Tuổi Thìn và tuổi Tỵ hợp nhau không? –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Thời gian: Tổ chức vào ngày 15 tháng 12 âm lịch.
Địa điểm: một số làng chai ven biển thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Cá Ông.
Nội dung: Buổi lễ diễn ra với hai phần:
Phần lễ:
Thông thường lễ hội nghinh Ông có lễ rước và lễ tế truyền thống.
Lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con bày lễ vật nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thủy tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Trước mũi ghe là hương án và mâm lễ vật. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thủy tướng (nếu có ở địa phương đó). Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng.
Lễ tế diễn ra trang trọng sau lễ rước với nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thủy tướng.
Phần hội:
Trước thời điểm lễ hội, đã có hàng trăm chiếc tàu đánh cá của ngư dân được trang trí cờ hoa neo đậu dưới bến sông. Phần hội gồm các nghi thức rước Ông ra biển với hàng trăm ghe tàu lớn nhỏ cùng các lễ cúng trang trọng.
Ở tại nhà suốt ngày lễ hội, các ngư dân mời thỉnh lẫn nhau, kể cả khách từ nơi xa đến cùng nhau ăn uống, vui chơi, trò chuyện thân tình đây là một lễ hội đậm đà và mang bản sắc thuần phong mỹ tục sâu sắc.
Trong phong thủy, sự tương tác của ngũ hành được sử dụng rộng rãi để tăng dương khí và điều chỉnh âm khí nhưng liệu chúng ta đã thực sự hiểu ngũ hành là gì?
![]() |
Người mạng Mộc có tinh thần vị tha và năng nổ, thích tiên phong, nhiều ý tưởng, tính cách hướng ngoại của họ được nhiều người thương, giúp. Vì là người sáng tạo nên họ thích tưởng tượng hơn hoàn thành kế hoạch.
Yếu tố Mộc liên quan tới sự nhận thức cho cuộc sống cây cỏ và hoa lá, những loại vải có chất liệu tự nhiên, những loại cây và bất cứ thứ gì được làm từ gỗ cũng liên quan tới mệnh này.
![]() |
![]() |
Bố cục căn nhà toạ Bính hướng Nhâm: Tài vận và sức khoẻ vận tương đối bình ổn, không có thay đổi to tát.
Tài vận: Hướng Bắc của căn nhà là hướng vượng khí tài thần, nên đặt vật phong thuỷ như đồng tiền ngũ đế, tỳ hưu ở vị trí này để tăng cường tài vận.

Sức khỏe nhân đinh: Hướng Bắc của phòng khách là vị trí vượng khí của Đinh thần, đặt nồi cơm điện ở đấy cực kỳ tốt cho sức khoẻ. Ngoài ra, hướng Tây Nam của phòng khách là hướng sinh khí của Đinh thần, ta cũng có thể đặt nồi cơm điện tại vị trí này để có lợi cho sức khoẻ.
CÁCH LUẬN ĐOÁN THỦY KHÍ TỤ HAY TÁN Hướng thủy khí đến là tụ, hướng thủy khí đi là tán, như đã nói ở mục trên, đường sá trước cửa nhà (tức hư thủy), bên dài là thủy khí đến, bên ngắn là thủy khí đi. Nhưng khí cửa hiệu đối diện với đường sá thì không thể dùng phương pháp đó mà phải phối hợp với chiều xe lưu thông. - Nếu phía trước cửa nhà tiếp cận quá gần đường xe lưu thông, mà chiều xe lại chạy từ bên phải qua bên trái thì hướng thủy khí tới là bên phải và hướng thủy đi là bên trái, lúc ấy nên mở cửa bên trái tức bên thanh long để thu thủy khí của bên bạch hổ. (Xem hình 1, 2).
Hình 1. Đường xe lưu thông tiếp cận từ bên trái qua bên phải, đây là thủy khí đi từ bên trái qua bên phải, nên mở cửa phương bạch hổ để tiếp thủy khí.
Hình 2
Đường xe lưu thông tiếp cận từ bê phái qua bên trái, đây là cuộc thủy khí từ bên phải đến, nên mở cửa bên thanh long để tiếp thủy khí.
Ngoại trừ việc dùng chiều xe lưu thông, có một số con đường người ta phải căn cứ vào địa hình để định đoán thủy khí tới. Thí dụ như trong các khu thương nghiệp lớn, việc đoán định hướng thủy tới và hướng thủy đi trong ấy sẽ gặp khó khăn hơn nhiều. Thông thường người ta lấy vị trí của các cầu thang lên xuống để định hướng thủy tới. Mà việc đoán ảnh hưởng của tốt xấu do thủy tới và thủy đi cho các cửa hiệu cần phải lấy các tiêu chuẩn như: HÌnh dạng ôm lại, hay phản cung, đường bên trái dài hay bên phải dài.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
![]() |
| Một ô tường vàng cùng những chiếc cốc, bát xanh đỏ tím vàng màng lại phong cách sinh động cho phòng bếp trắng tinh. |
![]() |
| Sàn nhà "7 sắc cầu vồng" khiến mỗi bước chân và hoạt động của bạn ở trong căn bếp đều có hoạt náo hơn. |
![]() |
| Tường và sàn cùng tông xanh, tủ bếp đỏ bóng thể hiện sự trẻ trung của gia chủ. |
![]() |
| Sự kết hợp của những khối màu rực rỡ bằng chất liệu bóng tạo nên căn bếp vui mắt. |
![]() |
| Nếu không muốn quá rực rỡ, bạn hãy thử áp dụng cách "tô" màu này, căn phòng vẫn rất trẻ trung. |
![]() |
| Bàn bếp màu tím - một ý tưởng hiếm gặp nhưng biến căn phòng thật sự nổi bật. |
![]() |
| Phong cách trẻ trung mà vẫn rất sang trọng với cách phối màu đỏ đun này. |
![]() |
| Chú ý nhiều hơn đến những tiểu tiết như chiếc cốc, bình đựng nước và thậm chí cả màu của thực phẩm..., bạn sẽ có căn phòng đa sắc màu đẹp mắt. |
![]() |
| Tủ bếp đỏ rực với chất liệu bóng dễ lau chùi và làm sạch. |
![]() |
| Sự đồng bộ "ton sur ton" sắc màu cho căn bếp. Những gam màu rực rỡ rất dễ hút mắt bạn, nhưng hãy suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định đầu tư chúng, bởi "tuổi thọ" của những style này thường khó bền bằng phong cách truyền thống. |
Văn hóa cát tường có nguồn gốc từ rất lâu đời, ý thức cát tường theo đuổi cái đẹp, sự mưu cầu hạnh phúc, bình an nảy sinh từ dự cảm bất an của người cổ xưa đối với cuộc sống. Vì vậy người xưa đã dùng các ký hiệu có liên quan đến cuộc sống làm vật ký gửi tinh thần, có thể nói nói, vật cát tường sớm nhất là thần bảo vệ.
Phạm vi tác dụng của nó kéo dài từ thế giới hiện thực mà chúng ta đang sống đến thế giới tâm linh. Ý nghĩa của nó vươn xa từ sự mong muốn giản đơn về nguyện vọng tốt đẹp, thăng hoa đến các văn hóa dự báo: vận may, hạnh phúc, thường thọ, phát tài, tiến chức, con cháu đầy nhà… từ đó cấu thành nên bản sắc văn hóa cát tường riêng trong nền văn hóa dân tộc.
Mong muốn hướng tới những điều may mắn và tốt đẹp là chủ đề vĩnh hằng của văn hóa cát tường. Từ ý nghĩa của “cát tường” cũng có thể thể hiện đầy đủ điểm này. Chữ “cát” là chỉ điều tốt lành; chữ “tuờng” là biểu đạt cho sự may mắn. “Cát” là chỉ tính chất của sự việc, “tường” là điềm báo. Điềm báo là sự tượng trưng để trở thành sự thực. Những điều này đều biểu thị ra là kiểu điềm báo trước, là tượng trưng cho sự mong mỏi của con người với tương lai, là sự hướng tới cái đẹp.
Linh vật cát tường
Long, lân, quy, phượng hàng nghìn năm nay đã trở thành bốn linh vật cát tường vĩnh hằng trong cuộc sống của nhân dân ta. Lân chỉ con kỳ lân, long (rồng) là tượng trưng của dân tộc ta, cho nên mới có cách nói “con rồng cháu tiên”, phượng chỉ phượng hoàng, là vua của các loài chim. Long, lân, phượng đều là động vật hư cấu do phương thức tư duy của con người tạo ra. Quy (rùa), con vật tượng trưng cho sự tôn quý, an nhàn, trường thọ cũng là một trong số các linh vật được mọi người quan tâm.
Động vật cát tường
Một số loài chim, cá, rắn và thú được coi là động vật mang ý nghĩa cát tường, ví dụ như chim hạc, chim khách, chim uyên ương, chim bồ câu; các loài thú như sư tử, hươu, hổ, ngựa, voi, linh miêu, các loại cá như cá chép, cá heo… đều là động vật may mắn. Một số kết hợp với nhau cũng có thể biểu thị sự may mắn như rùa hạc hợp nhất sẽ cấu thành một tề linh rùa hạc, tượng trưng cho sự trường thọ, cát tường.
Thực vật cát tường
Một số loài thực vật được mọi người tin là có ý nghĩa may mắn, cát tường. Khi biểu thị ý nghĩa cát tường, phần lớn chúng cấu thành dựa vào sự tổ hợp. Người xưa phần lớn lấy tùng, cúc, trúc, mai để biểu đạt cho sự cát tường, người sau lại dùng trúc, hoa trường xuân, bí đỏ… để ngụ ý. Hoa hòe tượng trưng cho sự trường thọ, cây đậu đỏ tượng trưng cho sự tưởng niệm, cây dẻ tượng trưng cho sự tự lập, cây lựu tượng trưng cho sự đông con nhiều phúc, cây quất tượng trưng cho đại cát, cây phật thủ tượng trưng cho hạnh phúc, cây phù dung tượng trưng cho vinh hoa phú quý…
12 con vật cát tường
12 con vật trong dân gian đều được coi là có ý nghĩa đặc biệt. Chuột, trâu, hổ, mèo (thỏ), rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn, tất cả đều là những con vật may mắn. Ví dụ con dê là con vật biểu trưng cho sự nho nhã, ôn hòa, nhẹ nhành, giàu tình cảm, từ xưa đã là người bạn thân thiết với con người, được conngười yêu quý. Đây cũng là con vật tượng trưng cho điều may mắn, tốt đẹp.
Khỉ là động vật gần gũi với loài người nhất trong giới tự nhiên. Con người có tình cảm thân thiết đặc biệt với loài khỉ, bởi vì con khỉ và tước vị (hầu) là đồng âm với nhau. Khỉ đã trở thành con vật may mắn tượng trưng cho sự thăng tiến trên con đường sự nghiệp.
Ngôn ngữ cát tường
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp giữa người với người, ngôn ngữ cát tường được biểu hiện qua những lời chúc phát tài, sống lâu trăm tuổi, khai môn đại cát, vạn sự như ý, song hỷ lâm môn, vinh hoa phú quý…
Tất cả đều là ngôn ngữ mang tính may mắn, phản ánh tư tưởng mưu cầu hạnh phúc của con người. Ngôn ngữ cát tường mang tính chúc tụng trong những hoàn cảnh nhất định, vì vậy cần phải vận dụng được nó một cách phù hợp trong những trường hợp cụ thể, nếu không sẽ gây nên sự phản tác dụng. Ví dụ khi đón năm mới, mọi người nên chúc nhau “cung hỷ phát tài”, “vạn sự như ý”. Khi chúc thọ, phải có ý “phúc như Đông hải, thọ tựa Nam sơn”, khi mở cửa hàng phải chúc “thuận buồm xuôi gió”, “phát tài phát lộc”…
Văn tự cát tường
Là để chỉ những hàm ý cát tường cơ bản hoặc hàm ý mở rộng trong câu chữ. Một số câu chữ có ý mở rộng trong câu chữ. Một số chữ có ý nghĩa cát tường nhất định, ví dụ như chũ “phúc”, chữ “thọ”, chữ “quý quý”, chữ “khang”… Chữ “phúc” là chữ có ý nghĩa tốt đẹp nhất từ xưa đến nay, ý nghĩa cát tường phong phú nhất, tập trung nhất và điển hình nhất.
Văn hóa cát tường trong phong thủy
Vạn vật hài hòa và có sự linh nghiệm, con người sống trong trời đất, nếu việc dữ có thể dự đoán trước, nếu cuộc sống của mọi người đều khỏe mạnh, đầy đủ thì tất sẽ vui vẻ, hạnh phúc; còn cuộc sống mà đau yếu, nghèo khổ tất sẽ ưu phiền.
Văn hóa cát tường trải qua hàng nghìn năm đã đúc kết được thành quả to lớn, để lại cho chúng ta nhiều giai thoại đẹp mà giàu triết lý của rất nhiều các dân tộc có truyền thống đặc sắc: Các chữ cát tường như Phúc, Lộc, Thọ, 12 con giáp và con rồng may mắn, các con thú như sư tử, nghê, cóc, tỳ hưu… các vật cát tường như tháp Văn Xương, hồ lô, khánh, chuông gió…
Mặc dù ngày nay có rất nhiều người con văn hóa cát tường là mê tín, nhưng đó là do học chỉ nhìn nhận được bề ngoài của nó. Thực chất, văn hóa cát tường mà tổ tiên truyền lại ẩn chứa một trí tuệ vô cùng sâu sắc, được ứng dụng cho đến tận ngày nay, điều đó khẳng định văn hóa cát tường của tổ tiên là sự ứng dụng hoàn toàn đúng đắn.
Nguồn: VietGem(st)
1. Tình huống nhà phạm vào "Phi tiễn sát" - Phi tiễn sát là ngôi nhà bị đầu hồi hay góc nhà khác xung thẳng vào. - Nhà phạm phi tiễn sát thì chủ về sức khỏe kém, nhiều bệnh tật, tài vận không tụ lại hay gặp tai họa, lừa đảo. Bản chất của “Phi tiễn sát” là do góc cạnh của ngôi nhà hoặc bức tường đối diện chiếu thẳng vào nhà, khi có góc cạnh hoặc vật thể hình khối vuông , chữ nhật sẽ làm cho sự di chuyển của không khí qua vật đó phát sinh nhiều “tia khí đen”, mà các tia khí đen lại ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tài vận của con người khi ngôi nhà bị các tia khí đen bay đến.
2. Cách hóa giải nhà phạm “Phi tiễn sát”. Có nhiều cách hóa giải, tuy nhiên áp dụng được tổng thể thì không những chỉ hóa giải mà còn mang lại nhiêu tài lộc cho ngôi nhà - Dùng 1 gương tiên thiên bát quái lõm bằng đồng (được khai quang cẩn thận) treo trên tường hoặc trước cửa nhà hướng về góc nhọn chiếu đến. Các dòng năng lượng sẽ phát từ gương theo hình xoắn ốc sẽ cắt hết các tia khí đen và thanh lọc các tia khí xám trắng (khí tốt với sức khỏe và tài lộc cho con người). - Đặt một đôi Long Quy bằng đồng trước cửa nhà để thần khí của đôi Long Quy sẽ tiêu diệt tác hại hung dữ của “Phi tiễn sát”, diệt trừ tiểu nhân, hóa giải “sát khí”. - Đặt một đôi Tỳ Hưu bằng đá hoặc bằng đồng để chiêu tài về đồng thời cân bằng lại “tài lộc” đã mất. - Đặt một khối đá phong thủy hay đá thạch anh trước cửa nhà để năng lượng và độ khúc xạ cao của đá sẽ khúc xạ hết các “tia khí đen”, thanh lọc và mang lại dòng năng lượng tốt cho ngôi nhà. - Đặt một chậu cây cảnh có tán lá rộng che chắn phần góc nhọn của ngôi nhà đó chiếu vào để có tác dụng “tách khí đen” thanh lọc khí tốt vào nhà. - Dùng đài phun nước ở trước sân nhà để các hạt nước sẽ “tách khí đen” rơi theo hạt nước xuống, và thanh lọc các dòng năng lượng tốt vào nhà. Lưu ý: + Các vật phẩm phong thủy cần phải được khai quang đúng cách và chọn ngày giờ đặt đúng vị trí thì mới có tác dụng. + Đá phong thủy có nhiều loại đá năng lượng kém (do khai thác ở dạng non nên năng lương không đủ để hóa giải), nên cần tìm đến nơi bán đá uy tín hay nhờ người am hiểu về năng lượng của đá để chọn được loại đá tốt nhất, đá phong thủy cần được tẩy rửa năng lượng xấu và trì chú phật pháp vào trong đá để mang lại may mắn. 3. Trường hợp thực tế - Một gia đình ở Hà Nội (Việt Nam) có nhờ tác giả đến xem phong thủy. Sau khi xem tổng thể ngôi nhà: Địa khí rất tốt, hướng nhà không hợp với chủ nhà, vị trí bếp và hướng bếp tốt, vị trí và hướng bàn thờ tốt, nhà đối diện có góc nhà chiếu thẳng vào nhà (cả 3 tầng đều bị chiếu). Tác giả liền bảo với chủ nhà là nhà anh làm ăn không giữ được tiền, hay bị lừa khi làm ăn. Chủ nhà ngạc nhiên vì bị tác giả nói ra hết những vấn đề mà ngôi nhà này gặp phải và thừa nhận với tác giả những chuyện đã xảy ra. - Tác giả đưa ra một số giải pháp xử lý: Đặt 3 chiếc gương tiên thiên bát quái phẳng (được khai quang) và treo trước cửa của cả 3 tầng để vừa hóa giải hướng nhà xấu và vừa hóa giải “phi tiễn sát”; đặt mỗi tầng 1 đôi Long quy bằng đồng (đã được khai quang) nhìn về phía góc nhà chiếu vào. - Kết quả sau 2 tháng gặp lại chủ nhà thì được chủ nhà nói là sau khi xử lý “phi tiễn sát” thì gia đình làm ăn ngày càng tốt hơn. Trần Nhất Nam
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Đây là điển cố thứ Mười trong quẻ Quan Âm, mang tên Bàng Quyên Quan Trận (còn gọi là quẻ Bàng Quyên Xem Trận). Quẻ Quan Âm Bàng Quyên Quan Trận có bắt nguồn như sau:
Ngụy Huệ Vương học theo Tần Hiếu Công, muốn tìm một nhân tài giống như Thương Ưởng. Bàng Quyên bèn đến cầu kiến Ngụy Huệ Vương, tâu với Ngụy Huệ Vương về đạo lý nước giàu binh mạnh, Ngụy Huệ Vương nghe xong rất vui mừng, bèn bái Bàng Quyên làm đại tướng. Trước tiên, Bàng Quyên ra tay từ những nước nhỏ lân cận, thắng liền mấy trận, sau đó, đánh bại cả nước lớn là nước Tề. Ngụy Huệ Vương lại càng thêm tín nhiệm Bàng Quyên.
Sau đó Ngụy Huệ Vương nghe thấy danh tiếng của Tôn Tẩn, biết Tôn Tẩn là hậu duệ của đại tướng nước Ngô là Tôn Vũ, có bộ “Tôn Tử binh pháp” do tố tiên truyền lại, bèn nói với Bàng Quyên ý muốn trọng dụng Tôn Tấn. Bàng Quyên trong lòng đố kị, bèn giả vờ mời Tôn Tấn đến nước Ngụy cùng làm việc với mình, rồi bày ra cạm bẫy, trước mặt Ngụy Huệ Vương đã vu cho Tôn Tẩn tư thông với nước Tề. Ngụy Huệ Vương vô cùng giận dữ, lập tức khép tội Tôn Tẩn, khoét bỏ hai xương bánh chè, khiến Tôn Tẩn vĩnh viễn thành người tàn phế. Sau đó sứ giả của nước Tề đến kinh đô của nước Ngụy là Đại Lương (nay ở phía tây bắc của thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam), lập kế hoạch ngầm đưa Tôn Tẩn về nước Tề. Tướng quân Điền Kỵ của nước Tề vốn từ lâu đã ngưỡng mộ tài danh của Tôn Tẩn, nên đã tiến cử với Tề Uy Vương. Tề Uy Vương bèn bàn luận với Tôn Tẩn về binh pháp, sau đó phong Tôn Tẩn làm quân sư.
Vào năm 341 trước Công nguyên, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên liên kết với nước Triệu dẫn quân đánh nước Hàn, bao vây kinh đô của nước Hàn là Tân Trịnh. Vệ Chiêu Hầu cầu cứu nước Tề. Nước Tề phong Điền Kỵ, Điền Anh, Điền Phán làm tướng, Tôn Tẩn là quân sư, chỉ huy quân đội tiến vào đất Ngụy. Bàng Quyên nghe tin, liền bỏ Hàn mà trở về. Ngụy Huệ Vương rất giận nước Tề đã can dự vào đại sự của nước mình, bèn dốc đại binh đón đánh quân Tề, vẫn dùng Bàng Quyên làm tướng, thái tử Thân làm thượng tướng quân, đi theo quân đội tham gia chỉ huy, thề quyết chiến với quân Tề.
Tôn Tẩn thấy quân Ngụy khí thế hung hãn, bèn quyết định dùng kế sách “dục cầm cố túng” (muốn bắt nên thả), dụ Bàng Quyên cắn câu. Tôn Tẩn nói với Điền Kỵ rằng: “Thế lực của quân đội tam Tấn (ba nước Ngụy, Triệu, Hàn) rất hung hãn, xưa nay đều coi thường quân Tề, quân Tề chúng ta hãy ra vẻ yếu ớt để thuận theo thời thế là tốt nhất”. Điền Kỵ nghe theo, lệnh cho quân Tề tiến vào trong lãnh thố của nước Ngụy. Ngày đầu tiên đóng trại, đế lại vết tích số lượng bếp nấu của mười vạn quân, ngày thứ hai giảm xuống còn lại số lượng bếp của năm vạn quân, ngày thứ ba lại tiếp tục giảm xuống còn số lượng bếp của ba vạn quân.
Bàng Quyên quan sát quân Tề ba ngày, thấy số lượng bếp nấu của quân Tề ngày càng giảm xuống, thì hết sức vui mừng, đế lại bộ binh ở phía sau từ từ hành quân, còn tự mình thống lĩnh độl quân tinh nhuệ, trang bị nhẹ đuối gấp theo quân Tề.
Tôn Tẩn suy đoán rằng, đến lúc hoàng hôn, Bàng Quyên chắc chắn sẽ đuối đến Mã Lăng (nay ở phía đông nan huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc). Vùng đất này đường sá nhỏ hẹp, địa thế hiếm trở kẹp giữa hai núi, có thế mai phục, bèn chặt một cây gỗ lớn, cạo sạch vỏ, viết lên đó dòng chữ “Bàng Quyên sẽ chết dưới cây này”. Lại lệnh cho những quân sĩ giỏi bắn tên mai phục ở bên đường, và dặn dò binh sĩ rằng: “Nếu thấy ánh lửa thì đồng loạt bắn tên”.
Quả nhiên, vào lúc sẩm tối, Bàng Quyên thống lĩnh quân Ngụy đuối đến trước cây gỗ lớn, thấy có dòng chữ, bèn cao hứng đốt đuốc sol đế đọc. Bất ngờ hai bên đường, hàng vạn mũl tên đồng loạt bắn ra, tên bắn như mưa, quân Ngụy rối loạn, chết và bị thương la liệt, Bàng Quyên cũng bị trọng thương. Bàng Quyên tự biết vận nguy khó thoát, lớn tiếng than rằng: “Một lần không thận trọng, đã giúp tên nhãi ranh ấy được thành danh!” Nói rồi rút kiếm tự vẫn.
a. Cách chức, thôi việc:
Tuần, Triệt ở cung Quan: trắc trở cho quan trường bằng nhiều hình thái: chậm công danh, công danh vất vả, thấp kém, không bền vững, thăng giáng thất thường. Sao Triệt báo hiệu sự gãy đổ ít nhất một lần trong sự nghiệp. Sao Tuần tác họa nhẹ hơn nhưng lâu dài hơn. Gặp cả Tuần, Triệt đồng cung thì tai họa nghề nghiệp vừa nặng, vừa nhiều. Tuy nhiên:
– Tuần, Triệt gặp Âm, Dương ở Sửu, Mùi thi không phá mà làm vượng quan.
– Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hãm tối hay bại tinh mờ ám cũng làm vượng quan.
– Tuần, Triệt gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa thì bất lợi cho chức vụ rất nhiều như chậm quan, chóng tàn, gặp hung họa, thăng giáng thất thường. Nếu tám sao trên mà hãm địa thì khá hơn, tức là gặp khó khăn, thất thường trong việc thăng tiến nhưng tựu chung có chức vị khá lớn, nhất là về sau.
– Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa cũng còn đỡ khổ, không đáng lo ngại về sự thăng giáng hay gãy đổ sự nghiệp. Nếu hãm địa thì lại đẹp: công danh bộc phát mạnh mẽ.
Cung Quan vô chính diệu cần có Tuần, Triệt trấn thủ tại đó mới hay. Bằng không thì dễ sa sút. Nếu chính tinh xung chiếu mà sáng sử thì còn khá, ngược lại nếu mờ tối thì bất lợi.
Thiên Tướng gặp Tuần, Triệt thì dù được đắc địa, quan chức không những bị truất giáng mà còn dễ chết thảm khốc. Tướng Quân gặp Tuần, Triệt cũng lâm vào họa hại như thế.
Không, Kiếp: chỉ sự thăng trầm, lên voi xuống chó. Hãm địa thì càng nguy, chắc chắn phải ít ra một lần mất chức nhục nhã, bị đổi đi xa vì kỷ luật, chưa kể những hung họa dẫy đầy, dễ chết vì binh lửa, chiến nạn. Như vậy, sự gián đoạn chức vụ có thể bắt nguồn từ hai nguyên nhân bị chết hoặc bị cách chức. Còn những họa nhỏ khác như vất vả, đè nén, đố kỵ thì khỏi kể. Tai họa công vụ của Không Kiếp cũng còn do tật xấu của chính mình. Người có Không Kiếp có lá số xấu thường xử xự bằng thủ đoạn, bá đạo, ám muội, phi pháp, kiểu như tham lận, cướp của, hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, biển thủ đưa đến việc mất chức.
Thiên Hình, Thiên Tướng, Tuần, Triệt: Hình hãm địa ở Quan có nghĩa gián đoạn công vụ vì bị ngục tụng, những tai bay vạ gió làm cho viên chức phải bị liên lụy trong quan trường, chẳng hạn như bị khiển trách, bị điều tra, bị ngưng chức, bị truy tố, bị sa thải. Nếu đi với sát tinh, dễ bị hình tù vì Thiên Hình chỉ hình phạt, bằng kỷ luật hay bằng tòa án. Cho dù Hình gặp Tuần hay Triệt, ngục tụng cũng khó tránh. Cũng đồng nghĩa đó nếu Hình đi với Thiên Tướng ở cung Quan. Nếu có thêm Thiên Khôi, sẽ có thể bị mất đầu. Những họa nói trên sẽ tránh được nếu đương sự bị đau phải mổ hay bị chết nhưng dù sao, Tướng Hình Khôi ở Quan bao giờ cũng đập nặng vào chức vụ: Thiên Hình ở Quan là hình thương đến công vụ. ý nghĩa này vẫn tồn tại nếu Hình đi chung với Liêm Trinh; với Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ; với Hóa Kỵ; với Cự Môn hãm địa ...
Hóa Quyền, Thiên Hình hay Tuần, Triệt: Hóa Quyền tượng trưng cho quan tước, gặp Hình hay Tuần, Triệt thì có gián đoạn công vụ, thông thường là bị bãi nhiệm, bị đổi chỗ hoặc phải thôi việc. Nếu có chức phận cũng không giữ được lâu bền, phải từ bỏ vì một nguyên nhân nào đó. Những sao đồng nghĩa với Hóa Quyền mà gặp một trong ba sao này cũng rơi vào tai họa tương tự. Đó là các bộ sao: Quốc ấn, Thiên Hình hay Tuần, Triệt; Phong Cáo, Thiên Hình hay Tuần, Triệt; Thái Dương hãm, Thiên Hình hay Tuần, Triệt. Thông thường, ý nghĩa mất việc chỉ rõ ràng nếu bộ sao này đóng đồng cung ở Quan, nếu chỉ hội chiếu thì việc mất chức không rõ ràng lắm, có thể là tự ý thôi việc. Một số quý tinh khác như Thai Phu, Đường Phù gặp Tuần, Triệt hay Hình không đến nỗi nặng lắm, có thể có nghĩa như hụt thăng trật, hụt huy chương ...
Tuế, Đà, Kỵ: hội ở cung Quan chỉ mọi sự xui xẻo liên tiếp do sự tố cáo, chỉ trích, vu khống, xuyên tạc, đố kỵ, cạnh tranh làm cản trở bước tiến quan lộc, từ đó có thể đưa đến sự thôi việc, sự thay đổi công việc. Vì có Đà La, bộ sao này cho thấy có sự tranh cãi, gây lộn, ăn thua, khiếu nại, có khi ẩu đả giữa đồng nghiệp, xô xát với cấp chỉ huy để rồi cuối cùng gián đoạn công vụ.
b. Đè nén, đố kỵ
Phục Binh: điển hình cho sự hãm hại bằng thủ đoạn ngầm, sự đố kỵ, ghen ghét giữa đồng nghiệp hay giữa mình với cấp chỉ huy. Phục Binh còn có nghĩa âm mưu, kết bè, kết phái để đào thải, loại trừ đối thủ, có khi tổ chức phục kích, ám sát, thanh toán hoặc gài đương sự vào chỗ chết, chỗ kẹt, chỗ bị án, bị tù, bị quy trách. Thông thường, Phục Binh hay sử dụng mánh lới, thủ đoạn bất chính và bí mật để phá hoại đồng nghiệp, có khi liên kết với tòng phạm, bè cánh, tổ chức. Nếu có Tả Phù, Hữu Bật đi kèm thì nạn nhân phải chạm trán với cả một hệ thống chằng chịt bao gồm nhiều tay sai ở nhiều ngõ ngách, muốn khiếu nại cũng không được như ý, nhiều khi chẳng đi đến đâu.
Hóa Kỵ: chỉ đó kỵ, ganh ghét, cạnh tranh bằng thủ đoạn gièm pha, thêm bớt, thọc gậy. Hóa Kỵ là người bị nghi ngờ, bị theo dõi, bị để ý. Đi chung với Phục Binh, sự đố kỵ có tính cách ám hại, tầm thù, chẳng những bằng lời nói mà còn bằng hành động. Đi với Thiên Hình, Hóa Kỵ dễ sinh quan tụng, thưa gửi, khiếu nại, điều trần, cảnh cáo, khiển trách, ẩu đả lẫn nhau. Chỉ trừ khi đi với Thanh Long mới đẹp.
Thiên Không: chỉ phần tử lưu manh trong công/tư sở, chuyên môn phá hết kẻ này đến người khác, thọc gậy bánh xe, cản trở bước tiến của đồng nghiệp với ác tâm, có tà ý, âm mưu phá hoại. Bị Thiên Không, viên chức khó lòng ngóc đầu lên nổi, bị khép trong kỷ luật, khống chế, mình làm mà thiên hạ hưởng, bị cấp trên hay cấp ngang cướp công.
Đà La, Kình Dương: chỉ sự ngăn trở quan trọng vì ganh đua, cạnh tranh gay gắt. Tại vị trí hãm địa, đương số là nạn nhân của chia rẽ, phân hóa trong nghề nghiệp, làm việc nặng nhọc, gánh trách nhiệm mà bị tội vạ, hiểu lầm, khiển phạt. Những bạc bẽo của nghề thường do hai sao này quảng diễn.
Cự Môn hãm địa: đồng nghĩa với Hóa Kỵ nhưng nặng nề hơn. Con người Cự Môn cũng như Hóa Kỵ lúc nào cũng bất mãn, mưu tìm sự canh cải theo ý mình, không bảo thủ mà đấu tranh thay đổi thành phần bảo thủ. Nếu đắc địa thì việc đấu tranh có cơ hội thành công, trái lại, Cự Kỵ sẽ là nạn nhân của thái độ cấp tiến của mình, gánh lấy hậu quả của sự kìm chế, đè nén, cô lập. Đi chung với các sao ám khác như Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Phục Binh, là những người hay kết bè kết đảng để đấu tranh. Nếu có sát tinh đi kèm thường có đổ máu, hình ngục, thanh toán, trả thù qua lại.
Tuế, Đà, Kỵ: tượng trưng cho những xui xẻo liên tiếp trong quan trường, trong nghề nghiệp, trong đó có sự đè nén, thị phi, gièm pha, đố kỵ.
Đại Hao, Tiểu Hao: đi chung với quyền, quý, dũng tinh, Nhị Hao thường chỉ sự sa sút hậu thuẫn, sự sút kém tín nhiệm, sự mất mát thế lực. Viên chức có Song Hao ở Quan, ngoài ý nghĩa hư danh, hư quyền, bị tổn thương uy tín, thất sủng, từ đó làm việc gì cũng không lâu bền, ở với ai cũng khó hòa hợp, có thể ngồi xơi chơi nước hay được giao những công việc chạy vặt, liên lạc, kém quan trọng. Về mặt tâm lý, Đại Tiểu Hao ở Quan còn chỉ những người đứng núi này trông núi nọ, bất mãn không khí đang sống, lúc nào cũng chực hờ, tìm chỗ tốt, chỗ bở, hay thay đổi chức vụ mà chũng chẳng hiển vinh gì bao nhiêu. Tính tình của Nhị Hao thường bất nhất, không bền chí, không kiên tâm tiến thủ trên cái gì đã có mà chỉ lo đổi chỗ để tìm lợi lộc, tìm thăng tiến. Nếu được đắc địa thì Nhị Hao có lợi hơn về mặt tài lộc, kinh nghiệm.
Thiên Khốc, Thiên Hư hay Tang Môn, Bạch Hổ: Trừ phi đắc địa ở Tý Ngọ, Khốc Hư ở Quan biểu tượng cho những ưu tư, lo buồn, hoang mang, sợ sệt khi hành nhiệm. Ngoài ra, còn có đặc tính bị khinh ghét, chê bai vì bất lực, bất hòa. Người có Khốc Hư ở Quan không thoải mái trong công việc, phải quan tâm lo lắng nhiều mối, vì nhiều lý do, có khi phải gánh chịu nhục nhã, xấu hổ bởi tai tiếng, bởi thị phi. Nếu đắc địa, các sao này chỉ uy tín và hoạt động chính trị cũng như năng tài hùng biện, giáo khoa, tâm lý chiến.
c. Bất dụng, sai dụng, thiểu dụng:
Lực Sỹ, Kình Dương: tượng trưng cho sự bỏ quên, việc ngồi chơi xơi nước, việc nghỉ giả hạn. Lực Sỹ chỉ tài năng, sự tháo vát, linh hoạt, lanh lợi đồng thời cũng ám chỉ thành tích, công lao, chiến tích. Kình Dương chỉ sự ngăn cản, trở lực, trục trặc trong công danh. Cả hai hội ý chỉ sự thi thố không hết mức tài năng, sự đãi ngộ bất xứng với thành tích, sự thiểu dụng, từ đó nảy sinh sự bất mãn, bất đắc chí. Kình Lực không nhất thiết ngụ ý người có tài mà lắm khi ngụ ý người tự cho rằng mình có tài, vì bị bạc đãi nên bất mãn. Kình Lực đôi khi chỉ tham vọng, sự cậy tài, sự ỷ lại quá đáng làm cho quần chúng ghét bỏ, xa lánh.
Thiên Mã, Tràng Sinh ở Hợi: Thiên Mã thông thường chỉ tài năng. Gặp thêm Tràng Sinh là có cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì ở cung Hợi cho nên năng tài này bị chìm trong bóng tối. Đây là hạn người kém may, không có cơ hội thi thố được, hoặc chỉ có danh mà không có quyền, chỉ có hư vị hơn là thế lực, hoặc bị đặt vào chỗ tượng trưng để lợi dụng uy tín chứ không phải để hành sử quyền binh. Công lao của Mã Sinh ở Hợi thường chỉ ở trong bóng mờ, hay bị người khác lấn át. Nếu gặp Phục Binh, ngụ ý người có tài mà bị ruồng bỏ, bị gièm xiểm, bị đào thải ...
Thiên Mã, Tuần, Triệt: không chỉ tai nạn xe cộ mà chỉ sự bất dụng, sự thiếu may mắn trong nghề nghiệp, làm cái gì cũng thất bại, tai ương, xui xẻo khiến cho thượng cấp mất dần tín nhiệm, không dám giao phó đại sự. Cho nên, công danh của Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.
Lộc Tồn, Tuần, Triệt: Lộc Tồn cũng chỉ tài năng như Thiên Mã, đặc biệt là tài tổ chức, quyền biến, khai sơn phá thạch, có nhiều sáng kiến giải quyết mọi việc. Gặp Tuần Triệt, tài năng, cơ may bị tiêu tán. Đó là trường hợp những người bị thiểu dụng, bị uổng dụng, bị sai dụng.
Thiên Tài: đi chung với Nhật, Nguyệt sáng sủa sẽ làm mất đi sự tốt đẹp, làm giảm ánh sáng của Nhật, Nguyệt. Đó là trường hợp tài năng thiếu cơ hội.
Tại cung Quan vắng bóng những sao trợ quyền, những sao may mắn thì tài năng thường cô độc, thiếu người công lực, nâng đỡ, thiếu may mắn của thời cuộc. Đó là những sao Ân Quang, Thiên Quý, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thanh Long-Lưu Hà, Thanh Long-Hóa Kỵ, Thiên Mã-Tràng Sinh (trừ ở Hợi), Bạch Hổ-Phi Liêm, Tràng Sinh-Đế Vượng, Thiên Hỷ-Hỷ Thần, Tứ Linh, Tam Hóa ...
![]() |
![]() |
![]() |
- Trích từ: TÌM HIỂU VỀ NGUYÊN LÝ NGŨ HÀNH trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến -
Khi coi lá số, người luận giải Tử Vi bao giờ cũng ngó qua mối tương quan giữa hành của bản Mệnh với hành của Cục, sao và cung an Mệnh để tìm nhanh nét phác thảo chính cuộc đời của đương số. Càng hội tụ nhiều sự sinh nhập cho bản Mệnh thì lá số đó càng đẹp, càng được nhiều lợi điểm về sự may mắn, lộc tài... Ngược lại, hành bản Mệnh càng chịu nhiều sự khắc nhập từ Cục, sao và cung an Mệnh thì lá số đó càng xấu, càng kém may mắn, thậm chí còn bất hạnh.
Khi xét về tương quan giữa hành của bản Mệnh với hành của Cục, sao và cung an Mệnh, người coi số thường chỉ chú trọng tới Cục, sao và cung an Mệnh xem sinh - khắc thế nào với hành của bản Mệnh, nhưng có người cẩn thận hơn còn xét cả mối tương quan giữa sao và cung an Mệnh cũng trong mối tương quan ngũ hành để chi tiết hơn hiệu lực của các tinh đẩu ảnh hưởng tới đương số như thế nào.

Việc xét tương quan Ngũ hành của bản Mệnh với Cục, sao và cung an Mệnh tuân thủ theo 5 nguyên tắc sau:
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, xét về tương quan giữa hành khí của sao và hành bản Mệnh.
1. Hành sao sinh hành Mệnh: Trường hợp này hành sao bị hao tổn, bị chiết giảm mà ảnh hưởng xấu tốt của sao bị yếu đi nên Mệnh được hưng vượng lên, nghĩa là sao làm lợi cho Mệnh cho dù đó là cát tinh hay hung tinh. Nếu là cát tinh sáng sủa thì đưa đến lợi ích trọn vẹn cho Mệnh nhưng nếu cát tinh lạc hãm thì Mệnh tuy cũng hưởng lợi nhưng không được toàn vẹn vì sao bị hãm địa. Nếu là hung tinh sáng sủa thì các tính chất tốt xấu của nó cũng khiến bản Mệnh hưng thịnh lên và nếu hung tinh lạc hãm thì cũng ít bị nguy hại hơn vì hành sao bị hao tổn nên ảnh hưởng xấu của nó không thể tác họa mạnh tới Mệnh, trong khi bản Mệnh lại được hưng thịnh vì đã được sao phù sinh.
2. Hành sao đồng hành cùng hành Mệnh: Trường hợp này cả hai đều được hưng vượng lên. Mọi ảnh hưởng tốt xấu của sao dù là cát tinh hay hung tinh lên Mệnh vẫn phát huy mạnh mẽ ảnh hưởng của chúng, tuy nhiên bản Mệnh mang những đặc tính của sao nên sao đó thuộc về mình, mình hoàn toàn chỉ huy được sao một cách trọn vẹn vì thế hành khí của bản Mệnh được hưng thịnh lên, do đó hành sao đồng hành với bản Mệnh thì tốt nhất.
3. Hành Mệnh sinh hành sao: Trường hợp này hành khí của sao được hưng thịnh lên, trong khi bản Mệnh bị hao tổn. Vì hành khí của sao hưng thịnh lên nên cho dù cát tinh có sáng sủa cũng không đem lại lợi ích cho Mệnh mà còn làm cho Mệnh bị hao tổn khi sao phát huy tính chất của nó. Tệ hại nhất là khi hung tinh lạc hãm sẽ gây bất lợi cho Mệnh nhiều hơn do các tính chất xấu của nó phát huy ảnh hưởng.
4. Hành sao khắc hành Mệnh: Trường hợp này hành khí của sao vẫn giữ nguyên, nhưng bị giam cầm nên không hoạt động được còn bản Mệnh bị hao tổn, thiệt hại rất nhiều, có nghĩa, sao hoàn toàn chủ động gây nhiều điều bất lợi cho bản Mệnh. Cho dù cát tinh miếu vượng thì mọi tính chất tốt đẹp của sao cũng không đem lại điều gì tốt lành cho bản Mệnh thậm chí còn làm cho Mệnh bị mệt mỏi, tuy nhiên vì là cát tinh nên cũng đỡ lo ngại. Còn nếu là hung tinh thì thật là bất lợi cho Mệnh, nhất là khi hung tinh hãm địa thì tính chất xấu của nó càng làm cho bản Mệnh thêm bất lợi, nguy hại.
5. Hành Mệnh khắc hành sao: Trường hợp này hành sao bị tổn hại, suy yếu nên cường độ ảnh hưỡng xấu tốt của sao bị giảm rất nhiều trong khi Bản Mệnh bị giam cầm nên không hoạt động được, nghĩa là sao đó không thuộc về mình và bản Mệnh không chỉ huy được sao. Dù là cát tinh sáng sủa hay lạc hãm thì Mệnh cũng chịu ảnh hưởng không nhiều tính chất tốt hay xấu của sao. Hung tinh đắc địa hay hãm địa cũng vậy, do hành Mệnh khắc hành sao làm cho hành khí của sao bị suy yếu đi nhiều nên ảnh hưởng tính chất xấu tốt của sao lên Mệnh không còn là bao trong khi hành Mệnh bị giam cầm không hoạt động được nên trường hợp này cũng không tốt cho bản Mệnh.
Xét tương quan giữa hành Mệnh và hành cung an Mệnh để xét đoán Mệnh thịnh hay suy.
1. Hành cung sinh hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh nhờ được hành cung sinh xuất nên bản Mệnh thêm vững chắc, hưng thịnh. Đây là trường hợp tốt nhất khi xét mối tương quan giữa hành Mệnh và hành cung.
2. Hành cung đồng hành cùng hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bình hòa với hành cung nên cả 2 đều hưng thịnh nên không xấu. Vì không có sự sinh - khắc giữa hành bản Mệnh và hành cung nên mối tương quan này không thật tốt, cũng không thật xấu mà chỉ ở mức bình thường. Tuy nhiên, sự bình hòa về hành cũng thêm một lợi điểm cho lá số nếu so với 3 trường hợp dưới đây.
3. Hành cung khắc hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bị hành cung khống chế, làm suy tổn sinh khí nên xấu nhất. Trong trường hợp này, bản Mệnh luôn bị mỏi mệt, nguy hại và bất lợi nên rất cần có sự phù trợ của các sao để quân bình sự bất lợi cho lá số.
4. Hành Mệnh khắc hành cung: Trường hợp này hành bản Mệnh tuy khắc xuất hành cung nhưng bản Mệnh cũng không được lợi ích gì, vì để làm suy yếu hành cung thì hành bản Mệnh phải tổn hao nguyên khí nên bản Mệnh bị giam cầm, không hoạt động được. Trường hợp này tuy không phải xấu nhất nhưng cũng là điểm bất lợi cho lá số khi xét về tương quan giữa hành bản Mệnh với hành cung.
5. Hành Mệnh sinh hành cung: Trường hợp này hành bản Mệnh sinh xuất cho hành cung nên hành khí của cung được hưng vượng lên, tốt thêm lên nhưng bản Mệnh lại bị tiết khí, hao tán vì thế nên xấu. Đây cũng là điểm bất lợi cho lá số, rất cần có sự phù trợ của các sao để quân bình lại sự bất lợi này.
Xét tương quan giữa hành của tam hợp cục của cung an Mệnh với hành bản Mệnh.
1. Tam hợp cung Mệnh sinh hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh được hưng thịnh nên tốt nhất.
2. Tam hợp cung Mệnh đồng hành hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh và hành của Tam hợp cung Mệnh bình hòa, cả 2 đều được hưng thịnh lên, không có sinh - khắc nên tốt. Tuy nhiên vì bình hòa nên mức độ tốt thua kém trường hợp Tam hợp cung Mệnh sinh hành bản Mệnh.
3. Tam hợp cung Mệnh khắc hành Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bị suy tổn nhiều, bị chết nên xấu nhất.
4. Hành Mệnh khắc hành Tam hợp cung Mệnh: Hành bản Mệnh tuy khắc thắng (khắc xuất) nhưng cũng chẳng được lợi ích gì vì bản Mệnh bị bó tay, không hoạt động được nên xấu.
5. Hành Mệnh sinh hành Tam hợp cung Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh bị tiết khí hao tán, suy kiệt nên xấu nhì.
Xét tương quan giữa hành cung với hành sao. Nguyên tắc này tương đối không quan trọng, chỉ mạng ý nghĩa gia giảm chút ít.
1. Hành cung sinh hành sao: Trường hợp này đẹp nhất vì sao được cung phù trợ, nuôi dưỡng, bồi đắp nên hành khí của sao được hưng thịnh.
2. Hành cung đồng hành với hành sao: Trường hợp này bình thường, không xấu, không tốt vì hành của cung bình hòa với hành của sao nên hành khí của sao không thay đổi.
3. Hành sao sinh hành cung: Trường hợp này xấu vì hành sao sinh xuất cho hành cung nên bị hao tổn, tiết khí mà yếu đi.
4. Hành sao khắc hành cung: Trường hợp này cũng xấu bởi hành sao tuy khắc thắng hành cung nhưng không có lợi gì vì bị giam cầm không hoạt động được.
5. Hành cung khắc hành sao: Trường hợp này xấu nhất vì hành sao bị khắc nhập nên thiệt hại nhiều nhất, những ý nghĩa tốt đẹp của sao đã bị khắc chế mà kém đi về hiệu lực.
Xét tương quan giữa hành của bản Mệnh với hành của Cục.
1. Hành Cục đồng hành với hành Mệnh: Trường hợp này cả hai hành không có sự sinh - khắc nên cả 2 đều được hưng vượng lên nên tốt.
2. Hành Cục sinh hành bản Mệnh: Trường hợp này hành bản Mệnh được hành Cục phù trợ, bồi đắp, nuôi duỡng vì thế được hưng thịnh nên tốt. Đây là trường hợp tốt nhất khi xét về tương quan giữa hành bản Mệnh với hành Cục.
3. Hành bản Mệnh sinh hành Cục: Trường hợp này xấu vì hành Mệnh bị suy yếu do sinh xuất cho hành Cục, trong khi hành Cục được hưng thịnh (nhờ được hưởng sinh nhập) nên không tốt cho bản Mệnh.
4. Hành bản Mệnh khắc hành Cục: Trường hợp này cũng không đẹp vì hành của bản Mệnh tuy khắc xuất hành Cục nên cũng bị hao tổn hành khí vì thế mà bản Mệnh bị giam cầm, bó tay không hoạt động được. Dẫu vậy, trường hợp này cũng không có hại, mà chỉ ở mức trung bình.
5. Hành Cục khắc hành bản Mệnh: Trường hợp này xấu nhất trong mối quan hệ giữa hành Cục và hành Mệnh. Ở đây, hành khí của bản Mệnh bị suy thoái do chịu sự khắc nhập từ hành Cục.
(Trích trong TỬ VI KIẾN GIẢI của Đặng Xuân Xuyến, nxb Thanh Hóa)

Bài viết được tác giả gửi đến trang nhà Xem Tướng chấm net, tháng 7 năm 2015
Một số sách của tác giả Đặng Xuân Xuyến đã xuất bản như:
Tuyển tập những câu nói hay nhất về mùa đông. Nàng thu dịu dàng vội vã qua đi nhường chỗ cho mùa đông bâng khuâng – xao xuyến với bao kỷ niệm, chờ đợi, lạnh lẽo, yêu thương. Mùa đông chính là khơi nguồn cảm xúc cho các tác giả tên tuổi sáng tác những bài thơ, bài ca, những câu nói hay và ý nghĩa nhất về mùa đông.
Mùa đông lạnh giá mang đến cho con người những dòng cảm xúc khác nhau, hòa quyện đan xen vào nhau như những cảm giác khác lạ từ thiên nhiêu, đất trời.
Nhưng trong mùa đông đấy, những câu nói hay về mùa đông ấy, lại có những dòng cảm xúc ấm áp, chan chứa yêu thương, nhưng cũng có thể đó lại là lạnh lẽo cô đơn của một trái tim đơn độc, cần được sưởi ấm.
Hãy cùng xemboituong.com và các tác giả cùng đọc và khám phá những câu nói, vần thơ hay nhất về mùa đông thân thương cách bạn nhé !!!
Người ta vẫn thường nói rằng, mùa xuân là mùa của sự bắt đầu, mùa của cây cối đâm trồi nảy lộc. Nhưng với tác giả “Nguyễn Cúc” mùa nào cũng là mà của sự bắt đầu những mầm sống mới, mùa của yêu thương. Những ý thơ đặc sắc mà ý nghĩa, những câu nói hay nhất về mùa đông với ý niệm mùa của sự bắt đầu được tác giả khắc họa chân thực và sống động qua bài thơ “Sinh nhật mùa đông”
SINH NHẬT MÙA ĐÔNG
Tác giả: Nguyễn Cúc
Mùa đông băng giá ấy
Một cô bé ra đời
Cất tiếng khóc không vơi
Khi trời đêm gần sángMùa đông năm nay lạnh
Cô bé lớn bổng rồi
Sinh nhật tới buồn vui
Cô cũng không biết nữaNgày ngày cô đi lựa
Những bông Cúc , Hồng tươi
Khoe sắc dưới nắng trời
Cắm vô bình , nghĩ ngợi !Cô nhớ vài năm trước
Hân hoan sinh nhật hồng
Có bạn bè vui chúc
Ấm nồng giá lạnh đôngNăm nay chắc mình cô
Trong căn phòng lạnh giá
Ngắm hoa vàng đất lạ
Ôn kỷ niệm thiếu thờiCó lẽ để đông trôi
Cho thời gian đi mãi
Để sinh nhật này tới
Cô đón… một mình thôi
12 tháng chạp đầy những nhớ nhung và lưu luyến, cùng bao nỗi niềm chưa thể bày tỏ hết của chàng trai khi tiễn đưa cô gái ra về. Tình yêu có thể làm xóa nhòa đi tất cả, làm cho trái tim bao lâu nay lạnh lẽo cô đơn, bỗng chốt trở nên ấm áp, say đắm lạ thường. Và những câu thơ, những câu nói hay về mùa đông trong bài thơ “Đưa em về trong đêm mùa đông” chính là một minh chứng cho mối tình của 2 người.
ĐƯA EM VỀ TRONG ĐÊM MÙA ĐÔNG
Tác giả: Khiếu Long
Đưa em về trong đêm mùa đông
Trái tim tôi như có như không
Đêm cuối cùng khung trời băng giáCơn gió nào buồn đến mênh mông
Đưa em về mai mình cách xa
Nụ cười em còn đó hôm qua
Tay trong tay hồn tôi lạnh giá
Tình còn không hay chỉ xót xaĐưa em về thời gian qua mau
Từng vết thương dày xéo niềm đau
Dù con tim nhiều lần ứa máu
Xin một lần được gọi tên nhauĐưa em về tháng chạp sầu vương
Con đường dài đọan nhớ đoạn thương
Lời kinh đêm trong đêm mừng chúa
Mắt dâng sầu đẫm ướt mù sương
MÙA ĐÔNG Ở TRONG LÒNG
Tác giả: Độc Cô Cầu Tình
Tôi giữ mùa đông ở trong lòng
Để Tình tôi lạnh với mùa đông
Để Hồn tôi chết cùng năm tháng
Và để Tim tôi buốt máu hồng.Tôi giữ mùa đông mãi muôn đời
Để Tình tôi chết với chơi vơi,
Để Hồn tôi hóa, thành băng đá
Đá Lạnh cô đơn mã trên đời.
HUYỀN THOẠI MÙA ĐÔNG
Tác giả: Trịnh Bửu Hoài
Em giấu mùa đông trong áo lụa
Nhặt chiếc lá vàng sang tặng tôi
Hình như trời chớm qua kỳ rét
Chiếc lá hồn nhiên ấm một người.Tôi giấu mùa đông trong nỗi nhớ
Bài thơ tháng chạp tặng riêng em
Thì ra trời vẫn còn hương bấc
Thơ tôi hóa lá rụng bên thềm.Tôi về gom gió mùa đông lại
Gởi em màu nắng nhạt bên sông
Lẽ đâu trời vẫn chưa thay áo
Vườn em sương trắng xuống mênh mông.Em gom hết lá nơi thềm cũ
Nhặt cả vần thơ ai đánh rơi
Ngọn lửa nhà em sao ấm quá
Cho tôi hóa đá ở bên trời…
Cứ mỗi đông về, tôi lại chợt nhớ người xưa, những giọt nước như muốn đóng thành những giọt băng tuyết cô đơn, chôn chặt mối tình dang dở. Người đến rồi lại ra đi bỏ lại hàng thông giày lặng im buồn sướt mướt. Bài thơ “Mùa đông nhớ người” là những dòng cảm xúc của tác giả khi nhớ về người xưa, những câu nói hay về mùa đông
MÙA ĐÔNG NHỚ NGƯỜI
Từ chia ly, bỏ quên lời hẹn ước
Mùa thu sầu nên cũng vội ra đi
Và mùa đông hình như thêm rét mướt
Đời chợt buồn, rơi rớt giọt sầu biDưới nắng đông tuyết rơi, tan thành nước
Thấm thịt da, lạnh, ướt của mùa đông
Cơn gió luồng ngang, nghe lòng ươn ướt
Lạnh từ ngoài thêm giá buốt bên trongHàng thông già lặng im buồn sướt mướt
Nhìn giọt băng trĩu nặng lá thông gầy
Mùa đông đơn côi, mùa đông đếm bước
Chầm chậm ngang đời, buồn rớt đầy tayMỗi đông về, chuyện xưa như giọt nước
Đọng thành băng bám chặt trái tim côi
Từng ngày buồn, đông qua theo đông trước
Bỏ lại rong rêu, vết tích của đời .
MÙA ĐÔNG ĐANG ĐẾN
Tác giả: Nguyên Hữu
Thấy không em?
Mùa đông đang đến
Mây lặng lẽ
Rũ mình
Chắc ngủ
Nằm im
Trên trời xám âm u…
Vi vu triền đê
Heo may tìm về
Nô lá cỏ
Tắm giọt nắng phơi
Dòng sông ơi
Hiền từ trôi chảy mãi
Đám bèo đời
Buông lời cãi lộn
Thu hay đông?
Lạnh sống dậy rồi
Co ro nhỉ?
Trúc, tre trơ đốt
Chở che ai người…
Em…
Anh choàng tấm chăn vui
Sống đôi
Đông ơi
Ở ngoài đó ngậm ngùi…
Cuộc sống nhộn nhịp tươi vui của con người trong bối cảnh mùa đông bao trùm qua những câu nói hay nhất về mùa đông của tác giả Đỗ Ngọc:
BUỔI CHỢ MÙA ĐÔNG
Tác giả: Đỗ Ngọc
Em trở về sau buổi chợ mùa đông
Những dự định bán mua tan biến
Bỗng thấy mình nhỏ bé hệt con sâu cái kiến
Đời thì vô cùng cái gọi lớn laoBuổi chợ mùa đông từng cơn gió xác xao
Đánh thức giấc ngủ vùi ba trăm sáu nhăm ngày biếng nhác
Trở mình là đã bao điều đổi khác
Cái lạnh mười hai thoáng bối rối gọi mùaBánh xe thời gian lăn qua dấu yêu xưa
Đôi trai gái thầm trao nhau lời nhớ
Đêm khúc khích đánh rơi trên phố
Khẽ tiếng cười nửa lạ – nửa quen !Phiên chợ mùa đông em đã dự bao phen
Lần một lần hai có thể trăm lần nữa
Đôi ba cuộc tình loé lên rồi tắt lửa
Gieo vào đông chớm lạnh nhói lòngEm trở về sau buổi chợ mùa đông
Chật chội tâm tư giờ đã là khoảng trống
Có ai còn nhớ, ngày Noel năm ấy, tiến chuông reo vang, lời thánh ca vang vẳng đâu đây và cả góc phố xưa buồn. Những kỷ niêm đó chợt ùa về, cảnh đó nhưng người xưa đâu? Chẳng còn kẻ đón người đưa, chẳng còn bàn tay ấy, mái tóc mềm, chiếc áo thân thương, … Hãy cùng xemboituong.com cảm nhận những dòng thương nhớ, kỷ niệm, những câu nói hay về mùa đông qua bài thơ “Mùa đông kỷ niệm”
MÙA ĐÔNG KỶ NIỆM
Tác giả: Lưu Vĩnh Hạ
Chừng như lạnh giá hồn tôi
Tiếng chuông còn đó trong lời thánh ca
Đêm huyền thoại của ngày xa
Nghe thời gian có nhớ qua cõi lòngGió khuya lạnh của mùa đông
Đêm No-el nhớ con đường ngày xưa
Sài-Gòn chợt nắng chợt mưa
Mái nhà gió bạt phên thưa phố buồnXoay trong ký ức mùa đông
Nhạt màu áo tím môi hồng người xưa
Bây giờ ai kẻ đón đưa
Tiếng chuông xa đổ lạnh chưa hỡi lòngHoa sầu đông rụng mùa đông
Đẫm sương cái bóng về không cuối ngày
Se lòng lạnh cả bàn tay
Nghe thương nhớ quá bờ vai tóc mềmKéo cao cổ áo mà thèm
Ngày xưa quán vắng về đêm vỉa hè
Bàn tay ai vuốt tóc thề
Bài ca thánh đó chợt nghe thoáng buồnGió se mấy ngọn sầu đông
Chúa trên thánh giá xót thương kiếp người
Tiếng chuông máng cỏ nhẹ rơi
Bài thánh ca đó rót lời nhân gian
Nhớ anh, nhớ mùa đông ấy, nhớ vòng tay, nhớ nụ hôn, nhớ bao kỷ niêm, nhớ cả bầu trời mùa đông tràn ngập yêu thương. Tác giá Miên Thụy đã mang đến cho chúng ta những câu thơ hay nhất về mùa đông, diễn tả tâm trạng nhớ nhung của mình khi mùa đông về.
MÙA ĐÔNG NỖI NHỚ
Tác giả: Miên Thụy
Mùa đông hiu hắt nhớ người
Bài ca ngày đó xa xôi
Em hát lời như tuyết đổ
Mùa đông ngày ấy anh ơiMùa đông làm em nhớ quá
Thèm vòng tay nụ hôn đầy
Nhớ nhau chiều đông tàn tạ
Lời nào cuối nẻo chân mâyTuyết rơi! rơi ngập hồn em
Làm sao anh ơi nhớ quên
Mùa đông ru tình xanh biếc
Mùa đông mùa đông gọi tênNgủ vùi bên tình mùa đông
Như xưa ân ái mặn nồng
Yêu anh yêu anh mùa đông
Tình anh, tình anh mênh môngMùa đông còn đó nỗi buồn
Tuyết rơi trắng cả mười phương
Anh có còn bên em nữa ? !
Để em môi mắt dỗi hờn ….
Em ghét mùa đông, chẳng còn người xưa, chẳng còn hơi ấm, một mùa đông trở nên hoang lạnh, cô đơn hơn bao giờ hết. Trái tim em giờ thêm băng giá rồi chợt mong nhớ bao kỷ niệm chốn xưa. Em ghét mùa đông! Hãy cùng chia sẻ nỗi tâm tư của tác giả Trương Phương Linh qua bài thơ “Tự khúc mùa đông” qua những câu thơ, nhưng câu nói hay nhất về mùa đông các bạn nhé !!!
TỰ KHÚC MÙA ĐÔNG
Tác giả: Trương Phương Linh
Em ghét mùa đông…
Để tình mình băng giá
Cho nhớ nhung lạnh lắm những đoạ đày
Mộng hao gầy chiều tím nhuộm chân mây
Mà tim mãi vấn vương mùa trăng cũEm ghét mùa đông
Khi thu còn chưa đủ…
Thơm ngọt bờ môi…quên vội hẹn thề
Người phương nào nồng ấm giấc phu thê
Đêm trở gió, xót xa từng kỷ niệm…?Em ghét mùa đông…
Giấc mơ nào… Người đành lòng tẩm liệm
Để thời gian mờ xoá tiếng yêu đầu
Vết tình sầu còn đọng lại niềm đau
Cho ngày tháng đời buồn như lá cỏEm ghét mùa đông…
Dẫu SaiGon, vẫn hai mùa…thế đó!
Nắng nồng say, mưa…ẩm ướt những con đường
Có chiếc lá nào…va vướng sợi thương
Vừa rơi xuống…hồn lạc loài tiếc nuối!Niệm khúc riêng…dành cho lần yêu cuối
Tình xa rồi…hoang lạnh một mùa đông.
MÙA ĐÔNG VÀ EM
Tác giả: Kelangdu
Gió ùa về một mùa đông ngập phố
Chút mùa thu xếp lại nơi cúc vàng
Kí ức ấy lăn vào miền xa vắng
Đợi mấy mùa sao bỗng thấy… mênh mangAnh thương lắm mỗi lúc đông sang
Gửi nỗi nhớ bay về miền giá lạnh
Đông góp gió để hồn thêm hiu quạnh
Cho mắt buồn ngơ ngác trước mùa đôngChợt hỏi lòng ta có nhớ người không?
Để trước chiều lạc rơi nỗi nhớ
Cơn gió xô ngang giữ trong nhau hơi thở
Cho riêng anh một nỗi đợi chờThành phố trở mình khoác áo mùa đông
Thoáng rùng mình… Em bây giờ có rét
Căn phòng ấm…giữa mùa đông chết
Đợi em về… đan nắng cho nhau
| ► Cùng xem những tiết lộ thú vị về 12 cung hoàng đạo tình yêu |
![]() |
Trước giờ đón dâu, nhà trai cử một hai người, thường là bà bác, bà cô, bà chị của chú rể đưa một cơi trầu, một be rượu đến xin dâu, báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến, để nhà gái sẵn sàng đón tiếp
Mặc dù hai gia đình đã quy ước với nhau từ trước về ngày giờ và thành phần đưa đón rồi, nhưng để đề phòng mọi sự bất trắc, mọi tin thất thiệt, nên mới định ra lễ này, biểu hiện sự cẩn trọng trong hôn lễ.
Thời gian này chú rể và cha mẹ chú rể rất bận rộn không thể sang nhà gái, nên nhờ người đại diện sang báo trước như bộ phận “Tiền trạm”.
Để trong trường hợp vạn nhất hoặc do thời tiết, hoặc do trở ngại giao thông, gần qua giờ quy ước mà đoàn đón dâu chưa đến, nhà gái biết để chủ động làm lễ gia tiên hoặc phái người sang nhà trai thăm dò.
Trường hợp hai gia đình cách nhau quá xa hoặc quá gần, hai gia đình có thể thoả thuận với nhau miễn bớt lễ này, hoặc nhập lễ xin dâu và đón dâu làm một.
Khi đoàn đón dâu đến ngõ nhà gái, đoàn còn chỉnh đốn tư trang, sắp xếp lại ai đi trước, ai đi sau, trong khi đó một cụ già đi đầu họ cùng với một người đội lễ (một mâm quả trong đựng trầu cau, rượu… ) vào trước, đặt lên bàn thờ, thắp hương vái rồi trở ra dẫn toàn đoàn vào làm lễ chính thức đón dâu.
Lễ này phải tiến hành rất nhanh. Thông thường nhà gái vái chào xong, chủ động xin miễn lễ rồi một vị huynh trưởng cùng ra luôn để đón đoàn nhà trai vào.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
chỉ để ý đến “duy biến” sắc diện khi người đó đang ổn định, khỏe mạnh. Như vậy sắc khí chỉ nặng về tham khảo.

1. Sắc khí bị thường biến (hay thay đổi) nên cho ta nhận định nhất thời mà thôi, như do: Bệnh, thời tiết, sự kiện… ví dụ như bệnh tật. Nó có giá trị cho các thầy thuốc chẳng hạn:
– Da vàng khè, đột nhiên trên hình thể yếu kém là dấu hiệu bệnh gan, sốt rét v.v…
– Da sám đen: nhiễm độc nặng v.v… Về tướng sắc khí, ta không quan tâm đến khía cạnh đó nhiều. Và sau đây là những biểu hiện tướng sắc: hay, dở, thiện, ác, được, mất.
2. Các tướng sắc khí duy biến (thay đổi do mệnh số).
– Tướng sắc khí có hai phần: sắc là màu sắc của da mặt. Trong đó quan tâm đến sắc tổng thể của mặt và của ngũ nhạc, ngũ quan, gò, tiểu khu…
– Khí lại có hai phần nhỏ:
+ Thần khí của mặt tổng thể và thần khí của năm giác quan và năm nhạc.
+ Khí là hơi thở ra của người đó thường xuyên “duy biến” và đột biến (đột ngột).
3. Sắc tương đối ổn định – duy biến gồm:
– Sắc mặt tổng thể:
+ Trắng trẻo tươi nhuận: Tướng phong lưu, thiện tâm.
+ Đen sạm: tâm đức không thiện, mưu mô.
+ Hồng phớt hai lưỡng quyền: Nặng tình cảm luyến ái. sắc này người ta gọi là sắc hoa đào.
+ Sắc nhạt, mặt phình phình: Người dâm loạn, nhẫn tâm, kẻ “tú bà” như cụ Nguyễn Du nói trong truyện Kiều.
+ Mặt đỏ tía: Nghĩa khí dũng cảm.
+ Mặt trắng bệch: Yểu tướng (không thọ).
+ Mặt vàng bóng: Quý, hiền nhân.
+ Mặt xanh ngắt: Yểu tướng, ốm yếu đôi khi là tài nhân.
+ Mặt xanh sạm: Bệnh hoạn, vô lối
Da vàng bình thường là da đặc trưng của người Việt Nam, nó không mang tính khí điển hình và không tham khảo vào tướng lý.
4. Sắc da “thường biến” – thường thay đổi theo nội tạng bị bệnh tật hay do thời khí, do tác nhân kích thích nên không đề cập trong tướng sắc như khi:
– Giận dữ thì sắc mặt hoặc đỏ bừng bừng ở người mệnh Hỏa. Hoặc tái mét ở người mệnh Kim.
– Giận mà nét mặt, sắc mặt không thay đổi là người cực kỳ nguy hiểm, thù dai và hay báo thù.
– Trời nóng thì sắc da hồng hào.
– Trời lạnh thì sắc da nhạt sỉn.
– Uống quá nhiều rượu thì hoặc đỏ gay hoặc tái mét.
– Sợ sệt thì sắc mặt tái sám, tái mét…
Đó là sắc diện bị kích ứng do các loại kích thích không cần quan tâm trong tướng pháp.
5. Trong y học thì Đông, Tây y đều quan tâm sắc khí:
Hải Thượng Lãn Ông viết trong “Đạo y dự vận” rằng:
Con hư thì cướp hai khí của mẹ, cho nên phế hư thì sắc mặt trắng khô, da nhăn lông rụng…” (Phần bàn về y lý – Hải Thượng Lãn Ông).
Người Tây cùng bàn về sắc diện và bệnh lý (Bác sỹ Joself Renald) ông là một bác sỹ gốc Áo (Autralia) là một bác sỹ, đa tài, giỏi về giải phẫu mà còn rất dam mê tướng pháp. Ông có nhiều tác phẩm liên quan và gắn kết cả hai lĩnh vực này. Bệnh lý và tướng pháp (patholofique và Anatolie pathologique et physiognomie et horoscopie) (… malade fait changer la couluer de la figuré…) (đau ốm làm thay đổi sắc da mặt).
6. Khí
Khí: ở đây tướng pháp quan tâm cả thần khí. Duy biến và thường biến, cả hơi thở, khí đột biến và duy biến.
– Thần khí không nên hiểu là “thần thái” sự kết hợp giữa thần khí và thái – phong thái.
7. Thần khí: Người có thần khí tốt thì ung dung, điềm đạm. Người ta hay nói câu: “Mặt thất thần” (mặt như kẻ mất hồn). Và “mắt có thần” nghĩa là nhìn vào đôi mắt: Sáng và sống động ngược với đôi mắt “đờ đẫn” mất “ngơ ngác”, ngái ngủ. Đấy là cái gọi là có thần khí, hay không còn thần khí.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
| ► Cùng đọc: Danh ngôn cuộc sống, những lời hay ý đẹp và suy ngẫm |
![]() |
Làm thế nào để cầu Phật được như tâm nguyện?
Những cách xấu
1/ Tham Lang- Địa kiếp
Đa số các nhà tử vi không khen phụ nữ nào có 2 sao này hay 1 trong 2 sao tọa thủ tại mệnh thân (nhất là mệnh).
Câu phú “Trai bất nhân Phá quân thìn tuất, gái bạc tình Tham Sát dần thân” chỉ chê phụ nữ có Tham, Sát dần thân là bạc tình, nhưng tôi nghiệm thấy còn tệ hơn nữa vì người đó ngoài tính bạc tình còn có tâm địa ích kỉ, tham vọng vô bờ bến về mọi phương diện nhất là về tình và tiền (gặp ai mà ưa là say mê liền hoặc đang yêu mà thấy người đó hết tiền là bỏ luôn).
Về câu phú trên tôi thấy ứng nhiều với sao Tham Lang chứ ít đúng với sao Thất Sát nếu không có sao tăng cường. Thực tế khi mạng cư dần thân có Sát thì cung xung chiếu bao giờ cũng là Tử Phủ là 2 sao trung hậu, gây ảnh hưởng ko ít cho Thất sát, nhất là khi mạng ko có ngũ hành hợp sao này, hơn nữa chính sao Thất sát là sao chủ về khắc khổ, khắc khe, u buồn, ít tình cảm, thì khó thể quyết đoán là đương số bạc tình. Phải chăng là có những tính này nên không yêu đương đằm thắm được, chứ làm gì có lòng dâm tà.
Nhưng khi có Tham Lang thủ mạng, nhất là ở tí ngọ, dần thân, thìn tuất thì khó thể níu kéo cung xung chiếu để chế hóa mạnh mẽ sao này.
Có nhà tử vi đã không lầm khi cho rằng Tham Lang còn tệ hơn Đào, Hồng, Riêu, Mộc vì Tham Lang vừa dâm vừa gian tà ích kỉ trong khi Đào, Hồng, Riêu, Mộc chỉ có đam mê về nhục dục chứ chưa hẳn thiếu tâm hồn cao thượng, vị tha. Nếu chẳng may có Tham Lang thủ mạng lại gặp đủ bộ sao lả lướt trên đây thì thực là quá sức dâm dật hoặc vô luân; những người phụ nữ đó không thể chấp nhận làm người bạn đời được. Riêng Tham Vũ và Liêm Tham thì ít bị ảnh hưởng của Tham Lang vì thuộc về cách khác
Còn sao Địa Kiếp tuy ko chủ về tình ái nhục dục nhưng có đặc tính mạnh mẽ về gian tà, thủ đoạn, tàn nhẫn, bần tiện, ác độc. Chỉ 1 sao này cũng đủ làm cho tâm hồn người phụ nữ xấu xa và cũng đủ làm hỏng gần hết các cách hay khác. Nếu xui có thêm Tham Lang thì người đó hết làm bạn được với ai. Nếu có Đào Hồng Binh Tướng hội chiếu thường hay bị hãm hiếp; hoặc làm gái điếm khi có thêm Riêu, Mộc, Cái, Hỏa, Linh và 1 vài cách bổ túc khác.
Tôi cho rằng thà có Địa Không lâm mệnh thân còn hơn có Địa Kiếp, vì Địa Không thường chủ về vất vả, thất bại, hôn nhân trắc trở chứ ít khi chủ về gian trá, ích kỉ mạnh mẽ như địa kiếp. Mặc dù có câu phú “Không kiếp lâm Tài Phúc chỉ hương sinh lai bần tiện” tôi cho rằng chỉ ứng với Kiếp. Riêng về Không Kiếp đắc địa Tị Hợi thì ko liên quan gì đến cách đoán trên vì cách này cũng là 1 cách tốt cho nam lẫn nữ, nhất là Âm Nam, Dương Nữ (tôi đã bàn kĩ về điểm này trong bài đầu tiên của tôi trên KHHB)
2/ Đào, Hồng, Riêu, Mộc, Cái
Sau sao Tham Lang tôi chê người phụ nữ nào có các sao này, dù họ có cả Tử Phủ, Khôi Việt, Quan Phúc chiếu mệnh chăng nữa. Thực tế các sao đó có năng lực rất mạnh về tình ái, nhục dục cho nên bộ sao đứng đắn khó làm mất hiệu lực của chúng, nhất là khi có cả Không Kiếp, Hỏa Linh, Phục, Tả Hữu thì thuộc về hạng gái làm tiền.
Chỉ có 2 sao Đào Riêu vẫn là loại gái lăng loàn, trắc nết, dễ cắm sừng vào đầu chồng, chẳng thế mà có câu “Đào Riêu số gái ai hay, chồng ra khỏi cửa dắt trai vào”.
Hơn nữa, nguyên sao Đào Hoa hoặc Hồng Loan thủ mệnh cũng bát lợi cho người chồng vì 2 sao này chủ về 2 đời chồng hoặc ít khi sống gần chồng. Tôi ko cho 2 sao này nói về tình ái liên tục mà thực ra là “trăm mối tối nằm không”, như vậy có hay gì cho hạnh phúc vợ chồng. Đấy là chưa kể về vấn đề yểu tướng khi có Không Kiếp giao hội, vì có câu “Đào, Hồng hội Kiếp Không lâm thủ, sá bàn chi những lũ yểu vong”
3/ Vũ khúc, Cô quả, Lộc tồn
Những sao này khi thủ mạng nữ chẳng bao giờ có nghĩa xấu xa, nhưng tôi vẫn ko cho là tốt vì các sao đó chủ về cô đơn, góa bụa, hoặc lạnh lùng, khắc khe, là những yếu tố ko lợi cho hạnh phúc lứa đôi. Nhưng bù lại, người đó có tay làm ra tiền và càng nhiều tiền càng dễ bị sống xa cách chồng. Cách này hay dở tùy thuộc cảm nghĩ hoặc í thích của người chọn vợ, vì có ông chỉ nghĩ đến tiền nên khi vợ làm ra nhiều tiền thì đương nhiên được coi là hay, nhưng có ông chỉ ưa sống gần vợ mà cứ phải nay đây mai đó hoặc phải chia ly xa cách vì hoàn cảnh sự nghiệp thì đương nhiên cách này thành xấu
4/ Phá quân, Đại Tiểu hao
1 phụ nữ không dâm tà độc địa ích kỉ, không lạnh lùng khắc khe cũng chưa đủ làm người vợ tốt: người đó còn cần có tính cẩn thận, tằn tiện, ngăn nắp nữa mới có thể thành người nội trợ giỏi, đảm đang. Như vậy phải tránh Phá quân hội Đại Tiểu hao (trừ khi Đại Tiểu hao cư Mão, Dậu) dù cho Phá quân đắc cách ở tí, ngọ vì các sao này chủ về bừa bãi, ngông cuồng, hoang phí, phóng khoáng ăn chơi, cờ bạc, nghiện ngập. Dù mình là tỉ phú cũng chẳng nên lựa người phụ nữ kiểu này, vì chẳng mấy chốc mà sự nghiệp tan tành vì bị phá của rất mạnh mẽ.
Trên đây là những điều tôi cho rằng tối kị với phụ nữ, vì thực ra còn nhiều cách xấu khác không tai hại lắm và cũng khó thể tránh được. Nhân vô thập toàn mà
Những cách tốt
1/ Tử Phủ Dần Thân
Cách này ít nhà tử vi dám chê và riêng tôi, tôi coi cách này hay nhất đối với phụ nữ. Mỗi khi coi lá số 1 người phụ nữ có cách này là tôi có thiện cảm và kính trọng liền, vì gần như chắc chắn người đó đoan trang, tiết hạnh và thông minh.
Nhất là khi có thêm Hóa Khoa đồng cung hoặc Khôi Việt giao hội thì thực hết chỗ chê. Riêng Hóa Khoa có điềm hay đặc biệt là vừa thông minh lại vừa nhân hậu từ trong lòng đến bề ngoài (như thế là nhân hậu thật sự chứ không phải đạo đức giả). Phải chăng vì thế mà theo cách bố cục các sao, Đào Hoa không bao giờ đồng cung Tử Phủ dần thân, vì đào hoa chủ về đa tình, lãng mạn lẳng lơ. Còn Hồng Loan tuy cũng có khi đồng cung (khi tuổi Sửu Mùi) nhưng không đáng ngại vì Hồng Loan thường chủ về 2 đời chồng hoặc trắc trở hôn nhân chứ ít khi có nghĩa đa tình như Đào Hoa, nhất là khi có Tử Phủ chế hóa nhiều
Có người thắc mắc sao không coi Tử vi cư ngọ là tốt nhất đối với người phụ nữ. Thật ra cách đó chỉ tốt về công danh uy quyền chứ không hẳn tiêu biểu cho nết hạnh phụ nữ. Chẳng thế mà cung Ngọ cũng là 1 trong 4 vị trí của đào hoa, và khi sao này cư Ngọ thì đương nhiên người phụ nữ đó coi tình ái như “pha” nghĩa là họ có thể trở thành bạc tình, dù có Tử Vi đóng ở đó nữa. và có khi chính vì có Tử Vi mà thành ngang tang trong vấn đề tình ái vì Tử vi cư ngọ được coi là “vua” trong các sao thì coi ai ra gì. Tuy nhiên khi có Tử vi mà không có đào hoa thì vẫn cho là tốt về tính tình nhưng nhất định có tính kiêu kì quá đáng, là 1 điều làm phái nam bực mình và thiệt thòi
2/ Tử Sát Tị Hợi
Cách “Tử Sát đồng lâm tị hợi nhất triều phú quí song toàn” là cách tốt thứ 2 đối với phụ nữ, theo ý kiến của riêng tôi. Tuy nhiên, cách này cũng có khía cạnh đáng chê là người phụ nữ đó thường nghiêm nghị quá, thành ra mất vẻ nữ tính, nhất là gặp ông nào nhiều tình cảm thì thực là giảm nhiều khắng khít. Nhưng bù lại người phụ nữ đó rất vượng phu ích tử hoặc có tay làm ra tiền như thế cũng là hay lắm rồi.
Còn những cách liên hệ với tử vi như Tử Tham,Tử Tướng, Tử Phá … tôi không dám cho là tốt được, vì như Tử tham thì cũng tệ như những cách xấu nêu trên, nhất là có thêm đào hoa (mão hoặc dậu), Tử Tướng lại phạm vào câu “Đế tọa La Võng, hoàn vi phi nghĩa chi nhân”, còn Tử Phá tuy khá hơn nhưng hay có tính ngang bướng, bất cần đời mặc dù cũng đứng đắn
3/ Đồng Lương Dần Thân
Cách “Đồng Lương tối hỉ dần thân hội” cũng đáng gọi là hay vì người phụ nữ nào có cách này tính tình nhẹ nhàng, dịu dàng và nhất là có sắc đẹp mĩ miều (nhưng ở đây tôi không bàn về nhan sắc mà chỉ nói về tính tình). Tuy nhiên, cách này vẫn thua kém 2 cách trên về sự đứng đắn, đoan trang và quí phái, vì khi đã dính tới Thiên Đồng là chủ về thay đổi, canh cải, không giữ vững lập trường tức là không thể chung tình tuyệt đối được, nhất là khi Hồng Loan đồng cung.
4/ Vũ Tướng Dần Thân
Cách này hay ở chỗ là người đảm đang, đứng đắn, biết xoay xở quán xuyến, nhưng vì liên hệ tới Vũ Khúc nên tính thích cô đơn, lạnh lùng và quả quyết như đàn ông (do đó cần tránh Cô quả, lộc tồn), còn Thiên Tướng chủ về chỉ huy nên dễ bắt nạt chồng. Nếu ai chịu được những điều trên thì rất nên lựa người bạn đời có Vũ Tướng để khỏi bị gánh nặng gia đình trút hết vào mình, nhất là trong giai đonạ mưu sinh khó khăn hiện nay
5/ Vũ Sát mão dậu
Cách này chỉ hay ở phương diện đứng đắn, đoan trang vì 2 sao này cũng ghét tình ái bậy bạ, nhưng về tình vợ chồng thì vẫn xem trọng mặc dù không lả lướt lắm. vậy ai thích có vợ chỉ lo toan nội trợ hoặc tần tảo bán buôn thì hãy chọn cách này, nhưng cần phải tránh được Lộc tồn đồng cung và cô quả tại “thân” (vì không bao giờ cô quả tại Mão dậu) cư hợi hoặc mùi, để khỏi gặp người khắc chồng trở thành góa bụa
6/ Nhật Nguyệt đắc địa
Cách này có thêm Tả Hữu hoặc Song Lộc là người phụ nữ đảm đam nhất về phương diện kinh doanh lớn, nhưng có điểm kẹt khi gặp đào hồng hay riêu, mộc, cái thường hay thích ăn chơi ngoài xã hội dù vẫn lo chuyện làm ăn, vì Nhật Nguyệt bao giờ cũng chủ về mơ mộng vẩn vơ, có tâm hồn, “là thi sĩ nghĩa là du với gió”
7/ Cơ Lương thìn tuất
Cách này thường hay cho phái nam nhiều hơn nữ, vì rất hợp về mưu trí, kế hoạch, cho nên phụ nữ có cách này thì khôn quá có thể lừa dối, qua mặt chồng dễ dàng. Lẽ tất nhiên nếu không có các sao xấu hội hợp thì chẳng đáng ngại, nhưng lỡ có 1 vài điểm “mờ ám” nào là phải nên dè dặt đối với người bạn đời của mình
8/ Phủ Tướng triều viên
Đây là cách trung bình, nghĩa là chỉ chăm chỉ làm ăn, không có gì xuất sắc mà cũng không có gi đáng chê trách. Thường những người phụ nữ có cách này hay làm công chức, sống cuộc đời nề nếp
Các trung tinh tốt
Cũng cần nhìn vào Các trung tinh như thai tọa, khôi việt, quan phúc, tràng sinh đế vượng quang quí, long phượng, khoa, lộc (tôi không đề cập Hóa Quyền vì sao này không chủ về tính tình tốt của phụ nữ, có sao đó chỉ người kiêu căng, hách dịch, hay bắt nạt chồng) để cho điểm cao thêm vì những sao phụ trên đóng góp khá nhiều vào tính đọa đức, đứng đắn, đảm đang.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh, nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành. Đặc biệt là Tỳ Hưu không có hậu môn, nghĩa là chỉ có “ăn” mà không có “nhả”.
Theo kinh nghiệm hàng ngàn năm của các đại sư phong thủy Trung quốc, Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh, nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành. Đặc biệt là Tỳ Hưu không có hậu môn, nghĩa là chỉ có “ăn” mà không có “nhả”.
– Chất liệu tạo hình con Tỳ Hưu này rất nhiều: làm bằng gỗ, đồng, nhựa thông, bột đá… nhưng có năng lượng phong thuỷ mạnh nhất làm bằng đá ngọc. Về hình dáng Tỳ Hưu hiện đang lưu hành từ trước đến nay, vẫn là loại Tỳ Hưu trên đầu có một cái sừng, có bờm, có một số con có hai cánh, lông đuôi có tua. Tỳ Hưu còn có tên gọi khác là Thiên Lộc.
Tác dụng của Tỳ Hưu trong Phong thủy:
– Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, ta đặt Tỳ Hưu ở các hướng tốt trong nhà như: Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sanh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của ta.
– Tỳ Hưu còn có tác dụng mang lại điều tốt lành: như màu đen đem lại tài lộc, màu đỏ bảo trợ sức khỏe hạnh phúc gia đình, màu xanh đem đến may mắn thuận lợi trong con đường công danh, sự nghiệp.
– Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy, khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ: mang đến những điều bất lợi cho những thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.
– Nếu ở phương vị ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai con Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giải sát khí của ngũ hoàng đại sát.
– Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương.

Hình tượng Tỳ Hưu:
– Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, lại như của hổ báo, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu là giống cực kì hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Tỳ Hưu xa xưa vốn gốc là con gấu được thần kỳ hóa, các tướng võ oai dũng được gọi là Tỳ Hưu.
– Tỳ Hưu không chỉ hút tinh huyết ma quái, mà còn hút vàng bạc, báu vật trong trời đất, bởi thế về sau Tỳ Hưu lại là con linh vật phong thuỷ giữ Tài lộc. Khi đó Tỳ Hưu có các đặc điểm: miệng to, ngực to, mông to, nhưng không có hậu môn (để chỉ hút của cải vào mà không làm mất đi cái gì). Tỳ Hưu từ đời Đường ngực mông càng to nữa.
– Tỳ Hưu nếu có hai sừng thì gọi là Thiên Lộc, thu giữ của cải cho gia chủ, nếu một sừng là giống Tịch Tà, chống lại ma quỷ bảo vệ gia chủ. Nếu có hai con thì con đực gọi là Tỳ, con cái là Hưu.
– Ở Trung Quốc, nổi tiếng nhất là con Tỳ Hưu bằng ngọc trên Đức Thắng Môn tại Bắc Kinh. Theo truyền thuyết, vì con Tỳ Hưu quay miệng ra Sơn Hải quan, nên người Mãn đánh mãi nhà Minh không được. Đến khi người Mãn lập mưu hiểm, xui vua Sùng Trinh quay đầu Tỳ Hưu về nam, thì Sơn Hải quan mới vỡ, nhà Minh mất nước. Nhà Thanh sùng kính con Tỳ Hưu đó, bắt dân gian không ai được giữ Tỳ Hưu.
– Giờ thì ai cũng đều có thể mua Tỳ Hưu dùng đeo tay, đeo nhẫn, đeo cổ hoặc trưng trong nhà, văn phòng. Muốn bày Tỳ Hưu lấy lộc phải để Tỳ Hưu ngoài trời cho hưởng tinh khí thật lâu, khi bày thì miệng quay ra cửa, và gia chủ không bao giờ được để tay vào miệng Tỳ hưu, vì e nó hút hết tài lộc của chính mình; ngược lại, khách nào mà sơ ý để tay vào miệng con Tỳ hưu đó, thì sẽ mất hết lộc.
Lưu ý: thỉnh Tỳ Hưu cho mình là việc rất quan trọng, dáng Tỳ Hưu phải đẹp, sắc xảo, chất liệu phải bằng đá ngọc như đá thạch anh, ngọc bích… thì mới tích trữ tài lộc may mắn một cách đầy đủ trọn vẹn. Những Tỳ Hưu này chỉ có ở những cửa hàng phong thuỷ uy tín, chuyên về trang sức đá riêng biệt.
Xưa nay, kết hôn là một chuyện hệ trọng trong cuộc đời mỗi con người con người. Vợ chồng có được cơm lành canh ngọt hay không, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng việc lựa chọn đối tượng tìm hiểu kết hôn được thực hiện bằng nhiều phương pháp.
Ca dao có câu:
Trai khôn chọn vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.
Người Trung Hoa, chọn đối tượng kết hôn thường nhìn về tướng mạo, đặc biệt là tướng mũi. Vì mũi đối với nữ nhân là phu cung. Mũi thẳng, đầy đặn, không gầy guộc, mũi hếch, lộ, hay mũi gãy, đều không phải là tướng tốt về gia đạo, vợ chồng hình khắc. Mũi của nữ giới thẳng đẹp, đầy đặn và kín, tương xứng thì vượng phu ích tử, cuộc sống hài hòa, hạnh phúc.
Về nam giới mũi là tài tinh. Khi mũi xấu, tức là tài tinh bị hỏng, kinh tế thiếu hụt, tài chính chật vật khó khăn, cuộc sống túng bấn, hoặc trong đời tất có lần phá sản. Như vậy, cũng không phải là đối tượng để chọn mặt gửi vàng mà các cô gái cần hướng tới.
Tuy nhiên, việc nhân duyên nó còn là quá trình yêu thương, tìm hiểu. Hoặc duyên phận với nhau, không thể cưỡng cầu. Việc xem bói tình duyên cũng được dựa trên những cơ sở về họp tuổi, hợp mệnh theo các cánh tính sau đây.
Trên cơ sở xâu chuỗi, khái quái các tài liệu về tuổi phù hợp để kết hôn giữa nam và nữ của người xưa. Tôi sẽ trình bày những phương pháp này và bảng hợp tuổi kết hôn.
Cộng tất cả các chữ số năm sinh lại, đến khi thành một số cuối cùng có giá trị từ 1 đến 9 để xác định quái mệnh hay còn gọi là cung phi mệnh. Ví dụ: Nữ sinh năm 1992. Ta tính như sau 1+ 9+ 9+ 2 = 21. 2 + 1 = 3. Như vậy cung phi của nữ sinh năm 1992 là Đoài.
Ví dụ khác: Nam sinh năm 1987. Ta tính 1+9+8+7= 25. 2+ 5= 7. Cung phi của họ là Tốn
Bảng 1:
| Số THÀNH Cuối cùng |
QUÁI MỆNH |
Số THÀNH Cuối cùng |
QUÁI MỆNH |
||
| NAM |
NỮ |
NAM |
NỮ |
||
| 1 |
KHẢM |
CẤN |
5 |
CÀN |
LY |
| 2 |
LY |
CÀN |
6 |
KHÔN |
KHẢM |
| 3 |
CẤN |
ĐOÀI |
7 |
TỐN |
KHÔN |
| 4 |
ĐOÀI |
CẤN |
8 |
CHẤN |
CHẤN |
|
|
9 |
KHÔN |
TỐN |
||
Sau khi tính được quái mệnh, ta phân tích sự tốt xấu trong hôn phối. Dựa vào bảng thống kê dưới đây. Ví dụ Nam cung phi là Càn, gặp nữ cung phi là Càn thì được phục vị, là tốt, gặp sinh khí, thiên y, phúc đức cũng tốt. Nhưng gặp các trạng thái khác như tuyệt mệnh, ngũ quỷ, họa hại, lục sát thì xấu, sẽ có sự hình khắc, bất hòa, xung đột, nhẹ thì khắc khẩu, nặng thì chia ly.
Tương tự như vậy các trường hợp khác cũng vậy. Dựa vào hai bảng này các bạn có thể tự tính được tuổi phù hợp trong nhân duyên cho riêng mình
Bảng 2
| QUÁI |
CÀN |
ĐOÀI |
LY |
CHẤN |
TỐN |
KHẢM |
CẤN |
KHÔN |
| CÀN |
Phục vị |
Sinh khí |
Tuyệt mệnh |
Ngũ quỷ |
Họa hại |
Lục sát |
Thiên y |
Phúc đức |
| ĐOÀI |
Sinh khí |
Phục vị |
Ngũ quỷ |
Tuyệt mệnh |
Lục sát |
Họa hại |
Phúc đức |
Thiên y |
| LY |
Tuyệt mệnh |
Ngũ quỷ |
Phục vị |
Sinh khí |
Thiên y |
Phúc đức |
Họa hại |
Lục sát |
| CHẤN |
Ngũ quỷ |
Tuyệt mệnh |
Sinh khí |
Phục vị |
Phúc đức |
Thiên y |
Lục sát |
Họa hại |
| TỐN |
Họa hại |
Lục sát |
Thiên y |
Phúc đức |
Phục vị |
Sinh khí |
Tuyệt mệnh |
Ngũ quỷ |
| KHẢM |
Lục sát |
Họa hại |
Phúc đức |
Thiên y |
Sinh khí |
Phục vị |
Ngũ quỷ |
Tuyệt mệnh |
| CẤN |
Thiên y |
Phúc đức |
Họa hại |
Lục sát |
Tuyệt mệnh |
Ngũ quỷ |
Phục vị |
Sinh khí |
| KHÔN |
Phúc đức |
Thiên y |
Lục sát |
Họa hại |
Ngũ quỷ |
Tuyệt mệnh |
Sinh khí |
Phục vị |
Theo sách Dự đoán theo Tứ trụ của Thiệu Vĩ Hoa
| Nam mệnh |
Năm |
Phối hợp với năm sinh của nữ |
| Giáp Tý |
1984 |
Nhâm Thân, Quý Dậu, Đinh Sửu |
| Ất Sửu |
1985 |
Nhâm Thân, Quý Dậu, Bính Tý |
| Bính Dần |
1986 |
Kỷ Tị, Ất Hợi |
| Đinh Mão |
1987 |
Giáp Tuất, Ất Hợi |
| Mậu Thìn |
1988 |
Canh Ngọ, Quý Dậu |
| Kỷ Tị |
1989 |
Tân Mùi, Giáp Tuất |
| Canh Ngọ |
1990 |
Mậu Dần, Kỷ Mão |
| Tân Mùi |
1991 |
Nhâm Thân, Quý Dậu, Nhâm Ngọ |
| Nhâm Thân |
1992 |
Giáp Tuất, Đinh Sửu |
| Quý Dậu |
1993 |
Ất Hợi, Canh Thìn, Tân Tị |
| Giáp Tuất |
1994 |
Kỷ Mão, Nhâm Ngọ |
| Ất Hợi |
1995 |
Mậu Dần, Canh Dần |
| Bính Tý |
1996 |
Giáp Thân, Ất Dậu |
| Đinh Sửu |
1997 |
Giáp Thân, Ất Dậu |
| Mậu Dần |
1998 |
Đinh Hợi |
| Kỷ Mão |
1999 |
Tân Tị, Bính Tuất, Đinh Hợi |
| Canh Thìn |
2000 |
Kỷ Dậu, Nhâm Ngọ |
| Tân Tị |
1941 |
Quý Mùi, Bính Tuất |
| Nhâm Ngọ |
1942 |
Canh Dần, Tân Mão |
| Quý Mùi |
1943 |
Giáp Thân, Ất Dậu, Giáp Ngọ |
| Giáp Thân |
1944 |
Bính Tuất, Kỷ Sửu |
| Ất Dậu |
1945 |
Nhâm Thìn, Quý Tị |
| Bính Tuất |
1946 |
Tân Mão, Giáp Ngọ |
| Đinh Hợi |
1947 |
Mậu Tý |
| Mậu Tý |
1948 |
Canh Dần, Bính Thân, Đinh Dậu |
| Kỷ Sửu |
1949 |
Bính Thân, Đinh Dậu |
| Canh Dần |
1950 |
Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Bính Ngọ |
| Tân Mão |
1951 |
Mậu Tuất, Kỷ Hợi |
| Nhâm Thìn |
1952 |
Đinh Dậu, Ất Tị |
| Quý Tị |
1953 |
Mậu Tuất, Tân Sửu, Giáp Thìn |
| Giáp Ngọ |
1954 |
Nhâm Dần, Quí Mão |
| Ất Mùi |
1955 |
Bính Thân, Đinh Dậu, Bính Ngọ |
| Bính Thân |
1956 |
Tân Sửu, Giáp Thìn |
| Đinh Dậu |
1957 |
Giáp Thìn, Ất Tị |
| Mậu Tuất |
1958 |
Quý Mão, Bính Ngọ |
| Kỷ Hợi |
1959 |
Giáp Dần |
| Canh Tý |
1960 |
Nhâm Dần, Mậu Thân, Kỷ Dậu |
| Tân Sửu |
1961 |
Mậu Thân, Kỷ Dậu |
| Nhâm Dần |
1962 |
Tân Hợi |
| Quý Mão |
1963 |
Canh Tuất, Tân Hợi |
| Giáp Thìn |
1964 |
Bính Ngọ, Kỷ Dậu |
| Ất Tỵ |
1965 |
Đinh Mùi, Canh Tuất, Quý Sửu |
| Bính Ngọ |
1966 |
Giáp Dần, Ất Mão, Kỷ Mùi |
| Đinh Mùi |
1967 |
Mậu Thân, Kỷ Dậu, Mậu Ngọ |
| Mậu Thân |
1968 |
Canh Tuất, Kỷ Dậu, Bính Thìn |
| Kỷ Dậu |
1969 |
Bính Thìn, Đinh Tị |
| Canh Tuất |
1970 |
Ất Mão, Mậu Ngọ |
| Tân Hợi |
1971 |
Bính Dần |
| Nhâm Tý |
1972 |
Giáp Dần, Canh Thân, Tân Dậu |
| Quý Sửu |
1973 |
Canh Thân, Tân Dậu, Giáp Tý |
| Giáp Dần |
1974 |
Quý Hợi |
| Ất Mão |
1975 |
Đinh Tỵ, Nhâm Tuất, Quý Hợi |
| Bính Thìn |
1976 |
Mậu Ngọ, Tân Dậu |
| Đinh Tị |
1977 |
Kỷ Mùi, Ất Sửu, Mậu Thìn |
| Mậu Ngọ |
1978 |
Bính Dần, Đinh Mão, Tân Mùi |
| Kỷ Mùi |
1979 |
Canh Thân, Tân Dậu, Canh Ngọ |
| Canh Thân |
1980 |
Nhâm Tuất, Ất Sửu, Mậu Thìn |
| Tân Dậu |
1981 |
Mậu Thìn, Kỷ Tị |
| Nhâm Tuất |
1982 |
Đinh Mão, Canh Ngọ |
| Quý Hợi |
1983 |
Mậu Dần |
Ca dao: Thuận vợ thuận chồng/ Tát biển Đông cũng cạn. Người bạn đời của bạn có phải là người cùng bạn đi suốt cuộc đời, sắt cầm hòa hợp, gia đạo ấm êm, sự nghiệp thịnh vượng, bách niên giai lão, con cháu quý hiển, hỷ khí ngập tràn, ra ngoài vui vẻ, về nhà hài lòng hay không? Điều đó phụ thuộc vào sự sáng suốt của chính bạn.
| ► Lịch ngày tốt tổng hợp mọi thông tin về 12 con giáp, xem bói tử vi bạn nên xem |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Xem thêm: Phong thủy nhà ở chuẩn giúp phát tài phát lộc, tránh tai ương |
![]() |
![]() |
Hoa sen
Ngũ hành: Bức tranh này đại diện cho hành Thủy, rất phù hợp với những người mạng Mộc hoặc Thủy, đem lại sự may mắn trong sự nghiệpÝ nghĩa: Trong Phong Thủy, hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao, thoát tục, giúp con người gỡ bỏ mọi ưu phiền, để tĩnh tâm, an hưởng hạnh phúc.


Sen là loài hoa biểu trưng cho sự hoàn hảo cuối cùng. Sự tinh khiết của sen không thể bị vấy bẩn bởi bùn xung quanh, nơi nó từ đó sinh ra. Tất cả các thành phần của sen đều hữu dụng, từ thân sen, ngó sen, hạt sen… đối với sức khoẻ con người. Sử dụng sen có tác dụng điều hoà khí vượng, tăng cường những nguồn năng lượng về sức khoẻ cho ngôi nhà.