Là chiến sĩ, cuộc sống gắn liền với hình ảnh chiến đấu, gian nan vất vả. Nhưng với những người không phải là chiến sĩ mà bất chợt trong giấc mơ lại nằm mơ thấy
cảnh chiến đấu, thì đây là điềm báo những mâu thuẫn, những xung đột đang giằng xé tâm trí bạn.
► Tham khảo thêm: Giải mã giấc mơ thấy cá, mơ thấy máu
Ảnh minh họa
Nếu trong giấc mơ, bạn thấy mình là chiến sĩ trực tiếp đối mặt với kẻ thù với bao hiểm nguy rình rập, điều này biểu thị rằng bạn đang có những xáo trộn trong tâm hồn. Ngoài ra đây cũng có thể là bạn đang có một cuộc chiến trong tâm lý, bạn đang cố gắng "chiến đấu" để tìm ra lối đi đúng đắn, phù hợp với mình nhất.Còn thấy những người khác đang chiến đấu kiên cường, dũng cảm trong giấc mơ thì nó ám chỉ bạn đang phải miễn cưỡng chấp nhận những rắc rối từ cuộc sống. Tuy nhiên, có thể bạn lại không phải gánh vác trách nhiệm nào về những vụ việc phức tạp này.Trong bất kỳ cuộc chiến nào, tinh thần quả cảm dám xả thân vì nghĩa lớn cũng được tôn vinh. Tuy nhiên nếu mơ thấy điều này lại biểu thị rằng bạn không thể lý giải được những mâu thuẫn, xung đột đang giằng xé tâm trí mình. Cách tốt nhất để giải tỏa những rắc rối này là bạn hãy thay đổi quan niệm, thói quen cùng những quan điểm không phù hợp. Hãy khắc phục những nhược điểm này để vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn đang chờ đón bạn ở phía trước.
Theo Bí ẩn điềm chiêm bao Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Quỳnh Mai (##)
Đa phần những người cầm tinh con Hổ đều mắc tật hiếu thắng, vô cùng coi trọng sự nghiệp đồng thời luôn khát khao thành công mãnh liệt. Ngoài ra, con giáp này có sức hút lớn, năng lực lại xuất chúng nên dễ được mọi người giao phó trọng trách.
Tuy nhiên thói ham chơi lại là lực cản lớn với thành công của người tuổi Dần. Một khi có tiền và quyền lực trong tay, họ dễ đánh mất bản thân, tiêu xài hoang phí và rất dễ trắng tay. Cộng thêm tính tình bướng bỉnh, ngoan cố nên khó có thể gắn bó với ai lâu dài, thậm chí mọi người còn cảm thấy không thể chịu nổi tính cách đó của họ. Thế mới nói, dù người tuổi Dần gặt hái được không ít thành công nhưng số lại lận đận, vất vả, xây rồi phá, phá rồi lại bắt đầu xây lại.
2. Tuổi Ngọ
Có câu “Mã đáo thành công”, nếu quan sát xung quanh một cách kỹ càng, bạn có thể nhận thấy những người tuổi Ngọ thành công trong sự nghiệp chiếm tỷ lệ lớn. Con giáp này nói được sẽ làm được, xử lý các mối quan hệ xã giao có phần quá thẳng thắn, không chút kiêng nể, năng lực làm việc rất tốt.
Tuy nhiên, đa số người cầm tinh con Ngựa lại đưa ra những yêu cầu quá cao về chuyện tình cảm, thậm chí cho rằng không có ai xứng đáng với mình. Dù họ thành đạt trong sự nghiệp nhưng lại khó thỏa mãn nhu cầu về tình cảm, luôn cảm thấy đơn độc và phải di chuyển liên tục để tìm kiếm sự yên lành, thanh thản nơi sâu thẳm tâm hồn. Như vậy nói người tuổi Ngọ số khổ cũng không ngoa bạn nhỉ!
3. Tuổi Sửu
Người tuổi Sửu có cách nghĩ truyền thống và thiết thực. Họ có khát khao lớn về thành công trong sự nghiệp, luôn phấn đấu bất kể thời gian, sức khỏe để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Tuy nhiên, sau mỗi thành công ấy, họ lại tự đánh mất cơ hội có được hạnh phúc trong tình yêu. Đôi khi họ cảm thấy mất phương hướng trong cuộc sống, không biết mình đang theo đuổi điều gì, tự dây buộc mình vào những lo toan tình cảm. Ngoài ra, yêu cầu “chọn gấu” của người cầm tinh con Trâu cũng cao ngất ngưởng, khổ não trong chuyện yêu đương là điều tất nhiên rồi.
4. Tuổi Thân
Trong suy nghĩ thường trực của người tuổi Thân, cuộc sống tự do, không hôn nhân gò bó luôn là mục tiêu theo đuổi hàng đầu. Dù học hành giỏi giang, thi cử đỗ đạt và thăng quan tiến chức trong sự nghiệp vù vù nhưng chuyện tình cảm, hôn nhân của họ lại không đi tới đâu. Đúng là ông trời không cho ai tất cả, người tuổi Thân cũng chỉ có thể thỏa mãn về công danh sự nghiệp thôi, chứ trong chuyện tình duyên cũng nhiều trắc trở và khổ não lắm.
Tìm hiểu về đặc tính của sao Thiên Hình trong Tử Vi
Tên sao
Âm dương - ngũ hành
Hóa
Chủ
Bị khảo
Thiên hình
Dương hỏa
Cô độc và hình khắc
Tổn thương, kiện tụng, cô độc
Nhập miếu chủ về có tài cán, quyền uy, nắm giữ binh quyền
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên Hình là dương hỏa, hóa khí là cô khắc, chủ về hình thương, kiện tụng, cô độc. Sao Thiên Hình nhập miếu sẽ trở thành thần Thiên Hỷ, có tài cán quyền uy, chưởng quản binh quyền; nếu gặp sao Thái Dương chủ về nghiệp võ quý hiển. Gặp cát tinh Văn Xương, Văn Khúc, chủ về nắm quyền giữ biên cương.
Sao Thiên Hình chủ cung thân, cung mệnh, chủ về bề ngoài hùng dũng, uy vũ bất khuất, độc lập tự chủ, có tài cán, nhưng cá tính kiêu ngạo, cô độc khó gần gũi, có quan niệm và cách phán đoán giá trị thi phi khác người, không có duyên với người thân, thích đoán mệnh hoặc tự nghiên cứu bệnh lý, có duyên với tôn giáo. Chỉ khi nào nhập miếu tại bốn cung Dần, Mão, Dậu, Tuất mà gặp cát tinh mới chủ về cát lợi, nắm quyền lực lớn. Ở sáu cung Thân, Tí, Thìn, Tị, Ngọ, Hợi là bình hòa; ở hai cung Sửu, Mùi là lạc hãm, nếu trong hai hạn mà gặp phải thì chủ về xuất gia, kiện tụng, mất mát tiền của, cần đặc biệt đề phòng hỏa hoạn, tai họa bất ngờ.
Sao Thiên Hình nhập cung mệnh, phần nhiều có thể nỗ lực, tích cực, biết nắm bắt trọng điểm, thiện ác phân minh, tuân thủ pháp luật, bộc lộ sắc xảo. Cần chú ý tới ngôn ngữ, hành vi của bản thân để tránh bị người khác hiểu lầm.
Sao Thiên Hình còn là sao nợ nần, nếu nhập các cung Mệnh, Thân, Tài, Quan thường có hiện tượng tiền của quay vòng, đến rồi lại đi.
Sao Thiên Hình nhập miếu ưa được gặp sao Thái Dương, ngoài ra còn thích các sao Tử Vi, Thiên Tướng, Thiên Lương, Tham Lang, Cự Môn, nếu theo các ngành nghề pháp luật, y khoa, quân đội, cảnh sát, tôn giáo thì có thể thành tựu. Sao Thiên Hình thích nhất là gặp sao Văn Xương, Văn Khúc tại cung vượng, có thể phát cả nghiệp văn lẫn võ, hoặc trở thành quan tòa, thầy thuốc nổi tiếng. Nếu đồng cung với sao Kình Dương, lại gặp sát tinh, Hóa Kị, khó tránh khỏi tai họa tổn thương.
Theo phong thủy, vị trí đặt két sắt là vô cùng quan trọng trong đường tài lộc của bạn, vì vậy hãy đặt sao cho đúng chỗ. Theo quan niệm phong thủy, tủ tiền (két sắt) có nguồn năng lượng lớn, là trung tâm tài lộc quyết định sự sống còn cho gia chủ nên
Theo phong thủy, vị trí đặt két sắt là vô cùng quan trọng trong đường tài lộc của bạn, vì vậy hãy đặt sao cho đúng chỗ.
Theo quan niệm phong thủy, tủ tiền (két sắt) có nguồn năng lượng lớn, là trung tâm tài lộc quyết định sự sống còn cho gia chủ nên vị trí đặt két sắt đúng phong thủy là điều rất quan trọng.
Xét theo phương vị, có nhiều ý kiến cho rằng két sắt đặt ở hướng Đông Nam, hướng Tây là rất tốt vì hai hướng này là hai phương hướng mạnh nhất cho tài vượng.
Tuy nhiên, nếu xét về chiều sâu thì nên để về hướng Sinh Khí của từng tuổi của gia chủ là tốt nhất. Vì theo trạch mệnh của mỗi người cũng đã quyết định một cách rõ ràng không thể sai lệch được, nó là yếu tố quyết định theo Bát trạch, trạch mệnh từng con người. Nếu hướng Sinh khí của gia chủ đồng thời thuộc về Đông tứ trạch hoặc Tây tứ trạch thì quá tuyệt vời.
Ví dụ: tuổi nam 1985 hướng Sinh khí là hướng Tây, không những hợp hướng nhà mà còn hợp hướng để két sắt. Hoặc nam tuổi 1972 trạch Khảm mà ở hướng Đông Nam thì không còn gì để mà bàn luận thêm. Để chắc chắn hơn, gia chủ có thể mời thầy phong thủy để xác định được vị trí tốt nhất trong ngôi nhà để đặt két sắt.
Thêm một gợi ý là gia chủ nên đặt thêm 1 con Tỳ Hưu hoặc Thiềm Thừ và 2 đồng tiền hoa mai trên và trong két tiền sẽ mang lại tiền tài bất ngờ.
Tỳ hưu
Theo kinh nghiệm hàng ngàn năm của các đại sư phong thủy Trung quốc, Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh, nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành. Theo truyền thuyết thì Tỳ Hưu là 1 loài thú có sừng, có bờm uốn cong rất dài nên còn có tên gọi là “hươu trời”. Hai cái sừng của nó có tác dụng trừ tà, về sau nó có xu hướng phát triển thành con thú một sừng. Người ta nói rằng Tỳ hưu có tác dụng hút tài lộc bốn phương về cho gia chủ. Tỳ Hưu khi đặt lên két sắt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính,hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương.
Thiềm Thừ
Tương truyền rằng, Thiềm Thừ vốn là yêu tinh xấu, được Lưu Hải Tiên Ông thu phục, cải tà quy chính, tỏa đi muôn ngả giúp đỡ người nghèo khổ bằng cách nhả tiền cho họ. Thiềm Thừ xuất hiện vào đêm trăng tròn ở gần nhà ai, thì đó là sự báo tin gia chủ nhà ấy sẽ nhận được sự giàu có, phú quý. Vì vậy, Thiềm Thừ được người đời tôn xưng là con vật quý, biểu tượng cho vượng tài. Khi để Thiềm Thừ trên nóc két sắt, bạn cần chú ý hướng phần đầu của Thiềm Thừ vào trong nhà, cũng không nên đặt đối diện với cửa mà nên đặt hướng theo đường chéo cửa ra vào.
Đồng tiền hoa mai
Đồng tiền có năm cánh, giống bông hoa mai. Có tác dụng rất lớn trong con đường công danh, sự nghiệp góp phần làm thăng quan tiến chức và hóa giải kẻ tiểu nhân.
Con giáp nào có số vượng phu nhất ? - Tử vi - Xem Tử Vi
Con giáp nào có số vượng phu nhất ?, Tử vi, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Con giáp nào có số vượng phu nhất ?, tu vi Con giáp nào có số vượng phu nhất ?, tu vi Tử vi
Trong 12 con giáp, nữ giới tuổi Hợi được sao phú quý chiếu mạng, cả đời không cần lo về tiền bạc. Hơn nữa nữ tuổi Hợi hiểu chuyện, sống vị tha, bao dung, không quá kì kèo chi ly trong mọi chuyện nên rất được lòng gia đình nhà chồng. Thêm vào đó, họ rất khéo léo xử lý việc nhà, biết giữ gìn quan hệ hòa thuận giữa mọi người, nhất là chuyện mẹ chồng nàng dâu luôn luôn êm thấm, nhờ đó mà người chồng không phải lo lắng về gia đình nữa mà sẽ yên tâm lo lắng xây dựng sự nghiệp của mình.
Á quân: Tuổi Thân
Thông minh, nhẫn nại lại chăm chỉ và có đầu óc tính toán, những người vợ tuổi Thân rất biết cách giúp sức cho chồng xây dựng cơ nghiệp. Có lòng tin vào khả năng của bản thân, nhiều bạn bè giúp đỡ, họ có thể góp sức ít nhiều giải quyết những khó khăn trong công việc của chồng. Hoặc nếu không, người phụ nữ tuổi Thân biết thấu hiểu lòng người cũng có thể ở bên cổ vũ an ủi người đàn ông của mình cho dù bằng lời nói hay sự im lặng rất dễ chịu. Những người vợ tuổi Thân luôn luôn được bạn bè của chồng khen ngợi về sự khéo léo, tài năng, khiến chồng được tự hào hãnh diện.
Thứ ba: Tuổi Dậu
Người phụ nữ tuổi Dậu thường có năng lực quan sát và thể hiện bản thân rất tốt, biết chú ý đến những chi tiết nhỏ nhặt, lại rất ôn hòa và hiền dịu. Từ những tính cách đó thấy được khả năng làm việc của họ không hề tồi, đối nội cũng như đối ngoại đều có thể xử lý được suôn sẻ nhịp nhàng. Mọi chuyện họ đều để ý đầy đủ đến tình lý, lại biết cách ăn nói nhẹ nhàng đi vào lòng người. Nên đương nhiên những ý kiến góp ý của con giáp này đưa ra có thể giúp ích cho chồng khá nhiều. Đặc biệt nếu người chồng tuổi Sửu, Ngọ hay Tỵ, họ sẽ là cặp đôi vô cùng phát đạt.
Thứ tư: Tuổi Sửu
Người phụ nữ tuổi Sửu lúc nào cũng chăm chỉ, cần mẫn, ở nhà hay công sở đều vậy. Ở nhà họ chăm lo vun vén, quan tâm tới từng miếng ăn giấc ngủ cho chồng con. “Mẫu tính” ở người tuổi Sửu đặc biệt nhiều, họ thích thú khi được chăm sóc và lo lắng cho người khác.
Hơn thế với tinh thần tiết kiệm, chắt chiu, họ sẵn sàng hi sinh bản thân để gia đình có được cuộc sống tốt hơn. Hiền lành chân chất, người vợ tuổi Sửu cũng không bao giờ phàn nàn khi sự nghiệp của chồng gặp trắc trở, mà vẫn sẽ nhẫn nại kiên trì ủng hộ bằng cách chăm sóc thật tốt cho cả gia đình, kiếm thêm vài việc làm thêm để tăng thêm thu nhập. Còn cần gì hơn một người vợ như vậy nữa.
1. Thiên Đức 2. Nguyệt Đức 3. Thiên Quý 4. Ngũ Phú 5. Tam Hợp 6. Hoàng Ân 7. Giải Thần 8. Thiên Đức Hợp 9. Nguyệt Đức Hợp 10. Yếu Yên 11. Dịch Mã 12. Lục Hợp 13. Thiên Ân 14. Thiên Xá (chỉ khi gặp trực Khai) 15. Nguyệt Ân 16. Thiên Thụy
Tranh Phú Quý
Các sao bị giảm mức độ tốt
1. Thiên Xá kỵ động thổ, xấu với xấy dựng và an táng 2. Thiên Mã tốt với xuất hành giao dịch, cầu tài lộc nhưng xấu với động thổ, an táng vì trùng ngày với Bạch Hổ hắc đạo 3. Minh Tinh giảm mức tốt vì trùng ngày với Thiên Lao hắc đạo 4. Hoạt Diệu nếu gặp Thụ Tử thì trở nên xấu 5. Thiên Giải chỉ tốt với tế tự, cầu phúc, giải hạn
Một ngày thời tiết mát mẻ thế này, một ly đồ uống có cồn dành cho 12 chòm sao sẽ giúp bạn thư giãn và cảm thấy yêu đời hơn rất nhiều đấy.
► Xem thêm: Bí mật 12 cung hoàng đạo cùng những tin tức Horoscope được cập nhật mới nhất
Bạch Dương Bạch Dương thích những thức uống mới mẻ và manly như Jack Daniels và Coke hay Scotch, Hãy thưởng thức chúng khi còn hơi ấm với một chút mật ong nhé. Kim Ngưu Chỉ cần một ly bia, như Beck hay Heineken, đã làm hài lòng vị giác của Kim Ngưu ngay cả vào những đêm mùa đông lạnh. Song TửCác loại cocktail mới hợp thời, hay đồ uống có tên khác thường chính là đồ uống có cồn dành cho Song Tử trong một ngày mát mẻ. Có lẽ Absinthe hay martini vải thiều là lựa chọn thích hợp. Cự Giải Cự Giải thích hương vị cổ điển nên thử một ly rum bơ nóng, cay. Sư TửMuốn đồ uống được thực hiện với rượu thương hiệu cao cấp nên Grand Marnier, Amaretto và mật ong sẽ là một ly đồ uống có cồn dành cho Sư Tử. Xử Nữ Xử Nữ có hương vị rất sáng suốt, vì vậy các loại rượu vang đặc sản và các loại bia ủ trở thành niềm cảm hứng trong một ngày se lạnh của họ. Thiên BìnhThiên Bình thích tận hưởng sự sang trọng của rượu sâm banh trong khung cảnh lãng mạn và kết hợp với vị ngọt của trái cây, như trong mimosa cổ điển. Thiên YếtThiên Yết yêu thích bầu không khí của quán bar - ánh sáng lờ mờ, một ly bourbon, scotch, rượu vang và rượu rum sẽ rất tuyệt. Nhân MãNhân Mã thích sự mạnh mẽ của whisky. Không cần cầu kì hay mix thêm những thứ khác, chỉ một mình nó là đủ. Ma Kết Ma Kết như cocktail cổ điển. Gin tonic và martini tiêu chuẩn, điều tuyệt vời từ những thứ giản đơn. Bảo Bình Hương vị của Bảo Bình có xu hướng kỳ quặc, bao gồm shooters kamikaze hoặc thức uống thời thượng như pomtini. Song Ngư Sự phức tạp của cognac đặc biệt hấp dẫn, vậy tại sao Song Ngư không thử một ly Alhambra Royale – sự kết hợp của cognac, chocolate nóng và kem đánh. Trần Hồng (Theo Huffingtonpost)
Quẻ Quan Âm thứ 58 dựa trên điển cố Văn Vương vấn bốc ý nói việc đã được định sẵn, hãy giữ nguyên hiện trạng mà chờ đợi thời cơ thích hợp, chớ cưỡng cầu
Đây là quẻ Quan Âm thứ 58 được xây dựng trên điển cố: Văn Vương vấn bốc – hay Chu Văn Vương xem quẻ.
Đây là quẻ trung bình, thuộc cung Sửu. Ý quẻ nói mọi việc mong cầu nên giữ nguyên hiện trạng mà chờ đợi thời cơ thích hợp. Việc dừng được thì nên dừng, nếu đã có được điều yên ổn thì nên ở yên đó. Chớ nên cố gắng cưỡng cầu những thứ bên ngoài mà hối tiếc.
Thử quái thủ cựu đãi thời chi tượng dã. Phàm sự thủ cữu tắc cát.
Điển cố quẻ Quan Âm: Văn Vương vấn bốc
Chu Văn Vương họ Cơ tên Xương, ông từ nhỏ đã thông minh, được cha rất thương yêu. Năm bốn mươi bảy tuổi, cha Chu Văn Vương bị Trụ Vương giết hại, ông được kế thừa địa vị hầu bá, xưng là Tây Bá hoặc Tây Bá Hầu Cơ Xương.
Tây Bá Hầu, Cửu Hầu và Ngạc Hầu là những đại thần đức cao vọng trọng dưới thời vua Trụ Vương nhà Ân.
Cửu Hầu có người con gái dung mạo rất xinh đẹp, bị Trụ Vương cướp vào cung. Con gái của cửu Hầu không bằng lòng với lối sống hoang dâm sa đọa của Trụ Vương, khiến Trụ Vương tức giận, giết chết con gái của Cửu Hầu, Cửu Hầu cũng bị giết rồi lấy thịt làm thành tương. Ngạc Hầu biện minh cho Cửu Hầu, cũng bị nướng thành thịt khô. Tây Bá Hầu hay tin Trụ Vương tàn bạo đến vậy, thì rất lo lắng cho vận nước, thương xót cho những người bạn cũ.
Khi Trụ Vương truyền chỉ triệu kiến Tây Bá hầu Cơ Xương, do Cơ Xương giỏi việc xem quẻ tiên thiên, nên đoán biết được rằng chắc chắn mình sẽ bị giam cầm bảy năm, bèn nghiêm khắc lệnh cho người con trưửng phải tuân theo phương pháp của tố tiên để cai trị vùng đất Tây Kỳ, nhất thiết không được rời khỏi Tây Kỳ đi đến nơi khác.
Quả như Tây Bá Hầu dự liệu, do Sùng Hầu Hố gièm pha với Trụ Vương, nên Trụ Vương đã triệu Tây Bá Hầu từ Tây Kỳ đến, đem giam cầm ở Dữu Lý. Về sau, con trai Tây Bá Hầu vì quá lo lắng nên đã trái lời cha, rời khỏi quê hương Tây Kỳ, đến Dữu Lý để cứu cha, nên bị giết chết.
Theo ghi chép trong “Tả truyện”, Chu Văn Vương bị giam ở Dữu Lý trong suốt bảy năm. Trong thời gian bị giam cầm, ông đã chịu đựng rất nhiều nỗi thống khổ và thử thách giữa sự sống và cái chết. Để cắt đứt quan hệ của Vãn Vương với thế giới bên ngoài, Trụ Vương không chỉ bố trí quân đội dày đặc ở Dữu Lý, mà còn đặt vô số trạm kiểm soát trên tuyến đường đến Dữu Lý.
Văn Vương ở trong tù, ban ngày không thấy ánh mặt trời, ban đêm không nhìn thấy mặt trăng, trải qua những tháng ngày tăm tối. Có người nói rằng Tây Bá Hầu là thánh nhân, có thể biết được quá khứ, dự đoán tương lai. Để kiểm chứng xem Tây Bá Hầu có thực sự là vị thánh nhân như vậy hay không, Trụ Vương đã đem con trưởng của Văn Vương là Bá Ấp Khảo nấu thành bát canh thịt viên, rồi đưa cho Văn Vương ăn. Để đánh lừa Trụ Vương, Văn Vương đành phải dằn lòng nuốt bát canh thịt viên đó.
Nhưng dù phải nếm trải những thử thách gian khổ như vậy, Văn Vương vẫn giữ tấm lòng bao dung, luôn kiên cường không ngừng nghỉ, ông đã tổng kết tinh hoa về Bát quái của hai đời Hạ, Thương, diễn dịch Bát quái của Phục Hy thành sáu mươi tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào, mỗi quẻ đều có lời quẻ, mỗi hào đều có lời hào, làm thành Chu Dịch.
Quẻ là một loạt các ký hiệu tượng trưng cho các hiện tượng tự nhiên và sự biến đổi của thế sự nhân gian. Quẻ được tổ hợp bằng các hào dương (—) và hào âm (- -), mỗi quẻ do ba hào tạo thành, từ đó mà tạo thành Bát quái (tám quẻ). Sự phát minh và tổ hợp nên các ký hiệu này tương truyền là do họ Phục Hy sáng tạo nên, cho nên mới gọi là “Bát quái Phục Hy”.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Vết bớt có ý nghĩa như thế nào đến cuộc đời bạn? |
Nhiều bạn tò mò và muốn biết vớt bớt trên người mình liệu nó có ý nghĩa gì? tốt hay xấu? Vết bớt có ý nghĩa như thế nào đến cuộc đời bạn? Chúng và vận mệnh của chúng ta có liên quan gì với nhau không? Thật ra, vết bớt trên cơ thể mỗi người đều tồn tạ
Chỉ mặt 3 chòm sao nam vô tình, tình cũ chưa tan tình mới đã đến
3 chòm sao nam vô tình dưới đây chưa dứt tình cũ đã vương tình mới, thay người yêu như thay áo, khiến người khác phản cảm. Nên tránh xa những chòm sao này.
Chuyện tình cảm đến rồi đi, hợp rồi tan là điều không ai có thể nói trước được. Chia tay rồi, một khoảng thời gian sau mới có thể nguôi ngoai, khép lại quá khứ. Nhưng 3 chòm sao nam vô tình dưới đây thì lại khác, chưa dứt tình cũ đã vương tình mới, thay người yêu như thay áo, khiến người khác phản cảm.
► Cùng bói tình yêu theo cung hoàng đạo để biết hai bạn có hợp nhau không
Nhân Mã
Chòm sao nam đào hoa nhất nhì vòng tròn hoàng đạo này có thái độ tùy ý với ái tình. Họ cảm thấy bắt đầu một đoạn tình cảm đều là người tình ta nguyện, cả hai cùng trưởng thành rồi nên không ai cần chịu trách nhiệm với ai cả. Chuyện tình cảm với Nhân Mã nam tựa như một trò chơi, màn này kết thúc thì tiếp màn khác, kiên trì theo nguyên tắc “ai đến cũng không cự tuyệt, người đi thì không đuổi theo”. Tự do tự tại, thích gì làm nấy, không biết chòm sao nam vô tình này đã làm tổn thương bao nhiêu người.
Xử Nữ
Đa sầu đa cảm, Xử Nữ nam ở thời điểm chia tay ly biệt sẽ rất thương tâm, rất đau khổ. Nhưng với con người ưa thích sự hoàn hảo, Xử Nữkhông cho phép bản thân mê muội quá lâu, họ tự nhắc nhở chính mình phải tỉnh lại, dù có thất tình cũng không đến nỗi cả thế giới sụp đổ. Chính vì vậy mà chỉ sau một thời gian ngắn, chàng trai Xử Nữ sẽ dùng tư tưởng khích lệ nhất, lạc quan nhất để động viên mình, vì quên chuyện cũ mà ngay lập tức tìm tình mới lấp đầy khoảng trống. Thế nên nhiều người cho rằng, Xử Nữ là chòm sao nam vô tình, người cũ chưa nguôi người mới đã tới.
Ma Kết
Chòm sao nam vô tình quả xứng với Ma Kết vì họ quá lý trí, quá kiên định, quá lạnh lùng, quá thực tế. Khi chuyện tình cảm phát sinh vấn đề, Ma Kết lập tức đã có tính toán cho bản thân, cố ý kéo dài, dùng dằng một thời gian để trong lòng âm thầm chuẩn bị tinh thần chia tay thật tốt. Đến khi thực sự đường ai nấy đi thì Ma Kết đã chữa lành tổn thương, không còn cảm giác lưu luyến gì nữa rồi. Thậm chí, có thể trong lúc quên đi người cũ họ đã có mục tiêu mới nên vừa chính thức chia tay mối tình trước là có thể hoan hỉ tiến vào mối tình sau ngay lập tức.3 cao thủ sát gái của vòng tròn hoàng đạo4 chàng trai hoàng đạo dễ lòi đuôi ngoại tình4 chòm sao nam yêu thì ngoan như cún, giận thì dữ như hổTrần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần) dùng sau lễ Nhập trạch, dọn về nhà mới, gia chủ phải làm lễ Tân Gia, thường được tổ chức long trọng
Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần) dùng sau lễ Nhập trạch. Theo tục xưa sau lễ Nhập trạch dọn về nhà mới, gia chủ phải làm lễ Tân Gia. Lễ Tân Gia thường được tổ chức Long trọng.
Sắm lễ cúng Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần)
Trước tiên dâng lễ: Hương, hoa, vàng mã, trầu, rượu và mâm cỗ mặn thịnh soạn để cúng Táo quân, Thổ thần, Gia Tiên.
Tiếp đó mời: bạn bè, họ hàng, người thân, hàng xóm đến dự lễ Tân Gia- ăn mừng nhà mới. Những người được mời thường mang lễ vật đến như: các bức đại tự, câu đối, trầu cau, quà kỷ niệm… và nói lời chúc mừng gia chủ.
Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần)
– Văn khấn yết cáo Táo quân Thổ thần Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Hôm nay là ngày…. tháng………. năm ……….. Tại thôn……. xã…… huyện…….. tỉnh……….. Tín chủ con là ………. Thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên truởc án toạ Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Kính cẩn tâu rằng: Ngài giữ ngôi nam thái Trừ tai cứu hoạ, bảo vệ dân lành Nay bản gia hoàn tất công trình Chọn ngày lành gia đình nhóm lửa Nhân lễ khánh hạ, kính cẩn tâu trình: Cầu xin gia đình, an ninh khang thái Làm ăn tấn tới, tài lộc dồi dào Cửa rộng nhà cao, trong êm ngoài ấm Vợ chồng hoà thuận, con cháu sum vầy Cúi nhờ ân đức cao dày Đoái thương phù trì bảo hộ. Chúng con lễ bạc têm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ bảo trì
Ông cha từ xưa đã có câu : “Hồng diện âm thủy; trường mi hạ tố mao; triết yêu âm huyệt hạ; trường túc bất chi lao” để mô tả ngoại hình của người phụ nữ có nhu cầu cao trong tình dục. Cùng bắt đầu với vế đầu tiên tức : Hồng diện âm thủy. Ở đây hiểu th
Yêu nhau thì phải “chịu”, mà muốn chịu được thì cần có cái để “đựng”. Chịu rồi mà không có cái đựng, trước sau gì tình yêu ấy cũng biến mất, quan trọng là mỗi người đựng nó như thế nào. Nghe lời Phật dạy về tình yêu để có thể duy trì hạnh phúc lâu bền theo thời gian.
1. Đức Phật cho ta 4 túi để đựng tình yêu
Lời Phật dạy về tình yêu, đã xác định yêu là phải “chịu”, mà muốn chịu được thì cần có cái mà “đựng”. Chịu rồi mà không có cái đựng, sớm muộn gì tình yêu ấy cũng biến mất. Vậy việc mỗi người đựng nó thế nào vô cùng quan trọng. Nhưng bằng cách nào đây?Đức Phật cho chúng ta 4 túi để đựng tình yêu, đó chính là “từ, bi, hỷ, xả”. Cũng chính tinh thần từ, bi, hỷ, xả là một trong 5 lý do khiến Phật Giáo trở thành tôn giáo phổ biến. Ở đây, chúng ta sẽ mạn bàn về túi đựng tình yêu thứ nhất, đó là “từ”.
Theo quan điểm Phật giáo, “từ” là sự hiến tặng tình yêu cho người mình yêu mà không cần phải suy nghĩ gì cả. Từ bi là "vũ khí" vạn năng, mạnh mẽ gấp nhiều lần đao kiếm.Chắc hẳn mọi người đã từng nghe thấy những lời nói như: "người không yêu ta, không hết lòng với ta, người không tận tụy với ta". Nhưng đã bao giờ các bạn nghe người ta nói "ta yêu người hết mình, ta sẵn sàng cho tình yêu của ta" hay không?Vì thế, cái cách con người ta yêu nhau đó là người ta chỉ nghĩ mình được yêu bao nhiêu chứ không phải là yêu như thế nào. Đó là cách nhìn nhận về tình yêu rất sai lầm.Yêu thương không phải là sự đòi hỏi, hưởng thụ, mà nó là sự hiến tặng. Khi bạn yêu thương ai đó thực sự, bạn phải làm cho người đó hạnh phúc mỗi ngày, đó mới là tình yêu đích thực. Khi bạn khiến người ta hạnh phúc, bạn cũng sẽ hạnh phúc muôn phần. Cho nên mới có câu: “Bàn tay tặng hoa hồng tự nó thơm trước".
2. Yêu nhau chứ không phải giam cầm hay bỏ tù nhau
Không ít người trong chúng ta từng có cách nghĩ, tình yêu chính là sự sở hữu. Khi yêu, các cặp đôi thường giả định “anh là của em, em là của anh” và thậm chí có cả những ca từ của bài hát nói rằng “chúng ta là của nhau, chúng ta thuộc về nhau”…Vậy là đã rõ, khi yêu ai đó, bạn tìm cách để chiếm hữu người ta, thậm chí có những người đánh đồng tình yêu và sự chiếm hữu đến mức độ nếu như có ai đó yêu mình mà không có sở hữu mình thì hình như là người ta không yêu mình.Và rồi người ta tự nguyện bỏ tù nhau, bằng cách nào? “Anh đã ăn cơm chưa, đang làm gì đấy”, “em đi đâu đấy, đang ở cạnh ai, khi nào về”… Tức là người ta bỏ tù nhau trong từng lời nói, hành động, và suy nghĩ.
Bạn có biết cách người ta yêu một con chim không? Khi bạn yêu một con chim, có phải bạn sẽ nhốt nó vào lồng, cho nó thật nhiều gạo thóc và nước uống không?Câu trả lời dứt khoát là “Không”. Khi yêu một con chim, bạn phải thả nó bay về với bầu trời tự do, đó mới gọi là một tình yêu không có vị kỷ.Cho nên, như Hòa thượng Thích Nhất Hạnh có nói một câu rất hay: “Tình yêu của bạn phải làm cho người bạn yêu cảm thấy tự do”.Nếu bạn yêu ai đó mà bạn không làm cho người đó cảm thấy tự do, tức là bạn đang bỏ tù người ta rồi đó. Bạn bỏ từ người ta, mà lại nói rằng yêu người ta, thì đó là một nhận định sai lầm.Các bạn đã bao giờ vẽ hình trái tim chưa? Và khi hình trái tim quay ngược trở lại, thì nó có hình mũi tên. Cũng vậy, khi mà con tim của bạn nó đảo lộn, nó mất sự thăng bằng, thì dấu hiệu của sự thương đau cũng có mặt.Cho nên, khi bạn yêu mà bạn để trái tim bạn đảo lộn thì chắc chắn bạn sẽ bị khổ đau trong tình yêu, đó là một điều chắc chắn. Nên khi bạn phát hiện trái tim bạn có dấu hiệu mất thăng bằng, bạn phải tìm cách để mà giữ cho nó được yên ổn.
Xem thêm: Suy ngẫm 6 điều Phật dạy về tình yêu thương trên đờiGhi chú: Bài viết tham khảo tài liệu trong buổi tọa đàm của Đại Đức Thích Tâm Nguyên trong một khóa tu thành dành cho người trẻ. T.H Lời Phật dạy về cuộc sống: Đừng coi thường ai cảLời Phật dạy cho người nóng tính, nhớ để chớ phạm sai lầmLời Phật dạy về tình yêu nhất định phải khắc cốt ghi tâm Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Mỹ Ngân (##)
Hiện nay có rất nhiều người đã biết tới tầm quan trọng của phong thủy và bắt đầu thử nghiệm trong nhà hoặc nơi làm việc của mình, mong muốn đón cát tránh hung.
1. Xác định hướng nhà
Xác định phương hướng theo phong thủy ứng dụng nhiều nhất trong xác định hướng nhà bao gồm nhà ở, công ty, văn phòng, nhà xưởng,… Cách thức tiến hành như sau: đứng ở cửa chính của kiến trúc, mặt hướng ra bên ngoài dùng la bàn phong thủy phán đoán hướng. Thông thường, những hướng cơ bản của một ngôi nhà là: tọa Nam hướng Bắc, tọa Tây Nam hướng Đông Bắc, tọa Tây hướng Đông, tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Tọa Bắc hướng Nam, tọa Đông Bắc hướng Tây Nam. Tọa Đông hướng Tây, tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.Mỗi hướng nhà đại diện cho một quẻ trong bát quái: tọa Nam hướng Bắc là Cấn trạch, tọa Tây Nam hướng Đông Bắc là Khôn trạch, tọa Tây hướng Đông là Đoài trạch, tọa Tây Bắc hướng Đông Nam là Càn trạch, tọa Bắc hướng Nam là Khảm trạch, tọa Đông Bắc hướng Tây Nam là Cấn trạch, tọa Đông hướng Tây là Chấn trạch, tọa Đông Nam hướng Tây Bắc là Tốn trạch. Trong tám quẻ bát quái Càn là lão phụ (cha), Khôn là lão mẫu (mẹ), Cấn là thiếu nam (con trai út), Đoài là thiếu nữ (con gái út), Chấn là trưởng nam (con trai cả), Tốn là trưởng nữ (con gái cả), Khảm là trung nam (con trai thứ), Ly là trung nữ (con gái thứ). Chấn, Tốn, Khảm, Ly là đông tứ trạch hợp với người Đông tứ mệnh. Càn, Khôn, Cấn, Đoài là Tây tứ trạch hợp với người Tây tứ mệnh. Xem thêm bài viết Hướng dẫn người ít kinh nghiệm xác định hướng nhà, tâm nhà
2. Xác định phương vị nhà
Sau khi biết hướng nhà, cần phải xét thêm phương vị để cụ thể hóa các vị trí trong nhà, tiện bề sắp xếp bố trí phong thủy. Đây là cơ sở cần thiết để bày trí nhà ở hợp phong thủy, tránh lỗi, tránh sai.Cách xác định phương vị như sau: đứng thẳng giữa nhà, dùng la bàn xác định các góc Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc – 8 phương vị cơ bản cộng với trung tâm nhà là chín vị trí. Khi áp các vị trí lên mặt phẳng thành hình vẽ thì người xưa gọi là “cửu cung đồ”. Căn cứ vào trạch hướng nhà và các phương vị trong nhà có thể tiến hành bài trí phong thủy, tìm ra vị trí cát hung, phương vị may mắn, phương vị hung hiểm để có những cách thức khai vận, đón cát tránh hung cho phù hợp. Ví dụ, muốn tăng cường vận Thiên Tài thì nên bày thực vật xanh ở phương vị chính Đông.
3. Trạch nhà tứ cát, tứ hung
Bất cứ ngôi nhà nào cũng bao hàm tứ cát và tứ hung, tức là bốn vị trí cát và bốn vị trí hung. Nên hiểu hàm nghĩa có các trạch nhà này để áp dụng cho đúng. Tứ trạch cát: Sinh khí: vượng đinh vượng tài, có thanh danh địa vị.Thiên y: kéo dài tuổi thọ, dẫn đường quý nhân, tất cả đều hanh thông thuận lợi. Diên niên: gia đình hoàn hợp, không khí đầm ấm, có anh em bạn bè giúp đỡ.Phục vị: tất cả bình lặng không sóng gió, không có miệng lưỡi thị phi, tiểu nhân phải thoái lui. Tứ trạch hung:Tuyệt mệnh: có họa huyết quang, động dao kéo phẫu thuật hoặc vị thương do đao kiếm, gặp kẻ trộm cướp, tâm tình hết sức chấn động. Họa hại: miệng lưỡi thị phi, liên quan tới tòa án, bị người khác bán đứng không có lòng cầu tiến, thân thể không khỏe mạnh.Ngũ quỷ: xảy ra bất trắc, có họa thị phi, trúng tà, tai bay vạ gió, thoái tài.Lục sát: gia đình bất an, miệng lưỡi thị phi, ngoài giá thú chuyện, bệnh tật tới người.Căn cứ vào hướng nhà đối chiếu với tứ cát tứ hung để xác định độ tốt xấu. Nguyên tắc xác định phương hướng trong phong thủy như sau:Sinh khí: hướng Đông Nam, Nam, Bắc, Đông, Đông, Bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam.Diên niên: hướng Nam, Đông Nam, Đông, Bắc, Tây Bắc, Tây, Nam, Đông Bắc, Tây.Thiên y: Đông Bắc, Nam, Đông Nam, Tây, Đông, Bắc, Tây Nam, Tây Bắc.Phục vị: hướng Bắc, Đông, Đông Nam, Nam, Tây Nam, Tây Bắc, Tây, Đông Bắc.Tuyệt mệnh: hướng Tây Nam, Tây, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc, Nam, Đông, Đông Nam.Ngũ Quỷ: hướng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Tây, Đông Nam, Đông, Nam, BắcHọa hại: hướng Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông Nam, Bắc, Nam.Lục sát: hướng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây, Tây Nam, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông.Phán đoán phương hướng nhất định phải chuẩn xác, đây là yêu cầu cơ bản nhất trong bố cục phong thủy, nếu phạm sai lầm thì mọi nỗ lực bày trí đều uổng phí.
4. 24 sơn hướng
Phong thủy bát trạch mỗi phương quản 45 độ. Nhưng thực tế cho thấy do những yếu tố tương tác khác nhau, mà không thể có nhà nào chính hướng và có những sai lệch. Sự sai lệch này cũng có những tương tác khác nhau trong cùng một phương. Bởi vậy ngoại trừ 8 phương vị ở trên, trong gia cư phong thủy còn dùng nhập nhị địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) và tám thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm Quý), bốn quẻ (Càn, Khôn, Cấn, Tốn) để biểu thị phương hướng. Như vậy toàn bộ phương vị 360 độ chia thành 24 sơn hướng.24 sơn hướng phối hợp cùng bát quái, mỗi quẻ cai quản 3 sơn hướng. Phương Đông quẻ Chấn cai quản Giáp Mão Ất, phương Nam quẻ Ly cai quản Bính Ngọ Đinh, phương Tây quẻ Đoài cai quản Canh Dậu Tân, phương Bắc quẻ Khảm cai quản Nhâm Tý Quý, Đông Nam quẻ Tốn cai quản Thìn Tốn Tị, Tây Nam quẻ Khôn cai quản Mùi Khôn Thân, Tây Bắc quẻ Càn cai quản Tuất Hợi Càn, Đông Bắc quẻ Cấn cai quản Sửu Cấn Dần. Xem thêm bài viết Ý nghĩa phong thủy của các cặp sơn - hướng
5. Phương vị cửu tinh
Phương vị xác định bằng 9 sao: Nhất Bạch Thủy Tinh, Nhị Hắc Thổ Tinh, Tam Bích Mộc Tinh, Tứ Lục, Ngũ Hoàng Thổ tinh, Lục Bạch Kim Tinh, Thất Xích Hỏa Tinh, Bát Bạch Thổ Tinh. Trong đó Bắc 45 độ là phạm vi Nhất Bạch, Đông Bắc 45 độ là phạm vi Bát Bạch, Đông 45 độ là phạm vi Tam Bích, Đông Nam 45 độ là phạm vi Tứ Lục, Nam 45 độ là phạm vi Cửu Tinh, Tây Nam 45 độ là phạm vi Nhị Hắc, Tây 45 độ là phạm vi Thất Xích, Tây Bắc 45 độ là phạm vi Lục Bạch. Ngũ Hoàng ở vị trí trung tâm. Hướng bếp nên hướng về Nhất Bạch - hành Thuỷ là thuỷ hoả ký tế; Tam Bích, Bát Bạch - hành Mộc sinh Hỏa; Nhị Hắc, Ngũ Hoàng - Nhị Hắc là bệnh phù, Ngũ Hoàng là đại sát nên kỵ.Vị trí tốt dành cho phòng khách là bố trí ở trung tâm ngôi nhà, khu vực có sơn tinh sinh khí xa, ví dụ như vận 8 là sơn tinh Nhất Bạch, vận 7 là sơn tinh Cửu Tử, vận sáu là Bát Bạch… Xem thêm bài viết Mách bạn cách làm nhà vượng sơn - vượng hướng Phối hợp Bát quái, Cửu cung ( Cửu tinh ) với hướng nhà được các trạch hướng như sau:Phối hợp: Càn với Đoài, Khảm với Tốn, Cấn với Khôn, Chấn với Ly (Nghĩa là người mệnh Càn ở nhà hướng Đoài, người mệnh Khảm ở nhà hướng Tốn…) được Sinh khí thuộc sao Nhất Bạch Mộc tinh.Phối hợp: Càn với Chấn, khảm với Cấn, Ly với Đoài, Khôn với tốn phạm Ngũ Quỷ thuộc sao Ngũ Hoàng Hỏa tinh.Phối hợp: Càn với Khôn, Khảm với Ly, Cấn với Đoài, Chấn với Tốn được Phúc Đức thuộc sao Lục Bạch Kim tinh.Phối hợp: Càn với Khảm, Cấn với Chấn, Tốn với Đoài, Ly với Khôn phạm Lục Sát thuộc sao Tứ Lục Thủy tinh.Phối hợp: Càn với Tốn, Khảm với Đoài,Cấn với Ly, Chấn với Khôn, phạm Họa Hại thuộc sao Tam Bích Thổ tinh.Phối hợp: Càn với Ly, Khảm với Khôn, Cấn với Tốn, Chấn với Đoài Phạm Tuyệt Mạng thuộc sao Thất Xích Kim tinh.Phối hợp: Càn với Cấn, Khảm với Chấn, Tốn với Ly, Khôn với Đoài được Thiên Y thuộc sao Nhị Hắc Thổ tinh.Phối hợp Càn với Càn, Khảm với Khảm, Cấn với Cấn, Chấn với Chấn, Đoài với đoài được Phục Vị thuộc sao Cửu Tử Thủy tinh.Phong thủy nhà ở thịnh suy liên quan tới thập nhị chi, cửu tinh, thập can, trong đó thập nhị chi và sức khỏe có quan hệ sâu sắc nhất. Tiếp đến là cửu tinh có ý nghĩa quan trọng nhất đối với vận trình. Nguyên tắc xác định phương hướng theo phong thủy rất cần thiết, hãy nắm vững để ứng dụng thật tốt. Những điều không thể không biết để chọn hướng nhà hợp phong thủyMua nhà phải biết: Nhà hướng Tây Bắc có tốt không?Xem phong thủy nhà bếp, chọn hướng đại cát đại lợiTrần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Thư (##)
1.Tướng khắc hại: Phía dưới mắt không có thịt, quầng mắt thâm
Người có hình tướng như sau: Xương hầu lồi, mũi cong gãy, sống mũi xuất hiện đứt gãy, răng lộ ra, đuôi mắt khô lệch, xương má cao, ánh mắt giống như hoa đào, miệng giống như thổi lửa, môi giống như con tằm nằm, vành tai lật ngược, dưới mắt xuất hiện nốt ruồi đen thì người đó sắp rơi vào họa hại do hình khắc .
2. Khắc thê thiếp: Xương gò má cao, lông mày có nốt ruồi
Nếu như xương má cao thì người đó khắc vợ.
Nếu bộ vị Sơn căn trên sống mũi xuất hiện đường vân ngang thì người đó khắc ba đời vợ.
Nếu như bộ vị Ngư vỹ khô lõm xuống thì người đó khắc vợ cả.
Nếu lại lộ răng thì người đó khắc vợ hại con.
Nếu như mắt bên trái nhỏ thì người đó hại đến vợ con.
Nếu góc bên dưới của mắt bên phải có màu đen thì người đó sống xa vợ con.
Nếu người có hình tướng sau: Tóc dày xương to, có nếp nhăn dài ở đuôi mắt, bộ vị Ngư vỹ khô héo, sống mũi có nốt ruồi, có vết bớt, đều chủ về nhiều thê thiếp.
3. Khắc con cái: Nhân trung cao, tiếng nói như tiếng sói tru
Người mà Nhân trung xiên lệch sẽ khắc con trai.
Người mà vành tai không rõ ràng có thể sẽ gặp tai họa.
Người mà sống mũi gãy sẽ khắc con gái.
Các bộ vị Thái âm, Trung âm, Tiểu âm, Thái dương, Trung dương, Tiểu dương, Tam âm, Tam dương có vết sẹo, nốt ruồi hay đường vân, đó không phải là tướng tốt.
Khi đi đầu nghiêng thấp, bước chậm, tiếng nói giống như tiếng chó sói tru, tiếng hổ gầm, những người như thế thường cuộc sống sẽ không được thuận lợi.
Học phong thủy | Dịch Mã chỉ là một phụ tinh nhưng lại đóng những vai trò khá quan trọng trong một lá số. Có thể nói từ lá số của một bậc quân vương, một danh tướng, một thương gia, hay một người bình dân mà đến thời điểm nào đó trong cuộc đời tạo dựng được những công danh sự nghiệp cho mình thì hầu như lá số của họ không thể không có sự góp phần của Thiên Mã. Lý do thật đơn giản vì Thiên Mã là biểu tượng của tài năng. Bởi vậy, một lá số mà cung Mệnh và cung Thân có Thiên Mã tọa thủ gọi là cách Dịch Mã.
Người ta thường cho rằng Thiên Mã thuộc hành Hỏa và trong 12 cung của lá số Thiên Mã chỉ đóng ở 4 cung là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, và chỉ đắc địa ở hai cung Dần và Tỵ mà thôi. Trong khoa Tử Vi, Thiên Mã là biểu tượng của chân tay, hoặc phương tiện di chuyển như xe cộ, tàu bay, tàu hỏa…
Đặc tính chủ yếu của người Dịch Mã là tính năng động, tháo vác, đảm đang, quán xuyến, thích di chuyển, thích tranh cãi, hay thay cũ đổi mới…Vởi những đặc tính ấy cho nên Thiên Mã không chỉ ảnh hưởng ở hai cung Mệnh và Thân mà nó còn tác động mạnh mẽ vào các cung chính như Quan Lộc, Thiên Di…là những lãnh vực của công danh và sự nghiệp.
Tuy nhiên khi nói đến mẫu người Dịch Mã, chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa của chữ “dịch” là xê dịch, chuyển đổi, di chuyển, biến động… do đó cũng có người cho rằng hành của Thiên Mã thay đổi theo hành của cung mà Thiên Mã tọa thủ. Có nghĩa là, khi Mã tọa thủ ở Dần (hành Mộc) thì Mã ứng với người mạng Mộc và Hỏa. Ở cung Tỵ thì Mã ứng cho người mạng Hỏa và Thổ. Khi ở cung Thân thì Thiên Mã ứng với người mạng Kim và Thủy…v.v. Nhu vậy, khi hành của Thiên Mã ứng hợp với hành của Mệnh thì đương số là người có tài năng và có hoàn cảnh cơ hội để thi thố hết tài năng của mình. Còn ngược lại thì tuy có tài, có nghị lực nhưng cuộc đời lại không được những vận hội may mắn, không được đời biết đến khiến cho tài năng phải bị mai một như một kẻ sinh bất phùng thời.
Người có Mệnh an ở hai cung Dần Thân có Tử Phủ và Thiên Mã tọa thủ đồng cung gọi là cách Phù Dư Mã, là ngựa kéo xe cho Vua chỉ những người có tài năng, giữ những chức vụ cố vấn, phụ tá cho các cấp chỉ huy của một đơn vị quân đội, hay giám đốc của một cơ sở hành chánh, thương mại…Hoặc cũng có thể là những người không giữ một chức vụ gì chính thức nhưng ra đời thường được kề cận với những người có quyền thế trong xã hội.
Người có Thiên Mã thủ Mệnh và có Nhật Nguyệt đồng cung hay hợp chiếu là cách Thư Hùng Mã. Một đôi ngựa tốt, chỉ người văn võ song toàn, nhưng cách này thường phát về văn nghiệp hơn là võ nghiệp. Đây là mẫu người có kiến thức sâu rộng, có trình độ học vấn, có năng khiếu về các ngành như ngoại giao, chính trị, văn học và nghệ thuật. Nếu đã đi vào những lãnh vực vừa nêu trên thì mẫu người Thư Hùng Mã này sẽ đạt được những công danh sự nghiệp một cách dễ dàng, và có người có thể thành công trên cả hai lĩnh vực cùng một lúc. Chẳng hạn họ có thể là một nghệ sĩ nổi danh lại vừa giàu có nhờ làm thương mại. Người Thư Hùng Mã có khả năng song thủ hỗ bác tương tự như người có Thân cư trong tam hợp Phúc, Di, và Phu Thê.
Người có Thiên Mã gặp Lộc Tồn đồng cung là cách Chiết Tiễn, có nghĩa là bẻ roi đánh ngựa, giục ngựa lên đường, chỉ người có tài. Khởi sự làm gì cũng được may mắn thuận lợi. Nếu Thiên Mã ở Mệnh có Lộc Tồn ở Thiên Di xung chiếu thì đây là cách Lộc Mã Giao Trì, ngựa ăn cỏ trên cách đồng xanh, là người được vận hội may mắn, được thừa hưởng những công lao thành qủa của người khác làm. Và theo ý nghĩa của Lộc Tồn là lộc trời cho, nên cả hai cách vừa nêu trên cũng chỉ những người trở nên giàu có nhờ trúng số, hoặc được thừa hưởng tài sản của ông bà, cha mẹ để lại. Người có Lộc Mã mưu sự chuyện gì hãy nên mạnh dạn vì thường được may mắn.
Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh là Chiến Mã, ngựa xuất trận. Cách này chỉ người có tài năng là thường là phát về võ nghiệp nếu gặp một lá số tốt. Đây là số của những quân nhân được thăng cấp rất nhanh chóng. Tuy nhiên cách Chiến Mã này tiềm tàng những tai họa về chân tay như thương tật hay tàn khuyết nếu không có những cách hóa giải. Nếu đủ bộ Mã Hỏa Linh thì có thể tay chân bị tê bại từ nhỏ, hoặc bị bại liệt do các chứng bệnh khác đưa đến như bị tai biến mạch máu não, tiểu đường .v.v…
Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Thiên Khốc, Điếu Khách là cách Mã Khốc Khách, có nghĩa là ngựa đeo lục lạc vàng, chỉ những người có tài năng, có danh tiếng trong một lãnh vực nào đó. Hạn gặp Mã Khốc Khách thì vận hội may mắn đã đến, là thời điểm mà danh tiếng của mình được người đời biết đến. Đối với một lá số trung bình thì đương số cũng gặp được những cơ hội may mắn như được cấp trên giao phó công việc và được tín nhiệm hay thăng thưởng do khả năng và những thành qủa tốt đẹp của mình.
Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Phi Liêm đồng cung hay xung chiếu gọi là cách Phi Mã, là ngựa có cánh bay như trong truyện thần thoại của Hy Lạp, ý nghĩa cũng tương tự như Mã Khốc Khách, chỉ người có tài năng và được nhiều may mắn, làm việc gì cũng thành chông dễ dàng và nhanh chóng. Hạn gặp Phi Mã là có sự thay đổi, hoặc di chuyển. Nếu khởi sự một điều gì trong hạn này thì chớ có ngần ngại vi Phi Mã đáo hạn là thời cơ đã đến. Người có cách Phi Mã thường thích hợp với những công việc đi đây đi đó, cuộc đời là những chuyến hành trình không dứt.
Thiên Mã thủ Mệnh gặp Thiên Hình đồng cung là cách Phù Thi Mã, là ngựa kéo xe tang. Người có cách này suốt đời cực khổ, làm việc gì cũng khó khăn trắc trở, thành ít bại nhiều, và thường gặp toàn những chuyện xui xẻo, đau thương, buồn khổ, tang tóc triền miên. Hạn gặp Mã Hình thì phải hết sức thận trọng trong mọi việc, vì những gì sẽ đến trong thời gian này chỉ là những chuyện buồn hoặc ngoài sự mong đợi của mình.
Thiên Mã thủ Mệnh gặp Đà La đồng cung gọi là Mã Đà hay Chiết Túc Mã. Có ý nghĩa là ngựa què, chỉ những người không được may mắn, hay gặp khó khăn trắc trở. Cuộc đời nhìn chung toàn là những lao đao lận đận. Cùng là một việc, người khác làm thì thuận lợi may mắn, mình làm thì khó khăn, trở ngại. Bởi vậy trên phương diện dùng người, thì giao một công việc cần có kết qủa sớm, hay một kế hoạch quan trọng cho người có số Mã Đà hay đang trong vận Mã Đà thì đây là một quyết định từ sai lầm đến mạo hiểm của người có trách nhiệm.
Thiên Mã thủ Mệnh gặp Tuyệt đồng cung, gọi là Mã Tuyệt hay Cùng Đồ Mã. Có nghĩa là ngựa chạy đến đường cùng, chỉ người làm việc thường thất bại, cuộc đời thường lâm vào cảnh bế tắc. Tương tự nếu Mã thủ Mệnh gặp tuần triệt, gọi là Tử Mã, nghĩa là ngựa chết, ngựa vô dụng, ý nghĩa và tai họa còn nặng hơn Cùng Đồ Mã.
Thiên Mã là một trong những lưu tinh (sao lưu) khi xem hạn. Có nghĩa l2 vị trí của Thiên Mã sẽ thay đổi theo mỗi năm và gọi là Lưu Thiên Mã. Đó cũng là ý nghĩa thứ ba của chữ “Dịch” khi gọi Thiên Mã là Dịch Mã.
Khi xem hạn, nếu thấy Thiên Mã và Lưu Thiên Mã đồng cung, xung chiếu hay hợp chiếu thì những điều sau đây sẽ xảy đến trong vận hạn: mua xe, đổi xe, đổi chổ ở, đổi việc làm, đi du lịch v.v…Có thể chỉ xảy ra một sự việc mà thôi. Ví dụ: nếu đã đổi chổ ở thì sẽ không thay đổi việc làm, đi xa v.v… Nhưng cũng rất có thể xảy ra hai sự việc cùng một lúc. Những gì thay đổi trong vận hạn ít nhiều tùy theo vị trí của Thiên Mã và Lưu Thiên Mã đồng cung hay xung chiếu. Mức độ tốt xấu của sự việc còn tùy thuộc vào những sao chi phối trong hạn đó. Có thể là bị mất việc (không tốt) phải tìm việc khác. Cũng có thể vì được thăng chức nên phải giữ công việc khác (tốt).
Tóm lại, khi nói đến Thiên Mã điều quan trọng mà chúng ta phải cân nhắc là hành của Thiên Mã và hành của bản Mệnh. Nếu cả hai cùng hành, hoặc hành của Mã sinh cho hành của bản Mệnh thì Mã này mới là Mã của mình. Ngược lại nếu không đồng hành thì Mã này chỉ là cái bóng mà thôi.
Trên thực tế chúng ta thấy hai lá số đều có Thiên Mã thủ Mệnh nhưng khả năng và sự may mắn của hai người hoàn toàn khác nhau rất nhiều. Người có Thiên Mã không hợp với bản Mệnh thì cũng là người có tài năng nhưng tánh tình rụt rè, nhút nhát, thiếu lòng tin, và không có ý chí phấn đấu để nắm lấy cơ hội, cho nên cuối cùng dễ trở thành bất đắc chí.
Với một lá số trung bình trở lên, người Dịch Mã là người đa tài. Họ có nhiều năng khiếu nổi bật và có thể thành công trên nhiều lãnh vực khác nhau. Họ là những người năng động, thích sự đổi thay và những chuyến hành trình như những bông hoa tô thắm cho cuộc đời của họ. Về khía cạnh này, cá tính của người Dịch Mã có phần nào giống như mẫu người Thân Cư Thiên Di mà chúng ta đã đề cập trước đây.
Bảy cửa ải sau khi chết con người phải trải để đầu thai kiếp khác
Tùy vào nghiệp của chúng sinh mà sau chúng ta vượt qua từng cửa ải sau khi chết theo những cách hoàn toàn không giống nhau và sau đây là bài viết cho mọi người
cùng tham khảo. Không ít người trong chúng ta không khỏi thắc mắc rằng có thực cuộc sống sau khi chết hay không? Các tôn giáo đưa ra câu trả lời khác nhau cho những thắc mắc trên. Một số dạy rằng nếu là người tốt, bạn sẽ được lên thiên đàng, còn nếu là người xấu, bạn sẽ bị thiêu trong địa ngục. Số khác nói rằng khi chết thì linh hồn của bạn sẽ đoàn tụ với ông bà tổ tiên. Cũng có tôn giáo cho rằng sau khi chết và bị xét xử, bạn sẽ đầu thai thành người khác hoặc thú vật.Dường như các tôn giáo dạy rất khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết đều có chung khái niệm căn bản là một phần của con người vẫn còn sống sau khi thân thể chết. Bạn có thể tin hoặc không tin và bài viết sau chia sẻ một cách nhìn khá cụ thể để bạn có thể tham khảo và tự có câu trả lời cho chính mình.Theo Phật giáo và Đạo giáo, con người có phần hồn và phần xác, khi một người qua đời, lúc này sẽ có Hắc Bạch Vô Thường - quỷ sai của âm gian đến dẫn hồn phách của họ xuống Quỷ Môn quan.Sau đó lại được Tứ đại Sứ giả của âm gian, cũng chính là Đầu Trâu Mặt Ngựa, dẫn vong linh đến Âm Tào Địa Phủ, tiếp đó được thẩm phán của chư vị Đại Phán quan của Thập Điện Diêm La dưới âm gian tiếp nhận.Cuối cùng mới quyết định vong linh là có thể đi vào cõi nào để tiếp tục luân hồi: hoặc là lên trời hưởng phúc lành, hoặc là tiếp tục đầu thai làm người nữa hoặc loại động vật nào đó, hoặc là phải tiếp tục trải qua khổ hình ở mười tám tầng địa ngục như trong truyền thuyết. Tham khảo: Người chết đi về đâu trong 49 ngày?
Những gì con người trải qua sau khi chết
Khi một người chết đi thì họ được dẫn qua cửa ải sau khi chết đầu tiên là Quỷ Môn quan sau đó qua một con đường gọi có hoa nở Bỉ Ngạn nở rộ hai bên, con đường này có tên Hoàng Tuyền.Mất khá nhiều thời gian để đi hết con đường này và đến tận cuối con đường sẽ có một con sông nhỏ gọi là Vong Xuyên Hà. Trên sông có một chiếc cầu đá có tên là Tại điện này có cầu Nại Hà bắc qua sông Vong Xuyên hình cầu vồng, rất trơn. Ven sông Vong Xuyên, có một tảng đá, gọi là Tam Sinh Thạch. Những kẻ giết người, gian ác phải leo qua cầu, dưới sông đầy thuồng luồng, cá sấu; hai đầu cầu lại lại có bầy chó ngao sẵn sàng cắn xé. Những linh hồn được đi đầu thai trở lại làm người đều phải qua Vong Đài (đài quên), uống canh Quên Lãng của Mạnh bà để quên hết chuyện kiếp trước. Canh Mạnh Bà khiến người quên đi hết thảy, Tam Sinh Thạch ghi lại kiếp trước kiếp này của con người. Nhiều người còn nói là "uống nước sông Nại Hà" để quên đi kiếp trước trước khi đầu thai.Đi qua hết cầu Nại Hà bèn có thể thông đến sáu nơi, tức là đi vào cõi lục đạo luân hồi: cõi người trời, cõi A-tu-la, cõi người, cõi súc sinh (cũng gọi là đường bên cạnh), cõi quỷ đói, cõi địa ngục. Tham khảo: Vong hồn, ma quỷ, yêu tinh và Thần Phật khác nhau như thế nào?
Ải thứ nhất: Quỷ Môn quan
Truyền thuyết kể rằng, Diêm La Vương đã đặc cách chọn ra một nhóm 16 quỷ lớn để trấn giữ cửa ải Quỷ Môn quan. Một người sau khi chết, trước hết là do quỷ sai nơi âm gian Hắc Bạch Vô Thường dẫn ba hồn bảy phách đi, rồi giao cho quỷ Đầu Trâu Mặt Ngựa đẫn đến Quỷ Môn quan.
Tại đây, nhóm quỷ dữ tra xét vô cùng hà khắc bất kể người đó lúc sống có quyền cao chức trọng tới đâu không quan trọng, ai cũng như ai, đặc biệt họ nghiêm ngặt đối với những vong hồn dã quỷ tội ác đầy mình, bản tính hung ác không đổi; không để cho một ai có thể trà trộn đi qua quan này.Ai đã đến nơi đây đều cần phải tiếp nhận tra xét, xem xem có mang theo lộ dẫn – giấy thông hành đến quỷ quốc hay không. Lộ dẫn dài 90 cm, rộng 60 cm, được làm bằng giấy mềm màu vàng, mặt trên viết “Lộ dẫn do Phong Đô Thiên Vũ Diêm La Đại Đế phát cho và con người khắp thiên hạ, cần phải đi qua đường này, mới có thể đến Địa phủ chuyển thế thăng thiên”. Lộ dẫ được xem là căn cứ của người sau khi chết đi đến quỷ quốc báo danh.Đồng thời, trên mặt lộ dẫn có đóng dấu ấn của “thành hoàng Âm ty, phủ huyện Phong Đô”. Phàm là người sau khi chết đưa vào quan tài hoặc trong lúc hỏa táng đốt bỏ nó, thì sẽ theo linh hồn đến Địa phủ.
Tham khảo thêm: Ngạ quỷ là gì? Ma và ngạ quỷ giống hay khác nhau?
Ải thứ hai: Đường Hoàng Tuyền
Đi qua Quỷ Môn quan, hồn phách đến ải tiếp theo đó là phải đi qua một con đường rất dài có tên Hoàng Tuyền. Hồn phách của người ta đến âm gian báo danh sẽ phải đi một đoạn đường rất dài, qua rất nhiều quan, vì vậy đường Hoàng Tuyền (Suối Vàng) là tên gọi chung đối với những quan và lộ trình này.Trên đường Hoàng Tuyền có hoa Bỉ Ngạn màu đỏ, từ xa mà nhìn thì giống như là tấm thảm máu trải dài, vì loài hoa này có màu đỏ như lửa nên được ví là “đường lửa chiếu rọi”. Lúc Bỉ Ngạn hoa nở thì không thấy lá, khi có lá thì không thấy hoa, hoa là không bao giờ gặp gỡ, đời đời dở lỡ. Bởi vậy mấy có cách nói: ” Bỉ Ngạn hoa nở nơi Bỉ Ngạn, chỉ thấy hoa, không thấy lá” . Nhớ nhau thương nhau nhưng vĩnh viễn mất nhau, cứ như thế luân hồi và hoa lá không bao giờ nhìn thấy nhau, cũng có ý nghĩa là mối tình đau thương vĩnh viễn không thể gặp gỡ. Theo truyền thuyết hương hoa có ma lực, có thể gọi về kí ức lúc còn sống của người chết. Trên con đường Hoàng Tuyền nở rất nhiều loài hoa này, nhìn từ xa như một tấm thảm phủ đầy máu, màu đỏ đó như là ánh lửa nên bị gọi là “hỏa chiếu chi lộ”, đây cũng là loài hoa duy nhất mọc trên con đường Hoàng Tuyền, và cũng là phong cảnh, là màu sắc duy nhất ở nơi đấy. Khi linh hồn đi qua vong xuyên, liền quên hết tất cả những gì khi còn sống, tất cả mọi thứ đều lưu lại nơi bỉ ngạn, bước theo sự chỉ dẫn của loài hoa này mà hướng đến địa ngục của u linh. Ngoài ra, trên đường Hoàng Tuyền còn có rất nhiều cô hồn dã quỷ, họ là những người dương thọ chưa hết nhưng đã chết và lạc lõng nơi chốn này. Họ đã không thể lên trời, cũng không thể đầu thai, càng không thể đến âm gian, chỉ có thể lang thang trên đường Hoàng Tuyền, đợi đến dương thọ kết thúc rồi mới có thể đến âm gian báo danh, nghe Diêm La Vương phán xét.
Tham khảo thêm bài viết sau: Khoa học "vạch trần" hiện tượng hồn ma bóng quế
Ải thứ ba: Tam Sinh thạch
Bên cạnh cầu Nại Hà có tảng đá xanh có khắc bốn chữ lớn “Tảo Đăng Bỉ Ngạn” (sớm đến bờ bên kia). Đá này có tên Tam Sinh thạch (đá ba đời). Theo như bên Phật gia thì là tam thế chuyển sinh, tức là kiếp trước, kiếp này, kiếp sau. Phật gia cho rằng, sinh mệnh là vĩnh hằng, cho nên sinh mệnh có luân hồi chuyển thế.
Kiếp trước là nhân, kiếp này là quả, kiếp sau là duyên. Nhân duyên tụ hợp, duyên diệt duyên khởi, nợ tình duyên còn phải hoàn trả, oan trái…hết thảy đều được ghi lại rõ ràng trên Tam Sinh Thạch – Đá Ba Đời. Khi linh hồn đứng trước tảng đá ba đời này là thấu tỏ hết mọi sự đời.
Ải thứ tư: Vọng Hương đài
Vọng Hương đài còn được gọi là “Tư Hương lĩnh” (đồi nhớ quê) là nơi các linh hồn có thể lên đây nhìn về Dương gian, là nơi liên lạc giữa người sống và người chết. Vọng Hương Đài cũng chính là Thổ Cao đài, nơi có đình Mạnh Bà, là ở phía trước cây cầu, chứ không phải ở phía sau cây cầu.
Theo truyền thuyết, Vọng Hương đài là nơi mà vong hồn nhìn về dương thế tạm biệt người thân một lần cuối cùng. Lại có truyền thuyết rằng, kiến tạo của Vọng Hương đài nơi âm gian rất kỳ lạ, trên rộng dưới hẹp, mặt như cánh cung, lưng như dây cung ngang nhau, ngoài một con đường đá rất nhỏ ra, còn lại đều là núi đao rừng kiếm, hiểm trở vô cùng. Đứng ở trên đó, năm châu bốn biển đều có thể nhìn thấy. Truyền thuyết kể rằng, sau khi con người chết rồi, “ngày đầu tiền không ăn cơm nơi cõi người, ngày thứ hai liền qua Âm Dương giới, ngày thứ ba đến Vọng Hương đài, nhìn thấy người thân đang khóc lóc thảm thiết”.
Ải thứ năm: Vong Xuyên hà
Người sau khi con người chết phải uống canh Mạnh Bà để quên đi mọi sự, đầu thai sang kiếp khác. Tuy nhiên, có những người không uống để có thể gặp người mình yêu thương ở kiếp sau. Vì thế, họ phải nhảy vào Vong Xuyên hà - cửa ải sau khi chết số năm, đợi trên nghìn năm mới có thể đầu thai.
Ải thứ năm Vong Xuyên hà còn gọi “Tam Đồ hà”, chắn ngang giữa đường Hoàng Tuyền và Âm phủ. Nước sông có màu đỏ như máu vô cùng hôi tanh, bên trong hết thảy đều là cô hồn dã quỷ không được đầu thai, trùng rắn khắp nơi.Những ai nguyện nhảy xuống Vòng Xuyên hà trong nghìn năm đó, hoặc có lẽ sẽ nhìn thấy người mà mình yêu thương nhất trong kiếp này đi trên đầu, nhưng không thể nói chuyện với nhau, bạn thấy họ, nhưng họ lại không thấy bạn.Thậm chí, bạn nhìn thấy họ hết lần này lại đến lần khác đi qua cầu Nại Hà, uống canh Mạnh Bà hết chén này lại chén khác, tuy mong họ không uống canh Mạnh Bà nhưng lại sợ rằng họ chịu không nổi cái khổ dày vò nghìn năm trong Vong Xuyên Hà này.Kết thúc thời hạn nghìn năm, nếu bạn vẫn nguyện tìm lại người mình vô cùng yêu thương trước kia thì bạn có thể trở lại nhân gian, tìm kiếm lại người đó.
Ải thứ sáu: Canh Mạnh Bà
Canh Mạnh Bà còn gọi là Vong Tình Thủy hoặc Vong Ưu Tán, hễ uống vào liền quên hết mọi chuyện của đời này lẫn đời trước. Ở Ải thứ sáu này, Mạnh Bà đứng ở đầu cầu Nại Hà để phát canh. Sau khi con người chết mỗi một người đều phải đi qua cầu Nại Hà, Mạnh Bà đều sẽ hỏi có uống canh Mạnh Bà không, nếu muốn qua cầu Nại Hà, thì cần phải uống canh Mạnh Bà. Còn không uống canh Mạnh Bà, thì không qua được cầu Nại Hà, không qua được cầu Nại Hà, thì không được đầu thai chuyển sinh.Mỗi một người trong Dương gian đều có một cái chén của mình ở tại nơi này, canh Mạnh Bà trong chén, thật ra chính là nước mắt chảy suốt một đời khi vui, hoặc buồn, hoặc đau khổ, hoặc căm hận, hoặc sầu não, hoặc yêu thương… tất cả được nấu thành canh.Mạnh Bà thu giữ từng giọt từng giọt nước mắt của họ lại, đun nấu thành canh, khi họ rời khỏi nhân gian, đi đến đầu cầu Nại Hà, sẽ cho họ uống vào, quên hết yêu hận tình thù khi còn sống, kiền tịnh sạch sẽ, bắt đầu tiến nhập vào Lục đạo, hoặc là Tiên, hoặc là người, hoặc là súc sinh,...Uống canh rồi mọi sầu muộn, thù hận và yêu thương sẽ không còn nhớ nữa. Vì thế, không phải ai cũng cam tâm tình nguyện uống canh Mạnh Bà. Mạnh Bà sẽ nói với họ: “Nước mắt cậu rơi vì người ấy đều đã nấu thành chén canh này, uống nó rồi, chính là uống vào tình yêu cậu dành cho người đó vậy”. Một ký ức được xóa đi sau cùng trong mắt người ta chính là người mà họ yêu nhất trong đời này, uống canh vào, hình bóng người trong mắt dần dần phai nhạt đi, con mắt trong sáng như đứa trẻ sơ sinh.
Xem thêm: Ma quỷ trong Phật giáo - u mê còn đáng sợ hơn quỷ dữ
Ải thứ bảy: Cầu Nại Hà
Tương truyền, nơi cõi Âm phủ có một cây cầu rất mỏng manh, bắc ngang một con sông lớn, ván lót trơn trợt, rất khó lên cầu để đi qua sông. Đó là cửa ải sau khi chết số bảy có tên cầu Nại Hà. Hơn nữa, dưới cầu là sông lớn có đủ các thứ rắn độc, cua kình hung dữ, đợi người nào lọt xuống thì chúng xúm lại xé thây ăn thịt.Các linh hồn nơi Âm phủ, khi đến cầu nầy, muốn lên cầu qua sông, nhìn thấy cảnh tượng như thế thì nản lòng thối bước, không biết làm thế nào để đi qua cầu cho được an toàn. Nhiều người cố đi qua, nhưng đến giữa cầu thì bị té xuống sông, rắn rít cua kình giành nhau phanh thây ăn thịt, thật là ghê gớm.Có tất cả là sáu loại cầu Nại Hà: cầu làm bằng vàng, bạc, ngọc, đá, gạch, cây. Tương ứng với Lục đạo.
Điện thứ mười là nơi nhận những quỷ hồn của các điện khác chuyển đến. Sau khi thẩm định phước phần của mỗi hồn, sẽ cho đi Đầu thai vào các nơi tương xứng, theo các tình trạng: nam hay nữ, giàu hay nghèo, sang hay hèn, khôn hay ngu, thọ hay yểu…
Mỗi tháng, các điện sẽ chuyển giao một lần các quỷ hồn đến đây. Việc thọ sanh (đi đầu thai) rất chi tiết, tỉ mỉ, phức tạp như là: đường nào trong bốn đường thai, noãn, thấp, hóa; như loài vật thì có loài không chân, hai chân, bốn chân hoặc nhiều chân. Có loài thì tự chết, có loài thì bị giết chết…Việc đúc kết rất cẩn thận vì tầm quan trọng lớn lao của nó. Kết quả sẽ ghi kỹ lưỡng cho mỗi quỷ hồn để đưa đến Phong Đô đầu thai.Quá trình đi xuống âm gian của người ta sau khi chết vốn không thông dụng với hết thảy mọi người. Những người tu hành làm thiện nếu như công đức đạt đến viên mãn, sau khi hết mệnh sẽ không phải trải qua quá trình âm gian này mà trực tiếp được Phật tiếp dẫn đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Những kẻ đại ác làm nhiều việc gian ác cũng có thể sẽ không trải qua quá trình âm gian này, bởi nghiệp lực dẫn dắt mà sẽ bị đánh thẳng vào địa ngục.Đây là truyền thuyết lưu truyền hàng ngàn năm nay. Khoa học ít nhiều đã chứng thực qua các công trình nghiên cứu rất nghiêm túc các hiện tượng như nhớ lại kiếp trước, nhớ lại những cảnh tượng mô tả dưới địa phủ sau khi chết đi sống lại, ở nhiều địa phương và quốc gia.
Minh Minh (tổng hợp) Người chết do tai nạn, linh hồn sẽ đi đâu về đâu?Có hay không việc linh hồn tái sinh?Sau khi chết, bạn sẽ thành MA hay thành THIÊN THẦN?
Bạn có tin rằng, cách ký tên của một người có thể nói lên tính cách của người đó? Từ tính cách của người đó, có thể suy luận ra các mối quan hệ, thành công hoặc vấp ngã của họ trong sự nghiệp !
Một người khi cầm bút mà không biết cây bút đó có mực hay không, đặt bút xuống là ký ngay (bút của người khác) thì đó là người cả tin, nhẹ dạ, thiếu chu đáo, làm việc lớn rất khó thành công.
Một người trước khi ký tên, họ cầm thử trước vài nét xem có mực hay không, bút có bị hư không, dù đó là cây bút của chính mình vẫn dùng, thì đó là người có tính cẩn thận, làm việc chu đáo, và đương nhiên là dễ thành công
Một người khi cầm bút để ký tên mà dè rất mạnh, nét ký in hằn qua đôi ba lớp giấy, thì đó là người có tính nóng nảy, rất ưa gây gổ nếu không muốn nói là cục cằn, thô lỗ
Khi cầm bút ký tên mà người đó hạ đầu bút, đưa đi, đưa lại để ướm thử đó là người có tính đa nghi, do dự, thiếu sự chân thành, chuộng vẻ hào nhoáng bề ngoài.
Thường khi viết mà không, nhưng khi ký dựng đứng cây bút lên để ký thì đó là người ưa kiêu ngạo, có tính tự tôn và tự phụ, làm lớn thì ưa quát nạt kẻ dưới, làm nhỏ thì hay chê bai, bài xích cấp trên.
Có người khi đặt bút ký tên mà ký rất nhẹ nhàng, như sợ hư mặt giấy thì đó là người quảng đại, có lòng vị tha, hay thương người, cuộc sống nội tâm phong phú, giàu cảm xúc, rất trọng đạo hạnh tu trí.
Một người chỉ dùng một cây bút duy nhất để ký tên mình thì đó là người khó tính, nhưng rất thủy chung, người đàn ông không lo phụ nữ như vậy ăn ở hai lòng, còn phụ nữ an tâm về đàn ông như vậy, tình cảm.
Tục ngữ có câu: “nét chữ là nét người”. Văn hóa phương Đông rất coi trọng văn hay chữ đẹp. Ngay cả cách cầm bút ký tên cũng toát lên tính cách, cuộc sống, cát – hung, thịnh – suy của mỗi người.
Không nên đặt chậu cây xương rồng trên bàn làm việc
Dân văn phòng hiện đang rộ lên xu hướng bày biện các chậu cây nhỏ trên bàn làm việc để giảm bức xạ máy tính, khí thải độc hại... Tuy vậy, ở góc độ phong thủy, các chuyên gia cho rằng, xương rồng là loài cây cấm kỵ trang trí trong nhà hoặc văn phòng làm việc.
Nhiều loài cây trong họ xương rồng được cho là có khả năng chống tia phóng xạ nên rất được dân văn phòng ưa chuộng đặt cạnh máy tính. Theo phong thủy, những loài cây có gai nhọn như xương rồng nếu đặt một chỗ trong thời gian dài sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến trạng thái tinh thần và sức khỏe của con người. Do đó, đặt xương rồng trong nhà hoặc văn phòng làm việc là điều tối kỵ vì có thể khiến gia chủ bị bệnh tật, mất mát tài sản hoặc gặp những trắc trở về tình cảm, làm ăn...
Phong thủy xếp xương rồng vào loại cây có hình dáng đặc biệt, thân phát triển theo chiều hướng lên trên, giống như xương của con rồng với ý nghĩa mang đến sức mạnh, có tác dụng hóa giải hình sát mạnh bên ngoài. Vì thế, dù có khả năng hóa giải hung sát cao nhưng xương rồng lại cực kỳ cấm kỵ bài trí trong nhà, văn phòng.
Không nên đặt xương rồng trên bàn làm việc hoặc trong nhà
Xét về hình dáng, xương rồng là loài có nhiều gai nhọn, những mũi nhọn của nó nếu chĩa thẳng vào người sẽ tạo ra khí xấu, ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe của gia chủ. Ngoài ra, việc có quá nhiều gai nhọn trên thân mình cũng khiến nó luôn bị bao bọc bởi sát khí. Việc xương rồng nở hoa thường được cho là sẽ mang đến điềm lành (vì hoa của nó mang năng lượng tốt) nhưng cũng không đủ sức để át đi những năng lượng xấu đến từ những chiếc gai nhọn.
Phong thủy có quan niệm "hình nào khí nấy", do đó, những cây xanh tốt, dáng khoẻ khoắn, vươn cao thường tạo nên nhiều sinh khí. Ngược lại, những cây có dáng ủ rũ, gai góc hoặc xù xì thường sẽ tạo nên sát khí hoặc ám khí. Vì vậy, nếu bày xương rồng trong văn phòng công ty sẽ khiến công ty khó phát triển, người lãnh đạo cũng không sáng suốt, có thể mắc bệnh tật và tài sản công ty dễ thất thoát.
Nếu yêu thích loài cây này có thể trồng chúng tại những khu vực xấu hoặc để chống lại những sát khí chiếu vào nhà từ bên ngoài, chẳng hạn như để trấn lại góc nhọn hoặc các loại mũi tên sắt từ hàng rào của nhà hàng xóm...
(Theo Vieq) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
Xem bói tướng tay của người có quý nhân phù trợ - Xem bói - Xem Tử Vi
Xem bói tướng tay của người có quý nhân phù trợ, Xem bói, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Xem bói tướng tay của người có quý nhân phù trợ, tu vi Xem bói tướng tay của người có quý nhân phù trợ, tu vi Xem bói
Nếu như trong cuộc sống hiện thực ngày nay nếu bạn có quý nhân giúp đỡ thi nhất định bạn phải cố gắng nắm giữ lấy cơ hội đó. Tạm thời chưa có quý nhân phù trợ thì cũng không nên nóng vội, xem bói chỉ tay bạn sẽ biết các đường chỉ tay đã ghi lại một cách chi tiết lúc nào bạn và quý nhân sẽ tương ngộ.
Đường Vận mệnh xuất phát từ phía trong đường Sinh mệnh và kéo dài lẽn phía trên
Xem chỉ tay mà bàn tay có Đường Vận mệnh xuất phát từ phía trong đường Sinh mệnh và kéo dài lẽn phía trên thìĐường Vận mệnh này ngoài báo hiệu hạn sẽ nhận được sự phù trợ giúp đỡ của cha mẹ và người thân ra, còn báo hiệu bạn sẽ được sự giúp đỡ lớn mạnh từ người đi trước xem boi hoặc cấp trên.
Đường Vận mệnh có đường phụ trợ
Xem chỉ tay mà Đường Vận mệnh có đường phụ trợ, điều này cho thấy được sự giúp đỡ của mọi người trong nhà, vợ (chồng) hoặc đồng nghiệp.
Trên đường Trí tuệ có ký hiệu hình cá
Xem chỉ tay mà trên đường Trí tuệ có ký hiệu hình cá , mặc dù là đường chỉ mảnh tương đối nhiều, nhưng có một đoạn trông giống như hình đuôi cá. Điều đó báo hiệu đây là người có tài hoa, được mọi người công nhận, là người nỗ lực và đạt được thành quả. Ngoài ra, nếu như gặp được quý nhân, năng lực của họ còn có thể nhận được những đánh giá khá cao.
Có vòng la môn
Xem chỉ tay mà có vòng la môn, kiểu người này còn có khả năng hóa nguy thành an, đối với những người xấu họ cũng có thể giao lưu chân thành và giúp đỡ nhiệt tinh. Họ có thể nắm được cơ hội, nắm giữ tài vận tốt, lúc khó khăn tất có quý nhân phù trợ.
Không phải oan gia không gặp nhau, hôn nhân không phải khi nào cũng êm đẹp. Để nắm tay nhau đi tới cuối đời, hãy nghe lời Phật dạy cách hàn gắn hôn nhân.
Không phải oan gia không gặp nhau, vợ chồng chính là oan gia, bát đũa còn có lúc xô, hôn nhân không phải khi nào cũng êm đẹp. Để nắm tay nhau đi tới cuối đời, hãy nghe lời Phật dạy cách hàn gắn hôn nhân.
Thay đổi thái độ chính là mấu chốt của vấn đề. Mỗi khi vợ chồng bất hòa, hãy thử kiểm điểm lại bản thân, xem mình có ích kỉ không, có chân thành không, có tôn trọng đối phương không? Cùng nhau trải qua sóng gió cuộc đời không chỉ cần tình yêu, mà còn bao gồm thấu hiểu, nhường nhịn và duyên phận. Phật dạy cách hàn gắn hôn nhân thông qua 3 điểm cơ bản. Nhận thức đủ 3 điểm, sẽ biết vì sao hôn nhân gặp vấn đề và tìm ra cách giải quyết. 1. Bao dung Làm người không ai là không có khuyết điểm. Phật dạy, muốn chân chính hiểu một người hãy nhìn vào khuyết điểm của người đó. Cũng như, khi yêu một người, khi lấy một người hãy nhìn thẳng vào khiếm khuyết của đối phương. Có vậy mới tiếp nhận người đó hoàn toàn. Nhìn ra khuyết điểm không phải để chỉ trích mà là để bao dung. Không phải thỏa hiệp mà là dung hòa. Đó là nền tảng của mối quan hệ lâu dài, nền tảng của hôn nhân hạnh phúc.
Buông bỏ lòng ghen tị chỉ với 4 điều đơn giản Phật dạy Tật ghen tị là một tính xấu, như con rắn luồn vào, bóp nghẹt trái tim con người. Muốn sống bình tâm, hãy nghe lời Phật dạy cách xóa bỏ lòng ghen tị.2. Tùy duyên Trong đời, duyên đến duyên đi là lẽ tự nhiên. Quan hệ vợ chồng cũng vậy, đến với nhau là hữu duyên, xa nhau là vô duyên, “vạn sự tùy duyên” là hợp lẽ. Tình cảm không thể cưỡng ép, suy nghĩ không thể cưỡng cầu. Hôn nhân bất đồng là do ép đối phương theo ý mình. Nhớ lấy điểm trên mà tự nhìn nhận lại, tôn trọng bản thân và tôn trọng bạn đời. 3. Hiểu biết Hôn nhân cần phải hiểu biết, hiểu để bao dung, hiểu để tùy duyên, biết để nhường nhịn, biết để chân thành. Vợ chồng không thể quá so đo được mất, hơn thua. Hôn nhân không phải cuộc chiến để xem ai giành chiến thắng, ai thu được lợi nhiều. Vì thế mà hiểu biết rất quan trọng, giữ chừng mực trong lời nói, hành động của đôi bên. Vợ chồng như bao mối quan hệ trên đời, có hợp có tan, có gặp gỡ, có chia ly, người trọn đời bên nhau, kẻ chỉ là bèo nước gặp gỡ. Nhưng Phật dạy rằng tu trăm năm mới chung thuyền, tu nghìn năm mới chung chăn gối, không nên dễ dàng buông bỏ. Cải thiện quan hệ vợ chồng, cùng nhau hòa hảo, sống vui trọn kiếp, ấy mới là cái đích hướng đến.
► Mời bạn đọc: Những câu nói hay về tình yêu và suy ngẫm
Trần Hồng (Theo Ebaifo) Xem thêm Clip "Đọc chú Đại Bi, tiêu tai giải nạn" Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Móng tay hình vuông là người chính trực, nghiêm túc, tác phong làm việc chuyên nghiệp. Sở hữu tính cách như vậy nên tài vận của họ cũng ngày càng tốt hơn, thu nhập ổn định, khá giả. Họ thích rõ ràng trong tình yêu, ghét sự dối trá. Họ là người bạn trung thực và đáng tin cậy nhất. Đặc biệt, họ không thích giao lưu với những người giảo hoạt, giả tạo.
2.Móng tay hình chữ nhật
Người có móng tay hình chữ nhật thường trầm tĩnh, kiên nhẫn, tình duyên tốt. Sự nghiệp của họ rất phát triển, bởi họ dám nghĩ dám làm, là nam thì có khí phách nam tử hán, là nữ thì mạnh mẽ kiên cường.
3.Móng tay hình bách hợp
Móng tay hình bách hợp là móng tay dáng tương đối dài, bốn góc tròn, phần đầu nhọn, giống như cánh hoa bách hợp. Đây là dáng móng tay đẹp nhất, thấy nhiều ở phái nữ. Những người có dáng móng tay bách hợp thì dù là nam hay nữ tính cách cũng ôn thuận, thân thiện dễ gần, vận đào hoa tốt, được bạn bè yêu quý, sự nghiệp thuận lợi.
4.Móng tay tròn trịa
Móng tay tròn là người thông minh lanh lợi, họ không thích tranh giành quyền lợi, vật chất, chỉ muốn làm những việc bản thân yêu thích. Trong tình yêu họ rất chu đáo, tinh tế, sau khi kết hôn sẽ hết lòng vì gia đình.
Đây là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
ÐÂY LÀ LỜI PHẬT
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.
Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Những gì là mười điều?
Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .
Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .
Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.
ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.
Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Gia thần là các vị thần cai quản trong nhà, thường được thờ ngoài sân. Hôm nay là ngày Rằm, xin gợi ý cho bạn cách sắm lễ và văn khấn gia thần để cầu bình an, may mắn, sức khỏe cho gia đình.
► ## cung cấp công cụ xem tử vi, xem ngày tốt xấu chuẩn xác để thuận lợi công việc
Sắm lễ cúng gia thần
Lễ cúng gia thần vào chiều tối ngày Rằm (lễ Vọng) thường là lễ chay: hương, hoa, trầu cau, quả, tiền vàng, chén nước. Ngoài lễ chay cũng có thể cúng thêm lễ mặn vào ngày này gồm: rượu, thịt gà luộc, các món mặn. Sắm lễ ngày Rằm chủ yếu là thành tâm kính lễ, nhớ đến ông bà tổ tiên và các vị thần cai quản trong nhà. Văn khấn gia thần (Thổ Địa, Thổ Công và các thần) vào ngày Rằm
Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư phật mười phương. Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vi Tôn thần. Con kính lạy ngài Đông Thần quân Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này. Tín chủ (chúng) con là:……………………………………. Ngụ tại:………………………………………………………….. Hôm nay là ngày…… tháng…… năm…., tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án.
Chúng con thành tâm kính mời: ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này.
Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật! Nam mô a di Đà Phật!
Theo Văn khấn cổ truyền Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Tuyết (##)
► Mời các bạn xem tử vi năm 2017 theo cung, mệnh bản thân chuẩn xác
1. Các em bé bị dọa khóc thét
Ở các nước khác, trẻ em khóc sẽ được dỗ ngay nhưng tại lễ hội Nakizumou Matsuri, người Nhật tin rằng đứa trẻ khóc càng to thì gặp càng nhiều may mắn. Vào dịp nhất định, người ta tổ chức lễ hội này tại các ngôi đền và những võ sĩ sumo sẽ bế những đứa trẻ lên, dọa chúng khóc thét. Trẻ khóc to là dấu hiệu chúng rất khỏe mạnh và phát triển thuận lợi trong những năm tiếp theo. Phong tục kì lạ này của Nhật Bản khiến không ít du khách ngỡ ngàng khi có dịp tham gia lễ hội. 2. Nam giới khỏa thân và la hét
Để thể hiện bản lĩnh và khí phách đàn ông, vào tháng 2 lạnh giá, hàng nghìn nam giới là tín đồ của đạo Shinto tham dự lễ hội Hadaka Matsuri ở Saidaiji, Nhật Bản. Họ cởi trần, đóng khố, thậm chí tắm nước băng khi nhiệt độ ở mức âm và uống rượu để thanh tẩy. Sau đó họ chạy nhảy la hét và làm nóng người. Phong tục "khắc nghiệt" đã tồn tại hơn 500 năm này đại diện cho tinh thần quật cường và sức chịu đựng dẻo dai của nam giới Nhật Bản. 3. Đàn ông cạo đầuỞ Nhật Bản, nếu là nam giới, khi phạm phải lỗi lầm với ai đó, họ sẽ mang tới một con dao cạo và tận tay đưa cho người kia cạo đầu để bày tỏ lời xin lỗi chân thành nhất. Phong tục kì lạ của Nhật Bản này được coi là biểu tượng của sự tín nghĩa, khiêm nhường và dám nhận trách nhiệm của một người đàn ông trưởng thành. ST
Chị ơi em có sự việc này rất lạ, ông ngoại em đã mất cách đây 36 năm trong thời kỳ đi học tập cải tạo. Vừa rồi ông đã trở về, nhập vào em của mợ dâu và xin gia đình làm lễ quy y Tam bảo cho ông.
Gia đình em có hỏi: Xác ông ở đâu để người nhà đem về lập mộ và tại sao ông lại trở về xin được quy y Tam bảo?
Ông trả lời: Không cần tìm xác ông để chôn cất làm gì. Ông thấy mình nghiệp rất nặng và đang phải đối diện với những gì mình đã gây ra. Vì vậy, ông muốn gieo nhân Phật để khi tái sanh trở lại kiếp người, gặp Phật pháp ông có thể phát tâm tu.
Gia đình em đã tìm thầy Thích Giác Hạnh – chùa Hội Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu để xin Thầy quy y cho ông và Thầy đã đồng ý.
Vài ngày sau cô bạn lại gọi điện thoại tới và hỏi tôi có muốn đi cùng cô đến gặp thầy Giác Hạnh không? Tôi đồng ý.
Sáng hôm sau trên đường đến gặp Thầy, cô nói hôm qua ông ngoại em lại về và nói ngoài việc tìm Thầy quy y Tam Bảo, nhớ lập trai đàn cúng cầu siêu cho ông và những người cùng thời làm việc với ông hồi hướng để tạo công đức giúp ông và mọi người được siêu thoát.
Thầy Thích Giác Hạnh là vị Tăng sĩ khá nổi tiếng trong việc hóa giải các vong linh nhập vào người dương thế. Thầy hiểu khá rõ về thế giới người cõi âm.
Sau khi gặp thầy Giác Hạnh, tôi có ý định sẽ trực tiếp được gặp ông (người cõi âm) để phỏng vấn, trò chuyện về thế giới mà hiện ông đang tồn tại.
Điều quan trọng nhất tôi muốn hỏi là vì sao ông lại quay trở lại thế giới dương để được quy y Tam Bảo khi mà lúc còn sống ông chưa từng tiếp cận được với kiến thức Phật giáo. Nhưng rồi do bận công việc nên tôi đã không thể trực tiếp tiếp cận và phỏng vấn ông đúng như dự định. Cũng may trước đó tôi đã trao đổi với cô bạn đồng nghiệp về một số những vấn đề mà tôi muốn hỏi.
Vì cũng là một đệ tử mới quy y nên cô bạn (cháu ngoại của người cõi âm) đã đưa ra những những vấn đề mà tôi nói trước đó để hỏi ông. Thật là may mắn cuộc trò chuyện đó đã được ghi băng lại.
Để bạn đọc hiểu và tin sâu hơn nữa về Phật pháp tôi xin ghi lại cuộc trò chuyện dưới đây.
Vì được tiếp xúc nhiều lần khi ông trở về nên cuộc phỏng vấn ghi lại dưới đây là tổng hợp nhiều cuộc trò chuyện. Có nhiều thông tin trong cuộc phỏng vấn vì vấn đề tế nhị trong gia đình nên tôi không đưa ra, nhưng sẽ nói trong phần hai của bài viết – Luận về cuộc phỏng vấn.
Thông qua cuộc trò chuyện này chúng ta sẽ thấy những điều đức Phật đã nói trong các Kinh sách là chính xác. Lòng từ bi của Ngài thông qua các giáo lý không chỉ cứu vớt nỗi khổ của con người mà của tất cả các chúng sinh trong các cõi giới.
Cuộc trò chuyện với ông ngoại
Trước khi vào nội dung cuộc trò chuyện, tôi xin đưa ra lời thuyết giảng của ông Huỳnh Văn Lương trong cuộc gặp mặt cuối cùng với gia đình tại Rạch Kiến. Do đã thông hiểu Phật pháp, ông Lương (một người lính quân đội Việt Nam Cộng hoà) đã đưa các vong linh của những người lính cả hai phía (Bộ đội cụ Hồ và Lính Cộng hoà) đứng trước mâm cơm chay tuyên bố.
Hôm nay, tôi Huỳnh Văn Lương – Pháp danh Minh Tâm (chính xác là tối ngày 27/7 năm Tân Mão) tôi cùng mấy đứa con tôi xin thỉnh chư vị 2 bên cùng dân chúng ở đây (nhưng vong linh ở quê) nghe tôi thuyết giảng một lời.
Hôm nay, tôi đã quy y trước Tam Bảo. Cái thời của chúng tôi đã chấm dứt rồi, cho nên chúng tôi hạ vũ khí… Chúng ta cùng là dân nước Việt, đều là con người. Ai vì chủ nấy, chúng ta nên thương lượng hoà hảo, kết oan trái lại hạ vũ khí… Chúng ta cùng nhau quy về một đường.
Chúng ta là những con người … do nghiệp sát mà đầu thai thành người lính. Tôi đã ngộ được con đường của Phật đạo cho nên tôi mong mỏi các ông và dân chúng ở đây cùng tôi về với Phật…
Chúng ta hãy tỉnh giấc ngộ lại… Bỏ hết chắp tay như tôi đây này, Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần). Các ông đã nghe lời như vậy tôi rất mang ơn.
Hôm nay cháu tôi cùng bằng hữu đã có mặt ở đây trợ duyên. Các ông hãy linh hiển nhận mâm cơm chay này để các chư Tăng hồi hướng công đức đưa chúng ta về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Các ông chứng cho lòng thành thật của tôi… Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)… Các ông đã quỳ xuống hết rồi, đã chắp tay niệm Phật rồi. Minh Tâm đã thành công rồi. Dân ở đây người ta rất hoan hỉ rồi.
Hỏi: Nhân duyên gì mà ông đã gặp được Phật và phát tâm tu tại cõi giới âm?
Trong quá khứ tiền kiếp, khi còn trẻ ông có vào chùa Phật nhưng chủ yếu là quậy phá vui chơi. Nhờ phúc báo nên đã gieo được chủng tử Phật trong tâm thức. Sau khi mất ông vẫn thường về nhà nhưng không tiếp cận được với ai, do người thân không nhớ đến ông. Ngày giỗ ông cũng không ăn được gì, vì trên giấy báo tử không đúng với ngày mất của ông. Ông phải chịu sự đói khát, lạnh lẽo trong suốt những năm qua. May nhờ bà mợ dâu khi ăn thường mời cơm nên ông theo bà về quê nhân dưới quê có giỗ. Ông ở luôn dưới quê (Rạch Kiến). Tại đây ông thường nghe kinh Phật mỗi tối do hai cô em gái đầu là Phật tử tụng kinh mỗi ngày. Vì nghiệp sát nặng nên ông không thể vào chùa được. Sau khi quy y ông có thể vào chùa để nghe giảng kinh từ các vị Tăng.
Hỏi: Vì sao ông không quy y Tam Bảo ở cõi âm mà lại mượn thân xác lên dương trần quy y?
Muốn quy trước Tam Bảo phải tam quy (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng), ngũ giới (không sát sinh, không uống rượu, không nói dối, không tà dâm, không trộm cắp). Tam quy thì có thể thực hiện được, nhưng ngũ giới thì không, vì còn thân xác đâu mà thực hiện ngũ giới.
Hỏi: Chúng sinh cõi âm có tu được không? nghĩa là có ngồi thiền tụng kinh niệm Phật được không?
Không thể tu được, còn thân xác đâu mà tu. (Các vọng tưởng trỗi dậy không ngừng, không thể dẹp bỏ được). Thân người quý lắm. Thần thức ở trong thân người mới tu được. Nếu ai còn thân người thì cố gắng mà tu. Tái sanh kiếp sau ông sẽ tu. Ông quy y lần này là để gieo chủng tử vào tâm thức, kiếp sau tái sanh lên kiếp người gặp Phật pháp là ông tu liền. Ông có duyên thầy trò với thầy Thích Giác Hạnh trong tiền kiếp.
Hỏi: Ông có thể nói rõ hơn về nhân duyên thầy trò giữa ông với thầy Thích Giác Hạnh được không?
Trong một kiếp quá khứ, ông là một thanh niên ngang ngược vào chùa chơi. Lúc đó thầy Giác Hạnh là một vị Tăng tu ở trong chùa. Thầy có khuyên ông nên quy y Tam Bảo. Ông nói là chỉ khi nào ông không còn thân xác ông mới quy y. Từ nhân duyên này mà duyên thầy trò đã hình thành.
Hôm nay Thầy đã quy y cho ông. Nhưng vì ông không có thân xác nên duyên thầy trò mới chỉ 50%. Thông thường duyên thầy trò phải gặp nhau 3 kiếp. Trong tương lai thầy Thích Giác Hạnh sẽ là một vị Tăng một kiếp nữa khi đó ông sẽ là một đệ tử 100% của Thầy.
Hỏi: Điều đó có nghĩa là trong kiếp này thầy Giác Hạnh vẫn chưa được vãng sanh về Tây Phương Cực lạc?
Chưa, vì Phật Tổ còn muốn Thầy ở lại để tiếp tục độ chúng sinh trong một kiếp nữa sau đó mới vãng sanh được.
Hỏi: Ông đã mất thân xác được 36 năm. Ông tiếp cận được Phật pháp lâu chưa? Bao giờ ông tái sanh?
Mới tiếp cận được gần đây thôi, nhưng sức xoay chuyển nghiệp báo rất nhanh, trong từng sát na. Ông sắp sửa có thể siêu thoát và tái sanh trở lại. Khoảng trong ba tháng nữa, khi nào cháu nằm mộng thấy Phật là ông tái sanh.
Hỏi: Tâm trạng của ông sau khi chết (tức là mất thân xác) như thế nào? Tại sao người chết không ra đi luôn mà còn quay trở lại dương trần làm gì ?
Con người có 2 phần, phần hồn và phần vật chất. Phần hồn nhà Phật gọi là vong linh. Khi đưa vong linh vào thờ thì gọi là hương linh. Con người có 2 cách chết. Một là, chết đột ngột vì tai nạn, vì bệnh tật hay một lý do nào đó không có sự chuẩn bị trước. Hai là, chết già, mọi thứ đã buông bỏ và có sự chuẩn bị trước. Những người chết trẻ hay chết đột ngột đều có nhiều uẩn khúc nên bám chấp vào cuộc sống hiện tại. Tâm trạng khi chết vẫn còn lưu giữ đến bây giờ. Vì vậy mà ông mới quay trở lại gặp gia đình.
Hỏi: Vì sao ông không về sớm hơn mà bây giờ mới quay trở về?
Ông không thể về sớm hơn là vì người cho ông mượn thân xác chưa đủ công đức và chưa phát nguyện độ chúng sanh. Bây giờ người ấy đã phát nguyện “Bỏ ác, làm thiện cứu độ tất cả chúng sanh” họ đã đủ công đức. Vì người cho ông mượn thân xác có căn lành, tu sâu nên mới nhìn thấy ông khi ông quay trở về.
Hỏi: Sau khi mất thân ông thấy những gì diễn ra xung quanh ông?
Ông thấy xung quanh ông chỉ toàn một màu đen đỏ tối om. Ông thấy mình khổ sở vô cùng không thấy cái gì ở phía trước. Ông phải sống trong cảnh giới đói khát, lạnh lẽo và không thể trở về nhà được. Không ai cho vào. Ông hiều đó là do nghiệp sát ông phải trả.
Sau khi tiếp cận Phật pháp (sám hối, trì chú Đại Bi) ông thấy xung quanh ông dần dần sáng ra, thân tâm nhẹ dần và thấy rõ con đường đi của mình.
Hỏi: Còn những người xung quanh ông?
Họ cũng có những sắc mầu gần giống như vậy. Chỉ có những người trì tụng kinh Phật thường xuyên và những người tu mới có màu sáng trắng sau khi rời bỏ thân xác. Ông đã nhìn thấy màu sáng trắng đó quanh đầu Ni Sư trưởng Thích nữ Như Vân ở chùa Long Hoa Ni Tự – Rạch Kiến.
Hỏi: Những người quay trở về dương thế như ông có nhiều không?
Nhiều lắm. Nếu người dương không giữ đầu óc trong sáng là bị họ nhập liền. Vì họ cũng đang rất muốn có thân xác. Chỉ cần tham, sân, si…khởi lên là họ biết liền. Vọng tưởng càng mạnh thì họ càng dễ nhập.
Hỏi: Khi được thân người thì phải tu như thế nào để sau khi mất thân xác được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc?
Muốn vãng sanh được về Tây phương Cực Lạc thì phải trì 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật thường xuyên, liên tục. Phải ăn chay, niệm Phật, làm công đức. Tu thập thiện trì ngũ giới. Khi lâm chung phải niệm 10 tiếng. Nếu có cơ duyên tốt có người hộ niệm thì nhất định sẽ vãng sinh được về Tây Phương Cực Lạc.
Hỏi: Trước đây nghe bà ngoại nói ông không bao giờ dạy bảo ai điều gì? Sao bây giờ khi trở về gặp ai, ông cũng khuyên mọi người nên tu và niệm Phật? Còn các đạo giáo khác thì như thế nào?
Đừng nghĩ sau khi chết là hết. Cuộc đời ở trần thế chỉ là một giấc chiêm bao vô thường và ngắn ngủi. Ông muốn thức tỉnh mọi người. Vì khi mất thân người rồi xuống đây chẳng còn gì ngoài tâm thức biến hiện của mình. Khi chỉ còn tâm thức thì mới biết đạo Phật là chánh pháp, chỉ có đạo Phật mới có thể cứu thoát con người ra khỏi cảnh khổ và siêu thoát được. Những nghiệp mà mình đã tạo trước đây sẽ đeo bám mình suốt không biết bao giờ mới thoát ra được.
Nam Mô A Di Đà Phật! Nếu ai đọc xong cuộc phỏng vấn này bỗng phát tâm tu hoặc đã tu tự nhiên cảm thấy tinh tấn hơn thì xin hồi hướng công đức này cho ông Huỳnh Văn Lương cùng các cộng sự của ông và những người lính của cả 2 bên để họ được siêu thoát.
Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Nam Mô A Di Đà Phật! Tác giả: Hồng Vân (báo Phật tử VN)
Ưu điểm: Quyền cao chức trọng, phúc thọ song toàn, giỏi tính toán, dự đoán, theo nghiệp võ sẽ hiển đạt.
Văn Khúc hoặc Văn Xương và Thiên Lương trấn mệnh tại Vượng địa, tại cung tam phương có các sao Lộc tồn, Hóa Khoa, Hóa quyền, Hóa Lộc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt gia hội là thuộc cách cục này. Nên theo nghiệp chính trị, nếu gặp nhiều cát tinh, chủ về cực hiển quý.
Ca quyết như sau: Văn tinh cảnh trực ngộ Thiên Lương Vị liệt hoàng môn điểu phủ hành Cương kỷ triều trung công nghiệp kiến Bức nhân thanh khí mãn càn khôn
Nghĩa là: Sao văn chính trực gặp Thiên Lương Quan tại triều đình chức đường đường Chấn chỉnh kỷ cương sự nghiệp lớn Thanh cao nức tiếng khắp xa gần
Kinh văn có câu: " Thiên lương, Văn Khúc nhập miếu vượng, làm quan lớn", "Thiên Lương miếu vượng, Tả, Hữu, Xương, Khúc, gia hội chức trọng, quyền cao". Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)