diện tiền bạc có sự thay đổi, bạn sắp hao tài hoặc vỡ nợ, học hành, sự nghiệp không suôn sẻ, vận may biến mất.
Lời khuyên: Bạn không nên đi du lịch xa đề phòng bất trắc xảy ra.
![]() |
2. Mơ thấy ác mộng liên tiếp
Nếu mơ thấy ác mộng liên tiếp, điều này dự báo may mắn của bạn không suôn sẻ, sắp hao tài đến nơi. Giấc mơ được xem là giác quan thứ 6 của con người, những điều thấy trong giấc mơ dự báo phần nào hiện thực sắp xảy đến.
Lời khuyên: Bạn nên điều chỉnh lại cảm xúc, tránh những suy nghĩ tiêu cực.
3. Liên tiếp làm vỡ đồ đạc
Nếu liên tiếp làm vỡ đồ đạc, hoặc những vật dụng thường ngày đột nhiên biến mất, vậy bạn cần hết sức lưu ý, điều này ám chỉ có chuyện không hay xảy ra.
Lời khuyên: Bạn nên suy xét và điều chỉnh lại mọi việc để tránh hao tài.
Tú Uyên (theo Eastday)
Thời gian: tổ chức từ ngày 17 tới ngày 18 tháng 5 âm lịch.
Địa điểm: xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ nay thuộc Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn hai vị thành hoàng làng của Lạc Long Quân và Âu Cơ.
Nội dung: Vào hội, ngày 17 bắt đầu với lễ rước nước vào lúc 2 giờ chiều. Dẫn đầu đám rước là phường Bát âm, tiếp sau là cờ quạt, nghi trượng, hàng đô khiêng kiệu có chum đựng nước, các quan viên và dân làng. Đoàn rước đến giếng làng, làm lễ lấy ngót rồi trở về đình cử hành lễ tắm tượng hại hậu cung. Chính hội ngày 18, tại đình Trung chủ tế làm lễ thỉnh kinh (xin phép Thành hoàng cho chọc tiết lợn) nơi cửa Thánh; sau đó chủ tế ra sân đình lựa chọn 1 trong 6 con lợn tế của 6 giáp, truyền cho cắt một túm lông đầu và lông đuôi, rồi chọc tiết hứng vào bát mang lễ Thánh. Tiếp theo, đội hình tế lễ dàn ra theo lời xướng của hai vị Đông xướng và Tây xướng. Khi vị Đông xướng hô ''ê mao huyết'', người giúp việc tế chạy vào hậu cung lấy bát huyết mang ra đổ quanh gốc đa trước sân đình. Sau các nghi lễ truyền thống là các hoạt động nghệ, các trò chơi dân gian.
|
| (Ảnh minh họa) |
mà tạo nên tổn thất trong kinh doanh.

Nếu như tên cửa hàng không phù hợp với Ngũ hành của hạng mục kinh doanh thì cũng sẽ tạo nên doanh thu thấp, không người hỏi thăm đến.
Nếu như đặt tên cho cửa hàng không phù hợp với hướng cửa hàng thì tuy làm ăn vẫn được nhưng lợi nhuận sẽ không cao.
Đặt tên cho cửa hàng không phù hợp với môi trường xung quanh thì sẽ tạo thành quan hệ không tốt với láng giềng, dễ phát sinh tranh chấp, từ đó ảnh hưởng đến kinh doanh thông thường.
Nếu như đặt tên không phối hợp tốt với thiên cách, địa cách thì cũng khiến cho việc kinh doanh ngày một suy giảm, yếu kém.
Bàn tay cũng có thể kéo gần khoảng cách trái tim của hai con người lại gần nhau. Tuy nhiên, cũng đừng quên câu nói quen thuộc: hai người yêu nhau khi gắn bó lại cũng là lúc sóng gió nổi lên.
Đường Hôn nhân song song nhưng ngăn cách
Đường Hôn nhân song song nhưng ngăn cách là chỉ trên ngón tay có hai đường Hôn nhân song song, cho thấy người nay do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài, khiến cho cuộc sống vợ chồng xa cách thậm chí hôn nhân còn có khả năng rạn nứt. Nếu đường Hôn nhân song song có phần nốì liền nhau thì cho thấy ngoài người bạn đời ra họ vẫn còn có một người khác nữa.

Trên tay xuất hiện nhiêu đường Du lịch
Trên tay xuất hiện nhiều đường Du lịch, cho biết phạm vi giao lưu rất rộng, hơn nữa người này thường xuyên ở bên ngoài, tần số giao tiếp xã giao rộng, rất ít khi có thời gian rảnh rỗi, bình thường ít quan tâm, chăm sóc tới ngưòi bạn đời, khiến cho đôi phương cảm thấy thất vọng, quan hệ hai bên hình thành khoảng cách, dù có sống chung mà vẫn như hai người xa lạ.
Khoảng cách giữa ngón giữa và ngón vố danh quá lớn
Khoảng cách giữa ngón giữa và ngón vô danh quá lớn là chỉ khi xòe bàn tay ra hoặc khi chụm bàn tay lại sẽ tạo thành khe hở hoặc khoảng cách khá lớn, cho thấy duyên phận của hai bên đạm bạc, ở bên nhau cũng chỉ là miễn cưỡng, xem như là số đã định, cũng vì nhiều nguyên nhân mà ít cơ hội gặp nhau, không đủ để thân mật, tình cảm tự nhiên khó được vun đắp, vì vậy mà quan hệ giữa đôi bên cũng ngày càng lạnh nhạt.
Cuối đường Sinh mệnh hất lên
Cuối đường Sinh mệnh hất lên cho thấy cá tính nhanh nhẹn hướng ngoại, không thích hàng ngày phải ở trong nhà, thích được ngao du khắp nơi, đi kiêm tìm cái mới mẻ và cảm hứng, nhưng thường vì vậy mà người này bỏ quên người bạn đời, hoặc là vì công việc quá bận rộn, hoặc thường xuyên phải đi công tác, thời gian ở nhà rất ít mà người bạn đời của họ phải sống trong cảnh cô đơn.
Vị trí đường Tình cảm quá thấp
Vị trí đưòng Tình cảm quá thấp (như hình trên), cho biết duyên với người khác giới khá kém, trong giao tiếp với ngưồi khác giới họ gặp nhiều trở ngại, cần mất nhiều thời gian để giải quyết. Người này rất coi trọng sự nghiệp, đầu tư quá nhiều sức lực vào công việc, vì vậy mà xem nhẹ chuyện hôn nhân và gia đình, mà ngay cả trong quan hệ với người bạn đời hoặc người nhà cũng dễ sinh khoảng cách.
Thời gian: tổ chức vào ngày 24 tháng 9 âm lịch.
Địa điểm: Buôn Đôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốk (Đắk Lắk).
Nội dung: Lễ hội đua voi được tổ chức tại một khu đất trống, khá bằng phẳng, ít cây của vườn Quốc gia Yok Đôn hoặc một cánh rừng thưa ven sông Sê-rê-pốk. Voi dàn hàng ngang khoảng 10 con hoặc nhiều hơn. Trong sự reo hò, cổ vũ của khán giả, đàn voi đua như hăng hái hơn. Chúng đưa vòi lên cao rồi hạ xuống chào mọi người. Sau một hồi tù và vang lên báo lệnh xuất phát, đàn voi bật dậy chạy thẳng về phía trước. Đường đua thường khoảng 400-500 mét, đua đường dài khoảng 1-2km. Hai anh nài voi, tiếng địa phương gọi là mơ-gát, ngồi trước và sau điều khiển voi chạy đúng đường và giữ sức bền, tăng tốc... Khán giả phần đông là người bản địa ăn mặc thổ cẩm sặc sỡ hoa văn đứng hai bên đường hò hét tạo nên một không khí náo nhiệt. Theo người dân địa phương, trước khi vào cuộc đua, voi được đưa đến những đồng cỏ xanh tốt và tẩm bổ thêm bằng các loại củ. Trong thời gian này, voi không làm nặng để dưỡng sức. Vì vậy, khi vào đấu trường, con voi nào cũng rất khỏe mạnh, sung sức. Người M’nông và một số dân tộc ở Tây Nguyên rất quý voi như người Khmer ở Nam bộ quý con bò. Theo truyền thống, con voi thể hiện sức mạnh của bộ tộc, sự sung túc của gia đình. Chỉ có những gia đình giàu có mới có voi được thuần dưỡng từ voi rừng. Hiện nay, chỉ có Tây Nguyên mới còn voi, nhưng số lượng cá thể đang bị giảm sút đáng kể. Giới trẻ ở đây trở nên xa lạ với phương thức thuần voi của cha ông ngày xưa mà chủ yếu là chăm sóc và điều khiển voi. Những người thuần voi vì thế càng trở nên hiếm hoi theo thời gian. Hiện nay, công việc này chủ yếu là người lớn tuổi, có vài chục năm kinh nghiệm. Huyền thoại về thuần dưỡng voi rừng là N’Thu K’Nul, ông sinh năm 1828, mất khi đã thọ được 110 tuổi, ông có danh hiệu là “Vua săn voi” (khun-ju-nốp) do Hoàng gia Thái Lan ban tặng. Ông được xem là người khai sinh nghề săn bắt và thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn, một người tù trưởng đầy quyền lực và được nhiều dân tộc kính phục lúc bấy giờ. Theo người dân địa phương, trong đời ông đã thuần dưỡng khoảng 170 con voi rừng, có người lại nói ông thuần dưỡng đến hàng trăm con; trong đó, có một con bạch tượng-loài vật hiếm có. Hiện nay, khu mộ của ông được giữ gìn kỹ lưỡng. Mộ được kết hợp giữa kiến trúc của người M’Nông và người Lào-hai dân tộc chính ở địa phương vào thời điểm đó. Đó như một biểu tượng của truyền thống sức mạnh đoàn kết các dân tộc anh em. Phần mộ là những chi tiết hình khối đơn giản, trang trí búp sen ở bốn góc và đỉnh. Cạnh mộ Vua săn voi là ngôi mộ hình tháp, có mái nhọn cách điệu nhà rông. Ngôi mộ này do vua Bảo Đại xây dựng cho hậu duệ của N’Thu K’Nul là R’Leo K’Nul, gọi ông bằng cậu. Người ta hay nhầm tưởng ngôi mộ hình tháp là của N’Thu K’Nul. Khu lăng mộ này được nhiều du khách đến chiêm ngưỡng để hiểu rõ hơn về những con người xuất chúng. Về sau, có một số hậu duệ khác của N’Thu K’Nul nối nghiệp, nhưng số lượng voi thuần dưỡng ít hơn và tay nghề kém hơn. Quần thể du lịch Buôn Đôn là một không gian đặc trưng, là cái hồn của Tây Nguyên với những cánh rừng già, những con sông cuồn cuộn chảy và những hồ nước lưng chừng trời, lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử hình thành vùng đất này. Buôn Đôn thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, cách TP Buôn Mê Thuột khoảng 42km. Đến đây, du khách có dịp thưởng thức cồng chiêng, cưỡi voi.Cá trên sông Sê-rê-pốk và hồ Lắk là những đặc sản quý của vùng này. Ai đến đây cũng phải tìm cho bằng được các loại cá bản địa để thưởng thức vì vị ngon và lạ bởi vị trí hiểm trở của nơi chúng sinh trưởng đã tạo sự khác biệt giữa cá sông, hồ Tây Nguyên với cá sông, hồ ở đồng bằng...
Trong phong thủy, một số loại sát khí tạo nên do cách bài trí nội thất có thể dễ dàng hóa giải. Ví dụ như phạm mũi tên độc do góc tủ thì chỉ cần điều chỉnh vị trí tủ và giường ngủ, hay như phá bỏ cây khô chết để trồng cây mới. Tuy nhinê, một số hung sát do miô trường xung quanh tạo nên đôi khi làm chủ nhà lúng túng trong cách hóa giải như nhà gần sây bay, nghĩa trang, chùa chiền,...
Một trong những loại sát khí tạo ra do môi trường xung quanh thường gặp nhất ở đô thị lớn là "Thanh sát". Thanh sát xảy ra khi gia đình thường xuyên phải chịu đựng tiếng ồn lớn từ những căn nhà kế bên do xây dựng, lò rèn, xưởng cơ khí, hàng sửa xe,...Những người sống trong ngôi nhà bị thanh sát sẽ rơi vào tình trạng tâm tình bất ổn, lòng dạ bồn chồn, khó có thể làm được việc lớn.
Để hóa giải tình trạng này, trước hết cần giảm bớt tiếng ồn trong nhà bằng cách xây phòng cách âm, đóng chặt cửa nẻo khi ra vào. Tiếng ồn giảm bớt cũng giúp tâm trạng bình ổn hơn. Hoặc bạn có thể mở những bản nhạc dịu nhẹ mà mình ưa thích để át đi tiếng chát chúa xung quanh.
Trong phong thủy, chuông gió được sử dụng làm vật khắc chế những nguồn năng lượng xấu đồng thời nó có vai trò cực kỳ to lớn trong việc phát tán, luân chuyển năng lượng tích cực trong nhà. Do vậy, khi vị trí của ngôi nhà phạm thanh sát, các dòng năng lượng tiêu cực xung quanh sẽ bị xua tan bởi những cây chuông gió treo ở cửa ra vào, cửa sổ hay bốn góc nhà. Âm thanh leng keng do chúng tạo ra luôn khiến tinh thần cảm thấy dễ chịu.
Tuy vậy, nếu tiếng ồn quá lớn diễn ra trong thời gian dài và vào thời điểm gia đình cần nghỉ ngơi thì không nên chịu đựng mà phải ý kiến với hàng xóm hoặc báo chính quyền.
Hiện tượng: Vào cửa nhìn ngay thấy nhà vệ sinh

Chúng ta vừa bước từ bên ngoài vào trong phòng liền chính diện với nhà vệ sinh, những uế khí từ nhà vệ sinh xông thẳng ra làm cho con người có cảm giác khó chịu, bất lợi cho môi trường trong nhà, gây ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người.
Phương pháp hóa giải: Có thể dùng một bức bình phong hình chữ L không trong suốt đặt sau cửa ra vào để hóa giải.
Nếu không có cách nào để đặt tấm binh phong thì cùng có thể treo một tấm rèm dài trên cửa nhà vệ sinh và ở nơi bậc cửa đặt một xâu đồng tiền Ngũ Đế đẻ hóa giải. Độ dài của tấm rèm cửa nhà vệ sinh phải vượt quá chiều cao của bồn cầu mới thích hợp, chất liệu của tấm rèm phải dày dặn, không nhìn xuyên qua được mới thích hợp, không nên dùng vải rèn hoặc rèm chuỗi hạt.
Điều nên biết
Nhà ai gặp các trường hợp kể sau đây thì nên đặt một con Đồng Long (rồng bằng đồng) đẻ hóa giải.
1. Nằm trong ngõ hẻm không cụt
2. Bên phải nhà cao, bên trái nhà thấp
3. Dương khí trong nhà không đủ
4. Phòng (nhà) quá lớn mà khí không tụ
5. Khi túc sát (khí lạnh lẽo) quá nặng
6. Khi cô khắc quá nặng
7. Có góc nhọn đâm thẳng vào, phạm thiên trảm sát
8. Vương tài.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Bài viết của tác giả Cam Vũ, được trích từ phần cuối cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ Văn Lưu. Đây là một bài viết rất hay và đầy đủ trình bày cách giải đoán một lá số Tử Vi.
Sau khi bạn đã lấy được lá số, để phần giải đoán ít thiếu sót, ta cần lưu ý những điều sau:
Cục có nghĩa là cách cục, hay còn gọi là cuộc, là cái thế cuộc mà ta đang sống – hay nói đúng hơn chính là cái môi sinh mà bản mệnh ta đang ngụp lặn trong đó.
a. Hành Cục sinh Mệnh
Thí dụ: Mệnh Thổ, Hỏa Lục Cục, Hỏa sinh Thổ, người được hoàn cảnh ưu đãi, để gặp may may mắn, để thuận lợi.
b. Mệnh Cục tương hòa
Thí dụ: Thổ Mệnh, Thổ ngũ Cục: người để hòa mình với hoàn cảnh, với đời sống bên ngoài.
c. Mệnh sinh Cục
Thí dụ: Thổ mệnh, Kim tứ cục: thổ sinh kim, người phải sinh cho môi sinh tức là vất vả, hay làm lợi cho thiên hạ.
d. Mệnh khắc Cục
Thí dụ: Thổ Mệnh, Thủy nhị Cục, Thổ khắc thủy, cuộc đời có nhiều trở ngại, hay làm hỏng đại sự, thành công trong nghị lực.
e. Cục khắc Mệnh
Thí dụ: Thổ Mệnh, Mộc tam Cục Mộc Khắc Thổ: đang thương, người hay bị môi sinh không thích hợp với mình, sự thành công nếu có đòi hỏi phải trải qua gian khổ.
Can là Thiên Can, Chi là Địa Chi – Can Chi kết hợp với nhau như sự giao hòa của trời đất, giống như 1 cây gồm 2 phần gốc và ngọn.
a. Can Chi Tương Hòa
Thí dụ: Giáp Dần, Mộc, Dần mộc là người sinh ra từ họ có căn bản vững chải có đủ khả năng để đạt được cái mình đã có.
b. Chi sinh Can
Thí dụ: Ất Hợi: Hợi thủy sinh Ất mộc do may mắn mà thành công chứ thực lực, khả năng chưa đạt được đến mức độ ấy. Cuộc đời họ là một chuỗi dài may mắn tiếp nhau để có từ thành công này đến thành công khác.
c. Can sinh Chi
Thí dụ: Canh Tý, canh kim sinh tý thủy người được trời ưu đãi để làm việc, vừa có khả năng vừa gặp may thuận lợi để đưa đến thành công cách dễ dàng.
d. Can khắc Chi
Thí dụ: Canh Dần: canh kim khắc dần mộc người hay gặp nhiều nghịch cảnh dễ sẵn sàng làm đổ vỡ sự nghiệp, ở những mẫu người này cần đòi hỏi họ phải có 1 lá số với các sao đi đúng bộ thật tốt mới mong nên danh phận nhưng cũng vẫn trải qua nhiều nỗi thăng trầm.
e. Chi khắc Can
Thí dụ: Ất Dậu: Dậu kim khắc Ất mộc thành công trong khó khăn, sự nghiệp hay bị gẫy đổ lung tung để rồi lại xây dựng lại. Nói tóm lại thiếu may mắn.
Ðể biết sự sinh khác giữa mình với những người liên hệ, bản mệnh là ta, cung an mệnh là nhà, là cái mà bao quản cho ta, các sao ví như đồ đạc, tiện nghi mà ta phải xử dụng, nếu tương sinh hoặc đồng hành, thời tốt mà làm lợi cho ta, nếu bị khắc thời bất lợi. Nếu bản mệnh tương hòa hay tương sinh với cung bản mệnh, cung an mệnh ở tại Dâu là kim khắc mộc. Thì đoán tìm đến các sao thủ và chiếu xem có sao nào đồng hành với bản mệnh không rồi lại thấy nếu sinh vào giờ kim xà thiết tỏa nữa thì thật là chết non chẳng sai mà đã chết non thì các cung liên hệ chẳng còn gì để bàn nữa.
Cho nên phú tử vi mới có câu:
Ðào Hồng ngộ kiếp Không đồng thủ
Xá bàn chi bần lũ yểu vong.
Thí dụ như lá số: Quí Dậu tháng 5 ngày 30 giờ Sửu – Âm Nữ kim mệnh, Hỏa cục, Mệnh lập ở Ngọ. Cung Ngọ là hỏa khắc mệnh kim, lại có Đào, Jồng gặp Không Kiếp nên đã chết từ lúc 3 tuổi.
Sau khi đã so sánh với cung mệnh rồi, thì lần lượt xem đến 11 cung kế tiếp để xem sự khắc hợp thế nào?
Thí dụ: người có Mệnh Mộc, cung Mệnh ở Dần cũng là hành Mộc, như vậy:
Phụ Mẫu nào ở Mão Mộc là tương hòa, con người giữ được chữ hiếu và cũng được cha mẹ yếu thương, Phúc Đức ở Thìn Thổ là khắc (mệnh Mộc khắc Thổ) là không tìm được sự giúp đỡ của họ hàng và bản thân cũng không tìm thấy sự an ủi, thoải mái đối với họ hàng.
Ðiền, Quan ở Tỵ là Hỏa, Mộc sinh Hỏa cho nên sẽ vất vả với công danh, với nhà cửa.
Nô ở Mùi, Tài ở Tuất, Bào ở Sửu đều thuộc Thổ cả ta cứ luận như ở cung Phúc Ðức - nghĩa là phải vất vả với bạn bè, anh em và tiền bạc vì Mộc khắc Thổ. Ách ở đâu là Kim khắc Mệnh Mộc có nghĩa là mỗi khi bị bệnh tật hay tai nạn thì khó mà tránh được dễ dàng.
Cung Di ở Thân là kim khắc mộc: nghĩa là đứng trước một đối tượng người này hay bị ở vào tư thế lép vế dù rằng có khi mình hơn họ về phương diện nào đó.
Tử và Thê ở Hợi và Tý thuộc thủy sinh cho mệnh ở Dần, nếu lập gia đình, có con cái, thì cuộc đời sẽ thấy thoải mái hơn và nếp sống trong gia đình với vợ con cũng đặt được sự yêu thương thuận thảo.
Như trên là nguyên tắc và thí dụ, đối với các trường hợp khác cũng vậy cứ dùng ngũ hành sinh khắc của mệnh và 12 cùng mà suy, hễ khắc thì không hợp, tương hòa hay sinh thì được sự phù trợ, tùy theo cung sinh hay khắc.
Để xếp hạng cách cục được hướng cho mỗi người, nhất là 14 chính tinh và các trung tinh. Hiểu rõ tính chất của mỗi sao, các sao đi như thế nào là đúng bộ, có phá lẫn nhau không, các sao Thủ và chiếu mệnh có đồng hành với bản mệnh không?
Thí dụ: bộ Nhật Nguyệt cần có Ðào Hồng Xương Khúc, bộ Tử Phù Vũ Tướng cần Tả, Hữu, Tam Hóa, bộ Sát Phá Tham cần Lục Sát Tinh đắc địa, bộ Cơ Nguyệt Ðồng Lương cần Tam Hóa, Quang Quý, Thai Tọa, phá của các cách, nhưng xin quí đọc giả lưu ý phần tính chất các sao là 1 trong những yếu tố quan trọng nhất để đoán tử vi được chính xác, nó cũng là 1 yếu tố để gây hứng khởi cho người xem và được xem tử vi.
Một người có số dù các sao đã đi đúng bộ nhưng không có chính tinh đồng hành với mệnh thì cũng chẳng tốt gì, dù mệnh có chính tinh hay trung tinh đi đúng bộ, lại có chính tinh đồng hành làm lòng cốt, nhưng lại gặp phá cách thì cũng vất đi mà thôi.
Thí dụ: Tử Phủ Vũ Tướng Hội Tam Hóa, Tả Hữu, nhưng lại gặp cả Không Kiếp, là cách để ngộ hung đồ. Lúc ấy Tả Hữu sẽ kết hợp bè đang với Không Kiếp và Quyền, Lộc lúc ấy chính là cái mồi để cho lũ hung đồ Không Kiếp làm rắc rối cho mình.
Có thuộc rõ tính chất của từng sao thì mình mới luận được nhiều điều dị biệt trong lá số, mới nắm được cái lý biến hóa vô cùng của Tử Vi, tại sao cũng số như vậy mà người này thế này người kia thế kia. Tại sao theo sách thường thì Ðào Hồng Nhật Nguyệt là thi đỗ mà nay người ấy lại chẳng đậu, chẳng hóa ra các người đi trước sai cả hay sao, nhưng nếu xét cho kỹ thì mới thấy được cái đã phá đi mất tính chất tốt đẹp ấy. Nói tóm lại, gặp sao tốt phải xem ngũ hành để mình có được hưởng hay không? Rồi xem có bị phá cách không? Gặp hung tinh xem có đắc địa không? Tất cả các bàng tinh (sao nhỏ) có nhập bộ không? Có phù trợ đắc lực hay hợp với bộ chính
tinh của mình không? Có nhiều người đã cho rằng môn Tử Vi cần đơn giản hơn, bỏ bớt các sao nhỏ đi không cần dùng tới, nói như thế thì các bậc tôn sư ngày xưa lập và theo môn Tử Vi lại làm thừa sao? Sao các cụ không bỏ bớt mà phải chờ đến lượt mình. Sự thật, nếu thuộc kỹ, các tính chất cả các sao nhỏ mới tìm thấy các vi điệu, cái lý thú của Tử Vi.
Thí dụ: như sao Phượng Các và Giải Thần luôn luôn đi với nhau, có người bảo sao không bỏ bớt 1 sao mà lại phải để cả hai, thực ra vì cái lý khi tiểu hạn gặp Phượng Các tất có ốm đau nặng, nên Giải Thần phải luôn luôn đi
kèm để giải đi cái hung hãn của Phượng Các. Lại như Thiên Riêu, Thiên Y lúc nào cũng đồng cung vì lấy lý rằng: thầy thuốc luôn luôn phải biết cả Y, Dược. Luôn bào chế, nhưng cho dù thế sự ngày này biến đổi đã phân ra
làm Y, Nha, Dược hỏi về cách dùng thuốc. Chính là tính chất Thiên Y vậy.
Những suy luân tiếp theo và những kinh nghiệm về hợp cách và phá cách sẽ được trình bày ở mục Tử Vi vấn đáp.
Sau khi đã xem đến ngũ hành, đắc tinh miếu, hãm. Bộ cách các chính tinh hợp nhau, phá cách và các sao Phù trợ lại cần phải để ý lại 1 lần nữa xem vị trí các sao nằm trên 12 cung số có đúng với các sao nằm trên 12 cung số, có đúng với tính chất của nó không? Tài tinh phải cư Tài Bạch, Phúc Tinh phải cư Phúc Ðức, Quyền tinh phải ở Quan lộc, Uy Dũng chỉ tinh nên ở mệnh với nam nhân, còn nữ nhân mà có Uy Dũng tinh thủ chiếu mệnh là phá cách, cuộc đời sẽ cô đơn vất vả, và có nhiều oan trái dù có nhiều cát tinh phù trợ sao tuy đi đúng bộ, đắc địa nhưng nằm nghịch vị trí thì cũng không tốt, ví như Phá chẳng nên cư ở Nô Bộc, Thê Thiếp, Tài Tinh là Lộc Tồn, Hỏa Lộc nên tránh xa cung Tật Ách, các sao cứu giải cần đóng ở Ách, Phúc tinh nếu đóng ở Phúc Ðức thì tốt hơn các cung khác.
a. Nếu mệnh nằm trong tam hợp tuổi
Thí dụ người tuổi Dần có mệnh lập ở Dần, Ngọ hay Tuất tức là vị trí Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch Hổ vì sao Thái Tuế an theo năm sinh, sinh năm nào Thái Tuế cư cung có tên của năm ấy; tức là loại người luôn luôn tự mắc cho mình lấy 1 tinh thần trách nhiệm, hay can dự vào những chuyện bất bình, gánh vác việc người, có lòng hào hiệp, chính vì vậy mà Phú Ma Thị có câu "Thân cư Thái Tuế dữ nhân qua hợp", Thân đây chính là Thân Mệnh vậy, các cổ thư khi bàn đến tính chất của Thái Tuế đều cho như một cái gì không tốt đẹp lắm; nào là đa chiêu thị phi khẩu thiệt, ít cảm tình, kiêu kỳ lý luận chính vì cái lý sự đời nhiều cảnh trái ngang, mà đã là chính nhân quân tử thì làm sao lại hòa mình với sói lang được, nên phải đứng riêng, ra tay nghĩa hiệp nên hay bị thiên hạ gây ác cảm, cái tính chất của Thái tuế như vậy cho nên bao chiều chung quanh luôn luôn có Long Phượng Cái Hổ, là tứ linh phục châu - bởi vậy người Thái Tuế không cần Tam hóa, cũng vẫn phong lưu, vẫn được người đời khi ghét nhưng vẫn phải nể. Vì ghét đây vẫn chỉ là ghét vì thói thường, vì sự can thiệp của Thái Tuế mà cản trở việc làm mờ của họ. Nhưng người Thái Tuế vẫn đứng trên lẽ phải, do đó mà người có Thái Tuế thường hay tự hào, đôi khi kiêu ở ngầm trong chính bản thân họ, trong tâm hay khinh thường đối tượng. Sách nói Thái tuế khinh người quả là không sai.
Khi Mệnh có Thái Tuế, tức đi Phu mẫu Phải ở thế tam hợp với Thiên Không, có nghĩa là từ khi sinh mình ra thì công việc, sự nghiệp của cha mẹ đang trên đà xuống dốc nếu không muốn nói là suy sụp.
b. Nếu mệnh nằm trong tam hợp lấn tuổi
Thí dụ: tuổi dần ngọ tuất mà mệnh nằm ở 1 trong 3 cung Hợi Mão Mùi, tức là ở thế lấn và luôn luôn có Thiên Không, vì Thiên Không an ở đằng trước theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ), trước Thái tuế 1 cung, ở đây lại chia làm 3 trường hợp:
c. Mệnh ở Tam Hợp: Tang Môn, Ðiếu Khách, Tuế Phá tức là lấn với cung tuổi 2, hay lùi sau 2 cung
Ðây là loại người hay bất mãn, than vãn để đi đến đối lập, cuộc đời hay gặp nghịch cảnh để khơi nỗi niềm bất mãn lên cao nhưng nếu gặp Thiên Mã đồng hành bản mệnh thì lại giúp cho họ có 1 nghị lực vững vàng để sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn tiến đến thành công.
d. Mệnh ở thế lùi với cung tuổi
Tức là mệnh 6 cung sau cung tuổi, thí dụ tuổi dần ngọ tuất có mệnh ở tỵ dậu sửu, với vòng Thái Tuế là: Trực phù, Thiếu âm, Long Ðức là loại người hiền từ căn bản, hay nhịn không hơn thua, chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ di, nhưng hành động lại vụng về chuyên đào giếng cho thiên hạ uống nước.
Nếu mệnh ở thế lùi cung tuổi thì Phu mẫu lại thế Thái Tuế và có Long Phượng Cái Hổ, như thế là từ khi sinh ra mình, cha mẹ sẽ ăn nên làm ra sự nghiệp thăng tiến.
Ðến đây, xin kính cẩn tri ơn cụ Thiên Lương, nhưng phổ biến việc khai triển vòng Thái Tuế và các kinh nghiệm có tính cách nghiệm lý của cụ về Tử Vi, đã gây 1 tiếng vang chấn động trong làng Tử Vi mà các cổ thư hay các cụ tiền bối của ta vì hữu ý hay vô tình không nói đến. Cụ đã mở ra, đã chứng minh, đã xây dựng thành công Tử Vi là cả một nguyên lý học, dạy con người ở đời phải sống thế nào cho được thoải mái, chứ không phải chỉ thu hẹp Tử Vi như một môn bói toán, với những định luật bắt buộc có tính cách cố định, như những ai kia hằng quan niệm.
CÁC CUNG NHỊ HỢP GỒM CÓ:
Nhưng cần lưu ý thế nhị hợp giữa 2 cung sinh xuất, hay sinh nhập, muốn biết cung nào sinh xuất hay sinh nhập cho cung nào cần biết thế tam hợp và hành của tam hợp.
Như thế: 4 thế tam hợp chỉ có bốn hành Hỏa, Thủy, Mộc, Kim còn hành Thổ đi đâu mất? Trong dịch học có nói Thổ là trung ương, ứng với số 5, còn gọi là Ngũ Trung trong ngũ hành Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ thì hành Thổ là chính cho nên Tử Vi, Thiên Phủ là 2 sao đứng đầu của 2 nhóm chính tinh đều thuộc Thổ - ở đây ta thấy các Tam hợp Dần Ngọ Tuất tuy thuộc hành Hỏa, nhưng trong đó đã có Tuất Thổ, Thân Tý, Mùi thuộc Mộc có Mùi Thổ, Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim có Sửu Thổ.
Ðem hành của Tam Hợp so sánh với thế nhị hợp ta có:
Như vậy, trên lá số có 12 cung, có 6 cung được sinh nhập và 6 cung sinh xuất:
Ðể cho dễ nhớ hơn, trong thế nhị hợp của 12 cung thì 6 cung dương là sinh nhập, còn lại 6 cung âm là sinh xuất.
Ứng dụng:
Các cung khác cũng luận như vậy. Cung an Thân cũng luận như thế vì Thân ở đây chính là cái ta vậy. Thứ đến luân đến yếu tố sao của cung nhị hợp: khi coi cung nhị hợp phải để ý xem có chính tinh nhị hợp, phải để ý xem có chính tính nhị hợp hay không?
Nếu có mới là bảo đảm nhị hợp còn nếu không chỉ là hư vị mà thôi. Thí dụ: Tử vi ở cung Ngọ (dương) nhị hợp với cung Mùi (âm) nếu lấy lý âm dương mà suy thì âm phò dương tức Mùi sinh Ngọ - nhưng hễ cứ Tử Vi cư Ngọ thì cung Mùi bao giờ cũng vô chính diệu mà đã vô chính hiệu thì lấy gì kết đôi với Tử Vi đây? Như thế thì cung Ngọ không thể hưởng được các sao ở cung Mùi.
Như thế nào thì hưởng thế xung chiếu? Cung Thiên Di luôn luôn ở thế xung chiếu với cung Mệnh tức là thế đối nghịch với mình, sách xưa nói Thiên Di là ra ngoài, phải hiểu rằng Thiên Di chính đối phương của mình, vì thế mới có câu:
Ðối phương hung đương đầu ác bổng.
Ðối phương cát ngưỡng diện xung phong.
Nếu cung Thiên di khắc cung Mệnh tất không được hưởng cung Thiên Di, mà còn xấu rứa là khác, nếu cung đi và tam hợp của đi có nhiều hung sát tinh hội họp.
Thí dụ: người có mệnh lập ở Dần, Thiên di ở Thân mà tam hợp Thân Tý, Thìn lại có sát tinh, thì khi ra đời hay bị thua kém. Chỉ được hưởng cung Thiên Di khi cung mệnh khắc cung di, đây chính là lúc áp dụng coi chính điệu xung chiếu như chính diệu tọa thủ đối với cung vô chinh diệu. Thí dụ: người mệnh lập ở Thân có Thiên Di ở Dần, Thân khắc Dần nên mới thu hút được các sao ở cung Dần sang, coi như ở thế bị khắc thì đã bị khắc rồi thì còn lấy của đối phương làm sao được?
Phải để ý Thân, Mệnh, Tài, Quan có bi Tuần Triệt xâm phạm không? Tật ách có được Tuần, Triệt hay các sao cứu giải như Hoa Khoa cư ở đấy không?
Sau khi đã biết được tổng quát cuộc đời và các cung liên hệ như Bào, Thê, Tử.. thì coi đến hạn.
Trong lá số Tử Vi có 2 loại hạn. Tiếng hạn đây chỉ có nghĩa như 1 khoảng thời gian có giới hạn mà trong đó mình sẽ gặp hay được hướng những gì chứ không phải hạn đây là tai nạn.
A. Ðại Hạn
Trước hết phải xem yếu tố đại cuộc, tổng quát xem đại hạn ấy có thuận lợi cho mình không? Bằng cách dùng tam hợp tuổi của mình so sánh với hành tam hợp của từng đại hạn để xem xung khắc thế nào?
Sau khi đã xem đến Ngũ Hành Sinh Khắc để biết trong đại hạn 10 năm ấy, có được thuận lợi hay không, phải để ý đến các sao thủ mệnh thuộc bộ nào, có hợp bộ với các sao trong đại hạn hay là bị các sao của hạn làm phá cách đi. Thí dụ: mệnh Nhật Nguyệt tối kỵ hạn gặp Hình Kỵ, mệnh Thất Sát kỵ hạn gặp Kình Ðà, tối độc mệnh có Lục Sát Tinh, hạn lại gặp Ðại hao, Phá quân như trên chỉ là thí dụ điển hình, nhiều cách, nhiều sao phá nhau đã được trình bày trong bất cứ các sách Tử Vi nào cũng có, nhưng truy nguyên cũng suy từ tính chất các sao mà ra, ta cứ học kỹ tính chất các sao mà r, ta cứ học kỹ tính chất các sao nghiền ngẫm, sẽ tìm được sự sinh khắc chế hóa thật là kỳ thú, nhiều khi thấy tốt đấy mà không phải là vậy, nhìn phớt thấy toàn sao tốt, nhưng chỉ một sao nhỏ cũng làm cho phá cách đi, tỷ như có người con gái mệnh có Ðào hoa ngộ Thiên Không, Hình, Riêu mà sao không lẳng lơ dâm đãng, lại thật là đúng đắn, vì có sao Nguyệt Ðức ở đấy, sao nãy hóa giải được tính hoa nguỵêt của đào hồng, hay người mệnh Hỏa mà hạn gặp sao Thủy thì không những chẳng được hưởng mà còn mang họa nữa là khác. Tóm lại: các sao trong hạn phải hợp bộ với bản mệnh và hợp bộ với bản mệnh và hợp hành với mệnh của mình thì mới được hưởng – rồi xem lại đến hành của tam hợp đại hạn ấy mình được sinh khắc thế nào mà chế hóa đi - cho tinh tường của Tử Vi cũng là chỗ này vậy.
Khi xem đại hạn nên chú ý đến các sao trong hạn, tuy hợp bộ nhưng tính chất có khác biệt với các sao ở mệnh không nếu có thì người ấy đến đại hạn đó sẽ đổi nghề, thí dụ: người mà các sao thủ mệnh là văn tinh như Xương Khúc Khôi Viêt.. nhưng đến Ðại Hạn lại gặp võ cách như Binh Hình Tướng Ấn, Sát Phá Tham tức là người ấy sẽ đổi văn ra võ, lại như người đang là võ cách đến đại hạn gặp toàn văn tinh, quí tinh nhưng sao an nhàn thì quyết là đổi võ ra văn, hay 1 người có số thầy – thuốc – nhưng đến đại hạn lại gặp Kình đã đắc địa. Các sao mồm mép như Cựu cơ và các Tài tinh, mà không gặp các Quý Tinh như Quan Phúc, Quang Quí, thì đại hạn ấy sẽ đổi nghề thầy thuốc ra thương mại.
Các trường hợp khác cũng vậy cứ tính chất các sao mà suy. Ở đây tôi chỉ xin phép để nhắc lại với quý đọc giả cái kỳ thú do sự nghiệm lý ở Tử Vi mà thôi cái Dịch học của Á Ðông ta biến hóa vô cùng dù viết cho có thiên kinh vạn quyển cũng bất tận - nhưng quy lại cũng chỉ có 1 nguyên tắc là Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc chế hóa nên người học Tử Vi cũng vậy, cứ nghiền ngẫm cho kỹ tính chất các sao và đặc tính của mỗi cung số là nắm được chìa khóa, đi từ gốc đi lên ta sẽ không bị lạc vào rừng, sở dĩ có trường hợp “a diêu” tử vi là vì có nhiều người khi cầm 1 quyển sách chỉ muốn đoán ngay được cái vận mạng của con người, nên chỉ lật phần lý giải mã không xem kỹ những nguyên tắc – có biết đâu phần phụ cũng như lý giải chỉ là những trường hợp điển hình tổng quát để giúp ta theo đó mà biến hóa cái cần bàn ra hơn nữa.
B. Tiểu Hạn
Tiểu hạn là những gì xảy ra trong 1 năm, đến với con người, trước khi đi vào tính chất các sao trong cung Tiểu hạn, nên lưu ý đến xung khác với tuổi của mình không, thí dụ như tuổi Canh Dần đến năm Bính Thân, Thiên Can là Bính Hỏa khắc Canh Kim, Ðịa Chi là Thân Kim khắc Dần Mộc. Như vậy gọi là năm Thiên khắc Ðịa Xung, độc lắm, thế nào cũng có 1 vài rắc rối xảy ra. Dù gặp nhiều sao tốt cũng bị giảm bớt đi, nếu có nhiều sao xấu thì lại càng hung bạo.
Về mục này trong cổ thư về Tử Vi có bài Phú như sau:
1. Kim nhân ngộ khảm mệnh tử thương
2. Mộc mệnh lạc hy hữu họa ương.
3. Thủy ngộ càn cung ứng khiến trệ.
4. Hỏa lai đoài thương hảo nan toàn.
5. Thổ khắc đông nam phung chấn tốn
6. Tu phòng nùng huyết cập kinh hoàng.
7. Túng nhiên cát điệu tương phùng chiếu.
8. Vị miễn quan tai náo nhất tràng.
Xin được giải như sau:
Tất cả trường hợp trên phải đề phòng bệnh tật tai ương - và rất cần gặp được Tuần Triệt án ngữ – hay cát tinh hợp chiếu thì mới ra khỏi, nhưng cũng gặp 1 phen hoảng vía.
Kế đến là chú ý đến các sao trong cung tiểu hạn, nếu Ðại Hạn đáo cung Thái Tuế làm cho con người được nhẹ bước thang mây bao nhiêu, thì tiểu hạn Thái Tuế lại rắc rối bấy nhiêu vì vậy nên cụ Lê Quý Ðôn mới có câu:
Quan phủ Thái Tuế một đoàn
Ðêm ngày chầu chực của công mỏi mòn.
Tiểu hạn Thái Tuế tất có sự thị phi quan tại khẩu thiệt phải liên quan đến chốn công môn. Khi xem tiểu hạn thì lấy sao của tiểu hạn phối hợp với gốc đại hạn và cung mệnh, để xem các bộ sao nhập bộ nhau ra sao mà đoán, tùy theo tính chất của nó, sau khi suy ra được tốt xấu thế nào, về phương diện nào thì lại phải chế hóa với các yếu tố đã trình bày ở trên xem xấu tốt tới độ nào?
Nhưng điều quan trọng khi đoán hạn, nếu thấy cát tinh cung chiếu phải để ý xem có sao nào làm cho phá cách không nếu thấy số xấu quá, gặp toàn hung tinh, hay nghịch lý âm dương ngũ hành thì phải đi tìm Tuần, Triệt và các sao cứu giải xem nằm ở đâu, có chiếu vào hạn để cứu khốn phò nguy hay không?
Còn như muốn biết cách cuộc của 1 người thuộc loại như văn đoàn, hay võ cách, thương mại hay tiện nhân, thọ yểu ra sao thì cứ lấy tính chất các sao thủ và tam hợp chiếu với mệnh, lại lấy ngũ hành của bản mệnh sánh với ngũ hành của chính tinh thủ chiếu rồi để ý xem có ác sát tinh nhập mệnh không mà đoán, sẽ thấy rõ được cái dự thảo mà Thượng Ðế đã dành cho mình do cái nhân của mình đã gieo từ tiền kiếp – để rồi cho mình tự do chọn lối sống thế nào mà ngay từ cái đời hiện tại vẫn có thể tu sửa để tránh được những phiền não mà kiếp người trong cõi nhân sinh không mấy ai thoát khỏi.
Kết quả mỹ mãn cách chữa xuất thế của môn Phong thủy là làm tăng luồng vận khí. Đặc tính phổ biến của thuật xuất thế được thực hành qua 3 kỹ thuật căn bản sau đây: 1. Phương pháp tiếp khí: bằng cách tháp khí từ một nơi hay từ dưới lòng đất cách xa đó. 2. Phương pháp bình khí: để làm môi trường xung quanh hoà nhập vào nhau. Nếu căn nhà có hình thù kỳ dị thì hãy tạo ra phong cảnh hay kiến trúc phụ thuộc để tạo quân bình. 3. Phương pháp nổi bật: để gia tăng và bổ sung khí vận - bằng cách trang bị thêm một bóng đèn sáng, vòi phun nước, bể nuôi cá làm sinh động không khí yếu và tù hãm cũng như làm khí vận chuyển khắp nhà. Mặt khác, ta dùng vật có thanh nhạc như quạt gió, khánh hay chuông. |
bạch hổ (Kim) tang môn (Mộc)
***
1. Ý nghĩa cơ thể:
2. Ý nghĩa bệnh lý:
3. Ý nghĩa tính tình:
a. Những ý nghĩa tốt của Tang Hổ đắc địa:
b. Những ý nghĩa xấu của Tang Hổ hãm địa:
4. Ý nghĩa công danh, tài lộc, phúc thọ:
5. Ý nghĩa của tang hổ và một số sao khác:
a. Những cách tốt:
- Hổ Phi đồng cung (gọi là hổ mọc cánh): vui vẻ, nhanh nhẹn, tháo vác, cũng lợi ích cho việc thi cử, cầu danh, đạt quyền chức, may mắn nói chung.
- Hổ, Cái, Long, Phượng (Tứ Linh): cũng rất hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, uy tín, khoa giáp.
- Hổ Kình hay Hổ Hình đồng cung hay hợp chiếu: người có chí khí hiên ngang, có mưu lược, có tài quyền biến, rất đắc lợi về võ nghiệp và văn nghiệp.
- Hổ ở Dần (hổ cư hổ vị): ví như cọp ở rừng núi, có thể vùng vẫy tung hoành như ý muốn. Có nghĩa như gặp được thời, gặp vận hội may mắn, có thể phát huy tài năng, đạt chức quyền cao. Vị trí này rất hợp với hai tuổi Giáp và Kỷ, thường lỗi lạc về võ nghiệp, lưu danh hậu thế. Rất độc với tuổi Bính, Mậu.
b. Những cách xấu:
- Tang, Hổ, Điếu, Binh (Tứ Hung): rất độc, báo hiệu cho tang tóc, tai nạn chết người, họa lớn. Nếu có Thiên Đồng thì hóa giải được.
- Tang Hổ gặp Lưu Tang, Lưu Hổ: tang tóc liên tiếp, ưu phiền rất nặng, tai họa khủng khiếp.
8. Ý nghĩa của tang hổ ở các cung:
a. ở Phu Thê:
b. ở Bào:
c. ở Tử:
d. ở Điền:
e. ở Tật:
f. ở Phúc:
g. ở Hạn:
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)