Nằm mơ thấy quần áo là điềm gì? –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Phù dâu phù rể là những người đóng vai trò quan trọng và có nhiệm vụ trợ giúp cô dâu chú rể trong đám cưới. Mặc dù là những người thân thiết và gần gũi với cô dâu chú rể nhưng nhiều bạn gái vẫn ngần ngại khi nhận được lời mời bê tráp hay làm phù dâu vì lo sợ “mất duyên”. Qua bài viết này, sẽ cùng các cặp đôi tìm hiểu về quan niệm “mất duyên” và cách “giữ duyên” cho những người trợ giúp đáng yêu này.
Theo phong tục truyền thống, thành viên trong đội bê đỡ tráp trong các lễ ăn hỏi đều phải là thanh niên chưa kết hôn. Vì vậy, trước đây có quan niệm những ai thường xuyên tham gia bê đỡ tráp sẽ “mất duyên” và khó lập gia đình. Tuy nhiên, đây chỉ là quan niệm không có căn cứ và chưa được kiểm chứng.
Vì quan niệm này nên đã có không ít cô gái ngần ngại không nhận lời đi đỡ tráp vì lo lắng bị mất duyên. Tuy vậy, trong thực tế cũng có nhiều cô gái tìm thấy một nửa của mình trong đám cưới mà họ tham gia, bởi những chàng trai trong đội bê tráp nam thường vẫn còn độc thân và có độ tuổi tương đương với các cô gái.
Để các chàng trai, cô gái yên tâm hỗ trợ cô dâu chú rể trong hôn lễ, các gia đình tổ chức đám cưới cũng đưa ra những cách thức “giữ duyên” cho đội bê, đỡ tráp bằng cách chuẩn bị bao lì xì có tiền may mắn để đội bê tráp nhà trai và đỡ tráp nhà gái đáp lễ cho nhau. Sau khi kết thúc nghi lễ trao tráp, hai bên sẽ “lại duyên” trước sự chứng kiến của gia đình hai họ. Món tiền nhỏ nhưng đặc biệt quan trọng vì nó mang ý nghĩa mong muốn các chàng trai và cô gái sau này có cuộc hôn nhân thuận lợi, trôi chảy.
Không chỉ thế, với đám cưới hiện đại ngày nay, cô dâu chú rể còn chuẩn bị thêm các món quà nhỏ xinh xắn để tặng những người trợ giúp đắc lực của mình. Tặng phẩm kỷ niệm ấy không nhất thiết phải đắt tiền, tốn kém mà mang ý nghĩa tinh thần nhằm thể hiện tình cảm thân thiết của những người bạn dành cho nhau. Chắc hẳn các cặp đôi đều mong muốn món quà kỷ niệm đáng yêu ấy sẽ luôn gợi nhớ trong tâm trí bạn bè những kỷ niệm vui và khoảnh khắc hạnh phúc đáng nhớ của ngày trọng đại sau khi đám cưới kết thúc.
Hi vọng qua những chia sẻ trên, các cặp đôi sẽ không phải đối mặt với sự ngần ngại “mất duyên” khi mời các chàng trai, cô gái bê tráp trong lễ ăn hỏi của mình nữa.
| Nhiều người có thể thư giãn với cây cảnh thủy sinh. Loài cây này còn có thể làm chậu cảnh đẹp mắt để trang trí nhà ở. Bạn có thể lựa chọn một chậu rau má Nhật đặt trên bàn. |
|
| Mỗi bình rau má Nhật thủy sinh làm cảnh có giá dao động từ 250-300 nghìn đồng |
|
| Cây thủy sinh bèo Nhật khá bắt mắt, nó có thể lan nhanh trên mặt nước. Cây này mang đến cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng khi trồng trong bể cảnh hoặc để trong nhà. |
|
| Cây bèo cái là loài thủy sinh dễ trồng, dễ chăm sóc. Ở nước nhiều dinh dưỡng, đất mùn, cây phát triển rất tốt. Bạn có thể chọn mua một bình thủy tinh để thả bèo cái. Chậu cảnh nhỏ sẽ làm chiếc bàn làm việc sinh động hơn với màu xanh mướt mắt. Bèo cái có giá bán 30-45 nghìn đồng/nhánh lớn. |
|
| Chỉ cần thả vào nước, dây thường xuân sẽ mọc rễ và sống dễ dàng. Chậu thường xuân có thể đặt bên bàn, treo tượng, đặt lên kệ để làm xanh không gian sống. |
|
| Trầu bà tương tự cây thường xuân ở đặc điểm dễ sống trong nước. Bạn chỉ cần ngắt một nhánh trầu bà rồi thả vào nước, chúng sẽ nhanh lan nhánh và tươi. Cây trầu bà không chỉ đẹp mà còn hấp thụ chất độc hại trong gỗ dán, quần áo mới, sơn... làm sạch không khí. |
|
| Bên cạnh đó, bạn có thể bỏ ra từ 200-300 nghìn đồng mua một bình cây đế vương xanh thủy sinh mắt mắt để trang trí nhà |
|
| Với giá từ 200-300 nghìn đồng, cây chân rết gây ấn tượng nhờ bộ rễ độc đáo |
|
| Cây dây nhện có giá bán từ 150-200 nghìn đồng/bình. Bên cạnh làm đẹp nhà, cây dây nhện còn thể thanh lọc không khí. |
| ► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi trọn đời chuẩn xác |
![]() |
Hướng bếp tuổi quý Hợi 1983:

Năm sinh dương lịch: 1983
– Năm sinh âm lịch: Quý Hợi
– Quẻ mệnh: Cấn Thổ
– Ngũ hành: Đại Hải Thủy (Nước biển lớn)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Tây Bắc (Thiên Y); Đông Bắc (Phục Vị); Tây Nam (Sinh Khí); Tây (Diên Niên);
– Hướng xấu: Bắc (Ngũ Quỷ); Đông (Lục Sát); Đông Nam (Tuyệt Mệnh); Nam (Hoạ Hại);
Do số lý âm dương ngũ hành chỉ có 10 số biểu lý
Nghĩa là chỉ có 5 số biểu lý dương và 5 số biểu lý âm, và thuộc 5 hành, tức mỗi hành có 2 số biểu lý lần lượt theo quy luật tương sinh là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim và Kim sinh Thủy vừa tròn 10 số biểu lý.

Quy tắc quy đổi
Trong số hóa ta có nhiều số biểu lý. Vậy muốn quy đổi sang số biểu lý Âm Dương Ngũ Hành 10 số biểu lý ta phải thực hiện quy đổi như sau:
– Nếu các số biểu lý nhỏ hơn và bằng số 10 (mười) ta giữ nguyên.
– Nếu những số biểu lý lớn hơn 10 (mười) ta phải lấy sô biểu lý đó trừ bớt đi 10 (mười) hay một số lần của 10 (mười) để lấy số hàng đơn vị từ 1 (một) đến 9 (chín). Trường hợp khi trừ mà còn lại số 0 (không) thì được coi đó là số biểu lý 10 (mười).
Ví dụ: Khi số hóa một cái gì đó: Họ, tên, biển hiệu, tên hàng, tên hiệu, đường phố, mã số, số điện thoại v.v… Khi quy đổi số biểu lý của 5 vận thế hay 3 biểu thế mà số đó lớn hơn 10 đều tuân thủ quy tắc chuyển đổi theo số biểu lý Âm Dương Ngũ Hành để tham biến định tính.
Trán cao, rộng và đầy
Nếu phái nữ có trán cao, nhẵn và rộng thì rất có thể sẽ được gả vào nhà giàu có. Người có trán cao rất tài hoa và tương đối thông minh. Trán nhẵn và rộng thể hiện sự phóng khoáng, cao quý. Những người có tướng mạo thế này rất hợp với cuộc sống trong gia đình quyền quý. Họ có khả năng ứng khó với các quy tắc mà không thất lễ với những người trong gia đình.
Những người con gái có tướng mạo thế này cũng rất được cánh mày râu ưa thích. Có thể nói họ là những mỹ nhân có khí chất, và rất có ưu thế trong các mối quan hệ giao tiếp.
Mắt to, mày dài, lông mi cong
Những người phụ nữ có tướng này rấy quyết tâm làm một việc gì đó đến cùng, rất ít khi từ bỏ và lùi bước. Một đôi mắt to, sáng, mày dài lông mi cong trong thật hút hồn bởi sức sống mãnh liệt. Rất nhiều đàn ông bị thu hút vì đôi mắt này của nàng, đương nhiên trong số đó không thể thiếu những bậc công tử vương gải theo đuổi. Vì thế, những người con gái này rất thuận lợi trên phương diện tình cảm.

Mũi to
Theo nhân tướng học, những người mũi to thường có tính tự chủ lẫn ý chí phấn đấu vì sự nghiệp. Những người này có mối nhân duyên tốt đẹp, tài vận cũng vô cùng mỹ mãn. Đặc biệt hơn, bạn rất có khả năng quản lý tiền bạc và đầu tư tài chính.
Gò má cao vừa phải
Với quan niệm những người phụ nữ có hai bên má cao vừa phải sẽ là những người nội trợ đảm đang, là hậu phương vững chắc cho người chồng sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi. Do đó những người phụ nữ có khuôn mặt hài hòa, gò má đối xứng luôn được xem là chuẩn mực của khuôn mặt đẹp và được hưởng phú quý.
Ngón tay dài
Những phụ nữ có ngón tay dài thon thả thường rất khéo léo và đảm đang. Không chỉ trong giao tiếp mà trong công việc nội trợ nàng cũng là một mẫu người phụ nữ của gia đình hết sức tuyệt vời.
Tai hồng, rủ xuống vai
Tai hồng mà nhuận là tướng người có công danh. Tai có màu sắc ửng hồng pha lẫn màu trắng ngà hoặc tai có đường nét cong tròn là tướng người được hưởng thụ cuộc sống an nhàn.
Tai rủ xuống vai là tướng phú quý vô cùng, nếu hướng về miệng lại càng tốt hơn.
Hai cằm
Rất nhiều cô gái có hai cằm nhưng đã giảm cân vì muốn xinh đẹp hơn, thậm chí còn đi phẫu thuật thẩm mỹ để bỏ hai cằm. Nhưng họ không biết rằng hai cằm chính là biểu tượng cho sự phú quý của phái nữ. Cằm giống như kho của cải của người phụ nữ, càng dày thì càng có nhiều tiền tài. Những người con gái có hai cằm còn được gọi là những người có tướng giúp chồng. Nó không chỉ đem lại may mắn cho bản thân, mà còn giúp cho sự nghiệp của chồng. Những người con gái có tướng mạo như vậy thì sẽ luôn có tài vận tốt.
Theo Khỏe & Đẹp
Văn hoá phong thủy có nguồn gốc từ Trung Quốc, là bộ phận quan trọng tạo nên văn hóa thần bí truyền thông Trung Quốc, bác đại tinh thòng, ngọn nguồn chày mãi.
Văn hoá phong thủy sở dĩ thịnh hành trong thế giới này, là do những đặc điểm chủ yếu của phong thủy quyết định. Vậy rốt cuộc đặc điểm phong thủy là gì?
Đầu tiên, hạt nhân của lý luận phong thủy là “thiên nhân hợp nhất”, tăng cường sự hài hoà và thống nhất giữa con người và tự nhiên.

Phong thủy chính là một môn khoa học hoặc học vấn xem xét nơi ở tốt nhất cho con người. Lớn là môi trường sinh thái, nhỏ là đến môi trường nhà ở xung quanh. Phong thủy tiến hành xem xét một cách toàn diện từ phường diện an toàn và tâm lí, có tính thực dụng và tính khoa học nhất định. Đặc biệt là môi trường tự nhiên hiện nay của loài người đang gặp phải những vấn đề như: Ô nhiễm môi trường trầm trọng, nguồn tài nguyên luôn xuất hiện những nguy cơ đe dọa, đất và nước bị tiêu biến nghiêm trọng, khí hậu bất thường…
Các loại hiện tượng đó đã làm nguy hại đến sự sinh tồn của con người. Mặt khác, môi trường nhỏ bé xung quanh nơi con người sinh sống cũng không được như ý muốn nữa, những kiến trúc hiện đại luôn hạn chế mối quan hệ giữa con người và môi trường hình thành không gian cuộc sống đơn điệu, vô vị, khiến con người cảm thấy khô kiệt và áp lực. Văn hoá phong thủy chính là xem xét đến mối quan hệ giữa người và trời đất, hơn nữa lấy con người làm trung tâm. Như vậy không những thỏa mãn được nhu cầu tinh thần của con người mã còn thoả mãn nhu cầu vật chất của con người.
Tiếp đó, phong thủy có ý nghĩa chỉ đạo thực tế. Phong thủy đưa cư trạch là một bộ phận cơ thể của đất, nhấn mạnh sự hài hoà giữa kiến trúc và tự nhiên cũng như môi trường xung quanh. Từ ý nghĩa nào đó, phong thủy và các bước đi sinh thái học kiến trúc là thống nhất với nhau, một số lý luận của chúng có ý nghĩa chỉ đạo nhất định đối với hiện thực.
Tiếp theo, phong thủy có thể tăng thêm sinh khí cho con người. Môi trường sống có phong thủy tốt, có thể làm cho con người vui vẻ tinh thần, khiến cho người ta sau một ngày lao động mệt mỏi, được nghỉ ngơi đầy đủ, để tiếp tục công việc của ngày hôm sau một cách có hiệu quả. Chính vì vậy mà có người đã nói rằng: “Phong thủy tốt có thể tăng thêm phần môi trường cho nơi bạn ở, hơn nữa tăng thêm sinh khí nhân sinh cho bạn”. Nhưng không chỉ có dựa vào một nhân tố phong thủy là đã thay đổi toàn bộ vận thế hoặc môi trường nơi ở của chúng ta.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
- Địa Không, Địa Kiếp
Đây là hai sao chỉ bệnh nặng nói chung, trong có bệnh về bộ máy tiêu hóa nếu đi chung với một trong 5 sao chỉ bộ máy tiêu hóa.
Về hình thái của bệnh, có thể là loét dạ dày, rách ruột, sỏi mật, gan hư, hay có ung thư trong một hay nhiều bộ phận của bộ máy. Vì Kiếp Không chỉ ung nhọt, lở loét cho nên bộ máy tiêu hóa có thể bị rách, chảy máu như trường hợp ung thư, kiết lị ra máu.
Về cường độ, vì Kiếp Không là Sát Tinh hạng nặng cho nên bệnh sẽ nặng, nhất là khi hãm địa. Vốn là sao Hỏa, nên bệnh bột phát bất ngờ.
- Thiên Hình, Kiếp Sát:
Một trong hai sao này chỉ về mồ xẻ. Bộ máy tiêu hóa có thể bị giải phẫu. Bệnh sẽ tương đối nặng, nhất là khi gặp cả hai sao.
- Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh
Bốn sao này chỉ bệnh, nhưng không rõ tính chất và cường độ, nhưng chắc chắn không nặng bằng Kiếp Không.
- Đại hao, Tiểu hao
Đúng ra Song Hao không chỉ bộ máy tiêu hóa, mà chỉ bệnh đau bụng tiêu chảy. Ở Mệnh hay ở Tật, Song Hao chỉ tạng của người hay đi tiêu chảy: tái đi tái lại hầu như kinh niên. Cũng có thể đây là bệnh ăn không tiêu, kém ăn, trúng thực, thượng thổ hạ tả.
- Hóa Kỵ
Chỉ trục trặc nhỏ trong bộ máy tiêu hóa, do dùng thuốc quá liều hay ăn trúng phải chất có hại cho tiêu hóa (Hóa Kỵ là hóa chất) .
- Thiên Khốc, Thiên Hư
Chỉ sự lục, hao hại ngấm ngầm của bộ máy không hẳn là bệnh, nhưng gây khó chịu như ăn không tiêu, trục trặc không rõ căn nguyên. Một nguyên do khả hữu là vì bộ răng không tốt, nhai thức ăn không kỹ. Đây cũng là một bệnh kinh niên. Tất cả sao kể trên hội tụ hoặc riêng lẻ đều gây bệnh. Càng hội tụ nhiều, bệnh càng nặng và lâu khỏi.
Ngoài ra các sách đã có cũng kể các bộ sao dưới đây liên quan đến bệnh tiêu hóa nói chung:
- Thái âm hãm địa
- Vũ Khúc, Thất Sát
- Thiên Đồng, Hoá Ky
- Thiên Trù, Đại, tiểu hao
Bệnh này do ăn uống quá độ hoặc ăn món lạ bị ngộ độc. Đây là bệnh của người ăn nhiều cao lương mỹ vị, trà dư tửu lậu thường thấy trong giới ngoại giao, bợm nhậu.
Có những sao chỉ rõ bộ phận bị bệnh như:
- Riêu, Đà, Ky: Đau dạ dày, đau ruột.
- Không, Kiếp, Bệnh, Cơ: bệnh mật
- Không, Kiếp, Hỷ, Thần: bệnh trĩ
- Tham Đà: bệnh do ăn uống quá độ, bội thực.
- Bệnh Phù: hay đau dạ dầy, đầy hơi, kiết lỵ, hoặc thiếu dinh dưỡng sinh ra phù thũng.
2. NHỮNG BỆNH VỀ BỘ MÁY HÔ HẤP
Sách Lý số học không ghi nhận sao nào chỉ riêng bộ máy hô hấp. Chỉ có một số bộ sao chỉ bệnh hô hấp.
- Địa Không, Địa Kiếp
Chỉ bệnh đau phổi dưới nhiều hình thái và cường độ khác nhau, từ ho, suyễn, yếu phổi, kém khí cho đến lao, ung thư phổi, sưng phổi.
- Tang hổ, Khốc, hư ho lao.
- Thái âm hãm địa: đau phổi.
- Thiên Khốc: Phong đàm, ho ra máu.
- Thiên Khốc: phổi yếu, hay ho vặt.
- Hình, Bệnh hay Tử: có thể bị lao hay kinh phong.
Ngoài ra những Sát Tinh, hung tinh, hao bại tinh, kỵ tinh ứng dụng vào bộ máy hô hấp sẽ mô tả thêm rõ hơn hình thái hoặc cường độ của bệnh. Ví dụ như gặp Thiên Hình, Kiếp Sát thì bệnh hô hấp có thể phải mổ, bị Đại, Tiểu hao thì bệnh phổi hay tái phát nhiều lần gần như trầm kha, gặp Hóa Kỵ thì sinh thêm bệnh tiêu hóa vì dùng quá nhiều thuốc trị phổi, gặp Lưu Hà có thể bị phổi tràn dịch v.v..
3. NHỮNG BỆNH VỀ BỘ MÁY TUẦN HOÀN
Sách Lý số học chỉ kể có 2 sao Tang Môn và Bạch Hổ chỉ máu. Kỳ dư không có sao nào chỉ tim thận v.v.. Những bộ sao chỉ những bệnh về máu huyết tim phổi gồm có:
- Lâm Quan, Hỏa Tinh hay Linh
Bệnh chảy máu cam. xuất huyết, đứt mạch máu.
- Bạch Hổ: máu xấu, nhất là đối với phụ nữ.
- Tang Môn, Bạch Hổ: nhất khí huyết. bệnh thiếu máu, căng mạch máu. yếu tim, đau tim.
- Đào Hoa, Hồng Loan: yếu tim
- Lưu Hà: bệnh máu loãng, hay là máu khi bị thương tích, bệnh hoại huyết.
Một lần nữa, các sao trên có thể đi kèm với sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh.
4. NHỮNG BỆNH VỀ BỘ MÁY BÀI TIẾT VÀ SINH DỤC
Về mặt cơ thể không có sao nào chỉ những bộ phận bài tiết cho rõ ràng. Nhưng về bộ phận sinh dục, có sao Kình Dương chỉ dương vật, sao Thai chỉ âm hộ.
- Thiên riêu hay Thiên Hư: bệnh suy thận, dương hư.
- Tham, Riêu
- Đào, Hồng, Không, Kiếp
- Riêu, Cái
Ba bộ sao kể trên chỉ bệnh phong tình.
- Đào Hồng, Kỵ, Mộc
- Đào Hình, Thai, Mộc
Theo Thái Thứ Lang. 2 bộ sao này chỉ bệnh phạm phòng nhưng không được mô tả rõ ràng.
- Đào Hồng, Riêu, Hỷ
- Mộc Cái
Hai bộ sao này chỉ bệnh mộng tinh, di tinh.
- Thai, Không, Kiếp
Bộ sao này chỉ bệnh đau tử cung lệch hay sa tử cung.
- Cự, Kình, Hoả
- Tham ở Tý, Ngọ (có thể đi kèm với Đà La
Hai bộ sao này chỉ bệnh do tửu sắc, sinh dục quá độ. Tất cả các sao trên có thể đi chung với Sát Tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh. Đi với Không Kiếp thường là nặng và có máu mủ, với Thiên Hình, Kiếp Sát có thể bị mổ xẻ .v.v...
5. NHỮNG BỆNH VỀ TAI, MŨI, HỌNG
Về mặt cơ thể, Long Trì chỉ mũi, Phượng Các chỉ tai, Phá Toái chỉ cuống họng. Những bộ sao liên hệ gồm có:
- Phượng, Kình, Đà
Bệnh ở tai, cứng tai, lãng tai, sớm lãng tai, điếc.
- Trì, Khốc, Hư
Bệnh lở mũi, như thối cuống mũi, có Thiên Hình là có nổ, có Hỏa Tinh, Linh Tinh là có đốt.
- Lâm Quan, Địa Kiếp
Bệnh yết hầu thịt dư ở cổ họng.
- Phá toái, Hình hay Hư, Khốc
Đau cuống họng (như bị amydale), tiếng khàn rè.
- Riêu
Đau răng, hay hư trăng sớm rụng răng.
Sát Tinh, hình tinh, hao bại tinh ám tinh vẫn có thể đi chung với các sao trên.
6. NHỮNG BỆNH CỦA SẢN PHỤ
Những bệnh này thường liên quan đến bộ phận sản dục, đến máu huyết, đến tử cung, đến sự sinh đẻ.
- Đào Hồng, Kình, Kỵ, Mộc
Bệnh tiểu sản, hậu sản.
- Không, Kiếp, Mộc hay Ky, Mộc
Bệnh sản thai, đau dạ con, khó đe.
- Nguyệt hãm hay Nguyệt, Kỵ hay Nhật, Kỵ, Hư
Đàn bà âm hư, kinh nguyệt không đều, dương hư, có bệnh về bộ phận sản dục đến sự thụ thai, sinh đẻ.
- Lưu Hà, hay Tang, Hổ
Khi sinh đẻ, hay bị băng huyết vì máu loãng.
7. NHỮNG BỆNH NGOÀI DA
- Vũ Cơ: bệnh ngoài da hoặc tê thấp.
- Tướng ở Mão, Dậu: da mặt vàng. Có bệnh thuộc khí huyết hoặc ngoài da.
- Cơ Nguyệt: hay có mụn nhọt.
- Không, Kiếp, Cơ: mụn nhọt, lở chốc có máu mủ.
- Phá: Máu nóng lúc nhỏ tuổi sinh nhọt.
- Liêm, Phá: chân tay có tỳ vết.
- Kình, Cái, Không, Kiếp: phát ban, lên đậu.
- Hoả, Linh, Mộc: bỏng nước, bỏng lửa.
- Liêm hãm, Hình Ky: máu nóng sinh nhọt.
- Cự Môn hãm: môi thâm.
- Tham Xương: lang ben, da loang lổ.
8. NHỮNG BỆNH Ở MẮT
Nhật, Nguyệt chỉ cặp mắt. Nhật là mắt bên trái. Nguyệt là bên phải. Đi với sát, hình hai bại tinh, mắt bị bệnh từ nặng đến nhẹ .
Ngoài ra còn ghi nhận thêm vài bộ sao dưới đây chỉ đau mắt:
- Nhật, Kình, Kỵ ở Hợi, Tý: bị đau mắt có thể mù.
- Nguyệt, Riêu, Hình, Ky: cũng đồng nghĩa.
- Đà Riêu, Ky: mắt kém.
- Phá, Vũ: hay đau mắt.
9. NHỮNG BỆNH VỀ BỆNH THẦN KINH
Về mặt thần kinh. Thái Dương và Thái âm sáng sủa thường là chỉ dấu của bệnh thần kinh. biểu lộ dưới nhiều hình thái như mất ngủ, căng thẳng tinh thần, tăng huyết áp, lo âu quá đáng. Những bệnh về thần kinh nặng hơn là khùng và điên do những bộ sao dưới đây mô tả:
- Nhật, Cự: ngây ngô, hơi khùng, suy luận không bình thường. Nhật càng sáng, bệnh càng nặng.
- Nhật, Không, Kiếp.
- Phá, Hoả, Linh.
- Nhật và nhiều sao hỏa ở cung Hoả,
- Phá, Kình, Đà, Hình, Ky.
Ngoài ra Mệnh nào có Tang hổ, Khốc Hư, Cô Quả, Đẩu Quân thường u buồn, uỷ mị, dồn ép.
* Những bệnh ở chân tay, gân cốt
Về cơ thể chân tay do Thiên Mã chỉ danh. Về bệnh lý, hai sao Kình, Đà cũng có nghĩa bệnh tật liên quan đến tứ chi.
Sau đây là nhũng bộ sao đáng lưu ý:
- Mã, Đà: có tật ở chan tay
- Mã, Hình: có thương tích ở chân tay.
- Hình, Đà: chân tay bị yếu gân.
- Vũ Riêu: tê thấp hoặc phù chân tay
10. NHỮNG BỆNH LẠ
Theo dị đoán, có vài bệnh lạ mà sách Lý số học có liệt kê gồm có:
Cơ Hoả, Linh: bệnh ma là, qủy ám.
- Riêu, Hoả, Linh: bị ma quỉ phá phách, quấy nhiễu.
Ngoài ra. Thái Thừ Lang có ghi nhận vài bệnh lạ khác như ung thư (Sát Hao, Mộc, Kỵ), hủi (Bệnh Phù, Hình; Kỵ).
11. NHỮNG TẬT
Tật là những bất thường trong sự cấu tạo cơ thể hay những mất mát trong bộ phận cơ thể, có ảnh hưởng đến hình dáng của bộ phận, những cử động của bộ phận, những năng
khiếu của bộ phận.
Ví dụ như người gù, bướu (hình dáng cơ thể), người què, người nói lắp (cà lăm), người cận thị, viễn thị là có tật.
Những bộ sao tật ghi nhận được tương đối ít. không liệt kê được hết các tật.
- Vượng, Kình, Đà hay Hình: lưng có tật, có thể là lưng gù, nghiêng về phía phải hay trái.
- Mã, Đà hay Tuần, Triệt: có tật ở chân tay có thể là què chân dài chân ngắn, tay cán xẻng, tay lọi. chân hay to nhỏ không đều, có thể cụt một chân một tay, hoặc mất bàn chân, bàn tay.
- Việt Đại Tiểu hao: So vai, vai cao, vai thấp. Khôi. Việt gặp Hình cũng có nghĩa này.
- Tướng, Hình: có tật ở trên đầu, có thể là đầu méo, đầu to hay thật nhỏ, đầu hói hết tóc. . .
- Phục, Hình: nói ngọng.
- Tuế, Đà, Riêu, Cái: nói lắp (cà lăm).
- Vũ Riêu, Việt, Toái: câm.
- Sát Kình, Đà, Linh, Hỏa: tật gù lưng.
- Cự Hỏa hay Linh: miệng méo.
- Ky, Riêu: sứt môi.
- Phượng, Kiếp, Kình: điếc.
- Trì, Kình: mũi sống trâu, mũi lệch.
- Nhật, Nguyệt gặp Riêu, Đà hay Ky: mắt có tật, có thể là cận thị, viễn thị. loạn thị. Nếu gặp cả ba thì tật nặng có thể lòa, quáng gà.
- Vũ, Tướng: có ám tật, tật kín.
- Cự, Nhật: hình dáng dị kỳ.
- Tồn, Không, Kiếp: Có ám tật mới sống lâu.
Thông thường các sao Thiên Hình, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Kỵ, Thiên Riêu là những sao thường gây tật khi đi cùng với những bộ sao chỉ bộ phận cơ thể.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Thần sát phần nhiều lấy địa chi làm căn cứ, nên nó có thể làm tăng thêm lực hình, xung, hợp , hại. Thầy Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn sách “Chu dịch dự đoán học” và “Dự đoán theo Tứ trụ” đã thu hút những tinh hoa của các hiền nhân để đi đến những kiến giải độc đáo trong thực tiễn dự đoán. Vì vậy ở đây không bàn chi tiết nữa, mà giống như cuốn sách “Nhập môn chu dịch dự đoán học”, ở đây cũng chỉ đưa ra những phương pháp ghi nhớ các quy luật một cách nhanh nhất để giới thiệu cho mọi người.
1. CÁT THẦN VÀ HUNG SÁT
Cái gọi là cát thần thực ra không phải là nói trong Tứ trụ cát thần càng nhiều càng tốt, hay cái gọi là hung sát cũng không phải là nói trong Tứ trụ không có là tốt. Rất nhiều thần sát luôn luôn có cát, có hung. Từ kinh nghiệm đã tổng kết được ta thấy người có nhiều thần sát là mệnh cục tương đối phức tạp, nhưng nếu tổ hợp Tứ trụ tốt lại phối với thần sát thì người đó thường là những người siêu quần xuất chúng. Còn nói chung đối với người dân bình thường thì thần sát không nhiều, thần sát càng ít thì việc dự đoán càng đơn giản. Đương nhiên mọi việc không bao giờ là tuyệt đối, cũng như người hung sát nhiều chưa chắc đã gặp xấu, mấu chốt của vấn đề là phải xem các tổ hợp của Tứ trụ và tổ hợp của tuế vận là hỉ hay là kị.
Ngoài ra thần sát hoặc cát hoặc hung cũng không phải là tuyệt đối, mà chỉ có thể nói rằng một thần nào đo lấy cát làm chính, một sát nào đó lấy hung làm chính. Cát thần mà gặp phải hình xung khắc hại thì cũng như không có, hung sát mà bị chế hợp không đủ sức để làm hại thì cũng chẳng còn gì đáng gọi là kị. Nói chung các thiên can và các địa chi đóng địa chi đóng dưới nó gặp phải cát thần hay hung sát nhờ đó mà trở thành vượng hay suy. Phải xem các can chi đó bị hình hợp , xung khắc hay không để xem nó tác dụng hay không có tác dụng. Trong mệnh cục gặp được cát thần thì cả cuộc đời thuận lợi trọn vẹn, trong vận, trong năm gặp được cát thần thì đã tốt càng thêm tốt. Trong Tứ trụ kị gặp hung thần vì như thế cả cuộc đời hay bị tai hoạ, trong vận, trong năm gặp phải hung thần thì hung càng thêm hung.
Chương này chỉ giới thiệu những cát thần và hung sát có tác dụng nổi bật, còn những thần, sát khác ít có tác dụng hoặc ít gặp thì không bàn đến. Cách tra thần, sát rất nhiều. Độc giả tự tìm cách nhớ thuận tiện cho mình là được .
2. THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC
Lấy tháng sinh để tra các thiên can hoặc địa chi trong Tứ trụ .
1. Thiên đức quý nhân.
Tháng tí thấy tị, tháng sửu thấy canh, tháng dần thấy đinh, tháng mão thấy thân, tháng thìn thấy nhâm, tháng tị thấy tân, tháng ngọ thấy hợi, tháng mùi thấy giáp, tháng thân thấy quý, tháng dậu thấy dần, tháng tuất thấy bính, tháng hợi thấy ất.
Phàm người tháng sinh tra thấy các can chi trong Tứ trụ như ở trên là có thiên đức quý nhân.
Cách tra thiên đức quý nhân của người sinh vào tháng tí, ngọ, mão, dậu là từ ngôi trường sinh của ngũ hành mà ra. Ngoài ra còn có cách gọi tháng tí gặp quẻ tốn thìn là thủy đức, vì nguồn xuất thuỷ quy mộ về cung tốn ; tháng mão gặp quẻ khôn mùi là mộc đức, vì nguồn xuất mộc quy mộc về cung khôn ; tháng ngọ gặp quẻ càn tuất là hoả đực, vì nguồn xuất hỏa quy mộ về cung càn ; tháng dậu gặp quẻ cấn sửu là kim đức, vì nguồn xuất kim quy mộ về cung cấn, tức là lấy ngũ hành dương vượng, chính ngôi phối với mộ, tức là quẻ của bản cung mà ra. Thiên đức chỉ dùng địa chi , không dùng thiên can, cho nên lấy bốn quẻ trên. Trong kiểm thực tế lấy chính ngôi trường sinh để xác định tháng tí, ngọ, mão, dậu còn chia ra thành tị, hợi, thân, dần là khá chuẩn. Độc giả có thể căn cứ vào thiên, nguyệt đức của những người sinh vào bốn tháng trên, xem xét quá trình gặp hung hóa cát của họ để kiểm nghiệm.
2. Nguyệt đức quý nhân
Lấy chi tháng làm chủ để tra các thiên can trong Tứ trụ .
Sinh các tháng dần, ngọ, tuất thấy bính ;
Sinh các tháng thân , tí, thìn thấy nhâm ;
Sinh các tháng hợi, mão, mùi thấy giáp ;
Sinh các tháng tị, dậu, sửu thấy canh ;
Phương pháp nhớ cách tra nguyệt đức là căn cứ vào khí của tam hợp , ví dụ dần, ngọ, tuất thuộc hỏa thì lấy bính hỏa làm đức ; thân, tí, thìn thuộc thuỷ thì lấy nhâm thuỷ làm đức ; tí, dậu, sửu thuộc kim thì lấy canh kim làm đức ; hợi, mão, mùi thuộc mộc thì lấy giáp mộc làm đức để quy nạp. Phàm các tháng trong cục gặp can dương vượng khí đều là gặp nguyệt đức .
Hai quý nhân thiên đức và nguyệt đức đều chủ về người có cuộc đời không nguy hiểm. Thiên đức quý nhân là cát tinh phúc tường, tính tình nhân từ đôn hậu, cuộc đời phúc nhiều, ít nguy hiểm, gặp hung hóa thành cát, hóa hiểm thành an, như là có thần bảo hộ. Nguyệt đức quý nhân là cát tinh phúc thọ. Trong Tứ trụ có cả thiên, nguyệt đức là người có năng lực gặp hung hóa các rất mạnh, gặp được cát thần thì càng thêm tốt, gặp phải hung thần cũng bớt xấu rất nhiều, nhưng gặp phải xung khắc thì vô dụng.
3. THIÊN ẤT QUÝ NHÂN
Cách tra là lấy can ngày hoặc can năm làm chủ để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Can ngày, năm là giáp, mậu thấy sửu, mùi ;
Can ngày, năm là ất, kỷ thấy tí, thân ;
Can ngày, năm là canh , tân thấy dần , ngọ ;
Can ngày, năm là nhâm , quý thấy mão , tị ;
Người mà trong Tứ trụ tra được như trên là có thiên ất quý nhân. Cát tinh này chủ về thông minh, trí tuệ, là thần gặp hung hóa cát. Nếu hợp hóa thành dụng thần, hoặc hỉ thần là rất tốt, rất kị gặp hình, xung, khắc, hại, suy, bệnh, tử, tuyệt. Người mà thân vượng thì phúc đức càng tăng thêm, cuộc đời ít bệnh tật, người mà thân nhược thì bệnh nhiều hoặc giảm phúc quý.
Thiên ất quý nhân là ngôi sao ở phía trái sao tử vi trong thiên thể, là chủ tể của muôn thần. Trụ năm hoặc trụ tháng gặp được hai quý nhân là có ý phân âm dương để trị, hàm ý trong ngoài có khác nhau. Thìn, tuất là vị trí của sao khôi canh, cho nên quý nhân không đến.
4. LỘC THIÊN CAN
Lấy can ngày làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Phàm can ngày mà gặp lộc trên chi năm gọi là tuế lộc, trên chi tháng là kiến lộc, trên chi ngày là chuyên lộc, tọa lộc, trên chi giờ là quy lộc. Thần lộc vượng mà gặp địa chi kiếp tài, không gặp phải hình xung, khắc, phá là chủ về công danh thuận lợi. Thân vượng mà lộc nhiều nên bị khắc cho xì hơi, thân nhược mà lộc vượng lại không bị phá đều là quý mệnh. Lộc kị bị xung phá , ví dụ giáp lộc là dần, gặp thân là bị phá , mão lộc kị gặp dậu, tị lộc kị gặp hợi, ngọ lộc kị gặp tí. Vì quan viên gặp phải thì mất quan mất chức, nghèo khổ hư danh, người thường gặp phải thì phải cơm áo không no, bôn ba vất vả.
Ngày giáp lộc ở dần ; ngày ất lộc ở mão.
Ngày bính, mậu lộc ở tị ; ngày đinh, kỷ lộc ở mão.
Ngày canh lộc ở thân ; ngày tân lộc ở dậu .
Ngày nhâm lộc ở hợi ; ngày quý lộc ở tý.
Lộc nhờ có thế lực mà được hưởng thì được gọi là lộc, là cát thần. Lộc là khí của bốn mùa, tuỳ theo ngũ hành vượng, trong đó bính lộc ở tị, đinh lộc ở ngọ, mậu lộc ở tị, kỉ gửi ở ngọ, hỏa sinh thổ là tí nhờ mẹ mà được hưởng lộc, thìn, tuất là khôi canh là chỗ ác địa, kém cỏi cho nên lộc thần không gửi. Sửu mùi là cửa xuất nhập của thiên ất quý nhân cho nên lộc lánh xa, do đó không có lộc. Cách nhớ thập can lộc chỉ cần nhớ can ngày, bản khí của nó là địa chi là được . Ví dụ dần mộc tàng can của bản khí là giáp mộc.
5. VĂN XƯƠNG
Cách tra là lấy can ngày, can năm làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Can ngày, năm giáp thấy tị ;
Can ngày, năm ất thấy ngọ ;
Can ngày, năm bính, mậu thấy thân ;
Can ngày, năm đinh, tị thấy dậu ;
Can ngày, năm canh thấy hợi ;
Can ngày, năm tân thấy tí ;
Can ngày, năm nhâm thấy dần ;
Can ngày, năm hợi thấy mão ;
Những người trong Tứ trụ tra thấy như trên gọi là có sao văn xương.
Sao văn xương nhập mệnh thì thông minh hơn người . Trong Tứ trụ kiêm có học đường thì chủ về học tập ưu tú, khí chất nho nhã, và còn có tác dụng gặp xung hoá cát.
Sao văn xương là thực thần lâm quan, là chỗ trường sinh. Ví dụ giáp lấy bính làm thực thần, bính lâm quan ở tị cho nên giáp lấy tị làm văn xương. Căn cứ nguồn gốc của sao văn xương ta có thể tìm ra cách nhớ.
Bằng cách sử dụng các kinh nghiệm của Nhân tướng học, xem tướng đàn ông có thể biết được họ thành đạt trong sự nghiệp hay không, có hạnh phúc trong tình yêu và hôn nhân hay không. Có những người đàn ông thành công trên cả sự nghiệp lẫn tình cảm. Vậy đâu là mấu chốt để nhận biết?
Rất nhiều người đều mong muốn có được sự thành công trọn vẹn trong cả sự nghiệp và tình yêu, nhưng kết quả thường không như mong đợi, nếu như không phải là sự nghiệp không thăng tiến thì là tình yêu không được như ý, hai phương diện này không thể được song toàn. Trong thực tế cuộc sống, rất nhiều người lao tâm khổ tứ vì vấn đề này, thậm chí không được người thân và bạn bè thấu hiểu. Nhưng cũng có một số người vẫn có thể bình tĩnh để đối mặt, kết quả là không chỉ sự nghiệp lên như điều gặp gió mà đường tình duyên cũng rất thuận lợi. Đến đây có lẽ có nhiều người thắc mắc tại sao vẫn có những người luôn lạc quan ngay cả lúc khó khăn? Thực ra rất đơn giản, chúng ta có thể tìm thấy lời giải đáp trong bộ môn Nhân tướng học.
Người có mắt một mí là người bình tính đối mặt với mọi chuyện, tình cảm ít dao động, thường suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi làm. Do đó, họ không bao giờ hành động một cách mù quáng mà phải nghĩ ra kế sách vẹn toàn mới hành động. Chính những người này tránh được rất nhiều chuyện phiền toái trong cuộc sống.
Xem tướng người có mắt nhỏ thường bảo thủ nhưng có con mắt rất tinh tường, luôn mong sự việc có kết cục hoàn hảo. Do vậy, trong sự nghiệp cũng như tình yêu, họ thường có thể suy nghĩ và cân nhắc chín chắn, suy xét đến nhiều khía cạnh nên ít phải trắc trở, khó khăn.
Với người có mắt hai mí và mắt to là người nhiệt tình trong cả sự nghiệp và tình cảm, nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài, thường trọng tình cảm nên dễ được mọi người yêu mến, kính trọng, nhiều khi thương nhớ.
Con mắt đã đủ để nhận biết hết chưa? Còn một vị trí nữa cũng cần phải xem qua. Đó là vị trí Thừa tương, kết hợp vị trí này có thể xem tướng đàn ông vừa giàu có, vừa hạnh phúc mới được chuẩn xác.
Thừa tương là vị trí lõm xuống ở bên dưới môi. Ở phần giữa của môi dưới và cằm. Phần lõm ngay dưới môi dưới.
Thông thường, người có thừa tương rõ nét là người rất chuyên tâm cho sự nghiệp, giỏi giao tiếp nên quan hệ xã hội tương đối tốt. Ngoài ra, những người này biết cách hưởng thụ cuộc sống, coi trọng phẩm chất của cuộc sống. Họ biết cách cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình, vừa chuyên tâm lo toan sự nghiệp, vừa chăm sóc gia đình, nên sự nghiệp và gia đình của họ đều song toàn.
Ngược lại, người có Thừa tương không rõ nét là người không giỏi giao tiếp nên quan hệ xã hội tương đối căng thẳng. Ngoài ra, những người này thường chỉ có thể chuyên chú vào một việc chứ không có khả năng xử lý đồng thời nhiều vấn đề một lúc.

Giữ chữ tín là một điều kiện quan trọng không thể thiếu được trong quan hệ xã giao trong xã hội hiện đại ngày nay. Không đưa ra lời hứa thì không được, nhưng hứa rồi lại không thực hiện lại càng không thể chấp nhận được. Một người không giữ chữ tín thì rất nhiều sự việc trong cuộc sống và sự nghiệp sẽ không thể được thực hiện và tiến triển thuận lợi được. Trong thực tế cuộc sống, rất nhiều người chỉ biết nói mà không biết làm, gọi là “nói thì hay, làm thì dở”. Ngày nay luôn cần những người không những biết nói hay mà còn phải làm giỏi.
Một người giữ chữ tín, có thể gánh vác trách nhiệm một cách nghiêm túc thì trước khi hứa điều gì cũng đều có sự suy nghĩ kỹ càng. Ví dụ như phải đánh giá kỹ năng lực của bản thân rồi mà lượng sức mà làm. Từ đó có thể thấy được rằng không dễ dàng đưa ra lời hứa chính là biểu hiện của việc giữ lời hứa. Các nhà Nhân tướng học cho rằng, thông qua tướng mặt có thể nhận biết được một người có phải là người biết giữ lời hứa hay không.
Phần này áp dụng cho cả tướng đàn ông và tướng phụ nữ
Người có mắt nhỏ là người bảo thủ nhưng lại thông minh, có năng lực, và khả năng phán đoán sự việc, nhận định vấn đề rất chính xác nên không xảy ra những sự việc ngoài tầm kiểm soát. Những người này rất giữ chữ tín, những việc đã nhận lời vì người khác đều cố gắng hết sức hoàn thành.
Người có tướng mũi cao là người có lòng tự trọng cao. Để người khác không coi thường mình, họ luôn cố gắng hoàn thành những việc đã hứa.
Người có tướng miệng rộng là người rất tự tín, giỏi giao tiếp. Do vậy, họ được mọi người xung quanh quý mến. Những người này cũng rất giữ chữ tín, không tùy tiện hứa điều gì, nhưng một khi đã hứa thì luôn giữ lời.
Mũi tượng trưng cho lòng tự trọng. Mũi cao thể hiện người này rất có lòng tự trọng, luôn hoàn thành mọi việc người khác uỷ thác, không muốn người khác coi thường mình, là người rất đáng tin cậy.
Trán và tai cũng là bộ phận quan trọng quyết định xem một người có chữ tín hay không.
Thông thường, người có trán cao, rộng là người luôn suy nghĩ chín chắn kỹ càng, làm việc tuân theo quy tắc, làm việc có trật tự, và rất có lòng tự trọng. Khi làm bất kỳ việc gì, họ cũng đều muốn thực hiện một cách tốt nhất. thậm chí có khuynh hướng theo chủ nghĩa hoàn hảo.
Xem tướng mặt mà tai cao là người được giáo dục tốt, giỏi giang toàn diện có khả năng tổng hợp tương đối cao. Đồng thời, những người này cùng có hoàn cảnh gia đình tốt. Do vậy, họ thường được người thân giúp đỡ và ủng hộ, làm việc gì cũng toàn tâm, toàn ý, làm hết khả năng của mình. Cho nên họ là những người rất giữ chữ tín. Họ đã hứa với người khác việc gì thì dù khó khăn thế nào cũng vẫn hoàn thành.
Ngược lại, người có trán hẹp, tai thấp là người không có khả năng phân tích sự việc, làm việc nóng vội, lỗ mang, thường thường không thực hiện được những việc đã hứa. Nên những người này phần lớn không biết giữ chữ tín.
Xem tướng biết người. Ông chủ nào cũng muốn có được những nhân viên biết làm việc chắc chắn, chăm chỉ và luôn một lòng làm tốt chức trách của mình. Tương tự như vậy, ai trong chúng ta cũng muốn có người bạn thẳng thắn, chân thành, chịu khó, thực thà. Trong xã hội hiện đại, chỉ có những người nhu vậy mới có thể thành công trong thương trường cạnh tranh khốc liệt. Còn những người lười nhác, không chịu lao động, nằm chờ sung rụng, luôn mơ hão rằng không làm vấn có ăn là những kẻ chỉ biết nằm mơ giữa ban ngày, giấc mộng đẹp rồi sẽ đến lúc bị phá vỡ bởi hiện thực tàn khốc.
Dưới đây, là những căn cứ của Nhân tướng học để chỉ ra những tính cách và phẩm hạnh của con ngưòi ẩn dưới những đặc trưng của tướng mặt.
Ở phần trên, chứng ta đã bàn về những nội dung có liên quan đến các bộ phận như tai, sống mũi, trán. Dưới đây sẽ tiếp tục bàn các bộ phận này từ một góc độ khác.
Thông thường, người có tai, sống mũi, trán thấp là người làm việc theo nguyên tắc, không có chủ trương riêng. Những người này có ý thức kỷ luật và tinh thần tập thể rất cao, luôn coi trọng tập thể và đại cục, luôn chăm chỉ làm tốt nhiệm vụ được giao.
Người có lông mày thô, ngắn đôi khi làm việc lỗ mãng nhưng rất giữ chữ tín, những việc đã hứa với người khác thì sẽ cố gắng hoàn thành, dù có vất vả, khó khăn nào cũng không than thở. Ngoài ra, những người này rất thực thà, chân thành, toàn tâm toàn ý với công việc, không bao giờ có âm mưu ám hại người khác, là người đáng tin cậy.
(theo Tử vi số mệnh)
Thông thường vào mùa đông, nếu không biết cách sắp xếp hợp lý hay che chắn cẩn thận, luồng không khí lạnh ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của thành viên trong gia đình, nhất là với người già và trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai.
Ngoài ra, không khí lạnh buốt của mùa đông khiến sự trao đổi các luồng khí trong ngôi nhà bị ảnh hưởng. Không còn tia nắng ấm, các phòng ngủ, phòng tắm, nhà bếp… luôn trong tình trạng có mùi khó chịu, là điều kiện lý tưởng để vi khuẩn dễ dàng xâm nhập và gây bệnh nhất là cơ quan hô hấp, da dẻ bị khô, nứt nẻ…



Jung là một học giả, đồng thời cũng là một thầy thuốc. Khi quan điểm phiếm tính luận của Freud bị phê phán gay gắt, Jung đưa ra phương pháp phóng đại – một loại phương pháp giải thích các giấc mơ mới. Phương pháp phóng đại nguyên hình giấc mơ của Jung là một loại phương pháp tổng hợp có trình độ cao.

Jung có một người bệnh, ông ta ghi lại tất cả hơn 400 giấc mơ có liên hệ với nhau.
Người nằm mơ là một người theo đạo Ki-tô, không phải là giáo sĩ. Do những giấc mơ, ông không hứng thú mấy với tôn giáo. Người này kể: “Tôi mơ thấy có nhiều phòng, bên ngoài như sân khấu kịch, lại giống như bối cảnh của vũ đài. Có người nói lần sau sẽ biểu diễn hí kịch. Có một gian phòng, trên tường treo một tấm biểu ngữ khiến người ta phải chú ý. Tấm biểu ngữ viết:
Đây là giáo đường Ki-tô thế giới,
Là giáo điíờng của Thượng đế
Tất cả những ai tự giác bản thân,
Những người là công cụ của Thiủỵng đế đều có thể tiến đến.
Bên dưới có khắc dòng chữ nhỏ:
Giáo đường này do Ki-tô và Phao-lô xây dựng.
Tôi nói với bạn tôi:
– Chúng ta hãy đến xem.
Bạn tôi trả lời:
– Tôi xem không ra, tại sao lại có nhiều người tụ tập ở đây? Để có cảm tình với tôn giáo chăng?
Nhưng tôi nói:
– Đây là một giáo đồ mới. Anh không có cách nào để hiểu được điều này.
Một người đàn bà đứng bên cạnh gật đầu tán thành.
Lúc này tôi mới phát hiện trên tường có khắc một đoạn văn, nội dung như sau:
Các binh sĩ!
Khi các anh cảm thấy mình ở dưới quyền uy của Tlnỉợng Đế, không cần trực tiếp nói chuyện với Thượng Đế, bởi vì Thượng Đế không nghe thấy gì cả.
Chúng tôi nghiêm chỉnh yêu cầu anh không cần mê muội
bằn luận về ân huệ giữa Thượng Đế với anh.
Như thế chỉ mất công vô ích.
Bất cứ sự việc gì có giá trị, khó có thể nói suông.
Điều trị bệnh tinh thần bắt nguồn từ quan điểm tự nhiên, tôn giáo và võ thuật cổ đại. Tôn giáo và võ thuật cho rằng bệnh tật là tà linh, là biểu hiện sự đau khổ.
Lý luận chủ yếu của quan điểm tự nhiên là để bác sĩ, thầy thuốc, hộ lý quan tâm đến người bệnh, giúp đỡ người bệnh khôi phục lý trí, tăng cường lòng tin chông lại bệnh tật.
Người ốm thường có tâm lý muốn trốn tránh bệnh tật của mình hoặc không muôn thừa nhận tình hình nghiêm trọng của bệnh tật. Cuối thế kỷ XVIII, một bác sĩ y khoa nổi tiếng cho rằng con người nếu ở trạng thái ngủ say sẽ làm cho nhiều căn bệnh tiêu tan và đã sáng tạo ra cách điều trị bằng thuật thôi miên.
Vào thế kỷ XIX, Freud đã sáng lập học thuyết phân tích tinh thần, được ứng dụng rộng rãi. Từ thập kỷ 50 của thế kỷ XX đến nay đã vận dụng phương pháp điều trị theo dõi hành vi phản xạ có điều kiện và phương pháp điều trị theo yêu cầu giúp đỡ về mặt tâm lý đối với người bệnh.
Theo con sô” thống kê chưa đầy đủ, có đến hơn 300 phương pháp điều trị tâm lý, trong đó có 10 loại được dùng nhiều nhất. Ai cũng có thể nắm vững phương pháp và quy luật để chữa bệnh khiến tâm lý ổn định và lành mạnh. Chúng tôi xin trình bày một số phương pháp chữa bệnh tâm lý sau:
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thùy Dung (##)
Ở bài này tôi sử dụng một số qui luật trong Chu Dịch để phát hiện sự tồn tại của 3 giác quan mà khoa học ngày nay vẫn chưa rõ.
Năng lực Ngoại Cảm chỉ những trường hợp xảy ra ở những cá nhân có khả năng cảm nhận sự việc, hiện tượng không bằng năng lực của 5 giác quan thông thường. Liệu ngoài các chức năng mà chúng ta đã biết rõ về 5 giác quan còn có chức năng nào khác chưa biết ? Hoặc có tồn tại giác quan khác ? Hiện nay, các ý kiến nghiêng về hướng thứ hai. Giác quan chưa biết ấy được gọi chung là giác quan thứ sáu. Được gọi chung là bởi cho đến nay vẫn chưa xác định được bao nhiêu giác quan chúng ta chưa biết đến…..Chúng là những giác quan nào ? Bao nhiêu giác quan ? Chúng mang những chức năng gì ? Cơ chế hoạt động ra sao ? Cơ quan của các giác quan này nằm ở đâu ?
Chu Dịch bằng lối đi riêng đã phát hiện cơ thể con người có 8 giác quan. Tôi trình bày như sau:
Chu Dịch có 8 quẻ ghi nhận 8 hình thái vận động thuần nhất: Thuần Chấn, Thuần Tốn, Thuần Ly, Thuần Khôn, Thuần Đoài, Thuần Càn, Thuần Khảm, Thuần Cấn.
Mỗi hình thái thuần nhất mang cấu trúc đặc biệt: Là 2 đồ hình cơ bản giống nhau và chồng lên nhau.
_ _ ___ ___ _ _ _ _ ___ _ _ ___
_ _ ___ _ _ _ _ ___ ___ ___ _ _
___ _ _ ___ _ _ ___ ___ _ _ _ _
_ _ ___ ___ _ _ _ _ ___ _ _ ___
_ _ ___ _ _ _ _ ___ ___ ___ _ _
___ _ _ ___ _ _ ___ ___ _ _ _ _
8 hình thái này là 8 hình thái thuần nhất của Chu Dịch.
Ta xét hình thái thuần nhất trong phạm trù giác quan. Có 8 hình thái thuần nhất thuần nhất tương ứng có 8 giác quan. Chu Dịch mô tả 5 giác quan đã biết & 3 giác quan chưa biết như sau :
5 giác quan đã biết :
1. Thuần Ly: Quẻ mô tả vật chất sáng. Để cảm nhận vật chất sáng có cơ quan thụ cảm vật chất sáng, Thị giác.
2. Thuần Chấn: Quẻ mô tả vật chất lan toả. Để cảm nhận vật chất lan toả có cơ quan thụ cảm vật chất lan toả, Khứu giác.
3. Thuần Tốn: Quẻ mô tả vật chất chuyển động. Để cảm nhận vật chất chuyển động có cơ quan thụ cảm vật chất chuyển động, Xúc giác.
4. Thuần Cấn: Quẻ mô tả vật chất ngưng tụ. Để cảm nhận vật chất ngưng tụ có cơ quan thụ cảm vật chất ngưng tụ, Vị giác.
5. Thuần Đoài: Quẻ mô tả vật chất gây tiếng động. Để cảm nhận vật chất gây tiếng động có cơ quan thụ cảm vật chất gây tiếng động, Thính giác
3 giác quan chưa biết :
6. Thuần Càn: Quẻ mô tả vật chất khởi sinh. Để cảm nhận vật chất khởi sinh có cơ quan thụ cảm sự khởi sinh. Tôi gọi tên Khởi giác.
7. Thuần Khôn: Quẻ mô tả vật chất sao chép. Để cảm nhận vật chất sao chép có cơ quan thụ cảm vật chất sao chép. Tôi gọi tên Tái tạo giác.
8. Thuần Khảm: Quẻ mô tả vật chất tối. Để cảm nhận vật chất tối có cơ quan thụ cảm vật chất tối. Tôi gọi tên Liễm giác
Tôi đã xác định tính thụ cảm Ý thức – Vô thức của ba giác quan 6,7,8 như thế nào ?
Xem xét qui luật vận động thụ cảm trong cặp phạm trù thụ cảm Ý thức – Vô thức:
* Thuần Ly, Thuần Tốn, Thuần Đoài, Thuần Cấn, Thuần Chấn các hào từ mô tả hình thái vận động có điểm chung là: Vận động thụ cảm bên ngoài, vận động bề nổi _ Vậy ta có phạm trù tương ứng là thụ cảm Ý thức. Suy ra, các giác quan là hoạt động thụ cảm Ý thức.
* Thuần Khôn vận động thụ cảm sao chép kín đáo ngay ở hào 1 cho đến hào 5. Chỉ xuất hiện ở hào 6 & 7 dưới hình thức sử dụng. Vậy ta có phạm trù tương ứng là thụ cảm Vô thức. Suy ra, giác quan Tái tạo giác hoạt động thụ cảm Vô thức.
* Thuần Khảm vận động thụ cảm “Bị nhốt” từ hào 1 đến hào 6. Vậy ta có phạm trù tương ứng là thụ cảm Vô thức. Suy ra, giác quan Liễm giác hoạt động thụ cảm Vô thức.
* Thuần Càn vận động thụ cảm khởi động đi đầu từ hào 2 đến hào 7, chỉ có hào 1 là chìm bât bất động (Ở ẩn) Vậy ta có phạm trù tương ứng là thụ cảm Ý thức. Suy ra, giác quan Khởi giác hoạt động thụ cảm Ý thức.
Và xác định chức năng của 3 giác quan 6,7,8
Tôi xem xét chức năng các giác quan qua Thoán từ, Hào từ & mối liên hệ giữa các hình thái:
* Thuần Khôn là hình thái Sao chép. Nó vận động theo qui luật Sao chép các sự vật & hiện tượng. Tái tạo giác hoạt động theo qui luật vận động của hình thái Thuần Khôn, tức là, Tái tạo giác hoạt động thụ cảm sao chép các sự vật & hiện tượng.
* Thuần Càn là hình thái Đầu tiên. Nó vận động theo qui luật Đầu tiên của các sự vật & hiện tượng như sau:
Hào 1 : vận động tích luỹ.
Hào 2,3 & 4 : vận động tiếp thu.
Hào 5,6 : vận động phóng xuất.
Hào 7 : vận động thoát dương.
Khởi giác hoạt động thụ cảm theo qui luật vận động của hình thái Thuần Càn, tức là, Khởi giác hoạt động thụ cảm tiếp nhận & phóng xuất “Cái” đầu tiên của sự vật & hiện tượng. “Cái” đầu tiên ấy trong hoạt động trí não khi giao tiếp chính là suy nghĩ. Vậy: Khởi giác hoạt động thụ cảm tiếp nhận & phóng xuất suy nghĩ.
Vận động tích luỹ nằm trong hoạt động thụ cảm phóng xuất.
Còn Thoát dương ?
Hào thứ 7 được biểu thị: toàn bộ 6 hào dương biến sang 6 hào âm, nên tôi gọi đây là sự vận động thoát dương. Tức là sự vận động thoát dương của suy nghĩ. Thoát dương như thế nào?
Ta xem lời hào 7: “Đang ở một không gian khác. Trong không gian ấy, họ nhìn thấy ta, nhưng ta thì không nhìn thấy họ”
Vậy ta có: Khi hoạt động của giác quan này đạt đến độ thoát dương sẽ “Nhìn” thấy sự vật & hiện tượng ở một không gian khác.
* Thuần Khảm là hình thái “Nhốt” . Nó vận động theo qui luật “Nhốt” sự vật & hiện tượng. Để biết giác quan này nhốt cái gì ta xem xét mối liên hệ giữa 2 hình thái: Thuần Khảm & Thuần Ly.
Thuần Khảm là hình thái ngược của hình thái Thuần Ly. Thuần Ly mô tả sự vật & hiện tượng sáng, ngược lại, Thuần Khảm mô tả sự vật & hiện tượng tối.
Ta xem xét sự vật & hiện tượng trong cặp phạm trù: Năng lượng sáng & Năng lượng tối.
Thị giác (Thuần Ly) tiếp nhận & phản chiếu ánh sáng từ vật thể phát hoặc phản chiếu năng lượng sáng. Ngược lại, Liễm giác tiếp nhận rồi nhốt luôn năng lượng tối.
Vậy ta có: Liễm giác hoạt động thụ cảm bằng việc hấp thu năng lượng tối.
![]() |
| Nam nữ vô tình chạm vào da thịt của nhau được coi là hành động không đứng đắn |
![]() |
| Đàn ông nằm nhà ngoài, đàn bà chỉ được nằm nhà trong |
| ► Mời các bạn Bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người |
Bạn muốn biết mình có được hưởng gia sản thừa kế hay không ? 1 số dấu hiệu xuất hiện trên bàn tay sẽ giúp bạn đoán định rõ hơn về điều này.
1/. Có 1 đường thẳng đi từ trong gò Kim Tinh lên gặp ngôi sao ở gò Mộc Tinh (mô thịt nằm dưới chân ngón trỏ): được thừa hưởng gia tài lớn.
1bis/. Đường thẳng từ gò Thái Âm lên gặp ngôi sao ở gò Mộc tinh : Dấu hiệu được thừa hưởng gia tài lớn do kết hôn với nơi quyền quý, cao sang.
2/. Hình thửa ruộng (chữ điền) ở gò mộc tinh: có được của cải, nhà cửa, ruộng đất.
3/. Dấu “con sông” ở gò Thái Dương (mô thịt nằm dưới chân ngón đeo nhẫn) : có cuộc sống sung sướng và hưởng một gia tài lớn.
4/. Dấu “6 ngôi sao” xuất hiện trên bàn tay: được thừa hưởng một gia tài lớn từ cha mẹ.
5/. Bốn đường tương đối hẹp ở ngấn chân ngón cái: được thừa hưởng gia tài lớn.
6/. Hình cái xẻng trên gò Kim Tinh: có cuộc sống gia đình hạnh phúc và sung túc.
7/. Ngôi sao ở góc do đường Sinh Đạo và đường Trí Đạo hợp thành: được thừa kế tài sản lớn từ 1 người phụ nữ.
8/. Nếu có hình ngôi sao xuất hiện ở vòng cổ tay thì chủ nhân bất ngờ được hưởng gia tài hoặc trúng số độc đắc. Nếu có 3 ngôi sao cùng xuất hiện thì càng được nhiều của cải gấp bội.

9/. Chữ thập trong chữ V ở vòng cổ tay: có của cải do người khác để lại, tuổi già được hưởng phúc lộc.
10/. Hai đường Trí Đạo chạy song song: gặp nhiều may mắn, được hưởng gia tài vào khoảng giữa cuộc đời.
11/. Nhiều đường chỉ song song ở dưới gò Kim Tinh, gần bìa bàn tay: được kế thừa và hưởng gia tài vào lúc tuổi già.
12. Nhiều đường chỉ nhỏ chạy theo chiều ngang đốt cuối cùng của ngón trỏ: là dấu hiệu được hưởng gia tài.
13/. Ngôi sao ở cuối đường Tâm Đạo: được hưởng gia tài bất ngờ do nhân tình để lại, tuy nhiên lại bị tiêu tan vào tay 1 nhân tình khác.
14/. Hình tam giác ở gò thái âm: được hưởng gia tài lớn.
15/. Ngôi sao nằm giữa lòng bàn tay: được thừa kế gia sản lớn. (theo Tiếng nói của bàn tay)

Theo ‘ngôn ngữ của bàn tay’, đường chỉ tay không chỉ bật mí về sự nghiệp, tình yêu và hôn nhân mà còn tiết lộ tình trạng sức khỏe của chủ nhân.
Nhìn vào hình để so sánh và khám phá sức khỏe của bạn.
1/ Đường Tâm Đạo hình bậc thang : Trên đường Tâm Đạo, phía dưới ngón áp út có hình bậc thang đại diện cho sự mất cân bằng chất canxi trong cơ thể, có ảnh hưởng đến thói quen ngủ, nghỉ bình thường.
2/. Dấu hiệu liên quan đến răng : Nếu phía trên đường Tâm Đạo, ở giữa ngón út và ngón áp út xuất hiện một số đường vân nhỏ sẽ liên quan đến bệnh ở răng.
3/. Hình hoa thị trên đường chỉ tay : Hình hoa thị xuất hiện trên đường chỉ tay thể hiện ảnh hưởng về mặt tâm sinh lý. Nếu xuất hiện trên đường Tâm Đạo có khả năng bị bệnh về tim. Nếu xuất hiện trên đường Trí Đạo thì có khả năng phần đầu bị thương. Nếu có trên đường Sinh Đạo thì thể hiện cho vết thương hoặc vết mổ.
4/. Đường vân nhỏ liên quan tới dạ dày : Một đoạn đường vân nhỏ chạy chéo trong lòng bàn tay thì có khả năng chủ nhân gặp vấn đề về dạ dày hoặc tiêu hóa.
5/. Hình lưới : Phía rìa ngoài bàn tay có một mảng hình lưới biểu thị trong cơ thể có tích nước tiểu axit, dễ phát sinh bệnh tật.
6/. Vết răng cưa trên đường Trí Đạo : Nếu trên đường Trí Đạo có các vết như lỗ chân chim to nhỏ thì có khả năng mắc bệnh đau đầu.
7/. Đường Trí Đạo quá dài : Đường Trí Đạo kéo dài đến mép ngoài của bàn tay thông thường là người hoạt bát quá mức, đặc biệt là trẻ con.
8/. Đường liên quan tới bệnh dị ứng : Đường này dài xuyên qua gò Thái Âm thì dễ mắc các bệnh dị ứng.

9/. Hình oval trên đường Tâm Đạo : Đường Tâm Đạo phía dưới ngón giữa xuất hiện hình oval thì thính giác có khiếm khuyết. Nếu hình này ở phía dưới ngón áp út thì có vấn đề về mắt.
10/. Đường phân nhánh hướng xuống dưới : Khi mắc các bệnh u uất về tinh thần thì trên đường Trí Đạo thường xuất hiện đường phân nhánh hướng xuống dưới. Sau khi hồi phục thì đường đó sẽ lại hướng lên trên, trở về hướng ban đầu.
11/. Đường Tâm Đạo có đoạn mờ : Nếu trên đường Tâm Đạo có đoạn chỉ tay mờ thì biểu thị có một khoảng thời gian tâm lý rơi vào tình trạng căng thẳng.
12/. Hình oval trên đường Trí Đạo : Hình oval xuất hiện trên đường Trí Đạo biểu thị cơ thể suy yếu, xuất hiện trên đoạn khởi đầu đường Trí Đạo tức là có bệnh về hô hấp. Nếu hình oval xuất hiện càng gần phía hướng về cổ tay thì người đó thể chất suy nhược.
13/. Đường liên quan tới vết thương : Đường vân ngang cắt qua Trí Đạo biểu thị sự thay đổi lớn về tâm trạng.

Đường này càng dài càng chứng tỏ ảnh hưởng của sự kiện đó rất lớn.
14/. Chai sần : Chai là chỗ da cứng lồi lên, thường do ma sát nhiều tạo thành, nhưng đôi khi nó cũng là dấu hiệu báo bệnh tật của một cơ quan nào đó. Vết chai nằm giữa lòng bàn tay (như trong hình) có khả năng bị bệnh thận.
15/. Vân hình thoi : Khoảng 1/3 phía dưới lòng bàn tay có xuất hiện vết nhăn lớn hình thoi ép sát đường Sinh Đạo thì có thể có vấn đề về phụ khoa đối với nữ giới, bệnh tiết niệu đối với nam giới.
16/. Đường vân sát cổ tay vòng lên : Nếu trên cổ tay phụ nữ có một đường cổ tay vòng lên cao hướng về lòng bàn tay chứng tỏ khá yếu về phụ khoa, gặp khó khăn khi sinh nở.
Với người dân phương Đông, tháng 7 âm lịch hàng năm được gọi là tháng cô hồn hay tháng ma quỷ, tháng của những điều không may mắn, không tiến hành những việc lớn. Vậy vận mệnh của người sinh tháng 7 âm lịch sẽ như thế nào?
![]() |
![]() |
đuổi hung vận. Cuộc sống chính là sự đan xen của hạnh phúc và khổ đau, của vui vẻ và khó khăn, nhưng bất cứ ai cũng đều có nguyện vọng gặp được nhiều điều tốt lành và hạn chế tối đa những điều không tốt. Bản mệnh Phật là biểu tượng của Phật giáo đồng thời cũng là vật phẩm phong thủy cát tường, có tác dụng hóa sát giảm hung, tăng cường vận trình. Bản mệnh Phật là thủ hộ thần của 12 con giáp, mỗi người căn cứ vào con giáp của mình để chọn bản mệnh Phật chuẩn xác. Vị Phật nào độ mệnh cho người tuổi Dần?
![]() |
![]() |
Những người có tên như Bill, Bob, Peter… thường có mức lương cao hơn khoảng 10% so với đồng nghiệp mang tên nhiều chữ cái.
Trang web tìm việc làm trực tuyến TheLadders cho hay nếu muốn làm việc tại các vị trí cao với mức lương hậu hĩnh, người ta nên đặt tên mình ngắn lại, ví dụ Bill, Bob, Marc hay Cindy. “Thêm mỗi chữ cái vào tên sẽ làm giảm lương hàng năm khoảng 3.600 USD”, BI trích dẫn.
Amanda Augustine, nhân viên tại TheLadders nói: “Khi tên ngắn đồng nghĩa với lương cao, ai là Christophes muốn nâng thu nhập của mình thì nên đổi thành Chris. Cách này cũng dùng được với người đổi từ tên Michelle sang Michele”.

Hãng này đã tiến hành khảo sát với 24 cặp tên như Steve – Stephen, Bill – William, Sara – Sarah… và có tới 23 trường hợp tên ngắn đang được trả số tiền cao hơn. Nghiên cứu dựa trên xu hướng giống nhau từ dữ liệu của 6 triệu người tại Mỹ, 3,4% là CEO hoặc các công việc cao cấp khác.
Kết quả cho thấy, 8 trên 10 tên của nam giới trong số 3,4% trên có tối đa 5 chữ cái, và nhóm này sở hữu mức lương cao hơn khoảng 10% so với người tên dài, dù cùng công việc. Những tên phổ biến nhất là Bob, Bill, Lawrence (đây cũng là trường hợp cá biệt trong thử nghiệp 24 cặp tên, khi so với Larry).
John L. Cotton, giáo sư quản trị tại Đại học Marquette nói: “Với CEO, sở hữu nickname sẽ giúp bạn dễ gần và ‘con người’ hơn. Vị trí của họ có thể được quá chú ý, công việc tạo cảm giác ngại tiếp xúc cho người khác, nên dùng nickname sẽ giảm được tâm lý này”.
Năm 2011, một báo cáo của LinkedIn cho thấy CEO người Mỹ thường có tên ngắn, hoặc dùng nickname như Peter, Jack, Tony… Ở nơi khác, những cái tên dài lại thường nắm giữ các vị trí quyền lực và lương cao: châu Âu có Wolfgang, Xavier, Charles, Brazil hay Ấn Độ thì Roberto, Rajiv…

Thả một lời nói không tốt, không cẩn trọng: trong phút chốc bay đi. Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn xoay tròn, lan toả… Và không có cách nào lấy lại một khi bạn đã nói ra.
Thả một hòn sỏi vào trong nước: một tiếng bắn toé lên, rồi chìm nghỉm.
Nhưng để lại vô số gợn sóng lăn tăn xoay tròn.
Lan toả từ trọng tâm, tràn ra biển cả.
Thả một hòn sỏi vào trong nước: trong phút chốc bạn lãng quên.
Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn, hoà vào con sóng lớn.
Bạn đã xáo động một đại dương hùng vĩ chỉ bằng một hòn sỏi mà thôi
***
Thả một lời nói không tốt, không cẩn trọng: trong phút chốc bay đi.
Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn xoay tròn, lan toả…
Và không có cách nào lấy lại một khi bạn đã nói ra.
***
Thả một lời nói không tốt: trong phút chốc bạn lãng quên.
Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn mãi…
Có thể bạn đã làm ứa một dòng nước mắt trên con tim buồn.
Bạn đã xáo động một cuộc đời hạnh phúc chỉ vì những lời nói kia.
Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: chỉ trong giây lát chúng bay đi.
Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn, xoay tròn mãi.
Mang hy vọng, niềm vui, an ủi trong mỗi con sóng xô bờ.
Bạn sẽ không ngờ được sức mạnh của một lời nói tốt bạn cho đi.
***
Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: trong giây lát bạn lãng quên;
Nhưng niềm vui dâng tràn, và những gợn sóng reo vui xoay tròn mãi
Bạn đã làm cho con sóng được vỗ về trong điệu nhạc êm ái
Có thể nghe thấy trên hàng hải lý từ việc thả một lời nói tốt mà thôi
Nghi thức lửa thường được làm vào những ngày cuối năm để đón một năm mới tươi mới, tinh khôi và gặp nhiều điều may mắn. Nên chọn một nơi yên tĩnh, thoáng mát, sạch sẽ, chuẩn bị một cái ghế, than, củi khô và những điều, thứ xui xẻo muốn xua đuổi (hạt mù tạt đen, mè đen – đại diện cho những điều xấu xa). Vẽ hoặc in rmột con bọ cạp nhỏ màu đen, một con rắn nhỏ màu đen, và một con ếch nhỏ màu đen trên một mảnh giấy. Đây là những con vật đại diện cho tất cả những thứ tiểu nhân, nhỏ nhen, gây ra thị phi.
Khi bắt đầu nghi thức, hãy giữ tâm thật tĩnh tại, suy nghĩ về tất cả những điều tiêu cực, những nỗi đau và thù hận rồi viết chúng ra giấy.
Thời gian tốt nhất để thực hiện nghi thức phong thủy này là từ 5 đến 7 giờ tối. Đào một lỗ trên góc vườn hoặc đặt một cái xô, chậu có thể chịu được lửa, đặt các tờ giấy vẽ biểu tượng âm dương vào, xếp than củi lên trên lên trên và châm lửa. Khi ngọn lửa bùng lên là lúc nghi thức lửa diễn ra.
Giữ cho ngọn lửa cháy đều và mạnh rồi lần lượt thả những tờ giấy in hình rắn, bọ cạp, ếch vào lửa. Vừa đốt vừa nhớ lại những điều người khác gây hại cho mình. Tất cả những thứ đó được đốt đi và tâm hồn sẽ được gột rửa, tinh khiết.
Sau đó, tiếp tục ném vào ngọn lửa mảnh giấy đã viết về sự kiện, những điều không hài lòng, khó chịu, những nỗi sợ hãi, bất hạnh trong cuộc sống. Khi nhìn ngọn lửa đang đốt cháy mảnh giấy đó, nên buông tất cả những cảm xúc tiêu cực ra khỏi bản thân và cho phép bản thân mình hoàn toàn giải phóng, thư giãn.
Lấy hạt mè và mù tạt màu đen và đốt chúng dưới ngọn lửa. Hãy tưởng tượng rằng chúng đại diện cho tất cả các suy nghĩ xấu, những hành động có hại, và những ý đồ xấu của mình. Đây là phần quan trọng nhất của nghi thức, bởi vì nó thực sự làm sạch nội tâm, xóa bỏ tất cả những suy nghĩ và hành động xấu của bản thân. Hãy chắc chắn rằng đã đốt cháy tất cả các hạt giống, không để lại bất cứ thứ gì.
Hoàn thành nghi thức lửa, hãy dập tắt đám cháy và tập trung tinh thần nghĩ tới những điều vui vẻ, mới mẻ tiếp theo.
ST
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thu Hương (##)
1. Miệng nhỏ, hơi chu ra
Con trai hoặc con gái có miệng nhỏ, môi hơi chu ra, quanh viền môi có nhiều đường vân nhỏ, thì tài vận không được suôn sẻ, đường tiền tài không rộng bởi vậy bình thường họ rất keo kiệt. Nếu họ có được một khoản tiền thì cũng không nỡ tiêu mà sẽ để dành.
2. Sống mũi thẳng như dao, đầu mũi nhọn
Người sống mũi thẳng nhưng đầu mũi nhọn, ít thịt, thường tính tình khắc nghiệt, ích kỷ, khó cùng người khác sống chung hay hợp tác thành công.
Là con gái thì không coi trọng bạn bè, rất lạnh lùng, đôi khi còn xa cách với anh em bạn bè, người yêu, bởi vậy họ không có mấy bạn bè thân thiết. Trong cuộc sống hôn nhân cũng ít có chàng trai nào có thể chịu được tính cách của họ.
![]() |
| Ảnh minh hoạ. |
3. Lỗ mũi hẹp
Lỗ mũi hẹp, khó nhìn thường là người tính tình hướng nội, khó đoán. Lỗ mũi hẹp, hai cánh mũi cũng hẹp nhỏ thì tâm tính nhỏ nhen ích kỷ, đa nghi. Họ coi trọng tiền bạc, có tiền không nỡ tiêu. Khi gặp phải vấn đề thì họ cứ phải chuyện bé xé ra to mới thấy an tâm.
4. Ấn đường hẹp
Muốn xem một người có rộng rãi hay không thì xem mũi và ấn đường của họ có đủ rộng không. Nếu ấn đường quá rộng thì tính cách yếu đuối, nhưng nếu ấn đường quá hẹp thì lại là người chi li, mọi chuyện đều quá mức thận trọng, nhìn nhận vấn đề hạn hẹp, hay nghi kỵ, không có chính kiến, không tin tưởng bản thân, không thích hợp để làm việc nhóm, họ khó có thể sinh tồn khi ở trong nhóm có nhiều người.
5. Mắt lác
Người có mắt lác thường đơn độc, không thích ai cưỡng ép hợp tác với mình, không biết nhân nhượng, không quan tâm đến cảm nhận người khác, đặt tình cảm của mình lên trên hết, dễ kích động, thích tranh đấu với người khác.
6. Mũi khoằm
Người mũi khoằm thì tâm tư mờ ám, thích tính kế sau lưng người khác, nếu đầu mũi hướng xuống nữa chứng tỏ họ rất tiếc tiền, luôn muốn tiết kiệm tiền nhưng theo chiều hướng tiêu cực. Thay vì tiêu tiền đúng cách họ lại tìm cách để người khác chi trả cho mình.
7. Răng nhỏ và khít
Con trai hay con gái mà có răng nhỏ và khít thì rất coi trọng tiền bạc, không muốn lãng phí một đồng nào, giữ tiền cực giỏi, cho dù bạn bè có gặp chuyện lớn nhỏ cần nhờ họ cũng sẽ biết cách buộc chặt túi tiền của mình, chỉ sợ bị người ta lấy mất.
8. Mặt nhọn
Thật ra ở một mức độ thì người keo kiệt ích kỷ vẫn có thể kết giao bạn bè bình thường, chỉ cần không làm ra điều gì quá đà khiến người khác phản cảm là được. Nhưng nếu con gái mà có hai đặc điểm lỗ mũi hẹp, cánh mũi mỏng nhỏ lại có gương mặt nhọn thì thường rất nhỏ nhặt hà khắc, tư lợi, ích kỷ không bao giờ hy sinh vì ai, bởi vậy họ khó được chàng trai nào tiếp nhận.
Kunie (theo lnka)
19. Tam sát
Nếu ở hướng tam sát lưu niên của nhà có người động thổ là phạm tam sát, theo phong thuỷ học đây thuộc sát vô hình, sát này có thể làm cho các thành viên trong gia đình dễ sinh bệnh tật, ốm đau, chỉ cần đặt một đối tượng kỳ lân đen hướng vào vị trí tam sát hoặc đặt một bức tượng thú thiêng là rồng hay rùa hướng vào vị trí tam sát là được.

20. Ngũ hoàng sát
Hướng ngũ hoàng lưu niên của nhà ở có người động thổ thì phạm ngũ hoàng sát Muốn hoá giải sát này có thể bài trí vật cát tường hoá sát để bảo an, bao gồm đặt một đối tượng tì hưu (một loài thú dừ) quay vào hướng ngũ hoàng, hoặc tại hướng ngũ hoàng đặt một hồ lô làm bằng đồng hoặc dùng chuông gió bằng đồng màu bạch kim, màu bạc, màu đồng. Tuy nhiên ngũ hoàng sát khi ở hướng đông bắc thì chú ý không được dùng chuông gió để hoá sát.
21. Đạp không sát
Trong phong thuỷ học tối kị sự trống rỗng không thực, nhưng ở vào thời kỳ tấc đất tấc vàng như ngày nay, nhiều nhà cao tầng khi thiết kế đều dùng bằng hết không gian có thể, ngoài phát triển lên trên không ra, thì phát triển sang ngang, xuống dưới đều chưa thấy đủ, nhưng cũng có thể là do đó mà sinh ra một loại sát khí, ví dụ như đạp không sát. Nhà ở tầng trên trong khi nhà ở tầng dưới để trống kéo dài, lâu ngày không có người ở thì gọi là đạp không sát. Sát này dễ làm cho vận nhà không tốt, tinh thần các thành viên trong nhà không yên ổn, mà đạp không sát thì tối kị làm phòng ngủ. Muốn hoá giải có thế bố trí trong nhà hai quả ngân nguyên, trường hợp nghiêm trọng thì dùng 6 quả.
22. Bạch hổ sát
Nhà ở mà phía bên phải có những kiến trúc to lớn hoặc có nhà lầu dỡ bỏ, có đường cái, có cầu là phạm bạch hổ sát, nếu nghiêm trọng có thể làm cho người trong nhà thương vong, người trẻ tuổi trong nhà phát sinh nhiều bệnh tật, tranh chấp bất hoà, dễ phá sản. Cách hoá giải chỉ cần đặt một đôi kì lân ở hướng này, nếu cùng lúc ở hướng này phạm vào tam sát hoặc ngủ sát thì có thể đặt ở hướng đó thêm một xâu tiền đồng bạch ngọc lục đế hoặc túi gấm ngân nguyên, kết hợp thêm một đôi kì lân và hồ lô làm bằng đồng.
23. Cô phong sát
Nhà ở cao hơn nhiều so với những nhà xung quanh gọi là cô phong sát. Phàm là nhà nào phạm cô phong sát đều cảm thấy mất an toàn trong hôn nhân, kinh tế và xã hội, cũng không nhận được sự giúp đỡ cửa bạn bè ở bất kỳ phương diên nào, hơn nữa con cháu trong nhà điều bất hiếu hoặc phái di chuyển nơi ở ra ngoài. Hoá giải sát này bằng cách bố trí hoà khí sinh tài hoặc bách tử đồ hóa giải ở cát vị hoặc vượng vị.
24. Cao áp sát
Cao áp sát là chỉ nhà đang ở thấp hơn nhiều so với nhà xung quanh, gặp sát này có thể gây các điều bất lợi cho các thành viên trong gia đình như: Ý chí yếu kém, tự kỷ ám thị, vận gia đình xấu đi, khó được quý nhân phù trợ. Hoá giải cao áp sát chỉ cần bố trí ở phòng khách trong nhà một bức tranh sơn thuỷ lớn với khí thế hùng vĩ hoặc đặt ở vượng vị 6 quả ngân nguyên.
25. Trùng sát
Nhà ở đối diện với vật thể như dây ăng ten kiến trúc, ống thoát nước có hình giống côn trùng v.v… hơn nữa những vật này lại chiếu thẳng vào cửa phòng khách, cửa sổ phòng bếp hoặc cửa sổ phòng trẻ nhỏ sẽ dễ làm cho các thành viên trong gia đình gặp điều tiếng thị phi vô cớ, công việc không thuận lợi, trẻ nhỏ dễ bị bệnh đường ruột. Hoá giải trường hợp này có thể đặt trên cửa sổ nhà một con gà trống bằng đồng.
Gần đây, dưới chính sách mở cửa về kinh tế lẫn văn hóa của nhà nước, khoa học dự đoán phát triển rất mạnh mẽ. Trong số các môn khoa học dự đoán thì môn Tứ trụ - Tử bình đưa ra nhiều những biện pháp hữu ích trong việc bổ khuyết, chế hóa, cân bằng ngũ hành trong mệnh lý từ tổ hợp Tứ trụ.
Những phương pháp này bao gồm nhiều thao tác tổng hợp như cải tạo phong thủy trong nhà ở, đến việc lựa chọn màu sắc, trang phục, nghề nghiệp, phương vị cầu tài, đặt tên, biệt hiệu, bút danh… Thế nhưng khi nghiên cứu sâu về vấn đề này ta sẽ nhận ra những điều trên chưa đủ, trong quá trình cải tạo vận mệnh của mỗi người.
Theo quan điểm triết học Phương Đông trong cuốn Tam tự kinh có viết: Tam tài giả, Thiên địa nhân. Tam quang giả, nhật nguyệt tinh. Nghĩa là ba bậc tài gồm có trời, đất và con người, ba nguồn sáng trong vũ trụ bao gồm mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú. Bởi vì coi con người là một đấng tài đức sánh ngang cùng vũ trụ, được coi là một tiểu vũ trụ, có những yếu tố âm dương, ngũ hành, thể chất và tâm hồn, có quy luật vận động phát triển sinh lão bệnh tử…nên thuyết Tam tài, hay Tam nguyên Thiên - địa - nhân đã được xây dựng nên.
Đúng vậy, con người là một thực thể sinh học và xã hội. Hay nói một cách khác đi thì mỗi người là một tiểu vũ trụ, có các thuộc tính về âm dương, ngũ hành, có quy luật vận động và phát triển, và đương nhiên cũng đầy những huyền bí, tinh tế bao hàm trong đó. Vận mệnh của con người chính là những quy luật vận động mang tính chất khách quan, tất yếu trong cuộc sống. Những quy luật này có tốt có xấu. Giầu sang vinh hiển của con người cũng có biểu đồ như hình vẽ một quả trứng vậy, một số ít đại phú, đại quý những cũng có một số ít ở đáy quả trứng, nghèo túng, khó khăn, bần hàn, bất hạnh, bệnh tật tăm tối cứ dày võ hành hạ mãi không thể nào ngóc đầu dậy được. Còn lại phần đa con người trong xã hội có cuộc sống no cơm ấm áo, khá giả. Một điều tin chắc rằng không thể nào có thể cải tạo toàn phần, biến một xã hội không còn những mảnh đời bất hạnh, đó là một điều quá sức ảo tưởng, không tưởng. Thế nhưng con người luôn hướng tới một thế giới ngày môt tốt đẹp hơn, hướng tới một cuộc sống no ấm, hạnh phúc hơn. Nho giáo cho rằng: “Quân tử tự cường bất túc”. Hay như quẻ Càn trong Kinh dịch miêu tả đức cương kiện, tiến thủ không ngừng hướng tới một cuộc sống tươi đẹp hơn. Vậy thì con người ta tin tưởng và hoàn toàn có cơ hội cải thiện vận mệnh mình bớt xấu đi (khi mà nó quá xấu), hay tốt đẹp lên thêm như hoa thêu gấm dệt (khi mà bản thân nó đã tốt). Việc cải thiện vận mệnh con người được thực hiện và chỉ khi có kết quả dựa trên quá trình tu dưỡng, học tập, sản xuất, lao động sáng tạo kiên trì bền bì và không biết mệt mỏi mà thôi.
Con người là môt tiểu vũ trụ, muốn cải thiện được vận mệnh con người cần căn cứ vào chính bản thân của con người sau đó mới đến việc áp dụng các phương pháp ở ngoài để bổ trợ thêm vào. Các phương pháp mà chúng ta vẫn thường được nghe như khuyết hành này, hành kia quá vượng, nên chọn tên bộ mộc, hay nên chọn tên bộ thủy chính là dụng thần điều hầu trong tứ trụ.
Khi lấy con người làm trọng tâm của công cuộc cải vận chúng ta cũng cần phải xét đến việc tự cường trong nội tại. Nôi dung này sẽ có hai vấn đề cơ bản mà tôi sẽ trình bày dưới đây.
Thứ nhất: Yếu tố về mặt xã hội
Đạo đức: Đạo đức bao gồm tất cả các chuẩn mực thái độ hành vi của con người trong xã hội phù hợp với quy tắc ứng xử quan điểm quan niệm và dư luận xã hội. Nếu vi phạm những quy chuẩn này con người sẽ bị dư luận xã hội lên án, phản đối, lương tâm chịu đau khổ, giày vò, hối hận.
Pháp luật bao gồm tất cả những quy định chuẩn mực chung được nhà nước đề ra để quản lý đất nước, quản lý xã hội, nhằm đưa xã hội đi vào quy củ, bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự xã hội. Cá nhân và tất cả các tổ chức đều phải tuân thủ, nếu vi phạm sẽ bị xử lý bằng các biện pháp cụ thể.
Thứ hai về mặt học thuật:
Đạo trong trời đất vốn là quy luật chỗ thừa, bù chỗ thiếu, tránh trạng thái bất cập và thái quá là ở chỗ đó

(Những việc làm ở mục sau có tác dụng trong một phạm vi nhất định để cải thiện vận mệnh của mỗi người).
Như vậy, nếu con người là chủ thể trong cuộc sống nhân sinh, được xem là trung tâm, trọng điểm của tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội văn hóa, tinh thần, tâm linh. Người ta có nói: “ Con người là hoa của đất” – là một bậc tài trong vũ trụ, thì quá trình cải tạo vận mệnh phải được khơi động và thực hiện tích cực, nỗ lực từ chính bản thân con người. Những biện pháp cải vận bao gồm cả về mặt nhân luân, xã hội, cả về mặt học thuật, kết hợp với các yếu tố ngoại cảnh, môi trường, công việc, phương vị cầu tài, vật khí phong thủy… sẽ tạo nên một thế nội công ngoại hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, gắn bó mật thiết với nhau. Nội lực tự cường, và ngoại cảnh phù hợp sẽ thúc đẩy vận khí của con người rất mạnh mẽ. Thế nhưng để thực hiện được những điều trên tưởng chừng như đơn giản nhưng nó là cả một quá trình nỗ lực không ngừng nghỉ, phấn đấu không mệt mỏi, với tinh thần tự cường bất túc.
Học giả Lộc Dã Phu trong cuốn Dương cơ chứng giải có nói như sau: “Người khôn học hỏi những điều tinh hoa từ những người khác. Kẻ dại thì sẽ lấy bản thân và gia đình mình làm vật thí nghiệm. Tôi không dám nhận mình là người khôn, nhưng thà mang tiếng dại đưa bản thân mình và những người thân vào cuộc thí nghiệm để mong những người khác rút ra được những tinh hoa trong cuộc sống”. Quả thật cao cả và chí lý lắm thay, tôi cũng là một người đã thử nghiệm với bản thân, thấy có những tác dụng vô cùng tích cực cho sức khỏe và thu nhập nhập của bản thân nên viện dẫn ra để chia sẻ cùng mọi người
Phong Thủy số