Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Những điều kiêng kị khi thờ Phật tại nhà

Tục lệ tín ngưỡng của dân gian thường có rất nhiều điều kiêng kị, nhưng đó không phải là tín ngưỡng Phật giáo chân chính mà chỉ là những điều kiêng kị bị ngộ
Những điều kiêng kị khi thờ Phật tại nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

nhận là của Phật giáo.

  Ví dụ như những cây hương thừa trong bát hương nếu hàng ngày không thu gọn thì trở nên dơ bẩn và dễ gây cháy rất nguy hiểm. Cho nên các bát hương đặt trước các tượng Phật trong chùa, hàng ngày vào lúc sáng sớm đều cần phải thu gọn, giữ cho bát hương luôn luôn sạch sẽ như mới thắp hương lần đầu.
 
Các nữ tín đồ thờ Phật tại nhà đến kỳ kinh nguyệt thì không dám tới chùa lễ Phật, thậm chí không dám đến trước bàn thờ Phật để thắp hương tụng kinh, tọa thiền, niệm Phật.
 
Kỳ thực đó là điều kiêng kị của hàng quỷ thần cấp thấp. Vì quỷ thần sợ máu bẩn nên hễ thấy máu bẩn thì dễ nổi giận. Quỷ thần nghiện ăn máu, thấy máu là dấy lòng tham, nhưng máu kinh nguyệt không phải là máu tươi nên quỷ thần có phản ứng như bị người ta đùa bỡn làm nhục.
 
Do vậy, phụ nữ khi hành kinh vào các đền, miếu, điện thờ quỷ thần thì có thể bị hậu quả không tốt.
 
Còn như các Sa-di ni, Tỳ kheo ni, cùng các Ưu bà di (nữ cư sỹ) ở gần đều sinh hoạt tại chùa, cùng các phụ nữ tu hành hàng ngày làm bạn với kinh sách, tượng Phật và các pháp vật khác của nhà chùa, từ xưa đến nay chưa từng thấy ai bị tai họa bởi vấn đề xung khắc do kinh nguyệt gây ra cả.
 
Những người thờ Phật tại gia khi lập bàn thờ Phật trước hết phải nhờ người làm lễ khai quang các tượng Phật, Bồ Tát, lại phải chọn ngày tốt, hướng tốt. Đó cũng là do tín ngưỡng dân gian hoặc phong tục dân gian.
 
Theo quan điểm “nhập gia tùy tục” mà nói thì tục lệ đó cũng không có gì sai trái lắm. Làm lễ khai quang là để tỏ ý thận trọng, chọn ngày chọn hướng là để tỏ ý cầu mong tốt lành.
 
Nhưng theo quan điểm Phật giáo thì chư Phật, Bồ Tát có ở khắp mọi nơi, không một chỗ nào không ứng hiện. Tất cả mọi hướng đều có chư Phật, Tam bảo, Long thiên hộ pháp.
 
Như vậy, đương nhiên là không hề có những vấn đề do tín ngưỡng dân gian tưởng tượng ra. Chỉ cần chọn một chỗ nào mình cho là tôn quí nhất, rồi với tình cảm thành kính nhất và chọn một thời điểm thích đáng nhất để đặt tượng thờ Phật là được.
 
Có người cho rằng có những bài chú, bài kinh nào đó thì người tu tại gia không được niệm, hoặc có những bài chú, bài kinh nào thì không được niệm vào một giờ nào đó.
 
Kỳ thực, với tấm lòng cung kính, tất cả mọi bài kinh, chú đều có thể tụng niệm ở bất cứ nơi nào thanh tịnh. Tốt nhất là trước khi tụng niệm nên rửa tay, súc miệng rồi đứng trước bàn thờ thắp hương lễ Phật mà tụng niệm nhưng không nên nói người tu tại gia không được tụng kinh nào đó hoặc không được niệm chú nào đó, trừ những pháp môn quy định đặc biệt của Mật Tông thì không kể.
 
 
Trong một nhà cũng có thể có người tin Phật, có người tin Thần, phải chăng có thể thờ chung cả Thần và cả Phật trong cùng một bàn thờ ? Điều đó nên coi là không có vấn đề gì.
 
Nên thờ Phật ở chính giữa, cúng Bồ Tát ở hai bên, cúng các Thần ngoài cùng, coi là kẻ bảo vệ bên ngoài cho Tam bảo, cũng nên để cho các Thần gần gũi với Tam bảo để tu học Phật pháp, gây thần nhân duyên với đạo Phật.
 
Nếu đạt được sự thỏa thuận của cả nhà, sau khi đã đổi ý mà tin theo Phật thì sẽ làm lễ cúng Thần, khấn cáo với Thần rồi đem tượng (và đồ thờ) Thần cất đi, để tránh cúng thờ ngẫu tượng quá nhiều sinh ra tạp loạn.
 
Có nhiều người không hiểu đối với tro hương cùng các kinh sách, tượng và các pháp vật bị hư hỏng thì sẽ xử lý như thế nào? Thậm chí có người mang đến giao cho nhà chùa.
 
Kỳ thực thì chỉ cần chọn chỗ đất trống và đồ đựng sạch sẽ, bỏ các thứ đó vào rồi châm lửa đốt đi, đốt xong đào lỗ chôn xuống đất là được. Những thứ làm bằng kim loại không đốt được thì tìm chỗ cất kín, một thời gian sau sẽ xử lý thải bỏ như đối với đồ đạc cũ kỹ rách nát khác.
 
Các vật cúng bày trên bàn thờ Phật như hoa, quả, nước trà v.v… thuộc các loại phẩm vật tiêu hao thì phải thay đổi hằng ngày. Những thứ gì còn có thể dùng được, ăn được thì nên đem dùng vào việc khác hoặc đem cho người nhà ăn dùng, không nên vứt đi. Những thứ bị ôi thiu, hư nát thì phải đổ bỏ đi như đổ rác. Còn như phẩm vật bày cúng nên bày cúng đơn chiếc hay bày một đôi thì không có hạn chế gì cả.
 
Xét về mỹ quan đối xứng mà nói thì nên dùng một cặp đôi. Nhưng nếu vì tiền nong vật phẩm có hạn, hoặc do vị trí chỗ bày biện không tiện, chỉ bày cúng đơn chiếc thì cũng không có gì là không được. Còn về đồ cúng là những món gì, về nguyên tắc là tùy theo chỗ tiền nong chi tiêu mà mình có thể lo liệu được, không bày biện rườm rà mà cũng không cần phải phô trương.
 
Thời gian tu hành tại nhà thích hợp nhất là vào lúc sáng sớm và buổi tối, lúc đó nhờ thân tâm thanh tịnh, thoải mái. Như vậy mới có thể chuyên chú, thành tâm mà tu tập.
 
Nếu vì tính chất công việc làm ăn thì đương nhiên có thể chọn những thời gian khác nhau. Tốt nhất là không lập bàn thờ trong phòng ngủ, không nên ngồi tọa thiền, lễ Phật, tụng kinh ở trên giường.
 
Nhưng nếu nhà ở chỉ có một phòng thì tốt nhất là lúc bình thường lấy vải khăn che phủ tượng Phật. Khi nào lễ Phật thì xếp dọn giường chiếu chỉnh tề, sạch sẽ rồi mới mở khăn tượng Phật ra. Nếu giường làm lễ cúng được, coi đó cũng là một nơi để tu hành.

Nói tóm lại, lấy cái tâm thanh tịnh, cung kính để biểu thị mức độ trang trọng, nghiêm túc làm nguyên tắc.
 
Sau khi đã quy y Tam Bảo thì không được quy y một tôn giáo nào khác, không được thờ phụng một đền miếu, đạo tràng nào của tín ngưỡng dân gian. Tuy vậy vẫn phải giữ thái độ tôn kính đối với các tín ngưỡng đó.
 
Khi đi vào các nhà thờ, đền miếu, đền thần phải cúi người chắp tay chào hỏi. Không được coi việc thờ phụng đó là đối tượng tín ngưỡng của mình, mà coi đó là cử chỉ để giữ quan hệ hữu nghị.
 
Trước khi chưa có nhận thức xác thực đối với Phật pháp thì không được đọc sách báo ngoại đạo, nếu không sẽ dẫn đến sự chỉ dắt sai lầm về phương hướng.
 
Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều kiêng kị khi thờ Phật tại nhà

Chùa Dơi - Sóc Trăng

Chùa Dơi hay còn được gọi là chùa Mã Tộc hay chùa Mahatuc. Đây là một ngôi chùa đẹp, thanh bình với thiên nhiên xanh, là nơi cư trú của hàng vạn con dơ
Chùa Dơi - Sóc Trăng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đến thăm Chùa Dơi sẽ khiến bạn cảm thấy thích thú. Thích thú bởi được cảm nhận nhiều hơn về nét văn hóa của người Khmer qua kiến trúc chùa chiền và được tai nghe mắt thấy những chú dơi “trú ngụ” ở mảnh đất lành Sóc Trăng

Chùa Dơi hay còn được gọi là chùa Mã Tộc hay chùa Mahatuc. Đây là một ngôi chùa đẹp, thanh bình với thiên nhiên xanh, là nơi cư trú của hàng vạn con dơi quạ, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những nét độc đáo nơi đây, Chùa được xem là một trong những ngôi chùa Khmer nổi tiếng nhất ở khu vực ĐBSCL và Việt Nam.

Chùa Dơi được xây dựng vào thế kỷ 16 theo lối kiến trúc truyền thống Khmer. Ðặc biệt khuôn viên chùa rộng lớn chính là nơi cư trú của hàng vạn con dơi quạ từ bao đời nay, chúng treo mình trên những cành cây trong khuôn viên chùa vào ban ngày, khoảng 6h chiều dơi bay đi kiếm ăn đến 5h sáng hôm sau lại quay về. Ðiều thú vị nữa là dơi không bao giờ ăn và phá hại trái cây trong khu vực chùa, nơi chúng nương náu.

Khuôn viên trong chùa khá cổ kính với những hàng cây sao cổ thụ to cao vút chiếm trọn không gian từ ngoài cổng cho đến hậu viện của chùa. Ngoài chánh điện, nhiều gian nhà cũng cổ kính rêu phong tạo nên một vẻ huyền bí đối với du khách.

Trong khuôn viên chùa còn có một ao cá khá rộng với không gian mát dịu được bao bọc bởi nhiều cây xanh. Du khách và phật tử phương xa có thể vừa cho cá ăn vừa nghỉ mát thả hồn theo tiếng nhạc điệu lâm thôn của ban nhạc phục vụ gần đó. Chùa có tôn trí pho tượng đức Phật cổ bằng đá cao 1,5m và nhiều bộ kinh luật viết trên lá cây thốt nốt.

chính điện
Chính điện chùa

Chùa Dơi được xếp hạng là di tích danh thắng cấp Quốc gia đầu tiên ở Sóc Trăng. Chùa Dơi còn là trung tâm sinh hoạt giáo dục và tổ chức các lễ hội tôn giáo truyền thống của đồng bào Khmer, vừa là tụ điểm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng cư dân địa phương.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Dơi - Sóc Trăng

Top con giáp giàu nhất, phú quý chất ngất, phúc lộc vẹn toàn

Cùng Lịch ngày Tốt điểm danh những con giáp giàu nhất, sinh ra đã có số giàu ú ụ, phú quý bậc nhất. Họ luôn nỗ lực không ngừng để giành lấy thành công.
Top con giáp giàu nhất, phú quý chất ngất, phúc lộc vẹn toàn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Tý, Tỵ và Dần dù có nhiều may mắn hơn người khác nhưng họ không ỷ lại mà luôn nỗ lực không ngừng để giành lấy thành công. Cuộc sống của họ vì thế luôn sung túc đủ đầy, không phải lo lắng về tiền bạc. Vì thế mà họ luôn nằm trong Top những con giáp giàu nhất trong 12 con giáp.



Tuổi Tý



Theo luận đoán tử vi trọn đời, người tuổi Tý có khả năng tùy cơ ứng biến linh hoạt, thái độ điềm tĩnh khi đối mặt với khó khăn thách thức. Trực giác của con giáp này cũng vô cùng nhạy bén, cộng thêm với tài kinh doanh sắc sảo, họ luôn biết cách làm chủ tài chính của mình. Thậm chí người tuổi Tý lập trình sẵn kế hoạch, đường đi nước bước cho cuộc đời mình theo từng khoảng thời gian nhất định. Tất cả những điều đó khiến người tuổi Tý dễ dàng giàu sụ một cách nhanh chóng. 

Nhung con giap sinh ra da co so giau sang hinh anh

Tuổi Tý


Dù biết được bản thân gặp nhiều may mắn trong công việc, nhưng người tuổi Tý không ỷ lại vào điều đó. Họ biết nắm bắt cơ hội cũng như biết đứng dậy sau mỗi thất bại. Chính điều này đã giúp người tuổi Tý đạt được nhiều thành công rực rỡ trong sự nghiệp của mình và là một trong những con giáp giàu sang thiên bẩm.
 

Tuổi Tỵ



Không mấy khi người tuổi Tỵ rơi vào cảnh túng quẫn, phải đi vay tiền người khác. Họ làm việc thận trọng, có tính toán trước sau và được nhiều quý nhân phù trợ nên thường xuyên gặp may mắn. Sự nghiệp của người tuổi Tỵ sẽ vô cùng khởi sắc vào tháng 8 âm lịch này. Điều quan trọng là bạn biết nắm bắt cơ hội vàng này để tạo bước đột phá trong sự nghiệp, tạo đà cho những thành công kế tiếp.

Nhung con giap sinh ra da co so giau sang hinh anh 2

Tuổi Tỵ


Ngoài ra, bản lĩnh kiên cường, lập trường luôn kiên định ở người tuổi Tỵ giúp họ giữ vững tinh thần trước mọi khó khăn và đi tới cùng mục tiêu đã đề ra. Dù kết quả có ra sao, người tuổi Tỵ luôn hài lòng bởi họ đã nỗ lực hết mình và không bao giờ phải nói lời hối tiếc. Cuộc sống giàu sang luôn là điều mà người tuổi Tỵ có thể nắm bắt trong tầm với của mình.

Mời bạn đọc xem thêm bài viết: Tuổi Tị hợp với tuổi nào trong tình duyên và hôn nhân?
 

Tuổi Dần



Người tuổi Dần có tinh thần mạo hiểm cao độ, bất chấp tất cả để đạt được thành công. Hơn thế, vận may của họ nhiều, được không ít bạn bè giúp đỡ. Mặc dù đây là con giáp không quá coi trọng tiền bạc vật chất nhưng lại dễ thu hút tiền tài, có số giàu sang phú quý khi về trung vận.

Nhung con giap sinh ra da co so giau sang hinh anh 3

Tuổi Dần


Tính cách hào phóng, hành xử trượng nghĩa của người tuổi Dần giúp họ xây dựng mạng lưới xã giao rộng rãi. Khi gặp khó khăn, bạn bè họ sẵn sàng giúp đỡ để đền đáp cử chỉ nhân nghĩa của người tuổi Dần.

Mời bạn đọc xem thêm bài viết: Vì sao mẹ dặn "không yêu" người tuổi Dần?
 
Theo XZ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top con giáp giàu nhất, phú quý chất ngất, phúc lộc vẹn toàn

Trang trí phòng khách như thế nào để hợp phong thủy

Ở vị trí trung tâm với vai trò là không gian sinh hoạt chung đồng thời là nơi tiếp đón bạn bè nên cách thiết kế, bài trí trong không gian phòng khách có ảnh hưởng rất lớn đến tài vận của toàn bộ các thành viên trong gia đình.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Không treo hình thú dữ, binh khí  

  

Nên treo những bức tranh sơn thủy, hoa cỏ xanh tươi, chim hạc, phượng hoàng… trong phòng khách.

Việc treo tranh trang trí trong các không gian sống trong nhà ở gia đình hiện nay được rất nhiều gia chủ lựa chọn. Tuy nhiên, tranh để treo trong phòng khách tốt nhất là các bức tranh sơn thủy, hoa cỏ xanh tươi, hạc, phương hoàng… là những biểu tượng cho sự cát tường, thịnh vượng. Nếu gia chủ muốn treo hình hổ cọp, chim ưng… để bảo vệ gia trạch trong phòng khách thì phải chú ý hướng đầu của chúng ra ngoài cửa.

Tuyệt đối không để đầu của các loại thú dữ này quay vào trong để đề phòng chúng quay lại uy hiếp người nhà của mình. Thêm vào đó, nếu bạn trưng bày binh khí trong phòng khách sẽ khiến ngôi nhà mang nặng sát khí, không tốt và ảnh hưởng đến tâm lý của mọi người.

Không đặt ghế sofa dưới xà ngang

Nếu đặt ghế sofa dưới xà ngang, khi khách và chủ nhà ngồi nói chuyện sẽ có cảm giác căng thẳng, đè ép làm tổn hại đến tinh thần đồng thời vận thế của người trong nhà cũng vì vậy mà không phất lên được.
 

  

Không nên đặt ghế sofa bên dưới xà ngang của ngôi nhà.

Trong trường hợp này, tốt nhất bạn nên thay đổi vị trí của ghế sofa hoặc làm trần giả, la phông trần để che xà ngang lại.

Không treo gương ở vị trí vượng khí

Trong thuật Phong thủy, vị trí vượng khí nhất của ngôi nhà nằm ở không gian phòng khách. Trong phòng khách, vị trí vượng khí tập trung nhiều nhất ở vị trí góc đối chéo với cửa chính. Chính vì thế, vị trí này trong không gian phòng khách phải luôn được giữ trong tình trạng yên tĩnh, ổn định. Không nên bố trí lối đi hay có hành lang tại vị trí này, cũng tuyệt đối không nên treo gương vì gương có tác dụng phản xạ, sẽ làm trở ngại vận thế và vượng khí của ngôi nhà.

Để tăng thêm vận khí, tại vị trí vượng khí bạn nên đặt thêm các đồ vật cát tường, những cây cảnh có màu xanh đầy sức sống để hỗ trợ, nâng cao cho vận thế của ngôi nhà.

Trần “thiên trì”

Trần nhà của phòng khách tượng trưng cho bầu trời. Trần nhà được thiết kế theo kiểu “Thiên trì” tức là trần nhà có hình dáng như một chiếc ao trời. Đây là mẫu trần nhà được kiến trúc sư thiết kế với những trang trí hoa văn ở 4 cạnh bên thấp, phần chính giữa trần nhà lõm sâu vào, có hình dáng như một chiếc ao ở giữa bầu trời.
 

  

Trần nhà trong phòng khách tượng trưng cho trời, nền nhà tượng trưng cho đất.

Với những trần nhà dạng này, bạn nên gắn thêm đèn thủy tinh dạng chùm ở giữa trần nhà. Đèn chùm nên có ánh sáng màu vàng, có tác dụng “rồng điểm nhãn” giúp nâng cao vận khí của ngôi nhà.

Trần nhà trong không gian phòng khách tuyệt đối không nên gắn gương phía trên, tránh sự phản chiếu ngược chiều các không gian trong nhà, không tốt theo phong thủy.

Theo Phong thủy, trần nhà trong phòng khách tượng trưng cho trời, nền nhà tượng trưng cho đất. Do đó, màu sắc trên trần nhà nên nhạt còn nền lại có màu đậm hơn với ý nghĩa “trời nhẹ đất nặng”.

Đèn chiếu sáng trên trần nhà

Không gian phòng khách của gia đình bạn bị thiếu ánh sáng mặt trời, khiến căn phòng u tối, lờ mờ gây ảnh hưởng đến tinh thần người ở trong nhà? Để khắc phục vấn đề này, ở 4 góc của trần nhà bạn nên lắp thêm đèn để tăng ánh sáng cho căn phòng.
 

  

Hệ thống đèn mắt trâu chạy dọc trần nhà, khiến tổ ấm của gia đình bạn thêm sáng tươi.

Ánh đèn chiếu lên trần nhà rồi khúc xạ xuống phòng khách khiến không gian phòng thêm sáng sủa, tạo cảm giác dễ chịu và không gây chói mắt cho người trong nhà. Ban ngày bạn có thể dụng đèn tròn lớn có tác dụng như mặt trời chiếu sáng, ban đêm nên dùng đèn có màu ngọc bích sẽ tạo nên những mảng ánh sáng rất đẹp.

Khi bố trí đèn, cần khéo léo chọn ánh sáng phù hợp với màu sơn tường, khiến phòng khách thêm sáng sủa mới có thể đem lại sự thịnh vượng và may mắn cho gia đình.

(Theo Xzone)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trang trí phòng khách như thế nào để hợp phong thủy

Tuổi Đinh Tỵ 1977 làm ăn hợp với tuổi nào?

Xem tuổi Đinh TỴ hợp làm ăn với tuổi nào? Bạn sinh năm 1977 làm ăn hợp với tuổi nào? Bài viết dưới đây Phong thủy số sẽ gợi ý cho bạn những tuổi hợp làm ăn với tuổi Đinh Tỵ, màu sắc và hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Đinh Tỵ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tuổi Đinh TỴ hợp làm ăn với tuổi nào? Bạn sinh năm 1977 làm ăn hợp với tuổi nào? Bài viết dưới đây Phong thủy số sẽ gợi ý cho bạn những tuổi hợp làm ăn với tuổi Đinh Tỵ, màu sắc và hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Đinh Tỵ.

Tuổi Đinh Tỵ 1977 làm ăn hợp với tuổi nào?

Vài nét về tuổi Đinh Tỵ

Tuổi Đinh Tỵ sinh năm 1977, năm con rắn, cung mệnh Khôn, mạng cốt tinh Thổ.

Tính cách người tuổi Đinh Tỵ: Là người thông minh, có tư duy sắc bén, không chịu luồn cúi ai nhưng có chút nóng vội, thiếu ý chí phấn đấu. Có giác quan thứ 6 rất tốt, thường hay nghĩ đâu đúng đó, biết trước được chuyện may rủi. Bằng trí thông minh và có sự trợ lực của quý nhân, mà trong cuộc sống gặp được nhiều may mắn và đạt được mục tiêu đã chọn. Muốn leo lên bậc thang danh vọng bằng khả năng hung biện, chống lại bất cứ sự bất công nào trong xã hội.

Nghề thích hợp cho tuổi Đinh Tỵ:Có thể trở thành nhà sự phạm hoặc nhà tâm lí, nhà tâm thần học hoặc nhà chiêm tinh học, hoặc trạng sư rất hùng hồn.

Xem thêm: Giải mã hiện tượng bói hắt xì hơi theo giờ

Tuổi Đinh Tỵ làm ăn hợp với tuổi nào?

Tuổi Đinh Tỵ hợp làm ăn với tuổi Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Tuất, Ất Hợi ( thuộc hành Hỏa) thì công việc làm ăn thuận lợi, được thịnh vượng.

Tuổi Đinh Tỵ hợp làm ăn với tuổi Nhâm Thân, Quý Dận, Ất Sửu, Giáp Tý, Nhâm Dần, Quý Mão, Canh Tuất, Tân Hợi ( thuộc mệnh Kim) thì người tuổi Đinh Tỵ thường làm trợ lý hoặc cấp dưới của những người mệnh Kim thì công việc mới thuận buồm xuôi gió.

Khi người sinh năm 1977 kết hợp làm ăn với những người có mệnh Thổ Bình Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi thì được bình hòa, hai người cùng làm với nhau, lợi thì cùng chia, thiệt hại thì cùng nhau chịu.

Kết hợp làm ăn với những người mệnh Thủy gồm các tuổi Giáp Dần, Ất Mão, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Bính Tý, Đinh Sửu thì người Đinh Tỵ có điều kiện để phát triến, thành công trên con đường sự nghiệp.

Tuổi Đinh Tỵ không hợp làm ăn với các tuổi Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Canh Thân, Tân Dậu ( thuộc mệnh Mộc) vì làm ăn dễ thua thiệt, công việc dễ lụn bài, gặp nhiều khó khăn, trắc trở.

Màu và hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Đinh Tỵ

Màu sắc hợp với tuổi Đinh Tỵ: Màu vàng, phối hợp với màu hồng, đỏ, tím, vàng nhạt hoặc nâu.

Hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Đinh Tỵ hay còn gọi là phương vị tài thần: Đối với nam giới nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng chính Bắc, đối với nữ giới nên đặt bàn làm việc nhìn về hướng chính Tây.

Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại: Phong thủy số


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Đinh Tỵ 1977 làm ăn hợp với tuổi nào?

Lịch Sử Tử Vi

Vào thời nhà Tống, văn hóa Trung Hoa thời đó rất thịnh đạt về nhân học. Cũng nhiều triết gia, tâm học, đạo học chuyên nghiên cứu con người để tìm giải đáp cho cuộc sống, tìm quy tắc cho việc xử thế ngõ hầu mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân và tập thể. Nền triết học thời Tống thời đó đã xuất hiện nhiều trường phái như Nông Gia, Pháp Gia, Âm Dương bên cạnh các học thuyết lớn như Nho Học, Đạo Học. Hầu hết các môn nhân vận chuyên khảo cứu con người và xã hội, cần thiết cho việc tu tâm, trị nước, xử thế . . .
Lịch Sử Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đứng về mặt bói toán mà xét, khoa Tử Vi xuất hiện tương đối chậm, vì đi sau khoa bói dịch, khoa nhân tướng, khoa độn giáp, khoa thiên văn . . . Nhưng Tử Vi đã khai mào cho một học thuật riêng, hệ thống hóa được ngành bói toán bằng lý số theo một khảo hướng đặc thù. Mặc dù vay mượn nơi sở học của người thời đại nền tảng triết lý Âm Dương Ngũ Hành, nhưng khoa Tử Vi vẫn giữ được nét đọc đáo nhờ ở một đường lối khảo sát khác lạ, có thể xem một cuộc cách mạng hoặc ít ra như một phát minh biệt lập trong phái học Tượng Số của thời đó, Thủy Tổ của Tử Vi học là một đạo sĩ biệt hiệu là Hi Di, tên thật là Trần Đoàn, sống vào thời nhà Tống (Trung Hoa).

Đạo sĩ Trần Đoàn đã cố gắng bày ra cách xếp vận mệnh con người vào một lá số, ghi trên một mảnh giấy vỏn vẹn chỉ có một trang, nhưng tổng kê hết cá tính và đời người vào 12 cung và hơn 100 vì sao, được gán cho nhiều ý nghĩa và ngũ hành khác nhau, ngõ hầu giúp con người suy diễn những chi tiết về kiếp số của mình. Tóm tắt cuộc đời phức tạp của con người vào một mảnh giấy một cách hệ thống hóa, đồ biểu hóa một cách khúc chiết. Mặc dù công trình này không tránh được vài sơ khoáng cố hữu nhưng nó vẫn không mất đi giá trị khai sáng cho một bộ môn bói toán hãy còn được tôn sùng ngay trong thế kỷ khoa học không gian này. 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lịch Sử Tử Vi

Lời chúc hay ngày thầy thuốc Việt Nam

Trong ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2 dành những lời chúc hay tặng những lương y, thầy thuốc, bác sỹ, y tá... những người làm trong ngành y câu chúc hay nhất
Lời chúc hay ngày thầy thuốc Việt Nam

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhân ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2 bạn dành những lời chúc hay và đầy chân tình tặng người vợ, người chồng, người anh chị em, người bạn, người quen làm nghề y thật nhiều ý nghĩa.

Hãy lựa chọn những lời chúc hay sau đây đã được sắp xếp theo từng nhóm đối tượng phù hợp để bạn bày tỏ tấm lòng của mình đối với lương y như từ mẫu, mang tới một ngày thầy thuốc Việt Nam lòng biết ơn và cảm thông với công việc đầy nặng nhọc, trách nhiệm và tình thương sâu sắc của những người làm trong ngành y.

Những lời chúc hay tặng bạn gái trong ngành y nhân ngày thầy thuốc Việt Nam

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2, anh chúc cô gái của anh một ngày nhiều niềm vui, nhiều ý nghĩa, nhiều sức khỏe để theo đuổi ước mơ của mình.

—–

Lương y như từ mẫu. Thầy thuốc như mẹ hiền. Nghề thầy thuốc là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, của lòng nhân ái. Chúc em yêu của anh luôn mạnh khỏe. Say với nghề! Giỏi với nghề!

—–

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất và mong emluôn khỏe mạnh để mang lại hạnh phúc cho nhiều người hơn nữa.

Hôm nay là ngày Thầy thuốc Việt Nam. Anh chúc em một ngày nhiều tình yêu. Chúc em vui khoẻ, hạnh phúc, cống hiến hết mình vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, vì sự nghiệp mà em đam mê, theo đuổi.

Nhân ngày thầy thuốc Việt Nam, anh chúc em luôn mạnh khỏe, hạnh phúc,thành công trong sự nghiệp và giữ mãi tâm sáng người thầy thuốc.

Mong rằng ngày nào cũng là một ngày đầy ý nghĩa với các thầy thuốc, như ngày hôm nay! Mong rằng các thầy thuốc luôn là biểu tượng của sự tin cậy, niềm hy vọng và sức khỏe! Chúc riêng vợ của anh luôn công tác tốt, vững tay nghề.

Chúc vợ của anh một ngày thật ý nghĩa, nhiều niềm vui, chúc em luôn vững tâm theo con đường mà em chọn lựa. Yêu em!

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, anh chúc bác sĩ của anh luôn mạnh khỏe, công tác tốt, giàu nhiệt huyết.

Chúc mừng thầy thuốc nhé! Chúc anh luôn có sức khỏe dồi dào để phục vụ nhân dân. Và quan trọng nhất là công việc thật nhàn hạ để toàn dân ta khỏe.

Cô gái của anh! Chúc em một ngày nhiều niềm vui, nhiều ý nghĩa. Chúc em luôn vững vàng để theo đuổi sự nghiệp cứu người mà em chọn lựa.

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, anh chúc em luôn mạnh khỏe, yêu nghề, cống hiến hết mình vì đam mê anh đã chọn. Chúc em thành công trong sự nghiệp và giữ mãi tâm sáng người thầy thuốc.

Ngày Thầy thuốc Việt Nam, em chúc anh luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong sự nghiệp và giữ mãi tâm sáng người thầy thuốc.

Chúc bác sĩ của em một ngày lễ ý nghĩa, dồi dào sức khỏe để cứu người. Chúc em yêu công tác tốt, nhiều may mắn.

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, anh chúc em luôn khỏe mạnh, công tác tốt, giàu nhiệt huyết để cứu người, cứu đời.

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất và mong em luôn khỏe mạnh để mang lại hạnh phúc cho nhiều người hơn nữa.

Những lời chúc hay tặng bạn trai trong ngành y nhân ngày thầy thuốc Việt Nam

Nhân ngày thầy thuốc Việt Nam, chúc anh nhiều sức khỏe, hạnh phúc và nhiệt huyết để cống hiến cho sự nghiệp chữa bệnh cứu người mà anh chọn lựa.

Lương y như từ mẫu. Thầy thuốc như mẹ hiền. Nghề thầy thuốc là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, của lòng nhân ái. Chúc anh yêu của em luôn mạnh khỏe. Say với nghề! Giỏi với nghề!

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất và mong anh luôn khỏe mạnh để mang lại hạnh phúc cho nhiều người hơn nữa.

Hôm nay là ngày Thầy thuốc Việt Nam. Em chúc anh một ngày nhiều tình yêu. Chúc anh vui khoẻ, hạnh phúc, cống hiến hết mình vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, vì sự nghiệp mà anh đam mê, theo đuổi.

Nhân ngày thầy thuốc Việt Nam, em chúc anh luôn mạnh khỏe, hạnh phúc,thành công trong sự nghiệp và giữ mãi tâm sáng người thầy thuốc.

Trắng tinh màu áo Lương y
Trái tim nhân hậu đêm ngày tỏa hương
Giúp người đi tiếp trên đường
Lương y – Từ Mẫu khiêm nhường hành trang
Lá tươi xanh, lá ngả vàng
Vượt qua bạo bệnh thênh thang cuộc đời
Trái tim ươm những nụ cười
Trái tim ngăn giọt lệ rơi não lòng
Trái tim bừng sắc hoa hồng
Trái tim Thầy thuốc mênh mông tình người…

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2, em chúc anh luôn khỏe mạnh, yêu nghề, được ngành y tế tạo điều kiện để công tác tốt – giúp người dân được phòng – chữa bệnh, và luôn nhận được sự kính trọng và hợp tác của người bệnh nói riêng và cộng đồng nói chung.

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, em chúc bác sĩ của em luôn mạnh khỏe, công tác tốt, giàu nhiệt huyết.

Chúc mừng thầy thuốc nhé! Chúc anh luôn có sức khỏe dồi dào để phục vụ nhân dân. Và quan trọng nhất là công việc thật nhàn hạ để toàn dân ta khỏe.

Mong rằng ngày nào cũng là một ngày đầy ý nghĩa với các thầy thuốc, như ngày hôm nay! Mong rằng các thầy thuốc luôn là biểu tượng của sự tin cậy, niềm hy vọng và sức khỏe! Chúc anh môt ngày ý nghĩa.

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, em chúc anh luôn mạnh khỏe, yêu nghề, cống hiến hết mình vì đam mê anh đã chọn. Chúc anh thành công trong sự nghiệp và giữ mãi tâm sáng người thầy thuốc.

Ngày Thầy thuốc Việt Nam, em chúc anh luôn mạnh khỏe, hạnh phúc,thành công trong sự nghiệp và giữ mãi tâm sáng người thầy thuốc.

Chúc bác sĩ của em một ngày lễ ý nghĩa, dồi dào sức khỏe để cứu người. Chúc anh công tác tốt, nhiều may mắn.

Nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, em chúc anh luôn khỏe mạnh, công tác tốt, giàu nhiệt huyết để cứu người, cứu đời.

Ngày Thầy thuốc Việt Nam, xin gửi đến anh lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và gặt hái nhiều thành công mới! Cho dù công tác ở lĩnh vực nào, ở đâu, cương vị gì … cũng luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của ngành, luôn xứng đáng với sự trân trọng và tôn vinh của xã hội “Thầy thuốc như Mẹ hiền”.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lời chúc hay ngày thầy thuốc Việt Nam

Những cảm bẫy tiêu tiền thường gặp khi mua đồ gia dụng –

Mua nhà mới, mua đồ gia dụng, vốn dĩ là một trong những hoạt động tạo nhiều cảm hứng cho con người, đặc biệt là phụ nữ, nhưng khi đi mua đồ gia dụng thực sự thì có biết bao cảm bẫy tiêu tiền mà bạn không thể lường trước được. -Đổi đẳng cấp nhãn mác đ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mua nhà mới, mua đồ gia dụng, vốn dĩ là một trong những hoạt động tạo nhiều cảm hứng cho con người, đặc biệt là phụ nữ, nhưng khi đi mua đồ gia dụng thực sự thì có biết bao cảm bẫy tiêu tiền mà bạn không thể lường trước được.

tu tivi 2400

-Đổi đẳng cấp nhãn mác để che mắt khách hàng

Hiện tượng trong các cửa hàng đồ gia dụng bày bán đủ loại sản phẩm như hãng cao cấp, hàng đạt tiêu chuấn, hàng đạt tiêu chuẩn bán chạy, hàng loại II… là rất thường gặp, việc cần làm của người tiêu dùng là phải đề cao cảnh giác, khi cửa hàng chuyển đồ về đến nhà bạn cần kịp thời mở đóng gói ra để kiểm tra xem đồ được chuyển đến có đúng là cái mà bạn đã chọn tại cừa hàng không; Khi trả tiền nhất định phải yêu cầu cửa hàng viết hóa đơn, trên hóa đơn phải ghi rõ loại hàng hóa, đẳng cấp hàng hóa, mẫu mã hàng hóa… để tiện giai quyết khi xẩy ra vấn đề, không nên nhẹ dạ tin vào những cửa hàng giám giá, khuyên mãi vì họ có thể đặi giá thật lên rất cao rồi giảm giá đi cho bạn.

-Cẩn thận trong khi mua đồ gia dụng dị hinh

Đồng thời với việc các cửa hàng bán đồ gia dụng đồng bộ ra, họ còn mong muốn khách hàng sẽ mua giường đệm đi kèm có bán trong cửa hàng, họ lấy lý do là “đang thịnh hành trên Thế giới” dẫn dắt khách hàng đết những bộ giường dị hình để kiếm chút lợi nhuận. Hiện nay, phần lớn giường đệm trên thị trường có kích thước quy cách là dài 2m, nếu mua giường dị hình thì có thể sẽ bị nhỏ đi rất nhiều, hơn nữa đồ dùng trên giường kèm theo có khi bị “lệch lạc”, không có cảm giác đồng bộ, rất khó mua.

-Những loai gỗ quý đắt có thể có đồ giả

Trên thị trường sàn gỗ, sàn gỗ thực (gỗ thiên nhiên) đã thu hút được sự chú ý của phần đông người tiêu dùng, tuy nhiên do “lòng tham lợi nhuận” của các cửa hàng nên thường xảy ra hiện tượng “hàng loại II thay hàng loại I để kiếm lợi nhuận cao. Theo điếu tra, giá sàn gỗ thực cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng gỗ. Nhưng, vì để kiếm lợi nhuận cao, hiện nay không ít nhà kinh doanh đã sử dụng các loại gỗ khác để giả là sàm gỗ chất lượng cao.

Đối với vấn đề này, các chuyên gia nhắc nhở rằng, khi mua sản phẩm sàn gỗ thực chất lượng cao nhất định phải lưu ý, tránh nhầm đồ mạo danh, có thế chọn một số nhà cung cấp tên tuổi, có uy tín, chất lượng tương đối được đảm bảo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những cảm bẫy tiêu tiền thường gặp khi mua đồ gia dụng –

Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn, tu vi Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn, tu vi Bói tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn

Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn. Bạn muốn xem bói tình yêu? Bạn muốn biết mình là người như thế nào, là người lạc quan và biết cách vượt qua đau khổ trong tình yêu hay bạn mãi chìm đắm trong tình yêu? Trong số 4 hình vẽ trái tim sau đây, bạn có ấn tượng với hình nào nhất? Hình trái tim mà bạn chọn lựa sẽ tiết lộ cho bạn những bí mật về quan niệm của bản thân về tình yêu đấy! Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn

Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn

 Xem bói kết quả tình yêu của bạn là:

A: Bạn là người rất giàu tình cảm.

 
Khi hành động, bạn thường thiên về tình cảm hơn là lý trí. Dù vậy, bạn đủ mạnh mẽ và sẵn sàng đối mặt với thất bại trong tình yêu. Khi vấp ngã rồi, bạn không đau buồn quá lâu mà cố gắng đứng dậy và đi tiếp.   Trái tim bạn tan vỡ nhiều lần đến mức không thể đếm trên đầu ngón tay. Và ngược lại, bạn cũng làm cho nhiều người khác phái phải rơi lệ. Bạn hiểu rằng đau khổ là quy luật của tình yêu và đó là chuyện bình thường. Bạn cảm thấy tình yêu vô cùng thú vị và bạn luôn muốn khám phá nó.

B: Bạn rất cẩn trọng trong tình yêu.

Bạn có thể đợi thật lâu để tìm được người mình yêu và yêu thương mình thực sự. Trong đầu bạn luôn đặt ra các chuẩn mực về tình yêu và bạn cố gắng đạt được một trong số các tiêu chí đó.   Trái tim bạn rất dễ bị tổn thương và thực tế bạn đã có chút trải nghiệm. Phải rất lâu vết thương mới có thể hàn gắn được. Bởi bạn rất khó yêu nhưng khi đã yêu thì yêu hết mình.

C: Chẳng mất quá nhiều thời gian để trái tim bạn vui trở lại.

 
Dù có tình yêu hay không, con tim bạn vẫn luôn yên bình và vui vẻ. Bởi bạn là người lạc quan và biết cách vượt qua đau khổ trong tình yêu. Trái tim bạn hầu như chẳng hề có vết sẹo nào và luôn mở ra để đón nhận mọi cơ hội.   Bạn biết cách mang niềm vui đến cho mình nhưng đôi khi sự chai sạn khiến bạn làm người khác đau khổ mà không hề hay biết.

D: Bạn khá phức tạp trong chuyện tình yêu.

Bạn suy nghĩ quá nhiều và đôi khi còn “rắc rối hóa” mọi chuyện. Những gì bạn nghĩ khiến những người khác cảm thấy bạn rất khó đoán. Hôm nay bạn thế này, mai bạn lại có quyết định khác. Với bạn, tình yêu chẳng hề đơn giản chút nào.   Trái tim bạn có thể đã nhiều lần tan vỡ và rất may là bạn biết cách hàn gắn để lấy lại cân bằng. Mỗi lần vấp ngã, bạn lại trở nên tự tin và trưởng thành hơn nhiều.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình vẽ trái tim tiết lộ quan niệm về tình yêu của bạn - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Tết Dương lịch bắt nguồn từ đâu

Sau 12 tháng mọi người lại chuẩn bị đón năm mới, phương Tây gọi là New Year, nước ta gọi là Tết Dương lịch. Dù ngày 1/1 chưa được tất cả các quốc gia trên thế giới chấp nhận là New Year song Tết Dương lịch vẫn là thời điểm đánh dấu một năm mới bắt đầu.
Tết Dương lịch bắt nguồn từ đâu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Với các nước phương Tây, mọi người nô nức vui chơi ở nơi công cộng trong đêm giao thừa để chờ đón giây phút chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Những quả bóng được thả rơi trong giây đầu tiên của năm mới, pháo hoa bắn sáng rực đất trời, mọi người cùng nâng ly chúc tụng nhau trong niềm vui mới.

Tết Dương lịch đã có từ lâu đời, biến đổi qua nhiều thiên kỷ trong lịch sử tiến hóa, mang dấu ấn lịch sử văn minh của con người và tồn tại đến ngày nay.

Hiện nay thế giới đón Tết Dương lịch vào ngày 1 tháng Giêng. Trong 400 năm qua, rất nhiều quốc gia đã chấp nhận ngày này là ngày New Year.

Tết Dương lịch là thời điểm đánh dấu một năm mới bắt đầu

La Mã là quốc gia đầu tiên chọn ngày 1 tháng Giêng làm ngày New Year trong năm đầu tiên 153 trước Công nguyên. Trước đó, 25/3 là ngày xuân phân (vernal equinox) được chọn là ngày đầu năm. Ngày năm mới này đã được đa số những quốc gia Cơ đốc giáo ở châu Âu chấp nhận (khoảng thời Trung cổ 1.100-1.400 trước Công nguyên).

Trải qua một thời gian khá lâu những quốc gia này mới chấp nhận sự thay đổi ngày tháng cho New Year bởi vì đầu óc cố hữu của họ. Với ngày tháng tính toán cho New Year không được phổ thông như những phong tục đang được bảo giữ, nó cũng không phải là thời điểm hoa màu hay những vụ mùa đặc biệt gắn liền với ngày tháng đó.

Cho nên người ta nghĩ đây chỉ là một ngày bình thường sau mùa bầu cử, sau thời gian các đại biểu trúng cử bắt đầu nhận nhiệm vụ mới trong chính quyền Đế quốc La Mã.

Muốn thay đổi ngày tháng New Year đã có từ trước là một việc làm to lớn đầy khó khăn cho việc tính toán làm Lịch.

Thời Đế quốc La Mã, sự thay đổi ngày tháng cho năm mới của họ đã tính ngược lại ba tháng tới tháng Giêng (tức là tháng Ba trở thành tháng Giêng). Do không có qui tắc nào của Lịch, trước đây nguyên gốc tháng 9, 10, 11, 12 đã đổi thành 7, 8, 9, 10 rồi xếp theo tuần tự.

Thời gian sau này các vị Hoàng đế La Mã của mỗi chính thể đã đặt tên mới cho các tháng, ví dụ như tháng Chín gọi là “Germanucus”, “Antonius” và “Tacitus”, tháng 11 có tên khác là “Domitianus”, “Faustinus” và “Romanus”.

Những sự bất tiện đó đã thúc đẩy vua Julius Caesar thiết lập nên bộ Lịch mới. Lịch này được phát minh bởi nhà Thiên văn học người Hy Lạp Alexandria (tính hệ thống thời gian cho Lịch theo mặt trời). Caesar muốn thay đổi ngày đầu năm từ ngày 1 tháng Giêng mà ông cho là hợp lý nhất, sẽ phù hợp với một trong những điểm chí (Solstices) hay điểm phân (Equinoxes) và tiết khí.

Để tưởng nhớ tới ông, Thượng nghị viện đã dùng tháng sinh nhật của ông (Quintilis) đổi tên thành tháng Bảy (July). Đến đời cháu của vua Caesar là Hoàng đế Augustus cũng có một tưởng thưởng danh dự tương tự để trao tặng cho ông được đổi tên Sextilis thành tháng 8 “August” , vì ông có công sửa sai trong sự tính toán của năm nhuận.

Tết Dương lịch bắt nguồn từ đâu

Lịch này không có những sửa đổi quan trọng nào cho đến năm 1582 khi Giáo hoàng Gregory XII nhậm chức, ông đã hợp nhất phương pháp tính Lịch hiện đại để phân chia tháng năm. Giáo hoàng sửa đổi và xác nhận ngày của năm mới là ngày 1 tháng Giêng bất chấp mọi chống đối của các hiệp hội tín đồ Cơ đốc giáo.

Những quốc gia Công giáo tiếp nhận ngày “New Year” sớm nhất, sau đó đến các nước theo đạo Tin lành, Đức chấp nhận ngày “New Year” năm 1700, Anh (1752) và Thụy Điển (1753).

Những nước phương Đông ảnh hưởng của nhiều tôn giáo như Hindus, đạo Lão, Phật giáo, Hồi giáo nhưng họ cũng dùng lịch giống Cơ đốc giáo. Nhật Bản chấp nhận ngày “New Year” Dương lịch vào năm 1873 và Trung Quốc (1912).

Những tôn giáo dòng chính thống của phương Đông cũng nhận ngày Tết Dương lịch muộn hơn vào năm 1924 và 1927. Nước Nga chấp nhận nó trong hai lần, lần đầu tiên năm 1918 và lần thứ hai 1924.

Các quốc gia như: Bulgaria, Cyprus, Egypt, Greece, Poland, Romania, Syria và Turkey đều ăn Tết vào ngày 01 tháng Giêng.

Người Trung Hoa tính theo hệ thống quay của mặt trăng cho nên ngày New Year đều rơi vào tháng bắt đầu có trăng khoảng trước bốn hay tám tuần khi mùa xuân đến. Ngày chính xác có thể vào khoảng giữa ngày 21 tháng Giêng hay ngày 21 tháng Hai của lịch “Gregorian Calendar”. Lịch Trung Hoa thiết lập không giống như lịch “Gregorian Calendar”, bởi vì phạm vi của mùa thay đổi. Và mỗi năm có một ký hiệu tượng trưng với 12 con Giáp theo qui tắc Ngũ hành với chu kỳ 60 năm.

Đối với Việt Nam, trước khi dùng Dương lịch, người Việt dùng Âm lịch. Lịch do triều đình soạn và ban hành, dĩ nhiên có chịu ảnh hưởng của khoa thiên văn và phép làm lịch của Trung Quốc. Tết Nguyên đán ở Việt Nam từ xưa cũng theo Lịch Trung Hoa.

Đời vua Lê và chúa Trịnh (thế kỷ 16-18) tên gọi cơ quan làm lịch của triều đình là Tư Thiên Giám. Hàng năm, Tư Thiên Giám soạn sẵn lịch cho năm sau, đến tháng 6 Âm lịch thì viết hai bản thảo, rồi dâng lên vua Lê và chúa Trịnh xin tiền in. Vua xem bản thảo xong, giao cho Trung Thư Giám viết lại, có Tri Giám trông coi việc khắc bản in. Tư Thiên Giám kiểm tra lại các bản khắc rồi mới cho đem in. Trong tháng Chạp, Tư Thiên Giám dâng vua Lê bản lịch mới in xong. Sáng ngày 24 tháng Chạp các quan vào triều làm lễ tiến lịch theo nghi thức do Bộ Lễ quy định rất tỉ mỉ. (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Hà Nội: NXB KHXH, 1992, tr. 69.)

Thời nhà Nguyễn, năm Minh Mạng vừa lên ngôi (1820), Bộ Lễ tâu vua xin chọn ngày mồng 1 tháng Chạp thiết đại triều ở điện Thái Hòa để làm lễ ban lịch. Lịch do Khâm Thiên Giám (trực thuộc Bộ Lễ) soạn ra. Năm 1833 triều đình quy định vào tháng 5 Âm lịch, Khâm Thiên Giám ở Huế gửi lịch mẫu ra Hà Nội in để cấp phát cho địa bàn từ tỉnh Ninh Bình trở ra Bắc. Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh do Huế cấp phát. Năm 1940, vua Minh Mạng thay đổi địa điểm ban lịch: thay vì trong điện Thái Hòa thì tổ chức trước Ngọ Môn. Lịch giao về tới làng xã sẽ do các lý trưởng gìn giữ để dân chúng xem chung. (Theo Nguyễn Thị Chân Quỳnh, tại http:/vietsciences.free.fr).

Lễ ban lịch đời Nguyễn còn được gọi là lễ ban sóc hay chính sóc. Ngày rằm tức 15 Âm lịch gọi là vọng; ngày mùng 1 Âm lịch gọi là sóc; chính sóc là mùng 1 tháng Giêng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tết Dương lịch bắt nguồn từ đâu

Tì vị không hòa với giấc mơ thấy áo trắng khăn xanh –

Bất cứ loại bệnh nào của hệ thống tiêu hóa đều xuất hiện dưới hình thức tiềm ẩn, nhưng được người bệnh hồi ức hết sức rõ ràng. Sách Tâm luận của Trung Quốc có viết: Trương Tề, huyện lệnh Quý Giang thường nằm mơ cùng đàn bà ca hát, uôrig rượu, cười đù
Tì vị không hòa với giấc mơ thấy áo trắng khăn xanh –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tì vị không hòa với giấc mơ thấy áo trắng khăn xanh –

Khoa Tử-vi đời Tống

TÌM HIỂU THÊM VỀ LỊCH SỬ TỬ VI (Trích lục của Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ) Lịch sử khoa tử vi Trung hoa và Việt nam Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ Quay về | Xem tiếp
Khoa Tử-vi đời Tống

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

II.- Khoa Tử-vi đời Tống
    Tống Thái-tổ được truyền khoa Tử-vi bằng bộ Tử-vi chính nghĩa, giữ làm của riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách chỉ được lưu truyền trong hoàng cung để biết kẻ trung, người nịnh, để biết vận số mưu đồ đại sự. Tất cả công trình nghiên cứu của hoàng tộc nhà Tống, sau được chép thành sách gọi là Ngự giám tử-vi. Nhưng khi nhà Tống mất, thì con cháu nhà Tống dùng bộ sách này làm kế sinh nhai, nên không dám dùng tên cũ nữa, mà đổi là Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh. So sánh giữa bộ Tử-vi chính nghĩa và bộ Triệu Thị Minh Thuyết Tử-vi kinh, thì bộ thứ nhất cố tính chất lý thuyết đaị cương, như những định luật. Bộ thứ nhì có tính chất thực nghiệm, thu góp kinh nghiệm mấy trăm năm nghiên cứu lại. Như bộ thứ nhất không bàn đến việc :

- Hai người sinh cùng ngày, giờ, tháng, năm, nhưng lá số khác nhau. Bộ thứ nhì đi vào chi tiết này rất kỹ.
- Số người sinh đôi. Trong khi bộ thứ nhì nghiên cứu đến mấy trăm cặp sinh đôi.
- Số những người chết tập thể. Như chết chìm đò, chết trong chiến tranh. Bộ thứ nhì lại nghiên cứu kỹ hơn, đưa ra giải quyết v.v...


    Sau đây chúng tôi trình bày một giai thoại về Tử-vi đời Tống, mà hầu như ai cũng biết, và sử Trung-quốc cũng có chép :
    Khi còn cầm quân tranh thiên hạ, Tống Thái-Tổ có người em kết nghĩa tên là Trịnh Ân. Ân là một võ tướng dũng mãnh, tài ba, vợ Ân là Đào Tam Xuân cũng là một nữ tướng.
Cả hai đã giúp cho Thái-tổ thành nghiệp lớn. Thái-tổ phong cho Trịnh Ân tước vương và thay vua trấn thủ ngoài biên trấn. Nhân đầu năm Thái-tổ xem số các tướng sĩ, văn võ quần thần, thấy số Trịnh Ân là Tướng-quân, Thiên-tướng thủ mệnh đại hạn gặp Kình-dương, tiểu hạn Thiên-hình. Lưu niên Thái-tuế gặp Kiếp, Kị mới nói với quần thần rằng :

   - Trịnh Ân do hai ông tướng thủ mệnh. Tướng sợ nhất kiếm và đao, không sợ Hỏa, Linh, Kiếp, Không. Nay đại hạn ngộ Kình là dao, tiểu hạn ngộ Hình là kiếm. Ta e rằng Ân sẽ bị chém mất đầu. Đã vậy lưu niên Thái-tuế gặp Kiếp, Kị thì sẽ do kẻ tiểu nhân ám hại. Hơn nữa Kiếp, Kị lại ngộ Hồng, Đào, thì kẻ hại Trịnh Ân sẽ là đàn bà. Triều đình đề nghị gọi Trịnh Ân về triều để được bảo vệ. Bấy giờ Trịnh Ân đương trấn thủ ngoài xa, nghe lệnh triệu hồi về kinh thì tuân theo. Khi đến kinh thấy một toán quân hầu hộ vệ kiệu vua, tiền hô hậu ủng. Ân tưởng Thái-tổ, vội xuống ngựa phủ phục bên đường tung hô vạn tuế. Nhưng khi ngửng đầu lên không phải là vua, mà là cha của một Phi-tần được Thái-tổ sủng ái. Chức tước, địa vị của Trịnh Ân cao hơn nhiều, mà phải lạy phục xuống đất thì nhục quá. Trịnh Ân nổi giận lôi vị Quốc-cữu xuống đất đánh cho một trận về tội tiếm nghi vệ Thiên-tử. Vị Quốc-cửu bị đòn nhừ tử, về nhà báo cho con gái biết, khóc lóc đòi trả thù. Vị phi thấy cha bị đòn đau, trở vào cung phục rượu cho Thái-tổ say mèm, rồi dâng biểu nói Trịnh Ân làm phản đập phá nghi trượng Thiên-tử. Tống thái-tổ say quá không tự chủ được, phê vào chữ Trảm. Thế là Trịnh Ân bị mang ra chém đầu. Khi Thái-tổ tỉnh rượu được triều đình tâu tự sự, thì chỉ còn biết bưng mặt khóc lớn.

    Đào Tam Xuân thay chồng trấn ngoài ải, thấy chồng bị thác oan, Tam Xuân truyền quân sĩ để tang, kéo quân về triều hỏi tội. Các tướng phần bất mãn với việc Thái-tổ giết Trịnh Ân, nên không quyết tâm chiến đấu, hơn nữa không địch nổi Tam Xuân nên thua chạy. Tam Xuân vây kinh thành rất gấp. Triều đình tâu giết thứ phi, giết cả nhà Quốc cửu để tạ tội với Tam Xuân. Nhưng Tam Xuân vẫn không lui binh. Tình hình nguy ngập, Triệu Quang Nghĩa tâu với Tống Thái-tổ (Quang Nghĩa là em Tống Thái-tổ, sau được truyền ngôi vua):

    - Thần xem số Tam Xuân thấy Vũ-khúc, Phá-quân thủ mệnh. Vũ-khúc thì hay giận, Phá-quân thì nhẹ dạ. Tử-vi kinh nói rằng: Chỉ có Lộc-tồn chế được tính ác của Vũ-khúc, Thiên-lương chế được tính điên của Phá-quân. Vậy ở đây có vị văn thần nào Thiên-lương, Lộc-tồn thủ mệnh, đề nghị có thể thuyết phục được Tam Xuân.

    Thái-tổ chuẩn tấu, tìm ngay ra vị văn thần có tên Cao Hoài Đức có cách trên, sai ra ngoài thành, thuyết phục Tam Xuân. Quả nhiên Tam Xuân lui binh. Từ đấy trong suốt đời nhà Tống, con cháu họ Trịnh được nối tiếp nhau phong tước.

    Như vậy thì Triệu Quang Nghĩa đã học tới trình độ khá uyên thâm khoa Tử-vi, nên dùng phá cách dữ tợn của Tam Xuân và trợ cách giúp Thái-tổ. Nghiên cứu lá số của Thái-tổ, năm đó đại hạn ngộ Kỵ, tiểu hạn đi vào cung nô, gặp Thiên-thương, Kiếp. Hạn Thiên thương gặp Kiếp, Không thường là hạn bị hàm oan nguy đến tính mệnh. Chính Khổng-tử bị hạn này, bị vây tại nước Trần, hút chết đói. Số của Cao Hoài Đức, ngoài Thiên-lương, Lộc-tồn thủ mệnh, đại hạn ngộ Quyền, Khốc, Hư, Xương, Lương, Lộc chỉ chế được Tam Xuân. Nhưng chính Quyền, Khốc, Hư nói Tam Xuân nghe theo, và Văn-xương là sao giải hạn Địa-kiếp vậy.

  1. Thư tịch về khoa Tử Vi
  2. Nguồn gốc khoa Tử Vi
  3. Khoa Tử Vi đời Tống
  4. Khoa Tử Vi sau Hi-Di
  5. Tử Vi vào Việt Nam
  6. Khoa Tử Vi đời Trần
  7. Khoa Tử Vi đời sau
  8. Dị biệt chính, Nam phái
  9. Kết luận


  10. Quay về | Trở về đầu | Xem tiếp



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khoa Tử-vi đời Tống

Tiên đoán vận mệnh qua giờ sinh –

Nhiều bạn vẫn có cảm giác tò mò và thắc mắc mình có được giờ sinh không? sinh vào giờ nào thì tốt. Theo các chuyên gia nghiên cứu khoa học thì những người sinh giờ Dần thường đa tài đa nghệ, thông minh tài trí, cả đời có phúc. Thời trẻ và trung niên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều bạn vẫn có cảm giác tò mò và thắc mắc mình có được giờ sinh không? sinh vào giờ nào thì tốt. Theo các chuyên gia nghiên cứu khoa học thì những người sinh giờ Dần thường đa tài đa nghệ, thông minh tài trí, cả đời có phúc. Thời trẻ và trung niên bình an hạnh phúc, về già có nhiều của cải. Những người có giờ sinh khác thì thế nào? củ thể ra sao hãy cùng chúng tôi đọc bài viết để xem vận mệnh qua giờ sinh nhé!

Nội dung

  • 1 Xem vận mệnh qua giờ sinh
    • 1.1 Giờ Tý (Từ 23 h – 1 h)
    • 1.2 Giờ Sửu (Từ 1 h – 3 giờ)
    • 1.3 Giờ Dần (Từ 3 h – 5 h)
    • 1.4 Giờ Mão (Từ 5 h-7 h)
    • 1.5 Giờ Thìn (Từ 7 h – 9 h)
    • 1.6 Giờ Tỵ (Từ 9 h – 11 h)
    • 1.7 Giờ Ngọ (Từ 11 h-13 h)
    • 1.8 Giờ Mùi (Từ 13 h – 15 h)
    • 1.9 Giờ Thân (Từ 15 h – 17 h)
    • 1.10 Giờ Dậu (Từ 17 h – 19 h)
    • 1.11 Giờ Tuất (Từ 19 h- 21 h)
    • 1.12 Giờ Hợi ( Từ 21 h- 23 h)

Xem vận mệnh qua giờ sinh

Giờ Tý (Từ 23 h – 1 h)

Những người sinh giờ Tý thường tính cách thanh cao, có đạo đức, cá tính mạnh, nóng vội, ý chí hơn người, tài năng xuất chúng, tính cách tự do tự tại, gặp hiểm nguy đều tai qua nạn khỏi. Họ thuộc tuýp người “hai bàn tay trắng làm nên sự nghiệp”.

Giờ Sửu (Từ 1 h – 3 giờ)

Những người này có mối quan hệ với cha mẹ khá lạnh nhạt, khí chất cao quý, sự nghiệp phát triển rộng mở, nắm quyền lực trong tay, mệnh số may mắn, tuy có bệnh nhưng sống rất trường thọ.

Giờ Dần (Từ 3 h – 5 h)

Thông minh, dung mạo hơn người, có tiền có quyền, đa tài đa nghệ, có chí khí, số mệnh sống xa nhà. Khi còn trẻ, họ thường số vận không mấy suôn sẻ, càng trưởng thành, vận mệnh càng tốt hơn.

Giờ Mão (Từ 5 h-7 h)

Số mệnh ít nhờ cậy người thân, tài sản kiệt quệ, lúc nào cũng trong cảnh túng thiếu. Từ khi còn trẻ đến lúc trưởng thành, họ thường nợ nần chồng chất, về già vận mệnh mới thay đổi.

0-6512-1393928123

Giờ Thìn (Từ 7 h – 9 h)

Cuộc sống vất vả, bôn ba khắp nơi. Người này thông minh lanh lợi nên khi còn trẻ đã sớm có tiền của; khi trưởng thành tài sản dễ tiêu tán, càng về già càng đạt được thành tựu.

Giờ Tỵ (Từ 9 h – 11 h)

Thông minh lanh lợi, hiểu biết hơn người, trai tài gái sắc, tiền đồ tươi sáng. Thời còn trẻ tuy trải qua nhiều cực khổ nhưng vốn tài năng nên rất nhanh đạt được thành tựu, có thể tự mình lập nên nghiệp lớn.

Giờ Ngọ (Từ 11 h-13 h)

Bản tính tự lập, vui vẻ, tính cách cởi mở, khoan dung độ lượng. Ngay từ thời còn trẻ vận mệnh đã may mắn, mọi thứ đều suôn sẻ, có của để dành, cuộc sống yên vui cho đến già.

Giờ Mùi (Từ 13 h – 15 h)

Nội tâm luôn xáo động, cuộc sống khá vất vả. Thời trẻ tuy dễ có của cải nhưng phải làm việc rất cực nhọc; độ tuổi trung niên gặp chuyện không may; về già cuộc sống trở nên dư dả.

Giờ Thân (Từ 15 h – 17 h)

Cả đời sống cô độc, mối quan hệ giữa người thân khá nhạt nhòa, số mệnh sống xa nhà. Thời trẻ vận mệnh không suôn sẻ, kết hôn khá muộn màng, về già vận mệnh mới trở nên tốt hơn.

Giờ Dậu (Từ 17 h – 19 h)

Tính cách mạnh mẽ, cả đời luôn sống trong tranh đoạt với người khác, phù hợp với vị thế của người lãnh đạo. Họ có mối quan hệ với người thân luôn biến động, nhiều mối bất hòa. Thời trẻ vận mệnh không suôn sẻ, trung niên và về già thì tốt hơn.

Giờ Tuất (Từ 19 h- 21 h)

Đa tài đa nghệ, thông minh tài trí, nhanh nhẹn khéo léo, cả đời có phúc, vận mệnh lên xuống thất thường. Thời trẻ và trung niên bình an hạnh phúc, về già có nhiều của cải.

Giờ Hợi ( Từ 21 h- 23 h)

Thông minh cơ trí, tâm hồn thánh thiện, ít làm phật lòng ai, bản tính chân thật nên được nhiều người quý mến. Cuộc đời bình an ổn định, sức khỏe trường thọ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiên đoán vận mệnh qua giờ sinh –

Xử Nữ - người tình đáng mơ ước

Tình yêu của Xử Nữ tận tâm, chu đáo và nhất mực chung thủy. Họ là những người tình đáng ngưỡng mộ.
Xử Nữ - người tình đáng mơ ước

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Xu Nu - nguoi tinh dang mo uoc hinh anh
 
Mặc dù, không thể hiện bằng lời, nhưng tình yêu của Xử Nữ rất đắm say. Họ quan niệm rất rõ ràng, chú trọng tình cảm đi về chiều sâu, chọn người bạn đời theo tiêu chí: người đó thấy tầm quan trọng của Xử Nữ và cần có Xử Nữ trong cuộc đời.
 
Là chòm sao duy nhất do nữ đại diện, nên Xử Nữ đặc biệt thuần khiết và có khả năng khống chế bản thân. Nữ Xử Nữ không phụ tình, nam Xử Nữ không lấn lướt, họ ôn hòa và cẩn trọng trong tình cảm. Bề ngoài lạnh lùng nhưng bên trong Xử Nữ luôn khao khát được yêu thương, đương quan tâm và trở nên hạnh phúc.
 
Bởi khao khát mãnh liệt này mà họ luôn tìm kiếm không ngừng tình yêu đích thực của đời mình. Họ mong muốn tìm được người yêu hoàn hảo nhất, phù hợp nhất, có thể yêu thương và gắn bó trọn đời. Vì thế mà người cung Xử Nữ rất tỉ mỉ, thận trọng, thậm chí khắt khe trong quá trình xây dựng mối quan hệ.
 
Cho dù là những lời khen thành thực nhất, họ cũng sẽ tiếp thu một cách dè dặt nghi ngờ, và nếu không có những cử chỉ tràn đầy tình ý kèm theo thì họ sẽ không tin vào những lời khen này. Xử Nữ không vội vàng yêu đương hay kết hôn, họ duy trì tốt cuộc sống độc thân và chỉ chịu từ bỏ nó khi tìm được người xứng đáng.
 
Đây là một nguyên tắc tốt, tích cực, giúp Xử Nữ duy trì lối sống lành mạnh, yêu đương dựa trên tình cảm chân thành, không phóng túng, không dễ dãi, có thể tìm thấy đối tượng thực sự phù hợp. 
 
Mặt khác, đó cũng là nguyên nhân khiến nhiều Xử Nữ “ế”. Quá khó tính, xét nét và yêu cầu cao đến mức phi thực tế trong khi “ngọc còn có vết” huống chi là người. Hãy nhìn nhận về mọi người thoáng hơn, tích cực hơn, nhìn vào điểm tốt của người khác và nhận xét toàn diện Xử Nữ nhé. Tình yêu đôi khi không phải là khuôn mẫu, người hoàn hảo chưa chắc đã là người hợp với mình. Cho bản thân được sống thoải mái hơn và cho đối phương có cơ hội làm bạn hạnh phúc.  
► Xem thêm: Bí ẩn 12 cung hoàng đạo và Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất

Trần Hồng (Theo Horoscopecompatibility)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xử Nữ - người tình đáng mơ ước

Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Một bài viết trình bày bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi rất hay! Vương Đình Chi là một bậc thầy tử vi!
Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vương Đình Chi phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung Phúc đức), đạo "xu cát tị hung", và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực Hậu thiên, để đưa ra lời giải.

Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế Tiên thiên (Thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một con người, còn có "Địa vận" và "Nhân vận".

"Địa vận" có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được.

Nhưng, "Nhân vận" thì không phải là như vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng từ Cha Mẹ, Thầy, bạn bè,.v.v... lúc lâm sự, sẽ có những phản ứng khác nhau. Đạo "xu Cát tị Hung" (theo cát tránh hung) thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc Hậu thiên, thường có thể thay đổi vận thế Tiên thiên. Đây chính là Tinh hoa của Tử vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.

Cho nên, người nghiên cứu phải tìm hiểu rõ tính chất "hợp Cục nhập Cách" này của Tử Vi Đẩu Số, lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị vận thế Tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội (Địa vận) và chủ chương hành động của con người (Nhân vận) thuộc Hậu thiên.

Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc Hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán, thấy một người năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được, nếu anh ta không nghe lời khuyên, thì nhất định sẽ gặp họa lao ngục?

Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép "theo cát tránh hung" là sự thực như sau:

Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư ký ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1996 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên cô ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm, mới phát hiện có tế bào ung thư ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985, thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa đích thực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN THIÊN BÀN

1- Lấy bối cảnh văn hóa xã hội làm nên tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến "cách" luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi nói: "Nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của Lưu niên, nếu như cung Tử tức của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, mà các sao của Lưu niên lại không tốt, chủ về sinh đẻ có nguy cơ". Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình Chi bị hố, ông xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không? Lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: "Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi", Vương Đình Chi nhíu mày, người phụ nữ nói thêm: "Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con". Thực sự, Ông không biết có phương pháp gây tê toàn thân để sinh con. Chiếu theo lý, "gây tê toàn thân" cũng là có vấn đề rồi, nhưng lúc sinh con người phụ nữ không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng. Đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này, lúc mới sinh ra được các Bác sỹ dùng kỹ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về Tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là tai nạn, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một vận mệnh, Hậu thiên có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển vận thế Tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là "túc mệnh luận", tức chẳng thể luận đoán ra chuyện "không thể thay đổi được". Bởi vì khuynh hướng Tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm Hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán "sinh con khó dưỡng" không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: "Tham lang Liêm trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm", nếu cứ y như sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng nhắc. Vương Đình Chi kể: ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo có địa vị khá, cung mệnh là hai sao "Tham lang Liêm trinh" tọa thủ, nếu nói phóng đãng, tính chất cũng chính xác, bởi vì người này "có máu" nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu.

Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ "phóng đãng" để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ, những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm "lãng tử", lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. Nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, đo đó biến thành không phải là "phóng đãng".

Năm xưa, Vương Đình Chi học Đẩu Số với thầy là Huệ Lão, Huệ Lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay, ông nói: "Theo kinh nghiệp luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mỹ". Đương nhiên thời cổ đại không có giải phẫu thẩm mỹ, vì vậy Huệ Lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu, mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa, Huệ lão rất tán dương hai vị Đẩu Số gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại. Một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyền, với bộ Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu, tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi, có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyền. Như Thái âm ở cung Tai Ách, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản. Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao.

Do đó có thể thấy, phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy mới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

2- Quan sát toàn diện 12 cung

Kỹ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm "tam phương tứ chính", sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau, tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt với một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán "tam phương tứ chính" của cung mệnh, cung Thiên Di, cung Tài bạch, cung Quan lộc một cách thái quá, mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lý chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rời vào luận đoán vụn vặt. Vương Đình Chi cho bết kinh nghiệm rằng, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lý giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

3- Các bước luận đoán mệnh bàn

Học Tử Vi Đẩu Số, thực ra chỉ cần nắm vững 3 điều:

3.1- Phương pháp an sao
3.2- Tính chất cơ bản của tinh hệ
3.3- Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để đoán vận trình.

Tiết này sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích để tạo hứng thú cho người mới học luận đoán, bởi vì rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

3.1- Trước tiên xem cung Phụ Mẫu, rồi xem cung Điền trạch

Từ cung Phụ Mẫu và cung Điền Trạch, có thể luận đoán xuất thân của đương số, và mức độ được hưởng sự che trở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh, mới có thể quyết định đương số thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp "tay trắng làm nên", hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung Phụ Mẫu và cung Điền trạch đều tốt, nhưng khi trong vận bàn lại hiện rõ vận trình "tay trắng làm nên", điều này chứng minh gia đình của đương số rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại cung Phụ mẫu và cung Điền trạch đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán đương số có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

3.2- Đồng thời quan sát cung Mệnh và cung Phúc đức

Thông thường sao hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Còn sự hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thể luận nhất định đương số có một gia đình tốt. Trái lại, nếu cung Mệnh tốt, còn cung Phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý hôn nhân của đương số có thể không như ý, hay có khả năng đương số chỉ dựa vào may mắn mà giầu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của đương số chẳng cao thượng, hoặc cảnh ngộ của đương số tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

3.3- Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ đương số hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung Phu Thê, nghi ngờ đương số mắc bệnh mãn tính khó khỏi thì cần phải kiểm tra cung Tai Ách, nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung Mệnh và cung Phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Xin đưa ra một ví dụ thực tế:

- Nữ mệnh, cung mệnh Thiên cơ Thái âm, trong đó Thiên cơ hóa Khoa, Thái âm hóa Lộc tại cung Thân
- Hội Thiên đồng hóa Quyền ở cung Tài bạch tại Thìn, là "Hóa Lộc Hóa Khoa Hóa Quyền hội", trong Đẩu Số là một kết cấu tốt.
- Cung Phúc có Cự môn hóa Kị, hội hợp với Phu thê gặp Hồng Loan, Hàm trì, đối cung lại gặp Thiên diêu (tức cung Tài)
- Kết cấu tinh hệ này, biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp tinh hệ ở cung Phu Thê.
- Thái dương Lộc tồn tọa thủ cung Phu ở Ngọ, chồng chẳng nghèo, nhưng hội Cự môn hóa Kị ở cung Phúc tại Tuất, xấu nhất còn hội hợp Thiên lương, Thiên hình, thêm sao Hỏa tinh ở đối cung (tức cung Quan ở Tý), tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng
- Nhưng không có duyên vợ chồng có mấy loại tính chất. Ví dụ như Phu và Thê không cùng chí hướng, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, chồng có tình nhân bên ngoài, chồng mắc nhiều bệnh,.v.v... Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn, thì không có cách nào giải quyết được, mà càn phải xem Đại vận và Lưu niên.

3.4- Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của Đại hạn và Lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán, và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chỉ cần xem xét mỗi một Đại hạn của cung Phu Thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25 - 34 tuổi, cung Tuất biến thành cung Mệnh của Đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung Phu Thê của Đại hạn.

Sao Lộc tồn của Đại hạn bay vào cung Phu Thê (tức lưu Lộc, bởi vì Lộc tồn của Đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có lưu Kình và lưu Đà của Đại vận giáp cung (gọi tắt là vận Kình vận Đà).

Cung Phu thê của nguyên cục có hiện tượng giáp Kình giáp Đà, thấy khéo trùng hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy tất phải có lý lẽ của nó. Vả lại, cung Phu thê của Đại vận còn hội hợp Thiên đồng hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong Đại hạn này vợ chồng tất có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi 1983, cung Phu thê của Lưu niên có vấn đề lớn. Cung Phu thê của Lưu niên ở cung Dậu, "Tử vi Tham lang" tọa thủ, nhưng Tham lang hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có lưu Kình của Đại hạn đồng cung. Sát diệu hội hợp Đà la của cung Tị, lưu Kình của cung Sửu, cho tới các sao Vũ khúc, Phá quân, Liêm trinh, Thất sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này, có tính chất là "không có niềm vui gia đình", xấu nhất tức là "lưu Kình của Lưu niên" xung động "lưu Kình của Đại hạn", đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ "Tử vi Tham lang".

Do đó luận đoán sơ bộ là: sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn một tháng thì phát hiện người chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung Tai Ách của người chồng, thì thấy "Thiên cơ Thái âm" tọa thủ, có Linh tinh Đà la đồng cung, hội hợp Thiên lương và Xăn xương hóa Kị, đồng thời "tam phương tứ chính" lại có các sao Hàm trì, Hồng loan, Đại hao, còn có thêm Âm sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm từ Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kỳ trước hôn nhân, người chồng này đã rất trác táng. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị người chồng gặp một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí. Kết quả đầu năm Ất Sửu 1985, đôi vợ chồng nọ tìm đến Vương Đình Chi để cám ơn đã cữu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

3.5- Kỹ thuật quan sát tình hình Cát Hung của các cung

Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kỹ thuật.

Dưới đây, tôi xin trình bầy các kỹ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo

- Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.

Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tả phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp chiếu, đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân - Tý, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tý chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tý là cung Ngọ để "mượn sao an cung", mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành cách: "tứ sát kèm sát", tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên dù có oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là "tinh diệu hỗ hiệp".

Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:

Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tý 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tý có tinh hệ "Thiên phủ Vũ khúc", Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiện đang ở Đại vận Quý Mão.

Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tý, cung mệnh ở Tý có "Thiên Phủ Vũ khúc", hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách là "Lộc Văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Ở đây cần chú ý "cung Mệnh của lưu niên" (cung Tý), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra "cung Phúc đức của lưu niên" của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung Mệnh và cung Phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).

Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là "đào hoa" tụ về cung Phúc đức.

Trong tình hình này, Vương Đình Chi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yêu đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến Vương Đình Chi.

Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc Văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc: "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".

"Sao đôi" xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Khi luận đoán Đẩu Số, một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là "Kiến tinh tầm ngẫu". Đây là kỹ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu, mà Vương Đình Chi được truyền thừa.

Gọi là "Kiến tinh tầm ngẫu" (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều cặp "sao đôi", khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi, thì sức mạnh được tăng cường. Về điều này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút.

Ví dụ cổ nhân đưa ra nguyên tắc: "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên phủ thì phải xem Thiên tướng), "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Thiên tướng thì phải xem Thiên phủ), bởi vì Thiên Phủ và Thiên Tướng là cặp "sao đôi". Nhưng cổ nhân thích giữ "bí mật", cho nên thường thường chỉ nói sơ qua mà thôi.

Liệt kê một số cặp "sao đôi" để tham khảo:

+ Chính diệu:
- Thiên phủ và Thiên tướng
- Thái Dương và Thái Âm
- Thiên Đồng và Thiên Lương
- Liêm Trinh và Tham Lang

+ Phụ diệu:
- Tử Phụ và Hữu Bật
- Thiên Khôi và Thiên Việt

+ Tá diệu:
- Văn Xương và Văn Khúc
- Lộc Tôn và Thiên Mã

+ Tạp diệu:
- Hồng Loan và Thiên Hỷ
- Hàm trì và Đạo hao
- Long Trì và Phượng Các
- Ân Quang và Thiên Quý
- Tam Thai và Bát Tọa
- Cô Thần và Quả Tú
- Thiên Khốc và Thiên Hư
- Thiên Phúc và Thiên Thọ
- Đài Phụ và Phong Cáo.

Nhưng, như thế nào mới gọi là "sao đôi" xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc dưới đây để định.

- Loại tình huống có sức mạnh nhất là "sao đôi đồng cung". Ví dụ như tình huống "Thái dương Thái âm" đồng cung tại Sửu, cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

- Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là "sao đôi chiếu nhau", ví dụ ở hai cung Thìn và Tuất, thì Thái dương và Thái âm chiếu vào nhau, sự phát huy sức mạnh lẫn nhau của chúng cũng không thể xem thường.

- Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp "Song phi hồ điệp thức", tức là "sao đôi" chia ra ở hai bên "hợp cung", ví dụ lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc, đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp "sao đôi" Khốc Hư lấy tư cách "song phi hồ điệp" hội hợp với cung Ngọ (là bản cung), đối với cung Ngọ phải chịu sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên khốc và Thiên hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp "Song phi hồ điệp thức".

- Cuối cùng là hội hợp "Thiên tà thức" (kiểu đối lệch). Ví dụ lấy cung Tý làm "bản cung", tương hội với Văn khúc ở cung Thân, và Văn xương ở đối cung (cung Ngọ), đối với cung Tý là "bản cung" mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện "sao đôi" kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện "sao đôi" theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung => Đối nhau.=> Tam hợp hội chiếu => Một ở tam hợp một ở đối cung hội chiếu => Các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên khốc và Thiên hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là "bí truyền". Cho nên dựa theo sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

"Tá cung an sao", "Tinh diệu hỗ thiệp", "Kiến tinh tầm ngẫu", là Vương Đình Chi được sư phụ bí truyền, đây là ba kỹ thuật trọng yếu, dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng không chịu tiết lộ những bí truyền này.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN ĐỊA BÀN

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu. Về cách an, toàn bộ giống như Thiên bàn, trong đó thì phép an sao Tử Vi có khác.

Tử vi của "Thiên bàn" là lấy thiên can của Năm sinh và ngũ hành Dần thủ, để tìm Nạp âm của cung mệnh, rồi lấy Nạp âm ngũ hành để tra Cục số, thì xác định được cung vị của Tử Vi.

Tử Vi của "Địa bàn" cũng vậy, ta lấy thiên can của Năm sinh, và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm ngũ hành nạp âm của cung Mệnh, mà là tìm ngũ hành Nạp âm của cung Thân. Do đó "Địa bàn" lấy cung Thân làm chủ. Sau đó tra được nạp âm của cung Thân, chiếu theo phương pháp của "Thiên bàn", căn cứ ngũ hành Cục số, để tìm cung vị Tử vi.

Sau khi đã biết "Địa bàn", ta rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất Tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy, ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội, nhưng họ lại có những hành vi nhỏ mọn rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh tại "Địa bàn" rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở "Thiên bàn" tiên thiên lại không cao quý cho lắm.

Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn, hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao, và hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao ở cung mệnh ở "Thiên bàn" phần nhiều là sao xấu, nhưng ở "Địa bàn" lại có nhiều sao rất tốt cung hội chiếu.

Các sao của "Địa bàn" cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vương hay tử mộ, để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, người sinh giờ Tị, ngày 17 tháng 5, năm Quý Sửu, Vương Đình chi tôi chú giải như sau: (sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú )

Lục tiên sinh chủ trương dùng "Địa bàn" để tìm "căn nguyên tiên thiên". Đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời. Nhưng dùng "Địa bàn" để tính "giao thế thời" thì Lục tiên sinh hoàn toàn không có nhắc đến.

Theo Vương Đình Chi, thì mỗi giờ sinh của một người có thể chia thành "tam bàn" Thiên - Địa - Nhân. Điều này, cần phải căn cứ vào Tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong "giao thế thời".

Liên quan đến phương pháp an sao ở "Địa bàn" và "Nhân bàn", điều mà xưa nay vẫn được coi là "bí truyền", thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên, cứ theo phương pháp an sao của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là "Thiên bàn", rồi lấy cung Thân của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, dùng can chi của cung Thân để định Cục và Ngũ hành, an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một bàn khác, gọi là "Địa bàn".

Nếu không dùng cung Thân, thì lấy cung Phúc Đức của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, rồi dùng can chi của cung Phúc Đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là "Nhân bàn", nói một cách chính xác thì đây là "nhân bàn của địa bàn".

Nếu cung Mệnh và cung Thân đồng cung, thì "Thiên bàn" và "Địa bàn" hoàn toàn giống nhau. Nếu cung Thân và cung Phúc đức đồng cung, thì "địa bàn" và "nhân bàn của địa bàn" hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, "Thiên bàn" - "Địa bàn" - "Nhân bàn", chỉ có cung Mệnh là khác cung độ, trong đó 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN NHÂN BÀN

1- Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu

Nguyên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung "Thiên bàn", thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hương Tiên thiên). Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc Năm hạn nào cũng tốt ; người có cách cục xấu, chưa chắc Năm hạn nào cung xấu. Do đó cần phải mang tinh bàn "phi động" ra để nghiên cứu tỷ mỉ, xem vận thế của Mệnh tạo trong mỗi một Năm hạn. Đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. (Thuyết "phi động" người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi).

Đẩu số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một Đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung Mệnh đại hạn 10 năm. Rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của Đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ), bày lần lượt 11 cung còn lại, mà không cần chú ý đến tên gọi gốc của "Thiên bàn".

Giả thiết mệnh tạo là Dương nam, thuộc mộc tam cục, Mệnh lập tại Dần, xét Đại hạn Mậu Thìn 23 - 32 tuổi, cung mệnh của Đại hạn ở cung Mậu Thìn, tức là cung Phúc đức của Thiên bàn tại Thìn, thế là từ cung Mậu Thìn, bầy bố theo chiều nghịch

- Cung Đinh Mão là cung Huynh đệ của Đại hạn
- Cung Bính Dần là cung Phu thê của Đại hạn
- Cung Ất Sửu là cung Tử Tức của Đại hạn
...v.v...
- Cho đến cung Kỷ Tị là cung Phụ Mẫu của Đại hạn

Tới đây, có thể căn cứ vào tổ hợp sao của các cung, tham khảo những điều đã luận thuật ở chương trước để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn 23 - 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.

Tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là "Thiên bàn", hoặc Địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của Đại hạn, còn phải thêm vào các "Lưu diệu" thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu có mấy loại như dưới đây:

1)- Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Hóa Lộc, lưu Hóa Quyền, lưu Hóa Khoa, lưu Hóa Kị, lưu Lộc (lộc tồn), lưu Dương (kình dương), lưu Đà (đà la), lưu Khôi (thiên khôi), lưu Việt (thiên việt), lưu Xương (xăn xương), lưu Khúc (văn khúc)

2)- Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Mã (thiên mã)

Theo ví dụ trên:
- Cung mệnh của Đại hạn từ 23 - 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên can Mậu là can của cung mệnh Đại hạn
- Vì vậy trong Đại hạn này, căn cứ vào can Mậu, thì lưu hóa Lộc là Tham Lang, lưu hóa Quyền là Thái Âm, lưu hóa Khoa là Thái Dương (??? kiểm), lưu hóa Kị là Thiên Cơ, lưu Lộc ở cung Tị, lưu Dương ở cung Ngọ, lưu Đà ở cung Thìn.
- Lại vì Thìn là chi của cung mệnh Đại hạn, cho nên lưu Mã ở cung Dần.

Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất nên điền các "lưu diệu" vào một tinh bàn mới (Nhân bàn), còn đối với người đã thuộc phương pháp an sao, thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái thì biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán "Lưu niên", "Lưu nguyệt", "Lưu nhật", giả dụ như điền hết các Lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng đế sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng phương pháp an sao là rất quan trọng. Nếu không thì nên lập nhiều tinh bàn - tức là nhân bàn của từng thứ loại.

Khi luận đoán Lưu niên - Lưu nguyệt - Lưu nhật, thì có một nguyên tắc cần phải biết như sau:

1) Phàm có các Lưu diệu thì lấy Lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng (xin nhắc lại là nếu không xung thì không sinh ra tác dụng). Ví dụ như, tinh bàn gốc có Lộc tồn ở cung Tị, lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở phương vị tam phương tứ chính. Hay như Kinh dương gốc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Dậu, còn Đà là gốc ở cung Thìn, lưu Đà ở cung Mùi, cung không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình dương, Đà la, Lộc tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của Đại hạn, nhưng tác dụng không lớn. Trái lại, lưu Lộc, lưu Dương, lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

2)- Nếu các sao ở trong tin bàn gốc, xung hội với "Lưu diệu" ở tam phương tứ chính, thì sác mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Ví dụ như Lộc tồn nguyên cục ở tại cung Tị, lưu Lộc ở cung Hợi, nguyên cục "Lộc" và "Lưu Lộc" hai bên đối xứng. Hoặc như Kình dương ở cung Ngọ mà lưu Dương ở cung Tí, Đà la ở cung Thìn mà lưu Đà ở cung Tuất, như vậy nguyên cục và Lưu hai bên cũng đối xứng, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của Đại hạn, toàn bộ 6 sao trong đó 3 sao của nguyên cục và 3 sao "lưu" đều có tác dụng.

3)- Các sao xung động với "lưu diệu" thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất ; trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó ; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.

4)- Khi luận đoán Đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với "lưu diệu" của Đại hạn.

Lúc luận đoán Lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của Đại hạn với lưu diệu của lưu niên. Các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ trường hợp có hai "lưu diệu" đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Theo như ví dụ trên, lúc luận đoán Lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc ở cung Tị, không có Lộc Tồn của Đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của Lưu niên hội chiếu. Nên khi luận đoán Lưu niên, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Nhưng Kình dương, Đà là, Lộc tồn của đại hạn thì có Kình dương, Đà la, Lộc tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung đột, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán Lưu niên, chỉ cần xem xét Kình dương, Đà la, Lộc tồn của Đại hạn và Lưu niên.

Như tình huống ví dụ đã nói trên, Lộc tồn gốc tại cung Tị, Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, theo đó Lộc tồn gốc tuy không hội chiếu với Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, nhưng xung hội với Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc tồn của Đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc tồn gốc tại cung Tị, thì sao Lộc Tồn này, do đồng thời có lưu Lộc của Đại hạn ở Dậu và lưu Lộc của Lưu niên ở Hợi, tam phương hiệp trợ, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.

Lúc luận đoán Lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của Lưu nguyệt và lưu diệu của Lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của Đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh, các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (Thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Lúc luận đoán Lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường lưu diệu của Đại hạn, và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý gì thêm.

Các nguyên tắc kể trên rất quan trọng, khi luận đoán Đại hạn, Lưu niên, Lưu nguyệt, Lưu nhật, không được xem thường. Nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào luận đoán. Nhất là khi luận đoán Lưu nhật, trong tinh bàn đầy dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng Cát Hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ, thì sẽ không biết định tính chất Cát Hung của các sao hội hợp như thế nào.

2)- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên

Sau khi biết rõ các nguyên tắc thuật ở trên, và đã tìm hiểu về "tinh bàn phi động", cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất ta nên bắt đầu từ Đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.

Để tiện cho việc thuyết minh, tốt nhất tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế:

Mệnh bàn của một phụ nữ, âm nữ, kim tứ cục, mệnh chủ Văn khúc, Thân chủ Thiên đồng, mệnh lập tại cung Ất Mùi vô chính diệu gặp Tuần Không.

Điều đáng chú ý là cung Phu ở Tị có Thiên cơ, Hữu bật, Thiên mã đồng độ, hội tinh hệ Thiên đồng, Cự môn hóa Lộc ở cung Tân Sửu (Di), Thái âm ở cung Kỷ Hợi, cung Đinh Dậu vô chính diệu (Phúc), vì vậy mượn Thiên lương, và Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt, Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giầu sang.

Nhưng Thiên cơ ở cung Phu vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên mã đồng độ, tính chất hiếu động trôi nổi càng tăng. Cung Phu không ưa Tả phụ Hữu bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung Phu. Ngoài ra, Thái dương và Thiên lương, Thiên đồng và Cự môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung Phu, cho nên cung Phu trong mệnh bàn có thể nói là cát - hung lẫn lộn. Cát hay Hung thì ảnh hưởng của Đại vận là tất lớn.

Lúc vào Đại hạn Bính Thân từ 14 - 23 tuổi, cung Phu ở cung Giáp Ngọ, thấy Tử vi xung chiếu Tham lang ở Tý, gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn xương hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liêm trinh hóa Kị của Đại hạn ở đồng cung ; sao Văn xương là sao lễ nhạc, Liêm trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời ký tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình dương và Linh tinh ở cung Mậu Tuất lại xung khởi lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.

Đến đại hạn Đinh Dậu từ 24 - 33 tuổi, cung Phu của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên đồng và Cự môn ở đối cung để "nhập cung an sao" cho cung Mùi. Trong đại hạn Đinh Dậu thì Cự môn hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ "Kị xung Lộc", đồng thời có Thái âm hóa Lộc ở cung Kỷ Hợi, Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão hội chiếu. "Âm Dương Lộc Quyền" hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn, nhưng có lưu Dương của đại hạn ở cung Ất Mùi và Cự môn hóa Kị cùng thủ cung Phu của đại hạn, nên đã ngầm phục nguy cơ; thêm vào đó "Thái dương Thiên lương" có Thiên nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Kỷ Hợi lại có Địa kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.

Năm Mậu Ngọ 1978, cung Mệnh của lưu niên và cung Phu của lưu niên cùng hội hợp Tham lang hóa Lộc ở cung Canh Tý, lại thêm các sao "đào hoa" đồng độ, vì vậy chủ về "thành hôn mà không có nghi lễ chính thức". Tốt nhất ta xem tình huống cung Phu của lưu niên (cung Nhâm Thìn) có lưu Đà đồng độ, xung hội với Đà là của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.

Cho nên sau khi kết hôn năm Kỷ Mùi 1979, vào năm Quý Hợi 1983 cung Phu của lưu niên mượn tổ hợp "thái dương Thiên lương" và Thiên nguyệt ở cung Tân Mão, để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu, bị Kình dương của lưu niên ở cung Tân Sửu hội chiếu, dẫn động lưu Đà của đại hạn ở cung Quý Tị, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là do chồng sử dụng ma túy (bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh).

Lại xem cung Phúc (Kỷ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn hội chiếu, ở tinh bàn gốc lại có Địa không, Địa kiếp (Kỷ Hợi), thêm vào đó lại xung chiếu Thiên cơ, Thiên mã, Hữu bật từ cung Quý Tị, cho tới mượn phép "an sao nhập cung" của cung Tân Sửu là tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" cho cung Ất Mùi, và "Thái dương Thiên lương", đều là nhóm sao chủ về điều tiếng thị phi.

Còn trùng hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất bối rối khó xử.

Năm Giáp Tý 1984, "Vũ khúc Thiên tướng" ở cung Phúc (Canh Dần) bị Thái dương hóa Kị ở cung Tân Mão và Kình dương của lưu niên, cùng với Cự môn hóa Kị ở cung Tân Sửu và Đà la của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng "Hình Kị giáp ấn", "song Kị giáp", "Dương Đà giáp", mà còn là cách xấu "Linh Xương Đà Vũ". Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc tồn của đại hạn ở cung Giáp Ngọ, nên không chết.

Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhật định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.

Bây giờ ta xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Nữ mệnh, âm nữ, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa linh, mệnh nguyên cục ở cung Giáp Tý có Tham lang tọa thủ. Trong mệnh bàn, cung vị xấu nhất là cung Đinh Tị (tức cung Nô), cung vị này có Kình dương và Đà la giáp cung, trong cung có Thiên cơ hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách xấu "Kình Đà giáp Kị", mà Thiên cơ lại có Hỏa tinh đồng độ, cũng đồng dạng bị Kình Đà giáp cung, tính cứng rắn hình khắc, cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.

Có 3 cung vị bị cung Đinh Tị gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu, trong đó có cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh tinh của cung Ất Sửu, tức là bị 2 sao Hỏa tinh và Linh tinh cùng chiếu xạ theo kiểu "song phi hồ điệp"

Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 - 43 tuổi (Tử nữ). Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra "tam phương ức hiếp" mà nó bị ảnh hưởng, tức là vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.

Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần  tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Ta có thể lưu ý cung Bính Thìn (quan lộc), trong cung nguyên cục có Thất sát và Đà la tọa thủ ; lúc vào đại hạn Tân Dậu thì Đà là của nguyên cục tương xung với lưu Đà của đại hạn của cung Canh Thân (Tài bạch), do đó tính cứng rắn hình khắc được phát động, hơn nữa còn đối diện với lưu Dương của đại hạn ở cung Nhâm Tuất, tính cứng rắn hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung Tai Ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung Tai Ách hay không.

Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.

Đến đây, ta quay trở lại cung Đinh Tị (cung Nô) của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình đồng độ, lại có lưu Dương của đại hạn và lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình dương và Đà la của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ khúc hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất của đại hạn, tiếp theo là tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.

Rồi ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung Tai Ách, là năm bị Văn xương lưu Hóa Kị của cung Kỷ Mùi, và Thiên cơ hóa Kị của cung Đinh Tị hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung Tai Ách của lưu niên, có Tử vi và Kình dương đồng độ, Kình dương này bị Kình dương của đại hạn xung động, hội hợp với "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham lang hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa kiếp của cung Giáp Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao

Sau đây ta tiếp tục phân tích một tinh bàn của nam mệnh làm ví dụ. Dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa tinh.

Mệnh bàn nguyên cục:

- Cung mệnh lập tại cung Quý Hợi, có Thiên cơ (Hóa Kị) Hỏa tinh, Thiên tài, Thiên nguyệt, Lâm quan tọa thủ.
- Phụ mẫu lập tại cung Giáp Tý, có Tử vi ngộ Tiệt không, Vượng
- Phúc đức lập tại cung Ất Sửu, có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên không, Tiệt không, Suy
- Điền trạch lập tại cung Giáp Dần, có Phá quân, Thiên mã, Địa không, Cô thần, Nguyệt giải, Thiên vu, Âm sát, Bệnh
- Sự nghiệp lập tại cung Ất Mão, vô chính diệu, có Thiên quan, Thiên phúc, Hồng loan, Thiên hình, Tử.
- Giao hữu lập tại cung Bính Thìn, có Thiên phủ, Liêm trinh, Đà la, Hữu bật, Hoa cái, Mộ.
- Thiên di lập tại cung Đinh Tị, có Thái âm, Lộc tồn, Thiên thọ, Kiếp sát, Phá toái, Nguyệt đức, Tuyệt
- Tật Ách lập tại cung Mậu Ngọ, có sao Tham lang (Hóa Lộc) Kình dương, Bát tọa, Tuần không, Thiên khốc, Thiên hư, Thai
- Tài bạch lập tại cung Kỷ Mùi, có Thiên đồng, Cự môn, Linh tinh, Thiên việt, Tam thai, Long đức, Dưỡng
- Tử tức lập tại cung Canh Thân, có Vũ khúc, Thiên tướng, Địa kiếp, Tam thai, Phỉ liêm, Trường sinh
- Phu thê lập tại cung Tân Dậu, có Thái dương, (Khoa) Thiên lương, Thiên hỉ, Hàm trì, Thiên đức, Mộc dục.
- Huynh đệ lập tại cung Nhâm Tuất, có Thất sát, Tả phụ, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Quả tú, Giải thần, Quan đới.

Mệnh bàn này, điều khiến ta chú ý nhất là cung Mệnh có Thiên cơ hóa Kị đồng độ với Hỏa tinh, nhưng cung Di (Đinh Tị) lại là Thái âm hóa Quyền đồng độ với Lộc tồn, vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.

Nhưng Thái âm lạc hãm, hội Thái dương hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị tinh hệ "Thái dương Thiên lương" ở Dậu và Thiên cơ ở Hợi xung chiếu, cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn "Thiên đồng Cự môn", Linh tinh, Thiên việt của cung Mùi để "an sao nhập cung" cho cung Sửu. Vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa, tuy có thể phát tài, nhưng điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.

Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi vào đại hạn Giáp Dần, cung Di của đại hạn này là cung Canh Thân có Vũ khúc hóa Khoa, cung mệnh của đại hạn này là cung Giáp Dần có Thiên mã có lưu Lộc tồn của đại hạn, thành cách "Lộc Mã giao trì", lưu Lộc còn xung động Tham lang hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.

Nhưng cũng trong đại hạn này, cung Phụ mẫu của đại hạn (cung Ất Mão) vô chính diệu, phải mượn thái dương hóa Kị (vốn là hóa Khoa) và Thiên lương để theo phép "an sao nhập cung" cho cung Phụ mẫu, dẫn đến tình hình có lưu Dương và Thiên hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.

Năm Canh Thân 1980 cung mệnh của lưu niên này có Vũ khúc (đại hạn thì hóa Khoa, lưu niên thì hóa Quyền), có Thiên tướng và Lộc tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung Di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng "Lộc Mã giao trì", vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.

Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh lưu niên tới cung Tân Dậu có Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên lương, hội hợp Văn khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên đồng và Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái âm hóa Quyền và Lộc tồn của tinh bàn gốc. Ta nên chú ý cung Dậu, có lưu Dương lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên hình từ cung Mão và Kiếp sát từ cung Tị đến hội. Cho nên năm đó (1981), tuy có Lộc tồn của lưu niên xung khởi Lộc tồn của tinh bàn gốc, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.

Đến năm Ất Sửu, cung mệnh lưu niên là cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên đồng Cự môn" và Linh tinh, Thiên việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà la của đại hạn đồng độ, rồi lại hội hợp với Thái âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.

Tương lai đến năm Đinh Mão, cung mệnh lưu niên là cung Mão, vẫn là cung vô chính diệu, lại mượn Thái dương hóa Kị từ cung Dậu là đối cung, để "an sao nhập cung" cho cung Mão, lại hội hợp với Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên cơ hóa Kị, mà còn kèm theo Đà la của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa tinh, Linh tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên hình, Đại hao, Thiên nguyệt, nên cẩn thận, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.

Ghi chú về phép định Tiểu hạn

Tiểu hạn là chủ về Cát - Hung của một năm. Do phái Trung Châu không dùng Tiểu hạn, mà chỉ dùng Lưu niên để luận đoán, nên Tôi không trình bày phép định Tiểu hạn trong chương này.

3)- Cách luận đoán Lưu nguyệt

Dùng Đẩu Số để luận đoán Lộc Mệnh, không nên thường xuyên luận đoán cát - hung của lưu Nguyệt, bởi vì quá tỉ mỉ, bất kể cát hay hung cũng đều sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của mệnh tạo. Nhưng cũng có một số tình huống, thí dụ như năm đó dễ xảy ra tai nạn giao thông, thì tốt nhất là luận đoán lưu Nguyệt để trợ giúp thêm, xem vào tháng nào có hung hiểm để cố tránh đi xa bằng xe cộ. Bởi vì trên thực tế khó mà hoàn toàn không đi xa trong vòng một năm, cho nên luận đoán lưu Nguyệt để bổ trợ.

Đơn cử một ví dụ:
Mệnh tạo bị tai nạn giao thông, vì vậy mà gãy xương, Vương Đình Chi tôi căn cứ vào mệnh bàn để truy tìm điềm báo của sự cố: Âm nữ, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Cự môn, Thân chủ Thiên cơ. Mệnh lập tại cung Ngọ, có Cự môn (hóa Kị), Lộc tồn tọa thủ.

Vào tháng 5 năm Ất Mão 1975, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thân, có "Thiên đồng Thiên lương" đồng độ, có Địa không và Địa kiếp đối củng, hội hợp Thiên cơ, Hỏa tinh ở cung Nhâm Tý (vốn là hóa Khoa, đại vận thì hóa Kị), với Thái âm (hóa Lộc) Thiên hình đồng độ ở cung Giáp Thìn.

Cung Di của lưu niên ở Giáp Dần vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để "an sao nhập cung", biến thành Địa không và Địa kiếp đồng cung (cung Dần) hội hợp với Cự môn hóa Kị (còn gọi là "Kình Đà giáp Kị"), còn hội hợp với Thái dương lạc hãm ở cung Canh Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi 1971 và năm Quý Sửu 1973 đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (bạn đọc thử luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão 1975, cung mệnh của lưu niên ở cung Ất Mão, trùng hợp với tình hình Kình dương của lưu niên và Đà la của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải "giáp Kị", nhưng do Thiên phủ ở cung Mão không hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô tính diệu, nên mượn "Liêm trinh Tham lang" của cung Tị để an sao, hai sao lại bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn giáp cung. Ngoài ra, ở đối cung là cung Dậu có "Vũ khúc Thất sát", cung Mùi là Thiên tướng của "Hình Kị giáp ấn".

Điều xấu nhất là, cung Tai Ách của lưu Niên bay đến cung Tuất có Thái dương lạc hãm ở đây, tương chiếu Thái âm (vốn gốc hóa Lộc, lưu Niên thì hóa Kị), Đà la của đại hạn, Kình dương của lưu Niên và Thiên hình; hội hợp với "Thiên đồng Thiên lương", Đà la của lưu niên ở cung Dần, và hội hợp với Cự môn hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên cơ hóa Kị của đại hạn) và lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát - kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu Nguyệt.

Năm Mão, Đẩu Quân tại cung Hợi, tức tháng Giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng Năm thì cung mệnh của lưu Nguyệt đến cung Mão, tức là trùng với cung mệnh của lưu Niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng Giêng), tháng Năm thì can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung Di có Vũ khúc Hóa Kị (cung Dậu), cung mệnh của lưu Nguyệt lại có Kình Đà của lưu Niên giáp cung, hơn nữa Kình Đà của lưu Nguyệt còn xung khởi Đà la Kình dương của lưu Niên, xung khởi Đà la Kình dương của đại hạn, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung Tai Ách của lưu Nguyệt ở cung Tuất. Cung Tuất còn bị Đà la của lưu Nguyệt đối nhau với Thiên hình ở cung Thìn, còn bị Thái âm hóa Kị từ cung Thìn vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng 5 mà xuất hành sẽ có hung hiểm.

Vũ khúc hóa Kị và Thất sát đồng độ ở cung Di (Dậu) đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc Kim.

Từ ví dụ này có thể biết, muốn luận đoán lưu Nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu Niên, tiếp sau đó rồi tìm lưu Nguyệt, thì mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu Nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc "xu cát tị hung". Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Thêm một ví dụ về Cách luận đoán lưu nguyệt

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất 1982, dương nữ, Thổ ngũ cục, Mệnh chủ Lộc tồn, Thân chủ Văn xương.

- Mệnh lập tại cung Kỷ Dậu, có Vũ khúc (khóa Kị), Thất sát

- Năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng: có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sỹ chuyên khoa kiểm tra thật kỹ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may mà chưa ác hóa, có hy vọng trị khỏi.

- Cung Tai Ách mệnh bàn này là Thái âm tọa thủ tại cung Giáp Thìn, nhưng có tứ sát Linh tinh, Kình dương ở Điền trạch cư Tý tam phương ức hiếp, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung Tai Ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiện thị bệnh tật khi còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

- Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu Niên Nhâm Tuất Vũ khúc hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

- Hạn 2 tuổi của bé gái ở cung Tài bạch tại cung Ất Tị, là năm Quý Hợi, gặp Kình Đà của lưu Niên của tam phương hội chiếu tiểu hạn tại cung Ất Tị, trong cung Tị lại có Tham lang hóa thành sao Kị, còn hội hợp với tạp diệu Thiên hình ở Sửu, Kiếp sát, Đại hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

- Hạn 3 tuổi ở cung Tai ách tại Thìn, lưu Niên là năm Giáp Tý, trong hạn Thái âm tọa thủ mà có Thái dương hóa Kị tại Tuất vậy chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên lương và Hoa cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Đà của thiên bàn chưa bị Kình Đà của lưu Niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

- Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên thọ vây chiếu nên không có tai biến gì. Mệnh này rất khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến Tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền hành, nên đại hạn lúc 3 tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban

Phụ lục: phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con

Cách tính tuổi để khởi Đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho tới khi vào vận có một khoảng trống, phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ xung.

Tính hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi 3 cung. Các cung tính hạn từ khi sinh ra cho tới khi vào đại hạn như sau:

- Một tuổi ở cung Mệnh
- Hai tuổi ở cung Tài bạch
- Ba tuổi ở cung Tật ách
- Bốn tuổi ở cung Phu thê
- Năm tuổi ở cung Phúc đức
- Sáu tuổi ở cung Sự nghiệp (quan lộc)

Khi xem tính hạn cho trẻ con, chỉ xem "tam phương tứ chính" của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung Mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh xung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính hạn cho trẻ con.

4)- Cách luận đoán lưu nhật

Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán "tử kỳ" cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.

Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm "can chi" ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.

Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân,.v.v...

Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tý đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Ví dụ như lưu Nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can Tân để tra lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tý, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:

- Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.
- Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ
- Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ
- Phúc đức tại cung Canh Tý, có Tham lang, Văn khúc
- Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.
- Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì
- Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không
- Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư
- Tật ách tại cung Quý Tị, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan
- Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương
- Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp
- Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc
- Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt.

Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội.

Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tý và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của Tai ách là gì? Do Vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tai ách của lưu niên.

Cung Tai ách của lưu niên ở cung Quý Tị, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương Đà la đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với "Thái dương Thiên lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, tam phương ứng hiếp, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu Nguyệt.

Tháng Nhâm Dần thì Vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với lưu niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với lưu niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên, tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng [ví lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tý, cung mệnh của lưu Nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên Vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cung Tai ách của lưu nhật, là cung Sửu có "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.

5)- Cách luận đoán lưu thời

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.

Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tý ở cung Tý, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu,.v.v... đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ Thử độn như sau:

- Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý
- Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý
- Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý
- Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý
- Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tý

Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tý khởi giờ Canh Tý, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Top 3 con giáp được Thần Tài “ghé thăm” trong tháng 3

Không đơn giản chỉ là việc Thần Tài “ghé thăm” đột xuất mà tài lộc của những con giáp này hưng vượng đâu nhé. Do nhân quả cả đấy, sự nỗ lực bấy lâu của họ đã được đền đáp xứng đáng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


No1. Người cầm tinh con Ngựa

Bước sang tháng 3, cả chính tài và phụ tài của những chú Ngựa đều có dấu hiệu khởi sắc mạnh. Sự nỗ lực và cống hiến không biết mệt mỏi của bạn trong suốt thời gian qua đã được đông đảo mọi người thừa nhận.

Top 3 con giap duoc Than Tai ghe tham trong thang 3 hinh anh 2
 
Khi Chính Tài nhập cung mệnh, người tuổi Ngọ gặp may liên tiếp về tiền bạc. Có thể nói, trong tháng 3, mỗi ngày là một niềm vui với bạn.

Là một trong những con giáp được Thần Tài ghé thăm trong tháng 3, vì thế, hãy mạnh dạn bày tỏ chủ kiến cá nhân, đồng thời học cách tôn trọng bạn bè, đồng nghiệp và cấp trên của mình hơn. Mọi việc đều tiến triển theo đúng kế mong muốn cũng như kế hoạch bạn đã đề ra.

No2. Người cầm tinh con Chuột

Được quý nhân phù trợ, tổng quan vận thế tháng 3 của người tuổi Tý hanh thông, tốt đẹp. Thêm nữa, những chú Chuột luôn ngẩng cao đầu đón nhận thách thức mới.

Top 3 con giap duoc Than Tai ghe tham trong thang 3 hinh anh 3
 
Khối lượng công việc tuy nhiều nhưng làm tới đâu thông tới đó, suôn sẻ muôn phần, không có việc gì là không làm được, chỉ có điều bạn chưa nghĩ tới mà thôi.

Vận thế tài lộc trong tháng 3 của người tuổi Tý lên như vũ bão, hàng loạt vận may tài chính “mỉm cười” với bạn. Có điều, cần biết mình biết ta, làm gì cũng phải suy tính kỹ càng, không được mang tâm lý cả nể với bạn bè, đồng nghiệp, kẻo dễ “sập bẫy” tiểu nhân.

No3. Người cầm tinh con Lợn

Người tuổi Hợi sinh ra vốn có tính khiêm nhường, đối nhân xử thế hài hòa, kính trên nhường dưới, không ai phải chê trách. Vì thế vận thế cuộc sống khá bình yên, được phúc đức bao bọc.

Top 3 con giap duoc Than Tai ghe tham trong thang 3 hinh anh 4
 
Đối mặt với khó khăn, thách thức, con giáp này dám làm dám chịu, nỗ lực không ngừng để vươn lên. Gặp tháng 3 có thiên thời, địa lợi, nhân hòa, vận trình công việc, sự nghiệp của người tuổi Hợi hanh thông phơi phới. Đặc biệt, tài vận khởi sắc, thế như chẻ tre, tiền bạc đầy túi, rủng rỉnh tiêu xài.

An Nhiên

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 3 con giáp được Thần Tài “ghé thăm” trong tháng 3

Mơ thấy tiền có hạnh phúc không?

Mơ thấy tiền là điềm báo gì? Giải mã giấc mơ thấy tiền bạc trong các trường hợp cụ thể. Mơ thấy tiền chưa chắc đã hạnh phúc mà có thể báo hiệu tổn thất
Mơ thấy tiền có hạnh phúc không?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tiền có thể mua được nhiều thứ nhưng không thể mua được hạnh phúc, tuy nhiên tiền lại có thể đem lại hạnh phúc cho người sở hữu nó.


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Mơ mất tiền là bạn gặp áp lực về mặt tiền bạc.
 
Mơ thấy tiền rơi từ trên trời xuống là điềm lành, cuộc sống thuận lợi.
Nhưng thương nhân mơ thấy tiền từ trên trời xuống lại là điềm gở, cảnh báo chuyện làm ăn có thể chịu tổn thất.

 
Mơ thấy mình đưa tiền cho người khác là điềm xấu.


Mo thay tien co hanh phuc khong hinh anh
Ảnh minh họa
 
Mơ người keo kiệt đưa tiền cho người khác ngụ ý bị cướp lấy hết tích luỹ.

 
Mơ người khác đưa tiền cho mình có nghĩa rằng tính ỷ lại của bạn rất mạnh cần người nhà hoặc bạn bè bảo vệ. Bạn nên tăng cường khả năng giao tiếp nên có lòng tự tin cho mình.

 
Mơ thấy tiền do người khác đưa cho mình ám chỉ có người giúp đỡ bạn đặc biệt mặt tài lộc.

 
Mơ thấy người khác tặng tiền cho mình là được mẹ tặng quà.

 
Mơ người khác tặng tiền lại điềm xấu, tài sản bị tổn thất.

 
Mơ người chết tặng tiền thì nên cẩn thận, tài sản có thể bị tổn thất.

 
Thất nghiệp mơ người khác tặng tiền cho mình là vận tài lộc xấu, nên biết tích luỹ.

 
Đàn ông mơ thấy người khác tặng tiền cho mình là sắp được đi du lịch, tuy nhiên có thể đi gần chứ đừng đừng đi xa.

 
Nhân viên mơ người khác tặng tiền hoặc người chết tặng tiền thì nên thận trọng sẽ bị giáng chức. Thương nhân mơ người chết tặng tiền là điềm gở, chuyện làm ăn gặp tổn thất.

 
Mơ mình đang đếm tiền là điềm báo thu nhập tăng cao, tiền tài chuyển tốt.
 Nhưng nếu mơ thấy mình đếm xong tiền thì đưa cho người khác lại là điềm xấu mặt tiền tài gặp tổn thất.
 Tùy từng trường hợp mơ thấy tiền mà có những điềm báo khác nhau.
 
Tổng hợp  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy tiền có hạnh phúc không?

Mơ thấy mặt trời mọc: Có cảm giác dựa dẫm vào cha –

Mặt trời trong mơ đại diện cho tình cha ấm áp và cao lớn. Mơ thấy mặt trời, cho thấy người nằm mơ có cảm giác dựa dẫm vào cha, luôn hy vọng được cha bảo bọc chở che, luôn khát khao được cha quan tâm săn sóc, không muốn một mình ra khỏi nhà, chẳng mu
Mơ thấy mặt trời mọc: Có cảm giác dựa dẫm vào cha –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy mặt trời mọc: Có cảm giác dựa dẫm vào cha –

Lễ Đức Thánh Trần

Lễ Đức Thánh Trần. Theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần. Tham khảo bài viết để biết văn khấn lễ Đức Thánh Trần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Ý nghĩa:

Theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

2. Sắm lễ:

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

- Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).
Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

- Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

- Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

- Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

- Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

- Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

3. Hạ lễ

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

4. Văn khấn:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

- Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều

- Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.

- Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.

- Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.


- Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.

Hương tử con là:.......................Ngụ tại:...................
Hôm nay ngày.... tháng..... năm........ Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ Đức Thánh Trần

Có hay chăng mối nhân duyên kỳ lạ: Hà Anh Tuấn và Thanh Hằng?

Lửa và Nước vốn rất kỵ nhau nhưng nếu tình yêu vẫn sẽ nảy sinh giữa Hà Anh Tuấn và Thanh Hằng thì liệu kết quả sẽ ra sao?
Có hay chăng mối nhân duyên kỳ lạ: Hà Anh Tuấn và Thanh Hằng?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lửa và Nước vốn rất kỵ nhau nhưng nếu tình yêu vẫn sẽ nảy sinh giữa một chàng trai cung Lửa và một cô gái cung Nước thì liệu kết quả sẽ ra sao?


► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không

Trong MV "Tháng Tư là lời nói dối của em", Hà Anh Tuấn đã chọn Thanh Hằng là người xuất hiện cùng mình, điều này tiếp tục làm dấy lên nghi ngờ về mối quan hệ tình cảm giữa hai người. Tuy nhiên, giữa một chàng trai cung Lửa và một cô gái cung Nước liệu có thể nảy sinh được mối duyên tình với nhau? Cùng thử tìm hiểu dưới góc nhìn hoàng đạo xem sao nhé!

Co hay chang moi nhan duyen ky la Ha Anh Tuan va Thanh Hang hinh anh
Hà Anh Tuấn (17/12/1984) - Chàng trai Nhân Mã đầy cá tính
  Hà Anh Tuấn là một chàng trai của cung Nhân Mã cùng với sao Thủy - hành tinh đại diện cho ngôn ngữ, tư duy - cũng nằm trong chòm sao này, Hà Anh Tuấn sở hữu nét tính cách đầy phóng khoáng, sẵn sàng bứt phá mọi giới hạn để được vươn ra khám phá, tìm hiểu mọi thứ. Có thể thấy rất rõ được điểm này qua cách lựa chọn các tác phẩm của anh như 12 giờ, Gánh hàng rau, Radio,... hay gần đây nhất là ca khúc 'Tháng Tư Là Lời Nói Dối Của Em'.   Mặt Trăng Thiên Bình cùng sao Kim và sao Hỏa Bảo Bình - đều là các cung hoàng đạo thuộc nhóm Khí - cũng góp phần mang lại cho con người Hà Anh Tuấn nét bay bổng, thông minh, khoáng đạt trên con đường nghệ thuật của mình, tạo ra hình ảnh một anh thư sinh hiền lành, nhẹ nhàng mà sắc sảo. 'Liệu chàng trai này đã từng có lúc nào đặt chân xuống mặt đất đủ lâu?' là câu hỏi có lẽ muôn đời không có lời giải đáp.

Co hay chang moi nhan duyen ky la Ha Anh Tuan va Thanh Hang hinh anh
Thanh Hằng (22/07/1983) - Cô gái Cự Giải đầy mạnh mẽ
  Khác biệt hẳn với Hà Anh Tuấn, Mặt Trời Cự Giải và Mặt Trăng, Thanh Hằng - cô gái Ma Kết có tính cách đầy mạnh mẽ do cả hai cung hoàng đạo này đều mang tính chất Tiên phong (Cardinal).
 
Cô luôn sẵn sàng là người đi đầu, đứng mũi chịu sao trong bất kỳ tình huống nào, miễn là bảo vệ được tốt những người thân thiết xung quanh và hoàn thành mọi mục tiêu sự nghiệp mình đề ra.Nhìn lại chặng đường phát triển của Thanh Hằng trong showbiz Việt, có thể nhìn thấy những nỗ lực không ngừng nghỉ của cô trên nhiều mặt trận của làng giải trí từ sàn diễn thời trang, điện ảnh (Những nụ hôn rực rỡ, Mỹ nhân kế,...) đến các chương trình truyền hình thực tế (Vietnam Next Top Model, Siêu Mẫu,...), cô luôn chứng tỏ được hình ảnh tự tin, sắc bén, đầy nội lực của mình.   Thanh Hằng cũng có cách ăn nói mạnh dạn, ấn tượng của sao Thủy Sư Tử cùng gu thẩm mỹ lịch lãm, chuẩn mực, kỹ càng của sao Kim Xử Nữ, tính cách của cô nàng Cự Giải này càng được tô đậm thêm sự mạnh mẽ, chín chắn, cẩn trọng trên từng milimet. Thật hiếm có sao nữ nào vừa giữ được phong cách thời trang lịch sự, điềm đạm nhưng vẫn toát lên được nét quyến rũ, hấp dẫn như ở Thanh Hằng. Sự xuất hiện của cô trong buổi ra mắt MV 'Tháng Tư Là Lời Nói Dối Của Em' cũng như trong các sự kiện gần đây luôn thu hút được sự chú ý của công chúng cũng bởi phong cách hiếm có này.

Co hay chang moi nhan duyen ky la Ha Anh Tuan va Thanh Hang hinh anh
Có hay không mối duyên kì lạ giữa Nhân Mã và Cự Giải?

 
Mối nhân duyên giữa một cô gái đầy mạnh mẽ, nội lực, chín chắn, luôn cẩn trọng và nghiêm túc với mọi thứ và một chàng trai phóng khoáng, bay bổng, ít khi nào đặt chân xuống mặt đất, nếu có, chẳng phải là kì lạ lắm sao? Thật khó tin cho đến chính cả các 'fan' ruột nếu như có một ngày Thanh Hằng bước lên xe hoa về làm dâu nhà anh chàng họ Hà này thật. Nhưng giả sử các 'fan' 'cầu được ước thấy' thì chuyện gì sẽ xảy ra?   Người ta nói kị nhau như Nước với Lửa, có lẽ sẽ chẳng có ai có thể hình dung được cung Lửa và cung Nước làm sao yêu được nhau, bởi hình ảnh duy nhất mọi người nghĩ đến chỉ là việc hai nguyên tố này có thể dập tắt nhau bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, nếu đặt ngược lại khi để Lửa cháy phía dưới Nước, Nước có thể sục sôi lên và mạnh mẽ hơn rất nhiều. Ngọn lửa bên trong Nhân Mã, sự bay bổng khoáng đạt của chàng trai Hà Anh Tuấn có thể trở thành động lực thôi thúc Cự Giải cháy hết mình với cuộc sống của mình, dù là trong công việc hay chuyện tình cảm. Sự khác biệt tính cách có vẻ hơi trái ngược này, đôi khi cũng chính là sự bù đắp để cả hai tiến gần với nhau hơn.
 
Thêm vào đó, sao Thủy Sư Tử của Thanh Hằng tạo góc hòa hợp với sao Thủy Nhân Mã của Hà Anh Tuấn; sao Kim và sao Hỏa của hai người cũng hợp những góc thúc đẩy lẫn nhau; khiến cho cả hai khá hòa hợp khi nói chuyện cũng như có gu thẩm mỹ và cách làm việc khá ăn ý. Đây có lẽ cũng là lý do vì sao dù là lần đầu kết hợp trong MV 'Tháng Tư Là Lời Nói Dối Của Em' nhưng các 'fan' lại luôn có cảm giác giữa hai người đã có 'mối thâm tình' từ lâu và dấy lên làn sóng 'ship' cặp đôi này lại rất nhanh.
Co hay chang moi nhan duyen ky la Ha Anh Tuan va Thanh Hang hinh anh
 
Tuy nhiên, Mặt Trăng Thiên Bình của Hà Anh Tuấn nằm ở góc đối đỉnh với Mặt Trăng Ma Kết của Thanh Hằng sẽ là thách thức của hai người khi tiến đến với nhau. Hành tinh của cảm xúc nằm ở góc đối đỉnh có thể sẽ khiến đôi lúc cả hai bị lệch sóng, không hiểu được tâm trạng của nhau. Khi Thiên Bình đang mải mơ màng, bay bổng trong thế giới nghệ thuật, trong sự cân bằng của chính mình; còn Ma Kết lại luôn tất bật, lo lắng cho công việc và sự nghiệp; cũng chính là lúc dễ xảy ra xung đột nhất vì cả hai sẽ không thể kịp thời quan tâm được đến nhau đúng lúc. Nhìn lại hình ảnh của cặp đôi dù dưới góc nhìn Chiêm Tinh Học hay dưới con mắt đời thực nhất qua quá trình quay MV 'Tháng Tư Là Lời Nói Dối Của Em', chúng ta đều có thể nhận ra được chỉ số hòa hợp của cặp đôi này phải lên tới 80%, rất đáng hứa hẹn để các 'fan' chờ đợi một cuộc tình lung linh mới của V-biz, hay chí ít, cặp đôi này cũng xứng đáng được vinh danh là 'Đôi bạn ruột đẹp nhất showbiz Việt'.

ST.
4 chòm sao nữ xinh đẹp thách thức thời gian 12 mẹ chồng hoàng đạo xuất chiêu trị con dâu nhỏ 3 chòm sao nữ kém duyên, đừng tính chuyện chồng con trong năm 2016

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có hay chăng mối nhân duyên kỳ lạ: Hà Anh Tuấn và Thanh Hằng?

Những giấc mơ lành –

- Mơ thấy nước xanh trong: đại cát đại lợi. - Mơ thấy nước trong: điềm lành. - Mơ thấy gội đầu: đại cát, có tiền. - Mơ thây thân mình nhẵn bóng: rất tốt. - Mơ thấy dời chỗ ở, tắm gội: khỏi bệnh, thăng quan. - Mơ thây giặ
Những giấc mơ lành –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những giấc mơ lành –

Những ‘nàng giáp’ ngấm ngầm mơ lấy chồng đại gia

Nếu chỉ nhìn hành động và ngôn từ bên ngoài của người tuổi Dậu, Thìn, Ngọ, ít ai biết được họ lại nuôi dưỡng tham vọng cực lớn – lấy chồng đại gia.
Những ‘nàng giáp’ ngấm ngầm mơ lấy chồng đại gia

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình
  Dưới đây là top 3 “nàng giáp” ngấm ngầm muốn lấy chồng đại gia. Họ đang nỗ lực hết sức để đạt được niềm mơ ước cao sang ấy.   1. Cô nàng tuổi Dậu   Đa phần những cô gái cầm tinh con Gà có tính cách mạnh mẽ, độc lập lại chăm chỉ làm việc, cư xử khéo léo và vô cùng tham vọng. Bên cạnh đó, con giáp này rất coi trọng đời sống vật chất, biết cách kiếm tiền và tiêu tiền tận hưởng cuộc sống.   Với cô nàng này, tình yêu là thứ khó nắm bắt, còn tiền bạc vật chất mới là hiện thực. Khi đã sở hữu khối tài sản khổng lồ trong tay, họ sẽ cảm thấy hoàn toàn yên tâm vì nếu có bất trắc xảy ra, họ vẫn mạnh mẽ đối diện với hiện thực mà không phải bi lụy vì ai.

Nhung nang giap ngam ngam mo lay chong dai gia hinh anh
Tuổi Dậu
  Tuy vẻ bề ngoài của cô nàng tuổi Dậu có phần hướng ngoại, thích bay nhảy khắp nơi khám phá cuộc sống nhưng thực chất nội tâm họ cũng khá hướng nội và biết lo toan, vun vén cho gia đình.    Tuy họ tham vọng lấy được chồng đại gia giàu có, nhưng không phải chỉ dừng lại ở suy nghĩ, họ luôn cố gắng hoàn thiện bản thân để xứng đáng có được những điều tốt đẹp hơn. Tham vọng ấy là chính đáng, tuy họ không nói ra nhưng nếu tiếp xúc lâu chắc chắn chúng ta sẽ phát hiện thấy.   2. Cô nàng tuổi Thìn   Đa phần các nàng tuổi Thìn có vẻ ngoài khá xinh đẹp và ưa nhìn. Ý thức được thế mạnh đó, họ không ngừng hoàn thiện bản thân. Nếu bạn thấy họ chăm chút trong mọi cử chỉ hành động và cách biểu hiện cảm xúc thì cũng không phải ngạc nhiên. Đó là cách họ phấn đấu để biến ước mơ lấy chồng đại gia trở thành hiện thực.

Nhung nang giap ngam ngam mo lay chong dai gia hinh anh 2
Tuổi Thìn
  Nhân duyên của người tuổi Thìn khá tốt, một phần nhờ vào diện mạo cao sang, nhã nhặn, phần khác nhờ vào tính cách nhiệt tình và biết cảm thông chia sẻ. Ngoài ra, con giáp này biết cách hưởng thụ cuộc sống, biết dùng tiền khéo léo và đúng mục đích nên cơ hội để họ lấy chồng giàu sang là rất cao. 
 
3. Cô nàng tuổi Ngọ   Mạnh mẽ, kiên cường, thích tự do bay nhảy và chinh phục những điều mới lạ là một trong những đặc điểm nổi bật dễ thấy ở người tuổi Ngọ. So với nam giới, mọi hành động và lời nói của con giáp này đều mạnh mẽ không thua kém bất cứ ai.

Nhung nang giap ngam ngam mo lay chong dai gia hinh anh 3
Tuổi Ngọ
  Do đó, người đàn ông có thể đi theo họ suốt cuộc đời cũng phải là người vô cùng đặc biệt. Người đó phải hội tụ đầy đủ những yếu tố như tiền tài, học thức, tướng mạo…mới có thể “đốn gục” trái tim cô nàng tuổi Ngọ.   ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những ‘nàng giáp’ ngấm ngầm mơ lấy chồng đại gia

Lí giải giấc mơ về hướng dẫn viên du lịch

Hướng dẫn viên du lịch thường mang đến niềm vui cho người khác, thỏa mãn tâm lý muốn được khám phá thế giới bên ngoài của họ. Hình ảnh hướng dẫn viên du lịch
Lí giải giấc mơ về hướng dẫn viên du lịch

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 Hướng dẫn viên du lịch thường mang đến niềm vui cho người khác, thỏa mãn tâm lý muốn được khám phá thế giới bên ngoài của họ. Hình ảnh hướng dẫn viên du lịch trong giấc mơ thường đem lại niềm an ủi hoặc cảm giác yên bình cho người nằm mơ.


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Li giai giac mo ve huong dan vien du lich hinh anh
Ảnh minh họa
 
Mơ thấy hướng dẫn viên dẫn mình tham quan danh lam thắng cảnh, bạn sẽ gặp rất nhiều chuyện vui trong cuộc sống.    Mơ thấy hướng dẫn viên đưa mình đi tham quan bảo tàng hay sở thú là điềm báo bạn có thể trở thành học giả nổi tiếng. Nếu có năng lực, bạn hãy cố gắng hết sức để đạt được thành công.   Nam giới mơ thấy mình làm hướng dẫn viên lại là điềm báo không được tốt lắm. Cuộc sống của họ phải ngược xuôi, vất vả để có được thu nhập chăm lo cho gia đình.    Tuy nhiên, nữ giới mơ thấy mình làm hướng dẫn viên, họ sẽ được ngợi ca về tấm lòng lương thiện, khoan dung và luôn được người khác giúp đỡ.

Theo Giấc Mơ và Vận Mệnh Con Người Trong Cuộc Sống

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lí giải giấc mơ về hướng dẫn viên du lịch

Những kiêng kỵ trong phong thủy bàn làm việc

Nhiều người có thói quen trang trí bàn làm việc bằng cây xanh và những món đồ vật, một mặt, vừa mang lại thẩm mỹ, một mặt cho bàn làm việc sinh động, tuy nhiên, phong thủy bàn làm việc cũng ảnh hưởng không nhỏ đến vận thế của bạn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Cây xanh

Những loại cây xanh như cây sống đời, trầu bà, cây thủy sinh, xương rồng… thường được dân văn phòng chọn để trên bàn làm việc. Tuy nhiên, bạn nên chú ý, nếu cây trồng mà luôn xanh tươi phát triển sẽ đem phong thủy tốt và ngược lại nếu cây cứ suy yếu mà chết sẽ ảnh hưởng xấu đến chủ nhân.

Không nên trang trí bằng cây xương rồng hoặc họ xương rồng, bởi dòng họ cây này tuy chống được tia bức xạ từ máy tính làm việc, song có nhiều gai nhọn, nếu để trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và tinh thần con người. Bên cạnh đó, những loại cây thân leo cũng không thích hợp để bàn làm việc vì đa phần những loại cây thuộc Dương, sẽ hấp thụ năng lượng con người, thậm chí chiêu nạp thị phi, gây bất lợi cho công việc và vận tài của bạn.

Loại cây thích hợp để trên bàn là hoàng kim cát, vạn niên thanh, cây thường xuân, thủy tiên… Những loại cây này có tác dụng tạo bầu không khí trong lành cho góc làm việc của bạn lại có thể gánh bớt những nguy hại do bức xạ gây ra.

Nên chọn loại cây có lá to bản hay hình tròn hơn là những loại có lá sắc, nhọn để tạo cảm giác ôn hòa. Điều đáng chú ý là góc làm việc thường có diện tích nhỏ nên bạn cần lựa loại cây có kích thước vừa phải và cũng tránh đem lại sự ẩm thấp cho góc làm việc.

Cây xanh tốt sẽ mang đến nguồn năng lượng dồi dào cho góc làm việc nhưng cũng đừng vì thế bạn lại bày quá nhiều chậu cây trên bàn làm việc, điều này chỉ khiến không gian chật trội.

Nhung kieng ky trong phong thuy ban lam viec
Một trong những đại kỵ khi trang trí cây xanh, đồ vật trên bàn làm việc, không nên trang trí bằng xương rồng hay những cây thuộc thân leo

Nếu chỗ ngồi của bạn quay lưng với cửa ra vào, điều bạn cần thiết là nên đặt một chậu cây cảnh nhỏ để tạo cảm giác thoải mái và tự tin khi làm việc.

Nên trồng cây xanh gần tài vị. Tài vị chính là nơi tàng phong tích khí, hay còn được gọi là nơi tụ khí hoặc nơi thu hút tài khí. Đây là vị trí chủ chốt trong văn phòng làm việc để mang đến tài vận và may mắn cho công ty. Tài vị là khu vực nằm ở góc chéo với cửa ra vào của văn phòng. Đặc biệt nên trồng những loại cây có lá to và dày ở khu vực tài vị. Không nên trồng các loại cây có gai xung quanh tài vị như xương rồng, hoa hồng gai… Những loại cây này sẽ làm cho vận khí tốt không lưu lại ở tài vị.

Ngoài ra, nên trồng những cây này bằng đất, không nên trồng cây trong nước.

Cây xanh không chỉ có tác dụng giảm stress mà còn đem đến vận may, vượng khí cho chủ nhân của nó nếu được bố trí đúng vị trí và chọn loại cây phù hợp.

2. Đồ trang trí:

Không nên trang trí những món đồ bằng kim loại sắc nhọn. Những đồ vật này sẽ đem lại cảm giác bị áp bức, ảnh hưởng xấu đến con người, vô tình sẽ bó buộc tâm trạng và sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của con người.

Bạn cũng không nên dùng những vật phẩm trang trí có hình dáng kỳ quái, kẻo rước vận xui vào mình. Việc bày trí những đồ công nghệ hay vật trang trí trên bàn làm việc không có gì sai phong thủy nhưng cần phải lưu ý tránh những đồ vật có tạo hình kì quái dễ kỵ phong thủy, dẫn đến những tranh chấp ngoài ý muốn. Ngoài ra, cũng không nên trang trí hoa giả trên bàn làm việc, vì nó không có sức sống, thậm chí, dễ “chiêu nạp” những phiền phức không đáng có.

Minh An (tổng hợp)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những kiêng kỵ trong phong thủy bàn làm việc

Vật phẩm phong thủy cầu con cái –

Rất nhiều gia đình hiện nay đang hiếm con, muộn con và đã sử dụng nhiều cách chưa được. Vậy thì hãy cầu con bằng vật phẩm phong thủy, Điều này sẽ mang lại may mắn cho bạn về lộc con cái. Vật phẩm cầu con sẽ mang lại cho bạn những đứa con như bạn hằng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Rất nhiều gia đình hiện nay đang hiếm con, muộn con và đã sử dụng nhiều cách chưa được. Vậy thì hãy cầu con bằng vật phẩm phong thủy, Điều này sẽ mang lại may mắn cho bạn về lộc con cái. Vật phẩm cầu con sẽ mang lại cho bạn những đứa con như bạn hằng mong ước.

Nội dung

  • 1 Vật phẩm phong thủy cầu con
    • 1.1 Tranh Liên sinh quý tử
    • 1.2 Tranh giàn bầu
    • 1.3 Thạch lựu
    • 1.4 Tranh Cát khánh hữu dư
    • 1.5 Tranh Kỳ Lân tặng con
    • 1.6 Giả ngọc sơn
    • 1.7 Lồng đèn đỏ

Vật phẩm phong thủy cầu con

Tranh Liên sinh quý tử

Với những người sốt ruột muốn có con ngay, hãy sử dụng miếng ngọc bội cổ mang tên “liên sinh quý tử”. Hình dạng của miếng ngọc bội này là 1 cậu bé ngồi trên lá sen hoặc tay cầm bông sen (loại này còn có tên là “trì hà đồng tử”) “liên” là hoa sen, lá sen nhưng lại đồng âm với chữ “liên” là liền ngay, nên tấm ngọc bội mang ý nghĩa cầu chúc có con sớm.

ktt_13.11_quytu1_kienthuc_gcjj

Tranh giàn bầu

Trong dân gian, hình tượng một gia đình đông con nhiều cháu thường được ví với “bầu bí đầy đàn”. Vì vậy, hình ảnh giàn bầu sum xuê cũng tượng trưng cho sự đông đúc, đầy đủ con cháu. Giàn bầu bí dây leo chằng chịt, quả to quả bé treo lủng lẳng là biểu tượng một gia đình sum họp, con đàn cháu đống. Người ta khắc họa hình giàn bầu trĩu quả trên đá ngọc làm bùa cho những đôi vợ chồng hiếm con, nếu vẽ thành tranh thì treo trong nhà, với ý cầu chúc đẻ nhiều con.

ktt_13.11_quytu2_kienthuc_dihv

Thạch lựu

Để có nhiều con, có thể sử dụng viên bạch ngọc tạc hình quả lựu. Hình quả lựu ở đây được bổ làm đôi, 1 nửa lộ ra rất nhiều hạt, mang ý nghĩa “lựu khai bách tử” (tức là lựu nở nhiều con). Việc mang tặng bức tranh “lựu khai bách tử” cho đôi vợ chồng mới cưới, được coi là lời cầu chúc tốt đẹp.

ktt_13.11_quytu3_kienthuc_garb

Tranh Cát khánh hữu dư

Treo tranh có hình 2 đứa trẻ tay cầm khánh, tay cầm cá. Khánh với ý nghĩa là “cát khánh” (điều vui mừng, tốt lành), cá biểu tượng là “hữu dư” (có dư).

ktt_13.11_quytu4_kienthuc_nfdb

Tranh Kỳ Lân tặng con

Tương truyền, Khổng Tử là báu vật do Kỳ Lân ban tặng. Sau khi thân mẫu của Khổng Tử nằm mơ thấy Kỳ Lân tới tặng con thì một thời gian sau đã sinh nở được Khổng Tử. Vì vậy, sau này để cầu con dân gian thường sử dụng bức tranh hay pho tượng Kỳ Lân để mong cầu có con. Nên kết hợp với Bát trạch để bày tại phương vị con cái trong Bát Trạch Đồ.

ktt_13.11_quytu5_kienthuc_aadv

Giả ngọc sơn

“Núi quản nhân đinh, sông quản tài lộc”. Đó chính là quan niệm trong phong thuỷ. Vì vậy, đặt đúng núi vào phương vị cần thiết để tăng cường nhân đinh cho những gia đình hiếm muộn con cái. Ngoài ra, Ngọc Sơn (núi bằng đá quý) còn có tác dụng làm “toạ sơn” cho nhưng nơi có địa thế suy yếu phía sau lưng. Bạn có thể bày Ngọc Sơn phía sau lưng để mong cầu nhận được sự hỗ trợ của cấp trên và bạn bè đồng nghiệp.

ktt_13.11_quytu6_kienthuc_shnh

Lồng đèn đỏ

Trường phái Phong thủy biểu tượng cho rằng, có rất nhiều biểu tượng đem lại vận may về sự sinh sản nhưng biểu tượng phổ biến nhất là lồng đèn đỏ. Ánh sáng từ lồng đèn đỏ phát ra được cho là ánh sáng tốt lành, mang đến nhiều niềm vui lớn cho gia đình. Trên lồng đèn thường vẽ chữ hoặc trang trí các biểu tượng tốt đẹp. Lồng đèn được treo gần giường tân hôn để tăng cường vận may về khả năng thụ thai.

ktt_13.11_quytu7_kienthuc_prns

Đôi khi người ta treo lồng đèn ở hai bên giường – cho cô dâu và chú rể. Hai đèn này được thắp cùng một lúc, nếu chúng cháy cùng tốc độ và tắt cùng lúc thì đó là dấu hiệu may mắn của một cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững. Những lồng đèn như thế thường có vẽ chữ Song hỷ sẽ thu hút năng lượng dương, thuận lợi cho việc thụ thai và sinh con trai. Khi người vợ có thai, đèn lồng vẫn được thắp sáng mỗi đêm. Lồng đèn đỏ và vàng là biểu tượng được đặt trong phòng tân hôn để kích hoạt vận may về đường con cái.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vật phẩm phong thủy cầu con cái –

Sao Đà La

Hành: Kim Loại: Sát Tinh Tên gọi tắt thường gặp: Đà Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Kình Dương và Đà La. Gọi tắt là bộ Kình Đà. - Phân l...
Sao Đà La

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: KimLoại: Sát TinhTên gọi tắt thường gặp: Đà
Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Kình Dương và Đà La. Gọi tắt là bộ Kình Đà. 
- Phân loại theo tính chất là Kỵ Tinh, Hung Tinh. 
- Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa). 
- Nếu sao Đà La tọa thủ trong cung Vô Chính Diệu (như trường hợp Cung Mệnh Vô Chính Diệu và Cung Phụ Mẫu Vô Chính Diệu của lá số mẫu) được gọi là cách Hung Tinh độc thủ hoặc Đà La độc thủ.
Vị Trí Ở Các Cung

  • Đắc Địa: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Hãm Địa: Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Cung Mệnh có sao Đà La, thì có thân hình cao dài, hơi gầy, da xám, lông tóc rậm rạp, mặt thô, răng xấu, mắt kém, chân tay dài, trong mình thường có tỳ vết và thẹo.
Tính Tình
  • Đà La đắc địa: Can đảm, dũng mãnh, thăng trầm, có cơ mưu thủ đoạn, gian hiểm.
  • Đà La hãm địa: Hung bạo, gian hiểm, độc ác, dâm dật.
Những Bộ Sao Tốt
Đà La gặp Lực, Quyền ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi là người có quyền hành, được nhiều người kính phục.
Những Bộ Sao Xấu
  • Đà La gặp Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Thất Sát, Hóa Kỵ: Đạo tặc, gian phi, giết người, cướp của.
  • Đà La, Thiên Riêu, Hóa Kỵ ở liền cung thì bị họa vô đơn chí.
  • Đà La gặp Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Kỵ, Hình là người có số ăn mày, yểu, gian phi, vào tù ra khám.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Phụ Mẫu
  • Cha mẹ và con cái đều không hợp tính nhau.
  • Đà La, Thất Sát, không được ở gần cha mẹ.
  • Đà La, Tham Lang, cha mẹ hoang đàng, chơi bời, hoặc cha mẹ làm nghề cao lâu tửu quán, thủ công mỹ nghệ. - Đà La, Liêm Trinh, gia đình túng thiếu hoặc làm nghề vất vả, hay mắc tai nạn về kiện tụng hoặc có nhiều bệnh tật.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Phúc Đức
  • Đà La ở Dần, Thân vô chính diệu: Phúc thọ, gặp may suốt đời, họ hàng quý hiển cả văn lẫn võ.
  • Nếu Đà La thêm Tuần, Triệt: Trở thành xấu.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Điền Trạch
  • Dù có tổ nghiệp của cha mẹ để lại cũng không được thừa hưởng, nội bộ gia đình hay có chuyện phiền muộn, lục đục, phải đi xa mới có.
  • Đà La, Kình Dương, Đại Hao, Tiểu Hao, vô điền sản.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Quan Lộc
  • Đà La, Thiên Mã: Bôn ba, quân nhân.
  • Đà La, Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi: Rất hiển đạt về võ nghiệp.
  • Đà La, Kình Dương, Liêm Trinh, công danh hay gặp sự không may, lôi thôi bận lòng.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Nô Bộc
Nếu có sao chính tinh tốt thì bạn bè, người làm, người giúp việc đắc lực, nếu có sao chính tinh xấu, hãm địa, thì hay bị làm ơn nên oán.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Thiên Di
Ra ngoài hay gặp tai nạn, chết ở xa nhà, luôn luôn gặp sự phiền lòng, tiền bạc dễ bị rủi ro.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Tật Ách
  • Trong người hay có tì vết, bị bệnh kín, đau mắt, ruột, gan, dạ dày, bệnh trĩ.
  • Đà La gặp Nhật, Nguyệt, Kỵ: Đau mắt nặng, có thể lòa.
  • Đà La, Phượng Các: Cứng tai, điếc tai.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Tài Bạch
Kiếm tiền trong lúc náo loạn, cạnh tranh một cách dễ dàng nhanh chóng. Nhưng nếu Đà La gặp thêm sao Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Hóa Kỵ, có bao nhiêu cũng hết, dễ có tai nạn vì tiền, phá tán.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Tử Tức
  • Đà La gặp Không, Kiếp, Hỏa (Linh): Con ngổ ngược, du đãng, yểu tử, có tật, ngớ ngẫn.
  • Đà La gặp Hóa Kỵ: Muộn con trai.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Phu Thê
  • Vợ chồng bất hòa, xung khắc, hay gây gỗ, cãi cọ lôi thôi.
  • Đà La gặp Thiên Riêu, Thất Sát, Hỏa, Linh: Đàn bà giết chồng.
  • Đà La, Khốc Hư (hay Linh Hỏa): Vợ chồng xung khắc.
  • Đà La, Thái Tuế: Sai ngoa, khắc khẩu, ngồi lê đôi mách.
Ý Nghĩa Đà La Ở Cung Huynh Đệ
  • Anh chị em không hợp tính nhau hoặc hai giòng.
  • Anh chị em có người tàn tật, phiêu bạt, chết non.
Đà La Khi Vào Các Hạn
  • Đà La, Thiên Hình hay Đà La ở Thìn, Tuất: Có ngục hình.
  • Đà La, Không, Kiếp: Tổn tài, bệnh tật, bị lừa gạt.
  • Đà La, Thái Tuế, Hóa Kỵ: Bị tai tiếng, kiện tụng, cãi vã.
  • Đà La, Thiên Mã: Thay đổi, bôn ba, quân nhân thì phải đánh Nam dẹp Bắc, chinh chiến lâu ngày.
  • Đà La, Lưu Đà: Tai họa khủng khiếp, nhất là khi gặp thêm Thất Sát đồng cung.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Đà La

Tài lộc của người tuổi Tỵ theo từng tháng - P2

Tài lộc của người tuổi Tỵ trong tháng Thân có xu hướng xấu đi. Những chuyện không may ập đến bất ngờ. Tài lộc lên xuống thất thường
Tài lộc của người tuổi Tỵ theo từng tháng - P2

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tháng 7 (Âm lịch)

, nguồn thu nhập ngày càng ít đi. Lúc này, người tuổi Tỵ nên suy tính lại mọi vấn đề đã và đang diễn ra, tránh tự đề cao mình quá mức sẽ bị mọi người xa lánh. Người này cũng nên thận trọng trong các hoạt động mua bán mang tính chất đầu cơ để tránh mất mát.

Tháng 8 (Âm lịch)

Sau những khó khăn liên tiếp xảy ra hồi tháng trước, vận thế của người tuổi Tỵ trong tháng Dậu có sự thay đổi lớn, tài lộc cũng tốt lên nhanh chóng. Họ có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực nào mà không sợ thua lỗ. Trong tháng này, người tuổi Tỵ chăm chỉ, cố gắng, cuối tháng sẽ thu được thành quả xứng đáng. Tuy nhiên, người này cũng nên cẩn trọng trong quản lý tài chính và đề phòng có thể mất cắp.

Tháng 9 (Âm lịch)

Tháng Tuất, tài lộc của người tuổi Tỵ có nhiều khởi sắc, nguồn thu chính và phụ đều tăng. Khó khăn trong công việc được giải quyết ổn thỏa, họ trở lại với quỹ đạo thường ngày. Người này nên nắm bắt thời cơ, mở rộng các mối quan hệ để nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn. Đồng thời, họ cũng nên đề cao cảnh giác, đề phòng bất chắc.

Người tuổi Tỵ thường gặp may vào tháng Tuất

Tháng 10 (Âm lịch)

Trong tháng Hợi, tài lộc của người tuổi Tỵ lại có chiều hướng xấu đi với nhiều khó khăn về kinh tế và áp lực công việc. Tháng này, người tuổi Tỵ cần hết sức bình tĩnh, không nên vay mượn, tránh đầu tư làm ăn lớn. Mặt khác, họ nên tìm cách đối đầu với trở ngại, đồng thời cảnh giác cao độ để giảm thiểu những tai họa không ngờ tới.

Tháng 11 (Âm lịch)

Tài lộc trong tháng Tý của người tuổi Tỵ được ví như cảnh "sau cơn mưa, trời lại sáng", mọi khó khăn dần mất đi, công việc thuận lợi hơn rất nhiều, sự nghiệp có nhiều khởi sắc. Vào thời gian này, họ nên nắm bắt thời cơ, linh hoạt trong xử lý c công việc, không để cơ hội lọt vào tay người khác. Họ cũng nên đầu tư cùng những đối tác thân quen, tránh tự mình "đơn thương độc mã" trong công việc. Nguồn thu nhập trong tháng này của họ cũng khá dồi dào, song chớ nên tham lam vô độ, đề phòng rủi ro.

Tháng 12 (Âm lịch)

Vẫn theo đà phát triển của tháng trước, vận thế tháng Sửu của người tuổi Tỵ phát triển rất tốt, tài lộc nhờ vậy cũng tăng lên. Người tuổi Tỵ nên mở rộng đầu tư nhiều hơn nữa, lên kế hoạch hợp tác lâu dài với những đối tác cũ, đồng thời, mở rộng thêm thị trường nhân lực trong kinh doanh. Lúc này, họ không nên tự mình ôm đồm mọi việc, phải biết phân chia lao động cho hợp lý. Mặt khác, người này cũng không được chủ quan mà phải luôn kiểm soát và cân đối lại tài chính, không nên lơ là, mất cảnh giác, rủi ro có thể xảy đến bất cứ lúc nào.

(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tài lộc của người tuổi Tỵ theo từng tháng - P2
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd