Giải mã giấc mơ thấy tôm –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
| ► Tra cứu: Lịch âm, Lịch vạn niên chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
trí kê giường trong phòng ngủ.

Theo quan điểm của phong thủy học thì phòng ngủ nhất định phải tàng phong tụ khí, điều này cũng trùng khớp với nghiên cứu khoa học hiện đại, kết quả nghiên cứu cho thấy rõ trên bề mặt cơ thể người có tồn tại một lớp trường khí, nó được hình thành bởi sự lưu động không ngừng của dòng năng lượng do bản thân cơ thể sinh ra. Khi ngủ, nghỉ, nếu vị trí giường kê thỏa đáng, thì trường khí của cơ thể người và từ trường của trái đất sẽ trùng khớp nhau. Bởi vậy, giường nằm phải được kê ở vị trí yên ổn, sáng sủa nhất và nhìn được bao quát cả gian phòng ngủ.
Khi kê giường trong phòng ngủ phải chú trọng tới những điểm sau đây:
– Giường nằm không được đối diện với cửa ra vào vì: Cửa ra vào là miệng khí và cũng là miệng gió. Giường kê trong phòng nếu đối diện với cửa cũng có nghĩa là đối diện với miệng gió, một người khi đang nằm nghỉ ngơi, các cơ năng của cơ thể cũng được nghỉ ngơi, thần kinh chùng giãn, các lỗ chân lông trên mặt da đều mở rộng, nên lúc này năng lượng của cơ thể người dễ phát tán, đồng thời khả năng chống chọi với những tác động gây nhiễu từ ngoài vào cũng sẽ giảm đi rất nhiều, nếu không may gặp cơn gió độc, mạnh, người ngủ sẽ rất dễ mắc bệnh. Mặt khác, khi ngủ con người sẽ rơi vào trạng thái vô thức, có thể có những hành động rất kỳ quặc, nếu để gường nằm đối diện với cửa sẽ mất hết sự riêng tư mà khi thức con người muôn giấu kín.
Khắc phục trường hợp này bằng cách đặt tấm bình phong che ngăn cách giường và cửa ra vào.
– Kê giường ngủ ngay phía dưới xà ngang, chân cầu thang hoặc trên trần nhà có treo đèn chụp hoặc quạt trần, bạn sẽ có cảm giác phần ngực và đầu của cơ thể bị đè nén, ảnh hưởng tới sức khỏe cả về thể chất và tinh thầnẽ
– Có người cho rằng, để gương hoặc bàn trang điểm trước giường ngủ sẽ tiện cho việc sửa sang sắc đẹp khi ngủ dậy, điều này hoàn toàn không nên làm vì gương có ánh sáng phản xạ, nằm ngủ trước gương sẽ làm cho tinh thần bị suy nhược, ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ.
– Thành giường nên chọn dáng tròn để tránh cạnh nhọn đâm vào đầu.
– Giường ngủ không nên thấp quá, vừa không thông thoáng, vừa tụ khí ẩm, làm đau vùng eo lưng của bạn.
– Nếu giường kê gần cửa sổ thì phải che rèm để tránh bớt nắng.
– Giường kê sát dựa vào vách tường sẽ rất ổn định. Vị trí giường tốt nhất là chọn hướng Nam Bắc vì hướng này thuận theo lực hấp dẫn của từ trường trái đất, nằm ngủ quay đầu phía Bắc hoặc hướng Nam đều có lợi cho sức khỏe, bởi trong hệ thống tuần hoàn máu của cơ thể động mạch chủ và tĩnh mạch lớn là quan trọng nhất, hướng lưu động của nó đồng nhất với phương hướng đầu chân của cơ thể. Cơ thể người khi nằm ngủ dọc theo phương Bắc Nam, làm cho phương hướng tuần hoàn máu của cơ thể trùng hợp với phương tuyến từ lực Nam Bắc của trái đất, như vậy con người dễ bước vào giấc ngủ.
Theo phong thủy, xà nhà mang ý nghĩa xấu vì chúng có thể gây ra sự ngột ngạt khi xuất hiện phía trên giường ngủ, bếp hoặc bàn làm việc và ức chế nguyên khí của người sinh hoạt bên dưới chúng.

Người ta cho rằng xà nhà phía trên bàn ăn hay bếp lò có thể ngăn chặn vận may của gia đình. Nếu chúng ở phía trên bàn làm việc, chúng có thể cản trở tiến trình sáng tạo của người ngồi làm việc và thậm chí đem đến cảm giác chán chường thất vọng. Chắc chắn không nên ngủ bên dưới một xà nhà; ngồi lên chiếc ghế đặt dưới xà nhà hay dưới một ban-công cũng chẳng phải là điều nên làm.
Trúc theo quan niệm của người xưa là tượng trưng cho người quân tử , cũng là tượng cho sự bình an , may mắn , sung túc trong PT. Sáo trúc thường được dùng trong các trường hợp : Bàn-giường ngủ-sa lon nằm dưới xà nhà , xua tan những ý tưởng xấu xa , bảo vệ sau lưng chỗ ngồi , bảo vệ các đặc trưng của cung Bát Quái nơi đặt chúng (như đặt tại cung Nghề nghiệp : thì nó giúp cho Nghề nghiệp -việc làm ăn của mình vững chắc ) , có tác dụng phòng trộm cướp, có tác dụng đưa dòng Khí hướng lên trên.
Sáo trúc phải treo đúng cách mới tốt , nếu không sẽ cho kết quả ngược lại. Trước tiên dùng dây ruy-băng đỏ cột nối 2 đầu ống sáo , nhớ chừa dư ra để treo. Đầu thổi treo chúc xuống , ống sáo treo nghiêng 1 góc 45 độ so với mặt ngang , 2 đầu trên cách ra 1 khoảng => 2 ống sáo và khoảng trống đó tạo thành 1 góc 3 cạnh của hình Bát Quái ụp xuống , như bảo vệ nơi đó.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)

Theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương, Công ty Cổ phần Nhà Xuân, bếp tượng trưng cho tài lộc và sức khoẻ nên cần sự ổn định, vững chãi, phải đặt ở nơi "tàng phong tụ khí". Một trong những điều kiêng kỵ là bếp dựa vào khoảng không mà cần có tường ở đằng sau làm chỗ tựa. Vì thế, để bếp dựa vào cửa sổ hay dựa vào vách cửa kính đều không tốt.
Phân tích về yếu tố này, chuyên gia phong thủy cho rằng, nếu sau lưng bếp là cửa sổ thì gió sẽ tác động trực tiếp đến ngọn lửa khi nấu ăn. Trong quan niệm phong thủy, yếu tố này có thể ảnh hưởng đến nguồn tài chính và sức khoẻ của chủ nhà.
Cách xử lý tốt nhất trong trường hợp bếp dựa vào cửa sổ là chuyển cửa sang một vị trí khác, tốt nhất là vị trí bồn rửa để vẫn đảm bảo ánh sáng cho khu bếp. Trong trường hợp không chuyển được cửa sổ hay vị trí bếp sao cho tốt nhất, chủ nhà nên cố định cửa lại và dán đề can sẫm màu để tránh ánh nắng ảnh hưởng quá mạnh đến bếp.
Không những ở những công ty đa quốc gia mà hiện nay các công ty nhỏ ở Việt Nam cũng đang có những cải tiến đáng kể về một văn phòng làm việc hiện đại. Trong đó việc thiết kế các cây xanh trong văn phòng – cây xanh để bàn ngày càng được chú ý.
Thời gian trước, tác giả có được mời tới thăm văn phòng làm việc của một công ty cung cấp giải pháp phần mềm (Foobla – IT) cho nước ngoài, một không gian nhỏ nhưng không gian dành cho cây cối thì rất nhiều: Nơi thoáng đãng của ban công là một khoảng nhỏ dành cho các bạn hút thuốc được thiết kế trồng nhiều chậu Dương Xỉ nhằm hấp thu khói thuốc lá; một không gian nhỏ để các nhân viên thư giãn được bài trí chậu cây lớn bao gồm cây Kim Ngân may mắn và chậu Kim Phát tài; Trên bàn làm việc của nhân viên đều có các chậu cây nhỏ – cây may mắn. 1. Cây Trầu bà đế vương đỏ
Cây trầu bà đế vương đỏ có tốc độ sinh trưởng nhanh. Cây chịu bóng bán phần hoặc hoàn toàn, thích hợp trồng làm cây trang trí nội thất. 2. Cây Bạch mã hoàng tử
Cây bạch mã hoàng tử là loại cây chịu bóng tốt. Cây mọc bụi vì cây con thường đâm chồi từ thân cây mẹ. Lá xanh, thân và cuốn lá màu trắng. Tán lá lớn. Gân và bẹ lá cây bạch mã hoàng tử màu trắng tạo nên điểm thu hút dễ nhớ. Cây trồng trong chậu rất đẹp. Dùng trang trí trong nhà, văn phòng rất phù hợp. 3. Cây Bao thanh thiên
Cây Bao thanh thiên mang ý nghĩa quý phái và sang trọng, là cây để bàn như một lời chúc phúc cho cá nhân hay doanh nghiệp luôn được thịnh vượng, phát tài. Cây trồng trong chậu rất đẹp. Dùng trang trí trong nhà, văn phòng rất phù hợp. 4. Cây Bướm đêm
Cây bướm đêm – Cây không chịu được ánh sáng toàn phần và trực tiếp, khoảng 80% ánh sáng cây phát triển tốt. Ưa môi trường đất xốp và thoát nước tốt, Trồng và nhân giống bằng tách củ, Lá màu tím than,có hình như cánh bướm. 5. Cây Cau Tiểu Trâm
Cây cau Tiểu Trâm : Cây chịu mát, nhỏ, để trang trí trên bàn làm việc hoặc trong chậu thủy tinh, trồng trong dung dịch thủy canh rất đẹp. Cây chịu bóng tốt, Lá cây mọc từ thân chính. Dạng lá cau, lá nhọn dài, lá thưa mềm, Bụi cây nhỏ, thấp. 6. Cây Cọ ta
Cây cọ ta Cây chịu bóng bán phần. Cây dáng thấp, lá xòe tròn hình quạt, mép lá răng cưa xẻ khá sâu. Lá cây có màu xanh đậm. 7. Cây Cung Điện Vàng
Cây chịu bóng bán phần hoặc hoàn toàn, thích hợp làm cây nội thất. Nhân gống dễ dàng từ tách bụi. Nhu cầu nước trung bình, ưa khí hậu mát ẩm. 8. Cây Dứa cảnh nến đỏ
Tốc độ sinh trưởng trung bình. Cây phát triển tốt trong điều kiện che bóng một nửa, nhu cầu nước trung bình. Cây gần như không thân mang lá xếp hoa thị sát gốc, phiến dạng thuôn dài, dài 60cm, rộng 5cm, nhọn đầu, mép nguyên, màu xanh bóng. 9. Cây hồng môn, tiểu hồng môn
Cây Tiểu Hồng Môn là cây chịu bóng râm (ánh nắng) bán phần, thích hợp trồng cây trang trí nội thất. Loại cây này nhân giống dễ dàng bằng cách tách bụi. Các loại Hồng Môn nói chung là thích sống theo bụi, nên khi chúng ta thấy nó nhảy ra 1- 2 con mà tách ra là cây mẹ bị suy rất lâu phát triển. Nên muốn tách cây con thì lựa bụi nào có khoảng từ 3 – 5 con thì tách ra 1 con để nuôi riêng. 10. Cây Huy Hoàng Trong Nước
Huy hoàng trong nước rất thích hợp bài trí trong nhà, nơi ít ánh sáng và trong môi trường máy lạnh. Bạn không cần phải tốn nhiều thời gian để chăm sóc và sẽ luôn có cảm giác thư thái khi nhìn cây phát triển mỗi ngày.
Cây kim ngân được xem là rất tốt về phong thủy, mang đến cho gia chủ sự may mắn và thịnh vượng. Nên được nhiều người sử dụng chưng bày trong văn phòng làm việc công ty, tiền sảnh nhà hàng, khách sạn….
Tốc độ sinh trưởng: nhanh, Cây chịu bóng bán phần, nhu cầu nước trung bình thích hợp làm cây trồng nội thất và cây thủy sinh. Nhân giống dễ dàng từ bằng tách bụi hoặc giâm lá, mọc khỏe, ưa khí hậu mát ẩm.
Thích hợp trưng bày trên bàn làm việc, mang lại không gian xanh mát cho căn phòng.
Cây phát tài trong phong thủy, đây là loài cây mang lại may mắn cho gia chủ. 15. Cây Rau Má Trong Nước
Cây Rau Má thích hợp trồng làm kiểng, hay trồng trong chậu xen kẽ các loại cây cảnh khác để tăng thêm vẻ đẹp. Khi kết hợp với chậu thủy tinh, cây rau má vốn dĩ giản dị và quen thuộc trở nên đẹp hơn và lạ mắt hơn, còn gì bằng khi hồn quê trong từng cọng rau má được mang vào nhà, cơ quan, bàn làm việc như một biểu tượng nhắc nhở chúng ta cố gắng từng ngày.
Cây chủ yếu trồng làm kiểng, để bài trí trong phòng khách, phòng ngủ, phòng làm việc…
Cây Thanh Tâm mang ý nghĩa phong thủy là giúp bình lặng tâm hồn, xua tan những điều không hay trong cuộc sống. Cây Thanh tâm có thể sống trong môi trường râm mát, phòng máy lạnh vì thế rất thích hợp làm cây cảnh trang trí nội thất.
Cây thịnh vượng là loại cây rất thích hợp làm cây cảnh trong nhà vì nó sống tốt trong môi trường máy lạnh đồng thời cũng là loại cây ưa bóng. Thích hợp đặt trên bàn làm việc tại văn phòng hay kệ ti vi tại ngôi nhà của bạn.
Cây Thủy Canh – Bách Thủy Tiên, mang ý nghĩa may mắn, thịnh vượng, miền vui đến cho bạn, dáng cây thanh tao quí phái, thích hợp cho việc trang trí trong nhà, bàn khách, bàn học, bàn làm việc. là loại cây trồng trong nước rất đươc nhiều người ưa thích.
Tốc độ sinh trưởng: trung bình, Cây ưa sáng hoặc chịu bóng bán phần, thích hợp trồng làm cây nội thất. |
(Theo TTVN)
7. AVENTURINE

Còn được gọi là thạch anh lục bao gồm các thể vùi của fuchsite lục và trong mờ. Được tìm thấy ở Ba Tây, Liên sô, Tây Ban Nha và Tây Tạng, Việt Nam. Có ảnh hưởng cho vùng tim. Làm dịu, giúp lọc và tái điều hòa những thể tinh tế khác nhau.
8. THẠCH ANH MÀU KHÓI
Đi từ màu nâu sáng đến nâu sậm, hình thành từ một bức xạ của tinh thể đá bởi phóng xạ đá mau hay chậm khiến có màu sắc sậm hay dợt. Được tìm thấy ởÂu Châu, Liên sô, Ba Tây, Mỹ, Madagascar, Ấn độ và Úc và thấy nhiều ở Việt Nam. Thạch anh hun khói chống sự suy thoái và các tắc nghẽn vô ý thức và kết nối với ma trận của địa cầu. Khi bạn cầm nó trong tay nó sẽ giúp bạn dễ tập trung tư tưởng (trầm tư mặc tưởng), đặt vào các trung tâm luân xa sẽ kích hoạt sự hoạt động của luân xa và các khu vực tuyến nội tiết liên hệ tới luân xa mà bạn đặt (td: khu vực luân xa 3 – tác động đến tuyến tụy…) và làm điều hòa vùng luân xa đó. Làm khai mở thiên nhãn (nhìn thấu suốt quá khứ và vị lai).
Thạch anh màu khói :
¬Phân tích tốt mọi việc
¬Yên tĩnh – thư thái
Thạch anh màu khói giúp :
¬Gắn bó tình cảm gia đình
¬Làm hết buồn phiền – buồn rầu
¬Tập trung tư tưởng tốt
¬Giảm đau nhức
¬Xoá bỏ tính ích kỷ – hẹp hòi
9. THẠCH ANH ĐEN
Đen, ánh chói lờ đờ, không trong suốt Thạch anh hun khói tiếp xúc lâu dài với tia phóng xạ sẽ biến thành đen. Được tìm thấy ở Tiệp Khắc, Liên sô, Madagascar và Ba Tây và rất ít ở Việt Nam. Rất hiệu quả trong ung thư hay các bệnh cần điều trị bằng tia bức xạ.
Thạch anh đen :
-Tăng khả năng phân tích.
-Giúp vô thức.
-Khai tâm
-Làm biến đổi, thay đổi ý tưởng từ xấu thành tốt.
Giúp chữa các chứng sau :
-Ý muốn tự tử.
-Giúp làm xum họp
-Làm vui vẻ – lạc quan
-Làm hết giận hờn.
-Hết lãnh cảm – lạnh lùng
-Xóa bỏ hận thù
-Xóa bỏ tình trạng mặc cảm -cô đơn
-Xóa bỏ tình trạng lúc nào cũng nghĩ là mình là người bệnh tật.
-Trở nên ngoan ngoãn – dễ thương
-Hoà đồng với mọi người – không kiêu ngạo.
-Làm giải thoát những khó khăn – túng thiếu.
-Xóa sự sợ hải
-Gặp được sự may mắn – thành công
-Giải thoát được những đình đốn – đình trệ.
10. THẠCH ANH MÀU SẮT
Màu đỏ nâu do sự có mặt của oxid sắt. Ví dụ về một vĩa nổi tiếng là mỏ tinh thể Saint Jacques, vùng Compostelle ở Tây Ban Nha. Rất tốt cho các trường hợp liên quan đến máu. Ở Việt Nam Thạch anh pha sắt thường sen lẫn trong thạch anh hồng.
11. CALCÉDOINE (VI TINH THỂ)
+ CALCÉDOINE
Từ xám đến xám lam. Cũng có dạng trong suốt như dạng thủy tinh trong và mịn. Xuất hiện trong các suối nước nóng và các hóc biến chất. Loại khoáng sản này có mặt khắp nơi trên địa cầu được gọi là silex. Đó là loại đá lửa của người tiền sử. Người tiền sử đã xem đá này như một vị thần và thờ cúng như một thần lửa, vị thần đem đến sự sống.
Giúp phát triển sự thăng bằng thể xác và xúc cảm, làm cơ thể rắn chắt, làm dịu và tạo sự điềm tĩnh (thanh thản ở tâm hồn) và tạo sự tự tin. Calcédoine lam kích thích hoạt động dây thanh quản và giúp cho sự hùng biện (rất tốt cho những nhà kinh doanh những người làm công tác ngoại giao). Ngoài ra Calcédoine còn giúp giữa Thần khí cho những người bị mất Thần khí do tiếp xúc hoặc ở những nơi có nhiều Âm khí.
Về mặt thể xác làm tăng khả năng thị giác. Hoạt động vùng tim.
Calcédoine xanh:
1.Bình tĩnh – bình thản – yên tâm – hòa bình
2.Năng lực sáng tạo
3.Thấu hiểu – lĩnh hội tốt
4.Trung thành – trung thực – thành thực
5.Hài hòa
6.Cảm nhận tốt
7.Liêm khiết – thanh liêm
8.Thông minh
9.Khai triển nội tâm
10.Kiên nhẫn
11.Có những suy nghĩ cao thượng – khoan dung
12.Khí chất thanh thản – khách quan
Calcédoine giúp :
¬Khơi dậy tình thương – lòng trắc ẩn
¬Xóa sự dững dưng – lãnh đạm – thờ ơ
¬Xóa bỏ chứng ưu tư – nỗi sầu – phiền muộn
¬Dũng cảm và mọi người khâm phục
¬Không còn sợ hải
¬Chống những cơn ác mộng – tâm thần hoang tưởng.
+ MÃ NÃO
Được làm thành những sản phẩm như vòng đeo tay, vòng hạt hay những vật trang trí và có rất nhiều màu: trắng, vàng lục, nâu, vv…Được tìm thấy ở Âu Châu, Á Châu, Mỹ, Ba Tây và Uruguay và Việt Nam nơi có thể tìm thấy mã não ở độ sâu 2, 3 m.
Giúp can đảm, tươi tắn và vui nhộn. Tạo sự thân hữu và mối thiện cảm. Tùy màu sắc, nó tác động trên nhiều khu vực khác nhau của cơ thể.
Trong điều trị, có thể dùng chống sốt và ngộ độc. Do vậy đem nó theo trong mình khi đi các đám tang.
Giúp có tinh thần trách nhiệm, tự tin và làm cộng hưởng từ trường tốt ở xung quanh.
12. NGỌC THẠCH ANH
Màu đa dạng (Vàng, nâu, đỏ, hồng, lục) tùy sự hiện diện của Chlorid và Hématit.
Ngọc thạch anh được tìm thấy ở Âu Châu (quanh dãy Alpes), Liên Xô, Madagascar, Mỹ, Phi Châu và Ba Tây, Việt Nam. Làm dễ dàng sự hùng biện và tính mẫn tiệp. Làm chậm sự hình thành các sỏi thận. Tạo mối liên lạc với năng lượng vũ trụ.
Ngọc thạch anh có từ trong trong thạch anh xanh – thạch anh hồng – mã não.
13. HÉLIOTROPE
Cũng được gọi là thạch anh máu hay ngọc thạch anh máu do các đốm đỏ rải rác trên bề mặt của nó. Màu lục sậm chấm đỏ và nâu. Mờ đục. Được thấy ở Âu Châu, Nam và Bắc Mỹ. Giúp tập trung dễ dàng. Đặc tính cầm máu. Ngọc thạch anh máu đặc sắc để chống lại sự nhút nhát và thiếu tự tin.
Từ xa xưa, loài người của tất cả các nền văn minh đều nhạy cảm với biểu tượng trong suốt và thuần khiết này. Nhiều đặc tính vật lý của tinh thểcó nhiều tương ứng với một tầm cao hơn bao gồm cácthay đổi tâm lý, tâm linh nơi bản chất của con người.
![]() |
![]() |
![]() |
Bí mật hoàng đạo: Vận mệnh Bạch Dương nhóm máu A
viết nên kê xa và chếch hẳn cửa ra vào một chút, để tránh người ngoài vừa bước vào đã nhìn thấy làm gì. Sau ghế ngồi nên là một bức tường chắc chắn, sẽ hợp với thế dựa lưng vào núi trong phong thủy học.

Khi đặt bàn viết cần chú ý những điểm sau đây:
– Tránh kê bàn viết phía dưới xà ngang, để khi ngồi bạn không có cảm giác bị vật nặng đè nén trên đầu.
– Không nên kê bàn viết đốì diện với cửa sổ, vì ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp vào làm hoa mắt, chóng mặt và cảnh sắc bên ngoài cửa sổ dễ làm bạn phân tâm làm ảnh hưởng đến kết quả công việc.
– Không nên để bàn viết quay lưng ra cửa nhà, bởi cửa lớn là miệng nạp khí của cả ngôi nhà, có thể là sinh khí và cũng có thể là khí ô uế, gây cho bạn cảm giác bất an, ảnh hưởng về thể chất và tinh thần nếu có khí ô uế, tiếng ồn từ ngoài khiến người ngồi viết không an tâm.
Kiểu dáng, chất liệu bàn làm việc có ảnh hưởng rất lớn đến công việc. Bàn làm việc lớn thể hiện địa vị và quyền lực của người sử dụng nó, thúc đẩy đưa ra những sáng kiến và giải quyết công việc nhanh chóng. Bàn làm việc nhỏ làm cho người sử dụng cảm thấy gò bó, chật chội, khó chịu.
Về kiểu dáng, bàn hình bầu dục thì tốt hơn bàn hình chữ nhật. Phù hợp với công việc phải làm ở bàn làm việc lâu và tránh cho sự va chạm.
Về chất liệu, những công việc ít phải ngồi lâu ở bàn làm việc thì chọn bàn làm việc bằng kính sẽ kích thích sớm hoàn thành công việcử Còn ngược lại, nên chọn bàn làm việc bằng chất liệu gỗ.
Môi trường làm việc không chỉ chịu ảnh hưởng của bàn làm việc, mà còn liên quan đến những đồ vật bày trên mặt bàn. Nếu đồ vật đó được bày đặt ở vị trí hợp lý, theo ngũ hành tương sinh thì sẽ làm cho con người thêm sức sáng tạo, còn nếu sắp xếp sai vị trí, thì công việc sẽ bị bế tắc, không tiến triển. Đôi với những bàn làm việc hình vuông, người ngồi làm việc theo hướng Tây sang Đông, để vừa có thể chăm lo cho sự nghiệp vừa có thể chăm sóc được gia đình, bạn nên sắp xếp các đồ vật trên bàn như sau:sách, vở, tài liệu
Bài viết của tác giả Cam Vũ, được trích từ phần cuối cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ Văn Lưu. Đây là một bài viết rất hay và đầy đủ trình bày cách giải đoán một lá số Tử Vi.
Sau khi bạn đã lấy được lá số, để phần giải đoán ít thiếu sót, ta cần lưu ý những điều sau:
Cục có nghĩa là cách cục, hay còn gọi là cuộc, là cái thế cuộc mà ta đang sống – hay nói đúng hơn chính là cái môi sinh mà bản mệnh ta đang ngụp lặn trong đó.
a. Hành Cục sinh Mệnh
Thí dụ: Mệnh Thổ, Hỏa Lục Cục, Hỏa sinh Thổ, người được hoàn cảnh ưu đãi, để gặp may may mắn, để thuận lợi.
b. Mệnh Cục tương hòa
Thí dụ: Thổ Mệnh, Thổ ngũ Cục: người để hòa mình với hoàn cảnh, với đời sống bên ngoài.
c. Mệnh sinh Cục
Thí dụ: Thổ mệnh, Kim tứ cục: thổ sinh kim, người phải sinh cho môi sinh tức là vất vả, hay làm lợi cho thiên hạ.
d. Mệnh khắc Cục
Thí dụ: Thổ Mệnh, Thủy nhị Cục, Thổ khắc thủy, cuộc đời có nhiều trở ngại, hay làm hỏng đại sự, thành công trong nghị lực.
e. Cục khắc Mệnh
Thí dụ: Thổ Mệnh, Mộc tam Cục Mộc Khắc Thổ: đang thương, người hay bị môi sinh không thích hợp với mình, sự thành công nếu có đòi hỏi phải trải qua gian khổ.
Can là Thiên Can, Chi là Địa Chi – Can Chi kết hợp với nhau như sự giao hòa của trời đất, giống như 1 cây gồm 2 phần gốc và ngọn.
a. Can Chi Tương Hòa
Thí dụ: Giáp Dần, Mộc, Dần mộc là người sinh ra từ họ có căn bản vững chải có đủ khả năng để đạt được cái mình đã có.
b. Chi sinh Can
Thí dụ: Ất Hợi: Hợi thủy sinh Ất mộc do may mắn mà thành công chứ thực lực, khả năng chưa đạt được đến mức độ ấy. Cuộc đời họ là một chuỗi dài may mắn tiếp nhau để có từ thành công này đến thành công khác.
c. Can sinh Chi
Thí dụ: Canh Tý, canh kim sinh tý thủy người được trời ưu đãi để làm việc, vừa có khả năng vừa gặp may thuận lợi để đưa đến thành công cách dễ dàng.
d. Can khắc Chi
Thí dụ: Canh Dần: canh kim khắc dần mộc người hay gặp nhiều nghịch cảnh dễ sẵn sàng làm đổ vỡ sự nghiệp, ở những mẫu người này cần đòi hỏi họ phải có 1 lá số với các sao đi đúng bộ thật tốt mới mong nên danh phận nhưng cũng vẫn trải qua nhiều nỗi thăng trầm.
e. Chi khắc Can
Thí dụ: Ất Dậu: Dậu kim khắc Ất mộc thành công trong khó khăn, sự nghiệp hay bị gẫy đổ lung tung để rồi lại xây dựng lại. Nói tóm lại thiếu may mắn.
Ðể biết sự sinh khác giữa mình với những người liên hệ, bản mệnh là ta, cung an mệnh là nhà, là cái mà bao quản cho ta, các sao ví như đồ đạc, tiện nghi mà ta phải xử dụng, nếu tương sinh hoặc đồng hành, thời tốt mà làm lợi cho ta, nếu bị khắc thời bất lợi. Nếu bản mệnh tương hòa hay tương sinh với cung bản mệnh, cung an mệnh ở tại Dâu là kim khắc mộc. Thì đoán tìm đến các sao thủ và chiếu xem có sao nào đồng hành với bản mệnh không rồi lại thấy nếu sinh vào giờ kim xà thiết tỏa nữa thì thật là chết non chẳng sai mà đã chết non thì các cung liên hệ chẳng còn gì để bàn nữa.
Cho nên phú tử vi mới có câu:
Ðào Hồng ngộ kiếp Không đồng thủ
Xá bàn chi bần lũ yểu vong.
Thí dụ như lá số: Quí Dậu tháng 5 ngày 30 giờ Sửu – Âm Nữ kim mệnh, Hỏa cục, Mệnh lập ở Ngọ. Cung Ngọ là hỏa khắc mệnh kim, lại có Đào, Jồng gặp Không Kiếp nên đã chết từ lúc 3 tuổi.
Sau khi đã so sánh với cung mệnh rồi, thì lần lượt xem đến 11 cung kế tiếp để xem sự khắc hợp thế nào?
Thí dụ: người có Mệnh Mộc, cung Mệnh ở Dần cũng là hành Mộc, như vậy:
Phụ Mẫu nào ở Mão Mộc là tương hòa, con người giữ được chữ hiếu và cũng được cha mẹ yếu thương, Phúc Đức ở Thìn Thổ là khắc (mệnh Mộc khắc Thổ) là không tìm được sự giúp đỡ của họ hàng và bản thân cũng không tìm thấy sự an ủi, thoải mái đối với họ hàng.
Ðiền, Quan ở Tỵ là Hỏa, Mộc sinh Hỏa cho nên sẽ vất vả với công danh, với nhà cửa.
Nô ở Mùi, Tài ở Tuất, Bào ở Sửu đều thuộc Thổ cả ta cứ luận như ở cung Phúc Ðức - nghĩa là phải vất vả với bạn bè, anh em và tiền bạc vì Mộc khắc Thổ. Ách ở đâu là Kim khắc Mệnh Mộc có nghĩa là mỗi khi bị bệnh tật hay tai nạn thì khó mà tránh được dễ dàng.
Cung Di ở Thân là kim khắc mộc: nghĩa là đứng trước một đối tượng người này hay bị ở vào tư thế lép vế dù rằng có khi mình hơn họ về phương diện nào đó.
Tử và Thê ở Hợi và Tý thuộc thủy sinh cho mệnh ở Dần, nếu lập gia đình, có con cái, thì cuộc đời sẽ thấy thoải mái hơn và nếp sống trong gia đình với vợ con cũng đặt được sự yêu thương thuận thảo.
Như trên là nguyên tắc và thí dụ, đối với các trường hợp khác cũng vậy cứ dùng ngũ hành sinh khắc của mệnh và 12 cùng mà suy, hễ khắc thì không hợp, tương hòa hay sinh thì được sự phù trợ, tùy theo cung sinh hay khắc.
Để xếp hạng cách cục được hướng cho mỗi người, nhất là 14 chính tinh và các trung tinh. Hiểu rõ tính chất của mỗi sao, các sao đi như thế nào là đúng bộ, có phá lẫn nhau không, các sao Thủ và chiếu mệnh có đồng hành với bản mệnh không?
Thí dụ: bộ Nhật Nguyệt cần có Ðào Hồng Xương Khúc, bộ Tử Phù Vũ Tướng cần Tả, Hữu, Tam Hóa, bộ Sát Phá Tham cần Lục Sát Tinh đắc địa, bộ Cơ Nguyệt Ðồng Lương cần Tam Hóa, Quang Quý, Thai Tọa, phá của các cách, nhưng xin quí đọc giả lưu ý phần tính chất các sao là 1 trong những yếu tố quan trọng nhất để đoán tử vi được chính xác, nó cũng là 1 yếu tố để gây hứng khởi cho người xem và được xem tử vi.
Một người có số dù các sao đã đi đúng bộ nhưng không có chính tinh đồng hành với mệnh thì cũng chẳng tốt gì, dù mệnh có chính tinh hay trung tinh đi đúng bộ, lại có chính tinh đồng hành làm lòng cốt, nhưng lại gặp phá cách thì cũng vất đi mà thôi.
Thí dụ: Tử Phủ Vũ Tướng Hội Tam Hóa, Tả Hữu, nhưng lại gặp cả Không Kiếp, là cách để ngộ hung đồ. Lúc ấy Tả Hữu sẽ kết hợp bè đang với Không Kiếp và Quyền, Lộc lúc ấy chính là cái mồi để cho lũ hung đồ Không Kiếp làm rắc rối cho mình.
Có thuộc rõ tính chất của từng sao thì mình mới luận được nhiều điều dị biệt trong lá số, mới nắm được cái lý biến hóa vô cùng của Tử Vi, tại sao cũng số như vậy mà người này thế này người kia thế kia. Tại sao theo sách thường thì Ðào Hồng Nhật Nguyệt là thi đỗ mà nay người ấy lại chẳng đậu, chẳng hóa ra các người đi trước sai cả hay sao, nhưng nếu xét cho kỹ thì mới thấy được cái đã phá đi mất tính chất tốt đẹp ấy. Nói tóm lại, gặp sao tốt phải xem ngũ hành để mình có được hưởng hay không? Rồi xem có bị phá cách không? Gặp hung tinh xem có đắc địa không? Tất cả các bàng tinh (sao nhỏ) có nhập bộ không? Có phù trợ đắc lực hay hợp với bộ chính
tinh của mình không? Có nhiều người đã cho rằng môn Tử Vi cần đơn giản hơn, bỏ bớt các sao nhỏ đi không cần dùng tới, nói như thế thì các bậc tôn sư ngày xưa lập và theo môn Tử Vi lại làm thừa sao? Sao các cụ không bỏ bớt mà phải chờ đến lượt mình. Sự thật, nếu thuộc kỹ, các tính chất cả các sao nhỏ mới tìm thấy các vi điệu, cái lý thú của Tử Vi.
Thí dụ: như sao Phượng Các và Giải Thần luôn luôn đi với nhau, có người bảo sao không bỏ bớt 1 sao mà lại phải để cả hai, thực ra vì cái lý khi tiểu hạn gặp Phượng Các tất có ốm đau nặng, nên Giải Thần phải luôn luôn đi
kèm để giải đi cái hung hãn của Phượng Các. Lại như Thiên Riêu, Thiên Y lúc nào cũng đồng cung vì lấy lý rằng: thầy thuốc luôn luôn phải biết cả Y, Dược. Luôn bào chế, nhưng cho dù thế sự ngày này biến đổi đã phân ra
làm Y, Nha, Dược hỏi về cách dùng thuốc. Chính là tính chất Thiên Y vậy.
Những suy luân tiếp theo và những kinh nghiệm về hợp cách và phá cách sẽ được trình bày ở mục Tử Vi vấn đáp.
Sau khi đã xem đến ngũ hành, đắc tinh miếu, hãm. Bộ cách các chính tinh hợp nhau, phá cách và các sao Phù trợ lại cần phải để ý lại 1 lần nữa xem vị trí các sao nằm trên 12 cung số có đúng với các sao nằm trên 12 cung số, có đúng với tính chất của nó không? Tài tinh phải cư Tài Bạch, Phúc Tinh phải cư Phúc Ðức, Quyền tinh phải ở Quan lộc, Uy Dũng chỉ tinh nên ở mệnh với nam nhân, còn nữ nhân mà có Uy Dũng tinh thủ chiếu mệnh là phá cách, cuộc đời sẽ cô đơn vất vả, và có nhiều oan trái dù có nhiều cát tinh phù trợ sao tuy đi đúng bộ, đắc địa nhưng nằm nghịch vị trí thì cũng không tốt, ví như Phá chẳng nên cư ở Nô Bộc, Thê Thiếp, Tài Tinh là Lộc Tồn, Hỏa Lộc nên tránh xa cung Tật Ách, các sao cứu giải cần đóng ở Ách, Phúc tinh nếu đóng ở Phúc Ðức thì tốt hơn các cung khác.
a. Nếu mệnh nằm trong tam hợp tuổi
Thí dụ người tuổi Dần có mệnh lập ở Dần, Ngọ hay Tuất tức là vị trí Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch Hổ vì sao Thái Tuế an theo năm sinh, sinh năm nào Thái Tuế cư cung có tên của năm ấy; tức là loại người luôn luôn tự mắc cho mình lấy 1 tinh thần trách nhiệm, hay can dự vào những chuyện bất bình, gánh vác việc người, có lòng hào hiệp, chính vì vậy mà Phú Ma Thị có câu "Thân cư Thái Tuế dữ nhân qua hợp", Thân đây chính là Thân Mệnh vậy, các cổ thư khi bàn đến tính chất của Thái Tuế đều cho như một cái gì không tốt đẹp lắm; nào là đa chiêu thị phi khẩu thiệt, ít cảm tình, kiêu kỳ lý luận chính vì cái lý sự đời nhiều cảnh trái ngang, mà đã là chính nhân quân tử thì làm sao lại hòa mình với sói lang được, nên phải đứng riêng, ra tay nghĩa hiệp nên hay bị thiên hạ gây ác cảm, cái tính chất của Thái tuế như vậy cho nên bao chiều chung quanh luôn luôn có Long Phượng Cái Hổ, là tứ linh phục châu - bởi vậy người Thái Tuế không cần Tam hóa, cũng vẫn phong lưu, vẫn được người đời khi ghét nhưng vẫn phải nể. Vì ghét đây vẫn chỉ là ghét vì thói thường, vì sự can thiệp của Thái Tuế mà cản trở việc làm mờ của họ. Nhưng người Thái Tuế vẫn đứng trên lẽ phải, do đó mà người có Thái Tuế thường hay tự hào, đôi khi kiêu ở ngầm trong chính bản thân họ, trong tâm hay khinh thường đối tượng. Sách nói Thái tuế khinh người quả là không sai.
Khi Mệnh có Thái Tuế, tức đi Phu mẫu Phải ở thế tam hợp với Thiên Không, có nghĩa là từ khi sinh mình ra thì công việc, sự nghiệp của cha mẹ đang trên đà xuống dốc nếu không muốn nói là suy sụp.
b. Nếu mệnh nằm trong tam hợp lấn tuổi
Thí dụ: tuổi dần ngọ tuất mà mệnh nằm ở 1 trong 3 cung Hợi Mão Mùi, tức là ở thế lấn và luôn luôn có Thiên Không, vì Thiên Không an ở đằng trước theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ), trước Thái tuế 1 cung, ở đây lại chia làm 3 trường hợp:
c. Mệnh ở Tam Hợp: Tang Môn, Ðiếu Khách, Tuế Phá tức là lấn với cung tuổi 2, hay lùi sau 2 cung
Ðây là loại người hay bất mãn, than vãn để đi đến đối lập, cuộc đời hay gặp nghịch cảnh để khơi nỗi niềm bất mãn lên cao nhưng nếu gặp Thiên Mã đồng hành bản mệnh thì lại giúp cho họ có 1 nghị lực vững vàng để sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn tiến đến thành công.
d. Mệnh ở thế lùi với cung tuổi
Tức là mệnh 6 cung sau cung tuổi, thí dụ tuổi dần ngọ tuất có mệnh ở tỵ dậu sửu, với vòng Thái Tuế là: Trực phù, Thiếu âm, Long Ðức là loại người hiền từ căn bản, hay nhịn không hơn thua, chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ di, nhưng hành động lại vụng về chuyên đào giếng cho thiên hạ uống nước.
Nếu mệnh ở thế lùi cung tuổi thì Phu mẫu lại thế Thái Tuế và có Long Phượng Cái Hổ, như thế là từ khi sinh ra mình, cha mẹ sẽ ăn nên làm ra sự nghiệp thăng tiến.
Ðến đây, xin kính cẩn tri ơn cụ Thiên Lương, nhưng phổ biến việc khai triển vòng Thái Tuế và các kinh nghiệm có tính cách nghiệm lý của cụ về Tử Vi, đã gây 1 tiếng vang chấn động trong làng Tử Vi mà các cổ thư hay các cụ tiền bối của ta vì hữu ý hay vô tình không nói đến. Cụ đã mở ra, đã chứng minh, đã xây dựng thành công Tử Vi là cả một nguyên lý học, dạy con người ở đời phải sống thế nào cho được thoải mái, chứ không phải chỉ thu hẹp Tử Vi như một môn bói toán, với những định luật bắt buộc có tính cách cố định, như những ai kia hằng quan niệm.
CÁC CUNG NHỊ HỢP GỒM CÓ:
Nhưng cần lưu ý thế nhị hợp giữa 2 cung sinh xuất, hay sinh nhập, muốn biết cung nào sinh xuất hay sinh nhập cho cung nào cần biết thế tam hợp và hành của tam hợp.
Như thế: 4 thế tam hợp chỉ có bốn hành Hỏa, Thủy, Mộc, Kim còn hành Thổ đi đâu mất? Trong dịch học có nói Thổ là trung ương, ứng với số 5, còn gọi là Ngũ Trung trong ngũ hành Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ thì hành Thổ là chính cho nên Tử Vi, Thiên Phủ là 2 sao đứng đầu của 2 nhóm chính tinh đều thuộc Thổ - ở đây ta thấy các Tam hợp Dần Ngọ Tuất tuy thuộc hành Hỏa, nhưng trong đó đã có Tuất Thổ, Thân Tý, Mùi thuộc Mộc có Mùi Thổ, Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim có Sửu Thổ.
Ðem hành của Tam Hợp so sánh với thế nhị hợp ta có:
Như vậy, trên lá số có 12 cung, có 6 cung được sinh nhập và 6 cung sinh xuất:
Ðể cho dễ nhớ hơn, trong thế nhị hợp của 12 cung thì 6 cung dương là sinh nhập, còn lại 6 cung âm là sinh xuất.
Ứng dụng:
Các cung khác cũng luận như vậy. Cung an Thân cũng luận như thế vì Thân ở đây chính là cái ta vậy. Thứ đến luân đến yếu tố sao của cung nhị hợp: khi coi cung nhị hợp phải để ý xem có chính tinh nhị hợp, phải để ý xem có chính tính nhị hợp hay không?
Nếu có mới là bảo đảm nhị hợp còn nếu không chỉ là hư vị mà thôi. Thí dụ: Tử vi ở cung Ngọ (dương) nhị hợp với cung Mùi (âm) nếu lấy lý âm dương mà suy thì âm phò dương tức Mùi sinh Ngọ - nhưng hễ cứ Tử Vi cư Ngọ thì cung Mùi bao giờ cũng vô chính diệu mà đã vô chính hiệu thì lấy gì kết đôi với Tử Vi đây? Như thế thì cung Ngọ không thể hưởng được các sao ở cung Mùi.
Như thế nào thì hưởng thế xung chiếu? Cung Thiên Di luôn luôn ở thế xung chiếu với cung Mệnh tức là thế đối nghịch với mình, sách xưa nói Thiên Di là ra ngoài, phải hiểu rằng Thiên Di chính đối phương của mình, vì thế mới có câu:
Ðối phương hung đương đầu ác bổng.
Ðối phương cát ngưỡng diện xung phong.
Nếu cung Thiên di khắc cung Mệnh tất không được hưởng cung Thiên Di, mà còn xấu rứa là khác, nếu cung đi và tam hợp của đi có nhiều hung sát tinh hội họp.
Thí dụ: người có mệnh lập ở Dần, Thiên di ở Thân mà tam hợp Thân Tý, Thìn lại có sát tinh, thì khi ra đời hay bị thua kém. Chỉ được hưởng cung Thiên Di khi cung mệnh khắc cung di, đây chính là lúc áp dụng coi chính điệu xung chiếu như chính diệu tọa thủ đối với cung vô chinh diệu. Thí dụ: người mệnh lập ở Thân có Thiên Di ở Dần, Thân khắc Dần nên mới thu hút được các sao ở cung Dần sang, coi như ở thế bị khắc thì đã bị khắc rồi thì còn lấy của đối phương làm sao được?
Phải để ý Thân, Mệnh, Tài, Quan có bi Tuần Triệt xâm phạm không? Tật ách có được Tuần, Triệt hay các sao cứu giải như Hoa Khoa cư ở đấy không?
Sau khi đã biết được tổng quát cuộc đời và các cung liên hệ như Bào, Thê, Tử.. thì coi đến hạn.
Trong lá số Tử Vi có 2 loại hạn. Tiếng hạn đây chỉ có nghĩa như 1 khoảng thời gian có giới hạn mà trong đó mình sẽ gặp hay được hướng những gì chứ không phải hạn đây là tai nạn.
A. Ðại Hạn
Trước hết phải xem yếu tố đại cuộc, tổng quát xem đại hạn ấy có thuận lợi cho mình không? Bằng cách dùng tam hợp tuổi của mình so sánh với hành tam hợp của từng đại hạn để xem xung khắc thế nào?
Sau khi đã xem đến Ngũ Hành Sinh Khắc để biết trong đại hạn 10 năm ấy, có được thuận lợi hay không, phải để ý đến các sao thủ mệnh thuộc bộ nào, có hợp bộ với các sao trong đại hạn hay là bị các sao của hạn làm phá cách đi. Thí dụ: mệnh Nhật Nguyệt tối kỵ hạn gặp Hình Kỵ, mệnh Thất Sát kỵ hạn gặp Kình Ðà, tối độc mệnh có Lục Sát Tinh, hạn lại gặp Ðại hao, Phá quân như trên chỉ là thí dụ điển hình, nhiều cách, nhiều sao phá nhau đã được trình bày trong bất cứ các sách Tử Vi nào cũng có, nhưng truy nguyên cũng suy từ tính chất các sao mà ra, ta cứ học kỹ tính chất các sao mà r, ta cứ học kỹ tính chất các sao nghiền ngẫm, sẽ tìm được sự sinh khắc chế hóa thật là kỳ thú, nhiều khi thấy tốt đấy mà không phải là vậy, nhìn phớt thấy toàn sao tốt, nhưng chỉ một sao nhỏ cũng làm cho phá cách đi, tỷ như có người con gái mệnh có Ðào hoa ngộ Thiên Không, Hình, Riêu mà sao không lẳng lơ dâm đãng, lại thật là đúng đắn, vì có sao Nguyệt Ðức ở đấy, sao nãy hóa giải được tính hoa nguỵêt của đào hồng, hay người mệnh Hỏa mà hạn gặp sao Thủy thì không những chẳng được hưởng mà còn mang họa nữa là khác. Tóm lại: các sao trong hạn phải hợp bộ với bản mệnh và hợp bộ với bản mệnh và hợp hành với mệnh của mình thì mới được hưởng – rồi xem lại đến hành của tam hợp đại hạn ấy mình được sinh khắc thế nào mà chế hóa đi - cho tinh tường của Tử Vi cũng là chỗ này vậy.
Khi xem đại hạn nên chú ý đến các sao trong hạn, tuy hợp bộ nhưng tính chất có khác biệt với các sao ở mệnh không nếu có thì người ấy đến đại hạn đó sẽ đổi nghề, thí dụ: người mà các sao thủ mệnh là văn tinh như Xương Khúc Khôi Viêt.. nhưng đến Ðại Hạn lại gặp võ cách như Binh Hình Tướng Ấn, Sát Phá Tham tức là người ấy sẽ đổi văn ra võ, lại như người đang là võ cách đến đại hạn gặp toàn văn tinh, quí tinh nhưng sao an nhàn thì quyết là đổi võ ra văn, hay 1 người có số thầy – thuốc – nhưng đến đại hạn lại gặp Kình đã đắc địa. Các sao mồm mép như Cựu cơ và các Tài tinh, mà không gặp các Quý Tinh như Quan Phúc, Quang Quí, thì đại hạn ấy sẽ đổi nghề thầy thuốc ra thương mại.
Các trường hợp khác cũng vậy cứ tính chất các sao mà suy. Ở đây tôi chỉ xin phép để nhắc lại với quý đọc giả cái kỳ thú do sự nghiệm lý ở Tử Vi mà thôi cái Dịch học của Á Ðông ta biến hóa vô cùng dù viết cho có thiên kinh vạn quyển cũng bất tận - nhưng quy lại cũng chỉ có 1 nguyên tắc là Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc chế hóa nên người học Tử Vi cũng vậy, cứ nghiền ngẫm cho kỹ tính chất các sao và đặc tính của mỗi cung số là nắm được chìa khóa, đi từ gốc đi lên ta sẽ không bị lạc vào rừng, sở dĩ có trường hợp “a diêu” tử vi là vì có nhiều người khi cầm 1 quyển sách chỉ muốn đoán ngay được cái vận mạng của con người, nên chỉ lật phần lý giải mã không xem kỹ những nguyên tắc – có biết đâu phần phụ cũng như lý giải chỉ là những trường hợp điển hình tổng quát để giúp ta theo đó mà biến hóa cái cần bàn ra hơn nữa.
B. Tiểu Hạn
Tiểu hạn là những gì xảy ra trong 1 năm, đến với con người, trước khi đi vào tính chất các sao trong cung Tiểu hạn, nên lưu ý đến xung khác với tuổi của mình không, thí dụ như tuổi Canh Dần đến năm Bính Thân, Thiên Can là Bính Hỏa khắc Canh Kim, Ðịa Chi là Thân Kim khắc Dần Mộc. Như vậy gọi là năm Thiên khắc Ðịa Xung, độc lắm, thế nào cũng có 1 vài rắc rối xảy ra. Dù gặp nhiều sao tốt cũng bị giảm bớt đi, nếu có nhiều sao xấu thì lại càng hung bạo.
Về mục này trong cổ thư về Tử Vi có bài Phú như sau:
1. Kim nhân ngộ khảm mệnh tử thương
2. Mộc mệnh lạc hy hữu họa ương.
3. Thủy ngộ càn cung ứng khiến trệ.
4. Hỏa lai đoài thương hảo nan toàn.
5. Thổ khắc đông nam phung chấn tốn
6. Tu phòng nùng huyết cập kinh hoàng.
7. Túng nhiên cát điệu tương phùng chiếu.
8. Vị miễn quan tai náo nhất tràng.
Xin được giải như sau:
Tất cả trường hợp trên phải đề phòng bệnh tật tai ương - và rất cần gặp được Tuần Triệt án ngữ – hay cát tinh hợp chiếu thì mới ra khỏi, nhưng cũng gặp 1 phen hoảng vía.
Kế đến là chú ý đến các sao trong cung tiểu hạn, nếu Ðại Hạn đáo cung Thái Tuế làm cho con người được nhẹ bước thang mây bao nhiêu, thì tiểu hạn Thái Tuế lại rắc rối bấy nhiêu vì vậy nên cụ Lê Quý Ðôn mới có câu:
Quan phủ Thái Tuế một đoàn
Ðêm ngày chầu chực của công mỏi mòn.
Tiểu hạn Thái Tuế tất có sự thị phi quan tại khẩu thiệt phải liên quan đến chốn công môn. Khi xem tiểu hạn thì lấy sao của tiểu hạn phối hợp với gốc đại hạn và cung mệnh, để xem các bộ sao nhập bộ nhau ra sao mà đoán, tùy theo tính chất của nó, sau khi suy ra được tốt xấu thế nào, về phương diện nào thì lại phải chế hóa với các yếu tố đã trình bày ở trên xem xấu tốt tới độ nào?
Nhưng điều quan trọng khi đoán hạn, nếu thấy cát tinh cung chiếu phải để ý xem có sao nào làm cho phá cách không nếu thấy số xấu quá, gặp toàn hung tinh, hay nghịch lý âm dương ngũ hành thì phải đi tìm Tuần, Triệt và các sao cứu giải xem nằm ở đâu, có chiếu vào hạn để cứu khốn phò nguy hay không?
Còn như muốn biết cách cuộc của 1 người thuộc loại như văn đoàn, hay võ cách, thương mại hay tiện nhân, thọ yểu ra sao thì cứ lấy tính chất các sao thủ và tam hợp chiếu với mệnh, lại lấy ngũ hành của bản mệnh sánh với ngũ hành của chính tinh thủ chiếu rồi để ý xem có ác sát tinh nhập mệnh không mà đoán, sẽ thấy rõ được cái dự thảo mà Thượng Ðế đã dành cho mình do cái nhân của mình đã gieo từ tiền kiếp – để rồi cho mình tự do chọn lối sống thế nào mà ngay từ cái đời hiện tại vẫn có thể tu sửa để tránh được những phiền não mà kiếp người trong cõi nhân sinh không mấy ai thoát khỏi.
Bài viết của tác giả Phong Nguyên
Trong nhiều sách Tử Vi, cũng như trên tờ giai phẩm KHHB này đã có nhiều lần bàn về “MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU”; nhưng vì đề tài này rất bao la nên tôi tưởng không phải là vô ích khi đưa ra những chi tiết và kinh nghiệm dưới đây để qúy bạn tìm hiểu dễ dàng và chính xác hơn về Mệnh Vô Chính Diệu.
Thực vậy, từ trước đến nay, mỗi khi gặp trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu, chúng ta thường thường chỉ biết căn cứ vào những câu phú quen thuộc như:
– Mệnh Vô Chính Diệu phi yểu tắc bàn.
– Mệnh Vô Chính Diệu đắc tam không nhi phú qúy khả kỳ.
– Tam không độc thủ phú quý nan toàn.
– Xét xem phú qúy mấy người, Mệnh Vô Chính Diệu trong ngoài tam không …
Chứ làm gì có một hệ thống hoặc tài liệu chi tiết nào về trường hợp trên, đành rằng có những nhà tử-vi rất thông suốt về Mệnh Vô Chính Diệu nhưng rất tiếc các vị đó lại không chịu đem ra cống hiến. Vì vậy tôi mạo muội gom góp những chi tiết đã thâu lượm được và tạm chia làm hai phần:
– Những ưu khuyết điểm về Mệnh Vô Chính Diệu.
– Những điều phức tạp về Mệnh Vô Chính Diệu.
1-NHỮNG ƯU KHUYẾT ĐIỂM VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
A) Những khuyết điểm
Hầu hết các nhà tử-vi đều không khen những lá số có cách Vô Chính Diệu tại Mệnh vì cho rằng những cách này có nhiều khuyết điểm hơn là ưu điểm. Những khuyết điểm chính như sau:
1) Căn bản không vững
Căn bản ở đây không có nghĩa là khả năng hoặc tài năng mà chỉ có nghĩa là môi trường của mình. Mệnh Vô Chính Diệu (tức là không có chính tinh thủ mạng) bao giờ cũng phải tuỳ thuộc vào chính tinh ở cung xung chiếu, và khi đã phải tuỳ thuộc tức là không có căn bản vững, hoặc nói nôm na là không có gốc. Nếu không được cung xung chiếu có sao tốt lại phải hướng sang hai cung hợp chiếu (Tài và Quan) mà ảnh hưởng sẽ yếu hơn nhiều và do đó môi trường của Mệnh lại càng bấp bênh hơn nữa. Vì vậy, dù cho người Mệnh Vô Chính Diệu có tài năng, thông minh (do các yếu tố tử-vi khác cho hưởng) rất dễ bị thăng trầm về sự nghiệp khi gặp Đại tiểu hạn giao động mạnh, không khác gì căn nhà không có cửa bị cơn gió lốc thổi thốc vào làm tan tác cả căn nhà, trừ trường hợp có Tuần Triệt án ngữ thì đỡ hơn nhiều.
2- Khó đóng vai trò chính
Như trên đã nói, Mệnh Vô Chính Diệu không khác gì căn nhà không có cửa dễ bị ảnh hưởng của thời tiết cũng như ngoại cảnh. Do đó người Mệnh Vô Chính Diệu (dù Đắc Tam Không) không thể và không nên giữ vai trò chính trong bất cứ lĩnh vực, cảnh ngộ nào, từ xã hội, gia đình cho đến hôn nhân. Chính cụ Hoàng Hạc cũng đã nêu trên KHHB trước kia là gặp trường hợp này nên cam phận làm “phó” thì yên thân, nếu làm chính dễ bị mất chức. Riêng tôi, tôi còn nói thêm rằng ngay trong gia đình cũng vậy, người Mệnh Vô Chính Diệu cần phải là con thứ hoặc nếu chẳng may là con trưởng thì cần phải là con bà vợ sau của cha mình (tức là bà vợ chính không có con trai). Như thế mới có thể sống lâu hoặc mới có công danh khá được. Thậm chí đến vấn đề hôn nhân, người Mệnh Vô Chính Diệu nên chịu làm “kẻ đến sau” thì cuộc sống dễ thịnh vượng hơn, còn trường hợp vợ mình là chính chuyên thì đương nhiên bị thiệt thòi về sự nghiệp. Đó là một điểm “hận” lớn lao cho người Mệnh Vô Chính Diệu. Kể ra cũng chẳng có gì khó hiểu, vì khi căn nhà trống (vô chính diệu) thì ta cần có một cái vật gì đó che bớt cho khuất gió, tuy hơi trở ngại nhưng đỡ bị tan tác khi có gió mưa lớn. Về người cũng vậy, nếu có người khác “đứng mũi chịu sào” thì khi gặp trách nhiệm lớn lao mình làm phó đâu có chịu lỗi nhiều hoặc gánh vác nhiều, dù cho mình có nhiều khả năng chăng nữa. Còn về hôn nhân tuy không đặt vấn đề trách nhiệm nhưng phải có cái gì đó “án ngữ“ gián tiếp, ví như Tuần, Triệt vậy.
3) Khó phát sớm
Trừ một vài trường hợp đặc biệt, tôi nghiệm thấy các người mệnh vô chính diệu đều không phát khi còn trẻ, không khác gì một cái cây non khi mới nẩy mầm nơi đất xấu, phải trông cậy vào phân bón hoặc mưa nắng thuận hòa mới dần dần vươn cao, có hoa có lá. Vì vậy, nếu quý bạn có Mệnh Vô Chính Diệu cũng đừng bao giờ quá thất vọng khi thấy sự nghiệp, công danh của mình phát chậm, miễn là những đại vận từ trung vận trở đi không quá tệ. Nếu qúy bạn nào phát sớm trong trường hợp này tưởng cũng không nên qúa mừng và tự tin vì không khác gì “hoa sớm nở tối tàn” về công danh cũng như về tuổi thọ. Để cho dễ hiểu, tôi xin đơn cử một thí dụ: một đứa bé sơ sinh nếu ra đời non hoặc qúa yếu đuối ngay từ lúc lọt lòng mẹ, nếu cứ cho uống đủ các thứ thuốc bổ để mau mập mạp, khoẻ mạnh không thể đúng cách bằng nuôi nấng một cách điều độ cho khoẻ mạnh lần lần. So với Tử vi cũng vậy, nếu Mệnh Vô Chính Diệu mà gặp ngay Đại Hạn kế tiếp thật tốt rồi những đại hạn sau xấu thì không thể nào hay bằng đại hạn kế kém nhưng những đại hạn sau tốt đẹp, để cho mệnh đủ thời gian hấp thụ các sao thuộc các cung xung chiếu và hợp chiếu, như thế mới đủ khả năng sử dụng các đại hạn tốt một cách vững bền.
4) Nghị lực kém
Khuyết điểm sau chót của người Vô Chính Diệu tại Mệnh là khó lòng họ có can trường hoặc tinh thần dũng mãnh cương nghị, dù có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng vậy. Điều này cũng rất dể hiểu vì khi mình nhờ vả ai (tức là Mệnh nhờ các cung chiếu) thì mình phải chịu ảnh hưởng của người đó, nếu không muốn nói là lệ thuộc và khi đã ở cảnh ngộ như thế thì làm sao giữ vững được lập trường. Tuy nhiên, nếu Mệnh chịu ảnh hưởng của cung Tài Quan nhiều hơn thì việc lệ thuộc cũng nhẹ hơn nhiều, vì Tài Quan là các cung của cá nhân mình, thì chỉ ngại cung Thiên Di, nếu có các chính tinh dùng cho Mệnh được nhiều thì sự lệ thuộc vào ngoại giới sẽ mạnh mẽ hơn vì cung Thiên di tiêu biểu cho giới giao thiệp, bạn bè trong xã hội (Tôi sẽ bàn về cung Thiên Di trong một bài riêng biệt). Vậy quý bạn cần chú ý đến điểm này khi cân nhắc về nghị lực của người Mệnh Vô Chính Diệu.
Những ưu điểm
Chắc qúy bạn nào có Mệnh Vô Chính Diệu sau khi đọc những điểm trên đây đều thất vọng cho số phận của mình, nhưng thực ra con người Mệnh Vô Chính Diệu lại có những điểm độc đáo khác mà những người khác ít khi có.
1) Đa năng mẫn tiệp
Khi Mệnh đã “bỏ ngõ” tuy dể bị ảnh hưởng của các sao xấu bên ngoài nhưng cũng tiếp nhận dễ dàng những tinh hoa của các cách tốt chiếu về, nếu có. Do đó, người Mệnh Vô Chính Diệu (khi lớn tuổi) thành công dễ dàng nhưng tuần tự trong mọi lãnh vực do khả năng tìm hiểu, tò mò, kiên nhẫn của mình, mức độ thành công tùy theo các cách tốt trong tử vi. Vì thế, trong nhiều sách như cuốn Tử-Vi Đầu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang đều nói rằng người Mệnh Vô Chính Diệu khôn ngoan sắc sảo là thế. Nếu qúy bạn là Chủ nhân hay Giám đốc thì nên dùng người Mệnh Vô Chính Diệu vì họ rất chịu khó học hỏi, có lương tâm nhà nghề, có óc cầu tiến, nhưng đừng bao giờ dùng họ trong vai trò chủ chốt như đã nói trên để cho họ khỏi bị mất chức. Đến như Khổng Minh kia (cung Mệnh Vô Chính Diệu) tuy tài ba phi-thường như thế mà cũng đành phải chịu làm cố vấn, quân sư cho kẻ khác, chứ đâu có xưng vương đồ bá gì nổi …
2) Ít bị tai nạn
Tôi xin nói ngay là người Mệnh Vô Chính Diệu bớt được nhiều tai nạn chứ không phải là chẳng bao giờ bị tai nạn. Sở dĩ họ được điểm may như vậy là vì Mệnh Vô Chính Diệu khi gặp Đại tiểu hạn Sát Phá Liêm Tham và hung tinh đắc địa lại phát mạnh, trong khi Mệnh có chính tinh lại không hợp và có khi còn bị nguy hại. Như vậy là Mệnh VCD đã bớt đi một số yếu tố tai hại vì đã quen với hung tinh.
Vì theo nguyên tắc chỉ có hung tinh mới gây ra tai ương nhiều hơn các sao khác, vì các bại tinh chỉ gây thất bại hoặc bịnh hoạn chứ ít khi đem đến tai nạn như hung tinh. Như vậy kể ra cũng công bằng vì người Mệnh Vô Chính Diệu thường hay khổ về tinh thần thì ít ra cũng phải bớt được tai ương nhiều.
3) Dễ thích ứng với hoàn cảnh
Mệnh Vô Chính Diệu chẳng khác gì Mệnh trung lập, gặp đại vận nào cũng thích ứng được không bị cảnh “chéo cẳng ngỗng” như Mệnh có chính tinh, do đó đỡ bị gặp bước đường cùng (Đây tôi không nói về thọ yểu mà chỉ bàn đến công danh, sự nghiệp, vì lẽ tất nhiên gặp hạn xấu qúa thì phải chết). Thí dụ như hạn gặp Tuần, Triệt hoặc Thiên Không đối với Mệnh có chính tinh (nhất là sao Tử-Phủ) thì rất tai hại, bất lợi nhưng đối với Mệnh Vô Chính Diệu lại hay vì không khác gì nhà cửa đang trống trải bị gió thốc vào nay lại được lắp cửa ngõ đàng hoàng (tức là Tuần Triệt, Thiên Không) thì căn nhà yên ổn biết bao. Tôi đã được xem nhiều Lá số vô chính diệu, có người bị thăng trầm luôn luôn nhưng gặp hoàn cảnh nào cũng thích ứng được rồi dần dần ổn định
II- NHỮNG ĐIỂM PHỨC TẠP VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
Tôi có thâu thập được khá nhiều điểm phức tạp về cách giải đoán Mệnh Vô Chính Diệu, nhưng chỉ xin nêu ra những điểm chính và quan trọng (tôi không nhắc lại những điểm đã bàn tới trên KHHB) để qúy bạn đỡ bị lúng túng khi quyết đoán:
1) Đắc Tam Không
Thường thường các nhà tử vi đều chê rằng Mệnh Vô chính diệu chỉ tốt khi đắc tam Không (tức là có Tuần, Triệt, Địa không hoặc Thiên không tôi không bàn chứ “Không” ứng cho những sao nào kể trên vì có vị không công nhận Tuần là “Không”, có vị lại bảo rằng Thiên Không mới không phải là “Không” nhưng chưa có ai chứng minh được hợp lý), và cụ Song An Đỗ Văn Lưu (tác giả cuốn Tử vi chỉ nam) có nêu ra thêm là mạng Hỏa và Kim mới hợp với cách này nhất. Điểm này chỉ đúng khi đương số là con một, mà tôi đã bàn trên KHHB rồi. Ngoài ra, quý bạn còn phải phân biệt như sau:
- Nếu mạng có nhiều trung tinh rực rỡ quần tụ mà có một Không án ngữ và hai Không chiếu về thì đừng nên ham cách “Đắc tam không” nữa vì các trung tinh bị mất hiệu lực. Trong trường hợp này chỉ nên có Tam không ở 3 phương chiếu về là hơn, nếu không thì chẳng cần đủ 3 Không mới khỏi tai hại cho Mệnh.
- Khi nào Mệnh không chính tinh mà chỉ có toàn bại tinh hoặc bàng tinh không quan trọng mới cần có một “Không” án ngữ, nhưng lại có điểm thiệt thòi là các cách hay ở bên ngoài khó bổ túc cho Mệnh vì bị “Không” ngăn trở, thành ra chưa hẳn là hoàn toàn có lợi. Về trường hợp này nhiều vị cho rằng nên có Thiên không hoặc Địa không hơn là Tuần, Triệt vì hai sao Thiên Địa Không không ngăn trở sự xâm nhập hoặc ảnh hưởng của các sao bên ngoài.
2) Không đắc Tam Không
Trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu không đắc Tam Không, tức là chỉ có Nhất, Nhị Không (ít khi không đắc Không nào) chưa hẳn là kém Tam Không và cũng không ngại “phi yểu tắc bần”, vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.Chỉ có điểm cần nhất là cung Phúc Đức không được xấu vì Mệnh yếu sẵn rồi phải nhờ vào cung “gốc” là cung Phúc Đức để tránh vấn đề kém thọ trước đã rồi mới tính đến công danh, sự nghiệp qua các cung hợp chiếu và đại hạn. Tôi đã được xem nhiều lá số Mệnh Vô Chính Diệu chỉ có đắc Nhất Không mà vẫn phú quý và chẳng hề chết non, nhưng những lá số này không có cái nào có cung Phúc Đức xấu.
3) Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu hư không chi địa
Cách này chắc nhiều bạn đã biết và nhiều nhà tử vi cho rằng rất hay, nhưng chúng ta cũng cần phân biệt một vài trường hợp như sau để khỏi sai lạc nhiều:
– Khi Mạng vô chính diệu có nhiều sao xấu (như: Địa Kiếp, Hỏa Linh, Phục Binh…) thực ra không nên có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu vì như thế không khác gì “vạch áo cho người xem lưng” bao nhiêu sự xấu xa trong nhà mình đem phô ra hết, tuy vẫn thành công, phú qúy nhưng mọi người đều thấy rõ bộ mặt thực của mình, như vậy tưởng cũng chẳng lấy gì là hay. Trong trường hợp này thà đừng có Nhật Nguyệt hoặc nếu có thì hãm địa (tức là không sáng sủa) còn hay hơn để đỡ bị chê cười, nhục nhã.
– Nếu mạng vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ mà có Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu thì không còn được hưởng cách này nữa, hoặc nếu có được hưởng cũng chỉ là cái vỏ phú quý, đó là “giả cách” mà thôi.
– Nếu được đúng cách Nhật Nguyệt (tức là Mệnh không có Tuần, Triệt và cũng không có các sao xấu) thì nên có thêm Thiên Không hoặc Thiên Hư để khoảng chân không được thăm thẳm cho có nhiều chiều sâu cho mặt trời, mặt trăng chiếu, như thế công danh, phú qúy mới phi thường và óc thông minh mới siêu việt, nhưng vẫn phải đóng vai trò “phó” mới lâu bền được
4) Đại tiểu hạn
Đối với Mệnh Vô chính diệu, việc giải đoán Đại tiểu hạn khác hẳn đối với Mệnh có chính tinh thủ Mệnh. Vì Mệnh vô chính diệu có khả năng hấp thụ đủ mọi cách, từ cách Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng lương cho đến cách Sát Phá Liêm Tham cùng với hung tinh đắc địa, chẳng bao giờ không ”ăn khớp” với các cách này. Tuy nhiên, chỉ ngại đi đến Đại tiểu hạn cũng Vô chính diệu lại không có Không nào thì khác nào một cái nhà trống, không cửa ngõ lại ở trên một khu vực “đồng không mông quạnh”, làm sao chống lại được mưa gió hoặc bị ảnh hưởng của bên ngoài, như thế tức là làm ăn thất bại dễ dàng, sự nghiệp suy sụp mạnh mẽ.
Qua những điểm tôi trình bày trên đây, chắc hẳn qúy bạn đều nhận thấy rằng dù sao người có Mệnh Vô chính diệu vẫn chịu nhiều thiệt thòi, bất lợi, nhất là đối với ai ham công danh, quyền chức lớn, mặc dù họ có nhiều tài năng đôi khi xuất chúng, nhưng tài để phục vụ cho kẻ khác (nhiều khi kém mình) thì tưởng cũng là điều không hấp dẫn.Chỉ đối với ai có đầu óc triết lý, ưa sống về tinh thần, ưa nghiên cứu về lý số, biết an phận thời may ra mới hợp cách Mệnh Vô chính diệu, dù đắc Tam Không hay Không.
KHHB số 74C2
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất |
![]() |
Nguyên tắc bố trí ban Thần Tài mà hầu như ai cũng nắm được là nên đặt ban ở dưới đất, phía sau lưng là tường, bức vách hoặc chỗ dựa chắc chắn, không có cửa sổ hay đục lỗ để tụ tài.
Nếu thờ Thần Tài và Thổ Địa cùng một ban thì cách bố trí ban thờ phải tuần tự. Hai bên, bên trái (nguyên tắc là từ ngoài nhìn vào) là ông Thần Tài, bên phải là Thổ Địa. Ở giữa hai ông là một hũ gạo, một hũ muối và một hũ nước đầy. Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ đặt một bát nhang và cần tránh động bát nhang khi lau chùi bàn thờ. Lọ hoa được đặt bên tay phải, đĩa trái cây bên tay trái. Hoa cúng Thần Tài nên là hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền. Trái cây nên chọn ngũ quả.
Quy tắc bói bài:
1. Nhắm mắt, giữ trạng thái tĩnh trong 30 giây.
2. Tự hỏi thầm bản thân: “Mình và “gấu” có thể tiến xa đến mức nào?”
3. Chọn một lá bài theo trực giác và xem đáp án.
Lựa chọn 1: The World
![]() |
Lựa chọn 2: Temperance
![]() |
Lựa chọn 3: The Hanged Man
![]() |
Kết quả tình duyên của bạn
Lựa chọn 1: The World – Tiến tới hôn nhân
Chủ nhân của lá bài này rất “kén yêu”. Nghĩa là bạn suy nghĩ nghiêm túc trước khi bắt đầu một mối quan hệ mới, từ việc lựa chọn đối tác, luôn xem xét phản hồi của người đó ra sao…. Đồng thời, thái độ chủ động, chân thành của bạn giúp cho tình yêu bền chặt và dễ vượt qua những lần xung đột. Kết quả là dù gắn bó với nhau vài tháng hay vài năm, hai bạn rất hiểu nhau và có thể đi tới hôn nhân khi điều kiện công việc, tuổi tác chín muồi.
Lời khuyên dành cho bạn là không nên quá cứng nhắc trong chuyện tình cảm. Hãy thử một lần thể hiện sự lãng mạn với người ấy, bạn sẽ thấy được gia vị mới thú vị của tình yêu.
Lựa chọn 2: Temperance – Xa đến đâu phụ thuộc hoàn toàn vào người ấy
Bạn là người có kinh nghiệm tình trường vì đã trải qua khá nhiều mối quan hệ. Tuy nhiên, đa phần bạn đều là phải chịu đựng nỗi buồn, sự thất vọng và tổn thương, sở dĩ cũng do cách yêu có phần mù quáng và khờ khạo. Cho dù nhiều lần tự nhủ phải rút kinh nghiệm từ mối tình trước, nhưng đã yêu, bạn lại quên tất cả điều ấy.
Niềm tin vào tình yêu của bạn dần cạn kiệt. Do đó, đến với mối quan hệ hiện tại, bạn muốn thử thách người đó thật nhiều theo cách cẩn trọng hơn. Quyết định này khiến “gấu” hoang mang và tỏ ra nghi ngờ về tình cảm của bạn. Nếu người ấy hiểu và chia sẻ với những gì bạn phải trải qua, thì cơ duyên của hai bạn sẽ tiến xa và ngược lại.
Lựa chọn 3: The Hanged Man – Khó tiến xa
Lá bài này cho thấy, trường hợp của bạn và “gấu” là nhân hòa, nhưng thiên không thời, địa chẳng lợi. Tình yêu của hai bạn đã gặp quá nhiều sóng gió. Hết việc gia đình phản đối, người thân khuyên từ bỏ, đến điều kiện công việc, học hành liên tục tạo rào cản để được ở bên nhau. Cho dù tình duyên rất mặn nồng, nhưng không thể phủ nhận có giai đoạn hai bạn muốn buông tay để chấp nhận sự sắp đặt của số mệnh.
Hoàn cảnh này như lời khẳng định việc mối quan hệ tiến xa đến đâu sẽ dựa vào 100% sự kiên trì của hai bạn trước những sóng gió. Nói bao giờ cũng dễ hơn làm, nên dường như cơ hội đến hôn nhân của bạn sẽ thấp.
Trên mặt khác Long Trì giỏi võ và Phượng Các giỏi văn. Trường hợp Long Phượng đồng cung ở Sửu Mùi thì văn vũ kiêm tư. Văn hay vũ hay nghệ còn tùy thuộc chủ tinh mà chúng đứng cùng.
Long Trì thuộc dương thủy còn Phượng Các thuộc dương thổ. Phượng Các chủ “tài”, Long Trì chủ “nghệ”. Phượng Các một mình đứng với Thiên Tài, Xương Khúc, hợp cùng Hóa Khoa rất tốt.
Long Phượng cùng đứng theo thế hiệp giáp làm thành con người thông tuệ. Long Phượng cũng đem cho nữ mạng nhan sắc phong thái diễm lệ yêu kiều và uy nghi. Long Phượng đứng với Khôi Việt Xương Khúc khiến nam mạng thành tài trí thông minh có tiếng tăm.
Long Phượng đi cùng những sao Liêm Trinh, Tham Lang, Đào Hoa thì chế giảm bớt tính trăng hoa. Long Phượng vào vận hạn chủ về tin vui, cưới hỏi, tài lộc, mưu sự.
Long Phượng gặp Diêu Hỉ càng tăng thêm điều vui. Long Phượng gặp Hoa Cái, Bạch Hổ làm thành bộ “tứ linh” có nhiều may mắn thành tựu.Long Trì hội Thai Phụ dễ thăng chức, gặp Mã Sinh Vượng đẻ con. Riêng Long Trì hội Không Kiếp hay Mộc Dục thì đề phòng sông nước gây tai nạn hoặc thành ra băng huyết cho nữ mạng. Trong khi Phượng Các mà hội Không Kiếp lại thường bị người oán trách cừu hận.
Sách Tử Vi Đẩu Số Tinh Diệu Tổng Đàm viết: “Tại Tật Ách cung mà Thất Sát đứng với Long Trì thì bị chứng âm hư, tai điếc, cũng cung này Thất Sát Phá Quân gặp Phượng Các thì lo bệnh nơi con mắt”
Những câu phú về Long Trì Phượng Các:
Thời xa xưa, người Hán thường cho rằng khỉ là con vật may mắn. Từ ‘hầu’ – có nghĩa là con khỉ, đồng âm với từ ‘hầu’- một tước vị quyền quý.
Thời xa xưa, người Hán thường cho rằng khỉ là con vật may mắn. Từ “hầu” – có nghĩa là con khỉ, đồng âm với từ “hầu” – một tước vị quyền quý. Bởi vậy, trong nhiều tranh vẽ, hình tượng con khỉ mang ý nghĩa là “phong hầu” (phong chức tước).
Cùng với biểu tượng các con vật khác, khỉ được sử dụng khá phổ biến trong phong thủy. Biểu tượng khỉ với các tư thế khác nhau thể hiện những ý nghĩa cát tường riêng. Nó có thể được tạo bởi nhiều chất liệu từ gỗ, ngọc, pha lê đến đồng, mạ vàng và thậm chí là vàng nguyên chất.
Nếu thấy hình tượng con khỉ leo trên cây phong thì biểu tượng mang ý nghĩa “phong hầu quải ấn” (đeo ấn phong hầu).

Nếu là hình tượng con khỉ cưỡi trên lưng ngựa thì có nghĩa là “mã thượng phong hầu” (cưỡi ngựa phong hầu).
Nếu hai con khỉ ngồi trên cây tùng hoặc một con khỉ cưỡi lên lưng con kia, có nghĩa là “bối bối phong hầu” (đời đời phong hầu).


Bối bối phong hầu – Dây đeo “bối bối phong hầu”
Nếu đặt biểu tượng con khỉ ở vị trí thích hợp sẽ mang lại điều tốt đẹp và may mắn cho gia chủ. Ngoài ra, cũng có thể sử dụng biểu tượng này làm vật trang sức đeo trên người.
Thời rất xa xưa, khi loài người chưa tìm ra lửa để nấu nướng thức ăn, để soi sáng chỗ ở của mình trong đêm dài tối tăm thì ánh trăng quý lắm. Người cổ xưa thấy trăng đi lại trong vòng 29 ngày, khi tròn khi khuyết, nhưng rất đểu đặn, như một người bạn trung thành không bao giờ lỗi hẹn và lấy đó làm đơn vị chính để đo thời gian. Cuốn lịch cổ nhất của loài người tính theo tuần trăng là âm lịch Ba-bi-lon (Trung Đông) sáng chế cách đây 7- 8 nghìn năm.
Âm lịch Trung Quốc có từ cách đây 42 thế kỷ, mỗi năm 12 tháng, trọn 354 hoặc 355 ngày. Lịch cổ Hy Lạp cũng là âm lịch, mỗi năm có 354 hoặc 355 ngày. Nhưng nếu số ngày trong mỗi năm chỉ có thế thôi thì chỉ năm trước năm sau là thời tiết không đúng với lịch nữa rồi, qua 3 năm thời tiết chênh lệch với lịch hàng tháng, qua 6-7 năm thì lịch là mùa hè mà trời vẫn đang xuân. Tuy nhiên cũng phải qua vài trăm năm liên tục nghiên cứu những sai lệch kỳ quặc ấy, các nhà thiên văn xưa kia mới tìm được cách làm cho âm lịch tương đối khớp với thời tiết: trong 3 năm phải có một năm thêm một tháng-(năm nhuận), 5 năm có 2 năm nhuận, 19 năm có 7 năm nhuận. Gọi là âm lịch, thực ra lịch này không còn hoàn toàn là âm lịch nữa, mà đã phối hợp âm lịch với dương lịch, vì tháng thì tính theo trăng, còn năm thì bám theo thời tiết, mà thời tiết thay đổi từng mùa xuân, hạ, thu, đông nối nhau là do quả đất vận chuyển quanh mặt trời, lúc gần lúc xa, theo một quỹ đạo hình bầu dục.
Chỉ có lịch Hồi giáo mới thuần túy là âm lịch, cứ theo tuần trăng mà tính một năm 12 tháng, trọn năm 354 ngày. Cho nên nếu một người Hồi giáo khoe là 102 tuổi rồi thì đúng ra chỉ là 96 năm.
Người Ai Cập sáng chế ra dương lịch từ cách đây hơn 6.000 năm. Bấy giờ, người ta tính năm theo chu kỳ nước lũ của con sông Nin, con sông quyết định vận mệnh của nhân dân AI Cập. Nhưng những người làm lịch chỉ tính mỗi năm có 365 ngày, mà thực ra năm dương lịch là 365 ngày và 2,422/10.000 giây (tức là gần 1 phần 4 ngày). Cho nên, theo lịch này thì cứ 4 năm thiếu mất một ngày: qua 1.000 năm, lịch và thời tiết sai nhau 250 ngày: qua một chu kỳ 1.460 năm, lịch và thời tiết mới gặp nhau, rồi lại dần dần sai lệch mãi cho đến hết chu kỳ khác. Tính hỗn độn này ở Ai Cập kéo dài hơn 4.000 năm. Mãi đến năm 240 trước Công nguyên (cách đây 2.211 năm) người ta mới sửa lại lịch, cứ 4 năm có một năm nhuận 366 ngày (thêm một ngày).
Người La Mã làm dương lịch từ cách đây khoảng 3.500 năm, buổi đầu cũng giống lịch Ai Cập, mỗi năm 365 ngày. Năm 46 trước Công nguyên, hoàng đế La Mã ià Giuyn Xê-da nhờ nhà thiên văn Hy Lạp Xi-xô-gien nghiên cứu sửa đổi lịch. Xi-xô- gien quy định mỗi năm 12 tháng, gồm 7 tháng 31 ngày, 4 tháng 30 ngày, riêng tháng 2 có 28 ngày, cộng lạí là 365 ngày và cứ 4 năm thì có 1 năm nhuận, tháng hai 29 ngày. Lịch này gọi là lịch Xê-da.
Nhưng rồi người ta lại phát hiện ra cái sai khá to cũa lịch Xê-da. Bởi vì, trung bình mỗi năm lịch Xê-da so với thời gian quả đất đi một vòng quanh mặt trời thì dài hơn 78/10.000 ngày, tức là 11 phút 14 giây. Mỗi năm sai lệch như vậy có là bao đâu? Qua 100 năm chỉ thừa 3/4 ngày. Ấy thế mà đến năm 1582, tức là qua 17 thế kỷ dùng lịch Xê-da, người ta phải sửa đổi lịch này và quyết định rút bớt đi 10 ngày cho hợp với thời tiết. Năm 1582 như vậy chỉ còn 355 ngày thôi.
Người đứng đầu việc sửa đổi lịch Xê-da là Giáo hoàng Gơ-rê-goa 13. Một hội đồng các nhà bác học đã nghiên cứu sửa lịch Xê-da như sau: Cứ 4 năm có một năm nhuận nhưng trong 400 năm thì phải bớt đi 3 năm nhuận. Lịch sửa đổi gọi là lịch Gơ-rê-goa. Từ khi lịch này ra đời (1582) đến nay, hơn 400 năm đã bỏ 3 năm nhuận: 1700, 1800, 1900. Đó là những năm mà hai con số sau cùng là 00, nhưng hai con số đầu (17, 18, 19) thì không chia hết cho 4. Như vậy trong vòng 400 năm tới thì năm 2000 là năm nhuận còn ba năm 2100, 2200, 2300 không nhuận. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới dùng lịch Gơ-rê-goa. Nhưng phức tạp, La Mã và Tây Ban Nha dùng lịch Gd-rê-goa trước tiên, sau ngày 4/10/1582 theo lịch Xê-da tiếp ngay đến ngày 15/10/1582. Hai tháng sau, Pháp và Hà Lan sửa đổi lịch. Đến 1584 thì Đức và Thụy Sĩ bắt đầu dùng lịch mới. Nước Anh dùng lịch cũ mãi đến năm 1752 mới thôi. Khi đổi lịch mới phải bớt đi 11 ngày, quần chúng biểu tình khắp đường phố đòi "trả lại chúng tôi 11 ngày". Nước Nga dùng lịch cũ mãi đến ngày 26 tháng 1 năm 1918 chính quyển Xô viết mới quyết định dùng lịch Gơ-rê-goa, cùng chung một quyển lịch với đại đa số nhân dân thế giới. Cho nên, năm 1917 theo lịch Xê-da thì Cách mạng Vô sản nổ ra ngày 25/10. Từ năm sau 1918, theo lịch mới kỷ niệm Cách mạng vĩ đại thành công vào ngày 7/11.
Lịch Gơ-rê-goa chúng ta đang dùng cũng còn một tí sal lệch. So với 100 lần trái đất đi vòng quanh mặt trời thì 100 năm lịch thừa mất 3/100 ngày. Có nghĩa là 100 thế kỷ tới sẽ sai lệch 3 ngày, phải sửa lại, Nhưng đó là việc của hàng trăm thế hệ sau. Còn ngay bây giờ thì đã có nhiều nhà khoa học thế giới nêu vấn đề bỏ lịch Gơ-rê-goa mà thay bằng một thứ lịch mới, gồm các tháng, các quý có số ngày làm việc, ngày nghĩ đều nhau, cho hợp với kế hoạch sản xuất đại công nghiệp
Nếu muốn rước tài lộc, thuận lợi công danh, tránh phiền não và giữ hòa khí giữa các thành viên thì bạn chắc chắn phải tránh 7 điều cấm kỵ dưới đây.
1. Không trang trí phòng khách như một hộp đêm Một số người thích trang trí phòng khách giống như thiết kế của các khách sạn 5 sao, nhà hàng hạng sang, thậm chí giống một hộp đêm để thể hiện đẳng cấp. Đối với họ, nó hoàn hảo ở mọi góc nhìn, nhưng với các nhà phong thủy thì lại hoàn toàn phi thực tế, thậm chí là vô dụng!

Đây là kiểu phòng khách tạo cho người nhìn vẻ hấp dẫn ban đầu, nhưng liền sau đó là một cảm giác thiếu vắng. Gia chủ sẽ lầm tưởng mình đang ở khách sạn chứ không phải ngôi nhà đúng nghĩa, vì thế không gian này nên được trang trí một cách ấm áp, gần gũi và thiết thực nhất có thể.
2. Phòng khách bừa bãi, lộn xộn là điều cấm kỵ
Một phòng khách bừa bộn với mọi thứ rối tung, không quy củ, không ngăn nắp chắc chắn sẽ tạo cho chủ nhân lẫn khách đến chơi nhà một cảm giác khó chịu, bực bội. Sống giữa mớ hỗn độn này khiến suy nghĩ của chúng ta bị chậm lại, ngăn cản vận khí khiến mọi thứ bị trì trệ. Hơn nữa, môi trường này là điều kiện lý tưởng cho vi sinh vật có hại ẩn náu và sinh sôi phát triển, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Hãy nhớ, không riêng gì phòng khách, đối với tất cả các căn phòng trong nhà đều cần được dọn dẹp sạch sẽ, thoáng đãng để tạo nguồn năng lượng tích cực.
3. Không lắp hệ thống điều hòa phía trên ghế sofa
Khí lạnh tỏa ra từ hệ thống điều hòa bố trí ngay phía trên ghế sofa sẽ gây ảnh hưởng xấu cho những người ngồi bên dưới. Luồng khí lạnh đó theo phong thủy tạo áp lực trực tiếp đến con người, không những thế, xét về khoa học, lắp điều hòa vị trí này sẽ dễ dẫn đến các bệnh viêm phổi, cảm lạnh, đau đầu,… đặc biệt là với người già và trẻ nhỏ. Chính vì thế, hãy di chuyển sofa đến một vị trí khác bạn nhé!
4. Đừng đặt sừng, đầu, da động vật hoặc hoa khô
Có không ít người chọn sừng hươu, tê giác, da báo, thậm chí là tượng đầu trâu, đầu ngựa,… để trang trí khu vực phòng khách để thể hiện sự quyền uy, sang trọng. Nhưng thực tế, các loại sừng, đầu, da động vật (nếu là hàng thật) thì nghĩa là chúng được làm từ vật đã chết, tạo nên nguồn âm khí gây ảnh hưởng đến môi trường sống của bạn. Còn nếu chúng là vật phẩm giả thì những hình ảnh đó cũng gây nên cảm xúc tiêu cực, sợ hãi khi nhìn vào. Với hoa khô cũng vậy, nếu có điều kiện bạn nên mua hoa tươi để căn phòng bừng sáng, sinh động. Nếu chọn vật thể chết thì công danh, sự nghiệp của gia chủ cũng theo đó mà trục trặc.
5. Tránh bố trí vật phẩm phong thủy, linh vật sai vị trí
Quả cầu đá phong thủy, hòn non bộ, hồ cá, tượng linh vật, thần tài,… và nhiều sản phẩm phong thủy khác được lựa chọn để trưng bày nhiều nơi phòng khách với mong muốn rước tài lộc cho ngôi nhà. Tuy nhiên, gia chủ cần có một kiến thức nhất định hoặc khi chọn mua phải tham khảo ý kiến của thầy phong thủy để đặt vật phẩm đúng vị trí. Tránh trường hợp tùy tiện bày biện sai sẽ dẫn đến tác dụng ngược, không những không đem lại may mắn và còn gặp phải vận xui.
6. Cẩn thận khi lựa chọn tranh treo phong thủy
Một bức tranh đẹp không chỉ tô điểm cho bức tường bớt đơn điệu mà còn mang ý nghĩa phong thủy cho phòng khách. Tuy nhiên, không phải loại tranh phong thủy nào cũng phù hợp với bạn. Tranh các con vật như rồng, ngựa, hổ, đại bàng,… tuy mang ý nghĩa tốt nhưng không thể treo tùy tiện mà phải dựa vào tương quan với tuổi và mệnh của gia chủ.
Nếu muốn treo tranh phong thủy, bạn có thể chọn 1 trong 4 mẫu tranh được xem là hài hòa với mọi gia đình. Bao gồm: Tranh hoa mẫu đơn (tượng trưng cho phú quý), tranh sơn thủy (núi đại diện cho sự vững chãi của sự nghiệp còn nước là nguồn tiền tài), tranh cá (biểu tượng cho sự dư giả) và tranh tre/trúc (đem lại cảm giác an yên, ổn định để phát triển công danh).
7. Tuyệt đối tránh xa những vật sắc nhọn
Và lời khuyên cuối cùng dành cho bạn là hãy tránh xa những vật trang trí sắc nhọn trongphòng khách. Chẳng hạn như gươm giáo, búa rìu,… bằng kim loại, dù chỉ là mô hình. Đừng nghĩ vẻ sáng loáng của chúng sẽ làm cho không gian độc đáo, sang trọng. Thực tế khi nhìn những món đồ này, cảm giác sợ hãi của người đối diện sẽ tăng lên. Theo phong thủy, những vật sắc nhọn vốn mang sát khí, không mang lại may mắn và dễ xảy ra tai nạn cho con người.
Theo Lâm Ngọc / Trí Thức Trẻ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Trúc Loan (##)
Cửa Sổ, đúng như chúng ta thường nói “mắt là cửa sổ của tâm hồn”, mất đi đôi mắt cũng như đã mất tất cả hy vọng. Mà cửa sổ nhà có thể nói là giống như mắt con người vậy, nó không thể thiếu đối với một ngôi nhà. Không khí và ánh sáng là yếu tố duy trì sự sống, nếu một thời gian dài hít thở không khí không trong lành hoặc ở trong môi trường thiếu ánh sáng thì sẽ rất dễ sinh bệnh tật hoặc tinh thần suy nhược.
Cho nên, nhà phải có cửa sổ, mà cửa sổ thiết kế phải phù hợp, phải lấy sự đối lưu không khí trong nhà làm trọng điểm, cửa sổ mở đúng hướng là yếu tố rất quan trọng. Ví dụ: Ở vị trí Nam – Bắc hoặc Đông – Tây mỗi vị trí mở một cửa sổ, như vậy không khí trong nhà mới lưu thông dễ dàng, người sống trong nhà như vậy mới có sức khoẻ.

(1) Thiết kế ngoại quan cửa sổ
Thiết kế cửa sổ có thể quyết định sự lưu thông không khí. Cửa sổ tốt nhất là loại có thể mở ra hoàn toàn, cánh cửa có thể mở sang hai bên ra phía ngoài hoặc vào bên trong đều được nhưng không nên mở về phía trên hoặc mở xuống phía dưới. Cửa mở ra phía ngoài là hay nhất, có thể tăng sinh khí trong nhà, tăng cơ hội phát triển sự nghiệp cho người nhà, có thể thu nạp lượng lớn khí vào nhà, hơn nữa khi mở cửa sẽ làm cho tạp khí trong nhà dễ thoát ra ngoài. Tất nhiên cửa mở vào phía trong nhà đối với khí và sự nghiệp cũng đều tốt. Khi mở cửa tốt nhất không để có vật gì cản trở không khí lưu thông.
Ngoài ra, cần chú ý tránh cùng một hướng mà để tới 3 thậm chí là trên 3 cửa sổ hoặc cửa ra vào. Trong nhà nếu không khí lưu thông thì đối với môi trường nhà hay đối với sức khoẻ mọi người trong nhà đều tốt cả. Vì vậy nhiều người cho rằng nhà càng nhiều cửa và cửa sổ càng tốt, thực ra suy nghĩ như vậy là không hoàn toàn chính xác. Vì cửa sổ quá nhiều sẽ sinh ra khí lưu thông quá mạnh, như vậy là không có lợi cho khí trong cơ thể người, ảnh hưởng đến sức khoẻ, không những thế mà còn làm tổn hại đến tài vận. Đồng thời, khí lưu quá mạnh sẽ cắt nhà ra thành hai nửa dẫn đến trong nhà sinh chuyện bất hoà. Vì vậy mà cần phải tránh mở 3 hoặc trên 3 cửa sổ hay cửa ra vào ở cùng một hướng.
Tiết Xuân Phân bắt đầu từ 20 (hoặc 21) tháng 3 kéo dài tới 4 (hoặc 5) tháng 4. Hàng năm, Mặt Trời tới điểm xuân phân là Thiên Xích Đạo (thời điểm Mặt Trời gần Xích Đạo nhất). Lúc này, ngày đêm bằng nhau, là chính giữa mùa xuân tươi đẹp. Ngày Xuân Phân ánh Mặt Trời bắn thẳng đến Xích Đạo nên độ dài ngày và đêm bằng nhau, sau đó, Mặt Trời dần lui về Bắc nên ngày dài đêm ngắn. Xuân Phân không chỉ có ý nghĩa quan trọng về chiêm tinh học, nông học mà còn ảnh hưởng tới tử vi học. Người xưa dựa vào các tiết khí để đoán vận mệnh và đưa ra những việc nên làm, không nên làm, cầu con, cầu phúc khác nhau. Xuân Phân cây cối muông thú đều tốt tươi và sinh sản, đánh dấu bằng tiếng sấm mùa xuân và những trận mưa xuân tưới đẫm đồng ruộng. Nhiệt độ không khí tăng lên và ổn định, xua tan giá lạnh. Người xưa có câu “Xuân phân mạch thức dậy, một khắc giá ngàn vàng”, ý đây là thời điểm tốt nhất để gieo trồng và chuẩn bị mùa vụ. Trong tiết Xuân Phân, hoạt động tâm klinh và lễ nghi đáng chú ý nhất là tiết Thanh Minh tảo mộ. Vào ngày xuân, con cháu chuẩn bị lễ vật tới thăm nom, dọn dẹp phần mộ của tổ tiên để tỏ lòng hiếu thảo và kịp thời sửa sang những phần đã bị hư hỏng, xuống cấp.
![]() |
1/- Đường Sanh đạo :
Đường Sanh đạo còn được gọi là đường đời, sinh lão bệnh tử đều nhìn theo đường chỉ dài ngắn để đoán số mệnh yểu hay thọ. Tuy nhiên có những đường chỉ Sanh đạo quá ngắn hay bị đứt khoảng, người này vẫn sống thọ, là vì còn có đường trí đạo, tức Minh đường còn gọi đường người (2), đường Thiên đạo (3) còn gọi đường trời, và ngón tay cái tốt, hỗ trợ cho đường Sanh đạo, chế phục nét xấu.

Như đã nói các đường chỉ tay dù có tên riêng, tính chất riêng, nhưng không mang tính đôc lâp hoàn toàn, chúng luôn liên kêt hô trợ, chê ngự tính cát hung cho nhau qua các phân phúc đức từ quá khứ cho đên hiên tại.Bình thường đường Sanh đạo xuất phát từ giữa ngón cái với ngón trỏ, nên :
– Nếu đường Sanh đạo bị cắt đứt nhiều khoảng, hoặc có nhiều đường chỉ phụ nổi bật đâm ngang, là biểu hiện về sức khoẻ, có bệnh từ bộ máy tiêu hóa.
– Nếu bắt nguồn từ ngón tay trỏ là người có tính kiêu căng, tự phụ, nhiều quỷ kế để đi đến mục đích của sự tham vọng; còn dưới chừng 3 đến 5m/m thì tính tình ngược lại.
– Nếu kết thúc gần cổ cườm tay là người thích phiêu lưu, ưa mạo hiểm, thích đối đầu với rủi ro, sống thọ, nhưng không tiền của, hậu vận bi đát. Nếu gặo dấu ngôi sao hay chữ thập có thể gặp tai ương khủng khiếp.
– Đường Sanh đạo bao quanh gò Hỏa tinh dương thuộc người nhiệt tình với mọi công việc, tính nhân hậu, giàu tình cảm và hay đa cảm. Nếu chỉ vào không sâu gò này thì tính ti tiện, ích kỷ và tham lam.
– Nếu đường Sanh đạo xoăn như ruôt gà, là có bênh về măt, cân thị, hay mù măt; có nhánh rẽ tức từ thân đường Sanh đạo có thêm nhánh phát sinh, có bệnh động kinh. Nếu từ đầu nguồn có nhiều đường chỉ đi qua, hay có cù lao, trong thời thơ ấu có nhiều bất hạnh, hoặc con ngoài giá thú.
– Nếu có nhiêu đường cắt ngang, trong công việc thường thât bại; nếu giống sợi xích thì suốt đời gian nan, có số lao tù; nếu không đều, đường chỉ lúc to lúc nhỏ là người bất nhất, ươn hèn; nếu rộng có màu đen thẫm có tính tàn bạo, thường là kẻ đâm thuê chém mướn, còn nhạt thì hoang dâm, hồng hào là được âm phù dương trợ.
– Nếu có đường Sanh đạo đôi, đường này sẽ chế ngự hay hay hỗ trợ thêm cho tính hung kiết của đường chỉ chính, nếu có dấu ngôi sao, tam giác chế ngự được tính hung mà đường chỉ chính không có.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Để khắc phục được nhược điểm nhỏ bé của phòng bếp thì trước hết các vật dụng trong bếp phải được lựa chọn kỹ càng và đặc biệt sự sáng tạo từ những thiết bị đó để làm sao cho chúng không chỉ gọn hơn, sạch hơn nhưng vẫn dễ dàng lau chùi, vệ sinh bất cứ khi nào mà bạn muốn.
tủ bếp hiện đại Bạn hãy tham khảo một số vật dụng, một số món đồ đa năng dưới đây để căn bếp nhỏ trở nên thoáng và rộng rãi hơn. Trước hết, ánh sáng tự nhiên luôn luôn là tốt nhất
Sự lựa chọn số một cho phòng bếp của bạn. Ánh sáng tự nhiên đem lại cho phòng bếp một không khí mát mẻ, thoáng mát, và cảm giác với không gian dường như rộng hơn rất nhiều. Thứ hai, sử dụng kệ lưu trữ mở
Bạn có thể tăng không gian lưu trữ và bề mặt sử dụng trong nhà bếp bằng các tủ bếp và kệ mở. Những chiếc kệ này giúp cung cấp nhiều không gian lưu trữ mà không tạo sự nặng nề cho nhà bếp như các loại kệ kín. Các kệ mở này giúp bạn bố trí các đồ dùng vật dụng mà bạn hay dùng hoặc những đồ vật mà bạn không còn chỗ nào trang trí. Nó sẽ khiến không gian bếp bớt chật chội hơn so với những đồ vật thừa để không cố định. Thứ ba hãy tận dụng trần bếp
Với không gian trần bếp bạn có thể tận dụng phần trên cửa sổ hoặc xà nhà để lưu trữ những đồ đạc có hạn sử dụng lâu hoặc ít khi dùng đến. Bạn có thể biến chiếc kệ trên cửa sổ thành nơi lưu trữ dầu ô liu như trong bức ảnh trên. Không chỉ có tác dụng lưu trữ, chúng còn gây ra sự chú ý của mọi người vào chiều cao của nhà bếp và hút mắt tới dầm gỗ mộc tuyệt đẹp của trần bếp. Thứ tư phải sắp xếp bàn bếp khoa học
Sự khoa học ở đây thể hiện ở chỗ, thayvì sử dụng những chiếc kệ hay tủ bếp kín hoàn toàn, bạn có thể bỏ bớt đi một vài cánh tủ phía dưới bàn bếp để việc để đồ đạc và tìm kiếm đồ đạc dễ dàng hơn. Cách trang trí này đồng thời cũng tạo cảm giác mở rộng hơn cho không gian bếp nhỏ. Ngoài ra, bạn cũng có thể phân loại và đựng đồ vào những chiếc giỏ mây để giúp căn bếp thêm xinh xắn và gọn gàng. Thứ năm, sử dụng hốc tường âm
Việc sử dụng kiến trúc này, bạn có thể tận dụng hết không gian bên trong tường để giúp cho không gian bên ngoài không bị bó hẹp lại. Hốc tường âm không chỉ tạo ra điểm nhấn trong kiến trúc của căn nhà mà còn giúp bạn có thêm không gian để lưu trữ đồ đạc gọn gàng và độc đáo. Một cách trang trí rất hữu dụng trong những căn nhà nhỏ hiện nay. Thứ sáu, sử dụng ngăn trượt lưu trữ gia vị
Cũng giống với việc sử dụng hốc tường âm và bàn bếp không cửa thì ngăn trượt không những giúp bạn để những lọ gia vị ngăn nắp mà còn khiến bạn cảm thấy nó chiếm ít không gian hơn sau khi được để gọn trong ngăn kéo. Ngăn kéo trượt là lựa chọn hoàn hảo cho việc lưu trữ các loại gia vị, mắm, muối cho không gian bếp nhỏ. Không chỉ đẹp mắt, ngăn trượt này còn vô cùng tiện lợi. Thứ bảy, chia nhiều ô nhỏ cho ngăn kéo
Chia nhiều ô nhỏ trong ngăn kéo khiến việc phân loại đồ dùng được dễ dàng hơn, ngăn nắp hơn, gọn gàng và sạch sẽ hơn, thuận tiện cho bạn mỗi khi bạn sử dụng. Bạn có thể đóng giá chia ô cho ngăn kéo tủ nếu bạn cảm thấy nó phù hợp hơn với bếp của bạn. Bạn sẽ thấy đây là sự đầu tư xứng đáng khi không phải cuống quít tìm mãi không thấy những dao, dĩa, đũa, thìa khi đang cần ngay. Thứ tám, sử dụng một chiếc bàn đa năng di động
Bạn có thể biến chiếc ngăn kéo của tủ bếp thành chiếc thớt di động tiện dụng. Ngăn kéo này nên nằm bên cạnh bồn rửa để việc dọn dẹp được dễ dàng và thuận tiện. Thứ chín, sử dụng kệ lưu trữ và trưng bày
Màu trắng là màu rất thích hợp với những căn phòng nhỏ nhưng đặc biệt với bếp thì kệ mở và tủ gỗ màu trắng tạo cái nhìn cởi mở và thoáng mát trong nhà bếp nhỏ. Bạn có thể trưng bày lên chiếc kệ này bộ bát đĩa sang trọng hay những đồ trang trí tuyệt đẹp để giúp cho không gian nấu nướng thêm phần sinh động. Thứ mười, cần sáng tạo thêm diện tích sử dụng
Bất cứ một góc nhỏ nào hoặc một khoảng trống nào bạn cũng có thể tận dụng chúng, nhưng một chiếc bàn có gắn bánh xe di động sẽ giúp nới rộng không gian chuẩn bị đồ ăn khi mà căn phòng của bạn được thiết kế chung với phòng khách. Khi có khách bạn có thể kéo chúng ra một góc khác. Khi không dùng đến nữa, bạn chỉ cần khéo léo giấu nó vào bên trong một góc bếp là căn bếp của bạn lại gọn gàng như cũ.
Nguồn: http://tubeppro.vn/
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
|
|
| (Ảnh minh họa) |
Người tuổi Tỵ mệnh Mộc là người sinh năm Kỷ Tỵ 1929, 1989...
Nhiệt tình, hào phóng và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người là điểm riêng của họ so với người tuổi Tỵ thuộc các mệnh khác.
Đa số họ thường có vẻ ngoài ưa nhìn, dễ tạo được thiện cảm với người xung quanh. Đây cũng là người khá hoạt bát, năng động. Tuy nhiên, có khi họ tỏ ra nóng vội, dễ dẫn đến bất lợi trong công việc.
Là người tuổi Tỵ, họ không tránh khỏi tính cách đa nghi cũng như luôn đặt ra những yêu cầu cao đối với người khác. Ngoài ra, họ cũng có khát vọng lớn về tiền bạc, danh tiếng và quyền lực.
Giống người tuổi Tỵ mệnh Thủy, họ luôn kiên trì với mục tiêu đã lựa chọn. Một số người có tính cách bảo thủ, ít chịu lắng nghe mà chỉ thường áp dụng các nguyên tắc, phương thức hành động của bản thân vào việc đánh giá, phê bình người khác. Chính vì điều đó nên họ đã vô tình tự cô lập bản thân. So với nam giới, nữ giới tuổi Tỵ mệnh Mộc thường dễ phát tài, có thể giúp đỡ chồng con về cả sự nghiệp và cuộc sống.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)