Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Bảng tính giờ Hoàng Đạo và Hắc Đạo chung –

NgàyGiờ Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Hoàng Đạo Thân Tuất Tý Dẩn Thìn Ngọ Thân Tuất Tý Dần Thìn Ngọ Hoàng Đạo Dậu Hợi Sửu Mão Tị Mùi Dậu Hợi Sửu Mão Tị Mùi Hoàng Đạo Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất Tý Dần Thìn Ngọ Thân Tuất Hoàng Đạo Sử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

gio-hoang-dao-chuyen-nha

Ngày\Giờ

Sửu

Dần

Mão

Thìn

Tị

Ngọ

Mùi

Thân

Dậu

Tuất

Hợi

Hoàng Đạo

Thân

Tuất

Dẩn

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Thìn

Ngọ

Hoàng Đạo

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Hoàng Đạo

Dần

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Hoàng Đạo

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Hoàng Đạo

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Hoàng Đạo

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Thìn

Hắc Đạo

Tuất

Dần

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Thìn

Ngọ

Thân

Hắc Đạo

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hắc Đạo

Dẩn

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Hắc Đạo

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Thìn

Ngọ

Thân

Tuất

Dần

Hắc Đạo

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Hắc Đạo

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

Mùi

Dậu

Hợi

Sửu

Mão

Tị

* Cách tìm:
– Cột dọc ngày Tý có 6 giờ Hoàng Đạo và 6 giờ Hắc Đạo.
Có ba cách tính giờ Hoàng Đạo (giờ tốt) và giờ Hắc Đạo (giờ xấu), bạn đọc tuỳ ý lựa chọn cách tìm phù hợp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng tính giờ Hoàng Đạo và Hắc Đạo chung –

Cách cục Thọ Tinh nhập miếu

Sao Thiên Lương trấn mệnh, nhập cung ngọ có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt gia hội là hợp cách. Sao Thiên Lương thuộc thổ, chưởng quản tuổi thọ, nhập miếu tại cung Ngọ. Nếu sở hữu cách cục này, chủ về chính trực vô tư, học vấn ưu việt, tính cách chín chắn, ổn trọng, có tài lãnh đạo quần chúng, xử lý tình huống, sức khỏe tốt, tuổi thọ cao, có được danh vọng và lợi lộc lớn. Nếu gặp nhiều cát tinh, chủ về cực hiển quý. Người sinh năm Đinh là thượng cách, tiếp đến là năm Kỷ, sinh năm Qúy chủ về phú. Còn sinh những năm khác không được tốt như vậy, nếu không gặp hung tinh, chỉ chủ về sống thọ mà thôi.
Cách cục Thọ Tinh nhập miếu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ưu điểm: Tính cách thẳng thắn, công bằng, học vấn ưu việt, phúc thọ song toàn, điềm tĩnh , chín chắn, thích giúp đỡ người khác, có tài năng lãnh đạo, coi thường danh lợi, làm quan thanh bạch, rất được kính trọng.
Khuyết điểm: Nếu không gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa ăn nói khoác lác, làm việc chỉ hời hợt bề ngoài.

Ca Quyết:
Mệnh ngộ Ly minh củng thọ tinh
Nhất sinh vinh hoa mộc thâm ân
Phi đằng hồng hộc thanh tiêu cận
Phi tượng đường đường thị để diên

Nghĩa là:
Mệnh gặp mặt trời chiếu thọ tinh
Một kiếp vinh hoa đội ơn sâu
Chim hồng sải cánh bầu trời rộng
Ngôi vị đường đường tại cung cao

Kinh văn viết rằng: "Thiên lương cư ngọ, làm quan thanh hiển".

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách cục Thọ Tinh nhập miếu

Bí quyết chọn chồng để thúc đẩy vận trình

Để chọn chồng hợp với mình, thì không đơn giản là xem tuổi có hợp không, mà còn xem cả tướng mạo liệu có thúc đẩy được vận trình của mình hay không.
Bí quyết chọn chồng để thúc đẩy vận trình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người ta thường vẫn nói “Đàn bà hơn nhau ở tấm chồng”, có người lấy chồng là khổ dù “hợp tuổi”, nhưng cũng có người lấy chồng chẳng hợp tuổi nhưng lại hạnh phúc vô cùng và có cuộc sống vô cùng sung sướng.


Mt nh nhưng có thn, ánh mt kiên định

Người đàn ông s hu đôi mt nh nhưng có thn, ánh mt kiên định là người s v, người này có tướng vượng thê (tt cho vn trình ca v). H cũng là nhng người quyết đoán và có ngh lc. Cho dù h ít nói nhưng li vô cùng ng h mi hành động hay quyết định ca v, vn trình ca v vì thế mà phát trin.

Bi quyet chon chong de thuc day van trinh hinh anh
Ảnh minh họa

Môi mng

Đàn ông mà môi mng là biu hin ca người biết điu, và rt gii chiu v. H có nim đam mê vi vic nu ăn và nu cho người mình yêu thương thưởng thc, đây chính là ưu đim d dàng chinh phc trái tim (và c bao t) ca người v. H biết cách hưởng th cuc sng và mang li nhiu tri nghim cho người v, biết cách làm cho người v luôn vui v, không bao gi phi lo lng, bun phin. Trong công vic, h luôn là người khích l động viên v vng tin th hin năng lc ca mình.

Mũi thng

Trên gương mt, cái mũi đại din cho vn tài ca người đó. Mũi thng không ch làm cho vn trình tài lc ca người đó được hưng vượng mà còn nh hưởng ti c vn tài ca người v. Nhng người đàn ông s hu chiếc mũi thng thường có ưu thế v vn đề tài chính, s nghip vô cùng hanh thông. H có tim lc cao v kinh tế nên hoàn toàn có th mang li cho người v mt cuc sng hnh phúc, đầy đủ và cao sang.

Cm đầy đặn

Người đàn ông có cm đầy đặn thì đích th có tướng vượng thê, h chính là quý nhân thúc đẩy vn may ca người v. H luôn là người đứng sau mi thành công ca người v. Ngoài ra, vi h, gia đình là trên hết, khi có thi gian rnh h thường không hay t tp bn bè mà nhà vi v con, giúp v làm vic nhà, chăm con.

Khi chn người để kết hôn, để vn trình được thúc đẩy cũng như gp nhiu vn may thì người ph n nên chn người đàn ông có nhng đặc đim trên.

► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không


Theo Meigoushenpo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết chọn chồng để thúc đẩy vận trình

Khỏe như vâm nhờ khai vận phong thủy tiết Hạ Chí

Giữ phòng ốc sạch sẽ, thoáng mát là một trong những tuyệt chiêu khai vận phong thủy tiết Hạ Chí đơn giản lại có hiệu quả cao.
Khỏe như vâm nhờ khai vận phong thủy tiết Hạ Chí

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Một vài sự điều chỉnh về phong thủy rất có ích cho sức khỏe của bạn trong tiết Hạ Chí, khi mà nắng nóng lên đến cực điểm.

  1. Phòng ốc sạch sẽ, thoáng mát   Dù là phòng khách, phòng ngủ hay ở nơi làm việc, bạn cũng cần giữ gọn gàng, sạch sẽ. Không những đảm bảo mĩ quan, giảm bớt cảm giác nóng nực ngày hè, mà còn tác động tích cực tới dòng chảy năng lượng, mang tới nguồn năng lượng tích cực lưu thông tốt, kích hoạt vận khí tăng, sức khỏe dồi dào mang tới nhiều may mắn. Đây là một trong những tuyệt chiêu khai vận phong thủy tiết Hạ Chí đơn giản lại có hiệu quả cao.
Khoe nhu vam nho khai van phong thuy tiet Ha Chi hinh anh 2
 
2. Tắm gội và thay quần áo thường xuyên   Những ngày Hạ Chí nắng nóng, thời gian ban ngày dài nhất trong năm, khó tránh việc cơ thể có mùi hôi do tiết quá nhiều mồ hôi.    Vì thế, nên tắm gội và thay quần áo thường xuyên, vừa giữ cơ thể thoáng mát, giảm cảm giác bí bách, nóng nực, còn kích hoạt tinh thần phấn chấn, làm việc hay vui chơi đều thoải mái. Khi tinh thần thư thái, vận khí ắt tăng lên, mọi sự càng hanh thông.   Đeo ngọc chỉ để ngắm hay còn chiêu nạp phúc khí Hướng dẫn chọn biển số xe hợp phong thủy cho người tuổi Tuất 18 cấm kị phong thủy về nữ giới không thể không tin
3. Đặt một bình nước trong phòng
  Việc sử dụng điều hòa thường xuyên và liên tục trong những ngày hè nắng nóng là điều thường thấy. Tuy được tận hưởng không khí mát lành, nhưng da dẻ lại dễ bị khô, gây bong tróc, nứt nẻ, khó chịu.   Vì thế, bạn có thể đặt một bình hay bát nước trong phòng có sử dụng điều hòa để tăng Thủy khí. Cách làm này vừa hạn chế tình trạng khô da, lại giúp điều hòa nguồn năng lượng, tốt cho sức khỏe.  
Khoe nhu vam nho khai van phong thuy tiet Ha Chi hinh anh 2
 
4. Mặc quần áo có tông màu sáng, mát mắt   Những bộ trang phục có gam màu sáng, nhẹ nhàng như trắng, xanh dương, be vàng, hồng phấn… sẽ tạo cảm giác mát mắt, điều hòa tâm trạng rất tốt. Dù là người mặc hay người nhìn vào đều thấy dễ chịu, hạn chế cơn nóng giận, giúp tính tình điềm tĩnh hơn, xử lý công việc tốt hơn.   Muốn công ty phát tài, nhanh tay bố trí văn phòng tổng giám đốc đủ 6 tiêu chuẩn Chìa khóa vàng bài trí phong thủy văn phòng thịnh phát Chọn cây phong thủy để bàn trợ lực nghề nào phát nghề đó
5. Mang cây xanh vào bàn làm việc
  Áp lực công việc là một trong những nguyên nhân khiến tâm tính của con người biến đổi thất thường. Đó cũng chính là nguồn gốc gây ra hàng loạt mâu thuẫn trong quan hệ xã giao, từ đó làm giảm hiệu quả công việc cũng như sức khỏe.   Đặt một vài chậu cây cảnh có màu xanh mát sẽ giúp tinh thần bạn dễ chịu hơn, từ đó làm giảm Hỏa khí trong người, xử lý tốt công việc cũng như điều hòa các mối quan hệ xã giao hữu hảo trong tiết Hạ Chí này.   Nhưng lưu ý, tránh đặt những loại cây cảnh có gai như xương rồng trên bàn làm việc. Gai của nó như mũi dao nhọn chứa sát khí, gây hại cho sức khỏe và sự nghiệp của bạn.  
► Mời các bạn tra cứu Lịch 2016 theo Lịch vạn sự chuẩn xác

Hoàng Lam

Đôi điều cần biết về tiết Hạ Chí
Hàng năm, từ 21 hoặc 22 tháng 6 tới ngày 5 hoặc 6 tháng 7 là tiết Hạ Chí, một trong 24 tiết khí, đánh dấu những ngày nắng nóng cực điểm đã tới.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khỏe như vâm nhờ khai vận phong thủy tiết Hạ Chí

Mâm cỗ ngày Tết, lưu ý các món ăn nào kị nhau?

Ngày Tết, nhà nhà ăn thịt gà, nhưng ăn món này không nên ăn chung với cá chép, tôm. Thịt bò, thịt trâu không nên ăn chung với lươn và hẹ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Món ăn kị thịt gà

Theo Đông y thịt gà vốn cam (ngọt) ôn, mà tỏi thì đại nhiệt, rau cải và hành sống lại cam hàn nên khi phối hợp với nhau cơ thể sẽ sinh nhiệt hay hàn nhiệt giao tranh mà sinh ra bệnh lỵ và gây tổn thương khí huyết.

Vì vậy, khi ăn thịt gà cần kiêng tỏi, rau cải và hành sống. Khi ăn phải mà phát sinh chứng bệnh nấu nước lá dâu uống sẽ khỏi.

Thịt gà thuộc phong mộc về tạng can. Còn vừng vị ngọt có tác dụng dưỡng can, dưỡng huyết khu phong, kinh giới vị cay tính ấm phá kết khí (ngăn không cho phong khí tụ) hạ ứ huyết.

Do vậy, khi kết hợp cùng nhau tất sẽ ảnh hưởng đến can phong sinh chứng chóng mặt, ù tai hoặc run rẩy cả người và ngứa ngáy đầu não. Khi này nấu nước cam thảo sống uống sẽ khỏi.

Ngoài ra, không ăn thịt gà với cá chép, tôm, mận. Thịt gà cam ôn, cá chép cam hàn, nếu ăn lẫn sẽ sinh chứng mụn nhọt hoặc phát chứng trường ung. Nên nấu nước đỗ đen uống sẽ khỏi.

Tôm và gà đều cam ôn cả hai tính dễ động phong. Ăn cùng sinh ra chứng ngứa ngáy khắp người, để giải nấu nước kinh giới uống.

Mận tính ôn sáp, nếu ăn với thịt gà sẽ sinh chứng hoắc loạn (thổ tả) ngược tật (sốt nóng sốt rét). Khi này nấu nước sơn tra uống sẽ khỏi.

Thịt lợn không kết hợp cùng thịt bò, đậu


Thịt lợn rất kỵ với một số thực phẩm như gan, đậu tương… bởi nếu nấu cùng bạn sẽ có khả năng gặp các vấn đề về đường ruột, dinh dưỡng….

Là loại thực phẩm quen thuộc và phổ biến trong bữa ăn của nhiều gia đình, từ lâu thịt lợn đã được các bà nội trợ tin dùng như loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng. Thịt lợn có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, tuy nhiên, có một số loại thực phẩm mà các bác sĩ khuyến cáo không nên kết hợp với thịt lợn.

Chắc chắn thịt lợn và thịt bò thì không thế chế biến thành cùng một món ăn rồi. Bởi thịt lợn tính hàn còn thịt bò lại tính ôn, ích khí chính vì vậy chúng tương khắc nhau, hạn chế thế mạnh của nhau, làm giảm giá trị dinh dưỡng của mỗi loại thực phẩm.

Tiếp đó là thịt lợn và gan. Gan, đặc biệt là gan dê có mùi gây, hơi hôi khi xào cùng thịt lợn sẽ khiến cho mùi vị món ăn càng trở nên khó chịu, gây phản cảm với người thưởng thức món ăn.

Thịt lợn và đậu tương thì sao? Theo quan niệm của các nhà dinh dưỡng hiện đại cho rằng, thịt lợn và đậu tương không nên cùng kết hợp khi chế biến món ăn.

Đậu tương là một trong những thực phẩm giàu dinh dưỡng với 60 – 80% là phốtpho nên khi kết hợp chế biến đậu tương với thịt lợn trong cùng một món ăn, hàm lượng phốt pho trong đậu tương có khả năng làm giảm giá trị dinh dưỡng của thịt lợn, đặc biệt là khi thịt càng nạc.

Rau thơm tính ôn, hao khí trong khi thịt lợn ích khí, chính sự tương khắc này khiến cho hai loại thực phẩm khó kết hợp chế biến. Ngoài ra, không nên ăn thịt lợn với ốc bươu, cam thảo.

Thịt bò, thịt trâu không nên ăn chung với lươn và hẹ.

Ngày Tết, những người vẫn đang phải dùng thuốc Đông y nên tránh xa bánh chưng, xôi đỗ xanh và củ cải trắng.

Nếu uống thuốc đông y bổ nhiệt có thành phần nhân sâm là dược liệu bổ khí nhưng củ cải lại hành khí, giảm khí, phá khí. Nếu dùng nhân sâm kết hợp với củ cải, sẽ làm yếu đi công hiệu bổ khí của nhân sâm.

Các loại bổ nhiệt khác như sâm Mỹ, đảng sâm, hoàng kỳ, hà thủ ô…đều có công dụng tương tự như nhân sâm, không thích hợp để kết hợp với củ cải.

Bất luận là củ cải sống hay chín thì đều có tác dụng hành khí, cần chú ý tránh kết hợp dùng với thuốc bổ.  Ngoài ra, đỗ xanh có tác dụng thanh nhiệt giải độc cũng có thể “ngăn chặn” tác dụng bổ ích của nhân sâm và một số loại đông y.

Thuốc đông y dưỡng dạ dày “sợ” gạo nếp. Gạo nếp, các loại thịt… không dễ tiêu hóa, người đang uống thuốc dưỡng dạ dày khỏe tỳ tốt nhất ít ăn để tránh tăng thêm gánh nặng cho dạ dày đường ruột, ảnh hưởng đến việc phục hồi sức khỏe. Người già thì chức năng dạ dày đường ruột đã kém đi, nếu ăn nhiều thực phẩm loại này, sẽ làm cho bệnh dạ dày đường ruột càng nặng thêm.

Người uống thuốc đông y thanh nhiệt tránh xa ớt cay.Nếu bạn  đang uống các loại thuốc hàn, đắng như đại hoàng, hoàn liên, hoàng cầm... hoặc các loại thuốc hàn mát như mẫu đơn bì, hoàng bách, kim ngân hoa, lá dâu, liên kiều, cây cát cánh… thì nên tránh ăn thực phẩm mang tính kích thích ví dụ như ớt cay, ớt tiêu, cari, rượu… nếu không sẽ làm giảm hiệu quả thuốc thanh nhiệt trong máu.

Trich tu: VTC News

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mâm cỗ ngày Tết, lưu ý các món ăn nào kị nhau?

Những nguyên tắc giải đoán Tử vi

Chúng tôi xin được hân hạnh cống hiến quý bạn tập tự điển Tử Vi, các bạn có thể giải đoán các nét căn bản Tử Vi một cách giản dị, từ đây mà tạo thêm các kinh nghiệm, VĂN XƯƠNG VĂN KHÚC, Là văn tinh, chủ về văn chương, mỹ thuật, cũng chủ về công danh, thi cử.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chúng tôi xin được hân hạnh cống hiến quý bạn tập tự điển Tử Vi, các bạn có thể giải đoán các nét căn bản Tử Vi một cách giản dị, từ đây mà tạo thêm các kinh nghiệm. Sở dĩ ghi thành tự điển theo thứ tự A, B, C, là để các bạn tìm tòi cho dễ lúc thực dụng. Bây giờ xin tiếp tục nêu lên những nguyên tắc giải đoán lá số Tử Vi

VĂN XƯƠNG VĂN KHÚC

 Là văn tinh, chủ về văn chương, mỹ thuật, cũng chủ về công danh, thi cử.

 Ở Mệnh có Xương, Khúc là người đẹp đẽ, thông minh, học giỏi, thích văn chương, nghệ thuật. Ở Mệnh các cô gái, là biểu hiện vừa sự thông minh, vừa sự dâm đãng. Nhưng có những cách xấu thêm vào mới thật là dâm đãng, được các cách tốt chế hóa đi thì lại khá.

 Gặp các sát tinh Kỵ, Riêu, mới thật là dâm đãng.

 Đến hạn, gặp Xương, Khúc mà không bị phá cách, là thi đậu, thêm danh vọng.

THIÊN KHÔI, THIÊN VIỆT

 Là văn tinh, cũng là quý tinh, chủ về công danh, khoa cử, quyền tước.

 ở Mệnh là người thông minh, thích văn chương, học giỏi, nhân hậu. Gặp Hỏa, Linh, Hình lại hỏng, thêm tai họa.

 Thiên khôi ngộ Triệt bị giảm nhiều thành cách xấu biểu hiện nạn lớn.

TẢ PHỤ, HỮU BẬT

 Là trợ tinh, chủ về quyền, về sự phò tá, sự giúp đỡ. Gặp những sao tốt thì làm cho tốt đẹp thêm. Nhưng bị những sao xấu thì lại làm cho xấu hơn.

LỘC TỒN

 Vừa là tài tinh, vừa là quý tinh, phúc tinh. Biểu hiện quyền, lộc, và phúc. Được Lộc Tồn tại Mạng là người thông minh, học giỏi, nhân hậu, ở Tài Lộc, và tránh được các tai họa. Tuy nhiên, Lộc Tồn thường chỉ có một thứ ảnh hưởng. Thí dụ: Tránh được tai họa, thì không giầu… Làm cho thêm phúc thọ và tài lộc.

 Người nào có những cách dâm đãng (như Đào, Hồng) được Lộc Tồn thì sự dâm đãng bị chế ngự.

HÓA LỘC

 Cũng như Lộc Tồn, vừa là tài tinh, vừa là phúc tinh. Giảm chế các tai họa, làm cho nhiều tài lộc. Ở Tài Bạch và Điền Trạch mà có Hóa Lộc là giầu có.

 Ở cùng cung với Lộc Tồn lại kém, vì khắc nhau. Một sao đóng, một sao chiếu là song Lộc, thì tốt. Hoặc hai sao chiếu Mệnh thì tốt.

 Gặp Tham, Vũ đồng cung thì tốt.

 Gặp các sao xấu như Hao, Kiếp, Không, Thiên Không thì lại hao tán, suy bại, Hóa Lộc mất ảnh hưởng.

HÓA QUYỀN

 Chủ về quyền tướng. Có Hóa Quyền tại Mạng là người có quyền.

 Gặp các sao tốt thì làm tốt thêm.

 Nhưng Quyền gặp các sao xấu, chẳng hơn gì.

HÓA KHOA

 Là sao chủ về thi cử và là phúc tinh.

 Có Hóa Khoa tại Mạng là người có công danh khoa bảng, thông minh, học giỏi, lại tránh được các tai họa. Hạn gặp Hóa Khoa là được thi đậu, hoặc giải được tai họa. Hóa Khoa cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt là những văn tinh, hướng con người vào nghiệp văn hoặc vào chức nghiệp không phải là võ. Được cả bộ Khoa, Quyền, Lộc là được phú, quý, nhiều công danh và tài lộc. Hóa Khoa không sợ sát tinh.

 Tam Hóa liên châu là bộ ba Khoa-Quyền-Lộc đi trong ba cung liền nhau, do đây gặp Mạng, Thân hay một hạn nào đó mà chỉ dính đến một trong ba sao đó, cũng được ảnh hưởng của ba sao. Hóa Khoa không bị sát tinh giảm.

THIÊN MÃ

 Thiên Mã là ngựa trời. Chủ về sự lanh lẹ, thay đổi, di chuyển, và có ý nghĩa tài lộc, công danh, phúc thọ. Nhưng Mã sẽ tốt hay xấu là do những sao khác gặp phải.

 Mã đóng tại Mạng là người tài. Nếu lại thêm Tử, Phủ đồng cung, là có uy quyền, giầu sang, có phúc thọ. Gặp Nhật, Nguyệt chiếu, hoặc có Lộc Tồn đồng cung, hoặc Lộc Tồn chiếu (Lộc Mã giao trì) cũng có những cái tốt về công danh, tiền tài, phúc thọ.

 Mã, Khốc, Khách gặp nhau là ngựa có nhạc, có người cưỡi giỏi, là một cách của người có công danh võ nghiệp, hạn gặp Mã, Khốc, Khách là thăng tiến. Mã gặp Hỏa hay Linh cũng tốt vậy.

 Mã gặp Đà thì hỏng, đó là ngựa què, ở Mạng hay ở Quan Lộc thì công danh hay bị gãy. Mã gặp Hình là hiệu báo tai nạn, tai họa. Mã tại Hợi là ngựa cùng đường, hoặc gặp Tuyệt, đều là hiệu bế tắc. Mã gặp Tuần, Triệt là ngựa chết, là tai họa.

LONG TRÌ, PHƯỢNG CÁC

 Cặp sao này chủ sự thông minh, nhân hậu, vui vẻ, nếu ở Mạng. Gặp tại Hạn là được gia đạo yên vui, được sáng láng cửa nhà, may mắn, danh tài hưng vượng, có sự cưới hỏi hoặc sự sanh nở tốt.

 Cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, tạo thành quần thần tốt phò tá cho Tử, Phủ.

 Gặp Phi Liêm có may mắn và vui mừng nhanh chóng.

TAM THAI, BÁT TỌA

 Cặp sao này chủ sự thông minh và thành công. Gặp tại Hạn là được sự may mắn, nhà cửa thêm rộng rãi.

ÂN QUANG, THIÊN QUÝ

 Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, ân nghĩa, từ thiện, và giải được các tai ương, có những may mắn không bị sát tinh giảm chế. Được cặp sao này, thì chế ngự được tánh chất dâm đãng của Đào, Hồng

ĐÀO HOA, HỒNG LOAN

 Chủ sự vui vẻ, sự thành công, gia cảnh hưng vượng. Nhưng cũng chủ về sự lẳng lơ của đàn bà, sự đa tình. Chủ về đàn bà con gái: gặp tại Hạn là sự báo hỉ hôn nhân, hoặc sự sanh nở con gái. Cũng chủ về sự thi cử tốt, được công danh, được vui mừng.

 Được Đào, Hồng, Hỉ thêm cho Nhật, Nguyệt, càng sáng ra. Đào Hồng đi với Tử, Phủ hay Nhật, Nguyệt thì các sao này tốt thêm.

 Cung Mệnh, Thân có Đào, hay Hồng tọa thủ, hai đời vợ hay hai đời chồng. Nhưng có nhiều cách để phá đi. Hoặc gia thêm sát tinh, là kém thọ, nửa đường gẫy cánh. Đàn bà có Đào hay Hồng tọa thủ, gia thêm Riêu, Đà, Kị, là người bất chính về tình ái. 

THIÊN HỈ

 Chủ sự vui vẻ, may mắn. Gặp tại Hạn, là có vui mừng về công danh, thi cử, sanh đẻ, cưới hỏi.

THAI PHỤ, PHONG CÁO

 Chủ về công danh, bằng sắc. Gặp tại Hạn, là có lợi về thi cử công danh

QUỐC ẤN

 Chủ về công danh, chức vị và quyền hành (có ấn là có quyền). Gặp tại Hạn có lợi cho thi cử và sự cầu công danh. Nhưng gặp Tuần, Triệt lại hỏng việc, vị mất chức, xuống chức.

ĐƯỜNG PHÙ

 Chủ sự thành đạt về công danh và về nhà đất cao đẹp hơn. Nhưng gặp Bạch Hổ đồng cung lại chủ sự bắt bớ, tù đầy.

THIÊN THỌ

 Chủ sự nhân hậu, từ thiện, thêm phúc thọ.

BÁC SĨ

 Chủ sự thông minh, nhân hậu, cứu giải bệnh tật. Gặp tại Hạn là được lợi về sự thi cử, học hành.

LƯU NIÊN VĂN TINH

 Chủ về văn chương, sự học, sự thi cử, sự thông minh. Gặp tại hạn là có lợi cho sự thi cử và công danh.

HOA CÁI

 Chủ sự thành công, sự quyền quý, lợi cho việc thi cử, và cầu công danh.

 Tại Mạng mà gặp Hổ, Long, Phượng, hợp thành bộ Tứ Linh (4 con vật linh), là dấu hiệu phú quý, được công danh, uy quyền.

 Nhưng Hoa Cái gặp Mộc Dục, Thiên Riêu là chủ sự dâm đãng.

 Mệnh có Hoa Cái, Tấu Thư tọa thủ đồng cung là người thanh cao và thành công.

THIÊN TRÙ

 Chủ về sự ăn uống và tài lộc.

THIÊN QUAN, THIÊN PHÚC QUÝ NHÂN

 Chủ về sự đức độ, nhân hậu, từ thiện. Là những sao cứu tật bệnh, họa hại, giải trừ nguy nan, gia tăng phúc thọ.

THIÊN GIẢI, ĐỊA GIẢI, GIẢI THẦN

 Là những sao giải trừ tật bệnh, tại họa, và gia tăng phúc thọ. Chủ sự nhân hậu, từ thiện… Người già gặp Giải Thần tại Hạn, thì dễ chết (Giải cái khổ là làm cho mau chết). Điền Trạch, Tài Bạch có Giải Thần thì nghèo (của bị Giải đi).

THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC

 Chủ sự đức độ và ngay chính. Giải trừ tật ách nhỏ. Chế ngự được tánh dâm đãng của Đào, Hồng.

THIÊN Y

 Chủ sự cứu giải bệnh tật. Nhiều bác sĩ có Thiên Y tại Mạng, Thân, Thiên Di, Quan Lộc. Thêm Thiên Hình là bác sĩ chuyên giải phẫu.

THIẾU DƯƠNG, THIẾU ÂM

 Là những sao song hành với Thái Dương, Thái Âm, nhưng chỉ là những trung tinh. Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, giải trừ tật ách. Thiếu Dương gia thêm sức sáng cho Thái Dương, Thiếu Âm gia thêm sức sáng cho Thái Âm, và phải đồng cung mới được vậy.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những nguyên tắc giải đoán Tử vi

Tướng phụ nữ chân to |

Phụ nữ ai cũng muốn mình có một đôi chân thon dài thẳng tắp. Không chỉ đẹp về ngoại hình, bắp chân to và mỡ còn là nét xấu xét theo tướng học. Bởi vậy, những người sở hữu bắp chân to và mỡ thường tập luyện để có được đôi chân săn chắc và hấp dẫn sẽ n
Tướng phụ nữ chân to |

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phụ nữ chân to |

Vận mệnh người tuổi Giáp Thìn theo Lục Thập Hoa Giáp

Nạp âm Lục thập hoa giáp của Phúc đăng Hỏa Giáp Thìn là con rồng ở nơi đáy biển, thẳng thắn hiền từ, có cương có nhu, làm việc trước khó sau dễ.
Vận mệnh người tuổi Giáp Thìn theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nạp âm Lục thập hoa giáp của Phúc đăng Hỏa Giáp Thìn là con rồng ở nơi đáy biển, thẳng thắn hiền từ, có cương có nhu, làm việc trước khó sau dễ. 


► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ tra cứu: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh

Giai ma van menh nguoi tuoi Giap Thin theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh
 
Phúc đăng Hỏa chiếu đến những nơi mà Mặt Trời, Mặt Trăng không chiếu đến, làm sáng những nơi còn tối tăm. Hỏa này là Hỏa phát sáng vào ban đêm trong nhân gian. Phúc đăng Hỏa là Hỏa Thiên khố, ưa các Hỏa khác đến trợ, chủ cát lợi. Đây gọi là tìm đồng khí để bổ sung cho sự không đủ của nó, rất ưa Nhâm Thìn Đại lâm Mộc, Mậu Tuất Bình địa Mộc. Để nuôi Hỏa ấy, là quý cách.
 
Nhập quý cách chủ về văn chương xuất chúng, lợi cho ngưòi sinh vào mùa thu và mùa đông, bất lợi đối với người sinh vào mùa xuân và mùa hạ.
 
Lục thập hoa giáp của Giáp Thìn kỵ Nhâm Thìn Trường lưu Thủy, Nhâm Tuất Đại hải Thủy; Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy.
 
Lấy Mộc làm bấc, lấy Thủy làm dầu, gặp âm chủ về cát, gặp dương chủ về không thuận lợi.
 
Các Địa chi của trụ khác không thể thấy Thìn, bởi vì Thìn Thìn tự hình, làm việc có đầu không có cuối, vợ chồng duyên bạc. Nếu như Địa chi của ngũ trụ có bốn Thìn, mệnh nam khắc vợ, mệnh nữ khắc chồng.
 
Nếu như Thìn tọa thời chi (mùa sinh), nên theo tôn giáo.
 
Cũng không thể có Tuất, phạm xung, e gió thổi đèn tắt, chủ về đoản mệnh. Phàm gặp Mộc đều tốt, rất ưa quan tinh lộc quý.
 
Thủy ưa Giáp Thân, Ất Dậu Tỉnh tuyền Thủy; Bính Tý, Đinh Sửu Giản hạ Thủy, là dầu thật, gọi là Ám đăng giả du cách (cách cục đèn lụi thêm dầu). Nhâm Thìn, Quý Tỵ Trưòng lưu Thủy là dầu giả. Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy; Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy không thể làm dầu, phạm chủ vể cả đời nghèo khó, không nổi tiếng.
 
Hỏa này gặp Thủy cần gặp Mộc, lại thêm Nhâm Dần, Quý Mão Kim bạc Kim chiếu sáng, chủ hiển quý.
 
Lục thập hoa giáp của Giáp Thìn: Kim gặp Giáp Ngọ, Ất Mùi Sa trung Kim; Canh Tuất, Tân Hợi Thoa xuyến Kim đều cát lợi. Gặp Nhâm Thân, Quý Dậu Kiếm phong Kim gọi là Đăng hoa phất kiếm cách.
 
Không ưa Canh Thìn, Tân Tỵ Bạch lạp Kim.
 
Thổ ưa Canh Tý, Tân Sửu Bích thượng Thổ, có thể an thân. Bính Tuất, Đinh Hợi Ốc thượng Thổ có thể che chở, bảo hộ. Bính Thìn, Đinh Tỵ Sa trung Thổ, vì trong Thổ có Mộc cũng chủ về đủ ăn, đủ mặc, các Thổ khác vô dụng.
 
Hỏa ưa cùng loại, sợ gió thổi. Mậu Tý, Kỷ Sửu Tích lịch Hỏa là hỏa thần long biến hóa, ắt mang gió đến, gặp Giáp Thìn Phúc đăng Hỏa khó sinh tồn.
 
Rất kỵ Bính Dần, Đinh Mão Lư trung Hỏa; Mậu Ngọ, Kỷ Mùi Thiên thượng Hỏa cùng thấy, chủ hung tai.
 
Nhật trụ và thời trụ gặp Bính Tuất, Đinh Hợi Ốc thượng Thổ, đèn ở trong nhà, càng thêm dầu càng quý, cả đời bình yên.
 
Giáp lộc tại Dần, các Địa chi của trụ khác có Dần luận cát lợi.
 
Thìn mã tại Dần, lộc mã đồng cung. Đáng tiếc Lục thập hoa giáp của Giáp Thìn Không vong ở Dần, Mão, cho nên mệnh này không nên kinh doanh độc lập, nên luyện tay nghề, tốt nhất học các nghề như ngũ thuật, đoán mệnh, xem tướng.
 
Người sinh năm Giáp Thìn gặp năm Thìn, năm Tuất, trong nhà không được yên ổn. Bản thân được bình an thì người nhà khó tránh bị thương hại.
 
Bạn đời tử vi Giáp Thìn nên tìm người sinh năm Mậu, Kỷ. Không nên lấy người sinh năm Canh, Tân.
 
Giáp quý tại Sửu, các Địa chi của trụ khác ưa thấy Sửu, chủ cát lợi.
 
Người sinh năm Giáp, Văn xương tại Tỵ, nên học một ngành chuyên sâu. Các Địa chi của trụ khác có Tỵ là phạm Kiếp sát, Cô thần, trung niên phá bại.
Theo Tử vi toàn tập
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận mệnh người tuổi Giáp Thìn theo Lục Thập Hoa Giáp

Soi tướng phái nữ sẽ gặp nhiều vận may

Phái nữ chân to thường có phúc lớn, tiền bạc nhiều không đếm xuể; hay đôi mắt linh hoạt là người nhạy cảm, có trí nhớ tốt.
Soi tướng phái nữ sẽ gặp nhiều vận may

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Đôi mắt linh hoạt

Phái nữ tướng này thường nhạy cảm, trí nhớ tốt.

2. Mũi to

Trong dân gian, mũi này được xem là mũi giàu. Theo tử vi, mũi to đại diện cho khả năng tài chính tốt.

3. Mũi khoằm

Ý chí kiên cường, nữ giới mũi khoằm khi gặp thất bại thường không dễ chấp nhận.

4. Tai vừa to vừa dày

Phái nữ có tai này là người khoẻ mạnh, sống thọ và thông minh.

mui-5220-1408683293.jpg

5. Mông mẩy, hông to

Tướng này đại diện cho phái nữ có tiền và có khả năng tạo phúc cho chồng con.

6. Tay nhỏ

Phái nữ có tay nhỏ, thon dài là người có mệnh phu nhân, tốt số.

7. Chân dài

Phái nữ chân dài thường có khả năng giao tiếp tốt.

8. Ngực hơi xệ

Đây là những nữ giới có khái niệm đơn giản về tiền bạn, cuộc sống ít âu lo, nghĩ ngợi.

chan-5041-1408683294.jpg

9. Cổ dài

Phái nữ cổ dài có tham vọng trong sự nghiệp. Người này hoang phí, không có khả năng tiết kiệm tiền bạc.

10. Bụng phẳng

Những người này trở nên giàu có nhờ các tài lẻ của bản thân.

11. Ngón tay thô

Họ có sức chống chọi mạnh mẽ với sự khắc nghiệt của cuộc sống.

12. Chân to

Phái nữ chân to thường có phúc lớn, mạng lớn, tiền bạc nhiều không đếm xuể.

Hạnh Yunnie (theo Meiguo)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Soi tướng phái nữ sẽ gặp nhiều vận may

Phong thủy cho xe cưới: Những điều bạn chưa biết

Tầm quan trọng của phong thủy xe cưới không được nhiều cặp đôi để ý, song chỉ cần phạm lỗi phong thủy sẽ ảnh hưởng đến sự hạnh phúc của hôn nhân sau này
Phong thủy cho xe cưới: Những điều bạn chưa biết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy xe cưới là nhân tố vô cùng quan trọng để tạo nên sự thành công của hôn lễ và hạnh phúc hôn nhân sau này, tuy nhiên lại được rất ít cặp đôi chú ý đến.


Phong thuy cho xe cuoi Nhung dieu ban chua biet hinh anh 2
 
1. Dòng xe
  Theo thông lệ, đội xe cưới gồm 8 chiếc, trong đó xe đón dâu phải là chiếc sang trọng và đẳng cấp nhất như: Cadillac, Audi, Mercede,…Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là liệu chiếc xe đó có phù hợp đôi vợ chồng mới cưới? Từ góc nhìn phong thủy xe cưới, không thể tùy tiện sử dụng các loại xe mà cần phải căn cứ vào Ngũ hành của cô dâu chú rể.

Các chuyên gia đã xác định Ngũ hành của các loại xe dựa vào dòng xe của các nước:
 
- Thủy: dòng xe của Mỹ
 
- Kim: dòng xe của Đức và các nước Châu Âu khác
 
- Mộc: dòng xe của Nhật Bản và Hàn Quốc
 
- Thổ và Hỏa: dòng xe của các nước còn lại   2. Màu sắc xe   Màu sắc là yếu tố không thể thiếu trong phong thủy, từ màu xe có dựa theo Ngũ hành phân chia như sau:
 
- Kim: Trắng, trắng ngà
 
- Mộc: Xanh lá, xanh ngọc bích, xanh lục
 
- Thủy: Đen, xanh lam
 
- Hỏa: Đỏ, tím
 
- Thổ: Vàng, vàng đất
 
Xe cưới được cho là tốt nhất khi phù hợp Ngũ hành cả về màu sắc và xuất xứ xe. Tuy nhiên, thông thường rất khó có thể tìm loại xe đáp ứng được hai tiêu chí trên, cô dâu chú rể có thể tham khảo các cách kết hợp. Ví dụ, nếu chú rể mệnh Kim, cô dâu mệnh Thủy, có thể lựa chọn dòng xe Cadillac màu đen của Mỹ để phù hợp bản mệnh của chú rể về dòng xe và cô dâu về màu sắc.

Cúng mã xe hơi, liệu Táo quân có thích?
Vào ngày tiễn ông Công ông Táo lên chầu trời, 23 tháng Chạp, người dân thường có tục lệ thờ cúng, hóa mã quần áo, mũ hài, cá chép, tiền vàng…

3. Tuyến đường   Trong phong thủy về xe cưới, tuyến đường là điều kiện rất quan trọng. Khi lựa chọn tuyến đường của đoàn xe cưới nên tránh đi ngang qua các địa điểm: bệnh viện, miếu thờ giáo đường, cơ quan chính phủ, đường dây cao thế, ống khói,… vì đây đều là nơi mang sát khí mạnh.    4. Đoàn xe   Số lượng xe của đoàn xe cưới không thể là 13 hoặc 14 theo quan điểm phong thủy, ngoài ra cần tránh cách loại xe như: Passat, Santana, Chevolet, Buick vì theo cách đọc âm Hán Việt sẽ mang đến điều không may mắn   5. Lên xuống xe
 
Theo thuật phong thủy, thứ tự xuống xe là yếu tố không thể thiếu. Thông thường, ghế sau của xe dành cho cô dâu chú rể và phù rể ngồi cạnh tài xế. Khi xe đến địa điểm tổ chức lễ cướp, phù rể là người xuống xe đầu tiên, đi vòng qua đuôi xe đến mở cửa xe bên trái của dãy sau cho chú rể, sau đó chú rể đi vòng qua đầu xe để mở cửa bên phải cho cô dâu, đồng thời đỡ cô dâu xuống xe. Đây là nguyên tắc "trái Thanh Long, phải Bạch Hổ" của phong thủy, không nên tùy tiện thay đổi.

Phong thuy cho xe cuoi Nhung dieu ban chua biet hinh anh 2
 
6. Ghi hình trong quá trình di chuyển đoàn xe cưới
 
Khi ghi hình quá trình di chuyển đoàn xe cưới, nên tránh việc hình ảnh được ghi lại không hợp nhất với những điều đã xảy ra trong ngày vui. Bên cạnh đó, người ghi hình phải quay đầy đủ lộ trình nếu không sẽ để lại nhiều điều không may mắn cho cô dâu chú rể sau này.   7. Sử dụng ảnh xe cưới
 
Nhiều cô dâu chú rể thích sử dụng hình ảnh của đoàn xe cưới để treo trong hôn lễ, tuy nhiên theo các chuyên gia không nên làm điều này vì họ sẽ không biết: chiếc xe đã được bao nhiêu người sử dụng, liệu đã xảy ra sự cố,…   8.  Chọn ngày 
 
Việc xem ngày không đơn giản chỉ quan tâm đó có phải là ngày tốt mà còn phải xem xét đến tương xung tương khắc. Nếu bạn tuổi Mùi, tuy nhiên ngày đó tương xung với Mùi, vậy nên không thích hợp cho việc xuất hành với xe cưới. Bên cạnh đó, thời gian cũng là nhân tố quan trọng, người miền Bắc thường xuất phát váo sáng sớm và tiệc cưới tổ chức vào buổi trưa, trong khi tại miền Nam sẽ lại di chuyển đoàn xe vào buổi chiều và tiệc cưới bắt đầu lúc trời đã tối...
  9. Cẩn thận khi sử dụng xe cưới khác mục đích   Các xe thường được sử dụng cho việc đưa đón dâu đều có khí trường của tương ứng. Vậy nên, những người đã kết hôn cần thận trọng khi sử dụng loại xe này, có nghĩa là không nên sử dụng những chiếc xe cưới này vào việc khác, nếu không sẽ ảnh hưởng đến hôn nhân của người đó.   10. Xe thường có nên dùng làm xe cưới?
 
Nhiều người đặt ra câu hỏi thay vì dùng các loại xe hạng sang của các công ty tổ chức cưới cung cấp, liệu có thể sử dụng xe của bản thân hay đi mượn của người quen được không? Theo các chuyên gia, nếu làm theo cách này, cô dâu chú rể nên chú ý hỏi người cho mượn xe về mục đích sử dụng của chiếc xe hàng ngày, đặc biệt nên tránh các xe có sát khí.
Chi Nguyễn

Xem Clip Quả báo không thể đầu thai

   

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho xe cưới: Những điều bạn chưa biết

Nằm mơ thấy cháy nổ cháy bếp ga, cháy điện là điện là điềm báo gì ? –

Nằm mơ thấy cháy nổ cháy bếp ga, cháy điện là điện là điềm báo gì ? đây là một trong những thắc mắc về tâm linh mà nhiều người hay gặp phải. Không biết liệu giấc mơ đó dự báo điều gì? Bài viết sau đây sẽ nói về vấn đề này và giải mã giấc mơ cho từng
Nằm mơ thấy cháy nổ cháy bếp ga, cháy điện là điện là điềm báo gì ? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nằm mơ thấy cháy nổ cháy bếp ga, cháy điện là điện là điềm báo gì ? –

Những lời chúc mừng năm mới 2017 trên facebook

Hãy dành tặng bàn bè và người thân trên facebook những lời chúc mừng năm mới 2017 đầy vui vẻ, ngọt ngào hay ý nghĩa cho một năm Đinh Dậu 2017 đầy mong chờ
Những lời chúc mừng năm mới 2017 trên facebook

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những lời chúc mừng năm mới hay nhất, vui tính nhất

Năm mới đã tới, hai không mười bảy, là năm rất đẹp, rất nhiều điều may, chẳng phải quá hay, chúc mừng năm mới.

*

Chúc năm mới: 1 vợ, 2 con, nhà 3 tầng, xe 4 chỗ!

*

Năm mới: Ngàn lần như ý, Vạn lần như mơ, Triệu sự bất ngờ, Tỷ lần hạnh phúc.

*

Năm mới năm me. Gia đình mạnh khỏe. Mọi người tươi trẻ. Đi chơi vui vẻ.

*

Chúc mọi người khoẻ như hổ, sống lâu như rùa, mắt tinh như đại bàng, nhanh nhẹn như thỏ, tinh ranh như cáo, ăn nhiều như … heo, mau ăn chóng nhớn.

*

Thêm cái tuổi mới, học hành tấn tới , may mắn luôn bên , sự nghiệp ở trên , yêu thương gắn bó, tài lộc sẽ có, hát vang câu ca, “Chúc mừng năm mới 2017”.

*

Kính chúc mọi người một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc: Vui trong sức khoẻ, trẻ trong tâm hồn, khôn trong lý tưởng và trưởng thành mọi lĩnh vực.

*

Chúc mọi người năm mới, tiền vào bạc tỉ, tiền ra rỉ rỉ, miệng cười hi hi, vạn sự như ý, cung hỷ, cung hỷ!

*

Chúc các bạn có nhiều người để ý. Tỏ tình nhiều ý. Tiền nhiều nặng ký. Công việc vừa ý. Miệng cười hi hí. Sống lâu một tí.

*

Cung chúc tân niên, sức khỏe vô biên, thành công liên miên, hạnh phúc triền miên, túi luôn đầy tiền, sung sướng như tiên.

*

Chúc mọi người năm mới tiền vào cửa trước, tiền ra cửa sau hai cái gặp nhau chui vào két sắt, một phần mua đất, một phần mua vàng, vẫn còn dang dang ta đi du lịch.

*

Năm hết tết đến kính chúc mọi người thật nhiều sức khoẻ, miệng cười vui vẻ, tiền vào mạnh mẽ, cái gì cũng được suôn sẻ, để sống tiếp một cuộc đời thật là đẹp đẽ.

*

Sang năm mới chúc mọi người có một bầu trời sức khoẻ, một biển cả tình thương, một đại dương tình cảm, một điệp khúc tình yêu, một người yêu chung thủy, một tình bạn mênh mông, một gia đình thịnh vượng.

*

Đong cho đầy Hạnh Phúc. Gói cho trọn Lộc Tài. Giữ cho mãi An Khang. Thắt cho chặt Phú Quý. Cùng chúc nhau Như Ý. Hứng cho tròn An Khang. Chúc năm mới Bình An. Cả nhà đều Sung Túc.

*

Vui vẻ, lạc quan

Yêu đời phơi phới

Hạnh phúc sẽ tới

Niềm vui sẽ về

Chúc mừng năm mới 2017

*

Chúc mừng năm mới

Công danh sáng ngời

May mắn khắp nơi

Đổ về tơi tới.

*

Chúc mừng năm mới

Tâm trí thảnh thơi

Thỏa mái vui chơi

Đời luôn tươi mới

*

Chiềng làng chiềng xã, thượng hạ đông tây, xa gần đó đây, vểnh tai nghe chúc:

Tân niên sung túc, lắm phúc nhiều duyên, trong túi nhiều tiền, tâm hồn vui sướng.

*

Ôi cậu đây rồi

Tôi tìm cậu mãi

Một năm tài lộc

Một năm thành công

Hơn nhiều năm trước

Rước mọi điều may

Quả là quá hay

Hai không mười bảy.

*

Chúc năm mới:

Vừa đủ HẠNH PHÚC để giữ tâm hồn bạn được ngọt ngào.

Vừa đủ THỬ THÁCH để giữ bạn luôn kiên nhẫn.

Vừa đủ MUỘN PHIỀN để giữ bạn thật sự tỉnh táo.

Vừa đủ HY VỌNG để cho bạn được hạnh phúc.

Vừa đủ THẤT BẠI để bạn mãi khiêm nhường.

Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ bạn mãi nhiệt tâm.

Vừa đủ BẠN BÈ để bạn được an ủi.

Vừa đủ VẬT CHẤT để đáp ứng các nhu cầu vật chất của bạn.

Vừa đủ NHIỆT TÌNH để bạn cho đời thêm hân hoan.

Vừa đủ NIỀM TIN để xua tan những thất vọng.

*

Chào buổi tối, chào tạm biệt ngày cuối cùng của năm, chào tạm biệt những buồn vui lẫn lộn, chuẩn bị sẵn sàng để đón chào năm mới, đêm nay giao thừa lại về, năm mới lại đến, chúc cho ai đó hạnh phúc bên nữa yêu thương, chúc cho ai đó còn cô đơn sẽ tìm thấy một bờ vai chia sẽ,chúc cho ai đó tìm được nhau sau tháng năm dài xa cách, chúc cho năm mới tràn đầy niềm vui, hạnh phúc vừa đủ và bình yên thật nhiều. Happy New Year 2017!

Những lời chúc mừng năm mới cho người yêu

Nếu giọt nước là những nụ hôn, anh sẽ trao em biển cả. Nếu cây là những ôm ấp vuốt ve anh sẽ tặng em cả khu rừng. Nếu đêm dài là tình yêu anh gửi em cả trời sao lấp lánh. Nhưng anh không có quyền tặng em trái tim vì nơi đó đã thuộc về em. Chúc em năm mới tình yêu của anh.

*

Nếu như nói trái đất may mắn vì có được mặt trời, những con thuyền may mắn vì có đại dương để vùng vẫy, cỏ cây có mặt đất để sinh tồn… thì phải nói anh là một người cực kỳ may mắn vì đã có được em trong cuộc đời. Chúc em yêu của anh năm mới mọi sự tốt lành.

*

Trên Trái Đất có 9.000.000.000 người. Và anh không hiểu vì sao anh chỉ nhắn tin cho mỗi mình em. Có lẽ vì 8.999.999.999 người còn lại không thể thay thế được em. Happy new year my love!

*

Một ngày, khi Chúa trời mở cánh cửa thiên đường, Ngài nhìn anh và hỏi: “Điều ước hôm nay của con là gì?”.

Anh trả lời: “ Xin Người hãy bảo vệ người đang đọc tin nhắn này suốt năm mới đến, suốt cuộc đời này và Ngài hãy để con luôn được chăm sóc người con yêu này”.

*

Năm mới đến anh chúc em một năm mới ăn khỏe, ngủ khỏe và sức khỏe thì cực khỏe để yêu anh cũng cực cực khỏe.

Những lời chúc năm mới ý nghĩa cho bạn bè

Chúc năm mới có tuổi mới thành công luôn tới, sắc diện ai nhìn cũng chới với.

*

Chúc năm mới có nhà mua xe hơi, sắc đẹp tuyệt vời, tiền thi vô phơi phới, người yêu không cần tìm cũng tự mới tới.

*

Năm mới chúc bạn: 12 tháng phú quý, 365 ngày phát tài, 8.760 giờ sung túc, 525.600 phút thành công, 31.536.000 giây vạn sự như ý.

*

Năm mới càng sung sức, không bực tức, không đau nhức, gấp đôi lợi tức… tiền vào thơm phức.

*

Hôm nay có 3 người hỏi tôi về bạn và tôi đã giúp để họ tìm đến với bạn ngay. Tên của 3 người ấy là Hạnh Phúc, Thịnh Vượng và Tình Yêu”.

*

Năm mới rồi, em có mới không?

Bao buồn lo, mệt mỏi trong lòng

Đã thu xếp, hay còn để đó

Năm mới rồi, nhớ mới nghe em

 

Năm mới rồi, thắp sáng đèn tâm

Đứng lên thôi sau mỗi lỗi lầm

Đời vẫn đẹp hoa thơm vẫn nở

Trong tim yêu chưa vắng tiếng cười.

*

Nếu một bông hoa tượng trưng cho 1 lời chúc

Tôi sẽ tặng bạn cả một bó hoa

Happy new year – Chúc mừng năm mới 2017.

*

Năm mới năm mới: “Tránh xa điểm 1, dẹp điểm 2, bye điểm 3, xa điểm 4, trốn điểm 5, căm điểm 6, quý báu gì điểm 7, quyết nhảy qua điểm 8, bám chặt điểm 9, vịn chắc điểm 10”. Hehe, chúc mừng năm mới 2017.

*

Tặng bạn công thức nấu món đêm giao thừa:

Lấy toàn thể 12 tháng trong năm đem rửa sạch mùi cay đắng, ghen tị, thù oán… rồi để cho ráo nước.

Tuần tự cắt mỗi tháng ra 28, 30, hay 31 phần.

Trộn đều với: một chút tin yêu, một chút kiên nhẫn, một chút can đảm, một chút cố gắng, một chút hy vọng, một chút trung thành.

Ướp thêm gia vị: lạc quan, tự tin và hài hước.

Rồi đem ngâm một lát trong dung dịch “Những điều tâm niệm của mình”.

Vớt ra, xay nhỏ, đổ tất cả vào “nồi yêu thương” và nấu với lửa “hân hoan”.

Đem ra ăn với “nụ cười” trong chén “bao dung”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lời chúc mừng năm mới 2017 trên facebook

Ngủ mơ thấy gặp chuyện buồn, vui

Buồn, vui là hai trạng thái cảm xúc của con người, trong cuộc sống khi gặp chuyện không được như ý muốn, ta sẽ cảm thấy buồn bực, chán nản và ngược lại, khi
Ngủ mơ thấy gặp chuyện buồn, vui

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  mọi việc diễn ra suôn sẻ ta sẽ thấy cực kỳ vui vẻ, hạnh phúc.


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

 

Buon vui ve giac mo hinh anh
Ảnh minh họa

Nếu trong giấc mơ bạn thấy mình gặp phải chuyện buồn, có lúc buồn tới mức khóc nấc lên thì hãy vui lên, vì giấc mơ này không phải là điềm xấu đâu, điều này dự báo rằng bạn sắp gặp được một người tốt đấy.  

 

Tuy nhiên, nếu bạn lỡ mơ thấy mình thóat ra khỏi tâm trạng buồn chán thì nên cẩn thận nhé, điềm báo bạn sắp bị tiểu nhân hãm hại đấy.

 

Chiêm bao thấy chuyện vui tới nỗi cười nghiêng ngả thì lại là điềm báo bạn sắp gặp chuyện buồn đấy.

 

Nhưng đừng quá lo lắng nhé, không phải giấc mơ vui nào cũng là điềm báo chuyện không may đâu. Mơ thấy bản thân mình nói chuyện với một người khác mà cuộc trò chuyện diễn ra cực kỳ vui vẻ thì là điềm báo cực tốt đấy nhé. Bạn sẽ gặp thuận lợi trong công việc và sự nghiệp sẽ nhanh chóng chạm tới đỉnh thành công.

 

Mơ thấy trong nhà tràn ngập tiếng cười, các thành viên trò chuyện vui vẻ là tín hiệu tốt cho thấy bạn sắp phát tài, gia đình an khang, thịnh vượng, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

 

Tổng hợp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngủ mơ thấy gặp chuyện buồn, vui

Khách qua đường trong cuộc đời 12 chòm sao

Trong biển người mênh mông, chúng ta có duyên gặp gỡ để rồi lại lướt qua nhau như hai người xa lạ. Khách qua đường trong cuộc đời của 12 chòm sao là ai đây?
Khách qua đường trong cuộc đời 12 chòm sao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong biển người mênh mông, chúng ta có duyên gặp gỡ để rồi lại lướt qua nhau như hai người xa lạ. Khách qua đường trong cuộc đời của 12 sao là ai đây?


► Xem thêm: Tử vi 12 cung hoàng đạo và Horoscope được cập nhật mới nhất

khach
 
Bạch Dương - Ma Kết
 
Bạch Dương bị Ma Kết cuốn hút, nhưng nói tới chuyện kết hôn là lập tức Kết Kết tuyên bố chờ sự nghiệp thành công. Mà tham vọng của người ấy quá lớn khiến Bạch Dương chẳng đủ kiên nhẫn để đợi chờ.
 
Kim Ngưu - Thủy Bình
 
Thủy Bình chỉ là khách qua đường trong cuộc đời của Kim Ngưu. Giữa một người quá nguyên tắc và một người vô nguyên tắc, liệu có thể có kết quả gì đây?
 
Cự Giải - Nhân Mã

Cự Giải muốn một mái ấm, Nhân Mã không thể cho, Cự Giải muốn sự an toàn, Nhân Mã không thể hồi đáp. Đôi bên sẽ sớm tự rời xa nhau mà thôi.
 
Thiên Bình - Song Tử
 
Song Tử rốt cuộc không phải “chân mệnh thiên tử” của Thiên Bình, hai người khác xa nhau về suy nghĩ, chỉ gặp nhau một lần rồi mãi mãi chia ly.
 
Thiên Yết - Xử Nữ
 
Chòm sao tỉ mỉ như Xử Nữ quá quan tâm, quá săn sóc khiến Thiên Yết cảm thấy bức bối không chịu nổi. Sự lạnh lùng, bí hiểm không thể phá vỡ của Thiên Yết lại làm trái tim Xử Nữ tổn thương.
 
Song Ngư - Sư Tử
 
Cuộc đời Song Ngư vốn tìm người làm chỗ dựa, nhưng chỗ dựa Sư Tử quả thật không thể tin dùng. Vừa kiêu ngạo, vừa gia trưởng, không thích hợp với tính cách mềm mỏng, ôn hòa của chú cá nhỏ.
Ngọc Bích (Theo Sohu)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khách qua đường trong cuộc đời 12 chòm sao

Chọn nhà ở thích hợp với mình xét từ góc độ phong thủy –

Thường có câu: "nhất mệnh, nhị vận, tam phong thuỷ". Mệnh tốt cố nhiên là tốt, mệnh không tốt có thể đợi vận tốt; nếu như không có vận tốt đến thì chỉ còn kỳ vọng vào sự trợ giúp của phong thủy. Phong thuỷ tốt là có sự phối hợp hướng ngũ hành và hướn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thường có câu: “nhất mệnh, nhị vận, tam phong thuỷ”. Mệnh tốt cố nhiên là tốt, mệnh không tốt có thể đợi vận tốt; nếu như không có vận tốt đến thì chỉ còn kỳ vọng vào sự trợ giúp của phong thủy. Phong thuỷ tốt là có sự phối hợp hướng ngũ hành và hướng toạ tốt, nhưng không phải là mỗi hướng ngủ hành đều thích hợp với một người nào đó, muốn xem hướng này có hợp hay không phải phối hợp bát tự mệnh cách của mỗi người để đoán định xem nhà có hợp hay không. Tất nhiên có thể tìm đến một thầy tướng mệnh phong thuỷ nhiều kinh nghiệm nào đó để có cho mình một sự suy đoán tốt nhất, nhưng có những độc giả không thể chỉ ra được là mệnh của mình lợi ở ngủ hành gì, lợi ở hướng nào. Dưới dây là những nguyên tắc cơ bản có thể tham khảo vận dụng vào việc phán đoán:

cua-so-2

(1)  Người sinh vào mùa xuân, mộc thái vượng, lợi ở hoả, kim. Nên chọn khu Nam, khu Tây Nam. Hướng nhà nên toạ Bắc hướng về Nam, hoặc toạ Đông Bắc hướng mặt về Tây Nam.

(2)  Người sinh vào mùa hè, hoả thái vượng, lợi ở Kim, Thuỷ. Nên chọn ở khu Tây Bắc, khu Bắc. Hướng nhà nên toạ Đông Nam, hướng mặt về Tây Bắc và toạ Nam hướng về Bắc.

(3)  Người sinh vào mùa thu, kim thái vượng, lợi ở hoả. Nên chọn ở khu Nam. Hướng nhà nên toạ Bắc hướng về Nam.

(4) Người sinh vào mùa đông, thuỷ thái vương, lợi ở mộc, hoả. Nên chọn ở khu Đông Nam, khu Nam. Hướng nhà thì nên toạ Tây Bắc hướng về Đông Nam và toạ Bắc hướng về Nam.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn nhà ở thích hợp với mình xét từ góc độ phong thủy –

Những điều cấm kỵ trong bày đặt chậu hoa trong phòng –

Với vài chậu cây cảnh tươi tốt, ngôi nhà của bạn lúc nào cũng ngập tràn một màu xanh đầy sức sổng. Nhưng “vật cực tất phản”, dù là việc gì cũng vậy, nếu có thể thì nên dừng lại đúng lúc. Bày cây cảnh trước hết phải quan tâm đến diện tích ngôi nhà. Xé

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Với vài chậu cây cảnh tươi tốt, ngôi nhà của bạn lúc nào cũng ngập tràn một màu xanh đầy sức sổng. Nhưng “vật cực tất phản”, dù là việc gì cũng vậy, nếu có thể thì nên dừng lại đúng lúc. Bày cây cảnh trước hết phải quan tâm đến diện tích ngôi nhà.

tao_huong_thom_cho_nha_1

Xét từ góc độ phong thủy học, không nên bày quá nhiều chậu cây cảnh, hơn thế phải bày sao cho phù hợp với ngũ hành của chủ nhà, như vậy mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn. Chẳng hạn chủ nhà sinh vào mùa hạ và mang mệnh hoả, trong phòng chỉ nên bày bể cá hoặc bồn nước phun, chứ không nên bày cây cảnh. Nếu ngũ hành của chủ nhà thiếu mộc thì có thể bày cây cảnh, nhưng cũng không nên bày quá nhiều. Ngoài ra, các cây cảnh này cũng cần phải được lựa chọn kĩ càng, lý tưởng nhất là loại cây lá to như Vạn liên thanh hay cây thiết. Các loại hoa khô hay cây khô không thích hợp để làm vật trang trí trong nhà.

Cây phải khỏe mạnh, dáng cây đẹp, không có hiện tượng khô héo. Hành mộc tính dương, là thứ duy nhất có sức sống trong ngũ hành, có thể sinh trưởng và sinh sôi nảy nở. Cấm kị sử dụng hoa khô, vì hoa khô sẽ hút hết âm khí, trong phong thủy điều này vô cùng không tốt.

Hướng chính Đông là hướng đại diện cho sức khỏe con người. Khi xây nhà hoặc phòng ở cần chú ý đến bố cục phong thủy của hướng này mới có thể bảo vệ cho cả gia đình. Vì hướng chính Đông thuộc mệnh mộc nên cách tốt nhất để xúc tác vào hướng này là đặt những chậu cây tươi tốt khỏe mạnh ở đúng vị trí của hướng ấy. Kích thước cây phải có một tỉ lệ phù hợp với diện tích nhà, có thể dùng loại cây lá nhỏ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều cấm kỵ trong bày đặt chậu hoa trong phòng –

Lý giải lá số: giải mã bí ẩn cuộc đời

Một bài viết rất hay về phương pháp giải đoán lá số tử vi của tác giả Lâm Canh Phàm. Mời các bạn cùng đọc tham khảo
Lý giải lá số: giải mã bí ẩn cuộc đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong Tử vi đẩu số khi các lá số được sắp xếp, điều quan trọng nhất là xem cát hung của cung Mệnh, xem có được sinh vượng (cung vị của Trường sinh, Đế vượng), Mộ khố (cung Sửu là Kim khố, cung Mùi là Mộc khố, cung Thìn là Thủy khố, cung Tuất là Hỏa khố), sao Lộc tồn và sao Thiên mã rơi vào Không vong hay không, trong đó lấy sao Địa không, sao Tiệt lộ Không vong là đáng ngại nhất, Tuần không xếp ở vị trí thứ hai. Sao Mệnh chủ phạm Không vong là bất lợi nhất, sau đó sao Thân chủ phạm Không vong xếp ở vi trí tiếp theo. Sao Lộc tồn phạm Không vong, thì phát cũng không liền; sao Thiên mã phạm Không vong, thì cả đời bôn ba, mà tốn công vô ích. Nếu sao Lộc, Mã, Mệnh chủ và Thân chủ phạm Không vong, nhất định phải dựa vào thuộc tính Ngũ hành của cung vị của sao đó để phán đoán cát hung. "Kim không sẽ kêu", "Hoả không sẽ phát", đại hạn và tiểu hạn gặp phải mà được phúc. "Thủy không thì trôi nổi, Mộc không thì gãy, Thổ không thì sụt lún".

Tiếp đến là xem nạp âm mệnh chủ của Ngũ hành cục của bản mệnh thuộc sao nào. Mệnh Thủy nhị cục, lấy sao Phá quân là nạp âm mệnh chủ; mệnh Mộc tam cục, lấy sao Tham lang là nạp âm mệnh chủ; mệnh Kim tứ cục, lấy sao Vũ khúc làm nạp âm mệnh chủ; mệnh Thổ ngũ cục thì lấy sao Cự môn làm nạp âm mệnh chủ; mệnh Hỏa lục cục thì lấy sao Liêm trinh là nạp âm mệnh chủ. Lấy hung cát mà nạp âm mệnh chủ rơi vào vị trí của cung để phân biệt họa phúc, cát hung. Nếu cung vị đó là sinh vượng, hoặc tại cung vị của quý nhân (vị trí cung của sao Thái dương, Thiên khôi, Thiên việt) và đồng cung với Lộc tồn là cát lợi. Nếu cùng cung với sao Thất sát, Kình dương là mệnh hạ đẳng.

Sau đó, lấy sao Mệnh chủ làm chủ, sao Thân chủ làm phụ tá, dựa vào hung cát mà nó rơi vào vị trí của cung để phán đoán phú, quý, hèn, sang. Tiếp theo, xem vận cát hung của sao Tử vi và Thiên tướng rơi vào vị trí của cung. Nếu sao Tử vi gặp hung, sát tinh thì phải xem hung cát mà Linh tinh, sao Vũ khúc sở tại vị trí của cung, qua đó mới có thể phán đoán là mệnh phú quý hay không. Người thuộc mệnh quý, ắt phải xem mức độ miếu, vượng của sao Thái dương; người thuộc mệnh phú, ắt phải xem độ sáng tối của sao Thái âm. Nếu như sao Thái dương tọa mệnh cung Dậu, Tuất, Hợi, Thái âm ở Thìn, Tỵ, Ngọ, mệnh này không thể giữ được những gì đã có, phải rời xa quê hương xuất ngoại mới có cơ hội phát triển, cải biến vận mệnh. Người thuộc mệnh nghèo hèn cũng phải xem cát hung của cung Mệnh.

Trong lá số, nếu cung Mệnh tốt, gặp lưu niên, đại tiểu hạn tốt, không gặp bất cứ trở ngại nào, tự nhiên sẽ phát vượng, cả đời sung túc. Đó là mệnh phú quý.

Trong lá số, nếu cung Mệnh kiên cố, bền vững làm cho vận mệnh không được như ý, nhưng vẫn được bình an vô sự là mệnh bình ổn.

Trong lá số, nếu cung Mệnh không gặp cát tinh, không thể kiên cố, lại gặp ác tinh, sát tinh phần lớn đều do xuất thân nghèo hèn. Nếu có thế phát tài bình ổn, cũng là do gặp 10 năm đại hạn tốt, 10 năm sau lại dần dần lụi bại, tài tán nhà tan, gặp phải việc không như ý, là mệnh nghèo khổ, bần cùng.

Nếu con người từ khi sinh ra đã giàu có mà không bị phá hoại, hưởng phúc đến già, đây ắt là do mệnh, hạn tương hợp, từng bước tiếp cận, nâng đỡ nhau, sao nhập cung miếu 5, 10 năm cũng không thất vận. Nếu người sinh ra đã được vui vẻ, hưởng phúc, vợ vinh con quý, đến trung niên lại gặp tai ương, hao người tốn của, hoặc thương vong, nhất định do trụ không vững, hoặc xuất hạn giao hạn, từ cát chuyển thành hung, trung niên phạm sát tinh chiếu mệnh hạn, hoặc sao rơi vào cung lạc hãm, lại thêm Thái tuế gặp hung, vận hạn đến đó, không nghèo khổ thì cũng chết yểu. Nếu một người sinh ra đã nghèo hèn, ban đầu rất gian khổ, đến trung niên trở nên vượng phát, tài lộc như ý, uy quyền xuất chúng, đều do sinh tại trung cục, các sao vận hạn trung niên đều mạnh, lại thuộc miếu vượng, là mệnh trước khổ mà sau sướng.

Vận mệnh phú quý của con người đã định sẵn trong bản mệnh mỗi con người, làm sao có thể phân biệt được sinh tử? Với vấn đề này, trước tiên phải xem đại hạn và xem tiểu hạn. Đại hạn chủ về phúc họa trong vòng 10 năm, tiểu hạn chủ về thăng trầm trong vòng 1 năm. Đại vận suy, thì 10 năm sẽ rơi vào lận đận khốn khó, cho dù tiểu hạn được vượng cũng chỉ hưởng phúc trong 1 năm.

Đại hạn đã suy, tiểu hạn cũng không có tác dụng gì. Đại hạn tốt tiểu hạn xấu không quá đáng lo ngại. Vì thế, cho dù lưu niên không lợi nếu đại hạn vững vàng, kiên cố, tai họa sẽ giảm nhẹ đi. Nếu luận sinh tử trước hết xem cung Mệnh có sát tinh không. Nếu Thái tuế lưu sát giao hội đối xung vị trí của cung tiểu, đại hạn, mà sao Tử vi, sao Lộc tồn đều là lạc hãm, lại chịu sự kiểm soát của Không vong, lúc này nếu 3 sao Tử vi, Thiên tướng ấn tinh, Lộc tồn tài tinh tam hợp hội chiếu, có thể giải trừ được tai ách, tuy bại mà không nguy; nếu không, sẽ gặp tai họa có liên quan đến tính mạng.

Cách cục của lá số vừa xác định, có thể dựa vào Chính tinh của cung Mệnh, đế đoán định tính cách của bản mệnh. Nếu cung Mệnh, một tinh cấp, một tinh chậm, lại có thể phán đoán được tính cách bất thường của họ, thiện ác khó phân định, ba phải, thiếu lập trường quan điểm. Nếu cát tinh nhập cung Mệnh, thì chủ nhân có tính cách nhân từ, phúc đức, là cách cục thượng hảo. Nếu ác tinh, sát tinh nhập cung Mệnh, thì bản tính ác độc ngang ngược. Ngoài ra, nếu có thể tham khảo quan hệ sinh khắc của Ngũ hành, thì suy đoán vận mệnh càng thêm tỉ mỉ, chính xác.

Khi sử dụng Ngũ hành phải xem xét mối quan hệ sinh khắc giữa đôi bên, lại xem chúng rơi vào cung nào. Nếu ngũ hành của sao Thất sát thuộc Hỏa, nếu rơi vào cung Dần, Dần thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa. Ngũ hành của sao Vũ khúc thuộc Kim, nếu đồng cung với sao Thất sát, Hỏa của sao Thất sát khắc chế Kim của sao Vũ khúc, sao Vũ khúc không thể phát huy được vai trò. Nếu Kim nhập Hỏa, là chịu hạn chế; nếu Kim nhập Thổ là đắc địa.

Bất luận con người có vận mệnh phú, quý, sang, hèn, nếu mệnh rơi vào cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi trong lá số, chủ về sự vất vả. Nếu lại giao hội các sao động như Thiên mã, Thiên cơ, Thái âm, Thái dương..., thì đặc tính của mệnh vất vả, gian truân càng nổi bật. Nếu mệnh rơi vào cung Tý, Ngọ Mão, Dậu, chủ về bất lợi, hiếu sắc, thích giao du, đàng điếm, chuyện tình duyên cả đời lận đận, lại gặp các sao đào hoa như: Tham lang, Liêm trinh, Thiên diêu, Hàm trì, Hồng loan, thì đặc tính đào hoa càng nổi trội. Nếu mệnh rơi vào cung Thìn, Tuất, Mùi, Sửu thì chủ về hình (hình khắc), cá tính bảo thủ, cô độc, rời xa quê hương, nếu lại gặp sao Phá quân, Cự môn, thì tính cách cô độc. Do cung Thìn và cung Tuất là Thiên la, Địa võng, ngưòi thuộc cung này nhất định muốn phá vỡ khuôn khổ và nguyên tắc, vì thế đặc tính tha hương càng thể hiện rõ.

Ngoài ra, 12 cung vị trong lá số, đều có thuộc tính ngũ hành riêng. 12 Địa chi của năm sinh cũng có những hợp kỵ không giống nhau. Vì thế, vị trí của cung Mệnh, Thái tuế, lưu niên và đại, tiểu hạn mà chúng tiến đến gần, hung cát họa phúc của chúng có liên quan đến năm sinh của con người.

(Tử vi đẩu số nhập môn - Lâm Canh Phàm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lý giải lá số: giải mã bí ẩn cuộc đời

Sao Thiên Cơ trong tử vi - hình tượng Khương Tử Nha

Sao Thiên Cơ trong tử vi đẩu số lấy hình tượng từ Khương Tử Nha - nhà quân sự nổi tiếng và là công thần bậc nhất góp phần sáng lập nhà Tây Chu 800 năm lịch sử

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khương Tử Nha vốn là đệ tử tài giỏi của Nguyên Thuỷ thiên tôn trên núi Côn Lôn, nhận mệnh thầy xuống núi giúp đỡ Tây Bá hầu Cơ Xương tiêu diệt Trụ sáng lập triều Tây Chu. Nhưng do thấy thời cơ chưa chín muồi, nên ông tạm thời đến ẩn cư bên khe Phàn Khê thuộc Tây Kỳ, chờ đợi cơ hội. Ông ngày ngày đọc kinh "Hoàng Đình", ngộ đạo tu chân.

Lúc nhàn rỗi thường ra ngồi buông câu bên bờ sông Vị Thuỷ. Một hôm, ông thầm nghĩ: "Thầy mệnh cho ta xuống núi, tính đến nay đã gần tám năm rồi, thực đúng với lời của thầy: Hai bốn năm đầu vận bĩ cực; Tám năm sau mới gặp thời cơ", trong lòng cảm thấy buồn rầu.

sao thiên cơ khương tử nha

Lúc đó, chợt có một người tiều phu tên là Vũ Cát đi đến, thấy Khương Tử Nha nhấc cần câu lên, đầu dây câu chỉ có một chiếc kim thẳng, lại không mắc mồi câu, thì cười mà nói với ông rằng: "Người có chí không kể tuổi tác, làm người mà không biết mưu tính, sống đến trăm tuổi cũng uổng phí. Ông câu cá mà không dùng lưỡi câu, cũng không mắc mồi có câu đến cả trăm năm cũng chẳng được nổi con cá nhép"

Khương Tử Nha bèn nói: "Già này tuy buông câu, nhưng chí không ở cá, chẳng qua là ngồi đây chờ lúc đường mây rộng mở, thoả chí bình sinh mà thôi!". Rồi ngâm rằng:

Ninh hướng trực trung thủ
Bất vi cẩm lân thiết
Bất hướng khúc trung cầu
Chỉ điếu vương dữ hầu

Nghĩa là

Thà rằng tìm bằng thẳng
Không phải là vì cá
Không muốn lấy bằng cong
Chỉ câu bặc hầu vương

Tây Bá hầu Cơ Xương sau khi từ Dữu Lý trở về Tây Kỳ, dốc lòng vào việc triều chính, khiến cho quốc thái dân an, nhân dân an cư lạc nghiệp, ngay cả dần từ thành Triều Ca tỵ nạn đến Tây Kỳ cũng được đối đãi tử tế, chăm lo chu đáo. Một hôm, Cơ Xương đang nghỉ ngơi dưới Linh Đài, qua canh ba, chợt mơ thấy một con hổ trắng có cánh, chồm lên người mình, bèn giật mình tỉnh dậy, sợ đến toát mồ hôi lạnh. Hôm sau, ông kể lại giấc mơ cho đại thần Tán Nghi Sinh (sao Tả Phụ) nghe, Tán Nghi Sinh bèn nói: "Chúc mừng hầu gia, đó chính là điềm tốt, mách bảo rằng hầu gia sắp gặp được nhân tài làm rường cột, để kiến lập triều Chu".

Cùng ngày hôm đó, Tán Nghi Sinh qua chợ, gặp được tiều phu Vũ Cát. Vũ Cát bèn thuật lại câu chuyện về ông già kỳ lạ bên sông Vị Thuỷ cho ông nghe. Tán Nghi Sinh suy ngẫm hồi lâu, ngờ rằng đây chính là nhân tài mà Tầy Bá hầu đang muốn tìm. Ngày hôm sau, Cơ Xương dẫn theo các quan tả hữu xuất du, nhân thể tìm kiếm người hiền, đi về hướng Phàn Khê. Dọc đường, họ gặp một người tiều phu đang quảy gánh củi, vừa đi vừa hát rằng:

Xuân thuỷ du du xuân thảo kỳ
Thế nhân bất thức cao hiền chí
Kim lân vị ngộ ẩn Phàn Khê
Chỉ tác khê biên lão điếu ky

Nghĩa là:

Nước xuân dìu dặt cỏ xuân lạ
Người đời không biết chí cả cao
Lân vàng chưa gặp ẩn Phàn Khê
Làm người câu cá ở bên khe

Cơ Xương nghe lời ca, đột nhiên tỉnh ngộ mà thốt rằng: "Cao nhân nhất định ở quanh đây". Thế nhưng tìm kiếm suốt ba ngày vẫn không thấy bóng dáng hiền sĩ. Đến ngày thứ tư Cơ Xương đem theo lễ vật, dẫn đầu bá quan, điều động đội binh mã mở đường, vua tôi rầm rộ tiến về Phàn Khê. Đến nơi, Cơ Xương một mình lặn lội vào trong rừng và bắt gặp Khương Tử Nha đang ngồi buông câu bên suối. Vốn dĩ Khương Tử Nha đã tiên đoán được rằng hôm nay Cơ Xương sẽ đến, nên làm như vô tình mà ca rằng:

Tây phong khởi hề bạch vân phi
Ngũ phượng minh hề chân chủ hiện
Tuế dĩ mộ hề tương yên vi
Thuỳ điếu ty hề ngã vi

Nghĩa là:

Gió tây nổi chừ mây trắng bay
Năm phượng hót chừ vua sáng hiện
Tuổi đã cao chừ làm chi đây?
Buông câu chừ hiểu ta ít thay!

Và vua sáng tôi hiền đã gặp nhau trong tình cảnh đó. Khương Tử Nha lúc này đã tám mươi tuổi, được phong làm Thừa tướng. Nhưng Chu Văn Vương qua đời khi sự nghiệp còn dang dở, trước lúc lâm chung, đã truyền ngôi lại cho Cơ Phát, và uỷ nhiệm Khương Tử Nha làm tướng phụ phò tá Chu Vũ Vương.

Tương truyền đài Phong Thần tại Tây Kỳ là do Khương Tử Nha vâng mệnh Nguyên Thuỷ thiên tôn kiến lập nên, mục đích chủ yếu là để phong thần cho những người xả thân vì nước hoặc tử chiến trong giai đoạn An Trụ sắp diệt vong và trong quá trình Vũ Vương phạt Trụ, nhằm an ủi người đã khuất, khiến vong hồn của họ có nơi nương tựa. Khi sự nghiệp diệt Trụ của Vũ Vương đã thành công, chính quyền mới đã được kiến lập, mọi người đều đã được thụ phong tại đài Phong Thần, chỉ còn Khương Tử Nha vẫn sống thọ, chưa đến lúc về trời. Để hoàn thành nhiệm vụ phong thần, ông đã tự phong mình là chủ nhân của sao Thiên Cơ.

Có thể coi Khương Tử Nha là một khai quốc công thần hàng đầu của triều Chu. Ông một đời coi việc hưng vong của quốc gia là trách nhiệm của mình, mà không màng đến chuyện sống chết của bản thân, dùng trí tuệ trác việt và mưu lược cao thâm của mình để hết lòng phò tá Vũ Vương hoàn thành đại nghiệp diệt Trụ. Ông còn sở hữu nhiều pháp thuật cao thâm (do là học trò của Nguyên Thuỷ thiên tôn) và sách lược cai trị, nên đã giúp ích rất nhiều cho chính quyền nhà Chu còn non trẻ. 

Tài văn thao vũ lược cùng sự nghiêp huy hoàng của ông cho đến nay vẫn được truyền tụng rộng rãi. Bởi vậy không hề thái quá khi ông tự phong cho mình làm chủ quản sao Thien Cơ, chủ về "thiện lệnh" (gồm cả văn đức, vũ đức), trở thành nhân vật đại diện cho trí tuệ và "thiện thần" của cung huynh đệ trong Tử Vi.

Khương Tử Nha qua sử sách

Khương Tử Nha là một nhân vật truyền kỳ rất đỗi quen thuộc, là người thông minh xuất chúng, rất phù hợp với tính cách của sao Thiên Cơ cai quản "thiện lệnh" trong Tử Vi Đẩu số. Ông là người trù bị những mưu lược quan trọng, là thống soái quân sự tối cao trong sự nghiệp diệt Trụ của Chu Vũ Vương, là khai quốc công thần của triều Chu, đồng thời lầ ông tổ của nước Tề, người khai sáng nên văn hoá Tề. Khương Tử Nha còn là một nhà thao lược, nhà quân sự và chính trị gia kiệt xuất dể lại nhiều ảnh huởng sâu dậm trong lịch sử Trung Quốc cổ đại. 

Khương Tử Nha vốn họ Lã, tên Vọng, tự Tử Nha, hiệu Phi Hùng, còn dược gọi là Lã Thượng. Thư tịch các đời đều xác nhận địa vị quan trọng của ông trong lịch sử. Các học phái Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Binh gia, Tung hoành gia đều truy nhận ông là nhân vật trong học phái của mình, nên ông được tôn là "Bách gia tông sư".


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thiên Cơ trong tử vi - hình tượng Khương Tử Nha

Doanh nhân tuổi Tỵ chọn đối tác

Đối với doanh nhân tuổi Ất Tỵ (1965), cả nam giới và nữ giới nên hợp tác với người tuổi Canh Tuất (1970), tuổi Quý Sửu (1973).
Doanh nhân tuổi Tỵ chọn đối tác

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Đối với doanh nhân tuổi Ất Tỵ (1965), cả nam giới và nữ giới nên hợp tác với người tuổi Canh Tuất (1970), tuổi Quý Sửu (1973).

Đối với doanh nhân tuổi Đinh Tỵ (1977), nam giới và nữ giới nên hợp tác với người tuổi Bính Thìn (1976), Canh Thân (1980), Nhâm Tuất (1982).

Doanh nhân tuổi Kỷ Tỵ (1987), nam giới và nữ giới nên hợp tác với người tuổi Kỷ Tỵ, Canh Ngọ (1930, 1990), tuổi Nhâm Thân (1932, 1992).

Doanh nhân tuổi Tân Tỵ (1941, 2001), nam giới nên hợp tác với người cùng tuổi Tân Tỵ, tuổi Nhâm Ngọ (1942, 2002), tuổi Mậu Tý (1948), tuổi Đinh Hợi (1947). Nữ giới nên hợp tác với người cùng tuổi Tân Tỵ, tuổi Ất Dậu (1945, 2005), tuổi Nhâm Ngọ (1942).

Doanh nhân tuổi Quý Tỵ (1953), nam giới và nữ giới nên hợp tác với người cùng tuổi Quý Tỵ, tuổi Ất Mùi (1955), tuổi Đinh Dậu (1957).

(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Doanh nhân tuổi Tỵ chọn đối tác

Hình dạng bàn tay nói lên điều gì

Với mỗi hình dạng bàn tay khác nhau lại thể hiện tính cách, tình cảm cũng như sức khỏe không giống nhau của mỗi người.
Hình dạng bàn tay nói lên điều gì

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


 

Căn cứ vào nghiên cứu của các chuyên gia tướng học phương Đông, tướng tay con người có một số hình dạng chủ yếu sau:

Hinh dang ban tay noi len dieu gi hinh anh
Ảnh minh họa

1. Dạng tay lao động

 
Đặc trưng của bàn tay này là các ngón tay khá ngắn và thô cứng. Phần lớn người có tướng bàn tay này thuộc tầng lớp lao động, không giỏi về tư duy trí não.
 
2. Dạng tay có nghị lực
 
Hình dáng bàn tay khá tròn, các ngón tay ngắn, ngón giữa chắc khỏe. Đây là tướng bàn tay của người có đầu óc suy nghĩ thực tế, làm việc chuẩn xác, tuân thủ giờ giấc theo đúng quy định. Hơn thế, người này giàu nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Dù trải qua bao khó khăn sóng gió của cuộc đời, họ vẫn tiếp tục sống một cách vui vẻ, hòa đồng với mọi người xung quanh.
 
3. Dạng tay triết lí

Đặc trưng của tướng tay này là bàn tay to, đặc biệt là ngón cái to hơn hẳn so với các ngón tay còn lại. Ngoài ra, các đốt xương ở ngón tay đều nhô ra. Người có tướng tay này thường sở hữu khả năng quyết đoán và độc lập cao. Họ giỏi về tư duy logic, ăn nói triết lí, có sức thuyết phục người khác. Đồng thời, đây là người nghiêm khắc với bản thân, sống thực tế và luôn biết cách hưởng thụ cuộc sống.
 
4. Dạng tay miệt mài
 
Tướng tay này có đặc điểm là bàn tay và ngón tay mỏng dẹt, có hình dạng như cái xẻng. Những người có kiểu tay này thường lạc quan, tự tin, thông minh và nỗ lực hết mình trước hoàn cảnh khó khăn. Họ chăm chỉ làm việc bất kể thời gian cũng như sức khỏe, miễn sao có thể đạt được mục tiêu đã đề ra. Người có tướng tay này phần lớn hưởng cuộc sống an nhàn khi về trung vận, do đã tích lũy được không ít tiền bạc từ khi còn trẻ.
 
5. Dạng tay nghệ thuật
 
Đặc điểm dễ nhận biết của tướng tay này là ngón tay dài, mảnh và mềm mại. Người có kiểu tay này rất giỏi về tư duy hình tượng và nghệ thuật. Theo đó, người này thích hợp làm những công việc liên quan đến nghệ thuật như ca hát, hội họa... Trong tình yêu, người này tôn thờ chủ nghĩa lãng mạn, hay mơ mộng về những thúc có hậu đẹp như trong chuyện cổ tích.
 
Theo Tìm hiểu tính cách con người qua bàn tay  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình dạng bàn tay nói lên điều gì

Ông Bà Tổ Tiên

Giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Việt liên hệ với việc truyền giáo Lm Vũ Kim Chính, SJ Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan
Ông Bà Tổ Tiên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðề cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của nfười Việt cũng thế, là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở đây khi chọn đề tài "Ông bà tổ tiên" liên hệ với việc truyền giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới vấn đề "lễ nghi" đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình. Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính ông bà tổ tiên?

1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên

Tuy ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau thảo luận những tranh chấp về "lễ nghi" thì những tài liệu của các quốc gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.

Việt ngữ dùng danh từ "tôn giáo" để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ "tôn" cũng còn một âm nữa là "Tông" nguyên ủy chỉ ông "thứ tổ" (ông tổ thứ hai), rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo phái, học phái. Như vậy, "tôn giáo" theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na theo lối bình dân như:

"ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn"
, hoặc:

"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con"
.

Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:

"Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân"
.

hay ở đoạn khác:

"Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời"
.

Như vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn kính "Thần Thánh" theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã chép: "Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế. Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì "vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ" (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như Kinh Thi chép: "Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức" (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, mới có đức tốt).

"Ông Trời" là nguyên ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi vui khi buồn đều có thể gọi "Trời ơi" được, nhưng họ không được phép trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: "Việc thờ Trời, thờ quỉ thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả, và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở Á đông". Dù được trực tiếp tế tự "Trời" hay chỉ gián tiếp qua Thần Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới "Thiên nhân tương dữ". Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý, để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với Thiên đạo. Nói cách khác: "Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả, cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ".

Nho gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm và dưỡng tính của bậc quân tử". "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (Luận Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ lòng chân thành: "tế thần như thần tại" (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch: tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời "kính quỉ thần nhi viễn chi" (Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ sự" (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? "là Cung, khoan, tín, mẫn, huệ". Khổng tử giải thích thêm: "Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người" (Luận Ngữ: Dương Hóa, XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này, mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng riêng, một người coi trọng "Nhân" là bảo tồn tính bản thiện của con người, một người trọng "Lễ" để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.

Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: "sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận Ngữ: Vi chính II). Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: "Thận chung, truy viễn, đức qui hậu hĩ" (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).

Tư tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số quần chúng Việt Nam được coi là theo "đạo Ông Bà" thường có phong tục làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên, như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con... hay nhiều khi chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại. Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một... Ngoài những biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,... Tất cả những kính cáo, trình khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: "Con cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng".

Nói tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương, nến sáp... Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có bàn thờ riêng thờ ông "Thủy Tổ" của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông, biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn thờ Thủy Tổ.

Quần chúng tuy một đàng muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân biệt rõ ràng như những nho sĩ "vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi", nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá. Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh... để bảo vệ che chở mình hay giúp phát tài,... Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần "lễ nghi" tôn kính ông bà tổ tiên.

2. Tôn Kính Tổ Tiên Liên Hệ Tới Việc Truyền Giáo:

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa bắt đầu bằng những bước dò dẫm, va chạm những khó khăn về phiên dịch, vì hai loại ngôn ngữ biểu tả hai văn hóa quá khác nhau, nên không biết phải làm sao mới có thể đạt tới việc "bản vị hóa" chân chính được. Thoạt đầu những nhà truyền giáo tiên khởi dùng ngôn ngữ địa phương để phiên âm những từ căn bản của Kitô giáo, như thánh Phanxicô Xavier đã Nhật âm hóa tiếng Latinh: Deus Pater, Deus Filius, Deus Spiritus Sanctus là: Deusu Patere, Deusu Hiiruo va Deusu Spiritusu Santa (có khoảng 50 ngữ vựng căn bản như thế). Nhưng cách phiên âm này đã gặp những khó khăn lớn, vì hoặc là âm đó có một nghĩa khác trong ngôn ngữ là "Deusu" làm trò cười cho nhiều Phật đồ Nhật, vì họ liên tưởng tới một âm tương tự là "daiuso", có nghĩa là "Nói dối đại tài". Thấy cách phiên âm này không ổn, nên các nhà truyền giáo kế vị các bậc tiên khởi này như A. Valignano, M. Ricci, A. Schall, A. de Rhodes v.v... đã học hỏi ngôn ngữ và tư tưởng địa phương để Kitô giáo được thích ứng với môi trường mới. Trong lúc phiên dịch và thích ứng này đã xảy ra cuộc tranh chấp về "lễ nghi". Cuộc tranh chấp này mặc dù đầu tiên là bàn về hai phương pháp truyền giáo được hai phe (một bên là dòng Tên, một bên là dòng Ðaminh, dòng Phanxicô và hội Thừa Sai Balê) chủ trương, nhưng dần dần đã vượt qua phạm vi thuần túy truyền giáo và tôn giáo trở thành một tranh chấp bị những ảnh hưởng chính trị, quyền bính chi phối, nên đã trở thành một tấm bi kịch của lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông. Ở đây chúng ta chỉ có thể chú tâm tới những dự kiện chính yếu mà thôi.

Trước tiên chúng ta bàn về vấn đề phiên dịch. Sau khi thảo luận những khả thể dịch chữ, "Deus", các nhà truyền giáo đã đồng ý dùng chữ "Thiên Chúa". Nhưng dùng cách thế nào để giải thích chữ "Thiên Chúa" thì hai phe có những lập trường khác nhau. Một bên cho rằng dùng chữ "Thiên Chúa" để chỉ Deus thì phải hiểu hoàn toàn khác, hoàn toàn độc lập, không thể dùng một từ ngữ nào như "Thiên", "Thượng Ðế" để diễn giải được, vì "Thiên" theo ý họ "chỉ có nghĩa là bầu trời" (ciel materiel et visible), còn quan niệm "Thượng Ðế" là quan niệm dân ngoại thường dùng, nếu ta dùng sẽ rơi vào giới "vô thần" như dân ngoại. Một bên khác cho rằng chữ "Thiên Chúa" mặc dù là chữ ghép mới để chỉ Deus, nhưng có thể dùng những quan niệm sẵn có trong kinh điển Trung Hoa xưa như "Thiên", "Thượng Ðế" để người Trung Hoa có một mấu cứ để thăng hóa, nhờ đó mới dễ dàng hiểu rõ nghĩa thực sự của "Thiên Chúa" được. Thực ra, hai bên dùng hai phương pháp thần học cổ điển vẫn dùng là: phương pháp "phủ nhận" (via negotiva) và phương pháp "sánh loại" (via analogia). Ðứng trên phương pháp học không có chi đáng bàn cãi, nhưng động lực nao khiến họ chọn hai phương pháp này để nói lên thái độ của họ đối với nền văn hóa địa phương. Ðó mới là điều quan trọng. Dù sao đi nữa, sự kiện xẩy ra trong lịch sử là: Giám Mục Charles Maigrot, đặc sứ tông tòa ở Phúc Kiến đã nhân danh Thánh Bộ truyền giáo tuyên bố: từ ngữ "Thiên Chúa" phải được dùng để chỉ chữ "Deus" còn những tiếng khác như "Thiên" và "Thượng Ðế" thì không được dùng.

Ðối với người Công Giáo Việt Nam hiện nay, ta dùng chữ "Thiên Chúa" trong văn chương, nhưng cũna dùng chữ "Ðức Chúa Trời" theo nghĩa bình dân để chữ "Deus". Trong khi đó những người không Công Giáo thường dùng "Ông Trời" (Trung Hoa dùng chữ Lão Thiên) để chỉ Ðấng Tối Cao. Thực ra, quan niệm "Trời" không phải chỉ là "bầu trời", nhưng cũng là "Hóa Công", đấng sinh thành vũ trụ, vì vậy tại sao chúng ta không thể dùng những quan niệm đã có sẵn trong kinh điển Trung Hoa, đã được nhiều người biết tới để giải thích một quan niệm chí ư "trừu tượng", đối với họ hoàn toàn mới lạ như Deus. Phải chăng phản đối dùng những quan niệm như "Thượng Thiên", "Hiển Thiên", "Hoàng Thiên", "Thượng Ðế" để giải thích chữ "Thiên Chúa", vì các nhà truyền giáo sợ người Trung Hoa, Việt Nam không hiểu xác thực được nghĩa Deus của Kitô giáo, hay là các nhà truyền giáo đó đã không hiểu rõ được những quan niệm trên trong tư tưởng Trung Hoa? Trần Văn Hiến Minh còn đi xa hơn nữa, khi ông quả quyết: "Quan niệm một Tiên Chúa có ngôi vị, Thượng Ðế là một trực giác đầu tiên của người Trung Hoa từ xa xôi bao ngàn năm trước. Tất cả cuộc sống Trung Hoa cổ kính đều qui hướng vào đó". Ðề mục họ Trần nêu ra có thể là một đề tài thảo luận hào hứng, nhưng vượt qua phạm vi của bài nói chuyện này. Dù "Thượng Ðế" theo người Trung Hoa hiểu có "ngôi vị" hay không, cũng không thể là lý do chính đáng không dùng những quan niệm đó để "giải thích" tiếng "Thiên Chúa" được.

Như vậy ta thấy được tranh luận về mấy danh từ trên không phải chỉ là một cuộc thảo luận lý thuyết thần học hay ngôn ngữ, văn chương, nhưng là tỏ rõ đường hướng của hai phe đối với vấn đề truyền giáo: giáo hội có thể dùng di sản văn hóa của địa phương để diễn đạt giáo lý, nghi lễ của mình hay không? Mà được phép dùng tới mức nào? Tại sao có thể dùng hay bị cấm dùng như vậy?

Bây giờ chúng ta trực tiếp đề cập tới cuộc tranh luận "lễ nghi". Vấn đề chính của cuộc tranh chấp này là câu hỏi: lễ nghi đối với tổ tiên là "tôn thờ" tổ tiên vì nghi thức này có tính cách tôn giáo. Tôn thờ tổ tiên là những người theo "đạo Ông Bà". Nói cách khác, nghi lễ tôn thờ này được cử hành trong những nơi nhất định (chủ đường hay tông đường hoặc tại gia, trước bàn thờ tổ), có những qui định riêng (thành văn hoặc bất thành văn) và đối tượng của đạo này là "tôn thờ Bài Vị" của những người quá cố, Bài Vị này là chỗ của các Hồn người quá cố "cư ngụ". Khi hành lễ gia trưởng chắp vái hay quì lạy, dâng hương, báo cáo, cầu xin trước bàn thờ vong linh có đốt nến và bày những lễ cúng như hoa quả, bánh rượu... lễ nghi này cũng giống như lễ nghi trước phần mộ khi mai táng hay trong các dịp kỵ lễ. Sau khi đã mô tả những chi tiết trên, cộng thêm sự ghi chú những tính cách tôn giáo của đạo ông bà, các vị thừa sai này đã đặt những câu hỏi xin thánh bộ giải quyết, như: xin hỏi người Kitô hữu có được phép cử hành những nghi lễ và dâng cúng trước bài vị theo như tập tục ở chủ đường hoặc nơi phần mộ hay trước linh cửu? Và nếu họ được phép làm như vậy thì họ có thể tham dự với dân ngoại hay hành lễ một mình? Hay câu hỏi: Người Kitô hữu có được dựng bài vị tổ tiên ở trong nhà mình với chữ khắc "Thần Chủ" không? Dĩ nhiên những câu hỏi này đã được sửa soạn bằng những "mô tả" hàm xúc một câu trả lời phủ nhận. Có người còn đi xa hơn nữa, coi việc "Tôn thờ tổ tiên" ở Trung Hoa giống hệt như việc thờ phượng các thầ Manes xưa ở Hy lạp hay La Mã: "Theo lịch xưa của người La Mã khi thời thờ ẩu thần còn hiển trị, có nhắc tới một dịp lễ gọi là "Feralia", bắt đầu từ 20 tháng 2 kéo dài tới cuối tháng 2. Lễ này là dịp tôn thờ các Thần Manes. Dân ngoại đem thịt đặt trên mộ các người quá cố để họ hưởng, như tiến sĩ Varron đã giải thích. Ðó cũng là những việc mà những người Trung Hoa hành lễ ở các chùa chiền, trên phần mộ hay trong tư thất trước bài vị tổ tiên". Sự so sánh này đặt người hữu trách trước một sự lựa chọn không thể chối được: Nếu xưa giáo hội đã hủy bỏ phong tục thờ tà thần Manes, tại sao ngày nay lại có thể cho phép làm như thế ở trung Hoa. Lý chứng này càng ảnh hưởng tới người hữu trách khi người đó không hiểu thấu hiện trạng phức tạp ở miên Viễn Ðông.

Trong khi đó, phe khác coi nghi lễ đối với ông bà tổ tiên là sự "tôn kính" bày tỏ lòng hiếu đễ của con cái đối với bậc tiền nhân, dù khi còn sống hay đã quá cố. Trước tiên họ nhận định những nghi lễ trong các chùa chiền hay trước những thần tượng bày rải rắc khắp nơi là có tính cách tôn giáo và nhuốm nhiều màu sắc mê tín, dị đoan. Họ cũng công nhận thái độ mê tín này có thể ảnh hưởng tới việc tôn kính tổ tiên, nếu không được giải thích minh bạch giữa nơi tôn thờ và tôn kính: Ngược với "chùa miếu" là nơi tôn thờ các thần thánh, "đường" nơi có tính cách "trung tính" (có thể dùng liên quan tới tôn giáo hay không). Do đó, "chủ đường" hay "tông đường" (hay nói nôm na là "chỗ dành cho tổ tiên") là "nơi" kính nhớ ông bà tổ tiên để tỏ lòng biết ơn với những người quá cố, cũng như phong tục tập quán địa phương có những "nơi" riêng trọng kính các vị tiền bối lúc sinh thời. Còn Bài Vị thực ra không phải là "bàn thờ" thực, nhưng thường là một thanh gỗ được sửa soạn tươm tất ở trên đó có ghi danh tánh ông bà tổ tiên được bày trên án hương. Tuy Bài Vị "là biểu tượng" cho vong linh người quá cố, nhưng không phải là chỗ "cư ngụ" của hồn linh đó. Các vị này giải thích: trong quá khứ người Trung Hoa có thói quen tìm một người "thay thế" cho một người thân quá cố. Phong tục này được chuyển hóa bằng việc dùng bài vị như là biểu tượng của người quá cố ở giữa con cái. "Bài vị được dựng nên không phải để đánh dấu sự hiện hữu của một linh hồn mà người ta tin rằng linh hồn đó cư ngụ ở bài vị, nhưng đúng hơn là để thức tỉnh một thái độ luân lý và sự biểu tượng này có thể coi như sự hiện diện của một thân xác". Trong khi đó, việc "hóa" vàng giấy, đốt những đồ vật làm bằng giấy cho tổ tiên dùng là những điều mê tín, dị đoan cần cấm bỏ. Ngược lại, những cử chỉ bái lạy hay quỳ gối là những cung cách người Trung Hoa thường dùng để tỏ lòng tôn kính đối với bậc trên, dù những người này còn sống hay đã qua đời. Ðiều đáng chú ý là, chính vua Khang Hy ngày 30.11.1700 đã tự tay chứng thực bản văn do các cha dòng tên thảo nói những lễ nghi tôn kính Khổng Tử, tổ tiên là những hình thức bày tỏ lòng thành kính mà thôi: "Nói là Khổng Tử được thờ phượng để xin sự khôn ngoan hay để xin được thăng chức hay thêm bổng lộc là không đúng... Dựng bài vị tiền nhân quá cố không có nghĩa là linh hồn tổ tiên được nghĩ là thực sự ngự trị trong miếng gỗ này... Mục đích thực sự của nghi lễ tôn kính tổ tiên là con cháu trong một dòng tộc không được phép quên, nhưng luôn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên cho đến muôn đời". Nhưng lời chứng thực của vị hoàng đế trung Hoa, người có thẩm quyền nói lên ý nghĩa thực sự của phong tục tập quán, đã không được tòa thánh thời đó lưu ý tới.

Trên đây là lược thuật tổng quát lập trường của hai phe phái về vấn đề đối với tổ tiên có liên hệ đến việc truyền giáo. Cuộc tranh chấp "lễ nghi" này đã tạm thời kết thúc khi Ðức Giáo Hoàng Clement XI ngày 20.11.1704 đã quyết định:

- Cấm dùng chữ "Thiên" hay "Thượng Ðế" để giải nghĩa "Thiên Chúa". Theo đó không được dùng "mensa seu altare" (bàn thờ) để "kính Thiên" trong nhà thờ.

- Người Kitô hữu không được phép tổ chức hay tham gia những lễ nghi theo như phong tục đối với Khổng Tử hay những người quá cố. Do đó cũng không được phép lập "chủ đường", miếu đường", cũng không được phép dâng lễ vật trong miếu đường hay gia thất vì những nghi thức này liên hệ tới mê tín ("tamquam superstitione inseparabilia"). Tông huấn (Ex illa die) đã được quyết định, đã được đặc sứ tòa thánh, Hồng Y De Tournon mang sang Trung Hoa để ban hành. Sau ba lần De Tournon hội kiến với Hoàng Ðế Khang Hy, Tông huấn đã không được chính thức ban hành cho tới ngày 19.3.1715 mới được Giám Mục đầu tiên của địa phận Bắc Kinh Charles Castorano ban hành. (Trong khi đó De Tournon đã mất ngày 8.6.1710 ở Macao). Tông huấn "Ex illa die" được chính thức ban hành gây ra nhiêu phản ứng khác nhau, nhưng khi phải quyết định phát thệ "chống lễ nghi" theo chỉ thị của tòa thánh, các nhà truyền giáo đã anh dũng bỏ lập trường riêng để chấp nhận tông huấn "Ex illa die". Về phần Khang Hy, ông thấy Công Giáo chống đối lễ nghi và tập tục Trung Hoa đối với Khổng Tử và tổ tiên, đã đổi thái độ từ thân thiện sang nghịch thù. Nhưng cuộc tranh chấp chưa kết thúc, vì chính Ðức Clement XI lại sai một đặc sứ khác là Charles Ambrose Mezzabarba, tân giáo phụ của Alexandria tới Bắc Kinh ngày 26.12.1720. Sau khi đã hội kiến, lắng nghe các nhà truyền giáo báo cáo và đã được tiếp kiến Hoàng Ðế, C. A. Mezzabarba đã trở về Maccao và thảo một bức thư mục vụ ca ngợi tinh thần phục tùng và thống nhất của các nhà truyền giáo, đồng thời đã liệt kê "Tám điều được phép" để dễ dàng thực hành mục vụ. "8 điều được phép này" đã được ban hành ngày 4.11.1721, nới rộng những điều cấm ngặt của tông huấn "Ex illa die". Tỉ dụ: được lập "bài vị" trên đó chỉ được phép ghi tên người quá cố. Tất cả các lễ nghi trung Hoa đối với tổ tiên nếu không pha trộn mê tín mà chỉ có tính cách "dân sự" (Civil) thì đều được phép tổ chức hay tham dự. Hay là: được phép dùng nến, hương, hoa quả, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với người quá cố... "8 điều được phép này" đã làm sống lại cuộc tranh chấp "lễ nghi" một lần nữa, nhất là sau khi đặc sứ C.A. Mezzabarba đã trở về Âu Châu. Một đàng khác, Dũng Thành kế vị Khang Hy được một năm thì ra chỉ thị trục xuất những nhà truyền giáo trừ những người được mời ở lại. Tình trạng hỗn độn này cuối cùng đã được chấm dứt với Tông huấn "Ex Quo Singulari" do Ðức Benedictus XIV ban hành ngày 11.1.1742. Tông huấn này là tông huấn cuối cùng cấm ngặt "lễ nghi" đối với tổ tiên và rút lại tất cả những điều cho phép trước kia. Ðức Benedictus XIV đã minh định: "không phải xấu vì bị cấm, nhưng bị cấm vì xấu".

3. Bàn Về Việc Tranh Chấp "Lễ Nghi"

Trong quá trình tranh chấp như chúng ta thấy ở trên khó mà phân định được "bị cấm vì xấu" hay "xâu vì bị cấm". Ngay cả khi đã bị cấm nhưng trên thực tế chỉ là tránh né vấn đề hơn là giải quyết vấn đề. Bằng chứng là sau gần 200 năm bị cấm ngặt, ngày 8.12.1939 thánh bộ truyền giáo đã hủy bỏ việc bắt các nhà truyền giáo phải tuyên thệ chối bỏ "lễ nghi" mà tông huấn năm 1742 đã đòi buộc và đồng thời tuyên bố các Kitô hữu và các nhà truyền giáo ở trung Hoa, Việt Nam... đối với việc tôn kính Khổng Tử và tổ tiên cần có một cái nhìn "mới". Cái nhìn mới này sau công đồng Vaticanô II đã trở thành một khía cạnh quan trọng để thành lập một nền thần học bản vị hóa. Như vậy Bản vị hóa không những chỉ được phép mà phải được khuyến khích. Ðứng trên một thái độ mới này nhìn lại lịch sử tranh chấp chúng ta dễ có cái nhìn khách quan hơn.

Trước tiên chúng ta nhận định "mạch sống" của hai phe. Một bên đứng trên quan điểm của người trí thức, của tân nho gia đời Minh, để tìm hiểu ý nghĩa của các nghi lễ. Nếu lễ nghi đối với hổng Tử, tổ tiên thuộc về tôn kính hơn là tôn thờ thì hiển nhiên thuộc về phạm vi luân lý hơn là tôn giáo. Quả thực các nhà trí thức Trung Hoa đã hiểu như thế, vì vậy lập trường của các nhà truyền giáo này đã được Hoàng Ðế Khang Hy chứng thực. Chúng ta thấy hiện nay những "lễ nghi" tưởng niệm Khổng Tử hay các vị tiên đế đã mang một ý nghĩa hoàn toàn "dân sự". Các nhà trí thức Việt Nam như Trần Văn Chương, Hồ Ðắc Diễm, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim v.v... cũng cho những nghi lễ tôn kính ông bà là bày tỏ lòng con cái hiếu thảo đối với tổ tiên, là hành động muốn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên mà thôi. Vì thế cúng bái ông bà tổ tiên theo như tập tục không phải là hành động của "niềm tin", nghĩa là qua đó cắt nghĩa một sự mầu nhiệm liên quan tới sự sống và sự chết, cũng không phải là hành động "phi lý" nhưng là những củ chỉ "tự nhiên" (theo phong tục tập quán của một nền văn hóa) do tấm lòng hiếu thảo thôi thúc. Cũng vì thế những việc dâng hương cúng quả, tiến rượu bày cỗ trước Bài vị không mang một ý nghĩa phụng dưỡng vật chất nào cả. Quan trọng nhất là vì nhớ tới ông bà tổ tiên nên con cái cháu chắt thấy họ có bổn phận phải sống như một người tốt, một tôi trung, một đệ tử thành tín, một người chồng gương mẫu, một người vợ hiền, một người con thảo... để khỏi làm nhơ danh tiền nhân. Ðây là quan niệm tôn kính tổ tiên trong mạch suấng của trueỳn thống nho học đặt nặng trên bổn phận luân lý.

Trong khi đó các nhà truyền giáo khác đứng trên phương diện của giới bình dân coi việc tôn kính ông bà tổ tiên là một lễ nghi tôn giáo, vì vậy họ nghĩ rằng cho phép cử hành những nghi thức này tức là hỗn hợp các tôn giáo, làm tha hóa, làm tha hóa Kitô giáo và làm hoang mang lòng các tín hữu. Do đó, họ xin tòa thánh qui định rõ ràng để dễ thực hành mục vụ. Ở đây ngôn ngữ là vấn đề then chốt. Nhưng để giải quyết nạn ngôn ngữ thiếu minh bạch mà cấm dùng ngôn ngữ đó thì không phải là giải pháp thỏa đáng, vì nếu không dùng chữ "Thiên" để giải thích "Thiên Chúa" thì khi dùng chữ "Thiên Chúa" người địa phương cũng không thể hiểu khác hơn mạch sống văn hóa của họ được. Cũng vậy, gọi Khổng Tử là "Thần nhân" thì ý nghĩa của chữ "Thần" này không thể hiểu theo một mạch văn hóa khác được (tỉ dụ như thánh nhân theo nghĩa hẹp của Giáo Hội Công Giáo). Cũng thế, những hạn ngữ như "Altare", "Sacrificium", genuflectio, templum... là những từ ngữ tùy theo nền văn hóa Âu Châu hay Trung Hoa, Việt Nam mà mang một ý nghĩa khác nhau. Nếu dùng cái nhìn của nền văn hóa Âu châu phán đoán những hiện trạng của nền văn hóa Á Châu tức là đã tách những dự kiện, hình ảnh tượng trưng ra khỏi mạch sống văn hóa. Nếu hai nền văn hóa đó quá khác nhau và chưa hiểu nhau được, thì làm sao tránh khỏi được những ngộ nhận. Nếu quyền phán quyết dành cho một phía khi chưa thấu triệt vấn đề thì phán đoán đó làm sao tránh khỏi những thiên kiến?

Tóm lại, cuộc tranh chấp "lễ nghi" nói lên những khó khăn mà một thần học bản vị hóa trong một môi trường cụ thể đã gặp phải và dần dần vượt qua. Cuộc tranh chấp trên không những chỉ bộc lộ hai phe đứng trên hai phạm vi khác nhau để nhìn một vấn đề mà cũng đứng trong những giai đoạn tiến tới thần học bản vị hóa khác nhau, nên gặp nhau trong đối thoại. Sự tranh chấp lễ nghi trở thành một thảm kịch trong lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông, vì giải quyết sự tranh chấp đã không nằm trong mạch sống đó, nhưng ở ngoài và ở trên mạch sống văn hóa, nên không thấu đáo được những nhu cầu sống của giáo hội địa phương.

Như vậy, đề cập tới vấn đề "Ông Bà Tổ Tiên" có liên quan tới việc truyền giáo tức là phản tỉnh một nền thần học bản vị hóa. Bản vị hóa không có nghĩa là chỉ hội nhập và chấp nhận những gì có sẵn trong nền văn hóa đó, nhưng đồng thời cũng thăng hóa những giá trị đó. Vậy theo đó ý nghĩa của lễ nghi đối với ông bà tổ tiên là gì? Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ tiên là cách bày tỏ lòng hiếu đễ, tức là thực thi một bổn phận luân lý, thì chưa chứng minh lý do tại sao con người đòi buộc phải thực hành luân lý như vậy. Nếu ta coi sự đòi buộc đó là một sự tự minh (self-evident) thì hoặc là rơi vào chủ nghĩa độc đoán (dogmatism) hoặc chủ trương thuyết "vô tri thức" (agnosticsm) như khuynh hướng của một số nhà nho tân thời ở Ðài Loan hiện nay. Cả hai khả thể trên chỉ là né tránh vấn đề mà không giúp chúng ta hiểu tại sao con người phải thi hành bổn phận luân lý với tổ tiên. THực ra khi những nhà truyền giáo dòng Tên chủ trương coi lễ nghi tôn kính ông bà thuộc phạm vi luân lý, họ tin rằng một khi đã tìm ra ý nghĩa nguyên ủy và chính yếu của lễ nghi này, họ có thể giáo dục quần chúng gọi bỏ những mê tín mọc rườm rà bên ngoài và cuối cùng có thể biến hóa những bổn phận luân lý đó cho họp với niềm tin Kitô giáo. Như vậy, mặc dù học nhấn mạnh "lễ nghi" này thuộc phạm vi luân lý, nhưng ngầm xác định cn bản của luân lý không thể tách rời khỏi niềm tin tôn giáo được. Mối liên hệ giữa luân lý và tôn giáo này có thể dùng tư tưởng sẵn có trong kinh điển Trung Hoa như niềm tin "Thiên nhân tương dữ" và "vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ" để giải thích. Theo đó tôn kính ông bà không thể độc lập với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc kính Thiên được, vì con người cũng là thành phần của vạn vật mà nguyên ủy của vạn vật là Thiên. Hiểu như thế, việc tôn kính ông bà tổ tiên không những không phản với đạo Công Giáo mà còn bộc lộ được tính cách đặc biệt đông phương, đạo hiếu của người Việt, đồng thời qua việc đưa hành động tôn kính này hòa hợp với tinh thần Kitô giáo, chúng ta vừa thăng hóa vừa qui tụ những giá trị luân lý và những hình thức bày tỏ trên về cội gốc của muôn loài: chúng ta hiếu thảo cha mẹ vì Chúa là Cha chúng ta đã dậy như thế. Nói cách khác, một khi việc tôn thờ "Trời". "Thượng Ðế"... những danh từ chỉ Thiên Chúa ẩn hình (Deus absconditus) được niềm tin do Ðức Kitô mặc khải soi chiếu, canh cãi và hoàn hảo hóa, thì những hành động có tính cách nhân bản của một nền văn hóa cũng được xác định và thăng hóa theo đúng mức nahn bản của nó.

4. Kết luận

Thảo luận việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ tới việc truyền giáo là dịp may hiếm có để chúng ta suy tư về một khía cạnh của nền thần học bản vị hóa Việt Nam. Trong bài học lịch sử trên chúng ta nhận ra hậu quả của một cuộc tranh chấp lễ nghi mà đã bị tách rời khỏi mạch sống văn hóa và bị phán quyết do những người chưa thấu đáo ý nghĩa của nó. Tấm bi kịch này là một điển hình của bước khó khăn trong cuộc gặp gỡ của hai nền văn hóa cổ truyền, mạnh mẽ nhưng khác nhau, khi hai nền văn hóa đó thiếu uyển chuyển nên ngăn cản việc thăng hóa tới một hợp đề bao gồm một nền nhân bản phong phú hơn. Sau công đồng Vaticanô II việc tích cực tìm hiểu nền văn hóa địa phương, xác định những giá trị nhân bản chân chính của những tôn giáo khác, những luồng tư tưởng khác trở thành một nhu cầu thường nhật của mỗi giáo hội địa phương. Chúng ta nghiên cứu việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ với việc truyền giáo ở Việt Nam, ở Trung Hoa, không phải để nuối tiếc một dịp may đã qua, nhưng quan trọng hơn là tìm thấy những ý nghĩa có liên quan tới cuộc sống đạo hiện tại của chúng ta. Nói cách khác sau khi đã nhận định lòng hiếu thảo là một giá trị nhân bản căn bản của nền văn hóa ảnh hưởng nho học, và ý thức được những lễ nghi tôn kính khác với những mê tín dị đoan, chúng ta tự hỏi, chúng ta có thể thực hiện những hình thức, "lễ nghi" nào để biểu tỏ lòng thành kính, hiếu đễ của chúng ta? Nhưng để những nghi thức đó không rơi vào trạng thái "vụ hình thức" "cố chấp" chiếu lệ. điều quan trọng nhất là tấm lòng người Việt thành kính mà chúng ta có thể gọi là "Tâm Việt". Tâm Việt đối với ông bà tổ tiên là một khía cạnh biểu lộ của Tâm Việt. Khía cạnh này không thể tách rời khỏi lòng thành đối với Thượng Ðế được, nếu không Tâm Việt này sẽ thiếu nguồn sống và trở thành độc đoán. Bởi đó Tâm Việt là nguồn sống của "Việt tính". Dĩ nhiên Tâm Việt này còn có thể biểu lộ theo những cách thế khác tùy theo ta nhìn từ Phật Giáo hay Lão Giáo mà trong bài này chúng ta không có dịp để bàn tới. Có Tâm Việt như vậy chúng ta mới có thể bước thêm một bước nữa là đi tìm một hợp đề của Tâm Việt trong môi trường cụ thể mà chúng ta đang sống ở hải ngoại này. Hợp đề này là một mức độ nhân bản cao hơn vì nó được cải hóa và bổ túc do hai nền văn hóa khác nhau. Tiên chuẩn canh cải và hoàn thiện này không gì khác hơn là một nhân bản thuần túy: Hiện Thân của một mẫu mực Thiên Nhân tương dữ, Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Chúa Nhập Thể.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ông Bà Tổ Tiên

Ngày con nước lên là ngày gì? Hẳn là bạn không biết

Ngày con nước là gì? Có điều gì cần chú ý về ngày con nước lên? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn trong bài chia sẻ sau đây nhé. Đừng bỏ qua bởi đây đều là những thông tin cần thiết trong cuộc sống của mỗi người.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày con nước là gì? Có điều gì cần chú ý về ngày con nước lên? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn trong bài chia sẻ sau đây nhé. Đừng bỏ qua bởi đây đều là những thông tin cần thiết trong cuộc sống của mỗi người. Bạn hãy cũng Phong thủy số tìm hiểu về ngày con nước lên.

 Ngày con nước lên là ngày gì? Hẳn là bạn không biết

Xem thêm: Tìm hiểu về ngày vía thần tài

Ngày con nước lên

Theo như trung tâm nghiên cứu lý học đông phương cho hay, ngày con nước lên liên quan đến thủy triều, tức là đây là ngày liên quan đến sức hút của mặt trời và mặt trăng với trái đất mà trong đó, cơ thể mỗi người có đến 70% là nước do đó vào ngày con nước lên sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng mạnh bởi lực tương tác của mặt trăng từ súc hút của nó. Để hiểu rõ hơn về ngày con nước lên, hãy xem giải thích sau đây.

1. Quan niệm dân gian về ngày con nước lên

Ngày con nước lên theo như lưu truyền trong dân gian Việt Nam được coi là ngày cực kỳ xấu, trăm sự đều kỵ, nhất là sự việc xảy ra lại rơi vào giờ con nước xuống. Các cụ ta vẫn có câu “Dù ai buôn bán trăm nghề, phải ngày con nước đi về tay không, dù ai giao hợp vợ chồng, phải ngày con nước khó lòng nuôi con”.

Xuất phát từ ngày xưa, nước ta là nước thuần nông vì thế công việc trồng trọt của người dân bị ảnh hưởng cực kỳ lớn tới nguồn nước “nhất nước, nhìn phân, tâm cần, tứ giống” bởi vậy việc nắm bắt đầy đủ, rõ ràng về quy luật của con nước là rất quan trọng. Khái niệm ngày con nước trong âm lịch là một khái niệm thuần việt, không hề bị ảnh hưởng bởi Trung Hoa hay nước nào khác. Trung Hoa không có lịch này.

2. Bản lịch ngày con nước lên

Hãy cùng tham khảo bảng lịch ngày con nước lớn sau đây để từ đó có thể tránh làm các công việc quan trọng trong ngày này.

·         Tháng 1+ 7 : ngày con nước mùng 5 - 19

·         Tháng 2 + 8 : ngày con nước mùng 3 - 17 - 29.

·         Tháng 3 + 9 : ngày con nước mùng 13 - 27

·         Tháng 4 + 10: ngày con nước mùng 11 - 25

·         Tháng 5 + 11: ngày con nước mùng 9 - 23

·         Tháng 6 + 12: ngày con nước mùng 7 - 21.

Bảng lịch trên của ngư dân vùng biển Đồ Sơn áp dụng từ xưa đến nay để thực hiện việc khai thác sò, đánh bắt hải sản được thuận lợi.

Ngoài ra trong dân gian còn có bài thờ nói về giờ nước , ngày nước lên cho dân đi biển như sau, mọi ngày hãy tham khảo

“Tháng giêng, tháng 7 phân minh

Mồng 5, 19, thìn sinh tị hồi.

Tháng 8 cho lẫn tháng 2

Mồng 3,  17, tị lai, ngọ hoàn

Tam(3) cửu (9) tòng như nguyệt tiền

Ngày 29 nước liền thụ thai

13 sinh con thứ hai

Tuất thăng, mão giáng chẳng sai chút nào.

Tháng 4 đối với tháng 10.

Sinh con 11 cùng thời 25

Tháng 11 chi khác tháng năm

Đã tường mồng 9, chớ nhằm 23

Tháng 6, tháng chạp suy ra 

Mồng 7, 21 ấy là nước sinh”

Xem thêm những ngày tốt khác tại mục: Xem ngày tốt xấu


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngày con nước lên là ngày gì? Hẳn là bạn không biết

Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3

Tại sao cứ đến ngày 8-3 hàng năm, phụ nữ trên toàn thế giới lại được cả nhân loại tôn vinh. Hãy tìm hiểu câu trả lời tại đây nhé.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngày 8/3, đó là cả một câu chuyện lịch sử dài về cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng và hạnh phúc cho phụ nữ của nhiều nhóm phụ nữ trên toàn thế giới. Chính phụ nữ là những người làm nên ngày 8/3 lịch sử. Để mỗi năm có một ngày tràn ngập hoa thì đã có không ít máu và nước mắt đổ xuống trong quá khứ. Và hiện nay phụ nữ vẫn không ngừng tranh đấu vì quyền bình đẳng với nam giới.

Ngày lịch sử bắt đầu Ngày 8 tháng 3 năm 1857, các công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại Thành phố New York: 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng 3, các nữ công nhân Hoa Kỳ trong hãng dệt thành lập công đoàn (syndicat) đầu tiên đã được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.

lịch sử ngày quốc tế phụ nữ 8/3
Những người phụ nữ đứng lên đấu tranh cho mình

50 năm sau, ngày 8 tháng 3 năm 1908, 15.000 phụ nữ diễn hành trên các đường phố New York để đòi được giảm giờ làm việc, lương cao hơn và hủy bỏ việc nhận trẻ em vào làm tại các nhà máy. Sau đó, Đảng Xã hội Hoa Kỳ tuyên bố Ngày Quốc tế Phụ nữ là ngày 28 tháng 2 năm 1909.

Trong Hội nghị phụ nữ do Quốc tế thứ II (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức ngày 8 tháng 3 năm 1910, 100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch là Clara Zetkin, phụ nữ Đức, đã đề nghị chọn một ngày quốc tế phụ nữ để kỷ niệm những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới. Hội nghị đã chọn ngày 8 tháng 3 làm Ngày Quốc tế Phụ nữ.

Năm 1975, Liên Hiệp Quốc đã lấy ngày 8/3 hằng năm làm “Ngày Quốc tế Phụ nữ”. Hai năm sau, LHQ đã thông qua nghị quyết các nước thành viên kỷ niệm ngày 8/3 như là ngày vì quyền bình đẳng, sự tiến bộ của phụ nữ và hòa bình cho thế giới.

Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Ở nước ta, vào ngày 8/3 còn là dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – hai vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ nguyên bờ cõi, giang sơn đất Việt. Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa. Lời hịch thiêng liêng “Đền nợ nước, trả thù nhà” đã nhận được sự hưởng ứng của các Lạc hầu, Lạc tướng, của những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa.

lịch sử ngày quốc tế phụ nữ 8/3
Vào ngày 8/3 còn là dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Bà Trưng Trắc được các tướng lĩnh và nhân dân suy tôn làm vua. Bà lên ngôi và lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương; đóng đô ở Mê Linh (huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).

Mặc dù chỉ giành độc lập trong thời gian ngắn nhưng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một bản anh hùng ca bất diệt. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng còn là một minh chứng cho sức mạnh lớn lao, khả năng dồi dào của người phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trang sử oanh liệt này sẽ mãi mãi được lưu truyền cho muôn đời con cháu mai sau.

Theo Khỏe và đẹp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5). thảo luận các sao, các cách tốt hóa giải vận hạn trong lá số tử vi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

5. Họa cho gia đạo:

a. Tình trạng không chồng, không vợ:

– cung Phúc có những chính tinh hãm địa, đi chung với những sao tình duyên bị sát tinh xâm phạm.

– cung Phu Thê cũng gặp phải nghịch cảnh này, nhất là bị sát tinh tọa thủ đồng cung với các sao tình duyên hoặc là được các sao tình duyên hội chiếu vào sát tinh tọa thủ ở Phu Thê. Càng có nhiều sát tinh, nhất là sát tinh hạng nặng tọa thủ hay hợp chiếu thì triển vọng lập gia đình càng giảm. Ngoài ra, hai sao Tuần Triệt ở Phu Thê nhất là đồng cung cũng góp phần xác định ý nghĩa này.

Nếu cả Phúc lẫn Phu Thê đồng thời gặp nghịch cảnh thì dễ đoán việc vô gia đình (đặc biệt là với lá số nữ giới).

Nếu Mệnh, Thân có hao bại tinh (Tang, Hổ, Cô, Quả, Đẩu Quân, Khốc, Hư, Đại Tiểu Hao) thì phải xem đó là một yếu tố bổ túc để quyết đoán thêm trường hợp độc thân bắt buộc.

Cung Tử tức có nhiều sao hiếm muộn, tuyệt tự, lập tự.

Vòng đại hạn đi theo chiều thuận tức là ngày càng xa cung Phu Thê. Đây là một yếu tố bổ túc phải lưu ý. Nếu đi theo chiều nghịch thì vào khoảng 30 tuổi trở đi, vấn đề gia đạo dễ xảy ra hơn vào khoảng thập niên 32 trở đi vì tại đó cung Phu Thê trấn ngự, ngụ ý có sự chi phối khá mạnh, sự thúc đẩy khá lớn, sự quan tâm đặc biệt của con người về vấn đề gia đạo.

Sự lạc vị của những sao tình duyên: nếu các sao đó đóng ở Tật, Tử, Bào, Phụ, Điền thì cái duyên bị đặt sái chỗ, không lợi cho sự sum họp.

b. Tình trạng giang hồ, lãng tử:

– sự hiện diện của rất nhiều sao tình dục ở cung Mệnh, cung Thân: Thiên Riêu, Thai, Mộc Dục, Hoa Cái, Đào Hoa, Hồng Loan, Liêm Trinh, Tham Lang ...

– sự hiện diện của những sao này ở cung Nô chỉ con người đó rất sa đọa, trụy lạc, ăn chơi, đàng điếm, không kể dư luận, đạo đức.

– sao khắc chế tình dục không có hoặc không đủ mạnh ở các cung Mệnh, Thân.

– đối với phái nữ, sao tình dục có đi chung với sao tài, ngụ ý rằng tiền bạc kiếm được bằng nhan sắc, bằng hương phấn.

– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung hoặc 1 trong 2 án ngữ, tiên niệm sự trục trặc, sự bất hạnh về gia đạo hoặc sao cô độc như Cô, Quả, Đẩu, Quân.

– cung Phu Thê có nhiều sao chỉ sự thay đổi cụ thể như Thiên Đồng, Thiên Mã, Đại Hao, Tiểu Hao, ngụ ý đương số thường thay đào đổi kép.

– riêng số phụ nữ còn có những bộ sao nói lên họa trinh tiết

– cung Mệnh, cung Thân của hai phái có nhiều sao nói lên tính nết lãng tử, giang hồ, ham vui, chóng chán, thích thay đổi, phiêu lưu tình cảm.

– cung Phúc có nhiều sao bất hạnh về gia đạo.

c. Tình trạng hôn nhân trắc trở:

Phục Binh: nếu đóng hay chiếu vào cung Phu Thê, chỉ sự cản trở. ở vị trí tọa thủ, sự cản trở mạnh mẽ hơn, gây trở ngại lớn hơn ở vị thế hội chiếu. Sao này tượng trưng cho sự đổi ý của người con trai hay con gái, sau khi yêu nhau rồi mới khám phá những chỗ kẹt, chỗ ngang trái khiến không thể lấy nhau. Nó cũng tượng trưng cho sự chống đối mạnh mẽ của cả hai bên nhà trai nhà gái hoặc của một bên và sự chống đối này do cha mẹ chủ xướng, tức là những người có quyền quyết định tối hậu cuộc tác thành. ở vị thế hội chiếu, có thể ban đầu chống đối rồi sau cũng thuận cho.

Hóa Kỵ: ý nghĩa tương tự như Phục Binh nhưng nhẹ hơn. Hóa Kỵ ở Phu Thê thường là sự bất hòa giữa hai họ để rồi trai gái phải xa nhau, bắt nguồn từ những câu nói vụng về của nam hay nữ hoặc của họ bên này chê bai họ bên kia hoặc cũng có thể bắt nguồn từ một đệ tam nhân ngoại cuộc vụng lời, thêm bớt.

Cự Môn: dù đắc hay hãm địa, Cự Môn ở Phu Thê bao giờ cũng khó khăn dài dài, trước khi lấy nhau và sau khi thành hôn. Cự Môn chủ đa nghi: bên nọ nghi ngờ bên kia, thôn tính con dâu hoặc sắp xếp cho con mình vào tròng để lợi dụng. ở vị trí đắc địa, sự việc có thể tiền hung hậu kiết nhưng ở thế hãm địa thì có thể tiền hậu đều hung.

Thiên Không: chỉ sự cản trở, chủ yếu là do sự bố trí có thủ đoạn của một bên cho bên kia mắc kẹt. Trò chơi của Thiên Không rất nguy hiểm, nếu có thêm sao xấu đi kèm, hôn nhân rất nhạy rã đám.

Thiên Hình: ở Phu Thê, Hình báo hiệu sự hình thương gia đạo, có thể là sự trắc trở hôn nhân buổi đầu. Mặt khác, vì Hình chỉ sự xét nét quá tinh vi cho nên ngụ ý rằng có một bên tính kỹ quá, đòi hỏi điều kiện chặt chẽ, khó khăn khiến bên nọ không với tới làm cho hôn nhân bị hỏng hoặc trì trệ kéo dài. Cuộc thương thuyết có Thiên Hình hẳn phải hết sức gay go và đầy cạm bẫy.

Khốc, Hư, Tang, Hổ: hai trẻ phải nhiều lần điêu đứng, rơi lệ, đau khổ, phải đấu tranh cho sự hòa hợp bằng nước mắt. Nếu có cả 4 sao thì 4 dòng lệ đều chan hòa, duy có riêng một sao cũng mệt sức lắm rồi. Trong một ý nghĩa khác, 4 sao này còn có nghĩa là cưới xin trong tang khó.

d. Tình trạng gia đạo bất hòa:

– cung Phu Thê phải có hao bại tinh, ám tinh, hình tinh, cụ thể là Cự Môn, Phục Binh, Hóa Kỵ, Thiên Hình, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ.

– cung Phu Thê phải có sao cô độc như Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân; sao khắc khẩu như Thái Tuế, Trực Phù.

– cung Phu Thê phải có sao ghen tuông, cãi vã, khó tính, câu chấp, ngỗ ngược, ngoan cố, lấn át, bướng bỉnh - nguyên nhân của mọi bất hòa.

– hai lá số của nam nữ có Bản Mệnh khắc nhau.

– có thể chính tinh ở cung Mệnh số người này mà nghịch cách với chính tinh ở Phu/Thê của số người kia thì cũng xung khắc.

e. Tình trạng ngoại tình:

+ Điều kiện về tính chất:

– lá số của nam hay nữ phải chất chứa một nết tình mạnh thiên về nhục dục, hoặc sự si tình, lụy tình, đồng thời với tính nết ham vui chơi, ưa hoang phí, thích thay cũ đổi mới, táo bạo, trí trá ...

– phải có nhiều cơ hội tốt cho việc phát tác tình dục biểu lộ trong cung Di, cung Nô, qua những sao ái tình tọa thủ tại 2 cung này. Những lá số có Thân cư Di hội nhiều sao tình dục là ví dụ điển hình.

– ngoài điều kiện tích cực, còn có điều kiện tiêu cực là thiếu sự khắc chế tình dục, hoặc sự khắc chế không đủ mạnh so với các sao tình dục hiện diện.

+ Điều kiện về sao:

– nhất định phải có nhiều sao tình dục hội trụ hoặc tập trung vào những cung cường, sao đồng cung hoặc sao tình dục hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào) ...

– phải có sao đa phu, đa thê

– phải có sao bất hòa gia đạo, chửa hoang

– phải có sao bất hạnh (ly tán, đau khổ) gia đạo

+ Điều kiện về cung:

– sao tình dục phải xuất hiện ở các cung Mệnh, Thân, chiếu Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung Phúc.

– sao tình dục phải có ở cung Phu Thê

– sao tình dục phải có ở cung Nô, Di

– nếu xuất hiện ở cung Hạn (ngoài các cung nêu trên) thì vấn đề ngoại tình xảy ra nhất thời trong hạn đó

– cung Tử có những sao hai dòng con: cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ

+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:

– lá số phải được cứu xét trong xã hội có sa đọa hay không

– nếp sống đương số có sa đọa hay không;

– cần lưu ý thêm là việc sợ vợ, sợ chồng lắm khi không phải là yếu tố kìm hãm ngoại tình.

+ Những dè dặt cần thiết:

– sao tình dục hay sao ái tình có khi chỉ có nghĩa là có duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc) hay dâm đãng mà không ngoại tình, hoặc cưới xin dễ dàng;

– lưu ý tránh ngộ nhận số ngoại tình với số giang hồ, lẽ mọn, lãng tử;

– gặp trường hợp Thân cư Thê/Phu có những sao ngoại tình cũng phải dè dặt;

– gặp số có hai đời vợ, hai đời chồng phải dè dặt thêm: có khi là hai vợ, hai chồng đồng thời, có khi là hai đời vợ/hai đời chồng liên tiếp, không trùng hợp nhau.

g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.

Những điều kiện trực tiếp của tình trạng chia ly gồm có:

– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung;

– cung Phu Thê bị sát tinh xâm phạm;

– cung Phu Thê bị ám tinh, hao bại tinh, hình tinh đi với sao thay đổi, sao đau buồn, nước mắt, cô độc;

– cung Phu Thê có sao chỉ hai đời chồng/vợ;

– cung Tử có những sao chỉ con dị bào;

– lá số của hai vợ chồng có Bản Mệnh khắc nhau;

– cung Phúc có nhiều sao bất hạnh gia đạo (cao số, dang dở);

– cung Mệnh Thân có nhiều sao xui xẻo, đau buồn, nhất là với nữ số;

– có những chỉ dấu ngoại tình ở vài cung như Nô, Di;

– thiếu sao giải mạnh và nhiều

Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:

- Những bộ sao của Tử Vi:

Chỉ có Tử Sát và Tử Phá đồng cung nói lên sự chia ly khả hữu:

1. Cách giải họa quacác sao:

a. Chính tinh:

Có thể nói tất cả chính tinh đắc địa trở lên đều có ý nghĩa phúc đức, từ đó có ý nghĩa giải họa. Càng đắc địa, hiệu lực càng mạnh. ở vị trí đắc địa, chính tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt. Nếu chính tinh đắc địa bị hung sát tinh đi kèm thì may rủi thường đi liền nhau, hoặc có lúc được phúc, lúc bị họa. Trong số chính tinh miếu, vượng và đắc địa, có vài sao có hiệu lực giải họa mạnh: Vũ Khúc, Thiên Tướng, Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ.

Nếu hãm địa, khả năng cứu giải kém hẳn. Cho dù hãm địa mà bị Tuần, Triệt thì hiệu lực cứu giải cũng không được phục hồi như ở miếu, vượng địa mà chỉ tương đương với sao đắc địa.

Vũ Khúc: là sao giải họa mạnh nhất. Nếu Vũ Khúc miếu, vượng và đắc địa gặp Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh thì không đáng lo ngại trong khi Tử Vi chỉ chế được Hỏa, Linh. Nếu Vũ Khúc đồng cung với Thiên Tướng thì khả năng chống đỡ với sát tinh càng mạnh thêm, cho dù sát tinh đó đắc địa hay hãm địa.

Thiên Tướng: khắc chế được sát tinh. Có võ tinh khác đi kèm, Tướng được thêm uy, thêm quân. Được Vũ Khúc đồng cung, hiệu lực của Thiên Tướng càng được tăng cường: tiêu trừ hay giảm thiểu tai họa, bệnh tật một cách đáng kể. Thiên Tướng chỉ e ngại Kình Dương, Thiên Hình và hai sao Tuần, Triệt. Với Kình Dương, hung nguy dễ gặp. Với Tuần Triệt và Thiên Hình, Thiên Tướng không những mất uy lực cứu giải mà còn báo hiệu bệnh, tật, họa nặng nề hơn nữa.

Tử Vi: là cách giải họa gián tiếp vì (i) Tử Vi che chở con người chống lại bệnh tật và họa nhưng Tử Vi chỉ ban phúc chứ không giải họa mạnh như Vũ Khúc hay Thiên Tướng. Đối chọi với sát tinh, Tử Vi chỉ khắc được Hỏa, Linh mà thôi. Gặp sát tinh khác như Kình, Đà, Không, Kiếp, Tử Vi ví như bị vây hãm một cách hiểm nghèo: tuy không chết nhưng gặp hung họa dẫy đầy, đấu tranh chật vật; (ii) Tử Vi mang lại tiền bạc, của cải giúp con người tránh được cảnh nghèo, đồng thời giúp con người tạo phúc cho mình bằng tiền bạc; (iii) Tử Vi ban cho công danh, quyền thế trong xã hội, không bị đè nén bởi sự cạnh tranh giai cấp.

Thiên Phủ: cũng có đặc tính như Tử Vi nhưng hiệu lực kém hơn. Tuy nhiên, Phủ mạnh hơn Tử trong việc đối chọi với sát tinh: có tác dụng khắc phục được cả Kình Đà nhưng hiệu lực này chỉ có đối với từng sao riêng lẻ hoặc nhiều lắm là hai hoặc ba sao phối hợp. Lẽ dĩ nhiên, Phủ chưa phải là địch thủ của Địa Không, Địa Kiếp và Phủ còn chịu thua Thiên Không nữa. Mặt khác, gặp Tuần Không và Triệt Không, Phủ bị giảm hẳn khả năng cứu giải.

Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung: chế hòa được Kình, Đà, Hỏa, Linh phối hợp nhưng đây là cuộc đọ sức giữa các địch thủ hạng nặng, hẳn sẽ gây biến động lớn cho cuộc đời. Bản Mệnh chỉ vững chãi nếu được đắc cách Mệnh Cục tương sinh, Âm Dương thuận lý cùng với Tử Phủ đắc địa đồng cung. Bằng không, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, hiểm tai nghiêm trọng. Phối cách này cũng tạm thời cầm chân được từng sao Địa Không, Địa Kiếp.

Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách: cách hay nhất vì giải họa thập toàn nhất.

Thiên Lương: nếu đóng ở cung Phúc thì đức của ông bà di truyền được cho mình, nếu đóng ở Mệnh, Thân thì tự mình tu nhân, tích đức, gây được hậu thuẫn cho người đời. Nhưng Thiên Lương chỉ kìm chế được hung tinh mà thôi.

Thiên Đồng: ý nghĩa tương tự như Thiên Lương nhưng hiệu lực cứu giải kém hơn. Gặp hung tinh, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ kìm chế được nếu có thêm giải tinh trợ lực. Đối với bệnh tật, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ bệnh về bộ máy tiêu hóa vì Thiên Đồng giải bệnh tương đồng kém.

Thái Dương, Thái Âm sáng sủa: chỉ sự thông minh quán thế, khả năng nhận thức thời cuộc, sự am hiểu lẽ trời, tình người từ đó Nhật Nguyệt giúp con người thích nghi dễ dàng với nghịch cảnh với nhiều may mắn. Tuy nhiên, đối với bệnh tật, Nhật Nguyệt không mấy hiệu lực: chỉ bệnh căng thẳng tinh thần, bệnh thần kinh, bệnh tâm trí và nhất là bệnh mắt. Nhật Nguyệt có hiệu lực như Thiên Phủ đối với Kình, Đà, Hỏa, Linh nhưng bị Không, Kiếp lấn át. Nếu Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu Mùi có Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng tốt, khả năng giải họa tất phải mạnh hơn, chống được hung và sát tinh đơn lẻ. Giá trị của Nhật Nguyệt trong trường hợp này tương đương với Tử Phủ đồng cung hay ít ra cũng bằng Đồng Lương hội tụ.

Thiên Cơ: chỉ người vừa hiền vừa khôn (tương tự như Nhật Nguyệt) nên có hiệu lực cứu giải. Nhưng về mặt bệnh lý, Thiên Cơ chỉ bệnh ngoài da hay tê thấp cho nên ít giải bệnh.

b. Phụ tinh:

+ Những giải tinh bắt nguồn từ linh thiêng: được cụ thể hóa qua: những hên may đặc biệt giúp cho con người thoát hay giảm được bệnh tật, tai họa; những vận hội tốt đẹp của thời thế, của hoàn cảnh, những diễn biến bất ngờ có lợi đặc biệt cho riêng mình. Gồm các sao: Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc

+ Những giải tinh bắt nguồn từ sự giúp đỡ của người đời: Tả Phù, Hữu Bật khi đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có kèm theo nhiều cát tinh khác. Tả Hữu tượng trưng cho sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, thượng cấp, hạ cấp nhưng chỉ cứu họa chứ không giải bệnh. Tả Hữu còn có nghĩa là chính mình hay giúp đỡ kẻ khác nhờ đó được sự hỗ tương. Có hai sao này ở Mệnh, đương số dễ dàng thành đạt nhưng cần đi chung với chính tinh đắc địa.

+ Những giải tinh bắt nguồn ở chính năng đức con người:

Hóa Khoa: là giải tinh rất mạnh bao trùm cả bệnh, tật, họa.

Tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc): càng mạnh nghĩa hơn nữa. ý nghĩa đó càng mạnh nếu cả ba hội chiếu hoặc liên châu (Mệnh, Thân ở giữa có một Hóa, hai Hóa kia tiếp giáp hai bên). Thủ Mệnh hay Thân, Tam Hóa có hiệu lực mạnh hơn thế liên châu, nhất là không bị sát tinh xâm phạm. Tam Hóa sẽ tăng hiệu lực nếu đóng ở cung ban ngày và cung dương. Tam Hóa giải họa nhiều hơn giải bệnh,tật. Nếu bị sát tinh đi kèm, Hóa nào bị thì nguồn cứu giải của Hóa đó bị giảm sút hoặc bị họa về mặt đó. Cụ thể, Quyền gặp Không Kiếp thì quý cách bị giảm, Lộc gặp Không Kiếp thì hao tán tiền bạc, Khoa gặp Không Kiếp thì khoa bảng lận đận.

Tứ Đức (Long Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức): chỉ phẩm cách tốt, sự nhân hậu, khoan hòa của cá nhân, nết hạnh đó báo hiệu sự vô tai họa hay ít tai họa. Hiệu lực giải bệnh của Tứ Đức không có gì đáng kể.

Thiếu Âm, Thiếu Dương: ý nghĩa giống như Tứ Đức nhưng hiệu lực kém hơn và không có nghĩa giải bệnh.

+ Những giải tinh khác:

Thiên Tài: ý nghĩa giải họa của Thiên Tài chỉ có khi nào sao này gặp sao xấu vì nó làm giảm bớt tác hại của sao xấu. Do đó Thiên Tài có tác dụng như Tuần, Triệt tuy không mạnh bằng. Tuy nhiên, Thiên Tài gặp sao tốt sẽ làm giảm bớt cái hay.

Thiên La, Địa Võng: có tác dụng làm cho sao xấu thành tốt lên ít nhiều, do đó góp phần giảm họa riêng trong các hạn nhỏ.

Đại Hao, Tiểu Hao: nếu đóng ở cung Tật, Đại Tiểu Hao có hiệu lực giải họa đáng kể, cụ thể như làm họa, bệnh tiêu tán mau kiểu như bệnh chóng lành, người bị họa mau khôi phục thế quân bình. Vì la sao hao nên kỵ đóng ở cung Tài.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

Những câu nói hay nhất về lương tâm mà ý nghĩa

Những câu nói hay nhất về lương tâm mà ý nghĩa. Điều quý giá và thiêng liêng nhất đối với con người là đạo đức, lương tâm
Những câu nói hay nhất về lương tâm mà ý nghĩa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những câu nói hay nhất về lương tâm mà ý nghĩa. Điều quý giá và thiêng liêng nhất đối với con người là đạo đức, lương tâm. Mình làm điều gì không hổ thẹn với lương tâm chính là điều mà mình thấy vui vẻ với cuộc sống. Và bài viết này đã sưu tầm được những câu nói hay nhất về lương tâm con người. Các bạn cùng đọc và suy ngẫm nhé.

Những câu nói hay nhất về lương tâm mà ý nghĩa

1. Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn.

——–

2. Bạn không chỉ phải chịu trách nhiệm với những gì mình nói, mà cả những gì mình không nói.

———

3. Chỉ có hai thứ đáng theo đuổi, nhạc hay và lương tâm trong sạch.

——-

4. Bất kì người nào cũng có lỗi vì đã không làm những điều tốt.

———

5. Lương tâm là tiếng nói của linh hồn; Dục vọng là tiếng nói của cơ thể.

6. Con đường an toàn nhất là không làm gì trái với lương tâm. Với bí mật này, chúng ta có thể hưởng thụ cuộc sống và không sợ chết.

7. Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều tôi làm.

8. Bạn tốt, sách hay và lương tâm ngái ngủ: đó là cuộc sống lí tưởng.

9. Lương tâm là la bàn của con người.

10. Hạnh phúc của một người là kết quả nỗ lực của chính anh ta, một khi anh ta đã biết nguyên liệu cần thiết của hạnh phúc chỉ là một ít can đảm, sự tự chối bỏ ở mức độ nhất định, tình yêu công việc, và trên hết, một lương tâm trong sạch.

11. Lương tâm là người mẹ kế chẳng bao giờ ngừng tới thăm ta.

12. Nhờ ơn Chúa mà ở đất nước chúng ta, ta có ba thứ quý giá không tả nổi: tự do ngôn luận, tự do lương tri, và sự khôn ngoan để không bao giờ dùng đến cả hai.

13. Với lương tâm, quy luật của số đông không có tác dụng.

14. Thế giới là mưu đồ triền miên chống lại kẻ can trường. Đó là cuộc vật lộn từ xa xưa: một bên là tiếng gào thét của đám đông, và bên kia là tiếng của lương tâm bạn.

15. Lương tâm tội lỗi cần thú tội. Một tác phẩm nghệ thuật chính là một lời thú tội.

16. Giọng con người không bao giờ đi được xa như giọng nói nhỏ bé của lương tri.

17. Có tòa án còn cao hơn tòa án công lý, và đó là tòa án của lương tâm. Nó thay thế cho mọi tòa án khác.

18. Sống thật dễ khi nhắm mắt.

19.Lương tâm của chúng ta không phải là vật chứa của chân lý vĩnh cửu. Nó phát triển cùng với đời sống xã hội của chúng ta, và điều kiện xã hội thay đổi cũng dẫn tới sự thay đổi triệt để về lương tâm.

20. Đừng đợi sự phán xét cuối cùng. Ngày nào nó cũng đến.

21. Lương tâm là giọng nói bên trong cảnh báo chúng ta rằng có thể có ai đó đang nhìn đấy.

22. Ý thức là khi bạn nhận thức được điều gì đó, và lương tâm là khi bạn ước giá mà mình không nhận ra.

23. Khi nào lương tâm của chúng ta sẽ trở nên dịu dàng đến mức chúng ta sẽ hành động để ngăn những nỗi đau khổ của con người thay vì báo thù cho nó?

24. Lương tâm là điều đau đớn khi mọi thứ khác đều có vẻ tốt đẹp.

25. Không gì được phân phối công bằng hơn lương tri: không ai nghĩ mình cần nhiền hơn những gì mình đã sẵn có.

26. Lương tâm của mỗi người là lời nguyền rủa anh ta phải nhận từ các vị thần linh để đạt được quyền mơ ước.

27. Tự do lương tâm gây ra nhiều nguy hiểm hơn chính quyền và sự chuyên quyền.

28. Một lương tâm tội lỗi không bao giờ cảm thấy yên tâm.

29. Công lý là thứ nhất thời và cuối cùng cũng sẽ đi đến kết thúc; nhưng lương tâm là vĩnh cửu và sẽ không bao giờ lụi tàn.

30. Lương tri là Chúa trong mỗi con người.

31. Công lý là lương tâm, không phải lương tâm cá nhân mà là lương tâm của toàn bộ nhân loại. Những ai nhận thức rõ ràng giọng nói của lương tâm chính mình thường cũng nhận ra giọng nói của công lý.

32. Một trái tim không có lương tâm, không còn linh hồn thì không khác gì một cỗ máy. Nó không biết phân biệt tốt xấu, thiện ác.

Không chỉ là nói về lương tâm, mà những câu nói hay về đạo đức con người cũng được chúng tôi sưu tầm và chia sẻ với các bạn độc giả. Một kho tàng những câu nói hay, những câu nói nổi tiếng trên thế giới sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về cuộc sống này.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những câu nói hay nhất về lương tâm mà ý nghĩa

Xem bói tình yêu theo tên hai người - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Xem bói tình yêu theo tên hai người, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Xem bói tình yêu theo tên hai người, tu vi Xem bói tình yêu theo tên hai người, tu vi Bói tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem bói tình yêu theo tên hai người

Bạn muốn bói tình yêu theo tên của 2 người? ## hướng dẫn bạn cách xem bói tình yêu theo tên hai người dựa vào bảng chữ cái tên. hướng dẫn cách xem bói tình yêu dựa vào tên của 2 người

Xem boi tình yêu theo tên của 2 người

Đầu tiên bạn hãy đối chiếu các chữ cái(tên người ấy) vào bảng điểm sau:
1 2 3 4 5 6 7 8 9
A B C D E G U H I
Đ K L M N O P Q R
V Â T Ă S Y X Ê Ô
* Lưu ý :
U = Ư = 7 , Ô = Ơ = 9

** Sau đó bạn hãy cộng lại các tên như sau:
Ví dụ: “Hắn” tên là Nguyễn Mạnh Hoàng, thì sẽ là : 567685 + 4158 +86156 =657999 => 6 + 5+ 7 +9 +9 +9= 45 => 4 +5= 9
Vậy quẻ của “hắn” là 9, jờ bạn xem kết quả nhé!

Và kem kết quả tình yêu của 2 bạn:

 

♥ Kết quả số 1 : vui tính, học hành sáng dạ, có khả năng hùng biện…. Hay đấy! nhưng nhoc cần “hạ nhiệt” bạn ngay: hắn có 1 nhược điểm to đùng:”cực kì hay sai hẹn”! Bạn cố mà quen và chịu đựng nhé!

♥ Kết quả số 2: Thông minh, trầm tính, bí hiểm…. Tất cả những j bạn…. phỏng đoán về chàng, vì chàng kín như mít. Tốt nhất là nên tìm hiểu kĩ trước rùi mới nên quyết định.

♥Kết quả số 3: Các cô gái sẽ phát nghen với bạn vì vẽ lãng tử, cá tính mạnh mẽ của người ta. Thì đó cũng là ưu điểm khiến bạn xao xuyến còn j. Nhưng người ta rất mãi chơi và vô tâm. Nhìu lúc cũng bực bội và tủi thân lắm đấy!

♥Kết quả số 4: Hình thức thì miễn chê, nội dung thì không đến mức quá tệ.Nhưng bạn phải để hắn ko những “ngã ngựa” vì trái tim mà bằng cả khối óc nữa. Nếu không câu chuyện của bạn có thể sẽ ko có hậu. Hix hix…….

♥Kết quả số5: 1 cậu con ngoan, 1 thằng bạn chơi được, 1 học sinh ko hề nổi bật …. Đối zới mọi người hắn là thế đó. ko tồi đâu nếu bạn hỏi ý kiến nh0c. Nếu có tham vọng trở thành nửa kia của bạn fải “rạng danh thiên hạ” thì bạn nên suy nghĩ lại, trước khi quyết định. Hắn là người của gia đình và đám đông.

♥Kết quả số 6: đaam mê lớn nhất của chàng này là” học, học nữa, học mãi”. Cũng tốt thui nếu hắn ko hát ” anh kòn pé lắm em ơi” với bạn. Thôi thì đợi hắn lớn đã nhé!

♥Kết quả số 7: Hắn thix độc lập, tự chủ nhưng hơi nóng nảy. hắn khoái 1 tình iu bắt đầu từ tình bạn. Với hắn, như zậy sẽ ” bền vững ” hơn.

♥Kết quả số 8: một ứng cử viên ko tồi: thông minh, năng động và tình cảm( tiu hơi vụng về tí xíu). Phải mỗi tội là ko chú ý đến hình thức, nh0c nói trắng ra là anh chàng ít chịu tắm gội.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tình yêu theo tên hai người - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Vận số qua đôi tai ở độ tuổi 8 - 14

Độ tuổi từ 8 - 14 là giai đoạn chuyển tiếp từ thiếu nhi đến thiếu niên, thể hiện sự vươn lên của trẻ, phần lớn biểu hiện qua đôi tai.
Vận số qua đôi tai ở độ tuổi 8 - 14

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Độ tuổi từ 8 - 14 là giai đoạn chuyển tiếp từ thiếu nhi đến thiếu niên, thể hiện sự vươn lên của trẻ. Đây là thời điểm ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tính cách ở trẻ. Mọi vấn đề trong cuộc sống xảy ra với trẻ phần lớn thể hiện qua đôi tai. Ở nam giới, tính cách thể hiện qua tai phải, ngược lại, nữ giới thể hiện qua tai trái.

Ở độ tuổi 8 - 14, vận số ở nam thể hiện qua tai phải, nữ thể hiện qua tai trái

Những nguyên tắc cơ bản để đánh giá tính cách qua tai phải (ở nam) hay tai trái (ở nữ) tương tự như nhau. Chúng ta cần quan sát cách vành tai, kích cỡ, chiều dài hay độ cao của tai.

Tai tượng trưng cho năng lực hoặc tư duy nên người có tai mỏng biểu hiện cho sự rối loạn về cảm xúc, họ có sức khỏe kém, trí não chậm phát triển. Nếu đầu tai sắc nhọn, trẻ thường có sự tổn thương về mặt cảm xúc do cha mẹ tạo ra.

Trong nhân diện học, đôi tai không nguyên vẹn biểu thị sự tổn thương về mặt tình cảm hoặc khi trưởng thành, người này sẽ gặp nhiều khó khăn, trắc trở trong cuộc sống. Trẻ lớn lên trong độ tuổi này có những dao động nhạy cảm về mặt tinh thần, ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tính cách về sau.

Việc so sánh tai phải với tai trái cũng khá quan trọng. Ở độ tuổi này, nếu 2 tai có sự khác biệt về hình dáng, vị trí cho thấy, cuộc sống gia đình của trẻ không được hạnh phúc, cha mẹ có sự ly tán.

Đối với nữ, màu sắc của tai nói lên khá nhiều điều về cuộc sống và tính cách. Nếu màu sắc của tai nhạt hơn sắc của khuôn mặt thì cuộc sống của trẻ sẽ có nhiều thuận lợi và may mắn hơn. Nếu tai có màu sắc đậm hơn khuôn mặt, trẻ dễ bị đau ốm hoặc mắc bệnh trầm cảm. Điều này ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của trẻ.

(Theo Nhân diện học)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận số qua đôi tai ở độ tuổi 8 - 14
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd