Phong thủy phòng ngủ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng vì vậy bạn nên có những hiểu biết cơ bản khi sắp xếp căn phòng này. Đầu giường không nên để xà ngang ép đỉnh. Đầu giường có xà ngang ép đỉnh gọi là “huyền trâm sát
Phong thủy phòng ngủ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng vì vậy bạn nên có những hiểu biết cơ bản khi sắp xếp căn phòng này.
Đầu giường không nên để xà ngang ép đỉnh. Đầu giường có xà ngang ép đỉnh gọi là “huyền trâm sát” sẽ không có lợi cho sức khoẻ của gia chủ.
Có ba biện pháp hoá giải như sau:
– Đầu giường không nên để xà ngang ép đỉnh. Đầu giường có xà ngang ép đỉnh gọi là “huyền trâm sát” sẽ không có lợi cho sức khoẻ của gia chủ. Có ba biện pháp hoá giải như sau:
Tránh: Đây là biện pháp tốt nhất bằng cách xê dịch đầu giường để tránh xà ngang, làm như vậy đã hoá giải được vị trí không gian ở đầu giường. Ngoài ra, ở đầu giường có thể đặt tủ, giá sách hay giá để dụng cụ để lấp vào, như vậy tránh cho đầu giường không trống trải hơn nữa có thể tiết kiệm được không gian.
Che: Nếu diện tích căn phòng nhỏ hẹp hoặc vì nguyên nhân nào khác mà không “tránh” được thì có thể dùng phương pháp che bằng cách dùng tấm trần giả để che xà ngang. Làm như vậy sẽ bớt được áp lực về tâm lý.
Ngăn: Nếu sử dụng biện pháp che mà gia chủ vẫn không an tâm thì có thể đổi giường thành giường hai tầng, tầng trên để chăn đệm còn tầng dưới để ngủ. Làm như vậy, chăn đệm ở tầng trên sẽ thay thế cho người chịu đựng những thiệt hại do xà ngang ép xuống.
– Đầu giường không nên để đối diện với cửa phòng:
Xét về phong thuỷ học, đầu giường đối diện với cửa phòng là không tốt lành, bởi vì hiện tượng này sẽ dẫn tới sự suy sụp về sức khoẻ và công danh của gia chủ. Trong trường hợp này gia chủ nên xê dịch giường ngủ, không để giường ngủ và cửa phòng thành một đường thẳng. Nếu giường ngủ không thể xê dịch được thì hãy xoay lại để ngủ cũng là một cách hoá giải.
– Đầu giường không nên kê quá sát vào cửa sổ:
Nếu đầu giường kê quá sát vào cửa sổ thì sẽ không tốt. Không xét về phong thuỷ học chỉ nói về môi trường sống, đầu giường kê sát vào cửa sổ khi nắng ánh mặt trời chiếu thẳng vào đầu giường, khi mưa nước mưa thẩm thấu qua cửa sổ sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ của gia chủ. Để đảm bảo sức khỏe và gia cư an toàn, không nên kê đầu giường vào sát cửa sổ.
– Đầu giường không nên chiếu thẳng vào gương:
Trong phong thuỷ, gương dùng để ngăn sát, tác dụng phản xạ trở lại sát khí xông thẳng vào cho nên (dù không phải là gương bát quái hay gương cửa) cũng không nên để chiếu trực tiếp vào giường ngủ. Nếu để gương chiếu trực tiếp vào đầu giường thường sẽ bị giật mình ảnh hưởng nghiêm trọng đến giấc ngủ dẫn tới hiện tượng mất ngủ, đau tim, tinh thần phân tán. Tốt nhất, nên treo gương ở phía trong cánh tủ quần áo để không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ.
– Đầu giường không nên kê sát toilet:
Đầu giường không nên kê sát vào toilet vì toilet là nơi không sạch sẽ. Phương pháp hoá giải tốt nhất là kê đầu giường ra chỗ khác, không để đầu giường chiếu thẳng vào cửa phòng toilet.
– Đầu giường không nên chiếu thẳng vào bếp đun:
Trước phòng ngủ có bếp đun rất không có lợi cho sức khoẻ vì lửa bếp cháy rừng rực, khói mỡ khi xào nấu xông vào rất không tốt với sức khoẻ của con người, có thể sẽ sinh ra các chứng bệnh đau tim…
– Giường ngủ kiêng kê sát vào bếp đun:
Bếp đun là nơi sinh hoả nấu thức ăn, rất nóng bức vì thế mặc dù có tường, vách ngăn cách thì đầu giường cũng không nên kê sát vào bếp đun. Tốt nhất nên kê giường ra một chỗ khác của phòng ngủ, làm như thế có thẻ hoá giải được nhiều tai nạn và bệnh tật.
– Đầu giường nên có chỗ tựa vững chắc; tốt nhất là giường nên được kê sát vào tường; cần chú ý không trổ cửa sổ hoặc cửa ra vào ở nơi bức tường đó. Nếu không thể có sự lựa chọn trong trường hợp này, tốt nhất là đầu giường nên tránh cửa sổ.
– Giường ngủ kiêng chiếu thẳng vào ống khói:
Phong thuỷ học cho rằng “ống khói làm cho chủ giường khó sinh nở”, vì thế giường ngủ không nên chiếu thẳng vào ống khói. Nếu xảy ra trường hợp trên thì phải kê giường ngủ ra chỗ khác để khi ngủ trên giường không nhìn thấy ống khói. Ngoài ra có thể dùng rèm để che cửa sổ để tráh nhìn thấy ống khói là được.
– Giường ngủ kiêng cầu thang ép đỉnh:
Giường ngủ đặt ở dưới chân cầu thang mặc dù là cầu thang ở bên ngoài phòng cũng không nên. Không xét về phong thuỷ học, chỉ riêng tiếng bước chân đi lên xuống cầu thang cũng làm cho mất ngủ gây bất an.
– Không nên đặt giường ngủ ở phía bức tường có cửa ra vào.
– Không nên để một chiếc gương đối diện với giường ngủ bất kể là từ hướng nào.
– Không nên di chuyển giường ngủ dành cho đôi vợ chồng khi người vợ đang có mang.
– Không nên ghép hai giường làm một mà nên mua nguyên một chiếc giường khổ lớn.
– Phòng ngủ không nên đặt trực tiếp phía trên các phòng bếp hoặc toilet.
– Cửa phòng ngủ không nên đối diện với cầu thang, toilet hoặc bếp.
– Cửa phòng ngủ không được đâm thẳng vào giường vì dễ gây tâm lý bất an. Tốt nhất, nếu phòng hình chữ nhật, thì giường và cửa phòng ngủ nên ở hai khu vực chéo nhau.
– Không nên đặt những cây cảnh nhỏ, bể cá hoặc những tranh phong cảnh có cảnh hồ, ao, sông ngòi trong phòng ngủ vì những vật thể đó sẽ khuấy động không gian yên tĩnh mang tính “âm” của phòng ngủ. vì sẽ gây mất ngủ, ảnh hưởng xấu tới hệ thống thần kinh của người nằm trong phòng.
– Không đặt những cửa sổ hình tròn trong phòng ngủ.
– Không nên có cửa sổ trần.
– Sàn phòng ngủ phải bằng hoặc cao hơn sàn toilet.
– Phòng ngủ nên có ít góc cạnh.
– Không nên đặt gương đối diện cửa phòng ngủ.
– Tránh tạo hình phòng ngủ theo dạng có góc nhọn hoặc dạng tròn.
– Không nên có cửa sổ phòng ngủ nhìn ra một ống khói.
– Yêu cầu quan trọng của phòng ngủ là phải có không gian ấm áp, yên tĩnh. Do đó trong bố cục nội thất, phòng ngủ chỉ nên bố trí những thiết bị điện tử tối thiểu như: máy nghe CD nhỏ hoặc nếu dùng ti vi nên dùng loại màn hình tinh thể lỏng (loại này bức xạ sóng vô tuyến giảm nhiều so với các loại ti vi CRT thông thường).
– Trong phòng ngủ nên treo những bức hình đám cưới hoặc những vật dụng gợi kỷ niệm đẹp của vợ chồng, treo thêm những bức tranh trẻ con ngộ nghĩnh, hoặc những bức tranh trang trí nhẹ nhàng.
– Nếu có bố trí bàn gương trang điểm thì nên tránh gương chiếu trực diện vào giường ngủ.
– Về bố cục màu sắc trong phòng ngủ cũng nên chọn những tông màu ấm áp, nhẹ nhàng.
– Không để cửa phòng ngủ đối diện trực tiếp với nhau. Điều này gây ra sự đối đầu giữa những người ngủ trong các phòng đó.
– Phòng ngủ hình chủ nhật hoặc hình vuông là tốt nhất. Không nên xây phòng ngủ có hình dạng phức tạp. Kết nối phòng ngủ và phòng tắm theo hình chữ L là không tốt.
– Không đặt giường ngủ nằm giữa cửa phòng ngủ và phòng toitet.
– Không ngủ trong tư thế đầu hoặc bàn chân chỉ thẳng ra cửa.
– Cửa phòng ngủ không đối diện trực tiếp với cầu thang, toilet, hoặc bất cứ vật bén nhọn như góc, gờ tường chẳng hạn.
Nhìn chung, những người tuổi Thìn nhóm máu A không biết cách thể hiện tình cảm với người mình yêu. Ngay cả khi ở những thời điểm quan trọng nhất, họ cũng để lỡ mất nhiều cơ hội tốt.
Điều đặc biệt ở những người này khi yêu là họ rất ít khi thể hiện tình cảm của mình ra bên ngoài. Trừ khi là người mà họ thầm yêu trộm nhớ bấy lâu nếu không họ sẽ không bao giờ chủ động tìm cách tiếp cận. Vì vậy, khi kết thành đôi thì tình yêu của họ sẽ vô cùng hạnh phúc và bền chặt.
Nếu vì một lí do gì đó mà họ phải chia tay người mình yêu thì họ sẽ vẫn nhớ về người đó. Họ coi đây là động lực để cố gắng tiến lên trong công việc và sự nghiệp sau này.
Khi xây dựng gia đình, đàn ông tuổi này vẫn luôn cố gắng làm tròn trách nhiệm của người chồng tốt, một người cha mẫu mực. Mặc dù đôi lúc dấu ấn về cuộc tình trong quá khứ còn vương vấn trong tim nhưng trong cuộc sống hiện tại, họ luôn biết chừng mực, tuân thủ các quy tắc đạo đức trong xã hội để không làm gì có lỗi với gia đình, vợ con.
Sau khi kết hôn, nữ giới tuổi này sẽ trở nên nhu mì, hiền dịu hơn. Họ sẽ là người mẹ đảm đang chăm lo tốt cho con của mình để chồng hoàn toàn yên tâm phát triển sự nghiệp.
Bảy cửa ải sau khi chết con người phải trải để đầu thai kiếp khác
Tùy vào nghiệp của chúng sinh mà sau chúng ta vượt qua từng cửa ải sau khi chết theo những cách hoàn toàn không giống nhau và sau đây là bài viết cho mọi người
cùng tham khảo. Không ít người trong chúng ta không khỏi thắc mắc rằng có thực cuộc sống sau khi chết hay không? Các tôn giáo đưa ra câu trả lời khác nhau cho những thắc mắc trên. Một số dạy rằng nếu là người tốt, bạn sẽ được lên thiên đàng, còn nếu là người xấu, bạn sẽ bị thiêu trong địa ngục. Số khác nói rằng khi chết thì linh hồn của bạn sẽ đoàn tụ với ông bà tổ tiên. Cũng có tôn giáo cho rằng sau khi chết và bị xét xử, bạn sẽ đầu thai thành người khác hoặc thú vật.Dường như các tôn giáo dạy rất khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết đều có chung khái niệm căn bản là một phần của con người vẫn còn sống sau khi thân thể chết. Bạn có thể tin hoặc không tin và bài viết sau chia sẻ một cách nhìn khá cụ thể để bạn có thể tham khảo và tự có câu trả lời cho chính mình.Theo Phật giáo và Đạo giáo, con người có phần hồn và phần xác, khi một người qua đời, lúc này sẽ có Hắc Bạch Vô Thường - quỷ sai của âm gian đến dẫn hồn phách của họ xuống Quỷ Môn quan.Sau đó lại được Tứ đại Sứ giả của âm gian, cũng chính là Đầu Trâu Mặt Ngựa, dẫn vong linh đến Âm Tào Địa Phủ, tiếp đó được thẩm phán của chư vị Đại Phán quan của Thập Điện Diêm La dưới âm gian tiếp nhận.Cuối cùng mới quyết định vong linh là có thể đi vào cõi nào để tiếp tục luân hồi: hoặc là lên trời hưởng phúc lành, hoặc là tiếp tục đầu thai làm người nữa hoặc loại động vật nào đó, hoặc là phải tiếp tục trải qua khổ hình ở mười tám tầng địa ngục như trong truyền thuyết. Tham khảo: Người chết đi về đâu trong 49 ngày?
Những gì con người trải qua sau khi chết
Khi một người chết đi thì họ được dẫn qua cửa ải sau khi chết đầu tiên là Quỷ Môn quan sau đó qua một con đường gọi có hoa nở Bỉ Ngạn nở rộ hai bên, con đường này có tên Hoàng Tuyền.Mất khá nhiều thời gian để đi hết con đường này và đến tận cuối con đường sẽ có một con sông nhỏ gọi là Vong Xuyên Hà. Trên sông có một chiếc cầu đá có tên là Tại điện này có cầu Nại Hà bắc qua sông Vong Xuyên hình cầu vồng, rất trơn. Ven sông Vong Xuyên, có một tảng đá, gọi là Tam Sinh Thạch. Những kẻ giết người, gian ác phải leo qua cầu, dưới sông đầy thuồng luồng, cá sấu; hai đầu cầu lại lại có bầy chó ngao sẵn sàng cắn xé. Những linh hồn được đi đầu thai trở lại làm người đều phải qua Vong Đài (đài quên), uống canh Quên Lãng của Mạnh bà để quên hết chuyện kiếp trước. Canh Mạnh Bà khiến người quên đi hết thảy, Tam Sinh Thạch ghi lại kiếp trước kiếp này của con người. Nhiều người còn nói là "uống nước sông Nại Hà" để quên đi kiếp trước trước khi đầu thai.Đi qua hết cầu Nại Hà bèn có thể thông đến sáu nơi, tức là đi vào cõi lục đạo luân hồi: cõi người trời, cõi A-tu-la, cõi người, cõi súc sinh (cũng gọi là đường bên cạnh), cõi quỷ đói, cõi địa ngục. Tham khảo: Vong hồn, ma quỷ, yêu tinh và Thần Phật khác nhau như thế nào?
Ải thứ nhất: Quỷ Môn quan
Truyền thuyết kể rằng, Diêm La Vương đã đặc cách chọn ra một nhóm 16 quỷ lớn để trấn giữ cửa ải Quỷ Môn quan. Một người sau khi chết, trước hết là do quỷ sai nơi âm gian Hắc Bạch Vô Thường dẫn ba hồn bảy phách đi, rồi giao cho quỷ Đầu Trâu Mặt Ngựa đẫn đến Quỷ Môn quan.
Tại đây, nhóm quỷ dữ tra xét vô cùng hà khắc bất kể người đó lúc sống có quyền cao chức trọng tới đâu không quan trọng, ai cũng như ai, đặc biệt họ nghiêm ngặt đối với những vong hồn dã quỷ tội ác đầy mình, bản tính hung ác không đổi; không để cho một ai có thể trà trộn đi qua quan này.Ai đã đến nơi đây đều cần phải tiếp nhận tra xét, xem xem có mang theo lộ dẫn – giấy thông hành đến quỷ quốc hay không. Lộ dẫn dài 90 cm, rộng 60 cm, được làm bằng giấy mềm màu vàng, mặt trên viết “Lộ dẫn do Phong Đô Thiên Vũ Diêm La Đại Đế phát cho và con người khắp thiên hạ, cần phải đi qua đường này, mới có thể đến Địa phủ chuyển thế thăng thiên”. Lộ dẫ được xem là căn cứ của người sau khi chết đi đến quỷ quốc báo danh.Đồng thời, trên mặt lộ dẫn có đóng dấu ấn của “thành hoàng Âm ty, phủ huyện Phong Đô”. Phàm là người sau khi chết đưa vào quan tài hoặc trong lúc hỏa táng đốt bỏ nó, thì sẽ theo linh hồn đến Địa phủ.
Tham khảo thêm: Ngạ quỷ là gì? Ma và ngạ quỷ giống hay khác nhau?
Ải thứ hai: Đường Hoàng Tuyền
Đi qua Quỷ Môn quan, hồn phách đến ải tiếp theo đó là phải đi qua một con đường rất dài có tên Hoàng Tuyền. Hồn phách của người ta đến âm gian báo danh sẽ phải đi một đoạn đường rất dài, qua rất nhiều quan, vì vậy đường Hoàng Tuyền (Suối Vàng) là tên gọi chung đối với những quan và lộ trình này.Trên đường Hoàng Tuyền có hoa Bỉ Ngạn màu đỏ, từ xa mà nhìn thì giống như là tấm thảm máu trải dài, vì loài hoa này có màu đỏ như lửa nên được ví là “đường lửa chiếu rọi”. Lúc Bỉ Ngạn hoa nở thì không thấy lá, khi có lá thì không thấy hoa, hoa là không bao giờ gặp gỡ, đời đời dở lỡ. Bởi vậy mấy có cách nói: ” Bỉ Ngạn hoa nở nơi Bỉ Ngạn, chỉ thấy hoa, không thấy lá” . Nhớ nhau thương nhau nhưng vĩnh viễn mất nhau, cứ như thế luân hồi và hoa lá không bao giờ nhìn thấy nhau, cũng có ý nghĩa là mối tình đau thương vĩnh viễn không thể gặp gỡ. Theo truyền thuyết hương hoa có ma lực, có thể gọi về kí ức lúc còn sống của người chết. Trên con đường Hoàng Tuyền nở rất nhiều loài hoa này, nhìn từ xa như một tấm thảm phủ đầy máu, màu đỏ đó như là ánh lửa nên bị gọi là “hỏa chiếu chi lộ”, đây cũng là loài hoa duy nhất mọc trên con đường Hoàng Tuyền, và cũng là phong cảnh, là màu sắc duy nhất ở nơi đấy. Khi linh hồn đi qua vong xuyên, liền quên hết tất cả những gì khi còn sống, tất cả mọi thứ đều lưu lại nơi bỉ ngạn, bước theo sự chỉ dẫn của loài hoa này mà hướng đến địa ngục của u linh. Ngoài ra, trên đường Hoàng Tuyền còn có rất nhiều cô hồn dã quỷ, họ là những người dương thọ chưa hết nhưng đã chết và lạc lõng nơi chốn này. Họ đã không thể lên trời, cũng không thể đầu thai, càng không thể đến âm gian, chỉ có thể lang thang trên đường Hoàng Tuyền, đợi đến dương thọ kết thúc rồi mới có thể đến âm gian báo danh, nghe Diêm La Vương phán xét.
Tham khảo thêm bài viết sau: Khoa học "vạch trần" hiện tượng hồn ma bóng quế
Ải thứ ba: Tam Sinh thạch
Bên cạnh cầu Nại Hà có tảng đá xanh có khắc bốn chữ lớn “Tảo Đăng Bỉ Ngạn” (sớm đến bờ bên kia). Đá này có tên Tam Sinh thạch (đá ba đời). Theo như bên Phật gia thì là tam thế chuyển sinh, tức là kiếp trước, kiếp này, kiếp sau. Phật gia cho rằng, sinh mệnh là vĩnh hằng, cho nên sinh mệnh có luân hồi chuyển thế.
Kiếp trước là nhân, kiếp này là quả, kiếp sau là duyên. Nhân duyên tụ hợp, duyên diệt duyên khởi, nợ tình duyên còn phải hoàn trả, oan trái…hết thảy đều được ghi lại rõ ràng trên Tam Sinh Thạch – Đá Ba Đời. Khi linh hồn đứng trước tảng đá ba đời này là thấu tỏ hết mọi sự đời.
Ải thứ tư: Vọng Hương đài
Vọng Hương đài còn được gọi là “Tư Hương lĩnh” (đồi nhớ quê) là nơi các linh hồn có thể lên đây nhìn về Dương gian, là nơi liên lạc giữa người sống và người chết. Vọng Hương Đài cũng chính là Thổ Cao đài, nơi có đình Mạnh Bà, là ở phía trước cây cầu, chứ không phải ở phía sau cây cầu.
Theo truyền thuyết, Vọng Hương đài là nơi mà vong hồn nhìn về dương thế tạm biệt người thân một lần cuối cùng. Lại có truyền thuyết rằng, kiến tạo của Vọng Hương đài nơi âm gian rất kỳ lạ, trên rộng dưới hẹp, mặt như cánh cung, lưng như dây cung ngang nhau, ngoài một con đường đá rất nhỏ ra, còn lại đều là núi đao rừng kiếm, hiểm trở vô cùng. Đứng ở trên đó, năm châu bốn biển đều có thể nhìn thấy. Truyền thuyết kể rằng, sau khi con người chết rồi, “ngày đầu tiền không ăn cơm nơi cõi người, ngày thứ hai liền qua Âm Dương giới, ngày thứ ba đến Vọng Hương đài, nhìn thấy người thân đang khóc lóc thảm thiết”.
Ải thứ năm: Vong Xuyên hà
Người sau khi con người chết phải uống canh Mạnh Bà để quên đi mọi sự, đầu thai sang kiếp khác. Tuy nhiên, có những người không uống để có thể gặp người mình yêu thương ở kiếp sau. Vì thế, họ phải nhảy vào Vong Xuyên hà - cửa ải sau khi chết số năm, đợi trên nghìn năm mới có thể đầu thai.
Ải thứ năm Vong Xuyên hà còn gọi “Tam Đồ hà”, chắn ngang giữa đường Hoàng Tuyền và Âm phủ. Nước sông có màu đỏ như máu vô cùng hôi tanh, bên trong hết thảy đều là cô hồn dã quỷ không được đầu thai, trùng rắn khắp nơi.Những ai nguyện nhảy xuống Vòng Xuyên hà trong nghìn năm đó, hoặc có lẽ sẽ nhìn thấy người mà mình yêu thương nhất trong kiếp này đi trên đầu, nhưng không thể nói chuyện với nhau, bạn thấy họ, nhưng họ lại không thấy bạn.Thậm chí, bạn nhìn thấy họ hết lần này lại đến lần khác đi qua cầu Nại Hà, uống canh Mạnh Bà hết chén này lại chén khác, tuy mong họ không uống canh Mạnh Bà nhưng lại sợ rằng họ chịu không nổi cái khổ dày vò nghìn năm trong Vong Xuyên Hà này.Kết thúc thời hạn nghìn năm, nếu bạn vẫn nguyện tìm lại người mình vô cùng yêu thương trước kia thì bạn có thể trở lại nhân gian, tìm kiếm lại người đó.
Ải thứ sáu: Canh Mạnh Bà
Canh Mạnh Bà còn gọi là Vong Tình Thủy hoặc Vong Ưu Tán, hễ uống vào liền quên hết mọi chuyện của đời này lẫn đời trước. Ở Ải thứ sáu này, Mạnh Bà đứng ở đầu cầu Nại Hà để phát canh. Sau khi con người chết mỗi một người đều phải đi qua cầu Nại Hà, Mạnh Bà đều sẽ hỏi có uống canh Mạnh Bà không, nếu muốn qua cầu Nại Hà, thì cần phải uống canh Mạnh Bà. Còn không uống canh Mạnh Bà, thì không qua được cầu Nại Hà, không qua được cầu Nại Hà, thì không được đầu thai chuyển sinh.Mỗi một người trong Dương gian đều có một cái chén của mình ở tại nơi này, canh Mạnh Bà trong chén, thật ra chính là nước mắt chảy suốt một đời khi vui, hoặc buồn, hoặc đau khổ, hoặc căm hận, hoặc sầu não, hoặc yêu thương… tất cả được nấu thành canh.Mạnh Bà thu giữ từng giọt từng giọt nước mắt của họ lại, đun nấu thành canh, khi họ rời khỏi nhân gian, đi đến đầu cầu Nại Hà, sẽ cho họ uống vào, quên hết yêu hận tình thù khi còn sống, kiền tịnh sạch sẽ, bắt đầu tiến nhập vào Lục đạo, hoặc là Tiên, hoặc là người, hoặc là súc sinh,...Uống canh rồi mọi sầu muộn, thù hận và yêu thương sẽ không còn nhớ nữa. Vì thế, không phải ai cũng cam tâm tình nguyện uống canh Mạnh Bà. Mạnh Bà sẽ nói với họ: “Nước mắt cậu rơi vì người ấy đều đã nấu thành chén canh này, uống nó rồi, chính là uống vào tình yêu cậu dành cho người đó vậy”. Một ký ức được xóa đi sau cùng trong mắt người ta chính là người mà họ yêu nhất trong đời này, uống canh vào, hình bóng người trong mắt dần dần phai nhạt đi, con mắt trong sáng như đứa trẻ sơ sinh.
Xem thêm: Ma quỷ trong Phật giáo - u mê còn đáng sợ hơn quỷ dữ
Ải thứ bảy: Cầu Nại Hà
Tương truyền, nơi cõi Âm phủ có một cây cầu rất mỏng manh, bắc ngang một con sông lớn, ván lót trơn trợt, rất khó lên cầu để đi qua sông. Đó là cửa ải sau khi chết số bảy có tên cầu Nại Hà. Hơn nữa, dưới cầu là sông lớn có đủ các thứ rắn độc, cua kình hung dữ, đợi người nào lọt xuống thì chúng xúm lại xé thây ăn thịt.Các linh hồn nơi Âm phủ, khi đến cầu nầy, muốn lên cầu qua sông, nhìn thấy cảnh tượng như thế thì nản lòng thối bước, không biết làm thế nào để đi qua cầu cho được an toàn. Nhiều người cố đi qua, nhưng đến giữa cầu thì bị té xuống sông, rắn rít cua kình giành nhau phanh thây ăn thịt, thật là ghê gớm.Có tất cả là sáu loại cầu Nại Hà: cầu làm bằng vàng, bạc, ngọc, đá, gạch, cây. Tương ứng với Lục đạo.
Điện thứ mười là nơi nhận những quỷ hồn của các điện khác chuyển đến. Sau khi thẩm định phước phần của mỗi hồn, sẽ cho đi Đầu thai vào các nơi tương xứng, theo các tình trạng: nam hay nữ, giàu hay nghèo, sang hay hèn, khôn hay ngu, thọ hay yểu…
Mỗi tháng, các điện sẽ chuyển giao một lần các quỷ hồn đến đây. Việc thọ sanh (đi đầu thai) rất chi tiết, tỉ mỉ, phức tạp như là: đường nào trong bốn đường thai, noãn, thấp, hóa; như loài vật thì có loài không chân, hai chân, bốn chân hoặc nhiều chân. Có loài thì tự chết, có loài thì bị giết chết…Việc đúc kết rất cẩn thận vì tầm quan trọng lớn lao của nó. Kết quả sẽ ghi kỹ lưỡng cho mỗi quỷ hồn để đưa đến Phong Đô đầu thai.Quá trình đi xuống âm gian của người ta sau khi chết vốn không thông dụng với hết thảy mọi người. Những người tu hành làm thiện nếu như công đức đạt đến viên mãn, sau khi hết mệnh sẽ không phải trải qua quá trình âm gian này mà trực tiếp được Phật tiếp dẫn đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Những kẻ đại ác làm nhiều việc gian ác cũng có thể sẽ không trải qua quá trình âm gian này, bởi nghiệp lực dẫn dắt mà sẽ bị đánh thẳng vào địa ngục.Đây là truyền thuyết lưu truyền hàng ngàn năm nay. Khoa học ít nhiều đã chứng thực qua các công trình nghiên cứu rất nghiêm túc các hiện tượng như nhớ lại kiếp trước, nhớ lại những cảnh tượng mô tả dưới địa phủ sau khi chết đi sống lại, ở nhiều địa phương và quốc gia.
Minh Minh (tổng hợp) Người chết do tai nạn, linh hồn sẽ đi đâu về đâu?Có hay không việc linh hồn tái sinh?Sau khi chết, bạn sẽ thành MA hay thành THIÊN THẦN?
Trong tử vi đẩu số, sao Thiên Lương được lấy từ nhân vật quan Tổng binh ải Trần Đường Lý Tịnh, có ba người con trai Kim Tra, Mộc Tra, Na Tra, được mệnh danh là Thác Tháp Lý Thiên Vương
Trong tử vi đẩu số, sao Thiên Lương được lấy từ nhân vật quan Tổng binh ải Trần Đường Lý Tịnh.
Lý Tịnh từng bái Độ Ách chân nhân tại Tây Côn Lôn làm thầy theo học pháp thuật nhiều năm, thấy đạo thần khó thành, nên từ biệt thầy xuống núi, sau lĩnh chức Tổng binh của triều đình Ân Trụ. Phu nhân của ông là An thị sinh được ba con trai, con trưởng là Kim Tra, con thứ là Mộc Tra, con út là Na Tra.
Kim Tra bái Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn tại động Vân Tiêu núi Ngũ Long làm thầy, Mộc Tra theo học Phổ Hiền chân nhân tại động Bạch Hạc núi Cửu Cung, còn Na Tra vừa ra đời đã được Thái Ất chân nhân nhận làm học trò.
Lý Tịnh với danh xưng là "Thác tháp thiên vương" (thiên vương nâng tháp) là một võ tướng trong truyện Phong thần diễn nghĩa, với hình tượng mình mặc giáp trụ, đầu đội mũ ô vàng, tay trái dỡ một toà tháp, tay phải cầm cương xoa ba mũi hoặc bảo kiếm.
Do Thương Trụ vô đạo, trăm họ lầm than khổ cực, các chư hầu lớn nhỏ tôn Tây Bá hầu Cư Phát làm thủ lĩnh, hợp quân phạt Trụ. Cả ba con trai của Lý Tịnh cũng đều theo về dưới trướng Vũ Vương, làm bộ tướng tiên phong. Lý Tịnh vốn là tướng nhà Ân, đứng trước tình hình đó, không biết phải làm thế nào. Sau ông được Đạo nhân Nhiên Đăng chỉ điểm, tạm thời từ quan về ở ẩn, đợi đến khi Chu Vũ Vương dấy binh thì đến hợp lực cùng ba người con trai cùng tham gia nghiệp lớn.
Trong thời gian Vũ Vương phạt Trụ, Lý Tịnh cùng ba con trai đã lập rất nhiều công lao lớn, đặc biệt là con trai út Na Tra, hoá thân của hoa sen trắng (sao Hoả), đánh đâu thắng đó, giúp đỡ đắc lực cho chiến thắng của Vũ Vương. Khi sự nghiệp hoàn thành, triều Chu đã được kiến lập, Vũ vương tiến hành luận công ban thưởng, cả bốn cha con Lý Tịnh đều không màng đến danh lợi, không hẹn mà cùng lẳng lặng trở về nơi lu luyện của thầy mình, rồi từ đó đến cuối đời chỉ chuyên tâm học đạo tu tiên.
Lý Tịnh vốn là một võ tướng, nhưng công lực tu hành rất cao thâm, hơn nữa còn mang tấm lòng nhân ái, sẵn sàng dùng tài năng và pháp lực để cứu vớt nhân dân ra khỏi cơn nước lửa mà không màng chuyện sống chết của bản thân.
Lý Tịnh tu đạo mà thành thần tiên, trở nên trường thọ. Khương Tử Nha sau khi tự phong mình làm chủ nhân sao Thiên Cơ, lại thấy sao Thiên Lương còn vô chủ, bèn phong thần trước cho Lý Tịnh, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp diệt Trụ của Vũ Vương. Bởi vậy trong hệ thống lý luận Tử Vi Đẩu Số, tính cách của Lý Tịnh được gán rất nhiều cho sao Thiên Lương.
Thiên Lương là sao chủ về tuổi thọ và sang quý, có lòng trắc ẩn, bản tính trung hậu, thích bố thí, hay lo chuyện bao đồng. Hành sự quyết đoán, thích giúp đỡ ngưòi khác nhưng việc nhà lại thiếu sự quan tâm.
Danh hiệu Thác Tháp Lý Thiên Vương của Lý Tinh bắt nguồn như sau:
Người con trai út của Lý Tịnh tên là Na Tra, từ nhỏ đã ương bướng và rất nghịch ngợm. Một hôm, Na Tra cùng đám bạn của mình chơi đùa nơi ven biển, làm kinh động đến tận Thủy cung của Đông Hải Long Vương. Long Vương bực tức lệnh sai Dọa Xoa đi tìm hiểu ngọn ngành. Tới nơi thì Dọa Xoa bị Na Tra giết chết. Sau đó Long Vương lại sai Tam thái tử đi thu phục Na Tra. Do nói năng thiếu khiêm nhường nên đã chọc tức bản tánh ương ngạnh khiến Na Tra xuống dưới biển và đại náo Long cung, giết chết Tam thái tử, phá hủy Long cung và bắt nhốt Long Vương.
Trước tình hình đó, không còn cách nào khác, Lý Tịnh đành bắt Na Tra tự sát. May được Thái Ất chân nhân dùng hoa sen giúp cho Na Tra được hồi sinh. Na Tra sau khi trở lại với thân xác của mình thì trong lòng không vui, muốn tìm cha mình để trả thù. Bởi tài năng cao cường của Na Tra, Lý Tịnh không thể chống đỡ được nên Phật Tổ Như Lai liền ban cho ông một tòa bảo tháp xá lị bằng vàng. Lý Tịnh nhờ đó mới nhốt được Na Tra vào trong bảo tháp.
Sau này mối thù giữa cha và con được hóa giải. Cùng nhau theo về trướng Vũ Vương tiên phong phạt Trụ cứu dân độ thế. Lý Tịnh có được bảo tháp thần kỳ này mà trở thành danh xưng "Thác tháp Lý thiên vương".
– Những cô nàng có tướng lông mày tân nguyệt sở hữu đời sống tình cảm phong phú nhưng lối suy nghĩ cũng khá lý trí, nên luôn làm chủ trong cuộc sống. Chính điều đó đã hút vận đào hoa và chiêu tài lộc đến với họ.
1. Lông mày tân nguyệt
Lông mày tân nguyệt ý chỉ hình dáng lông mày như mảnh trăng non, lông mày mảnh, dài và hơi cong. Đa phần nữ giới đều thích kiểu lông mày này. Những cô nàng có tướng lông mày tân nguyệt sở hữu đời sống tình cảm phong phú nhưng lối suy nghĩ cũng khá lý trí, nên luôn làm chủ trong cuộc sống. Chính điều đó đã hút vận đào hoa và chiêu tài lộc đến với họ. Cuộc sống sau hôn nhân của cô nàng này viên mãn, vợ chồng hòa hợp, con cái học hành giỏi giang, gia đình hạnh phúc.2. Lông mày lá liễuĐặc điểm thường thấy của lông mày lá liễu là mày dài, mượt, phía đuôi lông mày thon. Lông mày mọc không lộn xộn, nhìn dáng mọc lướt thướt như lá liễu.Nữ giới có kiểu mày này thường dịu dàng, điềm tĩnh, có số vượng phu, vận đào hoa rất vượng, có thể cuốn hút nhiều chàng trai, nhất là những người thành đạt, anh hùng hảo hán càng dễ rơi vào vòng tình cảm với họ.3. Lông mày chữ “Nhất” (一)
Đặc điểm của tướng lông mày này là: sợi lông mày đen mịn, khoảng cách vừa phải, bản ngang khá to, dài bằng hoặc hơn mắt, đầu lông mày và đuôi lông mày to gần bằng nhau và phẳng theo hình chữ Nhất. Phụ nữ có lông mày chữ Nhất thường là tuýp người của công việc. Họ rất coi trọng sự nghiệp, sẵn sàng hy sinh tình cảm cá nhân để phấn đấu cho sự nghiệp. Có thể nói, công việc chính là rào cản, ngăn vận đào hoa đến với họ. Làm việc ít đi một chút, dành thời gian cho chính cảm xúc bản thân, vận đào hoa sẽ tăng lên trông thấy.4. Lông mày chữ “Bát” (八)Kiểu lông mày này có đặc điểm là phần đầu mày nhô cao, đuôi mày có xu hướng đi xuống, tạo thành hình giống chữ “Bát”.Nếu lông mày này kéo dài qua đuôi mắt, chứng tỏ đây là cô nàng khôn khéo, có tài năng nhưng khá trầm tĩnh, thường mang vẻ bề ngoài “tẩm ngẩm tầm ngầm nhưng đấm chết voi”, nhân duyên tốt, cho dù cuộc sống có gặp khó khăn thì vẫn có quý nhân giúp đỡ.5. Lông mày thanh, dài
Hình thể hơi cong, dài quá mắt, đầu hơi nhỏ và thấp. Thân lông mày lớn (bề ngang rộng), lông mày vừa phải không đậm không nhạt, trông gần thì hơi thô nhưng trông xa thì có nét thanh tú. Có kiểu lông mày này chứng tỏ chủ nhân có nhân duyên tốt đẹp, nhất là nhân duyên khác giới. Nhìn chung, vận đào hoa rất vượng, dễ dàng tìm được đối tượng ưng ý, hạnh phúc viên mãn.6. Lông mày nhô lênKiểu lông mày này có đặc điểm đầu mày nhô lên cao, khoảng cách giữa hai đầu lông mày rộng, nhìn trông khá dữ tướng.Nhưng tính cách của người này lại khá điềm đạm, hiểu biết, biết phân định phải trái rõ ràng. Nhưng vì nhìn tướng có vẻ dữ nên ngăn cản vận đào hoa tới. Nhưng bạn có thể tỉa tót cho gọn gàng, làm giảm vẻ dữ dằn, vận đào hoa sẽ đến nhanh hơn.7. Lông mày bị đứt đoạnĐây là kiểu lông mày hiếm gặp nhưng không phải không có. Thông thường, lông mày này chia thành nhiều đoạn, chỗ dày chỗ mỏng không đều nhau, có thể là do bẩm sinh hoặc gặp sự cố ngoài ý muốn. Lông mày đứt đoạn thì vận đào hoa cũng không thể hanh thông, vì thế người này thường kết hôn muộn và khá lận đận trong đường tình duyên. Tuy nhiên, bạn có thể sửa bằng cách dùng kẻ mày nối các đoạn đứt ấy thành một đường liền mạch, ắt sẽ thu hút vận đào hoa tới.
► Bói nốt ruồi đoán tính cách chuẩn xác
An Nhiên Coi tướng lông mày của người phụ nữ quyền lực Sở hữu tướng lông mày này, phụ nữ có thể nắm quyền lực lớn trong tay, có số làm lãnh đạo và khá phù hợp với con đường chính trị. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Giống như hầu hết người mệnh Hỏa thuộc sinh tiêu khác, họ là người có tính cách mạnh mẽ cùng tấm lòng nhiệt tình với công việc cũng như với người thân, bạn bè.
Họ rất vui tính và vì thế bầu không khí xung quanh họ luôn tràn ngập tiếng cười. Tuy nhiên, khi trong lòng có tâm sự buồn rầu họ lại không thích để lộ ra bên ngoài cũng như không thích chia sẻ nỗi niềm với ai khác.
(Ảnh minh họa)
Họ thường là nhân vật trung tâm của đám đông.Vì có năng lực lãnh đạo bẩm sinh nên họ cũng thường xuyên nhận được sự ủng hộ của nhiều người.
Có thể nói rằng người tuổi Mão mệnh Hỏa luôn cố gắng chu toàn mọi việc. Họ khá nhanh nhạy khi nhìn nhận và giải quyết vấn đề. Họ có năng lực giải quyết vấn đề và có giác quan thứ 6 khá nhạy bén. Hơn nữa, họ lại biết phân biệt rõ thiện, ác, chân thành và thẳng thắn, biết cách thay đổi bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh và xu hướng chung.
Họ cũng là người thích sự thần bí và đa màu sắc. Đôi khi, họ sẽ làm những việc dũng cảm mà người khác không thể tưởng tượng nổi. Họ thích có những cảm xúc vui buồn tự nhiên. Sở dĩ họ thích làm như vậy một mặt là vì muốn mình có sức hấp dẫn đặc biệt với người khác, mặt khác là để thoả mãn sự ham muốn hư vinh của mình. Nếu dùng ý chí và quyết tâm này vào việc xây dựng sự nghiệp thì chắc chắn họ sẽ giành được những thành công lớn.
Đôi khi, tính cách của người này có nhiều mâu thuẫn. Ví như, họ vừa có năng lực tạo dựng sự nghiệp nhưng cũng thường hay lo lắng rằng sự cương nghị của mình là thái quá đối với mọi người.
Họ sẽ không nịnh nọt để lấy lòng người khác mà có thái độ thành thực, tôn trọng nên được nhiều người yêu mến, quý trọng. Vì vậy, họ có được thành tựu nhất định trong sự nghiệp của mình và hài lòng với công việc đang làm.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi.
Lâu lắm chúng tôi không có cơ hội về giảng cũng như nhắc nhở sự tu hành cho toàn thể chư Tăng Ni ở khu Đại Tòng Lâm. Hôm nay được ban tổ chức trường hạ Đại Tòng Lâm mời về thăm và nói chuyện với tất cả Tăng Ni và Phật tử nơi đây, tôi liền hoan hỉ chấp nhận.
Vì trước kia Hòa thượng Giám đốc và Phó giám đốc ở Ấn Quang, khi thành lập được khu Đại Tòng Lâm thì chúng tôi có mặt bên cạnh, vâng lời dạy của các ngài phụ giúp phần nào đối với cơ sở này. Giờ đây hai Hòa thượng đã theo Phật, chúng tôi những người còn sót lại tự nhiên cảm thấy bổn phận phải làm sao duy trì gìn giữ ngôi Đại Tòng Lâm này đúng như sở nguyện của hai Hòa thượng.
Tất cả những vị ở Đại Tòng Lâm, hoặc là trường Trung cấp, hoặc là trường Cao cấp, hoặc các Thiền viện do chúng tôi thành lập trong khu vực này đều là Tăng Ni chung của Đại Tòng Lâm, mà cũng là của Phật giáo Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng biệt được. Vì vậy khi cần, chúng tôi sẵn sàng đến để nhắc nhở Tăng Ni, Phật tử hiểu biết tu hành cho đúng với chánh pháp.
Mùa an cư này chư Tăng chư Ni về đây an cư là cơ hội tốt để Đại Tòng Lâm càng ngày càng phồn thịnh hơn, sự tu hành càng tinh tiến hơn, đó là điều hết sức quí báu. Vì vậy tôi nghĩ không thể nào chỉ nói suông, tán thán một cách tổng quát như vậy mà cần phải đi sâu vào vấn đề đạo lý, để cho Tăng Ni và tất cả quí vị nghe hiểu có kinh nghiệm thêm trên đường tu hành. Đó mới là điều quí giá. Vấn đề tôi nói hôm nay là hai vấn đề tối hệ trọng của những người tu Phật, đó là trí tuệ và từ bi.
Như chúng ta đã biết đạo Phật là đạo giác ngộ. Đức Phật ngồi thiền định dưới cội bồ-đề mà được giác ngộ. Ngài đi giáo hóa khắp nơi để truyền đạo giác ngộ này. Nhưng sao chúng ta không gọi là đạo giác ngộ mà gọi là đạo Phật. Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud là giác, dha là người. Người giác ngộ đi truyền bá đạo giác ngộ. Nhưng nếu giải nghĩa chữ Phật là giác ngộ thì sợ người ta hiểu lầm. Bởi có những người làm ăn bất chánh không lương thiện, khi có ai nhắc nhở dạy bảo, họ bỏ điều bất chánh trở thành người lương thiện thì người ta sẽ nói anh ấy đã giác ngộ rồi. Giác ngộ đó chỉ có nghĩa là bỏ cái xấu, cái dở để trở thành người tốt thôi. Nếu hiểu đạo Phật theo nghĩa giác ngộ như vậy thì đánh giá quá thấp đạo Phật, làm mất giá trị siêu thoát của đạo Phật. Bởi vậy trong nhà Phật để nguyên từ Phật.
Nói Phật chắc quí vị sẽ có nghi. Tại sao bây giờ chúng ta nói đức Phật mà hồi xưa ông bà tổ tiên chúng ta lại nói là Bụt. Như vậy nói Bụt trúng hay nói Phật trúng? Từ Bụt cho chúng ta thấy đạo Phật được trực tiếp truyền vào Việt Nam từ những vị Sư Ấn Độ. Ngày xưa ở miền Bắc vùng Luy Lâu rất phồn thịnh, các sư người Ấn theo tàu buôn đến đó truyền bá. Các ngài trực tiếp dạy người dân biết đạo Phật, và đức Phật được gọi là Bụt. Bụt nguyên là Bud, đọc trại đi một tí thành Bụt. Đọc Bụt nghe gần hơn, còn đọc Phật nghe xa quá. Vậy đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam gốc từ người Ấn truyền sang, chớ không phải từ Trung Hoa truyền sang buổi đầu.
Tại sao bây giờ chúng ta đọc là Phật? Ở Trung Hoa từ đời Tống đến đời Minh có in những Tạng kinh dịch từ chữ Phạn, chữ Pali ra chữ Hán rồi tặng cho Việt Nam. Đời Trần được tặng một Tạng kinh và sau này chúng ta cũng có thỉnh thêm những Tạng kinh từ Trung Hoa. Chữ Buddha người Trung Hoa dịch gồm một bên chữ nhân đứng, một bên chữ phất. Như vậy Phật là phát sanh từ chữ Hán mà ta đọc theo âm Việt Nam là Phật hay Phật-đà.
Nói đến đạo Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn tuyệt cùng, chớ không phải sự giác ngộ thông thường của thế gian, vì e người ta hiểu lầm nên để nguyên âm là Phật, chớ không nói là giác ngộ. Giờ đây chúng ta học Phật phải dùng những từ gần thời hiện tại như giác ngộ, trí tuệ để dễ thâm nhập hơn.
Vì vậy chúng ta phải hiểu tường tận gốc của đạo Phật là giác ngộ viên mãn. Nên người tu Phật lúc nào cũng phải thuộc lòng Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nói đến Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn, tức giác ngộ tròn đầy không thiếu khuyết một góc cạnh nào.
Chúng ta học Phật, tu Phật là tu theo đạo giác ngộ. Mà đạo giác ngộ dĩ nhiên trí tuệ là căn bản không thể nào thiếu được. Người tu theo Phật dù xuất gia hay tại gia cũng phải mở sáng con mắt trí tuệ.
Chúng ta hãy xét lại xem từ ngày phát tâm tu theo Phật đến giờ đã mở sáng trí tuệ được nhiều hay ít? Có người khi nghe đến trí tuệ dường như sợ nên thường xưng Ngu tăng hay Phàm tăng như để nói lên sự khiêm nhường, họ ít nói đến sự giác ngộ.
Mà chưa giác ngộ thì chưa phải tu theo đạo Phật. Ở đây, tôi không nói đến giác ngộ mà chỉ nói trí tuệ. Bởi vì trí tuệ mở màn cho giác ngộ cứu kính.
Chúng ta nhớ lời Phật dạy, người tu phải tự giác và giác tha. Tự giác là mở sáng trí tuệ của mình.
Giác tha là đem trí tuệ đó đánh thức, cảnh tỉnh mọi người cùng giác ngộ. Tự giác là việc của mình. Giác tha là giúp cho người. Giúp cho người là lòng từ bi. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi. Chưa giác ngộ mà nói đến từ bi, chỉ là từ bi gượng thôi.
Nếu một vị Tăng đã thấy bổn phận mình phải truyền bá chánh pháp, phải thực hành hạnh từ bi mà không chịu tu, không thức tỉnh, không chịu giác ngộ thì chẳng biết vị ấy sẽ thực hành hạnh từ bi bằng cách nào? Chẳng lẽ chúng ta đi đắp đất, cuốc đường hay hốt rác cho thiên hạ. Từ bi như vậy người phàm tục cũng làm được mà. Vậy từ bi trong đạo Phật là thế nào? Tôi sẽ nói rõ hơn vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ trở lại phần trí tuệ. Trí tuệ mà Phật dạy cho Tăng Ni là ba môn tuệ học: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Văn tuệ là như thế nào? Chúng ta đến với đạo, tự mình làm sao giác được. Nên phải nhờ những người đi trước như bậc thầy, các hàng Tôn túc đã tu, đã học, đã mở được đôi phần trí tuệ hướng dẫn, chỉ dạy cho chúng ta từ từ mở con mắt trí tuệ. Nhờ lắng nghe những lời chỉ dẫn, giảng dạy ấy mà chúng ta mở được con mắt trí tuệ của mình là Văn tuệ. Người tu cất thất ở riêng, không học hành gì hết chắc chắn sẽ không có Văn tuệ. Không có Văn tuệ mà tu thì chỉ là tu mù. Những người tu này khi chỉ dạy cho kẻ khác thì cũng chỉ dạy một cách mù quáng mà thôi. Trong kinh Phật nói: “Một người mù dẫn một đám mù, người mù đi trước sụp hầm, những kẻ mù theo sau cũng té xuống hầm luôn.” Người học Phật mà thiếu Văn tuệ không thể được.
Trong kinh A-hàm Phật dạy: Người cư sĩ đến chùa đầu tiên phải gặp Tăng Ni. Gặp Tăng Ni để thưa hỏi Phật pháp chớ không phải để cúng cầu an cầu siêu, như vậy là Văn tuệ. Sau khi nghe chư Tăng Ni dạy Phật pháp rồi phải suy gẫm lời thầy dạy có đúng với kinh Phật không, có đúng với lẽ thật chân lý không? Nếu đúng mới tin, còn dạy sai dạy lầm thì không tin. Cho nên Tư tuệ hết sức thiết yếu. Sau khi suy tư nghiệm thấy đúng kinh Phật, đúng chân lý rồi mới tu. Phật dạy cư sĩ còn như vậy huống là tu sĩ xuất gia mà lại thiếu Văn, Tư, Tu. Thế mà có nhiều tu sĩ cứ tự tu không cần học với ai cả thì thật sự hết sức sai lầm.
Tư tuệ là như thế nào? Phật dạy chúng ta nghe rồi phải suy gẫm, suy gẫm đó chính là tư duy, phải là chánh tư duy. Nếu nghe dạy chúng ta tin mà không hiểu, thì tin đó chưa phải là chánh. Cần phải suy gẫm cho đúng, hiểu cho đúng mới gọi là chánh.
Hồi xưa lúc còn làm Tăng sinh, tôi cũng học như quí vị. Những gì tôi không hiểu thì tôi hay nghi, nghi thì phải tra tìm. Những năm Sơ đẳng, tôi học lý nhân quả luân hồi kỹ lắm, nhưng khi học cổ sử Ấn Độ tôi thấy lý nghiệp báo luân hồi không phải mới có từ thời đức Phật, mà đã có từ thời Áo nghĩa thư của Ấn Độ, tức trước Phật cả mấy trăm năm. Biết được vậy tôi rất buồn, tôi nghĩ Phật đã giác ngộ rồi sao không lựa điều gì mới, mà lại lấy cái cũ của người ta đem ra dạy mình.
Có lần tôi đọc cuốn sách của một số học giả phê bình rằng: “Đạo Phật ăn cắp lý nghiệp báo của Áo nghĩa thư làm của mình.” Đọc đến đó tôi thấy xót quá, khó chịu quá. Đức Phật của mình sao lôi thôi vậy, của người ăn cắp đem làm của mình thì thật là buồn. Lâu nay chúng ta tin rằng đức Phật giác ngộ viên mãn thì những gì Phật dạy đều từ trí tuệ giác ngộ của Ngài lưu xuất. Thế sao lại ăn cắp của người ta đem làm của mình, tôi không bằng lòng như vậy.
Khi lên Trung đẳng, rồi Cao đẳng tôi đã tra hết các bộ kinh A-hàm trong Hán tạng. Đọc một lần chưa thấm, đọc hai lần rồi ba lần, tôi có nguồn an ủi. Trong một bài kinh đức Phật dạy: “Khi Ngài chứng được Thiên nhãn minh rồi, nhìn lại thấy chúng sanh bị nghiệp dẫn luân hồi sanh tử giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi đường này, người đi đường kia một cách rõ ràng không nghi.” Như vậy sở dĩ Phật nói luân hồi nhân quả hay nghiệp dẫn luân hồi là Ngài thấy rõ ràng, chớ không phải ăn cắp như người ta nói xấu.
Rồi lần lần tôi lại thấy ra, trong Áo nghĩa thư có nói về nghiệp báo luân hồi nhưng chưa phân tích rõ ràng. Nên khi đạo Bà-la-môn kế thừa tinh thần của Áo nghĩa thư, mới đặt ra bốn giai cấp. Trong đó Bà-la-môn được sanh ra từ đầu của Phạm Thiên nên được kính trọng nhất, còn các giai cấp khác được sanh từ ngực, từ bụng, từ bàn chân nên không được kính trọng bằng. Sự phân chia giai cấp này khiến người dân càng khổ, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, dù họ nói nghiệp báo luân hồi nhưng phải nhờ các vị Bà-la-môn cầu cúng thì mới hết nghiệp hết tội. Hoặc phải mở những hội tế đàn nào là trâu, dê cúng cho nhiều thì mới hết tội. Cả hai điều này đều bị Phật bác hết. Về mặt giai cấp, Phật bảo không có giai cấp khi mọi người máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau, nên mọi người đều bình đẳng.
Kinh kể hôm nọ Phật ở trong rừng với đệ tử, một số thầy Bà-la-môn đến hỏi Phật:
– Thưa ngài Cù-đàm, đệ tử Ngài chết Ngài cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Phật không trả lời mà chỉ hỏi lại:
– Đệ tử các ông chết các ông cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Các vị Bà-la-môn đáp:
– Được.
Lúc đó Phật nói thí dụ:
– Như nơi một giếng sâu, có người ôm cục đá bỏ xuống giếng rồi nhờ các ngài cầu cho nó nổi, đừng chìm được không?
Các vị Bà-la-môn đều lắc đầu, Phật hỏi tiếp:
– Có người cầm chai dầu đổ xuống giếng, rồi nhờ các ngài cầu cho dầu chìm xuống đáy giếng được không?
Các vị Bà-la-môn cũng lắc đầu, Phật nói:
– Cũng vậy, người làm nghiệp lành sẽ sanh cõi lành giống như dầu nhẹ nổi lên, dầu các vị có ác ý cầu cho xuống địa ngục họ cũng không xuống. Ngược lại người làm dữ phải đi xuống giống như đá, dầu các vị có thiện cảm chấp tay cầu nguyện cũng không nổi lên được.
Vậy đức Phật chấp nhận cầu nguyện hay chấp nhận nghiệp? Nghiệp lành, nghiệp dữ đưa mình lên hoặc lôi mình xuống, chớ không phải cầu nguyện mà được lên hoặc xuống. Đức Phật thấy rõ về nghiệp, cho nên Ngài biết manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi lành, manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi dữ.
Trong nhà Phật dạy chúng ta có Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa là sanh trở lại làm người, Phật dạy tu giữ năm giới. Năm giới nếu giữ toàn vẹn bảo đảm người đó đời này làm người, đời sau chết trở lại làm người. Tu Thập thiện, sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời. Mỗi một nhân đưa tới một quả, Phật thấy tường tận rõ ràng như thế. Còn Áo nghĩa thư của Bà-la-môn giáo nói nghiệp báo không phân biệt rành rõ, chưa biết cái gì nhân cái gì quả nên chưa thấu đáo. Do đó nên biết Phật nói nghiệp, nói luân hồi là vì Ngài thấy tường tận, chớ không phải ăn cắp của người làm của mình. Khi thấy rõ như vậy, tôi không còn nghi, không còn mặc cảm nữa.
Đức Phật rất khoa học, từ thời Áo nghĩa thư đã có thuyết nghiệp, luân hồi. Sau Ngài tu thấy điều đó đúng nên cũng thừa nhận. Nhưng khác hơn là Ngài vạch rõ từng phần chi tiết, thế nào là nhân, thế nào là quả, Ngài phân tích rành cho chúng ta. Đó là tinh thần khoa học chớ không phải học lóm. Từ đó về sau tôi mới hài lòng, đức Phật không phải dở như người ta nói.
Nói về lý nghiệp báo luân hồi, sau khi suy tư kỹ càng, tôi thấy đó là một chân lý không chối cãi được. Ai có nói gì cũng không lay chuyển được tôi, vì đó là một sự thật. Tại sao tôi tin như vậy? Bởi kinh nghiệm từ những việc bên ngoài, cho tới bản thân mình tôi thấy rõ như vậy.
Luân hồi là gì? Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn. Bánh xe xoay tròn lên xuống, lên xuống cứ đảo đi lộn lại hoài. Đối với ngoại vật, chúng ta đặt câu hỏi trái đất có xoay tròn không? Trái đất cứ xoay tròn, xoay tròn, vậy nên trái đất luân hồi. Đến con người, chúng ta thấy máu từ tim chạy ra các mạch, rồi từ các mạch trở về tim, cứ như vậy đảo đi lộn lại hoài, đó là luân hồi. Rõ ràng con người đang luân hồi, quả đất đang luân hồi, vậy chết có luân hồi không? Tôi nói hai phần:
1- Vật chất: Thân chúng ta gồm tứ đại tức bốn chất đất, nước, gió, lửa hợp thành. Những gì là đất? Tóc, lông, gân, móng, da, thịt, răng, xương… những thứ cứng là đất. Những gì là nước? Mồ hôi, máu mủ tức chất ướt là nước. Những gì là gió? Hơi thở vào ra, vào ra là gió. Những gì là lửa? Hơi ấm trong người là lửa, cầm hai tay chà một hồi ấm lên, đó là phát ra lửa.
Đất nước gió lửa sẵn trong con người chúng ta, khi chết bốn thứ đó đi đâu? Nhẹ nhất là hơi thở, lúc sống hít vô trả ra, khi trả ra mà không hít lại là chết. Vậy chúng ta trả ra chớ không phải hết, không phải mất. Thứ hai là hơi ấm trong người, chúng ta chết rồi nó cũng tan vào hư không, theo luồng hơi ấm trong nắng trong lửa, trở về với lửa. Đến đất, nước khi chết thân này nứt nẻ nước tuôn ra, rồi tới đất rã. Nước theo mạch chảy đi khắp nơi cũng không mất, đất cũng trả về đất không mất. Như vậy tứ đại mất đi chỉ mất cái giả tướng duyên hợp, chớ bản chất nó đâu có mất.
2- Tinh thần: Tứ đại không mất thì tinh thần có mất được không? Tinh thần đi theo nghiệp duyên của nó. Ví dụ nước từ thể lỏng đổ vào trong nồi nấu, nước sôi bốc hơi rồi cạn. Nước cạn người ta nói hết nước, nhưng thật ra nước bốc thành hơi bay lên, gặp lạnh đọng lại thành nước rơi trở xuống. Hoặc lấy một ly nước để trong tủ lạnh thì nó sẽ đặc thành thể cứng. Như vậy nước không mất mà có thể chuyển biến từ thể lỏng thành hơi hoặc thể rắn. Nước để ở nhiệt độ vừa chừng, không nóng quá, không lạnh quá thì nước còn hoài.
Cũng vậy người tu có duyên lành nhiều, nghiệp lành nhiều khi nhắm mắt sẽ đưa tới cõi lành, tức lên. Ngược lại nghiệp dữ nhiều sẽ đưa tới chỗ dữ, tức xuống. Nếu tư cách con người tốt, vị lai trở lại làm người, như nước giữ quân bình không lạnh nóng thì ở thể lỏng hoài. Phật dạy Nhân thừa là do giữ đúng năm giới nên đời này làm người đời sau cũng được làm người. Như nước y nguyên nhiệt độ đừng cao đừng thấp thì bao nhiêu nước còn nguyên bấy nhiêu. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ gì.
Chúng ta khi ra đời còn trẻ, đáng lẽ ham danh lợi tài sắc ở thế gian, nhưng tại sao lại ham tu? Như vậy do trong nghiệp từ quá khứ của chúng ta còn lưu lại. Như tôi khi chưa đi tu, mỗi lần qua chùa nghe tiếng chuông, thấy xôn xao trong lòng quá. Cái gì làm cho mình bất an, nếu không phải là chủng tử trước kia?
Mỗi khi chúng ta ra đời, nghiệp từ quá khứ còn lưu lại trong con người hiện tại chớ không phải mất. Nếu chúng ta nhìn vào một lớp học thì biết rõ sự sai biệt, người giỏi về văn, người giỏi về toán v.v… Thầy cô dạy như nhau nhưng điểm riêng biệt của mỗi học trò lại khác. Điểm đó ở đâu ra? Chẳng qua chủng tử từ quá khứ còn lưu lại nơi mỗi người, nên không ai giống ai. Nếu nói do thầy cô dạy mới biết, thì tại sao không biết như nhau mà lại có sự sai lệch. Rõ ràng do chủng tử từ quá khứ chớ không phải ngẫu nhiên. Như những vị thần đồng chưa học mà đã biết, đâu do ai dạy. Đó là chủng tử quá khứ còn nguyên vẹn chưa mất nên ra đời nhớ lại liền. Vậy luân hồi là một lẽ thật, không phải là một nghi vấn nữa.
Khi học Phật, chúng ta cần phải suy tư, chớ không chỉ nghe bao nhiêu biết bao nhiêu thôi. Phải tìm, phải gẫm cho tới nơi tới chốn, như vậy chúng ta mới đủ lòng tin Phật. Do đó Tư tuệ là một điều hết sức thiết yếu.
Tu tuệ là như thế nào? Tư chí lý rồi đến tu rất dễ, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhờ nghe hiểu, suy gẫm và biết cách ứng dụng những pháp mình đã học được vào đời sống tu hành, thấy có lợi ích. Đây chính là Tu tuệ. Ba vấn đề Văn, Tư, Tu đều là trí tuệ. Trí tuệ từ thầy ban cho, trí tuệ do mình suy gẫm, trí tuệ do mình cố gắng thực hành, cho nên ba Tuệ học ấy không thể thiếu được.
Nhà Phật nói trí tuệ có hai phần: Một là Hữu sư trí, tức trí học nơi thầy như Văn Tư Tu. Hai là Vô sư trí, tức trí sẵn có của mình, không do học. Đó là Tam vô lậu học, tức ba môn học giải thoát Giới, Định, Tuệ. Giới là đức hạnh, Định là thiền định, Tuệ là trí tuệ. Nhờ giữ được giới nên thiền định không bị xao xuyến. Vì vậy giới trước rồi định sau. Nhờ thiền định nên Trí vô sư phát sanh là tuệ.
Tại sao thiền định được Trí vô sư? Khi thiền không nghĩ gì cả nên được định, được định nên trí sáng giác ngộ, đó là trí không thầy. Trong kinh có kể lại: Đức Phật sau khi thành Phật rồi, Ngài tuyên bố ta học đạo không thầy. Bởi vì bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề Ngài không học với ai cả, mà nhờ định nên được giác ngộ. Vì vậy nói Ngài học đạo không có thầy.
Phật giác ngộ viên mãn Trí vô sư, ngày nay chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử cũng phải đi tới Trí vô sư đó, nên nói Giới, Định, Tuệ là ba pháp môn tu được giải thoát. Chữ Vô lậu là không còn rơi, không còn rớt lại Tam giới nên gọi là giải thoát sanh tử. Như vậy người học Phật phải đủ trí tuệ, từ Hữu sư trí rồi tiến tới Vô sư trí. Hữu sư trí là nhờ học, Vô sư trí là nhờ tu. Đó là hai phần hết sức rõ ràng.
Điều hệ trọng thứ hai là từ bi. Bởi vì chúng ta không có quyền nghĩ mình tu để hưởng an lạc một mình. Tại sao? Đức Phật ngày xưa chủ trương đi khất thực là vì sao? Khất thực tức là gieo duyên với chúng sanh. Tôi nói là lãnh nợ của chúng sanh. Nếu chúng ta tu mà đối với mọi người không có liên hệ, không trao qua đổi lại thì không có gì dính dáng. Mà không có dính dáng thì giáo hóa họ không được, nên Phật dạy tu sĩ phải nhận của đàn-na thí chủ cúng dường. Có những thí chủ rất nghèo cúng dường nhưng chúng ta cũng phải nhận. Nhận để chi? Để người đó gởi mình, mình nhận nợ.
Nên từ gieo duyên là nói cho đẹp, thật ra chúng ta nhận nợ. Có nợ thì mới gặp lại để đền trả.
Trả nợ có hai cách:
Nếu chúng ta không tu không đủ phước đức thì phải mang lông đội sừng để trả nợ. Nếu chúng ta tu hành có đủ phước đức thì trả bằng cách làm thầy. Bây giờ tôi cũng đang trả nợ đó. Bởi vì chúng ta đều có duyên có nợ với nhau nên mới gặp nhau, còn không duyên không nợ thì không gặp. Gặp để chúng ta giáo hóa, chúng ta chỉ dạy người có duyên với mình. Vì vậy người tu đều phải phát tâm từ bi nhận tất cả những gì của Phật tử gởi gấm. Không phải nhận vì ích kỷ, mà nhận để có duyên hay có chút nợ nần với nhau, hầu giáo hóa giúp đỡ trên đường đạo.
Người xuất gia do Phật tử ủng hộ, nếu hiểu đạo rồi lo tu cho giải thoát, về Cực lạc, bỏ mọi người ở lại ra sao thì ra, như vậy có hơi nhẫn tâm không? Mình tu giải thoát nhập Niết-bàn không bao giờ trở lại nữa, những người cúng cho mình thấy chúng ta nhập Niết-bàn, bỏ họ bơ vơ buồn khổ, thật tội nghiệp cho họ. Vì vậy với tinh thần Phật giáo Đại thừa, người tu không nỡ nhập Niết-bàn liền, mà phải đi đi lại lại trong cõi thế gian này để giáo hóa, để trả nợ. Đến chừng nào thí chủ của chúng ta hiểu được tu tập được, mình mới yên.
Thí dụ như trong Tứ quả Thanh văn, chúng ta được quả thứ ba là A-na-hàm, thì ít ra đệ tử của mình cũng được quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Nếu mình tới Bồ-tát Thập trụ, thì đệ tử cũng tới Thập tín mới được. Khi tu thiên hạ nuôi, đến thành tựu chúng ta lại hưởng một mình, như vậy có buồn không? Giả sử tôi là quí Phật tử, tôi cũng không chấp nhận điều đó nữa. Quí thầy ăn gian quá đâu được. Vậy mà có người tha thiết tu một đời này để về Cực lạc cho rồi, ở đây khổ quá. Về bên đó vui có một mình, bỏ người ta ở đây khổ, ai mà đành lòng. Thôi thì cùng ở với nhau nhưng ở trong sự tỉnh giác chớ không phải trong cái mê mờ, nhớ như vậy.
Tinh thần từ bi của đạo Phật dạy chúng ta phải làm sao đem lại cho mọi người ánh sáng đạo lý, để cho họ biết được lẽ chân thật, không tạo những điều đau khổ, luôn luôn tiến tới chỗ an vui. Lòng từ bi chúng ta không thể nói suông mà phải được thể hiện cụ thể. Muốn thể hiện lòng từ bi chúng ta phải thực hành hạnh bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy. Phải đem của cải, hoặc đem chánh pháp mình hiểu hoặc đem sự tốt lành cao quí an ủi người đau khổ. Đó mới thể hiện lòng từ bi.
Bố thí tài phần lớn dành cho cư sĩ Phật tử vì họ làm ra tiền. Họ mới có điều kiện giúp đỡ người nghèo khổ. Còn các sư có làm ra xu con nào đâu? Nếu có chăng cũng ăn mày của đàn-na thí chủ chớ đâu phải tự mình có tiền lương mỗi tháng. Hàng Phật tử cũng có người làm ra tiền của, có người nghèo cháy da, vậy làm sao bố thí? Nên Phật dạy tài thí có hai phần ngoại tài và nội tài.
Người Phật tử muốn thể hiện lòng từ bi mà không có tiền bạc giúp cho người nghèo đói thì đem công sức của mình ra giúp. Người có tiền tới chùa cúng, người không tiền vào chùa làm công quả. Người có tiền cho tiền, người không tiền ra công đi ủy lạo, khuân vác cũng là bố thí. Nên hiểu có tiền mới bố thí được là lầm. Đem của bố thí là ngoại tài, đem công bố thí là nội tài, như vậy có ai không làm được hạnh bố thí đâu.
Bố thí pháp là phần của Tăng Ni. Tăng Ni tu thấy được cái hay, cái cao quí của Phật pháp, đem sự hiểu biết đó ban rải cho Phật tử cùng biết cùng hiểu như mình. Đem pháp mình đã tu học được, chỉ dạy cho người khác gọi là bố thí pháp.
Bố thí tài, bố thí pháp cái nào tốt hơn? Bố thí tài chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí pháp chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.
Ví dụ chú đạp xích lô có một vợ hai con, mỗi ngày chạy xe kiếm được hai ba chục ngàn nuôi vợ nuôi con. Nhưng nếu chiều vô quán nhậu hết thì vợ con đói khổ. Người hàng xóm thấy thương, đem ít lít gạo lại cho, đó là bố thí tài. Rồi mai chú đạp xe có tiền cũng nhậu hết như vậy thì sao, cho đến chừng nào mới đủ, chừng nào gia đình mới ấm no. Bây giờ có một thầy, một cô nào đó sáng suốt tới khuyên chú, nói với chú uống rượu có hại gì, bệnh hoạn ra sao, rồi vì uống rượu mà không đủ tiền nuôi vợ con, làm vợ con đói khổ. Chú nghe hiểu, thức tỉnh bỏ rượu. Như vậy chúng ta chỉ nói chuyện một giờ, nửa giờ mà chú thức tỉnh bỏ rượu. Từ đó làm được bao nhiêu tiền chú đem về nuôi vợ con. Như vậy bố thí pháp không có cạn hết. Chỉ dùng lời nói, lý lẽ chân thật khuyên chỉ người, khi người tỉnh ngộ rồi gia đình hết khổ. Còn nếu cho tiền cho cơm hằng ngày, thì họ chỉ hết khổ tạm rồi mai mốt sẽ khổ nữa. Như vậy cái nào hơn?
Có kẻ cho rằng người tu Phật tiêu cực quá, nhất là Tăng Ni không chịu làm phước, làm việc xã hội, cứ đi nói pháp hoài. Những người tích cực làm việc này, việc kia giúp cho đồng bào rất dễ thấy, còn người nói pháp xem như không có lợi ích gì. Nhưng thật tình việc này lợi rất lớn. Nên trong hai thứ bố thí: bố thí tài và bố thí pháp thì bố thí pháp là hơn.
Bố thí pháp là đem lòng từ bi của mình chỉ dạy nhắc nhở mọi người biết tu, chỉ dạy nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Giả sử tôi có mười ngàn đồng muốn đem bố thí, nếu tôi cho mỗi người một ngàn đồng, thì cho mười người là hết. Còn tôi bố thí pháp thì có một trăm người, tôi cũng bố thí trọn đủ hết. Vậy bố thí pháp là bất tận. Chúng ta học đạo phải học cái bất tận, còn những việc có chừng mực, có giới hạn chúng ta làm một phần nhỏ thôi, gốc là phải bố thí pháp. Muốn bố thí pháp, chúng ta phải có học có tu và có lòng từ bi. Vì vậy từ bi sau trí tuệ. Hai việc đó không tách rời nhau.
Bố thí vô úy là sao? Vô úy là không sợ. Chúng ta mang tới cho người niềm an ổn không sợ hãi. Không sợ này có nhiều thứ: Sợ ma, sợ rắn, sợ cọp… đủ thứ sợ.
Thí dụ đối với người sợ ma, chúng ta muốn cho họ khỏi sợ, phải giải thích cho họ hiểu ma không đáng sợ. Phật dạy trong lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời, thì ngạ quỉ là loại quỉ đói đứng thứ hai, người cao hơn ngạ quỉ hai cấp. Mình cao hơn nó mà lại sợ nó thì vô lý quá. Chẳng lẽ ông Tỉnh trưởng lại sợ người dân, người lại sợ ma thì thật ngu khờ. Giải thích cho người biết và hết sợ đó là bố thí vô úy.
Như có người sợ chết, chúng ta phải giảng giải cho họ hiểu chết là một lẽ đương nhiên thôi, ai rồi cũng phải chết. Phật chết, Bồ-tát chết, chư Thánh tăng chết, Phàm tăng, Phàm ni chết, cư sĩ chết. Đó là chuyện thường, phải chi có người không chết thì mình sợ, ai cũng chết hết thì có chi mà sợ. Giải thích có căn bản cho người ta hiểu, hiểu rồi thì không sợ. Đó là bố thí vô úy. Như vậy, bố thí pháp trùm cả bố thí chánh pháp và bố thí vô úy luôn.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi. Đó là điều không hợp lý. Nhập thất tu để sáng đạo thì được, nhưng cũng phải đi giáo hóa, chớ không được đóng cửa suốt đời.
Hồi xưa học luật, Phật dạy thầy Tỳ-kheo không nên đi dép da vì làm tổn thương lòng từ bi. Nhưng khi thấy Bồ-tát Văn-thù cỡi sư tử, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi… tôi sanh ra thắc mắc. Tại sao các Ngài không đứng trên cụm mây thôi được rồi. Lại cỡi sư tử cỡi voi, như vậy các Ngài có từ bi không? Sau khi tra cứu hiểu ra rồi tôi mới thấy có lý. Vì đức Phật Thích-ca là vị Giáo chủ cõi Ta-bà, mà dân cõi Ta-bà này thì cang cường nan điều nan phục. Muốn điều phục được phải có trí tuệ vượt bực, nên vị Bồ-tát phụ tá thứ nhất cho đức Phật là Văn-thù.
Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí. Ngài ngồi trên lưng sư tử để biểu trưng rằng chỉ có trí tuệ mới hàng phục được ma quân, chỉ có trí tuệ mới giáo hóa được chúng sanh cang cường này. Đó là ý nghĩa hết sức thâm trầm. Song vì chúng sanh cõi này cứng đầu quá, dùng trí tuệ dạy họ, rồi ít bữa cũng trở lại y cũ, thì làm sao đây. Vì vậy phải có đại nguyện đại hạnh, cho nên bên trái của đức Phật vị Bồ-tát phụ tá thứ hai là Phổ Hiền cỡi voi. Vì hạnh lớn mạnh nên tượng trưng cho voi. Voi sáu ngà nghĩa là đem pháp giáo hóa chúng sanh không biết mệt mỏi. Như vậy các hình tượng ấy mang ý nghĩa đức Phật vào cõi Ta-bà giáo hóa phải có đủ trí tuệ vượt bực, hạnh nguyện to lớn mới giáo hóa được. Nếu không sẽ dễ thoái chuyển, dễ chán lắm.
Đức Phật Di-đà thì bên phải có Bồ-tát Quan Thế Âm, bên trái có Bồ-tát Đại Thế Chí. Đức Phật Di-đà ở cõi Cực lạc là chỗ sạch vui. Muốn sang Ta-bà là chỗ uế trược độ chúng sanh, phải có lòng từ bi tràn trề, nên tượng trưng cho Bồ-tát Quan Thế Âm. Vì chúng sanh khó độ nên chúng ta thấy vẽ tượng đức Phật Di-đà ở trên mây duỗi tay xuống, còn chúng sanh đang trồi hụp dưới biển mà không chịu trồi đầu lên đưa tay cho Phật vớt, cứ hụp lặn ở dưới hoài. Vì vậy muốn không thối tâm phải có đại chí tức là chí cứng rắn vững vàng. Dù cho nó khó, nó mê, nó đắm say ngũ dục cũng ráng chờ vớt nó lên. Nếu không có chí lớn thì chán lắm.
Thí dụ trong hoàn cảnh xã hội của chúng ta, có người khá giả thấy những đứa trẻ bụi đời lang thang ở góc phố này góc chợ kia muốn gom lại nuôi dạy. Từ một người giàu có, bây giờ cất trại về ở với mấy thằng nhỏ khó dạy như vậy thì phải hi sinh sự ổn định của mình, chấp nhận cảnh khổ. Do đó phải có lòng từ bi trước, lòng từ bi thật rộng lớn mới làm được việc đó. Mấy đứa nhỏ đem về dạy có dễ đâu. Nhiều khi nó muốn thoi lại mình nữa. Nó là dân bụi đời, mình thương muốn dạy dỗ nó, nhưng nó lại không biết gì, không mang ơn mà còn cự cãi với mình. Nếu không có ý chí vững bền sắt đá thì không thể nào làm được.
Nên tôi nhắc Tăng Ni phải có tâm biết thương những người chờ đợi mình, trông ngóng mình. Học rồi đem sự hiểu biết chánh pháp đó giáo hóa được năm bảy người, thì phước đức cũng lớn lắm. Do đó quí vị thấy trách nhiệm chúng ta không phải đơn giản. Không phải lo cho mình có địa vị cao, có chức tước lớn là hay. Mà phải làm sao thực tế đời mình đem lợi ích thiết thực cho Phật tử, cho mọi người. Đó mới là giá trị thật đáng quí. Mong tất cả Tăng Ni ở đây hãy nhớ lấy điều này, mà đem hết tâm nguyện phụng sự chúng sanh để đền ân chư Phật.
Trong các trường hợp phạm giờ kim xà, trai hay gái, dễ yểu trước 13 tuổi. Còn nếu chỉ phạm bàng giờ thì có cơ may tồn tại, nhưng sẽ hết sức khó nuôi. Tuy nhiên, nếu Bản Mệnh đứa trẻ bị Bản Mệnh người mẹ hoặc người cha khắc thì ít hy vọng, đứa nhỏ sẽ có thể yểu, sau nhiều lần đau yếu. Tuy nhiên, trong trường hợp có hy vọng tồn tại, còn phải xem thêm các sát tinh thủ Mệnh đứa trẻ để quyết đoán cho chắc chắn.
Giờ quan sát: Phạm giờ quan sát, trẻ con hoặc hay đau yếu, hoặc bị tai nạn bất ngờ đe dọa sinh mệnh. Cách tính chỉ dựa theo giờ, tháng sinh theo bảng dưới đây:
Tháng Sinh
Giờ Quan Sát
1
tỵ
2
ngọ
3
mùi
4
thân
5
dậu
6
tuất
7
hợi
8
tí
9
sửu
10
dần
11
mão
12
thìn
Cần lưu ý rằng tai nạn sơ sinh có ảnh hưởng sâu rộng đến tính nết đứa trẻ. Thông thường, tai nạn đó khiến đứa trẻ sau này rất ngỗ ngược, liều lĩnh, ngang tàng.
Giờ tướng quân: Phạm giờ này, trẻ hay bị bệnh, đặc biệt là ghẻ lở và thần kinh không quân bình, thẻ hiện bằng tính khóc hoài không nín, khóc rất dai. Tuy nhiên, tính mạng đỡ lo, có hy vọng tồn tại nhiều hơn hai giờ kim sà và quan sát. Cách tính giờ tướng quân theo mùa và giờ sinh theo bảng dưới đây:
Mùa sinh
Giờ Tướng Quân
Xuân: 1-1 tới 30 tháng 3
Thìn - Tuất - Dậu
Hạ: 1-4 tới 30 tháng 6
Tý - Mão - Mùi
Thu: 1-7 tơi tháng 9
Dần - Ngọ - Sửu
Đông: 1-10 tới 30 tháng 2
Thân - Tỵ - Hợi
Giờ Diêm vương: Phạm giờ này, trẻ con thường có nhiều chứng dị kỳ, như hay giật mình, hốt hoảng, trợn mắt, lè lưỡi, hầu như bị một ám ảnh nào lớn lao trong tâm trí mà đứa trẻ cơ hồ như ý thức được. Cách tính giờ Diêm vương theo tháng và giờ sinh như sau:
Mùa sinh
Giờ Diêm Vương
Xuân: 1-1 tới 30 tháng 3
Sửu - Mùi
Hạ: 1-4 tới 30 tháng 6
Thìn - Tuất
Thu: 1-7 tơi tháng 9
Tý - Ngọ
Đông: 1-10 tới 30 tháng 2
Mão - Dậu
Giờ dạ đề: Phạm giờ này, trẻ chỉ hay khóc về đêm. Cách tính cũng dựa theo tháng và giờ sinh âm lịch:
Trường hợp xung khắc Bản Mệnh với người mẹ: Nếu Bản Mệnh của Mẹ khắc Bản Mệnh con sơ sinh thì càng nguy kịch cho đứa trẻ. Nếu gặp thêm hai trường hợp trên thì chắc chắn không thọ. Nếu bị Bản Mệnh người cha khắc, không nguy kịch bằng.
Những xung kỵ khác:
Sinh năm Dần, Ngọ, Tỵ, Dậu vào bốn giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì tối độc.
Sinh năm Dần, Hợi, Tỵ vào giờ Ngọ, Thân, Dậu, Hợi thì khắc cha, cha chết trước lúc con còn nhỏ tuổi nhưng nếu qua 16 tuổi mà chưa mồ côi cha thì sự hình khắc đó coi như tiêu tán và cha con có thể chung sống lâu dài được.
Sinh năm Thìn, Tỵ, Sửu, Mùi vào giờ Tý, Ngọ, Mão, Tỵ, Hợi, Thân, Dậu thì khắc mẹ trước.
Sinh ngày Tý: Người tuổi Hợi sinh ngày này được sao Thái Dương chiếu mệnh nên có số phong lưu, vận đen được hóa giải. Tuy vậy, số vẫn không tránh khỏi ưu phiền.
Sinh ngày Sửu: Là người may mắn được sao Thái Dương chiếu mệnh nên trong đời tuy có lúc gặp rủi ro nhưng đều được hóa giải.
Sinh ngày Dần: Người tuổi Hợi sinh vào ngày này trong đời khó tránh khỏi chuyện cãi cọ, phiền toái.
(Hình minh họa)
Sinh ngày Mão: Sinh ngày này là người có chức vụ lớn, tiền của dồi dào. Tuy vậy, cần đề phòng tiểu nhân quấy phá.
Sinh ngày Thìn: Nhờ có sao tốt Nguyệt Đức chiếu mệnh nên mọi việc thành công. Tuy có lúc gặp họa nhưng đều được hóa giải.
Sinh ngày Tỵ: Do có sao Dịch Mã chiếu mệnh nên người này trong đời thường được đi nhiều nơi, số có cơ hội phát đạt nhưng cần đề phòng bị phá tài.
Sinh ngày Ngọ: Người tuổi Hợi sinh ngày này được sao Tử Vi, Long Đức cao chiếu nên mọi việc đều thành công tốt đẹp. Tuy có lúc gặp nạn nhưng vẫn được hóa giải.
Sinh ngày Mùi: Do có sao Bạch Hổ chiếu mệnh nên người này tuy thông minh xuất chúng nhưng trong đời hay gặp việc xấu, tài vận dễ bị phá tán.
Sinh ngày Thân: Người sinh ngày này khó phát đạt trong kinh doanh, hay gặp chuyện thị phi. May nhờ có sao Thiên Đức chiếu mệnh nên cuộc sống được vui vẻ, bình yên.
Sinh giờ Dậu: Là người hay làm việc lạ đời, khó hiểu, thường gặp phải chuyện cãi cọ, tranh giành.
Sinh ngày Tuất: Người tuổi Hợi sinh vào ngày này thường có số cô đơn, dễ mắc bệnh tật.
Sinh ngày Hợi: Là người có cuộc sống thăng trầm, trong đời hay gặp tai họa, sự nghiệp khó thành. Nên thận trọng trong việc kết giao bạn bè.
Xem vận số người đàn ông qua tướng Điền Trạch để đoán biết cuộc sống gia đình, phẩm chất đạo đức và mối quan hệ tình cảm của mỗi người. Cung Điền Trạch nằm ở phần giữa lông mày và mắt, chính là phần thể hiện tài sản, đất đai, hoàn cảnh gia đình và da
Người thông minh, dù có biểu hiện ra ngoài hay không, thì từ tướng mạo của họ hoàn toàn có thể nhận diện ra được. Dưới đây là một số điểm đặc trưng trên khuôn mặt của những người có đầu óc nhạy bén này. 1. Trán lớn rộng Trong nhân tướng học, người ta
Với khả năng lý giải các nguyên lý và quy luật của vạn vật trong vũ trụ, Kinh Dịch đang trở thành một môn khoa học được ứng dụng ngày càng phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh.
Với khả năng lý giải các nguyên lý và quy luật của vạn vật trong vũ trụ, Kinh Dịch đang trở thành một môn khoa học được ứng dụng ngày càng phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh.
Tại sao Kinh Dịch có thể ứng dụng rộng rãi trong kinh doanh?
Trong hoạt động kinh doanh, bên cạnh bản lĩnh cá nhân, chúng ta cần có một tầm nhìn chiến lược mới có thể đưa doanh nghiệp ngày càng đi lên. Tầm nhìn chiến lược đó có mối liên hệ mật thiết với những triết lý mà Kinh Dịch đưa ra. Chẳng hạn, khi bắt đầu khởi nghiệp, chúng ta cần chọn được một thời điểm phù hợp nhất nhằm tránh mọi rủi ro. Ở góc độ này, Kinh Dịch sẽ hỗ trợ các bạn nhìn thấy được một sự vận động khái quát và khách quan nhất của các trạng thái, hiện tượng mà cụ thể là sự biến động của tình hình kinh tế, xã hội.
Kinh Dịch bắt đầu được nghiên cứu từ thời cổ đại bởi người Trung Hoa rồi phát triển và trải qua nhiều biến đổi để tạo nên hệ thống triết lý. Khi thấu suốt bản chất của vạn vật và các nguyên lý bất biến của vũ trụ, bạn sẽ nhìn thấy được thời cơ thuận lợi cho doanh nghiệp tiến đến thành công. Đồng thời, nó cũng giúp chúng ta dự báo trước thách thức nhằm chủ động đưa ra giải pháp để tránh khỏi tổn thất một cách tối đa. Tuy nhiên, nếu chúng ta tin và khẳng định Kinh Dịch có khả năng thay đổi vận mệnh là hoàn toàn sai lầm. Bởi lẽ, mọi thứ diễn ra trong cuộc sống đều có quy luật. Có chăng, chúng ta chỉ có thể sử dụng sức lực và trí tuệ của con người để làm cho mọi thứ dễ dàng hơn và vượt qua một cách nhẹ nhàng mà thôi.
Kinh Dịch còn giúp các nhà tuyển dụng có thêm hành trang trong việc tuyển dụng nhân viên. Bằng những quy tắc về tướng mạo và tính cách con người, nhà lãnh đạo có thể dựa vào đó để chọn cho mình những cộng sự đắc lực. Ngoài ra, khi nắm được những đặc điểm bên trong của ai đó, bạn sẽ có sự điều chỉnh ứng xử cho phù hợp nhằm mang đến sự thành công trong xây dựng mối quan hệ xã hội.
Ngoài ra, Kinh Dịch còn được vận dụng để các chủ Doanh nghiệp biết cách xây dựng và sắp xếp phòng làm việc. Mục đích của việc làm này là nhằm tạo ra một môi trường chan hòa nhằm giúp đội ngũ nhân viên có được một không khí làm việc thoải mái và hứng thú nhất. Đồng thời, nó còn là điều kiện để mọi người phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình.
Một vài lưu ý khi ứng dụng Kinh Dịch trong kinh doanh
Kinh Dịch sẽ trở thành túi khôn của chúng ta trong kinh doanh với điều kiện được ứng dụng hợp lý và tránh lạm dụng. Đồng thời, người ứng dụng Kinh Dịch cần có sự hiểu biết tường tận và chính xác mọi nguồn gốc, nội dung trong Kinh Dịch. Bởi lẽ, khi chúng ta chỉ dừng lại ở những phán đoán mang tính chất hiện tượng và võ đoán thì mọi sự việc sẽ được quy chụp theo hướng tiêu cực.
Nếu muốn mời ai đó tư vấn về Kinh Dịch, chúng ta cần chọn cho mình một chuyên gia đã có nhiều năm nghiên cứu chuyên sâu trong môn khoa học này để đảm bảo không gây tác động xấu đến đời sống. Không chỉ thế, bạn cần cảnh tỉnh trước hiện tượng rộ lên nhiều thầy xem địa lý, phong thủy mượn Kinh Dịch để trục lợi và rút tỉa túi tiền người dân. Đồng thời, chúng ta cần tránh sự đánh đồng theo một số quan niệm dân gian như “Dần thân tị hợi tứ hoành xung” hoặc “Nam La Hầu nữ Kế đô” chỉ vận hạn con người,… Bởi lẽ, tất cả những lời đồn thổi đó đều không xuất phát từ căn cứ có cơ sở khoa học Kinh Dịch rõ ràng.
Có câu Cứu vật vật trả ơn, phóng sinh lợi ích vô cùng, công đức phóng sinh động vật to lớn không thể nào tưởng tượng nổi, lòng lương thiện từ bỏ nghiệp sát
Có câu “cứu vật vật trả ơn”, điều này quả thật đúng, rất nhiều người đã từng gặp trường hợp như thế. Câu chuyện về chú voọc cứu mạng cả thôn làng tại vùng núi sâu Kim Phật khiến người ta phải cảm động.
Vương Chí Thành sống ở dưới chân núi Bắc Cơ, khi đang hái thuốc trong rừng thì bắt gặp một chú voọc đầu đen má trắng khoảng trên 2 tuổi đang bị thương ở tay trái. Anh Vương ôm chú chú voọc này về nhà, rửa vết thương cho nó, đắp thảo dược, giữ lại trong nhà mà chữa trị.
Một tuần sau, vết thương của chú voọc đã khá lên nhiều, nhưng có vẻ con vật không muốn rời đi, hàng ngày vẫn đi quanh quẩn ở nhà của Vương, thậm chí còn giúp đỡ công việc nhà. Lúc có lợn rừng, khỉ vàng, nhím đến ăn trộm hoa màu, chú voọc liền xông ra hù dọa xua đuổi bọn chúng. Cứ như vậy, sau khi sống ở nhà Vương Chí Thành hơn một tháng, một buổi sáng nọ chú voọc đã lặng lẽ rời khỏi nhà anh.
Một ngày, vào lúc 3 giờ sáng cuối tháng 9, thôn làng nơi Vương Chí Thành đang ở vẫn còn chìm sâu trong giấc ngủ.
Đột nhiên một tràng tiếng gõ cửa dữ dội cùng với tiếng la hét thảm thiết, khiến Vương bừng tỉnh. Vương chạy ra cửa xem thử, thì ra là chú voọc đã quay về!
Vương đang định tiến lên ôm nó, chú voọc bỗng tỏ thái độ khác thường, giãy giụa khỏi tay anh, lo lắng kêu to. Thấy Vương Chí Thành không hiểu ý mình, chú voọc đưa ngón tay chỉ về phía dãy núi đằng sau. Vương quay đầu lại nhìn, thì phát hiện dãy núi lớn đang sạt lở, những tảng đá lớn trên núi đang không ngừng lăn xuống.
Chú voọc duỗi thẳng tay ra, gắng sức kéo Vương, ngụ ý là bảo anh hãy chạy cho mau. Vương Chí Thành cuối cùng đã hiểu rõ tính nguy hiểm, anh vội chạy về phòng đánh thức vợ, tay bế con thơ, chạy ra khỏi nhà. Tiếp đó, lại đến từng nhà từng nhà một mà hô lớn lên.
Toàn thôn có năm hộ gia đình với tổng cộng hơn hai mươi người vừa chạy ra khỏi nhà, thì những tảng đá to lớn liền lăn xuống, phá hủy hết toàn bộ thôn làng. Rất nhiều người trong làng đã khóc: Nguy hiểm quá, nếu như không phải chú voọc đến cứu, thì cả thôn đã cầm chắc cái chết.
Thôn dân đã được cứu sống, tìm kiếm “ân nhân” cứu mạng mình. Họ chỉ thấy chú vọoc đầu đen má trắng đứng trên tàng cây nhìn mọi người, miệng phát ra tiếng kêu mừng rỡ “Ô…. ô….”. Dường như, chú muốn chúc phúc cho những người đã thoát khỏi Tử thần, cũng là chúc phúc cho tất cả các loài vật vì từ nay con người sẽ yêu thương động vật hơn.
Chỉ khuyên con người thế gian khôi phục lòng lương thiện, từ bỏ nghiệp sát. Hãy phóng sinh, bởi vì phóng sinh động vật vốn cũng là phóng sinh con người, cứu mạng người khác chẳng khác nào cứu mạng của mình, phóng sinh, lợi ích vô cùng, công đức không thể nào tưởng tượng nổi.
Miệng là cơ quan tiếp nhận vật chất nuôi cơ thể, chuyện thị phi cũng từ đây mà ra. Hình dạng của môi sẽ tiết lộ tính cách hay dở của con người.
Ảnh minh họa
Môi rộng: Phụ nữ thì xinh đẹp, đàn ông thì có ham muốn tình dục.Môi rộng và dày: Là người phụ nữ có ham muốn cao nhưng hay làm biếng.Môi mỏng: Rất thông minh, nhưng hay lừa lọc.Môi rất mỏng: Hay ghen tuông.
Ảnh minh họa
Môi trên dày hơn môi dưới: Kiên nhẫn, hào phóng nhưng không có thiện chí.Môi dưới dày hơn môi trên: Người này có ham muốn tình dục cao và có các sở thích về ăn uống.Môi mỏng nhưng trông như bị sưng: Cũng có ham muốn về tình dục và có sở thích với ăn uống.Nếu môi trên hơi thụt vào trong hơn (môi dưới trề): Thiếu kiên nhẫn và hay công kích.Môi dưới thụt vào, môi trên trề ra: Tính cách tốt.Môi trên chẻ: Tính cách tốt.Môi mỏng và nhỏ: Bướng bỉnh, không tốt.
Soi thấu bản tính con người chỉ qua cái tai Theo Nhân tướng học, tai chính là bộ phận tiết lộ chuẩn nhất tính cách của con người trong số ngũ quan. Bằng việc nhìn vị trí, hình dạng và màu sắc của tai,Môi mỏng, miệng lớn: Cực kỳ xấu tính.Môi rất nhỏ: Trong tương lai sẽ là một ông bầu.Môi vều: Ngốc nghếch.Môi dưới chẻ: Lễ phép.
► Xem bói theo khoa học tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình
Huyền Nguyễn (Theo Facereading) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Giờ Tý (23h – 1h)Do Tý Thủy khắc chế Tỵ Hỏa nên người tuổi Tỵ sinh vào giờ Tý có cuộc sống khó khăn. Tuy nhiên được sao Long Đức chiếu mệnh nên tai qua nạn khỏi, không phải trải qua tình huống hung hiểm hay nguy hiểm tới tính mạng. Người này tuy có cuộc đời nhiều sóng gió nhưng sự nghiệp vẫn phát triển và thành công.Giờ Sửu (1h – 3h)Người tuổi Tỵ sinh vào giờ Sửu có Tỵ Hỏa sinh Sửu Thổ nên mưu sự tất thành, tuy bị hao tốn tiền của nhưng cuối cùng vẫn thành công. Người này có sự nghiệp phát triển thuận lợi, được người thân bạn bè giúp đỡ, cuộc đời hạnh phúc bình an.Giờ Dần (3h – 5h)Do Dần Mộc sinh Tỵ Hỏa nên người này có tiền đồ rộng mở. Ngoài ra, do Phúc tinh chiếu mệnh nên thành sự tại thiên, được nhiều người trợ giúp. Ngoài ra, người tuổi Tỵ sinh giờ Dần có ý chí kiên cường, trí dũng song toàn, tay trắng lập đại nghiệp. Nhưng, cần đề phòng họa khẩu thiệt thị phi ảnh hưởng đến sự nghiệp.
Ảnh minh họa
Giờ Mão (5h – 7h)Mão Mộc sinh Tỵ Hỏa nên suốt đời người tuổi Tỵ đều gặp may mắn, được bạn bè giúp đỡ, cuộc sống sung túc. Tuy nhiên, bản mệnh người này có sao Thiên Cẩu chiếu rọi nên công danh sự nghiệp tuy ít sóng gió lớn nhưng khá lận đận và phải bôn ba khắp nơi để cầu tài.Giờ Thìn (7h – 9h)Người này có Tỵ Hỏa sinh Thìn Thổ nên mọi sự thuận lợi, liên tiếp gặp may mắn. Người này nhã nhặn lịch sự, phong thái đường hoàng, được quý nhân trợ giúp nên sự nghiệp phát triển tốt đẹp, cuộc sống yên vui và sung túc.Giờ Tỵ (9h – 11h)Người tuổi Tỵ sinh giờ bản mệnh hình thành cục diện Tỉ kiếp Thái Tuế nên cuộc đời thăng trầm, khi lên voi lúc xuống chó bất ổn. Lại thêm sao Chỉ Bối chiếu mệnh nên cuộc sống không yên ổn, sức khỏe không tốt, dễ mắc bệnh tật.Giờ Ngọ (11h – 13h)Do Ngọ Hỏa và Tỵ Hỏa cùng đồng hành nên các mối quan hệ giao thiệp của người này rộng, lại có sao Thái Dương chiếu mệnh dù có lúc gặp vận xấu nhưng cũng tai qua nạn khỏi. Bên cạnh đó, người này có vận đào hoa rất vượng nên nhiều khả năng sẽ xuất hiện tình trạng ngoại tình. Giờ Mùi (13h – 15h)Tỵ Hỏa sinh đới Mộc Thổ nên dù bị sao Nguyệt Sát chiếu mệnh nhưng sức khỏe vẫn ổn định. Tuy nhiên cuộc đời người tuổi Tỵ sinh giờ Mùi vất vả, nhiều sóng gió, đời sống hôn nhân nhiều chuyện muộn phiền. Giờ Thân (15h – 17h)Bản mệnh người tuổi Tỵ sinh giờ Thân có Tỵ Hỏa khắc chế Thân Kim, lại có sao Quý Nhân chiếu mệnh nên sự nghiệp thuận lợi, được quý nhân giúp đỡ, gặp hung hóa cát, cuộc sống sung túc, đầy đủ. Tuy nhiên đôi khi bị kẻ xấu gây phiền nhiễu thậm chí là hãm hại.Giờ Dậu (17h – 19h)Tỵ Hỏa khắc chế Dậu Kim, sao Thiên Tướng chiếu mệnh nên người này có số giàu sang, công danh sự nghiệp phát triển tốt đẹp. Tuy nhiên, cần đề phòng kẻ tiểu nhân quấy phá, ảnh hưởng đến tiền đồ.Giờ Tuất (19h – 21) Tỵ Hỏa sinh Tuất Thổ nhưng có sao Nguyệt Đức chiếu mệnh nên người tuổi Tỵ sinh giờ Tuất có số đi xa, được quý nhân giúp đỡ, gặp hung hóa cát. Nhưng đôi khi bị phá tài và mắc bệnh nhẹ. Giờ Hợi (21h – 23h)Hợi Thủy khắc chế Tỵ Hỏa, cộng thêm sao Dịch Mã chiếu mệnh nên số phải bôn ba khắp nơi, lăn lộn xứ người để mưu sinh lập nghiệp. Kết luận: Giờ sinh phú quý của người tuổi Tỵ là giờ Thìn và DầnAnh Khánh (Theo XZ) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Chân là trụ đỡ thân thể là cơ quan quan trọng để di chuyển. Trong tướng pháp là Hạ Đình. Nó có những nét cơ bản để cung cấp thông tin. Nhìn chung chân phải vững chắc, cứng cáp sẽ tạo thành dáng thế đi, đứng của con người. Chân mảnh khảnh, yếu oạt thì
Đặc trưng của huyền quan là tính trưng bày, tính thực dụng, tính chỉ dẫn khéo léo. Chung quy lại huyền quan có những phương pháp thiết kế chủ đạo sau đây.
Đặc trưng của huyền quan là tính trưng bày, tính thực dụng, tính chỉ dẫn khéo léo. Chung quy lại huyền quan có những phương pháp thiết kế chủ đạo sau đây:
- Dùng tủ thấp ngăn cách: Đặt một chiếc tủ thấp phù hợp với chiều cao của căn nhà trong một không gian nhỏ để đựng những vật nhỏ, đồ đạc lặt vặt. Cách này có tác dụng phân chia không gian.
- Dùng gương chiếu sáng: Dùng một tấm gương đứng đặt ở góc huyền quan vừa có tác dụng phân chia không gian vừa tạo thêm không gian ảo lại có thể tiết kiệm khoảng không.
(Ảnh chỉ mang tính minh họa)
- Thiết kết hàng rào bao quanh: Chủ yếu là dùng những tấm rèm có tông màu khác với hoa văn trang trí để làm vách ngăn, nó có tác dụng tạo khoảng không lại có thể phân chia không gian.
- Hình thức nửa mở nửa đóng: Che lấp toàn bộ phần dưới vách ngăn ở góc huyền quan.
- Phối hợp đèn trên trần và đèn dưới đất: Phương pháp này đa số dùng cho những góc huyền quan tương đối ngay ngắn, vuông vắn.
- Lựa chọn phương pháp thực dụng: Trang trí điểm xuyết, thiết kế sao cho có thể lợi dụng được tối đa chức năng của huyền quan.
- Thiết kế theo hình tạo thế dẫn dắt chuyển tiếp: Khi thiết kế huyền quan, nhìn mô hình ngôi nhà, diện tích ngôi nhà rồi sáng tạo ra thế đặt huyền quan.
- Sử dụng khéo léo bức bình phong làm bờ phân cách: Khi thiết kế góc huyền quan đôi khi phải dùng đến bức bình phong để phân chia khu vực.
- Thiết kế huyền quan hoa lệ, đa dạng, đa phong cách: Đối với những ngôi nhà có không gian tương đối lớn, góc huyền quan cũng được rộng rãi, có thể trang trí theo nhiều hướng, nhiều phong cách, lộng lẫy một chút.
- Huyền quan thông thoáng, không gian mở rộng: Với những căn nhà không gian nhỏ, góc huyền quan cũng khiêm tốn thì nên sử dụng phương pháp thiết kế thông thoáng để tránh gây cảm giác bí bách, chật hẹp về không gian.
(Theo 500 câu hỏi đáp phong thủy về trang trí đồ vật trong ngôi nhà của bạn)
Sinh ngày Tý: Do Tý hợp với Sửu nên người sinh giờ này luôn có cuộc sống vui vẻ, có mắc bệnh nhẹ nhưng sẽ tự khỏi.
Sinh ngày Sửu: Là người cầu được, ước thấy, sự nghiệp và tài vận tốt đẹp. Sinh ngày Dần: Ngày này có sao Thái Dương chiếu mệnh nên hay buồn phiền, thường có cảm giác trống rỗng trong lòng. Nếu là nam sẽ có số đỗ đạt, hay gặp được mỹ nhân. Là nữ có số vu quy, vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc.
Sinh ngày Mão: Mão mệnh Mộc nên khắc Sửu mệnh Thổ. Người sinh ngày này hay nóng nảy vô cớ, lại có thói tranh giành nên dễ bị thất bại.
Sinh ngày Thìn: Ngày này có sao Thái Dương chiếu mệnh, dương nghịch âm hòa, vì vậy những người này thường ít có được cuộc sống yên ổn.
Sinh ngày Tỵ: Tỵ - Dậu - Sửu thuộc tam hợp, vì vậy người sinh ngày này tài lộc hanh thông, được quý nhân phù trợ. Tuy nhiên, do phạm phải sao Chỉ Bối nên phải rất thận trọng trong việc kết bạn.
Sinh ngày Ngọ: Do có sao Nguyệt Đức chiếu mệnh nên những người sinh vào ngày này thường gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.
Sinh ngày Mùi: Là người giàu có nhưng hay gặp chuyện rắc rối, trong đời nhiều nạn, nên tu nhân tích đức.
Sinh ngày Dậu: Vì được sao tốt chiếu mệnh nên người tuổi Sửu sinh ngày này thường có tướng hổ vượng, rất thành đạt trong sự nghiệp.
Sinh ngày Tuất: Người sinh ngày này có sao Thiên Đức chiếu mệnh nên sự nghiệp rộng mở, lập nghiệp xa nhà.
Sinh ngày Hợi: Sửu mệnh Thổ khắc Hợi mệnh Thủy nên những người sinh ngày này cả đời phải chịu cảnh sống ở những nơi xa xôi, hẻo lánh
Học thuyết âm dương ngũ hành là gì? Đây là một trong những kiến thức cốt lõi của nhiều bộ môn như phong thủy, tử vi, tướng số. Nguồn gốc của học thuyết này có từ mô hình tối cổ về các con số gọi là Hà Đồ.Phục Hy – vị vua thần thoại trong truyền thuyết Trung Hoa khi đi tuần thú phương Nam, qua sông Hoàng Hà bỗng thấy một con Long Mã trên lưng có những chấm đen trắng hiện lên. Khi về Ngài nhớ lại và vẽ ra giấy bản đồ trên lưng con Long Mã, thay các dấu chấm đen trắng bằng ký hiệu 10 số đếm, xếp theo hai vòng trong ngoài tương ứng với 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Đây là bản Hà Đồ đầu tiên trong lịch sử.
Hà Đồ là nguồn gốc của học thuyết âm dương ngũ hành, dần dần được giải mã, bổ sung và phát triển theo chiều dài mấy ngàn năm lịch sử. Đây cũng là một trong Hai yếu tố cơ bản của phong thủy Huyền KhôngTheo đó, 10 con số được chia thành 2 nhóm đối xứng với nhau, một bên là âm, một bên là dương, một bên là sinh, một bên là tử; một bên là trời, một bên là đất. Số Dương, số Trời, số Cơ là 1, 3, 5, 7, 9, tương ứng với các chấm trắng trên lưng con Long Mã. Số Âm, số Đất, số Ngẫu là 2, 4, 6, 8, 10 tương ứng với các chấm đen trên lưng con Long Mã. Về ngũ hành, Hà Đồ thông qua vị trí của 5 con số Sinh đại diện cho 5 yếu tố vận động trong vũ trụ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi con số được cấu thành từ một số Trời và một số Đất, âm dương hài hòa. Số Trời 1 sinh Thủy, thành số Đất 6. Số Đất 2 sinh Hỏa, thành số Trời 7. Số Trời 3 sinh Mộc, thành số Đất 8. Số Đất 4 sinh Kim, thành số Trời 9. Số Trời 5 sinh Thổ, thành số Đất 10.Tức là 1 và 6 hành Thủy, ứng với phương Bắc. 2 và 7 hành Hỏa ứng với phương Nam. 3 và 8 hành Mộc ứng với phương Đông. 4 và 9 hành Kim ứng với phương Tây. 5 và 10 hành Thổ ở trung tâm.Ngũ hành cũng tuân thủ âm dương tương khắc và âm dương tương sinh. Đây là tinh thần cơ bản nhất của thuyết ngũ hành với nguyên tắc kề cận thì sinh sôi luân chuyển mãi không ngừng, cách nhau thì khắc chế luân lưu. Đó chính là sự vận động, biến thiên, chuyển dời của vũ trụ, tạo thành vòng tròn của sự sống và cái chết bất diệt.Ngũ hành tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Ngũ hành tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
Âm dương ngũ hành là gì? Học thuyết âm dương ngũ hành là học thuyết triết học phương Đông về vũ trụ. Tuy cơ bản thì chỉ gói gọn trong những kiến thức ở trên nhưng lại có nhiều sự biến thiên vi diệu. Học thuyết này ứng dụng trong tử vi, phong thủy, nhân tướng và rất nhiều bộ môn khác như thiên văn, lịch pháp, y học, dược học, võ học, sinh học, định chế xã hội, văn hóa, địa lý, chiêm tinh, bói toán,….Trong đó Kinh Dịch được xem là sự phát triển bậc cao, diễn giải âm dương ngũ hành một cách sâu sắc. Kinh Dịch không phải sự phỏng đoán thông thường mà thông qua tính toán khoa học, kết hợp toán học và triết học cho ra những kết quả tương ứng, tính xác suất về cuộc đời. Vì thế Kinh Dịch là bộ môn cực kì uyên thâm, cần nghiên cứu lâu dài và có chiều sâu mới nắm được. Con người hiểu và nghiên cứu về âm dương ngũ hành cốt lõi nhất không phải để đoán mệnh hay cải mệnh mà cao hơn chính là thuận theo mệnh. Tất cả các công trình về thế giới quan, về triết học phương Đông, về học thuyết âm dương ngũ hành đều là cách để tiếp cận với cái nguyên thủy, hoang sơ, tìm ra quy luật vận động và phát triển tự nhiên nhất. Từ đó hình thành nhân sinh quan phù hợp để tồn tại và phát triển lâu dài, hiểu về tự nhiên và thuận theo tự nhiên một cách khoa học.
Bạn có thể tải nội dung bài viết theo liên kết sau: ##/img/www.slideshare.net/NgyTTLch/hoc-thuyet-am-duong-ngu-hanh-la-gi Xem tử vi bắt bệnh dựa vào học thuyết ngũ hànhBài trí phong thủy theo Huyền không phi tinhNhà nghịch âm dương: Tìm hiểu và hóa giảiTrình Trình Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Thư (##)
Thạch anh (silic điôxít, SiO2) hay còn gọi là thủy ngọc là một trong số những khoáng vật phổ biến trên Trái Đất. Thạch anh được cấu tạo bởi một mạng liên tục các tứ diện silic - oxy (SiO4), trong đó mỗi oxy chia sẻ giữa hai tứ diện nên nó có công thứ
Thạch anh (silic điôxít, SiO2) hay còn gọi là thủy ngọc là một trong số những khoáng vật phổ biến trên Trái Đất. Thạch anh được cấu tạo bởi một mạng liên tục các tứ diện silic – oxy (SiO4), trong đó mỗi oxy chia sẻ giữa hai tứ diện nên nó có công thức chung là SiO2.
Đá Thạch anh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: điện tử, quang học,… và trong ngọc học. Các tinh thể thạch anh trong suốt có màu sắc đa dạng: tím, hồng, đen, vàng,… và được sử dụng làm đồ trang sức từ rất xa xưa. Ametit loại biến thể màu tím của thạch anh được coi là đá quý của tháng hai và là loại được ưa chuộng nhất của họ thạch anh. Vậy đối với loại đá quý hiếm này bạn đã biết được gì về nó. Bài viết sau đây chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin về nguồn gốc đá quý thạch anh tím, tác dụng và cách sử dụng thạch anh tím theo phong thủy. Hãy cùng tham khảo để hiểu rõ về loại đá quý phong thủy này nhé!
Nội dung
1 Tìm hiểu về đá quý thạch anh tím
1.1 Nguồn gốc của đá quý thạch anh tím
2 Thành phần cấu tạo theo khoa học
2.1 Tác dụng của đá quý thạch anh
2.2 Giải thích tác dụng dựa theo Thuật Phong Thủy
2.2.1 Về mặt sức khoẻ
2.2.2 Về mặt tâm linh
2.3 Những tác dụng khác của Thạch Anh Tím
2.3.1 Đá sức mạnh
2.3.2 Đá bảo vệ
2.3.3 Đá khôn ngoan
2.3.4 Thuộc tính chữa bệnh của thạch anh tím
3 Cách sử dụng, kích hoạt năng lượng Phong Thủy
3.1 Cách kích hoạt khí phát triển và hỗ trợ vận may từ thạch anh của tác giả Lillian Too
Tìm hiểu về đá quý thạch anh tím
Nguồn gốc của đá quý thạch anh tím
Thạch anh tím (amethyst) là loại đá quý hiếm, được săn lùng rất nhiều từ thời xa xưa bởi vẻ đẹp tự nhiên và tác dụng kỳ diệu. Là loại đá được ưa chuộng của hoàng gia Anh, được đính lấp lánh trên vương miện của Nữ hoàng Catherine và cả hoàng gia Ai Cập cổ xưa.
Còn trong tinh thần của người Trung Hoa xưa, sức mạnh do năng lượng tiềm ẩn của thạch anh tím luôn được tôn sùng và tin tưởng rằng sẽ đem lại điều may mắn.
Trước tiên, nếu nhìn kỹ khóm đá thạch anh tím tự nhiên, Bạn sẽ thấy đá mọc thành búi giống như 1 lùm cây và có quy tắc: bất cứ viên nào cũng có phần đầu là hình chóp có đúng 6 mặt, kích thước mỗi viên to nhỏ khác nhau, các nhà Khoa học Pháp ngày nay đã quan niệm rằng: “ Đá cũng được sinh ra và lớn lên như các sinh vật khác, giống như có sự sống hiện diện trong đó”.
Thành phần cấu tạo theo khoa học
– Thành phần cấu tạo hoá học: SiO2. – Màu sắc: Tất cả các dạng của màu tím, tím violet , màu xanh biển và xám. – Chỉ số chiết quang: 1.544 — 1.553 – Tỷ trọng: 2.65 — 2.91 – Độ bóng: Như thủy tinh – Độ trong suốt: Trong suốt – Hệ tinh thể: Ba phương. Dấu hiệu sinh trưởng đặc trưng là lăng trụ có sọc ngang, kèm theo các hình mặt thoi. – Độ cứng: 6.5 -7.5 Mohs – Tính dễ tách: Không – Phương cát khai: Conchoidal – Tính lưỡng chiết: 0.009 – Sự phát quang: không – Sự nâng cao: Có thể cải thiện màu. – Nguồn: Brazil, Australia, Argentina, Bolivia, Uruguay, Zambia, Canada, India, Madagascar, Namibia, Russia, Sri Lanka and USA.
Tác dụng của đá quý thạch anh
Tác dụng của Thạch anh tím dựa trên trường năng lượng hay còn gọi là năng lượng sinh học phát ra của nó. Nhiều loại trong thiên nhiên cũng phát ra nguồn năng lượng có lợi cho sức khoẻ như: Kỳ nam, hổ phách (nhựa thông hoá đá), các loại đá Thạch anh vàng, thạch anh trắng, thạch anh hồng….Tuy nhiên khả năng phát ra trường năng lượng của đá thạch anh tím rất mạnh nên được xếp vào nhóm đá quý, còn tất cả các loại thạch anh khác được xếp vào loại đá bán quý.
Giải thích tác dụng dựa theo Thuật Phong Thủy
Trong phong thủy thì áp dụng năng lượng kỳ diệu của thạch anh tím để làm giảm bớt nỗi đau và vận rủi của con người, đem lại kết quả phi thường. Suốt một thời lịch sự, với thứ ánh sáng trong mờ ảo khi nhìn vào, những viên đá quý màu tím huyền bí này được ca ngợi rất nhiều…
Tính chất phong thủy của nó dựa vào quá trình làm lệch năng lượng âm và đón năng lượng dương. Tiềm năng của những tinh thể thạch anh chứa đựng năng lượng mang tính dương được sử dụng trong việc thực hành phong thủy. Trong các loại tinh thể thạch anh, thạch anh tím chiếm giữ vị trí đặc biệt do năng lượng thổ bên trong của nó.
Về mặt sức khoẻ
-Mang lại sự bình an trong tâm trí: đặc dưới gối giúp ngủ ngon hơn và có những giấc mơ thú vị.
-Căng thẳng nhức đầu: đặt lên trán sẽ giải tỏa bệnh nhức đầu. Khoa học yoga quan điểm huyệt ấn đường (vị trí giữa hai chân mày) còn gọi là con mắt thứ 3 là nơi hút năng lượng màu tím mạnh nhất. Đá có tác dụng phục hồi tuần hoàn máu nên rất tốt cho những người có bệnh cao huyết áp, tai biến mạch máu não.
-Chống say rượu và các chất độc hại khác: Thạch anh tím (amethyst) bắt nguồn từ tiếng Hy lạp là amethytos có nghĩa là không say. Đá có tác dụng giải độc rược và các chất độc khác mà ngày nay con người vì lợi nhuận nên thường lạm dụng các chất độc hại trong công nghiệp chế biến thức ăn. Bỏ viên đá trong nguồn nước uống sẽ mang lại năng lượng tốt cho nguồn nước.
Về mặt tâm linh
-Trong kinh Vệ Đà ấn độ “Aurveda” nói thạch anh tím giúp kiểm soát được cảm xúc, xoa dịu âu lo, làm cho con người có ý nghĩa tốt lành.
-Các nhà trường sinh học cho rằng thạch anh tím là loại đá trực cảm, cực nhạy, giúp con người giao tiếp với thế giới siêu nhiên mà nhiều nhà tiên tri đã sử dụng.
-Ngoài ra, đá còn có tác dụng bảo vệ con người chống lại ma thuật.
Thạch anh tím có nhiều loại và chất lượng khác nhau, từ tím nhạt tới tím đậm, có những loại rất đẹp là màu tím có ánh vàng, do có lẫn thạch anh vàng (citrin). Tuy nhiên về truờng năng lượng thì những loại đá có màu tím đậm và tự nhiên thì trường năng lượng lớn hơn.
Những tác dụng khác của Thạch Anh Tím
– Thạch anh trong suốt trong sắc thái màu tím, hoặc màu hoa cà được gọi là thạch anh tím (ngọc tím), một loại đá truyền thống để chống lại chứng nghiện rượu và ngăn cản tác hại của rượu đến tâm trí.
Thạch anh tím theo tiếng Hy-Lạp có nghĩa là “Không có sự say rươu” và thạch anh tím được tin là bảo vệ khỏi chất độc.
Đá sức mạnh
Nó được sử dụng như một đá mơ ước và giúp chứng mất ngủ. Đặt một viên ngọc tím (thạch anh tím) dưới gối của bạn để dẫn đến nhưng giấc mơ thú vị, hoặc chà xát nó lên trán của bạn để giải toả bệnh nhức đầu.
Đá bảo vệ
Những người Ai Cập cổ xưa sử dụng ngọc tím để bảo vệ và chống lại những điều sai trái và cảm giác lo lắng sợ hãi.
Nó mang được sự tự bảo vệ mình và chống lại những ma thuật.Ngọc tím được sử dụng trong thời gian lâu dài cho việc khai hoá tâm linh và sự linh thiêng và làm cho nó trở thành loại đá có sức mạnh. Một chuỗi hạt ngọc tím giúp cho sự trầm tư mặc tưởng.
Đá khôn ngoan
Ngọc tím còn được biết như thể là loại đá của Giám mục và vẫn còn được sử dụng bởi những Giám mục Công giáo. Ngọc tím tượng trưng cho lòng thành kính, sự khiêm tốn, tính không ngôn thành thật và thiêng liêng. Người ta cho rằng đó là loại đó biểu tượng cho Tuổi thuộc cung Bảo Bình.
Thuộc tính chữa bệnh của thạch anh tím
Thạch anh tím là một loại đá quý được những thầy thuốc mang bên mình, nó có sức mạnh lớn để tập trung năng lượng.Người ta thường mang vài viên thạch anh tím được trang trí như món nữ tranh mạ bạc, đặc biệt là một chuỗi hạt ngọc tím. Nếu không được khoẻ, người ta sẽ giữ trong người một viên thạch anh tím. Đặt mảnh thạch anh tím trên cơ thể, nơi cần được chữa lành như trái tim hoặc phổi.
Thạch anh tím được sử dụng cho những vấn đề về máu huyết, tính khí và sự hô hấp. Những cụm tinh thể thạch anh tím được sử dụng để giữ cho không khí lưu thông và sự sống trong nhà được thoải mái, mang nhiều năng lượng dương.
Chùm thạch anh tím, hoặc chỉ vài mảnh thạch anh tím đặt nơi cửa sổ để đón nhận tia nắng thì rất có lợi cho việc duy trì năng lượng dương trong nhà. Chùm thạch anh tím đặt dưới ánh trăng để thu hút năng lượng sẽ mang lại sự điềm tĩnh hơn cho mọi người trong nhà. Việc sử dụng thạch anh tím là một cách chính để tăng cường năng lượng dương. Thạch anh tím giúp con người chiến thắng sự sợ hãi và khơi dậy niềm khao khát. Nó cũng giúp cho giải toả bệnh nhức đầu.
Cách sử dụng, kích hoạt năng lượng Phong Thủy
Cách kích hoạt khí phát triển và hỗ trợ vận may từ thạch anh của tác giả Lillian Too
Treo thạch anh ở góc Đông – Bắc của phòng học sẽ tăng cường vận may về đường học vấn. Treo ở góc Tây – Nam của phòng ngủ sẽ kích hoạt vận may về quan hệ tình cảm hoặc đời sống hôn nhân hạch phúc. Không nên treo quá cao, tốt hơn nên đặt trên mặt bàn, nhất là bàn làm việc.
Đá thạch anh thiên nhiên có năng rất lượng mạnh. Những khối đá này mô phỏng năng lượng núi và cực kỳ mạnh trong việc nuôi dưỡng gốc Thổ của ngôi nhà.
Khi mang các loại đá kích hoạt năng lượng Thổ vào nhà, với đủ loại hình dạng, nên nhớ rằng chúng lưu trữ năng lượng rất mạnh, cả dương và âm. Vì vậy, nên làm sạch năng lượng âm còn bám vào. Có rất nhiều cách làm sạch loại đá quý này.
Một trong những cách đó là để đá ngoài trời để hấp thụ mưa nắng, tăng cường sức mạnh của khí trời. Hoặc sử dụng nghi thức làm sạch rất đơn giản là: ngâm thạch anh trong dung dịch muối biển được ít nhất 1 giờ. Muối rất có hiệu quả trong việc hóa giải tất cả dấu vết năng lượng âm của quá khứ, xóa sạch tất cả những rung động trước đó còn bám vào đá. Nếu khối thạch anh quá lớn bạn có thể rửa bằng nước muối chia làm 3 lần trong 1 giờ cũng rất tốt.
Khi đó thạch anh với năng lượng của mình sẽ trở thành nguồn khí chủ về các mối quan hệ (toàn năng lượng dương dương) và mang lại những rung động tốt cho nhà cửa, thúc đẩy các mối quan hệ của bạn, của các thành viên trong nhà bạn ngày càng trở nên hài hòa và tốt đẹp hơn.
Đây là điển cố thứ Ba hai trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Lưu Bị Cầu Hiền (còn gọi là Lưu Bị Tìm Người Tài). Quẻ Quan Thế Âm Lưu Bị Cầu Hiền có bắt nguồn như sau:
Cuối thời Hán, quân khởi nghĩa Hoàng Cân nổi dậy, thiên hạ đại loạn, Tào Tháo “uy hiếp thiên tử để hiệu lệnh chư hầu”, Tôn Quyền thống lĩnh quân đội Đông Ngô. Quan Mục ở Dự Châu là Lưu Bị, vốn là tông thất của nhà Hán, phải lang thang phiêu bạt, không có căn cứ địa cố định. Lúc này, Lưu Bị dựa vào Lưu Biểu, đóng quân ở Tân Dã. Trong một lần đến thăm Tư Mã Huy, nghe Tư Mã Huy nói: “Rất nhiều Nho sinh đều là những người kiến thức nông cạn, sao có thể hiểu được thế cục hiện thời? Biết thời thế mới là trang tuấn kiệt, chỉ có Ngọa Long (Gia Cát Lượng), Phượng sồ (Bàng Thống) mà thôi”. Sau này Từ Thứ cũng tiến cử Ngọa Long với Lưu Bị, Lưu Bị muốn Từ Thứ đưa Ngọa Long đến gặp, nhưng Từ Thứ nói: “Người này có thể đi gặp, nhưng không thể lệnh cho anh ta chịu khuất phục để đến đây. Tướng quân nên hạ mình đến thăm!”
Vì thế, Lưu Bị liền cùng với Quan Vũ, Trương Phi mang theo lễ vật, đến núi Ngọa Long ở Long Trung (nay là phía nam thành Nam Dương, tỉnh Hà Nam, cũng có thuyết cho là phía tây nam của thành Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc) mời Gia Cát Lượng xuống núi phò tá cho mình. Nhưng đúng hôm đó Gia Cát Lượng lại đi ra ngoài, Lưu Bị đành thất vọng quay về. Không lâu sau, Lưu Bị lại cùng Quan Vũ, Trương Phi đội gió dầm tuyết mà đi, không ngờ Gia Cát Lượng lại đi ra ngoài du ngoạn. Trương Phi vốn không muốn đi tiếp, thấy Gia Cát Lượng không ở nhà, liền giục trở về. Lưu Bị đành để lại một bức thư, thể hiện sự cung kính của mình đối với Gia Cát Lượng, mời Gia Cát Lượng ra trợ giúp cho mình. Vài ngày trôi qua, Lưu Bị ăn chay ba ngày, chuẩn bị tiếp tục đi mời Gia Cát Lượng. Quan Vũ nói rằng, Gia Cát Lượng có lẽ chỉ là kẻ hư danh, chưa hẳn đã có tài năng thực sự, không cần phải đi nữa. Còn Trương Phi nói rằng, hãy để một mình mình đi gọi, nếu Gia Cát Lượng không đến, thì sẽ dùng dây thừng trói lại giải đến. Lưu Bị bèn trách móc Trương Phi, kiên quyết cùng hai người đi mời Gia Cát Lượng lần thứ ba. Khi đến căn nhà cỏ mà Gia Cát Lượng ở, Gia Cát Lượng đang ngủ, Lưu Bị không dám làm kinh động, cứ đứng chờ trong tuyết, đợi sau khi Gia Cát Lượng tỉnh dậy mới cùng ngồi xuống nói chuyện.
Lưu Bị hỏi Gia Cát Lượng rằng: “Hiện nay nhà Hán suy bại, gian thần giả mượn lệnh vua để mưu sự, hoàng đế không có quyền lực. Ta không biết tự lượng đức hạnh và sức lực của mình, chỉ muốn lấy đại nghĩa để chấn hưng lại thiên hạ, nhưng vì trí tuệ và mưu lược không đủ, cho nên luôn bị thất bại, cho đến tận hôm nay. Nhưng chí hướng của ta vẫn chưa nguôi, ngài có mưu kế gì có thể giúp ta được không?” Gia Cát Lượng liền trình bày với Lưu Bị về kế sách chia ba thiên hạ, phân tích tình hình thế Tào Tháo không thế tin, Tôn Quyền có thể tiếp viện, lại nói về sự nhu nhược của bậc quân chủ ở hai châu Kinh và ích, chỉ khi có được hai châu này mới có thể giành được thắng lợi, tức là giảng giải về sự tất yếu và khả năng chiếm được hai châu này. Cuối cùng, ông trình bày với Lưu Bị chiến lược tấn công Trung Nguyên. Lưu Bị nghe xong rất tán thưởng.
Sau đó Lưu Bị thường cùng Gia Cát Lượng bàn bạc, mối quan hệ ngày càng thân mật. Bọn Quan Vũ, Trương Phi đều cảm thấy không vui, Lưu Bị giải thích với họ rằng: Ta có được Khống Minh, là giống như cá gặp được nước, hy vọng mọi người đừng nói thêm gì!” Từ đó, Quan Vũ, Trương Phi mới không trách móc nữa.
Quẻ Quan Thế Âm Lưu Bị Cầu Hiền là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm !
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Sau đây là một số lỗi phong thủy trong nhà ở bạn cần chú ý và khắc phục sớm để cuộc sống an yên và hạnh phúc như mong đợi. Chúng ta áp dụng phong thủy với mục đích ngôi nhà sẽ là nơi bình yên và chỉ có năng lượng tích cực. Tuy nhiên, trong mải làm theo những lý thuyết về phong thủy mà chúng ta dễ phạm một số sai lầm ảnh hưởng tới kết quả chung. Chỉ khi nhận diện ra sai lầm về lỗi phong thủy thường gặp trong suốt thời gian qua bạn mới có cách để thay đổi từng bước để thu hút năng lượng tốt cho căn nhà của bạn.
1. Từ phía giường, ghế bạn ngồi không nhìn ra phía cửa
Nhiều khi bạn không để ý điều này nhưng để mang lại cảm giác an toàn hơn thì nên chú ý tới vị trí của giường, ghế sofa hoặc bàn ghế trong tất cả các phòng. Chúng ta thường có cảm giác sợ hãi với những gì mình không thấy nên nếu quay lưng với cửa sẽ mang lại cho bạn cảm giác bất an. Việc này về lâu về dài sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, tiền bạc của những người hay ngồi vị trí như thế này. Nếu bạn không thể thay đổi vị trí đồ nội thất trong nhà thì có thể bố trí gương để từ đó có thể giúp bạn nhìn thấy ai đang đi vào hay rời khỏi phòng.
10 lỗi phong thủy thường gặp do sơ suất nhỏ ảnh hưởng kết quả chung
2. Bạn không dọn dẹp đúng cách trước khi áp dụng cách biện pháp phong thủy
Hầu hết mọi người không muốn vứt đồ vật gì đó đi vì nghĩ rằng biết đâu có lúc sẽ sử dụng đến, vì thế dù nhà đã được xem là dọn dẹp rồi vẫn còn rất nhiều thứ được xem là rác ở trong nhà. Trước khi áp dụng những biện pháp phong thủy nhà ở thì nhà bạn phải thực sự sạch sẽ, không được để đồ đạc lộn xộn làm sinh ra năng lượng xấu. Dọn dẹp đúng cách là bạn phải dọn sạch mọi ngóc ngách, không được giấu đồ cũ đã cần bỏ đi ở bất kỳ vị trí nào! Ví dụ có người đã áp dụng phong thủy cho nhà của mình khá tốt nhưng trong gara xe lại có hàng loạt đồ đạc cũ chất đống thì vẫn ảnh hưởng không tốt tới gia chủ.
3. Treo tranh nghệ thuật kích thước lớn ở trên khu vực ngồi hoặc nằm
Treo bức tranh, ảnh lớn phía ngay phía trên giường hoặc ghế là việc cần tránh trong phong thủy. Không gian hợp phong thủy nghĩa là mọi thứ ở vị trí đó phải tạo cho bạn cảm giác an toàn nhưng điều này không tồn tại khi bạn biết rằng có món đồ rất nặng đang troe trên đầu mình.
4. Bạn không ưu tiên sự thoải mái
Khi chọn mua đồ nội thất trong nhà bạn dễ bị hấp dẫn bởi những món đồ đẹp, bắt mắt và quên đến việc nó có thực sự cần thiết và có mang lại cảm giác thoải mái cho bạn hay không. Những đồ vật có cạnh sắc nhọn, dễ lung lay hoặc như gai xương rồng đều làm đảo lộn năng lượng không gian sống của bạn khi để chúng trong nhà.
5. Bạn thích những bức tranh nghệ thuật có cảm xúc
Bạn nên luôn đặt câu hỏi về các đối tượng, ảnh nghệ thuật nếu đặt trong không gian sẽ ảnh hưởng tâm trạng của bạn như thế nào. Tất cả mọi thứ xung quanh phải là đồ vật hỗ trợ tinh thần cho bạn. Vì vậy, nên loại bỏ hình ảnh của những người gợi cho bạn cảm xúc không tốt như người ấy bị ốm bệnh, cô đơn, hoặc không hạnh phúc.
6. Bạn thiết kế nhà cửa theo phong thủy với chỉ một mục đích cụ thể
Giả sử bạn thực sự muốn thu hút sự giàu có về tiền bạc, vì vậy bạn tập trung tới các vị trí và đồ vật liên quan. Tuy nhiên, nên tự hỏi lại rằng bạn sẽ vẫn giàu có khi ở công ty mọi người không nhớ tên bạn là gì? Những lúc khó khăn bạn không biết tìm người giúp đỡ… Đây cũng là lỗi phong thủy thường gặp của những người mới tìm hiểu về lĩnh vực này.
Mọi thứ trong cuộc sống này đều có sự liên quan vô hình với nhau ở mức độ nào đó, vì vậy phải một cái nhìn toàn diện hơn về những điều bạn muốn áp dụng trong phong thủy chứ đừng chỉ tập trung riêng lẻ một khía cạnh nào đó. Thoát nghèo không khó nếu biết cách cải thiện những lỗi phong thủy thường gặp được thực hiện một cách bài bản và đúng cách.
7. Bạn lạm dụng một yếu tố trong ngũ hành
Một số người có sở thích mạnh mẽ đối với một hoặc hai trong 5 yếu tố ngũ hành: Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Tuy nhiên, tổng thể căn nhà của bạn phải cân bằng tất cả các yếu tố trên. Quá nhiều yếu tố hành Kim có thể gây ra căng thẳng hay quá nhiều yếu tố Thổ với rất nhiều các tông màu trung tính và đồ gốm có thể khiến bạn cảm thấy nhàm chán và ngột ngạt.
8. Bạn quá tập trung vào một kết quả cụ thể
Giả sử bạn muốn cứu vãn mối quan hệ hiện tại và làm mọi cách để kích hoạt phong thủy cho yếu tố lãng mạn, gia tăng tài lộc nhưng vẫn không có kết quả gì. Vậy rốt cục thì chuyện gì đang xảy ra? Phong thủy hoạt động theo cách rất bí ẩn và bạn không bao giờ biết điều gì sẽ xảy ra khi bạn chỉ làm mới dòng chảy năng lượng của một khu vực. Đừng chăm chăm chỉ nhắm tới một kết quả cụ thể, vì khi làm như vậy bạn có thể bỏ lỡ những cơ hội khác trong cuộc sống.
Mời bạn tham khảo thêm bài viết: 5 lỗi phong thủy nhà ở khiến cuộc sống gia chủ khốn đốn
9. Bạn đối xử với gia đình như thể đó không phải là nơi để sống
Bạn làm mọi cách để áp dụng phong thủy một cách hoàn hảo cho nội thất trong nhà và để tránh sự mất cân bằng nên bạn không trang trí bằng vật liệu khiến mình lo lắng hoặc tránh ngồi lên đồ vật quý giá. Đừng khắt khe với mình và mọi người xung quanh đến thế. Con cháu, thú cưng, và khách tới chơi đều mang năng lượng cuộc sống tuyệt vời cho cuộc sống này, vì vậy hãy để mọi người được thoải mái mới là áp dụng đúng phong thủy cho cuộc sống của bạn.
10. Bạn giữ những đồ hỏng mà không chịu sửa
Với đồ vật ít dùng thì không nên để lại trong nhà. Đừng nghĩ là để lại sau này sẽ sửa lại để dùng. Đây là lỗi phong thủy thường gặp của những người thích tiết kiệm và lưu trữ đồ cũ vì tiếc nhưng không để làm gì. Nếu bạn không đủ thời gian sửa chữa chúng ngay lúc này thì nên đem tặng hoặc bán đi để mua đồ khác thay thế.HaTraGặp họa khôn lường với 7 kiểu nhà bếp5 lỗi phong thủy phòng ngủ khiến Ác mộng đeo bám Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Tư tưởng phóng khoáng cùng sự thoải mái khiến cho các mối quan hệ của người tuổi Dậu rất tốt. Họ thể hiện sự chín chắn, trưởng thành từ rất sớm, tuy nhiên,
cũng có những lúc họ lại không làm chủ được bản thân. Khi đã yêu, người tuổi Dậu sẽ nguyện dâng hiến hết mình. Dù cho mối quan hệ đó không hứa hẹn đơm hoa kết trái, họ cũng nguyện sống chết vì tình yêu.
2. Tuổi Hợi
Người tuổi Hợi thường có quan niệm sống là hưởng thụ. Họ sẽ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để tận hưởng những điều tuyệt diệu của cuộc sống. Khi đã đắm chìm vào tình yêu, họ rất dễ đánh mất đi lý trí. Bất luận là trên phương diện tinh thần hay thể xác, người tuổi Hợi đều tận hưởng một cách trọn vẹn.
3. Thân
Người tuổi Thân vốn rất thông minh và đáng yêu. Họ cũng rất nghịch ngợm và tò mò. Bản tính tò mò ấy cũng không là ngoại lệ trong tình yêu. Sự hiếu kỳ thôi thúc họ khám phá và tìm tòi những điều mới lạ. Vì thế, khả năng Khỉ "nếm trái cấm" sẽ rất cao.
4. Mùi
Trong tình yêu, người tuổi Mùi luôn muốn "giữ lửa" cho mối quan hệ. Họ sẵn sàng dâng hiến cả những thứ quý giá của mình để tình yêu ngày càng bền chặt. Tuy nhiên, vì tính cách của người này rất yếu đuối nên tình yêu của Mùi thường không có kết cục đẹp.
- Người tuổi Tý nhóm máu A sống biết trên biết dưới, trong công việc luôn lấy đại cục làm trọng. Họ sở hữu tâm hồn thanh cao, nội tâm hàm súc và vô cùng coi trọng hạnh phúc.
Ưu điểm nổi trội của người tuổi Tý nhóm máu A
Tính cách người tuổi Tý nhóm máu A sống biết trên biết dưới, trong công việc luôn lấy đại cục làm trọng, vì lợi ích chung của công ty, của mọi người. Họ làm việc chăm chỉ và có tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng kết hợp cùng người khác để thúc đẩy hiệu quả công việc cao hơn bởi vậy, bất kể họ làm việc trong môi trường nào cũng đều được đồng nghiệp quý mến, lãnh đạo ưu ái.
Ngoài khả năng ứng xử, giao tiếp khéo léo thì năng lực làm việc của người tuổi Tý nhóm máu A cũng rất tốt, tài trí hơn người, nhanh nhẹn linh hoạt, làm việc đâu ra đấy, gọn gàng và nhanh chóng, không dây dưa lằng nhằng, chuyện nào ra chuyện ấy, việc ngày hôm nay không để tới ngày mai. Những người tuổi Tý nhóm máu A yêu thích thơ văn, yêu cái đẹp, yêu lao động, thích sự trong sáng thuần khiết nên tâm hồn thanh cao, họ biết cách cân bằng công việc và gia đình đảm bảo cho cuộc sống luôn hài hòa.
Bất kể là phương diện nào thì người tuổi Tý nhóm máu A cũng quan tâm tới từng chi tiết nhỏ, bởi vậy họ dễ dàng nhận ra những thay đổi dù là nhỏ nhất của người đối diện, về cả hình thức lẫn tinh thần, họ có thể thông cảm sự đau khổ, thấu hiểu nỗi lòng và không ngại chia sẻ, cùng người khác vượt qua khó khăn. Không ai có thể phủ định lòng tốt của người tuổi Tý nhóm máu A, họ luôn biết cách hóa chiến tranh thành tơ lụa. Dù mưu tính sâu xa nhưng nội tâm hàm súc, họ lấy niềm vui và hạnh phúc để làm phương châm sống, mục tiêu của của đời.Nói như vậy không có nghĩa là người tuổi Tý nhóm máu A đa sầu đa cảm, dễ bị người khác lợi dụng tình cảm. Trên phương diện này, họ rất tỉnh táo và lý trí, họ có khả năng quan sát cũng như phân tích tâm lý rất tốt, sau đó mới đưa ra quyết định. Một khi đã yêu, những người này rất toàn tâm toàn ý với đối phương, luôn tìm mọi cách để khiến đối phương vui vẻ, bất kể nguyên nhân do đâu cũng đều nhận lỗi về mình, luôn tôn trọng và đặt hạnh phúc gia đình lên mức cao nhất.Nữ mệnh nhóm máu A tính tình hiền dịu, tâm địa thiện lương, sở hữu một nụ cười tỏa nắng khiến đối phương không thể không ngưỡng mộ, là mẫu phụ nữ mà mọi đàn ông luôn khao khát. Sau khi kết hôn, những người phụ nữ này là hình tượng mẹ hiền vợ đảm điển hình, chăm sóc chồng con chu đáo, tôn kính cha mẹ, sắp xếp công việc gia đình đâu ra đấy. Nam mệnh nhóm máu A thì rất biết quan tâm người khác, thái độ ôn hòa, cũng là mẫu đàn ông của gia đình mà nhiều phụ nữ ao ước. Sau khi kết hôn, họ luôn nhận thiệt thòi về mình, sẵn sàng hi sinh mọi lợi ích bản thân để gìn giữ hạnh phúc, gia đình hòa thuận, tu chí làm ăn để mang lại cuộc sống tốt nhất cho vợ con. Nếu có gì bức xúc, ngoài miệng thì mắng vợ nhưng trong lòng họ không hề muốn như vậy, gia đình luôn thuận hòa, hạnh phúc dài lâu.
Khuyết điểm cần khắc phục của người tuổi Tý nhóm máu A
Người tuổi Tý nhóm máu A hành động thường do dự, thiếu quyết đoán nên thường bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt. Khi thời cơ đến, mọi thứ hài hòa nhưng lúc này họ lại thường có thái độ ba phải, thế nào cũng được, không kiên định với ý kiến của mình, kết quả về sau thường hay hối hận. Hơn nữa, vì thường xuyên nghĩ cho người khác nên trong lòng lúc nào cũng có muộn phiền, lâu dần tích tụ tạo thành áp lực tinh thần, đôi khi mắc phải các bệnh liên quan hệ thần kinh.
Lời khuyên dành cho những người tuổi Tý nhóm máu A
Vào những lúc tâm tình không tốt, không muốn chia sẻ với người khác thì tạm thời không nên suy nghĩ nhiều, tạm gác lại những muộn phiền ấy và tìm niềm vui bằng những hoạt động khác như nghe nhạc, đọc sách, đi mua sắp, vui chơi cùng bạn bè…
Những người này thiếu hụt sự sáng tạo, nếu như họ có tinh thần học hỏi thêm thì sẽ tốt hơn nhiều, dù không hẳn sẽ tạo nên bước đột phá nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn hiện tại. Chăm chỉ tích lũy kiến thức là cách rèn luyện năng lực tốt nhất, nhân cách cũng được nâng lên tầm cao mới.Phương Thùy
Tuổi Tý nhóm máu O: Lanh lợi, phóng khoáng, hậu vận phú quý Trong công việc, người tuổi Tý nhóm máu O rất có tinh thần trách nhiệm, chăm chỉ làm việc, dốc tâm dốc sức làm việc nên thường được cấp trên tin tưởng và giao
Tử Vi thường chỉ nhấn mạnh đến các cung và xem nó như yếu tố căn bản của Tử Vi. Đi sâu vào chi tiết, ta thấy trong mỗi cung đều có cả chính tinh lẫn phụ tinh. Các sao này tác hóa lẫn nhau theo quy luật tương quan về âm dương, ngũ hành theo ảnh hưởng chế hóa lẫn nhau về ý nghĩa. Vì vậy, đi sâu đến các sao trong một cung, luận đoán Tử Vi càng phức tạp hơn. Chẳng những hàm số này phải quan tâm đến xử chế hóa trên 2 bình diện âm dương, ngũ hành và ý nghĩa các sao mà còn phải lưu ý đến số lượng các sao tốt xấu trong cung. Người lý giải phải nhận định về nhiều mặt của một sao.
Tính phức tạp của Tử Vi còn được thể hiện qua sự phức tạp trong cách tiếp cận và cách lý giải của cung Phúc Đức. Bản thân cung Phúc Đức cũng có một cách lý giải riêng và làm tăng cường hay chế giảm sức mạnh cũng như ý nghĩa của tất cảc các sao trong các cung.
Tính phức tạp này còn do đặc trưng về con người, sinh vật không đơn giản trong cấu tạo, trong sự phản ứng. Nó có quá nhiều nhân tố cấu tạo. Nó cũng không bao giờ phản ứng theo một căn bản nào. Có khi lý trí lấn áp tình cảm, có khi tình cảm lại có ưu thế hơn, có người chẳng phản ứng theo căn bản nào mà chỉ xu hướng theo dư luận.
Do đó, Tử Vi không thể chỉ đơn giản là một phương pháp, một công thức, một đồ biểu, không đo lường được về lượng cũng như về phẩm một cách chính xác. Chính vì vậy làm cho Khoa Tử Vi một cách rất tương đối.
Tương tự như loài rắn lột da, năm nay sẽ chứng kiến những sự lột xác, thay đổi mạnh mẽ và những biến động cực kỳ to lớn, và có một kết thúc đẹp vào cuối năm, các nhà chiêm tinh dự đoán cho châu Á.
Các nhà chiêm tinh học dự đoán một năm mới nhiều biến động nhưng sẽ có kết thúc tốt đẹp vào cuối năm.
Thị trường chứng khoán khởi sắc nhẹ, căng thẳng leo thang giữa Nhật Bản và Trung Quốc, thêm nhiều thành công cho tác giả của Gangnam Style, là những dự đoán của các nhà chiêm tinh về năm Quý Tỵ.
Kết thúc năm rồng, nhà phong thủy Hong Kong Mak Ling-ling dự đoán thị trường chứng khoán sẽ tận hưởng nửa năm nay đầu thuận lợi trước khi diễn biến hỗn loạn trong nửa cuối năm, giống như dáng hình của con rắn vậy.
"Giống như chuyển động của con rắn vậy, rất nhanh nhẹn, tích cực và sắc nhọn, nhưng cũng vô cùng xảo quyệt và phức tạp", bà nói với AFP.
Mak cũng cảnh báo dù thị trường khởi sắc vào đầu năm nhưng sẽ không thể hồi phục hoàn toàn sau cuộc khủng hoảng của khu vực eurozone và nền kinh tế Mỹ chưa đủ mạnh cho đến tận năm 2014. Bà cũng nói thêm rằng Tổng thống Mỹ Barack Obama cần phải "bớt bảo thủ" hơn để khôi phục nền kinh tế.
Một số nhà chiêm tinh khác cho biết năm Quý Tỵ là một năm rắn nước, tượng trưng cho sự sợ hãi, lại nằm trên yếu tố lửa, tượng trưng cho sự vui tươi và lạc quan. Sự xung đột giữa hai yếu tố đó sẽ gây ra sự bất ổn vào tháng 5.
Chow Hon-ming, nhà phong thủy Hong Kong, nói các yếu tố xung khắc xuất hiện trong tháng 5, nên có thể trong tháng này sẽ xảy ra "cuộc chiến ngắn" giữa Trung Quốc và Nhật Bản khi "hai con rắn" va chạm.
"Tháng 5 là tháng Tỵ, và năm nay cũng là năm Tỵ, hai con rắn sẽ gặp nhau, căng thẳng giữa Trung Quốc, Nhật Bản sẽ lên đến đỉnh điểm và có thể diễn biến thành chiến tranh".
Các nhà dự đoán phong thủy cảnh báo năm "rắn nước đen" sắp đến có thể mang theo một số tai họa như những năm rắn trước đó cũng từng xảy ra những sự kiện chấn động. Ví dụ năm 2001 xảy ra vụ khủng bố 11/9 làm 3.000 người thiệt mạng hay thị trường chứng khoán sụt giảm năm 1921, báo trước một cuộc đại suy thoái của nền kinh tế thế giới.
Trên một phương diện khác, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình và nghệ sĩ Hàn Quốc Psy, tác giả của ca khúc Gangnam Style gây sốt trong năm qua, là hai nhân vật nổi tiếng sinh năm rắn, được các "thầy bói" dự đoán sẽ có một năm thành công bất chấp đây thường bị coi là "năm tuổi" và kém may mắn.
Ông Tập, sinh năm 1953, và Psy, Park Jae-Sang, sinh năm 1977, sẽ không bị ảnh hưởng của "năm tuổi" bởi ngày tháng năm sinh của họ chứa các yếu tố thuận lợi trong năm nay.
CLSA, một trang web môi giới chứng khoán hàng đầu của châu Á, cũng dẫn lời các chuyên gia phong thủy và đưa ra chỉ số phong thủy - phong thủy index cho năm nay. Trang này cũng cho rằng thị trường sẽ biến động trong nửa cuối năm nhưng chúng ta có yếu tố "hỏa" để lạc quan.
Về tổng thể, "tương tự như loài rắn lột da, năm nay sẽ chứng kiến những sự lột xác, thay đổi mạnh mẽ và những biến động cực kỳ to lớn", và có một kết thúc đẹp vào cuối năm tới, CLSA kết luận.
Trích từ: vnexpress.net
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Phong thuỷ học chia vị trí của gia trạch ra làm 5 phần quan trọng. Điều kị và cát hung của năm phần này đều khác nhau, việc phân chia được xác định căn cứ vào chỗ đặt cửa chính. (1) Tiền chu tước vị - Chúng ta lấy cửa chính làm phía trước của nhà
Phong thuỷ học chia vị trí của gia trạch ra làm 5 phần quan trọng. Điều kị và cát hung của năm phần này đều khác nhau, việc phân chia được xác định căn cứ vào chỗ đặt cửa chính.
(1) Tiền chu tước vị – Chúng ta lấy cửa chính làm phía trước của nhà ở, phần này được gọi là tiền chu tước vị, đó là nơi mọi người ra vào nhà và cũng là địa điểm hoạt động thường ngày của mọi người, khí ở đây khá lưu dộng, thông thường không cát và cũng không hung.
(2) Hậu huyền vũ vị – là phần hai đầu trước và sau của mỗi tiền chu tước vị, đối diện với vị trí cửa chính. Ở đây phần nhiều dùng làm nơi để người trong nhà nghỉ ngơi, đó là nơi yên tĩnh. Vị trí này có một hoặc hai tài khí vị, muốn xác định là một hay hai phải nhìn vào vị trí của cửa.
(3) Tả thanh long vị – Chúng ta đứng tại phòng khách trong nhà, mặt hướng ra cửa, vách tường bên trái mình là tả thanh long vị, vị trí này quản quý nhân, cho nên rất hợp cho tụ khí, có khí tụ sẽ có quy nhân phù trợ.
(4) Hữu bạch hổ vị – Chúng ta đứng ở phòng khách trong nhà, mặt hướng ra cửa, vách tường bên phải chính là hữu bạch hổ vị. Bạch hổ vị quản tiểu nhân, ở vị trí này có khí tụ thì bên cạnh sẽ có kẻ tiểu nhân.
(5) Trung câu trần vị – Đây là phần giữa nhà, không thuộc không gian giữa của 4 phần trước, nó là trung câu trần vị, ở vị trí này không nên bố trí phòng bếp, phòng tắm, phòng vệ sinh, nếu không sẽ bất lợi đối với gia trạch.